Ha-mát

Hamath. Hamath.
Là thành đứng đầu ở phần trên xứ Sy-ri, trong trũng sông Oronte, nguồn chảy vào trũng sông đó, là “nơi vào ranh Ha-mát” (Giô 13:5) chảy đến đèo Dephne phía Nam An-ti-ốt. Trũng nầy rất dài ở giữa hai dãy núi Li-ban và Anti-Li-ban, là một địa điểm thuận lợi cho đội quân nào từ phía Bắc muốn xông vào xứ Y-sơ-ra-ên như đạo binh A-sy-ri hay Ba-by-lôn chẳng hạn. Phần phía Nam trũng đó là giới hạn phía bắc của xứ Y-sơ-ra-ên (Dân 13:21; 34:8; Giô 13:5).
Trong đời Đa-vít, Ha-mát đã trở nên một nước tự lập, vua nước đó là Thôi-sai còn đem lễ vật dâng cho Đa-vít vì đã đánh bại cả đạo binh của Ha-đa-đê-xe (IISa 8:9-11). Về sau nước đó thuộc quyền cai trị của Sa-lô-môn, Sa-lô-môn xây các thành dùng làm kho tàng tại đó (IISử 8:4) để tiện việc cho những thương gia qua lại trũng đó dễ dàng. Trên các bia xứ Sy-ri thuộc đời A-háp có khắc Ha-mát đồng minh với Sy-ri ở Đa-mách. Trong IICác 14:25, chép Giô-bô-am II khôi phục bờ cõi Y-sơ-ra-ên từ nơi giáp Ha-mát cho đến Biển Chết. Song khỏi ít lâu, A-sy-ri chinh phục Ha-mát và gọi là thành Ha-mát lớn (IICác 17:24; Am 6:2, 14).
Lúc Sa-lô-môn làm lễ khánh thành đền thờ, cả Y-sơ-ra-ên từ Ha-mát phía Bắc đến khe Ai-cập phía Nam nhóm họp (ICác 8:65). Chính từ Ha-mát, theo tiên tri A-mốt, những dân thù nghịch Y-sơ-ra-ên bắt đầu đắc thắng, ấy vì cớ tội của Y-sơ-ra-ên. Mấy thế kỷ sau, vua Antiochus Épiphaneia đặt tên Ha-mát là Épiphaneia. Ngày nay đã lấy tên cũ là Ha-mát. Tại đó, có điều đáng chú ý là có những guồng nước lớn để cuốn nước sông Oronte vào vườn ruộng. Năm 1810, ông Burckhardt có tìm được bốn trụ đá trên đó có chữ mẫu (hiérolyphe) khắc nổi, và các học giả đọc được hai tên là Thothmes III và Amenophis I. Có người tưởng những chữ mẫu trên bốn bia đá là khởi nguồn của lối viết họa hình với lối viết theo các chữ cái. Những chữ này có lẽ là do người Hê-tít khắc.

Lên đầu trang