Giăng, Tin lành

The Gospel according to John. Évangile selon Saint Jean.
Rất nên gọi là “Tin lành của Đức Chúa Trời thành nhục thể”, hay là Tin lành có lời chứng” của Đức Chúa Cha, của Kinh Thánh, của các phép lạ, của Giăng Báp-tít, của Sứ đồ Giăng và của chính Chúa Jêsus. Lúc chép sách nầy, Giăng ở tại Ê-phê-sô là hải cảng quan trọng, ở đó có Hội Thánh lớn, nhà hội của người Do-thái sốt sắng, và đền rất danh tiếng của nữ thần Đi-anh; đây là nơi gặp gỡ của các tôn giáo khác hẳn nhau. Các lý thuyết của triết học được sự phát triển tự do và Cérinthe từ Alexandrie cũng truyền ra tà giáo Trí huệ (Gnosticisme). Cho nên, theo Clément ở Alexandrie, Các Giám mục xin Giăng bày tỏ cách sâu nhiệm hơn lẽ đạo về Thần tánh của Đấng Christ. Bởi sự cảm động của Đức Thánh Linh, Giăng trong sách Tin lành nầy bày tỏ lẽ thật chứng quyết phản đối với tà giáo Trí huệ, Ébionisme (phái chối Thần tánh Đấng Christ), và Docétisme (phái thử dung hòa Trí huệ giáo với Tin lành, song chối lẽ đạo Đấng Christ đã trở nên xác thịt).
Hội Thánh đầu tiên đều tin rằng chính Sứ đồ Giăng đã chép sách Tin lành thứ tư nầy. Giống ba sách Tin lành khác, không có ghi tên tác giả, song ở trong và ở ngoài sách đều có chứng cớ tỏ ra Sứ đồ Giăng thật là tác giả sách nầy:
1. Chứng cớ trong sách.– (a) Tác giả là một trong các Sứ đồ, vì dùng “chúng ta” trong 1:14, 16, 18; 21:24, và có nhiều việc nhỏ nhưng được nói đến một cách rõ ràng, nhứt là những sự trong đời sống Đấng Christ đã cảm động các môn đồ, v.v… (1:37; 2:11, 17; 4:27, 54; 9:2; 11:8-16; 12:4-6, 21, 22; 13:23-26; 18:15; 19:26, 27, 35; 20:8), lại có lời chép rõ trong 21:24. (b) người chép sách nói đến “môn đồ mà Chúa Jêsus yêu” (13:23; 19:26; 20:2; 21:7, 20, 21), là người trong 21:24 nói là tác giả. Trừ Ma-thi-ơ, Gia-cơ là con A-phê. Si-môn Xê-lốt và hai con của Xê-bê-đê, hết cả tên các Sứ đồ khác đều được nhắc tới. Ba người trước không thuộc vòng các môn đồ thân yêu. Nhưng Gia-cơ là con Xê-bê-đê đã chết sớm rồi (Công 12:2), chỉ có một người còn lại trong vòng đó là Giăng, tác giả sách nầy. (c) Tác giả phải là một người Do-thái, vì thể văn Hy-lạp trong sách là theo lối tiếng Hê-bơ-rơ. (d) Tác giả tỏ ra rất thông thuộc địa dư, lịch sử, và những phong tục của người Do-thái trong thời Đấng Christ hành chức vụ (xem 1:21, 28, 46; 2:6; 3:23; 4:5, 27; 5:2, 3; 7:40-52; 9:7; 10:22, 23; 11:18; 18:28; 19:31), vả lại trong sách có chép nhiều sự gần gũi với Chúa hơn ba sách Tin lành kia.
Vậy, chính những bằng chứng trong sách tỏ ra Giăng thật là tác giả, không phải nói gì nữa. Trong 21:20-25, dường như nói đến tên Giăng là tác giả, vì theo những lời chứng chung của Hội Thánh đầu tiên, chỉ có Sứ đồ Giăng sống lâu khiến ai cũng tưởng có lẽ ông sẽ sống đến kỳ Chúa trở lại. Đoạn 21 là một đoạn do tác giả phụ thêm vào sách mình, vì đã có ý ngưng viết từ cuối đoạn 20. Cuối cùng, vì lễ phép đối với Giăng Báp-tít, là người trùng tên với mình, nên đã 20 lần Giăng bỏ chữ “Báp-tít”, song trong ba sách Tin lành kia có chép Giăng Báp-tít để phân biệt Giăng Báp-tít với Giăng Sứ đồ.
2. Chứng cớ ngoài sách.– Irénée (sanh độ 115-125 S.C.) làm Giám mục tại Lyons phần chót thế kỷ thứ II, là học trò của Polycarpe, môn đồ của Sứ đồ Giăng, làm chứng rõ Giăng đã chép sách nầy tại Ê-phê-sô sau khi ba sách Tin lành khác đã xuất bản. Ấy là đủ chứng cớ rồi. Dầu vậy cũng có nhiều lời làm chứng nữa từ trong thời kỳ cận tiếp với kỳ các Sứ đồ. Thơ Giăng I tỏ rõ là trước giả sách Tin lành Giăng chép; mà Polycarpe (110 S.C.) và Papias (130-140 S.C.) đều trích thơ Giăng I, như vậy chứng tỏ thơ này là của Sứ đồ Giăng. Những thơ tín của Ignace (100 S.C.) tỏ ra các Hội Thánh Tiểu A-si hồi đầu thế kỷ thứ II đều quen biết Giăng và chịu phục ông. Justin (150 S.C.) thường trích những lời trong đó, coi như là một “kỷ niệm của các Sứ đồ”, mà người ta gọi là sách Tin lành chép bởi các Sứ đồ và những người cộng tác với các Sứ đồ. Trong Hội Thánh đầu tiên, có dùng sách Tin lành thứ tư để dạy dỗ. Theo một sách Tin lành của Phi-e-rơ không đích xác mới tìm được, thì Phi-e-rơ giả mạo đó cũng dùng đến sách Tin lành Giăng với ba sách kia mà soạn lại. Sách Diatessaron của Ta-tien (độ 170 S.C.) là một sách tổng hợp bốn sách Tin lành dùng trong Hội Thánh, bắt đầu với câu đầu và câu cuối của sách Tin lành Giăng. Bởi bản thảo Syriac mà Lewis mới tìm thì biết các Hội Thánh ở xứ Sy-ri thế kỷ thứ II đều công nhận bốn sách Tin lành trong Kinh Thánh. Cuối cùng, chắc chắn rằng những người tà giáo thứ nhứt trong Hội Thánh (Gnosticisme) cũng nhận sách Tin lành thứ tư là do Giăng chép. Vậy chứng cớ ngoài sách rất đầy đủ để tỏ ra Sứ đồ Giăng là tác giả và Hội Thánh ngay từ đời các Sứ đồ công nhận sách Tin lành thứ tư đó.
3. Nơi và niên hiệu chép sách.–Chắc Giăng không chép sách Tin lành của mình cùng một nơi và cùng thời gian với sách Khải Huyền, vì lối hành văn có khác nhau. Có chứng cớ tỏ ra Giăng chép ở Tiểu A-si (theo lời truyền khẩu tại Ê-phê-sô) trong khoảng 75-100 S.C.. Điều này cũng khớp với cách tính giờ trong sách. Giăng thấy không cần phải giải nghĩa lời tiên tri của Chúa Jêsus rằng mình còn ở cho đến khi Chúa đến (21:22), điều này chứng tỏ rằng Giăng chép sách mình sau khi thành Giê-ru-sa-lem bị phá hủy (70 S.C.), vì lúc đó người ta coi biến động ấy như là sự Chúa đến, tức là Chúa phán xét dân Do-thái vậy.
Những người chống trả với Chúa Jêsus, Giăng thường gọi cách đơn sơ là người Giu-đa (1:19; 2:18; 5:10; 7:15, v.v…); những lời giải nghĩa về những lễ nghi của người Do-thái (6:4; 7:2; 11:55; 19:31); biển Ga-li-lê được gọi là biển Ti-bê-ri-át là tên người ngoại bang dùng (6:1); và nguyên nhân của lời mở đường về Đấng Christ và Ngôi Lời, hết thảy những điều trên đều chỉ về một thời kỳ mà đạo Đấng Christ đang đương đầu với những triết lý lúc đó tại Tiểu A-si. Ấy cũng cắt nghĩa mục đích của sách. Giăng có dẫn lời chứng của Đấng Christ về chính mình Ngài là Con Đức Chúa Trời thành nhục thể và là Cứu Chúa của thế gian (20:30, 31). Sách nầy tỏ ra Giăng quen biết ba sách Tin lành trước và có ý bổ cứu thêm những chỗ thiếu thốn. Ba sách đó không chép những bài giảng quan trọng của Chúa để đáp lại những lời công kích của người Giu-đa về Thần tánh Ngài; cũng không bày tỏ ra cho các môn đồ Ngài biết những sự mầu nhiệm của bổn thể Ngài và sự giao thông thuộc linh với Ngài. Mà Giăng nhất định chỉ chép những lời Chúa Jêsus làm chứng về chính mình Ngài, nhất là vì những tà giáo đã nổi lên bác bỏ vài phương diện về Ngôi vị của Đấng Christ. Giăng cũng thêm nhiều điều tự mình nhớ lại. Kết quả là Giăng hiến cho Hội Thánh một bức tranh vẽ hoàn toàn của Chúa Thần nhân.
4. Tài liệu của sách.– Hai phần ba của sách nầy kể ra việc xảy đến trong sáu tháng cuối cùng chức vụ Chúa Jêsus, và một phần ba nói về tuần lễ cuối cùng.
Trong lời mở đầu (1:1-18), Sứ đồ tóm tắt lẽ thật lớn lao sắp tỏ ra trong đời Đấng Christ, ấy là có một Ngôi thứ hai của Đức Chúa Trời gọi là Ngôi Lời vì tỏ ra Đức Chúa Trời. Ngôi Lời đó là Nguồn sự sống cho mọi người, và sự sáng cho muôn vật, cũng đã trở nên xác thịt, đặt danh là Chúa Jêsus Christ. Vậy, ai tin thì được Chúa Jêsus tỏ Đức Chúa Trời ra và người ấy được cứu rỗi.
Sau đó Giăng kể lại:
1. Những lời làm chứng mở đường về Chúa Jêsus của Giăng Báp-tít và của chính Chúa Jêsus cho các môn đồ đầu tiên Ngài (1:19-2:11).
2. Đấng Christ tỏ chính mình ra trong một số việc làm, và những lời giảng cho người mộ đạo hay là kẻ chống nghịch Ngài (2:12-12:50). Nó bao gồm:
a) Lời làm chứng của Ngài trong ngày Lễ Vượt Qua thứ nhứt của chức vụ Ngài (2:12-25), bài làm chứng cho Ni-cô-đem (3:1-21), cùng với những lời chứng thêm của Giăng Báp-tít, (3:22-36);
b) Đàm luận với người đờn bà Sa-ma-ri (4:1-42);
c) Phép lạ thứ hai ở Ga-li-lê (4:43-54);
d) Đấng Christ tự bênh vực trước người Do-thái về bổn thể và quyền phép Đức Chúa Trời của Ngài (5:1-);
đ) Ngài tự giới thiệu là Bánh hằng sống (6:1-);
e) Ngài lại tự bênh vực trong ngày lễ Lều tạm về phép tắc và bổn thể Đức Chúa Trời của Ngài (7:1-; 8:1-);
g) Ngài chữa lành người mù và phán ví dụ về người chăn chiên hiền lành (9:1-10:21);
h) Lời chứng cuối cùng của Đấng Christ cho người Do-thái (10:22-42);
i) Kêu La-xa-rơ sống lại và những kết quả sau đó (11:1-);
k) Lời làm chứng tại Bê-tha-ni trong ngày Chúa vào Giê-ru-sa-lem cách oai nghi, và trong khi người Hy-lạp thăm viếng (12:1-).
3. Đấng Christ bày tỏ trước về chính mình Ngài sẽ chết và sống lại (13:1-21:25), ấy gồm lại:
a) Những lời dạy dỗ môn đồ lần cuối cùng (13:1–17:1-);
b) Ngài bị bắt, bị lên án, và bị đóng đinh, trong đó Ngài làm chứng, nhất là trước Phi-lát, về Ngôi vị và công việc Ngài (18:1-; 19:1-);
c) Sự sống lại của Ngài và vài lời làm chứng về sự đó (20:1-; 21:1-).
Kết quả tỏ ra rằng trong người Jêsus có Con vĩnh sanh của Đức Chúa Trời, và bởi ngôi vị, sự dạy dỗ và việc cứu chuộc của Ngài đã bày tỏ Đức Chúa Trời và bảo toàn sự sống đời đời cho những người tin nhận Ngài. Vậy, thánh Giăng đã bày tỏ chức vụ của Chúa Jêsus như là gồm tóm khi Đức Chúa Trời tự bày tỏ Ngài ra, và cho các tín đồ được sự sáng là sự hiểu biết lẽ thật tối cao, ngoài ra họ cũng được sự sống là do sự hiệp một thuộc linh với Đức Chúa Trời. Đó chính là sựOnspan> trọn lành và sự cứu rỗi đời đời. Giăng chép: “Những việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống (20:31).
Tiến sĩ Scofield chép lời tiểu dẫn sách Giăng như sau nầy:
Tác giả.– Sách Tin lành thứ tư do Sứ đồ Giăng chép (Giăng 21:24). Có những người không tin thì chỉ trích và phản đối, nhưng cũng có nhà học thức công nhận những chứng cớ đó và tin quyết rằng thật Sứ đồ Giăng là tác giả.
Niên hiệu.– Sách chép chừng giữa 85-90 S.C.. Có lẽ 90.
Chủ đề.– Chủ đề được tỏ ra trong bài tiểu dẫn (1:1-14), và câu kết luận (20:31), là: Ngôi Lời vĩnh viễn trở nên xác thịt, là Con Đức Chúa Trời, chính Đức Chúa Trời là Jêsus, tức là Christ.
1. Để tỏ ra Đức Chúa Trời trong hình hài của một người;
2. Hầu cho ai tin cậy đến Ngài “Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời” (20:31) thì được sự sống đời đời. Những chữ quan trọng trong sách là “tin” và “sự sống”.
Bố cục của sách Giăng.–Sách Giăng chia làm bảy phần:
I. Bài tiểu dẫn. Ngôi Lời vĩnh viễn trở nên xác thịt trong Chúa Jêsus Christ, 1:1-14. Jêsus Christ là Đức Chúa Trời, 1:1, 2 so Hêb 1:5-13; công việc trước khi thành nhục thể của Ngài, 1:3-5 so Hêb 1:2; chức vụ Giăng Báp-Tít 1:6-8 cũng xem câu 29-34 so Mat 3:1-17; Mác 1:1-11; Lu 3:1-23; Jêsus Christ là Sự Sáng thật, 1:9, 10 so Giăng 8:12; 9:5; 12:46; hai hạng người: con và kẻ chẳng tin, 1:11-13 so Giăng 3:1, 2; 5:11, 12; thành nhục thể, 1:14 so Mat 1:1-23; Lu 1:30-35; Rô 1:3, 4.
II. Lời chứng của Giăng Báp-tít. Xem 1:15-34, so Mat 3:1-17; Mác 1:1-11; Lu 3:1-18.
III. Chức vụ Đấng Christ trước thiên hạ.Xem 1:35-12:50. Các môn đồ thứ nhứt của Chúa 1:35-51; Đám cưới tại Ca-na; phép lạ thứ nhứt 2:1-12; Lễ Vượt Qua thứ nhứt, câu 13, 23 so Giăng 6:4; 11:55. Sự dọn sạch đền thờ lần thứ nhứt, so Mat 21:12, 13; Mác 11:12, 13; Mác 11:15-17; Lu 19:45, 46; Chúa Jêsus nói về sự tái sanh cho Ni-cô-đem, 3:1-21; Lời chứng cuối cùng của Giăng Báp-tít, 3:22-30; Giăng Báp-tít nói rõ về Jêsus Christ, 3:31-36; Jêsus đi đến Ga-li-lê, 4:1-5; Chúa Jêsus và người đờn bà Sa-ma-ri, 4:6-13; Đức Thánh Linh ngự trong người, 4:14-39 so Giăng 7:37-39, Jêsus và dân thành Sa-ma-ri, 4:40-45; Chúa chữa lành con trai quan thị vệ, 4:46-54; Ngày lễ Ngũ tuần, ao Bê-tết-đa và kẻ bại được chữa ở đó, 5:1-27; hai sự sống lại, 5:28-32 so 5:25-29; Giăng 6:39, 40; Gióp 19:25; ICôr 15:52; bốn sự làm chứng về Jêsus: (a) Giăng Báp-tít, 5:33-35, (b) Công việc của Ngài, 5:36, (c) Đức Cha, 5:37-38 so Mat 3:17, (d) Kinh Thánh, 5:39-47 so Lu 24:27, 44-46; Chúa hóa bánh cho 5.000 người ăn, 6:1-14 so Mat 14:13-21; Mác 6:32-44; Lu 9:10-17; Jêsus đi bộ trên mặt biển, 6:15-21 so Mat 14:22-36; Mác 6:45-56; bài giảng về bánh hằng sống 6:22-59; lấy lẽ đạo thử môn đồ, 6:60-66 so Mat 8:19-22; 10:36; Phi-e-rơ tỏ đức tin mình, 6:67-71 so Mat 16:13-20; Mác 8:27-30; Lu 9:18-21, anh em Chúa khuyên Ngài đi dự lễ Lều tạm, 7:1-9 so Lu 9:51-62; bỏ Ga-li-lê lần cuối cùng, 7:10-13; Jêsus tại lễ Lều tạm, 7:14-36; lời tiên tri lớn về sự nhận Đức Thánh Linh và được quyền phép, 7:37-39 so Công 2:2-4 và Giăng 4:14; đối diện với dư luận, 7:40-53; Đờn bà tà dâm, 8:1-11. Bài giảng sau lễ: Jêsus là sự Sáng soi thế gian, 8:12-59 so Giăng 1:9. Người mù từ thuở sanh ra được chữa lành, 9:1-41; Bài về người chăn hiền lành, 10:1-21 so Thi 23:1-; Hêb 13:20; IIPhi 5:4; Jêsus xưng mình là Đức Chúa Trời, 10:22-39 so Giăng 14:9; 20:28, 29; Jêsus đến nơi trước đã chịu lễ báp-têm, 10:41-42 so Mat 3:1, 13, 17; La-xa-rơ được sống lại, 11:1-44; Các bạn Ma-ri tại Bê-tha-ni tin Chúa, 11:45, 46 so Lu 10:38-43; Giăng 12:1-7. Người Pha-ri-si lập mưu giết Jêsus, 11:47-57; Tại Bê-tha-ni, Ma-ri lấy dầu thơm xức chân Ngài 12:1-11 so Mat 26:6-13; Mác 14:3-9; Lu 7:37, 38; Jêsus vào Giê-ru-sa-lem cách trọng thể, 12:12-19 so Mat 21:4-9; Mác 11:7-10; Lu 19:35-38; Mấy người Hy-lạp xin ra mắt Jêsus, 12:20-22; Jêsus đáp lại, 12:23-50.
IV. Chức vụ riêng của Đấng Christ với môn đồ, 13:1-17:26. Lễ Vượt Qua sau cùng, 13:1 so Mat 26:7-30; Mác 14:17-26; Lu 22:14-39; Chúa rửa chân các môn đồ, 13:2-20; Chúa nói trước về kẻ phản Ngài, 13:21-35 so Mat 26:20-25; Mác 14:17-21; Lu 22:21-22; Chúa nói trước về Phi-e-rơ sẽ chối Ngài, 13:36-38 so Mat 26:33-35; Mác 14:29-31; Lu 20:33-34. Những lời trong phòng Lễ Vượt Qua: Chúa nói trước sẽ trở lại đem các môn đồ đi với Ngài 14:1-6 so ITê 4:14-17; Jêsus và Cha là một 14:7-12; lời hứa mới là đặc ơn trong sự cầu nguyện, 14:13-15; lời hứa ban Đức Thánh Linh, 14:16-26; Chúa để lại sự bình an, 14:27-31. Ý nghĩa hình bóng của gốc nho và nhánh, 15:1-14; sự thân thiết mới, 15:15-17; tín đồ và thế gian, 15:18-25, tín đồ và Đức Thánh Linh, 15:26-27; Chúa dự báo về sự bắt bớ cho tín đồ, 16:1-6 so Mat 24:9-10; Lu 21:16-19. Ba công việc Đức Thánh Linh đối với thế gian, 16:7-11; lẽ thật mới được bày tỏ bởi Đức Thánh Linh 16:12-15; Chúa phán trước về sự chết, sự sống lại, và sự tái lâm, 16:16-33; bài cầu thay dài cuối cùng của Chúa, 17:1-26.
V. Đấng Christ dâng mình làm của lễ, 18:1-19:42. Chúa đến vườn Ghết-sê-ma-nê, 18:1 so Mat 26:36; Mác 14:32; Chúa bị nộp và bị bắt, 18:2-11 so Mat 26:47-56; Mác 14:43-50; Lu 22:47-53; Chúa Jêsus trước mặt thầy cả thượng phẩm An-ne, 18:12-14 so Mat 26:57-68; Mat 14:53-65; Lu 22:66-71; Phi-e-rơ chối Chúa, 18:15-18 so câu 25-27; Mat 26:69-75; Mác 14:66-72; Lu 22:54-62; Chúa còn ở trước mặt An-ne và Cai-phe, 18:19-27; Chúa bị dẫn đến trước mặt Phi-lát, 18:28-38 so Mat 27:1-14; Mác 15:1-5; Lu 23:1-7, 13, 16; Chúa bị lên án còn Ba-ra-ba được tha, 18:39, 40 so Mat 27:15-26, Mác 15:6-15; Lu 23:18-25; Chúa phải đội mão gai, 19:1-3 so Mat 27:27-30; Mác 15:16-20; Phi-lát đem Chúa đến trước mặt dân chúng, 19:4-13; các nhà cầm quyền Giu-đa chối bỏ Vua lần cuối cùng, 19:14-15; Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh, 19:16-30 so Mat 27:33-54; Mác 15:22-39; Lu 23:33-47; “Không đánh gãy ống chơn Ngài”, 19:31-37; Sự chôn Chúa, 19:38-42 so Mat 27:57-60; Mác 15:43-47; Lu 23:50-56.
VI. Đấng Christ tỏ mình trong sự sống lại: 20:1-31. Sự sống lại của Chúa Jêsus Christ, 20:1-10 so Mat 28:1-10; Mác 16:1-14; Lu 24:1-43; Jêsus hiện đến cùng Ma-ri Ma-đơ-len, 20:11-18; Chúa hiện đến cùng các môn đồ và Thô-ma vắng mặt, 20:19-23 so Lu 24:36-49; Chúa hiện đến cùng các môn đồ và Thô-ma có mặt, 20:24-29. Lời kết luận và nguyên nhân vì sao Giăng chép sách này, 20:30, 31.
VII. Phần phụ thêm: Đấng Christ làm Chủ đời sống và chức vụ của chúng ta, 21:1-25, “Nếu ta muốn”. Đấng Christ phục sanh là Chủ của chức vụ ta, 21:1, 2;
a) Chức vụ theo ý riêng, cậy nơi con người 21:3, 4;
b) Chức vụ theo ý riêng bị thử rèn, không có kết quả, 21:5;
c) Chức vụ theo ý Chúa chỉ, được kết quả, 21:6-11;
d) Chúa là đầy đủ cho sự nhu cầu của đầy tớ Ngài, 21:12-14 so Lu 22:35; Phil 4:19;
đ) Chỉ có một cớ chính đáng để hầu việc 21:15-17 so IICôr 5:14; Khải 2:4, 5;
e) Chúa định giờ và cách đầy tớ Ngài phải chết, 21:18, 19;
g) Nếu Chúa tái lâm, đầy tớ Ngài còn sống không chết, 21:20-25 so ICôr 15:51, 52; ITê 4:14-18.

Lên đầu trang