Ê-sai, Sách

The Book of Isaiah. Ésa#e.
Có thể chia sách làm ba phần. Đại ý của mỗi phần như sau:
Phần 1:1- Đoạn 1 đến 35.– Chép lời tiên tri của Ê-sai, phần này có ba ý dạy dỗ:
a/. Luận về Đức Chúa Trời: Ê-sai thực lòng tin Đức Chúa Trời là Đấng có một không hai, nên ông nói: Hình tượng không phải là Đức Chúa Trời, vì do tay người làm ra (Ês 2:8, 20; 17:8; 31:7). Ông ghét nhân dân lập bàn thờ ở trong rừng và thờ tượng A-sê-ra (Ês 1:29; 17:10, 11). Khi giảng đạo, ông thường nhớ đến sự hiện thấy trong lúc được Chúa sai đi, nên nói: “Thánh thay là Đức Giê-hô-va vạn quân! Khắp đất đầy dẫy sự vinh hiển Ngài” (Ês 6:3). Ông cũng nói: Đức Chúa Trời cai trị muôn nước, có mực thước nhứt định (Ês 10:23; 14:24-27). Hoặc Ngài gây dựng nước A-si-ri, hoặc phó Giu-đa sa vào tay A-si-ri, đều vì Chúa muốn làm trọn công việc thánh của Ngài. Còn những chỗ nói về sự khôn ngoan, sự kỵ tà và cơn thạnh nộ của Chúa thì giống các tiên tri khác.
b/ Luận về Y-sơ-ra-ên.– Ê-sai nói Đức Chúa Trời là Chúa của Y-sơ-ra-ên và Y-sơ-ra-ên là dân của Ngài. Điều này không có nghĩa là ông phủ nhận Chúa không phải là Chúa của muôn người, song ông có ý nói Chúa lựa riêng Y-sơ-ra-ên làm con dân Ngài. Như vậy, so với dân ngoại, thì người Y-sơ-ra-ên phạm tội lại càng bị đoán phạt nặng hơn; “Vì lời nói, việc làm của họ nghịch cùng Đức Chúa Trời, và trêu chọc con mắt uy nghiêm của Ngài” (Ês 3:8). Dầu thường xuyên dâng của lễ nhưng họ lại làm điều dữ, chẳng những mang lỗi với người ta, lại còn mang tội khinh lờn Đấng Thánh nữa (Ês 1:4; 30:9). Vâng mạng Chúa sai, Ê-sai cảnh cáo người Y-sơ-ra-ên phải bị bắt làm phu tù (Ês 6:11), nên ông khuyên vua và dân chỉ nhờ cậy Chúa, và tin rằng cho dù khó tránh khỏi cuộc đời phu tù, song còn thoát được cái tội lìa bỏ Chúa (Ês 28:16; 30:15).
c/ Luận về Đấng Mê-si.– Khi vâng mạng Chúa sai, Ê-sai vẫn biết dân Y-sơ-ra-ên ắt sẽ bị bắt làm phu tù, và biết dân còn sót lại sẽ được trở về nước cũ (Ês 6:11-13). Vậy nên ông hằng trông mong có một vua công bình lên ngôi Đa-vít, khiến cho dân Do-thái được phục hưng; thành Giê-ru-sa-lem trở nên kinh đô thánh của muôn nước (Ês 9:1-7; 11:1-9; 32:1-8).
Phần 2:1- Đoạn 36 đến 39.– Phần nầy nói về lịch sử, có hai đại ý giống với IICác 18:20
a/ Đề cập về vua A-si-ri đánh lấy thành bền vững của Giu-đa Ê-xê-chia, đem vàng bạc đút lót; vua A-si-ri bèn giải vây mà đi. Người Giu-đa không biết đó là sự sỉ nhục của đất nước nên đặt tiệc ăn mừng. Ê-sai rất không đẹp lòng về việc đó (Ês 22:1-4). Không bao lâu A-si-ri lại đem quân đến Giê-ru-sa-lem; Ê-sai ân cần yên ủi Ê-xê-chia rằng vua A-si-ri nhất định không thể đánh được thành nầy. Rồi lời đó quả được ứng nghiệm (Ês 36:37).
b/ Nói về sự Mê-rô-đắc xui Ê-xê-chia dấy lên phản nghịch A-si-ri, tức là năm 702 T.C. (Ês 38:39).
Phần 3:1- Đoạn 40 đến 66.– Vì phần ba nầy gồm lời tiên tri riêng nên có người tưởng là không phải Ê-sai chép, nhưng do một vài người trong dân Giu-đa bị bắt làm phu tù ở Ba-by-lôn chép, vào khoảng từ năm 549 đến 538 T.C.. Nhưng khi tra xét kỹ càng, ta thấy có nhiều bằng cớ chứng thực rằng 27 đoạn cuối nầy là do Ê-sai chép. Đó là những bằng cớ sau:
a/ Lời truyền khẩu của người Do-thái và Hội Thánh đều làm chứng rằng cả sách do Ê-sai chép (tham khảo Mat 3:3; Lu 4:17; Công 8:28; Rô 10:16, 20).
b/ Những sự kiện không mâu thuẫn với nhau và 27 đoạn cuối liên ý với các đoạn ở trên. c/ Cả sách dùng một thứ tiếng.
d/ Lời văn cao trọng riêng của 27 đoạn nầy cũng có dùng trong những đoạn trên.
e/ Chỉ có tên một tác giả thôi.
f/ Những lời tiên tri về Đấng Mê-si đều chứng quyết Chúa soi bảo, nên trừ bỏ những cớ nói rằng không phải là tiên tri Ê-sai chép.
g/ Trong cả sách vẫn thấy đặc điểm của Ê-sai:
— Nói về việc Chúa dùng vua Si-ru khiến người Y-sơ-ra-ên trở về đất cũ (Ês 40:48): Đoạn 40 nói Chúa yên ủi dân Ngài, sẽ làm trọn lời hứa, vì Ngài là Đấng Toàn năng, không chỗ trách được. Đoạn 41 nói Si-ru nhờ Chúa giúp đỡ, đã được phát đạt, rất có ích cho người bị bắt làm phu tù. Đoạn 42 nói đầy tớ Chúa rất khiêm nhường, ắt làm cho kẻ bị tù được ra khỏi ngục. Đoạn 43 nói kẻ bắt làm phu tù, tức là dân lựa chọn của Chúa, cuối cùng sẽ được giải cứu mà về nước cũ và nước Ba-by-lôn sẽ bị nghiêng đổ, đó là nhờ ơn Chúa, chớ không phải vì việc làm lành của kẻ bị bắt làm phu tù. Đoạn 44 nói dân được trở về, ắt có người các nước tình nguyện theo về với Chúa. Cũng nói hình tượng là hư không giả dối, chỉ Đức Chúa Trời mới cứu được dân Ngài. Đoạn 45 nói Si-ru sẽ cai trị các nước (1-8), kế đến nói Chúa cho Si-ru dấy lên, và chớ ghen ghét họ vì không phải là người trong đạo Do-thái (câu 9-12); dân Chúa sẽ trở về đất cũ; muôn nước sẽ phục Chúa là Đấng Toàn năng. Đoạn 46 nói hình tượng của Ba-by-lôn không tự cứu mình được; nhưng trước kia đến sau này, Chúa bao giờ cũng cứu dân Ngài. Đoạn 47 nói Ba-by-lôn sẽ bị Chúa phạt. Đoạn 48 nói lòng dân cứng cỏi, không biết mục đích của sự thử rèn và không theo điều răn của Chúa.
— Luận về tôi tớ của Chúa và vinh quang của Si-ôn (Ês 49:55):
Phần nhỏ nầy có chỗ khác với phần nhỏ trên. Phần nhỏ trên thường nói về sự vua Si-ru được lựa chọn, Ba-by-lôn bị nghiêng đổ. Phần nhỏ nầy nói Tôi tớ Chúa sẽ đến, Si-ôn sẽ trở nên vinh hiển. Những chỗ như 49:1-6; 50:4-9; 52:13; 53:12 là nói về tôi tớ của Chúa, và mô tả Đấng Christ. Bản Cựu Ước tiếng Canh-đê (Targums) của người Do-thái chép Tôi tớ đó là Đấng Mê-si của mình. Tiên tri Xa-cha-ri cho rằng “Đầy tớ là Chồi mống” (Xa 3:8; Giê 23:5-8). Những chỗ như 49:14-26; 51:17; 52:12; 54:1-; là nói về vinh hiển của Si-ôn. Ý nói, trong ngày đó, Si-ôn như đứa con bị lạc, như vợ bị bỏ, khó kiếm được sự yên ủi trong lòng. Nhưng Si-ôn lúc sau như người đờn bà có chồng, có con, thường được vui vẻ, sung sướng. Phần nhỏ nầy lại có những lời rất tốt như ở 50:1, 2, 3; 51:1-16; 55:1-; tức là khuyên dân thực lòng trở về cùng Chúa.
— Nói về người Do-thái tin đạo chân thật ắt có phước, kẻ bội nghịch ắt bị rủa sả (Ês 56:66):
Như Ês 56:1-8 nói, bất cứ ai hễ biết giữ đạo, vâng mạng Chúa, chắc chắn được ơn Ngài. Ês 56:1; 57:2 nói những quân tham nhũng, gieo sự nguy hiểm cho dân, đều đáng chịu sửa phạt. Ês 57:3-13 nói những kẻ bội nghịch, tin dị đoan, ắt gặp hoạn nạn. Ês 57:14-21 nói Đấng Chí cao sẽ ở với kẻ khiêm nhường hạ mình. Đoạn 58 nói đã kiêng ăn và giữ ngày thánh mà còn có ý tranh cạnh giả dối, thì không được Chúa đẹp lòng tiếp nhận. Đoạn 59 nói đến tội lỗi của người Do-thái; lại nói ắt có Cứu Chúa giáng lâm cai trị vì Si-ôn và vì những người biết ăn năn tội trong họ Gia-cốp. Đoạn 60; 62; nói Si-ôn lập lại ngày càng thạnh vượng. Những người nào trong dân Chúa biết làm theo chân lý mà phải tản lạc ở các nước cũng sẽ được về đất cũ. Lại nói ánh sáng của Hội Thánh chiếu khắp muôn dân khiến họ thành tâm trở về cùng Chúa. Đoạn 63:1-6 nói Cứu Chúa giáng lâm, đại thắng mọi quân nghịch. Đoạn 63:7; 64:12 nói dân nhờ ơn xưa, tự nhận tội mình. Đoạn 65; 66; nói những người chân thật tin Chúa ắt ở đất thánh đời đời mà hưởng hạnh phước trời mới, đất mới. Còn kẻ bội nghịch đạo thật thì bị hủy diệt!
Những lời trong ba phần chính kể trên đều là lời của tiên tri, trước nói cho những người bị bắt làm phu tù, sau cũng cho các tín đồ Đấng Christ nữa. Vì trong số người bị bắt đó có người tuyệt vọng, cho rằng Chúa không soi xét việc họ, không gỡ oan cho họ (Ês 40:27). Lại nói Chúa bỏ họ, quên họ (Ês 49:14). Vì vậy, tiên tri phải nghĩ cách để yên ủi họ. Nhưng yên ủi thế nào đây? Nếu chỉ dùng lời ngon ngọt, thì không đủ khiến người ta tin được! Nếu chuyên dùng lời trách bảo, thì có khi họ không chịu! Chỉ còn cách dùng lời Chúa là lời chân thật, và giúp họ biết dân Y-sơ-ra-ên là khí cụ Chúa muốn dùng. Như vậy, những kẻ thất vọng vẫn có thể giữ được ý muốn thờ phượng Chúa. Về nghĩa đó có ba ý:
a) Nói Chúa là Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên: – Tiên tri nói: Chúa là Đấng có một không hai (Ês 43:10; 46:9). Muôn vật đều do Ngài dựng nên (Ês 42:5; 45:7, 12, 18). Chúa là đầu tiên và cuối cùng (Ês 41:4; 46:6; 48:12), không ai so sánh với Ngài được (Ês 40:18; 46:5); Ngài sửa trị mọi sự và muôn vật (Ês 40:12-14); muôn người đều chịu Ngài cai trị (Ês 40:15-17, 22-24). Từ ban đầu Ngài sắp đặt mọi việc của muôn đời (Ês 41:4). Si-ru được lựa riêng, làm trọn thánh ý của Chúa từ xưa đã định cứu giúp dân Ngài (Ês 45:13). Vì Đức Chúa Trời là Đấng công bình, hay cứu giúp, dầu Ngài tạm nổi giận, nhưng sau ắt thương xót dân Ngài, ban ân huệ đời đời (Ês 54:8). Ngài sẽ yên ủi người ta như cha mẹ yên ủi con, và ấy là tại trong Giê-ru-sa-lem mà người ta sẽ được yên ủi (Ês 66:13). Thực lòng của Chúa vẫn muốn yên ủi và bày tỏ lòng thương xót dân Y-sơ-ra-ên.
b) Nói Y-sơ-ra-ên là sứ giả của Chúa: – Khi thấy Y-sơ-ra-ên nhiều lần phạm tội cùng Đức Chúa Trời, A-mốt nói: Ở trước mặt Chúa, người Y-sơ-ra-ên không khác gì người Phi-li-tin và người Sy-ri (Am 9:7, 8). Còn Ê-sai thì nói: Chúa coi Y-sơ-ra-ên là quí báu, Ngài sẽ khiến dòng dõi họ đến từ bốn phương (Ês 43:4, 5, 6). Ông nói: Chúa cứu dân Y-sơ-ra-ên, vì họ là sứ giả của Ngài, có thể lãnh đem muôn vạn người trở lại cùng Ngài (Ês 42:19; 43:10; 44:8). Sau khi người Y-sơ-ra-ên được Đức Thánh Linh cảm động, người nước khác cũng muốn tự xưng là người Y-sơ-ra-ên (Ês 44:3, 4, 5).
c) Nói dân ngoại cũng có thể làm dân Chúa: – Tiên tri nói: Người Do-thái sẽ được xưng là thầy tế lễ của Chúa, sẽ được xưng là chức dịch của Ngài (Ês 61:6). Vua Si-ru theo ý chỉ Chúa, khiến người Do-thái trở về thành Giê-ru-sa-lem, chẳng những họ được ích lợi mà lại khiến người các phương Đông Tây đều biết ngoài Đức Chúa Trời, không có thần nào khác. Ông còn nói: Chúa ở trong người Do-thái, ngoài ra không có thần nào khác (Ês 45:6, 14-17). Các dân ở hải đảo đều ngửa trông Chúa, nhờ cậy quyền năng lớn lao của Ngài (Ês 51:5). Chúa khiến Y-sơ-ra-ên làm sự sáng của dân ngoại, đem ơn cứu rỗi của Chúa ban cho đến cùng trái đất (Ês 49:6). Như vậy, thì đền thờ Chúa sẽ xưng là đền thờ cầu nguyện của muôn dân (Ês 56:7). Người có huyết khí sẽ sấp mình thờ lạy ở trước mặt Chúa (Ês 66:23). Đó là đại ý trong phần thứ ba nói Chúa yên ủi những kẻ bị bắt làm phu tù.
Trong vòng các đấng tiên tri chép sách, Ê-sai được kể là người quan trọng nhứt. Lời ông chép bao gồm nhiều ý tiên tri hơn và tỏ ra ông thật là tiên tri của sự cứu chuộc. Trong phần Kinh Thánh chép về luật pháp, ta không thấy sách nào bày tỏ ân điển rõ hơn sách nầy. Dầu Hội Thánh Tân Ước không được tỏ ra (Êph 3:3-10), nhưng vì Ngôi vị và sự thương khó, với ơn phước do nơi Ngài mà dân ngoại nhận lãnh, thì Đấng Mê-si được bày tỏ rất rõ ràng.
Trừ lời làm chứng cho người đồng thời với mình ra, là những lời chứng gồm các lời răn bảo về sự đoán phạt giáng trên các dân tộc lớn trong ngày ấy, thì những sứ mạng tiên tri của Ê-sai gồm bảy luận đề lớn:
I. Y-sơ-ra-ên bị đày, và Chúa đoán phạt những kẻ hà hiếp dân ấy.
II. Dân Y-sơ-ra-ên ở Ba-by-lôn về.
III. Đấng Mê-si được bày tỏ qua sự hạ mình của Ngài (Ês 53).
IV. Những ơn phước của dân ngoại.
V. Đấng Mê-si được bày tỏ trong ngày phán xét (“Ngày báo thù của Đức Giê-hô-va”, Ês 34:8).
VI. Chồi công bình của Đa-vít trị vì trong thời đại của nước Chúa.
VII. Trời mới và đất mới.
Sách Ê-sai chia làm hai phần lớn:
1. Nhìn vào thời kỳ dân Ngài sẽ bị đày làm phu tù (1:1; 39:8). Câu chìa khóa là (1:1-2).
2. Nhìn vào thời kỳ dân Ngài bị đày trở về (40:1; 66:24). Câu chìa khóa là (40:1, 2). Hai phần lớn nầy cũng chia ra phần nhỏ.
Theo Giám mục Ussher, những sự chép trong sách nầy xảy ra 62 năm, không kể những lời tiên tri.
Về phần lớn thứ hai của sách Ê-sai, Tiến sĩ Scofield viết: Hai câu đầu đoạn 40 sách Ê-sai là câu chìa khóa mở phần lớn thứ nhì của sách nầy. Đại ý cốt yếu của phần nầy là sự thương khó của Đức Chúa Jêsus Christ đi trước sự vinh hiển trong nước Đa-vít. (Xem bài Đấng Christ, về sự thương khó, Sáng 4:4; Hêb 10:18; về sự vinh hiển; IISa 7:8-15; Xa 12:8). Vì dân Y-sơ-ra-ên phải hội hiệp trở lại cùng Chúa, và trở nên trung tâm điểm của xã hội theo sự tổ chức mới khi nước Chúa thành lập, nên phần lớn trong Ê-sai gồm có những lời tiên tri liên quan về những biến động ấy. Vì thấy rất rõ ràng những sự thương khó của Đấng Christ về việc cứu chuộc (Ês 53), nên tiên tri chịu cảm động và trong phần nầy ông chép nhiều lời khuyên hãy tin Chúa (Ês 44:22, 23; 55:1-3).
Tiến sĩ Scofield viết: Dầu có người nói trong phần thứ hai lớn nầy lời văn khác với lời văn ở phần trên, song không lấy gì làm lạ, vì ngay đầu đề cũng thay đổi. Một đấng tiên tri, lại là người ái quốc, không thể vui mừng khi chép về tội lỗi và sự lưu đày của dân mình như khi mô tả sự cứu chuộc, phước hạnh và quyền năng mà Chúa ban cho dân mình Giăng 12:37 là trích ở Ê-sai đoạn 53 và 6, cũng có chép lời của Đấng tiên tri Ê-sai.

Lên đầu trang