Elisha. Élisée (Đức Chúa Trời là sự rỗi).
Ê-li-sê là người A-bên-mê-hô-la, làm nghề nông, Ê-li từ núi Si-na-i trở về, ném áo choàng mình trên Ê-li-sê. Ê-li-sê cho là mình được Chúa kêu gọi làm tiên tri, bèn từ giã cha mẹ, đi theo Ê-li (ICác 19:16-21; IICác 2:1). Ấy khác với Mat 8:21, 22 và Lu 9:61, 62; 14:26; Mat 10:37; Phil 3:14. Chẳng ai biết được tường tận về cuộc đời của ông. Song chỉ biết rằng ông làm tiên tri độ 50 hay 60 năm, khoảng vào năm 855-798 T.C., tức là khi bốn vua Giô-ram, Giê-hu, Giô-a-cha, và Trô-ách trị vì (IICác 3:1; 9:6; 13:1, 14). Nhưng theo sách Các Vua chép về việc làm của Ê-li-sê, thì quá nửa ở vào đời Giô-ram trị vì (IICác 3:1-9:1). Có lẽ trong vòng 12 năm đó, Ê-li-sê làm chức vụ rất hăng hái, nhưng không thể làm trọn hết việc ở trong thời gian đó được.
Chức vụ của Ê-li-sê là cho Y-sơ-ra-ên nhận biết chỉ có Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, và giúp cho dân Y-sơ-ra-ên biết rằng nếu họ xưng nhận như vậy thì Chúa sẽ tỏ sự cứu rỗi của Ngài ra. So sánh ICác 18:40 với IICác 5:18, 19. Ê-li-sê là tiên tri nối gót Ê-li trong việc chữa lành. Ê-li giống người A-rạp, thích ở đồng vắng, ăn ở trong hang, và tránh nơi thành phố. Trái lại, Ê-li-sê ưa ở các nơi đông người và văn minh như Giê-ri-cô (IICác 2:18), Sa-ma-ri (24) và Đô-than là nơi có nhà cửa đông đúc, thoáng mát (5:3, 9, 24; 6:32; 13:17). Ê-li-sê mặc áo thường, hay giao thông với vua, và có ảnh hưởng lớn (IICác 4:13).
Tánh ông trái với Ê-li. Ê-li là người cương trực; còn ông thì ôn hòa. Nhưng xét những việc ông làm thì thấy có chỗ giống nhau, ví dụ như: phạt những đứa trẻ vô lễ. Chắc Ê-li-sê không có ý báo thù, song vì cớ chức vụ của mình là tiên tri của Đức Giê-hô-va, nên ông nhân danh Ngài mà phạt. (So sánh với Lu 9:54, 55; IICác 2:23), ông phạt Ghê-ha-xi tham lam (IICác 5:27), đáp lời vua Giô-ram để tỏ ra rằng mình không quên khi Ê-li còn ở thế gian, cũng có phạt các tiên tri của Ba-anh nữa (IICác 3:13).
Trong IICác 4:1-7, có nói đến việc Ê-li-sê lấy dầu của một đờn bà góa hóa ra nhiều, trước để trả nợ và sau để nuôi bà. Ông làm phép lạ cho đến khi không còn bình để chứa dầu mình nữa. Điều này làm hình bóng về sự đóng cửa lại để cầu nguyện riêng (Mat 6:6), để nhờ Chúa ban ơn đầy đủ khi ta sẵn lòng nhận (Thi 81:10; Êph 3:20). Lúc Áp-ra-ham thôi không xin thì Chúa không cho nữa (Sáng 18:1-).
Trong một lần khác (IICác 4:8-37), ông muốn thưởng cho người nữ Su-nem, bà đã vui lòng dọn một phòng cao cho tiên tri ở, dầu bà không xin gì, song tiên tri hứa rằng người đàn bà cao tuổi và son sẻ ấy sẽ sanh con trai. Năm sau lời hứa quả đã được ứng nghiệm. Rồi bà đến “ôm lấy chân Ê-li-sê” (So sánh Mat 28:9; Lu 8:38) trên núi Cạt-mên và cho biết con trai đó đã chết. Tôi tớ ông là Ghê-ha-xi có ý đuổi bà đi, giống như các Sứ đồ của Chúa Jêsus (Mat 15:23; 19:13), song Ê-li-sê bảo Ghê-ha-xi hãy đi, và lúc đi đường chớ chào ai (Lu 10:1-17) khi đến nơi thì đặt cây gậy của ông trên đứa trẻ chết đó. Ghê-ha-xi vâng lời, nhưng không có kết quả gì. Cũng thế, luật pháp không có thể khiến người phạm tội sống lại (Rô 8:3; Ga 3:21), chỉ Chúa Jêsus làm được. Ê-li-sê cũng vào phòng, đóng cửa lại (Mat 6:6), chỉ có mình và đứa trẻ ở trong, rồi cầu nguyện Đức Giê-hô-va. Đoạn, ông leo lên giường, nằm trên đứa trẻ, đặt miệng mình trên miệng nó, mắt mình trên mắt nó, và tay mình trên tay nó. Ông nằm áp trên mình nó, xác đứa trẻ bèn ấm lại (IICác 4:34, 35, so sánh với Công 20:10). Cũng một thể ấy, tội nhân phải gặp Chúa vì chỉ có Chúa mới có quyền ban sự sống cho con người (IGiăng 1:1). Rồi sau lúc đói kém có một môn đồ của tiên tri đem cho ăn một món độc (IICác 4:38, có lẽ cơn đói kém chép trong IICác 8:1, 2). Nhưng khi nếm, họ biết ngay có độc, bèn la lên rằng: “Hỡi người của Đức Chúa Trời, sự chết ở trong nồi nầy!” Ê-li-sê bỏ bột trong nồi, thì canh không còn độc nữa. Có một người đem hai mươi ổ bánh lúa mạch và lúa còn gié để trong bị mình mà dâng cho Chúa. Tôi tớ ông cho rằng số lượng đó không đủ cho 100 người ăn no, Ê-li-sê nhờ lời Chúa hứa “người ta sẽ ăn và còn dư lại” (IICác 4:43), bèn cho một trăm người đó ăn và còn thừa lại. Phép lạ nầy giống phép lạ Chúa Jêsus làm khi các sứ đồ Ngài tỏ ra ít đức tin (Lu 9:13-17; Giăng 6:9-13). Ê-li-sê cũng chữa sạch bịnh phung cho tướng Na-a-man. Thứ bịnh phung trắng đó rất là đáng sợ (IICác 5:27)ﮠDân Sy-ri có bắt “một đứa con gái nhỏ của xứ Y-sơ-ra-ên làm phu tù, để hầu hạ vợ Na-a-man”. Đứa gái nhỏ ấy nói cho bà chủ mình biết về tiên tri Ê-li-sê có thể chữa cho Na-a-man, như vậy Chúa có thể đổi họa ra phước, và dùng người hèn hạ làm việc lớn; Trong Mat 25:24-30 có dạy rằng khi Chúa gọi thì đừng ai từ chối.
Vua Sy-ri lại gởi thơ cho vua Y-sơ-ra-ên, ý bức thư nói rằng vua Y-sơ-ra-ên có quyền bảo tiên tri Ê-li-sê phải chữa bịnh cho Na-a-man (Mat 8:9), nhà vua còn gởi kèm theo cả những lễ vật quí báu vì nghĩ rằng có thể “mua được sự ban cho của Đức Chúa Trời” (Công 8:20). Giống vua Sy-ri, vua Y-sơ-ra-ên không có đức tin và không hiểu biết. Về đức tin, vua Y-sơ-ra-ên còn thua xa đứa đầy tớ gái nhỏ của mình! Ê-li-sê trách vua Y-sơ-ra-ên, bảo phải cho Na-a-man đến nơi mình, thì sẽ cho vua “biết rằng trong Y-sơ-ra-ên có tiên tri” (IICác 5:8). Vì chưa biết sự cao trọng thật không dựa vào sự phù hoa của thế gian, nên Na-a-man đến cùng tiên tri một cách uy nghi lắm (IICác 5:1, 9, 11). Để dạy Na-a-man phải hạ mình, là bước thứ nhứt để được ơn Chúa, Ê-li-sê sai sứ giả thay mặt mình đi ra đón rước, và bảo ông hãy tắm 7 lần ở sông Giô-đanh (IICác 5:10). Song, người đời khó tin đạo cứu rỗi của Chúa vì cớ đạo ấy đơn sơ. Na-a-man so sánh Giô-đanh với hai con sông trong xứ mình thì khinh dễ, không chịu đi. Phương pháp giúp ông được chữa lành ấy chắc có ý dạy ông nên bỏ sự cao trọng giả dối của mình. Về sau, nghe lời các tôi tớ mình, ông đi tắm; “liền được sạch, và thịt người… giống như thịt của một trẻ nhỏ” (IICác 5:14), điều này làm hình bóng về sự tái sanh thuộc linh nhờ sự rửa trong “suối mở ra… vì tội lỗi và sự ô uế” (Gióp 33:25; Xa 13:1; Giăng 3:5). Ê-li-sê từ chối không nhận lễ vật, điều nầy dạy chúng ta rằng: Đầy tớ thật của Chúa không nên bị cám dỗ bởi “tham tiền bạc” (ITi 3:3), như vua Sy-ri đã tưởng (IICác 5:5 so sánh với Sáng 14:23). Na-a-man tỏ lòng biết ơn bằng cách xin phép lấy đủ đất đem về xứ mình để dựng lại một bàn thờ, và làm chứng rằng chỉ Đức Giê-hô-va là Chân thần. Na-a-man còn xin Chúa tha thứ mình vì ông nể sợ vua, nên buộc lòng phải thờ lạy trong các đền thờ tà thần Rim-môn. Ê-li-sê không cho phép, chỉ đáp rằng: “Hãy đi bình yên”; tiên tri nhờ hột giống của lẽ thật Chúa nảy nở trong lòng Na-a-man, chứ không ép uổng ông. Chúa Jêsus cũng: “giảng đạo cho họ, tùy theo sức họ nghe được” (Mác 4:33 so sánh với đoạn 8:23-25; và Giăng 16:12).
Sự tham lam của Ghê-ha-xi khác với lòng rộng rãi của Ê-li-sê biết bao! (IICác 5:19-27). Tôi tớ của Ê-li-sê là người của Chúa, thì bất tín; còn tôi tớ Na-a-man, là người ngoại, thì trung tín. Lắm khi người được đặc ân của Chúa không đáng so sánh với người không có ơn thuộc linh gì cả! Ghê-ha-xi cho tội tham lam của mình dường như là một công đức. Ê-li-sê dung thứ là không nên, vậy Ghê-ha-xi chỉ Chúa mà thề và nhậm lễ vật đó. Bởi nói dối Ghê-ha-xi được một ta lâng bạc và hai bộ áo. Dầu Ghê-ha-xi dối trá lắm, song không có thể đánh lừa được Ê-li-sê là người của Chúa. “Khi người kia xuống khỏi xe đặng đi đón ngươi, lòng ta há chẳng ở cùng ngươi sao? Rày há có phải lúc nên nhậm lấy bạc v.v…?” (So sánh IIPhi 4:3). Nếu Ghê-ha-xi phải nhậm tiền bạc của Na-a-man, thì người đáng mắc bịnh phung trắng của ông đời đời. Phép lạ nầy có lẽ xảy ra vào khoảng 8 năm sau khi Ê-li-sê khiến con trai người nữ Su-nem sống lại (IICác 8:1-4).
Khi Ê-li-sê ở tại Giê-ri-cô, số môn đồ tiên tri thêm nhiều, chỗ ở chật chội (IICác 6:1-7). Vì vậy Ê-li-sê với các môn đồ đi đến Giô-đanh, và chặt cây trên bờ sông để cất một nơi ở rộng hơn. Song, có một môn đồ văng mất cái lưỡi rìu xuống nước. Ê-li-sê hỏi chỗ làm rớt, rồi thì “chặt một khúc cây quăng xuống tại chỗ đó, làm cho lưỡi rìu nổi lên”. Cũng vậy, trong mỗi cảnh ngộ khó khăn, Chúa dạy các con cái Ngài, bất luận nhỏ, lớn, phải nhờ Chúa luôn. Đấng đếm từng sợi tóc trên đầu chúng ta, không coi cái gì nhỏ quá mà không thèm để ý đến. Chúa có thể khiến lòng chúng ta nổi lên trên sông sự sống và được cất lên trời, dầu nó có cứng cỏi và nặng nề đến nỗi đã chìm xuống nơi đáy bùn của thế gian nầy.
Khi Ê-li-sê ở Đô-than, thì vua Sy-ri là Bên-ha-đát lập phục binh để bắt vua Y-sơ-ra-ên, nhưng Ê-li-sê sai người báo trước cho vua biết. Bên-ha-đát muốn báo thù, bèn truyền đem ngựa, xe và một đạo binh rất đông đến vây Đô-than. Đầy tớ Ê-li-sê dậy sớm thấy vậy thì sợ; liền chạy đi hỏi Ê-li-sê rằng: “chúng ta phải làm sao?” (IICác 6:16; IISử 32:7; Thi 55:18; Rô 8:31), Ê-li-sê lại cầu nguyện (IICác 6:17; Thi 34:7; Xa 9:8). Chúa nhậm lời cầu nguyện của Ê-li-sê và đánh cơ binh của Sy-ri bị đui mù; sau Ê-li-sê dẫn cơ binh khỏi Đô-than đến Sa-ma-ri. Tại đó Chúa mở mắt cho họ. Khi vua Y-sơ-ra-ên muốn đánh, thì trái lại, Ê-li-sê bảo vua phải dọn bánh và rượu cho ăn uống rồi tha đi (Rô 12:20).
Về sau vua Sy-ri đến vây hãm Giê-ri-cô, và dân Y-sơ-ra-ên có cơn đói kém lớn đến nỗi có đàn bà phải ăn thịt con mình; vậy là ứng nghiệm lời tiên tri rủa sả (Lê 26:29; Phục 28:53-57). Vua Giô-ram ngăm dọa Ê-li-sê, giống như Giê-sa-bên là mẹ vua đã ngăm dọa Ê-li (ICác 19:2; IICác 6:31), vua tin lời nói của Ê-li-sê, nên có nạn đói kém đó, có lẽ tưởng Ê-li-sê trước kia có tha cơ binh Sy-ri đó đi, hay có cầu xin Chúa như Ê-li (ICác 17:1-). Vua Giô-ram thề: “Nếu ngày nay đầu của Ê-li-sê, con trai Sa-phát, hãy còn ở trên vai nó nguyền Đức Chúa Trời xử ta cách nặng nề!” Khi sứ giả mà vua sai chưa đến, thì Ê-li-sê đã biết, nên nói với các trưởng lão đang ngồi trong nhà với mình rằng: “Kìa, hãy xem, con kẻ sát nhơn kia (A-háp và Giê-sa-bên) sai người đến đặng cắt đầu ta. Hãy đóng cửa lại, dùng cửa xô đuổi nó đi”. Đang khi tiên tri còn nói thì sứ giả đến, lúc sau vua cũng đến và than trách Chúa với Ê-li-sê (IICác 6:33; Thi 27:14; cũng xem Mal 3:14; Châm 19:3). Ê-li-sê tâu với vua rằng ngày mai Đức Giê-hô-va sẽ cất cơn đói kém đó đi (IICác 7:1). Dầu vua không chịu “trông cậy nơi Đức Giê-hô-va” nhưng Chúa sẽ cứ thương xót. Có một quan không tin, hỏi Ê-li-sê: “Dầu cho Đức Giê-hô-va mở các cửa sổ trên trời, điều đó há có được sao?” Tiên tri đáp: “Chính mắt ngươi sẽ thấy, nhưng ngươi không được ăn đến”. Vậy, lòng vô tín sẽ không bao giờ được hưởng phước!
Thật ra, Chúa khiến dân Sy-ri nghe tiếng xe ngựa và tiếng đạo binh lớn thì sợ, bỏ trại và mọi của cải mà chạy trốn để cứu mạng sống mình. Trước hết có bốn người phung biết, sau khi đã ăn no thì lấy bạc, vàng, và quần áo đem đi giấu (Mat 13:44; 25:25). Về sau, vì họ sợ sự ích kỷ và tham lam sẽ gây sự khó khăn cho mình (Châm 11:24), bốn người phung ấy không dám làm thinh nữa, lựa ngày vui vẻ và tâu cho nhà vua Y-sơ-ra-ên biết (So sánh với đạo Tin lành Ês 52:7; 62:6, 7; Mat 28:19; Rô 13:12). Khi nghe, vua cắt quan cai kia canh giữ cửa thành, song vì dân chúng đông quá, giày xéo chết người (IICác 7:17). Lời tiên tri của Ê-li-sê được ứng nghiệm như vậy đó.
Vâng lời bảo của Ê-li-sê, người đờn bà Su-nem, (mẹ của con trai mà Ê-li-sê đã khiến cho sống lại), bèn đi tránh nạn đói kém. Trong bảy năm đói kém (IICác 4:38), bà đi kiều ngụ trong xứ Phi-li-tin (IICác 8:1, 2). Khi hết cơn đói kém, bà trở về, thấy người ta đã chiếm lấy nhà và đồng ruộng của mình, thì đến kêu nài với vua. Đúng giờ đó, — chắc bởi ý Chúa, — vua đang hỏi Ghê-ha-xi về hết các công việc lớn của Ê-li-sê (Khi ấy Ghê-ha-xi chưa bị phạt mắc bịnh phung, (IICác 5 và 8) vì những sự xảy ra trong đời sống Ê-li-sê không chép theo thứ tự về năm tháng, song chép theo thứ tự tương quan với sự thuộc linh). Vua truyền phải trả lại món nào thuộc về bà.
Ê-li-sê không quên lời Ê-li nói về nhà A-háp phải chịu hình phạt như thế nào. Khi Giê-hu ở Ra-mốt, Ê-li-sê có sai môn đồ xức dầu cho Giê-hu, là người Chúa dùng để phạt nhà A-háp và Giê-sa-bên (IICác 9:1-10). Ấy là làm những việc Chúa sai Ê-li làm vậy (ICác 19:16). Vua Bên-ha-đát đau, sai Ha-xa-ên hỏi Ê-li-sê về việc lành dữ. Ê-li-sê bèn nói tiên tri về sự xảy ra trong tương lai (IICác 8:7-13). Vậy, có thể nói rằng Ê-li-sê vâng lịnh Chúa mà nối gót Ê-li (IICác 19:17).
Khi Ê-li-sê sắp chết, vua Giô-ách đến khóc mà nói rằng: “Hỡi cha tôi! Cha tôi! Xe và lính kỵ của Y-sơ-ra-ên!” (IICác 13:14); lời này giống lời Ê-li-sê kêu la lúc Ê-li lên trời và có ý nghĩa là: khi Ê-li-sê đi thì Y-sơ-ra-ên sẽ thiếu tiên tri để binh vực mình! Ê-li-sê sai Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, đứng nơi cửa sổ về phía đông, giương cung và bắn (IICác 13:15-19). Vua vâng lời. Ê-li-sê bèn nói tiên tri rằng: “Ấy là cây tên thắng hơn hết của Đức Giê-hô-va, tức là cây tên thắng hơn dân Sy-ri, v.v…”. Về sau Ê-li-sê bảo vua phải lấy tên mà đập xuống đất. Vua đập ba lần, rồi ngưng. Ê-li-sê giận vì vua không đập năm sáu lần. Điều này làm hình bóng rằng vua Giô-ách chỉ đánh trận dân Sy-ri ba lần, chớ không đánh cho tuyệt diệt. Về phần thuộc linh, nếu chúng ta bắn tên của sự cầu nguyện (Thi 5:3), thì sẽ đánh phá những kẻ thù nghịch thuộc linh cách trọn vẹn hơn (Ês 43:22).
Sau khi Ê-li-sê qua đời Chúa cũng dùng làm một phép lạ nữa: Có thây một người chết trận bị liệng vội vàng vào mộ của Ê-li-sê, khi thây đó “đụng hài cốt Ê-li-sê thì sống lại và đứng dậy” (IICác 13:21 với Ês 26:19).
Lịch sử của Ê-li-sê có nhiều điều giống lịch sử của Đấng Christ:
1. Đấng Christ ở sông Giô-đanh khởi đầu chức vụ cách trọng thể (IICác 2:3; Mác 1:9).
2. Đấng Christ rẽ nước Biển Chết ra làm hai cho chúng ta (IICác 2:14; với Ês 51:15, theo bản tiếng Anh).
3. Bởi “giao ước muối” chữa lành “nước độc và đất chai” của luật pháp đoán phạt (IICác 2:19-22 với Ês 35:1-6).
4. Khiến Hội Thánh son sẻ trở nên mẹ của nhiều con thuộc linh (IICác 4:16-20 với Ês 51:1).
5. Hóa ra nhiều dầu của ân điển (IICác 4:1-7 với Ês 61:3).
6. Khiến người chết sống lại về thuộc thể và thuộc linh (IICác 4:32-35 với Giăng 5:25-29).
7. Chữa người bịnh phung trong linh hồn (IICác 5:1-, với Mác 1:42).
8. Cho dân đông ăn (IICác 4:42-44 với Lu 9:13 và Giăng 6:11).
9. Những “ngựa và xe” của Hội Thánh làm cho chúng ta được thắng (IICác 6:17 với IICôr 2:14).
10. Tha người phu tù đi (IICác 6:23, với Ês 61:1).
11. Đoán phạt kẻ nhạo báng (IICác 2:23 với Công 13:14).
12. Khiến kẻ cứng lòng không muốn thấy trở nên đui mù – như tấm gương của Ghê-ha-xi và Giu-đa-Ích-ca-ri-ốt (IICác 6:18 với Giăng 9:39-41).
13. Không cho kẻ vô tín hưởng lời hứa của Tin lành, dầu họ thấy các phước trên trời của Chúa (IICác 7:2-19 với Lu 16:23-26).
14. Như Ê-li-sê, người ôn hòa, theo sau Ê-li là người nghiêm nhặt. Cũng thế, Jêsus Cứu Chúa đầy ơn, theo sau Giăng Báp-tít là tiên tri rất quan trọng của luật pháp.