Elijah. Élie (Giê-hô-va là Đức Chúa Trời).
I. Tiên tri của nước Y-sơ-ra-ên, người Thi-sê-be, ở Ga-la-át (ICác 17:1). Có người nói tên ông nghĩa là “kẻ làm cho hối cải”.
Sứ mạng của ông:– Ý nghĩa tên ông đã tỏ ra mục đích duy nhứt của ông là dắt đem đồng bào bội đạo trở về cùng Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời (So sánh ICác 18:39 với Mal 4:5, 6). Trái vớISa-mu-ên, Ê-li-sê và nhiều tiên tri khác, Kinh Thánh không chép về gia phổ của Ê-li, vì ông bỗng nhiên xuất hiện, giống như Mên-chi-xê-đéc trong thời đại các tộc trưởng không có chép về cha hoặc mẹ. Cũng không chép rõ quê hương của Ê-li. Điều này cốt để khiến người ta chuyên chú vào sứ mạng thiên thượng của ông, tức là phá đổ sự thờ thần Ba-anh và Át-tạt-tê giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên. Vua A-háp và hoàng hậu Giê-sa-bên đã đem các hình tượng đó vào cho nhân dân thờ lạy và xem chúng như là Đức Chúa Trời, thật trái với điều răn thứ nhứt (ICác 18:21; Ôs 2:16, 17).
Hình dáng của ông:– Trong các tiên tri Y-sơ-ra-ên, ông là người lạ lùng hơn hết. Ông để tóc dài và rậm, xỏa xuống lưng. Ông thường bận áo lông (IICác 1:8), và khi chạy, thì thắt lưng bằng dây da thật chặt (ICác 18:46). Có khi ông cũng bận áo tơi bằng da con chiên (IICác 2:8). Ông ở miền núi Ga-la-át, là nơi đất tốt để dự bị cho ông thi hành chức. Ở miền núi đó, thân thể ông được bổ sức để sau nầy có thể đương đầu với khó khăn. Ở nơi cô tịch đó, ông có thể cầu nguyện giao thông với Chúa và được Chúa thêm sự sốt sắng cháy bừng như lửa, thêm ý chí cương quyết để nói ngay thẳng, thêm can đảm để không sợ một ai.
Công việc của ông:– Việc làm đầu tiên của ông là khi ông thình lình ra mắt vua A-háp mà nói tiên tri về ba năm hạn hán, và rao bảo rằng Đức Giê-hô-va sẽ báo thù vua vì cớ bội đạo. Các từng trời đóng chặt, minh chứng rằng chỉ Giê-hô-va là Đức Chúa Trời Chân Thật và lời cầu nguyện của Ê-li được Ngài nhậm lời (Gia 5:17). Để trốn khỏi sự báo thù của vua và hoàng hậu Giê-sa-bên, ông vâng lời Chúa đến ở nơi khe Kê-rít. Tại đó Chúa nuôi ông một cách lạ lùng: Ngài sai chim quạ đem bánh, thịt cho ông ăn, và ông cũng uống nước khe đó. Khi khe khô cạn, ông phải bỏ đi nơi khác. Chim quạ vốn là loài ô uế, song Chúa dùng nó phục vụ tôi tớ Ngài; cũng một lẽ ấy, Chúa có thể dùng những điều hết sức bình thường để làm khí cụ cho các thánh đồ Ngài. Có lẽ lúc đó Giê-sa-bên thấy Ê-li trốn tránh, bèn diệt hết các đấng tiên tri của Chúa (ICác 18:4; 19:2).
Nơi thứ hai tiên tri Ê-li theo lời Chúa mà ẩn mình là thành Sa-rép-ta, trong nhà một bà góa. Vậy có thể nói rằng ông là Sứ đồ thứ nhứt của dân ngoại (Lu 4:26). Chẳng ai ngờ nhà bà góa nầy là nơi có thể cứu giúp Ê-li; song khi ông truyền bảo, thì bà liền múc nước cho ông uống, cũng lấy một nắm bột còn sót trong vò, một chút dầu còn sót trong bình, lượm hai khúc củi, nấu bánh cho ông ăn. Bà nầy giống như bà góa trong Tân Ước dâng hết hai đồng tiền, không giữ lại một đồng cho mình, cũng không lo rồi mình sẽ còn gì để ăn (Lu 21:2). Cũng vậy, bà góa ở Sa-rép-ta trước hết chuyên chú vào lời Chúa phán bởi Đấng tiên tri, nên được Chúa làm trọn lời hứa mà thêm cho mọi sự cần dùng (Mat 6:33; Ês 33:16; Thi 37:19; Giê 37:20, 21). Cám ơn Chúa! “Bột chẳng hết trong vò, dầu không thiếu trong bình” (ICác 17:16).
Bà góa đó thắng bởi đức tin, Chúa rèn thử bà càng nặng nề hơn nữa. Con trai của bà đau ốm đến nỗi “chẳng còn hơi thở” (ICác 17:17). Sự rèn thử đó khiến bà nhận thấy tội lỗi mình và tưởng mình bị phạt vì không xứng đáng tiếp rước một Đấng tiên tri thánh khiết trong nhà mình. Song tiên tri cầu nguyện Chúa và ấp mình trên con trẻ ba lần, (dường như thân thể mình là một môi giới cho quyền phép Chúa vào thân thể đó), kêu cầu lần nữa “xin Chúa khiến linh hồn của đứa trẻ nầy trở lại trong mình nó”; bởi phép lạ nầy, chính bà góa nhận được sự sống thuộc linh mới, làm chứng rằng Ê-li là một người của Chúa, và nhận rằng lời Chúa phán bởi ông là thật (ICác 17:17-24).
Có lẽ Ê-li cứ ở nhà bà góa đó hoặc đã ẩn mình ở nơi khác trong suốt hơn hai năm. Thời gian đó cứ có hạn hán, và cuối cùng có nạn đói kém ghê gớm vì cớ mùa màng ở xứ Sa-ma-ri mất hết. Sau khi Ê-li đã làm cho Áp-đia hết sợ mà bằng lòng đi tâu với vua, và sau khi các đầy tớ vua hết sức tìm kiếm trong ba năm mà không thấy, thì một lần nữa, Ê-li thình lình ra mắt vua A-háp. Ê-li đứng trước mặt vua một cách oai nghiêm, và khi vua trách ông là người làm rối loạn Y-sơ-ra-ên thì ông lại chỉ chính vua mới là người gây rối loạn vì đã thờ thần Ba-anh (ICác 18:18).
Trong lịch sử ít có truyện tích nào kỳ diệu bằng câu chuyện xảy ra ở trên núi Cạt-mên: Một bên là Ê-li – tôi tớ Đức Giê-hô-va, cùng với một kẻ giúp việc; bên kia có 450 tiên tri của thần Ba-anh và 400 tiên tri của Át-tạt-tê vẫn ăn tại bàn của Giê-sa-bên. Từ sáng đến trưa họ luống công cầu nguyện với Ba-anh, là thần mặt trời và thần lửa, vừa kêu la, vừa rạch thịt cho chảy máu; nhưng không có lửa từ trời xuống thiêu của lễ trên bàn thờ Ba-anh. Ê-li nói rằng có lẽ thần ấy “đương suy gẫm, hoặc đi đâu xa, hoặc đương đi đường”. Mãi sau vẫn không thấy gì, Ê-li bèn lấy 12 hòn đá làm đại biểu cho 12 chi phái Y-sơ-ra-ên lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, đặt của lễ lên trên củi, ba lần đổ bốn bình nước lên trên của lễ thiêu và củi. Rồi ông cất tiếng cầu nguyện với Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, của Y-sác và của dân Y-sơ-ra-ên, xin Ngài tỏ quyền phép ra cho ai nấy nhận biết Ngài thật là Đức Chúa Trời; tức thì có lửa từ trời xuống thiêu hết của lễ, củi, đá, bụi và rút hết nước trong mương. Bấy giờ các tiên tri của tà thần Ba-anh bị giết dưới khe Ki-sôn y theo luật pháp, vì tội phản nghịch Đức Giê-hô-va, là Đấng trực tiếp cai trị nước Y-sơ-ra-ên (Phục 13:9-11, 15; 18:20). Cả nước ăn năn, xưng tội, và Chúa cất sự đoán phạt khỏi họ. Ngài cho “một đám mây nhỏ như lòng bàn tay” và cứ thêm lên, đến nỗi cả từng trời đen kịt, gió nổi dậy và có cơn mưa rất lớn (Lu 12:54). Quả thật, lời cầu nguyện của Ê-li có linh nghiệm nhiều vì xin không mưa thì trời không mưa, xin mưa thì trời mưa ngay. Ông dạy chúng ta rằng chẳng những phải cầu nguyện song cũng nên biết nhịn nhục đợi chờ (Gia 5:17, 18; ICác 18:41-45). A-háp ngồi xe đi 25 cây số, vội qua đồng bằng tới Gít-rê-ên, kẻo đường bùn lầy không đi được. Ê-li thắt lưng chạy trước, song không vào thành, sợ bị ô uế vì cớ tội lỗi tại đó. Giê-sa-bên thề sẽ báo thù. Ê-li phải bỏ đầy tớ ở Bê-e-sê-ba mà trốn vào đồng vắng đặng cứu mạng sống mình. Ông không vào địa phận của vua Giô-sa-phát trước, có lẽ vì vua nầy dầu tin kính Chúa song đã để con mình cưới con gái của A-háp và Giê-sa-bên. Trong cơn thử thách đức tin nầy, Ê-li ngã lòng ít lâu. Điều này thật dễ hiểu lắm, vì tinh thần ông có phần căng thẳng vì câu chuyện xảy ra trên núi Cạt-mên và ông đã chạy mau đến Gít-rê-ên, cho nên thân thể ông mệt mỏi và linh hồn nao sờn, ngoài ra vì ông hy vọng nhờ sự đắc thắng trên núi Cạt-mên, cả nước ăn năn trở lại cùng Chân thần; nay điều đó không xảy ra, công việc của ông hóa ra vô ích, ngôi của tội ác không bị rúng động. Vì thế, ông ngồi dưới cây giếng giêng, xin chết mà rằng: “Ôi! Đức Giê-hô-va! Đã đủ rồi. Hãy cất lấy mạng sống tôi!” Chúa nghe lời cầu nguyện, song đáp lại trái với ý ông. Trước hết Chúa cho ông ngủ, rồi sai một thiên sứ cho ông ăn. Về sau ông đi 40 ngày đêm, tới Hô-rếp, là núi của Đức Chúa Trời, ẩn mình ở trong hang đá, và được sự hiện thấy của Đức Giê-hô-va (ICác 19:9-18). Đồng vắng đó chính là nơi khi trước Môi-se đã ẩn mình khỏi tay vua Ai-cập, và cũng là nơi Phao-lô ẩn mình khỏi xiềng xích của luật pháp. Tại đó, luồng gió thổi mạnh và cơn động đất khiến ông sẵn sàng nghe “tiếng êm dịu nhỏ nhẹ” của Chúa. Phép lạ như là hồi chuông gióng giả để khiến chúng ta chú ý, song Đức Thánh Linh là tiếng êm dịu của Chúa phán trực tiếp với linh hồn. Cũng như Giăng Báp tít hăng hái ra giảng nơi đồng vắng, và sau có Đấng Mê-si phán lời ngọt ngào chép ở Mat 11:29. Chúa dạy tiên tri đã ngã lòng và thiếu sự kiên nhẫn rằng: có khi không bởi phép lạ lớn mà nhân dân lìa bỏ tội ác, song chính là bởi tiếng Chúa phán nhỏ nhẹ trong lương tâm mà Ngài có thể phục hưng đời thuộc linh của tín đồ. Tiếng nhỏ nhẹ của Chúa đã khiến Ê-li phải lấy áo tơi trùm mặt lại. So sánh với Môi-se (Xuất 3:6) và Ê-sai (Ês 6:2). Tiên tri phàn nàn với Chúa hai lần, thì Ngài giục lòng ông càng mạnh mẽ bởi cho ông biết rằng vì cớ gương sáng của ông, có 7.000 người “không quì gối trước mặt Ba-anh và môi họ không hôn nó”. Sau ông vâng lời Chúa mà đi làm việc Ngài giao cho (ICác 19:1-).
Trước hết ông đi tìm Ê-li-sê, gặp người đang cày ruộng bèn ném áo choàng trên người như để phong chức tiên tri thay cho mình. Có một khoảng thời gian không ai nghe tin về Ê-li; chắc A-háp và Giê-sa-bên tưởng không còn gặp ông nữa. Sự bội đạo Chúa kết quả là ăn ở bất công với đồng loại. Sau khi Giê-sa-bên sai giết Na-bốt, thì Ê-li nhờ Chúa mách bảo mà biết tin ấy, bèn thình lình tỏ mặt quở trách A-háp và Giê-sa-bên rất nặng. Muốn biết hết những lời quở trách đó, phải xem ICác 21:17-26; IICác 9:26, 36, 37. Về sau, những lời ngăm dọa thật đã được ứng nghiệm.
Ba, bốn năm sau (tham khảo ICác 22:1, 51; IICác 1:17), chúng ta lại mới thấy nói đến Ê-li: Vua A-cha-sia đau nặng nằm trên giường chờ chết (IICác 1:1, 2), ông sai sứ giả đi cầu vấn Ba-anh-xê-bụt, thần của Éc-rôn, xem có được lành bịnh không. Song Ê-li được Chúa mách bảo, thình lình đón các sứ giả, nói thẳng rằng A-cha-sia sẽ chết, rồi ông bỗng biến đi. Vua tức giận, sai hai toán lính đến bắt Ê-li, song chúng đều bị lửa từ trời đốt chết. Toán thứ ba mới thoát chết vì quan cai khiêm nhường xin giữ vẹn mạng sống. Vậy Chúa làm chứng rằng Ê-li thật tôi tớ Ngài. Được Đức Chúa Trời hứa che chở, Ê-li bèn đến tỏ cho vua biết rằng vua sẽ chết. Ấy là lần cuối cùng ông ra mắt vua và làm chứng nghịch cùng tà thần Ba-anh (IICác 1:16).
Tại sao về sau Đức Chúa Jêsus không theo lời xin của Gia-cơ và Giăng mà sai lửa trời tuyệt diệt dân Sa-ma-ri? Ấy vì dân Sa-ma-ri dầu nửa thờ Đức Chúa Trời, nửa thờ hình tượng, nhưng không biết rõ tội ấy là nặng nề dường nào, và cũng không kiếm cách giết Chúa; còn những người kia đã được Ê-li cho biết rõ tội thờ hình tượng và họ đã kiếm cách giết ông. Còn một lý do khác nữa là: Đương thời Đức Chúa Jêsus là đời ân điển, còn đương thời Ê-li là đời luật pháp “Con người đã đến, không phải để diệt các linh hồn, song để cứu cho” (Lu 9:54-56).
Được ít lâu, Ê-li gởi thư cho vua Giô-ram, quở trách tội ác của vua và cho biết trước Chúa sẽ giáng tai vạ trên dân sự và vua sẽ chết (IISử 21:12-15).
Bấy giờ chức vụ của Ê-li gần hết, và có tiên tri khác được kêu gọi (ICác 20:35, 36; 22:1-). Tại Ghinh-ganh, phía Tây miền núi xứ Ép-ra-im, Chúa muốn cất ông lên trời. Lúc đó có tiên tri Ê-li-sê cùng đi với ông đến Bê-tên, nhứt định không chịu bỏ ông. “Hai người cứ vừa đi, vừa nói với nhau kìa, có một cái xe lửa và ngựa lửa phân rẽ hai người; Ê-li lên trời trong một cơn gió lốc” (IICác 2:11. Năm 896 T.C.). Ê-li-sê bèn lấy cái áo tơi đã ở nơi mình Ê-li rơi xuống, trở về. “Có năm mươi người trong các môn đồ tiên tri đứng cách xa và thấy cảnh tượng đó. Chúa cất Ê-li lên trời như thế là tỏ ra sự răn dạy của Chúa cho người bội đạo sau cơn nước lụt, cũng như Chúa cất Hê-nóc lên trời và tỏ ra sự răn dạy của Chúa cho người bội đạo trước nước lụt.
Sau khi Ê-li được cất lên trời, thì lời hứa cho Ê-li-sê mới được ứng nghiệm, tức là Ê-li-sê thật được Đức Thánh Linh cảm động bội phần, và từ đó ông có ảnh hưởng lớn trước mặt các vua, đến nỗi khi ông sắp qua đời “Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên đến thăm người khóc trước mặt người mà nói rằng: “Hỡi cha tôi! Cha tôi! Xe và lính kỵ của Y-sơ-ra-ên” (IICác 13:14). Cũng vậy sau khi Đấng Christ lên trời, Hội Thánh đầu tiên nhận Đức Thánh Linh một cách đầy tràn, đến nỗi số linh hồn được cứu nhiều hơn lúc Đức Chúa Jêsus còn ở trong thế gian (Giăng 16:7-15; Công 2:1-; Êph 4:7-14).
Các lời tiên tri:– Trước 400 năm giữa Cựu Ước, có lời tiên tri rằng: “Nầy ta sai đấng tiên tri Ê-li đến cùng các ngươi, trước ngày lớn và đáng sợ của Đức Giê-hô-va chưa đến” (Mal 4:5). Đức Chúa Jêsus làm chứng rằng Giăng Báp-tít là Ê-li, là đấng phải đến (Mat 11:14; 17:12). Song khi xem Lu 1:11, 17 chỉ về Mal 4:5, 6, ta thấy Chúa có nói về Giăng Báp tít rằng: “Chính người lại lấy tâm thần quyền phép Ê-li mà đi trước mặt Chúa”. Bởi đó ta hiểu rõ Giăng là đấng tiên tri giống Ê-li, nên khi có thầy tế lễ hỏ Giăng rằng: “Ông phải là Ê-li đó chăng?” thì ông trả lời: “Không phải” (Giăng 1:12).
Trong Mat 17:3, ta thấy Ê-li và Môi-se đã hiện đến nói chuyện với Ngài trên núi hóa hình, nhưng trong Mat 17:11, Chúa phán rằng: “Thật Ê-li phải đến mà sửa lại mọi việc”. Hiện nay có nhiều văn sĩ Do-thái, tin rằng khi Đấng Mê-si chưa đến, thì Ê-li sẽ đến trước để làm cho sạch gia đình và dẹp yên kiện cáo, làm phép lạ của Chúa để kêu gọi người đời. Những phép lạ của hai người làm chứng (chép trong Khải 11:1-12) “Có lửa từ miệng hai người thiêu đốt kẻ thù nghịch mình” (So sánh ICác 17:1; IICác 1:10), “Có quyền đóng trời lại, để cho trời không mưa” (So sánh với Gia 5:17; Lu 4:25), và “Có quyền biến nước thành huyết và khiến các thứ tai nạn làm hại trên đất”; chắc chứng quyết hai người làm chứng đó là Ê-li và Môi-se. Sau khi hai người làm chứng ấy được sống lại và lên trời, thì sẽ có ngày lớn và đáng sợ của Đức Giê-hô-va” (Mal 4:5), là ngày “Đức Chúa Jêsus chúng ta sẽ đến với hết thảy các thánh đồ của Ngài” để lập nước một ngàn năm bình an (ITê 3:13).
Tiến sĩ Scofield nói rằng: Để hiểu được Mat 17:11, phải tham khảo Mat 11:14; Mác 9:11, 12, 13; Lu 1:17; và Mal 3:1; 4:5, 6.
1. Đấng Christ chứng quyết rằng lời tiên tri thật của Mal 4:5, 6 chưa được ứng nghiệm, khi phán: “Thật Ê-li phải đến mà sửa lại mọi việc”. Một phần câu tiên tri trong sách Ma-la-chi đó đã được ứng nghiệm bởi Giăng Báp-tít, và một phần còn phải được ứng nghiệm bởi Ê-li thật.
2. Song Giăng Báp-tít đã đến rồi và đã tỏ ra “tâm thần và quyền phép” của chức vụ Ê-li, và tiên tri còn phải đến lần nữa, để nhờ đó có thể nói được rằng “Ê-li đến rồi”. Sách Mat 10:40 và Philm 12, 17, cũng có ý nói chung về một người, song vẫn phân biệt người nầy với người kia (Xem Giăng 1:27).
II. Tiếng Araméenne nghĩa là “Đức Chúa Trời tôi”. Đó là một lời mà Đức Chúa Jêsus đã nói trên thập tự giá (Mat 27:46). (So sánh với Thi 22:1). Trong Mác 15:34 có dùng một tiếng Araméenne khác, tức là “Éloi”, để chỉ về Đức Chúa Trời.