I. Đời Cựu Ước.
1. Địa vị đàn bà ở trong nhà.– Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên người nữ để phối hiệp với người nam (Sáng 2:18), cũng có quyền cai quản hết thảy các loài sanh vật. Từ sau khi người nữ phạm tội, dẫu Chúa khiến đàn bà chịu sự cai trị của chồng (Sáng 3:16), song vẫn là một thịt và bình đẳng với chồng (Sáng 2:24), chứ không phải là đồ chơi hay là tôi tớ của đàn ông. Bà Sa-ra, Rê-be-ca, và Ra-chên đều đồng đẳng với chồng hết.
2. Địa vị đàn bà trong nước.– Khi người Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, Mi-ri-am cùng đồng đẳng với Môi-se và A-rôn (Mi 6:4). Mi-ri-am được xưng là nữ tiên tri, lại cũng làm quan xét nữa. Bà tự xưng là mẹ của người Y-sơ-ra-ên (Quan 4:4; 5:7). Sau khi lập vua, Hun-đa cũng làm nữ tiên tri (IICác 22:14). Cũng có phụ nữ làm việc cứu người, như Ra-háp tiếp rước và giải cứu các thám tử (coi Giô 2:1-). Gia-ên giết Si-sê-ra (Quan 4:17-22). Lại có một người nữ giết A-bi-mê-léc (Quan 9:53). Có người đờn bà giấu thám tử của vua Đa-vít (IISa 17:19). Có một người nữ khôn ngoan cứu thành A-bên (IISa 20:16-22). Lại có người làm nữ vương, như Giê-sa-bên (ICác 16:31) và A-tha-li (IICác 11:1). Quyền thế của họ đều lớn lắm.
3. Địa vị đàn bà trong tôn giáo.– Phụ nữ có dâng đồ trang sức bằng vàng khi làm Hội mạc và chính tay họ cũng giúp nhiều việc (Xuất 35:22, 25, 26). Có khi họ cùng chồng dâng của lễ (Quan 13:20, 23). Họ thường cùng đến dự ba lễ trọng thể (ISa 1:1-). Khi tuyên đọc luật pháp, phụ nữ cũng cùng nghe (Giô 8:35; Giê 44:24). Khi từ Ba-by-lôn trở về có những phụ nữ làm việc ca hát (Exơ 2:65).
4. Địa vị đàn bà ở trước luật pháp.– Theo luật Môi-se, phụ nữ dầu bị đàn ông cai trị, song vẫn được hưởng quyền lợi riêng của mình (Phục 21:16, 17; Phục 22:25-29; Xuất 21:7-11). Châm Ngôn tả về một người đờn bà khôn ngoan (Châm 31:1-31); điều này chứng tỏ rằng người xưa coi trọng bậc phụ nữ có tài, có đức.
II. Đời Chúa Jêsus.
1. Lời giảng dạy của Chúa Jêsus có quan hệ về việc phụ nữ.– Người Do-thái dầu đối đãi với phụ nữ hơi tốt hơn các nước khác; song, về việc để bỏ vợ, rất không công bằng. Bất cứ một lý do nhỏ nào, người Do-thái cũng có thể bỏ vợ được cả. Về việc này Chúa Jêsus trả lời với người Pha-ri-si ở Mat 19:8. Sự giảng dạy đó của Chúa Jêsus là mở rộng luật pháp Môi-se, thay đổi đạo vợ chồng vậy. Chúa chẳng những thay đổi đạo vợ chồng, mà lại thay đổi cả sự giao thiệp giữa nam nữ nữa. Vì trong vòng nam nữ, người Pha-ri-si cùng đặt lệ để hạn chế, như khi Chúa Jêsus đứng bên giếng xứ Si-kha, nói chuyện với người đàn bà, thì môn đồ đều sững sờ vì thấy như thế (Giăng 4:27). Họ sững sờ chẳng những vì thấy Ngài nói chuyện với người Sa-ma-ri, mà đó còn là một người đàn bà nữa.
2. Chúa Jêsus đối đãi với phụ nữ.– Chúa Jêsus chẳng những cư xử khéo với hạng phụ nữ thanh sạch, lương thiện như bà Ma-ri, mẹ Ngài, chị em Ma-thê và Ma-ri thôi đâu, mà ngay như hạng đàn bà hạ lưu phạm tội, Ngài cũng rất tế nhị (Lu 7:37-50; 8:2; Giăng 4:7-26). Sự quan hệ giữa Chúa Jêsus và mẹ Ngài lại càng mở đường cho việc thay đổi mối quan hệ trong gia đình: Khi Chúa Jêsus còn thơ ấu, Ngài ở cùng và yêu mến bà Ma-ri. Về sau, người đạo Thiên Chúa, vì thấy bà Ma-ri là mẹ Chúa Jêsus nên tôn bà một cách quá đáng là “Hoàng hậu trên trời”. Biết trước sẽ có sự nguy hiểm đó, Chúa Jêsus phải tìm cách ngăn ngừa sẵn, tức là mở rộng tình thân yêu ra, để dẫn phụ nữ bước vào nước Thiên đàng. Khi có người đờn bà khen mẹ Ngài là kẻ có phước, Ngài liền đáp: “Những kẻ nghe và giữ lời Đức Chúa Trời còn có phước hơn!” (Lu 11:27-28). Câu chuyện ở Mat 12:48-50 cũng cho thấy điều đó. Chúa Jêsus phán cùng người đàn bà phạm tội: “Hãy đi, đừng phạm tội nữa” (Giăng 8:11). Thế là Ngài mở một cánh cửa hy vọng cho những đàn bà tuyệt vọng, khiến họ nhờ ơn tha thứ, rửa sạch tội lỗi. Chúa giao thiệp với phụ nữ, không bó buộc trong vòng lệ cũ thói xưa, làm môn đồ rất đỗi sững sờ (Giăng 4:27), người ngoại bàn tán (Lu 7:39). Đó vì Ngài khéo léo bày tỏ con người tội nhân của họ, hiến họ dễ hối cải, trở lại nương nhờ Ngài, mặc dầu Ngài vẫn gớm ghét tội lỗi.
3. Chúa Jêsus sai phái phụ nữ, có hiệu quả gì?–Lòng tin đạo của phụ nữ vốn không kém gì đàn ông, đó là chưa kể đến tình cảm dễ bị kích động của họ. Vì thế, phụ nữ rất dễ chịu cảm động và tiếp nhận lẽ đạo. Ma-thê tin nhận Chúa Jêsus là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, còn rộng và lớn hơn sự tin nhận của Phi-e-rơ (Giăng 11:24-27; Mat 16:16). Người đờn bà xứ Ca-na-an có đức tin lớn cố nài xin Chúa Jêsus rủ lòng thương xót (Mat 15:22-28). Vợ Phi-lát cảm động về việc Chúa Jêsus, đau đớn nhiều trong cơn chiêm bao (Mat 27:19). Người Si-kha tin Chúa Jêsus là nhờ có người đàn bà hư hỏng làm chứng về Ngài (Giăng 4:28-39). Trong giới phụ nữ cũng có nhiều người vui lòng đem của cải mình phục sự Ngài (Lu 8:3). Khi Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá, nhiều môn đồ trốn tránh; chỉ có vài người đờn bà là dám đến gần Chúa Jêsus, không sợ ai bắt bớ, làm nhục cả (Mác 15:40-41). Như vậy đã đủ chứng cớ để thấy rằng phụ nữ chịu lẽ đạo cảm động còn sâu xa hơn đờn ông.
III. Đời các Sứ đồ lập Hội Thánh.
1. Trong Hội Thánh, đàn bà và đàn ông đều bình đẳng.– Việc nầy, có thể lấy bốn sách Tin lành làm chứng cớ, như An-ne (Lu 2:36), Ê-li-sa-bét (Lu 1:15), Ma-ri, mẹ Chúa Jêsus, Ma-thê và người em gái là Ma-ri, Ma-ri ở Bê-tha-ni (Giăng 11:1) trong nữ giới cũng ngang như Phi-e-rơ, Giăng, Gia-cơ và Anh-rê trong nam giới. Nếu chỉ nói đến đàn ông, mà không nói đến phụ nữ thì là một sự thiếu thốn lớn của bốn sách Tin lành. Khi Sứ đồ lập Hội Thánh, phụ nữ cũng hiệp cùng các Sứ đồ đồng lòng cầu nguyện (Công 1:14), hoặc giúp đỡ công việc truyền đạo. Bà Ơ-nít lấy làm cảm động vì đứa con là Ti-mô-thê (Công 16:1; IITi 1:5). Bê-rít-sin giúp đỡ chồng là A-qui-la (Công 18:26). Đô-ca hay bố thí cho dân nghèo (Công 9:36). Bốn con gái của Phi-líp đều hay nói tiên tri (Công 21:9). Ly-đi là người châu Âu tin đạo trước tiên (Công 16:14). Ngoài ra, trong thơ tín của Phao-lô còn nói đến nào là nữ chấp sự, nào là kẻ làm việc cho Chúa. Như vậy, chức phận của phụ nữ đối với Hội-thánh thật lớn lao!
2. Ở trong nhà, chồng là đầu vợ.– Vì sao Phao-lô nói người nam là đầu người nữ (ICôr 11:3; Êph 5:23), và không cho phép người nữ giảng đạo? Trong khi Hội Thánh đã không phân biệt nam nữ, vì ở trước mặt Đức Chúa Jêsus Christ nam nữ đã đều là một cả (Gia 3:28). Ở đây Phao-lô không phải giảng đạo cho người Do-thái, song giảng cho các Hội Thánh mới lập ở những chỗ thờ lạy tà thần (ICôr 11:1-16; Tít 2:5; ITi 2:11-14). Vì đàn ông, đàn bà nước Do-thái cũng được ơn Chúa, đã sớm biết lẽ đó rồi, nên không lấy làm ngạc nhiên vì điều đó nữa. Riêng đối với phụ nữ dân ngoại, nếu thoạt nghe cái thuyết bình đẳng, họ dễ lạm dụng và sa vào vòng nguy hiểm! Chị em nghĩ rằng mình đã được bình đẳng ở trong Hội Thánh thì ở nhà cũng phải được bình đẳng, điều này sẽ dẫn đến ly dị, và biết đâu họ lại quá trớn hơn đàn ông nữa kia! Thực ra, phụ nữ ở trong Hội Thánh dầu được bình đẳng với đàn ông ở trước mặt Chúa, song ở trong Kinh Thánh Tân Ước và Cựu Ước vẫn không hề bỏ cái đạo lý chồng là đầu vợ. Khảo cứu trong ICôr 11:3 thì biết chẳng những đàn ông là đầu người đàn bà, mà Đấng Christ lại là đầu mỗi người, và Đức Chúa Trời là Đầu Đấng Christ. Vả lại, trong gia đình không thể có hai người đứng đầu. Từ khi lập đạo Chúa Jêsus, phụ nữ ở trong nhà mới được sự tôn trọng. Bởi vì Sứ đồ chẳng những nói kỹ về người đờn bà nên vâng phục chồng, mà cũng nói rằng người chồng nên yêu vợ như Đấng Christ yêu Hội Thánh (Êph 5:25, 28-31) và nên kính trọng vợ nữa (IIPhi 3:7). Hễ phụ nữ nước nào được chồng yêu kính, thì chứng tỏ là nước ấy đã thực hành đạo Đấng Christ. Còn như Phao-lô không cho phụ nữ giảng đạo, là vì phụ nữ xứ đó ưa hỏi vặn người ta về lẽ đạo, cốt muốn klhoe khoang hiểu biết, chứ không phải chịu Đức Thánh Linh cảm động (Coi ICôr 14:35).
3. Lấy cô dâu làm hình bóng về Hội Thánh.– Phao-lô nói phụ nữ dầu phải ở dưới quyền đàn ông, song vợ chồng vẫn là một thịt làm hình bóng về Đấng Christ với Hội Thánh (Êph 5:22, 23; IICôr 11:2). Sứ đồ Giăng đã lấy hình ảnh cô dâu thanh sạch đợi đón chàng rể để làm hình bóng về Hội Thánh chờ đợi Chúa Jêsus (Khải 21:2, 9). Tóm lại, đạo Chúa rất coi trọng phụ nữ vì họ là người cùng với đàn ông đồng được hưởng phước sự sống (IIPhi 3:7).