The temple of the LORD.
Chỗ thờ phượng Chúa. Cựu Ước chép đền thờ đầu tiên ở Si-lô, trong có hòm giao ước của Chúa (ISa 1:9; 3:3), do nhà Hê-li, thầy tế-lễ, coi giữ. Kế đó, hòm giao ước bị người Phi-li-tin cướp mất, nên có lẽ đền thờ cũng bị phá hủy (ISa 4:11). Nếu không, sao A-hi-mê-léc lại làm thầy tế lễ ở đền thờ tại Nóp? (ISa 21:1-9). Về sau vua Đa-vít rước hòm giao ước đến thành Giê-ru-sa-lem, bấy giờ dân Y-sơ-ra-ên mới lấy đất đó làm thành thánh, (xem IISa 6:12). Sơ lược về việc 3 lần xây đền thờ sau khi nước Y-sơ-ra-ên thống nhứt như sau:
I. Lần thứ nhứt xây đền thờ.–Đền thờ nầy đặt theo tên vua Sa-lô-môn, xây ở núi Mô-ri-a trong thành Giê-ru-sa-lem (Sáng 22:2), tức sân đạp lúa Ọt-nan mà vua Đa-vít đã sắm sẵn (IISử 3:1). Chót núi còn khấp khểnh lồi lõm; sau người ta san cho bằng phẳng rộng độ 200 mẫu (2.000.000 mét vuông ). Đa-vít ra kiểu mẫu để xây đền thờ (ISử 28:11-19); ông dựa theo cách thức Chúa bảo Môi-se làm hội mạc (ICác 6:37). Vì thế nên kiến trúc nơi thánh không khác gì hội mạc, nhưng nó lớn hơn gấp đôi. Mọi đồ dùng trong việc tế lễ cũng giống hội mạc, trong đó có vài cái lớn hơn là vì chỗ đất nầy rộng. Khởi công làm đền thờ nầy từ năm 973 T.C., trải bảy năm, sáu tháng mới xong. Cao, rộng, ngang, dọc thế nào đã chép cả ở ICác 6:7; IISử 3:1-; 4. Mục đích của việc xây cất đền thờ là cốt để dùng làm chỗ Chúa ngự (coi thêm IISa 7:2, 5), nên người ta đặt hòm giao ước của Chúa ở trong đó (ICác 8:4-6). Tiếc thay, sau độ 33 năm, đền thờ bị Si-sác, vua Ai-cập, cướp đoạt! (ICác 14:25, 26; IISử 12:9). Về sau, lại bị Các-vua khác lần lượt xâm phạm (IICác 12:18; 16:8). Cuối cùng bị vua Ba-by-lôn đánh vào thành thánh: cướp bóc hết thảy đồ vật trong đền thờ, sau lại đốt hết đền thờ trang nghiêm rực rỡ, đến nỗi chỗ đó chỉ còn lại nền đất khô cháy! Bấy giờ là năm 587 T.C. (IISử 36:1-).
II. Đền thờ xây lần thứ hai.–Đền thờ nầy đặt theo tên của Xô-rô-ba-bên. Trước khi chưa xây cất, hai tiên tri A-ghê và Xa-cha-ri phải ra sức cổ động khuyên lơn dân chúng xây dựng đền thờ; về sau mới thực hiện được. Người đứng đầu việc xây đền thờ tức là Xô-bô-ba-bên. Cứ như Aghê 2:18 nói, thì đền thờ nầy khởi công từ năm 520 T.C., trải bốn năm mới xong (Exơ 6:15). Còn bàn thờ dâng của lễ thiêu thì đến năm 538, khi dân từ Ba-by-lôn được về, họ mới xây cất lại trên nền cũ (Exơ 3:3). Như vậy có lẽ đền thờ cũng xây lại ở trên nền cũ của nó. Kiểu mẫu đền thờ nầy giống đền thờ xây lần đầu. Tiếc rằng hòm giao ước đã mất không làm lại được nữa! Có một bức màn đẹp đẽ để che nơi thánh và nơi chí thánh, cũng bị quân địch cướp lấy! Còn bàn thờ thì không phải đúc bằng đồng, song xây bằng đá, theo ý chỉ của Chúa (Xuất 20:25). Đến năm 168 T.C. các đồ dùng trong đền thờ bị cướp đoạt, rồi người ta dâng heo trên bàn thờ để cúng tà thần. Qua ba năm, có một người trong nước Do-thái đứng lên khôi phục, hủy phá bàn thờ bị ô uế, lấy đá mới xây lại, sửa sang việc thờ phượng Chúa một cách mới mẻ rõ ràng! Từ đó cho đến trước khi Hê-rốt làm vua, đền thờ nầy không thay đổi là mấy.
III. Đền thờ xây lần thứ ba.–Đền thờ đặt theo tên Hê-rốt. Nhằm năm thứ 18 đời vua Hê-rốt, tức năm 19 T.C., dân chúng chấp thuận để vua Hê-rốt xây lại đền thờ. Việc chuẩn bị xây đền thờ rất kỹ: trước hết nhóm lại ngàn thầy tế lễ, luyện tập cách làm; rồi sau khởi công, làm độ một năm rưỡi thì xong. Nhưng riêng cái nhà ngoài của đền thờ thì làm chậm đến vài mươi năm sau mới xong. Diện tích đền thờ nầy lớn hơn cái đền thờ do Xô-rô-ba-bên xây dựng trước đó. Thế là ứng nghiệm lời tiên tri Aghê 2:9 chép: “Vinh quang sau rốt của nhà nầy sẽ lớn hơn vinh quang trước”. Nhờ cái chân tường đền thờ trước mà Hê-rốt làm rộng thêm ra, khiến vị trí của nó rộng rãi hơn trước: dài độ 390 mét, rộng độ 320 mét. Bốn bề ngoài cái đại viên, có hành lang chống bằng những cây trụ đẹp đẽ. Ván trần làm bằng gỗ bá hương. Hướng Nam có nơi gọi là hiên cửa vua, giữa có bốn hàng cột đều xây bằng đá hoa trắng toàn khối. Còn ba phía chỉ có ba cây trụ. Hướng Đông gọi là hiên cửa Sa-lô-môn (Giăng 10:23; Công 3:11; 5:12). Người Do-thái có lời truyền lại rằng chỗ đó là nền cũ của hiên cửa do Sa-lô-môn ngày xưa làm ra.
Đại viên là tòa nhà dân ngoại, cách chỗ thánh khiết tới 75 thước: không phải ai ai cũng có thể vào đại viên đó. Xung quanh chỗ thánh khiết, có hàng lan can thấp, trên lan can có khắc câu nầy: Cấm người ngoại và kẻ không sạch vào trong; ai phạm thì bị xử tử (Êph 2:13-14). Trong hàng lan can có tường, tường có chín cửa lớn: phía Đông một cái, Nam, Bắc, mỗi phía có bốn cái, mà cửa nào cũng cao đến 30 thước, rộng 15 thước, thảy đều đẹp cả. Nhìn chung, có cửa Đông là rất quan trọng và rất đẹp đẽ. Cửa nầy đúc bằng đồng tốt ở Cô-rinh-tô, nên kêu là cửa Đẹp (Công 3:2, 10), hoặc gọi là cửa Cô-rinh-tô.
Qua cửa Đẹp thì đến viện phụ nữ, là nơi dân chúng thờ phượng (Lu 1:10), đây là nơi người Pha-ri-si chất vấn Chúa Jêsus (Giăng 8:1-11). Bên cây trụ có treo 13 cái rương quyên tiền còn gọi là “cái rương đựng tiền dâng” (Mác 12:41).
Qua viện phụ nữ thì đến viện Y-sơ-ra-ên; hễ phụ nữ nào không dâng của lễ thì không được phép vào viện nầy.
Vào trong nữa, là viện thầy tế lễ: bên hai cái tường Nam, Bắc, có làm cái phòng nhỏ để dùng làm nơi sửa soạn dâng của lễ. Bàn thờ về của lễ thiêu vẫn xây bằng đá có ba tảng: tảng dưới vuông 48 thước, càng lên cao càng nhỏ lại, đến tảng trên cùng thì vuông 36 thước.
Phía Bắc bàn thờ, là nơi giết con sinh. Về hướng Tây Nam có một chậu nước để thầy tế lễ dùng.
Kích thước lớn nhỏ của các đồ dùng trong đền thờ thì giống hai đền thờ trước. Nơi thánh của đền thứ ba nầy cao tới 60 thước. Nơi thánh và nơi chí thánh vẫn che màn thêu hoa (Mat 27:51; Hêb 6:19). Trước màn có bàn thờ xông hương, ở dưới tường Nam có cây đèn vàng bảy chân. Đối diện có bàn bày bánh trần thiết. Về sau, cây đèn và bàn bánh đều bị Titus cướp lấy đem về La-mã. Titus còn chạm khắc hình tượng mình vào cái bảng đắc thắng treo ở trên lầu để làm kỷ niệm. Nay cái lầu đó hãy còn.
Trong nơi chí thánh, trừ một hòn đá ra, không còn vật gì lạ nữa. Hòn đá đó chẳng qua là thầy tế lễ cả dùng để đặt lư hương mà thôi. Nhà cửa đền thờ xây toàn bằng đá vân trắng, trông như một cái núi tuyết vậy. Hòn đá nào lớn thì dài 37 thước, rộng 18 thước, dày 12 thước. Ở Mác 13:1; Lu 21:5 có khen sự đẹp đẽ của đền thờ, tức là nói về loại đá nầy.
Tóm lại, Hê-rốt đã xây đền thờ nầy bằng số tiền rất lớn, từ xưa đến nay ít thấy cái đền thờ nào đồ sộ, đẹp đẽ đến thế! Có thể kể nó là một công trình xây đắp vĩ đại của thế giới. Chẳng ngờ đến năm 70 S.C. đền thờ đó lại bị quân La-mã phá hủy! Chính như Chúa Jêsus phán: “Rồi ra sẽ không còn một hòn đá sót lại trên một hòn đá khác nữa”. Trên nền cũ của nó, hiện có xây một cái nhà của Đạo Hồi Hồi. Dưới nhà có hầm, lại có giếng sâu. Nước thường dùng trong đền thờ là lấy từ ngòi nước Ê-xê-chia và ao Sa-lô-môn rồi truyền qua ao Si-lô-ê. Ngoài tường nhà đó còn sót lại hòn đá lớn, tức là chỗ tường đời xưa. Phía Tây Nam có tảng đá rất lớn, đó là cái cầu ngày xưa nối liền đền thờ với núi Si-ôn.
Bấy giờ, người Do-thái tin kính nào cũng đều tôn trọng đền thờ (Thi 84:1-), nên khi nghe Chúa Jêsus phán “Ta có thể phá đền thờ của Đức Chúa Trời, rồi dựng lại trong ba ngày” thì hùa nhau nổi lên công kích Ngài, vì cho rằng Ngài khinh lờn đền thờ (Mat 26:61; 27:40; Giăng 2:19-20; Công 6:13).
Đền thờ cũng chỉ về Hội Thánh của Đấng Christ (IITê 2:4; Khải 3:12), chỉ về thiên đàng (Thi 11:4; Khải 7:15), lại chỉ về thân thể tín đồ có Đức Thánh Linh ngự ở trong, cần phải thanh sạch, làm vinh hiển cho Chúa (ICôr 3:16-17; 6:19; IICôr 6:16).