Ecclesiastes. Ecclésiaste.
Nhan đề của sách nầy bằng tiếng Hê-bơ-rơ là Koheleth, một tên giống cái, có nghĩa là người nói cách công khai trong hội chúng và bởi đó dịch trong bản Septante là Ecclesiaste, được công nhận trong bản Anh văn vậy. Koheleth là tên mà Sa-lô-môn tự nói về mình suốt cả sách. “Lời của người truyền đạo (Koheleth), con trai của Đa-vít, vua tại Giê-ru-sa-lem” (Truyền 1:1), là người được sự khôn ngoan và giàu có lớn hơn hết thảy những người tại Giê-ru-sa-lem (Truyền 1:16; Truyền 2:7, 9). Dường như có sự trái ngược, vì một người nam lại có tên giống cái như thế, nhưng điều ấy tỏ ra tên đó vốn chỉ về chức vụ. Về sau tên này dùng để gọi người thi hành chức vụ đó. Có thể coi sách nầy như là chính Sa-lô-môn viết lúc già yếu; hoặc dầu cho không phải chính Sa-lô-môn thật viết ra, nhưng đã tóm tắt hoàn toàn đúng với sự từng trải của người. Khi gần mãn đời, Sa-lô-môn đã có những sự dạy dỗ lớn theo kinh nghiệm của đời mình và những tình cảm mà người có thể suy tưởng khi ngó ngược lại đời quá khứ của mình. Đại đề của sách là sự hư không của mọi vật ở trên đất (Truyền 1:2).
Tính cách lạ lùng của mấy câu trong sách nầy khiến những người Do-thái xưa tự hỏi có nên cho nó ở trong số các sách công nhận của Cựu Ước. Song cuối cùng, ai nấy đều công nhận sách đáng được đặt vào Cựu Ước. Tân Ước không trích lại trực tiếp và cũng không ngụ ý đến sách nầy.
Sách Truyền đạo tả nỗi lòng của một người giàu Do-thái (Truyền 2:4-7). Người đó dầu rất giàu có nhưng gặp nhiều sự buồn rầu, khổ sở, và thất vọng. Lúc nói ra các lời trong sách nầy chính là lúc người đã già rồi. Xem Truyền 1:12 đến Truyền 2:11 người đã thuật lại về sự khôn ngoan, vui sướng, giàu sang, và công việc mình đã làm. Chỗ nói về tình hình nước mình rất là thấm thía rõ ràng: nào kẻ cầm quyền không tốt, nào cách dùng người mà không phân biệt kẻ hay người dở (Truyền 10:5, 6, 7), nào nước có vua còn thơ ấu, nào các quan trưởng sớm hôm chỉ lo chè chén (Truyền 10:16), nào nơi công đường có sự gian ác, chốn xử án có điều bất nghĩa (Truyền 3:16), nào dân đau khổ phải chịu oan uổng không kêu đâu được (Truyền 5:1, 2), v.v… Những lời nói đó thật đã bày tỏ rõ ràng tình hình đất nước lúc bấy giờ.
Đại ý của sách. Lối văn sách nầy có chỗ đặc biệt lạ lùng: đang hết sức tả một cảnh lo buồn, khổ sở, bỗng xoay ra êm ái, yên lành, lại có đủ tấm lòng tin tôn giáo. Dường như tác giả, trong khoảng nửa tin nửa ngờ, chưa thể quyết định được vậy.
Quan niệm về thế giới. Tác giả dùng nhiều phương pháp để thấu hiểu ý niệm và tôn chỉ của đời người, phần nhiều đặt ra thí dụ để làm chứng cho tỏ tường. Song muốn tìm lấy cái cứu cánh của sự sống mầu nhiệm huyền ảo, vẫn không thể được! Tác giả cho rằng dầu sao đi nữa, người ta không thể dẫn đưa mình để tự đạt đến mục đích được. Nào ăn uống, nào vui sướng, thảy đều hư không cả! (Truyền 2:24-26; Truyền 3:12, 13; Truyền 5:17-19; Truyền 8:15; Truyền 9:7-10; Truyền 11:8, 9, 10; Truyền 12:1-8).
Quan niệm về tôn giáo. Các tiên tri đời xưa hết lòng tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng có nhân cách. Tác giả dẫu tin có duy nhất một Chân Thần, song sự hiểu biết có khác với các tiên tri. Tác giả tin rằng trong vũ trụ tất có Đức Chúa Trời mà người Y-sơ-ra-ên vẫn tin, là Đấng cai quản hết thảy sự vật. Ngài có đủ tài năng để sắp đặt mọi việc, công việc của Ngài thật la lạ lùng, mầu nhiệm (Truyền 3:11, 18; Truyền 6:12; Truyền 7:14; Truyền 8:17; Truyền 11:5). Người ta dầu hết lòng suy nghĩ vẫn không sao vượt ra ngoài khuôn khổ của Ngài được. Thế mới gọi là Đức Chúa Trời sắp đặt từ trước. Vậy, sao người ta hay cãi trả với Đấng Toàn năng? (Truyền 6:10). Người Do-thái đều thiết tha trông mong Đấng Mê-si đến vì Ngài có thể khiến cho con người được hưởng hạnh phúc, bình yên hoàn toàn. Trong sách nầy không có hy vọng đó, duy có lượm lặt lấy vài điều của người trước kể lại, rồi đem lẽ tôn giáo tự nhiên mà xen vào đó thôi.
Tiến sĩ Scofield chú thích về sách truyền đạo như sau:
Tiểu dẫn.– Đây là sách của người “dưới mặt trời” lý luận về sự sống; ấy là điều tốt nhứt người có thể làm được, với sự thông biết rằng có một Đức Chúa Trời thánh, và Ngài sẽ đoán xét mọi sự. Câu chìa khóa là “duới mặt trời, ” “Ta thấy, ” “Ta nói trong lòng.” Có sự soi dẫn để chép đúng điều gì xảy ra, song những lý luận và kết luận sau cùng đều là của người cả. Những câu kết luận đó đúng trong sự tuyên bố rằng chỉ là “hư không” khi phó sự sống mình cho mọi sự thuộc về đất, thì thật rất đúng. Song câu “kết luận” (Truyền 12:13) là thuộc về luật pháp, không nói đến sự cứu chuộc và không có trông đợi Tin lành. Sách Truyền đạo chia làm 5 phần:
(I) Đại đề, Truyền 1:1-3;
(II) Đại đề được chứng rõ, Truyền 1:4 – Truyền 3:22;
(III) Đại đề được tỏ ra trước ánh sáng những sự đau khổ của người, giả hình, không chắc chắn, nghèo và giàu, Truyền 4:1 – Truyền 10:20;
(IV) Điều tốt hơn hết có thể được cho người xác thịt ngoài Đức Chúa Trời, Truyền 11:1 – Truyền 12:12;
(V) Điều tốt hơn hết để cho người dưới Luật pháp, Truyền 12:13, 14.
Truyền 1:2.– “Hư không” trong sách Truyền đạo, và thường dùng trong Kinh Thánh, không phải là sự kiêu ngạo điên cuồng, song sự trống rỗng, về kết quả cuối cùng của mọi đời sống phân rẽ khỏi Đức Chúa Trời. Người ta sanh ra để lao lực, chịu đau khổ, từng trải ít điều vui sướng thoáng qua, không đáng gì đối với sự vĩnh viễn, vì phải bỏ mọi sự đó, và cuối cùng là sự chết. Xem Rô 8:20-22.
Truyền 9:10.– Câu 10 không còn là một sự khải thị từ Đức Chúa Trời về địa vị của người chết, đó chỉ là một lời kết luận của “người truyền đạo” (Truyền 1:1) hơn là một sự khải thị của Chúa. Theo lý luận của người “dưới mặt trời, ” người xác thịt không thể thấy sự khác nhau giữa một người chết và một sư tử chết (Truyền 1:4). Một con chó sống còn tốt hơn hai vật chết đó. Không ai nên trích Truyền 9:2 như một sự khải thị Đức Chúa Trời. Những lý luận đó là của con người, không phải la sự soi dẫn của Đức Chúa Trời, được chép bởi sự soi dẫn đúng như lời của Sa-tan (Sáng 3:4; Gióp 2:4, 5, v.v.) đã được chép như vậy. Song sự sống và ý thức đó vẫn còn giữa sự chết và sự sống lại được chứng quyết trực tiếp trong Kinh Thánh (Ês 14:9-11; Mat 22:32; Mác 14:43-48; Lu 16:19-31; Giăng 11:26; IICôr 5:6-8; Phil 1:21-23; Khải 6:9-11).