Ti-mô-thê II, Thơ

The second epistle to Timothy. Deuxiéme Épitre à Timothée. I. Niên hiệu và nơi viết.– Thơ IITi-mô-thê được viết trong ngục tại La-mã, đúng trước khi Phao-lô tử vì đạo. Ti-mô-thê lúc bấy giờ còn ở Ê-phê-sô, vì Bê-rít-ca và A-qui-la mà Phao-lô chào thăm thường ngụ tai đó (IITi 4:19) cả Ô-nê-si-phô-rơ, giúp đỡ Phao-lô tại Ê-phê-sô, nên chắc người đã ở đó (1:16-18). Tên Hy-mê-nê ở trong 2:17 có lẽ cũng là Hy-mê-nê ở Ê-phê-sô (ITi 1:20), cả “A-léc-xan-đơ, thợ đồng” nữa (IITi 4:14), có lẽ là A-léc-xan-đơ mà người Do-thái xô ra đứng trước để binh vực họ, chớ không phải làm bạn với Phao-lô, trong cuộc náo loạn tại Ê-phê-sô (Công 19:33, 34). Tuy nhiên, nếu Ti-mô-thê ở tại Ê-phê-sô, tại sao người cần phải nghe nói lại rằng Phao-lô đã sai Ti-chi-cơ đến Ê-phê-sô, hoặc Phao-lô đã bỏ Trô-phim, chính người đó là người Ê-phê-sô (Công 21:29) bị đau tại Mi-lê, chỉ cách Ê-phê-sô độ 48 cây số. Có lẽ chức cai quản Ti-mô-thê vượt qua cả Ê-phê-sô đến các Hội Thánh Phao-lô lập trong Tiểu A-si, và người cũng thêm vào quyền đó chức “truyền đạo” tức “lưu hành truyền đạo.” Ê-phê-sô chỉ là trụ sở thôi, và 4:13 hiệp với thuyết Ê-phê-sô hoặc phía Tây bắc xứ Tiểu A-si là chỗ Ti-mô-thê cư trú hồi đó.

Khi bị cầm tù lần thứ nhứt, Phao-lô ở trong nhà đã thuê, chỉ có một người lính canh và có tự do tiếp mọi khách đến thăm; song nay Phao-lô bị cầm giữ nghiêm nhặt đến nỗi Ô-nê-si-phô-rơ cũng khó tìm gặp. Phao-lô bị xiềng xích, các bạn lìa bỏ, và khó lòng trốn thoát tử hình bởi hoàng đế La-mã. Dầu vậy, Ô-ni-si-phô-rơ, Li-nút, Bu-đen, và Cơ-lau-đia được vào thăm tỏ rằng Phao-lô không ở trong ngục Mamertime hay Tullianum vớIPhi-e-rơ như lời truyền khẩu nói, nhưng ở dưới sự canh giữ của binh lính, và nghiêm nhặt hơn lần cầm tù trước (IITi 1:16-18; 2:9; 4:6-8, 16, 17).

Phao-lô có lẽ bị kiện cáo ở trước các quan án về hai điều: (1) Vì đã âm mưu với các tín đồ Đấng Christ, như phe Néron quyết để hỏa thiêu thành La-mã 64 S.C., biến động đó xảy ra năm sau Phao-lô được thả khỏi tù lần thứ nhứt, 63 S.C.. nhưng nay đã ba năm qua; Phao-lô, vì là một công dân La-mã, nên được đối đãi một cách rất kính nể và theo luật pháp được trắng án về tội thứ nhứt (IITi 4:17) là xui giục tín đồ thiêu thành La-mã. Chính lúc đó, “A-léc-xan-đơ, thợ đồng” làm chứng nghịch cùng Phao-lô (4:14), nên không ai dám bênh vực duyên cớ người, mặc dầu đương nhiên Phao-lô được phép xin người bênh vực mình (4:16, 17). Nơi trường án chắc là một trong hai tòa nhà của L.AEmil Paulus, là người đã xây và sửa lại cả hai tại Forum. (2) Vì đã dẫn một tôn giáo mới phạm pháp vào. Phao-lô chắc rằng mình sẽ bị xử vào mùa Đông sau (4:21), nhưng nếu trong đời trị vì của Néron thì chắc lần kêu án thứ hai nầy không thể sau tháng Sáu. Chỉ mình Lu-ca ở với Phao-lô; Ô-nê-si-phô-rơ cũng không sợ cứ đến thăm; Li-nút, sau làm giám mục tại La-mã; Bu-đen, con một nguyên lão nghị viện; Cơ-lau-đia, một công chúa Anh quốc, và Ti-chi-cơ trước Phao-lô đã sai đến Ê-phê-sô đều cùng có ở đó. Có lẽ Ti-chi-cơ là người đem thơ nầy, cũng như đã đem thơ Ê-phê-sô (6:21, 22) và Cô-lô-se (4:7, 8).

Phao-lô để lại áo choàng và các sách vở tại Trô-ách (IITi 4:13) là điều không thể xảy ra khi Phao-lô đến thăm lần chép trong Công 20:5-7, vì bảy năm qua giữa sự thăm thành đó với lần thứ nhứt bị tù. Lại nữa, khi Phao-lô viết cho Hội Thánh Cô-lô-se (4:14) trong sự lao tù lần đầu (Philm 24), Đê-ma còn ở với người; song khi người viết IITi-mô-thê (4:10), Đê-ma đã bỏ người mà đến thành Tê-sa-lô-ni-ca, và hết thảy lìa bỏ Sứ đồ (1:15). Lúc bị cầm tù lần thứ nhứt (Công 28:30), và lúc ở đó viết thơ cho các Hội Thánh Ê-phê-sô, Cô-lô-se, Phi-líp, Phi-lê-môn, thì không phải như vậy; vì trong những thơ đó, Phao-lô trông đợi sự giải phóng, nhưng trong IITi 4:6-8, 16; thì đợi sự chết ngay một khi đã bị xét xử. Khi viết IITi-mô-thê, Phao-lô càng bị giữ nghiêm nhặt hơn. Khi viết thơ cho Hội Thánh Phi-líp, ta thấy Phao-lô, dầu không chắc mình sống, nhưng cũng ôm ấp hy vọng được thả mau chóng (Phil 2:24 so với IITi 1:16-18; 2:9; 4:6-8, 18). Phao-lô để lại Trô-phim đau tại Mi-lê (4:20), không phải là lúc chép trong Công 20:15, vì người ở với Phao-lô tại Giê-ru-sa-lem ít lâu sau đó (21:29). Vả lại, Phao-lô không nói đến như mới xảy ra, nếu là chừng 6 hay 7 năm về trước. Bấy giờ, Ti-mô-thê ở với Phao-lô tại Mi-lê, và không cần ai báo tin Trô-phim đau tại đó (Công 20:4, 17), nếu là đồng thời. Trước đó ít lâu Phao-lô ở Cô-rinh-tô, và để Ê-rát tại đó (IITi 4:20); song Phao-lô không đến Cô-rinh-tô mấy năm trước khi bị tù lần thứ nhứt, và trong khoảng đó, Ti-mô-thê ở với người; vậy, Phao-lô không cần viết cho Ti-mô-thê về cuộc thăm viếng đó. Tác giả Hêb 13:23, 24, có người chắc là Phao-lô có sự tự do và ở Ý-đại-lợi. Vậy, khi được thả khỏi sự lao tù lần thứ nhứt tại La-mã, Phao-lô chắc làm trọn hành trình Sứ đồ mình, và sau lại bị cầm tù lần nữa tại La-mã; bởi đó, trước khi qua đời ông đã viết thơ IITi-mô-thê.

Ít lâu trước khi bị lao tù lần thứ hai, Phao-lô đến thăm Ê-phê-sô, tại đó có những trưởng lão mới cai trị Hội Thánh (Công 20:25, hầu hết các người trước đã qua đời), thời gian này vào khoảng cuối năm 66 hoặc 67 S.C..

  1. Mục đích.– Để xin Ti-mô-thê đến và đem Mác theo (IITi 1:4; 4:9, 11, 21), nhưng chúng ta không chắc Ti-mô-thê có đến đúng kỳ hẹn không. Phao-lô muốn nói lời cảnh cáo sau chót về các tà giáo mà mầm của chúng bấy giờ đang mọc rải rác. Phao-lô khuyên Ti-mô-thê cứ giữ lòng sốt sắng, trung tín với đạo “lành, ” nhịn nhục chịu thử thách, và can đảm vì danh Chúa. Đây là những lời khuyên rất cần cho Ti-mô-thê vì cớ bản tánh Ti-mô-thê hay nhút nhát (ITi 5:22, 23; 2:2-8; 4:1-5).

III. Lối văn và đặc điểm của thơ.– Phao-lô tỏ rằng, khi sự cuối cùng gần đến, sự thương xót của Đức Chúa Trời có nghĩa càng sâu nhiệm hơn cho mình. Bởi vậy, sự “thương xót” được xen vào giữa “ân điển” và “bình an” lần đầu tiên được bày tỏ trong các thơ Mục hội; trong các thơ viết trước đây chỉ thấy “ân điển” và “bình an” thôi. So ITi 1:13, “Ta đội ơn thương xót, ” là điều các mục sư cần có, vì chức vụ đó là đề mục chính trong hai thơ (so ICôr 7:25). Đặc điểm của thơ thứ hai là đột ngột, không có dàn bài, không có trật tự để luận các vấn đề. Tình cảm thì mạnh mẽ, những kỷ niệm sống động về quá khứ và tư tưởng lo ngại về tương lai, thật như từ một người đang ở trên bờ, chuẩn bị bước sang cõi vĩnh viễn. Thơ thứ hai không có trích lại Cựu Ước như các thơ tín khác; song sự soi dẫn, quyền ban sự khôn ngoan, và quyền phép cứu rỗi của Cựu Ước được chứng quyết rõ ràng (IITi 3:15-17). “Những lời chắc chắn có lẽ là các lời được soi dẫn của các tiên tri trong Hội Thánh, thay thế các lời trích từ Cựu Ước (so ITi 4:1; ICôr 14:1-). Các đặc sắc khác của thơ tín Mục hội nầy là chú trọng về đạo “lành, ” trái với sự khôn khéo của thuyết thông thần luận; lấy sự cai trị và tổ chức Hội Thánh làm quan trọng; và các lời tạ ơn như từ một người luôn luôn có sự hiện diện của Đức Chúa Trời nhứt là nay khi các vật ở thế gian nầy chẳng bao lâu sẽ qua khỏi người (ITi 1:17; 6:15, 16; IITi 4:18). Như ITi 4:1-5 chỉ về sự bội đạo thời Trung cổ, “trong thời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo… bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối… cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ… tạ ơn mà dùng lấy;” cũng vậy, IITi 3:1-9 chỉ về thời sau mà từ đó Antichrist sẽ ra. Chẳng còn bao lâu nữa, “trong ngày sau rốt, ” có những đặc sắc là: “tư kỷ, tham tiền, khoe khoang, xấc xược, hay nói xấu, nghịch cha mẹ, ưa thích vui chơi, bề ngoài giữ điều nhơn đức, nhưng chối bỏ quyền phép của nhơn đức đó.”

Tiến sĩ Scofield viết tiểu dẫn cho thơ IITi-mô-thê:

Tác giả.– Sứ đồ Phao-lô (1:1).

Niên hiệu.– Bức thơ cảm động nầy được viết bởi Phao-lô gởi cho Ti-mô-thê, “con rất yêu dấu” của mình ít lâu trước khi Sứ đồ tử vì đạo (4:6-8), và có những lời cuối cùng của Sứ đồ lớn đó mà sự soi dẫn Đức Chúa Trời giữ lại.

Đại đề.– IITi-mô-thê (chung với IIPhi-e-rơ, Giu-đe, và II với IIIGiăng), là luận đến bước đi và lời chứng riêng của một đầy tớ thật của Đấng Christ trong ngày bội đạo và suy đồi. Các câu chìa khóa là “mọi người trong xứ A-si đã lìa bỏ ta” (1:15); và, “người lính giỏi của Chúa Jêsus Christ” (2:3). Các Hội Thánh trong cõi A-si không phải đã giải tán, không thôi xưng mình là tín đồ Đấng Christ, nhưng họ đã xây bỏ các lẽ đạo của ân điển đặc biệt tỏ ra bởi Sứ đồ Phao-lô (xem bài PHAO-LÔ, phần Tiến sĩ Scofield, lời tiểu dẫn các thơ tín Phao-lô). Ấy là chứng cớ thứ nhứt về sự bội đạo đã thành hình, tức là sự dạy giữ luật pháp.

Thơ chia ra làm bốn phần: (I) Lời chào thăm của Sứ đồ, 1:1-18. (II) Đường lối của một đầy tớ đáng khen trong ngày bội đạo, 2:1-26. (III) Cơn bội đạo và Lời Chúa, 3:1-17. (IV) Một đầy tớ trung tín, và Chúa thành tín của người, 4:1-22.

Lên đầu trang