Wages. Salaire.
Đời Cựu Ước, phàm những nhà giàu có, trồng trọt, chăn nuôi, thường dùng nhiều đầy tớ. Hạng người làm mướn đó phần nhiều là người ngoại bang; không biết họ được tiền công vào hạng nào. Chỉ biết rằng duy có La-ban và Gia-cốp đã điều đình với nhau về tiền công (Sáng 29:15). Trong xứ Ai-cập khi dân Y-sơ-ra-ên làm thuê ở đó được trả bằng tiền hay hàng hóa (Xuất 2:9). Mi-ca có giữ người Lê-vi ở lại làm thầy tế lễ hứa mỗi năm sẽ cấp cho tiền công (Quan 17:10). Theo luật thì tiền công của người làm mướn ngày nào thì chiều tối phải trả ngay (Lê 19:13; Phục 24:14, 15). Kẻ nào không trả tiền công cho người làm mướn thì sẽ bị Đức Chúa Trời sửa phạt (Giê 22:13; Mal 3:5; Gia 5:4).
Đời Tân Ước, tiền công người làm mướn mỗi ngày được một đơ-ni-ê (Mat 20:1), dầu không biết lúc bấy giờ số tiền ấy mua được những gì, nhưng chắc cũng là nhiều (so Lu 10:35). Chúa Jêsus thường lấy ví dụ về người làm mướn và tiền công, như có phán: “Con gặt đã lãnh tiền công mình và thâu chứa huê lợi cho sự sống đời đời” (Giăng 4:36). Lại phán: “Người làm công đáng được tiền lương mình” (Lu 10:7). Phao-lô nói: “Đối với kẻ nào làm việc, thì tiền công không kể là ơn, nhưng kể như là nợ” (Rô 4:4). Lại nói: “Tiền công của tội lỗi là sự chết” (Rô 6:23). Câu đó cùng một ý với IIPhi 2:12 chép rằng: “Chúng nó lãnh lấy tiền công về tội ác mình.”