Thầy tế lễ

The priest. Sacrificateur (từ Hê-bơ-rơ: Côhên; Hy-lạp Presbutéros, tức trưởng lão).

  1. Căn nguyên.– Ý nghĩa của chức tế lễ tự nó có liên quan trong mọi hình thức, tinh sạch, hay hư xấu, với ý thức rõ nhiều hay ít, về tội. Khi một người đã nhận biết mình phạm một luật, họ biết quyền trên họ là thánh hơn họ, và họ không dám đến gần. Người phạm lỗi cần sự can thiệp của một người mà họ cho là xứng đáng hơn chính mình. Người được yêu cầu can thiệp đó phải dâng những lời cầu nguyện, tạ ơn, tế lễ của người phạm tội. Người đó trở nên đại biểu cho người đã phạm lỗi “trong những sự thuộc Đức Chúa Trời.” Người đó cũng có thể trở nên (song không phải luôn luôn như vậy) đại biểu của Đức Chúa Trời đối với con người. Những chức vụ của thầy tế lễ và tiên tri có thể ở trong cùng một người. Không thấy có dấu tích của một chức tế lễ cha truyền con nối, hoặc có đẳng cấp tế lễ trong sự thờ phượng đời các tổ phụ Cựu Ước. Một lần, chỉ một lần thôi, thấy chữ Côhên như thuộc về một nghi lễ sớm hơn thời Áp-ra-ham. Mên-chi-xê-đéc là “thầy tế lễ của Đức Chúa Trời Chí Cao” (Sáng 14:18). Trong sự thờ phượng của chính những tổ phụ, người gia trưởng hành chức tế lễ. Chức vụ truyền lại với quyền trưởng nam và dường như cũng có thể chuyển giao quyền đó. Chức tế lễ trước nhứt được lập trong gia đình của A-rôn, và hết thảy con cái A-rôn đều làm chức tế lễ. Họ đứng ở giữa, thầy tế lễ Thượng phẩm ở một bên, còn Lê-vi ở bên kia.
  2. Cách ăn mặc.– Lễ lập những con trai đó biệt riêng ra thánh được mô tả trong Xuất 29:1-; Lê 8:1-. Y phục mà họ bận trong những khi hành chức gồm có quần cụt bằng vải gai mịn, với một áo dài cắt rất đúng kích thước, cũng bằng vải gai mịn, trắng, song với hình quả trám, hoặc hình bàn cờ. Áo đó dài gần sát chân (so Giăng 19:23). Áo dài trắng đó quấn quanh thân thể bằng một dây lưng với những đường thêu tinh xảo (dây lưng của Thầy tế lễ Thượng phẩm đẹp hơn) với các màu xanh, tím, đỏ sậm có lẫn màu trắng, và tết thành hình các bông hoa (Xuất 28:39, 40; 39:2; Êxê 44:17-19). Trên đầu họ đội mũ hình một bông hoa nở như hình cái chén, cũng bằng vải gai mịn. Trong tất cả mọi việc thờ phượng, thầy tế lễ phải đi chân không. Trước khi vào trong Hội mạc, thì phải rửa tay và chân (Xuất 30:17-21; 40:30-32). Trong thời kỳ hành lễ, họ không được uống rượu, hoặc rượu mạnh (10:9; Êxê 44:21). Họ không được để tang cho kẻ chết, trừ trong trường hợp các bà con thân thích nhất (sáu trật được biệt riêng, Lê 21:1-5; Êxê 44:25). Họ không được phép cạo đầu. Suốt thời gian hành lễ, họ phải đi một cách trang nghiêm, cung kính, không phải buông tuồng, say sưa như các thầy tế lễ Ba-anh, lúc thất vọng thì cắt thịt mình (Lê 19:28; ICác 18:28). Thầy tế lễ bị cấm không được cưới một người đàn bà ô uế, một người đã bị ly dị, trừ ra vợ góa một thầy tế lễ nào (Lê 21:7, 14; Êxê 44:22).

III. Phận sự.– Những phận sự chính của thầy tế lễ là phải coi lửa trên bàn thờ của lễ thiêu, để giữ lửa cứ cháy luôn cả ngày lẫn đêm (Lê 6:12; IISử 13:11), đổ dầu vào chơn đèn vàng ngoài cái màn (Xuất 27:20, 21; Lê 24:2), dâng của lễ buổi sáng và buổi chiều, mỗi của lễ đó cùng với của lễ chay và lễ quán, tại nơi cửa hội mạc (Xuất 29:38-40). Thầy tế lễ buộc phải dạy dân Y-sơ-ra-ên những lẽ thật của Đức Giê-hô-va (Lê 10:11; Phục 33:10; IISử 15:3; Êxê 44:23, 24). Trong cuộc hành trình trong đồng vắng, về phần họ phải che phủ hòm giao ước và mọi khí dụng trong nơi thánh với một tấm vải tím hoặc đỏ sậm trước khi người Lê-vi có thể tới gần (Dân 4:5-15). Mỗi ngày, lúc dân sự bắt đầu ra đi, họ phải thổi “tiếng vang” với những ống loa bằng bạc (Dân 10:1-8). Các nhạc khí khác có thể dùng bởi những người Lê-vi đã được huấn luyện về âm nhạc ở trường các tiên tri, song loa chỉ thuộc riêng về thầy tế lễ. Các thầy tế lễ có mặt ở các chiến trường (ISử 12:23, 27; IISử 20:21, 22) dẫn đến, trong giai đoạn sau của lịch sử Do-thái, có bầu cử đặc biệt vào thời đó một thầy tế lễ trong chiến trận. Các chức việc khác được nói đến trong Phục truyền luật lệ ký có thể cho thầy tế lễ một ảnh hưởng lớn hơn, như là những người dạy dỗ và giáo hóa dân chúng. Họ cũng phải hành động (hoặc từng cá nhân, hoặc từng đoàn thể), như một tòa thượng phẩm, trong các vấn đề nào khó giải quyết, về trọng tội hoặc về việc dâng tế lễ (Phục 17:8-13).

  1. Sự cung cấp.– Không biết chắc ban thầy tế lễ còn vững cho đến chừng nào khi trải qua những cơn bão tố hoặc những sự thay đổi theo sau đó. Những chức phận kể ở trên rõ ràng không thích hợp với những sự hoạt động bình thường của con người. Bởi đó, phải có một sự cung cấp riêng cho họ, gồm có (1) Một phần mười mà dân chúng trả cho người Lê-vi, tức là một phần trăm về cả sự sản xuất của xứ (Dân 18:26-28). (2) Cứ ba năm lại có một phần mười riêng (Phục 14:28; 26:12). (3) Về tiền chuộc con đầu lòng, cứ năm siếc-lơ một hoặc về người hoặc vật (Dân 18:14-19). (4) Về tiền chuộc (trả giống như trên) cho người hoặc đồ vật, nhứt là để dâng cho Chúa (Lê 27:1-). (5) Về của cướp, những người phu tù, bầy vật, những gì bắt được trong cơn chiến trận (Dân 31:25-47). (6) Về bánh trần thiết hoặc thịt của lễ thiêu, của lễ thù ân, của lễ mắc tội (Dân 18:8-14; Lê 6:26, 29; 7:6-10), và đặc biệt cái ngực và cái đùi của con sinh tế đã được dâng lên theo cách đưa qua đưa lại (Lê 10:12-15). (7) Một số không nhứt định về lúa mì, rượu, và dầu (Xuất 23:19; Lê 2:14; Phục 26:1, 10). Về mấy điều kể trên, vì “rất thánh” nên chỉ có thầy tế lễ mới được phép dùng (Lê 6:29). Theo luật pháp, ấy để cho các con trai, con gái họ (Lê 10:14) và cả đến các tôi tớ được mua về và sanh ra ở trong nhà, cũng được phép ăn (Lê 22:11). Khách ngoại bang và tôi mọi bất cứ là thế nào, không được phép ăn (Lê 22:10). (8) Khi cư ngụ trong xứ Ca-na-an, các chi họ thầy tế lễ được cấp 13 thành với đất chung quanh, hoặc những đồng cỏ cho bầy vật (Giô 21:13-19). Những sự cung cấp đó rõ ràng có ý làm vững vàng tôn giáo của Y-sơ-ra-ên, tránh khỏi sự hiện diện của một giai cấp tế lễ nghèo khó, cần phải được nhờ vả, cứu giúp, nên không có thể làm chứng về đức tin chân thật. Một mặt khác, họ càng xa địa vị một ban tế lễ giàu có thì càng hay. Cho nên lợi tức của một thầy tế lễ ngay từ hồi đầu sau khi ở trong xứ Ca-na-an thật là rất thấp (Quan 17:10).
  2. Sự phân chia ban thứ.– Dấu tích lịch sử sớm nhứt của sự phân chia ban thứ tế lễ, và phạm vi làm việc của họ, thuộc vào thời Đa-vít. Chức vụ tế lễ sau đó được chia làm 24 ban thứ (ISử 24:1-19; IISử 23:8; Lu 1:5), và mỗi ban thứ đó phải lần lượt mà hầu việc trong một tuần, còn sự chỉ định về sau của các sự thờ phượng trong tuần lễ được quyết định bằng thăm (Lu 1:9). Mỗi ban thứ dường như bắt đầu vào ngày Sa-bát, thầy tế lễ đi ra lấy của lễ buổi sớm và để của lễ buổi chiều cho người kế tiếp (IISử 23:8). Dầu vậy, trong sự phân chia ban thứ nầy, hai nhà thầy tế lễ lớn không đứng ngang hàng nhau. Những con cháu của Y-tha-ma có ít người đại diện hơn là con cháu của Ê-lê-a-sa, và mười sáu ban thứ được chỉ định cho dòng dõi thứ nhì, còn tám được chỉ định cho dòng dõi thứ nhứt (ISử 24:4). Sự phân chia ra như vậy được chứng quyết bởi Sa-lô-môn, và cứ tiếp tục được công nhận như là con số mẫu của chức tế lễ.

Từ khi phu tù về, chỉ còn tìm được bốn trong số hai mươi bốn ban thứ, mỗi ban có chừng một ngàn người (Exơ 2:36-39). Vả lại, ngoài những ban thứ đó, để phục hưng lại ý của sự tổ chức xưa, thì có hai mươi bốn ban thứ được lập lại (so Lu 1:5), cũng lấy những tên như trước, và như vậy cứ tiếp tục cho đến khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy phá. Nếu ta có thể tin vào con số của các tác giả Do-thái đã ghi, thì phần của chức thầy tế lễ với dân số tại Pha-lê-tin, trong thế kỷ cuối cùng mà các thầy tế lễ còn là một ban thì nhiều hơn số người có chức vị trong Hội Thánh ở một dân tộc nào có đạo Chúa. Các ban thứ thầy tế lễ không ít hơn 24.000 người có ở luôn mãi tại Giê-ru-sa-lem; và 12.000 người tại Giê-ri-cô.

Hầu như không thể tránh được, số đông của ban thứ ở dưới mọi hoàn cảnh đó, đã suy kém về đạo đức và danh tiếng. Đời trị vì của hai vua Đa-vít và Sa-lô-môn là thời kỳ vinh hiển nhất của các thầy tế lễ Do-thái. Địa vị của các thầy tế lễ dưới đời quân chủ của Giu-đa đáng phải xem xét một cách kỹ lưỡng hơn. Mỗi tuần lễ làm việc trong Đền thờ, thì theo sau có 23 tuần họ không có công việc chỉ định. Vậy, họ phải làm việc gì? (1) Những thầy tế lễ mộ đạo và đứng đắn thì vào học trong trường của các tiên tri. Họ trở nên những thầy tế lễ dạy dỗ (IISử 15:3), và những người giảng nghĩa luật pháp của Đức Chúa Trời. (2) Có lẽ có người ở trong đạo binh của vua. (3) Một số ít người được chọn, có thể vào sâu hơn trong đời sống thuộc linh, và như vậy, giống như Xa-cha-ri, Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên, nhận lãnh tiếng kêu gọi đặc biệt cho chức tiên tri. (4) Ta khó mà tránh sự kết luận rằng có nhiều thầy tế lễ làm việc trong Đền của Đức Giê-hô-va với hai lòng, và vào những lúc khác họ làm việc như thầy tế lễ cho các nơi cao. Những người này đã thôi không còn là kẻ chăn chân thật của dân sự, họ không thấy gì trong lễ nghi mình phải gìn giữ và tôn mình lên. Họ thành ra người tình dục, tham lam, tàn bạo, và như những người có chức trong Hội Thánh vào những thời kỳ tối tăm nhứt, được tỏ ra là những người say rượu hoặc tà dâm (Ês 28:7, 8; 56:10-12). Hàng các tiên tri, đáng lẽ là hành động để ngăn trở điều ác, thì họ lại trở nên kẻ dự phần trong sự bại hoại (Giê 5:31; Ca 4:13; Sô 3:4).

  1. Đời Tân Ước.– Cũng cần xét chung vài sự thực về thầy tế lễ để thấy địa vị của họ trong lịch sử Tân Ước. Số người tan lạc khắp cả xứ Pha-lê-tin, như đã nói trên, rất đông. Trong số đó, phần nhiều là nghèo và dốt. Ban thầy tế lễ, giống các dân tộc, bị chia ra từng phái cạnh tranh nhau. Cảnh tượng của tấn thảm kịch chót của lịch sử Do-thái là ban thứ qua đi, không được tôn trọng, “chết như kẻ ngu dại” (IISa 3:33). Chức thầy tế lễ thượng phẩm được ban cho phái đê hèn và hạ đẳng nhứt là phe Xê-lốt cuồng tín. Các thầy tế lễ khác dường như cũng lìa bỏ và hiệp với kẻ thù. Sự hủy phá thành Giê-ru-sa-lem, trong một lúc cất khỏi ban thầy tế lễ tất cả mọi sự, chỉ trừ sự tôn trọng. Chức vụ họ mất hết. Có nhiều chi họ đã mất những gia phổ nữa. Tiếng các văn sĩ Tân Ước dùng liên quan về chức tế lễ không nên bỏ qua. Các trước giả nhận rằng: Đấng Christ là Con độc sanh của Đức Chúa Trời, Vua, Đấng chịu xức dầu, và đại biểu của chức tế lễ thật đầu tiên theo ban Mên-chi-xê-đéc (Hêb 7:1-; 8:1-), và từ ban đó có ban thứ của A-rôn ra. Song không có dấu tích của một ban thứ trong xã hội mới của đạo Đấng Christ, lấy danh và hành chức giống như chức thầy tế lễ của giao ước cũ. Ý nghĩa thầy tế lễ, suốt cả các thơ tín là về chức tế lễ phổ thông. Đó là tư tưởng của một thời gian kế tiếp mà sự sắp đặt xưa của thầy tế lễ thượng phẩm, các thầy tế lễ, người Lê-vi, được đổi thành chức mục sư, trưởng lão và chấp sự trong Hội Thánh.

Tiến sĩ Scofield chú thích về thầy tế lễ như sau nầy:

Xuất 19:5.– So IIPhi 2:9; Khải 1:6; 5:10. Điều gì dưới thời luật pháp là điều kiện thì ở dưới thời ân điển được ban cách nhưng không cho mỗi tín đồ. Chữ “nếu” của câu 5 là bản chất của luật pháp, như là một phương pháp của Đức Chúa Trời dùng đối đãi, và là lý do căn bản tại sao “luật pháp không làm trọn chi hết” (Rô 8:3; Hêb 7:18, 19). Giao ước với Áp-ra-ham (Sáng 15:18 lời chua), và giao ước mới (Hêb 8:8-12, lời chua) cho thấy để được sự Cứu rỗi và sự vững vàng chỉ cần một điều kiện là đức tin.

IIPhi 2:9.– Chức tế lễ Tân Ước. Tóm tắt: (1) Cho đến khi luật pháp được ban ra, người đứng đầu mỗi gia đình làm thầy tế lễ của gia đình (Sáng 8:20; 26:25; 31:54). (2) Khi luật pháp được đề nghị, lời hứa vâng phục trọn vẹn là Y-sơ-ra-ên nên làm một “nước thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời” (Xuất 19:6); nhưng dân Y-sơ-ra-ên phạm luật pháp, và Đức Chúa Trời đã đóng cửa chức vụ tế lễ, chỉ cho nhà A-rôn và chỉ định chi phái Lê-vi để hầu việc, như vậy làm mẫu chức thầy tế lễ (Xuất 28:1) (3) Trong thời đại ân điển, mọi người có đức tin lập nên (không điều kiện) một “nước thầy tế lễ ” (IIPhi 2:9; Khải 1:6), là sự phân biệt mà Y-sơ-ra-ên không thể làm trọn vẹn bởi công việc.Vậy, chức tế lễ của tín đồ là quyền trưởng nam; đúng như mỗi dòng dõi A-rôn sanh ra làm chức thầy tế lễ (Hêb 5:1). (4) Đặc quyền chính của thầy tế lễ là được vào nơi Đức Chúa Trời. Dưới thời luật pháp, chỉ thầy tế lễ thượng phẩm mới có thể vào “nơi chí thánh, ” và một năm chỉ một lần (Hêb 9:7). Nhưng khi Đấng Christ chết, bức màn nơi đền thờ là hình bóng về thân thể Đấng Christ, bị xé hai (Hêb 10:20), thì nay tín đồ được đặc ân làm thầy tế lễ, ngang hàng với Đấng Christ là Thầy Tế lễ Thượng phẩm, được vào tới Đức Chúa Trời trong nơi chí thánh (Hêb 10:19-22). Thầy Tế lễ Thượng phẩm thật đích thân ở đó (4:14-16; Hêb 9:24; 10:19-22). (5) Trong sự hành chức mình, tín đồ kiêm thầy tế lễ trong Tân Ước là: (1) Người dâng tế lễ có ba phần: a) Chính thân thể hằng sống của mình (Rô 12:1; Phil 2:17; IITi 4:6; IGiăng 3:16; Gia 1:27); b) Lời ngợi khen cho Đức Chúa Trời, “bông trái của môi miếng xưng danh Ngài ra, ” phải “hằng dâng” (Hêb 13:15; Xuất 25:22, “Ta sẽ gặp ngươi tại đó trên nắp thi ân”); c) Những việc lành (Hêb 13:16; Rô 12:13; Ga 6:6; IIIGiăng 1:5-8; Hêb 13:2; Ga 6:10; Tít 3:14. (2) Thầy tế lễ Tân Ước cũng là người cầu thay (ITi 2:1; Cô 4:12).

Lên đầu trang