Tân Ước

Tân Ước New Testament. Nouveau Testament.

Xuất xứ, lịch sử và những đặc sắc của các sách đã hình thành Tân Ước, các bản dịch, những sự tương quan của bốn sách Tin lành với nhau, ta sẽ luận đến trong các bài khác. Xem bài “Kinh Thánh.” và bài “Tin lành, Bốn sách.” Trong phần dưới đây chúng ta xét về ba phần sau: (I) Lịch sử của bản viết. (II) Lịch sử của bản in. (III) Tiếng dùng trong Tân Ước.

I. Lịch sử của bản viết.–1. Lịch sử sớm nhất của các bản viết là bởi các Sứ đồ, như có thể biết về phần bề ngoài, cũng là một với lịch sử các sách đồng thời. Sứ đồ Phao-lô giống Cicéron hay Pliny, thường dùng người thư ký, đọc cho người đó viết các bức thư, kèm lời chào thăm bởi “chính tay” mình (ICôr 16:21; IITê 3:17; Cô 4:18). Có một lần, người thư ký thêm một câu ghi tên mình (Rô 16:22). Xét kỹ, thì dường như không có sự quan tâm đặc biệt trong đời đầu tiên để giữ gìn các sách Tân Ước tránh khỏi sự hư hại bởi thời gian, hoặc để cẩn thận sao lại cho thật rất đúng. Các sách đó được ban như một cơ nghiệp cho loài người, và về sau người ta mới biết được giá trị lớn lao của sự ban cho đó. Các nguyên bản dường như chẳng bao lâu đã bị hư nát.

2. Theo lẽ tự nhiên của tạo vật, các bản chép tự chính tay các Sứ đồ chẳng bao lâu cũng hư đi như vậy. Vật liệu thường dùng để chép đó là giấy papyrus mà Giăng có lần ngụ ý đến (II Giăng 12; so IIIGiăng 1:13), loại giấy này rất mỏng manh, cả đến thứ giấy bền nhứt cũng vậy, dùng để chép các sách Sử-ký, loại giấy mỏng manh đó chẳng thể nào chịu nổi việc thường xuyên dùng đến. Các tàn bản bằng giấy papyrus còn giữ được cho đến ngày nay là nhờ những hoàn cảnh đặc biệt ở Herculaneum (năm 79 S.C., bị phủ lấp bởi diêm sinh của hỏa Diệm sơn Vésuve), hoặc trong phần mộ xứ Ai-cập giữa sa mạc.

3. Trong sự bắt bớ đời Dioclétien (303 S.C.), bản sao các sách đạo Đấng Christ co nhiều, đủ để thành một vật đặc biệt cho những kẻ bắt bớ đạo Chúa và một tên đặc biệt được đặt cho những kẻ phản gián là “kẻ tự cứu mình”, bằng cách giao lại các sách thánh đó. Có lẽ một phần các sách bị thiêu hủy vì lý do đó, nhưng sự hủy phá bởi thời gian còn tai hại hơn nhiều, cho nên chẳng còn một bản thảo nào của Tân Ước từ ba thế kỷ đầu tiên S.C.. Dầu không có tàn bản nào thuộc thế kỷ thứ nhứt còn lại, nhưng các giấy papyrus của người Ý-đại-lợi và Ai-cập vào niên hiệu đó cho biết rõ các lối viết thời bấy giờ. Trong các giấy đó, bài thì viết trong các cột, chia không ngay thẳng, bằng lối chữ hoa xấu xí (uncials), không có dấu chấm, phẩy, cũng không chia lời ra. Chấm (iota) thường là sau mới thêm vào, và cũng chẳng thường thêm luôn; cũng không có dấu chỉ về giọng đọc.

4. Thêm vào bản thảo sau các bản dịch sớm nhứt và các lời trích của các giáo phụ cũng có lời chứng liên quan về chữ và lịch sử của bản trước giáo hội nghị Nicée (325 S.C.). Quả thật, những lời giải nghĩa các sách đó, rõ ràng bởi các văn sĩ đạo Đấng Christ cổ nhứt, đó cũng là chứng cớ trực tiếp đầu tiên, nên là chứng cớ quan trọng nhứt. Nhưng không có những sách của các văn sĩ đó trước phần tư cuối của thế kỷ II S.C. nữa. Không những các bản văn về đạo Đấng Christ còn lại trước đời đó rất hiếm, mà những lời trích miệng từ Tân Ước cũng chưa có. Khi xảy ra những cuộc biện luận giữa các tín đồ, thì bản Tân Ước mới được tỏ rõ chân giá trị của mình.

5. Có mấy lời kết luận quan trọng theo sau từ sự nghiên cứu sớm nhứt về các bản. Trước hết, đã có lối đọc khác nhau trong sách Tân Ước, vào hồi trước các nguyên bản đã mất. Lịch sử không chỉ cho biết về các nguyên bản thật do bởi tay các Sứ đồ chép ra. Lại vì các bản có sự giữ lại các điều khác nhau đáng chú ý, có khi chỉ là những tiểu tiết, trong một vài bản cổ nhứt còn lại. Có thể chắc chắn không có sự gì thay đổi quan trọng xảy ra trong bản thánh mà nay ta không thể dò xét được.

6. Từ những lời trích riêng đó, ta thấy những chứng cớ lớn nhứt về bản các Sứ đồ trong các bản Syriaque và La-tinh dịch ra sớm nhứt, và trong các lời trích của Clément ở Alexandrie (chừng 220 S.C.) và Origène (184-254 S.C.).Chỉ riêng các sách của Origène viết, cũng đủ thấy một phần lớn Tân Ước được chép sang.

7. Có hai nguyên nhân đặc biệt làm sai lệch bản văn các sách Tin lành: đó là sự thử làm cho thống nhất các truyện tích chép đồng thời với nhau, và nguyên nhân thứ hai là do ảnh hưởng của truyền khẩu.

8. Song Origène nhờ có thiên tài nghiên cứu mà đứng đầu trong hàng các giáo phụ trước hội nghị Nicée, và sách của các giáo phụ hầu như là một kho vô tận cho lịch sử bản Tân Ước.

9. Trong 13 chỗ, Origène bày tỏ lối đọc khác nhau đáng chú ý về các sách Tin lành (Mat 8:28; 16:20; 18:1; 21:5; 21:9, 15; 27:17; Mác 3:18; Lu 1:46; 9:48; 14:19; 23:45; Giăng 1:3, 4, 28). Ba trong các câu đó mà Origène đã chú thích nay không thấy trong bản sao Hy-lạp nữa: Mat 21:9 hay 15; Mác 3:18 (2:14); Lu 1:46. Trong bảy câu bản quốc văn còn chia làm hai (Mat 8:28; Giăng 1:28), lối đó chỉ thấy trong một số ít bản thảo, nay đã truyền rộng ra; còn lại chỗ Mat 27:17 có một số ít bản sao không lâu cũng giữ lời xen vào trong thời giáo phụ, tức “các bản sao cổ nhứt.”

10. Chắc rằng trong đời Origène chỗ khác nhau giữa các bản thảo Tân Ước đã dẫn đến sự họp thành mấy loại riêng các bản sao.

11. Các bản thảo và các bản dịch cổ nhứt còn lại đến bây giờ cho thấy những đặc sắc khác nhau của công việc Origène. Các sự khác nhau chắc có trước đầu thế kỷ thứ III và có lẽ còn sớm hơn nhiều. Bengel là người đầu tiên (1734) đã cho thấy sự thống nhất với nhau của mấy loại bản thảo, và tin rằng đã co sự thống nhất đó từ trước khi xuất hiện các bản dịch đầu tiên.Tùy theo Griesbach, có hai lần sửa lại các sách Tin lành vào đầu thế kỷ thứ III S.C.: tức theo các học giả Alexandrie, và theo Tây giáo hội.

12. Từ lịch sử rất sớm của bản văn Tân Ước, bây giờ xin luận đến kỷ nguyên các bản thảo. Lời trích lược của Dionysius Alex (264 S.C.); Petrus Alex, (312 S.C.); Methodius (311 S.C.), và Eusèbe (340 S.C.), đều chứng quyết về sự phổ biến lối văn cổ của bản văn Tân Ước, nhưng khi đạo Đấng Christ trở thành một quốc giáo thì tự nhiên dẫn đến những sự thay đổi quan trọng. Lúc ấy, vì có nhiều tín đồ thuộc phái thượng lưu cầu kỳ đòi các bản văn Tân Ước có giá trị cao hơn. Do đó, lối viết chữ Hy-lạp thô thiển của người Hê-lê-nít đã nhường chỗ cho lối viết thông dụng thời bấy giờ, và cũng có lý mà tin rằng cách viết văn thông thường của các Sứ đồ được sửa lại bởi những cách đặt câu êm nhẹ và đầy đủ hơn. Bởi đó, mới có nền tảng của bản văn Byzantine (Constantinople). Trong khoảng đó có thêm nhiều bản sao ở Phi châu và Sy-ri cho đến khi bị ngăn trở bởi những cuộc chinh phục của Hồi giáo.

13. Trong phần 3 đã luận đến các bản thảo cổ nhứt. Các bản thảo trong thế kỷ thứ IV S.C., mà Codex Vaticanus làm mẫu, cũng có sự giống nhau mật thiết với các bản cổ đó. Lối viết bằng chữ hoa lịch sự cách nhau (uncials); chia làm ba cột, không có chữ lớn ở đầu với chấm ở dưới và ở sau. Có những khoảng nhỏ chừa lại dùng làm dấu phết thường; và không có dấu chỉ giọng đọc bởi tay người viết thứ nhứt, dầu sau đo có thêm vào. Lối viết toàn chữ hoa, cứ được thông dụng cho đến chừng giữa thế kỷ thứ X. Bắt đầu từ thế kỷ thứ XI, người ta ưa dùng chữ viết liền như ngày nay. Bản thảo Kinh Thánh sớm nhứt chép bằng chữ liền có từ năm 964 S.C.. Các bản thảo thuộc thế kỷ thứ XIV và XV S.C., có nhiều chỗ viết tắt mà sau cũng dùng trong các sách in đầu tiên. Các bản thảo cũ nhứt được viết trên giấy da chiên mỏng nhứt và nhẵn nhứt. Các bản sao về sau thì dùng giấy dày và thô hơn. Giấy papyrus thì ít khi dùng sau thế kỷ thứ IX. Trong thế kỷ thứ X, người ta dùng giấy bông ở Âu châu, và ít nhứt cũng có một lần dùng trong thế kỷ thứ IX. Trong thế kỷ thứ XII, người ta dùng giấy làm bằng vải bông hoặc giẻ rách. Có một thứ vật liệu nữa cần chú ý đến là giấy da làm mới lại. Ngay vào hồi rất sớm, nguyên văn của một bản thảo viết trên giấy da có khi bị bôi xóa để có thể dùng vật liệu đó lần nữa. Thời gian trôi qua, nguyên văn có khi lại hiển hiện cách mờ mờ dưới bài viết sau đó, và bởi đó có nhiều bản thảo Kinh Thánh, đã bị bôi một lần để dùng vào việc khác, được tìm ra sau đó.

14. Việc chia các sách Tin lành ra từng “đoạn” đã được phổ biến trước thế kỷ thứ V S.C.. còn việc chia sách Công vụ các sứ đồ và các thơ tín ra từng đoạn là về sau mới có, nhiều người đã tưởng công việc này là bởi Euthalius, nhưng Euthalius cho biết rằng mình đã mượn sự chia các thơ tín Phao-lô từ một giáo phụ trước; và cũng có lý mà tin rằng sự chia sách Công vụ các sứ đồ và các thơ tín thành từng đoạn mà người ta đã sử dụng vốn là công việc của Pamphilus, người tử vì đạo. Sách Khải Huyền chia thành từng phần lớn bởi Andreas ở Sê-sa-rê chừng 500 S.C.. Những nhan đề của các sách thánh là tùy theo tính cách mà thêm vào nguyên bản. Các tên biệt riêng của bốn sách Tin lành chỉ đến một sự sưu tập, và các nhan đề đặc biệt của các thơ tín là các lời chú thích bởi người đọc sách, không phải là lời đặt cho bởi các người chép.

15. Hiếm có các bản thảo chứa trọn cả Tân Ước. Các bản thảo dầu nhiều nhưng thật ra chỉ có 27 bản có trọn bộ Tân Ước. Ngoài các bản thảo của Tân Ước ra, còn có sách gồm các bài trích ra và sắp đặt dùng trong sự thờ phượng của Hội Thánh.

16. Số các bản thảo bằng toàn chữ hoa là ít, khi so sánh với số nhiều bản thảo cổ khác. Tischendorf kể có 40 bản thảo sách Tin lành. Thêm vào đó có bản Codex Sinaiticus, là trọn bản, một bản thảo mới của Tischendorf có gần trọn bộ, và Codex Zacynth có nhiều tàn bản của sách Lu-ca. Sách Công vụ các sứ đồ có 9 bản, các thơ tín chung có 5, thơ tín Phao-lô có 14, và Khải Huyền có 3.

17. Đây chỉ có thể nói đến các bản thảo quan trọng, trước hết là bản mới tìm được và đầy đủ hơn hết là Codex Sinaiticus hiện ở viện bảo tàng nước Anh mà Tischendorf tìm được tại nhà dòng St.Catherine, trên núi Si-na-i, năm 1859. Có trọn bộ Tân Ước, và thêm thơ tín của Ba-na-ba và mấy phần sách Người chăn chiên bởi Hermas. Đó có lẽ là bản cổ nhứt trong các bản thảo của Tân Ước thuộc thế kỷ thứ IV.– Codex Alexandrinus là một bản thảo trọn bộ Kinh Thánh Hy-lạp, và các thơ tín của Clément thêm vào. Cyril Lucar, trưởng lão ở thành Constantinople, đã dâng cho Charles I năm 1628, và nay ở viện bảo tàng nước Anh. Bản đó có đủ Tân Ước, chỉ thiếu vài chỗ. Có lẽ được chép vào nửa đầu thế kỷ thứ V. — Codex Vaticanus (số 1209) là một bản thảo cả Kinh Thánh Hy-lạp, và dường như để trong thư viện Tòa thánh La-mã, hầu hết từ buổi khởi lập (chừng 1450 S.C.). Bản nầy có trọn bộ Tân Ước cho đến Hêb 9:1- câu 14 (sẽ), còn phần sót của thư Hê-bơ-rơ, Ti-mô-thê, Tít, và Khải Huyền được thêm vào trong thế kỷ thứ XV. Người ta định rằng bản thảo nầy có lẽ vào thế kỷ thứ IV.– Codex Ephraemi rescriptus (trong viện bảo tàng Paris), là một bản thảo đã bôi để dùng lại, chứa những tàn bản thuộc bản Septante; và mọi phần Tân Ước, đến thế kỷ thứ XII, chữ viết nguyên văn bị bôi xóa, và có chữ Hy-lạp viết đè lên bởi Ephraem Syri. Bản thảo được đem từ phương Đông sang Florence đầu thế kỷ thứ XVI, rồi từ đó đến Paris với Catherine de Medicis. Chỉ hai sách mất hẳn là II Tê-sa-lô-ni-ca và IIGiăng.

18. Số các bản thảo viết chữ liền (minuscules) hiện có thật không thể đếm đúng được. Tischendorf làm một biểu kê có chừng 500 sách Tin lành, 200 sách Công-vụ và thơ tín chung, 250 thơ tín Phao-lô, và ngót 100 sách Khải Huyền (ngoài ra còn có các bài trích dùng để thờ phượng); nhưng đó chỉ là kể đại khái tất cả các bản mà thôi.

19. Nếu khảo cứu về số lần và tính cách những sự khác nhau trong các bản thảo Tân Ước thì không thể tính con số cho chính xác, nhưng không dưới 120.000 lần tất cả. Một phần rất lớn sự sai biệt là do ở lối đánh vần khác nhau và những điều sai lầm riêng của các thư ký, ngoài ra còn có các chỗ thay đổi khác nữa, có lẽ con số không hơn 1600-2000.

20. Các lối đọc khác nhau là do mấy nguyên do: có khi vô ý, có khi cố ý đổi nguyên văn.

21. Có chỗ khác nhau là bởi thị giác sai lầm, có chỗ bởi sự lầm lẫn của cảm tình hoặc ký ức. Người sao lại, sau khi đọc một lời từ bản văn ở trước mình, có khi sơ sót chép lại không đúng. Phần lớn là vì sự thay đổi trật tự.

22. Dầu có sự cách mạng lớn trong tư tưởng, tình cảm và thực hành trong Hội Thánh Đấng Christ qua 15 thế kỷ, nhưng các người sao chép lại Tân Ước vẫn trung tín đối với công việc thánh đã giao cho mình. Vậy, không có dấu gì tỏ ra họ cố ý sửa đổi để chiều theo tư tưởng đương thời mặc dầu có (Mat 17:21; Mác 9:29; ICôr 7:5).

23. Phần lớn các bản viết khác nhau chỉ do ở lối viết khác. Dầu vậy, có một hoặc hai sự khác nhau nữa là Giăng 7:53-8:12; Mác 16:9 đến hết đoạn; Rô 16:25-27, mà mấy bản cổ không có. Về khúc thứ nhứt chắc có thật song có lẽ không phải bởi Sứ đồ Giăng. Hai khúc còn lại, khi so với đoạn chót của Tin lành Giăng, gợi ý rằng có lẽ có sự thay đổi được công nhận.

24. Phải nhớ rằng các bản thảo chỉ là một trong ba nguồn để nghiên cứu bản văn Tân Ước. Hai nguồn khác là các bản dịch, và các lời trích bởi các giáo phụ.

II. Lịch sử của bản in.– (1) Bản Comphutensian Polyglot. Năm 1502, Cardinal Ximenes tuyển mộ một số đông học giả giúp việc lo sưu tầm cả bộ Kinh Thánh bằng nguyên văn Hê-bơ-rơ và Hy-lạp, với thêm sách Targum của Onkelos bằng tiếng Canh-đê, và bản dịch Septante và Gulgate. Bộ Kinh Thánh Tân Ước được in trước hết bằng tiếng Hy-lạp, xong năm 1514; cả bộ Kinh Thánh xong năm 1517, và cả hai bộ mãi tới năm 1520 mới xuất bản. (2) Bộ của Erasmus xuất bản. Đó là bộ Tân Ước ấn hành trước nhứt. Erasmus đã chuyên chú kê cứu về Tân Ước, khi ông quen biết Froben một thợ in ở Bâle, thì lo sửa soạn in một bản Tân Ước bằng tiếng Hy-lạp. Bộ Tân Ước này làm xong và xuất bản tháng 2 năm 1516, và tới năm 1535 lại tái bản Tân Ước lần thứ năm. (3) Bộ của Stephens xuất bản. Năm 1543 Simon de Colines xuất bản một bộ Tân Ước bằng tiếng Hy-lạp, có sửa lại chừng 150 chỗ nhờ bản thảo cổ mới tìm được. Ít lâu sau, Robert Stephens xuất bản lần thứ nhứt (1546), nhờ sự so sánh các bản thảo trong viện bảo tàng của nhà vua với bản Complutensian. (4) Bộ của Bèze, xuất bản năm lần bản Hy-lạp Tân Ước: lần đầu 1565, và cuối 1598, nhờ Robert Staphens in. (5) Bộ của Elzivir in, tại Leyden (16:24) giống bộ của Robert Stephens kể trên, nhưng không biết ai là chủ bút. (6) Walton (1657-1675) xuất bản bộ Hy-lạp Tân Ước in ngang với tiếng Anh, cuối sách có thêm mấy lối đọc khác theo mấy bản cổ mới tìm được; và năm 1675 giám mục Fell tại Oxford xuất bản lần nữa. (7) Bác sĩ Mill nhờ bộ Hy-lạp của Stephens mà xuất bản Tân Ước Hy-lạp 1707. (8) Wells xuất bản một bộ giữa những năm 1709-1719 và dịch ra tiếng Anh. (9) Bengel xuất bản 1734. (10) Wetstein xuất bản 1751-2. (11) Griesbach nghiên cứu bản Tân Ước nguyên văn Hy-lạp và có lẽ ông đã cẩn thận so với các bản thảo cổ lúc đó có. Griesbach theo các bản cổ nhất, và so việc mình với Wetstein, Birch, Matthxi, v.v.. (12) Scholz, Lachmann, Tischendorf, Tregelles, từ thời Griesbach đã cẩn thận nghiên cứu nguyên văn Hy-lạp và xuất bản Tân Ước. (13) Wescolt và Hort nhờ các bản thảo cổ có đã lâu và mới có vào năm 1885, xuất bản Tân Ước nguyên văn Hy-lạp, và nhờ bộ nầy để dịch Tân Ước quốc ngữ.

III. Tiếng dùng trong nguyên văn Tân Ước.– (1) Trong các cuộc xâm lăng Đông phương của Alecxandre le Grand (356-323 T.C.), là cơ hội cho sự mở mang tiếng Hy-lạp. (2) Không chỗ nào tiếng Hy-lạp bị pha tạp nhiều và biến đổi mau chóng như ở Alecxandrie, tại đó có một dân tạp bất đồng, chuyên về hoạt động thương mại, giới này đã lấy tiếng Hy-lạp là thứ tiếng dùng chung để giao thiệp với nhau. Tại Alecxandrie mới có thể tìm căn nguyên của thứ tiếng dùng trong Tân Ước, có hai phần riêng biệt lẫn lộn trong thứ thổ ngữ lạ lùng đó, cốt để giữ lại mãi mãi những sứ mạng đầy đủ của Tin lành. Một phần là ý Hê-bơ-rơ, và một phần là câu văn Hy-lạp để bày tỏ ý đó. Các tư tưởng phương đông được bày tỏ bằng những lời phương Tây. Điều đó được thành công là bởi sự dịch lần lần các sách Kinh Thánh Hê-bơ-rơ ra tiếng Hy-lạp mẹ đẻ. (3) Tiếng Hy-lạp của Bản Septante, giống tiếng Anh trong bản Anh cũ và tiếng Đức trong bản của Luther dùng thổ ngữ Hy-lạp của quần chúng Do-thái. Gọi thổ ngữ của Tân Ước là thuộc người Hê-lê-nít còn đúng hơn là thuộc Alecxandrie, dầu những nét đặc biệt của lối văn có vẻ như tỏ là thuộc Alecxandrie. (4) Địa vị của xứ Pha-lê-tin cũng đặc biệt. Tiếng Aramaique (Sy-rô Canh-đê) là thứ tiếng của người Do-thái sau khi từ nơi phu tù về, dùng cùng một lúc với tiếng Hy-lạp, ta có thể tin ấy là thứ tiếng Chúa quen dùng để dạy dỗ dân sự; và tỏ ra Ngài cũng dùng tiếng đó trong đời sống của Ngài (Mác 3:17; 5:41; 7:34; Mat 27:46; Giăng 1:43 so 20:16). Việc quen dùng bản Septante (Hy-lạp) đủ làm chứng cớ tỏ ra người Do-thái trong xứ Pha-lê-tin quen dùng tiếng Hy-lạp. Chắc khi Chúa Jêsus ở trước mặt Phi-lát thì Ngài cũng dùng tiếng Hy-lạp. (5) Nghĩa văn tự của các bản viết bởi các Sứ đồ cũng phải được nghiên cứu như các sách khác, tức phải nhờ hết cả phương pháp và tài năng của các học giả và nhờ sự nghiên cứu các lời chép và ý tưởng so sánh với nhau. Vậy, không có sự thay đổi nào hoặc về câu, hoặc về thổ âm, hoặc về thời giờ, hoặc về trật tự bị bỏ qua. Lẽ thật chắc chắn chứa ở trong các câu văn, nên không câu nào có thể bị bỏ qua. Sự cần thiết khi kê cứu là phải rất nhẫn nại, và rất trung tín tìm ý nghĩa văn tự thánh, phải cố gắng gấp mười lần. Phải nhớ rằng nghĩa văn tự đó chỉ là phần bề ngoài của một nghĩa thuộc linh bề trong làm linh hoạt cả mọi phần Kinh Thánh. “Người có tánh xác thịt… không thể hiểu được, vì phải xem xét cách thuộc linh” (ICôr 2:14).

Phỏng theo

William Smith, L.L.D.

Lên đầu trang