Phi-lê-môn, Thơ The Epistle of Paul the Apostle to Philemon. Épitre à Philémon.
Đó là một bức thơ viết rất tình cảm và đầy sự yêu thương trong số các thơ tín của Phao-lô. Phao-lô gởi thơ nầy cho Phi-lê-môn, Áp-bi và A-chíp tức vợ con của Phi-lê-môn, cùng Hội Thánh họp trong nhà người tại Cô-lô-se (câu 1, 2). Trong thơ, trừ hai câu 3, 25 ra, đều gọi là “anh, ” tức chỉ về Phi-lê-môn.
I. Nơi viết thơ.– Có người nói thơ nầy Phao-lô viết ở thành Sê-sa-rê, song không đủ bằng cớ đáng tin. Chắc thơ nầy và thơ Cô-lô-se được viết cùng một lúc trong ngục tại La-mã, rồi Phao-lô sai Ti-chi-cơ và Ô-nê-sim đem đi (Cô 4:7, 9), lý do vì khi Phao-lô bị cầm tù tại Sê-sa-rê không được tự do như tại La-mã, vì trong thơ không nói về Phi-líp, là người giảng Tin lành hành chức phó tế tại Sê-sa-rê (Công 21:8), và ở Sê-sa-rê cũng không cho phép một số đông tín đồ và đồng bạn cùng ở với Sứ đồ như tại La-mã.
II. Niên hiệu chép thơ.– Lúc chép thơ, Phao-lô “mong rằng, nhờ anh em cầu nguyện sẽ được trở về cùng anh em” (câu 22). Bởi đó ta biết Phao-lô có hy vọng sớm được thả ra, nên chắc rằng thơ nầy được viết gần mãn kỳ Sứ đồ bị cầm tù lần thứ nhứt tại La-mã, tức nhằm năm 63 hoặc 64 S.C..
III. Chứng cớ thơ là thật.– Thơ nầy dầu là một bức thơ ngắn gởi cho một người, song ai cũng công nhận là do Phao-lô viết ra. Origène đã trích lại thơ nầy và coi như chắc chắn là của Phao-lô; Tertullien viết: “Vì cớ thơ ngắn nên mới thoát khỏi tay tà giáo của Marcion;” Eusèbe sắp đặt thơ nầy vào hàng các thơ tín của Tân Ước được công nhận; Jérôme đã phản đối những kẻ cho rằng thơ nầy không phải của Sứ đồ. Ignace có trưng dẫn thơ Phi-lê-môn. 20. Bản liệt kê Muratori, và Athanase với Jérôme binh vực thơ nầy. Giáo hội nghị Lao-đi-xê (364 S.C.) và Carthage (397 S.C.) đã công nhận thơ nầy vào Tân Ước. Paley lấy những sự giống nhau bất ngờ trong thơ nầy và thơ Cô-lô-se mà tỏ ra thơ là thật. Dầu vậy, những thế kỷ thứ V và thứ XIX, có người đã công kích thơ, lấy ba lý cớ để tỏ ra thơ không thật: gợi ý thơ là xen vào, chỉ nói bóng, và dựa vào thơ của Pline le Jeune (62-120 S.C.) gởi để xin chủ nhân tha thứ tôi mọi trốn đi. Xét ba lý cớ thấy thật không chính đáng.
IV. Nguyên nhân và nội dung thơ.– Lời mở đầu thơ nầy kể ngay tên Ti-mô-thê, giống thơ I, II Tê-sa-lô-ni-ca, Phi-líp và Cô-lô-se. Phao-lô nói mình bị tù (1, 9, 13) thì giống với Phil 1:7, 13; Êph 3:1; 4:1, 6, 20; Cô 4:3, 18. ngoài ra còn có vài chỗ giống nhau nữa: Ô-nê-sim là người Cô-lô-se (Cô 4:9), Ê-pháp-ra chào thăm người Cô-lô-se và Phi-líp (Philm 23, 24; Cô 4:10, 12). Thơ nầy là một gương mẫu rất tốt đẹp của đạo Đấng Christ, ứng dụng cho sự sống hằng ngày, cho những sự liên hệ trong gia đình cũng như bổn phận giữa chủ và tôi tớ đối với nhau (so Thi 121:2-7). Nguyên nhân thơ nầy được viết ra là nhơn việc Ô-nê-sim ăn cắp đồ vật của chủ nhân và trốn đi (18). Sau người nầy được Phao-lô dẫn dắt, dạy dỗ, và đã hối cải tin nhận Chúa. Phao-lô vốn muốn giữ Ô-nê-sim lại để giúp việc nhưng vì chưa được chủ nhân đồng ý, nên Phao-lô trước tiên bảo Ô-nê-sim hãy về cùng chủ mà xin tha thứ đã (10, 14). Vả lại, Phao-lô nói hiện nay không coi Ô-nê-sim là kẻ tôi mọi nữa vì người nầy đã tin nhận Chúa(15-17). Suốt bức thơ, tác giả đã dùng những lời rất là chân tình, thiết tha và mềm mại, thật như Cô 4:6 chép: “Lời nói anh em phải có ân hậu theo luôn, và nêm thêm muối.” Phao-lô khuyên Phi-lê-môn nên đối đãi với Ô-nê-sim như anh em, điều đó không phải cho rằng bấy giờ tín đồ Đấng Christ không được phép nuôi tôi tớ đâu, chẳng qua Phao-lô muốn Ô-nê-sim trở về với chủ nhân, làm hết bổn phận, và muốn chủ nhân làm theo lòng yêu thương Đức Chúa Trời mà sai khiến đầy tớ ở trước mặt Ngài (Cô 3:22; ICôr 7:21-24; Êph 6:5-9). Từ khi Phao-lô trình bày ý đó, trải qua mười mấy thế kỷ, tín đồ vẫn chưa cảm thấy việc nuôi nô lệ trong nhà là sai quấy. Đến thế kỷ thứ XIX mới trừ bỏ được thói mua bán nô lệ. Việc lành đó thật nhờ đạo Đấng Christ, vậy ta biết ảnh hưởng của thơ Phi-lê-môn không phải là nhỏ.
V. Sự dạy dỗ.– Nhà cải chánh Martin Luther viết: “Thơ Phi-lê-môn tỏ một gương yêu thương lớn cho tín đồ Đấng Christ. Phao-lô từ bỏ mình vì Ô-nê-sim, và hết sức giãi bày duyên cớ Ô-nê-sim trước mặt chủ người; như vậy, Sứ đồ đã đặt mình vào địa vị của Ô-nê-sim như chính mình đã làm hại Phi-lê-môn. Dầu vậy trong mọi sự đó Phao-lô không dùng quyền của mình có, song từ bỏ hết; như thế, buộc Phi-lê-môn cũng phải bỏ quyền lợi riêng của mình. Cũng vậy, Đấng Christ đã làm như thế đối với Đức Chúa Trời, vì Đấng Christ cũng đã từ bỏ mình và quyền Ngài (Phil 2:6-7), và bởi sự yêu thương và nhu mì đã ép? Đức Chúa Cha dẹp cơn giận và quyền của Ngài để dắt đem chúng ta nhận ơn Ngài vì cớ Đấng Christ, là Đấng đã giãi bày duyên cớ của chúng ta và Ngài đã hết lòng từ bỏ mình, bởi chúng ta thảy đều là “Ô-nê-sim” của Ngài.
Tiến sĩ Scofield chú thích:
Tác giả. Sứ đồ Phao-lô (1:1).
Niên hiệu. Có lẽ thơ nầy được viết vào năm 64 S.C.. là một trong các thơ viết tại ngục. Xem tiểu dẫn thơ Ê-phê-sô và Cô-lô-se.
Đại đề.– Ô-nê-sim (có ích), tôi mọi của Phi-lê-môn là tín đồ tại Cô-lô-se, đã lấy cắp của chủ và trốn đến La-mã. Tại đó Phao-lô đã hướng dẫn Ô-nê-sim tin Chúa, rồi sai người về với chủ đem theo thơ nầy. Thơ nầy có giá trị tuyệt đối, vì dạy đến: 1) Thực hành sự công bình. 2) Tình anh em giữa vòng tín đồ. 3) Phép tắc của đạo Đấng Christ. 4) Luật yêu thương. Bố cục của thơ.– Chia làm bốn phần: I. Lời chào thăm, 1-3. II. Tánh nết Phi-lê-môn, 4-7. III. Lời xin cho Ô-nê-sim, 8-21. IV. Lời chào thăm và kết luận, 22-25. Câu 17, 18.– Ấy là một thí dụ trọn vẹn về sự kể cho. “Hãy nhận lấy người như chính mình tôi vậy, ” tức lấy công đức của tôi kể cho người; “Nhược bằng người có làm hại anh hoặc mắc nợ anh điều chi, ” tức lấy sự làm hại của người kể cho tôi. Xem bài Kể cho, Gia 2:23 như sau nầy: Sự kể cho là một công việc của Đức Chúa Trời, bởi đó Ngài kể tín đồ là công bình trong Đấng Christ, là Đấng đã gánh tội lỗi của tín đồ, làm trọn điều Luật pháp đòi hỏi.