Nước Đức Chúa Trời Kingdom of God.
Tiến sĩ Scofield chú thích về nước Đức Chúa Trời:
Mat 6:33.– Nước Đức Chúa Trời khác với nước thiên đàng về 5 phương diện:
1. Nước Đức Chúa Trời là phổ thông, kể cả mọi bổn thể tri thức tình nguyện phục tuân ý muốn Đức Chúa Trời, hoặc thiên sứ, Hội Thánh, hoặc các thánh đồ thuộc các thời đại quá khứ hay tương lai (Lu 13:28, 29; Hêb 12:22, 23); còn nước thiên đàng là nước của Đấng Mê-si, sự cầu thay, và dòng Đa-vít, và có mục đích lập nước Đức Chúa Trời ở trên đất (Mat 3:2; ICôr 15:24).
2. Chỉ kẻ được tái sanh mới được vào nước Đức Chúa Trời (Giăng 3:3, 5-7); trong thời kỳ nầy, nước thiên đàng làm một phạm vi của sự nhận tín có thể thật hay giả (Mat 13:3; 25:1, 11, 12).
3. Vì nước thiên đàng là phạm vi thế hạ của nước Đức Chúa Trời phổ thông, cả hai nước hầu như có mọi vật chung. Bởi đó, có nhiều ví dụ và sự dạy dỗ khác về nước thiên đàng trong Ma-thi-ơ, và nước Đức Chúa Trời trong Mác và Lu-ca. Những sự không nói đến có nghĩa quan hệ. Như thí dụ về lúa mì và cỏ lùng, và về lưới (Mat 13:24-30, 36-43, 47-50) không nói về nước Đức Chúa Trời; ấy vì trong nước đó không có cỏ lùng hay cá xấu. Song ví dụ về men (Mat 13:33) có nói về Đức Chúa Trời vì tiếc thay, những lẽ đạo chân thật về nước cũng bị pha men của những sự sai lầm mà phe Pha-ri-si, Sa-đu-sê và đảng Hê-rốt làm đại biểu (xem Mat 13:33).
4. “Nước Đức Chúa Trời không đến cách tỏ tường bề ngoài” (Lu 17:20), song chính là sự tỏ ra bề trong và thuộc linh (Rô 14:17); còn nước thiên đàng có sự tổ chức, và sẽ được tỏ ra trong sự vinh hiển trên đất. Xem bài Nước (Cựu Ước). Xa 12:8; và (Tân Ước), Lu 1:31-33; ICôr 15:24; Mat 17:2.
5. Nước thiên đàng sáp nhập vào nước Đức Chúa Trời, ấy là khi Đấng Christ đã được Đức Chúa Trời “để muôn vật dưới chân Ngài là lúc Ngài sẽ giao nước lại cho Đức Chúa Trời là Cha” (ICôr 15:24-28).
Lu 17:21.– “Ở trong các người” (Hy-lạp entos). Không thể nói về một người Pha-ri-si, là người tự xưng công bình và chối bỏ Đấng Christ, có nước Đức Chúa Trời, về phần thuộc linh, ở trong người. Hết cả lời giải đáp của Chúa ta, có ý làm khó cho người Pha-ri-si hiểu (so Mat 13:10-13), có nghĩa về thời kỳ. Nước, về hình thể bề ngoài, như giao ước đã lập với Đa-vít (IISa 7:8-17) và như các tiên tri đã tả vẽ (Xa 12:8), đã bị người Do-thái chối bỏ; đến nỗi trong thời hiện tại “không đến cách rõ ràng” có thể dịch: tỏ ra bề ngoài, song trong lòng người (so Lu 19:11, 12; Công 1:6-8; Rô 14:17). Trong khoảng nầy, nước thật “ở giữa” (có bản dịch như thế) vòng người Pha-ri-si, tức là chỉ về Đấng Christ, là vua, và môn đồ Ngài. Sau hết, nước thiên đàng sẽ đến cách rõ ràng bề ngoài (câu 24).
Mat 21:43.– Nên chú ý, Ma-thi-ơ đây như trong câu 33 dùng một danh từ có nghĩa rộng hơn, tức nước Đức Chúa Trời (so Mat 6:33). Nước thiên đàng (Mat 3:2; ICôr 15:24) sẽ được lập. Trong khi chờ đợi, nước Đức Chúa Trời và sự công bình Ngài bị cất khỏi dân Y-sơ-ra-ên mà ban cho người ngoại (Rô 9:30-33).
Thi 22:28.– So câu 30. “Nước thuộc về Đức Giê-hô-va “. Trong câu 30 tỏ ra Adonai là Đấng trị vì thay vì Đức Giê-hô-va. Xem Thi 110:1- với Mat 22:42-45. Ý nghĩa và mục đích của Adonai (Chúa) là sự giao nước lại cho Đức Giê-hô-va. Xem ICôr 15:23, 24. Xem bài Giê-hô-va, Sáng 2:4; 15:2.
Tiến sĩ Scofield chú thích về nước thiên đàng :
Mat 3:2.
1.– Danh từ nước thiên đàng (dịch đúng là nước của các từng trời) dùng riêng trong sách Ma-thi-ơ, và chỉ về sự trị vì trên đất của Đấng Mê-si, là Chúa Jêsus Christ, con của Đa-vít. Sở dĩ được gọi nước của các từng trời vì các từng trời trị vì trên đất (Mat 6:10). Danh từ nầy từ sách Đa-ni-ên, tại đó được định nghĩa (Đa 2:34-44; 7:23-27) là nước mà “Chúa trên trời” sẽ lập nên sau khi chính thể các cường quốc ngoại bang “bị hòn đá chẳng phải bởi tay đục ra” hủy diệt đi. Ấy là nước lập theo giao ước với dòng dõi Đa-vít (IISa 7:7-10); tả trong các sách tiên tri (Xa 12:8) và chứng quyết cho Jêsus là Đấng Christ con Ma-ri, bởi thiên sứ Gáp-ri-ên (Lu 1:32, 33).
2.– Trong Ma-thi-ơ, nước thiên đàng có ba phương diện:
a. Nước Thiên đàng “Đến gần” từ khi Giăng Báp-tít khởi sự làm chức vụ (Mat 3:2) đến sự quyết định chối bỏ Chúa, và bày tỏ một mối quan hệ mới (Mat 12:46-50).
b. Trong bảy lẽ mầu nhiệm của nước thiên đàng sẽ được ứng nghiệm trong thời đại hiện nay (Mat 13:1-15); lại thêm những ví dụ về nước thiên đàng, sau đoạn 13:1-, có quan thiệp với lời làm chứng của tín đồ Đấng Christ trong thời đại nay.
c. Phương diện tiên tri, nước sẽ được lập sau khi vua lấy sự vinh hiển tái lâm (Mat 24:29-25:46; Lu 19:12-19; Công 15:14-17). Xem bài Nước (Tân Ước) (Lu 1:33; ICôr 15:28). So bài Nước Đức Chúa Trời. Mat 6:33.
Mat 5:2.– Vì đã phán nước thiên đàng “đến gần ” trong Mat 5:1–7:1-, vua tuyên bố những nguyên tắc của nước. Bài giảng trên núi có hai sự dạy dỗ:
1.– Nghĩa từng chữ về nước. Theo ý nầy, bài nầy là điều lệ Ngài lập để cai trị công bình trên đất. Chừng nào nước thiên đàng được lập trên đất, thì sẽ lập theo điều lệ đó là điều lệ có thể coi như là lời giải nghĩa danh từ “sự công bình” mà các tiên tri đã dùng để mô tả nước (Ês 11:4, 5; 32:1; Đa 9:24). Theo nghĩa nầy, bài giảng trên núi thật là luật pháp, và chuyển hành động phạm pháp đến việc tìm hiểu nguyên nhân (Mat 5:21, 22, 27, 28). Đây tỏ duyên cớ sâu nhiệm hơn tại sao người Do-thái chối bỏ nước. Họ đã giảm bớt nghĩa “sự công bình” thành ra lễ nghi bề ngoài mà thôi, và nghĩa về nước trong Cựu Ước thành ra chỉ là việc tỏ sự sung sướng và quyền bề ngoài. Dầu người Do-thái không hề bị quở vì trông đợi một nước thấy được và có quyền lực, nhưng lời các tiên tri đáng lẽ dạy cho họ sẵn trông đợi chỉ những người “có lòng khó khăn” và “nhu mì” mới được hưởng nước (Ês 11:4). Thi 72:1- mà ai nấy trong dân Do-thái đều công nhận là tả vẽ đầy dẫy ý đó. Vì những cớ đó, bài giảng trên núi, trong sự dạy dỗ đầu nhứt, không nói đến đặc ơn hoặc nghĩa vụ Hội Thánh. Cũng thường thấy trong các Thơ tín. Theo luật pháp của nước, không người nào có hy vọng được tha tội nếu trước chưa tha tội cho kẻ khác (Mat 5:12, 14, 15). Theo ân điển, tín đồ Đấng Christ phải tha thứ vì đã được tha thứ (Êph 4:30, 32).
2.– Song cũng có sự dạy dỗ rất hay cho tín đồ về phần đạo đức. Ấy là bao giờ kẻ thật có lòng khó khăn cũng được lãnh phước, chớ không phải người kiêu ngạo. Và kẻ buồn rầu vì cớ tội mình, sau đó ăn năn, vì đói khát về sự công bình, thì sẽ được no đủ. Kẻ hay thương xót sẽ được phước, và kẻ có lòng trong sạch sẽ “thấy Đức Chúa Trời”. Những nguyên tắc nầy về phần cốt yếu lại được dạy dỗ trong các Thơ tín.
Thi 72:1.– Cả Thi-thiên nầy là một sự khải thị trọn vẹn về nước Đấng Mê-si như được tỏ ra trong Cựu Ước. Những lời cầu nguyện của Đa-vít sẽ được ứng nghiệm trong nước (câu 20; IISa 23:1-4). Câu 1 chỉ về lễ đăng quang của “Vương tử” làm Vua nước, mà lễ đó mô tả dựa theo Đa 7:13, 14; Khải 5:5-10. Các câu 2-7, 12-14 tỏ đặc tính của nước (so Ês 11:3-9). Lời đặc biệt là “sự công bình”. Bài giảng trên núi mô tả sự công bình của nước. Câu 8-11 nói về sự mở mang của nước. Câu 16 ngụ ý đến cách đem ơn phước ấy vào. Người Y-sơ-ra-ên trở lại sẽ như là “năm lúa mì” (Am 9:9) như chính Vua trong sự chết và sự sống lại chỉ là một hạt; “hạt giống lúa mì” (Giăng 12:24). “Trước là người Do-thái” ấy là trật tự của cả Hội Thánh lẫn nước (Rô 1:16; Công 13:46; 15:16, 17). Cũng bởi Y-sơ-ra-ên lập lại mà nước sẽ được lan rộng khắp đất (Xa 8:13, 20-23).
Đa 7:2.– Cảnh tượng nầy giống với Khải 5:6-10. Tại đó, cuối bài ca khen Chúa của “những người nên nước và thầy tế lễ” (Khải 5:9, 10 so với Đa- ni-ên 7:18; “Các tháng” tức dường như chỉ về các thánh đồ của Hội Thánh theo Công 16:17; Rô 8:17; IITi 2:10-12; IIPhi 2:9; Khải 1:6; 3:21; 5:10; 20:4-6) có chép: “Những người ấy sẽ trị vì trên mặt đất”. Khải 6:1- khởi mô tả sự “khuấy khỏa” (trong Thi 2:5), dẫn đến sự lập Vua trên Si-ôn (Thi 2:6, Khải 20:4). Sự hiện thấy (Đa 7:9-14) chép ngược trật tự các biến động như sẽ được ứng nghiệm. Câu 13 tả quang cảnh trên trời (so Khải 5:6-10) khi được ứng nghiệm trước những việc mà Đa-ni-ên thấy trong dị tượng (câu 9-12). Sau đây là trật tự theo lịch sử:
1. Lễ đăng quang của con người (Đa 7:13-14; Khải 5:6-10).
2. Cơn “khuấy khỏa” của Thi 2:5 được mô tả đầy đủ trong Mat 24:21, 22; Khải 6:18.
3. Con người lấy sự vinh hiển tái lâm để “đập vỡ” như chép trong Đa 2:45 (Đa 7:9-11; Khải 19:11-21).
4. Sự phán xét của dân tộc và sự lập nước (Đa 7:10, 26, 27; Mat 25:31-46; Khải 20:1).
Ês 11:1.– Trật tự những biến động chép trong Ês 10:11; đáng chú ý hơn cả là Ês 10:1- tả cơn gian truân của Dân sót lại tại xứ Pha-lê-tin trong kỳ đại nạn (Phil 2:5; Khải 7:14), và sự đến gần hủy phá các đạo binh dân ngoại dưới quyền Con thứ (Đa 7:8; Khải 19:20). Liền đó Ês 11:1- tả bức tranh vinh hiển về thời kỳ của nước. Khải 19:20 cũng giữ đúng trật tự đó.
Khi so sánh lịch sử và đời Đấng Christ với hai đoạn 10:1- và 11:1- nầy và các lời tiên tri giống như vậy, thì thấy các tiên tri đó không chép một biến động nào xảy ra khi Đấng Christ giáng lâm lần thứ nhứt. Trái hẳn với sự thâu họp Y-sơ-ra-ên tản lạc lại, và lập sự bình an trên đất, sau khi đóng đinh Ngài thì chẳng bao lâu Giê-ru-sa-lem bị phá hủy, và cả dân Do-thái trong Pha-lê-tin bị giải tán giữa các dân tộc.
Ês 11:1.– Đoạn 11:1- nầy là một bức tranh tiên tri về sự vinh hiển của nước tương lai. Ấy là nước mà Giăng Báp-tít báo rằng đã “đến gần”. Kế đó, nước bị chối bỏ, song sẽ được lập lại khi Con Đa-vít lấy vinh hiển tái lâm (Lu 1:31, 32; Công 15:15, 16).
Ês 32:1.– Xem Ês 29:1. Trong Ês 32:35; những ý nghĩa giống nhau về những sự ứng nghiệm gần xa được bày tỏ. Sự ứng nghiệm gần là cơn xông hãm của San-chê-ríp; sự ứng nghiệm xa là ngày của Đức Giê-hô-va (Ês 2:10-22; Khải 19:11-21), và phước của nước theo sau.
Ês 65:17.– Câu nầy thấy vượt quá thời kỳ của nước tới trời mới đất mới (xem Ês 51:16; 66:22; IIPhi 3:13; Khải 21:1), song câu 1:18-25 tả chính thời kỳ của nước. Sự trường thọ được lập lại, song sự chết là “Kẻ thù bị hủy diệt sau cùng” (ICôr 15:26) không bị tiêu diệt cho đến hết cuộc phản nghịch của Sa-tan cuối 1000 năm bình an (Khải 20:7-14).
Giê 33:15.– Xem bài giao ước Đa-vít (IISa 7:8-17); Nước (Cựu Ước) (Sáng 11:26; Xa 12:8); Nước (Tân Ước) (Lu 1:31-33; ICôr 15:28).
Mi 4:1.– Những lời dự ngôn chung về nước. Trong Kinh Thánh, núi thường làm hình bóng về quyền thế lớn trên đất (Đa 2:35); đồi chỉ quyền thế nhỏ hơn. Lời dự ngôn nầy tỏ ra:
1. Sự lập nước sau hết lấy Giê-ru-sa-lem làm kinh đô (4:1).
2. Sự phổ thông của nước tương lai (4:2).
3. Đặc điểm của nước bình an (4:3).
4. Hiệu lực của nước sự thịnh vượng (4:4), so Ês 2:1-5; 11:1-12.
Xa 9:10.– Câu 9 đã dẫn Vua vào, và câu 10 với các câu sau trông đợi kỳ cuối cùng và nước. Trừ ra câu 9 nầy, Xa-cha-ri không tỏ thời đại hiện tại.
Xa 12:1.– Xa 12:1–14, là một lời tiên tri có đại ý về sự tái lâm Chúa và sự lập nước. Trật tự là:
1. Giê-ru-sa-lem bị vây trước trận Ha-ma-ghê-đôn (12:1-3).
2. Chính trận đó (4-9).
3. “Mưa cuối mùa” tức là sự đổ Đức Thánh Linh và sự Đấng Christ tỏ mình ra cho nhà Đa-vít và dân sót lại tại Giê-ru-sa-lem, không phải chỉ là Đấng giải cứu vinh hiển, song cũng là Đấng Y-sơ-ra-ên đã đâm và chối bỏ từ lâu (câu 10).
4. Sự buồn rầu của kẻ thấy Ngài (câu 11-14).
5. Suối tẩy sạch (Xa 13:1) lúc đó mở ra cách linh nghiệm cho Y-sơ-ra-ên.
Xa 14:9.– Ấy là lời đáp cuối cùng của bài cầu nguyện trong Mat 6:10; Đa 2:44, 45; 7:24-27. Xem Nước (Tân Ước) (Lu 1:31-33; ICôr 15:28).
Thi 2:6.– Thi 2:1- chép trật tự về sự lập nước, chia làm 6 phần:
1. Sự náo loạn các dân ngoại, và sự toan mưu chước hư không của dân tộc (Do-thái), và sự đối địch các quan trưởng nghịch cùng Đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va (2:1-3). Lời giải nghĩa được soi dẫn của khúc nầy là Công 4:25-28, nói đã được ứng nghiệm khi Đấng Christ bị đóng đinh.
2. Sự chê cười của Đức Giê-hô-va (câu 4), vì con người tưởng rằng có thể bỏ qua lời giao ước Ngài (IISa 7:8-17), và lời thề với Ngài (Thi 89:34-37).
3. Sự khuấy khỏa (câu 5) đã được ứng nghiệm trong sự hủy phá Giê-ru-sa-lem (70 S.C.), và trong sự tan lạc dân Do-thái vào thời đó; và sẽ được ứng nghiệm trọn hơn trong thời đại nạn (Mat 24:29), xảy ra ngay trước khi Vua tái lâm (Mat 24:30).
4. Sự lập Vua bị chối bỏ trên Si-ôn (câu 6).
5. Sự phục tòng của thế hạ dưới sự trị vì của Vua (câu 7-9).
6. Sự khuyên dạy các cường quốc ngoại bang ngày nay (câu 10-12).
Thi 16:9.– Thi 16:1- là lời dự ngôn về sự sống lại của Vua. Như một tiên tri, Đa-vít hiểu rằng không phải khi Ngài giáng lâm lần thứ nhất, song vào thời sau khi Ngài chết và sống lại, thì Đấng Mê-si sẽ nhận được ngôi nước Đa-vít. Xem Công 2:25-31; Lu 1:32-33; Công 15:13, 17.
Đa 2:44.– Khúc nầy nhứt định thời gian, so với biến động dự ngôn khác, khi nước thiên đàng sẽ được lập. Ấy sẽ “trong đờICác nầy”, tức là đời của mười Vua (so Đa 7:24, 25) được chỉ bóng bởi mười ngón chân của pho tượng. Cảnh tượng đó không thực hữu khi Đấng Mê-si giáng sanh, cũng không thể thành đạt cho đến chừng đế quốc La-mã phân chia ra và chính thể hiện nay của các cường quốc thế gian nổi dậy. Câu 45 ôn lại phương pháp mà nước sẽ được lập nên.
Công 15:13.– Về các thời đại, đây là khúc quan hệ nhứt trong Tân Ước. Tại đây tỏ mục đích Ngài trong thời đại nầy và phần bắt đầu thời đại theo sau:
1. Sự lấy ra một danh từ các dân ngoại cho dân Ngài, là công việc đặc biệt của thời hiện tại, hoặc thời đại Hội Thánh. Hội Thánh là Ecclésia — tức “một Hội chúng được gọi ra”. Ấy thật là việc xảy ra từ ngày Ngũ tuần. Bất cứ tại nơi nào, Tin lành không bao giờ làm cho mọi người đều trở lại, song chỉ có ít người trở lại.
2. Rồi đó, (tức sự gọi ra), “Ta sẽ trở lại” (Công 15:16). Ở đây Gia-cơ trích lời trong Am 9:11, 12. Những câu theo sau trong A-mốt mô tả sự thâu lại cuối cùng của dân Y-sơ-ra-ên mà các tiên tri khác vẫn liên lạc với sự ứng nghiệm giao ước Đa-vít (Ês 11:1, 10-12; Giê 23:5-8). “Dựng nên đền tạm của vua Đa-vít”, tức lập lại sự cai trị của Đa-vít trên Y-sơ-ra-ên (IISa 7:8-17; Lu 1:31-33).
3. “Hầu cho những người sót lại (Y-sơ-ra-ên…) đều tìm Chúa” (Xa 12:7, 8; 13:1, 22).
4. “Và mọi dân cầu khẩn danh ta” (Mi 4:2; Xa 8:21, 22). Ấy cũng giống trật tự trong Rô 11:4-27.
Đa 7:14.– Đa 7:13, 14 hiệp với Khải 5:1-7, và xảy đến trước sự ứng nghiệm Đa 2:34, 35; Đa 7:13, 14 và Khải 5:1-7. Tả lễ đăng quang của Con người và Con Đa-vít với quyền thế của nước, còn Đa 2:34, 35 tả vẽ “hòn đá đập vỡ” (Ha-ma-ghê-đôn, Khải 16:14) sẽ hủy diệt quyền thế cường quốc ngoại bang, bởi vậy, dọn sạch đường lẽ thật lập nước thiên đàng, Đa 2:34, 35 và Khải 19-21 chỉ về biến động đó.
Ha 2:14.– So Ês 11:9, nhứt định thời gian khi câu 14 nầy được ứng nghiệm. Ấy là khi nhánh công bình nhà Đa-vít sẽ lập nước. Trong câu nầy, Ha-ba-cúc có ý xa hơn Ê-sai. Trong Ê-sai chép về “sự hiểu biết Đức Giê-hô-va” như, theo một mặt, được truyền bá ra ngày nay; song trong Ha 2:14 là “sự nhận biết vinh quang Đức Giê-hô-va”, và điều này không thực hiện trước khi Chúa chưa lấy sự vinh hiển tái lâm (Mat 24:30; 25:31; Lu 9:26; ITê 1:7; 2:8; Giu 14). Cảnh tượng hóa hình trên núi là một phương diện báo trước (Lu 9:26-29).
Khải 20:2.– Ấy là thời hạn của nước thiên đàng trong khoảng giữa thời đại của ân điển này và trời mới đất mới (ICôr 15:24).
Xa 8:23.– Ấy là những ngày Giê-ru-sa-lem đã trở nên trung tâm của sự thờ phượng khắp đất. Câu 23 giải nghĩa: người Do-thái (xem Dân sót, Ês 1:9; Rô 11:5) khi đó sẽ truyền đạo cho các “dân tộc”, nay gọi là Chrétien (tín đồ Đấng Christ).
Xa 3:10.– Câu 10 nầy chỉ thời gian ứng nghiệm về nước tương lai. Bày tỏ sự yên ổn mà Y-sơ-ra-ên chưa từng trải từ khi bị bắt làm phu tù, không từng trải cho đến chừng nước đến (so Ês 11:1-9).
Công 1:6.– Trong 40 ngày, Đấng Phục sanh đã dạy các Sứ đồ về “những điều thuộc về nước Đức Chúa Trời”, chắc tùy theo lệ thường Ngài (Lu 24:27, 32, 44, 45) nhờ Kinh Thánh mà dạy. Song có một điểm không nói đến, tức là thời kỳ mà Ngài sẽ lập lại nước Y-sơ-ra-ên; bởi vậy nên các Sứ đồ mới hỏi. Câu trả lời vẫn là sự dạy dỗ Ngài nhắc lại; không được tỏ ra (Mat 24:36, 42, 44; 25:13 so ITê 5:1).
Mat 4:17.– Sự “Đến gần” không bao giờ là lời quyết định người hay vật “đến gần” phải hiện ra ngay, song chỉ có ý không có một biến động nào, hoặc đã biết, hoặc nói trước, phải xen vào. Khi Đấng Christ đã hiện đến cùng dân Do-thái, điều kế đó, theo trật tự của sự khải thị như bấy giờ có, là phải lập lại nước của Đa-vít. Song chưa được tỏ ra, còn có chối bỏ nước (và Vua), thời gian lâu dài của hình dung mầu nhiệm về nước, sự truyền giảng khắp thế gian về thập tự, và sự kêu gọi Hội Thánh ra. Song điều ấy còn giấu kín trong sự bí mật của Đức Chúa Trời (Mat 13:11, 17; Êph 3:3-10).
Mat 11:11.– Xem bài Giăng Báp-tít.
Mat 11:12.– Có người biện luận tự hỏi: “hãm ép” đây có phải chỉ về bề ngoài, như chống trả với nước trong ngôi vị Giăng Báp-tít và Chúa Jêsus; hay là khi suy xét sự phản đối của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, chỉ người cố ý hãm ép được vào nước đó. Cả hai mặt đều thật. Vua và sứ giả Ngài đều bị hãm ép, và đây là ý nghĩa đầu hết và lớn lao, song cũng có vài người cố ý “dùng sức mạnh” trở nên môn đồ (so Lu 16:16).
Mat 11:20.– Nước thiên đàng được báo rằng đã “đến gần” bởi Giăng Báp-tít, bởi chính Vua, bởi 12 Sứ đồ và những công việc lớn lao làm chứng, thì đã bị chối bỏ về phần đạo đức. Vì những nơi chọn để thử dân tộc là Cô-ra-xin, Bết-sai-đa, v.v… đã chối bỏ cả Giăng và Chúa Jêsus, nên nay Vua bị chối bỏ tuyên bố lời đoán xét. Sự chối bỏ cuối cùng theo chính thể là về sau (Mat 27:21-37).
Mat 13:3.– Xem bài mầu nhiệm, Sự. Trang 916.
Mat 13:3.– Thí dụ về người gieo giống là nơi bắt đầu mới đi làm việc trong vườn nho của Đức Chúa Trời (Y-sơ-ra-ên, Ês 5:1-7), và đi gieo giống đạo trong ruộng tức thế gian là hai điều khác hẳn nhau (Mat 10:5). Một phần hột giống đâm rễ luôn, song kết quả là lúa mì (câu 25; IIPhi 1:24), hay là “con cái nước thiên đàng” (câu 38). Suốt thí dụ nầy (câu 3-9; 18-23) coi như là nền tảng của các sự mầu nhiệm nước thiên đàng. Chính Chúa giải nghĩa như thế.
Mat 13:47.– Ví dụ về lưới (Hy-lạp: lưới kéo tay) bày tỏ một mặt khác với thí dụ lúa mì và cỏ lùng trong những sự mầu nhiệm về nước như là phạm vi sự làm chứng, song có điều khác nầy: trong thí dụ thứ nhì đó thấy Sa-tan là một tay cướp phá (13:19); trong thí dụ về lưới thì thấy nước Thiên đàng giống một lưới, ném xuống biển nhân loại, thâu lại mọi thứ cả tốt lẫn xấu. Hết thảy đều còn lại trong lưới (câu 49) chẳng những chỉ trong biển, cho đến hết thời đại. Lưới đó không thí dụ về sự trở lại đạo và biển cũng vậy. Giảng nghĩa theo ý thế gian phải trở lại đạo trong thời đại nầy là ép ý quá chừng. Bài giải nghĩa của Chúa về ví dụ người gieo giống, lúa mì và cỏ lùng, và lưới phản đối ý đó.
Vậy đó là hình dung mầu nhiệm của nước (Mat 3:2; 6:33); là phạm vi của sự làm chứng bởi tín đồ trong thời đại nầy, là một đoàn thể lẫn lộn thật giả, lúa mì và cỏ lùng, tốt và xấu. Nước bị ô uế bởi sự chiếu lệ, nghi ngờ, và ham mến thế gian. Song trong phạm vi đó, Đấng Christ thấy con cái chân thật của nước, cuối cùng sẽ “sáng láng như mặt trời”. Trong ruộng lớn tức thế gian, Ngài thấy những kẻ được chuộc trong mọi thời đại, song nhứt là Y-sơ-ra-ên giấu kín của Ngài, sẽ được lập lại và lãnh phước. Vả lại, theo hình dung nầy của nước, dầu khác với nước sẽ có biết bao, Ngài thấy Hội Thánh, là thân thể và vợ mới Ngài, và vì sự vui mừng Ngài bán mọi điều Ngài có (IICô-rin-tô 8:9) và mua ruộng, của báu, và hột châu.
Mat 16:19.– Không phải chìa khóa của Hội Thánh, song của thiên đàng theo nghĩa của Mat 13:1-, tức là phạm vi làm chứng của tín đồ Đấng Christ. Chìa khóa là dấu chỉ quyền phép hay thế lực (so Ês 22:22; Khải 3:18). Lịch sử các Sứ đồ giải nghĩa và hạn chế lẽ thật nầy, vì ấy là Phi-e-rơ đã mở cửa cho Y-sơ-ra-ên có dịp tiện trở nên tín đồ Đấng Christ trong ngày Ngũ tuần (Công 2:38-42), và cho dân ngoại trong nhà Cọt-nây (Công 10:34-46). Phi-e-rơ không mặc lấy phép tắc nào khác (Công 15:7-11). Trong giáo hội nghị không phảIPhi-e-rơ, mà dường như Gia-cơ chủ tọa (Công 15:19 so Ga 11:15). Phi-e-rơ không đòi gì cho mình hơn là làm Sứ đồ bởi ơn tứ (IIPhi 1:1), và làm trưởng lão bởi chức vụ (IIPhi 5:1).
Quyền trói buộc hay buông tha có chia với các môn đồ khác (Mat 18:18; Giăng 20:23). Theo Khải 1:18 rất rõ ấy không quan thiệp với sự quyết định số phận đời đời của linh hồn. Chìa khóa của sự chết và nơi âm phủ chỉ Đấng Christ cầm mà thôi.
Mat 25:1 a.– Phần nầy của bài giảng trên núi Ô-li-ve vượt quá câu hỏi của các môn đồ về dấu lạ (Mat 24:3), và bày tỏ sự tái lâm của Chúa làm ba mặt:
1. Như thử thách trong sự làm chứng, câu 1-13.
2. Như thử thách trong sự hầu việc, câu 14-30.
3. Như thử thách các dân ngoại, câu 31-46.
Mat 25:1 b.– Nước thiên đàng đây là phạm vi làm chứng như trong Mat 13:1-. Hết thảy giống nhau đều có đèn, song có hai thực sự quyết định địa vị thật của các nữ đồng trinh dại dột: “Không đem dầu theo cùng mình”, và Chúa phán: “Ta không biết các ngươi đâu”. Dầu làm hình bóng về Đức Thánh Linh, và “nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ thì người ấy chẳng thuộc về Ngài” (Rô 8:9). Vả lại, Chúa không thể phán với tín đồ nào, dẫu không thuộc linh mặc dầu, “Ta không biết ngươi đâu”.
Mat 17:2.– Quang cảnh hóa hình tỏ ra theo hình bóng, mọi sự về nước tương lai lúc được hiện ra:
1. Chúa, không ở trong sự hèn hạ, song trong sự vinh hiển (câu 2).
2. Môi-se, được vinh hiển, đại biểu của các người được cứu chuộc đã vượt qua sự chết và được vào nước (Mat 13:43; so Lu 9:30, 31).
3. Ê-li, được vinh hiển, là đại biểu của những người được cứu chuộc đã được cất lên mà vào nước (ICôr 15:50-53; ITê 4:14-17).
4. Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng không được vinh hiển, là đại biểu (lúc đó) của Y-sơ-ra-ên theo phần xác trong nước tương lai (Êxê 37:21-27).
5. Đoàn dưới chân núi (câu 14) đại biểu các dân tộc ngoại bang sẽ được đem vào nước sau khi sẽ lập trên Y-sơ-ra-ên (Ês 1:10-12 v.v…).
Mat 13:43.– Nước không trở nên nước của “Cha” cho đến chừng Đấng Christ, sau khi đã “đặt mọi kẻ thù nghịch dưới chân Ngài” kể cả kẻ thù nghịch cuối cùng là sự chết, đã giao nước lại cho Đức Chúa Trời, tức là Cha (ICôr 15:24-28; Khải 22:2). Có sự đắc thắng hơn sự chết kỳ sống lại lần đầu (ICôr 15:54, 55), song sự chết, là “kẻ thù nghịch cuối cùng” không bị hủy diệt cho đến kỳ 1000 năm bình an đã mãn (Khải 20:14).
Êph 1:10.– Xem bài thời đại.
Khải 12:10.– Thời đại của nước (IISa 7:16) bắt đầu từ lúc Đấng Christ trở lại thế gian trải qua 1000 năm, Ngài trị vì trên đất, và tận cùng khi Ngài giao nước lại cho Cha (ICôr 15:24).
IISử 10:16.– Y-sơ-ra-ên, tức 10 chi phái, ngoài Giu-đa và Bên-gia-min, có khi gọi là Y-sơ-ra-ên phân biệt với Giu-đa. Sự chia nước nầy làm dấu chỉ một mốc quan trọng trong lịch sử của dân tộc. Từ đó trở đi, ấy là “một nước chia xé nhau” (Mat 12:25). Hai nước sẽ hiệp làm một trong nước tương lai (Ês 11:10-13; Giê 23:5-6; Êxê 37:15-28). “Y-sơ-ra-ên ” Sáng 12:2-3; Rô 11:26.
Xa 12:8.– Tóm tắt, “Nước” trong Cựu Ước.
I. Sự cai trị trên đất trước khi Áp-ra-ham được kêu gọi.
1. Sự cai trị trên muôn vật được ban cho người nam và người nữ thứ nhứt (Sáng 1:26, 28). Nhưng vì phạm tội nên mất quyền cai trị. Sa-tan trở nên “chúa của thế gian nầy” (Mat 4:8-10; Giăng 14:30).
2. Sau nước lụt, nguyên tắc cai trị của loài người được lập theo giao ước với Nô-ê (Sáng 9:1-6). Theo Kinh Thánh, ấy còn là điều luật của mọi chính thể dân ngoại.
II. Thần quyền trong dân Y-sơ-ra-ên. Sự kêu gọi Áp-ra-ham, ngoài nhiều điều khác, gồm lại sự dựng nên một dân biệt riêng để bởi dân đó, những mục đích lớn lao của Đức Chúa Trời đối với loài người có thể đạt đến được (xem Y-sơ-ra-ên, Sáng 12:1-3; Rô 11:26). Giữa những mục đích đó có một là lập một nước phổ thông. Trật tự của sự mở mang sự trị vì Ngài trong Y-sơ-ra-ên là:
1. Chức vụ cầu thay của Môi-se (Xuất 3:1-10; 19:9; 24:12).
2. Chức vụ dẫn dắt của Giô-suê (Giô 1:1-5).
3. Thiết lập các quan xét (Quan 2:16-18).
4. Dân sự chối bỏ Thần quyền, và chọn một vua là Sau-lơ (ISa 8:1-7; 9:12-17).
III. Nước Đa-vít.
1. Chúa chọn Đa-vít (ISa 16:1-13).
2. Chúa lập giao ước với Đa-vít (IISa 7:8-16; Thi 89:3, 4, 20, 21, 28-37).
3.Các tiên tri giải nghĩa giao ước của Đa-vít (Ês 1:25, 26 đến Xa 12:6-8). Các tiên tri mô tả nước như sau nầy:
a). Thuộc nhà Đa-vít, được lập dưới một hậu tự của Đa-vít, sẽ sanh ra bởi một nữ đồng trinh, bởi đó thật là người, cũng gọi là “Em-ma-nu-ên”, “Đức Chúa Trời quyền năng là Cha đời đời, là Chúa bình an” (Ês 7:13, 14; 9:6, 7; 1:1; Giê 23:5; Êxê 34:23; 37:24; Ôs 3:4, 5).
b). Một nước có căn nguyên, nguyên tắc và quyền phép từ trời (Đa 2:34-35, 44, 45), song được lập trên đất, có Giê-ru-sa-lem làm kinh đô (Ês 2:2-4; 4:3, 5; 24:23; 33:20; 62:1-7; Giê 23:5; 31:38-40; Giô 3:1, 16, 17).
c). Nước trước nhứt sẽ được lập trên dân Y-sơ-ra-ên đã được thu lại, lập lại, và trở lại Ngài, và sau sẽ lan rộng (Thi 2:8; 24:22; Ês 1:1, 2; 11:1, 10-13; Giê 23:5-8, 30:7-11; Êxê 20:33-40, 37:21-35; Xa 9:10, 14:16-19; Thi 2:6-8; Ês 60:12).
d). Vậy những đặc điểm đạo đức của nước là sự công bình, và bình an. Người nhu mì, không phải kẻ kiêu ngạo, sẽ được hưởng đất, sự trường thọ sẽ càng thêm nhiều; mọi người sẽ biết Chúa, thú dữ sẽ được đổi tánh; sự đều nhau hoàn toàn sẽ được vững lập; hễ bắt đầu phạm tội tức thì bị đoán phạt ngay; còn một phần rất lớn của số dân trên đất sẽ được cứu (Ês 11:4, 6-9, 65:20; Thi 2:9; Ês 26:9; Xa 14:16-21). Tân Ước (Khải 20:1-5) thêm một sự rất quan hệ, ấy là Sa-tan sẽ bị cất khỏi cảnh trạng đó. Không thể tưởng tượng trình độ trọn vẹn về phần thuộc linh, tri thức, và thân thể cao cho đến bậc nào mà loài người sẽ đạt đến trong nước, là thời đại công bình và bình an sắp đến (Ês 11:4-9; Thi 72:1-10).
e). Nước sẽ được lập bởi quyền phép không phải bởi lời khuyên, và sẽ theo sự đoán phạt Ngài trên các cường quốc ngoại bang (Thi 2:4-9; Ês 9:7; Đa 2:35, 44, 45; 9:34, 35; Xa 14:1-19). Xem Xa 6:2.
f). Sự lập lại Y-sơ-ra-ên và sự lập nước có liên quan với sự Chúa tái lâm; còn thuộc tương lai (Phục 30:3-5; Thi 2:1-9; Xa 14:4).
g). Sự sửa phạt để lại cho nhà Đa-vít vì sự không vâng lời (IISa 7:14; Thi 89:30-33) đó là không những người Do-thái bị bắt làm phu tù và bị tản lạc khắp thế gian: dầu từ đó, có phần sót lại trở lại với Xô-rô-ba-bên, song Giê-ru-sa-lem còn phục các dân ngoại. Dầu vậy, giao ước đã không bị chối bỏ (Thi 89:33-37), nhưng sẽ còn được ứng nghiệm (Công 15:14-17).
ICôr 15:24.– Tóm tắt “Nước” trong Tân Ước:
Xem bài “Nước” trong Cựu Ước (Sáng 1:26, 28; Xa 12:8). Lẽ thật về nước được mở mang theo trật tự nầy trong Tân Ước:
1. Lời hứa sẽ về nước cho Đa-vít và dòng dõi người, và các tiên tri mô tả (IISa 7:8-17, so Xa 12:8), được đưa vào Tân Ước mà không thay đổi gì (Lu 1:31-33). Vua nước ấy sanh ra tại Bết-lê-hem (Mat 2:1; Mi 5:2), bởi nữ đồng trinh (Mat 1:18-25; Ês 7:14).
2. Nước được báo là “đến gần” (Mat 4:17) bởi Giăng Báp-tít, bởi Vua, và bởi 12 Sứ đồ, bị người Do-thái chối bỏ trước về phần đạo đức (Mat 11:20), sau bởi chính thể (Mat 21:42, 43), và Vua, phải đội mão triều gai và bị đóng đinh.
3. Trong khi đợi sự chối bỏ bởi chính thể và sự đóng đinh, Vua bày tỏ những “sự mầu nhiệm” của nước Thiên đàng (Mat 13:2) phải được ứng nghiệm trong khoảng giữa sự chối bỏ và sự tái lâm Ngài trong sự vinh hiển (Mat 13:1-50).
4. Sau đó, Ngài báo mục đích “xây dựng” Hội Thánh Ngài (Mat 16:18), là một sự mầu nhiệm khác được bày tỏ bởi Phao-lô và đang ứng nghiệm của nước. “Những sự mầu nhiệm” về nước thiên đàng và “sự mầu nhiệm” về Hội Thánh (Êph 3:9-11), về phần lịch sử, cũng chung một thời đại, tức thời đại nầy.
5. Những sự mầu nhiệm về nước sẽ tận cùng bởi “mùa gặt” (Mat 13:39-43, 49, 50) khi Vua vinh hiển tái lâm, song trước lúc đó Hội Thánh đã được cất lên gặp Chúa trong khoảng không (ITê 4:14-17).
6. Khi trở về, Vua sẽ lập lại nước Đa-vít trong chính ngôi vị Ngài, thâu hợp lại dân Y-sơ-ra-ên tan lạc, lập quyền Ngài trên khắp đất, và cai trị 1000 năm (Mat 24:27-30; Lu 1:31-33; Công 15:14-17; Khải 20:1-10).
7. Nước Thiên đàng (Mat 3:2) đã được lập dưới Con Đa-vít là Chúa, có mục đích là lập lại quyền Chúa trên mặt đất, có thể coi như là một tỉnh loạn nghịch cùng nước lớn của Đức Chúa Trời (Mat 6:33), khi xong rồi (ICôr 15:24, 25), Con sẽ giao lại nước thiên đàng (Mat 3:2) cho “Đức Chúa Trời, ” là Cha “hầu cho” Đức Chúa Trời (tức là Ba ngôi hiệp một, Cha, Con, Thánh Linh) “làm muôn sự trong muôn sự” (ICôr 15:28). Ngôi vinh hiển là thuộc “Đức Chúa Trời và Chiên Con” (Khải 22:1). Thời đại của nước là thời đại thứ bảy (Êph 1:10).