Pha-lê-tin, Xứ Palestine. Palestine.
I. Nghĩa tên.– Nguyên văn Hê-bơ-rơ là Pelesheth: Xuất 15:14 dịch là xứ Pha-lê-tin: Thi 60:8; 108:9; Ês 14:29, 31 dịch là đất Phi-li-tin; Giôên 3:4 dịch là địa hạt Phi-li-tin; Thi 87:4, Phi-li-tin; và Thi 83:7 dịch là người Phi-li-tin. Đối với người Hê-bơ-rơ xưa, Pelesheth chỉ là một dãy đất dài và rộng ở miền đồng bằng bờ biển Địa-trung-hải. Vì nằm kế biển, và là đường cái từ Ai-cập đến xứ Phê-ni-xi với những xứ giàu có phía Bắc xa hơn nữa, thì đồng bằng Pha-lê-tin được người Tây phương biết sớm hơn và đặt tên là Philistine-Syrie. Từ đó, tên nầy dần dần chỉ về đất rộng hơn, đến nỗi các văn sĩ La-mã và sau Hy-lạp, cả bổn đạo với người ngoại, đều đặt tên nầy cho cả xứ người Do-thái, cả phía Đông lẫn phía Tây sông Giô-đanh. Vậy, ngày nay, xứ Pha-lê-tin chỉ về một xứ ở khu vực Tây nam châu Á gồm lại phía Nam xứ Sy-ri.
II. Các tên khác.– Trong Kinh Thánh có mấy tên đặt cho xứ Pha-lê-tin:
1. Trong đời các tổ phụ, thời chiếm xứ, thời các Quan-xét, và những sách về sau nói đến ba thời đó (như Thi 105:11), thì xứ Pha-lê-tin thường gọi là “Ca-na-an” hoặc “xứ Ca-na-an” để chỉ về xứ phía Tây sông Giô-đanh như trái với “xứ Ga-la-át” phía Đông.
2. Trong thời quân chủ, có khi gọi là “xứ Y-sơ-ra-ên” (ISa 13:19; IICác 5:2, 4 v.v.). Sách Ê-xê-chi-ên ưa dùng đến danh từ này. Lòng ngay thẳng, tin kính của Ô-sê được tỏ ra khi đặt tên là “đất của Đức Giê-hô-va” (Ôs 9:3). Xa-cha-ri gọi là “đất thánh” (2:12); Đa 11:41 là “đất vinh hiển, ” và Hêb 11:9 là “xứ đã hứa.” chỉ Am 2:10 gọi là “đất của người A-mô-rít.” Có khi chỉ gọi vắn tắt là “xứ” hoặc “đất” (Ru 1:1; Giê 22:27; Lu 4:25; 23:44, v.v.). 3. Giữa thời bắt làm phu tù và thời Chúa giáng sanh thì nghĩa tên “Giu-đê” lan rộng đến nỗi chẳng những chỉ gồm lại phía Nam nhưng gồm cả xứ với phía Đông sông Giô-đanh nữa (Mat 19:1; Mác 10:1). Trong Lu 23:5 chỉ về xứ giữa đồng bằng Esdraelon và xứ Sa-ma-ri, dầu trong Giăng 4:3; 7:1 dùng cách đúng.
4. Đế quốc La-mã chia xứ khác nhau với lối chép trong Kinh Thánh, và dường như không đặt tên riêng nào cho xứ mà ta vẫn gọi là Pha-lê-tin.
5. Song sau khi kỷ nguyên Đấng Christ bắt đầu thường đặt tên là Palaestina.
6. Từ đời trung cổ đến ngày nay, tên dùng rất nhiều là Terra Sancta, tức xứ Thánh (Xa 2:12).
III. Địa giới và diện tích xứ Pha-lê-tin.– Xưa, dân Hê-bơ-rơ ở khắp miền từ Ca-đe-Ba-nê-a và dòng nước wady el-‘Arish phía Nam đến núi Hẹt-môn phía Bắc, và từ biển Địa-trung-hải phía Tây đến đồng vắng phía Đông, trừ ra đồng bằng của người Phi-li-tin và xứ dân Mô-áp. Trong mấy đời trị vì thịnh vượng của các vua thế lực, bờ cõi Pha-lê-tin lan rộng đến Ha-mác và Đa-mách, còn xa hơn nữa, tới sông Ơ-phơ-rát, và vượt qua xứ Am-môn, Mô-áp và Ê-đôm. Xưa, người Hê-bơ-rơ hay nói rằng xứ mình từ Đan đến Bê-e-Sê-ba độ 240 cây số. Theo đó thì giới hạn phía Nam là dòng nước wady el-Fikreh và sông A#t-nôn; đây là nơi tập trung đông dân cư. Lấy địa giới hẹp nầy, phải trừ phần đất của chi phái Si-mê-ôn và một phần của chi phái Si-mê-ôn và một phần của chi phái Nép-ta-li, thì những địa giới đó thành một hình chữ nhựt lệch, theo đường vĩ tuyến (latitude) từ Đan đến phía cực Nam Biển Chết độ 230 cây số, và rộng chừng 110 cây số. Vậy diện tích là chừng 26.000 cây số vuông. Trong đời Đấng Christ, diện tích nầy chia làm ba: phía Bắc là xứ Ga-li-lê, phía Trung là xứ Sa-ma-ri và phía Nam là xứ Giu-đê. Ấy gồm lại xứ người Phi-li-tin, từ Cạt-mên dọc bờ Địa-trung-hải đến Bê-e-Sê-sa, diện tích là 4.600 cây số vuông; vậy, để lại 21.400 cây số vuông mà dân Hê-bơ-rơ ở. Theo lối tính đó, thì Pha-lê-tin phía Đông từ núi Hẹt-môn đến sông Ạt-nôn có một diện tích độ 10.500 cây số vuông; và Pha-lê-tin phía Tây, cho đến cực Nam là Bê-e-Sê-ba và gồm lại xứ Phi-li-tin, diện tích độ 15.500 cây số vuông.
IV. Dân số.– Hồi chiếm lấy xứ Ca-na-an, dân số người Hê-bơ-rơ là 600.000 người nam trên hai mươi tuổi, như vậy tổng số cả dân sự độ 2.160.000 người, ở rải rác trên một diện tích độ 21.400 cây số vuông. Đa-vít tu bộ dân sự trong một diện tích rộng hơn nhiều. Năm 1929 S.C., dân số xứ Pha-lê-tin có 843.000 người kiều ngụ nhứt định, và 103.000 thường là dân du mục, phần nhiều theo đạo Hồi-hồi. Trong số đó, từ 1918 đến 1929 số người Do-thái kiều ngụ nhứt định trong xứ Pha-lê-tin thêm từ 56.000 đến 165.000 người, và từ đó đến năm 1940 đã thêm càng nhiều hơn nữa.
V. Địa chất xứ Pha-lê-tin.– Nói cách chung, đất xứ Pha-lê-tin là một lớp đá hồng sa đặt trên một từng đá xanh đầu tiên. Trên lớp hồng sa có lớp đá tro trắng (đá vôi) là đá thấy rất nhiều trong cả xứ. Trên đó, có một lớp đá vôi hình đồng tiền với đất phù sa. Vì xứ Pha-lê-tin ở trong vòng các cơn động đất xảy ra trong đời thái cổ và đời kế sau, nên có mấy phần xứ bị rúng động nhiều, và ở miền Đông bắc thấy có những tảng đá rất lớn từ hỏa diệm sơn đã phun ra. Tại Giê-ru-sa-lem, có hai lớp đất đá vôi lớn nhưng ở trên cứng hơn mà dân cư gọi là misseh, và lớp ở dưới mềm hơn gọi là melekeh. Những hồ chứa nước, mồ mả, những hầm dưới và xung quanh thành được đào trong lớp đá mềm là melekeh, còn những nền nhà đều xây trên lớp đá cứng misseh. Từ các mỏ đá ở gần cửa Đa-mách thành Giê-ru-sa-lem, xưa người ta lấy đá để xây các tường Đền thờ.
VI. Địa dư hình thế.– Từ Bắc chí Nam, xứ Pha-lê-tin chia làm bốn hàng:
1. Đồng bằng ở bờ Địa-trung-hải.
2. Dãy núi phí Tây, hoặc Trung ương.
3. Trũng sông Giô-đanh, và
4. Dãy núi phía Đông. Xứ Pha-lê-tin phía Tây sông Giô-đanh là miền đất gồ ghề ra từ những đống đá vôi từ 700 đến 900 thước cao hơn mặt biển. Trũng Giô-đanh phía Bắc rộng một cây số và phía Nam độ mười lăm cây số, là một vực sâu thật lạ! Vực sâu này bắt đầu từ chân núi Hẹt-môn, cao hơn mặt Địa-trung-hải độ 500 thước, song mỗi bên có núi cao, và càng về hướng Nam thì càng sâu. Cứ kéo dài như vậy cho tới hồ Mê-rôm lòng trũng ngang với mặt biển Địa-trung-hải, tới hồ Ga-li-lê là 200 thước dưới mặt biển, và tới Biển Chết thì thấp hơn mặt Địa-trung-hải 390 thước. Dãy núi phía Tây bị đồng bằng Esdraelon cắt đứt và mở một đường từ đồng bằng bờ biển đến trũng sông Giô-đanh. Hết dãy núi phía Tây nầy, về hướng Nam, thì xuống một cao nguyên rộng gọi là Négeb (đất khô) cho đến miền Bắc hồ Ga-li-lê. Những núi thấp hơn gọi là miền Shephelah ở giữa xứ Giu-đê và đồng bằng bờ biển là đồng bằng ở phía bắc bị núi Cạt-mên cắt đứt. Phần đồng bằng bờ biển giữa núi Cạt-mên và thành Giốp-bê xưa gọi là Sa-rôn (Nhã 2:1), và phần phía Nam Giốp-bê xưa có người Phi-li-tin ở. Vì đất phì nhiêu nên vẫn đông dân cư.
Sông ở xứ Pha-lê-tin là Giô-đanh gồm hai hồ Mê-rôm và Ga-li-lê, ngoài ra còn những sông con từ phía Đông chảy vào sông Giô-đanh; Ạt-nôn từ phía Đông chảy vào Biển Chết; và sông Ki-sôn từ trũng Gít-rê-ên chảy ra Địa-trung-hải ở phía Bắc núi Cạt-mên.
Trên bờ Địa-trung-hải, ở phía Bắc núi Cạt-mên, có hải cảng tự nhiên, đủ rộng và sâu để chứa các tàu người Phê-ni-xi xưa, như Accho, và xa hơn phía Bắc Ty-rơ, Sa-rép-ta, Si-đôn, và Byblus (Beyrouth). Ở phía Nam núi Cạt-mên, thì bờ biển bằng phẳng cho đến sông Ni-lơ xứ Ai-cập, nên không có cửa biển tự nhiên. Vậy, các cảng Sê-sa-rê, Gióp-bê, Ách-ca-lôn, và Ga-xa phải xây bằng đường đá ra biển.
VII. Những đường chính.– Dầu diện tích hẹp nhưng xứ Pha-lê-tin có vị trí quan trọng giữa các đế quốc xưa. Con đường thương mại và võ bị giữa Ai-cập và những đế quốc Đông phương phải đi qua xứ Pha-lê-tin. Đường đó từ Ai-cập gặp dòng Wady el-‘Arish, theo bờ biển đến Ga-xa, tại đó gặp một đường từ Ê-lát trên vịnh Akaba và xứ A-ra-bi, và cứ qua đồng bằng người Phi-li-tin đến Ách-đốt. Từ đó đường chia hai: một đường cứ theo bờ biển đến Giốp-bê, và Đô-rơ; và để đi qua núi Cạt-mên thì phải theo một khu đất hẹp hòi mấy mươi thước thôi; một đường khác dùng rất nhiều, cứ nối tiếp từ Ách-đốt qua Éc-rôn và Lót, và đi một trong ba đèo để qua các núi đến đồng bằng Esdralon. Đường theo bờ biển cứ đi qua Acre, Ty-rơ, Si-đôn và miền Bắc. Đường khác đi qua đồng bằng Esdraelon và Hạ Ga-li-lê đến đồng bằng Ghê-nê-sa-rết, theo sông Giô-đanh phía Bắc, chia làm hai: một vào trũng sông Léontes giữa Li-ban và An-ti-li-ban dẫn đến Ha-mát và phía Bắc; và một qua sông Giô-đanh giữa hồ Mê-rôm và hồ Ga-li-lê, và đi phía Đông bắc tới Đa-mách. Đường thứ ba có rất nhiều người đi, từ đồng bằng bờ biển đi qua đồng bằng Đô-than đến En-ca-nim, tại đó chia ra, một đường liền với đường nói trước qua miền Hạ Ga-li-lê, và đường khác dẫn đến Bết-Sê-an, và chia lần nữa, tới Ga-la-át hoặc Đa-mách. Bất cứ đi đường nào về phía Bắc nầy cũng có thể tới Cạt-kê-mít trên bờ sông Ơ-phơ-rát.
Có đường khác dẫn từ đồng bằng Esdraelon đến Ai-cập. Nó đi qua miền núi, qua Sa-ma-ri, Si-chem, Bê-tên, Giê-ru-sa-lem, Bết-lê-hem. Hếp-rôn và Bê-e-Sê-ba. Tại đó có thể chọn mấy đường: có thể đi hướng Tây để gặp đường dọc theo bờ biển, hoặc đi hướng Nam qua Rê-hô-bốt, qua sa mạc tới Ai-cập. Có một đường khác bắt đầu từ Bết-Sê-an tới Ê-đôm, theo trũng sông Giô-đanh, khi tới Giê-ri-cô có thể đi đường dốc lên Giê-ru-sa-lem, hoặc theo bờ Tây Biển Chết tới Ên-Ghê-đi. Tại đó, đường nầy gặp đường từ Giê-ru-sa-lem và Bết-lê-hem, và cứ đi tới Ê-đôm và Ê-lát ở đầu Biển Đỏ, và ở đó gặp các đường từ Ai-cập và Ga-xa để tới phía Nam xứ A-ra-bi.
Phía Đông Giô-đanh, có một đường cái từ Đa-mách phía Bắc theo bờ đồng vắng xuống xứ A-ra-bi phía Nam. Có ba đường con, một từ Bết-Sê-an, một từ Si-chem, và một từ Giê-ri-cô gặp đường cái nầy.
Phía Tây Giô-đanh, có một đường từ Acre phía Đông gặp đường đi Đa-mách gần nơi qua sông Giô-đanh giữa hồ Mê-rôm và hồ Ga-li-lê. Có đường từ đồng bằng Sa-rôn đi ngang miền cao nguyên của chi phái Bên-gia-min và Giu-đa, gặp đường từ Sa-ma-ri để tới Giê-ru-sa-lem ở nơi cách xa phía Tây nam Bê-tên ba cây số. Cũng có đường khác từ cảng Joppa dẫn đến Giê-ru-sa-lem tới trũng A-gia-lôn và Bết-hô-rôn. Từ Ách-đốt còn có đường đi qua Bết-Sê-mết để tới Giê-ru-sa-lem và đường khác đi qua Sô-cô. Còn có đường đi từ đồng bằng Phi-li-tin qua La-ki và tới Hếp-rôn trong miền núi Shephelah.
VIII. Khí hậu.– Khí hậu xứ Pha-lê-tin giống các xứ trên bờ Địa-trung-hải, dầu có nơi người ta mắc bịnh sốt rét vì cớ muỗi, nhưng khí hậu nhìn chung tốt hơn trung châu xứ Ai-cập hay là xứ Mê-sô-bô-ta-mi. Muà hạ, khí hậu chỉ oi bức trong mấy ngày liền, nhứt là tháng Mai khi có gió hanh từ đồng vắng phía Đông. Còn phần lớn mùa Hạ có cơn gió mát từ ngoài biển đượm ẩm ướt thổi từ mười giờ sáng đến chiều tối, và làm cho dốc phía Tây các núi được phì nhiêu. Trong đồng vắng khô khan, nhiệt độ khác nhau, ban ngày từ 32 độ nhưng ban đêm xuống đến 5 độ. Khi có gió từ phía Đông thì nhiệt độ lên tới 41 độ và buổi tối rất nóng bức. Vào mùa thu, trong trũng Giô-đanh, nơi bóng mát lên đến 48 độ. Trong mùa nầy, sương mù che các núi và làm cho các trái nho chín mọng. Mùa Đông, trong những khe núi và trên núi xứ Ê-đôm, có khi tuyết phủ lấp mấy ngày, nhưng mùa Hạ có khi núi Hẹt-môn (cao 2770 thước) không có tuyết. Có lẽ không xứ nào có thể tìm khí hậu khác nhau như ở Pha-lê-tin.
IX. Mưa.– Hằng năm, nước mưa ở xứ Pha-lê-tin là từ 50 đến 75 phần. “Mưa đầu mùa” bắt đầu với cơn giông có sấm sét trong tháng Novembre, và “mưa cuối mùa” thổi với những cơn mưa rào tháng Avrit. Từ Décembre đến Février — trừ các năm hạn hán, — nước mưa nặng hột. Phần nhiều các năm có đủ nước mưa để cày cấy. Mùa Thu, người ta bắt đầu cày ruộng, và lúa mì ít khi bị hư bởi cơn giông mùa Hạ. Những trái cây chín trong mùa Thu, và chỉ thỉnh thoảng bị thiệt hại bởi những đám cào cào. Từ lúc chép Kinh Thánh, dường như khí hậu và các tháng mưa trong năm ít thay đổi.
Theo Sáng 12:10; 26:2; 41:50; Lê 26:20; IISa 21:1; ICác 8:35; Ês 5:6; Giê 14:1; Giôên 1:10-12; Aghê 1:11; Xa 14:17, thì thấy có cơn hạn hán và đói kém xảy ra suốt cả năm. Mưa thuận gió hòa là một phước lành từ Đức Chúa Trời, và cơn hạn hán là dấu chỉ Ngài không đẹp lòng (Phục 11:14; Giê 5:24; Giôên 2:23). Một cơn giông có sấm sét lúc mùa gặt (Mai) là sự bất thường (ISa 12:17, 18). Nhưng ngày nay cũng như thế. “Tuyết mát mẻ trong ngày mùa gặt” (Châm 25:13) không chỉ về một cơn bão tuyết, vì so với “sứ giả trung tín”, chắc chỉ về lối dùng tuyết để cho rượu lạnh như ngày nay làm ở Đa-mách.
X. Động vật và thảo mộc.– Sư tử và bò rừng bị tuyệt diệt trong thời lịch sử, song còn lại ít xương trong các hốc đá sông Giô-đanh và trong các hang. Nơi sinh sống của Gấu thì lần lần thu hẹp, chỉ còn trên núi Hẹt-môn và Li-ban. Từ lúc Hồi giáo xâm chiếm xứ, mới có trâu. Về thảo mộc, đời Trung cổ không có táo, và người ta đã đem cây xương rồng vào. Dầu vậy, từ khi dân Do-thái bắt đầu từ các dân tộc trở về, thì xứ Pha-lê-tin nổi tiếng nhờ các loại cây ăn trái, nhứt là cam, và vẫn là xứ của lúa mì, dầu và rượu. Từ trước các rừng đã bị đốt bớt nhiều trong miền Hạ Ga-li-lê và đồng bằng Sa-rôn phía Bắc, nhưng ngày nay, người Do-thái ở đó cố gắng phủ xanh khắp xứ.
XI. Nhân chủng ở xứ Pha-lê-tin.– Những thổ dân xưa ở Pha-lê-tin là một giống cao và khỏe mạnh, gồm có giống A-na-kim (Giô 11:21, 22), Rê-pha-im (Sáng 14:5), Ê-mim, Xam-xu-mim, và Hô-rít (Phục 2:10-23). Những dấu tích của thổ dân hẳn còn cho đến thời quân chủ (IISa 21:16-22). Khi Áp-ra-ham đến, phần đông xứ là người A-mô-rít ở, với những bộ lạc nhỏ của dân Ca-na-an, song người Phi-li-tin và người Phê-ni-xi kiều ngụ trong đồng bằng bờ biển, và người Hê-tít kiều ngụ trên bờ cõi phía Bắc và ở Hếp-rôn. Người Hê-tít được coi là dân từ dãy núi Taurus trong Tiểu A-si, người Pha-lê-tin vốn từ phía Tây có lẽ từ đảo Cơ-rết, và người Ca-na-an gồm lại người Phê-ni-xi, hoặc thuộc về giống Cham bởi huyết thống hoặc trở nên hiệp một với dòng đó (Sáng 10:6, 15-20). Họ sớm bắt đầu nói một tiếng từ dòng dõi Sem.
Những dân đó bị chinh phục, song không bị tuyệt diệt hoàn toàn, bởi người Hê-bơ-rơ dưới quyền dẫn dắt của Môi-se và Giô-suê. Thỉnh thoảng các dân Ê-đôn, Am-môn, Mô-áp bởi chiến tranh hoặc cuộc di dân được dẫn vào, sống chung với người Hê-bơ-rơ, song không đem đến một dòng huyết thống mới, vì những dân nầy đều là dòng dõi Sem và đến từ Áp-ra-ham như người Hê-bơ-rơ. Sự chinh phục các chi phái Araméens, từ miền sông Tigre và Ơ-phơ-rát chỉ dẫn đến kết quả là thêm người ngoại quốc vào Y-sơ-ra-ên tức là người dòng Sem. Sau khi Sa-ma-ri bị đổ, người A-sy-ri bắt dân Y-sơ-ra-ên phía Bắc và phía Đông làm phu tù ở A-sy-ri và dẫn dân thuộc địa từ Ha-mát, Ba-by-lôn, và Ê-lam đến (IICác 17:24; Exơ 4:9). Phần nhiều là thuộc dòng Sem và Aryen.
Khi Alexandre le grand chinh phục xứ Pha-lê-tin thì có nhiều người Hy-lạp đến lập các thành trong miền Đê-ca-bô-lơ, họ đem tiếng nói, phong tục, và văn minh Hy-lạp vào xứ. Rồi sau, các quan tướng và các cơ binh La-mã vào xứ và cuối cùng có người thuộc địa La-mã cũng đến kiều ngụ. Chừng nửa thể kỷ thứ VII S.C., người Hồi giáo chinh phục xứ Pha-lê-tin, và trong nhiều thành và làng có người lính A-rạp ở. Người Thổ-nhĩ-kỳ chinh phục xứ năm 1086 S.C., và cứ cai trị cho đến hồi Âu châu đại chiến (1914-1918). Ngày 10 tháng 12 năm 1917, có một cơ binh Anh chiếm lấy Giê-ru-sa-lem và từ đó đến nay, người Do-thái từ khắp thế gian trở về cố quốc càng nhiều hơn.
XII. Lịch sử .– 1. Trước hồi Y-sơ-ra-ên chiếm xứ.– Trước khi Áp-ra-ham tới xứ, thì lịch sử xứ Pha-lê-tin mờ tối lắm. Dựa vào các bản chép lại của người Hê-bơ-rơ, người ta thấy họ bị cai trị từ thế lực này sang thế lực khác. Các vua Ba-by-lôn sớm bắt đầu xâm chiếm các miền ở phía Tây xứ mình, và trận đánh của vua Kết-rô-Lao-me ở miền Đông xứ Pha-lê-tin trong đời Áp-ra-ham có thuật trong Sáng 14:1- Người Ba-by-lôn cố ý gây ảnh hưởng của mình trên dân Pha-lê-tin, từ đời sống văn minh, đến cách viết rắc rối và cả tiếng nói của họ làm trung gian cho sự giao thông quốc tế.
Sau khi trục xuất những nhà vua chăn chiên khỏi xứ của sông Ni-lơ, các Pha-ra-ôn lớn của nhà vua thứ XVIII, mở rộng quyền đế quốc mình đến nơi xa trong châu Á. Thothmès III (thế kỷ XV T.C.) chinh phục xứ Ca-na-an và đánh thuế các dân tộc cho đến sông Ơ-phơ-rát. Trong đời Aménophis III và IV, là hai Pha-ra-ôn kế vị, xứ Ca-na-an được canh gác bởi những đạo quân, vào cai trị bởi các quan Ai-cập. Song gần hết thời nầy, sức mạnh Ai-cập giảm bớt. Người Hê-tít ngăm đe biên giới miền Bắc, trong xứ có nhiều nơi không phục, đi đường không yên ổn, trong nhiều nơi có sự dấy loạn, và nhiều chi phái nhơn dịp sự yếu thế của Ai-cập để mở rộng bờ cõi mình. Dưới quyền nhà vua kế tiếp Seti I, đi qua Pha-lê-tin để khai chiến với dân Hê-tít tại sông Oronte ở phía Bắc; Ramses II xâm chiếm xứ Pha-lê-tin và đi vượt qua; và các cơ binh Meneptah tàn phá miền Nam Pha-lê-tin và đồng bằng bờ biển người Pha-lê-tin, cũng phá hại mùa màng của người Y-sơ-ra-ên lúc đó có lẽ còn ở đồng vắng gần Ca-đe Ba-ê-na. Ramses III, thuộc nhà vua thứ XX, xông qua xứ Pha-lê-tin, trong khi dân Y-sơ-ra-ên còn ở đồng vắng.
2. Sau hồi Y-sơ-ra-ên chiếm xứ.– Khi xứ Pha-lê-tin đã yếu đi vì cớ chiến tranh như thế, thì mới có dân Hê-bơ-rơ ở trong xứ. Nhờ Môi-se dẫn dân Y-sơ-ra-ên chiếm lấy miền Đông sông Giô-đanh, năm sau nhờ Giô-suê, dân Y-sơ-ra-ên qua sông Giô-đanh, và hết sáu năm tranh chiến mới có thể chia xứ cho mười hai chi phái (1445 T.C. Ussher). Chừng 1095 T.C.. (Ussher), các chi phái Y-sơ-ra-ên hiệp thành một nước, có vua Sau-lơ cai trị. Đến năm 975 T.C., nước chia làm hai: Y-sơ-ra-ên phía Bắc và Giu-đa phía Nam. Nước phía Bắc bị sập đổ trước thế lực của người A-sy-ri chừng 722 T.C.; sau nước Giu-đa bị Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, chinh phục và chiếm lấy Giê-ru-sa-lem 588 T.C.. Từ đó cho đến 100 năm sau khi Cựu Ước được công nhận, xứ Pha-lê-tin cứ ở dưới quyền Ba-tư, và các quan tổng đốc Sy-ri cai trị. Về thời giữa Cựu Ước và Tân Ước phải xem bài “Niên hiệu của Kinh Thánh, ” phần thời kỳ từ Ma-la-chi đến Ma-thi-ơ.
3. Kỷ nguyên Đấng Christ.– Từ 63 T.C. đến 67 S.C., xứ Pha-lê-tin là một phần của Sy-ri, là một tỉnh thuộc đế quốc La-mã. Khi dân Do-thái tại xứ Pha-lê-tin bắt đầu khai chiến (66-67 S.C), thì Pha-lê-tin trở nên một tỉnh riêng dưới quyền hoàng đế Vespasien. Cuộc chiến đấu lớn với La-mã mãi đến khi Giê-ru-sa-lem bị chiếm và hủy phá năm 70 S.C. mới hết. Năm 1099 S.C., các đạo Thập tự quân (Les Croisades) lập nước La-tinh ở Giê-ru-sa-lem; song đến 1187 thì Saladin chiếm lấy nước đó. Dầu chỉ ở đó tạm thời như thế, nhưng Thập tự quân để lại nhiều dấu tích như các nhà thờ và các viện tu. Đến 1516, nước Thổ-nhĩ-kỳ chinh phục nên xứ Pha-lê-tin trở nên một phần của xứ Sy-ri ở dưới quyền nước đó.
Ngày 10 tháng 12 năm 1917, nước Anh chiếm lấy Giê-ru-sa-lem, và năm 1918 chinh phục cả xứ. Ngày 22 tháng **Juillet 1922, Hội Quốc Liên giao ủy quyền cai trị xứ Pha-lê-tin cho nước Anh. Từ đó, nhiều người Do-thái từ khắp thế gian trở về xứ Thánh, và muốn lập lại nước mình. Bởi đó vẫn có người Do-thái và dân A-rạp tranh giành với nhau để cầm quyền cai trị. Theo lời hứa của Đức Chúa Trời chép trong Kinh Thánh, một ngày kia, khi Đấng Mê-si tái lâm, Ngài sẽ lập lại nước của tuyển dân từ bờ cõi sông Ni-lơ cho đến sông Ơ-phơ-rát.
XIII. Tập đồ giải Kinh Thánh về xứ Pha-lê-tin.– Có người tính trong Kinh Thánh và các sách Apocryphes chép tên 622 thành ở phía Tây sông Giô-đanh. Có bản cổ khác cũng nói đến nhưng nhiều hơn số đó nữa. Năm 1874, Mariette Bey xuất bản một danh sách địa dư dựa trên các thẻ đeo ở cổ những hình người tù vẽ trên cổng lớn của đền thờ thần Am-môn tại làng Carnak xây trên nơi kinh đô Thèbes xứ Ai-cập xưa. Ấy thuộc về thời Thothmes III trị vì. Trong danh sách đó có 118 tên, và hơn một phần ba tên đó giải nghĩa rõ về địa đồ xứ Pha-lê-tin và sách Giô-suê. Năm 1887 S.C, trên các bia đất sét thuộc thế kỷ XIV T.C., tại Tell-el-Amarna, một núi ở xứ Ai-cập, người ta tìm thấy có sáu bức thơ khắc bởi quan tổng đốc Ai-cập tại Giê-ru-sa-lem trong thời Aménophis III và IV. Tại đó cũng nói đến mấy thành xứ Pha-lê-tin. Văn chương thuộc nhà Pha-ra-ôn thứ XIX có tên nhiều thành Phi-li-tin, lại nói về Gô-sen, Phi-thom, Ca-na-an, v.v; và trên một trụ đá lớn cũng khắc tên Y-sơ-ra-ên nữa. Lịch sử A-sy-ri nói nhiều về Pha-lê-tin xưa. Như tiêm-bi đen của Sanh-ma-na-se II (thế kỷ IX T.C.) có bức tranh tỏ những lễ vật của Giê-hu nộp cho mình; và hầu hết các vua A-sy-ri trong thế kỷ VIII T.C. nói vềù mối quan hệ của mình với các quan tại Giê-ru-sa-lem hoặc Đa-mách. Cũng tìm được chiếu chỉ của vua Si-ru cho phép người Giu-đa bị phu tù về xứ mình. Trên những bản cổ bằng lá cây papyrus tìm tại Su-rơ (1901 S.C.) và tại xứ Sy-ri phía Bắc (1890, 1908) và bản Elephantine papyri, cũng nói đến “các con cháu San-ba-lát” (sách Nê-hê-mi), mô tả một Đền thờ tại Ai-cập để thờ Ya-hu (Giê-hô-va), và nói nhiều những vấn đề có liên quan đến Pha-lê-tin; qua đó giúp hiểu biết thêm về tiếng nói của người Do-thái và những ngày lễ trong thời Nê-hê-mi, v.v..
Trong nửa phần đầu thế kỷ thứ IV S.C., Eusèbe, giám mục tại thành Sê-sa-rê, viết một quyển sách nhỏ về tên các nơi quan hệ chép trong Kinh Thánh. Thế kỷ sau, Jérôme tại Bết-lê-hem dịch sách đó thêm nữa. Sách đó có nhan đề là Onomasticon của Eusèbe, trong đó là# mục lục tên các nơi chép trong Kinh Thánh, và người ta đã thử 300 nơi, xem nó nằm ở đâu tại xứ Pha-lê-tin. Dầu có nhiều tên và nơi đúng, song cũng có một ít sai lầm. Dầu vậy, nhưng gần 1500 năm sau không ai có sửa nhiều sách đó.
Những tin tức về địa dư xứ Pha-lê-tin mà Reland xuất bản năm 1714, và những cuộc du lịch của Seetzen và Burckhardt đầu thế kỷ XIX dọn đường cho bác sĩ Robinson khảo cứu cách trật tự và theo lối khoa học. Bác sĩ nầy với thần khoa Tấn sĩ Eli Smith là người thạo tiếng A-rạp, năm 1838 đến thăm Pha-lê-tin. Hễ đến bất cứ nơi nào, họ thường hỏi để biết đúng các di tích và làng còn có gọi tên nào khác, thì thấy phần nhiều còn có tên Hê-bơ-rơ cũ song nói theo tiếng A-rạp. Vậy, 1841, bác sĩ Robinson xuất bản kết quả bằng ba quyển sách lớn. Đến năm 1852, Robinson và Smith với mấy người khác đến thăm viếng xứ Pha-lê-tin lần nữa, và xuất bản kết quả năm 1856. Ngày 22 tháng Juin, năm 1865, bên Anh có lập một hội khảo cổ trong xứ Pha-lê-tin gọi là “The Palestine Exploration Fund.” Kết quả hội nghị đưa đến một việc quan trọng là lập một địa đồ lớn của cả xứ, và tại đó hơn một nửa tên nơi chép trong Kinh Thánh đã được nhận là rất chắc chắn.
XIV. Sự thám hiểm xứ Pha-lê-tin.– Người thám hiểm đầu tiên để lại một bài tường thuật là Sinuhit. Có lẽ trong thế kỷ sau Áp-ra-ham, Sinuhit có viết về mấy lời chép trong Kinh Thánh, và mô tả xứ Ca-na-an, “là xứ của cây vả và nho… tại đó rượu nhiều hơn nước… mật và dầu dư dật… lúa mạch trong đồng ruộng, và bầy vật vô số, v.v.” Năm 332 S.C., có người du lịch từ Bordeaux viết về chuyến du lịch xứ Pha-lê-tin, một bà trong thế kỷ IV tìm Phi-thom rất đúng, song người ta quên mất cho đến năm 1883 S.C mới tìm lại được.. Giữa thế kỷ VI và XII, những người thăm viếng chỉ nói về sự bắt bớ bổn đạo. Còn John of Wurzburg, Theodorich và Abbé Daniel viết về mấy bản khác, nói về những địa giới xứ Giu-đê, về tầm quan trọng của các dãy núi Giê-ru-sa-lem, và về những thú dữ trong rừng Giô-đanh. Từ thế kỷ X đến XIII, mấy người Hồi giáo, Istakri, Mukaddasi và Yakut viết về khí hậu, phong tục và địa dư. Trong thế kỷ XIV, Marino Senuto dựng địa đồ, và một người Do-thái tên là Ben Moses ha-Phorhi chỉ đúng Mê-ghi-đô và mấy nơi khác. Félix Fabri trong thế kỷ XV chép sách “Wanderings in the Holy Land, ” tả những đài kỷ niệm và những nơi đổ nát, song cắt nghĩa s “mồ hôi ra từ da trái đất.” Thế kỷ XVI, người du lịch viết đường đi nguy hiểm và không thể vượt qua tới phía Đông sông Giô-đanh. Thế kỷ XVII Michel Nau, 30 năm truyền giáo tại Pha-lê-tin, với De la Roque, Hallifix, và Maundrell, viết về những sự thời cổ trên bờ biển Pha-lê-tin.
Trong thế kỷ XVIII, Thomas Shaw (1722) viết về động vật học và địa dư hình thể xứ Pha-lê-tin, đồng thời nêu nguyên nhân khiến nước Biển Chết mặn là do hơi nước bốc lên, v.v.. Giám mục Pococke (1738) viết về những đời thượng cổ và tìm đúng mấy nơi trong Kinh Thánh. Volney (1783) viết về Li-ban. Seetzen (1800-7) và Burckhardt (1810-12), là những nhà thám hiểm đầu tiên của những di tích cổ trong phía Đông và phía Nam xứ Pha-lê-tin, như đã nói ở trên. Bác sĩ Edward Robinson trong 1838 và 1852 thám hiểm, và trong 1856 xuất bản một bộ ba quyển “Biblical Researches” làm “nền tảng” cho những sự tìm kiếm ngày nay. Năm 1848, nước Mỹ cử Lieutenant Lynch để đo chính xác bề rộng, bề sâu, các dòng nước, nhiệt độ của Biển Chết, và trong tờ trình ông cắt nghĩa nước Biển Chết mặn vì có nhiều núi muối gần đó. Năm 1854-1862, De Vogué viết về những đài kỷ niệm xứ Sy-ri, và 1845-1863 Tabler thám hiểm Giê-ru-sa-lem và những miền xung quanh. Năm 1868, Mục sư Klein tìm được một sự rất lạ ở Đi-hôn, là đá lớn bằng cẩm thạch mà Mê-sa, vua Mô-áp đã lập trong thế kỷ IX T.C.. Trên bia đá đó, Mê-sa tôn vinh thần Kê-mốt mình, lấy thứ tiếng giống tiếng Hê-bơ-rơ mà tả một cuộc nổi loạn đắc thắng địch cùng vua kế vị Ôm-ri, và nói đến Ôm-ri với tên nhiều nơi trong Kinh Thánh.
Từ năm 1865-1880, hội “The Palestine Exploration Fund” sai các nhà thám hiểm đến xứ Pha-lê-tin để khảo sát Giê-ru-sa-lem và cả miền Tây Pha-lê-tin được phân giới hạn theo địa thế; nghiên về địa chất của núi Si-na-i và núi Sê-i-rơ; nghiên cứu về động vật của cả xứ; tìm con đường trong nơi đồng vắng mà Y-sơ-ra-ên đi theo từ Ai-cập đến Ca-na-an; tìm bảng khắc xưa cấm người lạ không được vào nơi thánh Đền thờ; và cũng tìm nhiều bảng khắc nữa lúc đào các mồ, v.v.. Colonel Condor, đứng đầu nhóm thám hiểm đó, trình rằng đã tìm được 172 nơi chép trong Kinh Thánh, và nhứt định chắc chắn về địa giới của 12 chi phái xưa. Nhóm nầy lại đào ở dưới Giê-ru-sa-lem những lỗ sâu từ 25 thước đến 50 thước để tìm những bức tường xưa. Sau khi đào dưới khuôn viên Đền thờ và bỏ vô số tấn đất đá đi, thì họ mới phát họa được vách tường Đền thờ xưa. Dưới lòng đất, họ khám phá có nhiều phòng đá, có nhiều đường phố xưa được mở, có tìm được nhiều kiểu đồ gốm, thủy tinh và đồ dùng. Có tìm trụ và những nhịp cầu xưa qua trũng Tyropoeon; những vách thành Giê-ru-sa-lem xưa được bới ra, nhờ đó mà họ xác định nhiều cửa và tháp của tường đó ở đâu, xác định được niên hiệu một tường thuộc đời Sa-lô-môn, và có tìm nhiều điều mới tại Ô-phên nữa. Kết quả là 1884, hội đó có thể xuất bản địa đồ cả thành Giê-ru-sa-lem xưa với các đường phố, các công trình, Đền thờ, v.v.. Có lẽ công việc lớn nhứt là năm 1886, hội đó xuất bản một địa đồ của xứ Giu-đê và xứ Sa-ma-ri bởi Colonel Condor, và một của xứ Ga-li-lê bởi Lord Kitchner, bởi đó có thể xuất bản một địa đồ lớn của phía Tây Pha-lê-tin với 7 quyển kể công việc của hội. Vậy, “trải qua 15 năm từ 1865 đến 1880, công cuộc thám hiểm xứ Pha-lê-tin có phần tấn tới lớn hơn cả XV thế kỷ trước đã qua.”
Trong 20 năm từ 1880-1900, kết quả việc thám hiểm xứ Pha-lê-tin, là: Năm 1880 bất ngờ tìm được bảng đá khắc gần phần cuối của cống dẫn nước ao Si-lô-ê, bởi đó có thể thấy rằng trong đời Ê-xê-chia người ta có thể lập hệ thống dẫn thủy một cách thành công (IICác 20:20; IISử 32:30). Năm 1881, Condor và Shumaker thử vẽ một địa đồ phía Đông xứ Pha-lê-tin theo đúng địa chính và khoa học. Cũng năm đó, Clay Trumbull lại tìm ra và tả đúng Ca-đe Ba-nê-a, xác định đúng nơi đó, và bởi đó mới có thể xác định nhiều nơi trong cuộc lưu lạc của Y-sơ-ra-ên tại đồng vắng. Họ cũng khảo sát về các đập và các hồ chứa nước, và về các phong tục, tục ngữ và truyền khẩu của người A-rạp tại Pha-lê-tin. Có tìm nhiều mồ mả, hòm đựng xương người chết, đồ khảm, ấn tín, và bản viết tay cổ. Bốn hòn đá giới hạn thành Ghê-xe xưa đã tìm được, và năm 1896, tại Madeba gần núi Nê-bô, tìm được một địa đồ bằng đồ khảm (mosaique) trên lề đường phố làng đó. Đia đồ đó tỏ rõ “xứ Pha-lê-tin trong thế kỷ thứ VI với các thành chính, địa giới các chi phái, và nhứt là thành Giê-ru-sa-lem với các vách tường, cửa, đường phố, và những nhà đồ sộ, v.v..”
XV. Kỷ nguyên của khảo cổ học.– Dầu Renan là người đặt nhát cuốc đầu tiên xuống đất (1860) để khảo cổ những điều bí mật các thời quá khứ, song việc ấy chỉ giới hạn trong xứ Phê-ni-xi thôi. Từ đó đến 1890 không khám phá gì thêm ngoài ít việc đào bới ở Giê-ru-sa-lem, Giê-ri-cô và nơi gọi là Mồ các Vua. Song trong khoảng đó, có cuộc đào bới theo khoa học tại Ai-cập, Hy-lạp, v.v..
1. Tại miền Nam xứ Pha-lê-tin.– a) La-ki (Tell el-Hesy).– Chừng hai thế kỷ trước, Thomas Shaw cho rằng một vài gò (“tell”) là do những đống gạch vụn của những thành đổ nát chất đống lên (so Giô 8:28; Giê 13:18); song không ai ngờ rằng những gò đó là các mộ còn lại của các thành xưa đã bị lấp. Bởi vậy, giờ khắc quan trọng nhứt trong lịch sử khảo cổ xứ Pha-lê-tin là trong tháng Avril 1890, khi Flinders Pétrie leo lên gò Tell el-Hesy ở trên địa giới đồng bằng Phi-li-tin, cách Tây nam Giê-ru-sa-lem chừng 48 cây số và cách Đông bắc Ga-xa chừng 25 cây số. Gò nầy đã bị một dòng nước làm cho đất lở, nên khi Pétrie xem xét những lớp đất lộ ra, và dựa vào những mảnh đồ gốm trong những lớp đất đó, ông xác định gò đống nầy là dấu tích một thành xưa, có lẽ từ 1500 đến 500 T.C. Pétrie chỉ nhờ một độ số niên đại (échelle chronologique) của những đồ gốm mà trước đó ông đã khám phá để nghiên cứu một cách đích thực những thời kỳ khác nhau của xứ Hy-lạp tại Naukratis, và các thời kỳ trước 1100 năm T.C. tại Illahun và Fayy#m. Bởi đó, hết sáu tuần lễ, Pétrie có thế cho biết tám kỳ có tên ở đó kế tiếp nhau, như tỏ ra những thứ đồ gốm đã dùng trong các kỳ đó. Từ đó trở đi, nhờ độ số theo niên đại đồ gốm của Pétrie, nhờ niên hiệu của mặt đất, nhờ bề sâu của từng gò, cùng thời gian hình thành những gò ấy, thì có thể nghiên cứu các gò đống khác, từ đó có thể xác định các thành cổ, và tính lịch sử hình thành là bao lâu.
Pétrie và sau F.G.Bliss với mấy người khác đều khẳng định Tell el-Hesy là nơi trước có thành La-ki (1700-500 T.C.), là một đồn lũy lớn của thế giới xưa (Giô 10:31) mà mấy Pha-ra-ôn tại Ai-cập thường nói đến, và cũng là một đài kỷ niệm A-sy-ri với bức tranh có khắc câu: “San-chê-ríp nhận của cướp thành La-ki” (IICác 18:14). La-ki vốn xây trên một gò tự nhiên cao hơn miền xung quanh độ 20 thước. Khi đào bới, người ta thấy vách thành cổ này dài hơn 9 thước và thành sau hết độ một thước thôi. Pétrie nói rằng có những bức tường được xây bởi thợ nề khéo léo như những thợ xây Đền thờ Sa-lô-môn; cũng có guột trôn ốc ở đầu cột (voluteionique) mà người Hy-lạp mượn kiểu của người Á châu, nhưng dùng tại xứ Pha-lê-tin ít nhứt chừng 10 thế kỷ T.C.. Trên một cột có hình vẽ sừng một chiên đực (Thi 118:27). Pétrie và các nhà khảo cổ sau ông đã nhứt định niên hiệu của tám thời kỳ xây các thành chồng lên nhau trên nơi đó. Đồ gốm cổ nhứt là sặc sỡ và đánh bóng hơn đồ gốm về sau, và là hàng nội hóa. Đồ gốm thuộc thời kỳ trước người Y-sơ-ra-ên chiếm xứ (1550-800 T.C.) tỏ ra một kiểu nhập cảng từ đảo Chíp-rơ. Đồ gốm thuộc thời kỳ người Giu-đa (800-300 T.C.) tỏ ra một kiểu mới, sần sùi và không đẹp. trước khi Y-sơ-ra-ên tới, thấy mấy thành trước có nhiều tháp lớn, búa trận bằng đồng rất đẹp, mũi giáo vòng tay, kim, bàn ép rượu nho, một nhà đồ sộ nguy nga, một lò nung kim khí, và thẻ có khắc chữ của Zimrida là quan tổng đốc La-ki chừng 1.400 T.C.. Ở vài lớp đất, còn tìm thấy những hình nữ thần Át-tạt-tê, và trong lớp khác thấy những hình tượng trưng và thú vật của người Ai-cập. Một điều lạ là đã tìm một con dao sắt thuộc dưới thời kỳ Y-sơ-ra-ên chiếm xứ Ca-na-an, là khí giới sắt cổ nhứt tìm tại xứ Pha-lê-tin cho đến nay.
b) Giê-ru-sa-lem.– Trong khoảng 1894-1897, vì cớ phải đào dưới một thành rất đông dân cư, nên có một nhà kiến trúc giúp đỡ Tấn sĩ Bliss tại Giê-ru-sa-lem. Trước hết họ có tìm được mảnh vách tường còn lại mà nữ vương Eudocie (450 S.C.) xây cất; dưới đó thấy có dấu tích vách tường mà hoàng tử Tít phá hủy (70 S.C.); sâu hơn một chút là vách tường xung quanh thành trong thờICác Hê-rốt; còn sâu hơn nữa là một tường của thời vua Ê-xê-chia; và càng sâu hơn là bức tường xây rất khéo, để lộ rõ những hàng gạch thuộc đời Sa-lô-môn hoặc trước thế kỷ thứ VIII T.C.. Tấn sĩ Bliss tìm được các cửa và đường phố của thành, và những lỗ vừa một người chui xuống dẫn đến đường hầm để thông nước dơ chảy đi. Tấn sĩ có thể giải quyết nhiều vấn đề quan hệ về những vách tường thuộc các đời xưa, và tính được bề cao các núi mà Giê-ru-sa-lem vốn đã xây trên, bởi đó nhứt định địa thế của thành xưa. Mitchell và mấy người khác đã tìm đích xác nơi có Cửa Phân của Nê-hê-mi, cả những con suối quan trọng, cùng trũng và núi Giê-ru-sa-lem cổ. Vậy, họ đã xác định Giê-ru-s