Ê-díp-tô tức Ai-cập Egypt. Égypte (nước của dân Coptes).
Một nước lớn ở phía Đông Bắc châu Phi. Sơ lược về địa thế, thổ sản, đời sống xã hội, lịch sử, tôn giáo, v.v… của nước đó như sau:
I. Địa thế.– Từ trước đến nay, địa giới nước này dường như không thay đổi: miền duyên hải dài độ 320 cây số, và từ phía Bắc xuống phía Nam độ 832 cây số. Bắc giáp Địa-trung-hải, Đông Bắc gần xứ Ả-rập, Đông Nam giáp Biển Đỏ, Tây Nam liền với đồng vắng mênh mông của châu Phi. Trũng sông Ni-lơ gọi là thượng Ai-cập, và hạ Ai-cập tức là miền đồng bằng. Vì cớ đó nên Kinh Thánh có đặt tên Ai-cập là Mích-ra-im, có nghĩa là “Hai Ai-cập”, tức là chỉ về hai miền nầy vậy (Sáng 10:6, 13; ISử 1:8, 11). Tiếng Ả-rập gọi Ai-cập là Mizr, nghĩa là “bùn đỏ”. Kinh Thánh cũng gọi Ai-cập là “xứ Cham” (Thi 105:25, 27; so sánh Thi 78:51). Có lẽ tên ấy chỉ về Cham, là con của Nô-ê.
Từ những vùng đất dọc theo hai bên triền sông Ni-lơ ra, đều là sa mạc cả. Hai bên có vô số sông nhỏ có thể đi thuyền được. Sông Ni-lơ dài 6.500 cây số, có chỗ rộng độ 18 cây số, có chỗ độ 40 cây số không chừng. Nó phát nguyên từ hồ Victoria-Nyanza ở trung bộ châu Phi, rồi đổ về phía bắc, chảy tắt vào giữa nước Ai-cập. Khi trước nó chia làm bảy nhánh; nay đã bị vùi lấp mất năm nhánh, chỉ con hai nhánh chảy vào Địa-trung-hải.
Đất Ai-cập vốn ít có mưa. Khí hậu ôn hòa, có lợi cho sức khỏe. Trừ miền bờ biển ra, các nơi khác có bầu không khí khô hanh và trong trẻo, nên đền đài không bị hư hại. Đồng ruộng màu mỡ, cây lúa tốt tươi nhờ phù sa bồi đắp. Hằng năm nước sông lên xuống theo một chu kỳ nhứt định. Khi lên, nước vọt cao từ 8 đến 13 mét, mãi đến tháng 10 dương lịch nước mới rút. Nước sông Ni-lơ tràn ngập, làm cho đất đai phì nhiêu. Vì thế, sông Ni-lơ là nguồn thiﮨ vượng cho cả xứ, và xưa kia no được kính thờ như một vị thần. Mùa đông, nông dân gieo giống; qua tháng ba năm sau thì gặt. Như phần trên đã nói, nước Ai-cập chia làm đôi, phía Nam là Thượng Ai-cập, chia làm 22 tỉnh; Bắc là Hạ Ai-cập, chia làm 20 tỉnh. Phần đất mỗi tỉnh có thể chia làm bốn loại:
a) Tỉnh thành, đặt một viên tỉnh trưởng và dựng đền hàng tỉnh thờ thần.
b) Đồng ruộng.
c) Đường thủy, mỗi năm do quan địa phương khơi đào một lần.
d) Đất có bùn lầy nước đọng, xưa mọc nhiều thứ cỏ dùng làm vật liệu chế giấy, nay thì chỉ có các nhà thợ săn ở đó thôi.
II. Thổ sản.– Trong núi có nhiều đá xanh, son đá mài, đá hoa cương đen (gradier), ngọc trắng, ngọc giao. Lại có mỏ năm loại kim và mỏ lưu hoàng. Khắp nước chỗ nào cũng có các cây trái như lê, táo, đào, quít, mơ, lựu, nho, vả v.v… Duy trũng Ni-lơ ngoài cây dưa ra, không có thứ cây nào khác. Sản vật đồng ruộng thì có lúa mạch lớn, lúa mạch nhỏ, ngô, đậu, thóc, bông, thuốc lá, mía, dưa, rau đậu, v.v… Thú rừng thì có sư tử, voi, cọp, beo, lạc đà, chó rừng, dê vàng, hà mã, chồn, cáo, thỏ. Gia súc thì có bò, chiên, dê, ngựa, chó, mèo, v.v… Các loài chim có: ưng xanh, oanh vàng, hạc đỏ, diệc cú, ngỗng, vịt, gà và vô số chim sẻ. Cũng có cá sấu và rùa lớn nữa. Loại côn trùng hại người như rắn, rết, v.v… cũng nhiều.
III. Đời sống xã hội.– Đời xưa người nước đó phần nhiều nổi tiếng vì khôn ngoan. Năm 4.000 T.C., họ xây dựng nhà cửa đồ sộ. Các Kim tự tháp (pyramides) cao tới 138 mét, đến nay vẫn còn. Người nước đó lại có tài điêu khắc, họ hay đắp núi, ngăn nước, nặn hoa, chim, người, vật. Trong sa mạc có cái núi đá dài 68 mét, cao 20 mét, người bản xứ đẽo gọt làm thành cái tượng đầu người, mình thú, (sphynx) rồi dưới mình con thú họ đào một cái hang lớn làm chùa. Họ đã tốn nhiều công sức để tạo nên nhiều điều kỳ thú – mà với họ, đó là những tác phẩm tuyệt vời.
Các nhà khoa học đã đo được thời gian trái đất đi xung quanh mặt trời một vòng; rồi định 365 ngày làm một năm, sau đó chia một năm làm 12 tháng, cứ mỗi ba tháng là một mùa. Nơi đây cũng là xuất sứ của những tác phẩm văn học nổi tiếng. Họ còn đào tạo được nhiều nghệ sĩ tài ba, và cũng không thể kể hết các loại nhạc khí mà họ thường dùng! Dân Ai-cập cũng chăm lo kỹ nghệ. Họ dệt vải gai mịn và vải trắng (Ês 19:9). Vải đẹp của Ai-cập đem vào bán ở xứ Pha-lê-tin (Châm 7:16). Người ta làm rất nhiều đồ gốm; dường như dân Hê-bơ-rơ đã làm công việc này khi họ là phu tù ở đó (Thi 81:6; tham khảo Xuất 1:14). Đồ pha lê và đồ sứ ở đây đều đẹp, làm rất khéo và kỹ. Về võ bị, trừ súng đạn ra, các loại gươm giáo của họ đều tốt và bền.
IV. Lịch sử.– Có thể chia lịch sử đời thượng cổ của nước Ai-cập làm ba phần:
1. Đế quốc cổ, kể từ khi lập quốc đến khi chi tộc Hyksos từ xứ Sy-ri đến chiếm cứ.
2. Đế quốc giữa, kể từ khi chi tộc Hyksos vào Ai-cập đến khi họ bị đuổi ra khỏi đó.
3. Đế quốc mới, kể từ khi Amasis lập lại tổ quốc cho đến khi người Ba-tư (Perses) chinh phục Ai-cập.
I. Đế quốc cổ.– Thành Mem-phis là kinh đô tối cổ, do Menês, là vị vua đầu tiên ở Ai-cập dựng trên bờ sông Ni-lơ. Manethon là một thầy tế lễ Ai-cập nhưng thuộc về triều các vua Ptolémées (Thế kỷ thứ III T.C.), có chép một quyển Sử ký nước Ai-cập bằng tiếng Hy-lạp, chia các vua làm ba mươi triều đại. Đế quốc cổ có một thời kỳ đáng ghi nhớ hơn hết là thời kỳ các vua xây kim tự tháp. Các vua xây kim tự tháp thứ nhứt tên là Suphis (theo sử gia Manethon), là Cheops (theo sử gia Hérodote, nước Hy-lạp), và là Khufu hoặc Shufu (theo một tấm bia trên kim tự tháp đó). Hérodote chép rằng vua Che-phren đã xây kim tự tháp lớn thứ nhì, và trên các mộ chung quanh có tên Khafra hoặc Shafre. Vua xây kim tự tháp thứ ba là Mycérinus vì trong kim tự tháp có một quan tài ghi tên Menkura. Các vua có quyền lực nhất của đế quốc cổ thì Manethon liệt vào triều đại thứ XII. Trong thời kỳ nầy người ta xây hồ Moeris để chứa nước khi lụt, và cũng xây lâu đài Labyrinthe (mê cung có nhiều phòng nhỏ, để làm cho lạc lối).
II. Đế quốc giữa.– Về thời kỳ này, dân Ai-cập gặp nhiều biến cố: Chi tộc du mục Hyksos tràn vào nước Ai-cập, bắt họ phải phục tùng mấy thế kỷ (theo tiếng Ai-cập, chữ Hyksos do chữ Hyk mà ra, nghĩa là “vua” và chữ “sos” nghĩa là “chăn chiên”), đặt kinh đô của dòng Hyksos là Memphis. Rồi trong tỉnh Seth-roite họ có dựng một trại lớn bằng đất, đặt tên là Abaris. Trong thời kỳ người Hyksos chiếm cứ nước Ai-cập, có lúc lập hai nước tự trị, một ở sa mạc Thebaide giao thiệp thân mật với nước Ê-thi-ô-bi, còn một ở miền Xois, giữa các đồng lầy của sông Ni-lơ. Sau cùng, người Ai-cập lấy lại quyền độc lập và đuổi những vua Hyksos về Pha-lê-tin. Những vua Hyksos này thuộc về các triều đại thứ XV, XVI và XVII, Manethon nói rằng các vua đó là người Ả-rập, song lại cho các vua của triều đại thứ XV là người nước Phê-ni-xi (Phénicie).
III. Đế quốc mới.– Đế quốc mới kể từ đầu triều đại thứ XVIII đến cuối triều đại thứ XXX. Đế quốc nầy được vua Amasis làm cho vững bền; vua đã đuổi được chi tộc Hyksos để dự bị cho các vua nối ngôi mình cử binh mở mang bờ cõi trên châu Á và châu Phi, từ Mê-sô-bô-ta-mi cho đến Ê-thi-ô-bi. Kỷ nguyên vẻ vang của Sử ký nước Ai-cập chính là triều đại thứ XIX; năm 1.322 T.C, vua Seti đệ nhứt, đem quân đánh phía Tây Á châu và miền Sou-dan, và năm 1.311 T.C, cháu vua Seti là Ramses đại đế ở phía Nam nước Ai-cập cướp được rất nhiều của quí dùng làm việc công ích. Dưới đời trị vì của các vua cuối cùng triều đại thứ XIX, thì thế lực nước Ai-cập suy đồi. Triều đại XX và XXI không làm được việc gì đáng ghi vào lịch sử.
Nhưng triều đại thứ XXII đáng được chú ý đặc biệt vì có việc liên quan tới Kinh Thánh: Năm 990 T.C., vua thứ nhứt của triều đại nầy là Sheshonk đã tiến đánh nước Do-thái trong đời vua Rô-bô-am trị vì, đoạt các châu báu của đền Đức Giê-hô-va và của cung vua (ICác 14:25). Có lẽ Osorkon đệ nhứt, vua kế vị Sheshonk đệ nhứt chính là Xê-rách trong Kinh Thánh đã bị vua A-sa đánh bại (IISử 14:9).
Trong triều đại thứ XXIII và XXIV, nước Ai-cập không có gì quan hệ đến lịch sử châu Á; song đến triều đại thứ XXV thì lấy lại được sức mạnh. Triều đại nầy toàn những vua vốn người Ê-thi-ô-bi rất hiếu chiến và đã ngăn cản dân A-si-ri mở mang bờ cõi. Vậy, ta có thể đoán rằng Shebek đệ nhị hoặc Sebichus vua Ê-thi-ô-bi, đã kết đồng minh với Ô-sê, vua sau chót của nước Y-sơ-ra-ên (IICác 17:4). Tehrak hoặc Tirhakah, vua thứ ba của triều đại nầy, đã đề binh đánh San-chê-ríp là vua A-si-ri, để cứu giúp vua Ê-xê-chia (IICác 18:21). Sau đó, tới triều đại thứ XXVI là thời của vua người bổn xứ, hiệu là Saite.
Theo sử gia Hérodote, thì Psametek đệ nhứt cũng gọi là Psammetichus đệ nhứt (năm 664 T.C.), là vua sáng lập triều đại nầy, đã giao chiến với xứ Pha-lê-tin và chiếm được thành Ách-đốt sau khi vây hãm 29 năm (xem Giê 25:20 tham khảo Sô 2:4; Xa 9:6). Còn vua ấy là Nê-ku, cũng gọi là Nê-cô (IISử 35:20), cứ đem binh đánh Đông phương và đi dọc theo bờ biển xứ Pha-lê-tin để đánh vua A-si-ri. Giô-sia giao chiến với Nê-cô tại trũng Mê-ghi-đô và bị tử trận vào năm 608-607 T.C. (IISử 35:20-26). Cách đó ít lâu Nê-cô bị Nê-bu-cát-nết-sa đánh đuổi tại Cát-kê-mít, trên bờ sông Ơ-phơ-rát, vào năm 605-604 T.C. (Giê 46:2).
Về sau có vua Apries, cũng gọi là Pha-ra-ôn Hophra, cử binh đến giúp vua Sê-đê-kia, nhờ đó thành Giê-ru-sa-lem không bị quân Canh-đê vây nữa (Giê 37:5-11). Về sau dường như Nê-bu-cát-nết-sa kéo quân xông xuống đánh bại vua Apries tại chính đất Ai-cập. Vua Amasis kế vị vua Apries, trị vì lâu dài và thạnh vượng, và lấy lại thế lực của nước Ai-cập ở Đông phương. Nhưng nước Ba-tư ngày càng dấy mạnh, con vua Amasis mới trị vì được sáu tháng, thì bị Cambyse, vua Ba-tư, đánh thắng, và nước Ai-cập đổi thành một tỉnh của đế quốc Ba-tư (Năm 525 T.C.).
Dân Ai-cập thường nổi lên làm phản. Từ năm 405 đến năm 345 T.C., Ai-cập lại độc lập. Vì dân Ai-cập thiếu hiểu biết, nên trong khoảng 60 năm, họ đã phải trải những ba triều đại thứ XXVIII, XXIX và XXX. Năm 345 T.C., nước Ai-cập lại phụ thuộc nước Ba-tư. Năm 332 T.C., nước Ai-cập thuộc về nước Ma-xê-đoan. Alexandre đại đế, vua nước Ma-xê-đoan, xây thành Alexandrie làm kinh đô. Đến năm 30 T.C., Ai-cập lại thuộc nước La-mã.
V. Kinh Thánh.– Xứ Ca-na-an đói kém, Áp-ram xuống Ai-cập. Vì sợ tai vạ nên đã nói dối: gọi vợ là em (Sáng 12:10-20). Chúa soi bảo Áp-ram rằng dòng dõi ông sẽ kiều ngụ ở Ai-cập, chịu ngược đãi 400 năm (Sáng 15:13). Rồi Chúa sai Môi-se làm mười phép lạ lớn lao, dẫn họ ra khỏi xứ.
Mười phép lạ ấy tức là mười tai vạ giáng xuống Ai-cập để tỏ ra oai quyền của Đức Giê-hô-va. Tai vạ hầu hết đánh hạ các vị thần của Ai-cập.
1. Nước sông Ni-lơ biến thành huyết đánh hạ thần Hapi, là thần sông Ni-lơ.
2. Tai vạ ếch nhái đánh hạ nữ thần Heka có đầu nhái.
3. Tai vạ bụi đất biến thành muỗi giáng vào đất mà người Ai-cập thờ lạy và tôn là thần Seb, là cha của các thần.
4. Tai vạ ruồi mòng giáng vào không khí được tôn là thần Shu, con trai của Ra — thần mặt trời, hoặc là Isis “nữ hoàng của từng trời”.
5. Tai vạ súc vật bị dịch chết hàng loạt đánh hạ thần con Bò.
6. Tai vạ tro bay khắp trời biến thành ghẻ chốc đánh hạ nữ thần Neit, là “Hoàng thái hậu ở từng trời cao hơn hết”, và cũng đánh hạ thần Sutech hoặc Ty-phon mà khi thờ lạy, họ phải đốt con sinh tế ra tro rồi tung trước gió.
7. Tai vạ mưa đá làm cho Pha-ra-ôn nhận biết Đức Giê-hô-va.
8. Tai vạ cào cào giáng vào rau cỏ và trái cây mà dân Ai-cập rất quí chuộng.
9. Tai vạ tối tăm đánh hạ Ra, là thần mặt trời.
10. Tai vạ giết chết con đầu lòng của người và thú vật làm ứng nghiệm lời Chúa đe dọa rằng: “Ta sẽ đoán xét các thần của xứ Ai-cập” (Xuất 12:12).
Các tai vạ nầy chép ở Xuất 7:14-12:36, và chắc đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên không còn tin vào các thần Ai-cập!
Dũng sĩ vua Đa-vít giết một người Ai-cập (IISa 23:21). Vua Sa-lô-môn cưới con gái của Pha-ra-ôn ở Ai-cập (ICác 3:1). Xe ngựa đều mua cả ở Ai-cập (ICác 10:28). Ha-đát, Giê-rô-bô-am khi phản nghịch đều trốn qua xứ đó (ICác 11:17, 20; 12:2). Si-sắc, vua Ai-cập, đánh thành Giê-ru-sa-lem, cướp hết của báu trong đền thờ và trong cung vua (ICác 14:25, 26). Ô-sê, vua Y-sơ-ra-ên, phản nghịch nước A-si-ri, giao thông với vua Ai-cập là Sô, bèn bị vua A-si-ri giam cầm (IICác 17:4) Pha-ra-ôn-Nê-cô, vua Ai-cập đánh vua A-si-ri; Giô-si-a bèn đi chống giữ, bị giết ở Mê-ghi-đô (IICác 23:29). Giô-a-cha làm vua Do-thái được ba tháng, bị vua Ai-cập bỏ đi và lập em Giô-a-cha là Ê-li-a-kim lên làm vua (IISử 36:2-4). Có lời tiên tri rằng Ai-cập sẽ suy kém (Ês 19:1-15; 20:1-; Giê 46:1-; Êxê 29:1-; 32:1-; Đa-ni-ên 11:42; Giôên 3:19; Xa 10:11). Cũng có lời cảnh cáo dân tộc nào nhờ cậy Ai-cập thì sẽ bị tai vạ (Ês 30:2; 31:1; Giê 2:36; Êxê 17:15; Ôs 7:11). Sau khi Giê-ru-sa-lem bị thất thủ, Giê-rê-mi được Chúa soi sáng, khuyên dân ở yên tại nước Do-thái, chứ đừng đi đến Ai-cập. Giô-ha-nan không tin, dắt dân chúng và Giê-rê-mi đến Ai-cập. Giê-rê-mi lấy hòn đá lớn giấu ở chỗ gạch lát trước cung Pha-ra-ôn và nói tiên tri rằng Ai-cập sẽ bị Ba-by-lôn đánh bại (Giê 42:1-; 44:1-) Ê-sai nói: “Sẽ có một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va ở giữa xứ Ai-cập” (Ês 19:19). Vậy nên năm 160 T.C., có một thầy tế lễ cả, bị đạo Giu-đa truất bỏ, cố xin Pha-ra-ôn cho phép xây dựng đền thờ ở Ai-cập để làm ứng nghiệm lời của Ê-sai. Chỉ có câu nói: “Y-sơ-ra-ên sẽ hiệp cùng Ai-cập và A-si-ri làm ba, đặng làm nên nguồn phước giữa thiên hạ”, thì đến nay vẫn chưa ứng nghiệm (Ês 19:24. Coi thêm Xa 14:19).
Sau khi Chúa Jêsus giáng sanh, Giô-sép, chiêm bao thấy thiên sứ Chúa phán bảo phải dắt Chúa Jêsus và mẹ Ngài chạy qua nước Ai-cập (Mat 2:13).
VI. Tôn giáo.– Người Ai-cập đều hết lòng thờ các thần, vì thế nên họ ra sức xây dựng các đền thờ lớn. Trên mỗi hòn đá, họ chạm trổ hình tượng thần. Dưới đây là tên các thần trong nước: Lớn nhất là thần Mặt Trời, kế đến là thần Đất, rồi là thần Trời: một vị nam, một vị nữ. Họ cũng thờ các tinh tú v.v…
Tượng các thần, có khi đắp nặn thành hình người; có khi tạc thành hình người nhưng đầu chó, hoặc đầu mèo, hoặc đầu chim ưng, hoặc đầu con hạc… Nên người bản xứ chẳng những thờ người làm thần, mà lại thờ cả cầm thú nữa. Trong sân đền, họ hay nuôi khỉ và bò, trong ao, họ hay nuôi cá sấu để cúng mồi cho chúng nó. Hễ loài súc vật chết, thì họ chôn cất theo một lễ trọng thể. Thầy tế lễ được kêu danh hiệu: Thần chính, Thần phụ, ai làm thầy tế lễ thì được đời đời truyền nối, phải chịu phép cắt bì, không ăn cá, không ăn đậu, giữ mình sạch sẽ, thường hớt tóc, năng tắm gội, mặc áo trắng. Các thầy tế lễ trong các đền chia ra làm bốn hạng, theo lệ thì luân phiên từng lượt dưới hình thức ăn lương tháng: làm việc một tháng có thể nghỉ ngơi ba tháng. Khi cúng tế, mỗi thần có một người lên đồng để nói thay cho thần ấy. Các người đó đều do thầy tế lễ cắt cử. Dưới thầy tế lễ có người canh giữ cửa, giữ việc đèn hương trong đền; có người điện tửu, cúng rượu cho tang gia. Các đền đều có ruộng để cung cấp cho việc tiêu dùng. Những của lễ dâng đều trút cho thầy tế lễ hết. Người nào có việc muốn được thần chỉ bảo, thì phải ngủ ở trước chỗ thờ thần, xin thần ứng vào chiêm bao, rồi bấy giờ họ mới quyết định nên làm hay thôi. Họ cũng có lễ cầu vấn, nhưng về sau họ không làm nữa. Để chữa bệnh, họ dùng toàn tà thuật và bùa ếm. Còn nói về sự chết thì sách vở mỗi chỗ nói mỗi khác: hoặc bảo người chết thì hồn lìa khỏi xác, hiện hình như chim ưng, thỉnh thoảng bay đến trước mộ, hưởng lễ cúng tế. Hoặc nói sau khi người chết, thì hồn người ta chịu phán xét. Hồn người thiện được ở trong vườn cực lạc, hoặc ở trong lòng mặt trời để ngắm xem thế giới và không phải luân hồi. Hồn người ác thì lập tức bị quỉ dữ nhốt vào bụng. Nhưng nếu xác chết có ếm bùa, thì có thể tùy ý biến hóa ra hoa sen hoặc con rắn, hoặc con hạc, cũng có thể mau đến miền đất an nhàn vậy.
VII. Chính trị.– Mấy thế kỷ trước, nước Ai-cập ở dưới quyền người Thổ-nhĩ-kỳ; mấy chục năm nay thì thuộc quyền bảo hộ của Anh quốc, Nhưng từ năm 1922 đến nay, nước Ai-cập lần lần được độc lập; có vua, và có ký giao ước đồng minh với nước Anh. Dân số độ 12 triệu người,
Người Ai-cập ngày xưa nói tiếng Copte. Ngày nay hạng trung lưu và thượng lưu nói tiếng A-rạp. Phần rất đông dân chúng theo Hồi giáo, cũng có một số ít người Copte theo đạo Tin lành.