Ô-li-ve, Núi Mount of Olives. Montagne des oliviers.
Theo bản Cựu Ước Hê-bơ-rơ, danh từ đúng “núi ô-li-ve” chỉ chép một lần trong Xa 14:4; và trong các câu khác là “dốc dẫn đến các cây ô-li-ve” IISa 15:30 không nên có “núi”, hoặc chỉ chép “núi” (Nê 8:15), “núi đối ngang Giê-ru-sa-lem” (ICác 11:7), “núi ở phía Đông thành” (Êxê 11:23). Trong nguyên văn Tân Ước có ba lối viết:
1. Cách thường nhất là “núi ô-li-ve”.
2. “Núi gọi là ô-li-ve” (Lu 19:29, 21:37).
3. “Núi của các cây ô-li-ve” (Công 1:12) mà bản Vulgate đặt tên là Olivet.
Đây là một núi đối ngang Giê-ru-sa-lem về phía Đông (Xa 14:4), chỉ cách nhau bởi trũng Kít-rôn (IISa 15:14, 23, 30). Đỉnh núi đó với dốc xa hơn được kể là đường đi một ngày Sa-bát từ thành Giê-ru-sa-lem (Công 1:12), hoặc theo Josèphe chừng 5 hoặc 6 ếch-ta-đơ. Người ta hay thờ phượng Chúa ở trên đỉnh núi đó (IISa 15:32). Trong sự hiện thấy, Ê-xê-chi-ên thấy sự vinh hiển của Chúa “dấy lên từ giữa thành và đứng trên núi” ô-li-ve (Êxê 11:23), và Xa-cha-ri tả Đức Giê-hô-va trong lời tiên tri đứng trên núi để giúp đỡ dân Ngài (Xa 14:4). Chúa Jêsus thường lên núi ô-li-ve (Lu 21:37; 22:39; Giăng 8:1). Khi từ núi xuống, đoàn dân tiếp rước Ngài vào thành và kêu lên Hô-sa-na (Lu 19:37, 38). Từ núi đó, Ngài thấy rõ Giê-ru-sa-lem thì khóc lóc về số phận sau của thành mà Ngài biết trước (câu 41-44). Ngài đang ngồi trên núi với các môn đồ nhìn qua trũng thấy Đền thờ nguy nga và thành, thì phán tiên tri về cả hai (Mat 24:3; Mác 13:3). Sau Lễ Vượt Qua cuối cùng đời Ngài, thì Ngài đi đến núi ô-li-ve (Mat 26:30; Mác 14:26). Vườn Ghết-sê-ma-nê ở phía Đông núi, hoặc dưới chân núi hay cao hơn một chút. Bê-tha-ni và Bê-pha-giê là hai làng ở phía Đông núi (Mat 21:1; Mác 11:1; Lu 19:29). Ở gần làng Bê-tha-ni, Ngài đã thăng thiên (Lu 24:50).
Theo Lightfoot, thầy Rabbin Janna có viết rằng: “Sự hiện diện của vinh quang Chúa, sau khi bỏ Giê-ru-sa-lem, ở ba năm rưỡi trên núi ô-li-ve, xem dân Do-thái có ăn năn không; song khi thấy họ không chịu thì dời về nơi Ngài” (Êxê 11:23 so ICác 8:5-11; Exơ 3:12; Êxê 43:2-5). Ấy nhắc lại Chúa Jêsus trong ba năm rưỡi hành chức vụ giữa dân Do-thái cũng thật như thế. Theo lời nói của hai người nam mặc áo trắng lúc Ngài thăng thiên, thì làm chứng Chúa Jêsus được cất lên thế nào, cũng trở lại cách ấy. Theo Xa 14:4 chép: “Trong ngày đó, chơn Ngài sẽ đứng trên núi ô-li-ve là núi đối ngang Giê-ru-sa-lem về phía Đông, và núi Ô-li-ve sẽ bị xé ra chính giữa về phía Đông và phía Tây, đến nỗi thành ra một trũng rất lớn; phân nửa núi dời qua phương Bắc, phân nửa núi dời qua phương Nam”. Nơi mà Ngài đã đi sẽ là nơi Ngài trở lại, hai cách lên xuống cũng giống nhau (Công 1:11), và Chúa đến như chớp phát ra từ phương Đông nháng đến phương Tây (Mat 24:27). Quang cảnh của sự thương khó Ngài sẽ là quang cảnh của sự vinh hiển Ngài, và của cầm đó là sự vào Giê-ru-sa-lem từ núi Ô-li-ve cách trọng thể như chép trong Mat 21:1-10.
Núi Ô-li-ve chắc là núi người A-rạp ngày nay gọi là Jebel etTôr, ở phía Đông Giê-ru-sa-lem. Nói thật đúng, ấy là một dãy núi có bốn đỉnh và có hai mũi ở mặt bên. Một mũi chạy về hướng Tây độ một cây số rưỡi phía Bắc Giê-ru-sa-lem; ấy thường cho là một với Josèphus Scopus. Mũi thứ nhì phân cách khỏi dãy núi bởi trũng Kít-rôn, cũng chạy về phía Tây đối diện Giê-ru-sa-lem về phía Nam; ấy thường gọi là núi Mưu-Ác vì có một cây gọi là cây của Giu-đa (Ích-ca-ri-ốt). Trong bốn đỉnh đó, đỉnh cao nhứt là Karemes es-Seiyad ở phía Bắc cao độ 830 thước. Xưa cũng gọi là Ga-li-lê, hoặc vì người Ga-li-lê đóng trại tại đó, hoặc xưa người ta tin là Chúa thăng thiên mà hai thiên sứ gọi các môn đồ là người Ga-li-lê. Đỉnh thứ nhì gọi là Thăng thiên. Trong 315 S.C., hoàng đế Constantin lập đại giáo đường trên đỉnh nầy, sau người ta đổi ra xây nhiều nhà thờ nối tiếp nhau gọi là nhà thờ Ascension. Đỉnh nầy chính thật là núi Ô-li-ve, đối diện cửa Đông Giê-ru-sa-lem, cao độ 800 thước, tức 170 thước cao hơn trũng Kít-rôn và 60 thước cao hơn cao nguyên có xây Đền thờ. Dưới chân đỉnh nầy, theo lời truyền khẩu, có vườn Ghết-sê-ma-nê, từ đó có ba đường chia ra: Gồm có hai đường dẫn xung quanh vườn, trong hai đường này có một đường đi quanh mũi Nam và một đường dẫn lên đỉnh; nhưng lại gặp nhau ở Bê-tha-ni, trên dốc phía Đông, thấp hơn đỉnh độ 300 thước. Đường thứ ba là đường xuống Giê-ri-cô về phía Nam. Đỉnh thứ ba gọi là Tiên tri, vì có mộ các tiên tri ở một bên. Đỉnh thứ tư gọi là Offense (làm mất lòng), vì người ta tin rằng tại đó Sa-lô-môn xây các bàn thờ hình tượng cho các vợ ngoại bang mình. Vì đỉnh Ascension và đỉnh Prophètes chỉ hơi phân biệt nên có người chỉ nói ba đỉnh thôi.
Tiến sĩ Scofield chú thích về núi Ô-li-ve
Xa 14:4.– Câu 5 tỏ ra núi Ô-li-ve bị xé hai ra vì có cơn động đất, và Ês 29:6; Khải 16:19 cũng chứng quyết như thế. Trong cả hai câu đó, lời văn bên trong (Xa 14:5 xem câu 1-3) giống cơn động đất với sự xâm lấn của dân ngoại dưới Con thú (Đa 7:8; Khải 19:20). Trong một xứ hay có cơn động đất, chắc không nên khó tin sẽ có một cơn nữa chia xé núi nhỏ gọi là núi Ô-li-ve. Không có một biến động chép trong Xa 14:1-; xảy ra khi Đấng Christ giáng thế, dầu bấy giờ Ngài liên quan mật thiết với núi Ô-li-ve.