Gờ-réc Greece. Grèce (tức Hy-lạp).
Từ Graikoi, tên xưa của một bộ lạc xứ Épirus ở nước Hy-lạp.
I. Nước Hy-lạp.– Ấy là một xứ nhỏ nhưng rất danh tiếng ở miền Đông nam Âu châu. Giới hạn phía bắc xưa không chắc chắn, song có thể là dãy núi Olympe; phía đông giáp biển Égée, phía tây giáp biển Ionienne và Adriatique, phía nam giáp Địa Trung Hải. Trong thời cổ, Địa Trung Hải là nơi trung tâm điểm của thế giới văn minh, mà xứ Hy-lạp lại ở chính giữa nên có rất nhiều thuận lợi.
II. Sử ký.– Hy-lạp cổ trong các dân ngoại.
Sử ký đáng tin cậy của nước Hy-lạp mới bắt đầu từ Hội Điền kinh (Jeux Olympiques) thứ nhứt (776 T.C.). Trước năm đó cũng gọi là thời cổ anh hùng (âge héroique). Lịch sử và lời truyền khẩu lẫn lộn nhau đến nỗi không phân biệt được! Song, chắc người Hy-lạp vốn từ bốn bộ lạc mà ra, và bốn bộ lạc đó tin mình ra từ một tổ tông là người Hellénique. Trong bốn bộ lạc đó, phần lớn là người Aeolians và người Acheans; có khi sử gia Homer chép dường như cả dân Hy-lạp là Acheans. Nhưng trong Sử ký thật thì hai bộ lạc giữ phần quan hệ hơn là người Dorians và Jonians, và người Athénians và người Spartans từ hai bộ lạc nầy mà ra.
Phần lịch sử ký sớm nhất của nước Hy-lạp thật đáng tin (776-500 T.C.), có thể gọi là thời kỳ mỗi dân trong xứ được mở mang. Dầu mỗi dân tộc lập riêng, nhưng có liên lạc với nhau bằng một thứ tiếng chung, văn chương chung, trò chơi chung, và sự mở mang chung, có khi cũng là những đồng minh với nhau nữa. Trong thời kỳ nầy có lập nền tảng của nghệ thuật kiến trúc, văn chương, và triết lý của nước Hy-lạp.
Độ 500 T.C. nước Hy-lạp có đánh nhau với Ba-tư (Perse) là đế quốc rất lớn trong đời đó. Si-ru, vua nước Ba-tư, chiếm lấy Sardis là kinh đô xứ Lydia, và bắt các thành Hy-lạp khác trong cõi Tiểu A-si đều phải phục mình (546 T.C.). Trong đời vua Darius, người Ba-tư đi qua Hellespont và xông vào xứ Ma-xê-đoan (510 T.C.). Song trong 5 năm (500-495 T.C.), các thành Hy-lạp ở Tiểu A-si đều dấy loạn, và người Hy-lạp bên Âu châu cũng được thắng ở cổ Marathon (490 T.C.), về sau khi bị thua ở Thermopyles. Đến 480 T.C. họ lại được thắng ở Salamis, đến 478 T.C. cũng đắc thắng ở Plataea và Mycale. Vì có sự hợp nhất để đánh trận như vậy, nên các xứ Hy-lạp cuối cùng đều phục dưới quyền một đế quốc Athènes. Song sau 70 năm, Sparta được đứng đầu, và sau nữa Théban được đứng đầu. Trong 338 T.C. cả nước Hy-lạp phục quyền một vua của xứ Ma-xê-đoan là Phi-líp, vì thế cả nước Hy-lạp trở nên một phần trong đế quốc Ma-xê-đoan.
Alexandre Le Grand nối ngôi cha mình là Phi-líp, mà bắt đầu trị vì 336 T.C.. Trong đời Alexandre, khi các đội quân đi qua xứ Giu-đê để đến đánh trận với nước Ba-tư, thì xứ Giu-đê không chống cự mà phục ngay. Từ đó, nước Hy-lạp có ảnh hưởng rất mạnh và các xứ cùng các dân ở phía Đông Địa Trung Hải đều dùng tiếng Hy-lạp. Sau khi nước Hy-lạp phục đế quốc La-mã, những ảnh hưởng tiếng nói, thói quen, và triết lý của người Hy-lạp cứ mở mang cho đến nỗi cảm động được tôn giáo Do-thái nữa. Sau khi Alexandre băng hà (323 T.C.), các quan tướng chia quyền và các xứ của đế quốc Alexandre với nhau. Trước hết nước Hy-lạp có con của Alexandre trị vì, song khỏi ít lâu vua đó và cả gia quyến đều bị giết. Năm 146 T.C. Hy-lạp trở nên một tỉnh của đế quốc La-mã. Đến khi đế quốc La-mã chia làm hai: Tây và Đông thì ảnh hưởng Hy-lạp vẫn còn mãi. Ngày hôm nay Hy-lạp độc lập lần nữa với vua của mình.
Sứ-ký Hy-lạp đối với Kinh Thánh :
Sử ký Hy-lạp không có liên quan nhiều với Kinh Thánh. Trong Cựu Ước, người Hy-lạp được gọi theo tiếng Hê-bơ-rơ là Gia-van (Sáng 10:2). Trong Giôên 3:6, 7 có nói đến việc người Hy-lạp mua con cái của Do-thái từ nơi những người Ty-rơ và Si-đôn (800 T.C.) Êxê 27:13 nói những dân ở Gia-van (Hy-lạp) buôn bán tôi mọi và đồ bằng đồng. Còn Đa-ni-ên 8:5, 21; 11:2, 3 chép tiên tri về Alexandre Le Grand sẽ dấy lên là: “cái sừng lớn ở giữa hai con mắt” của con dê xồm đực và “từ phía tây đi khắp trên mặt đất mà không động đến đất” (đi qua chiếm lấy các xứ mau chóng lạ lùng thật là con “beo” ở Đa-ni-ên 7:6), và đánh chiên đực (Mê-đô Ba-tư, Đa-ni-ên 8:6). Xa 9:13 nói tiên tri Gia-van (Hy-lạp) trong đời vua Antiochus Épiphanes, một người kế ngôi vua Alexandre, sẽ bị thua bởi người Do-thái theo họ Maccabées, vì trước đó họ đã mua nơi Ty-rơ các con cái của Giê-ru-sa-lem làm tôi mọi. Ês 66:19 chép tiên tri về những người Do-thái cứ sống sau khi Chúa đoán phạt, sẽ được Chúa sai đến để rao truyền sự vinh hiển ngài cho các nước, tức là Gia-van, v.v….
Trong Tân Ước, phải cẩn thận phân biệt người Hy-lạp với người Hê-lê-nít. Người Hy- lạp chỉ về một người sanh trưởng tại xứ đó hay là chỉ chung về dân ngoại (Rô 10:12; 2:9-10). Còn người Hê-lê-nít là người tuy nói tiếng Hy-lạp, nhưng họ là người Do-thái ở ngoại quốc, khác với những người Do-thái sanh trưởng trong xứ Do-thái, là người Hê-bơ-rơ ở xứ Pha-lê-tin hay nói tiếng thánh tức là tiếng Hê-bơ-rơ ở xứ Pha-lê-tin hoặc ở xứ khác. Như vậy, Phao-lô dầu là người sanh tại Tạt-sơ là một thành Hy-lạp, cũng tự nhận mình là người Hê-bơ-rơ, con của người Hê-bơ-rơ (Phil 3:5; IICôr 11:12). Hội Thánh thứ nhứt tại Giê-ru-sa-lem gồm có hai hạng tín đồ Do-thái: là người Hê-bơ-rơ và người Hê-lê-nít, nên có những người đờn bà góa Hê-lê-nít phàn nàn vì không được nuôi dưỡng hằng ngày. Xem tên bảy người được chọn ra để ủy thác việc đó đều là người Hê-lê-nít cả (Công 6:1-6; cũng xem 9:29; 7:58; 6:9-14). Trong Công 11:20 người Hy-lạp và người ngoại bang, mới được nhập vào Hội Thánh, thì chỉ về một cuộc cải cách trong Hội Thánh. Khi Hội Thánh Giê-ru-sa-lem nghe tin mới đó, thì sai Ba-na-ba đến Hội Thánh An-ti-ốt, về sau đến thành Tạt-sơ hiệp tác với Phao-lô mà Chúa đã gọi đặc biệt đi giảng đạo cho các dân ngoại (Công 9:29).
IV. Tiếng nói.– Việc rất quan hệ của nước Hy-lạp đối đạo Tin lành là cống hiến tiếng nói. Khi vua Alexandre băng (323 T.C.), tiếng Hy-lạp bắt đầu tràn ra, và đến khi Chúa giáng sanh đã được phổ thông khắp cả thế giới văn minh. Vì cớ tiếng Hy-lạp rất dễ dịch ra tiếng khác, rất dễ dùng để đặt ra những danh từ mới về khoa thần học, những chữ hơi khác nhau cũng rất dễ cắt nghĩa, vì thế tiếng Hy-lạp rất tiện dụng để đồn ra đạo cứu rỗi trong các dân ngoại trên thế gian. Vậy các Sứ đồ của Chúa hay dùng tiếng Hy-lạp mà giảng. Trong Tân Ước, nguyên văn đều chép toàn bằng tiếng Hy-lạp, trừ sách Ma-thi-ơ. Đó không phải là tiếng người Hê-lê-nít dùng trong văn chương (langue classique) nhưng là tiếng thực hành (langue populaire). Để tỏ rằng người Hy-lạp không biết trước đạo Tin lành, nhưng đó chỉ là những tư tưởng và thổ âm của người Hê-bơ-rơ được giải bày ra bằng tiếng Hy-lạp, vì Đấng soi dẫn cho người ta chép Kinh Thánh đều muốn cho hết thảy mọi người được cứu mà thôi.