Lễ Lều tạm Feast of Tabernacles. Fête des Tabernacles.
Trong Xuất 23:16 cũng gọi là “lễ mùa gặt”, lễ thứ ba trong ba lễ trọng của người Hê-bơ-rơ, giới hạn của nó từ ngày 15 đến 22 thánh Tisri. Mỗi người nam trong dân Y-sơ-ra-ên phải lên nơi thánh trước mặt Chúa để giữ lễ nầy, sở dĩ có tên là Lều tạm vì trong những ngày đó hay ăn ở tạm trong những lều.
I. Đây là các khúc Ngũ kinh trưng dẫn lễ nầy: Xuất 23:16; Lê 23:34-36, 39-43; Dân 29:12-38; Phục 16:13-15; 31:10-13. Trong Nê 8:1- có chép E-xơ-ra giữ lễ nầy.
II. Lễ nầy nhằm mùa thu, thóc lúa, nho và dầu cùng mọi bông trái của đất đã hái và thâu trữ rồi (Xuất 23:16; Lê 23:39; Phục 15:13-15). Chính lễ chỉ có bảy ngày thôi (Phục 16:15; Êxê 45:25). Song sau đó có ngày nhóm họp thánh đặc biệt vì có của lễ riêng, thường nói như ngày thứ tám (Lê 23:36; Nê 8:18). Trong bảy ngày, người Y-sơ-ra-ên phải ở trong lều hay túp, kết bằng những nhành cây.
Những nhành cây này phải là nhành cây ô-li-ve, cây sim, tàu lá kè và những nhành cây rậm (Nê 8:15-16). Trong thành Giê-ru-sa-lem lều làm ở trên mái nhà, trong sân, trong hành lang Đền thờ, và hai đường phố cửa Nước và cửa Ép-ra-im. Theo lời truyền khẩu của các thầy Rabbins, mỗi người Y-sơ-ra-ên thường buộc những nhành cây thành từng bó, cầm nơi tay gọi là l#lâb. Của lễ thiêu trong ngày lễ Lều tạm thường nhiều hơn so với các ngày lễ khác. Mỗi ngày dâng hai con chiên đực, mười bốn chiên con, một dê đực làm của lễ chuộc tội. Điều đặc biệt hơn cả là số bò đực dâng tới bảy mươi con (Dân 29:12-38). Song trong ngày thứ tám, “ngày cuối cùng là ngày trọng thể trong kỳ lễ” tức “atzereth” chỉ dâng một bò đực, một chiên đực và bảy chiên con. Ngày thứ tám đó là ngày nhóm hiệp thánh có sự nghiêm trang đặc biệt. Buổi sáng ngày đó, người Hê-bơ-rơ lìa bỏ lều hay túp, và dở hết thảy mà trở về nhà. Khi lễ Lều tạm nhằm năm Sa-bát, có đọc những đoạn luật pháp trước đàn ông, đàn bà, trẻ con và khách lạ (Phục 31:10-13). Ta thấy E-xơ-ra đọc luật pháp “mỗi ngày, từ ngày đầu đến ngày chót” (Nê 8:18).
III. Có hai điều đặc biệt trong luật lệ giữ lễ Lều tạm dường như Tân Ước có trưng dẫn còn Cựu Ước thì không nói đến. Ấy là lễ đổ nước ao Si-lô-ê, và sự chiếu sáng trong hành lang đàn bà. Mỗi người Y-sơ-ra-ên mặc bộ đồ lễ, đã làm những bó nhành cây (l#lâb), trước khi thôi kiêng ăn, trở về Đền thờ, một tay cầm l#lâb, còn tay kia cầm trái chanh (trái tốt lành), vào giờ dâng của lễ hằng hiến buổi sáng. Những phần của lễ sắp đặt trên bàn thờ. Một trong các thầy tế lễ múc nước ao Si-lô-ê vào trong một bình vàng và mang vào trong hành lang bởi cửa Nước. Khi thầy tế lễ bước lên bực bàn thờ, thì có tiếng kèn thổi và dân sự kêu: “Các ngươi sẽ vui vẻ mà múc nước nơi các nguồn sự cứu” (Ês 12:3). Điều này để kỷ niệm nước từ hòn đá chảy ra nơi đồng vắng. Cũng có một ban hát Hallel và phất những tàu lá kè nhứt là khi hát đến câu 1, 25, 29 của Thi 118:1-. Ở trên bàn thờ, có gắn hai chậu bạc và lỗ nhỏ ở dưới. Nước nho thì đổ vào chậu ở phía Đông, còn nước ao vào chậu ở phía Tây, từ đó có những ống dẫn đến khe Xết-rôn. Đến tối cả đàn ông, đàn bà đều họp trong hành lang đàn bà để chung vui trong sự kéo nước ao Si-lô-ê. Cũng lúc đó, trong hành lang có hai trụ cao, mỗi trụ có bốn cái đền lớn. Những ngọn đèn đó thắp mỗi đêm trong kỳ lễ. Dường như hết thảy đều cho rằng lời Chúa phán: “Nếu người nào khát hãy đến cùng ta mà uống. Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy” (Giăng 7:37-38), được gợi ý bởi sự đổ nước ao Si-lô-ê. Song về “ngày sau cùng, là ngày trọng thể trong kỳ lễ” khó quyết định là ngày thứ bảy của chính lễ Lầu Tạm, hay là ngày thứ tám theo sau, là ngày chót của các kỳ lễ hằng năm. Nếu thật như thế, lời trưng dẫn của Chúa chắc chỉ về một lễ ai cũng biết dầu chính lúc đó chưa tới. Chắc lời Chúa phán “Ta là sự sáng của thế gian” (Giăng 8:42) cũng được gợi ý bởi hai trụ có thắp những ngọn đèn lớn. Có người tin rằng, đến tảng sáng hôm sau, Chúa từ núi Ô-li-ve trở lại Đền thờ, thấy các ngọn đèn lớn trên hai trụ cao đang tắt giữa hành lang, nên phán: “Ta là sự sáng soi thế gian” (Giăng 8:1, 2, 12). Như sự sáng thiên nhiên của mặt trời làm cho sự sáng nhân tạo ra vô ích, cũng vậy, dường như lời phán của Ngài có ý: Ta, là Mặt trời của sự công bình thay thế những ánh sáng hình bóng của các ngươi.
IV. Có nhiều điều chỉ dẫn trong sách Mishna về kích thước và cách cất những lều. Không được thấp hơn mười gang, hoặc cao hơn hai mươi cu-đê. Lều đó phải tự đứng thẳng, không cần vật chi chống đỡ ngoài, cũng không được dựa vào một tòa nhà đồ sộ hoặc một cây to lớn nào. Lều đó không được lợp bằng da, hoặc bất cứ thứ vải nào, song chỉ toàn bằng nhánh cây hoặc một phần bằng chiếu sậy. Đồ đạc trong lều thì rất tầm thường. Bàn thờ trang hoàng trong bảy ngày bằng những búp liễu, mà mỗi người Y-sơ-ra-ên đến hành lang phải đem theo. Đã nói đến điều đáng chú ý là lắm của lễ. Ngoài những của lễ đó, của lễ chagigah hoặc của lễ thù ân riêng cũng dâng nhiều hơn các ngày lễ khác.
V. Dầu hết thảy những ngày lễ quanh năm của người Hê-bơ-rơ toàn là những kỳ vui vẻ, song lễ Lều tạm có sự đặc biệt là vui hơn cả. Lều có những l#lâb làm cho quang cảnh ban ngày trong thành phố thêm vui, ban đêm có đèn đuốc, âm nhạc, những cuộc nhóm họp vui vẻ trong hành lang của Đền thờ cũng làm tăng thêm vẻ nhộn nhịp trong ngày lễ.
VI. Mục đích chính của lễ Lều tạm có chép rõ trong Xuất 23:16 và Lê 23:43. Ấy là sự tạ ơn Chúa về mùa màng, kỷ niệm dân Y-sơ-ra-ên ăn ở trong các trại trải qua kỳ lưu lạc trong đồng vắng. Một mặt, lễ nầy có liên quan với lễ Vượt qua tức là lễ thuộc tháng A-bíp và với lễ Ngũ-tuần là lễ mùa màng; một mặt khác, có liên quan với lễ Vượt qua là lễ kỷ niệm lớn nhứt hằng năm của sự giải cứu khỏi tay thiên sứ hủy diệt và sự hà hiếp của người Ai-cập. Tuy nhiên, lễ này mang sự vui vẻ tột bực vì dân Y-sơ-ra-ên đã được sự tự do, nay lại còn được cư ngụ tại xứ Ca-na-an, nên lời hứa Chúa đã được ứng nghiệm cách hoàn toàn hơn. Bởi điểm tột bực nầy của phước lành là lập nơi trung tâm của sự thờ phượng quốc gia trong Đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Vì đó nên lễ Lầu tạm được cử hành cách long trọng vào dịp khánh thành Đền thờ Sa-lô-môn (ICác 8:2, 65), sau khi E-xơ-ra xây lại đền thờ (Nê 8:13-18), và lần thứ ba khi Judas Macchabée đánh đuổi người Sy-ri và lập lại sự thờ phượng tại Đền thờ (IIMacchabée 10:5-8).
Tiến sĩ Scofield chú thích về lễ Lều tạm rằng:
Lê 23:34-44.– Lễ Lều tạm, giống như Tiệc thánh cho Hội Thánh, có hai ý: kỷ niệm và tiên tri. Kỷ niệm về sự cứu chuộc khỏi Ai-cập (câu 43); tiên tri về sự yên nghỉ của Nước cho dân Y-sơ-ra-ên sau khi nhóm hiệp và được lập lại, là khi lễ nầy sẽ kỷ niệm lần nữa, chẳng những cho Y-sơ-ra-ên mà cũng cho các dân tộc nữa (Xa 14:16-21).