DÂN SỐ KÝ - Phần 1
Sách có tên rất lạ, và tất nhiên, đó không phải là tên sách trong tiếng Hê-bơ-rơ, vì họ chỉ dùng
những từ đầu tiên trên cuộn giấy và những từ đầu tiên là “Đức Giê-hô-va phán,” nên đó là tên của sách trong tiếng Hê-bơ-rơ. Nhưng lại một lần nữa, khi tiếng Hê-bơ-rơ được dịch sang tiếng Hy Lạp, người ta lại phải nghĩ ra một cái tên khác, và họ gọi sách là Arithmoi. Ai biết tiếng Anh có thể đoán được nghĩa của từ này trong tiếng Hy Lạp vì đó là gốc của từ arithmetic - số học, nên tên sách trở thành sách “Dân số ký.” Tôi cho rằng sách được gọi như vậy vì Dân số ký bắt đầu với những con số - với hai cuộc kiểm tra dân số (Số nhiều của cuộc kiểm tra dân số trong tiếng Anh là gì ấy nhỉ, censai à? Tôi không biết nữa.) Có hai cuộc kiểm tra dân số - một cuộc ở đầu Dân số ký và một cuộc ở cuối, và tất nhiên đó là những cuộc kiểm quân. Họ kiểm tra dân số nhằm mục đích tuyển quân, vì vậy, họ chỉ đếm những người nam trên 20 tuổi, là những người có thể chiến đấu. Con số ở đầu và cuối sách là khoảng 600,000 - nên chúng ta mới biết là có hơn 2 triệu người. Nếu tính cả phụ nữ, trẻ em và tất cả những người dưới 20 tuổi thì sẽ ra con số hơn 2 triệu. Nhưng có 600,000 người nam có thể chiến đấu.

Đôi khi tôi dùng cái này để tính ngay được sức mạnh của một hội thánh. Hội thánh này có bao nhiêu người nam trên 20 tuổi có thể chiến đấu cho Chúa? Một phép thử không tồi để thử sức mạnh của một hội thánh, nhưng hãy xét đến cuộc kiểm tra dân số trong đây. Cuộc kiểm tra đầu tiên trong chương đầu là 603,550 người - đó là khi họ rời Si-na-i. Đến cuối sách, người ta thực hiện một cuộc kiểm tra nữa và con số là 601,730, tức là giảm đi 1,800. Nhưng bạn cần nhớ rằng hai lần tính đó, hai lần đếm đó, cách nhau 40 năm. Những con số này đã chứng tỏ một điểm đáng nói - nhìn chung, chính sách Dân số ký cho chúng ta thấy rằng việc tính đếm không có gì là sai. Tất cả những người đánh cá đều đếm, thế nên vào Ngày Ngũ tuần, ai đó mới đếm là 2,998; gạch chéo 2,999; gạch chéo 3,000, tính đếm không có gì là sai. Chăn chiên thì phải đếm chiên, đánh cá thì phải đếm cá.
Chắc bạn đã nghe kể chuyện cười về cậu đánh cá cụt tay mà lại bắt được con cá to bằng này! Nhưng người đánh cá với người chăn chiên đếm là chuyện bình thường; tính đếm chẳng có gì là sai, trừ khi bạn tính đếm với động cơ khoe mẽ, và đó là thiếu sót của vua Đa-vít. Ông đếm hay kiểm quân sau khi thắng trận. Lẽ ra ông phải kiểm quân từ trước. Chúa Jêsus phán rằng không ai ra trận mà trước hết không ngồi lại và kiểm quân xem mình có đông hơn quân địch không. Nên họ đang kiểm quân trước khi ra trận và đếm số người nam có thể chiến đấu trong Y-sơ-ra-ên trước khi giáp mặt với kẻ thù.
Nhiều người cho rằng con số đó là quá nhiều; họ nói rằng dân số dưới nền quân chủ sau đó chỉ là 1,300,000 người. Họ nói rằng trong sách Phục truyền, số dân Y-sơ-ra-ên nhỏ hơn nhiều so với dân Ca-na-an, thế thì dân Ca-na-an đông cỡ nào đây? Hàng triệu người à! Họ nói rằng có 70 gia đình đến Ai Cập thôi, sao mà nhân lên tới số đó được. Họ nói rằng Hoang mạc Si-na-i không thể chứa được nhiều người đến vậy, Hoang mạc Si-na-i làm gì có thung lũng nào đủ rộng để chứa được từng ấy người! Như vậy là có nhiều, rất nhiều ý kiến phản đối, nhưng Lời Chúa nói như vậy và một lần nữa, bạn phải đưa ra sự lựa chọn của mình - bạn có tin vào điều này hay không? Tôi tin rằng Chúa hoàn toàn có thể chu cấp cho bao nhiêu người tùy ý vì Ngài là Đức Chúa Trời. Hãy để ý rằng dân số Y-sơ- ra-ên tương đương nhau ở đoạn đầu và cuối 40 năm, chỉ chênh lệch 1800 người trong số hai triệu hay 600,000 người nam có thể chiến đấu, trong khi ở Ai Cập, họ lại nhân lên cực kỳ nhiều, chỉ từ vài gia đình lên hai triệu người trong 400 năm.
Tôi biết là thời gian chỉ bằng 1/10 nhưng số tăng còn chưa được 1/10. Điều đó cho chúng ta biết một điều. Một chi phái giảm 37,000 người nhưng chi phái khác tăng lên 20,500 người, thế là huề. Đến cuối Dân số ký, họ đã kết thúc với số dân bằng số dân từ ban đầu. Điều đó cho chúng ta biết rằng Chúa không chúc phước cho họ, vì nơi nào Chúa chúc phước thì nơi đó dân chúng nhân lên. Nếu Đức Chúa Trời chúc phước cho một hội thánh thì hội thánh gia tăng. Nếu Ngài không chúc phước thì nó có xu hướng chững lại. Sự chúc phước của Chúa được thể hiện qua sự kết quả và có rất ít phước hạnh của Chúa trong sách Dân số ký - có lẽ vì vậy mà chúng ta không thích sách này. Nhưng tôi muốn nói điều này - 600,000 người ở cuối sách hoàn toàn khác so với 600,000 người ở đầu. Trừ hai người giống, còn lại thì đều khác cả. Tất nhiên, trong thời đó, người ta thường không sống qua khoảng 60 tuổi - đó là tuổi thọ thời đó. Môi-se và Giô-suê sau ông, đã sống đến 120 tuổi - một điều khác lạ vào thời đó. 60 là khoảng tuổi thọ của một người và vì vậy, 600,000 người nam trên 20 tuổi, 40 năm sau đều đã chết. Chỉ hai người còn sống, Giô-suê và Ca-lép, thế nên khi đọc một sách như thế này từ đầu đến cuối, chúng ta không nhận ra rằng 40 năm - hơn một thế hệ đã trôi qua.
Người ta tính 30 năm là một thế hệ. Nên chỉ có hai người còn sống và điều này nêu bật thảm kịch chính của sách. Tôi nghĩ đó là sách buồn nhất trong Cựu Ước. Bạn có thể nghĩ rằng sách Ca thương khá nghiệt ngã, nhưng tôi nghĩ đây là sách buồn nhất trong Kinh Thánh nếu xét đến câu chuyện. Hai phần ba sách Dân số ký là những điều lẽ ra không nên viết. Hai phần ba số sự kiện trong đây lẽ ra không nên xảy đến; chúng không nằm trong ý định của Chúa, Ngài không bao giờ định viết sách Dân số ký; nhưng chúng ta có sách đó vì Kinh Thánh là một cuốn sách rất chân thực.
Vậy điều gì đã xảy ra? Bi kịch là ở chỗ, hành trình từ Núi Si-na-i đến Ca-đe Ba-nê-a là ốc đảo đầu tiên sau Sa mạc Nê-ghép - dấu hiệu đầu tiên của sự sống thật và là khởi đầu của Đất Hứa Ca-na-an. Từ Si-na-i đến Ca-đe chỉ mất 11 ngày cuốc bộ, chỉ vậy thôi, chưa đầy nửa tháng, và lẽ ra họ đã có thể sống bằng sữa và mật chứ không phải bằng “cái gì vậy,” hay ma-na. Ấy thế mà thay vì 11 ngày, họ đã mất những 13,780 ngày để bước vào được Đất Hứa. Nào, hãy nhìn vào bản đồ. Đây là đường thẳng - 11 ngày; còn thực chất, từ Ca-đe, họ đã quay lại và vượt qua thung lũng 
sâu này, Thung lũng Tách giãn đi thẳng xuống, qua Châu Phi, vết nứt lớn nhất trên bề mặt trái đất, và họ vượt thung lũng đó sang phía bên kia dãy núi, dãy Ê-đôm, rồi cuối cùng họ dừng ở Mô-áp, phía bên kia của sông Giô-đanh chứ không phải bên này.
Nếu nhìn vào khoảng cách thì bạn sẽ nghĩ rằng nếu quãng này 11 ngày thì quãng kia chắc không quá hai tuần, nhưng họ đã mất gần 40 năm, 38 năm và mấy tháng để đi từ đây đến đó. Tại sao vậy? Đó có phải là một vùng rất khó đi không? Không, ấy là vì Chúa không di chuyển, Ngài chỉ di chuyển từng chút một và hễ Ngài dừng ở đâu thì ở lại đó rất lâu. Nếu Chúa không di chuyển thì họ cũng không dám. Trụ mây dừng lại, và đúng là Ngài đã trì hoãn hành trình của họ trong 40 năm; Ngài cũng cho họ biết lý do khiến Ngài trì hoãn điều đó: Giờ ta sẽ khiến các ngươi đi chậm lại cho tới khi tất cả những người nam giữa vòng các ngươi đều chết hết, trừ hai người, Giô-suê và Ca-lép. Nghe thật khắc nghiệt, như vậy nghĩa là cả một thế hệ không làm gì trong suốt phần đời còn lại, không đâu vào đâu, vô tích sự. Đó là một câu rất khắc nghiệt và chúng ta cần cảm nhận nó. Bạn sẽ cảm thấy ra sao nếu người ta bảo rằng từ giờ trở đi, bạn sẽ vô dụng cho đến chết? Không có gì để làm nữa, sáng thức giấc, tối đi ngủ, chỉ vậy thôi, không có gì, không sống vì gì hết - chắc là suy sụp luôn. Nhưng đó là điều mà Chúa đã làm.
Chuyện gì đã xảy ra ở Ca-đe khiến mọi sự đến nông nỗi này? Nếu đọc Kinh Thánh thì bạn sẽ biết rõ sự tình. Họ không chịu đi khi Chúa bảo họ đi, và họ bỏ lỡ điều đó; bi kịch là có những cơ hội trong cuộc sống mà nếu bỏ lỡ, bạn sẽ không bao giờ có cơ hội thứ hai. Chúng chỉ đến một lần và nếu bạn không nắm bắt thì có thể Chúa sẽ không bao giờ cho bạn cơ hội đó thêm lần nữa - chúng ta cần nghiêm túc cân nhắc tới điều đó. Hãy đi khi Chúa bảo bạn đi, điều đó rất quan trọng. Khi Chúa bảo hãy bước vào và nắm lấy điều gì đó thì hãy bước vào và nắm lấy nó, nếu không thì bạn sẽ lang thang trong đồng vắng cả đời mà không đi đến đâu.
Đó là một nơi khủng khiếp, vì có câu tục ngữ “xôi hỏng bỏng không,” không được cái gì hết - họ không ở Ai Cập cũng không đến được Ca-na-an. Thế nên có rất nhiều Cơ Đốc nhân rất khốn khổ vì bị kẹt giữa; họ đã thoát khỏi tội lỗi rồi, không được tận hưởng nó nữa, nhưng cũng chưa bước vào phước hạnh mà Chúa dành cho họ, thế là cái đó cũng không được hưởng luôn. Đúng là không ai khốn khổ bằng một người đã ra khỏi điều này nhưng chưa được vào điều kia. Một số người bị kẹt ở đó trong suốt phần đời còn lại và sống trong đồng vắng khốn khổ, nơi chẳng có điều gì thật sự xảy ra. Đó là bi kịch; và hai phần ba sách Dân số ký nói về hành trình từ đây đến đây. Chuyện đó đáng lẽ không bao giờ xảy ra và như vậy, những bài học chính mà chúng ta rút ra từ sách Dân số ký là bài học đáng buồn.
Kinh Thánh là một cuốn sách rất chân thực; cảm tạ Chúa vì điều đó. Kinh Thánh không chỉ cho bạn biết những thành công vang dội và đức tính tuyệt vời, sách còn cho bạn biết về những thất bại và thói hư tật xấu. Kinh Thánh cho bạn biết về những điều sai trật cũng như những điều đúng đắn. Phao- lô, khi viết cho người Cô-rinh-tô đã nói về sách Dân số ký thế này: “Tất cả những điều nầy đã xảy ra như một lời cảnh cáo cho chúng ta, để chúng ta không chiều theo những ham muốn xấu xa như họ.” Những điều xảy đến với họ là tấm gương cho chúng ta và được ghi lại để cảnh báo chúng ta. Không câu nào khẳng định về mục đích của sách Dân số ký rõ ràng hơn thế. Câu đó có thể không nổi tiếng - bạn có thể không thích đọc nó - nhưng nó cực kỳ quan trọng vì nếu không nghiên cứu lịch sử thì bạn tất sẽ lặp lại nó.
Thực ra một người bạn của tôi đã viết bài thơ ngắn thế này “Sử kia phải lặp lại thôi. Vì đời đâu có ai thời lắng nghe,” và bạn sẽ thấy thật sự ý nghĩa khi đọc lịch sử Y-sơ-ra-ên nếu bạn đọc cho đúng cách - bạn sẽ không phạm phải chính những sai lầm của họ. Nên đây là một sách chép về những thất bại, những ngu dại, những sai lầm của họ, kể cả của Môi-se, Môi-se không được vào Đất Hứa, chính Môi-se luôn. Ông có được vào đó ở nhiều thế kỷ sau khi ông trò chuyện với Chúa Jêsus, nhưng ông đã phải đợi nhiều thế kỷ để vào đó vì chính ông cũng thất bại thảm hại vào thời điểm quan trọng, rồi chúng ta sẽ thấy.
Đó là lý do chúng ta cần đọc Dân số ký. Tôi e rằng chúng ta đang đọc sách để rút ra bài học từ những sai lầm của họ, những điều sai trật và không nên chép lại về chúng ta - nhưng có thể lắm chứ. Sách là sự kết hợp giữa tường thuật và lập pháp, ở Xuất Ê-díp-tô Ký thì nửa đầu chỉ toàn tường thuật hay kể chuyện và nửa sau chỉ toàn luật pháp, còn ở đây, tất cả đều kết hợp với nhau, kể chuyện một chút, lập pháp một chút, lại kể chuyện một chút, rồi lại lập pháp. Tác giả của tất cả các điều luật không phải là Môi-se mà là Đức Chúa Trời. 80 lần trong sách này - 80 lần Kinh Thánh chép rằng “Đức Giê- hô-va phán với Môi-se” và điều đó dẫn đến luật pháp, lập pháp - cách họ phải sống theo. Phần tường thuật - Kinh Thánh chép rằng Môi-se ghi nhật ký - cuộc hành trình của dân chúng theo lệnh của Đức Giê-hô-va. Ông cũng chép một sách khác gọi là Sách Chiến Trận của Đức Giê-hô-va và đó là sách ghi lại mọi cuộc chiến với các dân khác - dùng những người nam có thể chiến đấu mà họ đã tuyển mộ qua cuộc kiểm tra dân số.

Đây là một trong năm sách của Môi-se và sách kết hợp giữa lập pháp và tường thuật, nhưng trước khi nhìn vào điều đó, hãy xem sách này khớp với bốn sách mà Môi-se đã viết về những sự kiện trong đời ông ra sao. Môi-se đã dẫn họ ra khỏi Ai Cập, suốt từ đồng bằng Mô-áp đến Thung lũng Giô-đanh nhưng đến phía bên kia của sông Giô-đanh, nên đây là phần bao trùm cuộc đời của Môi-se và bạn sẽ thấy sách Dân số ký nói đến phần nhiều trong đó. Có lẽ phần lớn nhất trong 40 năm họ lang thang trong đồng vắng, bạn sẽ tìm thấy điều đó trong Dân số ký. Bây giờ hãy chú ý đến chữ đỏ đến chữ xanh, chữ đỏ đến chữ xanh, chữ đỏ đến chữ xanh, rồi đến chữ đỏ. Chữ đỏ nghĩa là những khi họ đóng trại và ở tại chỗ. Chữ xanh mô tả việc họ lên đường, nên họ đã đóng trại rồi lại lên đường, họ đóng trại rồi lại lên đường, họ đóng trại rồi lại lên đường.
Điều thú vị là Chúa ban cho họ mọi phần lập pháp, luật pháp khi họ đóng trại. Rồi mọi câu chuyện trên đường đi thể hiện rằng họ đã vi phạm những điều luật đó ra sao. Như vậy, khi họ đóng trại và ở tại chỗ, Đức Chúa Trời phán bảo điều họ nên làm, nhưng khi họ di chuyển, chúng ta đọc được câu chuyện về những điều họ đã làm, chúng hơi khác với điều họ nên làm. Vậy là bạn có một kiểu bánh mì kẹp nhiều lớp. Như vậy, tại Ai Cập, Xuất Ê-díp-tô Ký 1 đến 11 - họ ở tại Ai Cập; Xuất Ê-díp-tô Ký 12 đến 18 - họ di chuyển đến Si-na-i; Xuất Ê-díp-tô Ký 19 đến 40 - họ ở tại Si-na-i; Lê-vi ký 1 đến 7 - họ vẫn ở Si-na-i; Dân số ký 1 đến 10 - họ vẫn ở Si-na-i - tất cả đều là ở một chỗ, và đầy tính lập pháp. Chúa đã ban luật pháp cho họ khi họ ngồi yên một chỗ.
Họ ở yên để nghe Chúa phán, rồi họ đứng dậy, bước đi trong đường lối Chúa - chỉ là họ không thường làm như vậy. Nhưng bạn có thể thấy sự khác biệt giữa ngồi yên, nghe Chúa phán và đứng dậy để bước đi theo đường lối mà Chúa phán bảo. Dân số ký 10 đến 12 - họ lại di chuyển tiếp từ Si-na-i đến Ca-đe, chặng đường 11 ngày. Ca-đe - cuộc khủng hoảng lớn nhất xuất hiện, và Chúa phán với họ rất nhiều tại Ca-đe từ chương 13 đến 20. Chúng ta sẽ xét rất kỹ đến phần đó. Tại Ca-đe, Chúa phán với họ điều gì mà lại quan trọng đến vậy? Rồi họ lại di chuyển tiếp: Dân số ký 20 đến 21, họ đi từ Ca-đe đến Mô-áp. Hãy để ý rằng cả chuyến hành trình chỉ được nêu trong 2 chương; nó không thật sự có ý nghĩa, không thật sự quan trọng với Chúa, nhưng có một số điều trong hai chương đó mà chúng ta cần học.
Cuối cùng, họ định cư tại Mô-áp và chạm tới chính ranh giới của Đất Hứa lần thứ hai. Lúc đó họ đã đến tới ranh giới, nhưng lại không vào. Họ lại đến ranh giới nhưng giờ đây, sông Giô-đanh dâng lên, ngăn cách giữa họ và Đất Hứa. Họ sẽ chẳng bao giờ phải đối mặt với rào cản đó nếu như họ đi thẳng vào. Toàn bộ Dân số ký 22 đến 36 là những điều Chúa phán khi họ đợi để bước vào. Rồi toàn bộ Phục truyền luật lệ ký 1 đến 34 lại nói đến lần đóng trại đó. Như vậy, bạn có thể thấy rằng trong Dân số ký, dân sự di chuyển rất nhiều. Trong Phục truyền, họ không di chuyển, Xuất Ê-díp-tô Ký thì di chuyển ở nửa đầu - nhưng có một mô hình rõ ràng: Khi họ ở một chỗ thì Chúa phán với họ rằng “Các con phải sống thế này.” Khi họ đứng dậy để di chuyển là khi họ gặp rắc rối và bước đi theo đường lối riêng, không theo đường lối Chúa. Nên chúng ta có nhiều điều để học từ tất cả những thứ này.
Trước hết, hãy xét đến phần Lập pháp trong sách Dân số ký. Phần đó kém thú vị hơn nên tôi nghĩ chúng ta sẽ xét trước, sau đó, chúng ta sẽ xét đến phần tường thuật, trong đó có một số câu chuyện hấp dẫn. Hãy xem phần Lập pháp - điều đầu tiên khiến chúng ta ấn tượng với các điều luật trong Dân số ký là chúng không phải là luật đạo đức hay xã hội, hay thứ mà chúng ta gọi là luật tư pháp - hoàn toàn không phải là luật hình sự. Trong Xuất Ê-díp-tô Ký thì có, nhưng ở đây, chúng chủ yếu là luật lễ nghi, luật về thờ phượng. Trong Luật của Môi-se thì tất cả các dạng luật khác nhau được trộn lẫn với nhau. Không giống chúng ta, người ta không phân biệt giữa luật hình sự cho Nhà nước và giáo luật cho hội thánh; họ không có kiểu tư duy đó. Với họ thì toàn bộ đời sống là một thể thống nhất, nên luật đạo đức, luật tư pháp, luật xã hội và luật lễ nghi đều trộn lẫn với nhau. Nhưng chúng ta có xu hướng phân tách đời sống và nói rằng kia là luật hình sự, đây là luật tôn giáo; nhưng họ không làm như vậy - Chúa quan tâm đến mọi mặt của đời sống.
Nên 80 lần Chúa đã phán với Môi-se, Kinh Thánh chép rằng miệng đối miệng, hay mặt đối mặt, một cụm từ rất thân mật. Đức Chúa Trời trực tiếp ban những điều luật này với Môi-se và Môi-se mặt đối mặt với Chúa. Chúng ta đọc thấy khi ông xuống núi, mặt ông rực sáng, phát sáng; vinh quang vẫn phản chiếu trên đó. Ông có cuộc gặp thân mật, mặt đối mặt với Chúa và Chúa cho ông biết mọi điều
về việc xây Đền tạm và toàn bộ phần còn lại. Ngài phán: Giờ đây, Ta sống giữa dân sự. Nhưng có một mối nguy lớn khi Đức Chúa Trời xuống núi để sống trong lều của chính Ngài, giữa trại quân. Nguy hiểm ở chỗ, vì Đức Chúa Trời ở gần với họ quá nên họ dễ coi Ngài là lẽ dĩ nhiên, người ta sẽ trở nên quá quen với Chúa. Khi quá quen với Chúa, họ sẽ đánh mất sự tôn kính và tôn trọng. Đức Chúa Trời ở quá gần họ, họ sẽ không cảm thấy hố sâu ngăn cách giữa tình trạng tội lỗi của họ và sự thánh khiết của Ngài. Tôi nghĩ ở đây có một sứ điệp rất, rất thiết thực mà chúng ta cần lắng nghe. Khi Đức Chúa Trời ở quá gần, chúng ta coi Ngài là lẽ dĩ nhiên - Ngài ở giữa chúng ta, tuyệt! Và chúng ta trở nên quá quen với Ngài, đặc biệt là quên mất sự thánh khiết của Ngài. Chúng ta nghĩ về tình yêu, lòng thương xót, sự nhân từ và tốt lành của Ngài, nhưng chúng ta ngó lơ sự thánh khiết của Ngài - và đó là điều khiến Ngài khác biệt với chúng ta.
Chúa ban toàn bộ phần Lập pháp trong sách Dân số ký, tôi tin là để họ không đánh mất lòng tôn kính Chúa. Tôi sẽ phân điều này thành ba tiêu đề mà chúng ta cần nhớ trong hôm nay: một - Thận trọng, hai - Thanh sạch và ba - Trả giá. Mọi điều luật trong Dân số ký có thể xếp vào một trong ba tiêu đề đó - ấy là khi Chúa ở giữa vòng các bạn, điều đầu tiên bạn cần nhớ là bạn vẫn cần Thận trọng đến gần Ngài, hai là bạn cần Thanh sạch khi bạn đến với Ngài, và ba là sẽ phải Trả giá nếu chính bạn không thánh khiết.




Hãy xét đến ba điều đó trong sách Dân số ký. Đầu tiên, khi đóng trại, họ phải rất, rất thận trọng, đóng trại ở đúng chỗ quanh lều của Ngài. Đây là trình tự mà sách của Môi-se đưa ra; mỗi chi phái có một vị trí được phân định cụ thể liên quan đến lều của Chúa và cửa vào lều Chúa. Nói chung, vị trí quan trọng nhất là ngay trước cửa vào, chi phái quan trọng nhất là Giu-đa và Giu-đa phải luôn thẳng với cửa vào nơi của Chúa. Chính từ chi phái Giu-đa mà sau này Chúa Jêsus đã đến. Như vậy, Giu- đa phải ở đây. Tiếp đó, thứ tự quan trọng của các chi phái luôn theo hướng ngược chiều kim đồng hồ và chúng ta để ý thấy điều này. Nhưng thực ra bốn chi phái quan trọng nhất phải ở bốn góc. Những chi phái khác có giá trị giảm dần theo hướng ngược chiều kim đồng hồ; có thứ tự, có thứ bậc giữa vòng mười hai chi phái và Chúa đã đặt ra thứ bậc này.
Ngài nói rằng bốn chi phái này cần canh gác...họ ở gần lều nhất về bốn mặt, những chi phái ở phía góc cách xa lều hơn, nhưng giữa cả 12 chi phái này và lều của Chúa phải có một hàng rào là người
Lê-vi. Thậm chí giữa vòng người Lê-vi, có ba tiểu chi phái hay gia tộc, và những gia tộc khác nhau phải ở từng vị trí cụ thể. Môi-se, A-rôn và các thầy tế lễ phải canh gác đền thờ, nên lều của họ phải ở đây, và tất nhiên là phải qua hai cửa để vào Nơi Thánh, sau đó là Nơi Chí thánh, nên Chúa được bảo vệ bởi dân Ngài. Thú vị ở chỗ, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra phương thức đóng trại của các đội quân cổ đại - cách Pha-ra-ôn bố trí các đội quân, bộ binh, kỵ binh,... - và đây chính là mô hình trại quân của quân Ai Cập cổ đại mà có thể Môi-se đã được đào tạo rất kỹ, tại trường đại học.
Nhưng như thể Chúa đang nói rằng dân Ta là một đội quân, và trại quân rất cần được bảo vệ cho đúng cách. Khi trại quân di chuyển - rất thú vị và hơi phức tạp, bạn cần đọc việc này trong Dân số ký - nhưng một số chi phái phải đi trước khi mang những phần của đền tạm Chúa, các chi phái khác phải đi...Nhưng kiểu như họ bóc vỏ một quả cam và hành quân theo thứ tự đó, chi phái này đi sau chi phái kia nên khi họ đến trại quân, mỗi chi phái chỉ cần dừng lại và dựng lều lên. Toàn bộ những điều này được trình bày cực kỳ chi tiết - ai phải mang món đồ nào trong đền tạm, ai phải mang những bức màn, họ phải mang theo thứ tự nào, mọi thứ đều rất chi tiết. Tại sao Chúa lại phải cầu kỳ, tỉ mỉ tới vậy? Điều này không chỉ có hiệu quả, như trong mọi tổ chức quân đội - đây là một cách đóng quân rất hiệu quả, nhưng Ngài đang nói rằng hãy Thận trọng. Thái độ cẩu thả không có chỗ trong trại quân của Chúa. Cẩu thả là một điều nguy hiểm. Nếu để tôi nói theo ngôn ngữ hiện đại thì đó là sự tùy tiện; mọi thứ cũ kỹ đều không đẹp lòng Chúa, nhưng chúng ta ngày càng tùy tiện trong nền văn hóa của mình và ngày càng tùy tiện trong cách đến gần Chúa. Ngay cả trong một việc nhỏ như mở đầu sự thờ phượng, việc này có thể trở nên quá tùy tiện đến nỗi gần như bạn bị dạt vào đó mà không biết nó bắt đầu từ khi nào.
Tôi nghĩ trong tất cả những điều này, Chúa đang nói với dân sự Ngài rằng: Hãy cẩn thận đấy; Chúa đang ở trong trại quân ngươi. Bạn cần làm mọi thứ một cách thận trọng, đừng tùy tiện hay cẩu thả và vì vậy, một số tội trong Dân số ký thực ra là tội cẩu thả. Cẩu thả trong ngày Sa-bát đáng tội chết - chỉ là cầu thả thôi - không phải là cố ý phạm tội, nhưng cẩu thả. Họ phải có các tua áo để nhắc nhở mình cầu nguyện, các lời hứa nguyện phải rất nghiêm túc. Nếu ai đã hứa nguyện với Chúa thì người đó phải giữ lời. Bạn có nhớ câu chuyện trong Các quan xét về một người hứa dâng vật sống đầu tiên mà ông gặp khi trở về làm sinh tế cho Chúa - và ông đã gặp con gái mình không? Nhưng đã hứa nguyện với Chúa thì phải rất nghiêm túc. Có một điều kiện rất thú vị về lời hứa nguyện trong Dân số ký. Nếu người vợ hứa nguyện với Chúa thì người chồng có 24 tiếng để đồng ý hoặc phản đối. Tôi nghĩ là điều đó quan trọng, vì nhiều người vợ có chồng chưa tin Chúa. Điều đó rất quan trọng. Thi thoảng lại có người nữ gửi quà cho mục vụ của chúng tôi, nhưng tôi luôn hỏi rằng: “Chị đã hỏi ý kiến chồng chị chưa? Chồng chị có ủng hộ việc này không?” Điều đó rất quan trọng. Như vậy, lời hứa nguyện của vợ phải được chồng thông qua và có 24 tiếng hạ hỏa để người chồng chấp thuận lời hứa nguyện của vợ mình với Chúa hoặc không. Tất cả những điều này đều rất cẩn thận, thận trọng - phải làm mọi việc với Chúa một cách thận trọng.
Điều thứ hai mà tôi rút ra là sự Thanh sạch. Trại quân phải sạch sẽ tinh tươm; họ là dân của Chúa. Ngay cả những việc như xử lý chất thải cũng rất cẩn thận: khi các con đi đại tiện, hãy mang theo một cái thuổng, ra ngoài sa mạc, đào một cái hố rồi lấp chất thải lại. Hãy giữ cho trại quân sạch sẽ cho Chúa. Chúa không chỉ quan tâm đến vệ sinh, Ngài không chỉ làm như vậy để trừ khử mầm bệnh, mà bởi vì Ngài là Đức Chúa Trời thanh sạch và cần giữ cho trại quân được sạch sẽ. Chúng ta có thể hiểu thành: một tòa nhà hội thánh bẩn thỉu, không ai chăm chút là hơi xúc phạm tới Chúa không? Ngài đang dạy họ nghĩ như vậy đó. Nên chất thải của cơ thể được đưa vào luật - dù là loại gì, và trước khi họ rời Si-na-i, trước khi họ đi về phía Đất Hứa, Chúa nhấn mạnh rằng tất cả mọi người đều phải tắm, tất cả phải tắm rửa sạch sẽ.
Chính vì vậy mà trước đây, người ta mặc quần áo sạch vào ngày Chủ nhật. Chúng ta không còn theo luật đó nữa, nên chúng ta không theo luật về quần áo mặc vào Chủ nhật. Tuy nhiên, vẻ ngoài của chúng ta khi thờ phượng tiết lộ tâm trí bên trong của chúng ta; nó nói lên điều gì đó. Bạn có hiểu ý tôi nói không? Tất nhiên, Đức Chúa Trời nhìn vào tấm lòng và chính sự thanh sạch của tấm lòng là điều Ngài đang tìm kiếm. Điều đó quan trọng hơn sự sạch sẽ của thân thể. Nhưng tôi để ý thấy những người thật sự bị Sa-tan khống chế thường rất bẩn. Bạn có bao giờ để ý đến điều đó không? Khi họ cải đạo và thực sự cải đạo, thì thậm chí chẳng cần ai phải bảo, họ cũng bắt đầu tắm rửa sạch sẽ. Đó chỉ là biểu hiện bên ngoài của điều đang diễn ra bên trong. Họ nhận ra rằng sự thanh sạch gần với sự tin kính và tất cả đều ở trong Dân số ký - giữ cho trại quân được sạch sẽ.
Rồi đến Trả giá, hay Tốn kém. Để một người tội lỗi sống gần với Đức Chúa Trời thánh khiết thì phải trả giá rất đắt, và sự tốn kém này được thể hiện trong những tế lễ hy sinh, và thay mặt dân sự, tế lễ phải dâng hằng ngày, hằng tuần, và hằng tháng. Có tế lễ hằng ngày - ở đây, tại hành lang ngoài, trên bàn thờ; có tế lễ hằng tuần và một tế lễ đặc biệt hằng tháng để lúc nào người ta cũng biết rằng mình phải mất đi các con vật và chúng được dâng làm sinh tế cho Chúa - rằng điều đó rất tốn kém. Không đổ huyết thì không có sự tha thứ, Đức Chúa Trời phán. Sự tha thứ rất đắt giá. Cảm tạ Chúa vì chúng ta không phải trả giá gì vì Ngài đã trả mọi thứ rồi, nhưng nếu chúng ta vẫn sống trong thời này thì việc đó khá tốn kém. Thường là những con vật đẹp nhất, rồi phải hỗ trợ chức tế lễ. Các thầy tế lễ không hề có kế sinh nhai; các thầy tế lễ và người Lê-vi quanh đây được các chi phái này cấp dưỡng. Các chi phái phải chi trả cho họ để bảo vệ đền tạm của Chúa, nên đó là một việc rất tốn kém, cần dâng một phần mười, các tế lễ và sinh tế. Khá tốn kém khi có Chúa sống giữa vòng dân sự.
Tất cả những điều này đang nói lên một điều khá sâu sắc với chúng ta. Từ phần Lập pháp của Dân số ký, tôi nhận ra điều này. Chúng ta lớn lên trong một thời đại mà tôi có thể nói là chống lại các lễ nghi, ngày càng tùy tiện và cẩu thả khi đến gần Chúa, và sách Dân số ký nhắc nhở chúng ta rằng điều đó không ổn, rằng chúng ta cần đến gần Chúa sao cho đúng đắn. Để tôi lấy một ví dụ. Tôi không phải mang một con cừu đực hay thậm chí một con chim câu để làm của lễ khi đến với Chúa, nhưng như vậy không nghĩa là tôi không phải mang của lễ. Tân Ước cũng có nhiều của lễ tế giống Cựu Ước và tôi đang không nói đến thập tự giá. Tân Ước chép rằng hãy dâng của lễ ngợi khen, dâng của lễ tạ ơn. Những điều này là của lễ theo nghĩa nào? Chúng tốn của bạn bao nhiêu? Bạn có nghe điều tôi đang nói không? Của lễ được chuẩn bị cho sự thờ phượng.
Giờ đây chúng ta không phải chuẩn bị một con chiên, nhưng chúng ta vẫn cần chuẩn bị sự ngợi khen. Đôi khi tôi rất quan ngại khi có người nói rằng “Tôi không có thời gian để chuẩn bị nên chúng ta sẽ để Đức Thánh Linh dẫn dắt chúng ta.” Và kết quả thường không tương ứng với Đức Thánh Linh. Chúng ta rơi vào “chủ nghĩa nghi thức” khi không có cách tiếp cận đúng đắn. Tôi không tin là không nên chuẩn bị gì cả trước khi thờ phượng, tôi cũng không tin là một người nên chuẩn bị hết, nhưng tôi tin rằng mọi người nên chuẩn bị cho việc thờ phượng. Hy vọng là sáng mai, cậu Max dẫn ca đoàn sẽ bối rối vì nhiều người trong các bạn muốn chuẩn bị chút của lễ ngợi khen và cảm tạ - đọc một điều gì đó, hát một bài nào đó. Tân Ước chép tằng “Khi anh em nhóm lại, người thì có bài thánh ca, người thì có lời dạy dỗ, người thì có sự mặc khải, người thì có tiếng lạ, người thì có sự thông dịch tiếng lạ” - mỗi người đều có. Không phải là mỗi người có thể có nếu chúng ta chờ đợi, nhưng là mỗi người đều mang đến điều gì đó.
Hãy chuẩn bị một của lễ và vào hành lang Chúa - đó là điều Dân số ký muốn nói. Khi bạn đến với sự thờ phượng, hãy chuẩn bị cho sự thờ phượng. Chúng ta thường mất hai mươi phút để bước vào sự thờ phượng vì chúng ta thậm chí không chuẩn bị gì cả. Sự chuẩn bị có cái giá của nó - bạn phải dành ra chút thời gian, suy nghĩ một chút, nhưng để thờ phượng Chúa theo cách mà Ngài muốn thì chúng ta phải trả giá. Chúng ta đang ở trong tình trạng mà tôi tin rằng chúng ta muốn thờ phượng Chúa theo thị hiếu của chúng ta chứ không theo điều đẹp lòng Ngài - “tôi thích thế này,” “tôi thích hợp xướng hơn,” “tôi thích thánh ca cổ hơn.” Cả hai điều đó đều không quan trọng, quan trọng là Chúa muốn gì? Điều gì khiến Ngài đẹp lòng? Không quan trọng là tôi cảm thấy thế nào khi thờ phượng; quan trọng là Chúa có thấy ổn không, tôi có chúc tụng Ngài không. “Hỡi linh hồn ta, hãy chúc tụng Đức Giê-hô- va.”
Vậy nên Ngài mới bảo họ trong Dân số ký rằng các ngươi phải chúc tụng Ta thế này, các ngươi phải thờ phượng Ta thế kia - hãy Thận trọng, hãy Thanh sạch và sẽ phải Trả giá; nhưng Ta là Đức Chúa Trời thánh khiết sống giữa vòng dân sự và các ngươi phải làm như vậy. Khi chúng ta đến với Chúa như vậy thì sự thờ phượng của chúng ta sẽ trở nên một lễ vật tỏa ngát hương thơm theo lời Tân Ước, một mùi hương thơm dâng lên Chúa. Thời xưa Chúa ưa mùi thịt cừu nướng. Tôi cũng vậy - nhưng đó là một mùi hương ngọt ngào với Ngài và của lễ ngợi khen của chúng ta có thể làm Chúa đẹp lòng. Thư gửi cho người Hê-bơ-rơ chép rằng “Nên ta hãy ghi ơn và lấy lòng kính sợ, tôn kính mà thờ phượng Chúa vì Đức Chúa Trời chúng ta là ngọn lửa thiêu đốt.” Chắc bạn nghĩ câu đó ở trong Cựu Ước. Không đâu, đó là một câu trong Tân Ước - hãy lấy lòng kính sợ, tôn kính mà thờ phượng Chúa. Chúng ta có thể nhảy để thờ phượng, tập thể dục nhịp điệu để thờ phượng, thờ phượng theo nhiều kiểu, nhưng quan trọng là Chúa muốn chúng ta thờ phượng Ngài như thế nào. Có một điều Ngài nói rất rõ, ấy là Ngài muốn chúng ta chuẩn bị trước khi thờ phượng Ngài - không chỉ đến cho có mặt, mà là đến, sẵn sàng dâng Ngài của lễ ngợi khen và cảm tạ. Sáng mai chúng ta sẽ có cơ hội để làm điều đó, được chứ? Rồi, trong bài nói chuyện tiếp theo, chúng ta sẽ nói về phần tường thuật trong sách Dân số ký.
DÂN SỐ KÝ - Phần 2
Đồng vắng là chốn thử thách; thế nên Chúa Jêsus mới được đưa vào Đồng vắng trong sáu tuần,
bị thử thách; và đó là một thử thách thật sự dưới những điều kiện rất khắc nghiệt. Bạn chưa ở trong Đất Hứa, bạn đã ra khỏi Ai Cập nhưng vẫn ở ngay giữa. Giống như đính hôn là thời gian thử thách, bạn đang đứng giữa sự tự do và hôn nhân. Đó là thời gian thử thách vì không phải cái này, cũng chẳng phải cái kia. Cũng vậy, Đồng vắng là một thời gian thử thách thật sự và than ôi, Y-sơ-ra-ên đã không vượt qua được. Hãy nhớ rằng sau Si-na-i - hãy quay lại bản đồ - sau Si-na-i, họ ở trong một mối quan hệ khác với Chúa so với lúc ở đây. Sau Si-na-i, họ đã phạm phải những tội lỗi giống như trước đây. Cái khác là ở chỗ, giờ đây đã có những hình phạt, những sự trừng phạt gắn với những tội lỗi đó vì sau Si-na-i, họ ở trong mối quan hệ giao ước - giờ đây họ đã kết hôn với Chúa. Đây là nơi hai bên tìm hiểu nhau, nhưng giờ đây họ đã kết hôn, nên lúc này Chúa phải nghiêm khắc với họ hơn so với trước khi ở Si-na-i vì họ đã tự hứa sẽ làm điều Ngài phán bảo. Nên họ sẽ được phước nếu họ vâng lời, nếu không họ sẽ bị rủa sả; họ biết điều đó. Chúa phán với họ rằng: Từ nay trở đi, Ta sẽ chúc phước khi các con làm đúng, nhưng Ta sẽ rủa sả khi các con làm sai; các con có chấp nhận hai điều kiện đó không? Họ nói: Có ạ, chúng con sẽ làm điều đúng đắn - tuy nhiên, nói sẽ làm điều đúng đắn là một chuyện, giữ lời lại là chuyện khác.

Như vậy, thực chất là Chúa đã ràng buộc chính Ngài với họ theo hai mặt. Ngài phải chúc phước hoặc rủa sả họ theo cách mà trước đó Ngài không phải làm; Ngài buộc phải giữ lời hứa và lời thề của Ngài. Nên giờ đây chúng ta có thể thấy cả mục đích và sự hạn chế của Luật pháp mà Chúa ban cho họ. Mục đích là để họ thấy điều gì là đúng đắn; hạn chế ở chỗ họ không thể thực hiện được và Luật pháp không thể giúp họ thực hiện được chúng. Luật pháp không giúp bạn sống đúng đắn. Nó cho bạn biết thế nào là sống đúng, thế nào là sai, nhưng nó không thể giúp bạn. Luật pháp không làm được điều đó, thế nên Luật pháp được ban ra vào ngày Ngũ tuần là không đủ, sau này cần có Thánh Linh được ban ra trong chính ngày đó, vì nếu không có sự giúp đỡ siêu nhiên thì chúng ta sẽ không bao giờ giữ được Luật pháp. Nhưng họ nghĩ là họ giữ được và họ hứa rằng họ sẽ giữ luật.
Trước hết, chúng ta sẽ xét đến các lãnh đạo của dân tộc này và xem họ đã thất bại ra sao. Các lãnh đạo của dân này đều xuất thân từ cùng một gia đình - hai cậu em và một cô chị; thật hay là Chúa chỉ dùng một gia đình để dẫn dắt dân tộc mới này, quốc gia mới này - ấy là Môi-se, A-rôn và Mi-ri-am, hai cậu em và một cô chị. Kinh Thánh cho chúng ta biết những điểm tốt, những điểm mạnh trong tính cách họ. Thực ra Môi-se đã viết về chính mình và viết rằng Môi-se là người khiêm hòa hơn hết mọi người trên thế gian. Phải thế nào đó mới nói được như vậy về chính mình. Bạn cứ thử bảo những người khác rằng bạn là người khiêm tốn nhất trong văn phòng hay nhà máy mà xem. Thực ra Môi-se nói được vì đúng là ông rất khiêm nhường.
Chúa Jêsus cũng nói được như vậy, Ngài nói “Hãy học theo Ta vì Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường.” Hầu hết chúng ta đều không thể nói như vậy mà không biết ngượng mồm, nhưng Môi-se nói được, Chúa Jêsus nói được. Ông là một người nhu mì. Nói vậy nghĩa là ông không bao giờ cố biện hộ cho bản thân. Một trong những điều đáng mến nhất ở Môi-se là khi bị chỉ trích hay bị đối xử tệ bạc, khi bị phản bội, ông không bao giờ cố biện hộ cho bản thân. Ông để Chúa biện hộ cho mình - đó là một bài học. Nhu mì là vậy đó; ấy không phải là sự yếu đuối mà là không cố biện hộ cho bản thân. Ông vừa là tiên tri, vừa là thầy tế lễ, và có thể được coi là một vị vua; ông kết hợp cả ba chức năng đó nên người ta không lấy ba điều đó để gọi ông.
Rõ ràng Môi-se là một tiên tri và Kinh Thánh gọi ông như vậy, ông truyền đạt nhiều lời từ Chúa, nhưng khi ông cầu nguyện cho dân sự, ông đang đóng vai trò là một thầy tế lễ, và khi ông dẫn dắt họ, rõ ràng là ông đóng vai trò là một vị vua, trong chiến trận. Người ta không gọi ông là vua, nhưng tôi tin rằng ông kết hợp cả ba chức năng đó. A-rôn chỉ kết hợp hai chức năng; A-rôn vừa là tiên tri cho Môi-se và là thầy tế lễ, và chức tế lễ theo A-rôn trở thành trọng tâm của sự thờ phượng và nghi lễ của dân Chúa thời xưa. Mi-ri-am là một nữ tiên tri.
Như vậy, chúng ta có Môi-se là tiên tri, thầy tế lễ và là vua, A-rôn là tiên tri và thầy tế lễ, còn Mi- ri-am là nữ tiên tri. Sự phân bổ các ân tứ rất thú vị; và hãy để ý rằng tiên tri là một chức vụ dành cho cả nữ lẫn nam - trong Tân Ước cũng như Cựu Ước - bốn cô con gái của Phi-líp. Ân tứ tiên tri đặc biệt của Mi-ri-am được bộc lộ qua bài hát. Có mối liên hệ mật thiết giữa việc tiên tri và âm nhạc. Thú vị ở chỗ, khi Đa-vít chọn những người đặc trách ca đoàn, ông luôn chọn một vị tiên tri làm người đặc trách ca đoàn, hay ông gọi đó là nhà tiên kiến, một người có thể thấy điều Chúa đang làm. Có một mối liên hệ mật thiết. Ê-li-sê từng nói rằng hãy chơi nhạc và ta sẽ nói tiên tri cho ngươi, tôi có thể hiểu điều đó. Âm nhạc - nhưng phải đúng loại - có điều gì đó khai phóng thần tiên tri và điều này đúng với Mi-ri-am.
Vậy cả ba người họ đã sai như thế nào? Tôi sẽ nói theo thứ tự ngược lại nhé! Mi-ri-am sai vì bà ghen tị. Bà muốn giành lấy sự tôn trọng về mình và đó cũng là kết cục của em trai bà, A-rôn. Cả Mi- ri-am và A-rôn đều ghen tị với Môi-se. Đâu có dễ dàng gì, trong một gia đình mà cậu em lại có vị trí quan trọng hơn. Họ đã ở những vị trí quan trọng, họ thuộc đội ngũ lãnh đạo, nhưng họ trở nên ghen tị và Mi-ri-am bị phạt mắc bệnh phong hủi; có thể đó không phải là bệnh mà sau này chúng ta gọi là Bệnh Hansen, có thể đó là vảy nến hoặc một loại bệnh ngoài da nào đó, nhưng rõ ràng là một bệnh không thể chữa khỏi. Mi-ri-am đã mắc bệnh đó trong bảy ngày cho tới khi bà ăn năn. Nhưng thực ra bà đã qua đời ở Ca-đe; bà không đi thêm được nữa và qua đời tại đó.
Vậy là Mi-ri-am không còn nữa. Người thứ hai không còn trong vị trí lãnh đạo là A-rôn và lại một lần nữa, ông vướng phải sự ghen tị, muốn giành lấy sự tôn trọng. Thực ra là ông hiệp với Mi-ri-am
để chỉ trích Môi-se và tất nhiên, sự ghen tị luôn vin vào một cái cớ hoặc một lý lẽ hiển nhiên để gây rắc rối. Cả hai đã vin vào việc Môi-se đã cưới một người mà họ không chấp thuận. Ông đã cưới một người nữ Cút hay Ê-thi-ô-pi, người này đã ra khỏi Ai Cập với họ và thậm chí không phải là người Hê-bơ-rơ. Chúa không chỉ trích ông vì việc đó, nhưng Mi-ri-am và A-rôn thì có. Đó chỉ là cái cớ. Suy cho cùng thì họ chống đối Môi-se và đây là một cái cớ để chí trích ông và nói rằng lẽ ra mày không nên làm như vậy; một người lãnh đạo phải nêu gương, phải cưới một người Hê-bơ-rơ chứ! Rồi A-rôn cũng qua đời. Ông qua đời tại núi Hô-rơ, chỉ sau Ca-đe một đoạn, như vậy là không lâu sau khi bộc lộ sự ghen tị và muốn giành lấy sự tôn trọng về mình, cả hai đều qua đời. A-rôn được hơn 100 tuổi khi ông qua đời, vậy là chỉ còn Môi-se. Than ôi, chính Môi-se cũng thất bại. Ông trở nên mất kiên nhẫn với dân sự; ai nỡ trách ông đây?
Tân Ước chép rằng ông đã chịu đựng dân sự suốt 40 năm trong Đồng vắng và đúng là như vậy. Thật là vất vả, hai triệu người luôn lằm bằm, phàn nàn và có những tranh cãi cần được giải quyết, ông phải khuyên giải họ. Ông phát chán với dân sự, thế nên ông mới mất kiên nhẫn với họ. Lãnh đạo mà mất kiên nhẫn với những người theo mình thì thể nào cũng gặp rắc rối. Rồi cũng đến lúc ông phạm phải sai lầm nghiêm trọng, ông đã cấp nước cho họ bằng cách đập cây gậy vào tảng đá; đá vôi của Sa mạc Si-na-i có đặc tính rất đặc biệt: chúng giữ những bể chứa nước trong mình, có lượng nước dự trữ rất lớn trong Sa mạc Si-na-i, nhưng bao quanh nước thường là đá, và nước ở trong đá. Môi-se mở những bể chứa nước đó cho họ chỉ bằng việc chạm cây gậy vào tảng đá. Nhưng đến lần thứ hai, khi họ thiếu nước và Chúa phán với Môi-se: Môi-se, lần này con đừng đập vào tảng đá, chỉ cần nói với nó; một lời nói sẽ khơi nước từ trong đá; chỉ cần nói với nó thôi. Nhưng Môi-se quá mất kiên nhẫn với dân sự tới nỗi ông không cẩn thận lắng nghe Chúa, mà lại nói: “Đây, các người muốn có nước à?” Ông đập vào tảng đá hai lần. Chúa phán: “Sao con không làm theo cách Ta phán bảo? Vì việc này mà Môi-se ạ, con sẽ không thấy Đất Hứa.” Có vẻ như hình phạt này khá nặng đúng không?
Nhưng điều này rất quan trọng, vì nếu người lãnh đạo không cẩn thận lắng nghe Chúa và làm theo cách Chúa muốn thì hãy nghĩ xem điều gì sẽ xảy ra với dân sự? Chỉ vì nổi giận với dân sự và mất kiên nhẫn với họ mà ông mất bình tĩnh, không nghe điều Chúa phán; chính vì vậy mà Chúa phán với Môi-se rằng: Con sẽ không thấy Đất Hứa - con sẽ thấy nó nhưng sẽ không được vào đó. Kinh Thánh chẳng phải là rất chân thực đó sao? Đây là ba người lãnh đạo của dân sự, hai cậu em và một cô chị, và Kinh Thánh cho bạn biết rằng cả ba đều thất bại trong sách Dân số ký. Chúng ta cần rút ra bài học từ điều này. Những người lãnh đạo cần rút ra bài học từ điều này - dẫn dắt dân sự Chúa là một trách nhiệm lớn lao: Hãy làm cho đúng và hãy làm theo đường lối Chúa.
Có những người khiến Chúa thất vọng trong sách Dân số ký. Đáng chú ý nhất là một người tên Cô-rê, và trong chương 16, 17, chúng ta thấy Cô-rê cầm đầu một cuộc nổi loạn. Ông ta tức giận vì chỉ A-rôn và gia đình có quyền giữ chức tế lễ: Tại sao những người khác lại không làm thầy tế lễ được? Sao lại cứ phải là A-rôn? Ông ta chất vấn chức tế lễ của A-rôn. Thật thú vị là ngay sau khi ông ta làm vậy thì những người khác cũng bắt đầu làm vậy.
Rất lạ là theo bản năng và bằng một cách nào đó, một người bất bình có thể tìm được những người khác cùng chí hướng, bạn đã bao giờ để ý thấy như vậy chưa? Nó xảy ra trong các hội thánh, chúng ta phải nói điều này. Nó xảy ra với những người mới tin Chúa - một người bất bình có thể nhanh chóng tập hợp một số người khác. Gần như là theo bản năng, họ biết mình phải đến với ai, phàn nàn với ai. Như vậy, họ nhanh chóng tập hợp được 250 người, tất cả đều thách thức thẩm quyền của Môi- se và chức tế lễ độc quyền của A-rôn. “Chúng tôi không chọn các người, chúng tôi không lập các
người” - nhưng Chúa thì có. Như vậy là họ đối đầu với những người lãnh đạo, nói cách khác, họ đang nói rằng, mà đúng là họ đã nói vậy, rằng Môi-se và A-rôn là những người lãnh đạo tự nhấc mình lên. Họ đã tự chọn lấy cho mình bổn phận này.
Những người đó không tin rằng Chúa đã chọn Môi-se và A-rôn, họ còn nói rằng hai người này không thể đưa họ vào Đất Hứa. Nghe mỉa mai nhỉ! “Họ không đưa được chúng ta vào Đất Hứa, lại còn khư khư giữ chức tế lễ.” Môi-se nói: Được rồi, chúng ta sẽ thử điều này, xem Chúa chọn ai cho những vị trí đó. Ông nói: Bây giờ, Cô-rê và những người theo ngươi hãy cầm một nhành cây trong hoang mạc và A-rôn, anh hãy cầm lấy một cây. Họ đặt những cây gậy này trong nơi thánh trước mặt Đức Giê-hô-va suốt đêm, sáng ra, một cây trong số đó đâm chồi và trổ hoa, còn những cây khác đều chết. Chính cây gậy của A-rôn đã đâm chồi. Từ đó trở đi, họ đã đặt cây gậy của A-rôn trong Hòm Chứng ước và để nguyên trong đó. Đó là bằng chứng từ Chúa rằng A-rôn là do Ngài chọn; không phải một người lãnh đạo tự xưng. Nếu đọc Thi Thiên thì bạn sẽ thấy nhiều Thi Thiên được viết bởi con cháu Cô-rê; bạn đã bao giờ để ý đến điều đó chưa? Gia đình của người này không theo gót ông, sau này con cháu ông trở thành những người ca hát trong đền thờ, con cháu ông ta được cứu còn ông ta thì không. Cô-rê được nhắc đến ở sách Giu-đe trong Tân Ước như một sự cảnh báo với Cơ Đốc nhân - đừng nghi ngờ những người Chúa lập nên và đừng ghen tị.
Còn toàn thể dân sự thì sao? Toàn thể dân sự cũng thất bại. Tôi đã nói đến việc những người lãnh đạo thất bại, một số người thất bại, nhưng chao ôi, giờ tôi phải bảo bạn rằng sách Dân số ký nói rằng toàn thể dân sự đều thất bại, trừ hai người - hai trong số hai triệu, không nhiều lắm nhỉ! Rồi, có ba thất bại chính của dân sự, nhưng có một thất bại chung liên tục nổi lên. Nhưng có ba thất bại cụ thể. Hãy xét đến thất bại chung trước. Vấn đề chung của dân sự là lằm bằm - chỉ vậy thôi. Vậy lằm bằm có gì sai? Nhiều là đằng khác! Có người từng bảo tôi rằng: “Nếu anh lằm bằm về thời tiết thì anh đang phàn nàn về cách Chúa vận hành vũ trụ đấy.”
Bạn đã bao giờ nghĩ thế chưa? Người khác nói rằng lằm bằm không cần có tài, lằm bằm không cần đến não, lằm bằm không cần đến cá tính, để lằm bằm cũng không cần tiết chế. Đúng là một khẳng định hay nhỉ! Đó là một trong những điều dễ làm nhất trên đời và chúng ta thấy rằng đây là thất bại chính của dân này. Họ lằm bằm trong trại mình và tưởng rằng không ai nghe được, nhưng có người nghe được, và Kinh Thánh chép rằng Chúa nghe thấy điều đó, Đức Giê-hô-va nghe thấy điều đó. Vì tuy Ngài đang sống trong Lều Tạm nhưng Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi, và Ngài nghe thấy những câu chuyện trong các trại. Họ nghĩ vì Ngài ở trong Lều Tạm nên Ngài không biết họ nói gì khi về trại mình - đúng là nhầm to! Họ lằm bằm vì thiếu nước, họ lằm bằm vì ăn rặt một loại đồ ăn.
Kinh Thánh chép rằng họ lằm bằm vì không được ăn tỏi, hành, cá, dưa chuột, dưa gang và củ kiệu - đó là những thứ họ nhớ nhất. Có lần tôi phỏng vấn một giáo sĩ và hỏi là ở Nam Mỹ thì chị nhớ thứ gì nhất? Cô ấy nói là nhớ sốt Marmite của Anh - rất thành thật. Họ đã lằm bằm vì họ chỉ ăn mỗi “Cái gì vậy.” “Cái gì vậy?” Sáng, trưa, tối. “Cái gì vậy.” Họ nhớ tất cả những điều đó; họ lằm bằm và phàn nàn. Không thỏa lòng - đó có lẽ là điều hủy hoại dân Chúa hơn bất cứ tội nào khác. Bạn có tin không? Ấy thế mà đây không phải là tội mà hội thánh thường xuyên kỷ luật dân sự. Chúa nghe thấy họ và Chúa phán: các ngươi đã thử ta mười lần, nên có ít nhất mười dịp mà lằm bằm làm nên chuyện.
Nhưng có ba khủng hoảng khác khiến họ lầm lạc. Đầu tiên là ở ốc đảo Ca-đe và đây thật sự là lần tệ nhất. Nó vẫn còn đến ngày nay, cách Biển Chết 106 cây số về phía tây nam và đó là ốc đảo tươi đẹp nhất. Sau đó là một đoạn sa mạc nữa, rồi đến Đất Hứa. Khi họ đến ốc đảo cuối cùng trong Sa mạc
Nê-ghép, họ sai 12 thám tử, mỗi chi phái một người, đi do thám xứ và trở về, thuật lại cho họ xem xứ đó ra sao. Họ đã đi trong 40 ngày, một số người đi về phía nam quanh Hếp-rôn, nhưng nhiều người đi về phía bắc và thấy rằng đó là một xứ rất màu mỡ. Thực ra, họ đã quay lại...
Đây là một minh họa tuyệt vời, bức ảnh này được chụp ở Y-sơ-ra- ên tại một xứ đượm rượu. Đượm rượu - nhìn có giống đượm rượu không? Họ trở lại với những chùm nho như vậy từ Đất Hứa, nhưng họ nói rằng xứ này không thể chiếm nổi - đó là một xứ đẹp đẽ, đúng như lời Chúa hứa, nhưng chúng ta sẽ không bao giờ chiếm được nó. Xứ đó sẽ ăn nuốt dân ta - chúng ta sẽ không ăn nuốt chỗ nho đó đâu; chúng ta sẽ bị ăn nuốt đấy! Hai thám tử nói rằng: Đức Chúa Trời ở với chúng ta; Ngài không đưa chúng ta đến tận đây rồi bỏ chúng ta trong hoang mạc; chúng ta sẽ cùng vào với Chúa! Nhưng mười người khác nói: Không, thật là một sai lầm khủng khiếp; lẽ ra chúng ta không nên rời Ai Cập. 
Thực chất là đám đông muốn ném đá Môi-se và A-rôn vì đã đưa họ đến tận đây. Hãy nhớ rằng lúc này họ mới rời Ai Cập được ba tháng, thế mà họ đã định giết Môi-se và A-rôn vì đã giải phóng họ khỏi ách nô lệ - thật trớ trêu! Giô-suê và Ca-lép thừa nhận rằng xứ đó có thành trì kiên cố và dân trong xứ cao lớn hơn họ nhiều - đó là lập luận của họ; ở đó có những người khổng lồ. Nhìn chung thì những nô lệ người Hê-bơ-rơ khá nhỏ con. Chúng ta biết điều này nhờ những bức phù điêu cổ, họ xuất hiện trong đó. So với những dân khác, họ không cao lớn còn dân Ca-na-an rất cao lớn, nhưng hơn thế nữa, họ kể rằng dân Ca-na-an xây những bức tường quanh các thành của họ. Một trong những điều thú vị nhất là sau đó Giô-suê, Ca-lép và Môi-se nói với dân sự rằng: “Chúa sẽ mang anh em trên vai Ngài.”
Tôi nhớ khi còn là một cậu bé, tôi được bố vác trên vai và khi ở trên vai ông, tôi là người khổng lồ, tôi cao lớn hơn mọi người khác và tôi có thể nhìn qua những bức tường cao bao quanh các khu vườn. Môi-se đang nói rằng Chúa sẽ vác anh em trên vai mình, anh em sẽ làm người khổng lồ và anh em sẽ nhìn qua những bức tường kiên cố đó, nhưng họ không tin. Họ đặt niềm tin vào những gì con người thấy và những gì con người nói, họ rất dân chủ - họ chấp nhận nhận định của số đông. Dân chủ không phải là cách Chúa thường hành động; số đông có thể sai thậm tệ, nhưng vì tỉ lệ là 10/2 nên họ đã tin số đông và thuyết chủ bại thắng thế.
Thật thú vị khi so sánh những gì mười người nói và những gì hai người nói. Mười người nói rằng: “Chúng ta không thể chiếm xứ,” hai người nói: “Chúa có thể chiếm xứ,” rất thú vị, chúng ta không thể, Chúa có thể. Hai điều đó không hề mâu thuẫn với nhau nhưng vấn đề là cái gì chiếm hữu tâm trí bạn. Còn nữa, con dân Y-sơ-ra-ên nói với Môi-se là “xứ mà ông sai chúng tôi vào”; trong khi Môi-se nói là “xứ mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta” - một lần nữa, cách nói của họ lại hoàn toàn khác nhau. Cách người ta nói thể hiện rằng họ có đức tin hay không. Tôi nhớ có lần, vào một giai đoạn, tại một hội thánh, trong cuộc họp các trưởng lão, chúng tôi cấm dùng từ “vấn đề” hay “khó khăn” và luôn thay từ “cơ hội” vào những chỗ đó. Thật thú vị khi thấy sự khác biệt; bạn thấy đó, khi có ai đề xuất điều gì, “Tôi thấy điều đó có...cơ hội.”
Và điều đó thay đổi tư duy của chúng tôi, đổi từ khó khăn thành từ cơ hội. Không phải là tôi ủng hộ cho sức mạnh của tư duy tích cực, nhưng cách nói của chúng ta thể hiện rằng chúng ta có đức tin hay không. Có người luôn nói rằng: “Ồ, tôi thấy điều đó có vấn đề” hoặc “Tôi thấy điều đó khó thực
hiện.” Hoặc có một số thành viên trong hội thánh - họ luôn có hai lý do để không làm điều gì đó mới mẻ: Chúng tôi chưa bao giờ làm như vậy, hoặc chúng tôi làm rồi nhưng không thành công. Từ đó mà sự sút kém có thể len lỏi vào.
Đây lại là sự lằm bằm, phàn nàn, cách nhìn tiêu cực, chủ nghĩa bi quan. Môi-se cầu thay cho họ, nhưng Chúa đã thề rằng không một ai trong thế hệ này vào được xứ đó. Chúa mà đã thề thì gay rồi. Bạn có biết Ngài nói gì không? Ngài nói: “Ta chỉ Chúa mà thề rằng các ngươi sẽ không được vào xứ đó, chỉ có điều Ngài không nói “Chúa,” Ngài nói là “Ta chỉ chính Ta” vì Ngài không thể thể lấy thứ gì cao hơn Ngài mà thề, nên Ngài chỉ chính mình. Nhiều lần Chúa chỉ chính mình mà thề, thực ra, Ngài đang nói rằng “Ta chỉ Chúa mà thề rằng giờ đây các ngươi sẽ không được vào xứ đó. Ta chỉ chính mình mà thề rằng: Các ngươi sẽ chẳng hề bước vào sự an nghỉ của Ta.”
Chúng ta cần coi trọng lời thề hứa của Chúa. Họ đã do thám xứ trong bốn mươi ngày, nên Chúa nói rằng mỗi một ngày các ngươi do thám xứ và kết luận sai là một năm các ngươi phải ở trong Đồng vắng. Ấy là hình phạt tương xứng với tội lỗi trong mắt Chúa. Sự kiện đó trở thành điểm mấu chốt của Dân số ký. Đó mới chỉ là một phần ba chặng đường, và lẽ ra phần còn lại không cần phải viết ra, nhưng phần còn lại đã nói về chuyến hành trình không hồi kết cho đến khi mọi người nam đều chết. Đó là khủng hoảng lớn đầu tiên, cũng là lần tệ nhất, đồng nghĩa với 40 năm lãng phí thời gian, chẳng đâu vào đâu của cả một thế hệ - thật buồn phải không?
Khủng hoảng tiếp theo xảy đến khi họ quay trở lại thung lũng sâu này. Đây là vết nứt lớn trên bề mặt trái đất - có Biển Ga-li-lê rồi đến Biển chết, rồi đáy thung lũng nhô lên một chút rồi lại đi xuống, và vết nứt chạy thẳng qua Biển Đỏ, thẳng qua Ethiopia, thẳng đến Thung lũng tách giãn Lớn tại Kenya và thẳng qua Châu Phi. Đó là vết nứt lớn nhất trên bề mặt thế giới và phần thấp nhất của nó là Biển Đỏ. Tại đó, bạn có thể bay dưới mực nước biển và lấy được bằng phi công. Nó ở khoảng 500 mét dưới Địa Trung Hải; một vết nứt sâu, rất sâu.
Họ đi xuống thung lũng này - nó được gọi là A-ra-ba, đây, A-ra-ba; và họ đi xuống đây, xuống một thung lũng dốc gọi là Thung lũng Bọ cạp. Thung lũng này nổi tiếng vì có nhiều rắn và bọ cạp. Một lần nữa, họ lại lằm bằm và Chúa trừng phạt họ bằng cách sai rắn đến. Bỗng nhiên họ chết vì bị rắn cắn trong Thung lũng Bọ cạp này. Ngày nay bạn vẫn có thể đến thung lũng ấy; một nơi khủng khiếp - khô cằn, tối tăm và đầy rắn rết. Như vậy là họ bị rắn cắn. Chỉ khi số người chết tăng lên quá nhiều, cảm tưởng như tất cả đều chết hết, họ mới kêu cầu Chúa, họ xưng nhận tội lằm bằm của mình, họ ăn năn và họ nài xin Chúa ngăn lũ rắn lại. Thực ra thì Ngài không ngăn chúng lại. Ngài bày cách chữa vết rắn cắn.
Rất thú vị: Ngài không trừ khử lũ rắn mà Ngài bày cho họ cách chữa. Ngài phán: Môi-se hãy treo một con rắn bằng đồng thau, đúng hơn là bằng đồng lên một cây sào, đặt trên đỉnh núi nhìn xuống thung lũng. Khi có người bị rắn cắn, nếu họ nhìn vào con rắn bằng đồng trên cây sào thì họ sẽ không chết. Đó là thuốc giải độc của Ta. Nó có tác dụng. Điều đó nói lên rằng các ngươi vẫn đang gặp nguy hiểm, nhưng các ngươi phải làm gì đó để thoát khỏi nó. Các ngươi phải phản ứng lại và tất nhiên, cần có đức tin để làm như vậy. Họ phải tin vào việc đó, rằng nó sẽ có tác dụng. Họ có thể nói rằng: Ôi giời, vớ vẩn, thế thì làm sao chữa được rắn cắn. Nếu họ nói vậy thì họ sẽ chết. Kinh Thánh chép rằng ai nhìn vào - hướng mắt vào con rắn bằng đồng đó. Từ đó trở đi, có một tập tục mê tín dị đoan về việc đeo trang sức bằng đồng. Người ta cho rằng điều đó sẽ chữa được mọi thứ; vòng tay rồi những thứ bằng đồng, toàn là mê tín. Họ phải nhìn và Kinh Thánh chép rằng khi nhìn con rắn, họ được sống. Chúng ta sẽ xét tới điều đó sau.
Khủng hoảng thứ ba xảy ra khi họ đến đồng bằng Mô-áp; đây là khủng hoảng cuối. Họ đã thắng một số trận trên đường đi; họ đã thắng Ê-đôm và Mô-áp. Họ đang thắng thế, và họ đóng trại tại nơi nhìn xuống Giô-đanh, nhìn sang Đất Hứa - tôi có một bức ảnh, nhưng chắc tôi sẽ cho bạn xem sau. Nhưng lúc này, họ sắp phải chịu một thất bại lớn. Việc xảy ra như sau: Những người này sống ở bên này, Am-môn - Chắc là bạn đã nghe rằng thủ đô của Jordan là Amman, đó là cùng một từ. Dân Mô- áp hiệp lại với nhau và nói: Chúng ta không thể để những người Y-sơ-ra-ên vào đây được; đừng để họ cướp đất của chúng ta - thực ra là rất giống với hoàn cảnh ngày nay - chúng ta không muốn họ lảng vảng quanh đây.
Vậy là họ thuê một thầy bói người Si-ri, một người từ mãi trên Đa-mách. Thực ra là trước đó ông ta sống trên Sông Ơ-phơ-rát, nhưng ông ta đang sống tại Si-ri và là một thuật sĩ, một người xem bói, một con lừa, mà ông ta cũng có một con lừa thật, tên ông ta là Ba-la-am. Đây là lúc Ba-la-am bước vào câu chuyện vì trong các trận chiến vào thời đó, ngày nay cũng vậy, người ta rất hay cầu nguyện để thắng trận và thường là vào thời đó, người ta sẽ mời một thầy bói hay bói khoa để nguyền rủa kẻ thù. Họ tin rằng nguyền rủa kẻ thù nghĩa là họ sẽ đánh bại được kẻ thù. Nhưng ngày nay cũng vậy.
Nhiều năm trước, người Nga diễn một vở kịch tại Moscow và diễn cảnh người Đức và người Nga đánh nhau trên sân khấu. Lúc mở màn vở kịch, rèm kéo lên, trong đó là cảnh chiến trận, một tuyên úy người Đức ở trên căn chòi phía bên này sân khấu và một linh mục chính thống giáo người Nga ở trên căn chòi phía bên kia, cả hai đều cầu nguyện với Chúa rằng họ sẽ thắng trận. Đó là lối nói mỉa mai của người Nga, rằng cầu nguyện trong chiến tranh có ích gì đâu, nhưng người ta vẫn làm như vậy, và họ cố gắng để Chúa đứng về phía mình. Cách thức thời xưa là mời một thuật sĩ đến và nhân danh các thần, các thần ngoại giáo, để nguyền rủa phía bên kia.
Ở đây chúng ta có câu chuyện kỳ lạ nhất trong Dân số ký. Ông thầy bói ngoại đạo này tên Ba-la- am, thế mà họ lại mời ông ta đến và bảo ông ta nguyền rủa dân Y-sơ-ra-ên nhân danh Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên - rất lạ! Ông ta nhận làm và chúng ta biết tại sao ông ta lại nhận làm như vậy, vì ông ta thích tiền, đơn giản thế thôi. Họ cứ phải cho ông ta thêm tiền vì mỗi lần ông ta cố gắng nguyền rủa dân Y-sơ-ra-ên, ông ta lại chúc phước cho họ. Mỗi lần ông ta mở miệng nguyền rủa họ thì lại thành “Ta chúc phước cho ngươi - Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán vậy.” Vua Am-môn và Mô-áp tức lắm. Ông ta phân trần: “Ôi tôi không đừng được, tôi cố gắng nguyền rủa họ mà cuối cùng lại thành chúc phước cho họ.” Người ta lại cho ông ta thêm tiền và trả giá cao hơn, và ngày một đưa ông ta lại gần trại quân Y-sơ-ra-ên hơn.
Ban đầu, lần đầu cố nguyền rủa họ, ông ta ở rất xa; chỉ có thể nhìn thấy họ từ xa. Dần dần, người ta ngày càng đưa ông ta gần lại để xem có bao nhiêu người, cho tới khi ông ta nhìn thẳng xuống được trại quân và thử lại lần nữa. Có lần, suýt chút nữa thì ông ta thành công và đó là lúc con lừa xuất hiện. Chúng ta có câu chuyện tuyệt vời rằng Ba-la-am đang cưỡi lừa đi xuống một con đường hẹp, một lối nhỏ giữa hai bức tường đá, và có nhiều con đường như vậy ở Trung Đông - chỉ có một lối nhỏ giữa hai bức tường đá, con lừa thấy một thiên sứ đứng chắn lối đi và nó không chịu đi. Ba-la-am đánh con lừa vì ông ta không thấy gì, nhưng con lừa vẫn không chịu đi. Ông ta đánh con lừa, cứ đánh nó và cuối cùng con lừa quay lại và nói cùng Ba-la-am. Lại một lần nữa, có những người nói rằng chuyện này thật lố bịch, nhưng tất nhiên, chúng ta phải nhớ rằng loài vật có thể bị quỷ ám hoặc được những linh tốt chế ngự.
Đó chính là điều xảy ra trong Vườn Ê-đen. Chúng ta biết rằng Chúa Jêsus đã sai các quỷ nhập vào đàn heo. Nhưng một linh tốt có thể dùng một con vật như vậy, một thiên sứ có thể sử dụng một con vật - tin hay không là tùy bạn. Nhưng con vật đó khôn ngoan hơn Ba-la-am, đó là thông điệp rất rõ ràng. Con vật đó nhạy bén hơn. Đôi khi, các con vật có thể nhạy bén với những điều đang diễn ra hơn là con người, nhưng điều này thật sự đẩy Ba-la-am xuống dưới đáy, thấp kém hơn cả con lừa của ông ta.
Chuyện xảy ra sau đó rất buồn. Bạn phải đọc hết để thấy nhưng thực tế, Ba-la-am cuối cùng cũng tìm ra cách để moi tiền từ vua Am-môn và Mô-áp. Ông ta nói: “Này, có nguyền rủa chúng cũng không ăn thua đâu. Đứa Chúa Trời cứ chỉnh những gì tôi nói, hoặc Ngài không cho tôi đến gần họ. Tôi không làm được việc đó.” Nhưng ông ta nói: “Để tôi cho các anh biết làm thế nào để len lỏi vào hàng ngũ của họ - chuyện này rất hệ trọng.” “Ồ,” họ hỏi: “như nào?” Ông ta bày rằng: “Hãy đưa mấy cô xinh xinh vào trại quân, chỉ vậy thôi, chết đứ đừ luôn.” Họ nói: “Ồ, hay đấy!” và lúc này họ cho ông ta rất nhiều tiền. Mấy cô gái đi vào và quả thật, chuyện xảy ra quá nhơ nhớp.
Thực tế, một người trong trại quân Y-sơ-ra-ên được Chúa khen ngợi vì thực chất, ông đã đâm một cây giáo xuyên qua một cặp đôi đang ăn nằm với nhau ngay trước cửa Đền tạm - họ đang gian dâm trong trại của Chúa. Người Y-sơ-ra-ên này quá khiếp đảm tới mức ông lấy cây giáo ghim cả hai xuống đất. Nhưng ông là người duy nhất chống lại được những cám dỗ ập đến. Họ đã phải chịu thất bại tràn trề thứ ba như vậy đó, và xét trên một góc độ thì Ba-la-am đã gây ra việc này. Nhưng người đã lấy cây giáo ghim cặp đôi kia xuống đất tên là Phi-nê-a và từ đó trở về sau, Chúa đã ban cho ông và gia đình ông chức tế lễ đời đời - người duy nhất bảo vệ nhà Chúa khỏi những gì đang diễn ra trước mắt Chúa. Một bài học quan trọng để rút ra từ đó. Nếu họ vào Đất Hứa thì một trong những đặc điểm tệ hại nhất trong Đất Hứa là sự đồi bại trong đó. Có những nữ thần sinh sản, có những bức tượng khủng khiếp và những biểu tượng hình dương vật. Người ta mới dựng một biểu tượng hình dương vật cao gần hai mét rưỡi trên con phố lớn tại thị trấn Basingstoke ở Anh. Nó đang trở lại, những phong tục thờ cúng thần sinh sản cùng sự đồi bại của nó. Lúc này đây, trước khi vào trong xứ, họ đã đối mặt với điều đó và thất bại. Rất nghiêm trọng phải không? Họ phải rút ra bài học, và Chúa đã dạy họ một bài học.
Chúng ta có thể học được gì từ tất cả những điều này? Tất nhiên là sách được viết cho những người Do Thái thuộc thế hệ sau, để họ biết kính sợ Chúa. Vì vậy, tôi tin là sách được viết cho Cơ Đốc nhân để chúng ta biết rút ra bài học từ những thất bại của họ. Trong bức thư ngắn của Giu-đe, em trai Chúa Jêsus, chúng ta thấy có nhắc đến cả Cô-rê và Ba-la-am. Tân Ước nhắc nhiều đến cụm “đừng lằm bằm.” Giống như với dân Y-sơ-ra-ên, đó cũng là một vấn đề lớn trong hội thánh thời đầu. Nó được gọi là rễ đắng, rễ của sự cay đắng có thể len lỏi vào một mối thông công khi người ta lằm bằm và phàn nàn. Tất nhiên là thời nay, họ thường chuyển sang mối thông công khác; nhưng anh em ạ, nếu anh em bắt đầu một mối thông công mới với những người hay phàn nàn từ nơi khác đến, anh em sẽ gặp rắc rối đấy. Anh em nhận được gì cũng đáng thôi. Nếu muốn bắt đầu một mối thông công mới thì hãy bắt đầu với những người mới tin Chúa, đừng có vá chằng vá đụp. Họ có thể sống và chết nơi Đồng vắng. Đối với Chúa, chúng ta quan trọng hơn; Chúa không chỉ đếm chúng ta mà Ngài còn gọi tên chúng ta. Chúng ta không chỉ nằm trong cuộc kiểm tra dân số của Ngài mà Ngài còn biết trên đầu chúng ta có bao nhiêu sợi tóc.
Khi xét đến sách Dân số ký, trước hết là tôi ấn tượng với những gì sách này nói về Chúa. Có hai khía cạnh trong bổn tính của Chúa và Phao-lô đã chỉ ra hai điều đó khi ông nói: “Vậy hãy nhìn biết sự nhân từ và sự nghiêm khắc của Đức Chúa Trời.” Ngày nay, chúng ta nghe quá nhiều về sự nhân từ của Chúa và quá ít về sự nghiêm khắc của Ngài đến nỗi chúng ta có cái nhìn mất cân bằng, mờ nhạt về Chúa, coi Ngài giống một người mẹ hơn là một người cha, hoặc thậm chí là giống một người bà theo lời một giám mục. Tôi đang nói nghiêm túc đó. Chúa là Cha, thế nên có sự nghiêm khắc cũng như nhân từ, có kỷ luật cũng như sự vui thích và chúng ta cần cân bằng điều này. Nên trong sách Dân số ký, chúng ta thấy sự nhân từ Ngài trong việc Ngài chu cấp, Ngài bảo vệ, Ngài gìn giữ họ. Chúng ta cũng thấy sự nghiêm khắc của Ngài trong việc kỷ luật, tước quyền thừa kế, ruồng bỏ, thậm chí là khiến họ chết mất - chúng ta cần nhớ cả hai điều đó. Chúng ta có mối quan hệ với chính Đức Chúa Trời đó, và sự kính sợ Chúa không mất khỏi Tân Ước. Nó ở đó cùng với tình yêu của Đức Chúa Trời.
Sách Dân số ký nói gì về Chúa Jêsus? Nhiều lắm chứ! Chúa Jêsus đã chịu 40 ngày bị cám dỗ trong Đồng vắng. Chính Ngài đã trải qua điều này. Ngài là Bánh từ trời. Tất cả các bạn điều biết Giăng 3:16: “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài,” nhưng bạn có biết câu ngay trước đó không? “Như Môi-se treo con rắn lên trong hoang mạc thể nào thì Con Người cũng phải bị treo lên thể ấy,” điều đó từ chính sách Dân số ký mà ra. Bạn có thể thấy Chúa Jêsus khắp mọi nơi trong Kinh Thánh nếu bạn tìm Ngài. Hê-bơ-rơ chép rằng: Tro của bò cái tơ còn đem đến sự tha thứ, huống hồ là huyết của Đấng Christ. Đó là một dẫn chứng. Nhưng điều tuyệt vời nhất lại liên quan đến Ba-la-am. Ba-la-am nói một lời tiên tri, và tiên tri như sau:
“Tôi thấy Ngài, nhưng chẳng phải bây giờ;
Tôi trông Ngài, nhưng không phải ở gần;
“Một ngôi sao hiện ra từ Gia-cốp, Một vương trượng sẽ trỗi dấy từ Y-sơ-ra-ên;”
Từ đó trở đi, mọi người Do Thái mộ đạo đều mong chờ ngôi sao của vị vua sẽ đến, đó chính là điều dẫn các nhà thông thái đến Bết-lê-hem. Chẳng phải là rất tuyệt vời đó sao? Chính lời tiên tri của Ba-la-am đã đưa các nhà thông thái đến Bết-lê-hem. Vậy câu Kinh Thánh nổi tiếng nhất trong Dân số ký là gì? Ồ, không nghi ngờ gì nữa, đó là chương 6, câu 24:
“Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và phù hộ ngươi!
Cầu xin Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi và làm ơn cho ngươi! Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái thương ngươi và ban bình an cho ngươi!”
Đó là lời chúc phước mà Chúa ban cho A-rôn để truyền cho dân sự khi họ dỡ trại và tiếp tục cuộc hành trình. Trong đó có đủ mọi dấu hiệu để chứng tỏ rằng câu này được Chúa thần cảm vì nó hoàn hảo về mặt toán học - giống như Sáng Thế Ký 1 vậy. Mỗi khi Chúa phán thì ngôn ngữ của Ngài luôn hoàn hảo về mặt toán học. Hãy nghe điều này - tất nhiên là trong tiếng Hê-bơ-rơ - không phải trong tiếng Việt, có ba dòng:
“Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và phù hộ ngươi!
Cầu xin Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi và làm ơn cho ngươi! Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái thương ngươi và ban bình an cho ngươi!”
Số từ trong tiếng Hê-bơ-rơ - ba từ trong câu thứ nhất, năm từ trong câu thứ hai, bảy từ trong câu thứ ba. Số chữ cái trong tiếng Hê-bơ-rơ: 15 trong câu thứ nhất, 20 trong câu thứ hai, 25 trong câu thứ ba. Số âm tiết trong tiếng Hê-bơ-rơ: 12 trong câu thứ nhất, 14 trong câu thứ hai, 16 trong câu thứ ba. Nếu bạn bỏ chữ Đức Giê-hô-va ra thì còn 12 từ trong tiếng Hê-bơ-rơ, như vậy là bạn có Đức Giê-hô-
va và 12 chi phái, tôi có thể nói thêm nhiều điều nữa. Câu này hoàn hảo về mặt toán học, và thậm chí trong tiếng Việt nó cũng dồn lại, dạng như nhạc mạnh dần đúng không? Bạn có thể cảm nhận được. Mỗi dòng có hai động từ và động từ thứ hai mở rộng động từ thứ nhất; và tất nhiên là sự ban phước đồng nghĩa với con cái, tài sản, đất đai, sức khỏe, sự an toàn - họ sẽ được bảo vệ và chu cấp. Tất nhiên, đó là Đức Giê-hô-va, giờ đây là Chúa Jêsus; rồi hai điều mà sự chúc phước mang lại là ân điển và sự bình an, chính là lời chúc phước Cơ Đốc trong mọi thư tín trong Tân Ước - “cầu xin ân điển và bình an được ban cho anh em.”
Và tất nhiên, từ Đức Giê-hô-va xuất hiện ba lần trong Cựu Ước - Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và phù hộ ngươi, Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi, Đức Giê-hô-va làm ơn cho ngươi. Đức Giê-hô-va, Đức Giê-hô-va, Đức Giê-hô-va - với chúng ta là Cha, Con, Thánh Linh. Toàn bộ điều này... Tôi có thể nói tiếp, nhưng đã hết thời gian mất rồi. Về mặt toán học, lời chúc phước đó là công thức toán học tuyệt đẹp, Sáng Thế Ký 1 cũng vậy. Bạn thấy rằng Chúa phán bằng toán học cũng nghĩa là bằng âm nhạc, vì âm nhạc được dựa trên toán học và ở đây, chúng ta có lời chúc phước đẹp đẽ về mặt âm nhạc và toán học. Nên khi chúng ta kết thúc bài nói chuyện này và các bạn ai về đường nấy, tôi chỉ muốn nói rằng:
“Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho bạn và phù hộ bạn.
Cầu xin Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên bạn và làm ơn cho bạn! Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái thương bạn và ban shalom cho bạn!” A-men.