LỊCH SỬ TUYỂN DÂN TẬP III

MỤC LỤC

BÀI 1. HẬU QUẢ TỘI LỖI CỦA SA-LÔ-MÔN TRÊN HẬU TỰ

KINH THÁNH: ICác 11:1-34.

CÂU GỐC: “Kẻ đối địch nó trở nên đầu, kẻ thù nghịch nó được thạnh vượng, vì Đức Giê-hô-va làm khốn khổ nó, bởi cớ tội lỗi nó nhiều lắm” (Ca thương 1:5a).

MỤC ĐÍCH: Dạy chúng ta biết rằng, hậu quả của tội lỗi thật kinh khiếp nên chúng ta phải lánh xa tội lỗi.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Ảnh hưởng của bạn xấu

(ICác 11:1-4).

TH:

Sa-lô-môn được cảnh cáo

(ICác 11:4-13).

TB:

Sa-lô-môn bị kẻ thù dấy lên

(ICác 11:14-27).

TT:

Giê-rô-bô-am phạm điều răn

(ICác 11:28-43).

TN:

Sa-lô-môn phạm điều răn

(Xuất 20:3-6).

TS:

Sa-lô-môn lìa bỏ lời hứa

(Thi thiên 1).

TB:

Hậu quả của tội lỗi

(Rô-ma 6:15-23).

Như chúng ta đã học, khi mới lên ngôi vua, Sa-lô-môn rất khiêm nhường, kể mình như là một trẻ nhỏ, không biết vào ra làm sao, ông không nghĩ về mình, nhưng nghĩ về dân sự rất lớn của Chúa, nên xin Ngài cho ông sự khôn ngoan để chăn dắt họ. Ông nhận biết Chúa rất nhân từ nên ông rất kính mến Ngài mà dâng tế lễ để tôn thờ Ngài và cầu khẩn danh Ngài. Vì vậy, Chúa đã ban cho ông mọi sự hơn điều ông xin.

Nhưng rất tiếc, khi thành công, Sa-lô-môn sinh lòng kiêu ngạo, muốn tỏ ra mình hơn mọi người, nên ông đã lấy một ngàn người vợ. Cuộc đời ông đã rẽ sang một hướng khác: Những người vợ ngoại bang đã xui ông lìa bỏ Chúa và thờ lạy thần tượng. Hậu quả của việc làm này đã lưu lại cho nhiều thế hệ tiếp theo.

Chúng ta có lý mà tin rằng Sa-lô-môn đã ăn năn nên ông đã viết sách Truyền đạo trong những ngày cuối cùng của đời mình. Dầu sao, Chúa rất đau đớn về lòng bất trung của ông đối với Ngài cũng như dân Y-sơ-ra-ên đã đi giẹo hai bên. Chúa muốn mỗi người tận trung cho đến chết (Khải huyền 2:10).

I. SA-LÔ-MÔN ĐÃ ĐƯỢC CẢNH CÁO.

Trước khi qua đời, lời trối chót của Đa-vít cho Sa-lô-môn là: “Còn ngươi là Sa-lô-môn, con trai ta, hãy nhận biết Đức Chúa Trời của cha, hết lòng vui ý mà phục sự Ngài, vì Đức Giê-hô-va dò xét tấm lòng và phân biệt các ý tưởng. Nếu con tìm kiếm Ngài, Ngài sẽ cho con gặp, nhưng nếu con lìa bỏ Ngài, ắt Ngài sẽ từ bỏ con đời đời” (I Sử ký 28:9). Đối với Sa-lô-môn, lời đó đáng ngàn vàng, thế mà Sa-lô-môn chẳng hề quan tâm!

Khi đạt tới đỉnh cao danh vọng, ông không còn nghĩ về dân sự mà chỉ lo cho mình, nên đã lạm dụng quyền hành bắt họ làm việc cực nhọc để xây cung điện cho ông (ICác 12:4). Ông bất tuân mạng lịnh của Chúa mà cưới những người nữ ngoại bang làm vợ (Xuất 34:16; Phục truyền 7:3-4). Hơn nữa, những người nữ đó còn cám dỗ ông lìa bỏ Chúa, lập miếu thờ các tà thần của họ. Việc gian ác và gớm ghiếc của Sa-lô-môn đã di họa cho dân Y-sơ-ra-ên từ đó cho đến đời Giô-si-a mới tiêu diệt được (IICác 23:13).

Sa-lô-môn rất khôn ngoan, song bị các bà vợ ngoại bang dẫn dụ làm những việc dại dột. Bạn bè xấu làm hư tánh nết tốt, gần mực thì đen.

II. SA-LÔ-MÔN BỊ HÌNH PHẠT VÌ TỘI LỖI MÌNH.

Không hề có ai đã phạm tội mà không bị hình phạt, chỉ sớm hay muộn mà thôi. Nếu muộn là vì lòng nhân từ, nhẫn nại, khoan dung của Chúa, chớ Ngài chẳng vị nể ai đâu. Cái cối của Chúa xay rất chậm nhưng rất nhuyễn. Sa-lô-môn cũng không thoát khỏi luật lệ ấy.

Sa-lô-môn rất khôn ngoan, song không tiết độ, buông mình vào nhục dục mà hư hỏng, luông tuồng. Sa-lô-môn như một que diêm cháy lên thật sáng, song rất mau tàn. Nếu Sa-lô-môn đã qua đời sớm trước khi sa ngã thì tốt hơn. Không phải người giàu có nhiều kinh nghiệm nên đã vững vàng mà không có sự cám dỗ nào thắng hơn được. Chính Sa-lô-môn đã rất tốt trong tuổi thanh xuân và tuổi trưởng thành, song không còn tốt nữa khi đã trở nên lão nhược. Trong buổi già yếu, các hoàng hậu của Sa-lô-môn dụ lòng người theo các thần khác, đối cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, lòng người chẳng trọn lành như Đa-vít, cha người (ICác 11:4).

Đức Chúa Trời nổi thạnh nộ cùng Sa-lô-môn (ICác 11:9). Khi mới ra đời, Sa-lô-môn được Chúa đặt tên là Giêđiđia, có nghĩa là Đức Giê-hô-va thương yêu (II Sa-mu-ên 12:25), thế mà bây giờ, Ngài nổi thạnh nộ cùng Sa-lô-môn vì tội bất trung của ông. Nếu không nhờ lòng tận trung của Đa-vít đối với Chúa, Ngài sẽ truất ngôi vua của Sa-lô-môn lập tức. Dầu vậy, Ngài sẽ phân chia vương quốc của ông ấy.

III. VƯƠNG QUỐC BỊ PHÂN CHIA SAU KHI SA-LÔ-MÔN QUA ĐỜI.

“Vậy, Đức Giê-hô-va khiến dấy lên một kẻ thù nghịch cùng Sa-lô-môn là Ha-đát, người Ê-đôm. Đức Chúa Trời lại khiến dấy lên một kẻ thù nghịch khác là Rê-xôn, con trai Ê-li-gia-đa” (ICác 11:14,23). Hai kẻ thù nầy đã làm hại cho dân Y-sơ-ra-ên. Ngoài ra, còn có Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, người Ép-ra-im, ở đất Xê-ra-đa là tôi tớ của Sa-lô-môn cũng dấy lên nghịch với người (ICác 11:26). “Khi tánh hạnh người nào đẹp lòng Đức Giê-hô-va thì Ngài khiến các kẻ thù nghịch người ở hòa thuận với người” (Châm ngôn 16:7). Nhưng vì Sa-lô-môn ăn ở bất trung, nên Chúa dấy lên ba kẻ thù làm hại ông.

Ai phạm tội là trở nên kẻ thù của Chúa và bị nhiều người phản bội. Kẻ thù không ở xa chúng ta đâu, chỉ chờ cơ hội để làm hại chúng ta; cơ hội đó là khi chúng ta bất trung với Chúa (I Phi-e-rơ 5:8).

Ngày kia, Giê-rô-bô-am gặp tiên tri A-hi-gia. A-hi-gia liền nắm lấy áo tơi của mình đang mặc mà xé ra làm 12 mảnh, rồi trao cho Giê-rô-bô-am 10 mảnh và nói với người rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán như vầy: Kìa Ta sẽ đoạt lấy nước khỏi tay Sa-lô-môn và trao cho ngươi mười chi phái của nước ấy” (ICác 11:31). Chiếc áo tơi mới bị xé ra làm 12 mảnh chỉ về nước Y-sơ-ra-ên có 12 chi phái. Mười chi phái được ban cho Giê-rô-bô-am, chỉ còn lại hai chi phái cho Rô-bô-am là Giu-đa và Bên-gia-min, song chi phái Bên-gia-min nhỏ lắm.

Kể từ đó, nước Y-sơ-ra-ên được chia làm hai: Vương quốc phía Nam và vương quốc phía Bắc. Vương quốc phía Nam có hai chi phái do Rô-bô-am làm vua, lấy tên là Giu-đa, vương quốc phía Bắc có mười chi phái do Giê-rô-bô-am làm vua lấy tên là Y-sơ-ra-ên. Không phải Giê-rô-bô-am tốt hơn Sa-lô-môn. Song vì Sa-lô-môn phạm tội nên Chúa dùng Giê-rô-bô-am là cây roi sửa phạt Sa-lô-môn.

Tiên tri Ha-ba-cúc đã có lần vấp phạm khi thấy dân Canh Đê hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên. Ông nói: “Mắt Chúa thánh sạch, chẳng nhìn sự dữ, chẳng có thể nhìn được sự trái ngược, sao Ngài nhìn xem kẻ làm sự dối trá, khi kẻ dữ nuốt người công bình hơn nó, sao Ngài nín lặng đi?” (Ha-ba-cúc 1:13). Nên biết rằng Chúa chỉ dùng dân Canh Đê (Ba-by-lôn) trong thời gian ngắn làm cây roi sửa trị dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Khi sửa trị xong, thì Chúa bẻ cây roi đó và bỏ đi.

Mỗi khi chúng ta phạm tội, Chúa có thể dùng bất cứ kẻ thù nào, kể cả bệnh tật, nghèo đói, chết chóc làm cây roi sửa phạt chúng ta. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta hãy tựa vào lòng Chúa, nghiêng mình trên ngực Ngài, hoàn toàn tin cậy Ngài như Ha-ba-cúc (Ha-ba-cúc 3:17-19).

“Trước hết hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài”, tức là tôn thờ, phục vụ một mình Ngài mà thôi. Chúa là trên hết mọi người và mọi sự. Chúng ta không được phép yêu ai bằng yêu Chúa, không được phép đặt ai ngang hàng với Chúa. Trước mặt Chúa, chúng ta chỉ có Ngài, Ngài là vô song tuyệt đối. Nếu chúng ta đặt bất cứ một người nào, một vật nào lên hàng đầu trong đời sống của chúng ta, thì người đó, vật đó đã trở nên thần tượng gớm ghiếc mà chúng ta thờ lạy. Sa-lô-môn làm như vậy và bị Chúa phạt.

Chúa cứu chúng ta khỏi tội lỗi, tái tạo chúng ta, chúng ta trở nên con cái Ngài, để ai nấy tôn thờ, phục vụ Ngài, bước đi hằng ngày trong sự kính sợ Ngài cho đến suốt đời. Vì ngoài đời tạm nầy, chúng ta còn đời vĩnh viễn, tại đó chúng ta sẽ cứ tiếp tục tôn thờ Ngài.

CÂU HỎI

1. Khi mới lên ngôi, Sa-lô-môn có ba đặc điểm nào?

2. Khi đã thành công, Sa-lô-môn trở nên người thế nào?

3. Sa-lô-môn rất khôn ngoan, tại sao ông đã làm những việc dại dột?

4. Đời của Sa-lô-môn tốt ở tuổi nào? Xấu ở tuổi nào?

5. Tại sao ta có thể tin Sa-lô-môn đã ăn năn trước khi qua đời?

6. Trước khi qua đời Đa-vít đã cảnh cáo Sa-lô-môn thế nào?

7. Khi Sa-lô-môn phạm tội, ông đã bị phạt gì?

8. Sa-lô-môn bị mấy kẻ thù làm hại?

9. Về sau, nước ông bị chia làm mấy phần?

10. Khi chúng ta phạm tội, Chúa dùng ai sửa trị? Trong hoàn cảnh đó, chúng ta phải có thái độ nào?

11. Trước hết phải tìm kiếm nước Đức Chúa Trời có nghĩa gì?

BÀI 2. VUA RÔ-BÔ-AM LÀM CHO ÁCH DÂN SỰ THÊM NẶNG NỀ

KINH THÁNH: ICác 12:1-24.

CÂU GỐC: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ” (Ma-thi-ơ 11:28).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Rô-bô-am làm cho ách dân sự thêm nặng, nhưng Chúa Jêsus làm cho ách chúng ta nhẹ nhàng.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Sa-lô-môn làm cho ách dân sự nặng nề

(ICác 5:13-17).

TH:

Rô-bô-am làm cho ách dân sự nặng nề hơn

(ICác 12:1-24).

TB:

Lời cảnh cáo của Chúa là xác thực

(I Sa-mu-ên 8:4-18).

TT:

Chúa mang ách cho chúng ta

(Ê-sai 53:1-12; Mat 11:28-30).

TN:

Chúa mang tội lỗi chúng ta

(I Phi-e-rơ 2:24).

TS:

Chúa ban sự yên nghỉ của tâm hồn

(Thi 116:7; Ês 28:12).

TB:

Lời khuyên khôn ngoan của Sa-lô-môn

(Châm ngôn 1:7).

Sau khi Sa-lô-môn băng hà, Rô-bô-am lên ngôi thay thế cha mình. Bấy giờ Rô-bô-am được 41 tuổi (14:12). Dân Y-sơ-ra-ên họp lại tại Si-chem để tôn người lên ngôi. Đồng thời họ cũng sai mời Giê-rô-bô-am từ Ê-díp-tô trở về, vì Giê-rô-bô-am đã trốn khỏi Sa-lô-môn đến ở đó (11:40).

I. LÝ DO RÔ-BÔ-AM LÀM CHO ÁCH THÊM NẶNG NỀ.

Dân Y-sơ-ra-ên cho Giê-rô-bô-am đại diện, đến xin Rô-bô-am giảm bớt gánh nặng về thuế vụ và sưu dịch mà trước đó Sa-lô-môn đã đặt trên họ, được vậy họ sẽ phục vụ vua. Lời yêu cầu rất phải lẽ, Rô-bô-am bảo họ ba ngày trở lại và ông sẽ trả lời.

Rô-bô-am đem việc đó bàn với các trưởng lão đã từng phục vụ Sa-lô-môn để xin họ cho ý kiến phải trả lời với dân chúng thế nào. Các trưởng lão thưa: “Nếu ngày nay vua làm đầy tớ của dân nầy, phục vụ họ, đáp lời tử tế cùng họ, thì họ sẽ làm đầy tớ vua mãi mãi”. Nếu vua làm đầy tớ phục vụ dân thì dân sẵn sàng làm đầy tớ phục vụ vua. Nếu vua ích kỷ, kiêu căng, muốn làm hại dân là chính vua làm hại mình. làm cho kẻ khác được phước là chính mình được phước: “Lòng rộng rãi sẽ được no nê, còn ai nhuần gội, chính người sẽ được nhuần gội” (Châm ngôn 11:25). “Hãy cho, người sẽ cho mình; họ sẽ lấy đấu lớn, nhận, lắc cho đầy tràn mà nộp trong lòng các ngươi, vì các ngươi lường mực nào, thì họ cũng lường lại cho các ngươi mực ấy” (Lu-ca 6:38).

Rất tiếc Rô-bô-am không chấp nhận đề nghị chí lý của các trưởng lão nên đã đem việc nầy bàn với các thanh niên cùng lứa tuổi với mình. Họ xui Rô-bô-am đáp lại với dân chúng như vầy: “Ngón tay út của ta còn lớn hơn lưng của cha ta. Vậy, cha ta đã gán một cái ách nặng cho các ngươi, ta sẽ làm cái ách các ngươi thêm nặng hơn nữa, cha ta sẽ sửa phạt các ngươi bằng roi da, ta sẽ sửa phạt các ngươi bằng roi bọ cạp” (ICác 12:10-11). Rô-bô-am chấp nhận đề nghị nầy và nói lại với dân chúng y như vậy. Kết quả của lời xấc xược đó như thêm dầu vào lửa, dân chúng đã tức bực càng tức bực thêm. “Lời đáp êm nhẹ làm nguôi cơn giận, còn lời xẳng xớm trêu thạnh nộ thêm” (Châm ngôn 15:1).

Dân Y-sơ-ra-ên la lớn: “Chúng ta có phần gì cùng Đa-vít? Chúng ta chẳng có cơ nghiệp chi với con trai Ysai. Y-sơ-ra-ên hãy trở về trại mình đi. Ớ Đa-vít, từ rày ngươi khá coi chừng nhà của ngươi”. Thế là hoàn toàn tan vỡ. Một lời ngu dại, xấc xược tai hại dường nào! Sa-lô-môn nói: “Miệng hay đáp giỏi (bằng lời thích nghi) khiến người vui vẻ; và lời nói phải thì (đúng lúc, đúng chỗ) lấy làm tốt biết bao” (Châm ngôn 15:23). Thay vì gây dựng, Rô-bô-am đã phá hoại.

II. HẬU QUẢ RÔ-BÔ-AM LÀM CHO ÁCH THÊM NẶNG NỀ.

Rô-bô-am đã lầm tưởng rằng ông là vua, thì nói gì, làm gì dân chúng đều phải nghe, phải nhận. Ông không nghĩ đến người khác mà chỉ nghĩ đến mình. Ông buộc mọi người phải phục tùng ông. Nhưng mười chi phái đã nổi loạn, phản đối ông, lìa bỏ ông mà còn đe dọa ông nữa. Họ tôn Giê-rô-bô-am làm vua của họ và chiếm cả miền bắc của xứ sở. Thật là đau đớn và xấu hổ.

Rô-bô-am chiêu tập 18 vạn lính chiến để đánh Y-sơ-ra-ên, buộc họ phải thần phục ông, song Đức Chúa Trời đã can thiệp và không cho phép. Dầu vậy, từ đó luôn có sự tranh chiến giữa hai vương quốc (14:30). Rô-bô-am cai trị 17 năm tại Giê-ru-sa-lem. Vì cớ tội lỗi, sau 5 năm trị vì của Rô-bô-am, Chúa phó Giu-đa vào tay Sisắc, vua Ê-díp-tô. Vua nầy đã đánh cướp những của cải quí nhất trong đền thờ và trong cung điện của Sa-lô-môn xây cất (14:21-28). Chúa phán: “Các ngươi đã bỏ Ta, nên Ta cũng đã bỏ các ngươi vào tay Sisắc”. “Bấy giờ, các kẻ làm đầu của Y-sơ-ra-ên và vua đều hạ mình xuống, mà nói rằng: Đức Giê-hô-va là công bình” (II Sử ký 12:1-8).

Những sự việc trên được ghi lại để thức tỉnh mọi người. Chúng như những tấm bảng đặt hai bên vệ đường với những chữ: “Hãy coi chừng” để lưu ý các tài xế rằng sắp đến quảng đường cong quẹo, gồ ghề hoặc cây cầu hẹp, hay có đường xe lửa băng qua, cốt giúp cho tài xế khỏi lâm nạn. Chúng ta là những tài xế đó.

Rô-bô-am không thích đề nghị ôn hòa của các trưởng lão, mà thích đề nghị xấc xược của các thanh niên. Tục ngữ Ảrập có câu: “Người sinh trước anh một ngày, ắt khôn trước anh một năm”. Ê-lihu, người bạn trẻ của Gióp đã nói: “Tôi đang trẻ, còn các anh là ông già, vì vậy tôi nhát, không dám tỏ cho các anh biết ý tưởng tôi. Tôi nghĩ rằng: Ai đã sống lâu ngày sẽ nói, số năm cao sẽ dạy sự khôn ngoan” (Gióp 32:6-7). Sau nhiều năm kinh nghiệm, Phi-e-rơ đã viết: “Cũng khuyên bọn trẻ tuổi, hãy phục theo các trưởng lão. Hết thảy đối đãi nhau phải trang sức bằng khiêm nhường, vì Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo mà ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (I Phi-e-rơ 5:5).

Sa-lô-môn đã không nghe lời trối của cha là Đa-vít, Rô-bô-am đã không nghe lời đề nghị của các trưởng lão. Con tưởng mình khôn hơn cha, kẻ trẻ tưởng mình khôn hơn người già là lý do thất bại của họ. Đó là con đường mòn đã đưa nhiều thanh niên xuống hố thẳm, vực sâu.

“Đất và mọi người trên đất, thế gian và những kẻ ở trên đó đều thuộc về Đức Giê-hô-va. Nước, quyền, vinh hiển đều thuộc về Cha đời đời. Đấng rất cao cai trị trong nước của loài người, Ngài muốn ban cho ai tùy ý” (Thi thiên 24:1; Ma-thi-ơ 6:13; Đa-ni-ên 4:17). Xưa nay, các việc thịnh suy bỉ thới của các nước đều ở dưới quyền điều khiển của Chúa. “Sự công bình làm cho nước cao trọng, song tội lỗi là sự hổ thẹn cho các dân tộc” (Châm ngôn 14:34). Đó là luật lệ mà Chúa áp dụng cho muôn nước, muôn dân.

Đức Giê-hô-va là vua của chúng ta, Ngài không như Sa-lô-môn hay Rô-bô-am, làm cho ách của chúng ta ngày càng nặng hơn. Song Ngài yêu thương và khiêm nhường, sẵn sàng hạ mình gánh lấy ách của chúng ta, làm cho nó nhẹ nhàng và dễ chịu để chúng ta được yên nghỉ (Ma-thi-ơ 11:23-30).

Chúa đã khóc bên mộ La-xa-rơ, Chúa đã hỏi Ma-ri: “Sao ngươi khóc? Ngươi tìm ai?”. Chúa hỏi hai môn đồ về làng Em-ma-út: “Các ngươi nói chuyện gì cùng nhau vậy?”. Ngài cảm thương sự yếu đuối của chúng ta nên khuyên lơn an ủi. “Hễ khi dân Ngài bị khốn khổ, chính Ngài cũng khốn khổ, và thiên sứ trước mặt Ngài đã cứu họ rồi. Chính Ngài đã lấy lòng yêu đương thương xót mà chuộc họ. Ngài đã ẵm bồng và mang họ trong các ngày thuở xưa” (Ê-sai 63:9). Ngài ở với ba thanh niên Hê-bơ-rơ trong lò lửa hực. Ngay như cái ách lớn lao và nặng nề nhất là tội của chúng ta, Chúa cũng mang hết rồi (Ê-sai 53:4-6).

Vậy, trong mọi hoàn cảnh đau thương hơn hết, chúng ta hãy đến với Chúa Jêsus, tâm sự cùng Ngài, Chúa sẽ lau nước mắt chúng ta, Ngài an ủi chúng ta trong mọi cảnh gian nan khốn khổ. Có bao nhiêu gian khổ, thì có bấy nhiêu an ủi. Chúa không hề từ chối một điều gì để làm cho chúng ta hạnh phúc.

Chúng ta lấy làm hãnh diện có một Vua, một Chúa, một Cha, một Anh, một Bạn, một Thầy, một Trạng sư là Chúa Jêsus Christ.

CÂU HỎI

1. Khi Rô-bô-am lên ngôi, dân Y-sơ-ra-ên đến xin điều gì?

2. Trước hết Rô-bô-am hỏi ý kiến của ai? Và họ trả lời thế nào?

3. Kế đó, Rô-bô-am hỏi ý kiến của ai? Và họ trả lời thế nào?

4. Khi Rô-bô-am theo ý kiến của các thanh niên thì kết quả thế nào?

5. Mười chi phái ở phía Bắc đã làm gì cho Rô-bô-am?

6. Khi Rô-bô-am cai trị được 5 năm, thì có sự gì xảy ra?

7. Rô-bô-am lên ngôi lúc mấy tuổi? Cai trị được mấy năm?

8. Cách Rô-bô-am trả lời cho dân chúng dạy dỗ chúng ta điều gì?

9. Các nước trong thế gian thuộc quyền của ai?

10. Chúa Jêsus là Vua thế nào của chúng ta?

BÀI 3. GIÊ-RÔ-BÔ-AM CÙNG DÂN Y-SƠ-RA-ÊN THỜ HÌNH TƯỢNG

KINH THÁNH: ICác 12:25; 13:9.

CÂU GỐC: “Trước mặt Ta ngươi chớ có các thần khác” (Xuất 20:3).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội nặng khi họ thờ lạy hình tượng, chúng ta hãy thờ lạy một Đức Chúa Trời hằng sống.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Giê-rô-bô-am thờ lạy hình tượng

(ICác 12:25; 13:9).

TH:

Phải thờ một mình Chúa

(Xuất 20:1-3).

TB:

Chúa cấm thờ hình tượng

(Xuất 20:4; Lê-vi 26:1).

TT:

Chúa dạy cách thờ phượng Ngài

(Phục truyền 5:4-5).

TN:

Chúng ta phải thờ phượng Chúa

(Phục 12:5; Thi 29:2).

TS:

Sự bất lực của hình tượng

(Thi thiên 115:4-8).

TB:

Phải tôn cao Chúa Jêsus

(Phi-líp 2:9-11).

Chúng ta đã học về Rô-bô-am là vua vương quốc Giu-đa, bây giờ chúng ta học về Giê-rô-bô-am là vua của vương quốc Y-sơ-ra-ên.

Sau thời Sa-lô-môn trị vì, xứ sở bị chia ra làm hai phần chênh lệch: Mười chi phái ở miền Bắc với dân sự đông đúc, đất đai rộng rãi hơn hai chi phái ở miền Nam.

Nhưng nước Giu-đa tốt hơn nước Y-sơ-ra-ên về phương diện thuộc linh. Nước Giu-đa do 20 vua cai trị từ Rô-bô-am đến Sê-đê-kia trong thời gian gần 400 năm (975-586 TC). Cuối cùng bị nước Ba-by-lôn xâm chiếm, bắt dân lưu đày, song sau 70 năm họ được trở về tổ quốc.

Nước Y-sơ-ra-ên do 19 vua cai trị từ Giê-rô-bô-am đến Ô-sê trong thời gian gần 260 năm (975-721 TC). Cuối cùng họ bị đế quốc A-si-ri xâm chiếm, bắt dân lưu đày rồi mất tích luôn.

I. GIÊ-RÔ-BÔ-AM THỜ HÌNH TƯỢNG.

Giê-rô-bô-am là người tài năng, cần mẫn, đã được Sa-lô-môn trọng dụng (11:28). Nhưng Giê-rô-bô-am đã lập tâm chống Sa-lô-môn để làm vua (11:26), nên ông không bỏ lỡ cơ hội khi mười chi phái tôn ông lên làm vua của họ. Ông đã cai trị 22 năm trên dân Y-sơ-ra-ên (14:20).

Trước hết Giê-rô-bô-am xây cất thành Si-chem để làm kinh đô. Rồi từ đó ông xây cất thành Phênuên để chống lại vua Giu-đa và giữ gìn bờ cõi của mình. Toàn thể dân hai miền thường đến Giê-ru-sa-lem để thờ phượng Đức Chúa Trời tại đền thờ mà Sa-lô-môn đã xây cất. Sau khi chia ra Nam, Bắc thì dân Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc cũng như dân Giu-đa ở miền Nam đều đến Giê-ru-sa-lem ở miền Nam để thờ phượng.

Giê-rô-bô-am nghĩ rằng nếu tình trạng nầy cứ kéo dài thì có lợi cho vua miền Nam và có hại cho ông. Vì dân miền Bắc sẽ lần hồi hướng về miền Nam là nơi có đền thờ của Đức Chúa Trời, họ sẽ giết ông và trở về với Chúa của họ. Để giữ dân miền Bắc cứ ở với mình, Giê-rô-bô-am mượn đường lối tôn giáo để thực hiện mục đích chính trị.

Giê-rô-bô-am đã từng sống tại Ê-díp-tô, thấy dân ấy thờ lạy con bò như một vị thần tối linh. Ông liền cho đúc hai bò con bằng vàng, đặt trên hai bàn thờ tại hai nơi quan trọng nhất trong nước là Đan và Bê-tên. Ông cũng xây cất những miếu thần tượng ở những nơi cao, rồi chọn trong vòng dân chúng những người làm thầy tế lễ, mặc dầu họ không thuộc về chi phái Lê-vi. Ông cũng lập những ngày lễ cho ai nấy giữ lấy.

Đâu đó xong xuôi, ông long trọng tuyên bố với dân chúng trong nước, đại ý như sau: “Anh chị em phải đến Giê-ru-sa-lem để thờ phượng, giữ lễ, thật là xa xôi, tốn kém thì giờ, tiền bạc, sức khỏe. Để tiện lợi cho mỗi người, nầy là thần đã dẫn dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ê-díp-tô, ai ở gần đâu thì đến đó, hoặc tại Đan hoặc tại Bê-tên, mà không cần phải đến Giê-ru-sa-lem nữa”.

Từ đó, dân Y-sơ-ra-ên lìa khỏi Đức Chúa Trời để thờ phượng bò con vàng theo cách mới mà Giê-rô-bô-am đã bày ra và cho là quốc giáo.

II. GIÊ-RÔ-BÔ-AM XUI GIỤC DÂN Y-SƠ-RA-ÊN THỜ HÌNH TƯỢNG.

Đành rằng Giê-rô-bô-am cần được dân chúng ủng hộ và luôn chịu ông hướng dẫn họ, nhưng muốn được vậy, ông chỉ cần tin cậy lời Chúa đã hứa từ trước khi ông làm vua: “Nếu ngươi vâng theo lịnh Ta, đi trong các đường lối Ta, làm điều thiện trước mặt Ta, giữ gìn luật lệ và điều răn Ta, y như Đa-vít tôi tớ Ta đã làm, thì Ta sẽ ở cùng ngươi, lập cho ngươi một nhà vững chắc y như Ta đã lập cho Đa-vít, và Ta sẽ ban Y-sơ-ra-ên cho ngươi” ( ICác 11:38-39).

Nhưng Giê-rô-bô-am không tin cậy Chúa và muốn dùng thủ đoạn gian ngoan để lừa gạt dân chúng qua hình thức tôn giáo, nên ông đã phạm tội thờ hình tượng và xúi giục dân chúng cùng phạm tội như ông. Việc đó trở nên tội lỗi vì dân chúng đi đến Đan đặng thờ lạy bò con ấy (12:20). “Y-sơ-ra-ên đã phân rẽ nhà Đa-vít, tôn Giê-rô-bô-am con trai Nê-bát làm vua. Người quyến dụ Y-sơ-ra-ên bội nghịch Đức Giê-hô-va và khiến cho họ phạm tội lớn” (IICác 17:21).

Dân Y-sơ-ra-ên không xem xét vấn đề đó một cách cẩn thận để biết thực hư, chỉ nghe nói tiện lợi, dễ dàng thì ham và chấp nhận ngay, nên đã phạm tội nặng.

Theo một tôn giáo mà chỉ nghĩ đến tiện lợi và dễ dàng là bị lừa gạt rồi, đã mắc mưu ma quỉ, đó là “Cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều” (Ma-thi-ơ 7:13). Xưa nay vô số người bị cám dỗ hiểm nghèo, vì muốn có một tôn giáo dễ dàng, vô luận chánh tà, phải trái. Ngay chúng ta là kẻ theo Chúa, phục vụ Ngài còn bị cám dỗ muốn sống vừa lòng thiên hạ để được an thân. Tại sao chúng ta không nắm lấy lời hứa rất quí, rất lớn của Chúa mà tôn thờ Ngài đúng với thánh ý của Ngài?

Ma quỉ dùng đủ cách để cám dỗ Chúa Jêsus đừng chịu khổ, đừng chịu chết, chỉ cần sấp mình thờ lạy nó là đủ. Song Ngài quyết định vâng phục Cha cho đến chết, thậm chí chết trên thập tự giá. Nếu chính đáng thì xa mấy cũng tìm, khó mấy cũng theo, còn tà ngụy thì gần mấy cũng tránh, dễ mấy cũng bỏ.

III. GIÊ-RÔ-BÔ-AM BỊ HÌNH PHẠT VỀ TỘI THỜ HÌNH TƯỢNG.

Không có tội nào gớm ghiếc bằng tội thờ hình tượng với lời cảnh cáo sẽ nhân tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời (Xuất 20:4- 5). Sấp mình thờ lạy hình tượng vô tri giác bằng gỗ, đá, bạc, vàng chỉ là sỉ nhục Đấng Tạo Hóa của mình. Không những thờ lạy hình tượng bò con là gớm ghiếc mà thờ lạy ai cũng gớm ghiếc như vậy, nên Đức Chúa Trời đã sai một tiên tri từ Giu-đa đến quở trách Giê-rô-bô-am về việc ác của ông rằng: “Bàn thờ sẽ nứt, tro trên bàn thờ sẽ đổ xuống đất” là dấu hiệu Ngài không chấp nhận và phá hủy.

Khi nghe lời đe dọa đó, Giê-rô-bô-am liền ra lệnh bắt vị tiên tri thì tay ông bị khô, không co lại được. Giê-rô-bô-am hoảng hốt xin vị tiên tri cầu nguyện cho mình để tay co lại được. Vị tiên tri cầu nguyện và Đức Chúa Trời đã nhậm lời.

Bất cứ một sự hình phạt nào sắp xảy ra cho tội nhân đều có cảnh cáo trước. Dầu vậy, Giê-rô-bô-am vẫn không ăn năn việc ác của mình, nhưng tiến xa hơn là xui giục dân chúng cùng làm điều ác. Nhân cớ đó, nhà Giê-rô-bô-am phạm tội đến nỗi bị diệt khỏi mặt đất. Do tội lỗi đó, Chúa đã phó dân Y-sơ-ra-ên vào tay kẻ thù (13:34; 14:7-11,14-16). Thật là một sự hình phạt khủng khiếp mà về sau tiên tri A-mốt còn nhắc lại để cảnh cáo người đồng thời mình (A-mốt 13:4; 5:6; 9:1).

Khi một người phạm tội không chỉ có chính người đó bị hình phạt, song còn có ảnh hưởng đến nhiều người khác có liên hệ với mình.

A-đam phạm tội đã làm hại cho cả nhân loại. Chiến sĩ A-can phạm tội đã làm hại cho gia đình và đạo quân Y-sơ-ra-ên. Vua Giê-rô-bô-am phạm tội đã làm hại cho gia đình và cả dân tộc.

Khốn nạn cho ai phạm tội và gây cho kẻ khác cùng phạm (Lu-ca 7:1-2). Song nếu chúng ta ăn ở chính đáng, không những chính mình được phước mà còn làm ống dẫn phước cho nhiều người. Áp-ra-ham được phước và dòng dõi ông được phước. Đa-vít được phước và dân Y-sơ-ra-ên được phước. Chúa Jêsus được phước và nhân loại trong Ngài được phước.

Vậy đừng để ma quỉ lừa gạt chúng ta như đã lừa gạt Giê-rô-bô-am và cũng đừng để bị Giê-rô-bô-am như lừa gạt dân Y-sơ-ra-ên. Hãy tin cậy Chúa và vâng lời Ngài. Hãy tôn thờ một mình Ngài theo cách Ngài đã chỉ dẫn trong Kinh Thánh.

CÂU HỎI

1. Tại sao Giê-rô-bô-am lập sự thờ phượng riêng cho dân Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc?

2. Sự thờ phượng riêng của Giê-rô-bô-am là gì?

3. Khi Giê-rô-bô-am thờ hình tượng thì có ảnh hưởng gì cho dân chúng?

4. Nếu Giê-rô-bô-am không dùng thủ đoạn gian ngoan thì có cách gì khác nữa gìn giữ dân Y-sơ-ra-ên?

5. Tại sao dân Y-sơ-ra-ên nghe lời Giê-rô-bô-am mà thờ hình tượng?

6. Ma quỉ thường cám dỗ người ta theo một tôn giáo thế nào?

7. Thờ lạy hình tượng là một tội thế nào? Phạm điều răn thứ mấy?

8. Khi Giê-rô-bô-am bị tiên tri quở trách thì ông đã làm điều gì?

9. Vì không ăn năn nên Giê-rô-bô-am và dân Y-sơ-ra-ên đã bị hình phạt thế nào?

10. Cuộc sống của chúng ta có ảnh hưởng gì trên người khác?

BÀI 4. A-SA SỐNG ĐẸP LÒNG ĐỨC CHÚA TRỜI

KINH THÁNH: ICác 15:1-15; I Sử ký 14:1; 15:19.

CÂU GỐC: “Xin dạy tôi làm theo ý muốn Chúa, vì Chúa là Đức Chúa Trời tôi; nguyện Thần tốt lành của Chúa dẫn tôi vào đất bằng thẳng” (Thi thiên 143:10).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Đức Chúa Trời vui lòng vì A-sa làm theo ý Chúa. Chúng ta cũng phải làm vui lòng Chúa yêu dấu của chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Sự vâng lời đẹp lòng Chúa

(Giăng 14:21).

TH:

A-sa đi theo con đường của Đa-vít

(ICác 15:1-5).

TB:

Phước hạnh Chúa ban cho A-sa

(ICác 15:10,23; II Sử 14:2).

TT:

Chúa Jêsus là gương mẫu hoàn toàn cho chúng ta

(Hê 4:15).

TN:

Chúa kêu gọi chúng ta theo Ngài

(Mat 11:29; Giăng 13:15).

TS:

Ai theo Chúa thì được phước

(Thi thiên 36:7-9).

TB:

Ai theo Chúa thì được phước

(Ê-phê-sô 3:20; Phi-líp 4:7).

Sau khi Rô-bô-am là vua của nước Giu-đa ở miền Nam qua đời, thì con là A-bi-gia làm vua thế ông. A-bi-gia cũng như Rô-bô-am đều không tận trung với Chúa. Người cai trị ba năm tại Giê-ru-sa-lem. Sau khi A-bi-gia qua đời, thì con ông là A-sa làm vua thế ông. Dầu ông nội và cha như vậy, song A-sa là một vua tốt. Trong 41 năm chức vụ “A-sa làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va y như Đa-vít, tổ phụ người, đã làm” (ICác 15:11).

Thế là A-sa biết tránh gương của người xấu. Kinh Thánh ghi lại hai hạng người ấy vừa để cảnh cáo, vừa để khích lệ chúng ta.

I. A-SA TRỪ BỎ HÌNH TƯỢNG KHỎI XỨ (ICác 15:12; II Sử ký 14:3; 15:8).

A-sa làm việc nầy thật không dễ đâu vì các hình tượng đã được dựng nên từ thời Sa-lô-môn và Rô-bô-am là ông cố và ông nội của A-sa (ICác 11:7; 14:23-24). Dân chúng đã nhiều năm cúng bái các hình tượng đó. Nhưng A-sa nhận biết Chúa, tin cậy Chúa, tôn thờ Chúa, nên gớm ghiếc hình tượng và không sợ gì cả mà đập phá, trừ bỏ hình tượng khỏi xứ.

Hơn nữa, A-sa cất chức thái hậu của bà nội mình là Maaca vì bà đã dựng tượng Át-tạt-tê để thờ phượng, A-sa đập phá hình tượng đó và đốt đi (ICác 15:13; II Sử ký 15:16).

Điều nầy tỏ ra A-sa ngay thẳng, can trường, biết đúng cứ làm, biết sai cứ bỏ. Sự lầm lạc của dân chúng rất khó mà sửa lại, phương chi sự lầm lạc của hoàng gia mà sửa trị còn khổ hơn biết bao. Song vì kính sợ Chúa, A-sa cứ làm để đẹp lòng Ngài.

Có những tội lỗi đã ăn sâu tromg đời sống, trong gia đình và trong Hội Thánh nên rất khó bỏ đi. Có những thói quen đã bị tiêm nhiễm từ lâu nên rất khó sửa lại vì chúng đã trở nên hình tượng mà nhiều người yêu mến, tôn thờ. Nhưng khi được Chúa thăm viếng, có một A-sa được dấy lên thì tất cả đều bị quét sạch.

Đầu thế kỷ thứ IV, có nhiều người ngoại gia nhập Hội Thánh và đem hình tượng của họ vào nhà thờ với lý do để trang hoàng cho đẹp. Về sau, việc nầy đã biến thành sự thờ phượng mà giáo hội La-mã còn giữ cho đến bây giờ. Chúng ta không thờ hình tượng, song hãy coi chừng hình tượng không thấy được mà ai nấy mang trong lòng như dân Y-sơ-ra-ên thời xưa (Ê-xê-chi-ên 14:3-4).

Nếu vật gì, người nào chiếm được đời sống chúng ta, tức là làm cho chúng ta yêu mến họ hơn Chúa, thì vật đó, người đó đã trở nên hình tượng của chúng ta rồi. Tiền bạc là một vị thần được mệnh danh là Mamôn (Ma-thi-ơ 6:24; Ê-phê-sô 3:5; Cô-lô-se 3:5). Cái bụng hay là ham mê ăn uống là một vị thần của nhiều người (Rô-ma 16:18; Phi-líp 3:19), sự vui chơi cũng là một vị thần (II Ti-mô-thê 3:40). Ngoài ra còn có thần quyền lực, thần bản ngã, thần ái tình…

Những kẻ thờ hình tượng không có phần gì trong cơ nghiệp của Chúa, không được vào thành thánh, song chỉ có phần trong hồ lửa (Ê-phê-sô 5:5; Khải huyền 22:15; 21:6).

II. A-SA KHUYÊN DÂN CHÚNG TÌM KIẾM CHÚA (II Sử ký 14:4; 15:1-19).

Lời khuyên của vua rất hợp tình hợp lý. Đức Chúa Trời là Đấng đã giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi cảnh nô lệ tại Ê-díp-tô, đưa họ qua Biển Đỏ, vào đồng vắng, đến tận Ca-na-an đượm sữa và mật, ban cho họ cả xứ đó làm cơ nghiệp. Đấng yêu họ như vậy, đáng cho họ tìm kiếm và tôn thờ Ngài để họ hưởng cơ nghiệp ấy cách lâu dài (Xuất 20:1-2, 40; 5:33; 8:1; 16:20; 30:19-20). Vì vậy lấy làm tốt cho họ làm theo lời khuyên của vua.

Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta đến nỗi đã ban Con Một của Ngài. Ngài chứng tỏ tình thương đối với chúng ta khi ban Chúa Jêsus chịu chết thay cho chúng ta là những tội nhân. Đấng yêu thương chúng ta đã lấy huyết của Ngài tẩy sạch tội lỗi chúng ta. Cũng bởi tình thương đó Ngài ban cho chúng ta các điều răn. Mục đích của Ngài là không làm cho chúng ta mệt nhọc, nặng nề, mà làm cho chúng ta nhẹ nhàng, nghỉ ngơi. “Vì điều răn là một cái đèn, luật pháp là ánh sáng, và sự quở trách khuyên dạy là con đường sự sống” (Châm ngôn 6:23). Cái đèn, ánh sáng, con đường sự sống là quí biết bao cho con người. Đa-vít đã nói: “Khi tôi chăm chỉ về các điều răn Chúa thì chẳng bị hổ thẹn. Tôi sẽ vui vẻ về điều răn Chúa là điều răn tôi yêu mến. Luật pháp của miệng Chúa phán là quí cho tôi hơn hàng ngàn đồng vàng và bạc. Nhân đó tôi yêu mến điều răn Chúa hơn vàng, thậm chí hơn vàng ròng” (Thi thiên 119:6,47,72,127).

Sau khi A-sa thắng dân Ê-thi-ô-pi trở về, tiên tri A-xa-ria được Thánh Linh cảm động, vừa tỉnh thức, vừa khích lệ A-sa và dân chúng: “Các ngươi theo Đức Giê-hô-va chừng nào, thì Đức Giê-hô-va ở với các ngươi chừng nấy; nếu các ngươi tìm Ngài, ắt sẽ gặp Ngài được; nếu các ngươi lìa bỏ Ngài, thì Ngài sẽ lìa bỏ các ngươi. Song các ngươi hãy mạnh lòng, tay các ngươi chớ nhát sợ, vì việc các ngươi làm sẽ được phần thưởng” (II Sử ký 15:2,7). Họ không được phép buông trôi, phó mặc cho số phận rủi may, cũng không ỷ lại vào lực lượng của mình mà phải làm phận sự là tìm kiếm Chúa, đi theo Ngài một cách can đảm và mạnh dạn.

Qua các lời trên đây, A-sa được khích lệ lắm nên tiếp tục trừ bỏ hình tượng, sửa lại bàn thờ của Chúa, triệu tập toàn thể dân chúng tại Giê-ru-sa-lem, dâng lên Chúa của lễ thù ân. Không những là dân chúng ở miền Nam mà những người thuộc chi phái Ép-ra-im, Ma-na-se và Si-mê-ôn ở miền Bắc cũng đến dự, vì họ thấy rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của A-sa ở cùng người, thì đều về đằng người (15:9).

Dân chúng miền Nam tiếp đón anh em mình ở miền Bắc, nhân dịp nầy họ lập giao ước với Chúa là hết lòng, hết ý tìm kiếm Ngài, và thề rằng hễ ai không tìm kiếm Chúa thì vô luận nam hay nữ sẽ bị xử tử. Họ căn cứ trên Lời Chúa dạy, vì ai không thờ phượng Chúa, ắt thờ phượng hình tượng (Phục truyền 7:1-4; 13:6-11).

Khi dân chúng hết lòng, hết ý tìm kiếm Chúa thì đã gặp được Chúa, nên ai nấy reo hò, thổi kèn. Thật là một cuộc phục hưng. Đó là điều thiện mà A-sa đã làm trước mặt Chúa.

Chúng ta hãy trừ bỏ hết các thứ hình tượng ghen tỵ, cay đắng, oán hờn, kêu rêu, nhạo báng để hết lòng tìm kiếm Chúa cho đến khi gặp được Ngài. Hãy lập giao ước với Chúa là chúng ta sẽ tận tâm theo Ngài.

III. A-SA CHIẾN THẮNG QUÂN ÊTHIÔBI (II Sử ký 14:8-15).

Khi A-sa đang thừa hưởng sự bình an của Chúa thì đạo quân Ê-thi-ô-pi ào ạt kéo đến xâm chiếm Giu-đa. A-sa sẵn sàng đương đầu và dạn dĩ kêu cầu cùng Chúa, gọi Ngài là Đức Chúa Trời của ông. Lời cầu nguyện của ông rất vắn tắt, song rất tôn trọng; ông tôn vinh Chúa về quyền năng tối thượng của Ngài, có thể khiến kẻ yếu thắng người mạnh, số ít thắng số nhiều. Nếu không có Đức Chúa Trời thì đạo quân 580 ngàn người của ông là vô ích.

A-sa không nương cậy vào lực lượng của mình mà vào lực lượng của Chúa. Ông xin Chúa đừng để loài người thắng hơn Ngài, vì ông nhân danh Ngài chiến đấu. Ông kể đạo quân một triệu người với 300 cổ xe của Ê-thi-ô-pi là kẻ thù của Chúa. Kết quả là Đức Chúa Trời đánh bại kẻ thù của Ngài. Không phải dân Ê-thi-ô-pi thua dân Giu-đa, nhưng thua Đức Chúa Trời và đạo binh của Ngài (c.12,14,15), vì Ngài là Chúa của vạn quân, Chúa của chiến trận.

Cho đến nay ma quỉ vẫn còn dùng con người để đánh trận cùng Đức Chúa Trời. Đầu thế kỷ thứ I, giáo sư Ga-ma-li-ên cũng đã khuyên chính quyền Do thái đừng liều mình đánh giặc cùng Đức Chúa Trời (Công vụ 5:38-39). “Chẳng có sự khôn ngoan nào, sự thông minh nào, hay là mưu kế nào mà chống địch Đức Giê-hô-va được” (Châm ngôn 21:30).

Từ nhỏ, A-sa đã làm được việc lớn vì ông kính sợ Ngài, muốn sống đẹp lòng Ngài và Chúa đã ban cho ông thành công trong chức vụ.

CÂU HỎI

1. A-sa không giống ai và giống ai?

2. A-sa đã làm gì đối với hình tượng?

3. Tại sao ta cho việc A-sa làm là việc rất khó?

4. A-sa là con người thế nào?

5. Ngày nay chúng ta hãy coi chừng thứ hình tượng nào?

6. A-sa khuyên dân chúng làm gì?

7. Tại sao ta cho lời khuyên của A-sa là hợp tình hợp lý?

8. Khi được tiên tri A-xa-ria khuyên thì A-sa làm gì?

9. Dân chúng hưởng ứng với A-sa như thế nào?

10. Tại sao quân Giu-đa 580 ngàn mà thắng quân Ê-thi-ô-pi một triệu?

11. Ma quỉ còn cứ làm gì hôm nay?

12. Tại sao A-sa được may mắn trong chức vụ?

BÀI 5. A-SA NHỜ QUÂN SY-RI GIÚP ĐỠ

KINH THÁNH: ICác 15:16-24; II Sử ký 16:1-14.

CÂU GỐC: “Thà nương náu mình nơi Đức Giê-hô-va còn hơn tin cậy loài người” (Thi thiên 118:8).

MỤC ĐÍCH: A-sa đã thiếu khôn ngoan mà đặt lòng tin nơi quân Sy-ri. Chúng ta hãy hết lòng tin cậy nơi Chúa chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đấng Christ dạy chúng ta nhờ cậy Đức Chúa Trời

(Mác 11:22).

TH:

Sự giúp đỡ của Sy-ri

(ICác 15:16-24).

TB:

Sự ngu dại của A-sa

(I Sử ký 16:1-14).

TT:

Đức Chúa Trời không thay đổi

(Hê-bơ-rơ 13:8).

TN:

Đức Chúa Trời không thay đổi

(Ma-la-chi 3:6; Gia-cơ 1:17).

TS:

Bỏ lòng kính mến ban đầu

(Khải huyền 2:1-5).

TB:

Đường lối của Đức Chúa Trời và của con người

(Châm 14:14; Ga 4:9).

A-sa là một vị vua sống đẹp lòng Đức Chúa Trời: Trừ bỏ hình tượng, sửa đổi cuộc thờ phượng, hết lòng tìm kiếm Chúa, phục hưng dân sự và chiến thắng quân Ê-thi-ô-pi. Trong đời trị vì của ông, xứ sở được bình an. Song những năm cuối của đời ông có những việc xảy ra đáng tiếc. Con người vẫn bất toàn nên dù tốt đến đâu cũng có những lầm lỗi. Lầm lỗi lớn nhất của A-sa là nhờ cậy loài người.

I. A-SA NHỜ QUÂN SY-RI GIÚP NGĂN CHẶN QUÂN Y-SƠ-RA-ÊN (ICác 15:16- 24; II Sử ký 16:1-6).

Từ sau cơn phục hưng tại Giu-đa do A-sa điều khiển, số người từ Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc xuống Giu-đa ở miền Nam ngày một nhiều, vì họ khao khát Chúa, muốn gặp Ngài. Cuộc thờ phượng bò con vàng do Giê-rô-bô-am dựng nên khiến dân miền Bắc càng ngày càng xa Chúa, đời sống của họ ngày một khô khan, cằn cổi.

Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên cảm thấy lo sợ vì nhiều người từ miền Bắc đổ xuống Nam, mở đường cho Giu-đa sẽ thôn tính Y-sơ-ra-ên. Để đề phòng việc ấy có thể xảy ra, Ba-ê-sa đem quân đánh chớp nhoáng chiếm thành Ra-ma thuộc địa phận Giu-đa gần biên giới phía Nam của Y-sơ-ra-ên.

Ra-ma là một thành phố lớn, chiếm một vị trí quan trọng là nằm trên trục lộ chính từ Bắc chí Nam. Ông xây đắp Ra-ma thật kiên cố để kiểm soát con đường qua lại giữa hai nước Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, đồng thời kiểm soát được sự giao thông thương mại giữa Giu-đa với thế giới bên ngoài. Việc nầy làm cho Giu-đa không thể tấn công Y-sơ-ra-ên, mà còn làm cho Giu-đa ngày càng tê liệt.

Bị tấn công thình lình, gây thiệt hại lớn lao cho hiện tại và tương lai của xứ sở, A-sa hoảng hốt, vội vàng gom góp hết vàng bạc trong đền thờ của Chúa, trong cung điện của vua, nhờ một đại diện mang đến triều cống cho Bên-ha-đát, vua của Sy-ri, với lời thỉnh cầu: “Chúng ta hãy lập giao ước cùng nhau, y như thân phụ của tôi và thân phụ của ông đã làm. Kìa, tôi gởi đến vua bạc và vàng: Hãy đi hủy ước của vua với Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, để người xa khỏi tôi”. Bị tấn công bất ngờ, vua Y-sơ-ra-ên bỏ Ra-ma để lo phòng thủ phía bắc. Vua A-sa truyền lệnh cho dân chúng lấy tất cả vật liệu ấy đem đi xây thành Ghê-ba và Mích-ba.

II. HẬU QUẢ CỦA VIỆC A-SA NHỜ CẬY LOÀI NGƯỜI (II Sử ký 16:7-14).

1. Bị Chúa trách.

A-sa đã làm điều đó mà không biết là một sai lầm đáng tiếc, lại còn lấy làm hãnh diện về thành công của mình là phá hủy được kế hoạch của Ba-ê-sa. Đang khi ông phấn khởi, hồ hởi cho dân chúng đem đá và gỗ của Ba-ê-sa từ Ra-ma về Ghê-ba và Mích-ba thì tiên tri Ha-na-ni đến, tiên tri trách A-sa mấy điều:

a. Đạo quân Sy-ri đã thoát khỏi tay vua (7).

Ha-na-ni muốn nói rằng nếu A-sa đã nhờ cậy Chúa thì không những ông chiến thắng Y-sơ-ra-ên, rồi khi quân Y-sơ-ra-ên kêu cầu quân Sy-ri tiếp viện thì ông cũng thắng luôn.

Như vậy A-sa đã bỏ qua một cơ hội rất tốt và đã phạm một lỗi lầm rất lớn là thay vì chiến thắng Sy-ri, ông lại hạ mình nhờ Sy-ri giúp đỡ. Quyền năng to tát Chúa đã đặt vào tay ông thì ông lại làm mất, rồi đem quyền lợi của mình cống hiến cho kẻ thù.

b. Nhắc lại sự đắc thắng Ê-thi-ô-pi (8 và 9a).

Lực lượng của Y-sơ-ra-ên và Sy-ri còn thua xa lực lượng của Ê-thi-ô-pi. Thế mà Đức Chúa Trời đã phó quân Ê-thi-ô-pi vào tay vua khi ông hết lòng nhờ cậy Ngài, thì lực lượng của Y-sơ-ra-ên và Sy-ri đâu có gì đáng kể, nếu ông cũng nhờ cậy Chúa như vậy. Ông đã đắc thắng trong việc lớn và khó khi nhờ cậy Chúa, trái lại ông đã thất bại trong việc nhỏ và dễ khi nhờ cậy loài người, vì Chúa lúc nào cũng sẵn sàng bày tỏ quyền năng của Ngài cho kẻ nhờ cậy Ngài. Ông đã kinh nghiệm nhờ cậy Chúa, biết Ngài là Đấng duy nhất giúp kẻ yếu thắng được người mạnh, số ít thắng số nhiều, tại sao bây giờ ông quên đi?

c. Từ rày về sau, xứ vua sẽ có giặc (9b).

Lìa bỏ Đức Chúa Trời Toàn Năng và Hằng Sống để nhờ cậy loài người yếu đuối, hay chết là một hành động dại dột. Lìa bỏ Vầng Đá muôn đời để nương dựa trên cây sậy đã dập thì không khôn ngoan đâu (Ê-sai 2:22; 26:4; 36:6; IICác 18:21). Bởi sự dại dột đó, A-sa đã mất cơ hội chiến thắng quân Sy-ri, mất cơ hội tốt để tôn vinh Chúa, lại còn liên kết với kẻ thù, mở đường cho họ xâm chiếm xứ sở của mình. Trước đó, A-sa đã đem những khí dụng bằng vàng, bằng bạc vào nhà Đức Chúa Trời (II Sử ký 15:18), bây giờ ông lấy hết ra, đem dâng cho vua Sy-ri để hối lộ.

2. Phản ứng của A-sa.

a. A-sa nổi giận với Ha-na-ni (10).

Sự nhờ cậy Chúa đã làm cho A-sa khiêm nhường, sự nhờ cậy loài người đã làm cho A-sa kiêu ngạo. Kiêu ngạo làm mù lý trí, không thấy lỗi lầm của mình, nên A-sa lấy làm tức bực khi nghe tiên tri dám phủ nhận sự thành công của ông và nhất là cho ông đã hành động cách ngu dại. Con người theo ý riêng là tự tôn, không thể chấp nhận lời quở trách của ai, dầu lời ấy chí lý đến đâu cũng vậy.

b. A-sa cầm tù tiên tri Ha-na-ni.

A-sa đã không ăn năn lỗi lầm đã phạm mà còn phạm thêm lỗi lầm, là cầm tù đầy tớ của Chúa được Ngài sai đến để thức tỉnh A-sa. A-sa bây giờ khác hơn A-sa trước.

Mấy năm trước, khi A-sa nhờ cậy Chúa, đắc thắng Ê-thi-ô-pi trở về, thì được tiên tri A-xa-ria đến khuyên A-sa giục lòng can đảm trừ bỏ hình tượng, chấn chỉnh cuộc thờ phượng, kêu gọi dân chúng tìm kiếm Chúa. Bây giờ, A-sa nhờ cậy người, nên khi bị tiên tri Ha-na-ni quở trách thì giận dữ và bắt ông ấy cầm tù.

c. A-sa hà hiếp dữ tợn những người khác.

Có lẽ mấy người đó đồng ý với tiên tri Ha-na-ni nên A-sa đã bắt bớ họ cách dữ tợn vì cho họ dám chống lại vua. Tất cả những người làm ơn cho vua thì ông coi như kẻ thù.

III. NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA A-SA (11-14).

1. A-sa đau chân nặng.

Sau 39 năm trị vì, tức hai năm trước khi qua đời. A-sa đau chân nặng. Ông đã cầm tù tiên tri Ha-na-ni, song chính ông cũng bị cầm tù vì không đi đâu được. Không nhờ cậy Chúa mà nhờ cậy người là một tội. Khi bị quở trách mà không ăn năn, lại còn giận dữ là thêm một tội nữa. Thế là tội chồng thêm tội. Trong thời đó, có nhiều tiên tri được Chúa dùng cầu nguyện chữa bệnh như tiên tri Ê-li (ICác 17:17-21), tiên tri Ê-li-sê (IICác 4:18,37), tiên tri Ê-sai (IICác 20:1-7). Nhưng trong cơn bệnh hoạn, A-sa không tìm kiếm Đức Giê-hô-va mà tìm kiếm thầy thuốc. Ông không muốn nhờ cậy Chúa qua các tiên tri vì ông đã cầm tù tiên tri Ha-na-ni. Ông không nhờ cậy Chúa thì làm sao nhờ cậy các đầy tớ của Chúa được???

2. A-sa qua đời.

Chắc A-sa đau chân cho đến lúc chết. Người ta đã an táng thi hài vua một cách trọng thể, vì so với các vua khác của Y-sơ-ra-ên và của Giu-đa thì A-sa là một vua tương đối tốt. Dầu ông thiếu sự nhờ cậy Chúa, song vẫn không chối bỏ Ngài mà thờ lạy hình tượng.

Hãy coi chừng những ngày cuối cùng của đời mình. Đức Chúa Trời đã trách dân Y-sơ-ra-ên: “Ta còn nhớ về ngươi lòng nhân từ của ngươi lúc đang thơ, tình yêu mến trong khi ngươi mới kết bạn, là khi ngươi theo Ta nơi đồng vắng, trong đất không gieo trồng” (Giê-rê-mi 2:2). Chúa Jêsus đã trách Hội Thánh Ê-phê-sô: “Nhưng điều Ta trách ngươi, là ngươi đã bỏ lòng kính mến ban đầu” (Khải huyền 2:4). Phao-lô khuyên các Hội Thánh: “Anh em đã nhận Đức Chúa Jêsus Christ thể nào thì hãy bước đi trong Ngài thể ấy, hãy châm rễ và lập nền trong Ngài” (Cô-lô-se 2:6-7).

Nhờ cậy Chúa, chúng ta sẽ giải quyết được sự khó khăn. Nhờ cậy người, chúng ta sẽ thêm sự khó khăn. Vì vậy, “thà nương náu mình nơi Đức Giê-hô-va còn hơn tin cậy loài người”.

CÂU HỎI

1. Lỗi lầm lớn nhất của A-sa là gì?

2. Tại sao vua Y-sơ-ra-ên đánh chiếm thành Ra-ma?

3. Khi thành Ra-ma bị đánh chiếm, vua Giu-đa làm gì?

4. Bên-ha-đát đã làm gì cho A-sa?

5. Hãy kể những điểm Ha-na-ni trách A-sa?

6. A-sa có thái độ nào đối với Ha-na-ni?

7. Tại sao A-sa đối với Ha-na-ni khác hơn đối với A-xa-ria?

8. A-sa đau bệnh gì mà chết?

9. Khi đau A-sa làm gì? Tại sao ông không nhờ các tiên tri cầu nguyện?

10. Chúa thường trách chúng ta điều gì?

BÀI 6. ĐỨC CHÚA TRỜI SĂN SÓC Ê-LI

KINH THÁNH: ICác 16:29-33; 17:1-24.

CÂU GỐC: “Đáng chúc phước thay là kẻ nhờ cậy Đức Giê-hô-va, và lấy Đức Giê-hô-va làm sự trông cậy mình” (Giê-rê-mi 17:7).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Đức Chúa Trời ban mọi sự cần dùng cho Ê-li, Ngài cũng sẵn sàng ban cho chúng ta như vậy.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đức Chúa Trời săn sóc chúng ta

(Lu-ca 12:23-31).

TH:

A-háp là một vua đại ác của Y-sơ-ra-ên

(ICác 16:29-33).

TB:

Ê-li xuất hiện và tuyên bố với A-háp

(ICác 17:1).

TT:

Ê-li tại khe Kê-rít

(ICác 17:2-7).

TN:

Ê-li tại Sa-rép-ta

(ICác 17:8-16).

TS:

Ê-li chữa lành con của một quả phụ

(ICác 17:17-24).

TB:

Ê-li sốt sắng cầu nguyện

(Gia-cơ 5:17-18).

A-háp là vua thứ bảy của vương quốc Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc: Giê-rô-bô-am; Na-đáp; Ba-ê-sa; Ê-la; Xim-ri; Ôm-ri và A-háp.

A-háp là vị vua gian ác hơn bất cứ vua nào của Y-sơ-ra-ên. Ấy là dưới triều của A-háp mà tiên tri Ê-li phục vụ Chúa và được Ngài săn sóc.

I. Ê-LI TẠI KHE KÊ-RÍT (ICác 17:1-7).

A-háp lấy vợ ngoại đạo là con gái của vua Si-đôn, tên là Giê-sa-bên. Giê-sa-bên cũng thuộc hạng đàn bà đại ác hiếm có (IICác 9:22). A-háp lập miếu thờ lạy tà thần của Si-đôn là Ba-anh và Át-tạt-tê, có 850 tiên tri lo việc tế tự. A-háp và Giê-sa-bên bảo trợ cho ai thờ lạy tà thần như mình và bắt bớ ai thờ lạy Đức Giê-hô-va, nhất là bắt bớ các tiên tri. Vậy, một số các tiên tri của Chúa đã bị giết, số còn lại phải chạy trốn (ICác 18:13).

Nhưng thình lình tiên tri Ê-li xuất hiện, ra mắt A-háp và long trọng tuyên bố: “Tôi đứng trước mặt Đức Giê-hô-va hằng sống của Y-sơ-ra-ên mà thề rằng, mấy năm sau đây, nếu tôi chẳng nói, chắc sẽ không có sương, cũng không có mưa”. Ê-li đã đứng trước mặt Đức Chúa Trời, nên ông không sợ mà đứng trước mặt A-háp, cũng như Môi-se đã đứng trước mặt Đức Chúa Trời, nên ông dạn dĩ mà đứng trước mặt Pha-ra-ôn. Biết Ê-li đến cảnh cáo mình, song A-háp không dám làm chi cả mặc dầu trước đó đã cố tìm để bắt, vì biết Ê-li có thần quyền của Đức Chúa Trời.

Ê-li muốn nói rằng, Đức Giê-hô-va, Đấng đã sai ông đến là Đức Chúa Trời Hằng Sống chứ không phải các hình tuợng vô tri, vô giác mà A-háp đang thờ lạy. Đức Giê-hô-va, Đấng cầm quyền vũ trụ trong tay, sẽ ra lịnh không cho sương và mưa xuống đất, chứ không phải hữu danh vô thực như Ba-anh và Át-tạt-tê. A-háp đừng tự hào về sự giàu có của mình, cơn đói kém sẽ đến một ngày gần đây. Đó là lời kêu gọi ăn năn, lìa bỏ hình tượng mà quay về với Chúa để tránh khỏi cây roi sửa phạt.

Sau khi Ê-li nói xong, cơn hạn hán bắt đầu và Đức Chúa Trời ra lịnh cho Ê-li: “Hãy đi khỏi đây, qua phía đông và ẩn mình nơi khe Kê-rít, đối ngang Giô-đanh, ngươi sẽ uống nước của khe và Ta sẽ truyền cho chim quạ nuôi ngươi tại đó”. Mạng lịnh của Chúa thật đơn sơ và rõ ràng, không có gì khó hiểu, chỉ khó tin cho người xác thịt.

Trong lúc hạn hán, ngồi gần khe nước, chắc không thiếu nước, song chờ những con quạ mỗi ngày tha thịt và bánh đến cho mình là việc không thể có. Quạ là loài chim ăn hỗn, ăn tạp, không hi vọng gì chúng tha thức ăn cho ai. Song muôn loài vạn vật đều thuộc về Chúa, ở dưới quyền điều khiển của Ngài. Khi Chúa chỉ thị thì những con quạ vâng lệnh Ngài là việc rất tự nhiên. Tin như vậy, Ê-li đến khe Kê-rít. Mỗi ngày hai lần, những con quạ tha bánh và thịt đến cho ông. Ê-li không hy vọng nơi những con quạ đâu, mà hy vọng nơi Chúa thôi. Quạ không hứa gì với ông, song Chúa hứa. Khi Chúa hứa, Ngài muốn dùng con quạ hay bất cứ ai cũng được. Đó là quyền của Chúa.

Dầu ở chỗ thiếu tiện nghi, thức ăn không dồi dào, ở một nơi hẻo lánh, song đầy tớ của Chúa cần học tập vâng lời và tin cậy, sẵn sàng đứng trước mặt vua, cũng sẵn sàng ẩn mình nơi cô tịch để chuẩn bị làm việc lớn giữa muôn người. Đầy tớ của Chúa không đòi hỏi thỏa mãn tư dục, không từ chối chức vụ khó khăn, miễn sao danh Chúa được vinh hiển.

II. Ê-LI TẠI SA-RÉP-TA (ICác 17:8-16).

Không mưa lâu ngày nên khe Kê-rít đã cạn. Bấy giờ Chúa phán với Ê-li: “Hãy chỗi dậy, đi đến Sa-rép-ta, thành thuộc về Si-đôn, và ở tại đó; kìa, Ta đã truyền cho một người góa bụa ở thành ấy lo nuôi ngươi” (ICác 8:9).

Đức Chúa Trời không dùng con quạ nữa, vì Ngài có hàng ngàn đường lối khác nhau. Trong Y-sơ-ra-ên có nhiều quả phụ song Chúa không sai Ê-li đến cùng họ, vì họ không có đức tin. Thành Sa-rép-ta thuộc Si-đôn ở sát biên giới Y-sơ-ra-ên về phía Bắc, nên cũng bị hạn hán làm cho đói kém.

Nếu là một người vô tín, lấy làm khó mà vâng lời Chúa. Giữa cơn đói kém, một quả phụ làm sao nuôi Ê-li? Nếu Chúa bảo ông đến với một triệu phú, hay ít nữa là một người khá giả còn có lý. Tuy nhiên Ê-li đã kinh nghiệm quyền năng và ân điển của Chúa, nên ông không nghi ngờ và sợ hãi gì cả, mà sẵn sàng đi đến Sa-rép-ta. Con chim Chúa còn sai khiến được huống chi là con người.

Làm sao ông biết được nhà người quả phụ đó? Chúa đã sắp xếp mọi sự rồi, nên khi đến cửa thành, Ê-li thấy một bà mặc y phục góa bụa đang lượm củi. Ông xin bà một chút nước để uống. Từ khe Kerít, đến thành Sa-rép-ta là 75 dặm, ông phải đi bộ giữa trời nắng chang chang, nên chắc khát nước lắm. Trong lúc hạn hán, một chút nước cũng rất quí. Công việc đang làm mà bị bỏ dở dễ gây bực bội, thế nhưng bà đã đi ngay để múc nước cho Ê-li, chứng tỏ bà thật rộng lượng và hiếu khách. Ông kêu bà lại và hỏi thêm: “Cũng hãy đem cho ta một miếng bánh nữa”. Vì ông không những khát mà còn đói.

Quả phụ là người Si-đôn, Ê-li là người Y-sơ-ra-ên, song nhờ y phục đặc biệt, bà biết Ê-li là tiên tri (IICác 1:3). Bà cũng biết Giê-hô-va Đức Chúa Trời là Đấng Hằng Sống, nên bà nhân danh Ngài mà thề rằng, bà không có bánh, chỉ còn một chút bột, một chút dầu. Bà lượm củi để sửa soạn cho mẹ con bà bữa ăn cuối cùng rồi chết. Trước cảnh não nề đến tuyệt vọng đó, Ê-li không hề than thở, song quả quyết với bà: “Chớ sợ chi, hãy trở về làm y như ngươi đã nói, song trước hết hãy dùng bột ấy làm cho ta một cái bánh nhỏ rồi đem ra cho ta. Kế sau ngươi sẽ làm cho ngươi và cho con trai ngươi. Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Bột sẽ không hết trong vò, và dầu sẽ không thiếu trong bình cho đến ngày Đức Giê-hô-va giáng mưa xuống đất” (ICác 17:13-14).

Nếu quả phụ là người vô tín, ích kỷ, không chia sẻ phần ăn của mình cho đầy tớ Đức Chúa Trời, chắc hai mẹ con đã ăn một bữa no rồi chết, còn về phần Ê-li, Chúa có cách khác. Nhưng dầu hai người thuộc hai dân tộc khác nhau, có lúc thù hằn nhau, mà nếu chung niềm tin thì rất dễ đồng ý với nhau. Vì vậy, bà đi ngay và làm đúng như Ê-li đã bảo. Từ đó, mẹ con bà và Ê-li ăn lâu ngày, bột và dầu vẫn không hết trong vò và trong bình. Ê-li đã đến Sa-rép-ta không phải để được quả phụ nuôi mà để cứu mẹ con bà khỏi chết đói (Lu-ca 4:25-26).

Đây là bài học vô giá cho Hội Thánh đối với đầy tớ của Chúa. Để giải quyết vấn đề thiếu thốn của Hội Thánh, không phải là Hội Thánh trốn trách nhiệm dâng tiền cho Chúa mà sẵn sàng thi hành trách nhiệm đó để nuôi đầy tớ của Ngài. Muốn được phước, Hội Thánh đừng bỏ qua cơ hội phục vụ Chúa mà cơ hội tốt nhứt là lúc khó khăn, trong cơn khủng hoảng.

III. Ê-LI CỨU SỐNG CON CỦA QUẢ PHỤ (17:17-24).

Chúa đã săn sóc Ê-li tại khe Kê-rít và tại nhà quả phụ Sa-rép-ta. Bấy giờ, con bà ấy đau và chết. Bà khổ sở lắm, vì chỉ có một con. Bà nghĩ rằng Ê-li là người của Đức Chúa Trời, biết bà có tội nên đến để nhắc lại tội của bà và giết con bà. Trong cơn bối rối, bà mất bình tĩnh, nhận định sai lầm, quên rằng Ê-li đến để cứu mẹ con bà khỏi cái chết chứ đâu phải để giết. Nếu Chúa muốn giết, cần gì Ê-li phải đến đó. Dầu sao, bà nhận mình có tội, nhận Ê-li là tiên tri. Bà nói như bắt đền Ê-li, buộc ông phải cứu con bà, vì bà biết ông có năng quyền của Chúa. Ê-li không một lời cãi vả với bà, chỉ xin bà giao đứa bé cho ông. Ông nhận trách nhiệm làm cho con bà sống lại, vì ông đến để cứu chứ không phải để giết. Ê-li đem đứa bé lên phòng riêng của mình, thiết tha cầu xin Chúa và Ngài đã cho nó sống lại. Ê-li đem đứa bé giao lại cho mẹ nó. Bà vui mừng khôn xiết và xác nhận Ê-li là người của Đức Chúa Trời, những lời ông nhân danh Chúa nói ra là thật. Bởi sự săn sóc của Chúa, dân Si-đôn tôn trọng Ê-li là đầy tớ của Ngài.

Đức Chúa Trời là thành tín. Điều chi Ngài đã hứa, Ngài cũng đã làm. Đức Chúa Trời toàn năng, không có gì khó cho Ngài cả. Đức Chúa Trời yêu thương, không bao giờ bỏ mặc đầy tớ Ngài phải chịu đói khát và săn sóc họ một cách chu đáo trong mọi cảnh ngộ. Vì vậy đáng cho chúng ta tin cậy và vâng lời Chúa trọn vẹn như tiên tri Ê-li, như quả phụ Sa-rép-ta.

CÂU HỎI

1. A-háp là vua như thế nào? Ông đã làm gì?

2. Ê-li đến với A-háp để nói gì?

3. Khi bắt đầu hạn hán, Chúa bảo Ê-li đến đâu? Với lời hứa gì?

4. Ê-li nghĩ thế nào mà vâng lời Chúa?

5. Khi khe Kê-rít cạn, Chúa bảo Ê-li đến đâu? Với lời hứa gì?

6. Lý do nào khiến Ê-li lại vâng lời Chúa?

7. Khi đến Sa-rép-ta, Ê-li gặp cảnh nào?

8. Bởi đức tin, Ê-li bảo quả phụ làm gì?

9. Quả phụ đối với Ê-li như thế nào?

10. Khi con của quả phụ chết, bà nói gì với Ê-li?

11. Ê-li đã làm gì để giúp đỡ quả phụ?

12. Đức Chúa Trời là Đấng thế nào mà chúng ta tin cậy, vâng lời Ngài?

BÀI 7. LỬA TỪ TRỜI

KINH THÁNH: ICác 18:17-39.

CÂU GỐC: “Các ngươi đi gieo hai bên cho đến chừng nào? Nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, khá theo Ngài” (ICác 18:21).

MỤC ĐÍCH: Ê-li đã quyết định phục vụ Đức Chúa Trời chân thật nên Ngài bày tỏ quyền năng để trả lời cầu nguyện của ông. Chúa cũng muốn chúng ta sống như Ê-li.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chọn lựa Đấng Christ

(Ma-thi-ơ 6:21; 10:32a,33).

TH:

Ê-li từ Si-đôn trở lại Y-sơ-ra-ên

(ICác 18:1-16).

TB:

Đức Chúa Trời đánh bại thần tượng

(ICác 18:17-39).

TT:

Ta phải chọn lựa Chúa hoặc chối bỏ Ngài

(Giê 24:14-15).

TN:

Ta chỉ nên có một chủ

(Gia-cơ 1:5-8; 4:8).

TS:

Một quyết định quan trọng

(Lu-ca 11:23; 16:23).

TB:

Quyết định theo Chúa Jêsus

(Mác 9:38-41).

Sau hơn ba năm, cả xứ Y-sơ-ra-ên không có một giọt mưa, cũng không có một giọt sương, nên cảnh vật tiêu điều thật đáng sợ. Đồng ruộng trắng xóa, đất đai nứt nẻ, không một ngọn cỏ. Cây cối trong vườn không có lá, hoa, hoặc trái mà chỉ có cành trơ trọi. Súc vật trong chuồng chỉ còn có da bọc xương, kêu la vì đói khát. Người người mặt mày hốc hác, mắt vàng, bụng lép, dáng đi thiểu não. Ngay tại kinh đô Sa-ma-ri cũng có cơn đói kém trầm trọng.

Dầu vậy, chưa thấy A-háp ăn năn, mà cứ tiếp tục tìm bắt Ê-li (18:10). A-háp cho Ê-li là người làm rối loạn Y-sơ-ra-ên, nhưng thật ra chính ông là người đó. Bấy giờ, Đức Chúa Trời bảo Ê-li trở về Y-sơ-ra-ên và ra mắt A-háp để cứu vãn tai ách nặng nề.

I. LÝ DO CẦN LỬA TỪ TRỜI.

Ê-li đề nghị A-háp triệu tập tất cả dân Y-sơ-ra-ên với các tiên tri Ba-anh và Át-tạt-tê tại trên núi Cạt-mên, A-háp đồng ý.

Khi ai nấy đều tề tựu với hi vọng Ê-li cầu xin mưa cho họ, thì Ê-li hỏi: “Các ngươi đi gieo hai bên cho đến chừng nào? Nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, hãy theo Ngài; nếu Ba-anh là Đức Chúa Trời, hãy theo hắn” (ICác 18:21).

Ê-li mượn lối đi hàng hai, khập khểnh để mô tả nếp sống đạo đức của người Y-sơ-ra-ên. Từ thời Giê-rô-bô-am, họ đã thờ bò con vàng. Đến đời A-háp và Giê-sa-bên, họ thờ thần Ba-anh và Átạttê, mặc dầu họ biết rằng tổ phụ họ là Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp đã thờ lạy Đức Giê-hô-va. Chính Ngài giải phóng dân tộc họ ra khỏi Ê-díp-tô, đưa vào Ca-na-an cho đến ngày đó.

Không những A-háp và Giê-sa-bên thờ lạy Ba-anh và Át-tạt-tê, nhưng còn bắt bớ ai thờ Đức Giê-hô-va, giết chết các tiên tri của Ngài. Vì vậy để an thân, họ sống lưng chừng như người đi hàng hai. Họ thờ Đức Giê-hô-va song cũng thờ Ba-anh và Át-tạt-tê, vì họ cho rằng làm như vậy là khôn ngoan, hợp với tình thế, hợp với lòng người.

Ê-li nói rằng đó là nguyên nhân gây cho xứ sở điêu tàn, đồng bào đau khổ, chết chóc. Họ không thể kéo dài cuộc sống như vậy mà phải chấm dứt ngay, chọn một Chúa mà thờ, một con đường để đi.

Vô luận thời buổi nào chúng ta cũng bị cám dỗ như dân Y-sơ-ra-ên. Ma quỉ muốn chúng ta sống như người què vất vưỡng, không tiến, không thoái, không nóng, không lạnh, thể nào xong thôi. Vì vậy, có người vừa thờ Đức Chúa Trời vừa thờ ma quỉ… Vừa theo Chúa vừa theo thế gian, làm tôi hai chủ. Đó cũng là nguyên nhân đưa chúng ta đến cơn hạn hán thuộc linh, làm cho đời sống cá nhân, gia đình và Hội Thánh bị khô khan, cằn cỗi, dở sống dở chết. Chúng ta hãy theo lời khuyên của Ê-li mà chấm dứt ngay tình trạng bấp bênh, xu thời, giả dối mà lựa chọn một lần đủ cả, là hết lòng theo Chúa và thờ phượng một mình Ngài.

Khi Ê-li hỏi như vậy và bảo mọi người lựa chọn, thì họ không đáp một lời, vì một số người không phân biệt Giê-hô-va là Đức Chúa Trời hay Ba-anh là Đức Chúa Trời. Một số người khác biết Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, song lại hèn nhát không dám bỏ Ba-anh vì sợ A-háp và Giê-sa-bên.

Để giúp họ có một niềm tin vững vàng và quyết định đường hướng của đời mình, Ê-li đề nghị một cuộc thử nghiệm: Ba-anh có 450 tiên tri, Đức Giê-hô-va có một mình ông, xin cho mỗi bên một con bò đực, sả ra từng miếng, chất trên củi làm của lễ toàn thiêu, nhưng không châm lửa. Tiên tri đôi bên phải cầu nguyện với thần mình và thần nào khiến lửa từ trời giáng xuống thiêu hóa của lễ thì thần đó là Đức Chúa Trời. Tất cả dân chúng đồng ý. Các tiên tri Ba-anh cũng bằng lòng vì họ có một số đông.

II. BA-ANH KHÔNG THỂ BAN LỬA TỪ TRỜI (25-28).

Ê-li nhường cho các tiên tri, đúng hơn là các phù thủy Ba-anh, làm trước. Họ bắt một bò con, sả từng miếng chất lên củi, rồi từ sáng đến trưa họ khẩn cầu Ba-anh: “Hỡi Ba-anh, xin đáp lời chúng tôi”, nhưng chẳng có tiếng nào. Họ nhảy múa chung quanh bàn thờ. Khi đã trưa, Ê-li chế nhạo các phù thủy “Khá la lớn lên đi, vì người là thần, hoặc người đương suy gẫm, hoặc ở đâu xa, hoặc đương đi đường, có lẽ người ngủ và sẽ thức dậy” (ICác 18:27). Họ la hét điên tiết đến nỗi lấy gươm giáo rạch vào mình cho đổ máu, nhưng không kết quả gì.

Một vị thần hữu danh vô thực, một thần tượng vô tri giác, thế nào nghe được, thấy được, hiểu được, làm được? Các phù thủy mê tín đã hành động một cách vô lý, vô ích. Tiên tri Ê-sai đã chế nhạo những người làm hình tượng và những người thờ hình tượng (Ê-sai 44:9-20), rồi kết luận: “Trong ngày đó, người ta sẽ ném cho chuột, cho dơi những hình tượng bằng bạc, bằng vàng mà họ làm ra cho mình thờ lạy” (Ê-sai 2:20).

III. ĐỨC GIÊ-HÔ-VA ĐÃ BAN LỬA TỪ TRỜI (29-39).

Đến phiên Ê-li, ông kêu dân chúng đến gần ông vì muốn họ chú ý để hiểu và sẽ không bao giờ quên.

1. Ê-li sửa lại bàn thờ của Chúa đã bị phá hủy.

Khi dân Y-sơ-ra-ên sa ngã, bỏ Chúa mà thờ bò vàng, thờ Ba-anh và Át-tạt-tê, họ đã phá hủy bàn thờ của Chúa, rồi suốt hơn ba năm hạn hán, họ lại dâng tế lễ, kêu la, cầu cứu nơi Ngài. Thật là mỉa mai, họ dâng bao nhiêu tế lễ, kêu la, cầu cứu bao nhiêu lần cũng vô ích, đang khi bàn thờ của Chúa chưa được lập lại, Danh Chúa còn bị sỉ nhục, nên bầu trời trong vắt, cứng như đồng, nóng rực như lửa, chẳng có một giọt mưa, cũng chẳng có một giọt sương. Vì vậy, Ê-li phải sửa lại bàn thờ của Chúa.

Chúng ta có thể tổ chức những buổi nhóm long trọng, những nghi thức linh đình, nhưng vẫn không có lửa Thánh Linh, nếu bàn thờ của Chúa đã bị phá hủy mà chưa sửa lại. Trong cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội có những bàn thờ: Tin kính, yêu thương, cầu nguyện, dâng hiến, phục vụ. Những bàn thờ nầy sẽ bị phá hủy khi chúng ta lệch lạc, phân tâm, đi hàng hai như dân Y-sơ-ra-ên. Vậy, mỗi chúng ta hãy đứng lên, sửa lại bàn thờ của Chúa, tức là dẹp bỏ mọi hình tượng thấy được và không thấy được, nhất tâm theo Chúa mà thôi.

2. Ê-li dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời.

Ê-li lấy 12 hòn đá làm tượng trưng cho 12 chi phái Y-sơ-ra-ên, hợp thành một bàn thờ nhân danh Chúa. Chung quanh bàn thờ, ông đào một cái mương, rồi chất củi trên bàn thờ, sả bò tơ ra và sắp trên củi. Kế đó ông bảo người ta múc nước đổ trên của lễ và củi ba lần, đến nỗi nước chảy xung quanh bàn thờ và đầy mương.

3. Ê-li cầu nguyện với Chúa.

Lời cầu nguyện của ông thật vắn tắt, song bao hàm nhiều ý nghĩa. Ông xin với Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, của Y-sác và của Gia-cốp là nhắc lại lời hứa và giao ước của Ngài với dân Y-sơ-ra-ên. Ông xin Ngài nhận dân Y-sơ-ra-ên là dân của Ngài và Ngài ở giữa họ, còn ông là tôi tớ Ngài để làm mọi sự nầy. Ông xin Chúa nhậm lời ông để dân Y-sơ-ra-ên biết Ngài là Đức Chúa Trời và Chúa khiến họ trở lại cùng Ngài. Ông cầu xin một cách thiết tha, bình tĩnh, trang nghiêm và sốt sắng, không vì mình mà vì Chúa, vì đồng bào.

Lửa của Đức Giê-hô-va liền giáng xuống thiêu hóa tất cả, không những của lễ, củi mà 12 hòn đá, bụi và nước trong mương cũng khô luôn. Chúa nhậm lời Ê-li, bày tỏ quyền năng kỳ diệu quá sức tưởng tượng của ông và mọi người chứng kiến, trong đó có A-háp. Khi cả dân chúng thấy vậy, họ không còn nghi ngờ gì nữa, không còn sợ hãi chi hết mà sấp mình, cúi đầu đồng thanh la lên: “Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, Giê-hô-va là Đức Chúa Trời”. Kết quả là một cơn mưa tầm tã.

Hành động của Ê-li chứng tỏ ông hoàn toàn tin cậy Chúa sẽ khiến lửa từ trời đổ xuống thiêu hóa tế lễ. Lời cầu nguyện của ông thật nóng cháy, chỉ muốn tôn vinh Chúa, đem đồng bào về với Ngài. Ông đã đạt được mục đích.

Đồng bào của chúng ta không biết đâu là chánh, đâu là tà, đâu là con đường phải đi, đâu là con đường phải tránh. Ngay trong vòng con cái Chúa, vẫn có người còn lưng chừng để cầu an, đi hàng hai để đẹp lòng người. Nếp sống đó làm cho đồng bào tưởng rằng thần nào cũng vậy, đạo nào cũng tốt. Trời sẽ đóng chặt, cơn hạn hán sẽ kéo dài nếu chúng ta tiếp tục sống nếp sống đó. Lửa là sự hiện diện của Chúa sẽ tỏ bày một cách kỳ diệu, nếu chúng ta dám tin cậy Chúa mà hành động như Ê-li.

CÂU HỎI

1. Dân Y-sơ-ra-ên bị tai ách gì khi chối bỏ Đức Chúa Trời để thờ hình tượng?

2. Tai ách đó làm cho xứ sở họ ra sao?

3. Ê-li đề nghị gì với A-háp?

4. Ê-li kêu gọi dân chúng làm gì?

5. Ê-li đề nghị một cuộc thử nghiệm thế nào?

6. Thần Ba-anh đã làm gì cho các phù thủy?

7. Điều trước hết Ê-li đã làm là gì?

8. Ê-li dâng tế lễ cách nào?

9. Ê-li xin Chúa làm gì? Với mục đích gì?

10. Kết quả thế nào? Dân chúng làm gì?

11. Tại sao chúng ta cũng bị một cơn hạn hán thuộc linh?

12. Chúng ta làm gì để có một cơn mưa dào?

BÀI 8. ĐỨC CHÚA TRỜI NÓI VỚI Ê-LI

KINH THÁNH: ICác 18:41; 19:21.

CÂU GỐC: “Đừng sợ, vì Ta ở với ngươi; chớ kinh khiếp, vì Ta là Đức Chúa Trời ngươi! Ta sẽ bổ sức cho ngươi, phải, Ta sẽ giúp đỡ ngươi, lấy tay hữu công bình Ta mà nâng đỡ ngươi” (Ê-sai 41:10).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Đức Chúa Trời an ủi Ê-li và chỉ cho ông điều phải làm. Chúa cũng đối với mỗi chúng ta như vậy.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus nói với chúng ta

(Giăng 16:33; Ma-thi-ơ 28:19-20).

TH:

Hầu việc Chúa Jêsus

(Giăng 21:15-17).

TB:

Ê-li ngã lòng

(ICác 18:41-46; 19:1-7).

TT:

Đức Chúa Trời nói với Ê-li

(ICác 19:8-20).

TN:

Đức Chúa Trời sai khiến Ê-li

(ICác 19:11-18).

TS:

Sự khích lệ

(Ma-thi-ơ 9:22; Giăng 14:1; 16:33).

TB:

Đức Chúa Trời ban cho Ê-li một phụ tá

(ICác 19:19-21).

Sau khi dân chúng tung hô Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, Ê-li ra lịnh bắt giết tất cả tiên tri Ba-anh như lời Chúa đã ghi (Lê-vi 20:27; Phục truyền 18:10-14). Kế đó, ông lên đỉnh núi để cầu nguyện và mưa bắt đầu đổ xuống, Ê-li chạy bộ 30 cây số từ núi Cạt-mên về Gít-rê-ên.

A-háp thuật lại cho Giê-sa-bên mọi điều Ê-li đã làm, nhất là việc giết hết thảy tiên tri của Ba-anh. Đáng lẽ A-háp phải thuật lại thể nào Đức Chúa Trời bày tỏ quyền năng và sự thương xót khiến lửa từ trời đổ xuống và ban cho một cơn mưa tầm tã qua lời cầu nguyện của Ê-li, thì ông lại thuật với nội dung làm cho Giê-sa-bên tức giận Ê-li. A-háp không dám giết Ê-li, song xui giục Giê-sa-bên giết. Giê-sa-bên liền thề trong 24 tiếng đồng hồ sẽ giết chết Ê-li. Thiết tưởng Giê-sa-bên cho người đến nói với Ê-li như vậy là muốn Ê-li đi nơi khác, vì bà lo cho số phận của 400 tiên tri Át-tạt-tê. Bà biết không dễ mà giết một tiên tri như Ê-li, người được toàn dân hoan nghinh, lại có quyền năng rất lớn.

Nhưng khi nghe lời đe dọa đó, Ê-li lại sợ hãi và chạy trốn. Nếu Ê-li đã bình tĩnh cầu nguyện chắc không cần phải chạy trốn vì Chúa bảo vệ ông. Ông đã chạy từ Gít-rê-ên của miền Bắc nước Y-sơ-ra-ên, xuống tận Bê-e-sê-ba ở vương quốc Giu-đa, và đi một ngày đường nữa vào đồng vắng.

Nản lòng quá, Ê-li ngồi dưới cội cây, xin được chết: “Ôi, Đức Giê-hô-va, đã đủ rồi. Hãy cất lấy mạng sống tôi vì tôi không hơn gì các tổ phụ tôi”. Ê-li muốn nói rằng ông đã hết sức làm tròn trách nhiệm, song không kết quả gì, bất quá cũng như tổ phụ ông đã làm. Bấy giờ ông muốn chết, ông chạy trốn là vì không muốn chết trong tay Giê-sa-bên mà muốn chết trong tay Chúa.

Thử hỏi: Tại sao Ê-li nản lòng thế? Khi lửa và mưa từ trời đổ xuống, dân chúng tung hô: “Giê-hô-va là Đức Chúa Trời” thì Ê-li hài lòng, thỏa dạ như một người đắc thắng, thành công hoàn toàn, tưởng rằng A-háp, Giê-sa-bên và dân chúng đều ăn năn, quay về với Chúa. Nhưng ông nào ngờ kết quả ngược lại: A-háp tố cáo, Giê-sa-bên đe dọa, dân chúng làm ngơ, tình trạng có vẻ trầm trọng hơn trước. Được việc ai nấy đều hưởng, song Ê-li bị bỏ rơi.

Chúng ta đã từng ngồi dưới cội cây xin chết như Ê-li sau một cơn phục hưng như mưa dào, vì quá hồ hởi, phấn khởi như mọi sự đã được giải quyết một lần đủ cả. Nên nhớ rằng ma quỉ không ngừng hoạt động đâu, thua trận này nó bày trận khác lớn hơn, lực lượng mạnh mẽ hơn để báo thù. Lúc nào chúng ta cũng phải chuẩn bị sẵn sàng vì trận thế chưa chấm dứt.

Sau khi cầu nguyện xong, Ê-li nằm xuống chờ Chúa cất linh hồn mình. Vì đói, vì mệt, ông ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Bất ngờ có tiếng Chúa nói cùng Ê-li.

I. “HÃY CHỖI DẬY VÀ ĂN”.

Ê-li bị đánh thức, nghe tiếng thiên sứ nói: “Hãy chỗi dậy và ăn”. Vừa chỗi dậy, Ê-li thấy trên đầu một cái bánh nhỏ và một bình nước. Người ăn uống rồi lại ngủ. Ê-li xin chết, Chúa cho ông bánh ăn, nước uống để sống, vì Chúa còn dùng ông, bao nhiêu công tác đang chờ ông. Chúa đã đến tận nơi ông ở, tận chỗ ông nằm. Trước đó, Chúa dùng những con quạ, một bà góa, bây giờ, chính tay Ngài săn sóc Ê-li, vì Chúa thương xót đầy tớ Ngài, vốn là người yếu đuối như chúng ta.

Thiên sứ của Chúa đánh thức Ê-li và bảo: “Hãy chỗi dậy và ăn, vì đường xa quá cho ngươi”. Theo lịnh của Chúa, ông phải đi đến núi Hô-rếp, cũng gọi là núi Si-na-i. Từ Bê-e-sê-ba đến Hô-rếp vào khoảng 300 cây số, song nhờ thức ăn đặc biệt của Chúa cho, Ê-li đã đi 40 ngày đêm đến Hô-rếp. Đến nơi, ông vào một hang đá và ngủ. Bấy giờ có tiếng Chúa phán với Ê-li nữa.

II. “HỠI Ê-LI, NGƯƠI Ở ĐÂY LÀM CHI?”

Chúa gọi Ê-li đến Hô-rếp để dạy dỗ ông. Chúa muốn hỏi: “Tại sao ngươi ở đây? Ngươi ở đây để làm gì? Chức vụ ngươi đâu phải ở đây trong khi có nhiều người cần đến ngươi”. Ê-li đã chạy trốn đến Bê-e-sê-ba, đến đồng vắng, bây giờ đến Hô-rếp để ở một mình. Không ai bỏ tù Ê-li, song Ê-li tự bỏ tù mình giữa bốn vách tường tưởng tượng.

Lắm khi chúng ta cũng tự cô lập bằng cách khoanh tay, bó gối để chờ thời, hay vì thất vọng. Dầu khi thân thể bị giam cầm trong bốn bức tường, chúng ta cũng đừng tự giam cầm linh hồn mình trong đó mà phải để cho nó cất cánh bay cao vượt nghìn trùng, qua muôn dặm, trên cõi trời bao la.

Từ năm 1660, John Bunyan đã hai lần bị tù 12 năm tại Bedfoet, nhưng ông đã sáng tác hai quyển sách nổi tiếng là Thiên Lộ Lịch Trình và Thành Lũy Linh Hồn. Thiên Lộ Lịch Trình được dịch ra hơn 60 thứ tiếng. Bị lưu đày tại đảo Bát-mô, sứ đồ Giăng đã thấy dị tượng và viết sách Khải huyền. Sách nầy được liệt vào Kinh điển Tân Ước và đã được dịch ra hơn 2.000 thứ tiếng.

Trong câu trả lời của Ê-li với Chúa có bốn điều:

(1) Tôi rất sốt sắng về Chúa.

(2) Dân Y-sơ-ra-ên đã bội giao ước Ngài, phá hủy bàn thờ Ngài.

(3) Dân Y-sơ-ra-ên đã giết các tiên tri Ngài.

(4) Chỉ một mình tôi còn lại và họ đang tìm kiếm tôi.

Dầu A-háp và Giê-sa-bên đã giết các tiên tri, đang tìm kiếm Ê-li, song ông qui trách nhiệm trên dân Y-sơ-ra-ên vì họ làm ngơ và đi hàng hai. Các tiên tri bị giết mặc kệ các tiên tri, miễn họ được an thân, hưởng lộc của A-háp và Giê-sa-bên. Trong khi nản lòng, Ê-li nghĩ rằng chỉ một mình ông là tiên tri còn lại, thật ra còn 100 tiên tri nữa mà Ápđia đang nuôi (18:4-13). Ông cũng nghĩ rằng toàn dân Y-sơ-ra-ên đã sa ngã, chỉ còn một mình ông sốt sắng vì Chúa, nhưng thật ra còn 7.000 người nữa (19:18). Khi nản lòng thì mất bình tĩnh, thiếu sáng suốt nên nhận định không đúng, làm cho nản lòng thêm.

Bấy giờ Chúa bảo Ê-li ra đứng trên núi, tại đó ông thấy một ngọn gió xé núi ra, làm tan nát các hòn đá, song không có Chúa trong ngọn gió. Kế đó là một cơn động đất, song không có Chúa trong cơn động đất. Kế đó nữa là một đám lửa, song không có Chúa trong đám lửa. Cuối cùng là một tiếng êm dịu nhỏ nhẹ. Thiết tưởng có hai điều dạy dỗ Ê-li trong việc nầy.

(1) Ê-li biết quyền năng của Chúa như ngọn gió xé núi làm tan đá, như cơn động đất dữ dội, như đám lửa tiêu diệt. Vậy tại sao ông sợ hãi mà chạy trốn?

(2) Dầu quyền năng của Chúa là lớn lao và mạnh mẽ vô cùng, song không được Ngài luôn luôn sử dụng, vì chúng không có hiệu lực cảm hóa lòng người bằng tiếng nói êm dịu nhỏ nhẹ của Ngài.

Lời Chúa có hiệu lực cảm hóa lòng người hơn bất cứ một phép lạ nào, phép lạ chỉ được sử dụng để chứng minh lời Ngài (Hê-bơ-rơ 2:4). Vì vậy, Ê-li không thấy Chúa trong ngọn gió, cơn động đất, đám lửa. Song thấy Ngài trong tiếng êm dịu nhỏ nhẹ, nên Ê-li vội vàng lấy áo tơi che mặt lại. Lắm khi, chúng ta bực tức như Ê-li bực tức trước sự tàn ác của A-háp và Giê-sa-bên. Chúa có quyền năng vô cùng, sao Ngài để cho kẻ dữ bành trướng thế lực như cây cổ thụ? Không lạ gì về điều đó vì Chúa nhân từ chờ đợi tội nhân ăn năn. Nếu họ không ăn năn, chẳng bao lâu “kẻ dữ sẽ bị phát như cỏ và héo như cỏ xanh. Có người đi qua, kìa họ không còn nữa, muốn tìm họ mà không gặp” vì họ đã bị hủy diệt trong chốc lát.

Chúa gọi Ê-li lần nữa: “Hỡi Ê-li, ngươi ở đây làm chi?” Rồi Chúa bảo ông trở lại xức dầu cho Ha-xa-ên làm vua Sy-ri, xức dầu cho Giêhu làm vua Y-sơ-ra-ên, và xức dầu cho Ê-li-sê làm tiên tri thế ông. Hãy đi chia ơn xẻ phước cho mọi người, ngồi một chỗ là hại mình, cũng không ích gì cho ai. Nếu vì hoàn cảnh không đi ra được, hãy cầu thay cho Hội Thánh khắp thế giới.

Chúa khích lệ Ê-li rằng còn 7.000 người trung thành với Ngài. Số đó ít quá, khó cho Ê-li thấy, như lúa trộn với cỏ, chỉ thấy cỏ, như vàng trộn với đá. Sau đó, Ê-li đã chỗi dậy, thi hành công tác Chúa giao cho đến ngày được cất lên trời.

CÂU HỎI

1. Sau khi dâng tế lễ và được Chúa nhậm, Ê-li lên núi làm gì? Kết quả thế nào?

2. A-háp thuật lại cho Giê-sa-bên có dụng tâm gì?

3. Tại sao Ê-li nản lòng xin chết?

4. Khi Ê-li nằm chờ chết thì Chúa làm gì cho ông?

5. Khi Ê-li đến núi Hô-rếp được Chúa hỏi gì? Câu ấy có nghĩa gi?

6. Ê-li tự bỏ tù mình bằng cách nào?

7. Ê-li thưa với Chúa mấy điều về dân Y-sơ-ra-ên?

8. Vì cớ nản lòng, Ê-li thấy thế nào?

9. Cách Chúa bày tỏ tại Hô-rếp dạy Ê-li những điều gì?

10. Chúa sai Ê-li tiếp tục làm gì?

BÀI 9. A-HÁP VÀ BÊN-HA-ĐÁT

KINH THÁNH: ICác 20:1-43.

CÂU GỐC: “Chớ nên uống rượu hay là uống vật chi có tánh say…” (Lê-vi ký 10:9).

MỤC ĐÍCH: Chỉ rõ sự say sưa làm cho Bên-ha-đát thua trận. Chúa Jêsus ban cho chúng ta sự đắc thắng luôn luôn.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa cho chúng ta thắng sự cám dỗ

(I Cô 10:13,15,57).

TH:

Dân Sy-ri tấn công dân Y-sơ-ra-ên

(ICác 20:1-27).

TB:

Đức Chúa Trời ban cho sự đắc thắng

(ICác 20:28-43).

TT:

Sống cho Đức Chúa Trời

(I Phi-e-rơ 4:1-3).

TN:

Đền thờ của Đức Chúa Trời

(ICôr 3:16; 6:19).

TS:

Chiến thắng sự cám dỗ

(Châm ngôn 4:23,27).

TB:

Những cám dỗ phải vượt qua

(Châm 20:1; I Phi 2:13-14).

A-háp làm vua Y-sơ-ra-ên, Bên-ha-đát làm vua Sy-ri. Nước Sy-ri ở phía Bắc nước Y-sơ-ra-ên, hai nước giáp giới nhau. Toàn dân Y-sơ-ra-ên gồm 12 chi phái, từ Bắc chí Nam là ít và nhỏ, lại còn chia ra làm hai: Vương quốc Y-sơ-ra-ên gồm mười chi phái ở miền Bắc, vương quốc Giu-đa có hai chi phái ở miền Nam. Vì vậy, đã nhiều lần quân Sy-ri đem quân xâm lấn bờ cõi Y-sơ-ra-ên, nhưng cũng đã nhiều lần quân Y-sơ-ra-ên chiến thắng Sy-ri.

I. A-HÁP CHIẾN THẮNG BÊN-HA-ĐÁT LẦN THỨ NHẤT (1-21).

Bên-ha-đát huy động toàn lực lượng với 32 vua phụ tá bao vây Sa-ma-ri là thủ đô của Y-sơ-ra-ên. Bên-ha-đát sai những sứ giả đến nói với A-háp: “Bạc và vàng của ngươi thuộc về ta, các cung phi và những con cái tốt nhất của ngươi cũng thuộc về ta” (ICác 20:3). Câu đó có nghĩa là Y-sơ-ra-ên phải bị lệ thuộc vào Sy-ri, làm một nước chư hầu của Sy-ri. Bị lép vế, A-háp chấp nhận ngay, nên đã nhờ sứ giả về trình lại với Bên-ha-đát: “Hỡi vua chúa tôi, cứ như lời vua nói, tôi và mọi vật của tôi đều thuộc về vua” (ICác 20:4). Ai không phục tùng Chúa, phải phục tùng ma quỉ.

Với tánh xấc xược kiêu căng, Bên-ha-đát chưa vừa lòng, bèn sai sứ giả trở lại nói với A-háp: “Hãy đưa bạc, vàng, cung phi và các con trai ngươi cho ta. Thế thì, ngày mai, giờ nầy, ta sẽ sai các đầy tớ ta đến nhà ngươi, chúng nó sẽ lục soát nhà ngươi và nhà của tôi tớ ngươi, phàm món gì của ngươi lấy làm quí trọng, chúng nó sẽ lấy đem đi” (ICác 20:5,6). Bên-ha-đát chỉ thị cho tôi tớ ông phải thi hành, chỉ thị cho A-háp phải chấp nhận và phục tùng mạng lịnh của ông vào ngày hôm sau. Bên-ha-đát muốn tỏ ra mình là người có quyền tuyệt đối.

A-háp liền hiệp nghị với các trưởng lão. Các trưởng lão và dân chúng xin vua đừng chịu chi hết. Vì vậy, A-háp đáp cùng các sứ giả của Bên-ha-đát rằng: “Mọi điều vua đòi tôi tớ vua làm lần thứ nhất, tôi sẽ làm, nhưng điều nầy tôi không thể làm được” (ICác 20:9b). Các sứ giả trở về thuật lại cho Bên-ha-đát. Bên-ha-đát sai sứ giả đến nói với A-háp: “Nếu bụi cát ở Sa-ma-ri đủ lấp đầy lòng bàn tay của các chiến sĩ theo ta, nguyện các thần giáng tai họa cho ta nặng nề” (ICác 20:10). Bên-ha-đát thề sẽ san bằng thành phố Sa-ma-ri, đến nỗi bụi cát cũng không còn đủ làm đầy lòng bàn tay của các chiến sĩ Sy-ri. Nhưng A-háp đáp: “Người mặc áo giáp chớ khoe mình như người cởi nó ra. Người cởi áo giáp thì chưa chắc mình sẽ thắng đâu!” (ICác 20:11). A-háp cảnh cáo Bên-ha-đát đừng vội khoe mình về ngày mai. Bên-ha-đát tự thị tự mãn, xem mình nắm phần thắng trong tay nên cứ vừa uống rượu với các vua trong trại, vừa ra lịnh cho quân sĩ chuẩn bị tấn công.

Có một tiên tri đến gần A-háp truyền lại mạng lịnh của Chúa như vầy: “Ngươi thấy đoàn binh rất đông nầy chăng? Kìa ngày nay, Ta sẽ phó nó vào tay ngươi và ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va”. Chúa cũng bảo A-háp cầm quân và dùng những tôi tớ của các quan đầu tỉnh là những kẻ chưa từng đánh giặc. Số đó chỉ có 232 người, giống như 300 quân của Ghê-đê-ôn (Các quan xét 7:7). A-háp cũng điểm duyệt quân số của Y-sơ-ra-ên là 7.000 người. Ban trưa, đang khi Bên-ha-đát say sưa trong trại mình với 32 vua thì quân Y-sơ-ra-ên từ Sa-ma-ri kéo ra, những tôi tớ của các quan đầu tỉnh đi trước. Có người báo cho Bên-ha-đát, ông ra lịnh: “Chúng nó đến, hoặc có ý cầu hòa, hãy bắt sống lấy hoặc có ý chiến tranh cũng bắt sống lấy” (ICác 20:18). Cuộc chiến đấu bắt đầu. Quân Sy-ri chạy trốn, và quân Y-sơ-ra-ên đuổi theo. Bên-ha-đát lên ngựa chạy trốn. Quân Y-sơ-ra-ên chiến thắng vẻ vang, quân Sy-ri đại bại thê thảm. Bên-ha-đát lấy làm kinh ngạc không hiểu tại sao.

Bất cứ ai tham tàn, tự thị, tự mãn, xấc xược, say sưa đều chuốc lấy cho mình sự đau khổ, hổ thẹn. Bên-xát-xa, vua Ba-by-lôn, một nước hùng cường gấp mấy lần nước Sy-ri, cũng vì say sưa ngạo mạn, tưởng không ai có thể làm gì mình, thì ngay trong đêm ông đãi 1.000 đại thần, ông đã bị giết và nước bị mất trong tay người Ba-tư (Đa-ni-ên 5). Sau Bên-xát-xa của Ba-by-lôn, có Arbiasa, vị vua tàn bạo của Hy-lạp. Đêm đó, khi đang ăn uống say sưa với các đại thần, có người cấp báo cho ông cơn nguy sắp đến, song ông cứ tiếp tục say sưa và nói: “Việc gì ngày mai hãy hay”. Đối với ông đâu có ngày mai, vì ngay đêm đó ông bị giết.

Là con cái Chúa, chúng ta phải tránh say sưa. Chúa bảo: “Đừng say rượu, vì rượu xui cho luông tuồng, nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh. Hãy bước đi cách hẳn hoi như giữa ban ngày. Chớ nộp mình vào sự quá độ và say sưa, buông tuồng và bậy bạ, rầy rà và ghen ghét. Vậy hãy tự giữ lấy mình, e rằng vì sự ăn uống quá độ, sự say sưa và sự lo lắng đời nầy làm cho lòng các ngươi mê mẩn chăng. Vả, các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: Ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng…, ganh gổ, say sưa, mê ăn uống. Ngày trước cũng đã đủ làm theo ý muốn người ngoại đạo rồi mà ăn ở theo tà tịch, tư dục, say rượu, ăn uống quá độ, chơi bời, và thờ hình tượng đáng gớm ghiếc” (Ê-phê-sô 5:18; Rô-ma 13:13; Lu-ca 21:34; Ga-la-ti 5:19-21; I Phi-e-rơ 4:3). Cũng coi chừng việc say sưa trong vật chất vì nó sẽ phá hủy sự sống thuộc linh.

II. A-HÁP CHIẾN THẮNG BÊN-HA-ĐÁT LẦN THỨ HAI (22-43).

Sau khi A-háp chiến thắng Bên-ha-đát trở về, một tiên tri đến gần A-háp nói rằng: “Vua hãy đi, làm cho mình mạnh mẽ, và hãy xem xét coi chừng điều mình phải làm, vì năm tới vua Sy-ri sẽ đến đánh vua nữa”. Đây là lời cảnh cáo chí lý. Điều nầy cũng đúng về phương diện thuộc linh. Ma quỉ không lúc nào thôi tấn công chúng ta, nó sẽ tấn công tới tấp cho đến lúc nào nó thất bại hoàn toàn, đó là ngày Chúa tái lâm.

Quần thần của Bên-ha-đát thảo kế hoạch báo thù A-háp. Họ nói với nhau rằng thần của dân Y-sơ-ra-ên là thần núi nên chúng ta đã thua vì đánh với họ trên núi. Bây giờ, muốn thắng họ, chúng ta phải dàn trận tại đồng bằng. Vì vậy, sau một năm, Bên-ha-đát điểm duyệt binh mã để đánh A-háp. A-háp cũng điểm duyệt binh mã để chống cự. Song lực lượng đôi bên quá chênh lệnh. Quân của Y-sơ-ra-ên như hai bầy dê nhỏ, còn quân Sy-ri đầy khắp xứ. Bấy giờ có một tiên tri nhân danh Chúa đến nói với A-háp: “Bởi vì dân Sy-ri có nói rằng Đức Giê-hô-va là thần núi, chớ không phải là thần trũng, nên Ta sẽ phó đoàn dân rất đông nầy vào tay ngươi, và các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va” (Câu 28).

Sau bảy ngày dàn trận, hai bên bắt đầu khai chiến. Quân Y-sơ-ra-ên giết 100.000 quân Sy-ri trong một ngày. Đám tàn quân chạy trốn trong thànhA-phéc, bị vách thành sập xuống, đè chết 27.000 người. Bên-ha-đát chạy trốn trong một thành phố với một số tôi tớ người. Họ trình kế hoạch với Bên-ha-đát rằng: “Chúng tôi có nghe các vua nhà Y-sơ-ra-ên vốn nhân từ. Vì vậy, xin cho chúng tôi thắt bao nơi lưng vốn dây trên đầu rồi chúng tôi ra hàng vua Y-sơ-ra-ên: Hoặc người để cho vua sống chăng” (Câu 31). Bên-ha-đát đồng ý. A-háp vồn vã hỏi các đầy tớ của Bên-ha-đát: “Người còn sống chăng? Người là anh em ta” (Câu 32). Bên-ha-đát đến ra mắt A-háp và người mời Bên-ha-đát lên xe mình. A-háp lập giao ước với Bên-ha-đát, đoạn để cho người đi. Ba năm sau, chính đạo quân của Bên-ha-đát hạ sát A-háp (ICác 22:29-38).

A-háp là một vị vua đại ác, đã lìa bỏ Chúa, theo tà thần, giết các tiên tri của Ngài, lại hai lần chiến thắng quân Sy-ri. Không phải Chúa chấp nhận hay bỏ qua tội ác của A-háp, song Ngài hành động như vậy là vì dân Y-sơ-ra-ên của Ngài để họ nhìn biết Ngài là Đức Giê-hô-va (20:23,28). Nếu chúng ta không ra chi mà đắc thắng, thành công, thì nên nhớ rằng Chúa làm việc đó chỉ vì danh thánh của Ngài, giữa dân sự Ngài.

Bên-ha-đát rất kiêu căng, ngạo nghễ, song khi thất trận đã làm một kẻ ăn mày, xin A-háp thương xót và tha chết cho. A-háp vội vàng tha cho Bên-ha-đát là một hành động dại dột. Ông không biết rằng Chúa đã phó Bên-ha-đát cho ông, nên ông không có quyền tha chết Bên-ha-đát.

Đành rằng chúng ta có lòng nhân từ, sẵn sàng tha thứ cho tội nhân ăn năn. Song Bên-ha-đát có ăn năn không? Bên-ha-đát có trở thành anh em của A-háp không? Chúng ta thấy Bên-ha-đát giả bộ khiêm nhường để được khỏi chết, song trong thâm tâm vẫn chất chứa căm thù, mong có ngày sẽ giết A-háp. Tội lỗi mà chúng ta dung túng, chính nó sẽ giết chúng ta. A-háp đã bị Chúa quở trách (20:35-43).

CÂU HỎI

1. Bên-ha-đát bao vây Sa-ma-ri và buộc A-háp chấp nhận những điều gì?

2. Khi A-háp chấp nhận thì Bên-ha-đát còn đòi gì nữa?

3. A-háp biện nghị với ai và quyết định thế nào?

4. Tại sao đạo quân của Bên-ha-đát thảm hại?

5. Sau khi thắng trận, A-háp được tiên tri cảnh cáo gì?

6. Quần thần của Bên-ha-đát thảo kế hoạch gì để báo thù?

7. Quân hai bên chênh lệnh nhau thế nào?

8. Kết quả của trận đánh ra sao?

9. Tại sao A-háp tha chết cho Bên-ha-đát? Có nên làm không?

10. Ba năm sau, ai giết A-háp?

11. Tại sao Chúa cho A-háp hai lần thắng Bên-ha-đát mặc dầu A-háp đại ác?

BÀI 10. A-HÁP THAM VƯỜN NHO CỦA NA-BỐT

KINH THÁNH: ICác 21:1-29

CÂU GỐC: “Hỡi các con cái bé mọn, chớ yêu mến bằng lời nói và lưỡi, nhưng bằng việc làm và lẽ thật” (IGiăng 3:18).

MỤC ĐÍCH: Tội tham lam của A-háp đưa đến nhiều tội nặng khác như giận dữ, lừa gạt, dối trá, giết người. Chúng ta phải tránh sự tham lam.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa muốn chúng ta yêu nhau

(Giăng 15:12).

TH:

Sự tham lam của A-háp

(ICác 21:1-29).

TB:

Sự tham lam của người ta

(Giê-rê-mi 7:21-25; Mi-chê 2:2).

TT:

Coi chừng sự tham lam

(Lu-ca 12:15; Cô-lô-se 3:5).

TN:

Hình phạt sự tham lam

(Giô-na 7:21-25; I Sa 15:2; 3:9-23).

TS:

Sự cám dỗ của tham lam

(IICác 5:25; Lu-ca 16:14).

TB:

Làm sao để tránh tham lam

(Thi 103:25; Hê 13:5; Giăng 15:12).

A-háp làm vua Y-sơ-ra-ên trong 22 năm. Ông chiến thắng vua Sy-ri. Ông rất oai quyền và sang trọng, có đền bằng ngà, có thành trì kiên cố, có nhà mùa đông và nhà mùa hạ (ICác 22:38; A-mốt 3:15). Song túi tham không đáy và lòng tham vô độ đã khiến A-háp không thỏa mãn về những điều mình có. Ông còn muốn có thêm vườn nho của Na-bốt. “Kẻ tham tiền bạc chẳng hề chán lắc tiền bạc, kẻ tham của cải chẳng hề chán huê lợi. Điều đó cũng là sự không” (Truyền đạo 5:10).

I. NA-BỐT KHÔNG NHƯỜNG VƯỜN NHO MÌNH CHO A-HÁP (1-4).

Ngày nọ A-háp nhìn ngang qua cửa sổ ngôi nhà mùa hạ của mình tại Gít-rê-ên, thấy một vườn nho rất xanh tươi, sai trái, chín mọng, ông liền sanh lòng tham muốn được vườn nho đó. A-háp thân hành đến nhà Na-bốt là chủ vườn nho nầy. A-háp không phải là một bạo quân chuyên chế, nên ông không dùng cường quyền để cướp đoạt tài sản của Na-bốt, ông chỉ đề nghị Na-bốt nhường vườn nho cho ông.

Na-bốt đáp: “Nguyện Đức Giê-hô-va giữ lấy tôi, chớ để tôi nhường cho vua cơ nghiệp của tổ phụ tôi!” (Câu 3). Na-bốt không có quyền đoạn mãi hay đổi chác cơ nghiệp mà ông thừa hưởng, song phải gìn giữ (Lê-vi 25:23; Dân số ký 36:7; Ê-xê-chi-ên 46:18). Đó là luật lệ Chúa đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên. Na-bốt nói đúng và làm đúng.

Sự tham mê vật chất làm cho con người đau khổ. A-háp trở về đền mình buồn và giận, vì không ngờ có người dám theo Lời Chúa mà khước từ ông như vậy. Ông nằm trên giường, xây mặt vào tường, tỏ ra hờn dỗi như một trẻ con, không muốn làm gì, không muốn gặp ai, cũng không chịu ăn. Dầu là vua trong một nước, ông cảm thấy khốn nạn quá, vì không được vườn nho của Na-bốt.

II. GIÊ-SA-BÊN ÂM MƯU GIẾT NA-BỐT ĐỂ ĐOẠT VƯỜN NHO (5-16).

Hoàng hậu Giê-sa-bên đến gần hoàng đế A-háp hỏi lý do nào vua không chịu ăn. A-háp thuật lại mọi việc cho Giê-sa-bên nghe, Giê-sa-bên hỏi: “Có phải ông hành quyền vua trên Y-sơ-ra-ên chăng? Hãy chỗi dậy, ăn đi và vui lòng. Tôi sẽ cho ông vườn nho của Na-bốt” (Câu 7).

Giê-sa-bên liền viết thơ nhân danh A-háp, đóng ấn vua vào, gởi cho các trưởng lão và các viên chức trong thành Gít-rê-ên: “Hãy truyền rao lễ kiêng ăn, rồi đặt Na-bốt ở đầu dân sự; đoạn, hãy để trước mặt người hai kẻ gian phạm làm chứng cho người, mà rằng: Ngươi có rủa sả Đức Chúa Trời và vua. Kế, hãy dẫn người ra khỏi thành, ném đá cho chết đi” (Câu 9-10). Được thơ đó, các trưởng lão và các viên chức trong thành phố tổ chức ngay. Họ ném đá Na-bốt, rồi báo tin cho Giê-sa-bên hay. Ngoài ra ném đá Na-bốt, họ cũng ném đá các con trai của ông ấy để không còn ai kế thừa cơ nghiệp đó (IICác 9:26).

Giê-sa-bên là một người đàn bà đẹp (IICác 9:30), lại là con của vua Si-đôn, nên đã hấp dẫn A-háp cưới nàng làm vợ. Nhưng Giê-sa-bên là người đàn bà thâm độc hiếm có, Giêhu gọi Giê-sa-bên là con đàn bà khốn nạn (IICác 9:34). A-háp có tiếng là đại ác, Giê-sa-bên còn trổi hơn A-háp nhiều. Giê-sa-bên chê A-háp: “Ông là vua, có quyền mà không biết dùng quyền của mình. Tôi giúp ông đoạt vườn nho của Na-bốt mà không tốn kém gì cả”. Giê-sa-bên không cần công lý, bất kể đạo đức, miễn sao được việc. Bà không thờ phượng Chúa, bắt bớ tiên tri Ngài, song mượn danh Ngài, áp dụng luật Ngài để giết Na-bốt, đoạt vườn nho người bằng cách vu khống, cũng gọi là chụp mũ Na-bốt đã rủa sả Đức Chúa Trời và vua.

Việc đại ác sờ sờ như vậy mà các trưởng lão và các viên chức thành phố Gít-rê-ên đã nhắm mắt làm càn, họ giết chết lương tâm mình trước khi giết chết Na-bốt, đồng lõa với người đàn bà khốn nạn để làm một việc khốn nạn, còn hãnh diện báo tin cho người đàn bà ấy về mình đã thành công. Có lẽ Giê-sa-bên đã khen thưởng họ.

Khi được tin Na-bốt bị ném đá chết, Giê-sa-bên lấy làm sung sướng đến nói với A-háp: “Hãy chỗi dậy, nhận lấy vườn nho mà Na-bốt Gít-rê-ên đã từ chối không chịu nhường cho ông để lấy bạc, vì Na-bốt đã chết rồi” (câu 15). Nghe vậy A-háp hớn hở, vội xuống Gít-rê-ên chiếm vườn nho của Na-bốt cho mình.

III. A-HÁP VÀ GIÊ-SA-BÊN BỊ KẾT ÁN (17-29).

Đức Chúa Trời là Đấng xử đoán công bình nên sai Ê-li đến Gít-rê-ên. Đang khi A-háp ngắm nghía vườn nho một cách thỏa thích, vua thấy tiên tri Ê-li lù lù xuất hiện. A-háp biết đây là một người thánh của Đức Chúa Trời. Đối diện với Ê-li, A-háp nhớ lại hết gian ác của mình, và bắt đầu run sợ như một phạm nhân trước mặt quan tòa. Trong cảnh cùng đường túng thế, thay vì ăn năn, A-háp đe dọa Ê-li: “Ớ kẻ thù nghịch, ngươi có gặp ta à?” (Câu 20a). Dầu Ê-li đã hết lòng giúp A-háp, cầu nguyện cho có mưa, khuyên lơn A-háp như một người bạn, nhưng A-háp vẫn xem Ê-li như một kẻ thù. A-háp xem Đức Chúa Trời là kẻ thù, làm sao xem Ê-li là bạn được?

Ê-li chẳng chút sợ hãi lời đe dọa của A-háp, mà đáp rằng: “Phải, tôi có tìm vua, bởi vì vua đã bán mình để làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va” (Câu 20b). Ê-li truyền mạng lịnh của Chúa cho A-háp: “Ngươi đã giết người, và bây giờ lại chiếm lấy cơ nghiệp của nó sao? Ở tại chỗ mà chó đã liếm huyết Na-bốt, thì chó cũng liếm chính huyết của ngươi… Vậy thì Ta sẽ giáng họa trên ngươi. Ta sẽ quét sạch ngươi, trừ diệt các nam đinh của nhà A-háp, bất kỳ kẻ nô lệ hay là người tự do trong Y-sơ-ra-ên, vì ngươi chọc giận Ta, xui cho dân Y-sơ-ra-ên phạm tội, nên Ta làm cho nhà ngươi giống như nhà Giê-rô-bô-am… Đức Giê-hô-va cũng phán về Giê-sa-bên rằng. Chó sẽ ăn thịt Giê-sa-bên tại thành Gít-rê-ên. Phàm người nào thuộc về nhà A-háp, kẻ nào chết tại trong thành sẽ bị chó ăn, còn kẻ nào chết trong đồng sẽ bị chim trời rỉa ăn”.

Sự hình phạt Chúa dành cho A-háp, Giê-sa-bên và dòng dõi của họ thật là khủng khiếp. A-háp và Giê-sa-bên đã chết cách thê thảm và sỉ nhục. Dòng dõi của họ sẽ bị tuyệt diệt, thi thể của mọi người sẽ bị làm đồ ăn cho súc vật và chim trời. Vì: “Chẳng có ai như A-háp buông mình làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, vì bị hoàng hậu Giê-sa-bên xui giục người” (21:25).

Tại đây chúng ta thấy rõ việc chọn một người vợ là quan trọng thế nào. “Người đờn bà nhân đức là mão triều thiên cho chồng nàng, còn vợ làm xấu hổ khác nào sự mục trong xương cốt người. Ai tìm được một người vợ, tức tìm được một điều phước, và hưởng được ân điển của Đức Giê-hô-va. Nhà cửa và tài sản là cơ nghiệp của tổ phụ để lại, còn một người vợ khôn ngoan do nơi Đức Giê-hô-va mà đến. Một người nữ tài đức ai sẽ tìm được, giá trị nàng trỗi hơn châu ngọc” (Châm ngôn 12:4; 18:22; 19:14; 31:10).

Khi A-háp nghe mạng lịnh của Chúa do Ê-li truyền lại, ông liền xé áo mình, mặc bao gai, nhịn đói, nằm sãi dài. A-háp ân hận việc mình đã làm, song không ăn năn. Nếu ăn năn, ông đã trừ diệt thần tượng, trả lại vườn nho của Na-bốt. Dầu vậy Chúa đã triển hạn sự tuyệt diệt dòng dõi của A-háp cho đến đời con trai ông.

Bởi tham lam, A-háp và Giê-sa-bên giết người cướp của thì đã được gì? Sự rủa sả cho mình và cho dòng dõi mình, để lại một vết nhơ muôn đời không rửa sạch.

Chúa đã dạy chúng ta hãy yêu nhau, vì yêu nhau là làm trọn luật pháp. Yêu nhau thì không gian dâm, không giết người, không trộm cướp, không tham lam. Tình yêu chẳng hề làm hại kẻ lân cận, vậy tình yêu thương làm trọn luật pháp (Rô-ma 13:8-10).

CÂU HỎI

1. Hãy kể ra sự giàu có và sang trọng của A-háp?

2. A-háp có tánh tình thế nào?

3. A-háp tham gì và của ai?

4. A-háp có thái độ gì khi bị Na-bốt từ chối?

5. Giê-sa-bên làm gì để giúp đỡ A-háp?

6. Giê-sa-bên là người thế nào?

7. Các trưởng lão và viên chức thành Gít-rê-ên là những người thế nào?

8. Khi đã giết Na-bốt, Giê-sa-bên nói gì với A-háp? A-háp làm gì?

9. A-háp và Giê-sa-bên bị kết án thế nào?

10. Tại sao ta biết A-háp không thật lòng ăn năn?

11. A-háp đã gian ác và trở thành gian ác cực điểm là vì ai?

12. Kinh Thánh dạy ta phải làm sao để đắc thắng sự tham lam?

BÀI 11. MỘT TIÊN TRI CHỐNG LẠI BỐN TRĂM

KINH THÁNH: ICác 22:1-37.

CÂU GỐC: “Quả hẳn môi tôi sẽ chẳng nói sự gian ác, lưỡi tôi cũng không giảng ra điều giả dối” (Gióp 27:4).

MỤC ĐÍCH: Dạy mỗi người phải thành thật trong lời nói và việc làm. Chúa cho chúng ta can đảm để nói thật.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus ban cho can đảm

(Ma-thi-ơ 10:19).

TH:

Mi-chê dám nói thật

(ICác 22:1-18).

TB:

Mi-chê bị cầm tù

(ICác 22:26-37).

TT:

A-háp bị gạt

(ICác 22:19-25).

TN:

A-háp bị giết

(II Sử ký 18:1-34).

TS:

Một tiên tri chống lại bốn trăm

(ICác 22:1-37).

TB:

Sự thành thật

(Châm ngôn 11:3; Thi thiên 41:12).

Khi Bên-ha-đát làm vua Sy-ri, ông đã thất trận phải đầu hàng và được A-háp là vua Y-sơ-ra-ên phóng thích, nên Bên-ha-đát có hứa: “Tôi sẽ trao lại cho vua các thành mà cha tôi đã chiếm lấy của cha vua” (ICác 20:34). Nhưng sau đó, Bên-ha-đát không giữ lời hứa mà còn căm thù A-háp.

Sau ba năm, A-háp muốn chiếm lại các thành đã mất trong tay Bên-ha-đát, nên ông đem việc ấy ra bàn với quần thần. Ngày nọ, A-háp được vua Giu-đa là Giô-sa-phát đến thăm theo tình lân bang, nghĩa thông gia (II Sử ký 18:1-2). Nhân dịp nầy, A-háp yêu cầu sự liên minh giữa hai vua để đánh Sy-ri và chiếm thành Ra-mốt. Giô-sa-phát chấp nhận ngay và nói: “Tôi như ông, dân sự tôi như dân sự ông và ngựa tôi như ngựa của ông” (Câu 4). Sau đó, Giô-sa-phát đề nghị nên cầu hỏi Đức Giê-hô-va trước khi mở cuộc hành quân.

I. BỐN TRĂM TIÊN TRI CỦA TÀ THẦN.

Có lẽ đó là đề nghị mà A-háp chưa nghĩ đến. Nhưng để vừa lòng Giô-sa-phát, A-háp cho vời 400 tiên tri đến. Đây là phần còn lại trong số 850 tiên tri của Ba-anh và Át-tạt-tê, mà 450 đã bị giết tại khe Kisôn (18:19,40). A-háp hỏi: “Ta có nên đi hãm đánh Ra-mốt trong Ga-la-át, hay là chẳng nên đi?” (Câu 15a). Tất cả 400 tiên tri đều đồng thinh đáp: “Hãy đi, vua sẽ được thắng; Đức Giê-hô-va sẽ phó thành ấy vào tay vua” (Câu 15b). Họ thờ Ba-anh và Át-tạt-tê, song cũng nói đến danh Đức Giê-hô-va để làm cho nhiều người lầm lạc.

Để A-háp và Giô-sa-phát tin rằng mình sẽ chiến thắng, Sê-đê-kia, người đứng đầu các tiên tri, làm những sừng bằng sắt chỉ về sức mạnh của A-háp, rồi nói: “Đức Giê-hô-va phán: Với các sừng nầy, ngươi sẽ báng dân Sy-ri cho đến khi diệt hết chúng nó”. Cả thảy tiên tri đều đồng ý như vậy.

Nghe lời họ nói, thấy việc họ làm, Giô-sa-phát đâm ra nghi ngờ 400 tiên tri đó không thuộc về Đức Giê-hô-va. Họ nói và làm theo ý riêng chứ không theo ý Chúa. Ông đã từng nghe tiên tri thật, bây giờ nghe tiên tri giả, ông phân biệt ngay. Giô-sa-phát hỏi A-háp: “Ở đây còn có tiên tri nào khác của Đức Giê-hô-va để chúng ta cầu vấn người ấy chăng?”. A-háp đáp: “Còn có một người tên là Mi-chê, nhờ người ấy ta có thể cầu vấn Đức Giê-hô-va, nhưng tôi ghét người, vì người chẳng nói tiên tri lành về tôi bèn là dữ đó thôi” (Câu 7-8).

Qua lời của A-háp chúng ta biết ông là người thích xu phụ. Ông rất xấu mà muốn mọi người nói tốt về mình. Ông ghét kẻ nói thật, ưa kẻ nói dối, miễn kẻ đó nói tốt cho ông, vô luận đúng sai.

II. MỘT TIÊN TRI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.

Cũng để vừa lòng Giô-sa-phát, A-háp cho vời tiên tri Mi-chê đến. Sứ giả nói với Mi-chê rằng: “Những tiên tri đều đồng lòng báo cáo sự lành cho vua, tôi xin ông cũng hãy lấy lời như lời của họ mà báo cáo sự lành”. Mi-chê đáp: “Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, ta sẽ báo cáo điều gì Đức Giê-hô-va phán dặn ta” Câu 13-14). Mi-chê muốn tỏ ra mình là đầy tớ của Chúa, chỉ nói gì mà Chúa bảo mình nói, nói một cách trung thực. Mi-chê không phải là người xu thời, giống như một chong chóng bay theo chiều gió, song ông hoàn toàn độc lập với mọi người như một trụ đèn, như một trục chỉ đường để soi sáng, để hướng dẫn.

Đến nơi, A-háp hỏi: “Ta có nên đi hãm đánh Ra-mốt trong Ga-la-át, hay là chẳng nên đi?” (Câu 15a). Mi-chê đáp: “Hãy đi, vua sẽ được thắng; Đức Giê-hô-va sẽ phó thành ấy vào tay vua” (Câu 15b). Nhìn thái độ của Mi-chê, A-háp biết ngay là Mi-chê nói lẩy để mỉa mai. Ông buộc Mi-chê phải thề nói thật chứ đừng nói đùa để chế giễu ông. Mi-chê liền nghiêm nét mặt nói thẳng với A-háp hai điều:

a. “Tôi thấy cả Y-sơ-ra-ên bị tản lạc trên các núi như bầy chiên không có người chăn, và Đức Giê-hô-va phán rằng: Những kẻ ấy không có chủ, ai nấy khá trở về nhà mình bình yên” (Câu 17). Câu đó cho biết A-háp sẽ tử trận, dân Y-sơ-ra-ên sẽ không có vua, như chiên không có người chăn.

b. Vì A-háp thích nói dối, nên Đức Chúa Trời cho phép ma quỉ là cha của những kẻ nói dối lừa gạt A-háp, cũng như Chúa đã cho phép bà bóng tại Ênđôrơ lừa gạt Sau-lơ. Vì họ không chịu tiếp nhận lẽ thật, nên Chúa để họ bị lừa gạt, tin theo những lời giả dối (ICác 22:19-23). Các tiên tri giả đời xưa như các thầy bói đời nay cứ chúc lành cho mọi người để được thưởng, rồi kết quả ra sao mặc kệ. Nhưng Đức Chúa Trời là Vua muôn vua, cầm quyền trên cả vũ trụ, nên được thua, thành bại không phải do lực lượng của đôi bên mà do quyết định tối hậu của Ngài.

III. KẾT QUẢ CỦA MỘT TIÊN TRI CHỐNG LẠI BỐN TRĂM.

Dầu hoàn toàn giả dối, song số đông bao giờ cũng mạnh. Hơn nữa, số đông đó lại đứng với kẻ mạnh là vua A-háp, còn Mi-chê đứng một mình. Vì vậy, Sê-đê-kia đến gần, dùng tay tát vào mặt Mi-chê và nói: “Thần của Đức Giê-hô-va có do đường nào lìa khỏi ta đặng đến nói với ngươi” (Câu 24b). Ngoài ra, A-háp còn ra lệnh: “Hãy bỏ tù người nầy, lấy bánh và nước khổ nạn mà nuôi nó cho đến khi ta trở về bình an” (Câu 27).

Một mình Mi-chê dám nói thật chống lại 400 tiên tri nói dối. Mi-chê là con người can đảm hiếm có, xứng đáng với danh nghĩa tiên tri của Đức Chúa Trời. Vì dám nói thật, ông được một tát tai vào mặt và ngồi tù một ít lâu. A-háp bảo Mi-chê ngồi tù cho đến khi ông trở về bình an. Song A-háp đâu có trở về, sự gian ác của ông làm cho cuộc đời ông bị rút ngắn một cách mau lẹ.

A-háp và Giô-sa-phát cùng đi lên thành Ra-mốt. A-háp cởi hoàng bào, cải trang làm một lính thường là cố tránh lời tiên tri của Mi-chê được ứng nghiệm. Trái lại A-háp xin Giô-sa-phát cứ mặc hoàng bào, như tỏ ý tôn trọng Giô-sa-phát, kỳ thật muốn cho quân Sy-ri đuổi theo Giô-sa-phát mà bỏ A-háp. Nhưng Bên-ha-đát ra lệnh cho các tướng lãnh của ông rằng chớ đánh ai bất kỳ lớn nhỏ, chỉ đánh A-háp, vua Y-sơ-ra-ên. Khi các tướng lãnh Sy-ri thấy Giô-sa-phát tưởng là A-háp, nên họ vây đánh. Giô-sa-phát la lên, các tướng lãnh của Sy-ri biết không phải là A-háp thì không đuổi theo nữa. Giô-sa-phát là con người đạo đức, mà non chánh trị, nên ông bị đặt vào một vị trí hiểm nghèo. Nhưng Chúa đã thương xót và cứu ông.

Bấy giờ một tên lính Sy-ri giương cung bắn bừa vào đám đông Y-sơ-ra-ên lại trúng nhằm A-háp, làm ông bị thương nặng. Dầu vậy A-háp cứ đứng đó chỉ huy cuộc chiến cho đến chiều tối. Vì máu ra nhiều nên ông chết trên xe.

A-háp đã cải trang để tránh con mắt quân Sy-ri, song không thể tránh được con mắt của Đức Chúa Trời. Mũi tên vô tình của tên lính được Đức Chúa Trời điều khiển trúng ngay A-háp. Chúa không cho A-háp chết liền, mà sau đó mấy tiếng đồng hồ mới chết để chính mắt ông thấy rõ, trí ông hiểu được rằng tiên tri của Ba-anh nói dối, chỉ có Mi-chê, tiên tri của Chúa, nói thật, nói đúng. A-háp không tin một tiên tri của Chúa, mà tin 400 tiên tri của Ba-anh, nên ông đã kéo quân đi, nhưng không dẫn họ về.

Tại sao Giô-sa-phát vốn không tin 400 tiên tri của Ba-anh, chỉ tin tiên tri Mi-chê của Chúa mà ông lại theo A-háp ra trận? Dầu biết A-háp sai lầm, song Giô-sa-phát vị nể, nên ông suýt bỏ mạng cách oan uổng. Bao nhiêu lần chúng ta suýt chết do vị nể bạn bè mà theo họ, làm điều mình biết là sai lầm. Về sau, Đức Chúa Trời dùng tiên tri Giêhu quở trách Giô-sa-phát: “Vua há giúp đỡ kẻ hung ác và thương mến kẻ ghen ghét Đức Giê-hô-va sao? Bởi cớ đo, có cơn giận của Đức Giê-hô-va đến trên vua” (II Sử ký 19:1-4).

Nhiều mà giả dối không bằng ít mà chân thật. Thà đứng một mình mà nói thật còn hơn đứng với số đông để nói dối. Sự giả dối sẽ qua đi, sự chân thật còn mãi mãi. Xin Chúa cho chúng ta can đảm nói thật dầu phải bị bắt bớ như Mi-chê.

CÂU HỎI

1. A-háp bàn với Giô-sa-phát về việc gì?

2. Giô-sa-phát đồng ý, song đề nghị gì?

3. Các tiên tri Ba-anh nói gì với A-háp?

4. Tại sao Giô-sa-phát đề nghị hỏi một tiên tri khác?

5. Mi-chê là người thế nào?

6. Khi được A-háp hỏi, Mi-chê đã làm gì?

7. Tại sao A-háp bảo Mi-chê phải thề nói thật?

8. Mi-chê nói thật với A-háp hai điều gì?

9. Vì nói thật, Mi-chê bị hại gì?

10. A-háp đã làm gì để cố tránh lời tiên tri của Mi-chê?

11. Mi-chê nói đúng hay tiên tri của Ba-anh nói đúng? Đúng như thế nào?

12. Tại sao Chúa quở trách Giô-sa-phát?

BÀI 12. LỜI CẦU NGUYỆN CỦA GIÔ-SA-PHÁT ĐƯỢC CHÚA NHẬM

KINH THÁNH: II Sử ký 19:1; 20:30.

CÂU GỐC: “Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời” (Phi-líp 4:6).

MỤC ĐÍCH: Giô-sa-phát cảm tạ Chúa vì Ngài đã nhậm lời cầu nguyện của ông. Chúng ta đừng quên các ơn phước Chúa đã ban.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus đáp lời cầu nguyện

(Giăng 15:7).

TH:

Sự trị vì công nghĩa

(II Sử ký 19:1-11).

TB:

Sự cầu nguyện của vua

(II Sử ký 20:1-19).

TT:

Sự giải cứu của Chúa

(II Sử ký 20:20-30).

TN:

Một lời hứa

(Giăng 15:7).

TS:

Một vua vâng lời Chúa

(II Sử ký 17:2-6).

TB:

Các tiên tri dạy dỗ dân chúng

(II Sử ký 17:7-13).

Được phép cầu nguyện với Đức Chúa Trời là một đặc ân. Hơn thế nữa là được Đức Chúa Trời luôn luôn chờ đợi để đáp lời cầu nguyện của chúng ta. Vì muốn khích lệ chúng ta, Đức Chúa Trời đã cho ghi lại biết bao lời hứa về sự cầu nguyện và rất nhiều người đã cầu nguyện được Ngài nhậm. Một trong những người đó là Giô-sa-phát, vua của nước Giu-đa.

I. LÝ DO LỜI CẦU NGUYỆN CỦA GIÔ-SA-PHÁT ĐƯỢC CHÚA NHẬM.

1. Giô-sa-phát sống đẹp lòng Chúa (II Sử ký 17:19).

Khi lên ngôi, Giô-sa-phát đi theo đường lối của Đa-vít, tổ phụ mình, là tìm kiếm Đức Chúa Trời, giữ các điều răn của Ngài. Người can đảm bước đi trong thánh ý của Chúa mà trừ bỏ hình tượng khỏi xứ. Vì vậy, Chúa ở cùng người, làm cho nước người mạnh mẽ, giàu có.

Năm thứ ba của đời mình trị vì, Giô-sa-phát sai những hoàng thân, thầy tế lễ và người Lê-vi đem luật pháp của Chúa ra đi khắp các thành phố của nước Giu-đa để giảng dạy cho dân chúng. Người xây cất nhiều đền đài, đồn lũy, kho tàng, lập quân đội hùng dũng. Giô-sa-phát ngày càng cường thạnh làm cho bốn phương khiếp sợ, các nước Phi-li-tin, Ảrập đem vàng bạc và lễ vật cống hiến cho Giô-sa-phát để làm hòa với người.

2. Giô-sa-phát hướng dẫn dân chúng sống đẹp lòng Chúa.

Lâu lắm mới có một vua quan tâm đến việc dạy Kinh Thánh cho dân chúng như Giô-sa-phát hay Ê-xê-chia và Giô-si-a, mỗi lần được như vậy thì dân chúng phục hưng.

Ngày nay, các phụ huynh phải quan tâm đặc biệt đến vấn đề dạy dỗ con em biết Chúa qua Lời của Ngài. Không phải dạy chúng nó thuộc lòng bài Cầu nguyện chung, Mười Điều răn là đủ, nhưng phải dạy chúng nó vâng giữ hết mọi điều mà Chúa đã ghi trong Kinh Thánh. Hội Thánh chung phải nỗ lực học Lời Chúa để tự dưỡng, tự túc và chia sẻ cho người khác.

Dầu Giô-sa-phát đã bị A-háp cám dỗ dự phần đánh quân Sy-ri và bị thất bại, song Chúa cho ông được trở về bình an. Khi bị quở trách về việc đó, Giô-sa-phát đã ăn năn, biết ơn Chúa nên sốt sắng hơn trước. Ông thân hành ra đi chăm sóc dân chúng trong cả nước để hướng dẫn họ trở về cùng Chúa. Ông hành động đúng với tư cách người chăn dân của Đức Chúa Trời. Ông chỉnh đốn hệ thống cai trị trong cả nước, lập tòa án tại mỗi thành và một tòa thượng thẩm tại Giê-ru-sa-lem. Ông khuyên ai nấy phải xử đoán công bình, đừng làm điều trái phép, đừng thiên vị, đừng nhận hối lộ, hãy vì Chúa mà làm việc một cách cẩn thận, với lòng kính sợ, trung thành. Hãy làm để Chúa được vinh hiển giữa mọi người. “Ngài sẽ ở cùng các ngươi trong việc xử đoán”.

Nhờ kính sợ Chúa, Giô-sa-phát đã trở nên khôn ngoan (Châm ngôn 1:7; 9:10; Gióp 28:28). Ông đã sống đạo đức và hướng dẫn dân chúng trên đường đạo đức. Ông biết luật pháp của Chúa nên dạy lại cho mọi người tránh nạn hối lộ, vì Đức Chúa Trời không tây vi ai (Phục truyền 10:17). “Của hối lộ làm mờ mắt người thượng trí và làm mất duyên do của kẻ công bình” (Xuất 23:8; Phục truyền 16:19). “Người gian ác lãnh nhẹm của hối lộ đặng làm sai lệch các lối xét đoán” (Châm ngôn 17:23). Cuối cùng là: “Vì dòng dõi kẻ vô đạo không sanh sản, lửa sẽ tiêu diệt nhà trại kẻ ăn hối lộ” (Gióp 15:34).

Giô-sa-phát được phước, làm cho dân chúng được phước. Vì vậy, Chúa đã nhậm lời cầu nguyện của Giô-sa-phát.

II. GIÔ-SA-PHÁT CẦU NGUYỆN VÀ ĐƯỢC CHÚA NHẬM (20:1-30).

Giô-sa-phát đã cầu nguyện nhiều lần, xin nhiều điều và được Chúa nhậm. Song đây là lần đặc biệt hơn hết mà Kinh Thánh đã ghi lại để làm bài học cho chúng ta.

Dân Mô-áp, dân Am-môn và người Mao-nít ở phía đông của nước Giu-đa hiệp lại thành một lực lượng mạnh mẽ để tranh chiến với Giô-sa-phát. Được báo cáo, Giô-sa-phát sợ hãi và ông nghĩ đến Chúa toàn năng (17:14-19). Ông tuyên bố một ngày kiêng ăn trong cả nước, kêu gọi ai nấy phải họp lại tại Giê-ru-sa-lem để tìm kiếm Chúa, kêu cầu Ngài giải cứu. Giô-sa-phát đã đi theo đường lối của Đa-vít, tổ phụ mình. Suốt đời Đa-vít đã gặp nhiều hoạn nạn, song mỗi lần như vậy, ông hết lòng tìm kiếm Chúa, nên đều được giải cứu. Ông nói: “Tôi sẽ không nao muôn người vây tôi khắp bốn bên. Hỡi Đức Giê-hô-va, hãy chỗi dậy; hỡi Đức Chúa Trời tôi, hãy cứu tôi! Vì Chúa Đã vả má các kẽ thù nghịch tôi và bẻ gãy răng kẻ ác. Dầu một đạo binh đóng đối cùng tôi, lòng tôi sẽ chẳng sợ; dầu giặc giã dấy nghịch cùng tôi, khi ấy tôi cũng có lòng tin cậy vững bền” (Thi thiên 3:6-7; 27:3).

Vua Giô-sa-phát đứng trước mặt dân chúng trong đền thờ Đức Chúa Trời và cầu nguyện đại ý như sau: Đức Chúa Trời là chủ tể trời đất, cai trị trên muôn nước của muôn dân. Ngài có quyền năng vô hạn, chẳng ai có thể đương đầu với Ngài. Chúa đã đánh đuổi các dân tại Ca-na-an và đem dân Y-sơ-ra-ên của Ngài vào đó. Dân của Chúa đã xây một đền thánh làm nơi ngự của Ngài và Chúa hứa khi nào có tai họa xảy đến như chiến tranh, dịch lệ, đói kém, nếu chúng tôi kêu cầu, Chúa sẽ giải cứu cho. Khi dân của Chúa từ Ê-díp-tô đến Ca-na-an, Chúa có cấm chúng tôi không được xông vào các xứ Mô-áp, Am-môn và Sê-i-rơ, nên dân Y-sơ-ra-ên đã không hủy diệt các dân đó. Ngày nay họ lấy oán báo ân, toan làm hại dân sự của Chúa, và chúng tôi đã không biết điều gì mình phải làm, nhưng con mắt của chúng tôi ngửa trông Chúa.

Giô-sa-phát vừa tôn vinh Chúa, cảm tạ Chúa, vừa nhắc lại lời hứa của Ngài, vừa kêu cầu Chúa đoán xét cách công bình mà giải cứu dân Ngài đang bị hà hiếp.

Bấy giờ, một người Lê-vi tên Gia-ha-xi-ên được Chúa cảm động, đứng lên giữa dân chúng, nói rằng: “Đức Giê-hô-va phán cho các ngươi như vầy: Chớ sợ, chớ kinh hãi bởi cớ đám quân đông đảo nầy, vì trận giặc nầy chẳng phải của các ngươi đâu, bèn là của Đức Chúa Trời”. Rồi Chúa chỉ cho họ cách dàn trận và Ngài hứa ở cùng họ. Giô-sa-phát liền sấp mình, cúi đầu sát đất, tất cả dân chúng cũng vậy. Họ thờ lạy Chúa, cảm tạ Ngài. Ca đoàn của người Lê-vi đều đứng lên cất tiếng hát lớn mà ca ngợi Chúa. Ai nấy đều rất vui mừng vì Chúa đã nhậm lời.

Sáng hôm sau, dân Giu-đa chỗi dậy thật sớm kéo quân ra trận.

Giô-sa-phát ban lời hiệu triệu: “Khá tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi thì các ngươi sẽ vững chắc, hãy tin các tiên tri Ngài thì các ngươi sẽ may mắn”. Giô-sa-phát truyền cho ca đoàn mặc áo lễ đi trước đạo quân và hát: “Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì sự thương xót của Ngài còn đến đời đời”. Đang khi ca đoàn ca ngợi Chúa, thì Ngài làm cho quân Mô-áp, Am-môn và Sê-i-rơ rối loạn hàng ngũ, không còn phân biệt ai, tưởng bạn là thù, nên họ giết lẫn nhau. Dân Giu-đa chỉ đứng trên tháp canh, nhìn thấy thây của đám quân đông đảo kia nằm sãi dài trên đất. Giô-sa-phát và đạo quân của ông cướp lấy tài vật của kẻ thù suốt ba ngày, đến nỗi không thể đem đi hết được. Họ trở về trong thành Giê-ru-sa-lem, vui mừng đàn hát. Bấy giờ họ biết Chúa hơn, tin cậy và vâng lời Chúa hơn, vì Ngài yêu họ bằng tình yêu diệu kỳ.

Tin nầy đồn ra, các nước xung quanh kinh hãi Đức Chúa Trời, không dám làm hại dân Giu-đa, nên họ được yên bình và thịnh vượng.

Sống đẹp lòng Chúa để có thể cầu nguyện và được Ngài nhậm lời là phước vô cùng, Chúa bênh vực chúng ta đến mức Ngài bảo rằng: “Trận giặc nầy không phải của các ngươi, bèn là của Đức Chúa Trời”. Ngài là Chúa của vạn quân, Chúa của chiến trận, Ngài chiến đấu với kẻ thù của chúng ta.

Matin Luther có một kinh nghiệm giống như Giô-sa-phát, khi ông đứng ra cải chánh giáo hội, ông tin lời của Chúa trong Thi thiên 46 và sáng tác bài thánh ca: ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ THÀNH KIÊN CỐ CỦA CHÚNG TA.

CÂU HỎI

1. Khi lên ngôi, Giô-sa-phát làm gì trước hết?

2. Sau khi lên ngôi ba năm, Giô-sa-phát làm gì nữa?

3. Dưới triều vua Giô-sa-phát, nước Giu-đa ra sao?

4. Sau khi bị quở trách về việc liên kết với A-háp, Giô-sa-phát làm gì?

5. Giô-sa-phát chỉnh đốn việc cai trị nước như thế nào?

6. Khi giặc bao vây, Giô-sa-phát làm gì?

7. Trong lời cầu nguyện, Giô-sa-phát thưa gì với Chúa?

8. Chúa đã trả lời thế nào cho Giô-sa-phát?

9. Trận giặc xảy ra thế nào?

10. Làm sao để lời cầu nguyện của chúng ta được Chúa nhậm?

11. Phụ huynh phải làm gì cho con em mình?

12. Lãnh đạo của Hội Thánh phải làm gì cho tín đồ?

BÀI 13. ĐỨC CHÚA TRỜI THÀNH TÍN VỚI CHÚNG TA

KINH THÁNH: ICác 11:4; 22:37; II Sử ký 14:20.

CÂU GỐC: “Vậy nên, phải nhận biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, ấy là Đức Chúa Trời, tức Đức Chúa Trời thành tín, giữ sự giao ước và nhân từ đến ngàn đời cho những người yêu mến Ngài và vâng giữ các điều răn Ngài” (Phục truyền 7:9).

MỤC ĐÍCH: Chứng tỏ sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài. Chúng ta phải tin cậy Chúa luôn luôn.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

Xin đọc lại các đoạn Kinh Thánh đã học trong sách Các vua và Sử ký.

Chúng ta ôn lại 12 bài đã học để ghi lòng tạc dạ những sự dạy dỗ ấy. Điều đáng ghi tạc là sự thành tín của Chúa đối với dân Y-sơ-ra-ên, sự thưởng phạt của Ngài rất rõ ràng và chắc chắn.

Sau khi Sa-lô-môn qua đời, nước Y-sơ-ra-ên chia ra làm hai: Mười chi phái ở phía Bắc gọi là Y-sơ-ra-ên, hai chi phái ở phía Nam gọi là Giu-đa. Chúng ta đã học về hai vua Y-sơ-ra-ên là Giê-rô-bô-am và A-háp, ba vua Giu-đa là Rô-bô-am, A-sa và Giô-sa-phát. Hai vua Y-sơ-ra-ên đều không tốt, ba vua Giu-đa đã có hai vua tốt là A-sa và Giô-sa-phát.

1. Vua Giê-rô-bô-am trị vì 22 năm trên Y-sơ-ra-ên, người lập hai bò con vàng, một tại Bê-tên và một tại Đan cho dân Y-sơ-ra-ên thờ phượng để họ không đến Giê-ru-sa-lem. Giê-rô-bô-am xui giục dân Y-sơ-ra-ên làm điều gớm ghiếc, phạm tội nặng trước mặt Chúa, nên Ngài đã hủy diệt dòng dõi của ông (ICác 13:34; 14:10; 15:29-30).

2. Vua A-háp trị vì 22 năm trên Y-sơ-ra-ên. Ông còn gian ác hơn Giê-rô-bô-am và hơn bất cứ ai sống trước ông. Ông lấy Giê-sa-bên, con gái vua Si-đôn, làm vợ và thờ lạy các thần của Si-đôn là Ba-anh và Át-tạt-tê. A-háp và Giê-sa-bên ra lệnh giết hết các tiên tri của Đức Chúa Trời, song nuôi 850 tiên tri Ba-anh và Átạttê trong cung điện của vua (ICác 18:4,13,19).

A-háp rất giàu có, có nhà mùa đông, nhà mùa hạ, đền bằng ngà và nhiều súc vật, vườn ruộng, thế mà ông còn tham lam vườn nho của Na-bốt, nên đã âm mưu giết Na-bốt và chiếm đoạt vườn nho. Vì vậy, Chúa đã hủy diệt dòng dõi của A-háp là 70 con trai và tất cả tôi tớ trong nhà, cũng hủy diệt luôn các tiên tri của Ba-anh và Át-tạt-tê (IICác 9:7-10; 10:1-27).

Trước khi thi hành sự hình phạt, Đức Chúa Trời đã tỏ lòng thương xót, sai các tiên tri cảnh cáo Giê-rô-bô-am, nhưng ông không chịu ăn năn, cứ miệt mài trong tội lỗi ngày càng nặng hơn, nên Chúa đã hủy diệt cả nhà ông. Đức Chúa Trời cũng tỏ lòng thương xót A-háp, dùng tiên tri Ê-li giúp đỡ ông rất nhiều điều như cầu nguyện cho có mưa xuống đất. Chúa đã nhẫn nại lắm đối với A-háp nên cho ông chiến thắng vua Sy-ri. Nhưng thay vì biết ơn Chúa, hết lòng ăn năn, thì A-háp lại gian ác hơn. Cuối cùng, Chúa thi hành sự công bình của Ngài để giáng họa trên A-háp như Ngài đã từng ban phước trước đó.

3. Vua Rô-bô-am, con trai của Sa-lô-môn thiếu sáng suốt trong việc chăn dân, nên đã gây cho nước nhà chia rẽ: Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Ông trị vì nước Giu-đa 17 năm, Rô-bô-am đã không trung thành với Chúa và dân Giu-đa thờ lạy hình tượng, nên Ngài đã phó họ cho Ê-díp-tô để bị cướp bóc những bửu vật trong cung điện của vua và trong đền thờ của Chúa (ICác 14:21-28).

4. Vua A-sa trị vì nước Giu-đa 41 năm. “A-sa làm điều thiện và ngay thẳng trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của người” (II Sử ký 14:2). Người trừ bỏ hình tượng khỏi xứ, khuyên dân chúng tìm cầu Đức Chúa Trời, làm theo luật pháp và điều răn của Ngài. Chúa ban cho Giu-đa được bình an bốn phía.

Có lần quân Ê-thi-ô-pi bao vây, A-sa cầu nguyện: “Lạy Đức Giê-hô-va, trừ ra Chúa chẳng có ai giúp đỡ người yếu thắng được người mạnh, Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi ôi xin hãy giúp đỡ chúng tôi vì chúng tôi nương cậy nơi Chúa, ấy là nhân danh Chúa mà chúng tôi đến đối địch cùng đoàn quân nầy. Đức Giê-hô-va ôi! Ngài là Đức Chúa Trời chúng tôi, chớ để loài người thắng hơn Chúa” (II Sử ký 14:11). A-sa được toàn thắng, vì chính Chúa đánh bại dân Ê-thi-ô-pi, Ngài không để cho người nhờ cậy Ngài bị hổ thẹn (Thi 25:3; Ê-sai 49:23).

5. Vua Giô-sa-phát thay thế vua A-sa trị vì trên ngôi Giu-đa 25 năm. Giô-sa-phát là vị vua tốt hơn tất cả các vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa trước đó. Kinh Thánh ghi lại: “Người đi theo đường của A-sa, cha người, chẳng xây bỏ đi, song làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va ở cùng Giô-sa-phát, vì người đi theo đường lối đầu tiên của Đa-vít, tổ phụ mình, không tìm cầu thần Ba-anh, nhưng tìm cầu Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, giữ theo các điều răn của Ngài, chớ chẳng làm như Y-sơ-ra-ên… Người vững lòng theo các đường lối của Đức Giê-hô-va” (ICác 22:43; II Sử ký 17:3-4,6).

Giô-sa-phát tổ chức ban thăm viếng và chăm sóc dân chúng, dạy dỗ họ Lời của Chúa. Ông cũng đích thân làm như vậy. Ông chỉnh đốn việc cai trị trong nước, khuyên các quan chức kính sợ Chúa mà thi hành trách nhiệm một cách công bằng. Khi đất nước lâm nguy, ông kêu gọi mọi người kiêng ăn, cầu nguyện để được Chúa giải cứu.

Kết quả, Giô-sa-phát và dân Giu-đa không chiến đấu mà đã chiến thắng kẻ thù, vì trận giặc đó không phải của họ, bèn là của Chúa.

Nhưng lỗi lầm đáng tiếc của Giô-sa-phát là làm bạn với người xấu. Trước hết, ông kết tình thông gia với A-háp (II Sử ký 18:1). Kế đó ông liên minh với A-háp đi đánh vua Sy-ri. Chúa đã thương xót và cứu ông, song Ngài quở trách ông (ICác 19:1-3). Cuối cùng ông hiệp tác với A-cha-xia là con của A-háp trong việc đóng tàu đi Ta-rê-si chở vàng. A-cha-xia ăn ở rất gian ác. Một tiên tri đã đến nói với Giô-sa-phát: “Bởi vì vua kết giao với A-cha-xia, nên Đức Giê-hô-va đã hủy phá công việc của vua”. Những tàu đều bị bể nát, không vượt qua Ta-rê-si được (II Sử ký 20:35-37).

Chúa đã cho ghi chép những việc trên đây để dạy dỗ chúng ta. “Vì con mắt Đức Giê-hô-va soi xét khắp thế gian đặng giúp sức cho kẻ nào có lòng trọn thành đối với Ngài” (II Sử ký 16:9). Chúa thấy mọi sự và mọi người, Chúa thấy con kiến đen bò trên hòn đá đen, trong trời tối đen. “Sự tốí tăm không thể giấu chi khỏi Chúa, ban đêm soi sáng như ban ngày, và sự tối tăm cũng như ánh sáng cho Chúa” (Thi thiên 139:12). “Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng” (I Sa-mu-ên 16:7). “Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy theo đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm” (Giê-rê-mi 17:10).

Chúa ban thưởng xứng đáng những người công bình như A-sa và Giô-sa-phát, hình phạt những kẻ gian ác như Giê-rô-bô-am và A-háp. Chúa cũng đối với chúng ta ngày nay như vậy, vì Ngài là Đấng thành tín và công bình đời đời. Không có gì khủng khiếp cho bằng bị Chúa hình phạt, không có gì sung sướng cho bằng được Chúa khen thưởng.

“Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực, ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng và tội lỗi. Nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội, và nhân tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời” (Xuất 34:6-7).

CÂU HỎI

1. Chúng ta đã học về những vị vua nào của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa?

2. Vua Giê-rô-bô-am thế nào?

3. Vua A-háp ra sao?

4. Đối với Chúa hai vua đó thế nào?

5. Vua Rô-bô-am thế nào?

6. Vua A-sa thế nào?

7. Vua Giô-sa-phát thế nào? Chúa đối với họ thế nào?

8. Khi lâm nguy, vua A-sa và vua Giô-sa-phát làm gì?

9. Chúa cho ghi chép các việc trên để làm gì?

BÀI 14. Ê-LI VÀ Ê-LI-SÊ

KINH THÁNH: ICác 19:19-21; IICác 2:1-18.

CÂU GỐC: “… Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm; ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, Ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều…” (Ma-thi-ơ 25:23).

MỤC ĐÍCH: Chỉ rõ rằng chúng ta được sửa soạn để làm công việc lớn lao, nên ngay bây giờ phải trung tín làm những việc nhỏ mọn hằng ngày.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus muốn chúng ta làm việc Ngài

(Giăng 12:26).

TH:

Ê-li-sê được Chúa gọi để hầu việc Ngài

(ICác 19:19-21).

TB:

Sự trung thành của Ê-li-sê

(IICác 2:1-18).

TT:

Truyền giảng là hầu việc Chúa

(Mác 16:15).

TN:

Hầu việc kẻ khác

(Mác 10:43-44).

TS:

Chúa chỉ đường cho ta

(Thi thiên 32:8; 48:14; 73:24).

TB:

Ê-li trên núi hóa hình

(Lu-ca 9:28-31).

Vô luận thời đại nào, Đứ c Chúa Trời cũng cần người trung thành để phục vụ Ngài, như Môi-se, Giô-suê, các quan xét, các vua, và các tiên tri. Ngài tìm kiếm những người đó, chuẩn bị họ cho những công tác vĩ đại của Ngài. Đó là những người trung tín trong những việc nhỏ hằng ngày. Vì “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, cũng trung tín trong việc lớn, ai bất nghĩa trong việc rất nhỏ, cũng bất nghĩa trong việc lớn” (Lu-ca 16:10).

Sa-lô-môn nói: “Con có thấy người nào siêng năng trong việc mình chăng? Người ấy hẳn sẽ đứng trước mặt các vua, chớ chẳng phải ở trước mặt người hèn hạ đâu” (Châm ngôn 22:29). Người trung thành mà Chúa đã tìm được để hầu việc Ngài là Ê-li-sê.

I. Ê-LI-SÊ THEO Ê-LI (ICác 19:19-21).

Vâng lời Chúa, Ê-li đi xức dầu cho Ê-li-sê làm tiên tri thế cho ông (ICác 19:16). Ê-li gặp Ê-li-sê đang cày ruộng với 12 đôi bò, và ông cầm đôi thứ 12. Ê-li-sê giàu có, cần mẫn, lao động hằng ngày để nuôi mình và giúp người, không xem đó là việc hèn hạ mà là việc đáng làm.

Ê-li đi ngang qua Ê-li-sê, ném áo choàng của mình trên Ê-li-sê. Chiếc áo choàng bằng lông lạc đà thô sơ của Ê-li là lối mặc đặc biệt của ông và sau nầy là của Giăng Báp-tít. Trong đời Ê-li, chỉ có ông mặc như vậy, nên thấy người nào mặc áo bằng lông lạc đà, ai nấy biết ngay đó là Ê-li (IICác 1:8), cũng như thấy người mặc áo tơi, ai nấy biết đó là tiên tri Sa-mu-ên (I Sa-mu-ên 28:14).

Thấy áo choàng của Ê-li trên mình, Ê-li-sê biết Ê-li kêu gọi mình theo ông, để thay thế ông trong chức vụ tiên tri, vì đó là dấu hiệu của sự truyền chức, trao quyền. Ê-li-sê rất vui mừng, vội vã bỏ bầy bò mà chạy theo Ê-li, cung kính thưa: “Xin cho phép tôi hôn cha và mẹ tôi đã, đoạn tôi sẽ theo ông” (ICác 19:20a). Không phải là xin phép, mà chỉ là hôn từ giã. Ê-li đáp: “Hãy đi và trở lại, vì ta nào có làm gì cho ngươi đâu” (ICác 19:20b). Ê-li muốn nói: “Chúa kêu gọi ngươi chớ đâu phải ta”. Ê-li-sê không bị bắt buộc chi cả. Ai nấy đều tình nguyện theo Ngài.

Ê-li-sê trở lại bắt đôi bò mà mình đang cày để làm thịt, dùng cày làm củi, dọn một bữa ăn từ giã các bạn bè để trọn đời theo Chúa, phục vụ Ngài. Ê-li-sê có tinh thần phục vụ rất cao. Hằng ngày ông cày ruộng, nhưng sẵn sàng theo tiếng gọi của Chúa để làm tiên tri. Dầu chưa biết con đường sẽ ra sao, chỉ biết mình được Chúa kêu gọi là đủ, nên ông từ giã cha mẹ, bạn bè, giết bò, đốt cày và dứt khoát ra đi. Ê-li-sê không vì hoàn cảnh ép buộc, song vì tiếng gọi trên trời, không vì thất chí, bất bình, mà vui lòng tình nguyện, không bốc đồng, nông nổi, mà đắn đo, cân nhắc kỹ càng. Ê-li-sê không bàn với thịt và máu. Ông đang sống an nhàn thịnh vượng với một sở ruộng, 12 đôi bò và nhiều tôi tớ. Ông biết rõ rằng không hề có tiên tri nào không bị bắt bớ. Trước mặt ông, A-háp đã giết các tiên tri, kẻ sống sót trốn tránh, lưu lạc. Song Ê-li-sê đã quyết định theo Chúa để phục vụ Ngài với tư cách một tiên tri, bất chấp khó khăn nguy hiểm.

II. Ê-LI THỬ NGHIỆM Ê-LI-SÊ (IICác 2:1-10).

Ê-li biết mình sắp được cất lên trời nên ông muốn thử nghiệm Ê-li-sê lần cuối cùng. Ê-li bảo Ê-li-sê ở lại Ghinhganh để ông đến núi Bê-tên, ở lại Bê-tên để ông đến Giê-ri-cô. Mỗi lần như vậy, Ê-li-sê quả quyết: “Tôi chẳng hề lìa khỏi thầy” (Câu 2b). Nhận biết lòng tận trung của Ê-li-sê, Ê-li lấy làm thỏa mãn, nên bảo: “Hãy xin điều ngươi muốn ta làm cho ngươi, trước khi ta được cất lên khỏi ngươi” (câu 9b).

Đây là một lời hứa hết sức rộng rãi. Nhưng Ê-li-sê không xin được giàu có, danh vọng, quyền thế, sống lâu, cũng không xin tránh khỏi khó khăn, bắt bớ hay được an nhàn, thịnh vượng. Ê-li-sê chỉ xin: “Nguyện Thần của thầy cảm động tôi bội phần” (Câu 9b). Có người nghĩ rằng, tại sao Ê-li-sê dám xin cho mình được hơn thầy? Thiết tưởng, Ê-li-sê xin như vậy là vì nhu cầu thuộc linh để có đủ tư cách thi hành chức vụ lớn lao và nặng nề.

Chúa Jêsus đã phán với các môn đồ khi Ngài sắp lìa họ: “Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, kẻ nào tin Ta cũng sẽ làm việc Ta làm, lại cũng làm việc lớn hơn nữa, vì Ta đi về cùng Cha” (Giăng 14:12). Đó là lý do Ê-li đã nói cùng Ê-li-sê: “Ngươi cầu xin một sự khó, song nếu ngươi thấy ta lúc ta được cất lên khỏi ngươi, ắt sẽ được như lời” (Câu 10).

Việc nầy khó cho Ê-li mà không khó cho Đức Chúa Trời, miễn là Ê-li-sê tận trung theo Ê-li như về sau các môn đồ tận trung theo Chúa Jêsus cho đến lúc thấy Ngài được cất lên trời. Người như thế có khả năng và tư cách hưởng đặc ân đó.

III. Ê-LI-SÊ THAY THẾ Ê-LI (IICác 2:11-18).

“Hai người cứ vừa đi vừa nói với nhau”. Chắc Ê-li thân mật đặn dò, dạy dỗ, khuyến khích Ê-li-sê về chức vụ, như trao quyền lại cho Ê-li-sê. Thình lình có một xe lửa và ngựa lửa phân rẽ hai người và Ê-li được cất lên trời trong một cơn gió lốc trước mặt Ê-li-sê. Ê-li-sê không muốn thầy lìa khỏi mình, cũng như các môn đồ không muốn Chúa Jêsus lìa khỏi họ. Thấy cảnh đó, Ê-li-sê nắm lấy áo của mình xé ra làm hai mảnh, chỉ về sự phân rẽ của thầy và trò. Xe lửa và ngựa lửa hiện ra cách rõ ràng để tiếp rước Ê-li lên trời, song không phải mắt nào cũng thấy được.

Khi sắp bị ném đá chết, Ê-tiên “Được đầy dẫy Thánh Linh, mắt ngó chăm lên trời, thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời và Chúa Jêsus đứng bên hữu Đức Chúa Trời”, nhưng bao nhiêu người xung quanh ông không thấy gì hết.

Nếu mắt chúng ta không thấy những thực sự thuộc linh, siêu nhiên, là phép lạ của Đức Chúa Trời thường tỏ bày, thì không phải những thực sự đó không có, mà tại mắt của chúng ta không mở ra để thấy. Ê-li-sê đã thấy, nên ông hăng say trở về thi hành nhiệm vụ một cách đắc lực, cũng như các môn đồ đã thấy Chúa thăng thiên, “…rồi trở về thành Giê-ru-sa-lem, mừng rỡ lắm” (Lu-ca 24:52).

Ê-li rất sốt sắng vì Chúa như lửa (ICác 19:10,14), nên ông được xe lửa và ngựa lửa tiếp về trời. Chúa Jêsus đã so sánh Giăng Báp-tít với Ê-li; Ngài nói rằng: “Giăng là đuốc đã thắp và sáng” (Giăng 5:35). Chúng ta cũng hãy cháy và sàng lòe ra như Ê-li và Giăng.

Ê-li được cất lên trời như Hênóc, không thấy sự chết, là phần thưởng Chúa dành cho tôi tớ tận trung của Ngài. Sống trong thời hắc ám của A-háp, Ê-li vẫn phục vụ Chúa. Ông đã tổ chức ba trường thần đạo tại Ghinhganh, Bê-tên và Giê-ri-cô, thu hút hằng trăm học viên. Trước khi được cất lên trời, ông đi qua các trường đó để từ giã họ.

Vô luận hoàn cảnh nào, Chúa vẫn cho chúng ta một cơ hội, một phương tiện, như một cái cửa nhỏ đang mở ra để chúng ta phục vụ Ngài. Hãy tận dụng cơ hội và phương tiện đó, hãy bước vào cánh cửa nhỏ đang mở ra đó.

So sánh sự chết của vua A-háp với sự cất lên của tiên tri Ê-li, chúng ta thấy cuối cùng của hai người khác nhau như vực với trời, nó vừa cảnh cáo cũng vừa khích lệ chúng ta. Khốn thay cho những kẻ sống ngoài Chúa và chết ngoài Chúa. Phước thay cho những kẻ sống trong Chúa và chết trong Chúa. “Người công chánh thác thể nào, tôi nguyện thác thể ấy, cuối cùng của người nghĩa làm sao, tôi nguyện cuối cùng tôi làm vậy” (Dân số ký 23:10).

Di vật của Ê-li cho Ê-li-sê chỉ là một chiếc áo bằng lông, song nó quí hơn ngàn vàng. Sau khoảng 10 năm phục vụ Ê-li, bây giờ Ê-li-sê có đủ tư cách thay thế Ê-li, như Giô-suê thay thế Môi-se. Ê-li-sê rẽ nước sông Giô-đanh và đi ngang qua bằng chiếc áo như thầy mình đã làm. Thấy vậy, các môn đệ của tiên tri biết ngay là Đức Chúa Trời đã lập Ê-li-sê thay thế cho Ê-li nên họ đã đến đón Ê-li-sê, phủ phục dưới chân người. Họ muốn nói: Chúng ta hãy tôn trọng người mà Đức Chúa Trời tôn trọng.

Lời cầu xin của Ê-li-sê được Chúa nhậm. Ê-li-sê đã làm phép lạ nhiều gấp hai Ê-li. Chúa Jêsus đã phán với Na-tha-na-ên: “Ngươi sẽ thấy việc lớn hơn việc đó” (Giăng 1:50).

CÂU HỎI

1. Để kêu gọi Ê-li-sê theo mình hầu việc Chúa, Ê-li đã làm gì?

2. Khi biết mình được Chúa kêu gọi, Ê-li-sê đã làm gì?

3. Ê-li-sê là người thế nào?

4. Trước khi lên trời, Ê-li dùng cách nào để thử nghiệm Ê-li-sê?

5. Ê-li-sê đã tỏ ra lòng tận trung thế nào?

6. Khi Ê-li-sê được lời hứa thì ông xin gì?

7. Tại sao Ê-li-sê xin điều đó?

8. Tại sao Chúa dùng xe lửa và ngựa lửa đem Ê-li lên trời?

9. Tại sao có người thấy phép lạ của Chúa mà người bên cạnh không thấy gì?

10. Sự cuối cùng của A-háp và Ê-li khác nhau thế nào?

11. Sau nhiều năm theo Chúa bên cạnh Ê-li, Ê-li-sê được gì?

12. Các bạn của Ê-li-sê thấy gì nơi ông? Và họ đã làm gì?

BÀI 15. Ê-LI-SÊ LÀM PHÉP LẠ

KINH THÁNH: IICác 4:1-7; 38-44; 6:1-7.

CÂU GỐC: “Nhưng trước hết hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa” (Ma-thi-ơ 6:33).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Đức Chúa Trời luôn luôn hiện diện để giúp đỡ người yêu mến Ngài. Chúa sẵn sàng cung ứng mọi nhu cầu cho chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa cung ứng mọi nhu cầu cho ta

(Ma-thi-ơ 6:25-34).

TH:

Ê-li-sê làm phép lạ

(IICác 4:1-7; 38-44).

TB:

Ê-li-sê làm phép lạ

(IICác 6:1-7).

TT:

Một sự cung ứng dư dật

(Thi thiên 116:1-7).

TN:

Không việc chi Đức Chúa Trời không làm được

(Lu-ca 1:37; 18:27).

TS:

Sự giúp đỡ khi khó khăn

(Thi 28:7; 37:5; 40:17; 41:10).

TB:

Sự tin cậy nơi Đức Chúa Trời

(Thi thiên 46).

Chúa đã phán với Ê-li: “Nhưng Ta đã để dành lại cho Ta trong Y-sơ-ra-ên bảy ngàn người không có quì gối xuống trước mặt Ba-anh, và môi họ chưa hôn nó” (ICác 19:18). Đó là những người được Ê-li dạy dỗ trong các trường thần đạo tại Ghinhganh, Bê-tên và Giê-ri-cô. Ê-li-sê tiếp tục công tác đó, lại còn dạy dỗ họ từng nhà, giúp đỡ từng người qua những phép lạ mà Chúa đã dùng ông.

Ê-li-sê sống gần gũi với mọi người, thân mật chia sẻ vui buồn với họ, cung ứng mọi nhu cầu trong cuộc sống thăng trầm hằng ngày của họ. Vì vậy, ai nấy được an ủi và khích lệ. Ê-li-sê giống như Chúa Jêsus khi Ngài còn sống ở trần gian (Giăng 2:1-10; Lu-ca 8:49-56; Mác 6:34-44). Chúng ta không thể sống khi ẩn khi hiện như Ê-li, song có thể sống thường xuyên và đơn giản như Ê-li-sê bên cạnh anh chị em mình để giúp đỡ họ.

I. Ê-LI-SÊ GIÚP ĐỠ MỘT QUẢ PHỤ NGHÈO (IICác 4:1-7).

Theo nguyên tắc chung, tất cả mọi phép lạ của Đức Chúa Trời làm qua đầy tớ Ngài, không hề nhằm mục đích phô trương, mà nhằm cung ứng nhu cầu cho con người. Bao nhiêu lần người Pha-ri-si đòi hỏi Chúa Jêsus làm phép lạ để họ tin thì Ngài không làm (Ma-thi-ơ 12:38; 16:1-4; Mác 8:11-12; Lu-ca 11:16,29; Giăng 2:18; Lu-ca 23:8-9).

Có quả phụ của một tiên tri đến than thở với Ê-li-sê về gia cảnh của bà. Chồng bà là người kính sợ Chúa, nhưng đã chết, để lại cho bà một số nợ. Dưới thời trị vì của A-háp, nhân dân đói khổ, các tiên tri lại còn bị bắt bớ, nên dễ lâm nợ. Có lẽ bà nầy là vợ của Ápđia, người đã dùng bánh và nước nuôi 100 tiên tri trong hai hang đá (ICác 18:4). Đó là lý do Ápđia mang nợ, cho đến khi qua đời cũng chưa thanh toán hết.

Chủ nợ toan bắt hai con trai của quả phụ làm tôi mọi để trừ nợ. Bà rất thương các con, nếu chúng bị bắt làm tôi mọi, bà sẽ ra sao? Đã mất chồng, bây giờ lại sắp mất con. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đó bà không thất vọng. Chồng bà là người kính sợ Chúa, bây giờ bà cũng vậy. Hơn nữa bà biết Ê-li-sê, người của Đức Chúa Trời, là bạn của chồng bà. Ông ấy có tình thương và ân điển của Chúa, nên bà đem mọi sự trình bày cho ông.

Ê-li-sê hỏi: “Ngươi có vật gì ở nhà?” Bà thưa: “Chẳng có gì trong nhà hơn là một hũ dầu”. Ê-li-sê tiếp: “Hãy đi ra ngoài mượn những bình không của các kẻ láng giềng ngươi, chớ mượn ít. Khi ngươi trở về, hãy vào nhà với các con trai ngươi, đóng cửa lại rồi hãy đổ dầu vào các bình đó; hễ bình nào đầy thì để nó riêng ra”. Quả phụ vâng lời, bao nhiêu bình không đã mượn đều đầy hết. Bấy giờ, dầu trong hũ liền dừng lại. Nếu còn bao nhiêu bình không, dầu trong hũ còn cứ tuôn ra làm cho đầy cả. Ân điển và quyền năng của Chúa vô hạn. Sự ban cho của Ngài nhiều hơn chúng ta xin. Nhu cầu của chúng ta dầu lớn đến đâu, so với ân điển của Chúa thì vẫn còn nhỏ quá. “Đức Chúa Trời của tôi sẽ ban cả tài nguyên phong phú trong Chúa Jêsus mà đáp ứng mọi nhu cầu cho anh em”.

Quả phụ đem mọi việc trình lại với Ê-li-sê. Tiên tri bảo bà đem dầu đó bán để trả nợ, số còn lại dùng để nuôi mình. Chắc mẹ con bà vui mừng lắm, thân nhân, bạn bè cũng cảm tạ Chúa với họ.

Chúng ta cố gắng đừng mắc nợ ai. Vạn nhất phải mắc nợ, chúng ta nên lo trả. Hãy vâng lời và tin cậy Chúa như quả phụ nầy.

II. Ê-LI-SÊ CUNG ỨNG THỨC ĂN CHO NHIỀU NGƯỜI (4:38-44).

Trong những ngày đói kém (8:1), các môn đệ của Ê-li-sê đến ngồi trước mặt ông để được dạy dỗ. Nhưng họ không có chi ăn. Ê-li-sê chăm sóc họ cả xác lẫn hồn, nên ông bảo người giúp việc nấu một nồi canh lớn cho mọi người ăn. Nhưng vì thức ăn ít quá, nên một người ra đồng hái rau. Thấy có nhiều trái dưa rừng, người bèn hái đem về, xắt ra từng miếng bỏ vào nồi. Khi đã chín, người múc ra cho mọi người ăn. Nhưng vừa khi nếm canh, người ta la lên với Ê-li-sê: “Hỡi người của Đức Chúa Trời, sự chết ở trong nồi nầy”. Ê-li-sê bảo đem một chút bột, ông bỏ vào nồi canh, tức thì canh ăn được, không còn độc nữa. Trước đó, Ê-li-sê cũng đã giải độc cho nước tại Giê-ri-cô (IICác 2:19-22).

Chúng ta là những trái dưa rừng, trong mỗi người đều có chất độc làm cho chết, nếm vào chẳng ai chịu nổi, ăn vào chẳng ai sống được. Nhưng bột mà Ê-li-sê cho vào canh tượng trưng về Chúa Jêsus là Bánh Của Sự Sống, làm tiêu tan chất độc, khiến độc trở nên hiền, tức là thay đổi đời sống của chúng ta: “Những sự cũ đều qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới”.

Có một người đem đến cho Ê-li-sê 20 ổ bánh lúa mạch và lúa gié làm của lễ đầu mùa. Trong thời đói kém mà có người dâng như vậy là từ lòng yêu thương sốt sắng. Dầu rất ít, song rất quí. Thế mà Ê-li-sê không giữ lại cho mình chút nào, bảo người giúp việc đem ra cho các môn đệ ăn. Người giúp việc ngạc nhiên, vì số bánh đó không thể nào đủ no cho 100 người ăn. Nhưng Ê-li-sê cứ bảo đem ra, vì Chúa có hứa: “Người ta sẽ ăn và còn dư”. Quả thật, sau khi ai nấy ăn no thì vẫn còn dư, vì ăn bao nhiêu thì bánh lại hóa ra bấy nhiêu. Ê-li-sê thật đáng mặt làm thầy, làm cha các môn đệ của ông như Chúa Jêsus đối với các môn đồ của Ngài.

III. Ê-LI-SÊ GIÚP ĐỠ NGƯỜI BỊ RỦI RO (IICác 6:1-7).

Số học sinh trường thần đạo Ghinhganh thêm lên rất nhiều, làm cho chỗ ở trở nên hẹp quá. Ai nấy đều muốn sống bên cạnh Ê-li-sê để được ông dạy dỗ, nên họ xin phép ông đến sông Giô-đanh, mỗi người đốn một cây đòn tay để cất thêm một trường học tại đó. Nếu mỗi tín đồ thấy như vậy và làm như vậy, chắc Hội Thánh mau được phát triển biết bao. Chúng ta phải nhận lấy trách nhiệm mở mang và gây dựng Hội Thánh. Dự phần vào việc đó là đặc ân Chúa dành cho con cái Ngài. Ai nấy phải lấy làm hãnh diện và tham gia.

Ê-li-sê đáp: “Hãy đi”, một người thưa: “Xin thầy hãy đi cùng các tôi tớ thầy”. Ê-li-sê đáp: “Ta sẽ đi”. Các học sinh nầy rất sốt sắng, siêng năng mà cũng rất khôn ngoan và khiêm tốn. Họ không cậy sức, cậy tài của mình, song cậy Chúa. Họ biết mình không thể thành công nếu không có Ê-li-sê đi cùng và làm việc với họ. Bất cứ một công tác nào, dầu nhỏ hay lớn, như chứng đạo, thăm viếng, chia sẻ, giảng dạy, chúng ta phải được Chúa đồng công và hướng dẫn.

Khi mọi người đang đốn cây, một người có cái lưỡi rìu sút cán rơi xuống nước. Người đó la lên: “Than ôi, tôi có mượn nó”. Ê-li-sê hỏi: “Nó rớt ở đâu?” Được chỉ chỗ, Ê-li-sê chặt một khúc gỗ, ném xuống đó, lưỡi rìu liền nổi lên. Lưỡi rìu sút cán thật là nguy, vì ra khỏi cán nó có thể văng vào người khác, gây thiệt hại. Có những người như lưỡi rìu sút cán, không hành động theo nguyên tắc, trong kỷ luật. “Họ như đám mây bạt theo chiều gió, không thể đổ mưa, hứa hẹn nhiều mà đem lại chẳng bao nhiêu, như cây ăn trái mà đến mùa lại không ra trái. Họ chẳng những hư vong mà còn chết đến hai lần, đã bật rễ mất gốc, lại còn bị thiêu đốt. Họ để lại đằng sau những tủi nhục nhuốc nhơ như đám bọt biển bẩn thỉu trôi bập bềnh theo những lượn sóng tấp vào bờ. Họ vụt sáng như mảnh sao băng để rồi vĩnh viễn rơi vào vùng tối tăm mù mịt”.

Người đốn cây mà lưỡi rìu đã mất, chỉ còn cán thì không làm gì được. Nếu không thành thật, người cứ cán rìu gõ vào cây vang tiếng cũng như đốn mà không ngã được cây nào. Có những người mất quyền năng và ân điển của Chúa như mất lưỡi rìu. Về hình thức người ấy vẫn còn hoạt động như ai, song không kết quả gì hết. Môn đệ của Ê-li-sê thành thật la lên và xin giúp đỡ. Chúng ta phải làm như vậy.

Lưỡi rìu rớt xuống nước thì không dễ tìm lại được dầu biết chỗ nó rớt. Nhưng Ê-li-sê chặt một khúc gỗ ném xuống, thì lưỡi rìu nổi lên. Thập tự giá của Chúa ban lại cho chúng ta quyền năng và ân điển. Con người đắm chìm trong tội lỗi như lưỡi rìu rơi xuống nước, không ai có thể tự giải thoát, chỉ có ân điển và quyền năng của Chúa mới cứu vớt được.

Tóm lại, các phép lạ mà Ê-li-sê đã thực hiện là hình ảnh Chúa Jêsus luôn ở với chúng ta, sẵn sàng giúp đỡ khi thiếu thốn, cung ứng khi đói kém, giải quyết khi rủi ro.

CÂU HỎI

1. Chúa dùng Ê-li-sê làm phép lạ với mục đích gì?

2. Cuộc sống của Ê-li và Ê-li-sê khác nhau thế nào?

3. Bà làm gì và được Ê-li-sê giúp đỡ thế nào?

4. Ê-li-sê giải quyết nồi canh dưa dại thế nào?

5. Điều ấy dạy dỗ gì cho chúng ta?

6. Điều gì bày tỏ nếp sống cao thượng của Ê-li-sê?

7. Tại sao các môn đệ của Ê-li-sê xin đi đốn cây?

8. Việc gì đã xảy ra khi họ đốn cây?

9. Ê-li-sê giải quyết thế nào về sự rủi ro?

10. Sự thành thật của người môn đệ sút lưỡi rìu là gì?

11. Khúc gỗ của Ê-li-sê chỉ về ai?

12. Làm sao để được lại quyền năng và ân điển?

BÀI 16. CẬU BÉ Ở SU-NEM

KINH THÁNH: IICác 4:8-37.

CÂU GỐC: “Chứng ấy tức là Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài” (IGiăng 5:11).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Đức Chúa Trời có quyền trên sự chết và sự sống. Ngài ban sự sống đời đời cho kẻ nào tin cậy Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đức Chúa Trời ban sự sống đời đời

(IGiăng 5:10-13).

TH:

Cậu bé Su-nem ra đời

(IICác 4:8-17).

TB:

Cậu bé Su-nem chết và sống lại

(IICác 4:18-37).

TT:

Lời cầu nguyện bởi đức tin

(Gia-cơ 5:13-18).

TN:

Quyền năng nhờ sự cầu nguyện

(Lu-ca 18:1-8).

TS:

Sự sống lại

(Giăng 11:20-17; 40-45).

TB:

Sự sống đời đời

(Giăng 3:16-18).

Ê-li-sê lưu hành thăm viếng các trường tiên tri, giúp đỡ các gia đình yêu mến Chúa, đáp ứng nhu cầu của họ. Chúa dùng ông làm nhiều phép lạ. Phước cho dân Y-sơ-ra-ên có một tiên tri như Ê-li-sê ở giữa họ.

Trong các vòng thăm viếng, Ê-li-sê thường đi ngang qua Su-nem. Tại đây có một bà giàu của cũng giàu lòng, hiếu khách, cố mời Ê-li-sê ở lại dùng bữa với gia đình bà. Sau nhiều lần như vậy, ngày kia bà nói với chồng: “Tôi biết rằng người năng đến nhà chúng ta đây, là một người thánh của Đức Chúa Trời. Xin chúng ta hãy xây cất cho người một cái phòng cao, rồi để tại đó một cái giường, một cái bàn; một cái ghế và một cây đèn. Vậy, khi người đến nhà ta thì sẽ lại ở đó”.

Bà nầy có một tâm linh rất sáng suốt, nhận ra Ê-li-sê không phải là người thường. Dầu Ê-li-sê không tự xưng, song thấy tư cách của Ê-li-sê, bà biết chỉ có người thánh của Đức Chúa Trời mới được như vậy. Để tỏ lòng kính trọng đầy tớ của Chúa, bà đề nghị cùng chồng xây một phòng với đầy đủ tiện nghi dành cho Ê-li-sê. Mỗi lần Ê-li-sê đi ngang qua đó, thì được tiếp đón vào phòng cao, nghỉ ngơi thoải mái.

I. CẬU BÉ Ở SU-NEM RA ĐỜI (IICác 4:8-17).

Chịu cảm động trước lòng tốt của bà chủ nhà, Ê-li-sê bảo Ghê-ha-xi hỏi bà có cần ông giúp đỡ chi không? Như gởi gắm với vua hoặc với quan tổng binh. Bà đáp: “Tôi vẫn ở giữa đồng bào tôi”, nghĩa là bà từ chối cả hai sự giúp đỡ đó. Bà sẵn sàng phục vụ Ê-li-sê, vì lòng yêu mến Chúa và yêu đầy tớ Ngài, chớ không muốn nhờ vả chi. Ê-li-sê bàn thêm với Ghê-ha-xi là phải tìm hiểu nhu cầu của gia đình nầy. Ghê-ha-xi thưa: “À này, bà không có con trai và chồng bà đã già”. Ê-li-sê rất mừng vì được biết đúng nhu cầu của họ. Người Á Đông, nhất là người Do thái, rất muốn có con. Ê-li-sê bảo Ghê-ha-xi gọi bà đến. Bà đứng trước cửa và lần nầy Ê-li-sê trực tiếp nói với bà: “Năm tới, trong lúc nầy, ngươi sẽ ẵm một đứa con trai”. Bà hết sức vui mừng, thưa: “Hỡi Chúa tôi, là người của Đức Chúa Trời! Xin chớ nói dối cùng con đòi của Chúa”. Bà thọ thai, và năm sau, sanh một con trai như lời Ê-li-sê đã hứa với bà.

Đầy tớ của Chúa phải tìm hiểu nhu cầu của dân sự Ngài để cầu thay cho họ. Người yêu mến Chúa và phục vụ Ngài đáng được khen thưởng.

II. CẬU BÉ Ở SU-NEM CHẾT (IICác 4:18-30).

Hãy tưởng tượng ông bà nầy yêu con trai độc nhất của mình là dường nào. Họ không ngờ lòng tốt của họ đối với Ê-li-sê có kết quả kỳ diệu như vậy. “Đức Chúa Trời không phải là không công bình mà bỏ quên công việc và lòng yêu thương của anh em đã tỏ ra vì danh Ngài, trong khi hầu việc các thánh đồ và hiện nay đương còn hầu việc nữa. Vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu” (Hê-bơ-rơ 6:10; ICôr 15:58).

Khi cậu bé đã lớn độ 6 hay 7 tuổi, ngày nọ, nó theo cha ra đồng xem gặt lúa. Trưa hè, nắng gắt, nó bị cảm nên chạy đến với cha mà kêu la: “Đầu con đau”. Cha nhờ người giúp việc đem về cho mẹ nó. Mẹ hết lòng chăm sóc con, song đến trưa, nó chết trên tay của mẹ. Bà liền đem cậu bé đặt trên giường của Ê-li-sê, rồi vội vàng xin chồng cho một con lừa và một đầy tớ để bà đi mau đến người của Đức Chúa Trời. Chồng bà lấy làm lạ hỏi lý do. Bà thản nhiên đáp: “Mọi sự bình an”. Đứa con trai chết là nỗi đau đớn không xiết kể của bà mẹ nhân từ. Song bà không kêu khóc, vì hi vọng con bà sẽ được sống lại. Bà không tỏ cho ai, dầu chồng bà cũng vậy, vì không ai ngoài người của Đức Chúa Trời có thể giúp đỡ bà, bởi do sự cầu thay của ông mà đứa bé ra đời.

Từ Su-nem đến núi Cạt-mên, nơi Ê-li-sê ở, vào khoảng 25 dặm, đi lừa phải mất hết 5 hay 6 tiếng đồng hồ. Từ xa, Ê-li-sê thấy bà nên vội vàng cho Ghê-ha-xi chạy ra hỏi: “Mọi việc bình an chăng? Chồng con bà bình an chăng? Bà đáp với Ghê-ha-xi: “Bình an”. Khi đến gần, bà ôm chân Ê-li-sê và khóc. Ê-li-sê chưa rõ việc gì đã xảy ra, vì Chúa chưa tỏ cho ông. Bà nói: “Tôi há có cầu xin ông một con trai sao? Tôi há chẳng nói với ông rằng xin chớ nói dối tôi sao?” Bà nhắc lại cho Ê-li-sê là bà đã không cầu xin, nhưng Ê-li-sê đã hứa cho bà. Bà xin Ê-li-sê giữ lời hứa của mình.

Bấy giờ, Ê-li-sê hiểu ngay rằng con trai bà đã chết. Ông bảo Ghê-ha-xi đem cây gậy của ông đặt trên mặt của đứa bé. Ghê-ha-xi phải đi một mạch đến nơi và làm việc quan trọng đó. Dầu Ghê-ha-xi đại diện Ê-li-sê, cầm gậy của Ê-li-sê trong tay, hi vọng được Chúa nhậm lời và đứa bé sống lại. Nhưng bà nầy không đủ tin cậy Ghê-ha-xi và cây gậy của Ê-li-sê mang lại kết quả bà mong muốn, nên bà thề sẽ cứ ôm chân Ê-li-sê cho đến chừng ông phải ra đi. Bà nghĩ rằng cậu bé đó là đứa con lời hứa do chính Ê-li-sê đã nhân danh Chúa hứa với bà, vì ông đã cầu thay cho bà, nên bây giờ, chỉ có Ê-li-sê mới giải quyết được. Chắc bà nầy đã biết con trai của quả phụ Sa-rép-ta chết và được Ê-li cầu nguyện cho nó sống lại (ICác 17:17-24). Bà muốn Ê-li-sê cũng làm như thế.

II. CẬU BÉ Ở SU-NEM SỐNG LẠI (IICác 4:13-37).

Quả thật, Ghê-ha-xi đã đi trước và làm y như Ê-li-sê bảo, song không có kết quả gì. Đón được Ê-li-sê đến nhà mình, bà mẹ của cậu bé Su-nem rất vui mừng, hi vọng con bà sẽ sống lại. Ê-li-sê thân hành đến nhà bà là việc phải lẽ. Lúc thường, ông đã đến trọ tại nhà bà và được tiếp rước trọng hậu, bây giờ là lúc có biến, ông lại không đến sao? Ông đã cầu xin Chúa cho bà một con trai, bây giờ ông để cho nó chết sao? Thà bà không có con, thì đau đớn ít, song có con mà nó chết, thì bà đau đớn nhiều. Dầu Chúa có cho đứa bé sống lại hay không là quyền của Ngài, song Ê-li-sê phải làm hết sức mình là điều cần thiết để an ủi bà. Sự bình an mà bà đã nói với chồng bà và với Ghê-ha-xi là gì? Há không phải là đi đón được Ê-li-sê sao? Chính người của Đức Chúa Trời là niềm hi vọng, an ủi và khích lệ cho bà trong cơn hoạn nạn như vậy. Mỗi mục sư, truyền đạo phải là Ê-li-sê của tín đồ ngày nay, phải đi với họ trên đoạn đường đau thương của họ, không vì một lẽ gì mà từ chối.

Khi đến nơi, Ê-li-sê thấy cậu bé nằm sãi trên giường của ông. Ê-li-sê liền đóng cửa phòng lại, chỉ một mình ông với cậu bé ở trong. Ông bắt đầu cầu nguyện. Kế đó, ông leo lên giường, nằm trên cậu bé, đặt miệng mình trên miệng nó, mắt mình trên mắt nó, tay mình trên tay nó, làm cho xác nó ấm lại. Ông tiếp tục cầu nguyện nữa, rồi lại lên giường nằm trên cậu bé như trước. Nó nhảy mũi bảy lần, rồi mở mắt ra. Ông cho Ghê-ha-xi kêu mẹ của cậu bé lên và giao nó cho bà.

Chỉ có sự sống mới sinh ra sự sống, chỉ có sự sống mới truyền đạt sự sống. Cây gậy của Ê-li-sê không có sự sống, nên chẳng làm gì được; Ê-li-sê có sự sống, nên đã truyền đạt sự sống cho cậu bé đã chết. Chúa Jêsus phán: “Chiên Ta nghe tiếng Ta, Ta quen nó và nó theo Ta. Ta ban cho nó sự sống đời đời, nó chẳng chết mất bao giờ, và chẳng ai cướp nó khỏi tay Ta… Ta là sự sống lại và sự sống, kẻ nào tin Ta thì sẽ sống, măc dù đã chết rồi. Còn ai sống và tin Ta, thì không hề chết” (Giăng 10:27-28; 11:25-26).

Mục sư, Truyền đạo có nhiệm vụ truyền đạt tư tưởng cho người khác, mà cũng truyền đạt sự sống của Chúa cho họ. Vì vậy, đầy tớ Chúa phải có sự sống và có một cách dư dật (Giăng 10:10).

Vì lòng yêu Chúa và yêu đầy tớ Chúa, bà đã được thưởng một con trai. Vì tin cậy Chúa qua đầy tớ của Ngài, con trai của bà chết được sống lại. Sự thử thách nặng nề làm cho bà yêu thương đầy tớ của Ngài hơn, tin cậy Chúa và tin cậy đầy tớ của Ngài hơn. Bà đã hai lần kinh nghiệm niềm vui khó tả. “Ai rước các ngươi tức là rước Ta, ai rước Ta tức là rước Đấng đã sai Ta. Ai rước một đấng tiên tri vì là một tiên tri, sẽ lãnh phần thưởng của đấng tiên tri, ai rước người công bình, vì là công bình, sẽ lãnh phần thưởng của người công chình. Ai sẽ cho một người trong bọn nhỏ nầy chỉ uống một chén nước lạnh, vì người nhỏ đó là môn đồ Ta, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, kẻ ấy sẽ chẳng mất phần thưởng của mình đâu” (Ma-thi-ơ 10:40-42).

CÂU HỎI

1. Người đàn bà ở Su-nem là người thế nào?

2. Bà biết Ê-li-sê là ai?

3. Bà đối xử với Ê-li-sê thế nào?

4. Ê-li-sê muốn làm gì cho gia đình bà? Và nhu cầu của bà là gì?

5. Tại sao con bà chết?

6. Khi con chết, bà làm gì?

7. Tại sao gậy của Ê-li-sê không làm cậu bé sống lại mà phải có chính ông?

8. Phần thưởng của người yêu mến Chúa là gì?

9. Mục sư, Truyền đạo có nhiệm vụ phải truyền đạt những gì cho người khác?

10. Đầy tớ Chúa phải làm gì cho tín đồ trong lúc họ gặp hoạn nạn?

BÀI 17. NA-A-MAN ĐƯỢC CHỮA LÀNH BỆNH PHUNG

KINH THÁNH: IICác 5:1-19.

CÂU GỐC: “…Huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta” (IGiăng 1:7).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng ngay một em bé cũng có thể làm chứng và đưa tội nhân đến với Chúa để họ được cứu.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Na-a-man nghe lời một em bé

(IICác 5:1-8).

TH:

Na-a-man được chữa lành bệnh phung

(IICác 5:9-19).

TB:

Sứ điệp của Chúa Jêsus

(Lu-ca 4:16-27).

TT:

Được kêu gọi để làm chứng

(Công vụ 1:8; 2:32; 4:33).

TN:

Những trẻ em hay giúp ích

(I Sa-mu-ên 2:18; 16:19-21).

TS:

Khả năng của người làm chứng

(I Cô 13:4-7; II Phi 1:5-7).

TB:

Sự rửa sạch thuộc linh

(Ê-sai 1:18; IGiăng 1:7,9).

Y-sơ-ra-ên và Sy-ri là hai nước láng giềng, có cùng một biên giới, nên khi họ bất hòa nhau thì dân chúng hai bên gặp khó khăn, nhất là bên yếu thế. Vì vậy, ngày xưa đạo quân tuần tiểu của Sy-ri đã vượt biên giới, bắt một em bé gái Y-sơ-ra-ên đem về làm nô lệ cho vợ Na-a-man.

Na-a-man là người tài hoa lỗi lạc, làm tổng tư lệnh của cường quốc Sy-ri, được vua tin dùng, được dân tôn trọng. Nhưng ông mắc bệnh phung, đau buồn biết bao. Ông đã tốn nhiều tiền của cho thầy thuốc, cho các tà thần trong nước, mà không kết quả chi, nên hoàn toàn thất vọng. Lắm bậc anh hùng của thế giới cũng như Na-a-man, mang lấy trong mình bệnh tội lỗi còn hơn bệng phung, hằng ngày bị vi trùng tội lỗi đục khoét thể xác và linh hồn, nên dầu quyền cao chức trọng mà không lúc nào bình an, vui vẻ. Đó là những con người đáng thương.

I. NA-A-MAN NGHE LỜI CHỨNG CỦA EM BÉ Y-SƠ-RA-ÊN (c.1-4).

Ở trong nhà Na-a-man lâu ngày, em nầy nhận biết ông chủ mình mắc bệnh phung mà có lẽ ông giấu lắm, vì hổ thẹn. Ngày kia, em thỏ thẻ với bà chủ mình: “Ôi, chớ chi chúa tôi đi đến cùng ông tiên tri ở Sa-ma-ri! Người sẽ giải cứu chúa tôi khỏi bệnh bệnh phung”. Em thật can đảm vì tin cậy Chúa, em dám làm chứng cho một quan lớn về một việc quan trọng. Dầu lời chứng rất đơn sơ, song rất quả quyết, làm cho bà Na-a-man tin. Bà thuật lại lời đó cho ông, ông cũng tin, ông thuật lại lời đó cho vua Sy-ri, vua cũng tin.

Tại sao họ tin một em bé gái về một việc quan trọng như vậy?

1. Hằng ngày em sống bên cạnh bà Na-a-man, nhưng việc làm và lời nói em luôn luôn thành thật. Em là một người đáng cho bà tin cậy, nên lần nầy bà tin cậy em như bao nhiêu lần trước.

2. Không những em có đức tin và truyền đạt đức tin cho người khác, mà em cũng có tình thương. Em vô tội bị bắt làm nô lệ, xa gia đình, họ hàng, bạn bè, em có thể thù hận mà bỏ mặc cho Na-a-man mang bệnh phung suốt đời, dầu em biết tiên tri Ê-li-sê có quyền của Chúa để trị bệnh ấy. Vì tình thương, thương cả kẻ thù, em sẵn sàng làm chứng cho Na-a-man. Em không lấy ác trả ác cho ai, nhưng chăm tìm điều thiện trước mặt mọi người (Ma-thi-ơ 5:44; Rô-ma 12:17).

Trong hoàn cảnh khốn nạn, em nầy sống thản nhiên phục tùng thánh ý của Chúa, lòng đầy đức tin và tình thương. Vì thế, Chúa đã mở đường cho em có cơ hội phục vụ Ngài, tôn vinh Ngài qua sự làm chứng cho một vị quan lớn của nước Sy-ri. Hãy nhớ luôn rằng dầu nhỏ, dầu yếu đến đâu, dầu nguy nan như thế nào, chúng ta vẫn có thể phục vụ Chúa nếu chúng ta có đức tin và tình thương. Lời chứng của chúng ta có giá trị, nếu hành vi của chúng ta lúc nào cũng đáng tin như vậy.

II. NA-A-MAN ĐẾN VỚI TIÊN TRI Ê-LI-SÊ (5-8).

Để được kết quả chắc chắn, Na-a-man đem theo nhiểu lễ vật quí giá là mười ta-lâng bạc, sáu ngàn đồng vàng và mười bộ áo. Trong thời đó, phong cùi là một bệnh vô phương chữa trị, nên dầu có tốn kém bao nhiêu Na-a-man cũng không tiếc. Ngoài ra còn có thơ gởi gắm của vua Sy-ri cho vua Y-sơ-ra-ên. Lợi dụng thế lực của một cường quốc, vua Sy-ri chỉ thị cho vua Y-sơ-ra-ên phải chữa lành bệnh cho Na-a-man.

Khi đọc thơ của vua Sy-ri thì vua Y-sơ-ra-ên hốt hoảng xé áo mình. Ông triệu tập quần thần lại mà cho họ biết rằng: “Ta đâu phải là Đức Chúa Trời để làm sống và làm chết, mà vua Sy-ri xin ta chữa lành bệnh phung cho một người. Đây chẳng qua là vua Sy-ri tạo điều kiện, mượn lý do để gây chiến với chúng ta mà thôi”.

Lúc tin nầy đồn ra trong xứ và Ê-li-sê nghe, ông liền sai người đến nói với vua Y-sơ-ra-ên: “Cớ sao vua xé quần áo mình? Na-a-man hãy đến với tôi ắt người sẽ biết rằng trong Y-sơ-ra-ên có tiên tri”. Đây không phải là ngày sầu khổ, bèn là ngày vui mừng, không phải là ngày gian nan, bèn là cơ hội tốt để tôn vinh Chúa. Điều đáng ngạc nhiên là cô bé vô danh kia biết trong nước mình có tiên tri Ê-li-sê chữa được bệnh phung mà Giô-ram, vua Y-sơ-ra-ên lại không biết hoặc đã biết song vì bối rối mà quên đi. Có lẽ ông không quán xuyến tài nguyên trong nước của mình, nhất là tài nguyên thuộc linh.

Cũng như vua Y-sơ-ra-ên, chúng ta không biết có một nguồn tài nguyên vô cùng phong phú trong Chúa Jêsus, nên thường bối rối đến độ hốt hoảng khi nghe, khi thấy một việc bất trắc xảy ra. Luôn nhớ rằng chúng ta không những có Ê-li-sê mà cũng có Đức Chúa Trời của Ê-li-sê. Hãy nói như Đa-vít: “Khắp thế gian sẽ biết rằng Y-sơ-ra-ên có một Đức Chúa Trời” (I Sa-mu-ên 17:47).

III. NA-A-MAN ĐƯỢC CHỮA LÀNH (9-19).

Quan tổng tư lệnh Na-a-man và đoàn tùy tùng oai nghi, bệ vệ rầm rộ ngựa xe đến trước cửa trại Ê-li-sê. Na-a-man chắc chắn Ê-li-sê sẽ đích thân ra tận cửa nghinh đón ông, rồi nhân danh Đức Giê-hô-va mà làm bùa chú gì đó để ông được lành bệnh. Không ngờ, Ê-li-sê chỉ cho một đầy tớ ra bảo Na-a-man rằng: “Hãy đi tắm mình bảy lần dưới sông Giô-đanh, thịt ngươi sẽ trở nên lành, và ngươi sẽ được sạch”.

Toa thuốc mà Ê-li-sê cho Na-a-man rất dễ và không tốn kém chi cả. Song Na-a-man nổi giận, vì nghĩ rằng Ê-li-sê xem thường cá nhân ông và cả vương quốc Sy-ri. Ông đến một cách trọng thể với bạc vàng, vải vóc và đoàn tùy tùng, đồng thời cũng đại diện cho vua Sy-ri, thế mà Ê-li-sê chẳng chút quan tâm! Còn việc xuống sông Giô-đanh tắm bảy lần thì nước hai con sông Abana và Bạtba của Sy-ri há chẳng tốt hơn sao? Thà ta về đó tắm mà được sạch. Vậy, Na-a-man quay trở về và giận dữ.

Xưa nay tính kiêu ngạo đã giết chết nhiều người trong bệnh hoạn và tội lỗi. Do kiêu ngạo, Na-a-man đã nhận định sai lầm:

1. Chữa bệnh phung không phải là việc của Ê-li-sê, chỉ một Đức Chúa Trời làm được việc đó, mà Ê-li-sê là đầy tớ, là công cụ của Ngài thôi. Sự hiện diện của Ê-li-sê không quan trọng gì, mạng lịnh của Chúa qua Ê-li-sê mới là quan trọng. Lễ vật quí nhất của Na-a-man không giá trị gì cho Chúa cả, còn Ê-li-sê thì đâu có quyền nhận lấy.

2. Na-a-man khoe về hai con sông trong xứ mình. Dầu nước ở đó có tốt đến đâu cũng chỉ có thể làm sạch bùn lầy, bụi bặm chứ không thể làm sạch bệnh phung. Ngay trong nước của sông Giô-đanh cũng không thể làm sạch bệnh phung, nếu có thể thì tất cả dân Y-sơ-ra-ên mắc bệnh phung đều đã được sạch (Lu-ca 4:27). Điều kiện tắm dưới sông Giôdanh bảy lần là Chúa muốn ông hoàn toàn tin cậy và vâng lời, rồi chính quyền năng siêu việt của Ngài mới chữa lành cho ông, ông không phép hỏi tại sao. Đức Chúa Trời không bao giờ sai lầm hoặc vô lý.

Chúa Jêsus đã nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, xức vào mắt người mù từ thuở sanh ra, rồi bảo: “Hãy đi, rửa nơi ao Siôlê”. Người đi, rửa tại đó và được lành (Giăng 9:1-7). Nước miếng trộn với đất thành bùn không phải là thuốc chữa bệnh mù, trái lại nó còn làm cho mù hơn. Song người mù được sáng nhờ tin cậy và vâng lời Chúa.

Đoàn tùy tùng tha thiết khuyên nài và giải thích cho Na-a-man: “Cha ơi, nếu tiên tri có truyền cho cha một việc khó, cha há chẳng làm sao? Phương chi rày người bảo cha rằng: Hãy đi tắm thì được sạch”. Nghe lọt vào tai, Na-a-man xuống sông Giô-đanh tắm đúng bảy lần, thịt người trở nên như trước, giống như thịt của một đứa trẻ.

Trong thế gian này, có biết bao linh hồn đã tự mình làm một việc gì đó, dầu khó khăn, tốn kém đến đâu để được cứu rỗi, mà không chịu tin cậy và vâng lời Chúa. Họ không biết sự cứu rỗi không phải là giá mà họ có thể trả được, vì giá đó là huyết Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời. Ấy là nhờ Chúa Jêsus mà chúng ta được cứu rỗi, để chẳng ai có thể khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời.

Na-a-man và đoàn tùy tùng vừa vui mừng vừa cảm động, trở lại thưa với Ê-li-sê rằng: “Bây giờ, tôi nhìn biết trên khắp thế gian chẳng có Chúa nào khác hơn Đức Chúa Trời trong Y-sơ-ra-ên”. Na-a-man dâng lễ vật và ép nài Ê-li-sê nhận lấy, nhưng người nhất định từ chối.

CÂU HỎI

1. Tại sao một cô bé Y-sơ-ra-ên bị làm nô lệ cho vợ Na-a-man?

2. Na-a-man là ai? Mắc bệnh gì?

3. Cô bé Y-sơ-ra-ên nói gì với bà Na-a-man?

4. Tại sao bà Na-a-man, ông Na-a-man và vua Sy-ri đều tin lời cô bé đó?

5. Tại sao được thơ của vua Sy-ri thì vua Y-sơ-ra-ên bối rối?

6. Ê-li-sê bảo vua Y-sơ-ra-ên làm gì? Và bảo nói gì với Na-a-man?

7. Tại sao Na-a-man giận dữ, ông hiểu sai chỗ nào?

8. Khi Na-a-man vâng lời tắm đúng bảy lần thì có gì xảy ra?

9. Na-a-man đã làm gì cho Ê-li-sê? Và Ê-li-sê có thái độ nào?

BÀI 18. LÒNG THAM CỦA GHÊ-HA-XI

KINH THÁNH: IICác 5:19b-27.

CÂU GỐC: “Các ngươi chớ ăn trộm ăn cắp, chớ nói dối, và chớ lừa đảo nhau” (Lê-vi 19:11).

MỤC ĐÍCH: Dạy chúng ta tránh sự tham lam, dối trá mà ăn ở ngay thẳng, thật thà.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa giúp chúng ta chống lại sự cám dỗ

(Êphê 6:11-18).

TH:

Ghê-ha-xi phạm tội

(IICác 5:20-27).

TB:

Áo giáp của Đức Chúa Trời

(Ê-phê-sô 4:1-16).

TT:

Luật của Chúa về sự tham lam

(Xuất 20:17; Châm 28:16).

TN:

Luật của Chúa về sự thật thà

(Thi 101:7; Châm 19:5-9).

TS:

Đức Chúa Trời là lẽ thật

(Phục 32:1-4; Thi 146).

TB:

Kết quả của sự không công bình

(Rô-ma 2:1; Hê 10:28-31).

Ghê-ha-xi là đầy tớ của tiên tri Ê-li-sê. Anh xuất hiện lần thứ nhất khi Ê-li-sê được tiếp đón vào nhà của vợ chồng người Su-nem (IICác 4:8-37) và lần thứ nhì khi Na-a-man được lành bệnh phung (IICác 5:1-27). Sau đó, anh không còn phục vụ Ê-li-sê nữa. Tuy nhiên, ai nấy biết rõ Ghê-ha-xi vốn là đầy tớ của Ê-li-sê, nên khi vua Y-sơ-ra-ên muốn hiểu về những việc lớn của Ê-li-sê đã làm thì hỏi Ghê-ha-xi (IICác 8:4-6).

Bài học hôm nay cho chúng ta biết tại sao Ghê-ha-xi đã phục vụ Ê-li-sê cách đắc lực một thời gian, rồi lại thôi đi.

I. GHÊ-HA-XI HAM MÊ LỄ VẬT CỦA NA-A-MAN (19b- 20).

Khi thấy bạc, vàng, quần áo Na-a-man dâng cho Ê-li-sê để tỏ lòng biết ơn thì Ghê-ha-xi quáng mắt. Đúng là “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê”. Nhưng khi Ê-li-sê không nhận bất cứ một lễ vật nào của Na-a-man, dầu nhiều hay ít cũng vậy, Ghê-ha-xi lấy làm tiếc quá… Với số bạc, vàng, quần áo đó, thầy trò anh có thể sống phủ phê suốt đời. Lễ vật của Na-a-man không có ảnh hưởng gì đối với Ê-li-sê, song Ghê-ha-xi bị các thứ ấy lôi cuốn mạnh quá. Anh cảm thấy nó hấp dẫn đến nỗi không thể nào bỏ qua được. Anh tự nghĩ: “Thầy ta đã rộng lượng quá mức, nên đã từ chối lễ vậy quí giá của Na-a-man là một người ngoại bang. Cơ hội hiếm có, ta sẽ chạy theo và nhận lễ vật của người”.

Ghê-ha-xi phục vụ Ê-li-sê mà không giống thầy mình, trái lại anh có tư tưởng và hành động nghịch với thầy mình. Ê-li-sê có Ghê-ha-xi gần như Chúa có Giu-đa. Ghêha xi và Giu-đa lấy sự tin kính làm phương tiện trục lợi. Chúng ta hãy tự xét khi nói mình phục vụ Chúa mà không sống như Ngài đã sống và đã dạy, song lúc nào cũng ôm mộng giàu sang. Nếu không sớm tỉnh thức, chúng ta có ngày lạc vào con đường của Ghê-ha-xi hoặc của Giu-đa.

II. GHÊ-HA-XI NÓI DỐI VỚI NA-A-MAN ĐỂ ĐƯỢC LỄ VẬT (21-24).

Dầu Na-a-man đã đi xa, Ghê-ha-xi bắt đầu chạy theo và chắc anh chạy mau lắm. Lễ vật của Na-a-man có một sức thu hút rất mạnh đối với Ghê-ha-xi, nên anh chạy theo kịp xe của Na-a-man. Có lẽ anh vừa chạy, vừa kêu, vừa ra dấu như có một việc rất quan trọng liên hệ đến Na-a-man.

Khi nghe có tiếng người ở phía sau, Na-a-man liền quay lại và thấy Ghê-ha-xi, ông lập tức dừng xe, rồi nhảy xuống đi đón Ghê-ha-xi, hỏi: “Mọi việc đều bình an chớ”, Ghê-ha-xi đáp: “Mọi việc đều bình an. Chủ tôi sai tôi đến nói với ông rằng: Hồi nãy, có hai người trai trẻ là môn đệ của những tiên tri, ở núi Ép-ra-im đến, ta xin ông hãy cho hai người ấy một ta-lâng bạc và hai bộ áo”.

Muốn nhận lễ vật một cách bất hợp pháp, không cách nào hơn là dối gạt, giả danh đạo đức, nhân từ: “Tôi làm việc nầy trên là vì thầy, dưới vì bạn mà thôi”. Na-a-man rất mừng. Ông đã sẵn sàng dâng 10 ta-lâng bạc, 6 ngàn đồng vàng và 10 bộ áo mà Ê-li-sê đã không nhận. Bây giờ ông sung sướng vì được dâng một ta-lâng bạc và hai bộ áo. Vì vậy, ông nài ép Ghê-ha-xi nhận hai ta-lâng bạc thay vì một, với hai bộ áo. Na-a-man bỏ vào mỗi bao một ta-lâng và một bộ áo, giao cho đầy tớ mỗi người một bao vác theo Ghê-ha-xi, đến tận nhà anh trên đồi. Ghê-ha-xi lấy hai bao bạc và áo khỏi hai đầy tớ của Na-a-man, rồi cho họ trở về. Ghê-ha-xi xoa tay vào nhau, ra vẻ thỏa nguyện lắm. Ông nghĩ rằng với số bạc khổng lồ đó, anh có thể mua vườn ôliu và vườn nho, chiên và bò, tôi trai và tớ gái. Anh sẽ xin thôi việc với Ê-li-sê. Nhưng anh có ngờ đâu, không phải anh xin thôi mà kết quả ngược lại là anh bị đuổi.

III. GHÊ-HA-XI NÓI DỐI ĐỂ CHE ĐẬY TỘI LỖI MÌNH (25).

Sau khi mọi việc xong xuôi, xem như trót lọt, Ghê-ha-xi đến trình diện với Ê-li-sê. Anh cố trấn tĩnh, giữ thái độ thản nhiên như không có vấn đề gì xảy ra hết. Sau bao nhiêu năm phục vụ Ê-li-sê, Ghê-ha-xi biết thầy mình là người thánh của Đức Chúa Trời, người được Chúa trọng dụng khiến kẻ chết sống lại, chữa nhiều bệnh phung và thực hiện nhiều điều kỳ diệu khác, nhưng bấy giờ anh xem thường thầy mình như không biết chi cả. Sự tham lam đã làm cho lòng anh tối tăm, trí khôn anh mù, không còn thấy gì, không còn nhớ gì, không còn nghĩ gì ngoài ra lễ vật của Na-a-man.

Ê-li-sê hỏi: “Ớ Ghê-ha-xi, ngươi ở đâu đến?” Phải chăng Ê-li-sê muốn Ghê-ha-xi xưng tội của mình ra để được Chúa tha thứ? Nhưng Ghê-ha-xi đáp: “Thưa, đầy tớ thầy không có đi đâu cả”. Đã tham lam phải dối trá, đã nói dối, phải dối trá nữa, thế là tội chồng lên tội.

IV. GHÊ-HA-XI BỊ HÌNH PHẠT (26-27).

Ê-li-sê nói với Ghê-ha-xi rằng khi Na-a-man xuống xe đi đón anh thì lòng ông có tại đó. Chúa đã tỏ cho Ê-li-sê biết ngay như chính ông chứng kiến chứ không do ai nói lại hay bởi một cuộc điều tra nào. Ê-li-sê trách Ghê-ha-xi rằng bây giờ đâu phải là lúc nên nhận bạc và quần áo để mua vườn ôliu và vườn nho, chiên và bò, tôi trai và tớ gái. Đành rằng các thứ đó là cần, song phải chờ đợi Chúa cho chứ không phải tự tiện theo ý riêng của mình để được. Anh đã dối thầy, lừa bạn, làm cho một người mới tin Chúa phải vấp phạm. Ê-li-sê tiếp “Vì vậy, bịnh phung của Na-a-man sẽ dính vào ngươi và dòng dõi ngươi đời đời”.

Ghê-ha-xi cúi đầu, ngậm miệng, không nói được một lời, lặng lẽ ra đi khỏi mặt Ê-li-sê, và bị bệnh phung trắng như tuyết, Ghê-ha-xi đã nghĩ rằng Ê-li-sê không thể nào biết được bí mật của anh, không ngờ biết được cả hành động lẫn tư tưởng của anh, khi anh tính toan sẽ làm gì với số bạc và quần áo đó.

Ghê-ha-xi được hai ta-lâng bạc và hai bộ áo, nhưng mất gì? Mất sức khỏe, mất danh dự, mất bình an, mất chức vụ. Nếu anh không ăn năn cũng mất linh hồn cho đến đời đời. Ma quỉ cho chúng ta thỏa mãn lòng tham của mình như bạc, vàng, quần áo, để nó cướp của chúng ta những gì mà bạc, vàng và quần áo không thể mua được. Được rất ít, song mất rất nhiều, được cả thế gian cũng chẳng ra chi, nếu mất linh hồn. Na-a-man được chữa lành bệnh phung do ân điển của Chúa, còn Ghê-ha-xi nhận lễ vật của Na-a-man thì phải mang lấy bệnh phung của Na-a-man.

Kinh Thánh dạy thế nào về sự tham lam, dối trá? “Ngươi chớ tham lam” (Xuất 20:17). “Sự sống của người ta không phải cốt tại của cải mình dư dật đâu” (Lu-ca 12:15). “Kẻ trộm cướp… chẳng được hưởng nước Đức Chúa Trời” (ICôr 6:10). Vì tham lam và thờ hình tượng ngang nhau (Ê-phê-sô 5:5; ICôr 3:5). Tham lam thì phải dối trá. “Những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng gớm ghét, kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng, và phàm kẻ nào nói dối, phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai” (Khải huyền 21:8). A-can tham lam và dối trá, cả gia đình phải thiệt mạng. Vì vậy, Phao-lô nói: “Tôi chẳng ham bạc, vàng hay là áo xống của ai hết” (Công vụ 20:33). Ông khuyên Ti-mô-thê: “Nhưng hỡi con, là người của Đức Chúa Trời, hãy tránh những sự đó đi, mà tìm điều công bình, tin kính, đức tin, yêu thương, nhịn nhục, mềm mại” (I Ti-mô-thê 6:11).

CÂU HỎI

1. Chúng ta được biết Ghê-ha-xi qua những cơ hội nào?

2. Khi Ghê-ha-xi thấy những lễ vật của Na-a-man đem dâng cho Ê-li-sê thì lòng anh thế nào?

3. Ghê-ha-xi giống như ai trong Tân Ước?

4. Ghê-ha-xi tính toan thế nào?

5. Ghê-ha-xi đã làm gì và nói gì với Na-a-man?

6. Na-a-man đã giao cho Ghê-ha-xi bao nhiêu?

7. Câu hỏi của Ê-li-sê có nghĩa gì với Ghê-ha-xi?

8. Ghê-ha-xi trả lời thế nào với Ê-li-sê? Tại sao?

9. Ê-li-sê đã nói gì với Ghê-ha-xi?

10. Được bạc và áo, Ghê-ha-xi đã mất gì?

11. Kinh Thánh dạy gì về tội tham lam và dối trá?

BÀI 19. ĐẠO QUÂN SY-RI VÀ ĐẠO QUÂN VÔ HÌNH CỦA CHÚA

KINH THÁNH: IICác 6:8-23.

CÂU GỐC: “Vì Ngài sẽ ban lịnh cho thiên sứ Ngài, bảo gìn giữ ngươi trong các đường lối ngươi” (Thi thiên 91:11).

MỤC ĐÍCH: Dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời luôn luôn bảo vệ kẻ thuộc về Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đừng sợ, Chúa ở với chúng ta

(Ma-thi-ơ 10:28-31; 28:18-20).

TH:

Quân Sy-ri vây bắt Ê-li-sê

(IICác 6:8-17).

TB:

Vua Y-sơ-ra-ên phóng thích quân Sy-ri

(IICác 6:18-23).

TT:

Thiên sứ bảo vệ

(Thi 9:11; Đa-ni-ên 6:22; Hê-bơ-rơ 1:13-14).

TN:

Sự che chở từ trời

(Thi thiên 5:11-12; 145:19-20).

TS:

Đừng sợ

(Ê-sai 41:10; Khải huyền 1:17-18).

TB:

Hãy tin cậy Đức Giê-hô-va

(Thi 31:19-20; 32:10; 34:22).

Khi Na-a-man được chữa lành bệnh phung và trở về, chắc vua tôi của nước Sy-ri đã rất vui mừng. Nhưng họ đã sớm vong ân bội nghĩa, nên chỉ sau một năm, vua Sy-ri lại gây chiến với Y-sơ-ra-ên. Chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng ma quỉ thôi làm việc của nó. Việc mà nó làm ngày và đêm là chống đối Hội Thánh của Chúa.

Phi-e-rơ viết như sau: “Hãy cẩn thận, canh phòng đối phó cuộc tấn công của Sa-tan, tên đại tử thù của anh em. Nó lảng vảng quanh anh em như sư tử gầm thét tìm mồi, chụp vồ được người nào là xé xác ngay” (Theo ý I Phi-e-rơ 5:8).

Đã nhiều lần quân Sy-ri dùng lối phục kích để đánh quân Y-sơ-ra-ên, song quân Y-sơ-ra-ên biết trước, nên tránh khỏi hết. Đức Chúa Trời toàn tri đã tỏ cho Ê-li-sê, và Ê-li-sê chỉ dẫn quân Y-sơ-ra-ên đường nào phải đi, nơi nào phải đóng trại và đóng lúc nào. Thánh Linh cũng chỉ dẫn như vậy, nếu chúng ta nhờ cậy Ngài để tránh mưu lược của Sa-tan.

Vua Sy-ri lấy làm bối rối, nói với quần thần: “Giữa vòng chúng ta có người làm gián điệp cho Y-sơ-ra-ên, nên những bí mật quân sự của chúng ta đều bị bại lộ. Vậy hãy tìm bắt tên gián điệp đó”. Một người thưa: “Ôi vua chúa tôi, chẳng ai trong chúng tôi hết, nhưng Ê-li-sê, tiên tri trong Y-sơ-ra-ên tỏ cho vua Y-sơ-ra-ên biết các lời vua nói trong phòng ngủ mình”. Tức thì vua Sy-ri truyền lịnh: “Hãy đi, xem người ở đâu”. Một người thưa: “Người ở tại Đô-than”. Vua liền sai một đạo quân rất lớn, ngay đêm đó đến Đô-than.

Vua Sy-ri nghĩ rằng chính đạo quân Y-sơ-ra-ên còn không đương nổi với đạo quân Sy-ri, phương chi một mình Ê-li-sê. Vả lại, bị bao vây ban đêm một cách thình lình, Ê-li-sê chẳng có cách nào để thoát thân.

Thật, vua Sy-ri nông nổi và vội vàng mới tính toán và hành động như thế. Nếu ông chín chắn một chút, chắc đã thấy rằng một người chữa được bệnh phung, biết được âm mưu thâm độc của ông, nghe được tiếng nói thầm thì của ông trong phòng kín, mà muốn bắt người đó là việc bất năng, mặc dù ông có đạo binh lớn. Biết bao lần ma quỉ cũng đã làm như vậy.

Ở ngoài cửa sổ căn phòng nọ, có một con chim mổ trên cửa kính, muốn bắt cho được con bướm. Con bướm nhỏ trong phòng không nhìn thấy cửa kính nên nó lo sợ bị con chim bắt. Con chim cũng vậy, vì không nhìn thấy cửa kính, lại thấy con bướm, nên tin chắc sẽ bắt được mồi. Nhưng con bướm được hoàn toàn vô sự vì tấm kính mỏng và trong suốt đã ngăn cách nó với con chim. Chúng ta không thể thấy Chúa bằng mắt của thân thể, nhưng Ngài luôn luôn ở gần để che chở chúng ta (Thi thiên 91:11).

I. ĐẠO QUÂN SY-RI KHÔNG THẤY ĐẠO QUÂN VÔ HÌNH CỦA CHÚA.

Đạo quân Sy-ri hùng hổ kéo đến vây chặt thành phố Đô-than, quyết bắt cho kỳ được Ê-li-sê để trừ hậu hoạn, đồng thời sẽ chiến thắng Y-sơ-ra-ên một cách dễ dàng. Đạo quân Y-sơ-ra-ên chỉ thấy mình họ mà không thấy ai nữa. Không ngờ có một đạo quân khác bằng ngựa lửa và xe lửa, lúc nào cũng sẵn sàng bao quanh để bảo vệ Ê-li-sê.

Đức Chúa Trời vô hình, nhưng thực hữu, đạo quân của Ngài thực hữu, nhưng vô hình. Vì vậy mà cả đạo quân của Sy-ri đã không thấy nên mới liều lĩnh chống lại đạo quân của Đức Chúa Trời. Người chống Trời chẳng khác nào cái bình chống thợ gốm, châu chấu chống xe, trứng chọi đá. Những gì mắt thường không thấy được không phải là không có, nhưng tại thực thể vô hình của chúng mà người có con mắt của đức tin mới thấy được.

II. THẦY TRÒ Ê-LI-SÊ THẤY ĐẠO QUÂN VÔ HÌNH CỦA CHÚA.

Sáng sớm, đầy tớ của Ê-li-sê vội vã chạy vào, hớt hơ hớt hãi nói với Ê-li-sê: “Thầy ơi, chúng ta phải làm sao?” Theo anh thì chỉ có bó tay nộp mạng cho kẻ thù. Anh tưởng Ê-li-sê cũng hốt hoảng như anh, nhưng Ê-li-sê bình tĩnh, thản nhiên đáp: “Chớ sợ, những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng nó”. Anh đầy tớ cố mở to đôi mắt để thấy kẻ ở với mình, mà không thấy ai cả. Anh cứ run lên. Ê-li-sê không những thấy đạo quân Sy-ri, mà cũng thấy đạo quân bằng xe lửa và ngựa lửa của Chúa. Nói xong, ông liền cầu nguyện: “Đức Giê-hô-va ôi, xin mở mắt kẻ tôi tớ tôi, để nó thấy được”. Chúa liền mở mắt cho đầy tớ của Ê-li-sê, anh thấy được đạo quân vô hình như thầy mình, nên không còn sợ hãi nữa.

Khi các môn đồ qua biển với Chúa Jêsus, gặp bão lớn, sóng tạt vào thuyền đến nỗi gần chìm. Họ đánh thức Ngài và thưa: “Thầy ôi, chúng ta chết” (Lu-ca 8:22). Các môn đồ nghĩ rằng họ chết và Chúa cũng chết. Chúa chỗi dậy quở gió và biển, chúng liền yên lặng như tờ.

Tuy nhiều cảnh ngộ nguy nan trên đường theo Chúa, chúng ta thường sợ hãi khi chỉ thấy đạo quân của Sy-ri. Chúng ta hãy xin Chúa mở mắt mình và mở mắt anh chị em mình để ai nấy thấy đạo quân vô hình của Ngài đang bảo vệ chúng ta. “Thiên sứ Đức Giê-hô-va đóng lại chung quanh những kẻ kính sợ Ngài và giải cứu họ” (Thi thiên 34:7). “Và nầy, Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế” (Ma-thi-ơ 28:20). Cánh tay nâng đỡ trời đất cũng là cánh tay nâng đỡ chúng ta hằng ngày giữa mọi cảnh ngộ nguy nan hơn hết.

Con mắt của thân thể mở ra chỉ thấy sự nguy nan để sợ hãi, nên con mắt của đức tin cũng cần phải mở ra để thấy sự bảo vệ của Chúa, hầu được bình an, vững vàng. Nghe tiếng Chúa phán: “Đừng sợ”, song cũng cần thấy “Những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng nó”. Phao-lô đã thách đố: “…Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta” (Rô-ma 8:31). Môi-se đã không sợ Pha-ra-ôn giận, “…Vì người đứng vững như thấy Đấng không thấy được” (Hê-bơ-rơ 11:27).

III. ĐẠO QUÂN SY-RI BỊ HÌNH PHẠT.

Khi đạo quân Sy-ri từ trên núi xuống và đứng gần Ê-li-sê, ông cầu nguyện: “Xin Chúa khiến đạo quân ấy đui mù”. Đạo quân Sy-ri liền không thấy chi cả, ban ngày mà tối mịt như ban đêm. Họ đều sững sờ và sợ hãi, không ai dám bước khỏi chỗ đứng của mình. Đức Chúa Trời chỉ chạm một cái thật nhẹ vào mắt của họ, đủ làm cho họ hoàn toàn tê liệt, chỉ còn cúi đầu, ngậm miệng để chờ chết mà thôi.

Ê-li-sê bảo: “Hãy theo ta”. Ê-li-sê nắm tay một tướng lãnh của họ dẫn đi, rồi người nầy vịn vai người kia dò lần từng bước ríu ríu đi theo Ê-li-sê. Họ chẳng biết ai dẫn mình đi và đi đâu, song lại cứ đi, khi đã vào kinh thành Sa-ma-ri của Y-sơ-ra-ên, Ê-li-sê cầu nguyện: “Lạy Đức Giê-hô-va xin mở mắt cho chúng nó thấy”. Khi họ thấy được thì không phải họ vây Ê-li-sê mà ngược lại, họ bị quân Y-sơ-ra-ên vây chặt. Vua Y-sơ-ra-ên hỏi Ê-li-sê: “Hỡi cha, phải đánh chúng nó chăng? Phải đánh chúng nó chăng?” Ê-li-sê bảo không nên đánh mà còn phải mở một tiệc lớn đãi chúng nó nữa, rồi tha cho về xứ. Những người nầy không cần phải đánh, vì họ là tù binh rồi, không còn là đối thủ của mình nữa. Vua Y-sơ-ra-ên làm như vậy.

Hành động của Ê-li-sê thật cao thượng, khác thường, khoan hồng, đại lượng đối với kẻ thù đúng như Cựu Ước đã dạy và Tân Ước đã trưng dẫn (Châm ngôn 25:21-22; Rô-ma 12:19-21).

Quân Sy-ri vừa sợ hãi, vừa hổ thẹn ra về theo cách một tù binh được phóng thích. Trải qua một thời gian khá lâu, họ không dám bén mảng tới địa phận Y-sơ-ra-ên nữa. Tin Lành không làm cho bạn hữu trở nên kẻ thù, song làm cho kẻ thù trở nên bạn hữu.

CÂU HỎI

1. Tại sao vua Sy-ri nghi ngờ có gián điệp của Y-sơ-ra-ên ở giữa họ?

2. Có người cho vua Sy-ri biết thế nào về Ê-li-sê?

3. Vua Sy-ri ra lệnh làm gì Ê-li-sê?

4. Vua Sy-ri nghĩ như thế nào mà làm như vậy? Ông nghĩ có đúng không? Tại sao?

5. Sáng sớm đầy tớ của Ê-li-sê thấy gì? Thái độ thế nào?

6. Ê-li-sê có thái độ nào? Ông nói gì? Tại sao?

7. Ê-li-sê cầu nguyện gì cho đầy tớ mình?

8. Khi đương đầu với quân Sy-ri, Ê-li-sê cầu nguyện gì?

9. Khi quân Sy-ri bị đui mù giữa ban ngày, thì Ê-li-sê làm gì cho họ?

10. Khi quân Y-sơ-ra-ên đòi giết quân Sy-ri thì Ê-li-sê bảo làm gì?

11. Khi gặp cảnh ngộ nguy nan trên đường theo Chúa, chúng ta nên làm gì?

12. Chúa đã hứa gì với chúng ta?

BÀI 20. CƠN ĐÓI LỚN TẠI SA-MA-RI

KINH THÁNH: IICác 6:25 – 7:20.

CÂU GỐC: “Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là bánh của sự sống, ai đến cùng Ta chẳng hề đói, và ai tin Ta chẳng hề khát” (Giăng 6:35).

MỤC ĐÍCH: Dạy chúng ta luôn luôn hết lòng tin cậy Chúa để sống cho Chúa và truyền giảng Tin Lành cho mọi người.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus là bánh sự sống

(Giăng 6:35; 48:51).

TH:

Cơn đói lớn ở Sa-ma-ri

(IICác 6:24-33).

TB:

Cơn đói lớn ở Sa-ma-ri

(IICác 7:1-20).

TT:

Sự ban cho từ trời

(IICác 3:20; 4:6; 7:1).

TN:

Quyền năng của Chúa

(Thi 115:3; Mác 4:38-39).

TS:

Lời Chúa chắc chắn

(Thi thiên 11:7; Ma-thi-ơ 5:18).

TB:

Sự ban cho dư dật

(Ê-sai 53).

Đây là một trong những truyện tích ly kỳ được Kinh Thánh ghi lại: Một cơn đói lớn, một sự giải cứu lớn, cả hai đều quá sức tưởng tượng của con người. Nhưng hết thảy đều hàm ý dạy dỗ chúng ta về sự hiện hữu và quyền năng của Chúa luôn luôn bảo vệ và giải cứu những kẻ có lòng nhờ cậy Ngài.

I. NGUYÊN DO CƠN ĐÓI LỚN.

Sau khi quân Sy-ri được phóng thích, họ không biết ơn, nhưng căm thù, chỉ chờ cơ hội báo oán. Họ tăng cường và tập trung lực lượng kéo đến bao vây thành Sa-ma-ri của Y-sơ-ra-ên. Muốn chiến thắng mà không tốn một tên quân, họ cứ vây chặt lâu ngày để quân Y-sơ-ra-ên không còn lương thực thì sớm hoặc muộn phải đầu hàng vô điều kiện. Theo binh pháp, họ chắc chắn sẽ thành công. Họ cũng biết rằng lực lượng của Y-sơ-ra-ên không đủ để phá vòng vây, và chính Y-sơ-ra-ên cũng biết như vậy.

Trong cảnh khốn nguy đó, dân Y-sơ-ra-ên có thể nhớ lại và trách Ê-li-sê đã ngăn chặn họ tuyệt diệt quân Sy-ri mấy năm trước (ICác 6:21-22). Nếu đã tuyệt diệt, ngày nay Sy-ri không có đủ lực lượng bao vây Y-sơ-ra-ên. Nhưng Ê-li-sê đã không sai lầm khi thi hành mạng lịnh của Chúa. Giết kẻ thù tuy khó nhưng vẫn có nhiều người làm được, lấy tình thương xóa bỏ hận thù để chinh phục và biến đổi họ trở nên bạn hữu là điều không phải ai cũng làm được.

Nhân loại vốn thù nghịch với Chúa, đáng bị tuyệt diệt (Ê-phê-sô 2:1-3; Cô-lô-se 1:21), nhưng Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, đã hóa thân làm người để chịu chết đền tội cho mọi người, hầu chinh phục và biến đổi kẻ thù trở nên con trai, con gái của Ngài. Cho đến ngày nay, Chúa vẫn tiếp tục đường lối đó qua Hội Thánh của Ngài. Vì vậy, Chúa khuyên chúng ta yêu thương kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ mình như Chúa đã làm (Ma-thi-ơ 5:44; Lu-ca 23:34).

II. MỨC ĐỘ CỦA CƠN ĐÓI LỚN.

1. Giá sinh hoạt rất cao (25).

Lương thực hết, không ai ăn bạc được, nên một cái đầu lừa bán 80 siếclơ bạc, tức là 1.283 gam, hơn 1 kg. Một góc tư ô phân bò câu là 5 gam, bán 5 siếc lơ bạc. Đâu phải mỗi người đều có bạc để mua, dầu là những thức ăn không ra chi cả. Vì vậy có nhiều người đói và chết.

2. Mẹ ăn thịt con (26-29).

Sau khi đã ăn thịt tất cả súc vật như bò, lừa, chó, mèo, chim chóc, họ lại ăn cả thịt con mình. Có hai người đàn bà ở gần nhau, mỗi người có một con trai. Họ đồng ý hôm nay làm thịt con trai của người nầy cho cả hai cùng ăn, hôm sau làm thịt con của người kia để cả hai cùng ăn. Nhưng hôm sau, người kia đem con trai mình giấu mất. Người đã bị gạt thuật lại việc đó cho vua Y-sơ-ra-ên.

Tình mẫu tử như non cao, như bể rộng không thể đo lường, nhưng khi cùng đường túng thế, mẹ đã phải ăn thịt con. Thật là một cơn đói khủng khiếp, không ai ngờ. Song đó là điều Chúa cảnh cáo dân Y-sơ-ra-ên, nếu họ phạm tội (Lê-vi 26:27-29; Phục truyền 28:52-53). Đức Chúa Trời đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên một xứ phì nhiêu phong phú, đượm nhuần sương móc, dồi dào sữa và mật, họ có thể không hề biết thiếu thốn là gì. Nhưng bây giờ, họ phải chịu cơn đói kém khủng khiếp. Tại sao? VÌ TỘI LỖI.

Các vua Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc cũng như các vua Giu-đa ở miền Nam, đều đã phạm tội (IICác 8:16-18; 25-27). Chúa ban cho họ mọi sự, mà họ lại lìa bỏ Ngài, phản bội Ngài thì phải mất hết mọi sự. Tội lỗi của họ đã cướp phước của họ và gây họa cho họ. Tội lỗi làm cho nhà triệu phú phải ăn phân bò câu, người có của cải dư dật phải chết đói. Vậy, “Phải răn bảo kẻ giàu ở thế gian nầy đừng kiêu ngạo và đừng để lòng trông cậy nơi của cải không chắc chắn, nhưng hãy để lòng trông cậy nơi Đức Chúa Trời, là Đấng mỗi ngày ban mọi vật dư dật cho chúng ta được hưởng” (I Ti-mô-thê 6:17).

III. THÁI ĐỘ CỦA VUA Y-SƠ-RA-ÊN TRONG CƠN ĐÓI LỚN.

1. Vua đau đớn về hoàn cảnh của dân (30).

Nghe người đàn bà thuật lại cảnh mẹ ăn thịt con, vua xé quần áo mình, tỏ ra đau đớn như xé lòng mình. Vua tự biết mình không thể làm gì để giải cứu dân sự khỏi chết đói, chỉ có Chúa mới làm được việc đó (27).

2. Vua lên án tử hình Ê-li-sê (32-33).

Vua Giô-ram nầy là con trai của vua A-háp. Ông làm ác như cha mình. Khi xứ bị hạn hán suốt ba năm rưỡi, A-háp đổ tội cho Ê-li, hỏi rằng: “Có phải ngươi là người làm rối loạn dân Y-sơ-ra-ên chăng?” Bây giờ Giô-ram đòi cắt đầu Ê-li-sê. Vậy Ê-li-sê sẽ làm gì?

Ông đã chữa lành bệnh phung cho Na-a-man, cầu nguyện cho đạo quân Sy-ri mù, rồi được sáng và phóng thích họ. Ngoài ra Ê-li-sê còn giúp bao nhiêu người nghèo khổ, kêu kẻ chết sống lại. Giô-ram, vua Y-sơ-ra-ên không nhận biết nguyên nhân chính của cơn đói lớn là sự gian ác của mình để ăn năn, mà đổ hết trách nhiệm trên Ê-li-sê để giết ông, nhưng Chúa không cho phép Giô-ram đụng đến Ê-li-sê.

Khi lâm nguy, chúng ta không hiệp một, lại chia rẽ, cố tình làm hại nhau chỉ là tự sát. Nếu Giô-ram đã giết Ê-li-sê, chắc chắn kinh thành Sa-ma-ri bị chiếm, toàn dân bị làm nô lệ ngay lúc đó. Giết chết tiên tri của Đức Chúa Trời là giết chết niềm tin, an ủi và hi vọng của mọi người. Nước Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc đã bị tuyệt diệt, và nước Giu-đa ở miền Nam đã bị mất quyền tự chủ, bị lưu đày làm nô lệ 70 năm chỉ vì cả hai đã bách hại các tiên tri của Chúa.

IV. SỰ GIẢI CỨU KHỎI CƠN ĐÓI LỚN.

1. Một lời hứa về sự giải cứu (7:1-2).

Ê-li-sê, người mà vua Y-sơ-ra-ên muốn xử tử là một phát ngôn viên của Đức Chúa Trời. Ông bảo vua và các quan hãy nghe lời Đức Giê-hô-va phán: “Ngày mai, tại giờ nầy, nơi cửa thành Sa-ma-ri, một đấu bột lọc sẽ bán một siếclơ, và hai đấu lúa mạch sẽ bán một siếclơ”. Giá sinh hoạt sẽ trở lại bình thường sau 24 tiếng đồng hồ. Một lời hứa hết sức quí báu, lớn lao mà chỉ mình Chúa có thể hứa, và chỉ một mình Ngài có thể thực hiện.

Rất tiếc, vị cận thần của vua Y-sơ-ra-ên không tin, lại còn thách đố Chúa. Ê-li-sê đáp: “Chính mắt ngươi sẽ thấy, nhưng ngươi không đặng ăn đến”. Vô tín là một tội lớn, chắc sẽ bị phạt.

2. Cách thi hành sự giải cứu (3-20).

Tại cổng thành Sa-ma-ri có bốn người phung, vì bị ô uế nên họ không được vào thành. Họ bàn với nhau: Nếu chúng ta cứ ngồi đây sẽ bị chết đói, nếu vào trong thành cũng vậy, thà đi qua trại quân Sy-ri, nếu họ dung tha, chúng ta sẽ sống, nếu họ giết đi thế nào cũng chết thôi.

Vậy, bốn người phung đi qua trại quân Sy-ri lúc chạng vạng. Họ rất ngạc nhiên thấy trại quân bỏ trống, nhưng mọi vật đều còn nguyên. Họ liền đi vào một trại, ăn uống no nê, lấy bạc, vàng, quần áo đem giấu. Họ vào một trại khác, cũng làm như vậy. Số là lúc vào trời chợt tối, quân Sy-ri thình lình nghe tiếng xe, ngựa, người như một đạo quân vô số đang tiến về hướng của họ. Ai nấy sợ hãi, nghĩ rằng đó là đạo quân tiếp viện của vua Hê-tít và vua Ê-díp-tô đến hãm đánh họ để giải cứu Sa-ma-ri. Mất hết trật tự, rối loạn hàng ngũ, mạnh ai nấy chạy trốn để cứu mạng mình, bỏ lại mọi sự. Lần trước Chúa đã chạm vào mắt họ làm cho họ không thấy ánh sáng. Lần nầy, Chúa chạm vào tai họ làm cho họ nghe tiếng di chuyển của một đạo quân vô số. Kẻ nói mình không sợ Đức Chúa Trời, Ngài làm cho họ sợ một lá cây xao động.

Bấy giờ bốn người phung nói với nhau: “Chúng ta làm chẳng phải, ngày nay là ngày có Tin Lành, và chúng ta nín lặng sao? Nếu chúng ta đợi đến rạng đông, thì sự hình phạt chắc lâm vào chúng ta, vậy chúng ta hãy đi báo tin nầy cho nhà vua”. Nếu họ làm thinh thọ hưởng diễm phước, bỏ mặc cho nhiều người chết đói, họ sẽ bị kết tội sát nhân. Sự chết đến với dân trong thành hằng giờ, hằng phút. Nếu đợi đến sáng mai, bao nhiêu người chết trong vòng 12 tiếng đồng hồ đó?

Được đặc ân mà không chia sẻ cho người khác đang cần là ích kỷ, đáng bị hình phạt. Người giàu phải chia cơm xẻ áo cho người nghèo. Người trí thức phải giúp đỡ cho người dốt. Người mạnh phải gánh vác cho người yếu. Bất cứ Chúa ban cho mình điều gì không phải vì chính mình mà ban, song vì kẻ khác. Chúa muốn chúng ta chia sẻ cho mọi người, chớ không được phép giữ riêng cho mình. Đừng làm như ông nhà giàu đối với La-xa-rơ. Phao-lô cho sự không truyền giảng Tin Lành là một thảm họa (ICôr 9:17).

Bốn người phung tức thì đứng dậy, nhắm cổng thành Sa-ma-ri như thiên sứ đem Tin Lành cho các gã chăn chiên. Họ gọi lính canh, xin báo Tin Lành cho vua. Lính canh làm ngay, nhưng vua sợ mắc mưu kẻ thù. Vậy, vua cho đoàn quân do thám đi trước. Đoàn quân do thám trở về báo cáo y như bốn người phung đã nói. Biết chắc quân Sy-ri đã chạy trốn, vua Y-sơ-ra-ên ra lệnh cho dân chúng ra khỏi thành, vào trại quân Sy-ri cướp lấy thực phẩm. Số thực phẩm nhiều đến nỗi ngày hôm đó, một đấu bột lọc bán một siếclơ, hai đấu lúa mạch bán một siếclơ y như Chúa phán. Quan cận thần được vua bắt canh giữ cổng thành, ông bị dân chúng chen lấn và giày đạp chết dưới chân họ cũng y như lời Ê-li-sê đã nói trước. Đó là kết quả của lòng vô tín, xem thường quyền năng của Chúa. Thế là cơn đói lớn được giải cứu.

CÂU HỎI

1. Nguyên do của cơn đói là gì?

2. Kể ra hai hậu quả do cơn đói lớn gây nên?

3. Thái độ của vua Y-sơ-ra-ên thế nào?

4. Nguyên do chính của cơn đói lớn là gì?

5. Nếu Ê-li-sê đã bị giết thì đã có gì xảy ra?

6. Tại sao nước Y-sơ-ra-ên ở Bắc bị mất và dân Giu-đa ở Nam bị lưu đày?

7. Đức Chúa Trời hứa gì trong cơn đói kém?

8. Bốn người phung nghĩ gì? Và làm gì?

9. Tại sao quân Sy-ri bỏ trốn?

10. Khi Sa-ma-ri được giải cứu thì quan cận thần ra sao?

11. Bài nầy dạy chúng ta thế nào về việc truyền giảng Tin Lành?

12. Bài nầy dạy chúng ta thế nào về lòng vô tín?

BÀI 21. Ê-LI-SÊ TRUNG TÍN THỰC HIỆN MẠNG LỊNH CỦA CHÚA

KINH THÁNH: IICác 8:7-15; 9:1-10; 13:14-21.

CÂU GỐC: “Vả lại, cái điều người ta trông mong nơi người quản trị là phải trung thành” (ICôr 4:2).

MỤC ĐÍCH: Bí quyết thành công của một đầy tớ Chúa là trung tín trong mọi việc khó khăn, chúng ta phải trung tín với Chúa luôn.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa dạy về sự trung tín

(Ma-thi-ơ 25:20-29; Lu 12:24-44).

TH:

Ê-li-sê trung tín với một vua độc ác

(IICác 8:7-15).

TB:

Ê-li-sê trung tín với một vua hay trả thù

(IICác 9:1-10; 21-27).

TT:

Ê-li-sê trung tín với một vua trẻ tuổi

(IICác 13:14-21).

TN:

Sự trung tín thiên thượng

(Phục 7:9; Thi thiên 36:5).

TS:

Sự trung tín thiên thượng

(Thi thiên 89:1; IITê 3:5).

TB:

Mọi lời hứa của Chúa đều ứng nghiệm

(Giô-na 21:45; 23:14).

Đức Chúa Trời kêu gọi Ê-li-sê tiếp tục chức vụ của Ê-li. Ê-li-sê đã được trọng dụng thi hành nhiều phép lạ, cứu giúp nhiều người. Một trong những đặc điểm của Ê-li-sê để được Chúa trọng dụng là trung tín trong mọi sự khó khăn. Lúc nào, nơi nào ông cũng truyền ra mạng lịnh của Chúa cho mọi người, vô luận người đó là ai.

I. Ê-LI-SÊ XỨC DẦU CHO HA-XA-ÊN (IICác 8:7-15).

Ê-li-sê đến Đa-mách là một thành phố quan trọng của Sy-ri, vì hai lẽ:

1. Thăm Na-a-man, ông nầy tin Chúa khi được chữa lành bệnh phung.

2. Trung tín thi hành mạng lịnh của Chúa giao cho Ê-li, và Ê-li truyền lại cho ông là xức dầu cho Ha-xa-ên làm vua Sy-ri (ICác 19:15).

Bấy giờ, Bên-ha-đát là vua Sy-ri đau. Có người tin cho vua biết: “Người của Đức Chúa Trời vừa mới đến đây”. Sự xưng hô nầy đã được quen dùng tại Sy-ri từ khi Ê-li-sê chữa lành bệnh phung cho Na-a-man. Chính Bên-ha-đát cũng gọi Ê-li-sê là người của Đức Chúa Trời. Vua truyền cho Ha-xa-ên, vị thủ tướng và là người tâm phúc của mình đem theo lễ vật đi đón Ê-li-sê và xin người cầu hỏi Đức Giê-hô-va: “Ta sẽ lành bệnh chăng?” Bên-ha-đát đã một lần đem quân bắt Ê-li-sê, bây giờ ông biết Ê-li-sê không phải là người như ông đã tưởng, nên ông tự xưng là con trai của Ê-li-sê.

Ha-xa-ên dùng bốn mươi con lạc đà chở lễ vật tốt nhất cho Ê-li-sê. Không phải mỗi lạc đà chở đầy lễ vật đâu, đó là lối phô trương để tỏ lòng kính trọng Ê-li-sê. Chắc Ê-li-sê đã không nhận lễ vật, vì sứ mạng mà ông truyền cho Bên-ha-đát lần nầy không phải là tin mừng.

Khi Ha-xa-ên hỏi về bệnh tình của Bên-ha-đát, Ê-li-sê đáp: “Vua sẽ được lành bệnh. Dầu vậy, Đức Giê-hô-va đã tỏ ra cho ta biết người hẳn sẽ chết”. Bên-ha-đát không chết vì bệnh mà chết vì một lý do khác là bị phản bội. Chúa biết từ lâu, Ha-xa-ên đã âm mưu giết Bên-ha-đát để đoạt ngôi, chỉ chờ cơ hội thôi. Bây giờ cơ hội đã đến.

Ê-li-sê nhìn thẳng vào mặt Ha-xa-ên hồi lâu như muốn đọc các tư tưởng trong đầu người, rồi Ê-li-sê khóc. Ha-xa-ên ngạc nhiên hỏi: “Cớ sao chúa tôi khóc?” Ê-li-sê nói rõ rằng Ha-xa-ên sẽ làm vua Sy-ri và sẽ hành động cách độc ác và tàn nhẫn đối với dân Y-sơ-ra-ên như đốt thành, giết người, vô luận nam, phụ, lão, ấu. Dầu Ha-xa-ên giả bộ khiêm nhường, theo lối khách sáo mà nói: “Nhưng kẻ tôi tớ ông là ai, chẳng qua là một con chó đó thôi; sao làm nổi công sự lớn dường ấy?” Ê-li-sê quả quyết sẽ có như vậy.

Nói thẳng vào mặt một người nham hiểm và quyền thế như Ha-xa-ên không phải là việc dễ, không phải là việc nên nói nếu muốn được an thân. Nhưng Ê-li-sê can đảm trước mặt người, trung tín trước mặt Chúa, nên chẳng chút sợ sệt mà nói hết. Người ta đã không lầm khi gọi ông là người của Đức Chúa Trời, và ông không thẹn mà nhận điều đó.

Môi-se, Đa-vít, Ê-li cũng được gọi là người của Đức Chúa Trời. Phao-lô cũng gọi Mục sư Ti-mô-thê là người của Đức Chúa Trời (I Ti-mô-thê 6:11). Các tiên tri đời Cựu Ước, các Mục sư, Truyền đạo thời Tân Ước là người của Đức Chúa Trời. Nguyện Chúa ban cho chúng ta xứng đáng với danh hiệu ấy như Ê-li-sê.

Ha-xa-ên biết rằng âm mưu sâu độc của mình giấu kín trong lòng đã bị Ê-li-sê khám phá. Khi từ giã Ê-li-sê, trở về với Bên-ha-đát, Ha-xa-ên chỉ thuật lại một câu của Ê-li-sê: “Vua chắc sẽ lành bệnh”. Hôm sau, Ha-xa-ên ám sát Bên-ha-đát và làm vua Sy-ri y như Ê-li-sê đã nói trước.

II. Ê-LI-SÊ XỨC DẦU CHO GIÊHU (IICác 9:1-10).

Ha-xa-ên và Giêhu chỉ là công cụ trong tay Chúa để thi hành sự công bình cho nhà A-háp. Ê-li-sê đã già, đi lại khó khăn, nhưng ông vẫn trung tín thi hành mạng lịnh của Chúa bằng cách sai một môn đệ đi xức dầu cho Giêhu làm vua Y-sơ-ra-ên (ICác 15:17).

Môn đệ của Ê-li-sê đến Ra-mốt Ga-la-át, gặp lúc các tướng lãnh Y-sơ-ra-ên đang họp bàn để đánh với Sy-ri. Giêhu là một trong đám họ. Người môn đệ mời Giêhu riêng ra, đưa vào một phòng, đóng cửa lại, rồi đổ dầu lên đầu Giêhu mà nói rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Ta xức dầu cho ngươi làm vua trên Y-sơ-ra-ên, là dân sự của Đức Giê-hô-va. Ngươi sẽ đánh giết nhà A-háp, chủ ngươi và Ta sẽ báo Giê-sa-bên về huyết của các tiên tri, tôi tớ Ta, cùng huyết của hết thảy đầy tớ của Đức Giê-hô-va. Cả nhà A-háp sẽ bị diệt hết, các người nam cả nhà A-háp, vô luận kẻ nô lệ hay là người tự do, Ta sẽ giết khỏi trong Y-sơ-ra-ên” (6-8).

Ôm-ri, cha A-háp và chính A-háp là hai vị vua có thế lực nhất trong lịch sử Y-sơ-ra-ên. Giô-ram, con A-háp đang làm vua mà Ê-li-sê sai một môn đệ bí mật xức dầu cho Giêhu làm vua để Giêhu hủy diệt cả nhà A-háp là một việc rất nguy hiểm. Song Ê-li-sê biết đó là mạng lịnh của Chúa ủy thác cho ông, nên ông trung tín thi hành. Ê-li-sê can đảm, môn đệ của ông cũng can đảm như ông.

Trải qua các đời đã có những người quên mình vì Chúa. Chính những kẻ đó mới được trọng dụng làm những việc lớn và khó. Đành rằng ai cũng muốn sống an nhàn, vô sự, nhưng Chúa đã kêu gọi và sai chúng ta vào một thế giới bội nghịch, thế giới đã đóng đinh Ngài trên thập tự giá, với mục đích chinh phục mọi người trở nên con cái Ngài, đồng thời lên án kẻ nào chống cự. Nhiệm vụ nầy không dễ dàng đâu. Nếu không đứng vào hàng ngũ của Ê-li-sê và môn đệ của ông thì không ai dám thi hành. Song thiết tưởng, tội nhân còn được Sa-tan ban cho can đảm để làm dữ, phương chi chúng ta không được Chúa ban cho can đảm để làm lành sao?

Các việc ấy đã được Kinh Thánh ghi chép, không phải chỉ có tính cách lịch sử thôi đâu mà còn có tính cách tiên tri. Đây là những bài học về chân lý và công bình của Chúa. Kẻ ác sớm hoặc muộn sẽ gặt lấy hậu quả thê thảm không lường hết được. Chúng ta thấy sự đắc thắng cuối cùng của sự công bình trên sự gian ác, chân lý trên giả ngụy, sự sống trên sự chết. Chân lý và công bình có thể tạm thời bị giày đạp, bất công và bạo lực được tôn sùng, song cuối cùng chỉ còn chân lý và công bình.

III. Ê-LI-SÊ GIÚP ĐỠ GIÔ-ÁCH (IICác 13:14-21).

Bấy giờ Ê-li-sê đã độ 80 tuổi. Sau 60 năm chức vụ, ông đau yếu và gần chết. Nghe tin ấy, Giô-ách là vua Y-sơ-ra-ên đến tận giường bệnh Ê-li-sê và khóc: “Cha tôi ôi, cha tôi ôi! Là xe và lính kỵ của Y-sơ-ra-ên”, như Ê-li-sê đã khóc Ê-li trước đó (IICác 2:12). Xe và lính kỵ của Y-sơ-ra-ên có nghĩa là người bảo vệ và giải cứu Y-sơ-ra-ên. Mất một người như Ê-li-sê thật đáng khóc. Suốt đời Ê-li-sê được nhiều người kính trọng như cha, thậm chí Bên-ha-đát, vua Sy-ri cũng tôn Ê-li-sê là cha của mình (IICác 8:9).

Vào những ngày cuối cùng của đời mình, Ê-li-sê còn làm nhiều việc để giúp đỡ Giô-ách. Ê-li-sê bảo Giô-ách mở cửa sổ về hướng Đông là hướng Sy-ri, giương cung, lắp tên vào, rồi Ê-li-sê đặt tay mình lên tay Giô-ách, bảo: “Bắn đi”. Giô-ách bắn. Ê-li-sê nói: “Ấy là cây tên thắng hơn của Đức Giê-hô-va tức là cây tên thắng hơn dân Sy-ri; vì ngươi sẽ hãm đánh dân Sy-ri tạiA-phéc, đến nỗi tuyệt diệt chúng nó”. Ê-li-sê giải thích rất rõ ràng việc bắn tên. Ê-li-sê đặt tay mình lên tay Giô-ách chỉ về tay của Chúa sẽ điều khiển và thêm sức cho tay yếu đuối của vua.

Kế đó, Ê-li-sê bảo Giô-ách lấy tên rồi bảo: “Hãy đập xuống đất”. Giô-ách đập ba lần rồi ngừng. Ê-li-sê nổi giận nói: “Nếu vua đã đập năm, sáu lần thì mới đánh dân Sy-ri cho đến tận tuyệt, nhưng rày vua sẽ đánh dân Sy-ri ba lần thôi” (c. 19). Giô-ách hiểu ý nghĩa tượng trưng khi Ê-li-sê bảo bắn tên và đập tên xuống đất. Đó là một mạng lịnh: “Hãy bắn”, tức là hãy đánh dân Sy-ri. Tiếp theo là một lời hứa: “Ngươi sẽ đánh dân Sy-ri cho đến tuyệt diệt chúng nó”. Nhưng Giô-ách không có đức tin toàn thắng Sy-ri nên ông chỉ đập ba lần, vì vậy Ê-li-sê nổi giận. Tóm lại, chúng ta phải trung tín trong mọi việc như Ê-li-sê, trung tín cho đến chết.

CÂU HỎI

1. Trong Ê-li-sê có điều tốt gì mà Chúa đã trọng dụng ông?

2. Khi Ê-li-sê qua Sy-ri thì vua Sy-ri đối với ông thế nào?

3. Khi Ha-xa-ên hỏi về bệnh tình của vua Sy-ri thì Ê-li-sê nói thế nào?

4. Ê-li-sê nói Ha-xa-ên là người thế nào và sẽ làm gì?

5. Tại sao người Sy-ri cũng như người Y-sơ-ra-ên đều gọi Ê-li-sê là người của Đức Chúa Trời?

6. Ê-li-sê sai một môn đệ làm gì?

7. Tại sao chúng ta biết việc đó là nguy hiểm?

8. Tại sao Ê-li-sê và môn đệ ông dám làm việc nguy hiểm đó?

9. Tại sao Giô-ách khóc Ê-li-sê?

10. Tại sao Ê-li-sê nổi giận với Giô-ách?

11. Muốn phục vụ Chúa chúng ta phải thế nào?

BÀI 22. CẬU BÉ GIÔ-ÁCH LÊN NGÔI VUA

KINH THÁNH: IICác 11:1-21.

CÂU GỐC: “Hỡi Đức Giê-hô-va, xin cho tôi biết các đường lối Ngài, và dạy dỗ tôi các nẻo đàng Ngài” (Thi thiên 25:4).

MỤC ĐÍCH: Đức Chúa Trời có một chương trình cho mỗi đời sống của chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa xếp đặt đời sống chúng ta

(Giăng 15:16; Côl 1:9-10).

TH:

Một cậu bé lên ngôi vua

(IICác 11:1-21).

TB:

Một cậu bé lên ngôi vua

(II Sử ký 23:1-21).

TT:

Đức Chúa Trời hứa dẫn dắt chúng ta

(Châm 3:5-6; Thi 25:8-10; 32:8).

TN:

Vâng theo ý muốn Chúa

(Phục 5:29; 26:16; Giô-suê 1:8).

TS:

Xin cho tôi biết đường lối Ngài

(Thi 5:8; 25:4-5; 27:11).

TB:

Ta sẽ dẫn dắt ngươi

(Thi thiên 32:8-9).

Từ sau vua Sa-lô-môn, nước Y-sơ-ra-ên chia làm hai: Nam và Bắc. Có hai vua mang tên Giô-ách: Giô-ách thuộc dòng dõi A-háp, làm vua Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc và Giô-ách thuộc dòng dõi Rô-bô-am làm vua Giu-đa ở miền Nam. Hôm nay chúng ta học về Giô-ách, vua Giu-đa.

Dầu loài người cố tâm làm theo ý mình, song cánh tay vô hình của Đức Chúa Trời vẫn cai trị mọi việc. Qua Kinh Thánh, chúng ta biết có nhiều em bé được bảo vệ cách kỳ diệu: Môi-se được bảo vệ khỏi sự tàn ác của Pha-ra-ôn, Hài nhi Jêsus được bảo vệ khỏi tay của Hê-rốt và đây, cậu bé Giô-ách được bảo vệ khỏi sự tàn ác của hoàng thái hậu A-tha-li là bà nội của cậu, để sáu năm sau cậu lên ngôi vua.

I. GIÔ-ÁCH ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ DƯỠNG DỤC (1-3).

A-tha-li là vợ của vua Giô-ram, bà nầy là con gái của A-háp và Giê-sa-bên, thuộc dòng tàn ác. Khi thấy con của mình là vua A-cha-xia bị giết, bà không khóc, song ra lệnh giết hết thảy các cháu nội của mình, rồi tự tôn làm nữ hoàng Giu-đa. A-tha-li là một đàn bà hiếm có. Về bà nầy, Kinh Thánh chép: “Mẹ người là kẻ bày mưu giục người làm điều ác” (II Sử ký 22:3).

Tự hỏi: Tại sao con gái của A-háp và Giê-sa-bên là A-tha-li lại trở nên con dâu của Giô-sa-phát, là vợ của Giô-ram? A-háp là vua Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc, Giô-sa-phát là vua Giu-đa ở miền Nam. A-háp và Giê-sa-bên gian ác cực điểm, song có thế lực lớn, nên Giô-sa-phát kết thông gia với A-háp để nương tựa (IICác 8:16-18). Hành động thiếu khôn ngoan và thiếu tin kính đó đã đưa đến hậu quả thê thảm quá sức tưởng tượng. Khi Giô-ram lên ngôi, vua bị vợ xúi giục giết hết thảy anh em mình (II Sử ký 21:1-4). Cả hai lần, thiếu chút nữa dòng dõi của Đa-vít bị tuyệt diệt. Tổ phụ của họ là Áp-ra-ham rất khôn ngoan và tin kính đã cấm Ê-li-ê-se không cưới một cô gái nào thuộc dân Ca-na-an làm vợ cho Y-sác (Sáng thế ký 24:3, 4). Phao-lô bảo: “Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin” (IICôr 6:14). Mỗi con cái Chúa phải rất cẩn thận về hôn nhân nếu chúng ta không muốn con cháu mình bị hại.

Do ơn thần hựu, Chúa dùng một người cô của Giô-ách là Giôsêba, vợ của thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-gia-đa, đã kịp thời đem cậu bé một tuổi nầy và người vú đi giấu trong đền thờ. Nhờ vậy, cậu bé Giô-ách không chịu chung số phận với các cậu khác. Suốt thời gian sáu năm, Giô-ách được bảo vệ, nuôi dạy tại đó. Chúa nhân từ đã giữ gìn một ngọn đèn cho nhà Đa-vít như Ngài đã hứa (ICác 11:36; IICác 8:19; II Sử ký 21:7).

II. GIÔ-ÁCH ĐƯỢC TÔN LÀM VUA (4-21).

Nữ hoàng A-tha-li, con người đại ác đã cai trị sáu năm trên Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem. Bà nầy đã làm hư hỏng đền thờ của Đức Chúa Trời và đem các khí dụng dâng vào sự thờ lạy thần Ba-anh (II Sử ký 24:7). Thật là “mẹ nào con nấy”, bà rất xứng đáng là con gái Giê-sa-bên. Giê-sa-bên là con gái của vua Si-đôn. Khi trở nên hoàng hậu của vua Y-sơ-ra-ên, Giê-sa-bên đã đem thuốc độc từ Si-đôn chích vào mạch máu của Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri. Bây giờ con gái của Giê-sa-bên là A-tha-li cũng đem thuốc độc đó chích vào mạch máu của Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem.

Sự bại hoại của hai dân tộc Giu-đa và Y-sơ-ra-ên đều do mẹ con của Giê-sa-bên đầu độc. Ngay khi chồng và con của A-tha-li còn ngồi trên ngai, bà đã cầm quyền trên họ, xúi giục họ giết người, thờ lạy hình tượng, phương chi bây giờ bà là vua. Để củng cố địa vị, bảo vệ ngôi báu, bà ra lệnh tàn sát tất cả hậu duệ nhà vua. Bà đinh ninh không còn ai trong số đó.

Ngày kia thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa triệu tập một phiên họp trong đền thờ với đầy đủ mọi thành phần tôn giáo, chính trị, quân sự. Ông chỉ cho họ xem Giô-ách, con trai của A-cha-xia vừa lên bảy tuổi, là dòng dõi của vua Đa-vít. Ông bắt họ thề sẽ trung thành bảo vệ vua. Ông phát khí giới cho mỗi người và phân công cho mỗi toán làm một việc. Ông định một ngày sẽ thực hiện lễ tôn Giô-ách làm vua. Ai nấy đều vui mừng, sẵn sàng thi hành mạng lịnh của Giê-hô-gia-đa.

Đến ngày đã định, thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-gia-đa liền đem vương tử Giô-ách ra, đặt trên một diễn đàn cao, đội mão triều thiên lên đầu người, đặt quyển luật pháp vào tay người, xức dầu cho người, rồi cả hội chúng vỗ tay hoan nghinh và la lớn: “Vua vạn tuế”.

Giê-hô-gia-đa là người túc trí đa mưu, lại kính sợ Chúa, ông dám tin cậy Chúa và vâng lời Ngài mà làm việc lớn và khó đó. Toàn dân trong nước đều biết A-tha-li là người thế nào, nên họ sẵn sàng phục vụ Chúa khi có người lãnh đạo. Chúng ta ngày nay phải hiệp lại tôn cao Vua Jêsus lên ngôi lòng chúng ta và giới thiệu Ngài cho mọi người, đồng thời gạt Sa-tan ra ngoài.

A-tha-li từ trong cung nghe tiếng tung hô, chúc tụng vua, tiếng kèn và các thứ nhạc khí, tiếng vui mừng, hát xướng, ca ngợi Đức Chúa Trời của một số đông người trong đền thờ. Bà ngạc nhiên, vội vàng thân hành đến xem. Khi thấy một ấu vương đứng đó, mặc hoàng bào, đội vương miện, xung quanh có các quan văn võ đứng chầu, bà liền xé áo và la lớn: “Phản nghịch! Phản nghịch!” Bà ra lệnh cho thuộc hạ vây bắt những người ấy, song chẳng có ai thèm nghe.

Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa bảo một toán quân điệu bà ra ngoài lập tức, nếu có ai can thiệp, hãy giết họ đi. Chắc có người muốn giết bà ngay, song Giê-hô-gia-đa không cho phép, vì sợ ô uế đền thờ. Họ đưa bà về cung và giết bà tại đó. Thế là xong đời của một người tham quyền cố vị đến độ tắm máu của con cháu mình.

Vì vua Giô-ách vừa được bảy tuổi, nên Giê-hô-gia-đa cầm quyền nhiếp chính. Ông cải tổ hành chánh, lập giao ước giữa Đức Chúa Trời với vua và dân chúng, hầu cho dân Y-sơ-ra-ên được thuộc về Chúa. Ông lập giao ước giữa vua với dân, vua phải theo luật pháp cai trị dân, dân phải phục tùng và ủng hộ vua. Kế đó, ông chỉnh đốn cuộc thờ phượng, ông hướng dẫn dân chúng phá hủy các miếu Ba-anh, đập bể các hình tượng và giết thầy tế lễ của Ba-anh là Ma-than. Giê-hô-gia-đa cắt người canh giữ đền thờ, rồi tổ chức cuộc tiếp đón Giô-ách từ đền thờ và đặt người lên ngôi vua.

Bấy giờ, toàn dân trong nước đều vui mừng. Ai nấy như trút được gánh nặng đè bẹp mình trong sáu năm qua, nên cảm thấy nhẹ nhàng, khoan khoái. Sự thờ phượng tà thần chấm dứt, ai nấy thờ phượng một mình Chúa thôi.

Kinh nghiệm của dân Giu-đa trên đây là kinh nghiệm của Cơ Đốc nhân ngày nay. Cơ Đốc nhân là người từ tối qua sáng, từ quyền lực của Sa-tan về với Đức Chúa Trời, bỏ thần tượng để thờ Chúa nhân từ và chân thật, hành động can đảm và dứt khoát đó làm cho Cơ Đốc nhân nhận được sự vui mừng tràn ngập, phước hạnh dồi dào như một nguồn suối vô tận chảy vào lòng mình.

CÂU HỎI

1. Khi vua A-cha-xia bị giết thì A-tha-li làm gì?

2. Theo lý lịch, A-tha-li là con cháu của ai?

3. Tại sao A-tha-li lại trở nên hoàng hậu và hoàng thái hậu của Giu-đa?

4. Do ơn thần hựu, cậu bé Giô-ách được cứu cách nào?

5. A-tha-li đã làm gì khi ngồi trên ngôi?

6. Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa lập kế hoạch gì?

7. Vì sao toàn dân đều ủng hộ kế hoạch của ông?

8. A-tha-li nhận lấy hậu quả gì?

9. Giê-hô-gia-đa cải tổ hành chánh thế nào?

10. Giê-hô-gia-đa chỉnh đốn cuộc thờ phượng thế nào?

11. Toàn dân trong nước ra sao?

12. Việc trên đây dạy chúng ta thế nào?

BÀI 23. HẦU VIỆC CHÚA QUA VIỆC SỬA CHỮA ĐỀN THỜ

KINH THÁNH: IICác 12:4-16; II Sử ký 24:4-14.

CÂU GỐC: “Mỗi người nên tùy theo lòng mình đã định mà quyên ra, không phải phàn nàn hay là vì ép uổng, vì Đức Chúa Trời yêu kẻ dâng của cách vui lòng” (IICôr 9:7).

MỤC ĐÍCH: Giô-ách đã dạy dân mình hầu việc Chúa, chúng ta cũng phải hầu việc Chúa cách vui lòng.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus dạy chúng ta cách cho

(Lu 6:38; Công 20:35).

TH:

Của dâng cho nhà Chúa

(IICác 12:4-16).

TB:

Sự sửa chữa nhà Chúa

(II Sử ký 24:4-14).

TT:

Chúa muốn chúng ta dâng cách vui lòng

(IICôr 9:6-8).

TN:

Sự yêu mến nhà Chúa

(Thi thiên 23:6; 84:2-10; 122:1).

TS:

Chúng ta thuộc về Chúa

(I Cô 3:16; 6:19-20; I Phi 1:18-19).

TB:

Lòng thành khi dâng

(Xuất 35:21-26; E-xơ-ra 1:5-7).

Chúa cứu chúng ta để ai nấy hầu việc Ngài. Chúa có kế hoạch cho đời sống, sản vật và tiền bạc của chúng ta, vì hết thảy đều thuộc về Ngài. Chúng ta hãy sẵn sàng dâng mọi sự mình có để hầu việc Chúa.

Đội ơn thương xót của Chúa đã cứu mình, nên khi lên ngôi, Giô-ách nghĩ ngay đến việc hầu việc Chúa và dạy dân chúng hầu việc Ngài.

I. GIÔ-ÁCH DẠY DÂN SỰ HẦU VIỆC CHÚA QUA VIỆC SỬA CHỮA ĐỀN THỜ (IICác 12:4-6; II Sử ký 24:4-7).

Khi còn là em bé một tuổi, Giô-ách đã được người ta đem giấu trong đền thờ để nuôi dạy tại đó suốt sáu năm, hầu tránh khỏi sự tàn ác của A-tha-li. Vì vậy, khi muốn hầu việc Chúa, Giô-ách liền nghĩ đến việc sửa chữa đền thờ là nơi mình đã ở đó suốt những năm thơ ấu. Ai đã từng được dưỡng dục về phương diện tâm linh trong Hội Thánh khi còn nhỏ như Giô-ách, như Sa-lô-môn, đều nhớ lại kỷ niệm êm đềm, đẹp đẽ tại đó. Ảnh hưởng của những ngày đó thật khó quên, dầu thời gian có làm cho vật đổi sao dời.

Các bậc cha mẹ nên sốt sắng đưa con đến nhà thờ, tập cho chúng nó thói quen ưa thích nơi thánh của Chúa. Dầu không phải nhờ đó chúng nó được cứu rỗi, song tạo cho chúng nó một môi trường thuận tiện nghe Lời Chúa, hiểu biết Chúa, tin nhận Chúa để được cứu rỗi. Nếu muốn gặp con cái của chúng ta, không có nơi nào khác ngoài ra nhà thờ, cũng như Ma-ri và Giô-sép chỉ có thể tìm gặp con trẻ Jêsus trong đền thờ (Lu-ca 2:46), vì tại đó, trẻ thơ được dạy dỗ con đường chúng nó phải theo, để khi trở về già không lìa khỏi nó (Châm ngôn 22:6).

Trong sáu năm cai trị của A-tha-li, bà đã không hề tu bổ đền thờ mà làm cho hư hỏng, nhất là đem các khí dụng về sự thờ phượng Đức Chúa Trời mà dùng vào sự thờ phượng thần Ba-anh. Giô-ách liền chỉ thị cho các thầy tế lễ thu góp tiền bạc mà dân chúng nộp hằng năm để tu bổ đền thờ theo lịnh của Chúa (Xuất 30:11-16, Nê-hê-mi 10:32). Ngoài ra cũng nhận lễ vật của những người có lòng sốt sắng tình nguyện dâng cho Chúa. Họ phải dùng các số tiền đó để sửa chữa những nơi hư hỏng của đền thờ.

Nhưng sau một thời gian khá lâu, tức là cho đến năm 23 triều vua Giô-ách mà đền thờ Chúa vẫn chưa được sửa chữa. Vua liền cho vời thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-gia-đa và các thầy tế lễ khác đến và hỏi: “Tại sao các ngươi không sửa sang các nơi hư nứt của đền thờ”.

Các thầy tế lễ đã thu tiền cho riêng họ mà không thu tiền cho việc tu bổ đền thờ. Hơn nữa, dân chúng đã đặt vào tay các thầy tế lễ những số tiền tu bổ đền thờ, song họ không sử dụng đúng lúc, đúng chỗ. Vì vậy, Giô-ách lấy trách nhiệm đã giao cho thầy tế lễ mà giao cho các người khác được vua tin cậy.

Thiết tưởng các chủ tọa Hội Thánh không nên đảm nhận tiền bạc của việc xây cất hoặc sửa chữa đền thờ, mà nên giao cho một ban do Hội Thánh công cử. Các chủ tọa Hội Thánh luôn đứng phía sau ủng hộ, đôn đốc để công tác được mau hoàn thành như thời xưa các tiên tri A-ghê, Xa-cha-ri và Ma-la-chi đã làm khi dân Y-sơ-ra-ên trở về cố quốc xây lại đền thờ tại Giê-ru-sa-lem.

II. DÂN SỰ SỐT SẮNG DÂNG TIỀN BẠC SỬA CHỮA ĐỀN THỜ (IICác 12:7-15; II Sử ký 24:8-14).

Bấy giờ các thầy tế lễ không thu tiền bạc của dân chúng nữa, vì họ không còn trách nhiệm sửa chữa đền thờ. Vua truyền cho thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa đóng một chiếc rương, xoi một lỗ trên nắp, rồi đặt bên hữu cửa vào đền thờ. Ai muốn dâng tiền cho Chúa để sửa chữa đền thờ của Ngài thì đem tiền bỏ vào rương đó.

Hết thảy mọi người từ quan tới dân đều vui mừng, đem tiền bỏ vào rương cho đến đầy. Khi đã đầy, người Lê-vi đem rương trình lên vua. Vua cho thư ký và các nhân viên của thầy tế lễ thượng phẩm trút tiền ra đếm, rương đem đặt lại chỗ cũ, tiền giao cho vua. Họ cứ làm như vậy mỗi ngày. Khi đã thu tiền được nhiều, vua giao cho một ban đốc công trả tiền thợ đẽo đá, thợ mộc, thợ hồ, thợ sắt, thợ đồng lo việc sửa chữa đền thờ. Ban đốc công cũng như các người thợ đã trung thành và tận tâm làm mọi việc được mau lẹ và tốt đẹp. Đền thờ được tu bổ một cách chắc chắn như cũ.

Thiết tưởng, kể từ đó, dân Y-sơ-ra-ên cứ đặt rương dâng tiền tại bên hữu cửa đền thờ cho đến đời Chúa Jêsus vẫn còn (Mác 12:41; Lu-ca 21:1). Vì họ thấy cách sau nầy có kết quả nhiều hơn cách trước.

III. ĐỀN THỜ ĐƯỢC SỬA CHỮA XONG (IICác 12:16; II Sử 24:14).

Dâng tiền cho Chúa để làm công việc Ngài là một điều quan trọng mà con cái Chúa nên làm và phải làm. Tuy nhiên, chúng ta biết “Gieo ít gặt ít, gieo nhiều gặt nhiều”. Mỗi người đóng góp tùy lòng chớ không vì ép buộc, bởi Chúa yêu kẻ vui lòng dâng hiến. Về phần người đứng ra cổ động tiền bạc lại phải cẩn thận không gây vấp phạm, làm trở ngại cho việc lạc quyên.

Phao-lô rất tế nhị khi viết thư đến Hội Thánh các nơi xin giúp tiền cho Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem đang túng quẩn. Ông dành cả hai đoạn 8 và 9 trong thơ IICôr để giải thích việc ấy. Ông sai Tít là người đáng tin cậy hơn hết cầm thơ đến các Hội Thánh. Song không phải chỉ một mình Tít, mà còn có hai người khác do các Hội Thánh chọn lựa và cử ra cùng đi với Tít. Nhờ đó, cuộc lạc quyên tại các Hội Thánh xứ Ma-xê-đoan và chắc tại Cô-rinh-tô cũng vậy, đều được kết quả dồi dào. Người dâng đã dâng tùy khả năng, hơn nữa họ còn nài nỉ cho được phần dâng hiến. Người nhận phải ngạc nhiên, vì nhận được nhiều quá lòng mong ước của mình (IICôr 8:1-5).

Đó là lý do dân Y-sơ-ra-ên tự nguyện lạc quyên cho việc sửa chữa đền thờ một cách dư dật để làm việc khác bên trong như sắm các khí dụng bằng bạc, bằng vàng. Còn tiền bạc dành cho các thầy tế lễ thì để riêng cho họ.

Trọn đời thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa, dân chúng rất sốt sắng, trung thành thờ phượng Chúa. Giê-hô-gia-đa được tôn trọng vì đã bảo vệ và dưỡng dục Giô-ách trong khoảng thời gian từ khi ông một tuổi đến lúc bảy tuổi. Khi Giô-ách lên ngôi vua, Giê-hô-gia-đa tiếp tục hướng dẫn vua trong việc triều chánh và tin kính. Dân Y-sơ-ra-ên đã tôn trọng người đáng được tôn trọng.

Hiện nay, có một số nhà thờ của các Hội Thánh cần sửa chữa, vì thời gian đã làm cho hư hỏng. Chúng ta là những người biết ơn Chúa như Giô-ách, như dân Y-sơ-ra-ên, nên phải dâng công và dâng của để việc sửa chữa nhà thờ đó được mau hoàn thành, hầu cho anh chị em yêu dấu của chúng ta có nơi thờ phượng ấm áp, vui vẻ. Không những chúng ta làm mà còn khích lệ người khác làm công việc nhơn đức và thánh khiết ấy.

CÂU HỎI

1. Tại sao khi lên ngôi, Giô-ách nghĩ ngay đến sự hầu việc Chúa?

2. Tại sao Giô-ách nghĩ đến việc sửa chữa đền thờ trước hết?

3. Chúng ta là cha mẹ phải tập cho con cái có thói quen nào? Vì sao?

4. Tại sao các thầy tế lễ không thực hiện việc sửa chữa đền thờ?

5. Giô-ách đã thay đổi cách làm việc ra sao?

6. Dân chúng đã hưởng ứng sự dâng tiền như thế nào?

7. Những người vua cử ra đã làm việc thế nào?

8. Chúa dạy chúng ta phải dâng tiền cách nào?

9. Người đứng ra lạc quyên phải cẩn thận làm sao?

10. Tại sao Giê-hô-gia-đa được dân Y-sơ-ra-ên tôn trọng?

BÀI 24. GIÔ-NA ĐƯỢC SAI ĐI NI-NI-VE

KINH THÁNH: Giô-na 1 và 2.

CÂU GỐC: “Đức Giê-hô-va phán: Có người nào có thể giấu mình trong nơi kín cho Ta đừng thấy chăng? Đức Giê-hô-va phán: Há chẳng phải Ta đầy dẫy các từng trời và đất sao?” (Giê-rê-mi 23:24).

MỤC ĐÍCH: Dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời ở khắp nơi, biết hết mọi việc tốt, xấu của chúng ta, không có gì che giấu được Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus đến với chúng ta

(Ma-thi-ơ 20:28; Lu-ca 19:10).

TH:

Giô-na không vâng lời

(Giô-na 1:,2:).

TB:

Chúa Jêsus nói về Giô-na

(Ma-thi-ơ 12:31-41; Lu 11:29-30).

TT:

Sự kêu gọi thiên thượng

(Sáng 12:1; Quan 6:14; Ê-sai 6:8).

TN:

Sự không vâng lời

(Phục truyền 11:26-28; Hê-bơ-rơ 2:2-3).

TS:

Đấng sáng tạo, cai quản gió và biển

(Thi 35:5-9; Mác 35:41).

TB.

Sự săn sóc từ thiên thượng

(Thi 91:15; 115:12; Lu 2:7).

Giô-na được Chúa kêu gọi làm tiên tri trong đời vua Giê-rô-bô-am II của nước Y-sơ-ra-ên, khoảng 800 năm trước CN (IICác 14:25). Bấy giờ nước Y-sơ-ra-ên rất cường thạnh, song chỉ là một nước nhỏ. Bên cạnh là nước A-si-ri rất cường thạnh, lại lớn hơn nhiều, nên A-si-ri luôn luôn đe dọa xâm lăng và Y-sơ-ra-ên lúc nào cũng ở trong thế bị động, lo sợ ngày đêm. Vì vậy, Y-sơ-ra-ên xem A-si-ri là kẻ thù.

Nhưng một ngày nọ, Chúa phán với Giô-na: “Ngươi khá chỗi dậy! Hãy đi đến thành lớn Ni-ni-ve, và kêu la nghịch cùng nó, vì tội ác chúng nó đã lên thấu trước mặt Ta”.

I. GIÔ-NA KHÔNG VÂNG LỜI CHÚA (1:3).

Tại sao Giô-na không vâng lời Chúa? Chắc không phải ông sợ đường xa, cũng không phải là một khó khăn vì nói nghịch cùng một thành phố lớn. Nhưng ông biết rằng khi đến đó giảng, họ sẽ ăn năn và được Chúa tha thứ, vì, “Ngài nhân từ, thương xót, chậm giận, giàu ơn và đổi ý không xuống tai vạ” (4:2). Ông muốn để cho họ chết, hầu cho bớt đi kẻ thù đáng sợ của dân tộc ông. Giô-na nghĩ đúng về phương diện nầy mà sai về phương diện kia. Là một công dân của Y-sơ-ra-ên, ông có quyền xem A-si-ri là một kẻ thù. Song là một tiên tri của Đức Chúa Trời, ông phải vâng lời Ngài, vì Ngài là Chúa, là Vua của muôn dân, không muốn ai chết mất mà muốn mọi người ăn năn để được cứu. Tất cả con cái Chúa trong đời Tân Ước là tiên tri của Ngài, là công dân thiên quốc, chúng ta có bổn phận truyền giảng Tin Lành cho mọi người, vì Chúa yêu mọi người, Chúa chết vì mọi người, Chúa muốn mọi người được cứu rỗi, mặc dù họ thuộc về dân nào, nước nào, thành phần nào cũng vậy (Ma-thi-ơ 24:14; Mác 16:15; Lu-ca 24:47).

Giô-na trốn cách nào? Giô-na nghĩ rằng Chúa chỉ hành động trên dân Ngài tại đất Y-sơ-ra-ên mà thôi, nên ra khỏi đó là trốn khỏi Chúa. Vì vậy ông xuống bến tàu Giaphô, bên bờ Địa Trung Hải để qua Ta-rê-si. Nếu đi Ni-ni-ve thì bằng đường bộ về hướng Đông, còn qua Ta-rê-si thì bằng đường thủy về hướng Tây. Tại Giaphô có một chiếc tàu sắp nhổ neo qua Ta-rê-si. Nếu đi Ni-ni-ve, có Chúa đi cùng, còn đi Ta-rê-si là trốn Chúa, tức là không có Ngài đi với. Chúng ta hãy xem kết quả của sự không vâng lời Chúa (I:4-17).

II. GIÔ-NA BỊ CHÚA SỬA TRỊ (1:4-17).

1. Chúa ra lịnh bắt Giô-na lại (4-7).

Chúa bố trí mọi sự, chỉ thị một ngọn gió lớn thổi trên Địa Trung Hải, tức thì biển nổi sóng ầm ầm làm cho chiếc tàu bị dồi dập quá mạnh, gần tan ra từng mảnh. Đoàn thủy thủ ai nấy kêu cầu thần của mình, song bão ngày càng dữ dội hơn. Họ quăng hàng hóa xuống biển cho nhẹ tàu, song cũng chưa chắc khỏi chìm. Trong khi đó Giô-na đã xuống lòng tàu, nằm ngủ mê. Chủ tàu ngạc nhiên, đến gần hỏi: “Hỡi người ngủ kia! Làm sao vậy? Khá chờ dậy! Hãy kêu cầu Đức Chúa Trời người. Có lẽ Đức Chúa Trời sẽ tưởng đến chúng ta, thì chúng ta khỏi chết” (câu 6). “Nhược bằng tôi lấy cánh hừng đông bay qua ở cuối cùng biển, tại đó tay Chúa cũng sẽ dẫn dắt tôi, tay hữu Chúa sẽ nắm giữ tôi” (Thi thiên 139:9-10).

Tại sao Giô-na ngủ say dưới lòng tàu? Ra đi như vậy, Giô-na cảm thấy buồn khổ vì bị lương tâm cáo trách, nên ông không muốn gặp ai. Trốn Chúa cũng trốn người, nên ông xuống lòng tàu. Trốn người cũng trốn mình, nên ông ngủ li bì đến quên hết mọi người và mọi sự, nhưng không được.

2. Giô-na bị thẩm vấn (8-12).

Đoàn thủy thủ liền mở cuộc điều tra lý lịch và hành động của Giô-na. Họ bực tức vì Giô-na gây tai họa cho họ, nên hỏi dồn dập và buộc ông phải cung khai.

(1) Hãy cho chúng tôi biết tại sao tai họa nầy đến trên chúng tôi?

(2) Anh làm nghề gì?

(3) Anh từ đâu đến?

(4) Anh ở xứ nào?

(5) Anh là dân nào?

Giô-na thành thật khai hết với đoàn thủy thủ. Họ lại hỏi: “Anh đã làm gì?” Giô-na cho biết ông không vâng lời Chúa. Họ tiếp tục hỏi: “Chúng ta sẽ làm gì về người, hầu cho biển yên lặng cho chúng ta?” Vì trận bão ngày càng dữ dội nên họ sợ hãi lắm. Là tiên tri của Chúa, ông được lệnh đi quở trách nhân dân thành Ni-ni-ve. Nhưng vì không vâng lời Chúa, ông bị đoàn thủy thủ quở trách.

3. Giô-na bị quăng xuống biển (13-17).

Giô-na nhận mình có tội với Chúa, do tội đó gây tai họa cho cả tàu. Không những thành thật nhận mình có tội, ông cũng can đảm nhận sự sửa trị của Chúa mà bảo họ quăng ông xuống biển. “Ta biết rằng ấy là vì cớ ta mà các anh đã gặp phải trận bão lớn nầy”. Đức Chúa Trời nổi thạnh nộ đối với chiếc tàu vì nó chứa một đầy tớ không vâng lời của Ngài. Bây giờ nó phải trả người ấy lại cho Ngài để Ngài sửa trị.

III. GIÔ-NA ĂN NĂN (2:1-11).

Chúa sắm sẵn con cá lớn nuốt Giô-na không phải để giết ông, song để cứu ông. Nếu không có con cá đó, Giô-na đã chết đuối trong biển. Phương pháp giải cứu của Chúa thật là diệu kỳ! Tuy nhiên, Giô-na có thể chết trong bụng cá, nếu ông khoanh tay bó gối chờ chết. Nhưng trong bụng cá, Giô-na cầu nguyện. Cá lớn cũng như trận bão to đều là công cụ trong tay Chúa, do tình thương Ngài sử dụng để đem Giô-na trở về với Ngài và với chức vụ.

Trong bài cầu nguyện, Giô-na mô tả nỗi khổ đau của ông trong bụng cá như trong bụng âm phủ, như trong đáy biển, bị nước bao bọc. Dầu vậy, tại đó, ông hướng về đền thánh của Chúa mà cầu nguyện và được Ngài nghe, vì biết rằng không phải đoàn thủy thủ mà chính Chúa ném ông xuống biển. Vì thế, ông cảm tạ Chúa và hứa dâng mình cho Ngài để trả xong điều thề nguyện của ông. Bấy giờ Chúa ra lệnh và cá mửa Giô-na ra trên đất khô.

Chúa muốn dùng thực sự về Giô-na dạy chúng ta 2 điều:

1. Sự chết muốn tiêu diệt Chúa Jêsus.

Ma quỉ đã dùng toàn lực đưa Chúa Jêsus vào sự chết. Song sự chết không tiêu diệt Ngài được, mà Ngài đã phá tan quyền lực của sự chết và sống lại. Hai lần Chúa đã phán: “Vì Giô-na đã bị ở trong bụng cá lớn ba ngày ba đêm, cũng một thể ấy, Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm” (Ma-thi-ơ 12:40; 16:4).

2. Dân ngoại bang muốn tiêu diệt dân Y-sơ-ra-ên.

Khi dân Y-sơ-ra-ên phạm tội, Chúa phó họ cho Ba-by-lôn, Ba-tư, La-mã, Hilạp như Giô-na bị cá nuốt. Song chẳng có đế quốc nào tiêu diệt được dân Y-sơ-ra-ên, vì họ phục tùng Chúa như ba bạn của Đa-ni-ên, cầu nguyện với Chúa như Đa-ni-ên và tin cậy Chúa như Mạc-đô-chê, Ê-xơ-tê. Cuối cùng các đế quốc phải phóng thích Y-sơ-ra-ên như cá lớn mửa Giô-na ra trên đất.

Trải qua 20 thế kỷ, Hội Thánh là dân Y-sơ-ra-ên thuộc linh sống trong thế gian như Giô-na sống trong bụng cá. Nếu Hội Thánh cứ khoanh tay bó chân, Hội Thánh đã bị tiêu diệt. Song Hội Thánh cứ tồn tại cho đến ngày nay, nhờ Hội Thánh đã ăn năn và ngày đêm kêu cầu Chúa, Hội Thánh sẽ tồn tại mãi. Hội Thánh cứ hành động như Giô-na để có ngày được giải phóng như ông.

Sự may mắn không bởi Chúa thì không có phước, còn sự nguy hiểm bởi Chúa thì lại có phước. Thà được Chúa sửa trị còn hơn được thế gian hoan nghinh. Giô-na trốn khỏi sự hiện diện của Chúa, song chỉ nhờ sự hiện diện của Chúa mà ông được cứu, được thay đổi, được trọng dụng. Chúng ta tìm hiểu ý Chúa để làm theo chứ không phải để trốn đi.

CÂU HỎI

1. Chúa sai Giô-na đi đâu? Để làm gì?

2. Tại sao Giô-na không vâng lời Chúa?

3. Giô-na trốn đi đâu? Trốn cách nào?

4. Chúa làm gì đối với Giô-na?

5. Tại sao Giô-na ngủ mê và đoàn thủy thủ làm gì ông?

6. Sau khi Giô-na nhận tội, ông xin họ làm gì?

7. Tại sao Chúa sắm sẵn con cá nuốt Giô-na?

8. Trong bụng cá Giô-na đã làm gì?

9. Chúa chỉ thị con cá làm gì?

10. Bài học nầy Chúa muốn dạy chúng ta hai điều gì?

BÀI 25. GIÔ-NA ĐẾN NI-NI-VE

KINH THÁNH: Giô-na 3 và 4.

CÂU GỐC: “Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người” (Mác 16:15).

MỤC ĐÍCH: Dạy chúng ta nên sẵn sàng vâng theo mạng lịnh của Chúa đi truyền giảng Tin Lành cho mọi người.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa Jêsus sai chúng ta đi

(Mác 16:15).

TH:

Giô-na vâng lời Đức Chúa Trời

(Giô-na 3).

TB:

Thành Ni-ni-ve không bị hủy diệt

(Giô-na 4).

TT:

Hãy đi

(Ma-thi-ơ 10:7-27; 28:18-20; Lu 9:2; Công 1:8).

TN:

Chúa kêu gọi sự ăn năn

(Ê-sai 55:6-7; Giô-ên 2:12-13).

TS:

Sự vâng lời

(Giô-ên 1:8; Khải 22:14).

TB:

Sự vâng lời

(Xuất 19:5-6).

Sau khi Giô-na kêu cầu, cảm tạ và khẩn nguyện, Chúa bảo con cá lớn mửa ông ra trên đất khô.

Chúa nhắc lại mạng lịnh của Ngài cho Giô-na: “Ngươi khá chỗi dậy! Hãy đi đến thành lớn Ni-ni-ve và rao cho nó lời Ta đã dạy ngươi”. Chúa sửa trị để đem ông trở lại chức vụ cứu người. Chúa tha thứ và sai ông đến thành Ni-ni-ve là cho ông cơ hội thứ hai, nếu Chúa bỏ ông luôn và sai người khác thay vào, ông sẽ buồn biết mấy, nên Giô-na chỗi dậy và đi nhanh đến Ni-ni-ve.

Tất cả những người còn trong chức vụ Chúa giao thì ít nhất cũng một lần, Chúa còn nhẫn nại ban cho mình có cơ hội thứ hai như đã cho Giô-na. Chúng ta thường trốn tránh chức vụ, nhất là con đường mà xác thịt không muốn.

I. GIÔ-NA GIẢNG CHO THÀNH NI-NI-VE (3:1-4).

Giô-na phải trải qua con đường cát bụi trên 100 cây số. Thành Ni-ni-ve rất rộng lớn và kiên cố vào hàng số một thời bấy giờ. Nếu đi vòng quanh thành, phải mất ba ngày đường. Ngày đầu, Giô-na vào thành, khởi sự kêu lên: “Còn 40 ngày nữa, thành Ni-ni-ve sẽ bị đổ xuống”. Đó là chủ đề bài giảng của ông. Lý do là tội ác của dân trong thành đã lên thấu Đức Chúa Trời.

Giô-na không hề đề cập đến sự nhân từ, thương xót, chậm giận, giàu ơn của Chúa mà kêu gọi ăn năn. Ông chỉ nói đến tội ác của họ và lên án tử hình họ. Bản án sẽ được thi hành 40 ngày sau đó. Ông không muốn thấy họ ăn năn để được Chúa tha thứ, song trông đợi thành ấy sẽ bị đổ xuống và mọi người sẽ bị hủy diệt.

II. KẾT QUẢ BÀI GIẢNG CỦA GIÔ-NA (3:5-10).

Dân thành Ni-ni-ve ăn năn và được Chúa tha thứ. Đây là điều Giô-na không ngờ, vì ngoài ý muốn của ông. Qua bài giảng trên, dân chúng trong thành tin Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là Đấng ngự trên trời, có quyền hủy diệt họ. Ai nấy đều truyền bảo cho nhau, từ người rất lớn đến người rất nhỏ phải kiêng ăn, mặc bao gai. Giô-na chưa bao giờ vào cung để giảng cho vua, chỉ tiếp xúc với dân chúng. Song khi vua nghe tin ấy, liền đứng dậy khỏi ngai, cởi hoàng bào ra, quấn mình bằng bao gai và ngồi trong tro.

Về thời đó, không những tại Y-sơ-ra-ên mà nhiều nơi khác, người ta có thói quen mặc bao gai, ngồi trong tro để tỏ lòng ăn năn tội. Vua còn hiệu triệu toàn dân trong thành và cả súc vật nữa, phải kiêng ăn uống, mặc bao gai. “Mọi người khá ra sức kêu cùng Đức Chúa Trời; phải, ai nấy khá bỏ đường lối xấu mình và việc hung dữ của tay mình. Ai biết rằng hoặc Đức Chúa Trời sẽ không xây lại và ăn năn, xây khỏi cơn nóng giận mình, hầu cho chúng ta khỏi chết hay sao?”.

Không dám quả quyết là toàn dân trong thành Ni-ni-ve đều tin Đức Chúa Trời, ăn năn tội, kêu cầu Ngài thương xót và tha thứ. Song có thể biết họ tốt hơn dân thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Khi hai thiên sứ đến nhà của Lót tại thành Sô-đôm thì dân chúng bao vây nhà ông, định làm hại hai thiên sứ. Nên dầu Áp-ra-ham đã cầu thay tha thiết, Chúa không tìm thấy mười người công bình trong thành nên Ngài đã hủy diệt cả thành, chỉ chừa lại gia đình của Lót. Vì dân thành Ni-ni-ve ăn năn, từ bỏ đường ác và việc xấu xa của mình, nên Chúa cũng từ bỏ ý định hủy diệt họ, tức là tha chết cho họ.

Mọi người đều đã phạm tội, nên Đức Chúa Trời đòi mọi người phải ăn năn. “Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va đang khi mình gặp được, hãy kêu cầu đang khi Ngài ở gần! Kẻ ác khá bỏ đường mình, người bất nghĩa khá bỏ các ý tưởng, hãy trở lại cùng Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ thương xót cho, hãy đến cùng Đức Chúa Trời chúng ta, vì Ngài tha thứ dồi dào” (Ê-sai 55:6, 7).

III. GIÔ-NA BẤT MÃN VÀ GIẬN DỮ (4:1-3).

Chúng ta ngạc nhiên về thái độ của Giô-na khi thấy dân thành Ni-ni-ve ăn năn và được Chúa tha thứ. Lần nầy ông bị bắt buộc đến giảng cho thành Ni-ni-ve, song ông không muốn giảng cho họ được cứu mà muốn lên án chết cho họ. Tinh thần truyền giảng của Giô-na đã bị méo mó. Vì mọi người đều là tội nhân không cần ông lên án, chắc chắn họ sẽ chết, song Chúa muốn ông truyền giảng là để họ được cứu.

Giô-na biết Chúa nhân từ, thương xót, chậm giận, giàu ơn, đổi ý mà không xuống tai vạ. Thế mà ông muốn toàn bộ phước hạnh đó chỉ dành cho dân Y-sơ-ra-ên. Ngoài ra ông không muốn dân nào được hưởng, nên ông cầu nguyện: “Hỡi Đức Giê-hô-va, vậy bây giờ, tôi nài xin Ngài cất lấy sự sống của tôi, vì về phần tôi, chết còn hơn sống”. Nếu dân thành Ni-ni-ve chết thì ông muốn sống, còn nếu dân thành Ni-ni-ve sống thì ông muốn chết. Tại sao?

Ông là một người yêu nước, song tinh thần yêu nước hẹp hòi, chỉ biết yêu dân mình mà không yêu ai khác, chỉ muốn dân mình sống, ai nấy phải chết, nhất là dân A-si-ri, vì họ là kẻ thù số một của dân Y-sơ-ra-ên. Giô-na xem người A-si-ri là kẻ thù thì không đúng lắm. Vì khi nào dân Y-sơ-ra-ên phạm tội với Chúa, Ngài phó họ cho các dân khác, trong đó có A-si-ri. Các dân ấy chỉ là công cụ trong tay Chúa để sửa trị dân Ngài. Để giải quyết vấn đề, không phải là hận thù, mà trước hết là kính mến Chúa và yêu thương người.

Theo lịch sử, sau khi dân thành Ni-ni-ve ăn năn và được Chúa tha thứ, họ không dám đánh phá dân Y-sơ-ra-ên một thời gian.

IV. CHÚA DẠY GIÔ-NA (4:4-10).

1. Bằng lời nói (4).

Khi Giô-na bất mãn và giận dữ, xin Chúa cho chết, Ngài trả lời cho ông bằng một câu hỏi: “Ngươi giận có nên không?” Chúa thức tỉnh Giô-na, khiến ông xét lại thái độ của mình. Dân thành Ni-ni-ve đã ăn năn, họ được Chúa tha thứ là điều đáng mừng hay đáng giận?

2. Bằng việc làm (5-10).

Giô-na ra khỏi thành Ni-ni-ve về hướng Đông, chờ đủ 40 ngày để xem việc sẽ ra sao. Ông vẫn hi vọng thành ấy sẽ bị hủy diệt. Ông cất một cái chòi để ở và Chúa sắm sửa một dây dưa mọc lên phủ bóng trên đầu Giô-na làm cho ông thoải mái lắm. Nhưng hôm sau, Chúa sắm sửa một con sâu, nó chích dây dưa, làm cho khô héo. Khi mặt trời mọc, Chúa lại sắm sửa một ngọn gió thổi đến. Mặt trời nóng, gió cũng nóng, dây dưa không còn, làm cho Giô-na vừa khốn khổ, vừa tức giận, nên ông xin Chúa cho chết còn hơn sống. Chúa dùng mọi sự hiệp lại để dạy Giô-na. Chúa sắm sửa con cá lớn (1:2). Chúa sắm sửa dây dưa (4:6). Chúa sắm sửa con sâu (4:7). Chúa sắm sửa ngọn gió nóng (4:8). Ông bất mãn lại gặp bất mãn hơn.

Bấy giờ Chúa giải thích cho Giô-na tại sao Ngài làm như vậy. Trước hết, Chúa hỏi Giô-na: “Ngươi nổi giận vì cớ dây dưa nầy có nên không?” Giô-na thưa: “Tôi giận cho đến chết cũng phải lắm”. Chúa tiếp: “Ngươi đoái tiếc một dây dưa mà ngươi chưa hề khó nhọc vì nó… Còn Ta, há không đoái tiếc thành Ni-ni-ve, trong đó có hơn mười hai vạn người không biết phân biệt tay hữu và tay tả, lại với một số thú vật rất nhiều hay sao?”

Thử hỏi hơn 12 vạn con trẻ trên dưới hai tuổi, chưa phân biệt tay hữu tay tả mà phải chết oan uổng. Nếu chừng ấy con trẻ thì lão thành, trưởng thành, thanh thiếu niên phải nhiều hơn số đó. Hết thảy đều do Chúa dựng nên, há không đáng thương tiếc bằng một dây dưa sao? Giô-na im bặt, không dám nói gì thêm.

Theo quan niệm của người ích kỷ, hận thù, thì một dây dưa của mình cũng đáng tiếc, còn bao nhiêu sanh mạng của người khác đều đáng hủy diệt. Giô-na tưởng hết thảy dân ngoại bang đều đáng ghét. Song kinh nghiệm cho ông thấy rằng các thủy thủ là những người đáng thương, vì họ hết lòng muốn cứu ông. Dân thành Ni-ni-ve cũng đáng thương, vì họ ăn năn khi nghe ông giảng. Có thể chúng ta thương tiếc một dây dưa hơn thương tiếc đồng bào mình. Chúng ta thương tiếc thì giờ, của cải là những vật tạm thời mà để cho vô số linh hồn đời đời phải bị hư mất. Chúng ta sẽ trả lời thế nào với Chúa?

CÂU HỎI

1. Sau khi được cứu, Chúa bảo Giô-na đi đâu?

2. Giô-na đến Ni-ni-ve giảng thế nào?

3. Khi nghe Giô-na giảng, người trong thành Ni-ni-ve làm gì?

4. Thái độ của Giô-na thế nào khi thấy điều đó?

5. Tại sao Giô-na bất mãn và giận dữ?

6. Chúa dùng lời gì để dạy Giô-na?

7. Chúa dùng việc gì để dạy Giô-na?

8. Giô-na tiếc gì? Và không tiếc gì? Nên tiếc gì? Và phải tiếc gì?

9. Chúa tiếc gì?

10. Chúng ta không nên tiếc điều gì và phải tiếc điều gì?

BÀI 26. TÔI TỚ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

KINH THÁNH: ICác 19:19-21; IICác 2:13; II Sử ký 22-24.

CÂU GỐC: “Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta, vì biết rằng anh em sẽ bởi Chúa mà được cơ nghiệp làm phần thưởng. Hãy hầu việc Đấng Christ, tức là Chúa” (Cô-lô-se 3:23-24).

MỤC ĐÍCH: Cho chúng ta thấy rõ phạm tội là buồn thảm dường nào, còn tin cậy và vâng lời Chúa là vui mừng biết bao!

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

Mỗi ngày đọc ba phần Kinh Thánh trong phần Kinh Thánh Đọc Hằng Ngày của quý nầy.

Chúng ta đã học về các vua và các tiên tri. Đó là lịch sử tuyển dân của Đức Chúa Trời. Dầu đó là những sự kiện lịch sử, song đồng thời là những bài học vô giá cho chúng ta. Bây giờ chúng ta ôn lại những câu hỏi và câu gợi ý qua các phần như sau:

I. SỰ VÂNG LỜI.

1. Ê-li vâng lời Chúa đi bất cứ nơi nào và bất cứ lúc nào Chúa sai ông đi. Vậy ông đã đi đâu và làm gì?

2. Bà góa Sa-rép-ta đã vâng lời Chúa để làm gì cho Ê-li?

3. Ê-li-sê vâng lời Ê-li gọi để làm gì?

4. Na-a-man có vâng lời không? Kết quả ra thể nào?

5. Giô-na có vâng lời Chúa không? Kết quả ra sao?

II. CẦU NGUYỆN.

1. Ê-li cầu nguyện thế nào? (Gia-cơ 5:17-18).

2. Ê-li-sê cầu nguyện cho ai? (IICác 4:32-33).

3. Cô bé Y-sơ-ra-ên bị bắt làm nô lệ, có cầu nguyện không? Tại sao ta biết?

4. Giô-na có cầu nguyện không? Phòng cầu nguyện của ông ở đâu?

III. THỜ PHƯỢNG ĐÚNG CÁCH.

1. Ê-li và Ê-li-sê chỉ thờ phượng ai?

2. Bảy ngàn người Y-sơ-ra-ên không chịu thờ phượng ai?

3. Sau khi được chữa lành bệnh phung, Na-a-man muốn thờ phượng ai?

IV. SỰ HẦU VIỆC.

1. Ê-li-sê hầu việc Ê-li thế nào?

2. Cô bé Y-sơ-ra-ên hầu việc Na-a-man thế nào?

3. Người đàn bà Su-nem làm gì cho Ê-li-sê?

4. Giô-ách dạy dân chúng hầu việc Chúa cách nào?

5. Giô-na giúp đỡ gì cho dân Ni-ni-ve?

V. SỰ NHÂN TỪ, KIÊN NHẪN CỦA CHÚA (Thuật lại tóm tắt các câu chuyện sau).

1. Chúa dùng tiên tri dạy dỗ dân chúng bằng lời nói lẫn việc làm.

2. Chúa cứu em bé Giô-ách để làm vua.

3. Chúa nhẫn nại đối với Giô-na.

VI. CÁC PHÉP LẠ (Thuật lại tóm tắt các câu chuyện sau).

1. Đồ ăn hằng ngày cho Ê-li tại khe Kê-rít và tại Sa-rép-ta.

2. Hũ dầu cho quả phụ tiên tri, canh và bánh tại Ghinhganh.

3. Bịnh phung được lành.

4. Con của bà ở Su-nem được sống.

5. Rìu nổi lên.

6. Thiên sứ bảo vệ Ê-li-sê.

7. Giô-na được cứu.

VII. SỰ HÌNH PHẠT (Thuật lại tóm tắt các câu chuyện sau).

1. Cả nhà A-háp bị hình phạt.

2. Ghê-ha-xi bị hình phạt.

3. A-tha-li bị hìnhphạt.

Kết luận:

– Người yếu đuối, tầm thường mà dâng mình cho Chúa, được Ngài trọng dụng, làm những việc lớn lao phi thường.

– Chúa muốn tất cả chúng ta dâng mình cho Ngài.

– Chúa có công việc vĩ đại dành cho chúng ta.

– Hãy bắt đầu trung tín, tận tâm trong việc nhỏ hằng ngày.

BÀI 27. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN BỊ LƯU DÀY

KINH THÁNH: IICác 17:1-18.

CÂU GỐC: “Ai tin Con, thì được sự sống đời đời, ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó!” (Giăng 3:36).

MỤC ĐÍCH: Cho chúng ta biết rằng Chúa chắc chắn sẽ trừng phạt kẻ phạm tội mà không chịu ăn năn.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Kết quả của tội lỗi

(IICác 17:1-6).

TH:

Tội thờ tà thần

(IICác 17:7-12).

TB:

Bị cảnh cáo mà không ăn năn

(IICác 17:13-18).

TT:

Khuyên phải ăn năn

(Giê-rê-mi 14:1-9; Giăng 1:9).

TN:

Dân Y-sơ-ra-ên không tin

(IICác:14-15).

TS:

Dân Y-sơ-ra-ên khinh bỉ Lời Chúa

(IICác 17:15-17).

TB:

Chúa tha thứ người biết xưng tội…

(IGiăng 1:8-9).

Sau triều đại Sa-lô-môn, nước Y-sơ-ra-ên bị chia ra làm hai miền: Nam và Bắc. Miền nam gồm hai chi phái, đặt tên nước là Giu-đa, lấy Giê-ru-sa-lem làm thủ đô. Miền Bắc gồm có 10 chi phái, đặt tên nước là Y-sơ-ra-ên, lấy Sa-ma-ri làm thủ đô.

Sau 254 năm, tức là từ năm 975 đến 721 TC, nước Y-sơ-ra-ên có 19 đời vua và Ô-sê là vua cuối cùng.

I. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN Ở MIỀN BẮC BỊ LƯU ĐÀY VÀ MẤT TÍCH LUÔN (IICác 17:1-6).

Ô-sê lên ngôi vua Y-sơ-ra-ên, cai trị tại Sa-ma-ri. Đời trị vì của ông chỉ được 9 năm. Đang đời trị vì của vua Ô-sê, thì Sanhmanasa là vua của cường quốc A-si-ri đem quân chinh phục Y-sơ-ra-ên, bắt Y-sơ-ra-ên làm nước chư hầu của mình. Hằng năm, Ô-sê phải cống sứ cho Sanhmanasa.

Sau một thời gian, Ô-sê không cống sứ cho Sanhmanasa nữa. Sanhmanasa lại phát giác được âm mưu phản nghịch của Ô-sê là sai sứ giả cầu viện Ê-díp-tô, nên ông liền đem quân vây chặt Sa-ma-ri trong ba năm và hạ thành, xiềng Ô-sê lại và hạ ngục, bắt tất cả người Y-sơ-ra-ên trong xứ đem qua A-si-ri, rồi đem người ở Ba-by-lôn, Cutha, Ava, Hamát và Sêphạtvaim đến ở trong các thành của Sa-ma-ri thế cho dân Y-sơ-ra-ên (IICác 17:24).

Kể từ đó, dân Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc bị mất tích luôn, tức là không được trở lại Sa-ma-ri nữa. Về sau, dân Giu-đa không thừa nhận người tại Sa-ma-ri là dân Giu-đa (Giăng 4:9), mặc dầu Sa-ma-ri là một vùng đất thuộc xứ Giu-đa.

Đành rằng A-si-ri là một đại cường quốc, song họ không có toàn quyền quyết định số phận các lân bang đâu, nhất là Y-sơ-ra-ên. “Đấng rất cao cai trị trong nước của loài người, Ngài muốn ban cho ai tùy ý” (Đa-ni-ên 4:17,25). Vậy tại sao Chúa phó Y-sơ-ra-ên là cơ nghiệp của Ngài cho A-si-ri để bị lưu đày và mất tích?

II. LÝ DO KHIẾN DÂN Y-SƠ-RA-ÊN BỊ LƯU ĐÀY (17:7-12).

Trước khi dân Y-sơ-ra-ên từ Ê-díp-tô qua chiếm xứ Ca-na-an, thì tại đó có bảy dân tộc. Nhưng vì họ phạm tội thờ tà thần, làm những việc ô uế và gian ác nên Đức Chúa Trời đã đuổi họ trước mặt Y-sơ-ra-ên. Trước khi dân Y-sơ-ra-ên qua chiếm xứ Ca-na-an, Chúa đã nhiều lần nhắc nhở họ nhớ lại cấm lịnh của Ngài, là họ không được bắt chước các dân tộc đó (Xuất 34:11-15; Lê-vi 18:3; Phục truyền 18:9-14). Thế mà bây giờ, dân Y-sơ-ra-ên lại bắt chước các dân tộc đó, làm y như họ đã làm. Vì vậy, Chúa đã đuổi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ như Ngài đã đuổi các dân tộc Ca-na-an trước họ (Ô-sê 9:15).

Đức Chúa Trời xem thường vật chất, xem trọng tinh thần. Ngài ban cả xứ Ca-na-an cho dân Y-sơ-ra-ên làm cơ nghiệp mãi mãi, nếu họ xứng đáng. Nhưng khi họ bội bạc, Chúa sẵn sàng cất đi mọi sự, không những họ mất cơ nghiệp mà cũng mất tự do và trở thành nô lệ.

Trưóc mặt Chúa, tội lỗi là đáng ghét, đáng bỏ, là kẻ thù chẳng đội trời chung với chúng ta. Tội lỗi phá hủy mọi sự, cướp mất mọi sự. Kết quả của nó quá sức tưởng tượng. Nghèo không đáng sợ, đói không đáng sợ, chết cũng không đáng sợ, chỉ có tội là đáng sợ. Vì cớ dân Ca-na-an đã phạm tội, Chúa đuổi họ đi và đem dân Y-sơ-ra-ên vào. Cũng vì cớ dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội, Chúa đuổi họ đi và đem một số dân khác vào.

Thể theo ý đó, Phao-lô viết cho Hội Thánh Rô-ma: “Vậy, hỡi người kia, ngươi là ai mặc lòng, hễ đoán xét kẻ khác thì không chữa mình được; vì trong khi đoán xét họ, ngươi cũng lên án cho chính mình ngươi nữa, bởi ngươi đoán xét họ, mà cũng làm các việc như họ” (Rô-ma 2:1).

Nên nhớ rằng Chúa Jêsus đã chịu chết vì chúng ta, để chúng ta được tha thứ, không phải sau đó chúng ta cứ tái phạm; Ngài cũng đã sống lại vì chúng ta, để ban cho chúng ta quyền năng đắc thắng tội lỗi, hầu ai nấy sống cuộc đời thánh khiết “y như những ngày của trời ở trên đất” (Phục truyền 11:21).

III. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG SỰ SỬA PHẠT DÂN Y-SƠ-RA-ÊN (17:13-18).

Phạm tội là đáng phạt rồi, khi được cảnh cáo lại không ăn năn mà cứ miệt mài trong tội thì đáng phạt dường nào! Đó là trường hợp dân Y-sơ-ra-ên.

Từ đời Giê-rô-bô-am, dân Y-sơ-ra-ên đã lìa bỏ Chúa hằng sống để thờ lạy hai con bò con bằng vàng, một tại Bê-tên và một tại Đan (ICác 12:28-33). Suốt thời gian hơn 200 năm, từ Giê-rô-bô-am đến Ô-sê, Chúa đã sai nhiều tiên tri đến khuyên dân Y-sơ-ra-ên ăn năn (II Sử ký 36:15; Ô-sê 14:1), nhưng họ bịt tai, nhắm mắt, cứng lòng không chịu nghe, không chịu hiểu mà cứ phạm tội thêm.

Họ lập thêm nhiều bàn thờ, thờ thêm lắm tà thần như các dân tộc xung quanh. Họ không tin Chúa của mình, xem thường mạng lịnh của Ngài. Hơn nữa, họ còn bắt bớ, giết chết các tiên tri của Chúa, dù “…Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy các tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách” (Hê-bơ-rơ 1:1).

Chúa Jêsus phán với môn đồ: “Bởi vì người ta cũng từng bắt bớ các đấng tiên tri trước các ngươi như vậy” (Ma-thi-ơ 5:12). Ngài phán cùng dân chúng: “Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem, ngươi giết các đấng tiên tri và nén đá những kẻ chịu sai đến cùng ngươi” (Ma-thi-ơ 23:37).

Ê-tiên nói với đồng bào ông: “Há có đấng tiên tri nào mà tổ phụ các ngươi chẳng bắt bớ ư?” (Công vụ 7:52).

Ê-li đã thưa vói Đức Chúa Trời: “Dân Y-sơ-ra-ên… đã dùng gươm giết những tiên tri Ngài; chỉ một mình tôi còn lại, và họ cũng kiếm thế cất mạng sống tôi” (ICác 19:10; 18:4-22).

Vì lẽ đó, Chúa đã xua đuổi dân Y-sơ-ra-ên khỏi trước mặt Ngài, vì họ không còn được gọi là dân của Ngài nữa.

Thiết tưởng Chúa cũng đã nhiều lần, dùng nhiều cách khác nhau mà cảnh cáo, sửa trị để chúng ta thức tỉnh và ăn năn (Hê-bơ-rơ 12;11). Mỗi khi gặp hoạn nạn vì bị sửa trị, chúng ta cứ nghĩ là Chúa làm cho chúng ta buồn rầu. Trong cảnh hoang tàn và đổ nát của Giê-ru-sa-lem sau Sa-ma-ri, Giê-rê-mi đã nhận định: “Dầu Ngài đã làm cho lo buồn, còn sẽ thương xót theo sự dư dật của lòng nhân từ Ngài; vì ấy là chẳng phải bổn tâm Ngài làm cho con cái loài người cực khổ và buồn rầu” (Ca thương 3:32-33).

Khi cha mẹ đánh con, đành rằng con đau, song cha mẹ cũng đau, và hơn nữa “Khi dân Ngài bị khốn khổ, chính Ngài cũng khốn khổ” (Ê-sai 63:9).

Hãy nghe tiếng êm dịu Chúa khuyên: “Phàm những kẻ Ta yêu, thì Ta quở trách sửa phạt, vậy hãy có lòng sốt sắng và ăn năn đi” (Khải huyền 3:19).

CÂU HỎI

1. Nước Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc có bao nhiêu đời vua? Kéo dài bao nhiêu năm?

2. Ai đã chiến thắng Y-sơ-ra-ên? Và lưu đày họ thế nào?

3. Lý do thứ nhất Chúa phó dân Y-sơ-ra-ên để bị lưu đày là gì?

4. Dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội gì? Họ bắt chước ai?

5. Lý do thứ hai Chúa phó dân Y-sơ-ra-ên để bị lưu đày là gì?

6. Ngoài ra thờ tà thần, dân Y-sơ-ra-ên còn phạm tội gì nữa?

7. Nếu chúng ta bắt chước người ngoài mà phạm tội thì sao?

8. Dầu chúng ta có khi vấp phạm thì Chúa bảo chúng ta làm gì?

BÀI 28. Ê-XÊ-CHIA, VỊ VUA KÍNH SỢ CHÚA

KINH THÁNH: IICác 18:1-8.

CÂU GỐC: “Anh em há chẳng biết mình là đền thờ của Đức Chúa Trời, và Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong anh em sao?” (ICôr 3:16).

MỤC ĐÍCH: Vì thân thể của chúng ta là đền thờ của Chúa nên chúng ta phải giữ cho thánh khiết.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Làm chứng điều Chúa cho là tốt lành

(IICác 18:1-8).

TH:

Tìm kiếm nước Đức Chúa Trời

(II Sử 29:1-11).

TB:

Thân thể ta là đền thờ của Chúa

(II Sử 29:15-19).

TT:

Ê-xê-chia truyền lịnh dự lễ Vượt qua

(II Sử 30:1-5).

TN:

Thờ phượng Chúa đúng cách

(II Sử 30:6-9).

TS:

Hãy đến nhà Đức Chúa Trời

(II Sử 30:10-27).

TB:

Giữ gìn điều răn của Chúa

(II Sử 29:20-30).

Ê-xê-chia sống đồng thời với Ô-sê. Khi Ô-sê làm vua Y-sơ-ra-ên, thì Ê-xê-chia làm vua Giu-đa. Song hai ông có hai nếp sống khác nhau: Ô-sê “làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va” (IICác 17:2), còn Ê-xê-chia “làm điều thiện trước mặt Đức Chúa Trời y như Đa-vít, tổ phụ người đã làm” (IICác 18:3). Một vua không kính sợ Chúa và một vua kính sợ Chúa.

I. Ê-XÊ-CHIA PHÁ HỦY HÌNH TƯỢNG TRONG XỨ (IICác 18:1-8).

Tuổi 25 là lúc sức dồi dào, chí hăng say, lại kính sợ Chúa, tin cậy Ngài, nên khi lên ngôi, Ê-xê-chia ra lệnh phá hủy tất cả hình tượng trong xứ. Phải can đảm lắm mới dám làm như vậy, vì ông, cha của vua đã xây dựng các hình tượng đó để dân chúng thờ phượng. Ngay con rắn bằng đồng trong thời Môi-se, dân chúng còn giữ lại để dâng hương cho nó như một vị thần thì Ê-xê-chia bẻ gảy con rắn bằng đồng và bỏ đi. Ông chăm chỉ đọc luật pháp nên biết điều gì Chúa cấm, điều gì Chúa bảo và ông hết lòng làm theo. “Đức Giê-hô-va ở cùng người, hễ người đi làm sự gì đều được thành tựu” (7).

Ê-xê-chia là một nhà cách mạng tôn giáo, cách mạng tư tưởng, hướng dẫn dân chúng trở về sự thờ phượng chính đáng.

Người yêu mến Chúa, tin cậy Ngài dám bỏ điều ác, làm điều thiện để đẹp lòng Ngài. Người đó không phải liều lĩnh, hoặc quá khích, mà can đảm và ngay thẳng. Người đó không cậy sức mình, mà cậy sức Chúa; không tự tôn vinh, mà tôn vinh Chúa. Công việc của người đó được thành tựu là nhờ Đức Giê-hô-va ở cùng người. Vì vậy, Áp-ra-ham, Môi-se, Giô-suê, Ghê-đê-ôn, Đa-vít… đều được gọi là anh hùng đức tin.

Thấy được tội lỗi, biết nó là xấu xa, nguy hiểm, dầu vậy, không phải ai cũng dám lìa bỏ tội lỗi. Có những tội lỗi mà lắm người muốn giữ lại. Có khi bỏ tội chúng ta phải mất nhiều quyền lợi, tánh mạng còn bị đe dọa nữa là khác. Song nếu vì động cơ yêu mến Chúa, tin cậy Ngài thì chắc chắn thành công.

II. Ê-XÊ-CHIA LÀM SẠCH ĐỀN THỜ (II Sử ký 29:3-19).

Sau khi đã làm sạch bề ngoài, Ê-xê-chia ra lệnh làm sạch bề trong, tức là đền thờ của Chúa.

1. Ê-xê-chia mở các cửa ra và tu bổ lại.

Vua A-cha đã đóng cửa đền thờ, đập vỡ khí dụng, làm cho đền thờ hư hỏng và ô uế, nên việc làm đầu tiên của vua Ê-xê-chia khi lên ngôi là mở cửa đền thờ và tu bổ lại (II Sử ký 28:24).

2. Ê-xê-chia triệu tập các thầy tư tế và người Lê-vi lại.

Thầy tư tế và người Lê-vi có trách nhiệm về đền thờ. Ông ra lịnh cho họ làm sạch mình và làm sạch đền thờ của Chúa. Phải làm sạch mình trước, nhiên hậu mới làm sạch đền thờ (Công vụ 20:28).

3. Ê-xê-chia giải thích cho họ lý do khiến ông làm điều đó.

Ê-xê-chia bảo, vì các tổ phụ của dân Y-sơ-ra-ên bất trung, hành ác, lìa bỏ Chúa, ngoảnh mặt, xây lưng với Ngài, không dâng tế lễ cho Ngài, lại tắt đèn, đóng cửa đền thờ, nên cơn thạnh nộ của Chúa nổi lên, Ngài phó mặc cho kẻ thù bóc lột, tàn sát (II Sử ký 28:5-8,17).

Vì thế, Ê-xê-chia định lập giao ước với Chúa để Ngài nguôi cơn giận đối với dân Ngài. Ê-xê-chia kêu gọi một cách âu yếm, song cương quyết: “Hỡi các con, chớ trì hoãn nữa, vì Đức Giê-hô-va có chọn các ngươi làm đầy tớ Ngài, để đứng trước mặt Ngài, hầu việc và xông hương cho Ngài” (11). Trì hoãn có nghĩa là cẩu thả, hững hờ, bỏ qua. Đó là tội dễ mắc của chúng ta đối với nhà Chúa, nhưng đó là tội nặng: “Đáng rủa thay là kẻ làm việc Đức Giê-hô-va cách dối dá” (Giê-rê-mi 48:10). Phục vụ Chúa, không ai được phép cẩu thả hững hờ.

Ê-xê-chia rất sáng suốt, đã thấy được tình trạng bi đát của dân tộc mình, cũng hiểu được nguyên do gây nên tình trạng đó, nên ông dạn dĩ đứng lên sửa chữa để kịp thời cứu vãn.

Kết quả là các thầy tế lễ và người Lê-vi hiệp nhau, sau khi đã làm sạch mình, họ làm sạch đền thờ của Chúa. Không những làm sạch rác rến, bụi bặm, họ cũng làm sạch hình tượng, tà thần do A-cha đem vào đó. Sau 16 ngày, họ đến trình cho vua Ê-xê-chia rằng đền thờ đã được sửa sang, các khí mạnh đâu vào đấy một cách trật tự y như trước.

Mỗi chúng ta phải sáng suốt thấy được thực trạng của Hội Thánh Chúa, của gia đình và đời sống mình, phải hiểu được nguyên do nào gây nên thực trạng đó, và dạn dĩ đứng lên sửa chữa lại. Đừng trì hoãn, đừng hờ hững, phải lập tức làm sạch tội lỗi.

Trước ngày lễ Vượt qua, dân Y-sơ-ra-ên cẩn thận làm sạch hết men cũ khỏi nhà mình (Phục truyền 16:3). Chúng ta cũng phải làm sạch men gian ác, độc dữ khỏi nhà mình (ICôr 5:6-8), đồng thời cũng dẹp hết hình tượng khỏi lòng mình. Đó là hình tượng không thấy được (Ê-xê-chi-ên 14:4-5,7). Nếu tham lam là thờ hình tượng, thì gian dâm, ô uế, ham muốn xấu xa cũng vậy (Ê-phê-sô 5:5; Cô-lô-se 3:5).

Hãy làm sạch đền thờ của Chúa trong Hội Thánh, trong gia đình và trong lòng của chúng ta. Hãy làm như Ê-li là “rửa lại cái bàn thờ của Đức Giê-hô-va bị phá hủy” (ICác 18:30).

III. Ê-XÊ-CHIA LẬP LẠI SỰ THỜ PHƯỢNG (II Sử ký 29:20,30,37).

Làm sạch hình tượng trong xứ, làm sạch đền thờ của Chúa cũng chưa đủ, còn phải lập lại cuộc thờ phượng như trước, tức tôn Chúa làm Vua trên mọi sự và trong mọi nơi.

1. Dâng của lễ cho Chúa (II Sử ký 29:20-36).

Ê-xê-chia dậy sớm, hiệp với các quan trưởng trong thành đến đền thờ. Vua đem theo các con sinh, bảo các thầy tế lễ dâng làm của lễ thiêu và của lễ chuộc tội. Đồng thời vua truyền cho các người Lê-vi chuẩn bị ban nhạc, ban hát. Khi của lễ được dâng lên, ban nhạc và ban hát hòa tấu tôn ngợi Chúa, thì vua và dân chúng quỳ xuống thờ lạy Ngài. Quang cảnh thật trang nghiêm, linh thiêng, cảm động, khiến hết thảy đều vui mừng. Dân chúng được khích lệ, đem đến nhiều con sinh dâng lên Chúa như bò, chiên, cừu đến nỗi các thầy tế lễ không đủ sức làm hết mọi việc. Thế là cuộc thờ phượng được tái lập.

2. Giữ lễ Vượt qua (II Sử ký 30:1-27).

Ê-xê-chia, các quan trưởng và dân chúng quyết định cử hành lễ Vượt qua tại Giê-ru-sa-lem vào tháng hai năm ấy. Vua viết thơ mời tất cả người Y-sơ-ra-ên trong hai vương quốc Bắc và Nam đến dự, vì lâu lắm rồi không có tổ chức lễ Vượt qua như Chúa đã truyền. Trong thơ, Ê-xê-chia khuyên mọi người đừng cứng cổ, miệt mài trong tội lỗi như tổ phụ mình, mà hãy trở lại cùng Chúa, để được tha thứ và giải cứu, vì Ngài có lòng nhân từ và thương xót.

Dầu có người chống đối bên phía Y-sơ-ra-ên, song có một số người chấp nhận và đến Giê-ru-sa-lem. Họ dự lễ vui vẻ trong bảy ngày bằng sự dâng của lễ, ca hát, cảm tạ Chúa. Chưa được thỏa mãn, họ quyết định dự thêm bảy ngày nữa và vua cấp cho dân chúng hàng ngàn bò chiên.

Tại Giê-ru-sa-lem có sự vui mừng lớn mà từ đời Sa-lô-môn đến giờ chưa hề có vậy. Các thầy tế lễ và người Lê-vi chúc phước cho dân chúng. Lời cầu nguyện của họ thấu đến ngôi ơn phước trên các từng trời.

Đây là một cơn phục hưng của dân Y-sơ-ra-ên, cũng là cơn phục hưng mà dân sự của Chúa trải qua các đời cần có. Mỗi chúng ta phải là Ê-xê-chia trong phạm vi của mình như bản thân, gia đình và Hội Thánh.

CÂU HỎI

1. Ê-xê-chia với Ô-sê khác nhau thế nào?

2. Khi lên ngôi, Ê-xê-chia làm gì trước?

3. Tại sao Ê-xê-chia dám làm điều đó?

4. Ê-xê-chia làm gì cho đền thờ?

5. Vua chỉ thị cho ai làm sạch đền thờ?

6. Làm sạch đền thờ có ý nghĩa thuộc linh gì?

7. Sau khi làm sạch đền thờ, Ê-xê-chia còn làm sạch hai điều gì nữa?

8. Hình tượng không thấy được là gì?

9. Kết quả việc Ê-xê-chia làm là gì?

BÀI 29. THÀNH GIÊ-RU-SA-LEM BỊ BAO VÂY & ĐƯỢC GIẢI CỨU

KINH THÁNH: IICác 18:17-36.

CÂU GỐC: “Với người chỉ một cánh tay xác thịt; còn với chúng ta có Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta, đặng giúp đỡ và chiến tranh thế cho chúng ta” (II Sử ký 32:8).

MỤC ĐÍCH: Sự cầu nguyện là cần yếu và Chúa là Đấng sẵn sàng giúp đỡ chúng ta lúc hoạn nạn.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Ê-xê-chia thiếu nhờ cậy Chúa

(IICác 18:13-16).

TH:

Ê-xê-chia nương cậy Chúa

(II Sử ký 32:1-8).

TB:

Không ai bằng Chúa

(II Sử ký 32:9-15; Ê-sai 37:1-7).

TT:

Cầu nguyện là cần yếu

(IICác 19:1-5; Ê-sai 37:1-7).

TN:

Kẻ chưa biết Chúa

(IICác 19:8-13).

TS:

Ê-xê-chia cầu nguyện

(IICác 19:14-19; Ês 37:14-20).

TB:

Đức Chúa Trời nghe lời cầu nguyện

(IICác 19:20-36).

Khi dân chúng được phước thì ma quỉ tăng cường hoạt động, nó xui giục San-chê-ríp, vua nước A-si-ri đem quân xâm chiến Giu-đa. Ê-xê-chia đã phải nộp cống lễ để họ lui binh. Song sau một thời gian, San-chê-ríp lại đem lực lượng hùng hậu bao vây Giê-ru-sa-lem, muốn tiêu diệt Giu-đa ở miền Nam cũng như đã tiêu diệt Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc. Chúa đã cho phép điều đó xảy ra để thử thách Ê-xê-chia, và tạo cho ông một cơ hội bày tỏ đức tin của mình đến Chúa.

I. LỜI KIÊU NGẠO CỦA KẺ BAO VÂY THÀNH GIÊ-RU-SA-LEM (IICác 18:17-36).

Ráp-sa-kê, một nhà ngoại giao kinh nghiệm, lão luyện, hùng biện và khôn khéo hiếm có xưa nay. Ông thông thạo hai thứ tiếng: A-si-ri và Giu-đa. Lý luận sắc sảo, ngôn ngữ linh hoạt, thái độ cương quyết của ông xuất phát từ lòng kiêu căng tột độ. Sau lưng ông là một lực lượng vô địch của một đại cường quốc bách chiến bách thắng, ông chỉ cần ba tấc lưỡi cũng đủ thuyết phục dân Giu-đa đầu hàng vô điều kiện, mà không cần nhọc công các chiến sĩ của ông.

1. Ông khuyên họ đừng nhờ cậy Ê-díp-tô (18:21).

Pha-ra-ôn như một cây sậy gãy, ai dùng nó làm gậy thì bị nó đâm thủng tay.

2. Ông khuyên họ đừng nhờ cậy Đức Giê-hô-va (18:22).

Ông biết rằng khi Ê-xê-chia phá hủy hình tượng trong xứ, đã có vài phần tử phật ý. Lợi dụng sự lủng củng nội bộ đó, ông xuyên tạc Ê-xê-chia đã không nhờ cậy Chúa nên mới làm vậy.

3. Ông chế nhạo lực lượng của Giu-đa (18:23-24).

Ông thách đố họ tìm đủ 2.000 lính kỵ, ông sẽ cấp cho họ 2.000 con ngựa. Nếu không tìm được, thì thực lực của Giu-đa không đủ để chiến thắng một vị tướng hạng bét của ông.

4. Ông lừa dối là Chúa bảo ông phá hủy xứ Giu-đa (18:25).

Ông thật là một tay xảo quyệt, có đủ mánh khóe đáng làm tiêu biểu cho Sa-tan.

5. Ông khuyên họ đừng nghe lời vua Ê-xê-chia (18:12-30).

Ông không hề gọi Ê-xê-chia là vua (bản Việt ngữ có chữ “vua” là không đúng). Ông xui giục dân Giu-đa khinh dể vua mình, xem như một tên gạt gẫm.

6. Ông kêu gọi toàn dân đầu hàng và hứa hẹn với họ (18:31-33).

Thật là mỉa mai! Ông muốn nói: “Vua của các anh gạt các anh, còn tôi không gạt, vua của các anh không thương các anh, còn tôi thương các anh. Đừng nghe lời vua của các anh, hãy nghe lời tôi”. Ông ta đúng là một tay mị dân. Ma quỉ cũng đã nhập vào con rắn nói với bà Ê-va như vậy.

7. Ông thách đố và xúc phạm đến Đức Chúa Trời (18:33-35).

Ông hống hách: Bao nhiêu nước đã bị A-si-ri chinh phục, kể cả Sa-ma-ri, họ há không có thần sao? Song có thần nào cứu họ được đâu, mà Giê-hô-va có thể cứu Giê-ru-sa-lem! Ông muốn nói: “Giê-hô-va là ai, chẳng qua như một trong các thần đã bị tổ phụ chúng ta tiêu diệt, không hơn, không kém”. Trên kia ông nói Chúa sai ông hủy diệt Giu-đa, đến đây, ông phỉ báng Ngài. Ông mâu thuẫn vì giả dối.

Ráp-sa-kê nói giống như Pha-ra-ôn: “Giê-hô-va là ai mà trẫm phải vâng lời người, để cho Y-sơ-ra-ên đi? Trẫm chẳng biết Giê-hô-va nào hết” (Xuất 5:2), giống như Nê-bu-cát-nết-sa: “Rồi thần nào có thể giải cứu các ngươi khỏi tay ta” (Đa-ni-ên 3:15).

Ráp-sa-kê lần lượt phá hủy hết niềm tin của dân Giu-đa về Ê-díp-tô, về lực lượng của họ, về vua của họ, về Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ mà thuyết phục họ tin nơi San-chê-ríp, vua A-si-ri. Ông vừa đe dọa, vừa thách đố, vừa vỗ về, chỉ cho họ thấy rằng tin nơi bất cứ ai đều là hư ảo, chỉ có tin vào lực lượng của A-si-ri là thực tế. Ngoài ra ngoại giao, ông còn là chuyên viên đặc trách về Do thái, nên ông rất am tường về họ.

Đúng như Ráp-sa-kê nói, không có lực lượng nào của Giu-đa đương nổi với lực lượng của A-si-ri, nhưng chỉ có lực lượng đức tin đến Đức Chúa Trời tiềm tàng trong lòng người Giu-đa như những lượn sóng ngầm mà San-chê-ríp cũng như Ráp-sa-kê không thấy được. Đó là cuộc chiến tranh suốt dòng lịch sử nhân loại giữa sức mạnh của đức tin và sức mạnh của xác thịt.

II. Ê-XÊ-CHIA XIN CHÚA GIẢI CỨU GIÊ-RU-SA-LEM (IICác 9:14-19; Ê-sai 37:14-20).

Trước những lời đe dọa, thách đố, vỗ về của Ráp-sa-kê, dân Giu-đa im phăng phắt. Họ nhường lời cho Chúa đáp lại với Ráp-sa-kê.

Khi Ê-xê-chia nghe thuật lại các lời của Ráp-sa-kê và nhận tối hậu thư của San-chê-ríp, ông buồn thảm vô cùng, song không thất vọng. Một mặt ông cho người đến trình bày với tiên tri Ê-sai (IICác 19:3-4), mặt khác, ông lên đền thờ mở thơ ra trước mặt Chúa và cầu nguyện. Ông tôn ngợi Chúa là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Đấng tể trị các nước, vì Ngài đã dựng nên tất cả. Ông xin Chúa nghe và xem các lời thách đố và phỉ báng Ngài của San-chê-ríp: Quả thật A-si-ri đã hủy diệt các dân và các thần của họ, song đó không phải là thần, chẳng qua là vật do tay người làm ra. Bây giờ xin Chúa giải cứu dân sự của Chúa để muôn dân, muôn nước biết rằng chỉ một mình Ngài là Giê-hô-va Đức Chúa Trời hằng sống.

Diều quạ đến, đuổi đàn gà con vào cánh mẹ, muông sói đến, đuổi bầy chiên về với người chăn, Ráp-sa-kê công kích và phỉ báng Chúa cách thậm tệ càng làm cho Ê-xê-chia tin cậy Ngài hơn bao giờ hết, như lăn vào lòng Ngài, nghiêng mình trên ngực Ngài. Ráp-sa-kê tưởng lột trần tài sản đức tin của dân Giu-đa, dùng lưỡi mình đánh họ một trận dở sống, dở chết. Ông đã lầm to! Ông chỉ là kẻ thù của đức tin, có thể công kích, mà không thể cướp phá đức tin.

III. ĐỨC CHÚA TRỜI GIẢI CỨU GIÊ-RU-SA-LEM (IICác 19:20-26; Ê-sai 37:21-38).

1. Qua tiên tri Ê-sai, Chúa lên tiếng.

a. Với San-chê-ríp.

Con gái Giê-ru-sa-lem khinh dể người, vì người dám xúc phạm đến Đấng thánh của Y-sơ-ra-ên. Chúa đã cho phép người, sử dụng người như cây roi để sửa phạt các nước, kể cả Sa-ma-ri. Nhưng tay người lại nghịch cùng Chúa, buông lời xấc xược thấu đến tai Chúa, nên Chúa sẽ tra khoan vào mũi người và hàm thiếc vào miệng người để dẫn người trở về.

b. Với Ê-xê-chia.

Chúa đã nhậm lời của ông, dân Giu-đa đã được phục hồi nông nghiệp, quân đội A-si-ri đã rút khỏi Giê-ru-sa-lem, vì Chúa bênh vực dân Ngài.

2. Chúa hành động.

Một đêm kia, khi vua Ê-xê-chia và mọi người trong thành Giê-ru-sa-lem ngon giấc, chỉ có số ít canh tuần, thì một thiên sứ của Chúa đến trại quân A-si-ri giết 185.000 chiến sĩ. Sáng hôm sau San-chê-ríp kinh hoàng, thất sắc, vội vàng trở về Ni-ni-ve, và chẳng còn trở lại Giê-ru-sa-lem nữa.

“Thất vọng của con người là dịp tiện của Chúa”. Chúa đã thi hành phép lạ qua đức tin của Ê-xê-chia. Nếu khi nghe lời của Ráp-sa-kê và ông đầu hàng, thì Chúa đã không làm gì cho ông được.

Trước đó, Chúa đã phán với dân Y-sơ-ra-ên trong một trường hợp tương tự: “Chớ sợ chi, hãy ở đó, rồi ngày nay xem sự giải cứu Đức Giê-hô-va sẽ làm cho các ngươi… Đức Giê-hô-va sẽ chiến cự cho, còn các ngươi cứ yên lặng” (Xuất 14:13-14).

CÂU HỎI

1. Tại sao Chúa cho phép quân đội A-si-ri bao vây Giê-ru-sa-lem?

2. Ráp-sa-kê là người thế nào?

3. Mục đích của lời ông nói là gì?

4. Cách nói của Ráp-sa-kê giống như ai?

5. Ê-xê-chia đã làm gì và cầu nguyện thế nào?

6. Chúa đã nói gì với San-chê-ríp?

7. Chúa hành động như thế nào?

8. Tại sao Chúa hành động như vậy?

BÀI 30. TIN MỪNG CỦA ÊSAI

KINH THÁNH: Ê-sai 40:1-31.

CÂU GỐC: “Ngài sẽ chăn bầy mình như người chăn chiên, thâu các con chiên con vào cánh tay mình và ẵm vào lòng, từ từ dắt các chiên cái đương cho bú” (Ê-sai 40:11).

MỤC ĐÍCH: Giúp người học nhận biết tin mừng Chúa ban cho con người qua sứ điệp của tiên tri Ê-sai.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Ê-sai là tiên tri của Chúa

(Ê-sai 40:1-8).

TH:

Chúa là người chăn

(Ê-sai 40:9-11).

TB:

Quyền năng và khôn ngoan của Chúa

(Ês 40:12-17).

TT:

Không ai có thể ví sánh với Đức Chúa Trời

(Ê-sai 40:18-20).

TN:

Chúa cảm động người ta viết ra KT

(Ê-sai 40:21-26).

TS:

Sự khôn ngoan của Đấng Tạo hóa

(Ê-sai 40:26-31).

TB:

Lời an ủi

(Giăng 10:14-15).

Ê-sai là tiên tri trong đời trị vì của vua Giu-đa là Ô-xia, Giôtham, A-cha và Ê-xê-chia (Ê-sai 1:1), trong khoảng thời gian chừng 40 năm. Nhưng đến đời vua Sê-đê-kia thì thành Giê-ru-sa-lem bị mất vào tay vua Nê-bu-cát-nết-sa, tức là hơn 100 năm sau Ê-sai mất, nên sách Ê-sai từ đoạn 40 đến đoạn 66 là của một người nào đã chép thêm sau khi Ê-sai qua đời hoặc của chính Ê-sai ghi trước việc sẽ xảy ra. Sách Ê-sai là tin mừng của Chúa cho dân Giu-đa đang bị lưu đày tại Ba-by-lôn.

I. TIN MỪNG DÂN GIU-ĐA SẼ ĐƯỢC GIẢI CỨU (40:1-11).

1. Mọi sự đã trọn (1- 2).

Đức Chúa Trời của họ phán: “Hãy yên ủi, hãy yên ủi dân Ta”. Dầu họ làm nô lệ ở xứ người, Chúa không thẹn mà nhận họ làm dân của Ngài, nên mạng lịnh của Chúa là an ủi họ. Mỗi chúng ta phải là con trai, con gái của sự an ủi và chúng ta yên ủi nhau.

Hãy nói cho thấu vào tai, vào trí, vào lòng, đụng đến nơi sâu thẳm hơn hết của con người để yên ủi họ. Chỉ lời của Chúa mới có tác dụng đó (Hê-bơ-rơ 4:12).

“Sự tranh chiến nó đã trọn”. Thời gian phục dịch đã đủ, vì bây giờ đã 50 năm rồi. “Tội lỗi nó đã được tha, vì nó đã chịu gấp hai từ tay Đức Giê-hô-va về các tội mình”. Sự sửa trị của Chúa là thích đáng với tội lỗi của họ, nhưng theo lòng nhân từ của Chúa, Ngài bảo, không những vừa mà còn hơn nữa.

2. Hãy chuẩn bị tiếp đón Chúa (3-8).

Trước hết Chúa kêu gọi dân Giu-đa chuẩn bị lòng mình để tiếp đón Ngài đến giải cứu họ. Sau 50 năm bị lưu đày, lòng dân Giu-đa bị cơn sóng gió dập dồi, giống như con đường gập ghềnh. Tâm địa của họ bị sự đau khổ, thất vọng dày vò làm cho tan vỡ, mất cả bình tĩnh. Vì vậy, họ cần lấy lại can đảm, củng cố niềm tin, nắm chắc lời hứa của Chúa, chuẩn bị cho ngày vinh hiển sẽ lộ ra.

Tại đây, một chân lý được công bố: Tất cả xác thịt và vẻ đẹp của nó, kể cả mọi dân tộc và sự hùng tráng oai nghi của nó đều như cỏ, như hoa, sớm nở chiều tàn, cỏ héo, hoa rơi, nay còn mai mất. Thiết tưởng dân Giu-đa đã từng khoe khoang về tổ phụ của họ là Áp-ra-ham, lãnh tụ của họ là Môi-se, các bậc anh hùng của họ là Giô-suê, Ca-lép, Sam-sôn, Ghê-đê-ôn, Đa-vít… song hết thảy đều qua đi. Bây giờ, họ chỉ còn lại lời hứa của Chúa là Lời đời đời. Phải chăng chúng ta đã từng nương tựa vào danh tiếng? Tiền tài? Thế lực? Kìa hết thảy đều tàn tạ như cỏ non. Chúng ta hãy nương tựa vào Lời của Chúa.

3. Chúa sẽ đem họ về (9-11).

Không ai có thể giải cứu họ khỏi cảnh lưu đày để trở về tổ quốc, kể cả vua và anh hùng của họ, mà chỉ có Chúa mới làm được việc đó và Ngài chắc chắn sẽ làm. Vì vậy, Chúa bảo: “Ai rao Tin Lành cho Si-ôn, hãy lên trên núi cao! Ai rao Tin Lành cho Giê-ru-sa-lem, hãy ra sức cất tiếng lên! Hãy cất tiếng lên, đừng sợ chi…” Ai nấy phải biết rằng: Đức Chúa Trời của chúng ta sẽ đến với quyền năng của cánh tay Ngài để cai trị muôn dân. Ngài đem sự báo trả cho người gian ác, phần thưởng cho người công bình. Ngài sẽ dắt họ về như người chăn dắt chiên, bảo vệ từng con một, cả mẹ lẫn con một cách chu đáo.

Chúng ta hãy rao Tin Lành về sự tái lâm của Chúa một cách sốt sắng và tận tâm hơn nữa. Đó là sự giải cứu cuối cùng và trọn vẹn của Chúa dành cho toàn thể con cái Ngài.

II. ĐỐI TƯỢNG CỦA TIN MỪNG (40:12-20).

Khi bị lưu đày, dân Giu-đa thấy dân Ba-by-lôn thờ thần bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng sắt, bằng gỗ, bằng đá, thì họ bị cám dỗ và tự nghĩ: “Phải chăng vị thần đó có quyền hơn Đức Giê-hô-va, nên Ba-by-lôn chinh phục được dân Giu-đa?” Họ không biết rằng chính vì tội lỗi của họ mà Chúa đã phó họ vào tay Ba-by-lôn để sửa trị (Đa-ni-ên 1:1-2), nên tiên tri Ê-sai giúp họ thấy sự thật.

1. Quyền năng của Đức Giê-hô-va (1-17).

Để lưu ý họ, tiên tri đã hỏi luôn 7 câu:

a. Ai đã lấy lòng bàn tay mà lường biển, lấy gang tay mà đo các từng trời?

b. Ai đã lấy đấu mà đong bụi đất?

c. Ai đã dùng cân mà cân núi, và dùng thăng bằng mà cân gò?

d. Ai lường được Thần của Đức Chúa Trời và làm mưu sĩ cho Ngài đặng dạy dỗ Ngài?

e. Nào Ngài đã bàn luận với ai?

f. Ai đã dạy khôn cho Ngài và dạy Ngài đường công nghĩa?

g. Nào ai đã đem sự thông biết dạy Ngài và chỉ cho Ngài lối khôn ngoan?

Tiên tri trả lời họ:

a. Các dân tộc khác nào một giọt nước nhỏ trong thùng, như một mảy bụi rơi trên cân, dân Ba-by-lôn cũng vậy. Chúa giở các cù lao lên như một vật nhỏ.

b. Rừng Liban không đủ làm củi.

d. Hình tượng bằng vàng, bạc do người thợ làm ra.

e. Mọi dân tộc ở trước mặt Chúa hết thảy đều hư không.

2. Sự vô ích của hình tượng (18-20).

a. Ai có thể sánh với Đức Giê-hô-va?

b. Hình tượng nào có thể ngang hàng với Ngài?

c. Hình tượng bằng vàng, bạc do người thợ làm ra, hoặc bằng một thứ gỗ không mục được.

Thật lấy làm vô lý mà lìa bỏ Đấng Tạo Hóa, lìa bỏ Đấng Toàn tri để thờ vật vô tri, vô quyền.

III. HÃY TRÔNG ĐỢI TIN MỪNG NƠI ĐỨC GIÊ-HÔ-VA (40:21-31).

Sau khi đã so sánh để giúp đỡ một số người nhẹ dạ phân biệt giữa Chúa với hình tượng như trời cao với vực thẳm, thì Ê-sai bắt đầu ngỏ lời với những người đang nản lòng trước quyền lực gần như vô địch của Ba-by-lôn.

Ông quở trách họ bằng những câu hỏi dồn dập: “Các ngươi không biết sao?… Không nghe sao? Chưa ai dạy cho sao?” Rồi ông đáp: “Ấy là Đấng ngự trên vòng trái đất nầy, các dân cư trên đất như cào cào vậy. Chính Ngài là Đấng giương các từng trời ra như cái màn, và giương ra như trại để ở”. Ông nhắc lại lịch sử để họ thấy rằng Ngài đã từng tiêu diệt các vua, các quan, làm cho bao nhiêu công trình và kế hoạch của họ như rác rến bị cơn gió lốc đùa đi hết thảy.

Nhưng Chúa không phải thế. Hãy ngước mắt lên cao mà xem: Ai đã tạo nên những vật nầy? Dân Giu-đa đã từng nhìn xung quanh, làm cho họ nản lòng, thất vọng. Bây giờ họ cần ngước mắt lên, muôn vàn tình tú sẽ nói cho họ biết quyền năng và khôn ngoan của Chúa là vô cùng.

Trong lúc nản lòng, họ cho rằng Chúa đã quên, bỏ họ rồi, không còn lo nghĩ đến số phận của họ nữa, hoặc khổ cảnh của họ vượt quá khả năng của Ngài. Nhưng Chúa trách và khuyên họ chờ đợi thời điểm mà Ngài đã định, họ sẽ được cứu.

Đang khi chờ đợi, Chúa ban sức mạnh cho kẻ nhọc nhằn, thêm lực lượng cho kẻ chẳng có sức. Tất cả trai tráng đều mòn mỏi cho đến khi sự giải cứu được thực hiện. Chúa gần trở lại, nguyện chúng ta đều trông đợi Ngài để được sức mới và thêm sức mới luôn luôn.

CÂU HỎI

1. Ê-sai làm tiên tri chừng bao nhiêu năm? Thuộc đời trị vì của vua nào?

2. Dân Giu-đa bị tù đày tại Ba-by-lôn bao nhiêu năm? Ê-sai đoạn 40 chép lúc họ tù đày mấy năm rồi?

3. Chúa ban cho họ một tin gì?

4. Chúa bảo họ phải chuẩn bị gì?

5. Trong khi ngã lòng, một phần dân Giu-đa nghĩ gì về hình tượng?

6. Vị tiên tri nói gì về hình tượng?

7. Trong khi chờ đợi sự giải cứu, Chúa hứa ban cho họ điều gì?

8. Vị tiên tri nói gì với số người ngã lòng trước quyền lực của Ba-by-lôn?

BÀI 31. ĐẦY TỚ CỦA ĐỨC GIÊ-HÔ-VA

KINH THÁNH: Ê-sai 52:13 – 53:12.

CÂU GỐC: “Người sẽ thấy kết quả của sự khốn khổ linh hồn mình, và lấy làm thỏa mãn. Tôi tớ công bình của Ta sẽ lấy sự thông biết về mình làm cho nhiều người được xưng công bình; và người sẽ gánh lấy tội lỗi họ” (Ê-sai 53:11).

MỤC ĐÍCH: Mô tả Đấng Cứu Thế giáng sanh, chịu chết là vì chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Danh hiệu của người đầy tớ

(Ê-sai 7:14; 9:6; 32:1).

TH:

Thần tánh của người đầy tớ

(Ê-sai 11:1-5).

TB:

Người đầy tớ cao trọng tuyệt vời

(Ê-sai 52:13-15).

TT:

Người đầy tớ bị khinh và chối bỏ

(Ê-sai 53:1-3).

TN:

Người đầy tớ chịu đau khổ vì chúng ta

(Ê-sai 53:4-6).

TS:

Người đầy tớ bị ngược đãi hà hiếp

(Ê-sai 73:7-9).

TB:

Người đầy tớ làm trọn ý của Đức Giê-hô-va

(Ê-sai 53:10-12).

Sách Ê-sai từ đoạn 41 đến 50 rất nhiều lần đề cập đến danh hiệu “Đầy tớ của Đức Giê-hô-va”. Danh hiệu nầy chỉ về dân Y-sơ-ra-ên.

Nhưng từ Ê-sai 52:13–53:12, danh hiệu Đầy Tớ của Đức Giê-hô-va chỉ về Đấng Cứu Thế, là Chúa Jêsus. Một mình Ngài đã làm ứng nghiệm dự ngôn của Ê-sai 52:13–53:12. Các trước giả của Tân Ước đã trưng đẫn đoạn sách nầy để chỉ về Chúa Jêsus.

Có năm đặc điểm nói về Đầy Tớ của Đức Giê-hô-va. Cả năm điểm đó đều đã được ứng nghiệm trong Chúa Jêsus.

I. NGƯỜI ĐẦY TỚ CAO TRỌNG TUYỆT VỜI (Ê-sai 52:13-15).

Người Đầy Tớ nầy vốn cao trọng tuyệt vời, mặc dầu Người đã mặc lấy thân xác con người, mặt mày xài xể khiến ai nấy phải kinh ngạc. Nhưng nhiều dân tộc sẽ run rẩy, các vua sẽ ngậm miệng trước mặt Người, Đấng kỳ diệu.

Người Đầy Tớ cao trọng tuyệt vời nầy là Chúa Jêsus: “…Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự. Cũng vì đó nên Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài Danh trên hết mọi danh, hầu cho nghe đến Danh Đức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống, và mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha” (Phi-líp 2:5-11).

II. NGƯỜI ĐẦY TỚ BỊ KHINH DỂ VÀ CHỐI BỎ (53:1-3).

Người Đầy Tớ cao trọng tuyệt vời này bị khinh dể và chối bỏ vì lòng vô tín của nhân loại. Ai nấy chọn hình thức bên ngoài như danh, lợi, quyền, nên khi thấy Người Đầy Tớ lớn lên như một chồi non, như cái rễ ra từ đất khô, không có dung mạo, không có vẻ đẹp ưa nhìn, mà chỉ là Con Người đau khổ, thì họ che mặt lại, xem Người chẳng ra gì.

Chúa Jêsus cũng vậy, Ngài gần 30 tuổi, mà người đồng thời đoán Ngài gần 50 (Giăng 8:57). Ngài bị nhạo báng, mắng nhiếc, nhổ trên mặt, đánh đòn, giết chết (Lu-ca 18:31-33; 22:63-65). Ngài bị dân Ngài chối không phải là vua của họ, và la lên: “Hãy trừ hắn đi, trừ hắn đi, đóng đinh hắn trên cây thập tự đi” (Giăng 19:14-15).

III. NGƯỜI ĐẦY TỚ CHỊU ĐAU KHỔ VÌ CHÚNG TA (53:4-6).

Ngay chúng ta trước kia cũng không thấy trong Người Đầy Tớ có dung mạo hay vẻ đẹp gì làm cho mình ưa thích, nên chúng ta cũng chẳng coi người ra chi.

Kỳ thật, Người đã mang bệnh tật của chúng ta, gánh sự đau đớn của chúng ta, mà chúng ta lại lầm tưởng Người bị Đức Chúa Trời đánh đập và làm cho khổ nhục. Chúng ta có ngờ đâu, Người đã bị đóng đinh vì tội lỗi của chúng ta, bị giày vò vì gian ác của chúng ta. Nhờ sự sửa phạt Người chịu, chúng ta được bình an, nhờ lằn roi Người, chúng ta được lành bệnh. Chúng ta như bầy chiên lạc, ai theo đường nấy, và Đức Giê-hô-va đã chất tội lỗi của hết thảy của chúng ta trên Người.

Xin lưu ý những chữ “chúng ta” như “sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta,… tội lỗi của chúng ta,… sự gian ác của chúng ta…” và “… chúng ta được bình an,.. chúng ta được lành bệnh”. Tất cả những kết quả đó đều do Người Đầy Tớ mang, gánh, bị, chịu.

Hình ảnh Người Đầy Tớ rất đúng với Chúa Jêsus: “Chính Ngài đã lấy tật nguyền của chúng ta và gánh bệnh hoạn của chúng ta” (Ma-thi-ơ 8:17). “Ngài chưa hề phạm tội, trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá; Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại, chịu nạn mà không hề ngăm dọa, nhưng cứ phó mình cho Đấng xử đoán công bình; Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ…” (I Phi-e-rơ 2:22-23), “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời” (IICôr 5:21).

IV. NGƯỜI ĐẦY TỚ BỊ HÀ HIẾP NGƯỢC ĐÃI (53:7-9).

Người Đầy Tớ được hình dung như một chiên con, hơn nữa, như một chiên con câm trước mặt kẻ hớt lông và cuối cùng bị dắt đến lò thịt. Công lý bị chà đạp, sự xử đoán bị lệch lạc một cách không ai ngờ, nên sự sống của Người bị cất đi.

Tất cả điều đó đều do tội lỗi của con người. Họ liệt Người vào hàng kẻ ác, song khi chết, Người được chôn với kẻ giàu, vì Người vốn hoàn toàn vô tội.

Thế mà Người đưa tay cho họ trói, dẫn đến tòa công luận. Tại đó có nhiều người vu khống, song Người cứ làm thinh đến nỗi Phi-lát lấy làm lạ lắm. Chắc trong đời ông, chưa có người nào như người nầy (Ma-thi-ơ 27:12-14; Giăng 19:9-10). Trước mặt Hê-rốt cũng vậy, Chúa Jêsus không trả lời gì hết (Lu-ca 23:9).

Đã ba lần, Phi-lát với tứ cách tổng đốc, tuyên bố Chúa Jêsus vô tội (Giăng 18:36; 19:4,6), song ông lại ra lệnh cho quân lính đánh đòn Ngài, rồi đóng đinh Ngài (Giăng 19:1,16). Ông là người chà đạp công lý, nên dầu có rửa tay cũng không sạch được (Công vụ 4:27). Vì thế, hai môn đồ làng Em-ma-út rất ngạc nhiên nói với nhau: “Làm sao mà các thầy tế lễ cả cùng các quan đề hình ta đã nộp Ngài để xử tử và đã đóng đinh trên cây thập tự” (Lu-ca 24:20).

Dầu biết Ngài hoàn toàn vô tội, song chính quyền và giáo quyền Do thái xúi giục dân chúng nài ép Phi-lát phải giết Ngài (Giăng 18:40; 19:6,12,15).

Để bêu xấu Chúa Jêsus, họ đóng đinh Ngài giữa hai tên trộm cướp (Lu-ca 23:32-33). Nhưng thi hài của Ngài được an táng trong nơi thạch mộ, theo tư cách của một người giàu (Ma-thi-ơ 27:57-60; Giăng 19:38-40).

V. NGƯỜI ĐẦY TỚ LÀM TRÒN Ý ĐỊNH CỦA ĐỨC GIÊ-HÔ-VA (53:10-12).

Đây không phải là việc ngẫu nhiên, song đúng như ý định của Đức Chúa Trời. Đây không phải vì yếu đuối mà thất bại, song vì mạnh mẽ mà thành công, đắc thắng. Sự hi sinh của Người Đầy Tớ công nghĩa sanh ra một hậu duệ công nghĩa nên Người vô cùng toại nguyện.

Chúa Jêsus là Chiên Con của Đức Chúa Trời đã được dự bị từ buổi sáng thế để cất tội lỗi của thế gian (Giăng 1:29). Ngài là Đấng yêu chúng ta và đã phó chính mình Ngài cho chúng ta (Ga-la-ti 2:20; Khải huyền 1:6). Trước khi tắt hơi trên thập tự giá, Chúa đã long trọng tuyên bố: “MỌI SỰ ĐÃ ĐƯỢC TRỌN” (Giăng 19:30).

Chúng ta đáng hát luôn bài: “Vì tôi, vì tôi, Jêsus vì tôi huyết hồng trôi, Jêsus chết, huyết báu xóa hết tội. Vì tôi, Chúa khổ đau, vì tôi, vì tôi” (TC. 191).

CÂU HỎI

1. Phao-lô đã giải thích Người đầy tớ cao trọng tuyệt vời nầy là ai?

2. Tại sao chúng ta biết rằng Người đầy tớ bị khinh dể và chối bỏ là Chúa Jêsus?

3. Người đầy tớ chịu khổ vì ai? Ai giải thích điều nầy cho chúng ta?

4. Hãy trưng dẫn bằng cớ về Người Đầy Tớ bị hà hiếp ngược đãi là Chúa Jêsus?

5. Có phải Chúa Jêsus bị giết là vì Ngài yếu đuối không? Tại sao?

6. Trên thập tự giá, Chúa tuyên bố “Mọi sự đã được trọn” có nghĩa gì?

7. Chúa chịu khổ, chịu chết vì ai? Xin trưng dẫn Kinh Thánh?

BÀI 32. TÌM ĐƯỢC QUYỂN LUẬT PHÁP ĐÃ MẤT

KINH THÁNH: II Sử ký 34:14-33.

CÂU GỐC: “Vì hễ ai tìm được ta, thì gặp sự sống, và sẽ được ơn của Đức Giê-hô-va” (Châm ngôn 8:35).

MỤC ĐÍCH: Phải tím kiếm Lời Chúa hằng ngày để làm theo.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Giô-si-a sửa sang đền thờ

(IICác 22:1-7).

TH:

Tìm được quyển luật pháp

(IICác 22:8-10).

TB:

Cầu vấn Đức Giê-hô-va

(IICác 22:11-14; II Sử 34:21).

TT:

Hết lòng làm theo Lời Chúa

(II Sử ký 34:29-31).

TN:

Đức Giê-hô-va nghe lời cầu nguyện

(IICác 22:15-20).

TS:

Phá hủy sự thờ hình tượng

(IICác 23:1-8).

TB:

Lời Chúa là sự sống

(Thi thiên 119:11,105,103).

Người ta thường tiếc khi bị mất nhiều vật quí như vàng, bạc, ngọc, kim cương. Song dân Y-sơ-ra-ên mất quyển luật pháp của Chúa ban còn đáng tiếc hơn biết bao! Trong thời đó, các vật kể trên dễ tìm hơn là quyển luật pháp, vì nó chỉ có một, được chép bằng tay trên giấy da rồi cuốn lại.

I. QUYỂN LUẬT PHÁP ĐÃ MẤT.

Quyển luật pháp mà ngày nay chúng ta gọi chung là quyển Kinh Thánh, thì dân Y-sơ-ra-ên được Chúa dặn dò: “Quyển sách luật pháp nầy chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong, vì như vậy, ngươi mới được may mắn trong con đường mình, và mới được phước” (Giô-suê 1:8).

Đối với quyển luật pháp của Chúa, miệng chúng ta không được phép xa mà phải gần. Miệng phải đọc, lòng phải suy gẫm ngày và đêm, tay chân phải làm theo mọi điều đã chép ở trong đó. Có như vậy, chúng ta mới được thạnh vượng và thành công trong con đường mình. Thế mà quyển luật pháp đã bị mất từ lúc nào không biết, cũng như dân Y-sơ-ra-ên đã quên Chúa từ những ngày không tính ra được (Giê-rê-mi 2:32).

Riêng các vua, Chúa cũng đã dặn dò: “Vừa khi tức vị, vua phải chiếu theo luật pháp nầy mà những thầy tế lễ về dòng Lê-vi giữ, chép một bổn cho mình. Bổn ấy phải ở bên vua trọn đời, vua phải đọc ở trong, để tập biết kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, cẩn thận làm theo các lời của luật pháp nầy, và hết thảy điều răn nầy” (Phục truyền 17:18-19).

Nhưng trải qua nhiều triều đại, từ Rô-bô-am đến Giô-si-a là hơn 300 năm, cả vua lẫn dân không có luật pháp Của Chúa trong tay. Họ giống như những người đi đêm không có đèn, ai nấy quờ quạng trong bóng tối (Thi thiên 119:10). Đúng là kẻ mù dẫn đưa kẻ mù, cả hai cùng té xuống hố (Ma-thi-ơ 15:14; Lu-ca 6:39).

Ngày nay chúng ta chưa bị mất Kinh Thánh, nhưng Kinh Thánh đã mất ý nghĩa và uy quyền đối với chúng ta. Về ý nghĩa, chúng ta bẻ cong, xuyên tạc để Kinh Thánh hiệp ý với mình, mà không buộc mình hiệp ý với Kinh Thánh. Về uy quyền, chúng ta không còn tuyệt đối tin cậy, phục tùng Kinh Thánh, nhưng nương tựa sự khôn khéo, uyển chuyển của mình. Chúng ta muốn nói Kinh Thánh là lỗi thời, thiếu sót, không còn tương xứng với hoàn cảnh mới như hiện nay, đến nỗi vô hiệu hóa tuyên ngôn Chúa Jêsus: “Hết thảy quyền phép trên trời, dưới đất đã giao cho Ta”. Đồng thời chúng ta cũng không còn tin cậy và phục tùng mạng lịnh của Ngài mà đem Tin Lành cho muôn dân, làm Báp-têm cho họ và dạy họ giữ mọi điều Chúa truyền… cho đến tận thế (Ma-thi-ơ 28:18-20).

Dầu Kinh Thánh còn trong tay chúng ta, nhưng nó đã mất ý nghĩa và uy quyền đối với chúng ta.

II. QUYỂN LUẬT PHÁP ĐƯỢC TÌM LẠI.

Khi Giô-si-a nhớ đến Chúa, tìm kiếm Ngài, người bắt đầu cho dọn sạch mọi thứ hình tượng trong xứ và trong đền thờ, rồi sửa sang lại. Nhờ đó người ta tìm thấy quyển luật pháp Chúa đã truyền cho Môi-se. Chắc nó đã nằm dưới lớp bụi bặm và đồ vật ngổn ngang từ lâu lắm rồi. Dầu vậy, giá trị tinh thần và uy quyền của luật pháp vẫn y nguyên, “Vì, mọi xác thịt ví như cỏ, mọi sự vinh hiển của nó ví như hoa cỏ, cỏ khô, hoa rụng, nhưng Lời Chúa còn lại đời đời…” (I Phi-e-rơ 1:24-25).

Thầy tế lễ Hinh-kia nói với Sa-phan, là thư ký của vua: “… Ta có tìm được cuốn sách luật pháp ở trong đền của Đức Giê-hô-va…”. Rồi Hinh-kia giao sách ấy cho Sa-phan, Sa-phan đem sách ấy cho vua (II Sử ký 34:14-15).

Quyển sách của Chúa không ở xa mọi người, nó ở trong đền thờ và đền thờ ở giữa mọi người. Song mấy trăm năm, dường như nó ở xa quá, đến nỗi ai nấy không hề thấy và nghe, vì đã không hề có ai bước vào đền thờ để tìm kiếm Chúa, tôn vinh Ngài.

Vua và dân Y-sơ-ra-ên thường vào đền thờ để thờ lạy hình tượng, bởi họ đã biến đền thờ của Chúa trở nên nơi thờ tà thần. Khi có biến cố nguy nan, họ chạy đến Ê-díp-tô để cầu viện, họ quì trước hình tượng để kêu xin. Họ nào có biết Chúa dạy gì đâu.

Kinh Thánh làm cho chúng ta xa tội lỗi, song tội lỗi làm cho chúng ta xa Kinh Thánh.

Chúng ta có Kinh Thánh trong nhà, song có lẽ Kinh Thánh đang nằm trong lớp bụi bặm và đồ dạc ngổn ngang, không ai để ý tới. Kinh Thánh ở xa mọi người trong nhà, nên khi có việc bất trắc xảy ra, chúng ta hốt hoảng như gà mất mẹ, rồi có người còn bói quẻ, xin xăm hoặc cầu hồn như Sau-lơ thay vì cầu khẩn Chúa.

Vậy chúng ta hãy như Giô-si-a, dẹp sạch mọi thứ hình tượng khỏi nhà, khỏi lòng và quay về với Chúa, tin cậy và vâng lời Ngài. Vì: “Giềng mối của Đức Giê-hô-va là ngay thẳng, làm cho lòng vui mừng; điều răn của Đức Giê-hô-va trong sạch, làm cho mắt sáng sủa. Các điều ấy quí hơn vàng, thật báu hơn vàng ròng, lại ngọt hơn mật, hơn nước ngọt của tàng ong” (Thi thiên 19:8,10).

III. QUYỂN LUẬT PHÁP ĐƯỢC ÁP DỤNG (34:19-33).

Bấy giờ thư ký Sa-phan đọc quyển luật pháp cho vua nghe.

1. Vua liền xé áo mình (15).

Xé áo là để bày tỏ nỗi lòng, vì từ tổ phụ của vua cho đến ngày đó đã không giữ lời phán của Chúa, không làm theo luật pháp Ngài, nên cơn thạnh nộ lớn lao của Chúa đã giáng trên cả nước.

2. Vua khóc lóc và bày tỏ lòng ăn năn trước mặt Chúa (27).

Vua cảm xúc về cơn thạnh nộ quá lớn lao của Chúa được chép trong quyển luật pháp (Phục truyền 28-30). Đức Chúa Trời chí thánh không chịu được tội lỗi nên phải trừng phạt kẻ phạm pháp.

3. Vua cầu khẩn Chúa (21-28).

Vua sai người đại diện đến với nữ tiên tri Hunđa để biết ý Chúa thể nào đối với dân Ngài. Vua tỏ lòng kính sợ Chúa, hết lòng nhờ cậy Chúa, mong được Ngài tha thứ. Nữ tiên tri cho biết, vì lòng vua ăn năn đau đớn, hạ mình đến trước mặt Ngài, nên Chúa gia hạn cho ông được bình an, không thấy tai hại xảy ra trong đời mình (II Sử ký 36:17-21).

4. Vua và dân lập giao ước với Chúa (29-33).

Vua triệu tập các trưởng lão, thầy tế lễ, người Lê-vi và dân trong nước lên đền thờ của Chúa tại Giê-ru-sa-lem. Vua đọc cho họ nghe mọi Lời của Chúa trong quyển luật pháp vừa tìm được, rồi vua lập giao ước với Chúa, hứa nguyện theo Ngài, hết lòng, hết ý giữ gìn điều răn, chứng cớ và luật pháp của Chúa. Toàn dân Y-sơ-ra-ên đếu đồng ý về giao ước đó. “Trọn đời Giô-si-a, chúng hằng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, chẳng lìa bỏ Ngài”.

Chúng ta có thái độ nào khi đọc, khi nghe Lời Chúa? Phải đau đớn như tan lòng nát dạ về tội lỗi mình, khóc lóc xin Chúa tha thứ, lập giao ước không dám phạm tội với Ngài nữa, mà quyết tâm theo Ngài. Xin Chúa mở mắt chúng ta để ai nấy thấy sự lạ lùng trong luật pháp của Ngài. “Luật pháp của miệng Chúa phán là quí cho chúng ta hơn hàng ngàn đồng vàng và bạc”.

CÂU HỎI

1. Quyển luật pháp của dân Y-sơ-ra-ên đã bị mất từ bao lâu?

2. Quyển luật pháp bị mất ở đâu?

3. Trong lúc đó dân Y-sơ-ra-ên sống thế nào?

4. Cơ hội nào dân Y-sơ-ra-ên tìm lại quyển luật pháp?

5. Trong trường hợp nào chúng ta bị mất Kinh Thánh?

6. Khi nghe đọc luật pháp, vua Giô-si-a có thái độ nào?

7. Trong đời trị vì của Giô-si-a, dân Y-sơ-ra-ên ăn ở thế nào?

8. Chúng ta phải đối với Lời Chúa thế nào?

BÀI 33. GIÊ-RÊ-MI ĐƯỢC GỌI LÀM TIÊN TRI

KINH THÁNH: Giê-rê-mi 1:1-12.

CÂU GỐC: “Vậy, ngươi hãy thắt lưng, chờ dậy, bảo cho chúng nó mọi sự mà Ta truyền cho ngươi. Đừng sợ sệt vì cớ chúng nó, kẻo Ta làm cho ngươi sợ sệt trước mặt chúng nó chăng” (Giê-rê-mi 1:17).

MỤC ĐÍCH: Mạng lịnh mà Chúa đã truyền cho chúng ta là phải giảng Tin Lành cho đến tận thế.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Thời điểm lời Chúa phán với Giê-rê-mi

(Giê-rê-mi 1:1-3).

TH:

Chúa gọi Giê-rê-mi

(Giê-rê-mi 1:4-9).

TB:

Chúa hứa làm thành mọi việc

(Giê 1:10-12).

TT:

Sứ giả ra đi

(Giê-rê-mi 2:1-22).

TN:

Kêu gọi mọi người ăn năn

(Giê-rê-mi 2:22-27).

TS:

Lời hứa cho kẻ nghe theo

(Giê-rê-mi 7:1-9).

TB:

Lời cảnh cáo

(Giê-rê-mi 19:14-15; 20:1-6).

Không có chức vụ nào cao trọng bằng chức vụ tiên tri, song không có chức vụ nào bạc bẽo bằng chức vụ tiên tri, vì không có tiên tri nào không bị bắt bớ (Công vụ 7:52; Ma-thi-ơ 5:12), ngoại trừ tiên tri giả. Không ai biết đúng giá trị của một tiên tri khi ông còn sống, nhưng về sau lâu lắm người ta mới biết, nhất là khi lên thiên đàng. Vì vậy, không ai dám nghĩ mình có đủ khả năng, tư cách thi hành chức vụ tiên tri, song người hết lòng yêu mến Chúa thì không ước ao gì hơn là được làm tiên tri của Ngài.

I. TÌNH HÌNH GIU-ĐA KHI GIÊ-RÊ-MI ĐƯỢC GỌI LÀM TIÊN TRI (1-3).

Giê-rê-mi được Chúa gọi và thi hành chức vụ tiên tri trong khoảng 40 năm, dưới triều các vua Giô-si-a, Giê-hô-gia-kim và Sê-đê-kia. Đó là thời kỳ suy sụp, đổ nát và tan rã của vương quốc Giu-đa. Chính ông phải chứng kiến nỗi thống khổ triền miên của quê hương mến yêu bị kiệt quệ lần hồi cho đến khi hoàn toàn biến mất. Vì vậy, ông đã than: “Ôi! Tôi đau lòng, đau lòng! Cơn đau đớn quặn thắt lòng tôi, lòng đương bối rối trong tôi… Mùa gặt đã qua, mùa hạ đã hết, mà chúng ta chưa được cứu rỗi! Con gái dân ta bị thương, ta vì đó bị thương; ta đương sầu thảm; bị sự kinh hãi bắt lấy. Trong Ga-la-át há chẳng có nhũ hương sao? Há chẳng có thầy thuốc ở đó sao? Vậy thì làm sao mà bệnh con gái dân ta chẳng chữa lành? Ôi! Ước gì đầu tôi là suối nước, mắt tôi là nguồn lụy! Hầu cho tôi vì những kẻ bị giết của con gái dân ta mà khóc suốt ngày đêm” (Giê-rê-mi 4:19; 8:20-22; 9:1).

Cuối cùng, khi dân Giu-đa bị bắt qua Ba-by-lôn làm phu tù, xứ sở bị hoang vu, ông khóc bằng một bài ca thương, nên ông được mệnh danh là: “tiên tri khóc lóc”.

Tại sao? – Vua Ê-xê-chia đã đưa dân Giu-đa quay về với Chúa, lóe lên ánh vinh quang của Ngài. Song khi Ê-xê-chia qua đời, con là Manese bại hoại cực điểm, đến nỗi lập sự thờ phượng hình tượng ngay trong đền thờ Đức Chúa Trời. Ông bắt chước các dân tộc xung quanh, xui dân Giu-đa phạm tội nặng cùng Chúa, ông làm đổ huyết vô tội rất nhiều, “Đến nỗi Giê-ru-sa-lem bị ngập từ đầu nầy đến đầu kia” (IICác 21:16).

Khi Manese qua đời, con là Amôn kế vị cũng làm như vậy. Giô-si-a nối ngôi cha là Amôn, lập lại cuộc thờ phượng Đức Chúa Trời, hủy bỏ hết hình tượng khỏi đền thờ, khỏi xứ sở, song nó giống như một chiếc đèn dầu lóe lên lần cuối cùng rồi tắt hẳn. Đó là tình hình xã hội Giu-đa mà tiên tri Giê-rê-mi lớn lên và được kêu gọi làm tiên tri.

Chúng ta thường than thân trách phận đã không may mắn sanh ra trong thời chiến tranh loạn lạc. Kỳ thật, đâu có phải riêng chúng ta mà Giê-rê-mi cũng vậy. Song vô luận thời nào, Chúa vẫn cầm quyền tể trị để thực hiện chương trình của Ngài. Vì vậy, Chúa cần chúng ta ngày nay như cần Giê-rê-mi ngày xưa. Hãy lắng nghe tiếng gọi của Chúa.

II. GIÊ-RÊ-MI ĐƯỢC GỌI LÀM TIÊN TRI CHO CÁC NƯỚC (4-12).

1. Chúa phán với Giê-rê-mi (4-5).

Chúa toàn tri và toàn năng đã biết trước khi Ngài tạo nên ông trong lòng mẹ ông, trước khi ông được sanh ra, Ngài biệt riêng ông để làm tiên tri cho các nước. Chúa có một chương trình rất rõ rệt cho đời sống ông. Làm tiên tri đã là một việc lớn lao, lại làm tiên tri cho các nước còn lớn biết chừng nào!

Chúa đã chuẩn bị Giê-rê-mi và bây giờ Ngài đặt tay xức dầu phong chức cho ông để sai đi. Giê-rê-mi không run sợ, không thối lui và chạy trốn, mà ông cứ đứng vững vàng.

2. Giê-rê-mi thưa với Chúa (6).

“Tôi chẳng biết nói chi, vì tôi là con trẻ”. Chúng ta nhân danh Chúa nói với một dân bại hoại đã là khó, lại nhân danh Chúa nói với một thế giới bại hoại còn khó hơn biết bao! Đứng trước chức vụ quan trọng như vậy, Giê-rê-mi thấy mình chỉ là con trẻ, tức chưa hiểu biết đủ, chưa kinh nghiệm đủ, nên không có tư cách và khả năng thi hành chức vụ.

3. Chúa phán với Giê-rê-mi lần thứ hai (7-12).

Chúa bảo ông đừng sợ nơi nào Ngài sai đi, lời nào Ngài bảo nói, cũng đừng sợ dân nào, nước nào vì Chúa ở với ông, giải cứu ông.

Để bảo đảm cho việc ấy, Chúa giơ tay rờ miệng ông, xức dầu cho miệng ông để ông tự do nói ra Lời Ngài. Chúa phán: “Nầy, Ta đã đặt những lời Ta trong miệng ngươi”. Lời của Chúa có quyền trên các dân, các nước để phá hủy những gì không thuộc về Chúa và xây dựng những gì thuộc về Ngài. Rồi Chúa hỏi Giê-rê-mi thấy gì? Ông thưa: “Cây hạnh” (cây tỉnh thức). Chúa phán: “Ngươi thấy phải đó, Ta sẽ tỉnh thức, giữ lời phán Ta để làm trọn”.

Trải qua các đời, hễ khi nào Chúa kêu gọi ai làm tiên tri của Ngài, đặt tay sai họ đi, thì Ngài luôn luôn ở với để bảo vệ và giải cứu họ. Tiên tri của Chúa không được phép tự ý nói điều gì, mà phải nói Lời Chúa đặt vào miệng mình. Chỉ Lời Chúa mới có hiệu lực để phá hủy hoặc xây dựng, để bắt tội hoặc tha tội, để quở trách hoặc an ủi, để làm cho chết hoặc cho sống. Lời Chúa như lửa, như búa, như nước, như gươm, như mưa và tuyết. Nếu biết như vậy, tiên tri của Chúa không sợ mà nói Lời của Ngài cho mọi người.

Môi-se đã ước ao tất cả dân sự của Chúa đều là tiên tri (Dân số ký 11:29). Trong ngày lễ Ngũ Tuần, hết thảy 120 người tại phòng cao đều được đầy dẫy Thánh Linh. Phi-e-rơ cho biết việc đó ứng nghiệm dự ngôn của tiên tri Giô-ên: “Con trai và con gái các ngươi đều sẽ nói lời tiên tri”. Rồi nhấn mạnh: “Chúng nó đều nói lời tiên tri”. (Công vụ 2:16-21). Thế thì ước ao của Môi-se đã được thành. Kể từ đó, tất cả chúng ta đều là tiên tri của Chúa.

Tiên tri không phải luôn luôn nói việc tương lai, song cũng nhắc lại việc quá khứ để cảnh cáo, khuyên lơn người đồng thời ăn năn. Trong Tân Ước, hễ ai đem Lời Chúa chia sẻ cho người khác là tiên tri. “… Cũng hãy ước ao các sự ban cho thiêng liêng, nhứt là sự ban cho nói tiên tri… Bởi vì anh em cứ lần lượt mà nói tiên tri được cả, để ai nấy đều được dạy bảo, ai nấy đều được khuyên lơn” (ICôr 14:1,31). Vậy hết thảy chúng ta hãy sốt sắng đem Lời Chúa cho mọi người để đồng bào được cứu rỗi, Hội Thánh được gây dựng.

III. GIÊ-RÊ-MI THI HÀNH CHỨC VỤ TIÊN TRI.

1. Ông nói tiên tri về nước Giu-đa (2-45).

a. Nài nỉ họ ăn năn.

Ông tóm tắt hoạt động của họ bằng một thí dụ: “Dân Ta đã làm hai điều ác: Chúng nó đã lìa bỏ Ta là nguồn nước sống mà tự đào lấy hồ, thật hồ nứt ra không chứa nước được” (2:13). Đấng giải phóng họ khỏi vòng nô lệ, đem họ vào nhận sản nghiệp phì nhiêu, mà họ lìa bỏ Ngài, thì chẳng khác nào từ bỏ nguồn nước sống. Họ chạy xuống Ê-díp-tô, chạy qua A-si-ri để nhờ thế lực của hai cường quốc đó, chẳng khác nào đào cho mình những hồ, và hồ nứt hết. Vì Chúa ruồng bỏ những kẻ họ trông cậy (2:37).

Chúa phán: “Tội ác ngươi sẽ sửa phạt ngươi, sự bội nghịch ngươi sẽ trách ngươi, nên ngươi khá biết và thấy rằng lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và chẳng có lòng kính sợ ta, ấy là một sự xấu xa cay đắng…” (2:19).

b. Ông cảnh cáo họ.

Giê-rê-mi tóm tắt hậu quả của dân Giu-đa khi họ không ăn năn tội, bằng một câu: “Nó sẽ bị gọi là bạc bỏ, vì Đức Giê-hô-va từ bỏ nó” (6:30). Họ giống như cáu cặn của bạc là vật vô dụng, nên bị Chúa loại bỏ. Chúa khinh họ, vì họ không xứng đáng với tình yêu của Ngài, như tình yêu của chồng đối với vợ. Họ như người vợ hữu thủy vô chung, bạc tình phản bội. Lòng của họ không có tình yêu nên họ thay đổi mỗi khi gặp sự thay đổi! Vì thế, “Người yêu ngươi cũng khinh ngươi, mà đòi sự sống của ngươi” (4:30). Họ lìa bỏ Chúa, và họ bị Chúa loại bỏ, nên hậu quả thật thê thảm (39-51).

2. Ông nói tiên tri về các nước (46-51).

Chúa ban lời tiên tri cho Giê-rê-mi để nói về các nước Ê-díp-tô, Phi-li-tin, Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm, Đa-mách, A-ra-bi, Phe-rơ-sơ và Ba-by-lôn.

Chức vụ của Giê-rê-mi dường như không kết quả giữa dân Giu-đa thời bấy giờ, song nếp sống và lời giảng của ông còn được ghi lại, và trải qua các đời là bài học vô giá cho nhân loại.

CÂU HỎI

1. Tình hình xã hội Giu-đa bấy giờ ra sao?

2. Giê-rê-mi có thái độ nào trước tình hình ấy?

3. Chúa phán gì với Giê-rê-mi?

4. Ông thưa gì với Chúa?

5. Chúa phán gì thêm với ông?

6. Lời Chúa được ví sánh với những gì?

7. Tại sao chúng ta đều được gọi là tiên tri?

8. Khi thi hành chức vụ, Giê-rê-mi đã nói gì?

9. Dầu dân Giu-đa không ăn năn, chức vụ Giê-rê-mi có giá trị như thế nào?

BÀI 34. SÁCH TIÊN TRI CỦA GIÊ-RÊ-MI

KINH THÁNH: Giê-rê-mi 36:1-32.

CÂU GỐC: “Cỏ khô, hoa rụng, nhưng lời của Đức Chúa Trời chúng ta còn mãi đời đời” (Ê-sai 40:8).

MỤC ĐÍCH: Chúng ta phải tôn trọng và tin cậy Kinh Thánh, vì là Lời của Chúa là Lời còn lại đời đời.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Lời của Chúa đến với Giê-rê-mi

(Giê-rê-mi 36:1).

TH:

Ăn năn để được tha thứ

(Giê-rê-mi 36:2-5).

TB:

Hãy đọc Lời Chúa

(Giê-rê-mi 36:6-8).

TT:

Lời Chúa được giảng ra

(Giê-rê-mi 36:9-13).

TN:

Tội nhân nghe Lời Chúa thì sợ hãi

(Giê-rê-mi 36:14-19).

TS:

Kẻ khinh bỉ Lời Chúa sẽ bị phạt

(Giê-rê-mi 36:29-26).

TB:

Lời Chúa vẫn còn nguyên

(Giê-rê-mi 36:27-32).

Chúng ta có nền tảng duy nhất và vững bền của đức tin là Lời Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus là Ngôi Lời thành xác thịt, Kinh Thánh là Lời thành văn. Chúa Jêsus phán: “Đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm, một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn… Trời đất sẽ qua, nhưng Lời Ta nói chẳng bao giờ qua đi” (Ma-thi-ơ 5:18; 24:35).

Kinh Thánh phán: “Vì Lời của Đức Chúa Trời là Lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng” (Hê-bơ-rơ 4:12).

Bởi vậy ma quỉ sợ Lời của Chúa lắm, nên cố tìm mọi cách để phá hủy, mà một trong những cách đó là đốt đi. Nó đã xui giục vua Giê-hô-gia-kim đốt sách tiên tri của Giê-rê-mi.

I. SÁCH TIÊN TRI ĐƯỢC VIẾT RA VÀ ĐỌC LÊN (1-13).

Giê-rê-mi đã bắt đầu thi hành chức vụ từ đời vua Giô-si-a, và bây giờ là đến đời vua Giê-hô-gia-kim. Trong khoảng thời gian nầy, ông giảng bằng miệng và chưa viết thành sách. Vì thế, Chúa bảo ông: “Hãy lấy một cuốn sách chép vào đó mọi Lời Ta đã phán cùng ngươi…” Mọi lời dân Giu-đa đã nghe, họ có thể quên mất, nhưng nếu viết thành sách, họ đọc đi đọc lại, nghe lại nhiều lần, họ sẽ thấm nhuần, đưa họ đến sự ăn năn hầu được Chúa tha thứ.

Ôi! tình yêu của Chúa diệu kỳ làm sao! Dân Giu-đa lìa bỏ Ngài, song Ngài cứ theo đuổi họ. Họ cố ý phản bội Ngài, song Ngài cố ý đem họ về và tha thứ. Chúa muốn làm ơn cho họ hơn là họ muốn được ơn Ngài.

Ngày nay, mọi người có thể có Kinh Thánh trong tay bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Họ nên nhận biết rằng đó là do tình yêu của Chúa, Ngài muốn chúng ta không những nghe mà còn đọc đi, đọc lại, suy gẫm Lời Chúa để làm theo hầu cho ai nấy đều được cứu rỗi và phước hạnh. Nếu chúng ta xao lãng Lời Chúa, Ngài sẽ đau buồn dường nào! Chúa chăm sóc nhu cầu thuộc linh cũng như thuộc thể của chúng ta.

Vâng lệnh Chúa, Giê-rê-mi ôn lại tất cả các bài giảng, sắp xếp theo thứ tự, rồi nói ra, nhờ thư ký Ba-rúc viết vào một cuốn sách. Sau khi đã viết xong, Giê-rê-mi bảo Ba-rúc đem sách lên đền thờ và đọc cho dân chúng nghe. Nhân có ngày kiêng ăn, dân chúng trong nước họp về Giê-ru-sa-lem đông đúc, Ba-rúc liền đọc sách tiên tri Giê-rê-mi cho mọi người nghe. Mi-chê là một trong những người nghe các lời ấy, thì chịu cảm động, liền đi đến các quan trưởng đang họp trong một phòng của cung vua và thuật cho họ nghe đại ý các lời Ba-rúc đã đọc: Mục đích của sự kiêng ăn là để suy gẫm, tự xét mình, tìm kiếm Chúa, khóc lóc buồn rầu về tội mình và kêu cầu Ngài tha thứ. Kiêng ăn là dọn lòng chờ đợi sự thăm viếng của Chúa. Nếu dân chúng đã kiêng ăn như vậy, chắc chắn khi nghe được lời của tiên tri Giê-rê-mi, họ cảm động sâu xa biết bao! Trái lại, dù hết thảy đều kiêng ăn, mà khi nghe lời Chúa, chỉ một mình Mi-chê cảm động. Đại đa số dân chúng chỉ theo nghi thức mà không thật lòng kiêng ăn.

Hiện nay mỗi Chúa nhật có hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn người họp trong các nhà thờ để nghe Lời Chúa. Song có bao nhiêu người cảm động như Mi-chê? Hay chỉ có một? Vậy, trước khi đi nhà thờ và khi đến nhà thờ ngồi xuống ghế, chúng ta thành kính nài xin Chúa cho mình nghe được sứ điệp của Ngài và chịu cảm động.

Chúa Jêsus nhấn mạnh: “Ai có tai mà nghe, hãy nghe” (Ma-thi-ơ 11:15; 13:9,43). Vì nhiều người có tai mà không nghe, hoặc nghe mà không hiểu, hoặc hiểu mà không chịu cảm động. Đó là tai chưa chịu cắt bì (Giê-rê-mi 6:10; Công vụ 7:51).

II. BA-RÚC ĐỌC SÁCH TIÊN TRI TRƯỚC CÁC QUAN TRƯỞNG (14-19).

Các quan trưởng cho mời Ba-rúc đến ngay và bảo: “Hãy ngồi và đọc cho chúng ta nghe”. Khi nghe mọi lời đó, họ sững sờ, hốt hoảng, nhìn nhau mà không biết nói gì, làm gì. Lời đó nhắc cho họ tình thương của Chúa, và lên án nặng nề sự bội bạc của họ, nếu họ không ăn năn sẽ bị Chúa sửa phạt. Họ sợ hãi về sự hình phạt của Chúa, mà không đau đớn về tội lỗi của họ, họ ghi nhận cơn thạnh nộ của Chúa, mà không ghi nhận sự nhân từ, thương xót của Ngài (Giê-rê-mi 2:2,23; 31:3). Vì vậy, họ đã không ăn năn, song muốn tâu lên vua, mặc dầu họ tiên đoán vua sẽ giận lắm.

Nếu họ ăn năn như dân thành Ni-ni-ve khi nghe Giô-na giảng, thì vua Giê-hô-gia-kim phải chăng sẽ ăn năn như vua thành Ni-ni-ve? (Giô-na 3:5-10). Chúng ta ăn năn mới đủ tư cách khuyên người khác ăn năn. Nếu Phi-e-rơ đã không ăn năn, thì làm sao khuyên 3.000 người ăn năn cho được?

III. SÁCH TIÊN TRI BỊ ĐỐT (20-26).

Khi các quan trưởng thuật lại cho Giê-hô-gia-kim nghe mọi việc, vua liền sai Giêhu đi lấy cuốn sách để đọc cho vua và quần thần nghe. Bấy giờ là mùa đông, trước mặt vua có một lò sưởi đang cháy. Khi Giêhu vừa đọc được ba hay bốn trang, thì vua lấy cuốn sách khỏi tay Giêhu, dùng dao nhỏ cắt ra từng mảnh mà bỏ vào lửa. Có ba người trong số đó xin vua đừng đốt, song vua không khứng. Vua còn ra lệnh cho người đi bắt Giê-rê-mi và Ba-rúc. Song Chúa giấu hai đầy tớ của Ngài (Giê-rê-mi 15:20-21).

Có người đã nói về Giê-hô-gia-kim là: “Một vua ngu dại với con dao của ông”. Đừng đặt con dao vào tay một đứa trẻ hay một người ngu dại, vì họ sẽ làm hư vật quí giá và làm hại chính mình. Tuy nhiên, ngày nay có nhiều người còn muốn sử dụng con dao của Giê-hô-gia-kim. Họ đã từng cắt xén, thiêu hủy, đả phá Kinh Thánh, song Kinh Thánh mỗi ngày một nhiều hơn, vì nhiều người muốn đọc, muốn nghe.

Người ta có thể giết một tiên tri, song không thể giết chức vụ của tiên tri. Người ta có thể đốt hàng ngàn Kinh Thánh, song không thể diệt Lời của Đức Chúa Trời: “Vì Lời Chúa được vững lập đời đời trên trời… còn lại đời đời!”

IV. SÁCH TIÊN TRI ĐƯỢC VIẾT LẠI (27-32).

Chúa bảo Giê-rê-mi lấy một cuốn sách khác, nhờ Ba-rúc chép lại những lời đã chép trong quyển sách kia mà Giê-hô-gia-kim đã đốt. Vậy cuốn sách được chép lại, ngoài những lời giống cuốn sách trước, còn có những lời thêm vào tức là sự đoán phạt Giê-hô-gia-kim về tội đốt Lời Chúa. Giê-hô-gia-kim đốt sách tưởng đã hủy được bản án của mình, nhưng làm cho án của ông nặng hơn. Chúa phán về Giê-hô-gia-kim: “Chẳng có ai thuộc về nhà nó sẽ ngồi trên ngôi Đa-vít, thây nó sẽ bị dan nắng ban ngày và dan sương muối ban đêm”.

Đúng như lời Giê-rê-mi đã ghi là chẳng có ai khóc than khi Giê-hô-gia-kim chết, thậm chí còn tệ hơn con lừa, vì con lừa chết người ta còn chôn, song Giê-hô-gia-kim chết người ta quăng thây và kéo ra ngoài thành Giê-ru-sa-lem phơi nắng, phơi sương (Giê-rê-mi 22:18-19). Hậu quả đó không có gì là quá đáng đối với tội ác của Giê-hô-gia-kim.

Chúa Jêsus phán: “Nếu các ngươi chẳng ăn năn, thì hết thảy sẽ bị hư mất như vậy” (Lu-ca 13:3,5).

CÂU HỎI

1. Tại sao Chúa bảo Giê-rê-mi chép Lời của Ngài vào một quyển sách?

2. Sau khi chép xong, Giê-rê-mi nảo Ba-rúc làm gì?

3. Khi Ba-rúc đọc sách tiên tri, có mấy người chịu cảm động?

4. Khi được cảm động, Mi-chê làm gì?

5. Khi các quan trưởng nghe Lời Chúa, họ có thái độ nào?

6. Khi Giê-hô-gia-kim nghe Lời Chúa, ông có thái độ nào?

7. Chúa bảo Giê-rê-mi làm gì?

8. Hậu quả của việc Giê-hô-gia-kim đốt Lời Chúa là gì?

BÀI 35. TIÊN TRI GIÊ-RÊ-MI BỊ BẮT BỚ

KINH THÁNH: Giê-rê-mi 38:1-28.

CÂU GỐC: “Phước cho những kẻ bị bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!” (Ma-thi-ơ 5:10).

MỤC ĐÍCH: Chúa giữ gìn những kẻ tin cậy Ngài trong khi họ bị bắt bớ.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chịu khổ

(Ma-thi-ơ 5:10-11; 10:17-18,22).

TH:

Bị ghen ghét

(Giê 38:4; Giăng 15:19;17:14).

TB:

Bị bắt bớ

(Giê 38:6; Công vụ 4:3; 5:40).

TT:

Bị giết

(Công 12:1-3; 24:27).

TN:

Sự cầu thay

(Giê-rê-mi 38:9; Sáng 37:21, 26; 44:33).

TS:

Được giải cứu

(Giê 38:13; ICô 10:13; IITi-mô-thê 4:18).

TB:

Tin cậy Chúa

(Giê-rê-mi 20:11-13; Mác 10:21).

Khi quân Ba-by-lôn vây thành Giê-ru-sa-lem thì Sê-đê-kia là vua Giu-đa. Vua cầu viện Ê-díp-tô kéo quân đến đe dọa xứ Ba-by-lôn. Quân Ba-by-lôn phải mở vòng vây thành Giê-ru-sa-lem để trở về bảo vệ quê hương của họ. Giê-rê-mi biết rằng quân Ba-by-lôn chỉ tạm hoãn việc bao vây thành Giê-ru-sa-lem, và họ sẽ trở lại bao vây cho đến khi triệt hạ nó (37:1-10). Bấy giờ Giê-rê-mi nghĩ là dân Giu-đa đã đến bước đường cùng, chức vụ của ông tới đây là hết. Sau gần 40 năm lao tâm, lao lực, khổ trí, khổ xác, nước mắt, mồ hôi, ông đã mệt mỏi, chán chường, nên không ích gì cứ ở lại Giê-ru-sa-lem, thà về vườn để an hưởng tuổi già là hơn.

Nghĩ sao làm vậy, ông trở về đất Bên-gia-min. Nhưng khi vừa đến nơi, người lính canh túm lấy Giê-rê-mi và nói: “Ngươi là kẻ đầu hàng người Canh-đê”. Giải thích gì cũng không được nên ông bị giải đến các quan trưởng. Không cần hạch hỏi, họ nổi giận đánh đập Giê-rê-mi, bỏ ông vào xà lim và ông phải ở đó lâu ngày. Khi Sê-đê-kia đem ông ra khỏi ngục, ông xin vua đừng đưa ông về đó, kẻo ông sẽ chết (37:11-22), nên vua quản thúc ông tại hành lang lính canh.

Chúng ta cảm thông với tiên tri, song phải nhận rằng ông đã lạc đường trong một phút tính sai. Chức vụ ông chưa hết, trách nhiệm ông vẫn còn, nên những ngày tại Bên-gia-min, ông không được nghỉ ngơi mà còn khổ sở hơn nữa.

I. GIÊ-RÊ-MI BỊ TỐ CÁO LÀ PHẢN QUỐC (1-4).

Khi ở tại hành lang, các quan trưởng là những người đã từng nghe Giê-rê-mi giảng, tố cáo ông là phản quốc vì ông đã kêu gọi mọi người đầu hàng quân Ba-by-lôn. Họ xin vua xử tử ông. Bấy giờ quân Ba-by-lôn đã trở lại bao vây Giê-ru-sa-lem. Quả thật Giê-rê-mi đã giảng như vậy, vì đó là mạng lịnh của Chúa, ông không có phép nói khác được. Tôi tớ trung thành của Chúa phải nói thật để cứu vãn tình trạng nguy vong của xứ sở, của dân tộc, nhưng vì lòng vô tín của mọi người, người dám nói thật chỉ chuốc họa vào thân, còn các tiên tri giả nịnh bợ thì được hưởng lộc. Vậy, muốn phục vụ Chúa và mọi người, chúng ta phải sẵn sàng trả giá là bị hiểu lầm, bị vu oan, bị khinh bỉ như rác rến của thế gian, như cặn bả của mọi vật.

II. GIÊ-RÊ-MI BỊ QUĂNG XUỐNG HỐ (5-6).

Sê-đê-kia tin Giê-rê-mi là một tiên tri, nên vua cho mời Giê-rê-mi đến để biết số phận của dân, của nước. Giê-rê-mi nói thật, nói hết. Sau đó Giê-rê-mi hỏi lại Sê-đê-kia: “Tôi có phạm tội gì nghịch cùng vua, bầy tôi của vua, và dân nầy mà bỏ tù tôi?” (37:18). Thế mà bấy giờ khi Giê-rê-mi bị các quan tố cáo và đòi xử tử ông thì Sê-đê-kia không có một lời bênh vực kẻ vô tội, lại buông lời tàn nhẫn: “Nầy nó đây, nó ở trong tay các ngươi, vì vua không nghịch cùng các ngươi được”.

Một ông vua không dùng chân lý để xét xử, không phân biệt phải trái, miễn sao cho được lòng thiên hạ để bảo vệ ngôi báu của mình bằng cách phó nạn nhân cho bọn đồ tể thì hành động đó không phải là hành động của vua, kể như ông đã mất ngôi từ đó.

Khi một anh em bị vu oan, bị hiểu lầm mà chúng ta là người có trách nhiệm lại không đủ can đảm lấy công tâm để bênh vực người vô tội là một việc ác, dầu có rửa tay như Phi-lát cũng không thể nào sạch được huyết của người đó. Ngoài ra, hiện nay còn nhiều người hiểu lầm là Chúa Jêsus yếu đuối, bất năng, nên bị kẻ thù sát hại, hoặc vu khống Ngài là tham quyền cố vị, nên bị án tử hình. Chúng ta là chứng nhân của Ngài không thể nào tàn nhẫn làm thinh để Ngài bị sỉ nhục.

Suốt dòng lịch sử Cơ Đốc Giáo, từ thời các sứ đồ, ai nấy đã sốt sắng binh vực Ngài, đem chính mạng sống mình để chứng minh rằng Ngài vì yêu nhân loại mà tình nguyện hi sinh chịu chết đền tội và sống lại. Chúng ta không thể nào làm như họ được.

Có lẽ các quan trưởng nghĩ rằng, nếu đem Giê-rê-mi ra ném đá, dân chúng sẽ xúc động mạnh, vì ai nấy biết Giê-rê-mi là một tiên tri. Ngoài ra, nếu giết ông ngay cũng chưa xứng đáng với tội dám nói của ông, nên họ giòng ông xuống hố sâu để ông chết mòn tại đó mà không hay biết gì cả. Ác tâm của con người thật kinh khiếp thay!

III. GIÊ-RÊ-MI ĐƯỢC ĐEM LÊN KHỎI HỐ (14-28).

Tình cờ, có người được Chúa dấy lên bênh vực và giải cứu Giê-rê-mi. Êbếtmêlết, một đầy tớ da đen trong cung vua, chưa hề được nhắc đến, bấy giờ xuất đầu lộ diện. Anh can đảm đến bên vua, tâu rằng: “Những người nầy đãi tiên tri Giê-rê-mi cách như vậy, vả lại quăng người xuống hố là ác lắm. Người sẽ chết đói tại đó, vì trong thành không có bánh nữa!” Anh bênh vực Giê-rê-mi là một tiên tri, một tiên tri vô tội, đồng thời lên án các quan trưởng làm điều đại ác. Thái độ quả quyết, lời nói chân thành của anh đã làm cho Sê-đê-kia cảm động, vua lập tức bảo Êbếtmêlết trục Giê-rê-mi lên khỏi hố.

Êbếtmêlết liền chỉ huy 30 người, đã khôn khéo kéo Giê-rê-mi lên khỏi hố một cách êm ái nhẹ nhàng. Thế là vị tiên tri thoát chết, được yên ủi biết bao nhiêu nhờ người bạn tốt không ngờ đó. Êbếtmêlết đã làm một việc có giá trị hơn nhiều “chén nước lạnh” cho tôi tớ Chúa, nên đã không mất phần thưởng của mình. Chúa phán rằng dầu thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị hạ, Êbếtmêlết sẽ không chung số phận với mọi người xung quanh mà được Ngài giải cứu (39:15-18).

Về phần Giê-rê-mi, ông là một tiên tri mà kẻ thù không thể giết. Họ đã đe dọa mạng sống của ông (11:21), họ đã chế nhạo ông cả ngày, tố cáo ông đủ điều (29:10). Bao nhiêu lần ông đối diện với sự chết như Đa-vít (I Sa-mu-ên 20:3), song Chúa đã giải cứu ông khỏi hết, vì Ngài đã hứa: “Nầy, ngày nay, Ta lập ngươi lên làm thành vững bền, làm cột bằng sắt, làm tường bằng đồng, nghịch cùng cả đất nầy, nghịch cùng các vua Giu-đa, các quan trưởng nó, các thầy tế lễ và dân trong đất. Họ sẽ đánh nhau với ngươi, nhưng không thắng ngươi…” (Giê-rê-mi 1:18-19), nên Giê-rê-mi tuyên bố: “Đức Giê-hô-va ở với tôi như một tay anh hùng đáng khiếp; nên những kẻ bắt bớ tôi sẽ vấp ngã, sẽ chẳng thắng hơn” (Giê-rê-mi 20:11).

IV. GIÊ-RÊ-MI TIẾP TỤC CHỨC VỤ (14-28).

Lại một lần nữa, vua Sê-đê-kia cho mời Giê-rê-mi đến mật đàm, vua biết Giê-rê-mi là tiên tri, song vì tội kiêu ngạo, vua không chịu tin rằng thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị triệt hạ, dân sự sẽ bị lưu đày như Giê-rê-mi nói, nên ông cứ hỏi đi, hỏi lại mãi, mong Giê-rê-mi nói khác hơn. Lần nầy vua bảo Giê-rê-mi chớ giấu diếm chi hết. Giê-rê-mi biết vua không tin nên tâu: “Nếu tôi tỏ cho vua điều ấy, vua há chẳng giết tôi sao? Còn nếu tôi khuyên vua, chắc vua chẳng nghe tôi”.

Giê-rê-mi chẳng chút sợ sệt khi phải nói thật, một sự thật mà người đối thoại không muốn nghe, lại có quyền làm hại mình, nên ông đã khôn khéo đề phòng. Vì muốn nghe sự thật, Sê-đê-kia thề sẽ không giết Giê-rê-mi và cũng không phó ông cho kẻ muốn giết ông.

Trước hoàn cảnh tuyệt vọng, Sê-đê-kia muốn tình hình được cải thiện, tin mừng sẽ đến với mình, song ông không chịu ăn năn. Nếu lòng ông không cải thiện thì tình hình cũng không bao giờ cải thiện.

Giê-rê-mi nói cho Sê-đê-kia biết trước mọi việc khốn nạn sẽ xảy ra không thể nào tránh được, và chỉ cho vua con đường bảo vệ mạng sống của vua và hoàng tộc, bảo vệ thành trì khỏi bị thiêu hủy… Nhưng Sê-đê-kia không dám vâng lời Chúa mà Giê-rê-mi đã nói, vì vua sợ bị thiên hạ chê cười.

Chúng ta biết cái khó của Sê-đê-kia. Ông đã tránh cái khó nhỏ, bây giờ gặp cái khó lớn. Nếu ông đã giải quyết cái khó, bây giờ không còn khó nữa. Hạ mình trước mặt Chúa dễ quá mà ông không làm, bây giờ hạ mình trước kẻ thù khó quá mà ông buộc phải làm. Đầu hàng Chúa dễ quá mà ông không làm, bây giờ đầu hàng kẻ thù khó quá mà ông buộc phải làm.

Ai hạ mình trước mặt Chúa, không cần hạ mình trước mặt người; ai đã đầu hàng Chúa, không cần đầu hàng người. Tiên tri Ê-li đã đứng trước mặt Chúa, nên ông dám đứng trước mặt A-háp để quở trách vị bạo quân ấy (ICác 17:1). Tiên tri Giê-rê-mi cũng vậy, dầu bị vào ngục tối, bị quăng xuống hố, rồi được vua Sê-đê-kia giải cứu, ông cũng không một lời tâng bốc vua, nhưng cứ ngay thẳng nói ra mạng lịnh của Chúa, không thêm, không bớt, không xuyên tạc, không lợi dụng. Vì “Phước cho những kẻ bị bắt bớ vì sự công bình”.

CÂU HỎI

1. Giê-rê-mi đã có lần đi khỏi ý Chúa. Việc đó là gì?

2. Tại sao Giê-rê-mi bị hiểu lầm là phản quốc?

3. Dầu biết Giê-rê-mi vô tội, tại sao Sê-đê-kia phó ông để bị quăng xuống hố?

4. Chúng ta phải làm gì khi một anh em bị hiểu lầm?

5. Ai đã bênh vực Giê-rê-mi và đem ông lên khỏi hố?

6. Êbếtmêlết được thưởng thế nào?

7. Tại sao kẻ thù không giết được Giê-rê-mi?

8. Giê-rê-mi đã tiếp tục chức vụ như thế nào?

9. Giê-rê-mi giống như ai? Giống ở chỗ nào?

BÀI 36. THÀNH GIÊ-RU-SA-LEM BỊ HẠ

KINH THÁNH: Giê-rê-mi 39:1-14, 40:1-6.

CÂU GỐC: “Vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta” (Rô-ma 6:23).

MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Lời Chúa là chắc chắn, sẽ ứng nghiệm từng li, từng tí.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Kẻ nhạo báng khinh bỉ Lời Chúa

(II Sử ký 36:11-21).

TH:

Phạm tội chắc phải chết

(IICác 25:1-30).

TB:

Cơn thạnh nộ giáng trên kẻ không ăn năn

(Giê-rê-mi 39:4-5).

TT:

Tiền công của tội lỗi là sự chết

(Giê 39:6-7; 52:21).

TN:

Sự giữ gìn của Chúa

(Giê-rê-mi 39:8-14).

TS:

Sự chiếm lấy và phá hủy GRSL (II Sử ký 36:18-19).

 

TB:

Lời than vãn của Giê-rê-mi

(Ca thương 1:1-11).

Trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, đây là một trong những ngày buồn thảm, hãi hùng và sỉ nhục nhất từ khi lập quốc. Trước đó họ không bao giờ nghĩ rằng sẽ có những ngày như vậy xảy ra cho mình. Thật là quá sức tưởng tượng của họ, song lại là một sự thật hiển nhiên.

Quân Ba-by-lôn đã bao vây Giê-ru-sa-lem suốt 18 tháng, song vua Sê-đê-kia nhất định không chịu đầu hàng như lời khuyên của Giê-rê-mi, vì ông tin lời của tiên tri giả Ha-na-nia rằng: “Trong hai năm trọn ta sẽ bẻ cái ách của Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn khỏi cổ nước người như vậy” (Giê-rê-mi 28:11). Cuối cùng thành Giê-ru-sa-lem bị hạ…

I. VUA SÊ-ĐÊ-KIA VÀ CÁC QUAN BỊ GIẾT (Giê-rê-mi 39:1-8).

Khi các tướng lãnh của Ba-by-lôn xông vào thành Giê-ru-sa-lem thì chiến sĩ của Giu-đa tan rã hàng ngũ, ai đi đường nấy, bỏ mặc vua và các quan ở lại. Sê-đê-kia và đoàn tùy tùng cũng chạy trốn, song quân Ba-by-lôn đuổi theo kịp, bắt họ đem về cho Nê-bu-cát-nết-sa. Vua Ba-by-lôn ra lệnh giết các con trai của Sê-đê-kia, rồi xiềng ông lại đem về Ba-by-lôn. Sê-đê-kia ở đó cho đến chết. Thật là đau đớn và sỉ nhục.

II. DÂN SỰ MỘT PHẦN BỊ BẮT ĐI, MỘT PHẦN ĐƯỢC ĐỂ LẠI (Giê-rê-mi 39:9-14; 52:28-30).

Ngoài số người đã trốn thoát, số người còn lại vô luận thuộc thành phần nào đều bị bắt đem qua Ba-by-lôn làm phu tù. Chỉ những người nghèo, vô sản được cho ở lại xứ Giu-đa, cũng được cấp vườn và ruộng để sống.

Trong những người bị bắt đem đi làm phu tù có các thầy tế lễ. Vì Giê-rê-mi là thầy tế lễ và tiên tri nên cũng bị bắt. Nhưng Nê-bu-cát-nết-sa đã ra lệnh hậu đãi Giê-rê-mi, cho ông được tự do và lựa chọn nơi nào mình muốn đi. Nếu ông qua Ba-by-lôn, ông sẽ được chăm sóc tử tế.

Thấy Giê-rê-mi muốn ở lại, quan làm đầu thị vệ cấp cho ông lương thực và lễ vật. Vậy, Giê-rê-mi ở lại giữa dân mình trong đất Giu-đa (40:1-6).

III. LÝ DO ĐỀN THỜ BỊ THIÊU HỦY, CÁC KHÍ MẠNH BỊ CƯỚP (Giê-rê-mi 52:17-23; IICác 25:13-16; II Sử ký 36:18-19).

Tất cả lâu đài, dinh thự của vua và các quan đều bị thiêu hủy, ngay đền thờ của Chúa cũng vậy. Các khí dụng nhỏ và lớn, các bửu vật của đền thờ đều bị cướp đem qua Ba-by-lôn. Trước thảm cảnh đó, dân Y-sơ-ra-ên kinh khủng rụng rời, không biết nghĩ làm sao. Chắc họ luôn tự hỏi: “Tại sao một dân mà Đức Chúa Trời đã lựa chọn, biệt riêng làm cơ nghiệp của Ngài lại bị giết chết, tù đày? Tại sao đền thánh, nơi Đức Chúa Trời đặt danh Ngài tại đó lại bị thiêu hủy, cướp phá???” Nguyên nhân của mọi sự đó thật rõ ràng dễ hiểu.

1. Dân Y-sơ-ra-ên.

Dân Y-sơ-ra-ên được gọi là dân thánh vì Chúa đã lựa chọn, biệt riêng họ ra làm cơ nghiệp của Ngài (Xuất 19:5-6; Phục truyền 7:6; 14:2; Giê-rê-mi 2:3). Nhưng dân Y-sơ-ra-ên đã bỏ Chúa (2:13), đã quên Ngài (2:32), nào vua, quan, thầy tế lễ, tiên tri đều thờ lạy tà thần (2:26-27). Ngoài ra, họ còn hành động bất công bất nghĩa với người nghèo khổ, làm giàu trên xương máu của người khác (2;13,17; 6:13; 8:10).

Biết bao lần Chúa đã kêu gọi họ ăn năn và ban cho họ cơ hội ăn năn (3:12-13; 4:1; 7:24; 25:5-7; 29:19; 32:30-33; 35:15), song họ bịt tai như điếc, nhắm mắt như đui, cứng lòng như kim cương (17:1). Mặc dầu có một vài cơn phục hưng bùng cháy như trong đời Ê-xê-chia và vua Giô-si-a, song cũng rất mau tàn tắt, vì họ theo một phong trào mà không ý thức sự việc cho rõ ràng, sâu xa.

Ăn năn là khi biết mình đã phạm tội, hết lòng đau đớn, xấu hổ vì tội đó, sẵn sàng hạ mình xuống, xưng nó ra và lìa bỏ nó rồi quay về với Chúa, xin Ngài tha thứ do tình yêu không bờ bến của Ngài.

Vì chưa làm các điều đó, nên sau một thời gian ngắn, đâu lại vào đấy, tức là tình trạng cũ lại tái diễn. Chẳng những không ăn năn, họ còn chống cự lại. Họ đe dọa sẽ giết Giê-rê-mi (11:19). Một lần họ bỏ ông vào tù, một lần khác, họ quăng ông xuống hố, để ông chết rục xương tại đó (37:15-16; 38:6), song Chúa đã cứu ông. Vua Giê-hô-gia-kim lại dám cả gan đốt sách của tiên tri Giê-rê-mi (36:22,26), Giê-rê-mi đã khóc vì đồng bào mình (4:19; 9:1-3). Chúa cảnh cáo, nếu không ăn năn, sẽ bị Ngài sửa trị (2:9; 4:16,18; 5:6; 30:14-15).

Sau đó, Chúa bỏ họ, xem như một vật ô uế, vô dụng (6:30; 7:29). Cuối cùng Ngài lên án họ phải bị tù đày tại Ba-by-lôn 70 năm (25:11; 12:11, 12). Khi họ trông mong được Chúa giải cứu thì họ bị Chúa chống đối và phó họ cho kẻ thù (21:3-6). Còn dân Y-sơ-ra-ên đáng phải nói như người trộm cướp trên thập tự giá: “Về phần chúng ta chỉ là sự công bình, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm…” (Lu-ca 23:41).

2. Đền thờ của Chúa.

Đền thờ làm chứng về sự hiện diện của Ngài ở giữa dân Y-sơ-ra-ên, là nơi danh Ngài đặt tại đó (Xuất 25:8; 29:45-46; ICác 9:3). Dân chúng cứ khoe khoang một cách liều lĩnh rằng: “Chính đây là đền thờ của Đức Giê-hô-va” (Giê-rê-mi 7:4), tức là nơi bất khả xâm phạm. Đang khi đó, họ phản bội Chúa mà thờ tà thần, đến nỗi đem hình tượng tà thần vào đền thờ (Giê-rê-mi 7:8-11; 11:13-14). Vì vậy, Chúa đã bỏ đền thờ đó, bởi nó đã bị ô uế.

Trong đời Chúa Jêsus, dân Do thái cũng mãi khoe khoang đền thờ bằng đá hoa mà Hê-rốt đã xây. Song Chúa đã phó nó cho sự hủy hoại, không còn hòn đá nầy trên hòn đá khác. Chúa phán trước như vậy về đền thờ của Sa-lô-môn xây (ICác 9:6-9).

Dân Y-sơ-ra-ên thật là dân của Chúa, song họ đã phạm tội mà không chịu ăn năn, nên bị Chúa bỏ, mặc dầu Ngài không bỏ luôn mà sửa trị họ, để đem họ đến sự ăn năn. Họ không ăn năn là tại họ không tin Lời Chúa.

Nếu chúng ta giữ trọn niềm tin trong Chúa thì phước hạnh vô cùng, song nếu khư khư giữ thái độ kiêu căng, vô tín là nguy vô cùng.

Chúa Jêsus phán: “Nên Ta bảo các ngươi rằng các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình, vì nếu các ngươi chẳng tin Ta là Đấng đó thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi” (Giăng 8:24).

Đền thờ tại Giê-ru-sa-lem là đền thờ của Chúa. Song khi phạm tội, dân Y-sơ-ra-ên đã làm ô uế đền thờ, khiến đền thờ thành ra sào huyệt của trộm cướp, nên đền thờ đã bị Chúa bỏ và phó cho sự hủy hoại.

Hội Thánh là dân sự của Chúa, thân thể chúng ta là đền thờ của Ngài. Ai đụng đến chúng ta là đụng đến con ngươi của mắt Ngài. Song hiện nay Chúa còn ngự giữa Hội Thánh, ngự trong lòng chúng ta, hay chúng ta bị Chúa bỏ, bị tội lỗi làm cho ô uế? Nếu ai đã phạm tội, không chịu ăn năn mà chưa bị Chúa sửa trị, nên nhớ rằng vì tình thương Chúa không bỏ qua đâu.

Ôi! xin đừng khinh dể sự giàu có của lòng nhân từ khoan dung, kiên nhẫn của Ngài, mà không nhận biết lòng nhân từ của Ngài cốt đem chúng ta đến sự ăn năn.

CÂU HỎI

1. Dân Ba-by-lôn vây thành Giê-ru-sa-lem bao lâu?

2. Tại sao vua Sê-đê-kia không đầu hàng theo lời khuyên của Giê-rê-mi?

3. Khi Giê-ru-sa-lem bị hạ thì vua và quan thế nào?

4. Dân chúng trong thành ra sao?

5. Giê-rê-mi được đối đãi thế nào?

6. Đền thờ bị hại gì?

7. Tại sao Chúa để dân Y-sơ-ra-ên bị bắt, bị giết?

8. Tại sao Chúa để đền thờ bị cướp phá bị thiêu hủy?

9. Chúa muốn chúng ta phải sống như thế nào để khỏi bị Ngài bỏ?

BÀI 37. Ê-XÊ-CHI-ÊN ĐƯỢC CHÚA GỌI VÀ THI HÀNH CHỨC VỤ

KINH THÁNH: Ê-xê-chi-ên 1:1-3; 2:1,10; 3:1-11.

CÂU GỐC: “Từ đó, tôi chẳng hề dám chống cự với sự hiện thấy trên trời” (Công vụ 26:19).

MỤC ĐÍCH: Hãy tin cậy Chúa, vâng theo tiếng gọi của Ngài, ra đi truyền giảng cho mọi người.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Ê-xê-chi-ên được Chúa gọi

(Ê-xê-chi-ên 1:1).

TH:

Ê-xê-chi-ên nghe tiếng Chúa

(Ê-xê-chi-ên 1:2-3).

TB:

Ê-xê-chi-ên được Chúa sai đi

(Ê-xê-chi-ên 2:3,7).

TT:

Ê-xê-chi-ên ăn nuốt Lời Chúa

(Ê-xê-chi-ên 2:8; 3:11).

TN:

Tiên tri là người canh

(Ê-xê-chi-ên 33:1-9).

TS:

Tiên tri kêu gọi ăn năn

(Ê-xê-chi-ên 33:10-16).

TB:

Chúa hứa ban sự sống

(Êxê 11:19-21; 36:26-28).

Theo IICác 24:1-17, Ê-xê-chi-ên là một trong số 10.000 người đã bị vua Nê-bu-cát-nết-sa bắt qua làm phu tù tại Ba-by-lôn nhằm đời vua Giê-hô-gia-kim nước Giu-đa. Việc nầy xảy ra vào khoảng 11 năm trước khi thành Giê-ru-sa-lem bị hạ. Có thể Ê-xê-chi-ên nhỏ tuổi hơn Giê-rê-mi, song cả hai được Chúa gọi làm tiên tri, kẻ ở Ba-by-lôn, người ở Giu-đa. Vì vậy, Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên đều đề cập đến thành Giê-ru-sa-lem bị hủy phá.

Theo Ê-xê-chi-ên 1:1-3, đang khi ở giữa đồng bào làm phu tù tại đất Ba-by-lôn của người Canh-đê, thì ông thấy các từng trời mở ra, tay của Chúa đặt trên ông và Lời của Chúa phán với ông. Nhiều lần Chúa đặt tay trên Ê-xê-chi-ên như Ngài đã đặt tay trên Ê-li và Ê-li-sê (1:3; 3:14, 22; 8:1; 33:22; 37:1; 40:1; ICác 18:46; IICác 3:15). Hơn 500 năm sau, khi sứ đồ Giăng bị đày qua đảo Bát-mô, tại đó, ông cũng được Chúa hiện ra và truyền cho ông chép sách Khải huyền. Trong hai năm tại La-mã, Phao-lô đã viết các thư tín Ê-phê-sô, Phi-líp, Cô-lô-se, và Phi-lê-môn.

Thế thì, trong hoàn cảnh khốn nạn hơn hết, ở bất cứ nơi nào, chúng ta vẫn có thể thấy trời mở ra, tay Chúa đặt trên mình và nghe tiếng Chúa phán với mình, nếu tại đó chúng ta sống trong ý muốn Ngài.

I. CÁCH CHÚA KÊU GỌI Ê-XÊ-CHI-ÊN (1:4; 2:1).

Bấy giờ Ê-xê-chi-ên thấy một dị tượng về bốn sinh vật và bốn bánh xe đi lại, lên xuống mau lẹ như chớp. Ông cũng thấy một bầu trời bên trên giống như một chiếc ngai bằng bích ngọc. Trên ngai và chung quanh ngai ông thấy đồng bóng nhoáng, lửa cháy rực bày tỏ sự vinh quang của Đức Giê-hô-va.

Qua dị tượng đó, Chúa cho Ê-xê-chi-ên biết rằng, dầu xứ sở hoang vu, dân sự bị lưu đày, song Chúa vẫn ngồi trên ngôi cao cả, tể trị trời đất, điều khiển dòng lịch sử nhân loại để thực hiện chương trình của Ngài. Vinh quang của Ngài là vinh quang đời đời. Môi-se, Giê-rê-mi, Ê-sai, Đa-ni-ên, Phao-lô, Giăng đã thấy dị tượng gần giống như vậy (Xuất 3:1-4; Ê-sai 6:1-4; Giê-rê-mi 1; Đa-ni-ên 7,8; Công vụ 26:12-23; Khải huyền 1:9,17). Chúng ta đáng phải thưa: “Đức Giê-hô-va ôi, xin mở mắt kẻ tôi tớ tôi, để nó thấy được. Đức Giêhova mở mắt người ra, thì người thấy núi đầy những ngựa và xe bằng lửa xung quanh Ê-li-sê” (IICác 6:17).

Không chịu nổi sự vinh quang của Chúa, Ê-xê-chi-ên té sấp xuống đất và kinh hãi. Chúa bảo: “Chân ngươi hãy đứng, Ta sẽ phán cùng ngươi”. Thần của Chúa ngự vào ông, làm cho chân ông đứng thẳng lên và ông nghe tiếng của Chúa. Cũng như Ê-xê-chi-ên, chúng ta phải phủ phục dưới chân Chúa như một kẻ rất yếu đuối, để Thánh Linh của Ngài ngự vào làm chúng ta mạnh mẽ, có thể đứng trước mặt Ngài, nhận sứ mạng Ngài mà ra đi.

Khi chúng ta làm cho mình trống không thì Chúa làm cho chúng ta đầy dẫy. Khi chúng ta biết mình không làm chi được thì Chúa khiến chúng ta làm được mọi sự. Nếu chúng ta phủ phục dưới chân Chúa thì không cần phủ phục dưới chân ai. Nếu chúng ta đứng nổi trước mặt Chúa, thì cũng đứng nổi trước mặt mọi người.

II. NHỮNG NGƯỜI NGHE LỜI CHÚA QUA TIÊN TRI Ê-XÊ-CHI-ÊN (2:3-5).

Tiên tri Ê-xê-chi-ên không được phép chọn con đường mình muốn đi, người mình muốn gặp. Là đầy tớ của Chúa, ông phải đi nơi nào Ngài sai, gặp người nào Ngài muốn. Chúa sai ông đi giảng cho những kẻ bội nghịch, phản loạn với Ngài. Họ là dân Y-sơ-ra-ên và các dân ngoại như Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm, Phi-li-tin, Ty-rơ, Si-đôn, Ê-díp-tô. Nếu họ bội nghịch và phản loạn cùng Chúa thì thế nào họ phục tùng hòa thuận cùng Ê-xê-chi-ên? Không phải trong đời họ mới có tình trạng đó, song đã có từ đời tổ phụ họ như một bệnh di truyền kinh niên. Chúa còn nói thêm rằng họ là những người dày mặt, cứng lòng, tức là lì lợm, bại hoại, buông tuồng, phạm tội không biết chán (Ê-phê-sô 4:19).

Đó là những người mà Ê-xê-chi-ên phải tiếp xúc để truyền giảng Lời Chúa cho họ. Biết như vậy ông sẽ không ngạc nhiên khi bị họ chống đối, bắt bớ. Phao-lô cũng cho Ti-mô-thê biết trước như thế và đã khuyên vị mục sư trẻ tuổi nầy phải trung thành trong chức vụ (II Ti-mô-thê 4:1-5).

Chúa còn nói thêm với Ê-xê-chi-ên: “Còn như chúng nó hoặc nghe ngươi, hoặc chẳng khứng nghe, vì là nhà bạn nghịch, ít nữa chúng nó cũng biết rằng ở giữa mình đã có một Đấng tiên tri”. Trong con người còn có lương tâm là khả năng nhận biết phải trái. Ngày nào đó, lương tâm của họ sẽ nhận biết và thức tỉnh, nhớ lại điều mình đã nghe.

Lời của Chúa đã ra từ miệng Ngài thì chẳng trở về luống nhưng, mà chắc sẽ làm trọn điều Chúa muốn, thuận lợi công việc Chúa sai khiến nó (Ê-sai 55:11). Sau khi tội nhân ăn năn, Chúa ban cho họ sự sống mới như Lời Chúa đã hứa (11:19-21; 36:26-28). Vì vậy, ta phải tận tâm và kiên nhẫn cho đến cuối cùng.

III. THÁI ĐỘ CỦA Ê-XÊ-CHI-ÊN KHI THI HÀNH CHỨC VỤ (2:6-7; 3:4-11).

Dầu phải đương đầu với những khó khăn đặc biệt, Chúa không để cho đầy tớ Ngài cô đơn, sợ hãi, song Ngài đã chuẩn bị mọi sự cho ông: “Ngươi chớ sợ chúng nó và chớ sợ lời chúng nó…”.

Dân Y-sơ-ra-ên và dân ngoại là những người đáng sợ, hơn nữa, những lời Ê-xê-chi-ên nhân danh Chúa truyền ra cho họ thì không đẹp lòng họ. Họ sẽ dùng lời độc ác, vu khống, mắng nhiếc làm cho ông nản lòng bỏ chức vụ. Song Chúa bảo ông đừng sợ, dầu phải ở giữa gai gốc, bò cạp, mà cứ đem Lời Chúa nói cùng họ.

“Ta làm cho trán ngươi cứng như kim cương, cứng như đá lửa”. Chúa làm cho ông không sợ, không thẹn. Chúa cũng phán với Giê-rê-mi: “Nầy, ngày nay, Ta lập ngươi lên làm thành vững bền, làm cột bằng sắt, làm tường bằng đồng… Họ sẽ đánh nhau với ngươi, nhưng không thắng ngươi” (Giê-rê-mi 1:18-19).

Dân Do thái và lính La-mã đã nhục mạ Chúa Jêsus một cách thậm tệ. Họ vu khống Ngài là tay gian ác, xui dân làm loạn, cấm nộp thuế cho vua. Họ xin Phi-lát đóng đinh Ngài và tha Baraba là một tên sát nhân. Khi được lịnh của Phi-lát, lính canh giả bộ tôn Ngài làm vua mà mặc áo hoa hòe và đội mão gai cho Ngài. Họ để trong tay Ngài một cây gậy, rồi quì xuống trước mặt Ngài, và nói: “Lạy vua Giu-đa”. Kế đó, họ nhổ nước miếng trên Ngài, vả vào mặt Ngài, lấy gậy đánh đầu Ngài. Họ đưa Ngài lên đồi Gô-gô-tha, đóng đinh Ngài giữa hai tên trộm cướp. Họ vây chân thập tự giá của Ngài, bỉu môi, lắc đầu chế nhạo Ngài. Song Kinh Thánh đã chép về Ngài thế nào? (Ê-sai 50:6-7; Hê-bơ-rơ 12:2).

Nếu chúng ta biết mình là sứ giả, là khâm sai, là phát ngôn nhân của Chúa tể trời đất và muôn vật, do chính Ngài kêu gọi, đặt tay, sai đi, thì có gì phải thẹn, phải sợ? (Ê-sai 51:12-13).

IV. BÍ QUYẾT THÀNH CÔNG CỦA Ê-XÊ-CHI-ÊN (2:8-3:3).

Dầu Chúa đã chuẩn bị mọi sự cho ông, song muốn thành công, ông cũng có trách nhiệm. Chúa bảo: “Chớ bạn nghịch như nhà nổi loạn ấy”. Nếu ông cũng bạn nghịch thì thế nào chinh phục họ về với Chúa được? Môi-se đã có một lỗi lầm đáng tiếc là trong cơn nóng giận đối với dân Y-sơ-ra-ên, ông đã mất bình tĩnh, không tin cậy và vâng lời Chúa trọn vẹn mà đập hòn đá (Dân số ký 20:9-12).

“Hãy mở miệng ăn lấy vật Ta ban cho”. Bấy giờ, một bàn tay đưa đến ông một cuốn sách có chép trong lẫn ngoài, tức là không còn một chỗ trống để ông thêm một chữ nào. Chúa bảo: “Hãy ăn cuốn nầy rồi đi và nói cùng nhà Y-sơ-ra-ên”. Ông liền mở miệng ra và Chúa đã cho ông ăn cuốn sách đó đầy bụng, tức thì miệng ông ngọt như mật, mặc dầu cuốn sách chép đầy sự ca thương, than thở, khốn nạn.

Nếu không ăn nuốt Lời Chúa thì lấy gì mà giảng ra? Nếu ông ăn mà không thấy ngọt như mật, thì làm sao nuốt vào bụng được? Lời của Chúa phải được tiêu hóa trong con người thuộc linh của ông, trở thành sự sống của ông, làm cho ông mạnh mẽ, nhiên hậu ông mới giảng ra lời đó. Kinh nghiệm của Ê-xê-chi-ên là như vậy (3:3). Giảng là tuôn tràn sự sống của mình ra, giảng như người mẹ cho con bú bằng chính sữa mình.

Người được Chúa kêu gọi và sai đi làm tiên tri khác hơn kẻ giả mạo tiên tri, là kẻ Chúa chưa sai đã đi, chưa bảo đã nói, đi con đường rộng, nói theo ý riêng, nên kết quả của hai người khác nhau.

Theo lịch sử, Ê-xê-chi-ên đã thi hành chực vụ 22 năm giữa đồng bào mình.

CÂU HỎI

1. Ê-xê-chi-ên được kêu gọi lúc ở đâu?

2. Chúa kêu gọi ông cách nào?

3. Chúa sai ông đi giảng cho ai?

4. Chúa bảo ông có thái độ nào?

5. Chúa làm gì cho ông?

6. Chúa bảo ông phải làm gì?

7. Ê-xê-chi-ên nuốt cuốn sách có nghĩa gì?

8. Ê-xê-chi-ên làm chức vụ tiên tri bao lâu?

9. Tiên tri thật và tiên tri giả khác nhau thế nào?

BÀI 38. NGƯỜI CHĂN CHIÊN

KINH THÁNH: Ê-xê-chi-ên 34:1-31.

CÂU GỐC: “Ta là người chăn hiền lành, người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình” (Giăng 10:11).

MỤC ĐÍCH: Dạy chúng ta thế nào là người chăn thật, ai là người chăn thật, người chăn thật làm gì cho bầy mình.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Người chăn không thật

(Ê-xê-chi-ên 34:1-10).

TH:

Người chăn thật

(Ê-xê-chi-ên 14:11-16).

TB:

Người chăn thật chăm sóc chiên

(Ê-xê-chi-ên 34:17-24).

TT:

Người chăn thật lo cho chiên

(Ê-xê-chi-ên 34:25-31).

TN:

Chúa Jêsus là người chăn thật

(Giăng 10:1-18).

TS:

Chúa Jêsus bảo vệ bầy chiên

(Giăng 10:22-30).

TB:

Chăn dắt nhau

(Giăng 21:15-17; Công 20:18-31).

Dân của Đức Chúa Trời như một bầy chiên, nên người chăn dân cũng gọi là người chăn chiên. Các người lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên được gọi là người chăn chiên của Chúa (Giê-rê-mi 23:1-2; 25:34-37; 50:6; Ê-sai 34:1-2), họ là các vua, quan trưởng, tiên tri, thầy tế lễ. Mỗi người có trách nhiệm chăn bầy của Chúa.

I. CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO CỦA Y-SƠ-RA-ÊN KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI CHĂN CHIÊN THẬT (1-10).

Ho không phải là người chăn thật vì đã không làm tròn trách nhiệm của mình.

1. Các vua.

Sau đời Sa-lô-môn, nước Y-sơ-ra-ên chia ra làm hai: Nam và Bắc, kéo dài hơn 240 năm. Trong thời gian đó, miền Bắc có 19 vua, miền Nam có 20 vua. Các vua miền Bắc gian ác như Ôm-ri, A-háp…, các vua miền Nam tương đối tốt như A-sa, Giô-sa-phát, Ê-xê-chia, Giô-si-a. Phần đông các vua không xứng với chức vụ chăn dân như chăn chiên của Chúa.

2. Các quan trưởng.

Các quan trưởng Y-sơ-ra-ên đều là những người phản nghịch, trộm cướp, tham lam, hối lộ, bất công, bất nghĩa, hà hiếp, ngược đãi kẻ nghèo. Vì vậy họ có vườn nho rất lớn, của cải đầy nhà (Ê-sai 1:23; 3:14). Họ hung bạo, gian ác như muông sói, chỉ lo giết người cướp của (Ê-xê-chi-ên 22:27). Họ là những người vô giá trị, không xứng đáng với chức vụ chăn chiên của Chúa.

3. Các tiên tri.

Các tiên tri nhơn danh thần Ba-anh mà giảng dạy, giả dối, tham lam, ô uế, gian ác, phóng đãng, điên dại khiến cho dân lầm lạc, làm mọi sự chỉ vì lợi mà lại nhơn danh Chúa (Giê-rê-mi 2:8, 5:3; 6:13; 8:10; 14:14, 23:11; 23:13-15; Ê-sai 28:7-9, Sô-phô-ni 3:4, Mi-chê 3:11). Họ mang chức vụ tiên tri mà nói và làm như vậy thì đâu phải là tiên tri thật.

4. Các thầy tế lễ.

Các ông nầy say sưa (Ê-sai 28:7-9), tham lam, giả dối, ô uế, gian ác, phóng đãng, không biết luật pháp của Chúa, làm việc vì lợi (Giê-rê-mi 5:31; 6:13; 8:10, 23:11; Sô-phô-ni 3:4, Ê-xê-chi-ên 7:26; 22:26, Mi-chê 3:11). Thầy tế lễ mà ăn ở như vậy thì khốn khổ biết bao! Nói chung một lời: Tất cả vua, quan trưởng, tiên tri, thầy tế lễ đều không phải là người chăn chiên thật của Chúa (Giê-rê-mi 2:26; 4:9; 13:13). Vì thế, Chúa trách họ:

a. Họ không lo nuôi chiên mà chỉ lo nuôi mình (1-3).

Người chăn chiên phải trước hết lo nuôi chiên, nhiên hậu mới lo nuôi mình, vì bầy chiên no đủ thì người chăn sẽ không đói kém. Trái lại, nếu chỉ lo nuôi mình ăn ngon, mặc đẹp thì không được lâu dài, vì hành động đó không phải là hành động của người chăn chiên.

b. Họ không chăm sóc chiên đau yếu (4).

Trong một bầy chiên luôn có con đau yếu, con bệnh, con què. Các con chiên đó cần được người chăn chăm sóc, tức là làm cho con yếu được mạnh, con bệnh được lành, con què được băng bó. Đó là việc hằng ngày của người chăn mà họ không làm.

c. Họ không tìm chiên lạc mất mà còn xử tệ với chúng (4).

Chiên rất dại dột, nên có con đi lạc, cần được người chăn dẫn về, nếu không kịp dẫn về thì chiên bị mất. Trường hợp nầy, người chăn phải để cả bầy ở một nơi an toàn, rồi ra đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất, để đem về. Song những người chăn của Y-sơ-ra-ên không làm như vậy, mà làm ngược lại.

d. Họ cho bầy chiên tan lạc (5-6).

Có kẻ chăn mà thật ra không có, có hình thức tổ chức mà thật ra giá trị thực tế không có, nên dù có cũng như không. Vì vậy bầy chiên bị tan lạc, trở nên mồi ngon của mọi thú dữ ngoài đồng. Chúng lang thang trên mọi núi, mọi đồi cao, và khắp mọi nơi, chẳng có ai kiếm, chẳng có ai tìm.

Trên đây là tình trạng thuộc linh của dân Y-sơ-ra-ên, tức là bầy chiên của Chúa trong đời các vua và các tiên tri. Tuy nhiên, vô luận thời đại nào, dầu hắc ám đến đâu, Ngài vẫn để dành một số người tận trung như các ngôi sao sáng chói trên bầu trời tối mịt. Trong đời bạo vương A-háp, ông cố tìm các tiên tri của Chúa để giết, thế mà quan gia tể của ông là Ápđia, dám đem giấu 100 tiên tri trong hang đá, dùng bánh và nước nuôi họ hằng ngày (ICác 18:1-13). Trong đời Giê-hô-gia-kim, các quan trưởng đã bênh vực Giê-rê-mi rằng: “Người nầy không đáng chết, vì ấy là người nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta mà nói với chúng ta” (Giê-rê-mi 26:16). Trong đời Giô-si-a, nhờ thầy tế lễ Hinh-kia tìm được cuốn Kinh Thánh trong đền thờ mà một cơn phục hưng bùng cháy. Các tiên tri của Chúa đều tốt, ngoại trừ tiên tri giả. Tiên tri thật là những người bị bắt bớ hơn ai hết (Ma-thi-ơ 5:11-12; 23:31,37; Công vụ 7:52).

e. Chúa phạt những kẻ chăn không thật (7-10).

Chúa xem họ như những kẻ thù đã làm thiệt hại, mất mát, tan lạc bầy chiên của Ngài, Chúa sẽ đòi chiên của Ngài nơi tay họ. Họ không còn được chăn chiên của Ngài nữa, cũng không còn được nuôi mình bằng chiên đó. Vì họ không phải là người chăn nuôi chiên, mà chỉ là người làm thịt chiên.

II. CHÚA LÀ NGƯỜI CHĂN CHIÊN (11-16).

Chúa là người chăn thật, chiên của Ngài là dân Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, Chúa sẽ tìm kiếm dân Ngài như người chăn chiên tìm kiếm bầy mình. Chúa sẽ đem họ về như người chăn đem chiên lạc trong ngày mây mù tăm tối lại về. Chúa sẽ đem dân Ngài ra khỏi các nước, rồi đem họ về đất riêng của họ. Bấy giờ, Chúa sẽ chăn nuôi họ như người chăn cho chiên mình nghỉ ngơi trên đồng cỏ xanh tươi, bên suối nước bình tịnh, như người chăn tìm từng con bị mất, kiếm từng con bị lạc, rịt thuốc từng con bị thương, chữa lành từng con bị bịnh, Chúa cũng làm như vậy cho dân Ngài (Giăng 10:16).

Sau thời hạn 70 năm lưu đày đã mãn, Chúa đem dân Ngài trở về quê cha đất tổ của họ. Việc đó quá sức tưởng tượng của họ, vì họ thật giống như một trũng xương khô được sống lại và thành một đạo quân rất lớn (Ê-xê-chi-ên 37:1-14). Khi trở về tổ quốc, họ nói với nhau: “Chúng tôi khác nào kẻ nằm chiêm bao. Bấy giờ miệng chúng tôi đầy sự vui cười, lưỡi chúng tôi hát những bài mừng rỡ. Trong các dân ngoại, người ta nói rằng: Đức Giê-hô-va đã làm cho họ những việc lớn, nhân đó chúng tôi vui mừng” (Thi thiên 126:1-3). Điều chi Chúa đã hứa, Ngài sẽ hoàn thành.

III. NGƯỜI CHĂN CHIÊN XÉT ĐOÁN BẦY CHIÊN MÌNH (17-24).

1. Người chăn chiên xét đoán những con chiên phá hoại (17-24).

Có những con chiên, sau khi ăn no bằng cỏ xanh tươi thì giày đạp phần còn lại để những con chiên khác không có cỏ mà ăn, hay phải ăn cỏ xấu. Có những con chiên sau khi uống nước trong thì làm đục phần nước còn lại, để cho những con chiên khác phải uống nước dơ. Trong dân của Chúa, có người ích kỷ, không biết trọng của chung, việc chung, khi ăn hay dùng không hết, thì hủy hoại, để người sau không có mà ăn, mà dùng. Việc gì mình làm thì muốn cho tốt, việc gì người làm thì muốn cho xấu, việc gì của mình thì bảo vệ, việc gì của người thì phá hoại. Hành động như thế không thường đâu, việc đó không nhỏ đâu, nghĩa là Chúa không bỏ qua đâu.

2. Người chăn xét đoán những con chiên hung ác.

Có những con chiên mập mạnh hay hà hiếp, lấn lướt những con chiên ốm yếu. Trong dân của Chúa có người lợi dụng cơ hội để thực hiện lòng hung ác của mình, như thừa gió bẻ măng, đục nước béo cò, khiến những người cô thế phải tan tác khắp nơi. Vì vậy, Chúa đã can thiệp, để đem họ trở về và lập trên họ một người chăn chiên tốt như Đa-vít. Đa-vít đây ám chỉ về Chúa Jêsus.

IV. NGƯỜI CHĂN LO CHO TƯƠNG LAI CỦA BẦY CHIÊN (25-31).

Người chăn nghĩ đến một bầy chiên sống trong một xứ không có thú dữ, bầy chiên ngủ đâu cũng được, hoặc ngoài đồng vắng hay trong rừng hoang, nơi nào cũng an toàn. Tại đó, núi đồi, vườn tược xanh tươi, thịnh mậu, vì mưa thuận gió hòa. Chúa muốn nói về tương lai của dân Ngài sẽ được ở trong một nơi thái bình, tự do, no đủ (30-31).

Chương trình nầy không thực hiện dưới đất, song sẽ thực hiện trên trời, không cho dân Y-sơ-ra-ên theo xác thịt mà cho dân Y-sơ-ra-ên thuộc linh, là Hội Thánh của Đức Chúa Trời trong cả thế gian (Khải huyền 7:9-17; 21:3-4; 22:3-4).

Qua bài học nầy, Chúa cho chúng ta biết thế nào là người chăn chiên thật, và người chăn chiên thật đã làm gì cho bầy chiên của mình. Vậy chúng ta hãy chăm sóc nhau, mưu cầu hạnh phúc cho nhau, với hi vọng sẽ được ở cùng Chúa luôn luôn, trong một nơi không đói, không khát, không có nắng gắt làm hại, không có ban đêm, không có than khóc hoặc kêu ca hay là đau đớn gì cả, vì sự chết không còn nữa. Ngày đó không xa, vì ngày Chúa tái lâm đã gần.

CÂU HỎI

1. Dân Y-sơ-ra-ên được ví sánh với ai?

2. Ai là người chăn chiên của Chúa?

3. Tại sao các nhà lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên không phải là người chăn chiên thật?

4. Ai là người chăn thật?

5. Người chăn thật làm gì cho bầy chiên?

6. Người chăn lo gì cho tương lai của bầy chiên?

7. Bầy chiên hiện nay của Chúa là ai?

8. Tương lai của bầy chiên nầy sẽ như thế nào?

9. Chúng ta phải làm gì cho nhau?

BÀI 39. CON SÔNG PHƯỚC HẠNH

KINH THÁNH: Ê-xê-chi-ên 47:1-12.

CÂU GỐC: “Kẻ nào tin Ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy” (Giăng 7:38).

MỤC ĐÍCH: Đức Chúa Trời là nguồn sinh lực và phước hạnh vô biên của Hội Thánh.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Con sông phát nguyên từ đền thờ

(Ê-xê-chi-ên 47:1-2).

TH:

Con sông càng đi xa càng sâu hơn

(Ê-xê-chi-ên 47:3-5).

TB:

Con sông đem phước hạnh

(Ê-xê-chi-ên 47:9-12).

TT:

Con sông nước sống

(Khải huyền 22:1-6).

TN:

Suối nước sống

(Thi 87:7; Giô-ên 3:18; Giăng 4:14).

TS:

Con sông bốn ngã

(Sáng thế ký 2:10-14).

TB:

Có một con sông

(Thi thiên 46:4-7).

Sách Ê-xê-chi-ên 40-48 mô tả cảnh đền thờ và cuộc thờ phượng của dân Y-sơ-ra-ên sau khi từ Ba-by-lôn trở về tổ quốc. Song đền thờ của Ê-xê-chi-ên mô tả không giống như đền thờ của dân Y-sơ-ra-ên lúc trở về. Dầu bấy giờ, họ xây lại đền thờ và lập lại cuộc thờ phượng, song đền thờ được tái lập kém xa đền thờ của Sa-lô-môn đã xây và bị Nê-bu-cát-nết-sa hủy phá. Vả lại, hòm giao ước cũng bị cướp mất (Ê-xơ-tê 4:12). Chúa phán về những đặc điểm của đền thờ nầy như sau: Là nơi Chúa đặt ngai của Ngài, nơi Chúa để bàn chân và Ngài sẽ ở đó đời đời giữa con cháu Y-sơ-ra-ên (43:7). Đặc biệt nhất là tại đó sẽ có một con sông phước hạnh.

I. CON SÔNG PHƯỚC HẠNH PHÁT NGUYÊN TỪ ĐỀN THỜ (1-2).

Con sông thường chỉ về các ơn phước dư dật: “Họ nhờ sự dư dật của nhà Chúa mà được thỏa nguyện, Chúa sẽ cho họ uống nước sông phước lạc của Chúa… Có một ngọn sông, dòng nước nó làm vui thành Đức Chúa Trời, là nơi thánh về chỗ ở của Đấng Chí Cao” (Thi thiên 36:8; 46:4). “Ta sẽ khiến dòng sông chảy ra trên đỉnh núi trọi, và suối trào lên giữa trũng. Ta sẽ biến sa mạc thành ao, và đất khô thành nguồn nước… Sự bình an ngươi như sông… Nầy, Ta sẽ làm cho sự bình an chảy đến nó như một con sông, và sự vinh hiển của các dân như nước vỡ bờ” (Ê-sai 41:18; 48:18; 66:12). Vườn Ê-đen đã được một con sông bốn ngã tưới nó là Bisôn, Ghihôn, Hiđêke và Ơphơrát (Sáng thế ký 2:10-14).

Đức Chúa Trời tự ví sánh Ngài như nguồn nước sống (Giê-rê-mi 2:13; 17:13). Chúa Jêsus tự ví sánh Ngài với mạch nước phun ra mãi (Giăng 4:14). Chúa Jêsus ví sánh Thánh Linh như con sông nước sống (Giăng 7:38-39). Đền thờ mới là Hội Thánh. Có một con sông ra từ đền thờ là nguồn phước của Đức Chúa Trời, từ Hội Thánh tuôn tràn ra cho nhân loại. Hồ thường bị khô, kinh đào có thể cạn, nhưng sông thì không hề khô cạn. Nguồn phước của Đức Chúa Trời Ba ngôi từ trong Hội Thánh nói chung, từ trong cá nhân tín đồ nói riêng sẽ không bao giờ khô cạn, mà cứ tuôn tràn không dứt.

Xa-cha-ri 14:8 chép: “Xảy ra trong ngày đó, nước sống sẽ ra từ Giê-ru-sa-lem, phân nửa chảy về biển đông, phân nửa chảy về biển tây, trong mùa hạ và mùa đông đều có”. Câu ấy tiên tri về Tin Lành là con sông phước hạnh ra từ Giê-ru-sa-lem, chảy về biển đông, biển tây và tiếp tục chảy mãi vô luận mùa hạ hay mùa đông. Lịch sử Hội Thánh chứng minh điều nầy. Suốt 20 thế kỷ qua, Tin Lành đã từ Giê-ru-sa-lem đến cả xứ Giu-đê, Sa-ma-ri, bốn biển năm châu, tức là cả địa cầu.

II. CON SÔNG PHƯỚC HẠNH CÀNG XA CÀNG SÂU (3-5).

Trước hết, con sông không những phát nguyên từ đền thờ, mà lại phát nguyên từ dưới ngạch cửa của đền thờ, là nơi không ai để ý. Phao-lô viết: “Sự sống mình đã giấu với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời” (Cô-lô-se 3:3). Nguồn sinh lực và nguồn phước hạnh của Hội Thánh thật là bí mật, vì nó không thuộc về trần gian vật chất, không ở trong con người hư mất, nhưng ở trong Đức Chúa Trời toàn năng. Chúa Jêsus phán: “Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh” (Giăng 15:5). Nếu một nhánh nho bị chặt, thì một hoặc hai nhánh khác mọc lên, vì nguồn sinh lực của nhánh nho là gốc nho. Do đó, dân của Chúa sẽ cứ nhảy múa và ca hát: “Các suối tôi đều ở trong Ngươi” (Thi thiên 87:7). Ước gì mỗi chúng ta đều biết như vậy.

Ê-xê-chi-ên được một người hướng dẫn về phía đông (40:3), là nơi con sông chảy đều. Cứ mỗi ngàn cuđê bề dài, thì nước sâu hơn, nên nước đã từ mắt cá, rồi đến đầu gối, từ đầu gối lên đến hông, từ hông đến sâu quá không đi được nữa mà phải bơi lội.

Trên con đường theo Chúa, càng lâu năm, càng tiến bộ, càng sâu nhiệm, cho đến khi dòng sông phước hạnh bao trùm, phủ lút mình, mà chúng ta phải đắm chìm và biến mất trong đó. Phao-lô đã phải la lên: “Ôi! Sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn ngoan và thông biết của Đức Chúa Trời!” (Rô-ma 11:33). Ân sủng, quyền năng, thương yêu, nhân từ, thành tín của Chúa thật là thăm thẳm vô tận, không thể đo lường.

Nhưng trên thực tế, một số con cái Chúa kinh nghiệm con sông phước hạnh của Ngài chỉ đến mắt cá hoặc đầu gối, hay ngang hông mà chưa đến chỗ bơi lội. Lúc nào chúng ta cũng cảm thấy sự sống thuộc linh của mình khô khan, nghèo nàn, cạn cợt. Taị sao? Tại chúng ta không dám theo Đấng hướng dẫn mà đi xa hơn. Có một lần, Phi-e-rơ đánh cá suốt đêm mà không được chi hết, Chúa bảo: “Hãy chèo ra ngoài sâu, thả lưới mà đánh cá” (Lu-ca 5:4). Vâng lời Chúa, ông được cá rất nhiều. Thể theo ý ấy, tác giả thánh ca 223 kêu gọi chúng ta chèo ra sâu.

Một Cơ Đốc nhân đã trọn đời theo Chúa, ông sắp bước vào thiên đàng. Có người hỏi: “Trên đường theo Chúa, ông có hối tiếc chi chăng?” Ông đáp: “Tôi không hối tiếc chi cả ngoài ra tôi chưa hưởng hết phước hạnh Chúa dành cho tôi”. Ôi làm sao chúng ta hưởng hết được? Vì nhu cầu chúng ta như nước trong gáo, còn phước hạnh của Chúa như đại dương.

III. CON SÔNG ĐEM PHƯỚC HẠNH CHO MỌI LOÀI SỐNG (6-12).

“Những nước nầy chảy thẳng đến phương đông, xuống nơi đồng vắng và chảy về biển và khi đã chảy về biển, nước biển sẽ trở nên ngọt”. Con sông nầy không đọng lại như nước trong ao, trong hồ, hoặc như Biển Chết, mà cứ chảy luôn đến khắp nơi. Tin Lành là con sông phước hạnh cũng không dừng lại một chỗ nào, một lúc nào, mà cứ truyền giảng cho mọi người cho đến tận thế. Chúa bảo: “Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành… và nầy, Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế” (Mác 16:15; Ma-thi-ơ 28:20).

Đây không phải là một việc làm liều lĩnh, một cuộc phiêu lưu không mục đích. Trái lại Tin Lành được truyền giảng cho mọi người, vì là Tin Lành quyền năng, Tin Lành vinh hiển, Tin Lành phước hạnh, Tin Lành bình an, Tin Lành đời đời. Mục đích Tin Lành truyền giảng là cứu rỗi tội nhân, đem sự sống đến cho mọi người.

Con sông nầy chỉ có một, phát nguyên từ một nơi duy nhất là đền thờ của Đức Chúa Trời (Công vụ 4:12). Con sông nầy thật là kỳ diệu, chảy đến biển, làm cho nước biển trở nên ngọt. Con sông nầy chảy đến vô luận nơi nào, thì mọi sinh vật tại đó đều sống động và sinh sản rất nhiều. Ngoài ra hai bên bờ sông mọc lên đủ thứ cây, lá không hề tàn héo, ra trái không hề dứt. Trái thì ăn ngon, lá thì dùng làm thuốc. Các cây mỗi tháng đều sanh ra trái mới. Tất cả là do nơi nước sông nầy chảy đến.

Trên đây là hình ảnh khi Tin Lành được truyền đến một nơi nào, Tin Lành làm cho lòng người được tái tạo, những sự cũ đều qua đi, mọi sự đều trở nên mới. Tin Lành đem sự sống phước hạnh, vĩnh cửu đến cho mọi người, làm cho ai nhận thì được sống trong đời mới. Tin Lành ban cho con người sự sống dư dật để sinh sôi, nẩy nở những công việc thiện hảo. Tin Lành đem con người từ tà đạo đến chánh đạo, từ mê tín đến chánh tín, từ tội nhân đến thánh nhân, từ tuyệt vọng đến hi vọng, đúng như Chúa đã phán: “…đặng mở mắt họ, hầu cho họ từ tối tăm qua sáng láng, từ quyền lực của quỉ Sa-tan mà đến Đức Chúa Trời, và cho họ bởi đức tin nơi Ta được sự tha tội, cùng phần gia tài với các thánh đồ” (Công vụ 26:18).

Nhưng có một nơi dầu sông nước sống có chảy đến, thì nước tại đó cũng không bao giờ thay đổi mà trở nên ngọt, nơi đó là chàm, bưng, đầm lầy. “Nhưng những chằm, những bưng của biển ấy sẽ không trở nên ngọt, mà bỏ làm đất muối”. Chúa muốn nói cho chúng ta biết, dầu Tin Lành truyền giảng khắp nơi, giảng cho mọi người, song không phải mọi người đều tiếp nhận, mà có một số người sẽ không bao giờ ăn năn, đầu phục nên lòng họ vẫn bại hoại, hư xấu. Với những kẻ đó, Chúa Jêsus đã phán: “Dầu có ai từ kẻ chết sống lại, chúng nó cũng chẳng tin vậy” (Lu-ca 16:31).

Con sông phước hạnh của Tin Lành có chảy đến lòng của anh em hay chưa? Anh em có thể nói: Tin Lành là quyền năng của Đức Chúa Trời đã cứu tôi hay chưa? Anh em đã kinh nghiệm phước hạnh của Tin Lành đến mức nào rồi? Anh em có sẵn lòng đem Tin Lành cho người lân cận không?

CÂU HỎI

1. Đền thờ mới mà Ê-xê-chi-ên mô tả chỉ về gì hôm nay?

2. Con sông trong Kinh Thánh thường chỉ về gì?

3. Ai tự ví sánh là con sông phước hạnh?

4. Lịch sử Hội Thánh chứng minh thế nào về con sông phát nguyên từ đền thờ?

5. Con sông ra từ ngạch cửa đền thờ chỉ về gì?

6. Con sông càng xa càng sâu chỉ về gì?

7. Con sông chảy đến đâu, đem sự sống cho mọi sinh vật có nghĩa gì?

8. Những nơi nào con sông không thay đổi được?

9. Con sông phước hạnh của Tin Lành có chảy vào lòng bạn chưa? Vì sao bạn biết được?

BÀI 40. LÒNG TRUNG TÍN CỦA ĐA-NI-ÊN

KINH THÁNH: Đa-ni-ên 1:1-21.

CÂU GỐC: “Vả, Đa-ni-ên quyết định trong lòng rằng không chịu ô uế bởi đồ ngon vua ăn và rượu vua uống, nên cầu xin người làm đầu hoạn quan để đừng bắt mình phải tự làm ô uế” (Đa-ni-ên 1:8).

MỤC ĐÍCH: Dạy chúng ta biết thân thể mình là đền thờ của Chúa, và Ngài đang ngự trong chúng ta, nên chúng ta phải giữ gìn thân thể thánh khiết luôn.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đa-ni-ên và ba bạn bị đày

(II Sử 36:5-7; Đan 1:1-2).

TH:

Không nên say sưa

(Châm 20:1; 21:17; 31:4-5).

TB:

Chống lại sự cám dỗ

(Giê 10:2; Êph 6:13; IPhi 5:8-9).

TT:

Sức khỏe do Chúa ban

(Xuất 15:26; Châm 4:20,22).

TN:

Mọi nhu cầu do Chúa ban

(Lu-ca 6:38; Phi-líp 4:19).

TS:

Khôn ngoan do Chúa ban

(Châm 2:6-10; Gia 1:5; Ê-sai 11:2).

TB:

Tin cậy Chúa được thưởng

(Đa 1:5,9,15,17,21).

Sách Đa-ni-ên đem lại cho chúng ta nhiều an ủi trong khổ cảnh, khích lệ chúng ta giữ gìn niềm tin như giữ gìn bửu vật, hướng dẫn chúng ta trong nếp sống cao thượng để tôn vinh Chúa. Đang khi ai nấy lo sợ cho tương lai, sách Đa-ni-ên cho chúng ta một giải pháp hữu hiệu nhất là kính mến Chúa. Điều đáng sợ không phải là một cường quốc, hay là bom nguyên tử mà là chính mình không trung tín với Chúa, nên sách Đa-ni-ên bày tỏ niềm tin của con người đến Chúa là bí quyết cuộc sống đắc thắng và vinh quang.

Đức Chúa Trời có một mục đính cho mỗi đời sống. Dân Y-sơ-ra-ên có một nhiệm vụ đối với các nước là nói cho mọi người biết Chúa. Chúa cho dân Y-sơ-ra-ên bị đày qua Ba-by-lôn để họ thi hành nhiệm vụ. Ngài có mục đích đối với đời sống của Đa-ni-ên và ba bạn của ông. Thực hiện được mục đích Chúa muốn là do lòng trung tín của Đa-ni-ên.

I. ĐA-NI-ÊN TRUNG TÍN DẦU MỌI SỰ THAY ĐỔI (1-7).

Quân đội Ba-by-lôn đã bao vây thành Giê-ru-sa-lem lần thứ nhất vào năm thứ ba đời Giê-hô-gia-kim, khoảng năm 607 TC (II Sử ký 36:5-7; Giê-rê-mi 1:1-2). Họ không triệt hạ thành vì Giê-hô-gia-kim đầu hàng, nên họ chỉ bắt một số người đem qua Ba-by-lôn. Sau đó, vua Nê-bu-cát-nết-sa chọn trong đám phu tù những thanh niên tuấn tú để phục vụ mình. Vậy, Đa-ni-ên và ba bạn của ông được chọn.

Bấy giờ, họ bắt đầu hòa mình với người Ba-by-lôn trong nếp sống hằng ngày, họ học tiếng Ba-by-lôn, văn hóa Ba-by-lôn, hơn nữa, bỏ tên Y-sơ-ra-ên mà mang tên Ba-by-lôn. Vua Ba-by-lôn ra lệnh dành cho họ mỗi ngày một phần đồ ăn ngon của vua ăn và rượu của vua uống, cứ như vậy trong ba năm, để họ sẽ có một thân hình đẹp đẽ, mạnh mẽ mà phục vụ vua.

Chúng ta không thể hiểu thấu nỗi khổ tâm của bốn thanh niên nầy. Mọi sự đều đã bị thay đổi và trở nên mới lạ cho họ. Là những người đầu tiên đặt chân đến xứ người với tư cách một nhóm phu tù, ai nấy bỡ ngỡ, hoang mang và sợ hãi. Cuộc sống bấp bênh, vô định hiện ra ở trước mặt họ, không ai biết ngày mai sẽ ra sao. Họ đã mất nước, mất nhà, mất mọi sự, chỉ còn vỏn vẹn một niềm tin nơi Chúa. Nhưng dầu hoàn cảnh đổi thay, lòng họ không đổi, dầu mất mọi sự, họ không mất niềm tin.

II. ĐA-NI-ÊN TRUNG TÍN DẦU Ở GIỮA SỰ CÁM DỖ (8-16).

Đa-ni-ên và ba bạn của ông thuộc hoàng tộc, đã từng ăn ngon, mặc đẹp hơn người xung quanh. Bấy giờ, được ăn uống thức ăn thức uống của vua thì còn gì thích bằng. Tên phu tù mà được vua hậu đãi như vậy thì hãnh diện biết bao. Song các thức ăn, thức uống đó có lẽ đã được dâng cho thần tượng, và điều chắc chắn là thịt mà vua ban cho là thịt của những con thú không tinh sạch mà luật pháp Chúa đã cấm (Lê-vi 11:45-56). Vì vậy, họ phải đương đầu với một sự cám dỗ lớn lao, phải trải qua một cuộc chiến đấu kinh khủng.

Nếu từ chối thức ăn của vua ban cho thì không chỉ thiệt hại cho thể xác mà còn tỏ ra phụ bạc lòng tốt của vua, là phạm tội khi quân, phải mất mạng. Nếu ăn để bồi dưỡng cơ thể, lại đẹp lòng vua, thì chính mình bị ô uế, mất cả niềm tin, là phản bội Đức Chúa Trời hằng sống. Chắc chắn họ đã đắn đo, cân nhắc một cách kỹ lưỡng không theo tiêu chuẩn của lý trí, song theo tiêu chuẩn của đức tin, không cân nhắc bằng chiếc cân tạm thời, mà cân bằng chiếc cân đời đời, họ không sợ Nê-bu-cát-nết-sa bằng sợ Đức Chúa Trời, không muốn đẹp lòng người ta nhưng muốn đẹp lòng Đức Chúa Trời.

Cuối cùng, họ không chịu bị ô uế bởi đồ ngon vua ăn và rượu vua uống. Đây không phải là một quyết định liều lĩnh, nhắm mắt làm càn, song nhờ đức tin, họ đã tìm được một giải pháp cho vấn đề. Đa-ni-ên xin vị quan quản lý việc chăm sóc họ vui lòng cho họ chỉ ăn rau uống nước. Chúa khiến Đa-ni-ên được ân huệ và sự thương xót của vị quan nầy, song ông từ chối vì sợ vua chém đầu khi thấy Đa-ni-ên và ba bạn của chàng không được mập mạnh như các thanh niên khác đồng tuổi với họ. Đa-ni-ên liền trực tiếp xin ba điều:

1. Ông thử cho chúng tôi ăn rau uống nước trong 10 ngày.

2. Kế đó ông so sánh chúng tôi với những người ăn đồ ăn ngon và uống rượu ngon của vua.

3. Sau hết, ông làm theo điều ông sẽ thấy.

Sau 10 ngày, mặt mày họ xinh tươi, đầy đặn hơn các thanh niên đã ăn uống thức ngon của vua. Vậy, quan quản lý chỉ cho họ ăn rau và trái cây. Không phải họ ăn chay đâu, vì họ chỉ ăn như vậy trong ba năm, sau đó họ ở riêng và trở lại bữa ăn bình thường của người Do thái.

Trong hoàn cảnh khó khăn hiểm nghèo, Đa-ni-ên đã tỏ lòng trung tín với Chúa, chứ không chìu theo sự cám dỗ. Phải trung tín với Chúa hay phải bị hư mất, đó là vấn đề chúng ta phải đương đầu ngày nay. Sự cám dỗ của Đa-ni-ên cũng là sự cám dỗ của chúng ta. Chúng ta thường tìm cách hòa hợp với điều ác hơn là đứng vững trong đức tin mà chống cự điều ác. Chúng ta muốn đứng với số đông, với phe mạnh, vô luận tốt hay xấu. Đa-ni-ên đã đứng vững trên chân mình trong một hoàn cảnh khắt khe mà sinh mạng mình bị đe dọa hằng ngày. Song đức tin mà mất đi vì sợ hãi thì không phải đức tin đến Chúa. Chúng ta tin thế nào phải sống thế ấy, đức tin của Đa-ni-ên đã tỏ ra bằng hành động mà mỗi ngày ai nấy đều thấy, vì người ta đã thử đức tin của họ và thấy hoàn toàn đúng.

Đức tin càng chịu thử lửa, càng có giá trị như vàng. Con người có giá trị là khi đã chịu thử lửa qua các thăng trầm của cuộc đời. Hãy chấp nhận hoàn cảnh, vì nó cho chúng ta cơ hội để phát triển khả năng và ân tứ Chúa ban.

III. PHẦN THƯỞNG CHO SỰ TRUNG TÍN CỦA ĐA-NI-ÊN (17-21).

Không phải tại Y-sơ-ra-ên Chúa mới làm việc, mà cả tại Ba-by-lôn nữa, vì Ngài là Đấng Toàn Năng, Hằng Hữu. Ngài ban cho Đa-ni-ên được ân huệ và thương xót trước mặt vị quan quản lý mình. Ngài ban cho bốn người ăn rau, uống nước trong ba năm mà mặt mày xinh tươi, đầy đặn hơn những người ăn đồ ăn ngon, uống rượu ngon của vua. Ngài ban cho họ thông minh, trí thức và khôn ngoan mười lần hơn những thanh niên bằng tuổi họ kể cả các đồng bóng và thuật sĩ trong nước. Vì vậy họ được trọng dụng trong triều đình Nê-bu-cát-nết-sa cho đến thời Si-ru.

Vua Ba-by-lôn đã chinh phục dân sự bằng vũ lực, còn muốn tiếp tục chinh phục đám thanh niên tuấn tú nhất, biến họ trở nên người Ba-by-lôn. Nhưng Đa-ni-ên và ba bạn của ông cũng muốn chinh phục đế quốc Ba-by-lôn bằng năng lực siêu nhiên là đức tin, để ai nấy phải nhận biết Đức Chúa Trời hằng hữu, tối cao, tối đại.

Phần thưởng của đức tin thật rất lớn, rất lạ, mà ngoài người có đức tin ra không ai được hưởng, kể cả đế quốc Ba-by-lôn. Nếu Đa-ni-ên và ba bạn của ông không có đức tin đó mà buông mình vào sự cám dỗ để phạm tội ô uế, thì Chúa không có cơ hội thi hành phép lạ cho họ.

Nô-ê, Đa-ni-ên và Gióp là ba nhân vật quan trọng trong nước (Ê-xê-chi-ên 14:14). Người ta có thể đổi tên Đa-ni-ên, song không thể đổi tánh của ông. Người ta có thể gọi ông bằng tên gì cũng được, song chính ông biết mình là người Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời. Người ta có thể cướp mất mọi sự của ông, song không thể cướp mất niềm tin của ông. Người ta có thể cám dỗ ông, song không thể khiến ông phạm tội. Người ta có thể chinh phục thân thể ông, mà không thể chinh phục linh hồn ông.

Ngày nay cũng như ngày xưa, Đức Chúa Trời cần có những người như Đa-ni-ên và ba bạn của ông: NHỮNG NGƯỜI TRUNG TÍN VỚI CHÚA.

CÂU HỎI

1. Sách Đa-ni-ên đem lại cho chúng ta những gì?

2. Hoàn cảnh của Đa-ni-ên đã thay đổi như thế nào?

3. Đa-ni-ên đã mất gì và còn gì?

4. Sự cám dỗ nặng nề cho Đa-ni-ên là gì?

5. Đa-ni-ên đã quyết định thế nào?

6. Giải pháp của Đa-ni-ên là gì?

7. Tại sao Đa-ni-ên và ba bạn của ông dám quyết định như vậy?

8. Phần thưởng của Chúa ban cho Đa-ni-ên và các bạn ông là gì?

BÀI 41. BA THANH NIÊN BÀY TỎ ĐỨC TIN

KINH THÁNH: Đa-ni-ên 3:1-30.

CÂU GỐC: “Nầy, hỡi vua! Đức Chúa Trời mà chúng tôi hầu việc, có thể cứu chúng tôi thoát khỏi lò lửa hực, và chắc cứu chúng tôi khỏi tay vua” (Đa-ni-ên 3:17).

MỤC ĐÍCH: Đức Chúa Trời toàn năng luôn ban cho con cái Ngài sự đắc thắng, dầu họ chịu hoạn nạn là cũng để tôn vinh danh Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Không thờ hình tượng

(Đa-ni-ên 3:1-6; Xuất 20:4-5).

TH:

Phải nương cậy Chúa

(Đa-ni-ên 3:7-12; Công vụ 14:15).

TB:

Chịu khổ vì Chúa

(Đa 3:13-18; I Phi 2:20; 3:14; 4:16).

TT:

Chịu chết vì Chúa

(Đa 3:18-23; Mat 5:11; 10:22,39).

TN:

Đồng sống với Chúa

(Đa-ni-ên 3:24-26; Rô-ma 6:4-5).

TS:

Tôn vinh danh Chúa

(Đa 3:27-30; ICôr 6:20).

TB:

Vui mừng trong sự thương khó

(I Phi 4:12-19).

Đa-ni-ên đoạn 2 chép việc vua Nê-bu-cát-nết-sa thấy một điềm chiêm bao, nhưng khi thức dậy thì quên hết. Đa-ni-ên nhắc lại chiêm bao đó và giải nghĩa nó, nên vua đã tôn vinh Đức Chúa Trời và ban thưởng cho Đa-ni-ên cùng ba bạn của ông (Đa-ni-ên 2:46-49).

Theo Chúa là đi trên con đường dài mà lúc nào cũng có thể gặp thử thách liên tục. Tuy nhiên, mục đích của sự thử thách là thêm sức cho đức tin để chuẩn bị đương đầu với những khó khăn sắp tới. Khẩu hiệu của đức tin là: “THÀ TUẬN ĐẠO CHỚ KHÔNG BỘI ĐẠO”.

I. NGUYÊN NHÂN BA THANH NIÊN CHỊU SỰ THỬ THÁCH ĐỨC TIN (3:1-7).

1. Vua Nê-bu-cát-nết-sa khánh thành pho tượng (1-3).

Nê-bu-cát-nết-sa cho làm pho tượng lớn nầy để làm biểu tượng cho vua. Vua nghĩ rằng mình đã chinh phục các dân tộc, các tôn giáo, các thần. Bây giờ vua là độc tôn, đáng cho mọi người thờ lạy (11:36). Vua rất mau quên chiêm bao mà ông nhờ Đa-ni-ên giải nghĩa.

Buổi lễ khánh thành pho tượng tổ chức tại đồng bằng Đu-ra rộng lớn, có đủ chỗ cho mọi người đến dự, nhất là triều thần. Vì ba thanh niên Giu-đa là quan cai trị tỉnh Ba-by-lôn, nên phải hiện diện trong buổi lễ. Chúng ta không hiểu tại sao Đa-ni-ên lại vắng mặt, phải chăng ông bận công tác đặc biệt?

Có một ban nhạc gồm đủ thứ nhạc khí để làm cho buổi lễ càng long trọng, đồng thời cũng làm hiệu lệnh cho mọi người nhứt tề vâng theo. Vua muốn ngàn người như một đều quì lạy trước pho tượng vàng của mình. Để đối phó với những kẻ dám liều mình bất tuân, ông sắm sẵn một lò lửa cho họ.

2. Mạng lịnh về sự thờ phượng pho tượng (4-7).

Đâu đó xong xuôi, vua truyền lịnh cho mọi người, là khi các nhạc khí trổi lên thì ai nấy phải quì gối xuống, cúi đầu trước pho tượng vàng của vua đã dựng. Nếu ai bất tuân sẽ bị quăng vào lò lửa hực tức khắc. Nghe hiệu lịnh đó, mọi người đều răm rắp tuân theo.

II. ĐỨC TIN CỦA BA THANH NIÊN TRONG HOÀN CẢNH THỬ THÁCH (3:8-23).

1. Đứng vững trước lời tố cáo (8-23).

Triều đình thời đó luôn luôn muốn toàn dân có đồng một tín ngưỡng, tức là chỉ theo một tôn giáo do nhà vua chủ trương. Nhưng tín ngưỡng của dân Giu-đa không giống như tín ngưỡng của các dân tộc khác trong thế giới thời đó. Đó là nguyên nhân khiến Đa-ni-ên và các bạn của ông gặp khó khăn liên tiếp. Họ không chịu ăn uống thức ăn và rượu của vua, bây giờ các bạn của ông không chịu thờ lạy pho tượng dầu biết rằng làm như vậy sẽ bị thiêu sống.

Các dân tộc khác rất dễ dàng khuôn rập với mọi hoàn cảnh, hoặc giả bộ, hoặc thật thà, miễn sao cho xong chuyện, qua cơn khủng hoảng. Riêng ba thanh niên Giu-đa phải đứng một mình, độc lập giữa muôn dân, vì vậy họ bị tố cáo.

Đang khi mọi người quì mọp mà mình cứ đứng thẳng, thì dễ bị phát hiện, và dễ xui cho ai nấy bực tức. Đấy là những quan quyền bản xứ, không thích người ngoại quốc có địa vị cao hơn mình. Nhơn cơ hội nầy, chúng tố cáo ba thanh niên Giu-đa bằng những lời độc ác. Trước hết, chúng chúc tụng vua, rồi xin vua xác nhận mạng lịnh của mình. Tiếp theo đó, chúng kể từng tên 3 thanh niên ngoại quốc mà vua đã cất nhắc họ lên cai trị tỉnh Ba-by-lôn, thế mà, hỡi ôi, họ không kiêng nể vua một chút nào vì họ chẳng thờ các thần của vua, cũng chẳng lạy tượng vàng của vua đã dựng.

2. Đứng vững trước vua (13-15).

Nghe lời tố cáo trên, vua Nê-bu-cát-nết-sa giận dữ, nhưng không truyền giết họ ngay mà bảo đưa họ đến. Vua rất nghiêm nghị hỏi họ, nhưng cũng vỗ về, cho họ có cơ hội chuộc lỗi: Nếu lần nầy họ tuân lệnh, thì vua sẵn sàng tha thứ. Song vua cũng đe dọa, là nếu họ cố ý bất tuân, thì họ sẽ tức khắc bị quăng vào lò lửa hực. Đồng thời, vua cũng thách thức: “Rồi thần nào có thể giải cứu các ngươi khỏi tay ta?”. Vua muốn nói rằng cả Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ cũng không thể cứu họ được. Vua nói giống như vua San-chê-ríp thách thức Đức Chúa Trời, vì vua tưởng Ngài cũng như các thần khác.

San-chê-ríp ơi! Nê-bu-cát-nết-sa ơi! Hai vua đã lầm to! Phải, không thần nào có thể giải cứu họ khỏi tay các vua, song Đức Chúa Trời có thể làm việc đó, vì ngoài Ngài ra, không có thần nào đáng gọi là THẦN. Ngài là Đức Chúa Trời, Đấng Toàn Năng.

3. Đứng vững trước lò lửa hực (16-18).

Ba thanh niên tâu với vua: “Hỡi Nê-bu-cát-nết-sa, về sự nầy, không cần cho chúng tôi tâu lại cho vua. Nầy, hỡi vua! Đức Chúa Trời mà chúng tôi hầu việc có thể cứu chúng tôi thoát khỏi lò lửa hực và chắc cứu chúng tôi khỏi tay vua. Dầu chẳng vậy, hỡi vua, xin biết rằng chúng tôi không hầu việc các thần của vua và không thờ phượng pho tượng vàng mà vua đã dựng”. Họ thà chết chứ không bao giờ chịu phạm tội.

Trên đây là câu trả lời chung cho người tận tâm theo Chúa (Công vụ 4:19; 5:29). Thật ra họ không trả lời, mà nhường cho Đức Chúa Trời trả lời. Chúng ta nên nhớ rằng, không phải lúc nào Chúa cũng ban cho kẻ theo Ngài một đời sống an nhàn thoải mái đâu, vì dầu Ngài có thừa năng lực giải cứu chúng ta khỏi lò lửa hực, khỏi mọi bệnh tật, song Chúa đã không làm. Vì chính đó là cơ hội mà chúng ta bày tỏ đức tin của mình và danh Chúa được vinh hiển. Phần thưởng của kẻ theo Chúa không phải ở trong đời nầy (IICôr 4:16-18). Vậy, chúng ta phải hoàn toàn đầu phục Chúa, để Ngài trọn quyền thực hiện chương trình của Ngài trong chúng ta.

4. Đứng vững trong lò lửa hực (19:23).

Vua Nê-bu-cát-nết-sa biến sắc mặt vì tức giận quá chừng. Trong đời vua chưa ai dám nói với vua như ba thanh niên nầy. Lò lửa đã nóng đủ để giết người song vua truyền lệnh nói phải đốt nóng hơn bảy lần nữa. Đáng lẽ ba thanh niên bị lột hết quần áo, vì họ mặc lễ phục, song vì lịnh truyền gấp rút, các binh sĩ đã vội vàng trói ba nạn nhân với cả áo quần của họ mà quăng vào lò lửa. Vì lò lửa nóng lạ thường nên chính các binh sĩ đó đã chết thiêu.

Nê-bu-cát-nết-sa đã thống nhất binh quyền trong tay mình, vua cũng đã muốn thông nhất tôn giáo, song về điều sau, vua đã thất bại. Theo quá trình lịch sử nhân loại, con người muốn đưa nhiều triết thuyết, chủ nghĩa, tôn giáo… để thế chỗ Đức Chúa Trời. Nhưng không gì có thể thế chỗ Đức Chúa Trời.

III. KẾT QUẢ SỰ THỬ THÁCH ĐỨC TIN CỦA BA THANH NIÊN (3:24-30).

1. Ba thanh niên được thiên sứ bảo vệ (24-25).

Thiên sứ không hiện ra cho đến khi ba thanh niên bị quăng vào lò lửa. Phép lạ không được thực hiện cho đến khi đức tin được trọn vẹn. Đối với Nê-bu-cát-nết-sa, họ liều chết giữ đức tin, đối với Đức Chúa Trời họ hoàn toàn đầu phục, hoặc sống hay chết cũng được, vì họ tin mọi việc Ngài làm đều tốt cả.

Nê-bu-cát-nết-sa xoa tay vào nhau, tỏ ý thỏa mãn, vì đã trừ ba tên cứng đầu. Thình lình, ông ngạc nhiên, vội vàng đứng dậy, vì biết chắc chắn mình chỉ xử tử ba người, nhưng kìa, có bốn người bước đi thong dong giữa lửa, mà người thứ tư giống như con trai các thần.

2. Ba thanh niên được giải thoát (26-27).

Vua đến gần lò lửa, kêu đích danh ba thanh niên Giu-đa, nhấn mạnh họ là đầy tớ của Đức Chúa Trời chí cao, bảo họ đi ra. Ba thanh niên từ giữa lửa bước ra. Ai nấy đều xúm lại, thấy lửa không làm hại gì hết cho ba người: Tóc không xém, quần áo không cháy, thậm chí mùi lửa cũng không có. Họ bị trói và bị quăng vào lò lửa nóng gấp bảy lần bình thường, mà khi trở ra chẳng hề hấn gì, chỉ có dây trói bị cháy thôi.

3. Đức Chúa Trời được tôn vinh (28-30).

Nê-bu-cát-nết-sa đã hỏi: “Rồi thần nào có thể giải cứu các ngươi khỏi tay ta?”, bấy giờ chính vua phải trả lời: “Đáng ngợi khen Đức Chúa Trời… cho nên ta ban chiếu chỉ nầy…” Nhờ đó, vua đã nhận biết sự sai lầm của mình. Đức Chúa Trời không phải như vua đã tưởng. Ba thanh niên được vua khen là can đảm, xem thường sự chết để chỉ phục vụ một mình Đức Chúa Trời.

Thà chết vì danh Chúa còn hơn phạm tội. Họ là anh hùng đức tin (Hê-bơ-rơ 11:32-33). Chắc nghĩ về họ mà Phi-e-rơ đã viết I Phi-e-rơ 4:12-16.

CÂU HỎI

1. Đoạn 2 của sách Đa-ni-ên chép về gì?

2. Tại sao Nê-bu-cát-nết-sa dựng pho tượng vàng?

3. Mạng lịnh của ông trong ngày lễ khánh thành là gì?

4. Tại sao ba thanh niên bị tố cáo?

5. Vua đe dọa họ thế nào?

6. Họ bày tỏ đức tin ra sao?

7. Vua ra lịnh làm gì họ?

8. Thiên sứ giải cứu họ cách nào?

9. Khi ra khỏi lò lửa thì thân thể họ thế nào?

10. Chiếu chỉ của Nê-bu-cát-nết-sa bày tỏ điều gì?

BÀI 42. NGÓN TAY VIẾT TRÊN TƯỜNG

KINH THÁNH: Đa-ni-ên 5:1-31.

CÂU GỐC: “Thôi, chớ nói những lời kiêu ngạo, chớ để những lời xấc xược ra từ miệng các ngươi nữa; vì Giê-hô-va là Đức Chúa Trời thông biết mọi điều, Ngài cân nhắc mọi việc làm của người” (I Sa-mu-ên 2:3).

MỤC ĐÍCH: Sự đo lường của Chúa rất chính xác đối với động cơ, ngôn ngữ và hành vi của chúng ta. Chúng ta phải vâng lời Chúa thì mới không bị coi là “thiếu hụt” trước mặt Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Khinh lờn vật thánh

(Đa-ni-ên 5:1-4).

TH:

Ngón tay viết trên tường

(Đa-ni-ên 5:5-9).

TB:

Tìm người giải nghĩa các chữ

(Đa-ni-ên 5:10-16).

TT:

Người có linh của các thần

(Đa-ni-ên 5:17-21).

TN:

Vạch rõ tội của vua

(Đa-ni-ên 5:22-24).

TS:

Vua bị cân và thấy thiếu

(Đa-ni-ên 5:25-28).

TB:

Tiền công của tội lỗi là sự chết

(Đa-ni-ên 5:29-31).

Đa-ni-ên đoạn 4 chép về Nê-bu-cát-nết-sa nằm chiêm bao, và người bị sửa trị. Đoạn 5 chép thảm kịch và sự sụp đổ hoàn toàn của đế quốc Ba-by-lôn. Đế quốc Ba-by-lôn hùng cường bậc nhất thế giới vào thời Nê-bu-cát-nết-sa làm vua. Thành Ba-by-lôn vĩ đại và kiên cố lạ lùng: Dài hơn 96 km, ngang hơn 80 km, bao bọc bằng một bức tường dày 25m, sâu xuống khỏi mặt đất 12m. Bên ngoài vách thành có hào rộng và sâu, đầy nước ở bốn phía. Trên vách thành có 250 tháp canh, thành có 1.000 cổng bằng đồng… Theo vũ khí thời xưa thì thành Ba-by-lôn không thể nào bị mất.

Nhưng ngay khi đó thì hai tiên tri của Đức Chúa Trời là Ê-sai và Giê-rê-mi đã nói: “Ba-by-lôn là sự vinh hiển của các nước, sự hoa mĩ của lòng kiêu ngạo người Canh-đê, sẽ giống như Sô-đôm và Gô-mô-rơ mà Đức Chúa Trời đã lật đổ. Nó sẽ chẳng hề có người ở nữa, trải đời nọ sang đời kia không ai ở đó… Song những thú rừng sẽ đến ở, và nhà cửa đầy những chim cú, chim đà choán làm chỗ mình, dê đực lấy làm nơi nhảy nhót. Sài lang sủa trong cung điện, chó rừng tru trong đền đài vui sướng… Ba-by-lôn sẽ trở nên đống hư nát, hang chó rừng, trò gỡ lạ và xỉ báng, không có dân ở nữa” (Ê-sai 13:19-20; Giê-rê-mi 51:37). Đế quốc Ba-by-lôn đã bị sụp đổ sau khi ngón tay viết trên tường.

I. NGUYÊN NHÂN NGÓN TAY VIẾT TRÊN TƯỜNG (1-4).

Bên-xát-sa là vua cuối cùng của Ba-by-lôn. Ỷ lại vào kinh thành Ba-by-lôn kiên cố, nên đang khi quân đội Ba-tư bao vây bên ngoài thì bên trong, Bên-xát-sa mở đại yến đãi một ngàn đại thần: “Vua uống rượu trước mặt họ” để khoe khoang sự khôn ngoan, sang trọng và thế lực của mình. Rồi vua hứng chí ra lịnh đem các khí mạnh bằng vàng, bằng bạc mà Nê-bu-cát-nết-sa đã cướp được trong đền thờ của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem để mọi người dùng uống rượu. Làm việc đó vua có ý chế nhạo Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên không bằng các thần của vua. Nê-bu-cát-nết-sa đã kiêu ngạo, Bên-xát-sa còn kiêu ngạo hơn, đúng như Sa-lô-môn đã nói: “Rượu khiến người ta nhạo báng, đồ uống say làm cho hỗn hào” (Châm ngôn 20:1).

II. HẬU QUẢ CỦA NGÓN TAY VIẾT TRÊN TƯỜNG (5:31).

1. Bên-xát-sa hốt hoảng (5-9).

Bên-xát-sa đang ăn uống, chuyện trò vui vẻ thỏa thích, thì đột nhiên trên bức tường đối diện với vua hiện ra những ngón tay viết chữ trên đó. Thấy vậy mặt vua biến sắc, bối rối và sợ hãi, đến nỗi xương lưng rời khớp hết, hai đầu gối run rẩy chạm vào nhau. Vua kêu lớn, truyền vời đến ngay các phần tử ưu tú nhất trong nước là đồng bóng, thuật sĩ, người Canh-đê và thầy bói. Vua hứa ban cho họ những phần thưởng quí báu lớn lao nếu họ có thể đọc những chữ viết trên tường và giải thích. Nhưng không ai có thể đọc chữ, cũng không ai có thể giải nghĩa cho vua. Vì vậy, ông càng thêm bối rối và sợ hãi. Triều thần đều sửng sờ ngồi trơ như tượng đá.

2. Đa-ni-ên được vời đến (10-16).

Nghe mọi việc đã xảy ra, thái hậu vội vàng đến phòng tiệc, mách cho vua biết trong nước có một người được linh của các thần ở trong. Bà nhắc lại trường hợp của tiên đế là vua Nê-bu-cát-nết-sa đã nhờ người đó giải nghĩa điềm chiêm bao. Bà đề nghị vua cho vời Đa-ni-ên đến. Vua Bên-xát-sa hỏi Đa-ni-ên với vẻ tự kiêu, rồi thuật lại lời giới thiệu của thái hậu, đồng thời háo hức ban cho Đa-ni-ên phần thưởng lớn lao nếu ông có thể đọc và giải nghĩa được dòng chữ trên tường.

Việc của Đức Chúa Trời, thì chỉ có đầy tớ Ngài mới hiểu được. Việc thuộc linh thì chỉ có những kẻ có sự sống thuộc linh mời hiểu được, vì phải dùng lời thuộc linh mà giải nghĩa sự thuộc linh (ICôr 12:13).

3. Đa-ni-ên lên án Bên-xát-sa (17-23).

Trước hết, Đa-ni-ên từ chối tất cả những phần thưởng vua dành cho mình. Tuy nhiên, ông sẵn sàng đọc và giải nghĩa các chữ đó cho vua. Đa-ni-ên khác hơn Ba-la-am biết bao!

Đa-ni-ên bắt đầu nhắc lại cho vua Bên-xát-sa rằng Đức Chúa Trời rất cao đã ban cho Nê-bu-cát-nết-sa mọi sự như ngôi báu, thế lực, vinh quang, uy nghi. Vì vậy, các nước, các dân, các thứ tiếng đều run rẩy trước mặt người. Nhưng đáng ra vua phải nhận biết sự ban cho của Đức Chúa Trời mà phủ phục trước Ngài để thờ phượng, thì ngược lại, người đã tự tôn, cứng cỏi, kiêu căng nên đã bị truất ngôi, mất cả vinh quang, lại còn bị đuổi khỏi loài người, mất cả nhân tánh, trở nên như một con vật sống giữa rừng: “Vua sẽ bị buộc phải ăn cỏ như bò và sẽ được thấm nhuần sương móc trên trời; bảy kỳ sẻ trải qua trên vua, cho đến khi vua nhận biết rằng Đấng Rất cao cai trị trong nước loài người, và Ngài muốn ban cho ai tuỳ ý” (Đoạn 4).

Bấy giờ, Đa-ni-ên lên án Bên-xát-sa: “Hỡi vua Bên-xát-sa … vua cũng vậy, dầu vua đã biết hết các việc ấy, mà lòng vua cũng không chịu nhún nhường chút nào”. Rồi ông kể 4 tội của Bên-xát-sa: (1) Vua đã tự tôn nghịch cùng Đức Chúa Trời. (2) Vua đã xúc phạm Đức Chúa Trời mà đem các vật thánh dùng vào việc phàm. (3) Vua thờ các thần vô tri, không phải là thần. (4) Vua không thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng cầm trong tay hơi thở và hết thảy đường lối của vua.

Chỉ có đầy tớ của Đức Chúa Trời, lại là người đầy dẫy Đức Thánh Linh mới dám trực tiếp quở trách vua của một đại cường quốc trong thời quân chủ chuyên chế như vậy. Đó là người phục vụ được Đức Chúa Trời đẹp lòng như một công nhân gương mẫu, ngay thẳng giảng dạy lẽ thật (II Ti-mô-thê 2:15). Mặc dầu nhiều người biết lẽ thật, song không phải ai cũng dám nói. A-háp, Giê-sa-bên đang tìm kiếm tiên tri của Đức Chúa Trời để giết, thế mà, tiên tri Ê-li đã dám đến với A-háp để nói rằng: “Tôi đứng trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên hằng sống…”

Vì đã đứng trước mặt Đức Chúa Trời, nên Ê-li đủ tư cách và dũng cảm đứng trước mặt A-háp. Vì đã đứng trước mặt Đức Chúa Trời, nên Môi-se có đủ tư cách và dũng cảm đứng trước mặt Pha-ra-ôn (Hê-bơ-rơ 11:27). Đa-ni-ên cũng đứng trước mặt Bên-xát-sa cách can đảm.

III. Ý NGHĨA CÁC CHỮ NGÓN TAY VIẾT TRÊN TƯỜNG.

1. Đa-ni-ên đọc chữ trên tường và giải nghĩa (24-28).

“Vì Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo” nên Ngài đã sai bàn tay viết trên tường như sau: “MÊ-NÊ, MÊ-NÊ, TÊ-KEN U-PHÁT-SIN”.

MÊ-NÊ là “đếm”: Đức Chúa Trời đã đếm những ngày của nước vua và ra lệnh chấm dứt nó, mặc dầu vua và nước vua được chúc tụng muôn năm. TÊ-KEN là “cân”: Đức Chúa Trời đã để vua lên cân và thấy vua kém thiếu. Vua tưởng mình là quan trọng, kỳ thật không quan trọng bao nhiêu, nếu không muốn nói là không quan trọng gì cả. “Kìa các dân tộc khác nào một giọt nước nhỏ trong thùng, và kể như một mảy bụi rơi trên cân… Mọi dân tộc ở trước mặt Đức Giê-hô-va thảy đều hư không, Ngài xem như trống không và hư vô vậy” (Ê-sai 40:15-17).

PHÊ-RẾT là “chia”: Đa-ni-ên đã đọc U-PHÁT-SIN song khi giải nghĩa, ông dùng chữ PHÊ-RẾT, U-PHÁT-SIN là số nhiều, PHÊ-RẾT là số ít, cả hai đồng nghĩa và trong đó có chữ Phe-rơ-sơ. Đa-ni-ên nói: “Nước vua bị chia ra, được ban cho người Mê-đi và người Phe-rơ-sơ” (Ba-tư).

2. Bản án của ngón tay viết được thực hiện.

Đó là bản án của Chúa dành cho Bên-xát-sa. Ngay đêm đó, bản án được thi hành – trong khi vua tôi Ba-by-lôn tiệc yến say sưa, thì quân đội Ba-tư đào một con kinh cho sông Ơphơrát chảy qua đó, nước sông Ơphơrát cạn. Quân đội Ba-tư theo đường sông đào một đường hầm vào thành Ba-by-lôn để chiếm lấy.

Bên-xát-sa không ngờ đêm đó là thì giờ cuối cùng của đời mình, bữa tiệc đó là cuộc gặp gỡ cuối cùng với bầy tôi. Kẻ thù đứng trước cửa mà bên trong tổ chức yến tiệc là điều phi lý. Mới xem như một việc tình cờ xảy ra, song không phải. Đó là kết quả của một xã hội trụy lạc mà Đức Chúa Trời đã khoan dung, nhẫn nại, nhân từ, chờ đợi họ ăn năn. Sau thời gian khá dài là 70 năm, trong đó Nê-bu-cát-nết-sa làm vua 45 năm, bấy giờ Ngài phải thi hành bản án. Chúng ta thấy những cây to thình lình bị ngã, song thật ra bên trong đã bị những con sâu đục khoét từ lâu rồi. Một xã hội bị những con sâu trác táng, say sưa, tham nhũng đục khoét thì sớm muộn cũng bị đục đổ. “Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu, vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy” (Ga-la-ti 6:7).

Với mỗi cá nhân, chúng ta hãy thức tỉnh. Khi yếu đuối, bệnh tật, là dấu hiệu để chúng ta kịp thời tự xét và ăn năn. Sự yếu đuối, bệnh tật của thể xác là dấu hiệu của một bộ phận nào bị sai lạc, sự nguội lạnh hâm hẩm của tâm hồn cũng vậy. Tiên tri Ô-sê đã cảnh cáo dân Y-sơ-ra-ên: “Tóc đầu nó đã bạc lém đém mà nó chẳng ngờ” (Ô-sê 7:9). Hãy coi chừng tội xúc phạm đến sự thánh khiết của Chúa, tức là khinh thường vật thánh như Bên-xát-sa. Thân thể chúng ta là đền thờ của Ngài. Đây là một khí mạnh thánh khiết được dâng cho Chúa để phục vụ Ngài. Không ai được phép sử dụng thân thể mình vào một việc gì khác ngoài ra tôn vinh Ngài (ICôr 6:19-20; ITê 4:3-5; 5:23). Không phân biệt sự thánh khiết và sự ô uế là dấu hiệu của sự sa sút đưa đến sự sụp đổ (Ê-xê-chi-ên 22:26).

CÂU HỎI

1. Thành Ba-by-lôn được mô tả như thế nào?

2. Đang khi quân Ba-tư vây quanh Ba-by-lôn, thì Bên-xát-sa làm gì? Tại sao?

3. Bên-xát-sa đem khí mạnh của đền thờ Đức Chúa Trời dùng uống rượu là có ý gì?

4. Khi Bên-xát-sa và đại thần đang uống rượu, việc gì xảy ra?

5. Khi thấy vậy Bên-xát-sa đã làm gì?

6. Đa-ni-ên đã giải nghĩa gì cho Bên-xát-sa?

7. Tại sao Đa-ni-ên dám quở trách Bên-xát-sa?

8. Đa-ni-ên giải nghĩa thế nào về các chữ trên tường?

9. Kết quả vua và nước Ba-by-lôn đã ra sao?

10. Bài học nầy có những sự dạy dỗ gì cho chúng ta?

BÀI 43. ĐA-NI-ÊN BỊ THỬ THÁCH

KINH THÁNH: Đa-ni-ên 6:1-28.

CÂU GỐC: “Vua cất tiếng nói cùng Đa-ni-ên rằng: Đức Chúa Trời ngươi là Đấng ngươi hằng hầu việc, sẽ giải cứu ngươi” (Đa-ni-ên 6:16).

MỤC ĐÍCH: Người hết lòng tin cậy và vâng phục Chúa cũng không thoát khỏi khó khăn, song sẽ được Chúa giải cứu.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đa-ni-ên có linh tánh tốt lành

(Đa-ni-ên 6:1-3).

TH:

Vì trung thành mà Đa-ni-ên bị ám hại

(Đa-ni-ên 6:4-9).

TB:

Đa-ni-ên xưng Chúa ra

(Đa-ni-ên 6:10-11).

TT:

Đa-ni-ên bị vu cáo

(Đa-ni-ên 6:12-15).

TN:

Đa-ni-ên chịu thử thách

(Đa-ni-ên 6:16-20).

TS:

Đức Chúa Trời bày tỏ quyền năng với Đa-ni-ên

(Đa-ni-ên 6:21-24).

TB:

Đức Chúa Trời được tôn vinh

(Đa-ni-ên 6:25-28).

Sách Đa-ni-ên đoạn 3 và đoạn 6 chép hai việc quan trọng bổ túc lẫn nhau về nếp sống của tín đồ. Về phương diện tích cực, tín đồ phải quyết tâm thi hành bổn phận đối với Chúa là hằng ngày cầu nguyện như Đa-ni-ên, như ba bạn của Đa-ni-ên trung thành với Chúa, mặc dù phải trái mạng lịnh của vua Nê-bu-cát-nết-sa. Chính Đa-ni-ên cũng đã trung thành với Chúa, mặc dù phải phạm cấm lịnh của vua Đa-ri-út. Kết quả là ba bạn của Đa-ni-ên bị quăng vào lò lửa, Đa-ni-ên bị quăng vào hang sư tử. Nhưng Đức Chúa Trời đã giải cứu hết thảy.

I. ĐA-NI-ÊN BỊ GHEN TỊ (1-9)

Từ một tên phu tù, Đa-ni-ên đã lên đến tuyệt điểm vinh quang là được làm thủ tướng của cường quốc Ba-by-lôn. Ông chỉ đứng sau vua mà thôi. Việc đó khiến các quan trong triều ghen tị, họ tìm đủ cách để tố cáo ông. Nhưng vì Đa-ni-ên là người trung thành, tận tâm, lại có linh tánh xuất chúng, nên họ không tìm được cớ gì cả. Bấy giờ các quan nghĩ rằng chỉ còn một cách là đụng đến tín ngưỡng của ông, vì ông là người hay cầu nguyện với Đức Chúa Trời. Vậy, các quan thượng thư và trấn thủ đại diện cho toàn thể các quan, vào chầu vua Đa-ri-út. Họ xin vua lập một cấm lịnh trong ba mươi ngày, ai nấy phải cầu nguyện với vua mà thôi, nếu cầu nguyện với ai hoặc thần nào, thì kẻ ấy sẽ bị quăng vào hang sư tử. Trong thời đó người ta xem vua như một vị thần, đáng được nhân dân thờ phượng. Tánh kiêu ngạo của con người bao giờ cũng muốn mình được tôn cao hơn hết, đứng vào hàng số một, nên khi nghe lời tâng bốc ấy, Đa-ri-út lấy làm thích thú, vội vàng chấp nhận ngay mà không hỏi ý kiến của Đa-ni-ên, mặc dầu vua không thấy ông có mặt trong số các quan đến chầu. Vì vậy Đa-ri-út đã mắc mưu của họ.

Sự cám dỗ của ma quỉ là đưa con người lên bằng Đức Chúa Trời, thế chỗ và chiếm vị Ngài (Ê-sai 14:12-15), còn nó thì đứng sau con người đó. Vì vậy, Đa-ri-út đã ra một cấm lịnh rất vô lý, phạm đến tự do tín ngưỡng là quyền cao cả của mỗi người.

II. ĐA-NI-ÊN BỊ ÁM HẠI (10-15).

Hai quan thượng thư đến chầu Đa-ri-út mà không mời Đa-ni-ên cùng đi, vì họ biết rằng ông không bao giờ đồng ý với họ về một việc vô lý như vậy. Khi cấm lịnh được ban hành, Đa-ni-ên vẫn thản nhiên giữ sự thờ phượng Chúa đều đặn, tương giao với Ngài qua sự cầu nguyện mỗi ngày ba lần, trước sau như một, không hề dời đổi. Từ khi bị lưu đày, người Y-sơ-ra-ên không còn có sự thờ phượng riêng trong gia đình, nhất là thờ phượng qua sự cầu nguyện, nhưng Đa-ni-ên vẫn trung thành thờ phượng Chúa. Đó là bí quyết thành công của Đa-ni-ên và ba bạn của ông. Họ được khôn ngoan sáng suốt gấp mười lần mọi người, đến nỗi vua Nê-bu-cát-nết-sa sấp mặt xuống để tỏ lòng tôn kính Đa-ni-ên, như Cọt-nây đã làm đối với Phi-e-rơ (Công vụ 10:25).

Trung thành theo Chúa là theo Chúa luôn, vô luận nơi nào, lúc nào, hoàn cảnh nào, giai đoạn nào. Bất trung là theo Chúa từng hồi, từng lúc, tuỳ thời, tùy buổi. Có người trách Đa-ni-ên là cứng rắn quá đáng, lẽ ra ông nên khom lưng, uốn mình một chút, như giả dại qua ải, chỉ trong ba mươi ngày thôi. Nhưng Đa-ni-ên không phải là một cây liễu, mà là một cây sồi, ông có đức tính cương trực, vững vàng, không dễ bị uốn nắn. Chúa Jêsus cũng phán về Giăng Báp-tít rằng ông ấy không giống như cây sậy bị gió rung (Ma-thi-ơ 11:7).

Dầu chỉ ba mươi ngày không được cầu nguyện với Chúa, thì đối với Đa-ni-ên, đó là một sự mất mát vô cùng to lớn. Trước những thử thách trong đời sống, một số người theo Chúa đã sẵn sàng thoả hiệp với những Đa-ri-út thời nay để đổi lấy giá trị tạm bợ của thế gian, không xem trọng sự cầu nguyện, chối bỏ Đấng Christ và đặt Đa-ri-út thế chỗ Ngài. Ba mươi ngày mất sự tương giao với Chúa là mất nguồn sinh lực, mất hơi thở của linh hồn, là mất hết mọi sự cho đến đời đời. Nếu kẻ thù đã cấm được Đa-ni-ên cầu nguyện ba mươi ngày, họ sẽ tiếp tục cấm thêm ba mươi ngày nữa, rồi ba trăm ngày. Thế thì, Đa-ni-ên sẽ không còn là tín đồ của Chúa.

Sau khi cấm lịnh đã ban hành, kẻ thù không nhắm ai ngoài Đa-ni-ên, nên họ rình mò, theo dõi ông từng ngày. Họ đã nhiều lần thấy tận mắt Đa-ni-ên quì gối trong phòng, cửa sổ mở về hướng Giê-ru-sa-lem, tại đó ông cầu nguyện, nài xin với Đức Chúa Trời mình. Bấy giờ các kẻ thù của Đa-ni-ên liền đến chầu vua Đa-ri-út và xin vua xác nhận cấm lịnh xủa mình. Kế đó, họ tâu: “Đa-ni-ên là một trong những con cái phu tù của Giu-đa không có lòng kiêng nể vua chút nào, hỡi vua, dầu đến cấm lệnh vua đã ký tên cũng vậy, song nó cứ một ngày cầu nguyện ba lần”. Kẻ thù làm chứng xấu Đa-ni-ên trước mặt Đa-ri-út, nhưng đồng thời làm chứng tốt Đa-ni-ên trước mặt Đức Chúa Trời. Ngài rất thỏa lòng có một người như Đa-ni-ên, dám cứ cầu nguyện một ngày ba lần, dầu có cấm lịnh của vua Đa-ri-út.

Đa-ri-út nghe lời tố cáo của các quan, vua lấy làm buồn bã biết mình đã mắc mưu họ. Vua cố gắng tìm đủ cách để cứu Đa-ni-ên, song mãi cho đến tối vua cũng không tìm được. Đang khi đó, triều thần họp lại làm áp lực, yêu cầu vua thực hiện luật nước Mê-đô Ba-tư mà thi hành cấm lịnh vua đã ký tên.

III. ĐA-NI-ÊN BỊ QUĂNG VÀO HANG SƯ TỬ VÀ ĐƯỢC CỨU (16-23).

Bất đắc dĩ, Đa-ri-út phải truyền điệu Đa-ni-ên đến và ném ông vào hang sư tử. Đa-ni-ên biết chắc chắn rằng đó là nơi ông phải đến khi không tuân cấm lịnh của vua. Ông tin Chúa có quyền bịt mồm sư tử, cũng như tắt ngọn lửa hừng, song cũng sẵn lòng vâng phục ý Ngài. Ông hoàn toàn đặt mình trong tay Chúa, sống hay chết đều tốt cả.

Đa-ri-út an ủi Đa-ni-ên: “Đức Chúa Trời ngươi là Đấng ngươi hằng hầu việc, sẽ giải cứu ngươi”. Tối đó, vua không ăn uống, suốt đêm vua không ngủ được, đợi cho trời mau sáng. Có lẽ vua rất hối tiếc vì mình đã làm một việc ngu dại, nên mất một thiên tài. Vua dậy lúc rạng đông, vội vàng đến hang sư tử. Với giọng buồn thảm, vua gọi: “Hỡi Đa-ni-ên, tôi tớ của Đức Chúa Trời hằng sống! Đức Chúa Trời ngươi mà ngươi hằng hầu việc, có thể giải cứu ngươi khỏi sư tử được chăng?” Từ trong hang sư tử, Đa-ni-ên đáp: “Hỡi vua, chúc vua sống đời đời! Đức Chúa Trời tôi đã sai thiên sứ Ngài, và bịt miệng các sư tử, nên chúng nó không làm hại chi đến tôi, bởi tôi đã được nhận là vô tội trước mặt Ngài. Hỡi vua, đối với vua cũng vậy, tôi chẳng từng làm hại gì”. Đa-ni-ên không có tội đối với Chúa, cũng không có tội đối với người, song người ta đã xử tử ông chỉ vì ông sốt sắng cầu nguyện với Chúa một ngày ba lần.

Vua mừng rỡ lắm, truyền đem Đa-ni-ên ra khỏi hang sư tử, và người ta không thấy một vết gì trên mình ông. Không có gì có thể làm hại Đa-ni-ên trong hang sư tử cũng như không có gì có thể làm hại ba bạn của ông trong lò lửa hực.

IV. KẾT QUẢ SỰ THỬ THÁCH CỦA ĐA-NI-ÊN.

1. Kẻ thù bị hại (24).

Khi những kẻ đã lập mưu ám hại Đa-ni-ên bị quăng xuống hang sư tử theo lệnh của vua, thì họ bị sư tử vồ nuốt ngay. Như vậy, sư tử không làm hại Đa-ni-ên không phải tại chúng không đói, mà thiên sứ đến bịt nồm chúng nó lại. Ngọn lửa hừng đã hủy diệt các kẻ ném ba bạn của Đa-ni-ên vào đó thì sư tử cũng vồ nuốt các kẻ thù của Đa-ni-ên.

2. Chúa được tôn vinh (25-28).

Đa-ri-út không tiếc lời tôn vinh Chúa: Ngài là Đấng hằng sống, chớ không phải như con người, nay còn mai mất. Nước Ngài là nước đời đời, chớ không phải như nước tạm thời của trần gian. Ngài giải cứu kẻ nhờ cậy Ngài chớ không ai giải cứu được.

Chúng ta không thể nào sống theo dư luận của người xung quanh mà phải sống theo nguyên tắc nhất định của Chúa. Trải qua các đời, có những con cái Chúa bị xem như rác rến của thế gian, cặn bã của xã hội, lưu lạc rày đây mai đó, song trước mặt Ngài, họ là những anh hùng đức tin mà chỉ cõi đời đời mới lường hết giá trị của họ. Họ đã giữ gìn niềm tin chánh đáng, niềm tin cứu rỗi, là niềm tin đến Đức Chúa Trời toàn năng bằng mọi giá. Họ đã chọn con đường hẹp, dầu rất ít người đi, song có Chúa đồng đi. Cuối cùng của người dám đứng vững trong niềm xác tín của mình là người đáng kính mến. Vì người đó đã soi đường dẫn lối cho người sau.

CÂU HỎI

1. Tại sao Đa-ni-ên bị ghen tị?

2. Những người ghét Đa-ni-ên đã hại ông bằng cách nào?

3. Tại sao Đa-ri-út ký tên vào cấm lịnh?

4. Đa-ni-ên làm gì trước cấm lịnh của vua?

5. Ba mươi ngày không cầu nguyện với Chúa có hại thế nào?

6. Tại sao Đa-ri-út tìm cách cứu Đa-ni-ên?

7. Tại sao sư tử không làm hại Đa-ni-ên?

8. Đa-ni-ên bị xử tử vì tội gì?

9. Kết quả của việc đó là thế nào?

10. Ngày nay, chúng ta phải sống thế nào để bày tỏ niềm xác tín của mình?

BÀI 44. DÂN GIU-ĐA VỀ NƯỚC

KINH THÁNH: E-xơ-ra 1:1-11; 2:64-70.

CÂU GỐC: “Người sẽ kêu cầu Ta, Ta sẽ đáp lời người; trong sự gian truân, Ta sẽ ở cùng người; giải cứu người, và tôn vinh người” (Thi thiên 91:15).

MỤC ĐÍCH: Chúa giữ gìn con cái Ngài trong hoạn nạn, vì phước hạnh thường giấu kín trong hoạn nạn. Sự giải cứu lớn nhất của Chúa cho chúng ta là sự giải cứu khỏi tội lỗi.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Dự ngôn về sự lưu đày

(Giê-rê-mi 25:8-11; 29:10).

TH:

Sự trung tín

(Đa-ni-ên 1:6-8; 3:15-26).

TB:

Lời Chúa được ứng nghiệm

(Đa-ni-ên 5:1-5, 30-31).

TT:

Sắc chỉ của vua Si-ru

(E-xơ-ra 1:1-4).

TN:

Dân Giu-đa trở về Giê-ru-sa-lem

(E-xơ-ra 1:5-11).

TS:

Dâng hiến cho Chúa

(E-xơ-ra 2:64-70).

TB:

Ca ngợi và cảm tạ Chúa

(E-xơ-ra 6:22; Thi thiên 125).

Dân Giu-đa về nước là sự kiện ngoài sức tưởng tượng của họ, dường như một chiêm bao, chứ không phải là sự thật. Vì vậy họ vui cười, ca hát một cách sung sướng. Mọi dân tộc xung quanh cũng nói: “… Đức Giê-hô-va đã làm cho họ những việc lớn…” (Thi thiên 126:1-4).

Hội Thánh ngày nay đáng phải vui vẻ, mừng rỡ, ca hát như dân Giu-đa và hơn thế nữa, vì chúng ta đã được giải phóng khỏi quyền lực của tội lỗi, thế gian, ma quỉ và xác thịt mà được trở về cùng Đức Chúa Trời, gia nhập đại gia đình của Ngài, làm công dân của nước Ngài (Công vụ 26:17-18; Cô-lô-se 1:13-14). Chúng ta hi vọng còn một sự giải cứu toàn diện là khi Chúa Jêsus tái lâm.

I. LỜI TIÊN TRI VỀ SỰ HỒI HƯƠNG ĐƯỢC ỨNG NGHIỆM (E-xơ-ra 1:1-4; II Sử 36:22-23).

Trong khi Giê-hô-gia-kim lên ngôi nước Giu-đa, tức là hơn 20 năm trước khi Giê-ru-sa-lem bị triệt hạ, thì Giê-rê-mi tuyên bố là dân Giu-đa sẽ bị lưu đày qua Ba-by-lôn 70 năm (Giê-rê-mi 25:8-11; 29:10; II Sử ký 36:21). Đồng thời, Chúa cũng đã hứa trước qua tiên tri Ê-sai rằng, Ngài sẽ dùng vua Si-ru của Mê-đô Ba-tư phóng thích và cho họ trở về Giê-ru-sa-lem, mặc dầu bấy giờ Si-ru chưa ra đời (Ê-sai 44:28; 45:1,31).

Khi 70 năm đã mãn, Chúa cảm động Si-ru, vua ra sắc chỉ phóng thích dân Giu-đa và cho họ về nước. Sắc chỉ đó viết rằng, Đức Chúa Trời đã ban cho vua các nước thế gian và chính Ngài đã bảo vua xây cất cho Ngài một đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Kế đó, vua kêu gọi ai thuộc về dân sự của Chúa hãy trở về Giê-ru-sa-lem để xây cất đền thờ của Ngài. Vua xin Chúa ở cùng người đó. Vua truyền cho dân chúng tại các địa phương của người Giu-đa đang ở, phải giúp đỡ họ bạc, vàng, của cải, súc vật và mọi thứ lạc hiến khác cho việc xây lại đền thờ của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem.

Đoạn lịch sử trên đây cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời đã cai trị trong nước của loài người và Ngài muốn ban cho ai tùy ý (Đa-ni-ên 4:17; 5:21). Ngài đã dùng con quạ nuôi Ê-li, đã dùng con cá nuốt Giô-na. Suốt dòng lịch sử nhân loại cho đến nay, Chúa vẫn hành động như vậy. Vì “Đất và muôn vật trên đất, thế gian và những kẻ ở trong đó đều thuộc về Đức Giê-hô-va” (Thi thiên 24:1). Nên: “Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời…” (Rô-ma 8:28).

II. DÂN GIU-ĐA CHUẨN BỊ LÊN ĐƯỜNG (E-xơ-ra 1:5-11).

Được sắc chỉ của vua Si-ru, các trưởng tộc của hai chi phái Giu-đa và Bên-gia-min (Vương quốc miền Nam chỉ có hai chi phái nầy), các thầy tế lễ và người Lê vi, ai được Chúa cảm động, muốn trở về Giê-ru-sa-lem để xây cất đền thờ của Ngài, thì chuẩn bị ra đi. Như thế, có một số người chưa muốn trở về, nên lần nầy chỉ có 42.360 người, với 7.337 tôi trai, tớ gái và 200 nam nữ ca hát (2:64-65).

Một số người không muốn về, vì nhiều lẽ: Công việc làm ăn đang hồi phát đạt, vợ con họ không thể đi xa, con đường lạ mà họ chưa từng đi, người trẻ tuổi không biết quê hương của họ ra sao, 70 năm xứ bị bỏ hoang, bị dân tộc khác chiếm hữu, bây giờ chiếm lại không phải là một việc dễ dàng. Vì vậy, họ giằng co, mặc cả và chưa chịu về, dầu Chúa cảm động nhiều người như cảm động vua Si-ru.

Một số người thường nói: “Tôi không được Chúa cảm động làm việc nầy, việc khác, hoặc đi nơi nọ, chỗ kia”. Kỳ thật họ không chịu nhận sự cảm động của Chúa để làm, để đi và tìm cách thoái thác. Đáng lẽ, khi gần đến 70 năm, dân Giu-đa phải chuẩn bị sẵn sàng, hăm hở chờ giờ được giải phóng để trở về Giê-ru-sa-lem. Kinh Thánh được giảng ra là loan tin “tù nhân của tội lỗi” được giải phóng (Lu-ca 4:19), song có ít người quan tâm, cứ lần lữa như Lót mà không chịu đi khỏi ngục tù tội lỗi thế gian, ma quỉ và xác thịt. Si-ru, vua của Ba-tư ra sắc chỉ phóng thích dân Giu-đa, còn Chúa Jêsus, Vua của vũ trụ ra sắc lệnh phóng thích nhân loại.

Sống 70 năm tại Ba-by-lôn, dân Giu-đa bị thiệt thòi nhiều mặt. Về mặt tâm linh, họ không có đền thờ, không có thầy tế lễ và người Lê-vi và không được phép thi hành chức vụ, không có cuộc thờ phượng theo luật pháp của Môi-se; có chăng, họ chỉ hát Thi thiên trong gia đình, rồi cầu nguyện một ngày ba lần như Đa-ni-ên.

Nhưng điều quan trọng là họ có các tiên tri như Ê-xê-chi-ên, Đa-ni-ên làm nguồn an ủi cho họ. Hai tiên tri nầy luôn luôn nhắc nhở họ về lời hứa của Chúa sẽ cho họ trở về tổ quốc (Ê-xê-chi-ên 37). Hi vọng đó hướng dẫn nếp sống của họ với tư cách dân phu tù, dân kiều ngụ, nên họ không bị đồng hóa cùng các dân tộc xung quanh trong một thời gian dài như vậy.

Trong sắc chỉ của vua Si-ru, vua còn truyền lịnh cho dân tại mỗi địa phương phải trợ lực cho dân Giu-đa về nước. Do đó, dân Giu-đa nhận được rất nhiều của cải, cung ứng cho nhu cầu của họ. Không những nói cho người khác làm, mà chính vua cũng làm, là ra lịnh trả lại tất cả các khí mạnh của đền thờ tại Giê-ru-sa-lem bị vua Nê-bu-cát-nết-sa cướp về Ba-by-lôn. Vua giao cho Bên-xát-sa, tức Xô-rô-ba-bên, quan trưởng của Giu-đa, đem mọi vật ấy về cùng lúc với những người bị bắt làm phu tù được phóng thích.

III. DÂN GIU-ĐA DÂNG LỄ VẬT CHO CHÚA (E-xơ-ra 2:64-70).

Năm mươi ngàn người Giu-đa đã dùng các phương tiện thô sơ như ngựa, lạc đà, lừa để di chuyển trên một con đường dài, thật là vất vả. Ngoài ra, họ phải mang theo tất cả những khí mạnh của đền thờ được vua Si-ru trả lại. Đó là chưa kể tài sản riêng của mỗi người. Nhưng vui mừng vì được phóng thích, được trở về quê hương mến yêu là một sức mạnh phi thường, khiến họ quên nỗi nhọc nhằn, và ai nấy đến nơi bình yên.

Mới chỉ là quê hương dưới đất mà con người còn sung sướng như vậy, phương chi là quê hương trên trời. Những ai đã được tái sinh, được ghi tên vào sổ sống trên trời (Thi thiên 87:5-6; Khải huyền 3:5), đều tha thiết mong mỏi quê hương tốt hơn, đó là quê hương trên trời (Hê-bơ-rơ 11:16). Với tinh thần đó, họ sẽ tiến bước không ngừng, bất chấp mọi gian lao như sông, mọi trở lực như núi, cho đến chừng “ai nấy đều ra mắt Đức Chúa Trời tại Si-ôn” (Thi thiên 84:7).

Khi Xô-rô-ba-bên được cử làm quan trấn thủ, lãnh đạo dân Giu-đa về nước, thì ông sợ hãi trước những trở lực lớn lao như núi mà không thể nào vượt qua được. Bấy giờ có Lời Chúa phán cho ông: “Ấy chẳng phải bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi thần Ta… Hỡi núi lớn, ngươi là ai? Ở trước mặt Xô-rô-ba-bên, ngươi sẽ trở nên đồng bằng…” (Xa-cha-ri 4:6-7).

Khi về đến nơi, ai nấy thấy cảnh hoang tàn của đền thờ Đức Chúa Trời đều chịu cảm động sâu xa, có nhiều người tình nguyện tùy theo khả năng mình, dâng bạc vàng, của cải cho Chúa để xây lại đền thờ của Ngài. Dầu họ dâng một số lượng đáng kể, song so với số dâng của Đa-vít trước đó, thì chỉ giống như hai đồng tiền của mụ góa (I Sử ký 29:7). Tuy nhiên, nhờ đó họ bắt đầu lập lại cuộc thờ phượng, đặt ai nấy vào chức vụ của mình. Mọi người được định cư và sinh hoạt bình thường.

Dâng hiến cho Chúa là một đặc ân Ngài ban để dân sự của Chúa tỏ lòng biết ơn Ngài giải phóng khỏi tội lỗi, được cứu chuộc khỏi sự chết và địa ngục đời đời. Vì thế, dâng cho Chúa thì chúng ta không tiếc mà đáng mừng. Chúng ta sung sướng được dâng cho Chúa mọi sự mình có để tôn vinh Ngài. “Hãy lấy tài vật và huê lợi đầu mùa của con, mà tôn vinh Đức Giê-hô-va; vậy, các vựa lẫm con sẽ đầy dư dật, và những thùng con sẽ tràn rượu mới” (Châm ngôn 3:9-10).

CÂU HỎI

1. Dân Giu-đa có thái độ nào khi trở về nước?

2. Tại sao chúng ta đáng phải vui mừng, ca hát như họ và hơn họ nữa?

3. Lời Chúa được ứng nghiệm cho họ như thế nào?

4. Bài học lịch sử nầy dạy chúng ta điều gì về Đức Chúa Trời?

5. Tại sao lần nầy chỉ có 50 ngàn người về nước?

6. Sống 70 năm tại Ba-by-lôn, dân Giu-đa chịu thiệt thòi gì?

7. Những ai đã an ủi và gây dựng niềm tin cho họ?

8. Sắc chỉ của vua Si-ru gồm những điều gì?

9. Dân Giu-đa dâng cho Chúa những gì?

10. Chúng ta bày tỏ lòng biết ơn và tôn vinh Chúa bằng cách nào?

BÀI 45. DÂN GIU-ĐA XÂY LẠI ĐỀN THỜ

KINH THÁNH: E-xơ-ra 3:1-13.

CÂU GỐC: “Vậy bây giờ, Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Xô-rô-ba-bên, ngươi khá can đảm; còn ngươi, Giê-hô-sua, con trai Giôsađác, thầy tế lễ cả, cũng khá can đảm; Đức Giê-hô-va lại phán: Cả dân sự trong đất, các ngươi cũng khá can đảm, và hãy làm việc, vì Ta ở cùng các ngươi” (A-ghê 2:4).

MỤC ĐÍCH: Chúng ta phải xin Chúa ở cùng khi làm công việc của Ngài và cũng phải luôn luôn ca ngợi Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Tình nguyện dâng hiến

(E-xơ-ra 3:1-9; A-ghê 1:14).

TH:

Ca ngợi Chúa

(E-xơ-ra 3:10-13; ITê 5:18).

TB:

Kẻ thù ngăn trở

(E-xơ-ra 4:1-6, 18-24).

TT:

Lời khuyên xây lại đền thờ

(A-ghê 1:1-11).

TN:

Hãy can đảm vì Chúa ở cùng

(A-ghê 1:12-15).

TS:

Công tác được tiếp tục

(E-xơ-ra 5:1-17).

TB:

Công tác được hoàn thành

(E-xơ-ra 6:1-22).

Xây lại đền thờ của Chúa là công tác đầu tiên của dân Giu-đa (Y-sơ-ra-ên) khi về nước, vì việc đó liên hệ đến đời sống tâm linh của họ. Nhờ có đền thờ, họ mới tái lập sự thờ phượng Chúa, tương giao với Ngài và được phước. Trong đời A-háp, dân Y-sơ-ra-ên đã bội giao ước với Ngài, phá hủy các bàn thờ Ngài, dùng gươm giết những tiên tri của Ngài, nên họ bị sửa trị bằng một cơn hạn hán ba năm sáu tháng. Để được Chúa tha thứ, Ê-li phải sửa lại bàn thờ của Ngài đã bị phá hủy.

Chúa Jêsus phán: “Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa” (Ma-thi-ơ 6:33).

I. KHỞI CÔNG XÂY LẠI ĐỀN THỜ (E-xơ-ra 3:1-13).

1. Xây lại bàn thờ (1-6).

Xây lại đền thờ là việc lớn lao, lâu dài, song xây lại bàn thờ là việc có thể làm ngay để tái lập sự thờ phượng, dâng tế lễ, cử hành các thánh lễ, hầu giữ gìn sự tin kính, gây dựng đời sống thuộc linh. Xưa kia khi chưa có đền thờ, Áp-ra-ham đi đến đâu cũng lập bàn thờ để cầu nguyện, cảm tạ, ca ngợi Chúa hằng sống (Sáng thế ký 12:7-8; 13:18).

Tín đồ ngày nay phải có bàn thờ của Chúa trong gia đình, trong đời sống cá nhân, để bất cứ nơi nào như rừng núi, ngục tù cũng thờ phượng Chúa được. Nếu trong bụng cá mà Giô-na không cầu nguyện, không cảm tạ Chúa thì ông đã bị con cá lớn tiêu hủy rồi. Dân Giu-đa sợ hãi dân bản xứ, nên lập lại bàn thờ Chúa ngay. Kẻ thù đang vây quanh, có thể tấn công họ vô luận lúc nào, nên họ phải được Chúa ở với thì an ninh mới bảo đảm. Chúng ta quì xuống trước mặt Chúa để khỏi quì trước mặt loài người. Chúng ta sợ Chúa để khỏi sợ loài người. Đó là bí quyết của đời sống Cơ Đốc nhân.

Bàn thờ dân Giu-đa dựng bằng đá (Xuất 20:15; Phục truyền 27:61). Khi bàn thờ được dựng lại xong, họ bắt đầu dâng các tế lễ toàn thiêu buổi sáng và buổi chiều, cử hành lễ lều tạm, lễ trăng non và các lễ khác, làm cho sinh hoạt thuộc linh của mọi người đều được phước hạnh.

2. Xây lại nền của đền thờ (7-13).

Xây bàn thờ vào tháng bảy, thì tháng hai năm sau, họ xây nền của đền thờ. Họ phải dành sáu tháng để dự bị vật liệu, tiền bạc. “… Dân sự hiệp lại như một người,… người Lê-vi với con trai và anh em của họ đều chỗi dậy, đồng hiệp nhau như một” (1,9). Đó là sức mạnh của họ, là điều đẹp lòng Chúa.

Khi làm lễ đặt viên đá đầu tiên xây nền của đền thờ, các thầy tế lễ cầm kèn, những người Lê-vi cầm chập chỏa, họ đứng đối diện, đối đáp cùng nhau tôn vinh Chúa: “Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì Ngài là tốt lành, lòng thương xót của Ngài đối với dân Y-sơ-ra-ên còn đến đời đời”. Trong số người dự lễ có hai thành phần đặc biệt: Già và trẻ. Người già còn sống sót đã thấy đền thờ Sa-lô-môn xây cất, người trẻ được sanh tại Ba-by-lôn nên không thấy đền thờ ấy, và khi đặt nền của đền thờ thì có hai phản ứng khác nhau. Nhìn nền của đền thờ, lớp trẻ ca hát vang lừng, vì là lần thứ nhất họ được làm công tác đó. Người già so sánh đền thờ nầy với đền thờ Sa-lô-môn xây thấy chỉ là một phần mười mà thôi, nên họ lớn tiếng khóc than vì thương tiếc. Vậy, tiếng khóc than và tiếng reo mừng được vang ra rất xa, làm rúng động một vùng rộng lớn.

Chúa dùng tiên tri A-ghê an ủi người già: “… Ai là kẻ còn sót lại ở trong các ngươi đã xem thấy vinh quang khi trước của nhà nầy? Và bây giờ các ngươi xem nó ra làm sao?… Vậy bây giờ, Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Xô-rô-ba-bên, ngươi khá can đảm…” (A-ghê 2:1-4).

II. CÔNG TÁC XÂY ĐỀN THỜ BỊ TRỞ NGẠI (E-xơ-ra 4:1-24).

1. Vì dân Giu-đa từ chối sự hợp tác của dân ngoại (1-5).

Dân Giu-đa bắt đầu sợ hãi dân bản xứ và gọi dân đó là kẻ thù của họ (4:1). Số là vào năm 721 TC, quân đội A-si-ri đánh dân Y-sơ-ra-ên miền Bắc, bắt họ về làm phu tù, rồi đem dân khác qua ở tại Sa-ma-ri thuộc xứ Y-sơ-ra-ên. Dân Sa-ma-ri đến với quan tướng Giu-đa mà nói rằng: “Chúng tôi muốn đồng xây cất với các ngươi, vì chúng tôi tìm cầu Đức Chúa Trời như của anh em, cũng như anh em và chúng tôi đã tế lễ cho Ngài từ đời Ê-sa-ha-đôn, vua A-si-ri đem chúng tôi lên đây”. Nhưng Xô-rô-ba-bên và các quan tướng đã từ chối ngay: “Các ngươi chẳng được phần chung với chúng ta đặng cất một đền thờ cho Đức Chúa Trời của chúng ta; song chúng ta, chỉ một mình chúng ta, sẽ cất một đền cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên y như Si-ru, vua Phe-rơ-sơ đã truyền bảo chúng tôi”.

Dân Giu-đa biết rằng dân Sa-ma-ri không đồng tín ngưỡng và tư tưởng với mình, nếu đem dân ấy vào, họ sẽ làm đình trệ và hư hỏng công tác, đồng thời cũng làm ô uế đền thờ. Xâm nhập vào bên trong là lối phá hoại có hiệu quả hơn hết xưa nay, như “một chút men làm cho cả đống bột dậy lên” (ICôr 5:6). Sự hiệp tác của kẻ đồng tâm, đồng chí, đồng tình, đồng tư tưởng, đồng tín ngưỡng là rất tốt, nếu trái lại là rất nguy hiểm. Nhưng ma quỉ như lang sói dữ tợn, bao giờ cũng muốn xen lẫn vào bầy chiên của Chúa để làm hại (IICôr 6:14-18).

2. Dân Giu-đa bị tố cáo (6-16).

Dân Sa-ma-ri bắt đầu tấn công bằng hai mặt.

a. Đe dọa làm cho dân Giu-đa nản lòng, sợ hãi.

b. Hối lộ chính quyền địa phương, yêu cầu họ ngăn trở dân Giu-đa thi hành công tác. Ngoài ra còn một việc nguy hiểm hơn hết là họ viết biểu tố cáo dân Giu-đa.

Bấy giờ, Si-ru đã qua đời. Kế vị là A-suê-ru, rồi đến Ạt-ta-xét-xe. Kẻ thù gởi tờ biểu tố cáo Giê-ru-sa-lem là thành phản nghịch hung ác mà dân Giu-đa đang xây lại và sắp hoàn tất. Nếu thành nầy được xây lại thì dân đó sẽ không phục tùng vua nữa và các dân xung quanh sẽ bắt chước. Bằng cớ là thành nầy đã từng làm thiệt hại cho các tiên đế của vua, nên nó đã bị phá hủy.

Họ nêu lên ba điểm: (1) Tài chánh vua sẽ bị thiệt hại. (2) Danh dự vua sẽ bị suy giảm. (3) Đế quốc của vua sẽ bị thu hẹp.

Họ vừa tố cáo, vừa vu oan, vì dân Giu-đa chưa hề xây lại vách thành mà họ nói là đã xây xong.

3. Ạt-ta-xét-xe ra lịnh ngưng công tác (17-24).

Vua vội vàng ra lịnh ngưng công tác xây cất của dân Giu-đa mà không xem xét báo cáo đúng hay sai. Kẻ thù liền dùng cường quyền, bạo lực ngăn trở công tác xây lại đền thờ.

Vì việc xây lại đền thờ bị đình lại, nên dân Giu-đa chỉ lo xây nhà riêng của mình. Vì thế, Chúa đã dùng tiên tri A-ghê và Xa-cha-ri nhơn danh Ngài mà kêu gọi, giục giã dân sự. Ngài cũng dùng Xô-rô-ba-bên, bên chánh quyền và Giê-sua, bên giáo quyền để giúp đỡ cho việc đó.

III. VIỆC XÂY ĐỀN THỜ ĐƯỢC TIẾP TỤC VÀ HOÀN TẤT (Đoạn 5-6).

1. Chúa cảm động lòng vua Đa-ri-út (5:3-17).

Đến đời vua Đa-ri-út, quan tổng đốc Tát-tê-nai và Sê-tai-bô-xê-nai với các đồng liêu của họ đến Giê-ru-sa-lem hỏi giấy tờ xây cất. Các trưởng lão Giu-đa thuật hết cho họ. Tổng đốc Tát-tê-nai không nói gì, song cứ ghi hết rồi trình lên cho vua Đa-ri-út.

2. Việc xây đền thờ được hoàn tất (6:1-22).

Sau khi nhận được tờ biểu của Tát-tê-nai, vua Đa-ri-út ra lịnh tìm văn khố và thấy có bản sao chiếu chỉ của vua Si-ru cho dân Giu-đa trở về xây sửa đền thờ. Đa-ri-út liền ban chiếu chỉ cho dân Giu-đa tiếp tục xây đền thờ, đồng thời đài thọ mọi chi phí về việc ấy. Vì vậy, dân Giu-đa đã xây xong đền thờ và có lễ khánh thành trọng thể vui vẻ.

Phục vụ Chúa không dễ đâu. Kẻ thù là ma quỉ không lúc nào ở xa, nó sẵn sàng tấn công ta bằng mọi cách. Chỉ khi nào được Chúa ở cùng, chúng ta mới có đủ sức phục vụ Chúa một cách có hiệu quả.

CÂU HỎI

1. Dân Giu-đa bắt đầu xây gì trước hết? Tại sao?

2. Khi làm lễ đặt viên đá đầu tiên, thì những người ghen ghét phản ứng thế nào?

3. Tại sao dân Giu-đa từ chối sự hiệp tác của người Sa-ma-ri?

4. Dân Sa-ma-ri tố cáo và vu khống họ thế nào?

5. Vua Ạt-ta-xét-xe ra lịnh gì? Làm vậy có đúng không?

6. Nhờ ai mà dân Giu-đa tiếp tục công tác?

7. Kẻ thù đến làm gì nữa?

8. Các trưởng lão dân Giu-đa nói sao với họ?

9. Khi đọc biểu tâu thì vua Đa-ri-út làm gì?

10. Dân Giu-đa hoàn tất công tác thế nào?

BÀI 46. HOÀNG HẬU Ê-XƠ-TÊ

KINH THÁNH: Ê-xơ-tê 1:1-22.

CÂU GỐC: “Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định” (Rô-ma 8:28).

MỤC ĐÍCH: Chúa có chương trình cho một đời sống chúng ta. Chúng ta phải can đảm thực hiện chương trình của Chúa.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Đại yến của A-suê-ru

(Ê-xơ-tê 1:1-9).

TH:

Hoàng hậu Vả-thi bị truất phế

(Ê-xơ-tê 1:10-22).

TB:

Ê-xơ-tê được chọn làm hoàng hậu

(Ê-xơ-tê 2:1-18).

TT:

Hai hoạn quan muốn giết A-suê-ru

(Ê-xơ-tê 2:19-23).

TN:

Lòng kiêu ngạo của Ha-man

(Ê-xơ-tê 3:1-6).

TS:

Mưu mô thâm độc của Ha-man

(Ê-xơ-tê 3:7-15).

TB:

Ê-xơ-tê hi sinh vì đồng bào

(Ê-xơ-tê 4:1-17).

Dân Giu-đa không về nước một lần đủ cả, mà phải đến ba lần: Lần 1 do Xô-rô-ba-bên hướng dẫn (Ê-xơ-tê 1:1-6). Lần 2 do E-xơ-ra hướng dẫn (E-xơ-ra 7:10) và lần 3 do Nê-hê-mi hướng dẫn (Nê-hê-mi 2:11-13).

Khi dân Giu-đa về nước lần thứ nhất xây lại đền thờ nửa chừng thì bị kẻ thù ngăn trở, phải đình trệ 16 năm. Khi Nê-hê-mi trở về xây lại thành Giê-ru-sa-lem, thì cũng có kẻ thù ngăn trở, song nhờ ảnh hưởng của hoàng hậu Ê-xơ-tê, nên việc được trôi chảy. Sách Ê-xơ-tê ghi việc xảy ra cho dân Giu-đa còn lại tại Ba-by-lôn giữa khoảng thời gian trước tác hai sách E-xơ-ra và Nê-hê-mi.

I. CƠ HỘI Ê-XƠ-TÊ ĐƯỢC CHỌN LÀM HOÀNG HẬU (Đoạn 1-2).

Vua A-suê-ru của Mê-đi và Phe-rơ-sơ tổ chức một đại tiệc suốt 180 ngày, thết đãi bá quan văn võ các cấp trong toàn quốc để biểu dương sự giàu có tột bực và sự oai nghi lộng lẫy của nước mình. Sau đó, vua tổ chức trong vườn một đại yến trong bảy ngày, thết đãi toàn dân trong kinh đô Susơ. Hoàng hậu cũng tổ chức tiệc tùng khoản đãi các phụ nữ trong cung vua. Qua ngày thứ bảy, khi vua say ngà ngà, bèn truyền lịnh cho các hoạn quan vào cung mời hoàng hậu Vả-thi mặc triều phục đến trước mặt vua, để dân chúng và các quan được thấy vẻ đẹp của bà. Nhưng hoàng hậu Vả-thi từ chối nên vua rất giận dữ.

Vua liền triệu tập bảy quan cận thần, bàn bạc về cách đối phó với hoàng hậu Vả-thi. Mêmucan phát biểu: “Hoàng hậu Vả-thi không những làm mất lòng vua, mà còn mất lòng dân chúng và các quan. Vì việc nầy đồn ra trong hết cả phụ nữ, khiến họ khinh bỉ chồng mình như hoàng hậu Vả-thi đối xử với vua. Vậy, xin vua ra chiếu chỉ truất phế hoàng hậu, chọn một người khác tốt hơn để làm hoàng hậu. Như thế sẽ khiến cho phụ nữ trong nước biết kính trọng chồng mình”. Đề nghị đó đẹp ý vua và các quan, nên vua ra chiếu chỉ, phổ biến trong cả nước về việc truất phế hoàng hậu Vả-thi.

Chúng ta không hiểu hoàng hậu Vả-thi từ chối đến trước mặt vua vì lý do gì. Có người cho rằng bà không muốn ra trước mặt công chúng làm trò vui cho họ. Dầu sao, chúng ta biết mọi việc nằm trong kế hoạch của Chúa để giải cứu dân Giu-đa khỏi bị tận diệt.

Sau khi hoàng hậu Vả-thi bị truất phế, các cận thần đề nghị vua A-suê-ru cho người đi khắp các tỉnh trong nước, tìm những trinh nữ xinh đẹp, để vua chọn làm hoàng hậu. Thế là có nhiều trinh nữ được chọn và được đưa vào cung của vua. Trong số đó, có Ê-xơ-tê, người Giu-đa, mồ côi cha mẹ, được người anh họ là Mạc-đô-chê nuôi làm con. Ê-xơ-tê là một trinh nữ rất yêu kiều diễm lệ. Theo luật, mỗi trinh nữ phải chuẩn bị điểm trang một năm trước khi vào cung vua. Trong thời gian đó, Ê-xơ-tê được ân huệ của Hêgai là quan thái giám các cung phi, nên ông nầy tận tâm giúp đỡ nàng.

Khi được hướng dẫn đến trước mặt vua A-suê-ru, thì vua yêu nàng hơn các trinh nữ khác. Vua đặt mão triều thiên lên đầu nàng mà lập nàng làm hoàng hậu thay cho Vả-thi. Đoạn vua mở tiệc mừng. Ê-xơ-tê theo lời dặn của Mạc-đô-chê, không cho biết dân tộc và họ hàng của mình.

Mỗi ngày Mạc-đô-chê đều ngồi tại cổng đền vua để theo dõi tình hình của Ê-xơ-tê trong cung vua, và nhờ đó Mạc-đô-chê biết được âm mưu của Bíchthan và Thêrết là hai quan bảo vệ cung đền, muốn ám hại vua. Mạc-đô-chê đem sự việc đó nói cho Ê-xơ-tê, hoàng hậu liền tỏ lại cho vua. Khi mở cuộc điều tra, vua biết đó là sự thật, nên đã xử tử hai quan nầy. Sử gia liền ghi sự kiện đó vào lịch sử của nước.

II. HA-MAN THÙ HẬN DÂN TỘC CỦA HOÀNG HẬU Ê-XƠ-TÊ ( Đoạn 3-4).

1. Lý do (3:1-6).

Ha-man được thăng tiến tột bực, trên vua, dưới ông. Vua còn ra lệnh cho mọi người tại cổng đền vua, hễ gặp Ha-man bước vào, phải cúi lạy ông ấy. Trong khi đó, chúng ta không hiểu Mạc-đô-chê có chức vụ gì mà hằng ngày ông có mặt tại cổng đền vua, hay chỉ để theo dõi tin tức của Ê-xơ-tê. Song ông không chịu cúi lạy Ha-man như mọi người. Ai nấy thấy vậy thắc mắc hỏi Mạc-đô-chê: “Cớ sao phạm mạng vua?”, ông đáp: “Tôi là người Giu-đa”. Ông muốn nói rằng sự tôn kính đến mức độ đó người Giu-đa chỉ dành cho Đức Chúa Trời mà thôi. Họ liền báo cáo với Ha-man.

Khi được báo cáo, Ha-man để ý thấy quả thật Mạc-đô-chê không cúi lạy mình, vì lý do hắn là người Giu-đa, thì ông tức giận lắm. Với sự tức giận đó, Ha-man nghĩ rằng giết một mình Mạc-đô-chê là việc nhỏ mọn “đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu giết ruồi”, nên ông quyết định giết hết thảy dân Giu-đa của Mạc-đô-chê trong cả đế quốc A-suê-ru.

Sự nguy hiểm nhất cho dân Giu-đa vô luận lúc nào và nơi nào không phải là lười nhác đê hèn, mà là không giống ai trong nếp sống như sinh hoạt tôn giáo. Khi vua Nê-bu-cát-nết-sa bảo ba thanh niên thờ hình tượng, họ không chịu, khi vua Đa-ri-út bảo đừng cầu nguyện với ai ngoài vua, Đa-ni-ên cứ cầu nguyện với Chúa. Khi vua A-suê-ru bảo phải cúi lạy Ha-man, Mạc-đô-chê cứ đứng yên như tượng gỗ. Không phải họ liều lĩnh hay ngu xuẩn, hoặc không thức thời, trái lại họ khôn ngoan xuất chúng.

Nhưng tại sao họ không khom lưng cúi đầu như người khác để được vinh thân, phì gia? Nếu Ha-man đã tận diệt dân Giu-đa trong lúc đó, ai nấy sẽ đổ hết trách nhiệm lên đầu Mạc-đô-chê, lên án ông bướng bĩnh, tối tăm, ngoan cố nên đã chuốc lấy sự chết cho mình và người khác! Sỡ dĩ Mạc-đô-chê hành động như vậy vì ông kính Chúa, can trường, không phải ông tin tưởng nơi sức mình, mà tin tưởng nơi Đức Giê-hô-va của ông. Ngài hứa sẽ không bao giờ bỏ họ, miễn là họ không bỏ Ngài mà phạm tội (Ê-sai 41:8-14; Giê-rê-mi 31:35-37; Giô-ên 3:20). Hội Thánh ngày nay là dân Giu-đa trong thời Tân Ước phải sống như dân Giu-đa trong thời Cựu Ước.

2. Kế hoạch (7-15).

Ngày kia, Ha-man vào tâu với vua A-suê-ru: “Có một dân tộc tản mác, rải rác ra giữa các dân tộc trong những tỉnh của nước vua: Luật pháp của chúng nó khác hơn luật pháp của các dân khác; Chúng nó cũng không tuân luật pháp của vua; Dung chúng nó chẳng tiện cho vua. Nếu điều đó vừa ý vua, khá giáng chiếu chỉ truyền tuyệt diệt chúng nó đi, rồi tôi sẽ cân mười ngàn ta-lâng bạc… để đem vào kho vua”.

Thời nào cũng thế, dân tản mác là dân sống vô kỷ luật, vô trật tự, vô tổ chức, là dân bất trị, đầu trộm đuôi cướp. Nhưng dân Giu-đa không phải như vậy, nên Ha-man không nêu tên dân đó là dân nào. Vua liền đáp: “Bạc đã ban cho ngươi, dân sự cũng phó cho ngươi, để làm điều chi mặc ý ngươi”. Đồng thời vua cởi nhẫn là ấn của mình trao cho Ha-man, để người trọn quyền sử dụng. Tức thì các thư ký của vua được triệu tập và làm việc dưới quyền điều khiển của Ha-man. Ha-man viết chiếu chỉ cho chính quyền các cấp trong toàn quốc, đóng ấn của vua vào, cho người mang đi khắp nơi, định ngày 13 tháng 12 năm đó, phải tận diệt người Giu-đa, vô luận nam phụ lão ấu, và tịch thu tài sản của họ. Ai nấy phải chuẩn bị trong vòng 11 tháng nữa.

Đâu đó xong xuôi, vua và Ha-man ngồi lại uống rượu. Quyết định tuyệt diệt một dân tộc trong nước, chắc Ha-man đã bị lương tâm cáo trách ít nhiều, Ha-man càng sợ nhà vua đổi ý về việc ấy, nên hai người đua nhau uống rượu để giết chết lương tâm trước cảnh dân Giu-đa thảm sầu, khóc lóc. Nhân dân trong thành Susơ đều hoảng hốt, dầu họ không phải là dân Giu-đa.

III. MẠCĐÔCHÊ KÊU GỌI HOÀNG HẬU Ê-XƠ-TÊ CỨU DÂN TỘC MÌNH (3-4).

1. Hoàn cảnh của dân Giu-đa (4:1-17).

Khi chiếu chỉ của vua đã được phổ biến, người Giu-đa buồn thảm, kiêng ăn, khóc lóc, than thở, nhiều người mặc bao gai, nằm trên tro. Còn Mạc-đô-chê thì xé áo mình, mặc bao gai, phủ tro đi trong thành phố, khóc lóc cay đắng.

2. Lời khuyên của Mạc-đô-chê cho hoàng hậu Ê-xơ-tê.

Mạc-đô-chê cũng đến gần cổng đền vua. Hoàng hậu Ê-xơ-tê được các nàng hầu thuật lại, bà gởi quần áo cho Mạc-đô-chê, song người không nhận. Bà sai người đi gặp Mạc-đô-chê để biết việc gì đã xảy ra. Mạc-đô-chê nhờ thuật lại với Ê-xơ-tê về âm mưu thâm độc của Ha-man, đồng thời gởi cho Ê-xơ-tê bản sao chiếu chỉ của Ha-man. Mạc-đô-chê bảo Ê-xơ-tê vào cung vua, nài xin ân huệ cho dân tộc mình. Nghe Ha-thác thuật lại mọi sự, Ê-xơ-tê bảo nói với Mạc-đô-chê rằng: “Nếu không được lịnh vua mà ai nấy tự ý vào nội viện, sẽ bị xử tử, ngoại trừ được vua đưa cây phủ việt vàng ra. Nhưng đã 30 ngày rồi, tôi không được vời vào cung vua”. Mạc-đô-chê vừa giải thích, vừa khích lệ và cảnh cáo Ê-xơ-tê một cách khéo léo và mạnh mẽ:

a. Bà được làm hoàng hậu không phải là việc ngẫu nhiên, song Chúa đã theo sự hiểu biết mà sắp xếp trước.

b. Vai trò của bà ở bên cạnh A-suê-ru là giải cứu dân tộc mình.

c. Nếu bà trốn tránh trách nhiệm, thì chớ lầm tưởng rằng sẽ được an thân hơn các người Giu-đa khác.

d. Nếu bà bỏ qua cơ hội tốt nhất đời mình, Chúa sẽ có cách giải cứu dân Ngài, chỉ bà và nhà bà sẽ bị hư nát.

Qua lời giải thích đó, Ê-xơ-tê chấp nhận ngay (4:15-16). Chúng ta có mặt ở đây ngày nay không phải là vô cớ, vậy vai trò của chúng ta trong Hội Thánh lúc nầy là gì? Chúng ta đã làm ích cho Hội Thánh những gì?

CÂU HỎI

1. Tại sao hoàng hậu Vả-thi bị truất phế?

2. Việc ấy có ý của Chúa thế nào?

3. Ê-xơ-tê là người thế nào mà được chọn làm hoàng hậu?

4. Tại sao Ha-man muốn giết Mạc-đô-chê và cả dân Giu-đa?

5. Mưu mô thâm độc của Ha-man là gì?

6. Dân Giu-đa phản ứng thế nào?

7. Mạc-đô-chê bảo Ê-xơ-tê làm gì?

8. Mạc-đô-chê khích lệ và cảnh cáo Ê-xơ-tê thế nào?

9. Ê-xơ-tê đã làm gì để cứu đồng bào của bà?

10. Tại sao nơi nào, lúc nào dân Giu-đa cũng bị oán ghét?

BÀI 47. Ê-XƠ-TÊ CỨU DÂN TỘC MÌNH

KINH THÁNH: Ê-xơ-tê 5:1-14.

CÂU GỐC: “Hãy phó thác đường lối mình cho Đức Giê-hô-va, và nhờ cậy nơi Ngài, thì Ngài sẽ làm thành việc ấy” (Thi thiên 37:5).

MỤC ĐÍCH: Quyền năng của Chúa hơn mưu mô của con người. Chúa cứu chúng ta để dùng chúng ta cứu người khác.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Hoàng hậu Ê-xơ-tê yết kiến vua A-suê-ru

(Ê-xơ-tê 5).

TH:

Mạc-đô-chê được tôn trọng

(Ê-xơ-tê 6).

TB:

Ha-man bị hạ

(Ê-xơ-tê 7).

TT:

Dân Giu-đa được giải cứu

(Ê-xơ-tê 8).

TN:

Mạc-đô-chê được làm tể tướng

(Ê-xơ-tê 10).

TS:

Ai đem mình lên sẽ bị hạ xuống

(Lu-ca 14:11;18:13-14).

TB:

Chiếu chỉ của Đức Chúa Trời

(Mác 16:15).

Theo lời yêu cầu của hoàng hậu Ê-xơ-tê, hết thảy người Giu-đa tại kinh đô Susơ đều kiêng ăn suốt ba ngày đêm để cầu nguyện. Sau ba ngày đó, Ê-xơ-tê thi hành lời hứa, với hi vọng cứu được dân tộc mình khỏi bị tiêu diệt.

I. HOÀNG HẬU Ê-XƠ-TÊ YẾT KIẾN VUA A-SUÊ-RU (5:1-14).

Ê-xơ-tê mặc triều phục, đứng tại nội viện, trước cung vua. Bấy giờ, vua đương ngự trên ngôi. Vừa khi thấy hoàng hậu đứng chầu nơi nội viện, thì bà được ân huệ của vua, nên người đưa cho bà cây phủ việt vàng đương cầm trong tay. Bà đến gần, rờ đầu cây phủ việt. Vua nói với hoàng hậu rằng bà xin gì cũng được, thậm chí phân nửa nước vua cũng ban cho. Bà tâu: “Nếu nhiệm ý vua, xin vua và Ha-man ngày nay hãy đến dự yến tiệc mà tôi đã dọn cho vua”. Vua chấp nhận ngay.

Trong lúc dự tiệc, vua A-suê-ru nhắc lại cho hoàng hậu Ê-xơ-tê rằng bà muốn xin gì cũng được. Bà tâu: “Nếu thần thiếp được ơn trước mặt vua…. xin vua và Ha-man ngày mai đến dự tiệc mà thần thiếp sẽ dọn, rồi ngày mai sẽ làm theo lời vua dạy biểu”.

Hôm đó, Ha-man ra đi lấy làm vui vẻ, vì thỏa mãn lắm. Song khi thấy Mạc-đô-chê không cúi lạy mình, thì tức giận quá chừng. Về đến nhà, Ha-man thuật lại cho vợ và bạn bè nghe sự cao sang của mình trước mặt vua và các quan trong triều. Ông nói: “Trừ ra một mình ta, hoàng hậu Ê-xơ-tê chẳng vời ai cùng vua đến dự tiệc của bà đã dọn, ngày mai ta lại được mời dự nơi nhà người với vua”. Tuy nhiên, ông không được vui trọn khi thấy Mạc-đô-chê vẫn ngồi tại cổng đền vua. Vợ và bạn bè của Ha-man liền đề nghị: “Hãy biểu dựng một mộc hình (giàn thắt cổ) cao 50 thước, rồi sáng mai, hãy cầu vua khiến cho người ta treo Mạc-đô-chê tại đó, đoạn ông khoái lạc đi dự tiệc cùng vua”. Ha-man rất đồng ý và làm ngay.

II. CẬU CỦA HOÀNG HẬU Ê-XƠ-TÊ ĐƯỢC VUA TÔN TRỌNG (6:1-14).

Đêm đó vua không ngủ được, truyền một người đọc lịch sử cho vua nghe, đến đoạn Mạc-đô-chê đã khám phá âm mưu của Bíchthan và Thêrết toan hại vua, thì A-suê-ru hỏi: “Vì công sự ấy, Mạc-đô-chê có được vinh dự hoặc tước vị gì không?”, các cận thần tâu: “Người chẳng được chi hết”.

Đêm đó chắc Ha-man cũng không ngủ được, trông cho mau sáng để xin vua cho lịnh treo cổ Mạc-đô-chê trên mộc hình. Vì vậy, sáng sớm hôm sau, ông đã chực sẵn tại nội viện. Ngay lúc ấy, vua hỏi: “Ai ở nơi nội viện?” Các cận thần tâu: “Ha-man”. Vua hỏi: “Phải làm chi người nào vua muốn tôn trọng?” Ha-man nghĩ rằng vua há muốn tôn trọng người nào khác hơn mình sao? Ông liền tâu: “Hễ người nào vua muốn tôn trọng, khá đem áo triều của vua mặc, ngựa của vua cỡi, và đội mão triều thiên vua trên đầu người đó, áo triều và ngựa thì hãy giao vào tay của một triều thần tối tôn của vua, để mặc cho người mà vua muốn tôn trọng, dẫn người dạo chơi khắp đường phố của thành nội, và la lên rằng: “Người mà vua muốn tôn trọng được đãi như vậy”. Đang khi Ha-man chờ vua bảo người được tôn trọng đó là mình, thì vua lại bảo người được tôn trọng đó là Mạc-đô-chê, và chính Ha-man phải làm mọi điều như ông đề nghị.

Thật trớ trêu! Người mà Ha-man khinh miệt, định sẽ treo cổ trên mộc hình là người mà Ha-man phải tôn trọng. Ha-man tưởng rằng chỉ một mình ông được tôn trọng hơn hết, bây giờ lại có người được tôn trọng hơn ông. Kết quả một đêm A-suê-ru không ngủ được đã phá hủy hoàn toàn âm mưu thâm độc của Ha-man đã sắp đặt bấy lâu.

Sau khi làm cho Mạc-đô-chê được tôn trọng, Ha-man trở về buồn thảm vô cùng! Ông thuật lại cho vợ và bạn bè mọi việc vừa xảy ra. Họ cảnh cáo ông rằng, nếu Mạc-đô-chê là dân Giu-đa thì ông đã bắt đầu thất bại và sẽ chắc chắn thất bại trước mặt hắn. Ngay lúc đó có lịnh của hoàng hậu Ê-xơ-tê mời Ha-man đến dự tiệc của bà đã dọn.

III. HOÀNG HẬU Ê-XƠ-TÊ TIẾT LỘ MƯU ĐỘC CỦA HA-MAN (7:1-10).

Khi đang ăn, một lần nữa, vua A-suê-ru nhắc hoàng hậu Ê-xơ-tê rằng bà muốn xin gì cũng được. Hoàng hậu tâu: “Ôi vua, nếu thần thiếp được ơn trước mặt vua, và nếu vua vừa ý, xin hãy nhậm lời cầu khẩn của thần thiếp mà ban mạng sống cho thần thiếp, và theo sự nài xin của thần thiếp mà ban cho thần thiếp dân tộc của thần thiếp. Vì thần thiếp và dân tộc của thần thiếp bị bán để hủy diệt, giết chết và làm cho hư mất đi…” Vua hỏi hoàng hậu: “Kẻ dám toan lòng làm như vậy là ai? Và nó ở đâu?”, Ê-xơ-tê tâu: “Kẻ cừu thù, ấy là Ha-man độc ác kia”.

Bấy giờ Ha-man khiếp vía, vua A-suê-ru nổi thạnh nộ, đứng dậy khỏi bàn tiệc đi ra ngự viên. Ha-man khẩn nài Ê-xơ-tê cứu mình. Khi trở vào, vua thấy Ha-man đã phục trên ghế dài, nơi bà Ê-xơ-tê ngồi. Vua nói: “Trong cung, tại trước mặt ta nó còn dám lăng nhục hoàng hậu sao?” Một cận thần của vua tâu rằng, Ha-man đã dựng một mộc hình cao 50 thước tại nhà mình để treo cổ Mạc-đô-chê là người đã trung tín để cứu vua. Vua truyền: “Hãy treo nó lên đó”. Người ta bèn bắt Ha-man và treo hắn lên mộc hình.

IV. HOÀNG HẬU Ê-XƠ-TÊ CỨU ĐƯỢC DÂN TỘC CỦA MÌNH (8:1-17).

Theo yêu cầu của hoàng hậu Ê-xơ-tê, vua A-suê-ru ra lịnh bãi bỏ các thơ của Ha-man đã viết để làm hại dân Giu-đa. Thay vào đó, Ê-xơ-tê hiệp với Mạc-đô-chê sử dụng chiếc nhẫn là ấn của vua viết một thơ khác bảo vệ dân Giu-đa trong cả đế quốc Mê-đi Phe-rơ-sơ được bình an, vui vẻ.

Chúng ta thương hại cho Ha-man. Ông là người có tài, mới được quyền cao chức trọng như vậy. Song ông kiêu căng và gian ác. Về kiêu căng ông muốn được mọi người cúi lạy mình. Được vua hỏi về người muốn tôn trọng, thì ông nghĩ ngay rằng ngoài ông không ai đáng được vua tôn trọng. Về gian ác, chắc ông đã hại nhiều người, trước khi hại Mạc-đô-chê và dân Giu-đa. Ông lấy điều đó làm vui, nên mặc dầu ông được quyền cao chức trọng mà không được lòng người ta. Ngay một đại thần bên cạnh vua, đã nghe hết mọi việc của Ha-man, thì gián tiếp đề nghị treo Ha-man lên mộc hình.

Đúng như Kinh Thánh đã nói: “Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau, và tánh tự cao đi trước sự sa ngã” (Châm ngôn 16:18). Ha-man bị sập vào cái hố mà ông đã đào để sập người khác. Từ xa xưa, ma quỉ đã dùng nhiều Ha-man để hòng tiêu diệt dân Y-sơ-ra-ên hầu phá tan kế hoạch của Đức Chúa Trời, vì Đấng Cứu thế phải ra đời từ dân Y-sơ-ra-ên. Nhưng bao nhiêu lần ma quỉ đều thất bại, số phận dành cho mỗi Ha-man là một cây mộc hình.

Mạc-đô-chê là người thông minh, dũng cảm, nhất là đầy dẫy đức tin. Ông thấy rõ kế hoạch của Chúa và sự sắp đặt kỳ diệu của Ngài. Ông biết chắc chắn Chúa không bỏ dân Ngài, nhưng sử dụng nhiều đường lối khác nhau để giải cứu họ. Vì vậy, lời khuyên của ông có một sức mạnh phi thường đối với Ê-xơ-tê. Mạc-đô-chê được thăng làm tể tướng của vua A-suê-ru, được đồng bào của ông tôn trọng (8:15; 10:3).

Ê-xơ-tê là một nữ anh hùng khôn ngoan, can đảm, hi sinh, nên đã cứu dân tộc mình khỏi bị tiêu diệt và được vui mừng, hãnh diện như chiến sĩ thắng trận. Bà biết sử dụng phương tiện, cơ hội, khả năng, ân tứ của Chúa cho để phục vụ dân tộc mình, chớ không ích kỷ tọa hưởng diễm phước riêng phần mình. Ê-xơ-tê và Mạc-đô-chê là những người thực sự đứng trong lòng dân tộc của họ.

Đọc lịch sử dân Y-sơ-ra-ên, chúng ta thấy Đức Chúa Trời hiện hữu, hằng sống, luôn luôn tể trị dòng lịch sử nhân loại, bảo vệ dân Ngài để dùng họ đem Cứu Chúa đến trần gian. Đọc lịch sử Hội Thánh, chúng ta thấy cánh tay vô hình của Chúa bảo vệ Hội Thánh, mở cửa truyền giảng Tin Lành, nên suốt 20 thế kỷ, Hội Thánh vẫn tồn tại và phát triển cho đến tận thế (Ma-thi-ơ 20:18-20).

CÂU HỎI

1. Sự nguy hiểm của bà Ê-xơ-tê khi vào yết kiến vua A-suê-ru là gì?

2. Khi bà vào thì kết quả thế nào?

3. Vua hứa gì với bà?

4. Bà Ê-xơ-tê xin vua A-suê-ru điều gì?

5. Ha-man có thái độ gì đối với Mạc-đô-chê và có kế hoạch nào?

6. Vua A-suê-ru làm gì khi ông không ngủ được?

7. Ha-man đề nghị với vua điều gì?

8. Vua bảo Ha-man làm gì cho Mạc-đô-chê?

9. Khi mời vua dự tiệc lần thứ hai, Ê-xơ-tê đã xin vua điều gì?

10. Cuộc đời của Ha-man kết thúc thế nào?

11. Chúng ta được nhắc nhở điều gì qua cuộc đời của Ha-man, Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê?

BÀI 48. NÊ-HÊ-MI XÂY LẠI VÁCH THÀNH

KINH THÁNH: Nê-hê-mi 1:1-11.

CÂU GỐC: “Người công bình lấy lòng sốt sắng cầu nguyện, thật có linh nghiệm nhiều” (Gia-cơ 5:16b).

MỤC ĐÍCH: Phải cầu nguyện trước khi đặt kế hoạch và nhờ sự giúp đỡ của Chúa mới thành công.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Lời cầu nguyện của Nê-hê-mi

(Nê-hê-mi 1:1-11).

TH:

Vua nhậm lời yêu cầu của Nê-hê-mi

(Nê-hê-mi 2:1-10).

TB:

Nê-hê-mi nhìn thấy cảnh điêu tàn

(Nê-hê-mi 2:1-20).

TT:

Kẻ chống trả

(Nê-hê-mi 4:1-9).

TN:

Dân Giu-đa sợ hãi trước khó khăn

(Nê-hê-mi 4:10-15).

TS:

Nê-hê-mi khích lệ dân chúng

(Nê-hê-mi 4:16-23).

TB:

Nê-hê-mi đắc thắng và thành công

(Nê-hê-mi 5:1-6:29).

Sau khi Xô-rô-ba-bên hướng dẫn dân Giu-đa trở về xây lại bàn thờ và đền thờ, rồi E-xơ-ra trở về lập lại cuộc thờ phượng, thì xảy ra sự bắt bớ dân Giu-đa còn ở tại Mê-đi Phe-rơ-sơ, dưới triều vua A-suê-ru. Chúa đã dùng Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê giải cứu dân Giu-đa. Bây giờ đến lượt Nê-hê-mi trở về xây lại vách thành Giê-ru-sa-lem.

I. NÊ-HÊ-MI NGHE TIN TỨC VỀ GIÊ-RU-SA-LEM (1:1-11).

Đang khi Nê-hê-mi làm quan tửu chánh của vua Ạt-ta-xét-xe, hằng ngày sống sung sướng no ấm, thì có Ha-na-ni với vài người đến thăm. Nê-hê-mi hỏi về tình cảnh những kẻ thoát chết, còn ở lại trong xứ và thành Giê-ru-sa-lem. Họ cho ông biết rằng những kẻ đó bị tai vạ và sỉ nhục lắm, còn vách thành Giê-ru-sa-lem bị sụp đổ, các cửa bị thiêu hủy. Nghe tin ấy, Nê-hê-mi ngồi xuống khóc, để tang, rồi kiêng ăn cầu nguyện. Ông làm như E-xơ-ra (9:5-15), như Đa-ni-ên (9:1-19). Trước hết, ông ca ngợi Chúa là Đấng chí tôn, chí đại, thành tín, nhân từ. Ông xưng tội của ông, của tổ phụ ông, của đồng bào ông và nài xin Chúa thực hiện lời hứa Ngài mà đem dân tan lạc của Ngài trở về. Riêng ông ngày đêm kêu cầu Chúa tha thứ, nhậm lời cho ông được may mắn và ân huệ trước mặt vua Ạt-ta-xét-xe.

II. NÊ-HÊ-MI TRỞ VỀ LÀM TỔNG TRẤN XỨ GIU-ĐA (2:1-20).

Với chức quan tửu chánh, hằng ngày Nê-hê-mi dâng rượu cho vua. Công việc đó đòi hỏi ông vui tươi trước mặt vua. Song nỗi buồn sâu kín trong lòng bộc lộ ra ngoài mà ông không thể nào giấu được. Thấy vậy, vua Ạt-ta-xét-xe lấy làm lạ hỏi: “Nhân sao mặt mày ngươi buồn, dầu mà ngươi không có bịnh? Điều đó chỉ là sự buồn rầu trong lòng mà thôi”. Bấy giờ Nê-hê-mi sợ hãi vì đã vô lễ với vua. Ông tâu: “Lẽ nào mặt tôi không buồn, khi cái thành là nơi mồ mả của tổ phụ tôi bị phá hoang, và các cửa nó bị thiêu đốt”. Vua hỏi: “Ngươi cầu xin cái gì? Tôi bèn cầu nguyện cùng Đức Chúa của các từng trời, rồi tâu với vua”.

Chúng ta hãy dừng lại để suy nghĩ. Cuộc đối thoại với vua đang tiếp diễn, mà Nê-hê-mi nói: “Tôi bèn cầu nguyện…” Ông đi đâu để cầu nguyện? Ông cầu nguyện bao nhiêu? Chắc ông đứng đó mà thầm nguyện trong một phút và được Chúa trả lời lập tức. Ông tạm ngưng cuộc đối thoại với vua dưới đất để đối thoại với Vua trên trời. Dầu đang phục vụ vua Ạt-ta-xét-xe, Nê-hê-mi vẫn giữ mối tương giao mật thiết với Đức Chúa Trời, nên chỉ trong một phút là đủ, mau hơn vô tuyến viễn thông biết bao! Chúng ta phải tập “cầu nguyện không thôi” (ITê 5:17). Chúa Jêsus cũng đã dự liệu cho chúng ta trường hợp đó (Ma-thi-ơ 10:19).

Nê-hê-mi trở lại cuộc đối thoại với vua. Ông tâu: “Nếu vua thấy điều đó là tốt lành, nếu kẻ tôi tớ vua được ơn trước mặt vua, xin vua hãy sai tôi về Giu-đa, đến thành có mồ mả của tổ phụ tôi, để tôi xây cất thành ấy lại”. Vua liền đồng ý. Nê-hê-mi trình bày thời gian đi và về, cũng xin vua ban lệnh cho các tổng trấn tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của ông, đồng thời cung cấp vật liệu cho việc xây cất… Khi về đến nơi, Nê-hê-mi được các quan tổng trấn hoan nghinh, nhưng bị một số người lân cận chống đối. Họ nói: “Các ngươi làm chi đó? Các ngươi có ý phản nghịch vua sao?” Nê-hê-mi quan sát thảm cảnh của Giê-ru-sa-lem, ông bày tỏ lòng của mình với các thành phần lãnh đạo như thầy tế lễ, người tước vị, các quan trưởng (2:17-18). Họ đáp: “Hè, chúng ta hãy chỗi dậy và sửa lại”.

Vậy, hết sức mình mới biết mạng trời. Tự giúp mình trước, Chúa mới giúp mình sau. Đành rằng lúc nào kẻ thù cũng sẵn sàng làm hại để gây trở ngại, song lúc nào Chúa cũng sẵn sàng làm lợi để san bằng trở ngại. Được đồng bào mọi giới hưởng ứng, Nê-hê-mi chắc chắn sẽ thành công.

III. NHỮNG GIẢI PHÁP NÊ-HÊ-MI THỰC HIỆN ĐỂ XÂY LẠI VÁCH THÀNH (đoạn 3,4,5).

Nê-hê-mi liệt kê danh sách mọi thành phần, họ hàng, gia đình nào đứng lên tu bổ cửa hoặc vách. Họ đã hiệp lực với nhau thi hành mọi công tác. “Song các người tước vị của họ chẳng ghé vai vào công việc của Chúa mình”. Vì mọi người được kêu gọi làm việc tình nguyện, nên hàng quí phái không dự phần vào công việc nặng nhọc, tay lấm chân bùn. Họ đứng ngoài nhìn xem người khác làm để phê phán. Họ mất cơ hội quí báu để phục vụ, lại còn ngăn trở người khác phục vụ Ngài. Đang khi tu bổ vách thành, có tiếng kêu la của dân chúng về các người tước vị và các quan trưởng đã cho vay lấy lời quá cao. Nếu người vay không trả được vốn lời, thì chủ nợ đoạt lấy ruộng vườn, bắt con làm nô lệ để trừ nợ. Nghe vậy, Nê-hê-mi giận lắm, quở trách người tước vị và các quan trưởng, buộc họ phải trả lại cho người nghèo ruộng, vườn, nhà. Ai nấy hứa: “Chúng ta sẽ trả lại và không đòi chi hết” (5:1-13).

Một việc tệ hại hơn nữa mà các người tước vị đã làm là họ bị mua chuộc, nên đã thề kết hiệp với kẻ thù, Nê-hê-mi đã ghi lại: “Cũng trong những ngày ấy, có các người tước vị của xứ Giu-đa gởi lắm thơ từ cho Tô-bi-gia và Tô-bi-gia đáp gởi thư lại cho chúng… Chúng cũng nói trước mặt tôi những việc tốt của người và chúng học lại cho người các lời của tôi. Còn Tô-bi-gia gởi thơ để làm cho tôi sợ hãi” (6:17,19). Điều cuối cùng của các người tước vị là họ cho phép dân chúng làm trong ngày yên nghỉ như ép nho, chuyên chở, mua bán để họ thủ lợi. Nê-hê-mi quở trách các người tước vị (13:15-17).

Đang khi nội bộ lủng củng, Nê-hê-mi phải đương đầu với kẻ thù bên ngoài. San-ba-lát giận dữ chế nhạo: “Những người Giu-đa nhu nhược ấy mà làm gì?” Ông đe dọa và thách thức rằng dân Giu-đa không thể nào thực hiện xong kế hoạch của họ. Tô-bi-gia bồi thêm: “Một con chồn leo lên cũng đủ làm sập vách họ xây đó”. Vừa làm việc, vừa cầu nguyện, các vách thành được xây lên rất mau, rất vững, vì ai nấy chuyên tâm thi hành công tác. Nhưng họ rất nhọc nhằn vất vả ngày đêm bởi thiếu vật liệu, thiếu phương tiện, thiếu công nhân. Kẻ thù lại chực chờ tấn công, nên họ phải túc trực ngày đêm để phòng thủ.

IV. NÊ-HÊ-MI HOÀN THÀNH CÔNG TÁC (6:1-19).

1. Kẻ thù hoạt động mãnh liệt nhưng thất bại (1-14).

a. Lừa gạt (1-9).

Kẻ thù tưởng dân Giu-đa đã ngã lòng bỏ cuộc vì họ đã bị đe dọa, bao vây, khinh miệt, nhưng bây giờ kẻ thù lại vừa ngạc nhiên, vừa sợ hãi khi được biết vách thành đã tu bổ xong. Tức thì, San-ba-lát và Ghêsem cho người mời Nê-hê-mi: “Hãy đến, ta hãy gặp nhau tại một làng nào tại trũng Ônô”. Nê-hê-mi biết ngay đó là âm mưu hại ông, nên cho người trả lời: “Ta mắc làm công việc lớn, xuống không đặng. Lẽ nào ta để công việc dứt trong khi bỏ nó đặng đi xuống với các ngươi?” Kẻ thù cho người mời bốn lượt như vậy, Nê-hê-mi đều khước từ. Lần thứ năm, họ cho người mời, lại có thư không niêm cặp theo. Trong thư có lời vu khống và đe dọa, áp lực mạnh, buộc Nê-hê-mi đến với họ và thỏa thuận. Nê-hê-mi cho người trả lời thẳng vào mặt kẻ thù: “Những điều ngươi nói chẳng có ai làm, nhưng chính trong lòng ngươi có đặt nó ra”, tức là hoàn toàn dối trá. Nê-hê-mi biết rằng kẻ thù muốn làm cho ông sợ hãi, để không thể hoàn thành công tác. Ông liền cầu nguyện: “Hỡi Chúa, xin làm cho tay chúng tôi mạnh mẽ”. Ông không muốn sợ hãi, nên Chúa đã làm cho ông mạnh mẽ. Nếu ông sợ hãi thì Chúa làm cho ông sợ hãi (Giê-rê-mi 1:17).

b. Phản bội (10-14).

Tô-bi-gia và San-ba-lát đã mướn một người Giu-đa có tiếng là tiên tri (c.12), nhưng phản bội, để làm thiệt hại danh dự của Nê-hê-mi, hầu dân chúng chống lại ông và bỏ cuộc. Người đó là Sê-ma-gia. Sê-ma-gia đề nghị hướng dẫn Nê-hê-mi vào chính trong đền thờ để ông trốn tại đó, rồi đóng cửa lại. Vì kẻ thù sẽ đến ban đêm để giết ông. Hai lần Sê-ma-gia đã nhấn mạnh: “Chúng sẽ đến giết ông”. Âm mưu đó thật thâm độc, dùng một người bên cạnh Nê-hê-mi làm cho ông sợ hãi, xui cho ông phạm tội với Chúa mà vào nơi chí thánh, vì lầm tưởng tại nơi đó sẽ được an thân. Nếu Nê-hê-mi làm như vậy, dân chúng sẽ cho ông là người hèn nhát, đồng thời họ sẽ đuổi ông khỏi đền thờ như vua Ô-xia bị đuổi (II Sử ký 26:16-20). Nê-hê-mi đáp: “Một người như tôi đây sẽ chạy trốn ư? Người như tôi đây vào đền thờ mà được sống sao? Tôi không vào đâu”. Ông muốn nói rằng, một quan tổng trấn của vua, chịu trách nhiệm trở về xây lại vách thành Giê-ru-sa-lem mà lại trốn à! Hèn nhát, mà phạm tội với Chúa, dầu trốn trong nơi chí thánh của đền thờ cũng không khỏi chết. Nê-hê-mi không sợ người, chỉ sợ Chúa.

Nê-hê-mi vừa can đảm, vừa sáng suốt, nhận biết âm mưu thâm độc của kẻ thù. Đức Chúa Trời không sai Sê-ma-gia làm việc đó, nhưng tiền bạc đã sai ông. Miệng ông nói thương Nê-hê-mi, nhưng lòng ông thương yêu tiền bạc và muốn giết Nê-hê-mi. Nếu Nê-hê-mi đã trốn trong đền thờ, thì chính Sê-ma-gia là người tố cáo Nê-hê-mi trước nhất. Hạng tiên tri như Sê-ma-gia, nam có, nữ có như Naôđia (14), trước đó có Ba-la-am, sau đó có Giu-đa, bây giờ cũng có (Ma-thi-ơ 7:15; 24:24; II Phi-e-rơ 2:1). Một công dân tham tiền là một công dân vô tổ quốc. Một tiên tri tham tiền là một tiên tri phản bội đồng bào mình. Một Cơ Đốc nhân tham tiền là một Cơ Đốc nhân bất chánh, phản bội Hội Thánh, một con sói mang lốt chiên. Đó là: “Các quan trưởng xét đoán vì của hối lộ, các thầy tế lễ dạy dỗ vì tiền công, còn các tiên tri nói tiên tri vì tiền bạc” (Mi-chê 3:11). Họ vô tình bán mình cho kẻ thù, trở thành công cụ của Sa-tan.

2. Nê-hê-mi đắc thắng (15-19).

Trên đây là một trận giặc cân não, một thứ chiến tranh tâm lý rất nguy hiểm. Cảm tạ Chúa, Nê-hê-mi đã đắc thắng mọi cám dỗ, mọi bẫy lưới của kẻ thù. Sau thời gian 52 ngày, công việc được hoàn tất, khiến các dân tộc xunh quanh phải sợ hãi, vì biết rằng đó là công việc của Đức Chúa Trời, không ai có thể phá hủy hoặc ngăn trở.

CÂU HỎI

1. Nê-hê-mi có thái độ nào khi nghe xứ sở và đồng bào bị lâm nguy?

2. Nê-hê-mi xin Chúa điều gì?

3. Chúa đã nhậm lời Nê-hê-mi cách nào?

4. Khi ông trở về Giu-đa làm quan trấn thủ để xây lại vách thành thì dân chúng có thái độ nào?

5. Thành phần nào làm ngơ trước công tác đó? Họ còn làm hại gì nữa?

6. Kẻ thù mướn Sê-ma-gia làm gì để hại Nê-hê-mi?

7. Nê-hê-mi trả lời họ thế nào?

8. Xin kể ra hành động và lời lẽ khôn ngoan, can đảm của Nê-hê-mi.

9. Hãy kể những hạng người giống Sê-ma-gia.

10. Khi Nê-hê-mi thành công thì ai vui mừng? Ai sợ hãi?

BÀI 49. MỘT KHÓA HỌC LỜI CHÚA

KINH THÁNH: Nê-hê-mi 8:1-18.

CÂU GỐC: “Người đứng tại phố ở trước cửa Nước, đọc trong quyển ấy từ rạng đông cho đến trưa, có mặt các người nam và nữ, cùng những kẻ có thể hiểu được. Cả dân sự lắng tai nghe đọc sách luật pháp” (Nê-hê-mi 8:3).

MỤC ĐÍCH: Học lời Chúa để biết cách ăn ở xứng đáng, phát triển lòng yêu Chúa và tôn thờ Ngài. Chúa Jêsus là Giáo sư của chúng ta.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

E-xơ-ra đọc Lời Chúa

(Nê-hê-mi 8:1-4).

TH:

Sự thờ phượng của dân Giu-đa

(Nê-hê-mi 8:4-8).

TB:

Lời hứa ban ơn phước

(Nê-hê-mi 8:9-12).

TT:

Làm theo lời Chúa dạy

(Nê-hê-mi 8:13-18).

TN:

Chuyên tâm nghe lời Chúa

(II Ti-mô-thê 3:15,17).

TS:

Ngày đêm suy gẫm Lời Chúa

(Thi 1:2; 119:93-103).

TB:

Chúa Jêsus là Giáo sư

(Ma-thi-ơ 5:3-12).

E-xơ-ra về nước trước Nê-hê-mi 13 năm. Nê-hê-mi làm quan tổng trấn lo về hành chánh. E-xơ-ra là văn sĩ, thầy tế lễ, thầy thông giáo, am tường luật pháp của Đức Chúa Trời, lo về linh vụ (E-xơ-ra 7:6,8,11,12, 21). E-xơ-ra tổ chức khóa Thánh kinh đoản kỳ trong bảy ngày cho dân Giu-đa, khiến ai nấy đều được phước lớn lao.

I. DÂN CHÚNG KHÁT KHAO LỜI CHÚA (8:1-2).

Ngày 1 tháng 7 nhằm ngày đầu năm của dân Giu-đa, cũng là ngày lễ thổi kèn nên rất trọng thể (E-xơ-ra 3:6, Lê-vi 23:24; Dân số ký 29:1). Ngày đó dân chúng họp lại đông lắm, gồm có đàn ông, đàn bà và thanh thiếu niên nam nữ. Họ họp lại như thể một người tại một đường phố trước cổng đền thờ. Trong thời Xô-rô-ba-bên, có lần họ họp lại như thế, song ít người, lần này được đông đủ (E-xơ-ra 3:1).

Trong 70 năm bị lưu đày ở xứ người, họ có hội họp như vậy đâu, nên thiết tưởng họ sung sướng lắm (Thi thiên 42:3-4; 137:1-4). Bấy giờ họ yêu cầu thầy thông giáo E-xơ-ra đem quyển luật pháp của Môi-se mà Đức Chúa Trời đã truyền dạy cho dân Y-sơ-ra-ên để đọc cho họ nghe, vì 70 năm rồi, họ không hề được nghe luật pháp của Chúa. Luật pháp đó là đường lối và mục đích của Chúa đối với họ, nên họ cần phải biết. Quyển luật pháp đã được giữ kỹ như một báu vật trong 70 năm, bấy giờ E-xơ-ra đem ra. Họ bị mất rất nhiều tài sản, song không thể mất Lời Chúa.

Con người có thể xác cũng như có tâm linh, nên có nhu cầu thể xác cũng như có nhu cầu tâm linh. Nhu cầu của chúng ta là Lời Chúa. Đa-vít nói: “Lời Chúa ngọt họng tôi dường bao, thật ngọt hơn mật ong trong miệng tôi” (Thi thiên 119:103). Phi-e-rơ khuyên hãy khát khao Lời Chúa như con trẻ khát sữa mẹ (I Phi-e-rơ 2:2). Quyển Kinh Thánh trong tay chúng ta là quí vô giá. Chúng ta phải đọc, phải nghe, phải làm theo Lời Chúa (Giô-suê 1:8).

II. BAN GIÁO SƯ DẠY LỜI CHÚA (8:3-8).

E-xơ-ra là hiệu trưởng, có nhiều giáo sư phụ tá: Bên hữu có sáu người, bên tả có bảy người, ngoài ra còn có những người khác đặc trách những công việc (c.7). Người ta đóng một sạp gỗ cao và rộng để E-xơ-ra và ban giáo sư đứng trên đó để ai cũng thấy được. Khi E-xơ-ra đứng lên và mở sách ra, thì hết thảy dân chúng đều đứng lên. Họ muốn bày tỏ lòng kính trọng lời Chúa. Trước hết, E-xơ-ra dâng lời cầu nguyện, chúc tụng Đức Chúa Trời cao cả, và toàn dân đồng tình đáp lại: “Amen, Amen”. Amen là thật vậy, chắc chắn, sẽ được vậy, ước ao vậy.

Khi Chúa Jêsus phán: “Quả thật, quả thật”, tức là Amen, Amen (Giăng 1:15; 3:3; 5:13,19). Sau lời cảm tạ Chúa của một người, hết thảy nên đáp lại Amen (Thi thiên 41:13; 72:19; 89:52; Khải huyền 22:20; ICôr 14:16).

Khi dân chúng nói Amen, thì tay của họ đưa lên, đầu và mặt của họ cúi xuống đến đất mà thờ lạy Chúa. Rồi E-xơ-ra đọc cho họ nghe luật pháp của Chúa được chép trong Ngũ Kinh Môi-se. Ông đọc từ rạng đông đến trưa, dân chúng đứng tại chỗ mình, chăm chỉ nghe Lời Chúa. Không phải một mình E-xơ-ra đọc mà có nhiều người cùng đọc. Họ đọc rõ ràng cho mọi người nghe và giải nghĩa cho ai nấy đều hiểu được. Có lẽ sau khi đọc chung, họ chia ra nhiều nhóm nhỏ do nhiều người hướng dẫn để học hỏi như ở Trường Chúa Nhật.

Sự giảng dạy hay nhất và ích lợi nhất là người nghe hiểu được. Dùng lời lẽ đơn sơ để bày tỏ chân lý cao thượng là biệt tài của diễn giả. Đời xưa, dân chúng thích thú nghe Lời Chúa qua thuật giảng dạy đơn sơ mà cao thượng và linh hoạt của Chúa Jêsus. Chúng ta giảng mà người nghe không hiểu được, giống như đầu bếp nấu ăn mà khách nuốt không vô. Một điều chúng ta không hiểu, hoặc hiểu mập mờ thì nói ra không ai hiểu. Phải hiểu rõ điều mình muốn nói, còn phải chọn lời, chọn cách trình bày cho người khác hiểu.

Chúa Jêsus đã dùng nhiều ví dụ và lối ví sánh để soi sáng cho đề tài của Ngài. Chúa mượn cách Đức Chúa Trời chăm sóc loài chim, loài hoa để làm cho cách chăm sóc con người của Ngài được nổi bật. “Tóc trên đầu các ngươi cũng đã đếm hết rồi” (Ma-thi-ơ 10:30). Chúa chăm sóc đến phần nhỏ nhất mà chúng ta không hề chú ý.

Nhờ cách đọc rõ ràng, giải nghĩa rành mạch mà dân chúng đã đứng từ rạng đông đến trưa để nghe Lời Chúa, vì lòng khao khát của họ được thỏa thích, hồn đói của họ được no, tức là nhu cầu của họ được đáp ứng. E-xơ-ra không những có chức vụ quan trọng, mà cũng có tư cách xứng đáng với chức vụ đó. Ông hết lòng học luật pháp của Chúa để làm theo và dạy dân Y-sơ-ra-ên. Học, hành và dạy là ba điều quan trọng của thầy tế lễ đời xưa (Ma-la-chi 2:7) và của Mục sư, Truyền đạo thời nay (II Ti-mô-thê 4:13,15). Bây giờ chúng ta làm sao cho đồng bào khao khát Chúa? Chúng ta làm sao cho Hội Thánh đói khát Lời Chúa (A-mốt 8:11-12).

III. KẾT QUẢ SỰ HỌC LỜI CHÚA.

1. Dân chúng ăn năn (9-12).

Phản ứng của dân chúng khi học hỏi Lời Chúa là để tang, tức kiêng ăn và khóc lóc. Họ cảm xúc đau buồn về tội lỗi họ đã phạm và sợ hãi về sự hình phạt của Chúa. Nếu ăn năn mà không cặp theo lòng tan vỡ thì không phải ăn năn thật. Đức Giê-hô-va phán: “Bây giờ, cũng hãy hết lòng trở về cùng Ta, kiêng ăn, khóc lóc và buồn rầu. Hãy xé lòng các ngươi và đừng xé áo các ngươi” (Giô-ên 2:12-13). Khi hàng ngàn người nghe Phi-e-rơ giảng, họ chịu cảm động sâu xa, nên hỏi rằng: “Hỡi anh em, chúng ta phải làm chi?” (Công vụ 2:37).

“Cảm động” tức là đau đớn đến như đau cắt lòng, bị cắn rứt như kim châm. Khi dân Y-sơ-ra-ên nghe E-xơ-ra giảng giải luật pháp của Chúa, họ cũng cảm động như vậy. Bấy giờ, Nê-hê-mi, E-xơ-ra, người Lê-vi là những người đã dạy dỗ dân chúng an ủi họ rằng: “Chớ để tang, cũng đừng khóc lóc… Hãy đi ăn vật gì béo, uống đồ gì ngọt… Chớ buồn thảm, vì sự vui vẻ của Đức Giê-hô-va là sức lực của các ngươi… Khá nín đi, vì ngày nay là thánh, đừng sầu thảm chi”. Chắc dân Y-sơ-ra-ên đã khóc nhiều lắm.

Vậy dân chúng đi ăn uống, họ rất vui vẻ vì đã hiểu được Lời Chúa. Họ cũng gởi phần ăn cho những người vắng mặt, không có sắm sửa chi, để hết thảy cùng vui với nhau. Khi yêu Chúa thì cũng yêu anh em mình. Phao-lô giải thích rằng sự đau buồn đưa đến sự ăn năn là sự đau buồn theo ý Chúa. Đó là sự đau buồn không cần hối tiếc mà đáng khích lệ (IICôr 7:8-10).

2. Dân chúng dự lễ (13-18).

Qua ngày thứ hai, mọi người vây quanh E-xơ-ra để tiếp tục lắng nghe Lời Chúa. Khi đọc đến Lê-vi ký 23:33-36, dân chúng tự động vào rừng, lên núi, ra đồng, đem những nhánh, lá cây về cất những nhà lều và ở trong đó. Từ đời Giô-suê đến giờ, chưa có lần nào họ làm như vậy. Ai nấy đều rất vui mừng.

Mỗi ngày, suốt cả tuần lễ, họ cứ học Lời Chúa trong sách luật pháp của Ngài. Họ tổ chức như một trại hè của thanh thiếu niên. Ai nấy như nhuần gội trong sự hiện diện của Chúa, như trong một dòng sông mát mẻ của sự thánh khiết.

“Sự vui vẻ của Đức Giê-hô-va là sức lực của các ngươi… Bèn có sự vui mừng rất lớn”. Đây không phải là sự vui vẻ của người tạo nên, do khéo léo tổ chức. Nếu vậy, sự vui vẻ ấy chỉ tạm thời trong mấy ngày rồi hết, sức lực cũng không còn. Song sự vui vẻ nầy là của Chúa, đến từ Chúa, nhờ sự học Lời Chúa mà ăn năn và được Chúa thăm viếng, an ủi. Đâu có sự hiện diện của Chúa, đó có sự vui vẻ của Ngài. Kinh Thánh chép: “Tại nơi Ngài ngự có quyền năng và sự vui vẻ” (I Sử ký 16:27). Khi chúng ta buồn rầu lớn về tội lỗi của mình mà ăn năn, thì Chúa ban sự vui mừng lớn cho chúng ta.

Xin lưu ý: Từ đời Sau-lơ, Đa-vít, Sa-lô-môn, nước và dân của họ được gọi là Y-sơ-ra-ên. Song đến đời Rô-bô-am, con trai Sa-lô-môn, thì nước bị chia ra làm hai: Nam và Bắc. Phía Nam có hai chi phái là Giu-đa và Bên-gia-min, lấy lên là vương quốc Giu-đa, kinh đô là Giê-ru-sa-lem. Phía Bắc có mười chi phái, lấy tên là Y-sơ-ra-ên, kinh đô là Sa-ma-ri. Đến năm 721 TC, nước Y-sơ-ra-ên miền Bắc bị mất, dân bị đày qua A-si-ri, rồi biệt tích luôn. Đến năm 587 TC, nước Giu-đa miền Nam bị mất, dân bị đày qua Ba-by-lôn, song sau 70 năm, họ được trở về.

Từ đó, chỉ có dân Giu-đa ở cả hai miền Nam và Bắc, nên được gọi chung là Giu-đa hoặc Y-sơ-ra-ên.

CÂU HỎI

1. E-xơ-ra là người thế nào?

2. Khi dân chúng họp lại như một người, thì họ xin E-xơ-ra làm gì?

3. Lớp Thánh kinh đoản kỳ của E-xơ-ra mở bao lâu? Ban giáo sư mấy người?

4. Dân chúng nghe Lời Chúa với thái độ nào? Kết quả ra sao?

5. Ban giáo sư đã dạy dỗ thế nào?

6. Dân chúng được ai an ủi? Và an ủi thế nào?

7. Tại sao dân chúng được vui mừng lớn?

8. Nhu cầu của đồng bào và của Hội Thánh hôm nay là gì? Ai sẽ đáp ứng? Bằng cách nào?

BÀI 50. SỨ ĐIỆP CỦA AGHÊ CHO DÂN SỰ

KINH THÁNH: A-ghê 1:1-2:23.

CÂU GỐC: “Hãy lên núi, đem gỗ về và xây nhà nầy, thì Ta sẽ lấy nó làm vui lòng, và Ta sẽ được sáng danh, Đức Giê-hô-va phán vậy” (A-ghê 1:8).

MỤC ĐÍCH: Chúng ta phải phục vụ Chúa cách vui lòng. Phải phục vụ Chúa cách sốt sắng hết lòng.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Cuộc biện luận của Chúa và dân Ngài

(A-ghê 1:1-11).

TH:

Dân chúng đáp lời kêu gọi của Chúa

(A-ghê 1:12-15).

TB:

So sánh đền thờ cũ và đền thờ mới

(A-ghê 2:1-5).

TT:

Vinh quang đền thờ mới hơn đền thờ cũ

(A-ghê 2:6-9).

TN:

Sự thánh khiết rất quan trọng

(A-ghê 2:10-17).

TS:

Kết quả từ sau khi xây lại đền thờ

(A-ghê 2:18-19).

TB:

Quyền tể trị của Chúa trên các nước

(A-ghê 2:20-23).

A-ghê, Xa-cha-ri và Ma-la-chi là ba vị tiên tri được trở về sau thời kỳ lưu đày. Chúng ta biết rất ít về tông tích của A-ghê, vì ngoài sách E-xơ-ra, thì không có nơi nào ghi lại (E-xơ-ra 5:1; 6:14). A-ghê thi hành chức vụ trong một thời gian rất ngắn, chừng bốn tháng, để giục giã dân Giu-đa xây lại đền thờ của Chúa tại Giê-ru-sa-lem.

I. CUỘC BIỆN LUẬN GIỮA CHÚA VÀ DÂN NGÀI (1:1-11).

1. Dân chúng nói rằng chưa đến thời giờ xây lại đền thờ (1:1-11).

Khi Xô-rô-ba-bên dẫn dân Giu-đa trở về tổ quốc, họ liền xây ngay một bàn thờ để dâng tế lễ. Kế đó, họ tiếp tục xây đền thờ, song bị kẻ thù ngăn trở, nên công việc phải dừng một thời gian. Khi vua Đa-ri-út của nước Phe-rơ-sơ ra lịnh cho xây lại đền thờ, thì dân Giu-đa lại thoái thác là thì giờ chưa đến. Họ nói với tinh thần lãnh đạm, tắc trách, cho rằng có bàn thờ để dâng tế lễ là đủ rồi, còn đền thờ thì lúc nào xây cũng được, chứ không phải lúc nầy, họ viện lý do trì hoãn việc Chúa, để ai nấy lo việc mình.

Hạng tín đồ hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, không tiến cũng không thoái, lưng chừng cầu an, thế nào xong thôi, Hội Thánh mất, còn mặc kệ, thì lúc nào cũng có. Họ tự mãn như Hội Thánh Lao-đi-xê gần bị Chúa mửa ra.

2. Chúa bảo họ xét lại đường lối mình (3-11).

a. Lý do họ bị thiếu thốn (3-6).

Họ làm rất giỏi, nhưng gieo nhiều tại sao lại gặt ít? Ăn nhiều tại sao không no? Uống nhiều tại sao không thỏa? Mặc nhiều tại sao không ấm? Làm thuê được nhiều tại sao không còn? Nguyên nhân chỉ vì ích kỷ, là nhà Chúa bị hoang vu, mà ai nấy lo xây nhà mình.

b. Lý do họ bị đói kém (7-11).

Xứ của họ được gọi là nơi đượm sữa và mật, tại sao thiếu sương móc? Thiếu hoa lợi? Tại sao bị hạn hán mà không có lúa mì, rượu mới và dầu? Tại sao họ bị rủa sả? Nguyên nhân chỉ vì ích kỷ: Nhà Chúa bị hoang vu mà ai nấy lo xây nhà mình.

Đáng lẽ dân Giu-đa phải hết lòng, hết sức biết ơn Chúa mà phục vụ Ngài. Đất mà họ có không phải là đất của họ, nhà họ không xây mà được ở, cây họ không trồng mà được ăn trái, giếng họ không đào mà được uống nước. Tất cả đều do Chúa cho. Nhưng họ lại lãnh đạm và bội bạc, vì tinh thần ích kỷ. Chúng ta có nhiệt thành phục vụ Chúa, vì biết Ngài đã cứu mình hay cũng như họ? Mặc kệ cho nhà Chúa bị hoang vu, ai nấy lo xây nhà mình? Kết quả cũng như dân Giu-đa, chúng ta thiếu thốn và đói kém cả thể xác lẫn linh hồn. Chúa bảo chúng ta xét lại đường lối mình như đã bảo dân Giu-đa. Cùng với lời tiên tri, có lời âu yếm: “Hãy lên núi, đem gỗ và về xây nhà nầy, thì Ta sẽ lấy nó làm vui lòng, và Ta được sáng danh”. Làm đẹp lòng Chúa, làm tôn vinh Chúa là trách nhiệm của mỗi người.

II. DÂN CHÚNG ĐÁP LỜI KÊU GỌI (12-15).

Nghe qua sứ điệp mà A-ghê nhơn danh Chúa truyền ra, thì quan trấn thủ, thầy tế lễ, dân chúng đều sợ hãi, ai nấy răm rắp vâng lời. A-ghê tiếp: “Chúa phán: Ta ở cùng các ngươi”. Đồng thời Ngài giục lòng cả thành phần nêu trên, họ đều bắt tay vào việc.

Chúa nhân từ đã dùng tiên tri Ngài thức tỉnh, vừa kêu gọi, vừa khích lệ mọi người nhận định tình hình để sửa lại đường lối mình, nên họ không còn lãnh đạm, viện dẫn lý do từ chối, song tham gia tích cực công tác xây lại nhà Ngài. Dân Giu-đa rất được phước vì có một tiên tri như A-ghê, một tiên tri giảng những bài ý nghĩa súc tích, linh động, giục giã người nghe ăn năn. Dân Giu-đa cũng đáng khen dầu có lúc yếu đuối, song khi được thăm viếng, họ ăn năn ngay và phục vụ Chúa cách hết lòng. Được Chúa sai đi, được Chúa ở cùng và được Chúa khích lệ là ba yếu tố giúp họ thành công.

Sau khi quở trách sự hâm hẩm của Hội Thánh Lao-đi-xê, Chúa Jêsus an ủi họ: “Phàm những kẻ Ta yêu, thì Ta quở trách, sửa phạt, vậy hãy có lòng sốt sắng và ăn năn đi” (Khải huyền 3:19). Chúng ta hãy như dân Giu-đa đáp lời kêu gọi của Chúa yêu dấu.

III. SO SÁNH CŨ VÀ MỚI, THÁNH KHIẾT VÀ Ô UẾ (2:1-14).

Chúa cho người có khả năng so sánh để phân biệt giá trị của sự việc, hầu nhờ đó mà tiến bộ.

1. Đền thờ cũ và đền thờ mới (1-9).

Trong số những người từ Ba-by-lôn trở về, có người đã hơn 70 tuổi, họ đã thấy đền thờ cũ mà Sa-lô-môn đã xây và bị Nê-bu-cát-nết-sa phá hủy. Bấy giờ họ thấy đền thờ mới do dân Giu-đa xây lại không có giá trị gì, nên khóc lên. Điều đó làm cho người đang hăng say làm việc phải nản lòng, hổ thẹn. Chúa an ủi mọi người: “Hỡi Xô-rô-ba-bên, khá can đảm… Giê-hô-sua cũng khá can đảm… cả dân sự cũng khá can đảm, hãy làm việc, vì Ta ở cùng các ngươi… Chớ sợ hãi!”

Nản lòng và sợ hãi là hai chứng bệnh rất nguy hiểm, làm tiêu tan tiềm lực của con người, song can đảm và hăng say là hai liều thuốc quí làm gia tăng tiềm lực, phát huy tinh thần phục vụ để cứ tiến hành công tác cho đến khi hoàn thành. Trước khi vào Ca-na-an, Chúa đã ba lần nhấn mạnh với Giô-suê: “Hãy vững lòng bền chí” (1:6,7,9). Bền chí tức là can đảm. Tác giả Hê-bơ-rơ cũng khuyên: “Vậy, chớ bỏ lòng dạn dĩ mình, vốn có một phần thưởng lớn đã để dành cho” (10:35). Con cái Chúa không thể nào là người hèn nhát được, vì trên thiên đàng không có chỗ nào dành cho kẻ hèn nhát (Khải huyền 21:8).

Quyền năng làm rúng động trời đất là của Chúa, bạc và vàng là của Chúa, nên Ngài sẽ làm cho vinh quang của đền thờ mới còn hơn vinh quang của đền thờ cũ. Ngài nói về một đền thờ đặc biệt là Chúa Jêsus. Đền thờ vật chất dầu là của Sa-lô-môn xây cũng chỉ có tính cách tạm thời và tượng trưng cho một đền thờ thuộc linh và đời đời (Giăng 2:18-22).

2. Sự thánh khiết và sự ô uế (10-14).

Thịt thánh gói trong chéo áo, không làm cho chéo áo nên thánh. Ngược lại một người bị xác thịt làm cho ô uế, thì đụng đến bất cứ vật gì, vật đó bị ô uế lây. Chúa muốn nói về sức mạnh của tội lỗi lan tràn, gây ảnh hưởng tai hại cho con người như ung nhọt. Làm cho ô uế rất dễ, làm cho nên thánh rất khó. Dân Sa-ma-ri đã bị ô uế từ trong tâm linh, nên việc họ làm, vật họ dâng cũng bị ô uế, mà Ngài không muốn dân Giu-đa bị lây họ. Đó là lý do Chúa kêu gọi Áp-ra-ham ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ông mà đi đến xứ Chúa sẽ chỉ cho. Rồi khi dân Y-sơ-ra-ên sắp vào Ca-na-an, Chúa ra lịnh họ phải tận diệt bảy sắc dân trong xứ (Phục truyền 7:1-6).

Lời nầy lúc nào cũng còn vang dội: “Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, thì Ta sẽ tiếp nhận các ngươi, Ta sẽ làm Cha các ngươi, các ngươi làm con trai, con gái Ta, Chúa Toàn năng phán như vậy” (IICôr 6:17-18).

IV. SO SÁNH TÌNH HÌNH TRƯỚC VÀ SAU KHI XÂY LẠI ĐỀN THỜ (2:15-19).

Trước khi xây lại đền thờ, họ bị rủa sả bằng hạn hán, ten rét, mưa đá, thu hoạch rất ít vì mất mùa. Trong hầm vựa không còn hột giống, thậm chí cây nho, cây vả, cây lựu, cây ô-li-ve cũng không có trái. Nhưng từ sau khi xây lại đền thờ, Chúa phán: “Ta sẽ ban phước cho các ngươi”. Bấy giờ, dân Giu-đa thấy rõ như ban ngày là sống ích kỷ, lãnh đạm với công việc Chúa, chỉ chuốc lấy cho mình tai họa, còn can đảm, nhiệt thành với công việc Ngài đưa đến hạnh phúc. Phao-lô khuyên: “Hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu” (ICôr 15:58). Tác giả thơ Hê-bơ-rơ viết: “Đức Chúa Trời không phải là không công bình mà bỏ quên công việc và lòng yêu thương của anh em vì danh Ngài, trong khi hầu việc các thánh đồ và hiện nay đương còn hầu việc nữa” (Hê-bơ-rơ 6:10). Phước cho ai phục vụ Chúa! Không có phước nào lớn bằng được phục vụ Chúa! Phần thưởng của người phục vụ Chúa là cứ được phục vụ Chúa.

CÂU HỎI

1. Ba vị tiên tri sau thời dân Giu-đa bị lưu đày là ai?

2. Chức vụ A-ghê bao lâu? Công việc đặc biệt của ông là gì?

3. Dân Giu-đa biện luận gì với Chúa?

4. Chúa bảo làm gì?

5. Kết quả dân Giu-đa đã đáp tiếng gọi của Chúa cách nào?

6. Chúa đã làm gì để khích lệ họ?

7. Theo hình thức thì đền thờ nào tốt?

8. Theo tâm linh thì đền thờ nào tốt nhất và đời đời?

9. Làm cho nên thánh dễ hay bị lây ô uế dễ? Tại sao?

10. Sống ích kỷ có phước, hay phục vụ Chúa có phước? Xin đem bài học nầy ra chứng minh.

BÀI 51. SỨ ĐIỆP CỦA XA-CHA-RI CHO DÂN SỰ

KINH THÁNH: Xa-cha-ri 1-4.

CÂU GỐC: “Ấy chẳng bởi quyền thế, cũng chẳng bởi năng lực, bèn là bởi thần Ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy” (Xa-cha-ri 4:6).

MỤC ĐÍCH: Chúng ta phải cậy quyền năng và ân điển của Chúa mà phục vụ Ngài.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa kêu gọi mọi người ăn năn

(Xa-cha-ri 1:1-6).

TH:

Chúa bảo vệ và giải cứu dân Ngài

(Xa-cha-ri 1:7-21).

TB:

Chúa kêu dân phu tù về nước

(Xa-cha-ri 2:1-9).

TT:

Chúa bảo họ vui mừng chờ đợi

(Xa-cha-ri 2:10-13).

TN:

Tội được tha, chức vụ được tiếp tục

(Xa-cha-ri 3:1-10).

TS:

Mọi nhu cầu được Chúa cung cấp

(Xa-cha-ri 4:1-10).

TB:

Công tác được hoàn thành

(Xa-cha-ri 4:1-14).

Xa-cha-ri và A-ghê sống đồng thời với nhau (E-xơ-ra 5:1; 6:14). Xa-cha-ri bắt đầu chức vụ sau A-ghê hai tháng, song kéo dài chừng hai năm. Hai ông đều kêu gọi mọi người xây lại đền thờ của Chúa, song mỗi ông nhắm vào một phương diện khác nhau. A-ghê chú trọng vào công việc, Xa-cha-ri quan tâm đến cách ăn ở.

I. XA-CHA-RI KÊU GỌI MỌI NGƯỜI ĂN NĂN (1:1-6).

Xây lại đền thờ là một công trình có tính thuộc linh, tương quan đến tấm lòng hơn là chân tay. Nếu chưa trở về cùng Chúa thì công trình không có giá trị gì cho Chúa.

Loài người đã xây dựng nhiều công trình vĩ đại, song không phải do Chúa hoặc vì Chúa, mà chống lại Chúa. Vì vậy, Chúa kêu gọi ai nấy dâng lòng mình cho Chúa trước khi dâng một công trình nào đó cho Ngài. Chúa nhắc lại cho dân Giu-đa về thái độ cứng lòng của tổ phụ họ, khi Ngài dùng tiên tri kêu gọi họ ăn năn, song chẳng ai nghe hoặc để ý, mà cứ miệt mài trong đường lối và việc làm gian ác của mình. Bấy giờ, các tổ phụ họ và các tiên tri đã qua đời, song Lời Chúa còn nguyên, tức là ứng nghiệm trọn vẹn. Điều chi Chúa đã phán, Ngài cũng đã làm, chính tổ phụ họ cũng đã làm chứng như vậy. Chúa bảo: “Chớ như tổ phụ các ngươi”. Sự thất bại của người đi trước là bài học cho người đi sau. “Mọi sự đã chép từ đời xưa để dạy dỗ chúng ta” (Rô-ma 15:4), đó là bài học lịch sử. Song nếu không ăn năn, chúng ta lại rơi vào sự thất bại của người đi trước, nên Chúa bảo: “Hãy trở lại cùng Ta”.

II. CHÚA SẼ BẢO VỆ VÀ GIẢI CỨU DÂN GIU-ĐA (1:7-21).

Dị tượng thứ nhất mà Xa-cha-ri thấy là cuộc tuần phòng của Chúa để bảo vệ dân Ngài. Đoàn tuần phòng báo cáo với bộ chỉ huy đứng giữa những cây sim rằng: “Chúng tôi đã đi lại trải qua đất, nầy cả đất đều ở yên và im lặng”. Dân của Chúa vừa từ xứ bị lưu đày trở về. Họ nghèo thiếu, yếu đuối lại phải gánh vác việc xây đền thờ, nhưng các dân tộc xung quanh không nghĩ đến họ mà cứ tọa hưởng an vui.

Thấy vậy, một thiên sứ cầu Chúa thương xót dân Ngài, Chúa liền an ủi họ. Chúa bất mãn về sự lãnh đạm của các dân tộc xung quanh, nên lên tiếng bênh vực dân Ngài, hứa ở với họ, làm cho họ thịnh vượng, vì họ là dân Ngài đã chọn.

Dị tượng thứ hai là bốn cái sừng đã làm tan tác Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, không ai có thể ngóc đầu lên được. Sừng chỉ về sức mạnh (Giê-rê-mi 48:25, A-mốt 6:13). Bốn sừng chỉ về cả thế gian, cụ thể là A-si-ri, Ba-by-lôn, Phi-li-tin và những công cụ của họ là Rê-hum, Sim-nai và đồng bọn (E-xơ-ra 4:8, 9), San-ba-lát, Tô-bi-gia, A-rạp, Am-môn, Ách-đốt (Nê-hê-mi 4:7).

Kế đó có bốn thợ rèn sẽ làm kinh hãi bốn sừng trên kia và ném chúng xuống. Bốn thợ rèn chỉ về bốn nhân vật Chúa dùng là E-xơ-ra, Nê-hê-mi, Xô-rô-ba-bên, Giê-hô-sua. Họ không sợ kẻ thù, song kẻ thù sợ họ, họ không thất bại, song đắc thắng kẻ thù, vì Chúa sai họ đi, Chúa ở cùng họ.

Cả hai dị tượng cho Xa-cha-ri thấy rằng: Khi dân Chúa phạm tội, Ngài sửa trị họ, song lúc nào, nơi nào Ngài cũng chăm sóc họ, giải cứu họ khỏi tay kẻ thù của họ. Hội Thánh ngày nay cũng như dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa, vì cứng lòng, lãnh đạm với Chúa mà ham mê thế gian, nên bị Chúa dùng các cây roi sửa trị. Song chúng ta nên nhớ rằng, Chúa không bao giờ bỏ Hội Thánh mà Ngài đã mua bằng chính huyết của Ngài, trái lại Ngài luôn luôn chăm sóc và giải cứu, vì Ngài yêu Hội Thánh (Ê-phê-sô 5:25).

III. CHÚA KÊU GỌI DÂN GIU-ĐA VỀ NƯỚC (2:1-13).

Khi vua Si-ru ra chiếu chỉ cho dân Giu-đa về nước, thì chỉ có 40.000 người hồi hương, còn bao nhiêu ở lại, vì (1) họ tiếc nuối tài sản mà họ gom góp, (2) họ không thiết tha với quê hương, (3) họ không muốn đương đầu với những khó khăn (4) và họ không dám tin cậy Lời Chúa.

Dị tượng thứ ba là Chúa ra lịnh đo Giê-ru-sa-lem có nghĩa là chăm sóc nó. Ngài làm cho nó thành một nơi rất đông dân cư. Mặc dù Giê-ru-sa-lem là một nơi không có tường thành bao bọc để bảo đảm an ninh, thì có lời Chúa: “Vì Ta, Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ làm tường bằng lửa xung quanh nó, và sẽ làm sự vinh hiển ở giữa nó”.

Trên đây là một lời an ủi, khích lệ dân Giu-đa biết bao! Chúa chỉ chính mình mà thề sẽ bảo đảm an ninh cho họ, Ngài là bức tường lửa, một thứ lửa không có loại nước nào có thể tưới tắt được. Chúa cũng hứa lời nầy cho con cái Ngài trải qua các đời. Vì vậy, bao nhiêu tín đồ đã được Chúa bảo vệ giữa những cảnh nguy nan hơn hết.

Tiếp theo là một lời kêu gọi: “Hè hè! Các ngươi khá trốn, khá trốn khỏi đất phương bắc… Hỡi Si-ôn, ở với con cái Ba-by-lôn hè, ngươi khá trốn đi!”. Đây là tiếng thúc bách như cháy nhà phải chạy mau, như tiếng của thiên sứ hối Lót và vợ con ông phải chạy mau ra khỏi Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Tiếng nầy đã kêu trước, bây giờ được nhắc lại (Ê-sai 48:20; Giê-rê-mi 50:8; 51:6). Chúa sẽ hủy diệt Ba-by-lôn mà còn ở lại đó là thiếu khôn ngoan. Thế gian đã dành cho lửa, mà còn ham mê nó thì không phải lẽ (IICôr 6:17-18).

Lại còn một lời hứa nữa: “Sau sự vinh hiển, rồi Ngài sai ta đến cùng các nước cướp bóc các ngươi, vì ai đụng đến các ngươi tức là đụng đến con ngươi của mắt Ngài”. Chúa là Đấng công bình, Ngài sẽ áp dụng luật công bình với các nước đã làm hại Giu-đa, trong đó có Ba-by-lôn. Chúa xác nhận lời Ngài đã phán từ xưa (Phục truyền 32:10). Đa-vít đã xin Chúa bảo vệ ông như vậy (Thi thiên 17:8).

Kết quả của lời kêu gọi là dân Giu-đa đã theo E-xơ-ra và Nê-hê-mi về nước (E-xơ-ra 7 và Nê-hê-mi 2).

IV. TỘI LỖI ĐƯỢC THA THỨ, CHỨC VỤ ĐƯỢC TÁI LẬP (3:1-10).

Đoạn 1 và 2 nói về sự xây lại đền thờ và kêu gọi dân Giu-đa về nước. Đoạn 3 và 4 nói về việc phục vụ Chúa trong đền thờ.

Dị tượng thứ tư là ma quỉ kiện cáo các thầy tế lễ cả. Sa-tan đã tận dụng mọi cơ hội và phương tiện để ngăn trở việc xây dựng lại đền thờ, như dùng các dân tộc xung quanh đe dọa, vu khống, mua chuộc Sê-ma-gia để làm cho ai nấy ngã lòng. Rồi nó lại mở một chiến dịch mới là ngăn trở cuộc thờ phượng. Nó muốn vô hiệu hóa chức vụ của Giê-hô-sua bằng cách tố cáo ông đang mặc áo bẩn.

Trong những năm sống tại Ba-by-lôn, Giê-hô-sua không có dịp thi hành chức vụ, lại đụng chạm với nhiều việc đời, nên áo của ông, tức là nếp sống bị ô uế. Sa-tan là kẻ ô uế nhất vũ trụ, như nhiên liệu của hỏa ngục, lại đứng lên tố cáo thầy tế lễ của Đức Chúa Trời. Nó là kẻ kiện cáo chuyên nghiệp (Khải huyền 12:10). Chúa quở trách ma quỷ, đồng thời cho cởi áo bẩn ra khỏi Giê-hô-sua, mặc cho ông áo đẹp và đội cho ông mũ sạch. Bấy giờ, ông đứng trước mặt Chúa với tư cách một thầy tế lễ cả để thi hành chức vụ. Ma quỉ lúc nào cũng kiện cáo để vô hiệu hóa chức vụ của đầy tớ Ngài, song lúc nào Chúa cũng tha thứ và bảo vệ họ.

Kế đó, Chúa khuyến khích Giê-hô-sua bước đi trong đường lối Ngài, làm theo mạng lịnh Ngài thì chức vụ ông sẽ được lâu dài. Tất cả thầy tế lễ theo ban A-rôn làm tượng trưng cho thầy tế lễ theo ban Mên-chi-xê-đéc là Chúa Jêsus Christ.

Hòn đá cũng chỉ về Chúa Jêsus (Thi thiên 118:2; Ê-sai 28:16; Ma-thi-ơ 21:42; Công vụ 4:11; I Phi-e-rơ 2:6-7). Bảy con mắt chỉ về sự toàn tri của Chúa (Khải huyền 5:6).

V. MỘT NHU CẦU ĐƯỢC CHÚA CUNG CẤP (4:1-14).

Sứ điệp của Xa-cha-ri được kết thúc bằng dị tượng thứ năm:

1. Xô-rô-ba-bên đã hoàn thành công tác (6-10).

Không phải bởi quyền thế, không phải bởi năng lực, song bởi Thánh Linh cung cấp mọi nhu cầu cho Xô-rô-ba-bên. Trước mặt ông, các núi lớn, tức là các trở lực không thể nào đứng nổi khi Chúa hành động qua đầy tớ Ngài. Ông sẽ đặt viên đá cuối cùng giữa tiếng hoan hô: “Xin ban ơn, xin ban ơn cho nó”.

2. Dân Giu-đa đã chiếu sáng như một ngọn đèn (4:1-4; 11-14).

Trong đền thờ chỉ có một chân đèn bảy ngọn là sự sáng duy nhất, Chúa Jêsus là sự sáng của thế gian như mặt trời (Giăng 8:12). Còn Y-sơ-ra-ên được ví như sự sáng của ngọn đèn (Ma-thi-ơ 5:14). Ngọn đèn nầy không cần ai châm dầu, vì hai cây ô-li-ve hai bên cung cấp dầu nên đèn cháy luôn. Hai nhánh đó cũng là hai người: Xô-rô-ba-bên và Giê-hô-sua. Họ vừa làm tượng trưng cho Chúa Jêsus vừa là vua cai trị, vừa là thầy tế lễ làm cho nên thánh. Chính Ngài là Chúa của cả đất, cung cấp mọi nhu cầu cho dân Ngài.

Nguồn lực lượng của dân Y-sơ-ra-ên và Hội Thánh suốt mọi thời đại là chính mình Chúa. Chỉ có Chúa mới làm được việc của Ngài. Do kinh nghiệm, Phao-lô viết: “Vì, ấy chính chúng ta là kẻ chịu phép cắt bì thật, là kẻ cậy Thánh Linh Đức Chúa Trời mà hầu việc Đức Chúa Trời, khoe mình trong Đấng Christ, và không để lòng tin cậy xác thịt bao giờ” (Phi-líp 3:3).

CÂU HỎI

1. Tiên tri Xa-cha-ri và tiên tri A-ghê giống và khác nhau thế nào?

2. Tại sao Xa-cha-ri kêu gọi dân chúng ăn năn?

3. Dị tượng nào bày tỏ Chúa bảo vệ và giải cứu dân Ngài?

4. Chúa là bức tường lửa có nghĩa gì?

5. Tại sao Chúa kêu gọi dân Giu-đa về nước?

6. Chúa hứa gì cho họ khi về nước?

7. Sa-tan kiện cáo Giê-hô-sua với mục đích gì?

8. Chúa bênh vực ông thế nào?

9. Xô-rô-ba-bên nhờ đâu mà thành công?

10. Dân Giu-đa nhờ đâu mà chiếu sáng?

BÀI 52. SỨ ĐIỆP CỦA MA-LA-CHI

KINH THÁNH: Ma-la-chi 1-3.

CÂU GỐC: “Từ những ngày tổ phụ các ngươi, các ngươi đã xây bỏ luật lệ Ta và không vâng giữ. Hãy trở lại cùng Ta, thì Ta sẽ trở lại cùng các ngươi, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy” (Ma-la-chi 3:7).

MỤC ĐÍCH: Hãy thành thật nhận tội mình mà hết lòng ăn năn để được phước.

KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY

CN:

Chúa thương yêu dân Ngài

(Ma-la-chi 1:1-5).

TH:

Dân Y-sơ-ra-ên bất kính đối với Chúa

(Ma-la-chi 1:6-2:9).

TB:

Tội li dị và tội kết hôn bất hợp pháp

(Ma-la-chi 2:10-17).

TT:

Sự phán xét sắp đến

(Ma-la-chi 3:1-6).

TN:

Nếu ăn năn sẽ được phước

(Ma-la-chi 3:7-12).

TS:

Cơ hội phục vụ Chúa

(Ma-la-chi 3:13-4:3).

TB:

Kết thúc các sách tiên tri của Cựu Ước

(Ma-la-chi 4:4-6).

Sau khi từ Ba-by-lôn trở về, dân Y-sơ-ra-ên mất quyền tự chủ, không còn vua nữa, chỉ còn quan tổng trấn do vua Phe-rơ-sơ bổ nhiệm đến cai trị họ. Tuy nhiên khi được lập lại nghi thức tôn giáo, họ phấn khởi, hồ hởi, và rồi thất vọng khi những thù nghịch xung quanh đứng lên toan hại họ. Thêm vào đó, còn có đói kém, hạn hán. Bấy giờ, họ thắc mắc và nêu lên nhiều câu hỏi.

Ma-la-chi tiếp theo A-ghê và Xa-cha-ri giải thích nguyên nhân và kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên ăn năn để được Chúa tha thứ và được phước.

I. CHÚA THƯƠNG YÊU DÂN NGÀI (1:1-5).

Chúa phán: “Ta yêu các ngươi”. Lời thứ nhất Chúa nói với dân Ngài, là Ngài yêu họ. Chúa muốn gợi lại cảm tình chan chứa của Ngài để họ lưu ý nghe Ngài. Nhưng rất tiếc, họ hỏi lại: “Chúa yêu chúng tôi ở đâu?” Ôi! Ơn Chúa bao la vô tận mà họ quên, phương chi ơn người đối với họ! Loài người quên ơn nhau, vì trước đã quên ơn Chúa.

Chúa giải thích cho họ rằng dầu Ê-sau và Gia-cốp là anh em song sinh, nhưng Ngài yêu Gia-cốp, và ghét Ê-sau. Ngài làm cho dòng dõi Ê-sau là dân Ê-đôm bị hủy diệt. Dân đó có quyết định dựng lại cơ đồ của họ, song không được, vì Ê-đôm đã không nghĩ tình anh em, chẳng những không bênh vực, lại còn hiệp với kẻ thù của Y-sơ-ra-ên để hãm hại họ. Dân Ê-đôm vui mừng khi thấy dân Y-sơ-ra-ên bị Nê-bu-cát-nết-sa vây bắt, lại nhân cơ hội đó vào thành Giê-ru-sa-lem cướp bóc của cải, chận đường chạy trốn của dân Y-sơ-ra-ên và bắt họ nộp cho kẻ thù (Thi thiên 137:7; Ca thương 4:21-22; A-mốt 1:12-13; Ápđia 1:10-14).

Vì yêu dân Y-sơ-ra-ên, Chúa đã bênh vực, bảo vệ họ, hủy diệt dân độc ác là Ê-đôm. Năm 312 TC, dân Ê-đôm bị dân Arập triệt hạ và tiêu diệt từ đó.

Khi chúng ta gặp bất cứ một khó khăn nào, thì sự cám dỗ lớn nhất và nguy hiểm nhất của ma quỉ gieo vào trong trí não của chúng ta là nghi ngờ tình yêu của Chúa. Đó là bước thứ nhất đưa Ê-va đến sự sa ngã. Bây giờ chúng ta phải lập tức sử dụng lời nầy của Chúa như một gươm linh để chiến thắng nó: “Phải, Ta đã lấy sự yêu thương đời đời mà yêu ngươi, nên đã lấy sự nhân từ mà kéo ngươi đến” (Giê-rê-mi 31:3). Chúa muốn nói: “Ta yêu ngươi bằng tình yêu đời đời”. Chúa có thể chứng minh tình yêu của Ngài đối với chúng ta nhiều lần, nhiều cách.

II. TỘI CỦA CÁC THẦY TẾ LỄ (1:6-2:9).

Dầu Chúa rất yêu dân Ngài, song rất ghét tội của họ. Tội của các thầy tế lễ là bất kính với Chúa.

Câu 6-7: Chúa là Cha, là Chủ, họ là con cái, là đầy tớ của Ngài. Trong bổn phận hằng ngày, họ không tôn kính Chúa, Ngài gọi họ là những thầy tế lễ khinh dể danh Ngài. Họ chối: “Chúng tôi có khinh dể danh Ngài ở đâu?” Chúa đáp: “Các ngươi dâng bánh ô uế trên bàn thờ của Ta”. Bánh trần thiết dâng trên bàn thờ Chúa bị ô uế bởi thái độ hững hờ của họ. Họ khinh thường việc dâng bánh, việc bàn thờ và việc hằng ngày nơi bàn thờ, nên họ thi hành chức vụ một cách cẩu thả, chiếu lệ.

Trong đời Tân Ước nầy, tất cả chúng ta là thầy tế lễ, ai nấy có trách nhiệm dâng tế lễ bằng sự cầu nguyện, cảm tạ, ca ngợi Chúa (Thi thiên 50:23; Hê-bơ-rơ 13:15). Nhất là hàng giáo phẩm phải giữ thái độ nghiêm chỉnh trong mọi việc. Về các thánh lễ như dâng con, Báp-têm, hôn phối, tiệc thánh, an táng phải cử hành một cách trang trọng, cung kính. Vì chúng ta làm việc nầy trước mặt Chúa, nhơn danh Chúa, để tôn vinh Chúa, hãy coi chừng kẻo mắc tội khinh dể Ngài.

Câu 8-14: Một hình thức về sự bất kính là các thầy tế lễ đã dâng cho Chúa những con vật mù, què, bịnh, Chúa dạy họ phải dâng cho Ngài những con vật không tì vít (Lê-vi 22:18-20; Phục truyền 15:21).

Chúa hỏi họ rằng: Nếu họ dâng những con vật mù, què, bịnh cho quan trấn thủ của họ, thì người có nhận không? Họ có dám dâng như vậy để khinh dể quan trấn thủ của họ không? Đang khi họ muốn được Chúa ban phước, tại sao họ dám đối xử với Ngài như vậy? Chúa ước ao họ đóng các cửa đền thờ lại, đừng dâng của lễ thiêu vô ích cho Ngài nữa, Chúa không nhận đâu.

Họ chán ngán việc dâng tế lễ cho Chúa, nên dầu trong bầy của họ có những con đực mập mạnh, song họ tiếc, chỉ dâng cho Chúa những con mù, què, đau. Hành động đó tỏ ra họ không tôn kính Ngài là Chúa vạn quân, là Vua cao cả, là Đấng đáng sợ, nên thay vì được phước, họ bị rủa sả.

Chúa không đánh giá họ dâng bao nhiêu, song đánh giá họ dâng cách nào. Chúng ta phải dâng cách nào để tỏ lòng tôn kính Chúa? Chúng ta phải dâng những gì tốt nhất của mình, dầu ít như hai đồng tiền của bà góa (Lu-ca 21:1-3). Áp-ra-ham hứa rất ít song dâng rất nhiều. Ông hứa một miếng bánh, song dâng một con bò con ngon, ba đấu bột lọc với sữa và mỡ sữa (Sáng thế ký 18:1-8). Đa-vít không muốn dâng cho Chúa một của lễ mà mình không tốn kém chi cả (II Sa-mu-ên 24:18-25; I Sử ký 21:18-27).

Trong phân đoạn 2:1-9, Lời Chúa cho biết còn một hình thức khinh dể Chúa là không nghe Lời Ngài, không dâng vinh hiển lên Ngài, lại xây khỏi đường lối Ngài mà làm cho nhiều người vấp phạm (Ma-la-chi 2:3 so với Lê-vi 4:11-12).

Phân đoạn 2:5-7 nhấn mạnh về tư cách, trách nhiệm và phẩm hạnh của thầy tế lễ và người Lê-vi. Không những họ đứng ra thi hành các thánh lễ theo nghi thức tôn giáo, nhưng còn phải nói năng, hành động đúng với sự chân thật, công nghĩa, bình an làm cho nhiều người lìa bỏ đường gian ác. Họ phải thông hiểu luật pháp của Chúa để dạy dỗ dân chúng. Họ là sứ giả của Chúa giữa mọi người. Chúa nói vậy vì họ viện lý do tại dân chúng đem những con vật mù, bịnh làm của lễ, nên họ phải dâng lên. Chúa muốn nói: “Tại sao họ không dạy dỗ dân chúng cách dâng cho Chúa?” Nếu các thầy tế lễ đã dạy dỗ, chắc dân chúng đã không làm như vậy.

Người hầu việc Chúa có trách nhiệm dùng Lời Chúa hướng dẫn tín hữu đi trong đường lối Ngài, giải quyết nan đề của họ, đáp ứng nhu cầu của họ để ai nấy dâng cho Ngài những tế lễ đẹp lòng Ngài.

III. TỘI CỦA DÂN CHÚNG TRONG GIA ĐÌNH VÀ NGOÀI XÃ HỘI (2:10-3:6).

1. Tội cưới gả bất hợp pháp và li dị (2:10-17).

Tội nầy làm cho dân thánh của Ngài bị ô uế. Toàn dân Y-sơ-ra-ên có một Cha, một Đấng Tạo Hóa, nên họ phải yêu thương nhau, hiệp một nhau, mà không được phép phỉnh dối nhau. Nhưng đã có người dám “cưới con gái của các thần ngoại”, tức là lấy vợ ngoại bang, theo ngoại giáo. Kẻ đó vô luận là ai, dầu là thầy tế lễ cũng bị “trừ khỏi các trại của Gia-cốp”, tức là bị dứt phép thông công vì đã phạm giao ước của tổ phụ mình (Xuất 34:15-16; Phục truyền 7:3-4).

Họ hành động như vậy, rồi cũng dâng tế lễ, cầu nguyện, khóc lóc dầm dề, để xin Chúa ban phước, thì làm sao có kết quả? Họ thắc mắc thì Chúa đáp: “Chính Ngài đã chứng kiến sự kết hôn của họ khi còn trẻ tuổi, đinh ninh thề ước yêu nhau trọn đời. Dầu hơi sống của Chúa dư dật, dựng nên bao nhiêu đàn ông, đàn bà cũng được, song từ ban đầu, Ngài chỉ dựng nên một A-đam và một Ê-va cho một A-đam”. Tại sao như thế? Vì Chúa muốn có một dòng dõi thánh. Song Y-sơ-ra-ên đã phản bội vợ giao ước của mình. Khi người vợ ấy không còn đầy đặn, không còn xinh đẹp, họ bỏ vợ già, lấy vợ trẻ. Chúa phán: “Ta ghét người nào bỏ vợ”. Đó là hành động phỉnh dối, gian ác mà còn tìm cách che đậy, chống lại Chúa, thì làm sao Ngài ban phước được, chỉ có rủa sả thôi.

Về vấn đề nầy, Tân Ước chép: “Mọi người phải kính trọng sự hôn nhân, chốn khuê phòng chớ có ô uế, vì Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt kẻ dâm dục (gian dâm) cùng kẻ ngoại tình” (Hê-bơ-rơ 13:4). Gian dâm và ngoại tình làm ô uế khuê phòng, giày đạp thánh lễ mà Chúa đã lập, nên không thể không bị đoán phạt. Sa-lô-môn cũng đã khuyên như Ma-la-chi (Châm ngôn 5:10-19).

2. Nhiều tội khác (3:1-6).

Chúa sẽ đến để sửa trị dân Ngài, làm cho họ nên thánh như người thợ bạc luyện lọc cho sạch. Tội của Y-sơ-ra-ên được kể ra như sau: Đồng bóng, tà dâm, thề dối, gạt tiền công của kẻ làm thuê, bức hiếp người góa bụa và kẻ mồ côi, làm hại khách lạ, không kính sợ Chúa. Chúa sẽ đoán xét họ với mục đính đem họ về với Ngài.

IV. MA-LA-CHI KÊU GỌI MỌI NGƯỜI ĂN NĂN (3:7-18).

Chúa thiết tha kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Ngài, thì Ngài sẽ sẵn sàng tiếp đón như cha nhân từ với đứa con phóng đãng, mặc dầu họ đã bỏ Chúa từ đời tổ phụ mình.

1. Vì họ đã ăn trộm của Chúa (7-12).

Phần mười thuộc về Chúa, các của lạc hiến cũng vậy (Lê-vi 27:30; Phục truyền 14:22-28). Họ không dâng cho Chúa là ăn trộm của Chúa, vì đó, họ bị rủa sả: Nào sâu bọ cắn nuốt, cào cào phá hoại mùa màng của họ, hạn hán làm cho cây nho, cây vả không có trái. Nếu họ ăn năn, Chúa sẽ cất sự rủa sả, thay vào đó, Chúa sẽ đổ phước dồi dào không chỗ chứa. Mọi dân tộc xung quanh sẽ cho họ là kẻ có phước. Chúa rất thành tín, chỉ tại họ bất trung.

2. Vì họ lộng ngôn (13-18).

Họ nói những lời ngang trái, ngổ nghịch chống lại Chúa. Nếu họ ăn năn, bước đi trong sự kính sợ Ngài, thì lời họ nói với nhau, Chúa cũng lắng nghe, một sách kỷ niệm ghi mọi điều vào đó.

Đây là lời hứa vô cùng quí báu: “Những kẻ ấy sẽ thuộc về Ta, làm cơ nghiệp riêng của Ta trong ngày Ta làm; và Ta sẽ tiếc chúng nó như một người tiếc con trai mình hầu việc mình. Bấy giờ các ngươi sẽ trở lại và sẽ phân biệt giữa kẻ công bình và kẻ gian ác, giữa kẻ hầu việc Đức Chúa Trời và kẻ không hầu việc Ngài”.

CÂU HỎI

1. Khi trở về nước, dân Y-sơ-ra-ên hi vọng gì? Tại sao họ thất vọng?

2. Họ nghi ngờ gì?

3. Chúa chứng minh tình yêu Ngài đối với họ thế nào?

4. Hãy kể ra ba điều của các thầy tế lễ khinh dể Chúa.

5. Tội của dân chúng trong gia đình là gì?

6. Tội của dân chúng ngoài xã hội là gì?

7. Chúa kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên ăn năn những tội gì?

8. Nếu họ ăn năn, Chúa hứa sẽ làm gì cho họ?

9. Phước của kẻ hầu việc Chúa là gì?

Lên đầu trang