HÀNH TRÌNH CỦA DÂN Y-SƠ-RA-ÊN TỪ Ê-DÍP-TÔ ĐẾN CA-NA-AN

MỤC LỤC

Bài 1: ĐỜI SỐNG GIA-CỐP

Sáng Thế Ký 25, 33 và 44

Hành trình của dân Y-sơ-ra-ên từ Ai Cập hay là Ê-díp-tô qua Ca-na-an là một cuộc hành trình có ý nghĩa thuộc linh, vì nó diễn tả cuộc hành trình của tín đồ từ khi được giải cứu, sống cuộc đời yếu đuối, lần hồi tiến bộ cho đến mức trọn lành là nên Thánh.

Để mở đầu, chúng ta học về đời sống của Gia cốp. Đời sống của Gia cốp giống như đời sống của chúng ta. Gia-cốp lỗi lầm, yếu đuối, chúng ta cũng vậy. Đời sống của Gia-cốp nói lên tình yêu kì diệu của Chúa đối với loài người, dầu loài người yếu đuối, nhưng có một điều được Đức Chúa Trời chấp nhận là muốn được phước của Ngài.

Đời sống của Gia-cốp được chia ra làm hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất ông là Tín đồ xác thịt, giai đoạn thứ hai ông là Tín đồ thuộc linh, nên Thánh. Giai đoạn đầu, ông thất bại vì lỗi lầm, yếu đuối, nhưng giai đoạn sau, ông bước vào cuộc sống đắc thắng, tức là cuộc sống nên Thánh. Đời sống của Gia-cốp có nhiều bài học quí giá cho chúng ta, vừa khích lệ, cũng vừa cảnh cáo.

I. GIA-CỐP LÀ TÍN ĐỒ XÁC THỊT:

Gia-cốp và Ê-sau là hai anh em song sinh, Ê-sau là trưởng nam. Trong dân Do Thái, con trưởng nam có quyền lợi lớn lắm: Được ăn hai phần gia tài của cha để lại, được cai quản gia đình, được cha chúc phước – mà lời chúc của cha là lời tiên tri sẽ được ứng nghiệm. Ê-sau có quyền trưởng nam nhưng không biết giá trị của quyền trưởng nam, nên khinh lờn nó; còn Gia-cốp không có quyền trưởng nam, lại rất thiết tha quyền trưởng nam, vì biết nó rất quí báu. Từ khi còn trong lòng mẹ, Đức Chúa Trời biết điều đó, nên Ngài đã nói trước: “Đứa lớn phải phục đứa nhỏ”. Sa 25:23.

Khi lớn lên, hai anh em có hai nếp sống khác nhau: Ê-sau thích săn bắn ngoài đồng, còn Gia-cốp thích ở nhà bên cạnh mẹ. Vì vậy Ê-sau được cha yêu, vì Y-sác thích ăn thịt rừng, Gia cốp được mẹ yêu, vì Rê-be-ca cần con ở gần mình Sa 25:27-28. Có mộ lần, Ê-sau đi săn về, mệt mỏi lắm mà không được miếng thịt nào. Về đến nhà, thấy Gia-cốp đang nấu canh. Vì đói, Ê-sau nói với Gia cốp: “Em hãy cho anh ăn canh gì đó với, vì anh mệt mỏi lắm”. Nếu là Tín đồ thuộc linh, chắc Gia-cốp đáp: “Ôi tội nghiệp anh quá!Anh chưa ăn gì sao? Em nấu sẵn đây, mời anh cứ ăn”. Nhưng Gia-cốp lợi dụng, nói với Ê-sau: “Này anh hãy bán quyền trưởng nam cho tôi đi”. Sa 25:31.

Như vậy, Gia-cốp đã không hành động cao thượng, thuộc linh, nhưng thừa cơ hội, để mua rẻ quyền trưởng nam. Nếu Gia cốp sống xứng đáng, không cần phải làm vậy, quyền trưởng nam sẽ về Gia-cốp, vì Chúa đã nói trước rồi: “Đứa lớn phải phục đứa nhỏ”. Ông không yên lặng chờ đợi Chúa cho mà sử dụng mưu lược của mình để đạt được.

Ê-sau đói quá, không còn kể gì, nên nói: “Anh gần chết, quyền trưởng nam để cho anh làm chi?”. Gia-cốp bảo: “Anh thề đi”. Ê-sau liền thề. Rõ ràng lắm, Ê-sau bán rẻ quyền trưởng nam hay Gia-cốp bán tô canh đắt quá!

Y-sác đã già, mắt đã mờ, bèn nói với Ê-sau: “Này cha đã già rồi, không biết ngày nào phải chết, con hãy ra đồng săn thịt, làm một món ngon tùy theo cha thích rồi dâng lên cho cha ăn, đặng linh hồn cha chúc phước cho con trước khi chết” (Sa 27:2-4).

Thiết tưởng Y-sác làm điều đó là sai, vì Y-sác biết rõ Ê-sau đã bán quyền trưởng nam cho Gia-cốp. Hơn nữa Chúa đã báo cho ông rồi – Sa 25:23. Ê-sau nghe vậy mừng quá, chạy ra rừng săn thịt, để đem về nấu thúc ăn cho cha. Ê-sau cũng sai, đáng lẽ ông nói: “Con đã bán quyền trưởng nam của con cho Gia-cốp rồi, bây giờ cha chúc phước cho nó, chớ đâu phải cho con”. Nhưng Ê-sau cứ thản nhiên đi săn thịt cho cha ăn. Bà Rê-be-ca không chịu thua Y-sác nói với Gia-cốp: “Hãy ra ngoài bầy bắt lấy hai con dê tốt, rồi mẹ sẽ dọn cho cha con một món ngon, đặng người chúc phước cho con trước khi qua đời”. Gia-cốp thưa rằng: “Thưa mẹ, Ê-sau anh con có lông, còn con lại không, có lẽ cha sẽ rờ mình chăng, coi con như kẻ phỉnh gạt…”. Rê-bê-ca đáp: “Hãy cứ nghe lời mẹ”. Thế là Rê-bê-ca và Gia-cốp âm mưu lừa gạt Y-sác.

Khi Gia-cốp đem thức ăn vào, Y-sác hỏi: “Đứa nào đó?”. Gia-cốp thưa: “Con là Ê-sau”. Y-sác ngạc nhiên, vì nghe tiếng của Gia-cốp. Y-sác bảo: “Hãy lại gần cho cha rờ thử xem”. Gia cốp đến gần. Y-sác rờ tay thì có lông, rờ cổ cũng có lông. Y-sác tưởng thật là Ê-sau, có lẽ vì bị cảm khan tiếng nên nói khác hơn một chút! Sau khi Gia-cốp được cha chúc phước xong thì Ê-sau trở về, làm món ngon đem cho cha. Y-sác hỏi: “Đứa nào đó?”. Ê-sau đáp: “Con là Ê-sau”. Y-sác nói: “Đứa nào đã đem đồ ăn cho cha và cha đã chúc phước cho nó rồi”. Chừng đó Ê-sau biết rằng Gia cốp đã mạo xưng tên mình để được cha chúc phước. Ê-sau khóc oà lên. Y-sác thiên vị, Rê-bê-ca và Gia cốp thủ đoạn, nên Ê-sau giận dữ, quyết định giết Gia-cốp. Gia đình buồn bã biết bao! Nếu Y-sác ngay thẳng, không có gì xảy ra, hoặc Y-sác thiên vị mà Rê-be-ca và Gia-cốp thành thật, xin Chúa can thiệp, thì cũng kết quả như vậy, lại giữ được tình nghĩa của cha mẹ đối với con cái, anh đối với em. Nhưng họ đã hành động theo ‘vỏ quít dày có móng tay nhọn’, là hành động của Tín đồ xác thịt, của con trẻ trong Chúa. Gia-cốp đã nghe lời mẹ lừa gạt cha, bây giờ phải nghe lời mẹ chạy trốn. Rê-be-ca đã than: “Có lẽ đâu mẹ phải chịu mất cả hai đứa trong một ngày ư?”. Sa 27:45.

Gia-cốp đã chạy qua nhà cậu ruột là La-ban, ở xa lắm, tại Mê-sô-bô-ta-mi. Xa nhà lần thứ nhất, ngủ trong đồng vắng, Gia-cốp chiêm bao thấy một cái thang bắt từ đất lên trời, thiên sứ lên Xuống trên thang đó. Ông nghe tiếng từ trời phán rằng: ‘Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, tổ phụ ngươi, cũng là Đức Chúa Trời của Y-sác. Ta sẽ cho ngươi và dòng dõi ngươi đất mà ngươi đương nằm ngủ đây. Dòng dõi ngươi sẽ đông như cát bụi trên mặt đất, tràn ra đến Đông Tây Nam Bắc, và các chi họ Thế gian sẽ nhờ ngươi và dòng dõi ngươi mà được phước. “Nầy, Ta ở cùng ngươi, ngươi đi đâu sẽ theo gìn giữ đó, và đem ngươi về xứ này, vì Ta không bao giờ bỏ ngươi cho đến khi Ta làm xong những điều ta đã hứa cùng ngươi”.Gia-cốp ngạc nhiên lắm, nói: “Thật Đức Giê-hô-va hiện có trong nơi đây mà tôi không biết!”. Ông tưởng rằng Đức Chúa Trời chỉ có ở trong nhà cha mẹ ông thôi. Ông không ngờ Đức Chúa Trời là Đấng vô sở bất tại. Gia-cốp chưa biết rõ Chúa của mình nên ông đã hành động sai lầm.

Đây là lần thứ nhất Gia-cốp được gặp Chúa, nên ông lập sự thờ phượng và hứa nguyện với Ngài, vì chịu cảm động lắm: “Nếu Chúa ở cùng tôi, giữ gìn tôi khi đi đường, cho tôi bánh ăn, áo mặc, đem tôi về bình an, thì Ngài sẽ là Đức Chúa Trời tôi, tôi thờ phượng Ngài, tôi dâng phần mười cho Ngài …”. Những điều Chúa hứa hết sức lớn lao, cao trọng, song những điều Gia-cốp xin rất tầm thường, nhỏ mọn. Có lẽ ông nghĩ đến nhu cầu thực tế và hiện tại, mà chưa dám hướng về tương lai xa vời. Vì ông còn là con trẻ trong Chúa, nói năng như con trẻ, suy nghĩ như con trẻ, lập luận như con trẻ. Xin nhắc nhở các Thanh thiếu niên được may mắn sanh ra trong gia đình Tín đồ, các em được nghe nói về Chúa, biết Chúa, theo lịch sử, qua Kinh Thánh như Gia-cốp mà chưa biết Ngài một cách riêng tư, tức là chưa tương giao với Chúa. Các em thường cầu nguyện chung ngay trong các buổi nhóm, nhưng chưa từng quỳ gối cầu nguyện với Chúa ngay trong phòng, chưa có đức tin tiếp xúc riêng tư với Ngài. Đó là sự thiệt thòi lớn lao. Các em phải lấy nhiều thì giờ ở riêng với Đức Chúa Trời như Môi-se trên núi, như các môn đồ của Chúa Jêsus, như Gia cốp ở đây.

Gia-cốp qua Cha-ran chăn chiên cho cậu mình. Ở đó ông bị cậu lừa gạt. Bấy giờ bà con được lấy nhau. Gia-cốp yêu Ra-chên, là em cô cậu. Gia-cốp làm công cho cậu bảy năm để được cưới nàng Ra-chên. Nhưng khi gả thì La-ban không gả Ra-chên, mà gả Lê-a. Vì vậy, Gia cốp hỏi: “Sao cậu lừa gạt tôi?”. Ông không nhớ rằng ông đã lừa gạt cha, bây giờ ông bị lừa gạt. Gia-cốp phải làm công 14 năm để được hai vợ, và thêm sáu năm nữa là 20 năm trọn để được một cơ nghiệp là bầy chiên, bầy bò. Gia-cốp phải vất vả trong nhà ông gia mình, bị anh em vợ ghen ghét. Ông thấy không thể ở lại đây được nữa, nên quyết định trở về quê hương là Ca-na-an.

Gia-cốp đã trốn Ê-sau mà không trốn được mình, nghĩa là tính thủ đoạn đã làm cho Ê-sau ghen ghét Gia-cốp, thì bây giờ tính thủ đoạn đó cũng làm cho La-ban ghen ghét Gia-cốp. Nếu chúng ta không thay đổi tánh tình, thì ở đâu cũng không được. “Có một câu chuyện ngụ ngôn: Chim oanh và chim cú gặp nhau. Chim cú than: ‘Sao anh may mắn quá, anh hót ở đâu thì người ta cũng lắng nghe; còn tôi, hễ tôi kêu lên thì người ta lấy đá vác cây liệng mà đuổi tôi đi! Bây giờ tôi muốn bỏ xứ này mà đi xứ khác, Anh nghĩ thế nào?’. Chim oanh đáp: ‘Anh không cần đổi chỗ ở mà cần đổi tiếng hót của anh, thay vì anh kêu ‘cú’ thì anh kêu líu lo như tôi đi, thì người ta sẽ lắng nghe. Nếu anh mang tiếng ‘cú’ đi khắp nơi, thì nơi nào người ta cũng Xuấta đuổi anh thôi”. Câu chuyện đó đúng với Gia-cốp. Gia-cốp giữ tánh tình xảo quyệt, thủ đoạn, nên ở với Ê-sau không được, ở với La-ban cũng không được.. Bây giờ, Gia-cốp nhất định trở về, không còn cách nào khác. Dọc đường, Gia-cốp nhớ lại mối thù không đội trời chung, dầu đã 20 năm không biết Ê-sau có quên hay không. Ông đứng lại, sai các đầy tớ mang nhiều lễ vật tốt đến cho Ê-sau. Ê-sau nghe tin Gia-cốp, em mình trở về thì rất vui mừng, vì chỉ có hai anh em mà thôi. Nhưng Ê-sau tự nghĩ, trước đây 20 năm, ta đã nhất định giết nó, nó phải bỏ nhà chạy trốn, bây giờ nó trở về báo thù.

Thế là em sợ anh, mà anh cũng sợ em. Ê-sau nói với các đầy tớ của Gia cốp: “Ngày mai tôi sẽ đem 400 người để tiếp rước em tôi”. Các đầy tớ trở về thuật lại, Gia cốp hoảng hồn. Bây giờ tiến không được, thoát cũng không xong. Con người xác thịt dẫu là mưu mô, xảo quyệt đến đâu cũng có lúc vào đường cùng! Đêm đó, Gia cốp để vợ con và tất cả tài vật một nơi, còn chính mình ở một nơi để cầu nguyện. Khí giới mà ông dùng để chống trả Ê-sau là quỳ Xuống, khóc lóc, nài xin Chúa thương xót, giải cứu và bảo vệ mạng sống của ông và vợ con ông. Thình lình, có một người đến vật lộn với Gia cốp cho đến rạng đông, song ông không chịu thua, nên người đó đã phải rờ đến xương hông của Gia cốp, làm cho ông phải ngã quỵ. Người đó bảo: “Thôi để cho ta đi!”.

Đã bao nhiêu năm rồi, Gia-cốp cứ chống cự với ý chỉ của Đức Chúa Trời, nên bây giờ Ngài phải đánh cho ông ngã quỵ, tức là đưa ông vào con đường cùng mới chinh phục ông được.

Gia-cốp liền thay đổi thái độ, thưa rằng: “Tôi chẳng cho người đi đâu, nếu người không ban phước cho tôi”. Gia-cốp không còn chống cự nữa, mà hạ mình Xuống nài xin. Người đó hỏi: “Tên ngươi là chi?”. Ông thưa: “Tên tôi là Gia-cốp” Không dễ cho Gia cốp nói tên mình ra vì Gia cốp có nghĩa là chiếm vị, tức là xảo trá, quỷ quyệt, gạt gẫm. Nói thật không phải là dễ nói đâu. Trước kia, Gia-cốp đã nói với Y-sác: “Con là Ê-sau”. Bây giờ ông không nói như vậy nữa. “Tên tôi là Gia-cốp”. Qua câu nói vắn tắt đó, Gia-cốp muốn xưng hết lỗi lầm của mình ra: “Tôi là người chiếm vị, lừa gạt, thủ đoạn; tôi là người đã sống theo xác thịt, bước đi theo ý riêng của mình. Tôi đã làm khổ anh tôi, cha tôi, mẹ tôi, tôi đã làm khổ cho La-ban và cả nhà người. Bây giờ, tôi đứng đây không thể làm gì, xin Chúa thương xót tôi. Tôi là Gia-cốp!”.

Hôm nay, mỗi chúng ta phải nhận mình đã hành động như Gia-cốp, sống theo xác thịt, theo ý riêng, dùng đủ mọi thủ đoạn, mưu mô xảo quyệt. Chúng ta có thể giàu có, thành công, đắc thắng theo phương diện của đời; Nhưng trước mặt Chúa, chúng ta là người hoàn toàn thất bại. Chúng ta là Tín đồ, nhưng là Tín đồ trẻ con.

II GIA-CỐP LÀ MỘT TÍN ĐỒ THUỘC LINH:

Khi Gia cốp thưa: “Tôi là Gia-cốp”, thì Thiên sứ của Chúa bảo: “Tên ngươi sẽ không là Gia-cốp nữa, nhưng tên là Y-sơ-ra-ên”. Y-sơ-ra-ên là hoàng tử của Đức Chúa Trời. Ông đã thắng Đức Chúa Trời và người ta, vì hoàn toàn đầu phục Ngài. Dân Do Thái thích nhận mình là người Y-sơ-ra-ên là như vậy.

Xưng tội không phải để Chúa bắt tội, song để Chúa tha thứ. Xưng tội để được giải cứu khỏi bản chất xác thịt, mà nhận bản chất thuộc linh. Vì thế, Gia cốp nói: “Tôi đã thấy Đức Chúa Trời đối mặt cùng tôi và linh hồn tôi được giải cứu”.

Gia cốp lên đường gặp anh, không sợ gì hết, vì đã gặp Chúa, đã giải quyết vấn đề với Chúa rồi. Chính Chúa can thiệp, sắp xếp mọi sự. Khi hai anh em gặp nhau, ôm nhau khóc một hồi, không ai nói được một lời. Gia cốp nói: “Xin anh nhận lấy lễ vật em đã dâng cho anh”. Ê-sau đáp: “Em đi, anh có đủ hết, hãy lấy lại vật chi của em đi”.

Kể từ đó, Gia-cốp sống cuộc đời nên thánh. Gặp Chúa tại Phêniên, là chỗ ra của cuộc đời Gia cốp. Từ khi sinh ra cho đến khi gặp Chúa tại Phêniên, ông đã sống theo xác thịt. Nhưng từ khi gặp Chúa, Gia cốp đã được giải phóng khỏi bản chất của con người xác thịt, mà sống cuộc đời Nên Thánh.

Gia-cốp có mười hai người con trai. Họ ganh ghét và mưu hại Giô-sép, bán chàng sang xứ Ê-díp-tô. Về sau Giô-sép trở thành Thủ tướng của nước Ê-díp-tô, nên ông đã đem cả gia đình của cha mình gồm 70 người Xuống đó. Sau 400 năm, họ trở lại Ca-na-an.

Trong Sa 47:9: “Gia-cốp tâu rằng: Những năm tôi sống ở đời phiêu lưu hết thảy là một trăm ba mươi năm, các năm của đời, tôi lấy làm ngắn ngủi và lại nhọc nhằn, chẳng bằng những năm bình an của tổ phụ tôi khi người ở phiêu lưu đó”. Gia-cốp sánh đời mình với Áp-ra-ham và Y-sác. Áp-ra-ham và Y-sác không hoạt động bằng Gia-cốp, họ sống hiền lành và đạo đức. Gia-cốp biết rằng ông không sống phước hạnh bằng ông cha mình. Tại sao? Vì ông đã lừa gạt cha, về sau ông phải chịu đau đớn lắm khi các con ganh ghét nhau và lừa gạt ông.

Đã gieo thì phải gặt. Dầu Chúa tha thứ, không bị hình phạt, nhưng kết quả tự nhiên phải có. Lừa gạt ai, sẽ bị người khác lừa gạt. “Gieo gì gặt nấy”. Khi nào chúng ta ăn năn để Chúa tha thứ cho mình, thì đương nhiên chúng ta sẽ hòa lại với nhau. Ch 16:7 “Khi tánh hạnh của người nào đẹp lòng Đức Giê-hô-va, thì Ngài khiến những kẻ thù nghịch ngươi cũng ở hòa thuận với ngươi”. Vì vậy, chúng ta hãy chấm dứt cuộc sống xác thịt ngay, mà bắt đầu đời sống Thánh Khiết, đời sống thuộc linh!

Bài 2: DÂN Y-SƠ-RA-ÊN SỐNG 400 NĂM TẠI Ê-DÍP-TÔ

Xuất 1:1-2:10

Kinh Thánh gồm Cựu ước và Tân Ước. Cả hai giải nghĩa cho nhau. Chúng ta không thể hiểu Cựu Ước nếu không có Tân Ước, chúng ta không thể hiểu Tân Ước nếu không có Cựu Ước. Cả Kinh Thánh đều chép về Chúa Jêsus: Phẩm vị, công việc cứu rỗi của Ngài. Kinh Thánh chép nhiều lần về dân Y-sơ-ra-ên để dạy dỗ chúng ta. Chúng ta học về lịch sử dân Y-sơ-ra-ên là rất xứng đáng và quý báu, vì chúng ta là dân Y-sơ-ra-ên thuộc linh. Bây giờ, chúng ta đọc vài câu Kinh Thánh để biết Cựu Ước rất quan trọng đối với chúng ta:

Ro 12:4: “Vả, mọi sự đã được chép từ xưa đều để dạy dỗ chúng ta, hầu cho bởi sự nhịn nhục và sự yên ủi của Kinh Thánh dạy mà chúng ta được sự trông cậy”.

ICo 10:11: “Những sự ấy có nghĩa hình bóng và họ đã lưu truyền để khuyên bảo chúng ta là kẻ ở gần cuối cùng các đời”.

Hết thảy những việc trong Cựu Ước đều có nghĩa bóng để dạy dỗ chúng ta hôm nay.

Tóm lại, cả Kinh Thánh đều bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho niềm tin của chúng ta, dạy dỗ, dẫn dắt chúng ta trên con đường theo Chúa. Vì vậy, mỗi chúng ta phải đọc Cựu Ước lẫn Tân Ước, so sánh với nhau để hiểu được lời Chúa.

I. NGUỒN GỐC DÂN Y-SƠ-RA-ÊN:

1. Tên gọi của dân Y-sơ-ra-ên. Dân Y-sơ-ra-ên có ba tên:

1/HÊ-BƠ-RƠ: Hê-bơ-rơ là lấy tên một ông tổ có tên là Hê-be.

2/Y-SƠ-RA-ÊN: Khi Gia-cốp gặp Chúa tại Phêniên, Chúa đã đổi tên Gia-cốp thành Y-sơ-ra-ên, nghĩa là hoàng tử của Đức Chúa Trời. Dân Y-sơ-ra-ên lấy làm hãnh diện mà khoe tên này. Cả Cựu Ước lẫn Tân Ước dùng tên Y-sơ-ra-ên nhiều nhất.

3/GIU-ĐA: Giu-đa là tên một chi phái ở miền nam. Nếu chúng ta theo dõi lịch sử thì biết rằng sau đời Sa-lô-môn, nước Y-sơ-ra-ên, chia ra làm 2 vương quốc, phía bắc là Y-sơ-ra-ên gồm 10 chi phái, phía nam là Giu-đa gồm 2 chi phái là Giu-đa và Bên-gia-min. Khi dân ở miền Nam bị lưu đày tại Ba-by-lôn, họ tự xưng mình là dân Giu-đa, vì lấy tên chi phái lớn đặt tên cho nước của mình. Sau 70 năm lưu đày, họ trở về tổ quốc và lấy luôn tên Giu-đa. Chúng ta đọc các sách trong Tân Ước nói đến tên Giu-đa rất nhiều.

2.Tổ phụ của dân Y-sơ-ra-ên. Tổ phụ của dân Y-sơ-ra-ên là Áp-ra-ham sanh tại thành U-rơ, xứ Canh đê. Xứ này rất lớn về sau gọi là Ba-by-lôn. Khi ông ở tại đó, Đức Chúa Trời đã kêu gọi ông: “Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi mà đi đến xứ Ta sẽ chỉ cho”. Chúa cũng hứa rằng: “Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; Ta sẽ ban phước cho ngươi, cũng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi, và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước”. (Sa 12:2-3). Vì vậy Áp-ra-ham dẫu gần 75 tuổi bỏ thành U-rơ, xứ Canh đê là miền Đông Bắc mà Xuống miền Nam là xứ Ca-na-an. Lúc bấy giờ có một số dân lớn tại Ca-na-an, nhưng họ ở rải rác. Vì vậy, các dân du mục như chăn chiên, chăn bò có thể đi khắp nơi. Ở đó, cũng có đồng cỏ tốt, nên Áp-ra-ham ở tại Ca-na-an suốt đời mình. Và cũng ở tại đó, Áp-ra-ham với Sa-ra sanh được một con trai độc nhất là Y-sác.

Y-sác sống tại Ca-na-an, có vợ và có hai con song sinh là Ê-sau và Gia-cốp. Nhưng Đức Chúa Trời không chọn dòng dõi của Ê-sau mà chọn dòng dõi của Gia-cốp, mặc dầu Gia-cốp có lầm lỗi. Gia-cốp qua Cha-ran để trốn Ê-sau. Ở đó, Gia-cốp có vợ, sanh nhiều con, sau 20 năm ông trở về Ca-na-an.

Như vậy, Áp-ra-ham từ U-rơ đến Ca-na-an. Ở đó, sanh Y-sác, Y-sác sanh Ê-sau và Gia-cốp. Gia-cốp có 12 con trai. Do 12 con trai đó mà dân Y-sơ-ra-ên có 12 chi phái, lấy tên 12 con trai của Gia-cốp.

Như vậy, dòng dõi Áp-ra-ham mỗi lúc một đông hơn và cứ ở tại Ca-na-an. Sau khi La mã và Hi lạp chiếm Ca-na-an, thì họ đặt tên là Palettin cho đến ngày nay. Xứ Palettin thì nhỏ: Bề dài khoảng 230 đến 240 cây số, bề ngang có chỗ được 150 cây số, có chỗ chỉ 37 cây số. Diện tích 25,124 cây số vuông. Nếu chúng ta mở bản đồ Ca-na-an ra mà xem, sẽ thấy một con sông từ Bắc chí Nam là sông Giô-đanh. Ở miền Bắc, sông Giô-đanh tạo ra một cái hồ với ba tên: 1/Hồ Ga-li-lê. 2/Hồ Ghê-nê-xa-rết. 3/Hồ Ti-bê-ri-át. Cuối sông Giô-đanh có biển Chết. Sáng Thế Ký gọi biển Mặn hay biển Muối. Vì biển Chết thấp hơn mặt biển Địa Trung Hải 398 mét, nên bao nhiêu nước từ hồ Ga-li-lê đổ Xuống thì bị dồn hết tại biển Chết, dơ không chảy đâu được vì nó thấp quá. Khi Mặt Trời chiếu Xuống thì nước biển bốc hơi, thành ra biển Chết có rất nhiều muối, nên gọi là biển Muối hay biển Mặn. Thái Bình Dương có từ hai đến ba phần trăm muối, nhưng biển chết có từ 24 đến 26 phần trăm muối, tức là trên 10 lần nhiều hơn. Biển Chết là nguồn lợi rất lớn cho dân Y-sơ-ra-ên ngày nay.

Tóm lại tổ phụ dân Y-sơ-ra-ên là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, rồi 12 chi phái do 12 tên con trai của Gia-cốp mà ra cho đến ngày nay. Họ từ U-rơ, xứ Canh đê ở miền Đông Bắc, Xuống tận Ca-na-an và ở đó từ thời Áp-ra-ham cho đến bây giờ. Vì cớ Chúa bảo rằng: Ngài sẽ ban cho dòng dõi Áp-ra-ham xứ này làm cơ nghiệp, nên dầu xứ Ca-na-an hay còn gọi là Palettin rất nhỏ, ở giữa các đại cường quốc, nhưng mà hơn 3000 năm qua, nước Y-sơ-ra-ên vẫn còn trong tay của người Y-sơ-ra-ên. Chúa bảo rằng: Hễ ngày nào mặt trời, mặt trăng, mùa tiết còn thì nước Y-sơ-ra-ên còn trong tay người Y-sơ-ra-ên. Vì chính Chúa đã hứa như vậy nên Ngài đã làm trọn, mặc dầu dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội đóng đinh Đức Chúa Jêsus trên Thập tự giá, chối Ngài là Đấng Cứu Thế của mình, bị lưu đày 19 thế kỷ. Nhưng vào đầu thế kỷ này. Dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu trở về cố hương và tháng 5 năm 1948, quốc gia Y-sơ-ra-ên được tái lập – mặc dầu nhiều nước trong khối Ả rập đã chống đối việc đó.

Như vậy chúng ta thấy rằng dầu loài người muốn làm gì đi nữa, vẫn không thể qua được ý định của Đức Chúa Trời. Quyền năng, ân điển của Ngài vẫn đời đời tể trị.

II. GIA ĐÌNH CỦA GIA-CỐP XUỐNG Ê-DÍP-TÔ:

Gia-cốp có 12 con, nhưng họ ganh tị nhau, vì Gia-cốp thương Giô sép hơn. Gia cốp đã may một chiếc áo tuyệt đẹp cho Giô-sép và dành nhiều đặc ân lớn lao cho chàng, nên các anh lập phương án để sát hại Giô-sép. Một ngày nọ, các anh đi chăn chiên xa, một tuần lễ chưa về. Gia-cốp bảo Giô-sép: “Con xem thử các anh con ra sao và các bầy chiên như thế nào, rồi đem tin về cho cha hay”. Khi các anh thấy chàng từ đàng xa thì đã lập mưu giết chàng. Thế là họ lột cái áo đẹp nhất của Giô-sép, nhúng áo đó trong huyết chiên, rồi gởi về cho cha. Khi Gia cốp thấy áo của con mình đầy máu, tưởng Giô-sép đã bị thú dữ giết rồi, nhưng thật không phải vậy, các anh Giô-sép đã bắt Giô-sép bán làm nô lệ tại Ê-díp-tô.

Rồi lạ lùng thay, ở Ê-díp-tô, Giô-sép đã bị vu khống, bị ngồi tù, gặp nhiều khó khăn, như là tuyệt vọng. Nhưng chương trình của Đức Chúa Trời không ai phá hủy được. Ngài đã đưa Giô-sép lên tột bậc, là làm thủ tướng của nước Ê-díp-tô. Và khi ông được làm Thủ tướng, ông đã đem cả gia đình của mình gồm 70 người từ Ca-na-an Xuống Ê-díp-tô để tránh cơn đói kém.

Thế là họ kéo dài cuộc sống tại Ê-díp-tô đến 400 năm. Đó không phải là việc ngẫu nhiên, mà là việc Đức Chúa Trời đã định. Sa 15:13-14 chép: “Đức Giê-hô-va phán cùng Áp-ra-ham rằng: Phải biết rằng dòng dõi ngươi sẽ ngụ trong một xứ chẳng thuộc về chúng nó, làm tôi mọi trong xứ đó và bị hà hiếp bốn trăm năm. Nhưng ta sẽ đoán phạt dân mà dòng dõi ngươi sẽ làm tôi mọi đó, rồi khi ra khỏi xứ, thì sẽ được của cải rất nhiều”. Đó là lời Chúa đã hứa với Áp-ra-ham, ngay từ khi Áp-ra-ham chưa có con.

Như vậy, chúng ta thấy rằng chương trình của Đức Chúa Trời đã định không ai phá hủy được. Ngài thấy tất cả mọi việc từ buổi sáng thế cho đến ngày tận thế, và Ngài đã dự liệu tất cả mọi sự việc phải xảy ra, và cách nào để đối phó.

Bây giờ, chúng ta mở sách Xuất Ê-díp-tô ký, đoạn thứ I. Chúng ta thấy khi dân Y-sơ-ra-ên ở tại xứ Ê-díp-tô 400 năm, thì họ sẽ sanh sản đông lắm. Nếu chúng ta đọc tiếp mấy đoạn thì biết rằng từ 70 người, họ lên đến gần 2 triệu người – 600 ngàn nam đinh có thể ra trận được, chưa kể đàn bà và con trẻ. Vua Ê-díp-tô với danh hiệu là Pha-ra-ôn đã bàn tính với dân mình: Hãy có kế hoạch, kẻo e ngày nào trong xứ có chiến tranh, dân Y-sơ-ra-ên sẽ hiệp với kẻ thù đánh lại chúng ta và thoát khỏi xứ này chăng? Vì vậy, họ đặt kế hoạch tiêu diệt dân Y-sơ-ra-ên, hay là ít nữa mỗi ngày làm cho họ yếu hơn, yếu hơn, không hi vọng được giải phóng mà cứ làm nô lệ đời này qua đời kia!

a/ Kế hoạch thứ nhất. Họ buộc dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ để xây những kho tàng cho vua Ê-díp-tô. Dân Y-sơ-ra-ên là một dân cần cù, làm việc trung thành, giỏi giang, nên dân Ê-díp-tô bắt dân Y-sơ-ra-ên làm việc nhọc nhằn, hầu cho không sinh sản thêm nữa.

Nhưng chương trình của Đức Chúa Trời đã định thì không ai có thể phá hủy được. Dân Y-sơ-ra-ên càng làm việc khó nhọc bao nhiêu thì lại càng sanh sản nhiều bấy nhiêu. Pha-ra-ôn hết sức lo lắng. Ông tăng thêm công việc khó nhọc cho dân Y-sơ-ra-ên, đồng thời thực hiện kế hoạch II.

b/Kế hoạch thứ hai. Pha-ra-ôn truyền lệnh cho các bà mụ của dân Y-sơ-ra-ên: “Khi các ngươi đi rước thai cho người đàn bà Hê-bơ-rơ, hễ thấy sanh con trai thì hãy làm cho chết đi, còn con gái hãy để cho sống”; Nếu kế hoạch này thực hiện được thì lần hồi trong dân Y-sơ-ra-ên sẽ không có con trai. Con gái chỉ có thể kết hôn với người Ê-díp-tô. Chẳng bao lâu dân Y-sơ-ra-ên sẽ bị tiêu diệt.

Nhưng lạ thay, các bà mụ không vâng lời vua Pha-ra-ôn. Sau một thời gian, vua Pha-ra-ôn kiểm điểm lại, thì thấy các con trai của người Y-sơ-ra-ên cứ sanh ra đều đặn, không mất người nào hết. Khi các bà mụ được triệu đến, họ tâu cùng Pha-ra-ôn: “Ấy tại người đàn bà Hê-bơ-rơ … mạnh khoẻ hơn, đã sanh nở trước khi mụ đến”. Thế là kế hoạch thứ hai cũng đã hỏng.

c/Kế hoạch thứ ba. Xuất 1:22: “Pha-ra-ôn bèn truyền lệnh cho cả dân mình rằng: Phàm con trai của dân Y-sơ-ra-ên mới sanh, hãy liệng xuống sông, còn con gái thì để cho sống”. Đây là một việc quá sức tàn nhẫn. Nếu ai không là việc đó thì chính quyền Ê-díp-tô sẽ làm. Vì vậy, tôi thiết tưởng đã có một số ông cha, bà mẹ sợ lệnh hoàng đế Pha-ra-ôn nên đã ném con trai của họ Xuống Nhưng lạ thay, có một gia đình người Y-sơ-ra-ên đã có hai con rồi, con trai là A-rôn, con gái là Miriam đã quyết định bất tuân lệnh vua. Đó cũng là cha mẹ của Môi-se. Khi Môi-se được sanh ra, cha mẹ thấy con đẹp và thay vì ném Xuống sông theo lệnh của Pha-ra-ôn, thì họ không sợ, cố giấu con trong ba tháng. Nhưng vì đứa trẻ mỗi lúc mỗi lớn lên, kẻ qua người lại có thể nhìn thấy và họ sẽ tố cáo, ông bà biết rằng không thể giấu con lâu hơn nữa trong nhà. Ở đâu có ý chí thì ở đó có phương pháp; đâu có đức tin thì đó có quyền năng của Đức Chúa Trời tỏ ra.

Chúng ta thấy có ba sức mạnh:

1/Sức mạnh của ma quỉ. Ở phía sau hoàng đế Ê-díp-tô, muốn tiêu diệt dân sự của Đức Chúa Trời thời bấy giờ, vì chính dân sự đó sẽ lan tràn khắp nơi và từ dân đó sẽ cho ra Đấng Cứu Thế, làm nguồn phước cho nhân loại.

2/Sức mạnh của đức tin. Cha mẹ của Môi-se, không có gì hết, nhưng đầy lòng tin nơi Đức Chúa Trời, Đấng sẽ giúp đỡ dân sự của Ngài.

3/Sức mạnh của Đức Chúa Trời. Ở phía sau dân Y-sơ-ra-ên để bảo vệ, chăm sóc, tiếp trợ dân Y-sơ-ra-ên và làm trọn chương trình cứu rỗi của Ngài.

Vì vậy, cha mẹ Môi-se nghĩ ra một ý: Lấy rương mây, trét dầu chai cả trong lẫn ngoài để nước không thể vào được, rồi ông bà đặt đứa con vào. Cha mẹ của Môi-se đặt cái rương trong đầm sậy, nơi công chúa Ai Cập thường xuống tắm và đặt chị của Môi-se là Miriam đứng gần đó, để xem thời thế ra sao và xin Chúa dẫn dắt để biết phản ứng thế nào. Thế là vào một buổi chiều, Công chúa Ai cập Xuống mé sông để tắm, bà thấy cái rương mây giữa đám sậy, bèn sai các nàng hầu vớt lên. Mở rương ra, bà thấy có một đứa bé trai người Y-sơ-ra-ên đang khóc. Thật Đức Chúa Trời tể trị một cách kỳ diệu. Không biết tại làm sao bà lại cảm thương đứa con trai đó, không nghĩ đến việc ném nó Xuống sông theo lệnh cha của mình. Chị của Môi-se tức thì chạy lại thưa với Công Chúa: “Tôi phải đi kêu một người vú để cho đứa trẻ bú chớ?”. Công chúa đồng ý. Chị của Môi-se liền về nhà kêu mẹ mình đến. Khi mẹ Môi-se đến, Công chúa Pha-ra-ôn cũng không biết là ai, tưởng chỉ là một người vú thường thôi, nên bảo: “Hãy đem đứa trẻ này về nuôi bú cho ta, ta sẽ trả tiền công cho”. Thế là mẹ nuôi con mà còn được công chúa trả lương. Thật là kỳ diệu!

Đáng lẽ Môi-se bị ném Xuống sông, thì bây giờ được làm con trai của Công chúa Pha-ra-ôn. Theo luật của người Ai Cập, hễ con nuôi được nhận làm con chính thức thì cũng được quyền như con ruột. Theo luật đó, Môi-se có thể trở thành hoàng đế Ai cập. Pha-ra-ôn đã ra lệnh giết những đứa con trai của người Y-sơ-ra-ên, thì bây giờ ông lại phải nuôi một đứa bé trai Y-sơ-ra-ên trong cung điện của mình. Chính đứa bé trai này đã làm điêu đứng Đế quốc Ai Cập và buộc họ phải phóng thích dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ.

Chúng ta thấy chương trình của Đức Chúa trời thật là kỳ diệu. Cánh tay vô hình của Ngài vẫn tể trị để thực hiện chương trình của Ngài, dầu phải đương đầu với bao nhiêu khó khăn của mọi kẻ thù trải qua mọi thời đại.

Vì vậy, chúng ta cảm tạ ơn Chúa mà tin rằng Đức Chúa Trời chúng ta thờ phượng, tin cậy là Đức Chúa Trời hằng sống, không những Ngài đã sống trong thời đại Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, sống trong thời đại của dân Y-sơ-ra-ên 400 năm tại Ai cập, nhưng Ngài cũng sống cho đến bây giờ và Ngài sẽ còn mãi mãi cho đến tận thế. Như vậy chúng ta tin chắc rằng Đức Chúa Trời không bỏ dân Ngài đâu. Đúng như Chúa bảo: “Ta ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế”. Tất cả quyền phép trên trời dưới đất đều thuộc về Ngài và Chúa sử dụng tất cả quyền phép đó để giải cứu, bảo vệ, hướng dẫn, làm cho dân sự của Chúa trải qua các đời vẫn sống còn, vẫn phát triển và chương trình của Chúa được thực hiện một cách rất là chu đáo. Vì thế, chúng ta phải nhận định rằng vô luận ở thời đại nào, ở phương trời nào, vẫn có hai lực lượng đang tranh chiến với nhau: Đó là lực lượng của ma quỉ và lực lượng của Đức Chúa Trời. Ma quỉ luôn luôn tìm phương phá hủy chương trình của Đức Chúa Trời, nhưng nếu chúng ta theo dõi từng bước một những gì được ghi lại trong Kinh Thánh thì thấy điều gì Đức Chúa Trời đã quyết định thì Ngài đã thực hiện, không có gì khó khăn cho Chúa hết. Điều quan trọng là chúng ta tin hay không tin mà thôi. Nếu chúng ta tin thì hưởng được quyền năng của Chúa, phép lạ của Ngài có cơ hội tỏ ra. Giả định rằng cha mẹ của Môi-se ném con mình Xuống sông như bao nhiêu người khác thì Đức Chúa Trời không thực hiện lời hứa, không thực hiện phép lạ được. Nhưng phép lạ chỉ thực hiện cho kẻ nào có đức tin. Nếu chúng ta dám tin cậy, vâng lời Chúa thì Ngài có cơ hội thi hành quyền năng và ân điển. Tôi thường nói như thế này: Nếu ba bạn Hê-bơ-rơ trong thời Đa-ni-ên sấp mình xuống thờ lạy pho tượng vàng thì hết rồi, không còn phép lạ gì xảy ra. Nếu Đa-ni-ên không cầu nguyện với Chúa mỗi ngày ba lần thì cũng không có phép lạ gì xảy ra. Nhưng phép lạ xảy ra khi ba bạn của Đa-ni-ên đầy lòng tin cậy Chúa, nhất định không sấp mình thờ lạy hình tượng, dầu phải bị quăng vào lò lửa hực và Đa-ni-ên nhất định cầu nguyện với Chúa mỗi ngày ba lần, dầu phải bị quăng vào hang sư tử. Với niềm tin đó, Chúa đã thi hành phép lạ giải cứu họ.

Do đó, Hội Thánh trải qua bao nhiêu ngàn năm vẫn tồn tại, vẫn phát triển cho đến ngày nay và Hội Thánh vẫn tồn tại, vẫn phát triển cho đến ngày Đức Chúa Jêsus tái lâm. Nếu tất cả chúng ta là con cái Ngài, tin cậy và vâng lời, dầu phải trả bất cứ giá nào thì Chúa sẽ thi hành phép lạ của Ngài để giải cứu chúng ta. Đấng hôm qua, Đấng hôm nay, Đấng cho đến đời đời không hề thay đổi bảo rằng: “Nếu các ngươi tin sẽ thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, các ngươi sẽ thấy việc lớn hơn việc đó”. Chúa có thể làm việc lớn hơn, lớn hơn mãi miễn là chúng ta tin.

Vì vậy, xin Chúa cho chúng ta theo dõi lời của Ngài và tin cậy, vâng lời để những phép lạ mà Chúa đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên thì cũng làm cho chúng ta là dân Y-sơ-ra-ên của Ngài hôm nay.

Bài 3: MÔI-SE ĐƯỢC CHÚA KÊU GỌI

Xuất 2:11-3:14

Nguồn gốc của dân Y-sơ-ra-ên – bây giờ gọi là Do Thái – đến từ một người được Đức Chúa Trời kêu gọi là Áp-ra-ham. Ông đã lìa bỏ thành U-rơ, xứ Canh đê mà đến ngụ tại xứ Ca-na-an. Đức Chúa Trời hứa ban cho ông và cả dòng dõi ông xứ Ca-na-an làm cơ nghiệp và cho đến ngày nay, Đức Chúa Trời còn giữ lời hứa đó, tức là xứ Ca-na-an vẫn còn ở trong tay của người Do Thái. Đức Chúa Trời đã cho Áp-ra-ham sanh một trai là Y-sác. Y-sác có hai người con là Ê-sau và Gia-cốp. Gia-cốp có 12 con trai và họ lấy tên 12 con trai đó làm 12 chi phái cho người Y-sơ-ra-ên. Khi 12 con trai của Gia cốp có sự yếu đuối, tranh cạnh với nhau, họ đã bán người em út là Giô-sép Xuống làm nô lệ tại Ê-díp-tô. Khi Giô-sép đã trở thành Tể tướng tại nước Ê-díp-tô, thì ông đem cả gia đình của mình, tức là cha và 11 anh em Xuống kiều ngụ tại Ê-díp-tô. Cuộc kiều ngụ đó kéo dài 400 năm, khi Giô-sép và các anh em của họ còn sống thì được hoàng triều Ê-díp-tô hậu đãi lắm. Nhưng khi Giô-sép và các người đồng thời đã chết, thì những người kế đó không biết Giô-sép. Họ nghĩ rằng dân Do Thái hay là Y-sơ-ra-ên mỗi lúc một đông hơn, từ số 70 người lần hồi đến gần hai triệu người. Họ nghĩ rằng một ngày nào đó có chiến tranh xảy ra thì dân Y-sơ-ra-ên sẽ đánh lại họ, hay là thừa cơ hội đó ra khỏi xứ và họ sẽ mất một số nô lệ rất là đông. Vì vậy, hoàng đế Ê-díp-tô đã lập kế hoạch để tiêu diệt dân Do Thái hay là làm cho họ mỗi lúc một kiệt quệ hơn và làm nô lệ từ đời này qua đời khác, chớ không hi vọng gì ra khỏi xứ.

Vì vậy, sự bắt bớ dân Y-sơ-ra-ên mỗi lúc một gia tăng trong suốt khoảng thời gian gần 100 năm. Vì vậy, Đức Chúa Trời đã lập kế hoạch đưa Môi-se lên làm con trai của Công Chúa Pha-ra-ôn, tức là Hoàng tử và Môi-se có hi vọng trở thành hoàng đế xứ Ê-díp-tô. Ông được nuôi dạy trong Hoàng cung 40 năm. Khi ông đã khôn lớn, ông bắt đầu nghĩ đến việc giải phóng dân tộc của mình.

Khi Môi-se được 40 tuổi, tức là đã khôn lớn rồi. Ông nghĩ dầu là người ở trong hoàng cung Ê-díp-tô, nói tiếng Ê-díp-tô, học văn hoá Ê-díp-tô, ăn mặc theo lối người Ê-díp-tô, nhưng ông không phải là người Ê-díp-tô, mà là người Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, một ngày nọ, ông ra khỏi hoàng cung đến thăm đồng bào của mình là người Y-sơ-ra-ên. Ông thấy họ làm việc cực nhọc quá đỗi, bị hà hiếp, ngược đãi hàng ngày. Chính lúc đó, ông thấy một người Ê-díp-tô đang đánh đập một người Y-sơ-ra-ên. Nhìn quanh quất không có ai, ông giết người Ê-díp-tô đó và vùi thây trong cát. Ông nghĩ rằng đồng bào của mình sẽ cùng một lòng, một ý với mình để giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ. Không ngờ, sau đó, khi ông can gián hai người Do Thái đánh lộn, họ đã phản đối ông: “Ai đặt ngươi làm vua, làm quan án cho chúng ta? Có phải muốn giết ta như đã giết người Ê-díp-tô kia chăng?” (Xuất 2:14). Môi-se biết việc của ông đã bại lộ và hoàng đế Ai Cập thể nào cũng tìm ông để giết

Dầu Môi-se đã 40 năm ở trong hoàng cung Ai Cập, tốt nghiệp các trường Đại học, có tài năng, có tri thức và lòng yêu thương đồng bào của mình, muốn giải cứu họ khỏi ách nô lệ, nhưng ông đã vội vàng bước đi mà không chờ mạng lệnh của Chúa, nên dầu ông có ngăn ngừa và ngó quanh quất, sợ người ta thấy việc của ông thì việc cũng bị bại lộ. Về sau, khi ông được Chúa kêu gọi và sai đi, thì Kinh Thánh bảo rằng: “Ông không sợ vua Ê-díp-tô”. Ông không sợ, vì có Chúa ở cùng ông, Ngài đã kêu gọi và sai ông đi. Trước đó ông đã sợ và thất bại là vì ông đi theo con đường riêng của mình.

Mỗi chúng ta là những người được cứu rỗi, muốn phục vụ Chúa, muốn tôn vinh Ngài, muốn giúp đỡ cho mọi người, nhưng chúng ta phải hiểu rằng chúng ta không thể làm gì được nếu không bởi sự kêu gọi và sai khiến của Chúa. Mỗi chúng ta phải lắng nghe tiếng của Ngài và chờ đợi ý chỉ của Ngài cho chúng ta. Khi chúng ta thật được kêu gọi và sai đi thì có biết bao nhiêu lời Chúa nhắc đi nhắc lại: “Đừng sợ, vì Ta ở với ngươi; chớ kinh khiếp, vì Ta là Đức Chúa Trời ngươi”.

Sau đó, Môi-se chạy trốn qua Ma-đi-an. Ông đã ở tại đó 40 năm, làm nghề chăn chiên cho ông gia. Ông có vợ và hai con trai. Một vị hoàng tử của đại cường quốc Ảrập đã từng sống hết sức sung sướng, có hi vọng một ngày nào đó sẽ làm vua Ai Cập. Nhưng bây giờ, ông đã bỏ hoàng cung Ai Cập ra đi và mất hết mọi sự. Từ một vị hoàng tử, ông đã trở thành một gả chăn chiên. Dầu vậy, chúng ta hiểu và được Kinh Thánh dạy rằng Môi-se mất hết những gì thuộc về trần gian để ông được những gì thuộc về Thiên Đàng, ông mất hết những vinh hoa phú quý tạm thời để được phước đời đời mà không có gì so sánh. Chúng ta học hỏi một phương diện nữa, nếu chúng ta muốn theo ý Chúa, muốn phục vụ Ngài, chúng ta sẵn sàng trả một giá, có khi giá đó là mất địa vị, mất tiền bạc, mất của cải, và chỉ còn hai bàn tay trắng. Nhưng chúng ta mất như vậy chỉ là mất của cải tạm thời, của cải tại trần gian, để rồi chúng ta sẽ được những gì thuộc về Thiên Đàng, thuộc về cõi đời đời. Chúa Jêsus bảo rằng: “Nếu ai theo Ta, dầu phải mất của cải, thậm chí mất anh, chị, em, bà con … thì sẽ được trăm lần hơn, cả đời này và cả đời sau”.

Vì vậy, tôi thiết tưởng Môi-se không bao giờ hối tiếc về những sự mất mát đó. Vì nếu ông cứ ở lại trong hoàng cung để làm vua Ai Cập thì chúng ta chẳng hề biết Môi-se là ai. Ông hưởng cuộc đời nhung lụa, rồi chết đi như mọi người khác. Nhưng ông đã sẵn sàng ra đi để được những gì còn lại đến đời đời. Và hôm nay, cả Thế giới Cơ Đốc Giáo đều biết Môi-se. Ông trở thành một lãnh tụ của một dân thuộc về Đức Chúa Trời. Vì vậy, ông gieo rất ít, nhưng gặt lại rất nhiều, ông đã mất không bao nhiêu, nhưng được lại những gì không thể so sánh.

Môi-se có lòng yêu Chúa, yêu đồng bào, muốn tôn vinh Ngài qua cuộc giải phóng dân tộc mình ra khỏi xứ Ê-díp-tô. Kinh Thánh bảo rằng ông là người tri thức và tài năng. Tuy nhiên, tất cả những điều đó không đủ cho ông phục vụ Chúa, không đủ cho ông làm nhà lãnh tụ để giải phóng dân Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, ông phải mất 40 năm để tốt nghiệp trong trường của Đức Chúa Trời. Tốt nghiệp các trường Đại học ở Ai Cập chẳng qua là A, B, C của trường Đại học Đức Chúa Trời. Trường của Đức Chúa Trời là trường trong đồng vắng. Ông ở riêng trong đó với Đức Chúa Trời và 40 năm đó đủ cho Đức Chúa Trời dạy dỗ, đào luyện như là bạc vàng để sau này ông xứng đáng phục vụ Chúa, lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên.

Bốn mươi năm đối với chúng ta như là quá dài, mất nhiều thì giờ quá. Nhưng trong quan điểm của Đức Chúa Trời thì không phải là phí đâu, mà ngược lại hết sức cần. Chúng ta đọc Kinh Thánh thì thấy rằng Tiên tri Ê-li phải ngồi bên khe Kê-rít một thời gian. Tiên tri Ê-xê-chi-ên ngồi bên bờ sông Kêba một thời gian, Phao-lô vào đồng vắng Ảrập hơn 3 năm, sứ đồ Giăng bị lưu đày tại hoang đảo Bát-mô không biết là bao lâu. Chúa Jêsus đã phục vụ Giô-sép và Ma-ri 30 năm tại Na-xa-rét. Nhưng sau đó chúng ta thấy Ê-li đã trọn đời phục vụ cho đến khi được cất lên trời. Ê-xê-chi-ên ngang hàng với Giê-rê-mi, với Ê-sai và những Tiên tri lớn. Phao lô là một sứ đồ nổi tiếng mà khắp Thế giới xưa nay ai nấy đều biết. Sứ đồ Giăng đã viết sách Khải Huyền, là một quyển sách quan trọng mà trong cả Kinh Thánh không thể thiếu được. Chúa Jêsus trở thành nhân vật vĩ đại nhất trên trời và dưới đất này. Ngài trở thành Chúa Cứu Thế.

Như vậy, những thời gian các vị này ở với Đức Chúa Trời trong nơi hẻo lánh nào đó, là họ phải học những bài học mà không có giáo sư nào, không có trường Đại học nào ở Thế gian này dạy được. Nhờ đó, họ trở thành những công cụ đắc lực trong tay của Chúa.

Mỗi chúng ta phải biết ở riêng với Đức Chúa Trời, quỳ xuống nơi chân Ngài trong một đêm tăm tối nào đó, hoặc trong nhà tù hay trong trại học tập cũng được, để chính chúng ta được Ngài đào luyện như Môi-se 40 năm trong đồng vắng Ma-đi-an. Chúng ta thường thích nói hơn là thích nghe. Nếu Chúa nói thì chúng ta phải nghe. Chúng ta thường thấy những người cãi nhau, không ai là người muốn nghe, hết thảy đều muốn nói, hết thảy nói một lược và không giải quyết được nan đề. Nhưng chúng ta phải tập nghe trước khi nói, nếu người nào biết nghe trước khi nói thì mới biết nói. Kinh Thánh nói về Chúa Jêsus là Đấng nghe: “Chúa Giê-hô-va đã ban cho Ta cái lưỡi của người được dạy dỗ, hầu cho Ta biết dùng lời nói nâng đỡ kẻ mệt mỏi. Ngài đánh thức Ta mỗi buổi sớm mai, đánh thức tai Ta để nghe lời Ngài dạy như học trò vậy” (Ê-sai 50:4). Ngài thức dậy vào lúc sáng sớm, yên lặng nghe Đức Chúa Trời phán dạy như học trò nghe giáo sư dạy vậy, nhờ đó Ngài có cái lưỡi được dạy dỗ, biết dùng cái lưỡi đó nâng đỡ kẻ mệt mỏi, an ủi kẻ ngã lòng. Chúng ta thường dùng cái lưỡi nếu không khéo thì cái lưỡi đó là cái lưỡi xác thịt, nói những lời không xứng đáng, và gây đau khổ cho người nghe. Vì vậy, chúng ta phải học tập yên lặng nghe tiếng của Chúa cho đến khi chúng ta xứng đáng nói lên, dầu ít lời, nhưng có lợi cho người nghe.

II. CHÚA KÊU GỌI MÔI-SE QUA MỘT DỊ TƯỢNG:

Khi Môi-se chăn chiên trong đồng vắng, dưới chân núi Hô-rếp (bây giờ là núi Si-na-i), thình lình ông thấy một bụi gai cháy. Trong đồng vắng, thỉnh thoảng vẫn có lửa cháy, vì cái nóng mùa hè làm những bụi gai khô đi và dễ phát hỏa. Nhưng lần này, ông thấy bụi gai cháy và cháy mãi, không tàn. Ông lấy làm ngạc nhiên và tẻ bước lại gần để xem. Khi đến gần, ông nghe tiếng của Đức Chúa Trời từ trong bụi gai: “Môi-se, Môi-se!” Môi-se thưa rằng: “Có tôi đây!” Chúa bảo: “Lại gần chốn này, hãy cởi giày ngươi ra, vì chỗ ngươi đang đứng là đất Thánh”. Môi-se giựt mình!

Đức Chúa Trời ngự nơi bụi gai và nơi này trở thành đất Thánh. Môi-se không được đứng gần chỗ đó, mà phải cởi giày ra, đồng thời che mặt lại, vì sợ nhìn đến Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời chí thánh, nơi nào Ngài ngự chỗ đó là Thánh, mà kẻ đứng gần phải cởi giày ra. Khi chúng ta nhơn danh Chúa nhóm lại để thờ phượng Ngài, Ngài ngự giữa chúng ta, vì thế mỗi chúng ta phải giữ một lòng cung kính, khiêm nhường, trang nghiêm, đứng đi tề chỉnh, nói năng phải lời, kẻo e chúng ta lâm vào cái tội như Na-đáp và A-bi-hu, hai thầy tế lễ đã không giữ sự kỉnh kiền mà phải ngã chết ngay trong đền thờ của Đức Chúa Trời, đang khi còn mặc áo lễ. Chúng ta hãy nhớ một câu Chúa nói với dân Y-sơ-ra-ên: “Khi các ngươi đến chầu trước mặt Ta, ai khiến các ngươi giày đạp hành lang Ta?” (Ê-sai 1;12). “Giày đạp”có nghĩa gì? – Giày đạp là khinh dễ hành lang của Đức Chúa Trời – Lời nơi Thánh, thuộc về đền thờ nơi có Chúa ngự. Dân Y-sơ-ra-ên đã giày đạp hành lang, tức là bước vào đó thiếu kỉnh kiền, trang nghiêm, không kinh sợ, vì vậy, Chúa quở trách họ nặng lời mà bảo rằng: “Thôi đừng dâng của lễ chay vô ích cho Ta nữa … Thật, lòng Ta ghét những ngày trăng mới và kỳ lễ các ngươi là nặng nề cho Ta, Ta lấy làm mệt mà gánh lấy. Vậy nên, khi các ngươi giơ tay, thì Ta che mắt khỏi các ngươi. Khi các ngươi cầu nguyện rườm rà, Ta chẳng thèm nghe” (Ê-sai 1:13-15).

Mỗi khi chúng ta bước vào Nhà thờ, chúng ta phải cẩn thận trong hành vi, trong tư tưởng, trong ngôn ngữ, kẻo e chúng ta giày đạp hành lang thánh của Đức Chúa Trời, mà khiến cho Nhà Thờ trở thành nơi phàm tục mà chúng ta phải gặt lấy những hậu quả tao hại không lường được. “Đức Chúa Trời không chịu khinh dễ đâu; vì ai gieo giống chi lại gặt giống ấy”. Thi 93:5 chép: “Hỡi Đức Giê-hô-va, các chứng cớ Ngài rất là chắc chắn. Sự thánh khiết là xứng đáng cho nhà Ngài cho đến đời đời”. Sự khánh thiết là xứng đáng cho nhà Ngài nghĩa là nhà của Chúa, nơi chúng ta thờ phượng phải là nơi thánh khiết, đáng được Chúa ngự để Ngài ban phước cho chúng ta. Đừng bao giờ phạm vào tội giày đạp hành lang Chúa, làm nơi thờ phượng, nơi Chúa ngự trở thành ô uế. Phải rất cẩn thận và mong rằng kể từ đây chúng ta luôn nhớ câu chuyện này. Chúa bảo: “Hãy cởi giày ngươi ra, vì chỗ ngươi, đang đứng là đất Thánh”. Trước sự hiện diện của Chúa, chúng ta phải cúi đầu, che mặt và ngậm miệng lại.

Qua dị tượng bụi gai cháy không tàn, Chúa muốn dạy gì cho Môi-se? Khi Môi-se thấy nỗi khổ của đồng bào và biết được âm mưu của Ai-cập muốn tiêu diệt dân Do Thái bằng đủ mọi cách thì ông nóng lòng muốn giải cứu họ. Nhưng ông thất bại, phải vào trong đồng vắng chăn chiên 40 năm. Tôi đoán chắc tâm trạng của ông lúc đó đầy đau đớn. Ông nghĩ rằng dân Y-sơ-ra-ên chắc bị tiêu diệt trong xứ Ê-díp-tô, vì cơn bắt bớ khủng khiếp như lửa hững cháy và chắc một ngày nào đó dân Y-sơ-ra-ên bị tàn lụi đi.

Vì thế, Chúa cho ông thấy dị tượng một bụi gai cháy mãi không tàn. Chúa muốn nói cho Môi-se biết rằng Ngài đang ở giữa bụi gai đang cháy, nên dầu lửa có cháy bao lâu, với sức nóng nào cũng không thể làm cho bụi gai tàn được. Dân Y-sơ-ra-ên cũng vậy, dầu làm nô lệ trong Ai cập đến mức nào, dầu cơn bắt bớ đến độ nào thì cũng không bao giờ tiêu diệt được dân sự đó, vì Ngài ở với họ, ở trong họ. Nên họ như ba bạn Hê-bơ-rơ bị quăng vào trong lò lửa nóng gấp bảy lần trước kia, cũng không vì lý do đó mà họ bị tàn tã theo thời gian hay là bị tiêu diệt lần hồi, nhưng họ sẽ ngày càng mạnh mẽ và trường tồn. Cảm tại Đức Chúa Trời!

Phải chăng các ông bà anh chị em cũng như tôi nhìn về tương lai, chúng ta sẽ hoang mang, sợ hãi, lo cho Hội Thánh tương lai của Chúa sẽ mai một một ngày nào đó? Nhưng sứ điệp mà Chúa phán cho tôi và quí ông bà anh chị là: Dầu Hội Thánh của Chúa ở bất cứ nơi đâu, thuộc mọi thời đại mà lâm vào tình trạng như dân Y-sơ-ra-ên, thì Đức Chúa Trời ở giữa Hội Thánh, ở trong Hội Thánh. Cũng như Chúa ở giữa bụi gai đang cháy, bụi gai không bao giờ tàn thì Hội Thánh có Chúa ở giữa cũng không bao giờ tàn. Chúa bảo rằng: “Các cửa âm phủ chẳng thắng được hội ấy” “Ta sẽ cùng ở với các ngươi luôn cho đến kì tận thế”. Đó là niềm an ủi khích lệ chúng ta ngày nay, cũng như Môi-se ngày xưa.

III. CHÚA SAI MÔI-SE ĐI GIẢI PHÓNG DÂN Y-SƠ-RA-ÊN:

1. Chúa biết nỗi đau đớn của dân Y-sơ-ra-ên. “Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta đã thấy rõ ràng sự cực khổ của dân Ta tại xứ Ê-díp-tô và có nghe thấy tiếng kêu rên vì cớ người đốc công của nó, phải, Ta biết được nỗi đau đớn của nó. Ta ngự xuống đặng cứu dân này khỏi tay người Ê-díp-tô, dẫn xứ ấy lên đến một xứ kia đẹp đẽ và rộng rãi, đượm sữa và mật, tức là xứ Ca-na-an” (Xuất 3:7-8). Chúng ta suy niệm về Chúa qua các câu Kinh Thánh trên:

“Ta đã thấy”. Thấy gì? – “Thấy sự cực khổ của dân Ta”.

“Ta đã nghe”. Nghe gì? – “Nghe tiếng kêu la”.

“Ta đã biết”. Biết gì? – “Biết nỗi đau đớn của họ”.

“Ta đã ngự Xuống”. Để làm gì? – “Để giải cứu”.

“Ta thấy, Ta nghe, Ta biết, Ta ngự xuống“. Bốn điều đó nói cho chúng ta rằng Đức Chúa Trời không phải như hình tượng vô tri, có mắt không thấy, có tai không nghe, có miệng không nói, có chân không đi. Không phải như vậy! Đức Chúa Trời thấy được sự cực khổ của chúng ta, nghe được tiếng kêu la của chúng ta, biết được nỗi đau đớn của chúng ta và sẵn sàng dùng quyền năng vô cùng của Ngài giải cứu chúng ta. Đó là niềm khích lệ dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa và Hội Thánh của Chúa trải qua các đời, khiến cho chúng ta mạnh dạn trên con đường theo Chúa, kêu cầu Chúa và chờ đợi không lâu Ngài sẽ giải cứu chúng ta.

2. Chúa sai Môi-se đi. “Vậy bây giờ hãy lại đây đặng Ta sai ngươi đi đến Pha-ra-ôn, để dắt dân Ta là dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô” (Xuất 3:10). “Bây giờ hãy lại đây, Ta sai ngươi đi”. Cảm tạ Chúa, bây giờ thì không phải Môi-se tự ý đi con đường của mình, làm công việc của nình, nhưng được Chúa sai đi làm công việc của Chúa. Dầu vậy, tội nghiệp Môi-se! Đã một lần thất bại, bây giờ ông sợ quá! Môi-se thưa rằng: “Tôi là ai dám đi đến Pha-ra-ôn đặng dắt dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô?”

Bây giờ ông biết mình rồi, chỉ là một gả chăn chiên, chỉ có một cây gậy thôi, làm sao dám đương đầu với một đại cường quốc? Vì vậy ông nói một điều rất phải: Tôi không dám đâu, tôi là ai mà dám đến với hoàng đế Ai-cập, bảo ông ấy phóng thích dân Y-sơ-ra-ên? Đó là điều bất năng!

Vì vậy, Chúa phán thầm với Môi-se: “Ta sẽ ở cùng ngươi”. “Ta sẽ ở cùng ngươi”, nghĩa là không phải Môi-se làm, nhưng Chúa làm, ông chẳng qua là công cụ trong tay của Chúa. Ông cứ đi Chúa sẽ làm việc, Ngài sẽ bảo đảm cho ông qua lời hứa Ngài: “Ta sẽ ở cùng”.

Môi-se đã có một lần bị dân Y-sơ-ra-ên từ chối khi ông can giám hai người Y-sơ-ra-ên đánh lộn với nhau. Bây giờ ông sợ rằng đến với dân Y-sơ-ra-ên một lần nữa thì họ cũng gạt ông ra. Thành thử ông hỏi: “Nếu họ hỏi tên Ngài là chi thì tôi nói vói họ làm sao?”. Chúa bảo: “Ta là Đấng tự hữu hằng hữu”.

Ôi đó là cái tên kì diệu nhất từ xưa đến nay, cả Thế giới không hề có ai có danh hiệu đó. Tự hữu là Ngài tự nhiên mà có. Hằng hữu là có từ đời này qua đời kia, cho đến vô cùng tận. Chúa là Đấng hiện có, đã có và còn cho đến cuối cùng. Đầu tiên và cuối cùng. Hôm qua, hôm nay, cho đến đời đời không hề thay đổi.

Thưa quí ông bà anh chị, Đấng mà chúng ta tôn thờ, phục vụ, tin cậy là một Đấng hằng hữu, tức là Ngài sống đời đời. Chúng ta phải học biết điều này và xin Chúa cho chúng ta biết hoàn toàn tin cậy và nắm giữ chân lí này.

Nếu ai học ngoại ngữ thì biết từ này lớn lắm: “ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU”, là chúng ta dịch theo tiếng Hoa. Nhưng tiếng Pháp là: “JE SUIS CELUI OUI SUIS”, nghĩa là lúc nào Ngài cũng hiện tại. Tiếng Anh cũng nói cách như vậy: “I AM WHO I AM”.

Vì vậy chúng ta lấy làm sung sướng mà tin cậy và vâng lời thờ phượng Ngài. Trước khi về trời, Chúa Jêsus đã bảo: “Hết thảy quyền phép trên trời dưới đất đã giao cho Ta”.

Cảm tạ ơn Chúa, Hoàng đế Ai CẬp chỉ có quyền hành trên một mảnh đất nhỏ của quả Địa Cầu này, nhưng Chúa Jêsus không những có quyền trong cả Địa cầu này, mà lại có quyền trong cả cõi Thiên đàng, vũ trụ. Quyền của Chúa là vô hạn, so với Pha-ra-ôn thì ông ta có nghĩa lý gì, chẳng qua là hạt cát trong sa mạc hay giọt nước trong đại dương mà thôi. Bao nhiêu Pha-ra-ôn – tức là Hoàng đế Ai cập – đã qua đi, nhưng Đức Chúa Trời vẫn còn. Bao nhiêu bậc anh hùng, bao nhiêu hào kiệt, vĩ nhân lần lượt qua đi, nhưng Đức Chúa Trời, Chúa Jêsus còn mãi mãi.

Vì vậy, Ngài bảo rằng: “Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế”. Hội Thánh của Chúa sẽ không bao giờ bị tàn tạ theo thời gian. Dầu lửa hực có đốt cháy gấp bảy lần cũng không bao giờ tiêu diệt được Hội Thánh của Đức Chúa Trời, vì chính Ngài ở với chúng ta, ở trong chúng ta và Ngài sẽ bảo vệ chúng ta trong tay quyền năng vô hạn của Ngài.

Cầu Chúa giúp chúng ta hãnh diện, vui mừng, cảm ta, ca ngợi Chúa và xin Ngài cho chúng ta hăng say trên con đường theo Ngài, không sợ hãi gì, bởi vì Chúa toàn năng, toàn ái, toàn tri, toàn thiện, vô thủy, vô chung ở với chúng ta và ở trong chúng ta.

Bài 4: CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ MÔI-SE

Xuất 4:1-17

Môi-se được Chúa kêu gọi để dẫn dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi nhà nô lệ là xứ Ai cập đến Ca-na-an, là xứ đượm sữa và mật, để an cư lập nghiệp tại đó. Được sự kêu gọi của Đức Chúa Trời không phải là một việc thường, nhưng trái lại là một việc hết sức quan trọng, nhưng chúng ta đã thấy Môi-se tìm đủ mọi cách để chối từ.

Đức Chúa Trời là Đấng vinh hiển, quyền năng mà trước mặt Ngài Môi-se không dám đến gần, phải cởi giày ra, che mặt lại. Song Chúa vẫn là Đấng rất nhân từ thương xót, chậm giận, giàu ơn, tha thứ, vì vậy mà Ngài đã kêu gọi và sai Môi-se ra đi làm một công việc hết sức vĩ đại.

I. CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ MÔI-SE KHI ÔNG ĐƯỢC CHÚA KÊU GỌI:

Xuất 3:11 “Tôi là ai, dám đi đến Pha-ra-ôn, đặng dắt dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô?” Môi-se nhận biết mình chẳng qua chỉ là một gả chăn chiên, trong tay chỉ có cây gậy, làm sao dám đến với Hoàng đế Ai cập mà yêu cầu ông ấy phóng thích dân Y-sơ-ra-ên.

Đức Chúa Trời phán cùng Môi-se: “Ta sẽ ở cùng ngươi.” Mấy chữ “Ta sẽ ở cùng ngươi”là đủ lắm rồi! Ý Chúa muốn nói: Dầu ngươi chỉ có một cây gậy, với một thân hình yếu đuối, nhưng Ta mạnh mẽ, Ta có cả vũ trụ trong tay, Ta ở cùng ngươi. Thiết tưởng không có gì sung sướng hơn cho Môi-se là được Chúa ở cùng. Dầu yếu đến đâu cũng trở thành mạnh mẽ, không ai chống cự được ông, vì không ai chống cự được với Đức Chúa Trời. Đó là niềm an ủi và khích lệ cho ông.

Hôm nay, lời hứa này cũng được hứa cho chúng ta. Dầu chúng ta là ai, nhỏ mọn đến chừng nào, công việc Chúa giao lớn đến chừng nào, hoàn cảnh khó khăn đến đâu thì nên nhớ một điều: “Ta ở cùng ngươi”. Chúa không bao giờ thất hứa. Trong kinh nghiệm bản thân của tôi và cũng như nơi nhiều người khác mà tôi thấy, khi Đức Chúa Trời ở cùng là đủ hết mọi sự. Khi Đức Chúa Trời ở cùng, thì kẻ yếu đuối hơn hết trở thành kẻ mạnh mẽ hơn hết, khi Đức Chúa Trời ở cùng thì ai đó cũng sẽ làm được mọi việc Chúa sai khiến.

Nhưng Môi-se cũng chưa chấp nhận lời kêu gọi của Chúa đâu! Môi-se thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: “Này, tôi sẽ đi đến dân Y-sơ-ra-ên, nói cùng họ rằng: Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi sai ta đến cùng các ngươi, nhưng nếu họ hỏi tên Ngài là chi thì tôi nói với họ làm sao?” Ông muốn hiểu Chúa rõ ràng hơn, Danh của Ngài là Đức Chúa Trời, nhưng Tên của Ngài là gì?

“Đức Chúa Trời phán rằng: Ta là ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU, rồi Ngài lại rằng: Hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Đấng TỰ HỮU đã sai ta đến cùng các ngươi. Đức Chúa Trời lại phán cùng Môi-se rằng: Ngươi hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp sai ta đến cùng các ngươi. Ấy đó là Danh đời đời của Ta, ấy sẽ là sự kỉ niệm của Ta trải qua các đời” (Xuất 3:14-15).

Chúa cho Môi-se biết rằng: Danh của Ngài là Giê-hô-va. Chữ Giê-hô-va là tiếng Hi-bá-lai và có hai nghĩa: 1/. Đấng tạo hoá của vũ trụ, bao hàm đức tánh của Ngài là toàn năng, toàn tri, vô sự bất tại, vinh hiển, thánh khiết. 2/. Đấng Cứu chuộc, bao hàm các đức tánh của Ngài là nhơn từ, thương xót, giàu ơn, chậm giận, tha thứ, thành tín… Giê-hô-va là Đấng sáng tạo vũ trụ, Giê-hô-va là Đấng cứu chuộc nhân loại.

Dầu vậy, Môi-se chưa an lòng. Môi-se thưa rằng: “dân đó sẽ chẳng tin và chẳng vâng lời tôi, vì sẽ nói rằng: Đức Giê-hô-va chẳng có hiện ra cùng ngươi đâu” (Xuất 4:1). Môi-se dự liệu rằng dân Y-sơ-ra-ên sẽ từ chối sự lãnh đạo của ông, vì cho rằng ông nói dối.

Đức Giê-hô-va phán rằng: “Trong tay ngươi cầm vật chi?”Môi-se thưa rằng: “Một cây gậy”. Phán rằng: “Hãy ném Xuống đất đi”. Người bèn ném Xuống đất, cây hoá ra một con rắn. Môi-se chạy trốn nó. Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: “Hãy giơ tay ngươi ra nắm đuôi nó”, người giơ tay ra nắm, thì nó trở lại cây gậy trong tay.

Thực sự đó vừa để chứng minh cho dân Y-sơ-ra-ên biết rằng Đức Chúa Trời đã sai Môi-se đến với họ nhưng đồng thời cũng dạy cho Môi-se và mọi người rằng: Họ là cây gậy đó; ở trong tay Chúa họ là cây gậy, mà ra khỏi tay Chúa là một con rắn. Cây gậy rất là tốt để cho người đi đường, nhất là người chăn chiên, nhưng con rắn rất nguy hiểm. Vì vậy, trong tay của Chúa chúng ta là cây gậy, nhưng ra khỏi tay Chúa chúng ta là một con rắn. Ôi, nếu chúng ta ra khỏi tay Chúa thật là khốn nạn cho mình và nguy hiểm cho người khác.

Chúa lại bảo Môi-se lấy tay của ông đặt vào lòng. Khi ông lấy tay ra, tay của ông nổi phung trắng như tuyết. Chúa bảo Môi-se để lại chỗ cũ và lấy ra, tay của ông lại nguyên vẹn như trước.

Lòng của chúng ta rất gian ác, rất ghê tởm như bệnh phung vậy. Tay của chúng ta cũng gian ác, xấu xa như thế, nhưng khi nào chúng ta dâng lòng mình và tay mình cho Chúa, chúng ta được lành lặn tốt đẹp. Dầu chúng ta không có gì, nhưng bất cứ điều gì chúng ta dâng cho Chúa thì phước hạnh lắm, ngược lại, bất cứ điều gì chúng ta không dâng cho Chúa, giữ lại cho mình thì nó thiệt hại cho mình và cũng thiệt hại cho người khác.

Chúa bảo Môi-se rằng: Hãy làm cho dân Y-sơ-ra-ên hai dấu hiệu đó để họ thấy về chứng minh rằng Ta đã sai ngươi đi. Nhưng Môi-se cũng chưa chịu đi. Môi-se cứng lòng, nên cố sức chối từ: “Ôi, lạy Chúa, từ hôm qua, hôm kia, hay là từ Đức Chúa Trời dạy kẻ tôi tớ Chúa, tôi vẫn chẳng phải một tay nói giỏi, vì miệng và lưỡi tôi hay ngập ngừng” (Xuất 4:10). Môi-se muốn nói rằng: Ông vẫn là người nói dở, nói cà lăm, không ai nghe ông đâu. Môi-se đã nói thiệt, nhưng điều đó chứng tỏ Môi-se chưa tin và quyền năng của Chúa và tìm mọi cách để thái thác công việc Ngài giao phó.

Chúa bảo Môi-se: “Ai tạo miệng loài người ra? Hay là ai đã làm câm, làm điếc, làm sáng, làm mờ? Có phải, Ta là Đức Giê-hô-va chăng? Vậy bây giờ, hãy đi; Ta sẽ ở cùng miệng của ngươi và dạy ngươi những lời phải nói” (Xuất 4:11-12).

Ôi, chúng ta thật phải cảm tạ Chúa, vì Ngài quá nhẫn nại đối với Môi-se. Môi-se viện đủ mọi lý do để chối từ. Dầu vậy, Chúa an ủi và khích lệ ông mà bảo rằng: Miệng ngươi cà lăm nhưng chính Ta đã dựng nên, Ta có quyền chữa lành, Ta sẽ đặt lời Ta trong miệng ngươi và sẽ giúp cho ngươi nói được điều Ta muốn ngươi nói.

Chúng ta thường bị cám dỗ mà chối từ như Môi-se. Nếu Chúa sai chúng ta làm chứng, nói về Chúa cho người khác, chúng ta viện đến lý do này lý do khác để chối từ, nhưng lời của Chúa an ủi Môi-se, cũng an ủi tất cả chúng ta. Chúa dựng nên chúng ta, Ngài sẽ ban cho chúng ta mọi ân tứ có cần để chúng ta thực hiện tốt những gì Chúa bảo. Vì vậy, nên Chúa sai chúng ta đi đâu, chúng ta cứ đi, nếu Chúa bảo chúng ta làm gì, chúng ta cứ làm. Nếu Chúa bảo nói gì, chúng ta cứ noí, chính mình Chúa chịu trách nhiệm cho chúng ta.

Chúng ta thấy Đức Chúa Trời thường dùng những vật nhỏ mọn. Khi dân Y-sơ-ra-ên vào Ca-na-an, họ không đủ sức đánh hạ thành Giê-ri-cô, nhưng Đức Chúa Trời chỉ dùng cái sừng để làm còi và bảo các thầy Tế lễ thổi lên. Mỗi ngày thổi một lần, ngày thứ bảy thổi bảy lần và thành đổ xuống.

Dân Ma-đi-an đưa một đạo quân vĩ đại đến đánh dân Y-sơ-ra-ên, nhưng Chúa dùng một giấc chiêm bao làm cho dân này hoảng sợ và bỏ chạy. Gô-li-át, vị tướng khổng lồ của dân Phi-li-tin đã chết vì Chúa dùng cái trành ném đá của Đa-vít.

Vì thế, cây gậy của Môi-se làm đủ mọi việc: Môi-se đưa gậy lên trên sông Ni-lơ là con sông của Ai cập, thì sông đó biến thành huyết, đưa lên trên biển đỏ, biển đỏ rẽ làm hai, lấy cây gậy đó đập vào hòn đá, thì nước tuôn ra cho dân Y-sơ-ra-ên uống. Trước đây Môi-se chỉ dùng cây gậy để chăn chiên mà thôi, nhưng cây gậy bây giờ ở trong tay Đức Chúa Trời, thì bất cứ trở lực nào cũng san bằng, bất cứ nhu cầu nào cũng được giải quyết được.

Mỗi chúng ta đều là một cây gậy, không có giá trị gì trước trần gian. Nhưng nếu cúng ta dâng mình cho Chúa thì giống như cây gậy của Môi-se, Đức Chúa Trời có thể làm những công việc vĩ đại qua đời sống của chúng ta. Lời Đức Chúa Trời phán: “Hỡi anh em, hãy suy xét rằng ở giữa anh em là kẻ được gọi, không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền thế, chẳng nhiều kẻ sang trọng; nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở Thế gian, để làm hổ thẹn những kẻ khôn, Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế gian để làm hổ thẹn những sự mạnh, Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế gian, cũng những sự không có hầu cho làm những sự có ra không có, để chẳng ai khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời” (I Co 1:26-29).

Môi-se không có cớ để tự khoe mình, nhưng khoe về ân điển và quyền năng của Chúa đã sử dụng mình. Mỗi chúng ta nếu được Chúa sử dụng cách nào, chúng ta cũng không thể khoe mình, nhưng chúng ta có cả ngàn cớ để cảm tạ và ca ngợi Chúa.

Trước đây khoảng 100 năm, ở bên Mỹ có một Mục sư tên là Moody, ông này học thức không bao nhiêu, nói cà lăm không đúng văn phạm. Có một lần đang giảng, ông ấp úng không nói được đến nỗi thính giả cười rộ lên. Ông cúi đầu cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin dùng sự ngập ngừng của con để cứu được nhiều người”. Sau khi ông cầu nguyện, hết thảy mọi người đều im lặng tiếp tục nghe ông giảng. Dầu Mục sư nói năng không trôi chảy, không đúng văn phạm, nhưng lời của Mục sư có quyền năng và ân điển của Chúa, làm cho tươi mới, cảm động lòng rất nhiều người. Sau khi mục sư Moody qua đời, người ta thấy tên ông đặt cho một viện thần học vĩ đại, một nhà xuất bản và nhiều cơ quan khác của Hội Thánh Tin Lành tại nước Mỹ. Hội Thánh cho ông là một nhà truyền giáo vĩ đại, một vĩ nhân của Đức Chúa Trời, mặc dầu bề ngoài ông không có gì đáng kể, nhưng ông đã hoàn toàn dâng mình cho Chúa.

Mục sư Moody thuật lại rằng, vào một sáng Chủ nhật, lúc đó ông chỉ mới 13 tuổi, ông đến một nhà thờ miền quê, chỉ có khoảng 20,30 người nhóm lại. Vị Mục sư già giảng: “Nếu ai bằng lòng dâng mình cho Đức Chúa Trời, Ngài sẽ dùng người đó làm rúng động thế giới”. Cậu Moody lúc đó đã cúi đầu xuống, thưa với Chúa: “Con bằng lòng làm người đó”. Thật Moody đã làm rúng động Hội Thánh của Chúa tại Mỹ, Anh, cả Âu châu và đưa hàng vạn người đến với Chúa.

Nếu chúng ta dâng mình cho Chúa, chúng ta không lường hết mọi vấn đề kì diệu mà Chúa làm trong trong chúng ta và qua mỗi chúng ta. Đức Chúa Trời đã hiện những phép lạ dưới Môi-se, nên ông hết phương từ chối, hết lý do để khước từ thực hiện mạng lệnh của Chúa. Nhưng Môi-se vẫn cứng lòng và nói liều: “Lạy Chúa, Chúa muốn sai ai thì sai”. (Xuất 4:13).

Chúng ta cảm ơn Chúa, vì nếu Chúa không kiên nhẫn, gạt Môi-se qua một bên, thì ông đã mất cơ hội vô vàn quí giá mà suốt cuộc đời ông sẽ chẳng bao giờ tìm lại được. Chúa phán cùng Môi-se: “Có phải A-rôn, người Lê-vi, là anh ngươi chăng? Ta biết người đó có tài nói giỏi, và kìa, người đang đi đến đón ngươi kia, khi thấy ngươi chắc sẽ vui mừng trong lòng”. Chúa muốn nói rằng: Ta sẽ đặt anh ngươi, người có tài nói giỏi bên cạnh ngươi để nói thay ngươi. Người sẽ rất vui làm việc đó. (Xuất 4:14).

Nhưng chúng ta biết A-rôn không giúp đỡ Môi-se được bao nhiêu, mà chính A-rôn đã làm hại Môi-se. Khi Môi-se lên núi Si-na-i cầu nguyện với Đức Chúa Trời 40 ngày đêm, thì dân Y-sơ-ra-ên ở dưới chân núi đã bị cám dỗ, nói với A-rôn: “Thôi, chắc Môi-se đã chết rồi, làm gì có thể sống được đến 40 ngày không ăn, không uống. Thôi, ông hãy làm cho chúng tôi một vị thần để cho chúng tôi thờ lạy và dẫn chúng tôi trở lại Ê-díp-tô”. A-rôn đã không có lời khuyên can dân Y-sơ-ra-ên, mà còn nói: “Nếu anh, chị muốn hãy đem vàng đến cho tôi”. Thế là họ ùa ùa đem vàng đến cho ông. Ông bèn đúc một con bò vàng để cho dân Y-sơ-ra-ên thờ phượng. Khi Môi-se từ trên núi Xuống, thấy dân Y-sơ-ra-ên dâng tế lễ cho con bò vàng, ông nặng lời trách A-rôn: “Dân nầy làm chi cho anh mà anh Xuấti cho chúng phạm tội nặng dường ấy?” (Xuất 32:21)

Chúng ta thường thích nương dựa vào cây sậy và cây sậy đó gẫy, đâm vào tay của mình, mà không chịu nương tựa vào vầng đá muôn đời, tức là nương tựa vào con người, hơn là nương tựa vào Đức Chúa Trời, thích nương tựa và cái mà mình thấy được mà không thích nương tựa vào Đức Chúa Trời, là Đấng mình không thấy. Vì vậy, người khiêm nhường, không phải là người không dám làm gì hết, vì không dám làm gì hết là kẻ hèn nhát, nhưng người khiêm nhường dám làm mọi sự theo mạng lệnh Đức Chúa Trời sai khiến. Khiêm nhường là sẵn sàng tin cậy, vâng lời Chúa, làm hết mọi điều Chúa sai khiến. Đó mới thật là khiêm nhường! Chúng ta thường bị cám dỗ bằng sự khiêm nhường giả dối; và nói rằng: “Tôi yếu đuối, tôi ngu dại, tôi thiếu thốn, tôi không thể làm gì hết”, như thế chưa chắc là khiêm nhường, mà là hèn nhát, và ích kỷ, không muốn phục vụ Chúa không muốn đi con đường theo Chúa, tránh trút sự khó khăn đấy, chúng ta thấy Môi-se đã không khiêm nhường đúng, nhưng tránh trút sự khó khăn: “Chúa sai ai đi thì sai, tôi không đi vì tôi sợ khó khăn, sợ nguy hiểm”. Tôi sợ khó, sợ nguy, là vì không tin cậy, không vâng lời. Khi Chúa chưa bảo, ông đi, bây giờ Chúa bảo, ông lại không đi. Chúa bảo: “Ta ở cùng miệng ngươi và dạy ngươi những lời phải nói”thì còn gì để sợ nữa mà không nói được!

Lắm khi chúng ta cũng bị cám dỗ y như cách Môi-se mà khước từ mạng lệnh của Chúa, khướt từ sự kêu gọi của Ngài, khướt từ những ân huệ, mà một lần bỏ đi suốt đời không bao giờ tìm lại được. Xin Chúa cho chúng ta sẵn sàng đặt mình trong tay của Chúa, mà thưa rằng: “Con xin đi nơi nào Chúa sai con đi, làm điều gì Chúa bảo con làm, con sẵn sàng chịu điều gì Chúa muốn con chịu, để ý Ngài được nên, danh Ngài được Vinh hiển!” Mặc dù chúng ta không được kêu gọi để lãnh đạo đồng bào mình như Môi-se, tuy nhiên, mỗi chúng ta có thể phục vụ Chúa trong phạm vi, trong quyền hạn, chức vụ Chúa kêu gọi mình. Chúa bảo chúng ta đi Cầu nguyện, đi Chứng đạo, và làm hết thảy mọi việc mà chúng ta có thể làm được. Nhưng chúng ta dễ bị cám dỗ như Môi-se mà tìm đủ mọi cách để thoái thác và như thế, chúng ta đã mất nhiều cơ hội vô cùng quý báu.

Chúng ta được khích lệ rất nhiều qua cuộc đối thoại giữa Đức Chúa Trời và Môi-se, vì chúng ta thấy rằng Chúa Nhơn từ, Nhẫn nại, Khoan dung đối với loài người. Ngược lại, loài người chúng ta rất ngoan cố, bướng bỉnh, tìm đủ mọi lý do để khước từ Ân điển và Quyền năng của Chúa ban cho mình. Xin Chúa cho chúng ta ghi khắc bài học nầy để bao nhiêu ngày còn lại trên đất này, chúng ta sẽ luôn luôn thưa với Chúa rằng: “Có con đây, xin Chúa sai con!”

Ở bên Pháp, có một lần Hội Thánh tại Pari nhóm lại rất đông trong một sáng Chúa nhật. Hôm đó cũng là ngày mà Hội Thánh trong cả nước Pháp quyên tiền cho việc “Truyền giảng hải ngoại”. Vị Mục sư đọc thư qua Ủy ban Truyền giáo và trịnh trọng giải thích: “Đây là công việc rất cần, vì Chúa bảo: “Hãy đi khắp thế gian giảng Tin lành cho mọi người”. Chúng ta được cứu, chúng ta có trách nhiệm đem Tin lành cho người khác. Dầu chúng ta không ra đi, nhưng có người khác ra đi thay cho chúng ta, chúng ta phải ủng hộ bằng sự Cầu nguyện và Dâng tiền”. Vị Mục sư nghĩ rằng Hội Thánh sẽ thu được nhiều kết quả lắm, vì ông thấy có những vị chủ Ngân hàng, Giám đốc những cơ quan lớn, những bác sĩ, kỹ sư, Giáo sư ngồi trước mặt mình. Nhưng năm phút trôi qua chẳng thấy có ai dâng một đồng nào. Để cứu vãn tình hình, Mục sư mời hai Chấp sự mang hộp tiền dâng đưa qua trước mỗi Tín đồ để ai muốn dâng bao nhiêu tùy ý. Nếu không có sẵn hiện kim, có thể ghi vào giấy số tiền hứa dâng. Cuối cùng, kết quả cũng chẳng được là bao.

Trong lúc đó, ở dưới góc Nhà thờ, có một cô gái bị tê liệt, phải đi bằng hai cái nạng. Cô chịu cảm động lắm và thưa với Chúa: “Chúa ơi, con muốn dâng cho ngân quỹ Truyền giáo, nhưng con không có gì cả”. Cô đã nói thật, vì cô rất nghèo, hoàn cảnh thật đáng thương. Nhưng Chúa bảo: “Con có” Cô thưa với Chúa: “Chúa ơi, con không có gì cả”. Ngay lúc đó, Chúa phán với cô: “Con có cặp nạng”. Cô ngạc nhiên: “Cặp nạn nầy là hai cái chân của con. Nếu con dâng cặp nạng nầy, làm sao con đi Nhà thờ”. Chúa lại bảo: “Hãy dâng cho Ta”. Lòng của cô có sự tranh chiến mãnh liệt. Ngay lúc đó, vị Chấp sự mang hộp tiền dâng đi qua trước mặt cô. Cô vội vàng lấy cặp nạng để trên hộp tiền dâng. Ông chấp sự hoảng hồn: “Cô nầy lạ thật, sao lại dâng cặp nạng?”, nhưng rồi không biết làm sao hơn, ông đành mang cặp nạng để trên bàn trước Tòa giảng. Tiền dâng được bao nhiêu không ai thấy, chỉ thấy mỗi cặp nạng thôi. Vị Mục sư đứng lên nói với tất cả sự xúc động: “Dầu sáng nay chúng ta không có bao nhiêu tiền dâng vào ngân quỹ Truyền giáo, nhưng có cặp nạng nầy. Ai cũng biết cặp nạng nầy là của cô thiếu nữ bị bại liệt trong Hội Thánh chúng ta. Bây giờ tôi xin bán đấu giá, ai trả giá cao hơn hết sẽ mua được cặp nạng”. Ngay lúc đó, các Tín hữu tranh nhau bước lên, vừa khóc vừa dâng tiền, nhiều đến nỗi phủ đầy trên cả hai hộp tiền dâng, vì lòng họ chịu cảm động khi thấy cô thiếu nữ tàn tật kia dám dâng tất cả mọi sự mình có. Vị Mục sư cho biết: “Chưa lần nào Hội Thánh thu được một số tiền lớn như thế”. Chúa đã dùng thực sự trên ban phước nhiều cho Hội Thánh.

Nếu chúng ta sẵn sàng dâng bất cứ điều gì cho Chúa, thì Ngài có thể dùng dầu là những việc nhỏ mọn hơn hết. Nếu ai tưởng mình yếu đuối, dốt nát, nghèo nàn, thì ít nữa chúng ta có thể dâng cho Chúa một điều gì, một vật gì. Và nếu chúng ta tân hiến cho Ngài thì Chúa có thể trọng dụng và thi hành phép lạ phục hưng Hội Thánh, để xây dựng đời sống tâm linh của nhiều người, để Truyền giảng Tin lành cho Thế giới.

BÀI 5: ĐỨC CHÚA TRỜI GIẢI CỨU DÂN Y-SƠ-RA-ÊN

Xuất 5:1-3

Dân Y-sơ-ra-ên đã ở trong xứ Ê-díp-tô 400 năm và dân Ê-díp-tô muốn bắt dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ mãi mãi tại đó. Dân Y-sơ-ra-ên không thể nào tự cứu mình, ngoài ra một mình Chúa cứu họ được, nên họ đã kêu cầu Ngài.

Cảnh ngộ của dân Y-sơ-ra-ên là cảnh ngộ của nhân loại trong tay ma quỉ. Nhân loại phải làm nô lệ cho ma quỉ, thờ lạy, phục vụ cho nó đời nầy qua đời kia, không có quyền cứu mình, ngoại trừ ai đó kêu cầu Đức Chúa Trời giải cứu.

Khi Chúa nghe tiếng kêu cầu của dân Y-sơ-ra-ên, thấy cảnh ngộ của họ, thì Ngài đã kêu gọi Môi-se giải cứu họ.

I. MỤC ĐÍCH ĐỨC CHÚA TRỜI GIẢI CỨU DÂN Y-SƠ-RA-ÊN:

Mỗi việc làm của Đức Chúa Trời đều có lý do, đều có chương trình, đều có mục đích rõ ràng.

1- Để chứng minh sự thành tín của Ngài.

Ca 3:23 chép: “Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín của Ngài là lớn lắm”. Một trong các đức tánh của Đức Chúa Trời mà Ngài thường bày tỏ là sự thành tín của Ngài. Vì vậy, Ngài phải thực hiện lời của Ngài đối với tổ phụ của dân Y-sơ-ra-ên là Áp-ra-ham. Trong Sa 15:16 Chúa nói với Áp-ra-ham:”Đến đời thứ tư, dòng dõi ngươi sẽ trở lại xứ nầy”.

Chúng ta là con cái của Chúa thì nên biết Đức Chúa Trời là Thành tín, mỗi lời hứa của Ngài không hề thay đổi, không bao giờ qua đi, nhưng sẽ ứng nghiệm từng chi tiết. Áp-ra-ham nói rằng: “Điều chi Chúa đã hứa, Ngài cũng đã làm”. Khi Giô-suê đem dân Y-sơ-ra-ên vào tận Ca-na-an, ông ôn lại những ngày đã qua và hai lần ông xác nhận rằng: Không có điều gì Chúa đã hứa mà Ngài chưa làm. Đó là điều khích lệ và an ủi chúng ta là con cái Chúa. Chúng ta sống trên lời hứa của Ngài hay là nắm chắc lời của Ngài mà sống. “Người công bình sống bởi đức tin”. Vì vậy, chúng ta không tin cậy Chúa thì không thể sống được, và Chúa chỉ thực hiện lời hứa của Ngài khi chúng ta dám tin cậy vào Ngài.

2- Sự công bình của Ngài. Chúa là Đấng Công bình có nghĩa là Ngài không thiên vị ai cả. Ngài bênh vực kẻ bị hà hiếp, Ngài sửa phạt kẻ hà hiếp. Ngài xét đoán công bình cho mỗi một người. Sau gần 400 năm, dân Y-sơ-ra-ên sanh sản càng lúc càng nhiều-gần hai triệu người. Vì vậy, dân Ê-díp-tô bắt đầu sợ, nếu có chiến tranh dân Y-sơ-ra-ên sẽ hiệp với kẻ thù mà đánh lại họ rồi ra khỏi xứ. Để giữ dân Y-sơ-ra-ên lại trong xứ mình mãi mãi, Pha-ra-ôn có những kế hoạch: Thứ nhất là bảo các bà mụ Y-sơ-ra-ên khi rước thai hễ thấy con gái thì để cho sống, con trai thì bóp mũi cho chết. Sau một thời gian, Pha-ra-ôn thấy lệnh của vua không được thi hành, ông công khai ra lệnh nếu người Y-sơ-ra-ên sanh con gái thì để cho sống, con trai thì liệng Xuống sông, đồng thời bắt dân Y-sơ-ra-ên làm việc cực nhọc lắm, hết việc này đến việc khác. Nhưng lạ thay, càng bắt làm việc cực nhọc bao nhiêu thì dân Y-sơ-ra-ên lại sanh sôi nhiều cũng bấy nhiêu.

Vì vậy, Ngài phải lấy sự công bình của Ngài mà can thiệp và buộc dân Ê-díp-tô phải phóng thích dân Y-sơ-ra-ên. Xuất 3:7-10 chép: “Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta đã thấy rõ ràng sự cực khổ của dân tại xứ Ê-díp-tô, và có nghe thấy tiếng kêu rên vì cớ người đốc công của nó; phải, Ta biết được nỗi đau đớn của nó.Ta ngự Xuống để cứu dân nầy ra khỏi tay của người Ê-díp-tô, dẫn từ xứ ấy lên đến một xứ kia đẹp đẽ và rộng rãi, đượm sữa và mật, tức là nơi dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít ở. Nầy, tiếng kêu của dân Y-sơ-ra-ên thấu đến Ta, và Ta đã thấy dân Ê-díp-tô hà hiếp chúng nó thế nào. Vậy bây giờ, hãy lại đây, đặng Ta sai ngươi đến Pha-ra-ôn để dắt dân Ta là dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô”. Chương trình của Đức Chúa Trời rất rõ ràng và công bình. Ngài bênh vực kẻ bị hà hiếp và giải phóng họ khỏi tay kẻ hà hiếp, vô luận kẻ đó là ai.

Cảm tạ ơn Chúa, không những Ngài là Đấng Thành tín, nhưng Ngài cũng là Đấng rất Công bình. Chúng ta hãy phó mình vào Đấng xét đoán công bình vì Ngài bênh vực kẻ bị hà hiếp và sửa trị kẻ hà hiếp.

3- Để họ hầu việc Ngài. Bốn trăm năm sống trong xứ Ê-díp-tô, dân Y-sơ-ra-ên vẫn giữ đức tin, nhưng vì không có Đền thờ, không dâng được của lễ nên họ không sinh hoạt Tôn giáo được. Vì vậy, Chúa phải đưa họ ra khỏi Ê-díp-tô, hầu cho họ tự do tôn thờ, phục vụ Chúa một cách đẹp lòng Ngài. Đó là mục đích tối hậu của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên (Xuất 7:16; 8:1; 9:1,13).

Mỗi chúng ta hôm nay- những người đã được cứu- là những người Y-sơ-ra-ên thuộc linh, phải nhớ rằng Chúa Jêsus xả thân trên thập tự giá để giải cứu chúng ta khỏi quyền lực của ma quỉ, tội lỗi, thế gian, để chúng ta hầu việc Ngài. Đừng ai phá hủy mục đích của Chúa đối với đời mình. Lắm khi chúng ta biết mình đã được cứu, nhưng lại sống theo ý riêng, hoặc ngồi một chỗ mà hưởng thụ, không bao giờ nghĩ rằng Chúa cứu tôi để tôi hầu việc Ngài.

Riêng tôi, được hầu việc Chúa tôi sung sướng vô cùng. Phần thưởng của người hầu việc Chúa là được hầu việc Chúa. Khi nào tôi già, không còn hầu việc Chúa được, chắc là buồn lắm. Nhưng bất cứ lúc nào, cơ hội nào, tôi muốn tận lực phục vụ Ngài, tôn vinh Ngài.

4- Để họ được biết Ngài. Đành rằng dân Y-sơ-ra-ên đã biết Chúa, nhưng họ biết Chúa cách mù mờ. Họ biết rằng Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, nhưng chính bản thân họ chưa kinh nghiệm, chưa tôn thờ, chưa tương giao mật thiết với Ngài, tức là chưa hiểu biết Ngài một cách rõ ràng và thân mật. Vì vậy, sự giải cứu của Chúa đối với dân Y-sơ-ra-ên là để cho họ được biết Ngài hơn. Xuất 4:30 chép: “Chúng bèn tin, hiểu rằng Đức Giê-hô-va đã thăm viếng dân Y-sơ-ra-ên và thấy điều cực khổ của mình chúng bèn cuối đầu và thờ lạy.”

Đây là bước tiến hết sức vĩ đại. Đã bấy lâu, họ chưa thật lòng dâng đời mình để thờ lạy Chúa, nhưng bây giờ, qua lời làm chứng của Môi-se và A-rôn, họ hiểu rằng Đức Chúa Trời mà tổ phụ họ đã thờ phượng và hầu việc đã cứu tổ phụ họ thể nào, thì bây giờ Đức Chúa Trời đã đến thăm viếng họ, đưa tay ra giải cứu họ.

Trải qua hơn 70 năm, có nhiều Tín đồ đã thành “Đạo dòng”- nghĩa là theo Đạo ông nội hay cha mẹ để lại. Điều đó có tốt một phần, nhưng chưa tiến đến mục tiêu, vì chúng ta phải tiếp xúc với Đức Chúa Trời theo tư cách cá nhân. Không phải là Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi, mà là Đức Chúa Trời của tôi. Tin lành không những là của ông bà tôi, nhưng cũng là của tôi. Nếu các anh em lớn lên trong gia đình Tín đồ, kể cả gia đình Mục sư, Truyền đạo thì tôi khuyên anh em đừng chỉ theo Đạo ông bà mình, nhưng mỗi người phải biết Chúa cách riêng tư.

Một ngày kia, Chúa Jêsus hỏi các môn đồ: “Các ngươi biết ta là ai?”. Khi Phi-e-rơ thưa rằng: “Chúa là Đấng Cứu thế, con Đức Chúa Trời hằng sống”, thì Chúa mừng lắm, vì họ biết rõ Ngài. Phao-lô đã tâm tình rằng: “Để tôi được biết Chúa”. Ông Phao-lô mà không biết Chúa sao? Ông biết Chúa rõ lắm chớ, nhưng ông khao khát biết Chúa nhiều hơn, đến nỗi ông dám tin cậy và vâng lời mà phó thác trọn đời trong tay Chúa, không còn sợ gì.

Đó là con đường mà chúng ta phải tiếp để mỗi lúc một biết Chúa hơn. Phi-e-rơ khuyên: “Hãy tấn tới trong Ân điển và sự thông biết Chúa,” nghĩa là mỗi ngày chúng ta phải lớn lên, mỗi ngày chúng ta phải tiến bước trong sự hiểu biết Chúa. Mỗi ngày tôi cảm thấy cần phải biết Chúa rõ hơn. Vì vậy, tôi đã học tập, suy gẫm, cầu nguyện để tìm biết Chúa, và xin Chúa tự bày tỏ Ngài cho tôi, để tôi được biết Chúa. Mong rằng mỗi chúng ta đều lớn lên trong sự thông biết Chúa.

5- Cho Pha-ra-ôn và cả dân Ê-díp-tô biết Chúa. Pha-ra-ôn và mọi dân tộc trên thế giới đều do Chúa sanh ra. Vì vậy, nếu muốn được cứu rỗi, họ phải biết Chúa và Chúa muốn cho họ được cứu rỗi. Ngài tỏ mình ra cho họ biết Ngài. Nhưng dân Ê-díp-tô thờ nhiều thần lắm: thần sông Nilơ, thần Ếch, thần(….). Vì vậy, cơ hội này Chúa bày tỏ cho dân Ê-díp-tô biết rằng Chúa là Đức Chúa Trời để họ ăn năn, quay trở lại cùng Đức Chúa Trời, được cứu rỗi như dân Y-sơ-ra-ên vậy. Xuất 7:5 “Khi nào Ta tra tay vào xứ Ê-díp-tô mà rút dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi giữa vòng người Ê-díp-tô, thì họ sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.”

II. CÁCH GIẢI CỨU:

1- Đức Chúa Trời làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng.

2- Đức Chúa Trời thi hành mười tai vạ.

“Chúng bèn tin, hiểu rằng Đức Giê-hô-va đã thăm viếng dân Y-sơ-ra-ên và thấy điều cực khổ của mình, chúng bèn cúi đầu và thờ lạy” (Xuất 4:31). Đây là một sự thăm viếng đặt biệt của Chúa để giải cứu họ ra khỏi cảnh nô lệ. Khi Chúa nói về thành Giê-ru-sa-lem, Ngài cũng đã dùng từ nầy: “Họ không biết lúc mình được thăm viếng”, tức là Chúa đã giảng dạy, đã thi hành phép lạ nhưng họ chống đối, không tin, để rồi cuối cùng Thành phố bị hủy diệt, dân bị giết chết và bị lưu đày.

Mỗi chúng ta phải nhận biết lúc nầy là lúc Chúa thăm viếng mình. Dầu chúng ta gặp khó khăn gì, thì nên nhận biết cánh tay của Chúa đưa ra để dạy dỗ, để thức tỉnh, để sửa trị, và đường lối đó giải cứu chúng ta khỏi sự nguội lạnh, sự yếu đuối, sự sống của xác thịt. Vì vậy, chúng ta phải nhận biết lúc mình được Chúa thăm viếng, đừng bỏ qua, đừng cứng lòng. Ôi, tôi sợ rằng quý ông bà anh chị cứ nghe mãi lời của Chúa mà không tin theo, thì chúng ta mất cơ hội quý báu được Chúa thăm viếng. Hiện nay chúng ta đã được cứu, các ông bà anh chị cũng như tôi phải nghĩ đến vô số đồng bào chúng ta chưa được cứu. Tôi tha thiết nhắn nhủ với các ông bà anh chị. Hãy cầu nguyện cho tất cả đồng bào của chúng ta trên khắp thế giới dầu bất cứ nơi nào, để họ được Chúa giải cứu trở thành con cái của Chúa như chúng ta.

Tóm lại, chúng ta thấy rằng Pha-ra-ôn càng chống đối, càng chuốc lấy cho mình sự sửa phạt mỗi lúc một nặng hơn. Để rồi cuối cùng, ông vẫn phải phóng thích dân Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, chúng ta đừng bao giờ chống lại Chúa, nhưng tuân hành mọi ý muốn của Ngài, để chúng ta được phước và Chúa dùng chúng ta để Truyền Bá Tin Lành và cứu đồng bào của chúng ta.

BÀI 6: BỐN ĐIỀU BIỆN BÁO CỦA PHA-RA-ÔN

Xuất 8:25-32; 10:24-29

Dân Y-sơ-ra-ên ở trong xứ Ê-díp-tô 400 năm. Vì cớ khổ sở quá đỗi không còn chịu đựng được nữa, họ đã kêu cầu Chúa và Ngài đã sai Môi-se đến giải cứu họ. Nhưng Pha-ra-ôn quyết định giữ dân Y-sơ-ra-ên lại từ đời nầy qua đời kia. Vì vậy, Chúa đã can thiệp bằng những tai vạ để buộc tội Pha-ra-ôn và quần thần phải phóng thích dân Y-sơ-ra-ên. Để khướt từ mạng lệnh của Chúa, trong bốn giai đoạn Pha-ra-ôn đã viện dẫn bốn lý do; Pha-ra-ôn chỉ về ma quỷ, xứ Ê-díp-tô chỉ vế thế gian, dân Y-sơ-ra-ên chỉ về chúng ta. Xem cách Pha-ra-ôn đối xử với dân Y-sơ-ra-ên, chúng ta hiểu được cách ma quỉ đối xử với loài người nói chung, và chúng ta là Hội Thánh của Đức Chúa Trời nói riêng.

I. HÃY ĐI DÂNG TẾ LỄ TRONG XỨ (Xuất 8:23):

Môi-se đã nhân Danh Chúa yêu cầu Pha-ra-ôn phóng thích dân Y-sơ-ra-ên. “Pha-ra-ôn bèn đòi Môi-se và A-rôn mà phán rằng: Hãy đi dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời các ngươi trong xứ”. Pha-ra-ôn muốn nói rằng: “Các ngươi muốn đi dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời thì cứ đi, nhưng không được ra khỏi xứ”. Pha-ra-ôn muốn dâng Y-sơ-ra-ên vẫn ở dưới quyền cai trị của ông.

Ma quỉ cũng nói như vậy với mọi người: Ông bà anh chị muốn theo Chúa cũng được, miễn là cứ ở dưới quyền cai trị của nó, phục tùng nó và thờ lạy nó nữa. Vì vậy, có nhiều người nói rằng tôi cũng thờ Trời, nhưng họ cũng thờ ma quỉ và phục tùng nó. Đó không phải là sự thờ phượng Chúa thật.

Trước đề nghị đó của Pha-ra-ôn, Môi-se quyết định không chịu. Ông nói: Nếu chúng tôi cứ ở đây mà thờ phượng Chúa theo nghi thức của chúng tôi, thì người Ê-díp-tô sẽ ném đá chúng tôi, vì họ không đồng ý sự thờ phượng của chúng tôi. Vì vậy, chúng tôi đòi hỏi phải được ra khỏi xứ nầy để có thể thờ phượng Đức Chúa Trời theo ý muốn của Ngài.

Chúng ta phải hiểu rằng: Mỗi chúng ta không thể nào thờ phượng Chúa cách xứng đáng nếu còn ở dưới tay ma quỉ, trong quyền hạn của nó. Pha-ra-ôn không chấp nhận những lời yêu cầu của Môi-se, nên Đức Chúa Trời đã gia thêm những tai họa để buộc Pha-ra-ôn phóng thích dân Y-sơ-ra-ên. Pha-ra-ôn sợ hãi bảo Môi-se:

II. HÃY ĐI VÀO ĐỒNG VẮNG MÀ ĐỪNG ĐI XA (Xuất 8:28)

“Ta sẽ tha các ngươi đi dâng tế lễ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi ở đồng vắng, nhưng đừng đi xa hơn”. Pha-ra-ôn tiên liệu rằng: Dân Y-sơ-ra-ên có thể đi xa khỏi biên giới xứ Ai-cập của ông, nhưng nếu họ không đi xa thì ông còn cơ hội theo đuổi để bắt họ trở lại làm nô lệ cho mình.

Ma quỉ cũng nói như vậy với chúng ta: Các ông bà anh chị có thể theo Chúa, nhưng đừng đi xa ma quỉ và thế gian, để một ngày nào đó trở lại làm nô lệ cho nó. Vì vậy, chúng ta biết rằng có một số Tín đồ đã được Chúa giải cứu, nhưng không đi xa khỏi thế gian và ma quỉ. Có người đã theo Chúa rồi mà trong nhà vẫn còn bàn thờ thần tượng, ăn của cúng ma quỉ, liên hệ với bạn bè xấu nết… Như vậy, chúng ta không thể nào làm sáng danh Chúa. Sự cứu rỗi của Chúa là sự cứu rỗi trọn vẹn chớ không phải là sự cứu rỗi nửa chừng. Ngài không muốn chúng ta liên hệ với ma quỉ. Ngài muốn chúng ta được hoàn toàn tự do.

Muối lấy ra từ nước biển, nhưng muối phải để xa nước, vì nếu để muối gần nước thì muối sẽ tan ra nước. Chúa Jêsus bảo chúng ta là muối. Chúa đã đem chúng ta ra từ giữa thế gian tội lỗi và chúng ta phải sống xa thế gian, xa tội lỗi chừng nào tốt chừng nấy. Nếu chúng ta sống gần những điều ấy chúng ta sẽ bị tan ra, như muối bị tan ra trong nước, nghĩa là chúng ta lại trở về đời sống tội lỗi như trước kia. Ông Lót là điển hình về đời sống thất bại đó. Ông Lót theo bác mình là Áp-ra-ham,bỏ thành U-rơ, xứ Canh-đê, vượt một đoạn đường rất xa vào tận xứ Ca-na-an để sống tại đó. Nhưng lòng của ông vẫn còn luyến tiếc những gì thuộc về trần gian, tội lỗi và ma quỉ. Vì vậy, ông Lót hướng mắt mình về Sô-đôm và Gô-mô-rơ, là hai thành phố giàu có, quyền thế, đông dân, đất đai phì nhiêu. Ông bỏ Áp-ra-ham vào ở trong đó. Rồi, cuối cùng, ông làm thị trưởng của Thành phố. Nhưng hậu quả thế nào chúng ta biết rồi!

III. HÃY ĐỂ ĐÀN ÔNG ĐI THÔI (Xuất 10:8-11):

“Không được vậy đâu, chỉ các ngươi là đàn ông phải đi hầu việc Đức Giê-hô-va vì là điều các ngươi đã xin. Đoạn, họ đuổi Môi-se và A-rôn khỏi trước mặt Pha-ra-ôn” (Xuất 10:11). Dầu Pha-ra-ôn đã hứa cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi, nhưng sau khi tai vạ qua đi thì rút lại lời hứa đó. Vì thế, Đức Chúa Trời đã thêm ba tai vạ nữa, mỗi lúc một nặng hơn. Bây giờ, Pha-ra-ôn và cả quần thần không chịu nỗi nữa, nên gọi Môi-se và A-rôn đến bảo rằng: Các ngươi là đàn ông hãy đi, nhưng đàn bà con trẻ hãy ở lại. Pha-ra-ôn hết sức khôn khéo, vì biết rằng dân Y-sơ-ra-ên không thể nào ra đi trong tình trạng như thế.

Hôm nay, ma quỉ cũng nói vào lỗ tai chúng ta như vậy: Anh có thể tin Chúa, nhưng vợ con anh không cần tin Chúa. Tôi biết có một vài người không lo cho gia đình tin Chúa, và tôi quả quyết nếu 100 người như vậy thì chỉ có một người còn đứng vững. Hoặc nếu người nào nói như vậy thì không phải là người thật lòng tin Chúa, vì tôi biết chắc rằng một người thật lòng tin Chúa, thì phải làm sao cho gia đình mình tin Chúa.

Chúa luôn luôn lo cho các gia đình. Ngài nói với Nô-ê: “Ngươi và cả nhà ngươi hãy vào tàu”. Người lại nói với Áp-ra-ham: “Ngươi hãy dạy dỗ nội nhà mình kính sợ Đức Chúa Trời”. Phao-lô bảo người đề lao: “Hãy tin Đức Chúa Jêsus thì ngươi và cả nhà đều sẽ được cứu rỗi” (Cong 16:31).

Trước đây hai tuần, bà Văn Thị Trí đã về Nước Chúa. Trong tờ di chúc của bà có ba điều bà nói với các con: 1/ Mẹ sẽ về nước Chúa, mẹ ước ao tang lễ của mẹ sẽ làm theo nghi thức của Tin lành. 2/ Mẹ ước ao thi hài của mẹ sẽ được chôn gần bà ngoại của các con. 3/ Mẹ ước ao gặp ba con và các con trong nước Chúa. Đọc lời di chúc đó, tôi khóc lên để cảm tạ, ca ngợi Chúa, vì trong hoàn cảnh như vậy bà chỉ lo nghĩ đến chồng con và ước ao gặp họ trong nước của Chúa. Đó là một Tín đồ thật.

IV. CÁC BẦY VẬT PHẢI ĐỂ LẠI (Xuất 10:26):

“Pha-ra-ôn bèn đòi Môi-se và phán rằng: Hãy đi hầu việc Đức Giê-hô-va, con trẻ các ngươi đi theo nữa, chỉ bầy chiên và bò ở lại thôi”. Đây là nước cuối cùng, vì cớ Chúa đã thêm cho nước Ê-díp-tô hai tai họa nữa. Nhưng đây là mưu toan thâm độc của Pha-ra-ôn, vì nếu dân Y-sơ-ra-ên đi mà tất cả bầy vật để lại thì lấy gì mà ăn, làm sao mà sống, nếu cố gắng lắm chỉ sau chừng một tháng họ cũng quay lại Ê-díp-tô mà thôi.

Chúng ta cũng có thể bị cám dỗ như vậy, tức là dâng hết gia đình cho Chúa, nhưng của cải không muốn dâng. Chúng ta để giành của cải lại cho ai? Nếu như thế, chúng ta đã bị ma quỉ lừa gạt để rồi một ngày nào đó chúng ta sẽ tiếc của mà trở lại với thế gian.

Đức Chúa Trời bảo ông bà Lót ra khỏi thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Ông bà và hai con cứ lần lừ mãi, đến nỗi thiên sứ phải nắm lấy tay kéo đi. Bà Lót vì quá tiếc của, quay lại ngó sau và biết thành tượng muối. Chúa Jêsus phán: “Của cải các ngươi ở đâu thì lòng các ngươi cũng ở đó”. Nếu chúng ta đặt của cải tại trần gian thì lòng chúng ta cũng ở đó. Nếu chúng ta dâng cho Chúa, dành của cải tại Thiên Đàng thì lòng chúng ta cũng hướng về Chúa.

Một buổi sáng Chúa nhật, Hội Thánh tổ chức lễ Báp-têm cho Tín đồ ở ngoài bờ sông. Một anh tín đồ đang từ từ đi Xuống nước. Nữa chừng anh chợt nhớ cái ví tiền còn trong túi nên lấy ra và nói:: “Ai giữ cái bóp tiền giùm tôi”. Nhân dịp đó, ông Mục sư nói cho vui, nhưng cũng dạy dỗ: “Anh chịu Báp-têm thì cái bóp cũng chịu Báp-têm như anh”. Có những người suống nước rất sâu, nhưng cái bóp tiền khô ran, nghĩa là dâng trọn đời sống cho Chúa nhưng tiền bạc để lại.

Chúng ta phải dâng tiền bạc và mọi sự cho Ngài. Vì vậy, chúng ta nghe Môi-se trả lời với Pha-ra-ôn: “Chính bệ hạ hãy cấp cho chúng tôi các con sinh và vật chi dùng làm của lễ thiêu đê dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi. Các bầy lục súc sẽ theo chúng tôi nữa, không còn để lại một móng chân nào, vì chúng tôi sẽ dùng mấy con thú đó mà hầu việc Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi. Chúng tôi biết vật chi dùng để thờ phượng Đức Giê-hô-va, chỉ khi nào sẽ đến nơi đó”. Nhưng Đức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, nên người không khứng cho dân Y-sơ-ra-ên đi. Pha-ra-ôn nói rằng: “Hãy lui ra khỏi ta cho rãnh. Khá giữ mình đừng thấy mặt ta nữa, vì ngày nào ngươi thấy mặt ta thì sẽ chết”. Môi-se bèn nói rằng: “Bệ hạ nói phải lắm, tôi chẳng hề thấy mặt bệ hạ nữa đâu”. (Xuất 10:25-29)

Đây là lời cuối cùng, dứt khoát của Môi-se. Môi-se không bao giờ còn thấy mặt Pha-ra-ôn. Hai bên không thể hòa hợp với nhau được, vì một bên là con cái Đức Chúa Trời, một bên là con cái của ma quỉ. Môi-se không sợ quyền lực của Pha-ra-ôn, vì cớ ông đứng với Đức Chúa Trời, cả quyền lực của Đức Chúa Trời ở với Môi-se (He 11:27).

Chúng ta là con cái Chúa thì phải hiểu rằng chúng ta không còn liên hệ gì với thế gian, ma quỉ, tội lỗi. Chúa bảo rằng: “Hãy ra khỏi giữa chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, thì Ta sẽ tiếp nhận các ngươi, các ngươi làm con trai, con gái Ta. Chúa Toàn năng phán vậy”.

Phao-lô viết: “Thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh và tôi với thế gian cũng vậy” (Ga 6:14b). Câu nầy có nghĩa là thế gian đóng đinh tôi và tôi cũng đóng đinh nó. Thế gian không con tương quan gì đối với tôi và tôi cũng không còn tương quan gì đối với thế gian. Như dân Y-sơ-ra-ên và Môi-se đã ra đi một lần đủ cả, không bao giờ trở lại!

Chúng ta hãy coi chừng, kẻo e chúng ta mắc mưu ma quỉ để rồi ngã dài. Nếu một người qua sông mà để mỗi chân trên một chiếc thuyền thì người đó sẽ lọt Xuống sông. Ma quỉ, thế gian, tỗi lỗi với Hội Thánh của Đức Chúa Trời không thể nào cùng đi một đường được, hai bên sẽ xa nhau mỗi lúc một hơn. Nếu chúng ta đi hàng hai, chúng ta sẽ lọt Xuống Địa ngục.

Trong các con vật mà Chúa dựng, có con dơi thật là lạ lùng. Con dơi có cánh như chim, nhưng khi xếp cánh lại, nó bò như chuột. Khi nào dơi bay lên gặp đàn chim thì nói rằng: “Tôi cũng là chim đấy”. Khi nào xếp cánh lại và gặp chuột thì lại nói: “Tôi cũng là chuột đây” Không bao lâu, dơi khám phá ra rằng dơi không phải là chim, và đàn chuột cũng biết dơi không phải là chuột. Chừng đó, bay lên trời chim cũng đuổi, chạy Xuống đất chuột cũng không tha. Đừng sống nửa bên này, nửa bên kia, nửa theo Chúa, nửa theo ma quỉ, nửa Đạo, nửa đời. Con người như thế không xứng đáng gì cả, không ai kính trọng. Người ta kính trọng con người có lập trường, con người có đường lối. Con người xứng đáng đi con đường nào thì hết lòng đi con đường đó.

Vì vậy, Tận trung là một trong những đức tánh quí nhất của con người. Phần thưởng của Đức Chúa Trời dành cho kẻ tận trung: “Khá giữ trung tín cho đến chết, rỗi Ta sẽ ban cho ngươi mão triều thiên của sự sống.”

Xin Chúa giúp chúng ta dứt khoát một lần đủ cả, bỏ thế gian, ma quỉ, tội lỗi phía sau mình. Nhờ đó, chúng ta sẽ tiến mãi trên linh trình cho đến khi gặp Chúa.

BÀI 7: LỄ VƯỢT QUA

Xuất 11:1-12:39

Trong dân Y-sơ-ra-ên có ba lễ quan trọng: Lễ Ngũ tuần, Lễ Vượt qua và lễ Lều tạm. Tất cả nam đinh hàng năm phải đến Giê-ru-sa-lem dự ba lễ nầy. Chúng ta học về Lễ Vượt qua.

I. MỤC ĐÍCH CỦA LỄ VƯỢT QUA:

Lễ Vượt qua kỉ niệm ngày dân Y-sơ-ra-ên được giải phóng khỏi xứ Ê-díp-tô, sau hơn 400 năm làm nô lệ tại đó. Vì vậy, đây là ngày vui mừng hơn hết trong đời sống dân Y-sơ-ra-ên. Lễ Vượt qua cũng đánh dấu tai vạ thứ mười mà Chúa giáng trên dân Ê-díp-tô, buộc vua và dâng đó phóng thích dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ.

Điều nầy cho chúng ta sự dạy dỗ: Chúng ta hết thảy đều làm nô lệ cho tội lỗi và ma quỉ, cũng như dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ cho dân Ê-díp-tô, và Đức Chúa Trời phải thi hành những phép lạ vĩ đại để giải phóng chúng ta ra khỏi tay của ma quỉ. Phép lạ lớn hơn hết là Chiên Con Lễ Vượt qua bị giết, tứ là Chúa Jêsus chịu chết trên Thập tự giá để cứu chúng ta ra khỏi tay ma quỉ.

II. CÁCH TỔ CHỨC LỄ VƯỢT QUA:

Mỗi gia trưởng phải làm thịt một chiên con. Nếu nhà ít người quá, ăn không hết thì làm chung với gia đình lân cận. Họ phải lấy huyết bôi trên mày cửa và hai cột cửa. Đêm đó, họ sẽ dùng dây lưng cột, chân mang giày, tay cầm gậy và ăn hối hả thịt chiên quay với bánh không men và rau đắng. Nếu thịt còn dư lại phải thiêu đi.

III. KẾT QUẢ CỦA LỄ VƯỢT QUA:

Trong đêm Lễ Vượt qua, thiên sứ đi tuần hành khắp xứ Ê-díp-tô. Khi đi ngang qua nhà của người Y-sơ-ra-ên, tức là không làm hại con trai đầu lòng hay súc vật của nhà đó. Nhưng nhà của người Ê-díp-tô từ vua cho đến dân, nhà nào không có bôi huyết của chiên con trên mày cửa và hai cột thì thiên sứ hủy diệt con trai đầu lòng hay là súc vật đầu lòng của nhà đó. Đêm đó, cả nước Ê-díp-tô nhà nào cũng có người chết. Vua Ê-díp-tô cho vời Môi-se đến và yêu cầu dân Y-sơ-ra-ên phải đi ra khỏi xứ của ông ngay lập tức.

Ma quỉ đang cầm quyền trên tất cả nhân loại, con người không có cách nào thoát khỏi tay của ma quỉ cho đến chừng nào Chiên Con của Đức Chúa Trời là Chúa Jêsus chịu chết trên Thập tự giá, đổ Huyết ra vì cớ chúng ta, thì ma quỉ mới buông tha chúng ta và chúng ta mới được tôn thờ và phục vụ Chúa.

Chúa dặn dò dân Y-sơ-ra-ên khi rời khỏi xứ Ê-díp-tô hãy xin người Ê-díp-tô những vật dụng bằng vàng, bằng bạc và quần áo. Dân Ê-díp-tô muốn cho dân Y-sơ-ra-ên mau ra khỏi xứ mình, nên họ đã cho tất cả những gì dân Y-sơ-ra-ên xin. Dân Y-sơ-ra-ên đã lột trần dân Ê-díp-tô. Tại sao Chúa cho phép như vậy?- Vì Đức Chúa Trời Chí công, Ngài phải xử đoán công chính cho cả hai dân tộc. Bây giờ dân Ê-díp-tô phải trả tiền công xứng đáng cho dân Y-sơ-ra-ên. Sau nầy, dân Y-sơ-ra-ên đã dâng những vàng bạc đó để xây dựng một Đền tạm đẹp đẽ cho Đức Chúa Trời.

Chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời có một chương trình tốt đẹp cho mọi người. Dầu chúng ta bị đối xử bất công đến đâu đi nữa, thì Đức Chúa Trời Chí công sẽ có một kế hoạch, một đường lối để trả công xứng đáng cho chúng ta, vì chính Ngài là Chủ tể của trời đất, muôn vật. Ngài không thể chịu được sự bất công, dầu loài người hành động cách nào theo sự gian ác của mình, thì một ngày nào đó họ phải trả công xứng đáng. Chúng ta cảm tạ Chúa, vì Đức Chúa Trời chúng ta là Đấng hết sức Công bình và Thánh khiết.

IV. Ý NGHĨA CỦA LỄ VƯỢT QUA:

Lễ Vượt qua của dân Y-sơ-ra-ên cũng có thể gọi là Lễ Vượt qua của chúng ta. Dân Y-sơ-ra-ên dự Lễ Vượt qua bằng cách giết chiên con, lấy huyết nó bôi lên mày cửa và hai cột để bảo đảm an ninh cho gia đình của mình. Lễ Vượt qua của chúng ta là ngày mà chúng ta hạ mình Xuống ăn năn tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình. Chúa Jêsus sẽ dùng chính Huyết của Ngài bôi xóa tội lỗi của chúng ta và mặc cho chúng ta chiếc áo công nghĩa. Chúng ta sẽ thoát khỏi sự chết mà bước vào sự sống vĩnh cửu với Chúa. Vì thế, ngày chúng ta ăn năn tin Chúa là ngày đáng kỷ niệm nhất, là sanh nhật thuộc linh của chúng ta.

Để chuẩn bị cho lễ Vượt qua, mỗi gia đình Y-sơ-ra-ên phải bắt một chiên đực không tì vít vào ngày mùng 10 tháng Giêng, và để giành cho tới ngày 14 tháng Giêng mới giết nó. Điều đó làm hình bóng về Chúa Jêsus. Ngài ở trong trần gian 33 năm để bày tỏ Ngài là Đấng hoàn toàn vô tội. Sau đó, Ngài chết trên thập tự giá và có đủ tư cách làm Cứu Chúa của chúng ta, và Huyết của Ngài có quyền tha thứ tội lỗi của chúng ta.

Cảm tạ Đức Chúa Trời, vì ngoài Ngài không có ai vô tội, nên không có Đấng Cứu thế nào khác mà chúng ta có thể tin cậy. Sau khi tin Chúa, nếu chúng ta không theo đuổi cuộc sống Thánh Khiết thì chúng ta mắc tội với Thân và Huyết của Chúa. Chúng ta dự Tiệc Thánh, ăn Bánh, uống Chén, là ăn uống sự chết của Chúa đối với mình. Từ đây, chúng ta không còn sống cho mình nữa, mà sống cho Chúa.

Chúa Jêsus đã sống cuộc đời Thánh Khiết trong suốt 33 năm để làm mẫu mực cho chúng ta. Chúa Jêsus muốn tái diễn cuộc đời của Ngài qua mỗi chúng ta, tức là Ngài sống cuộc đời của Ngài trong mỗi chúng ta, để chúng ta có thể sống như Ngài, không hề phạm tội. Vì vậy, Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Trời ngự trong chúng ta, là Chủ chúng ta, thân thể chúng ta là Đền thờ của Ngài.

Có một người chưa tin Chúa vẫn hút thuốc và uống rượu mỗi ngày, túi anh ta lúc nào cũng có sẵn một cái ống điếu để hút. Khi đã tin Chúa, anh nói với bạn bè: “Tôi đã tin Chúa, tôi không thể sống cuộc đời như trước kia nữa. Các anh đừng mời tôi uống rượu!”. Nhưng anh ta vẫn chưa bỏ được thuốc lá. Một Tín hữu nói với anh: “Thân thể của chúng ta là Đền thờ của Đức Chúa Trời, Chúa ngự tại đó. Anh hút thuốc lá, tôi không chịu nỗi làm sao Đức Chúa Trời chịu nỗi?”. Anh ta chịu cảm động ném ống điếu đi, và bây giờ đã sáu năm rồi, anh không hề hút thuốc.

Mỗi chúng ta hãy xét lại gia đình của mình và cả lòng mình nữa, thử xem có tội lỗi nào làm cho đời mình và gia đình mình không thể tiến được không thể phục vụ Chúa. Nếu có, chúng ta phải nhờ Chúa mà dứt bỏ tội lỗi.

Trong đêm lễ Vượt qua, sau khi bôi huyết trên mày và hai cột cửa thì hết thảy mọi người đều phải ở trong nhà cho đến sáng hôm sau. Lời đó quý báu hết sức cho chúng ta. Các ông bà anh chị có ở trong nhà có bôi quyết không? Các con của ông bà anh chị có ở trong nhà đó không? Tức là ở trong ơn cứu rỗi của Chúa. Tôi biết có nhiều người không qua tâm đến con cái, sáng chủ nhật muốn đi Nhà thờ thì đi, không đi cũng được. Chúng ta có trách nhiệm phải quan tâm đến mỗi người trong gia đình mình. Chúng ta phải ở trong nhà có bôi huyết và phải kiểm điểm mọi người trong nhà, phải ở trong nhà suốt đêm.

Người Do thái thuật lại câu chuyện nầy: Ngay trong đêm lễ Vượt qua, sau khi ăn uống xong rồi, một cậu con trai đầu lòng được người cha bảo vào giường nằm. Cậu trai hỏi: “Không biết nhà mình đã bôi huyết như Chúa dặn chưa?” Cha trả lời: “Con đừng có lo, cha đã bảo đầy tớ làm rồi” Cậu con trai nằm Xuống, nhưng vẫn không an lòng. cậu thưa với cha: “Không biết đầy tớ có nhớ lời cha dăn không?”. Để cho con an lòng, người cha dẫn đứa con ra ngoài chỉ cho nó thấy huyết bôi trên mày và hai cột cửa. Chẳng ngờ, khi ra đến cửa, hai cha con không thấy huyết đâu cả, vì người đầy tớ đã quên khuấy đi mất. Họ vội vàng lấy huyết chiên con bôi ngay trên mày và hai cột cửa.

Chúng ta hãy xét lại lòng mình Thử có huyết của Chúa Jêsus bôi sạch chưa? Kẻo e chúng ta tưởng mình là con cái Đức Chúa Trời, mà thật là chưa. Chúng ta tưởng mình có đức tin để được cứu mà thật ra là chưa. Rồi khi chúng ta nhắm mắt tưởng mình vào Thiên đàng, nhưng rồi lại phải Xuống Địa ngục. Vì vậy, các ông bà anh chị đã thật lòng tin nhận Chúa hay chưa? Có nhờ Huyết của Chiên Con lễ Vượt qua để thoát khỏi tay ma quỉ và trở nên con cái của Chúa chưa?

Nguyện lời của Chúa thức tỉnh mỗi chúng ta, để chúng ta không bao giờ bị lừa gạt, để chắc chắn lúc nào chúng ta qua đời chúng ta cũng vào vinh quang đời đời của Chúa và ngày nào chúng ta con sống tại trần gian, chúng ta hưởng được sự bình an của Ngài.

BÀI 8: CHÚA DẪN DẮT DÂN NGÀI

Xuất 13:17-14:31

Huyết của chiên con lễ Vượt qua đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên được bình an, trong khi toàn dân Ê-díp-tô chịu hình phạt. Do đó, Pha-ra-ôn và cả quần thần yêu cầu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ, nhờ đó, dân Y-sơ-ra-ên được giải phóng.

Thiết tưởng, không có giờ phút nào quan trọng cho dân Y-sơ-ra-ên bằng giờ phút được giải phóng sau 400 năm nô lệ. Nhưng điều khó khăn cho họ là không biết phải đi đường nào? Ai sẽ dẫn dắt?

Nỗi lo sợ của họ không đúng. Chúa đã giải cứu họ, Ngài lại bỏ họ bơ vơ sao? Không, sau khi giải cứu Ngài sẽ tiếp tục dẫn dắt họ vào tận Ca-na-an đượm sữa và mật. Mỗi người chúng ta đã được giải phóng khỏi tay ma quỉ và thế gian. Trên đường theo Chúa, chúng ta không biết điều gì sẽ xảy ra. Chúng ta nên nhớ rằng Chúa biết nhu cầu đó rồi. Chúa đã giải cứu chúng ta, và Ngài là Đấng dẫn dắt chúng ta.

I. CÁCH CHÚA DẪN DẮT DÂN Y-SƠ-RA-ÊN:

1- Bằng trụ mây và trụ lửa (Xuất 13:20-22).

“Vả, chúng đi khỏi Su-cốt, đóng trại tại Êtam, ở cuối đầu đồng vắng. Đức Giê-hô-va đi trước dân sự, ban ngày ở trong một trụ mây để dẫn đường đi, ban đêm ở trong một trụ lửa để soi sáng cho chúng, hầu cho đi được luôn ngày và đêm. Ban ngày trụ mây không bao giờ cách xa dân sự, trụ lửa ban đêm cũng vậy”.

Đức Chúa Trời hiển hiện trong trụ mây và trụ lửa để dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên. Trụ mây đi trước dẫn đường và che họ khỏi nắng. Ban đêm có trụ lửa soi sáng để họ có thể đi trọn đêm và tránh được thú dữ, rắn, bọ cạp là những loài có nhiều trong đồng vắng. Vì thế, dân Y-sơ-ra-ên được an toàn trọn vẹn trong những năm tháng dong dài trong sa mạc mà họ chưa từng đi qua.

Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên cũng là Đức Chúa Trời của mỗi chúng ta. Trụ mây và trụ lửa của chúng ta hôm nay là Kinh Thánh và Thánh linh để dẫn dắt chúng ta đi trên con đường mà chúng ta chưa từng đi. Trên linh trình, chúng ta không thể biết được ngày mai sẽ xảy ra điều gì và chắc chắn có nhiều cạm bẫy, có nhiều hiểm nguy mà kẻ thù là ma quỉ luôn luôn rình rập để làm hại chúng ta. Nhưng Chúa đã đi trước, vì Ngài đã biết trước. Nếu chúng ta muốn đi theo Chúa, chúng ta phải đọc, suy gẫm, làm theo Lời Kinh Thánh và nhờ Thánh linh dạy dỗ, soi sáng. Theo Chúa, chúng ta sẽ được hưởng an ninh trọn vẹn.

2- Chúa dẫn họ đi con đường xa (Xuất 13:17-18).

“Vả, khi Pha-ra-ôn tha dân Y-sơ-ra-ên đi, Đức Chúa Trời không dẫn dân ấy đi theo đường về xứ Phi-li-tin là đường gần hơn hết, vì Ngài nói rằng: E dân ấy thấy trận mạc, dời lòng trở về xứ Ê-díp-tô chăng? Cho nên Đức Chúa Trời dẫn chúng đi vòng theo đường trong đồng vắng, về hướng biển đỏ”.

Dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu từ chỗ họ ở là Giôsen và đi đến Su-cốt. Sau đó, đến Êtam và đi ngang qua Biển Đỏ. Tại sao Đức Chúa Trời dẫn họ đi con đường xa và khó khăn như thế? – Vì Ngài muốn họ không bao giờ có thể quay trở lại Ê-díp-tô nữa.

Chúa đã dẫn chúng ta đi con đường khó. Nhiều khi chúng ta hỏi Chúa tại sao như vậy? Đành rằng Chúa có thể dẫn chúng ta đi con đường dễ dàng, nhưng vì chúng ta thường bị cám dỗ muốn trở lại thế gian, làm nô lệ cho thế gian một lần nữa, nên Ngài dẫn chúng ta đi con đường khó giống như Y-sơ-ra-ên đi qua biển đỏ, để không bao giờ trở lại được. Vì vậy, chương trình của Chúa rất tốt đối với chúng ta. Ngài luôn luôn đưa chúng ta vào con đường rất khó, để tại đó chúng ta kinh nghiệm được Ân điển và Quyền năng của Ngài. Ngài cũng phá hết tất cả con đường đã đi qua, để chúng ta không thể trở lại được.

II. CHÚA DẮT DÂN Y-SƠ-RA-ÊN QUA BIỂN ĐỎ. (Xuất 14:1-9)

Dân Y-sơ-ra-ên ra đi với khoảng trên dưới hai triệu người và bao nhiêu hành lý, chiên bò, lừa, lạc đà của 400 năm sống tai Ê-díp-tô. Cuộc hành trình đó thật khó khăn và chậm chạp. Bây giờ, trước mặt họ là biển đỏ mênh mông mà họ lại không có phương tiện nào để vượt qua.

1- Quân đội Ê-díp-tô đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên (14:1-9). Pha-ra-ôn đoán rằng dân Y-sơ-ra-ên vừa lạc đường, vừa đói khổ ở trong đồng vắng, không thể nào đi đâu được. Đồng thời, ông nghĩ rằng để gần hai triệu dân nô lệ ra đi trong khi bao công việc dở dang không ai làm là một điều vô lý. “Pha-ra-ôn bèn thắng xe và đem dân mình theo. Người đem sáu trăm xe thượng hạng và hết thảy xe trong xứ Ê-díp-tô, trên mỗi xe điều có chiến binh cả. Đức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn, vua nước Ê-díp-tô cứng lòng đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên, nhưng dân nầy đã ra đi một cách dạn dĩ. Người Ê-díp-tô và cả ngựa xe, lính kỵ cùng toán binh của Pha-ra-ôn điều đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên; gặp đương đóng dồn nơi bờ biển, gần Pha-ha-hi-rốt, ngang qua Ba-anh Sê-phôn” (Xuất 14:6-9).

Như vậy, chúng ta thấy dân Ê-díp-tô không bao giờ muốn phóng thích dân Y-sơ-ra-ên. Họ tìm phương bắt lại để làm nô lệ cho họ mãi mãi. Đó là chương trình của ma quỉ. Ma quỉ không bao muốn buông tha chúng ta khỏi tay nó. Dầu chúng ta nhờ Huyết của Chúa Jêsus trên Thập tự giá được tha tội, được phóng thích, thì nên nhớ rằng ma quỉ không để chúng ta đi một cách an lành, dễ dàng, nhưng lúc nào nó cũng muốn tìm trăm phương, ngàn kế để bắt chúng ta trở lại làm nô lệ cho nó. Biết như vậy để chúng ta chuẩn bị sẵn sàng mà không bao giờ ngạc nhiên khi phải gặp điều nầy.

2- Dân Y-sơ-ra-ên sợ hãi (14:10-12). “Vả, khi Pha-ra-ôn đến gần, dân Y-sơ-ra-ên ngước mắt lên, thấy dân Ê-díp-tô đuổi theo, bèn lấy làm hãi hùng, kêu va Đức Giê-hô-va. Chúng lại nói cùng Môi-se rằng: Xứ Ê-díp-tô há chẳng có nơi mộ phần, nên nỗi người mới dẫn chúng tôi vào đồng vắng đặng chết sao? Người đưa chúng tôi ra khỏi xứ Ê-díp-tô để làm chi? Chúng tôi há chẳng có nói cùng người tại xứ Ê-díp-tô rằng: Để mặt chúng tôi phục dịch dân Ê-díp-tô, vì thà rằng phục dịch họ còn hơn phải chết nơi đồng vắng?”.

Dân Y-sơ-ra-ên đứng vào thế cùng, phía trước họ là Biển Đỏ không thể nào vượt qua được; phía sau là đạo quân Pha-ra-ôn họ không thể nào chống cự nỗi. Nhìn tới không được, nhìn lui không được, bên hữu không được, bên tả không được. Bây giờ nhìn dâu? – “Sự tiếp trợ tôi đến từ Đức Giê-hô-va”. Chỉ còn nhìn lên trời kêu cầu với Chúa mà thôi.

Ôi, tôi biết rằng trong đời sống của mỗi chúng ta, lắm lúc Chúa đặt chúng ta vào hoàn cảnh như dân Y-sơ-ra-ên. Ngay lúc đó chúng ta kêu lên: “Sự tiếp trợ tôi đến từ Đức Giê-hô-va”. Đáng lẽ dân Y-sơ-ra-ên cứ đứng vững vàng và cầu xin với Chúa, vì biết rằng Chúa đã giải thoát họ qua mười tai vạ đổ Xuống xứ Ê-díp-tô, thì Chúa nỡ nào bỏ họ. Nhưng họ không nhìn thấy Chúa ở với họ qua trụ mây và trụ lữa. Họ chỉ thấy phía trước là Biển Đỏ, phía sau là đạo quân của xứ Ê-díp-tô, bên hữu, bên tả là núi. Vì thế họ kêu la, lằm bằm với Môi-se: “Cứ để chúng tôi làm nô lệ cho đến chết”. Họ không tiếc lời oán trách Môi-se. Dĩ nhiên, họ cũng oán trách Chúa nữa.

Chúng ta cũng vậy, đôi khi chúng ta nhìn bốn phía, thấy toàn là thù nghịch, chúng ta như ở trong thế cùng, không lối thoát và chúng ta oán trách Chúa. Nhưng nếu chúng ta nhìn kỹ, chúng ta sẽ thấy trụ mây và trụ lửa là sự hiên diện của Đức Chúa Trời ở giữa chúng ta. Nếu chúng ta ôn lại những gì Chúa đã làm cho mình thì có gì mà phải hãi hùng, phải than thở. Chúng ta thật yếu đuối quá!

3- Chúa an ủi dân sự (14:13-15). “Môi-se đáp cùng dân sự rằng: Chớ sợ chi, hãy ở đó rồi ngày nay xem sự giải cứu Đức Giê-hô-va sẽ làm cho các ngươi, vì người Ê-díp-tô mà các ngươi ngó thấy ngày nay, thì chẳng bao giờ ngó thấy nữa. Đức Giê-hô-va sẽ chiến cự cho, còn các ngươi cứ yên lặng. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Sao ngươi kêu van Ta? Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên cứ đi”.

a/ “Chớ sợ chi, hãy ở đó”. Trong hoàn cảnh nguy khốn này, thì chỉ một mình Đức Chúa Trời Toàn năng, Toàn ái, Toàn tri mới có thể bảo dân Y-sơ-ra-ên: “Chớ sợ chi, hãy ở đó”, chờ xem điều Chúa làm cho. Chúa sẽ thực hiện quyền năng kỳ diệu nhất cho dân Ngài trong hoàn cảnh khốn nạn hơn hết đó.

Chúng ta phải hiểu rằng dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ 400 năm tại xứ Ê-díp-tô, họ không biết được Chúa của mình là thế nào. Nếu có biết được thì chỉ do tổ họ được nghe tổ phụ thuật lại những điều Đức Giê-hô-va đã làm, nhưng mắt họ chưa thấy rõ ràng quyền năng của Chúa. Vì thế, Chúa phải đưa họ vào một thế bí để Ngài thực hiện những quyền năng lớn lao hơn hết, hầu cho đức tin của họ được lớn lên vững vàng.

Mỗi chúng ta ngày nay cũng phải nhờ cậy Chúa và không sợ hãi. Chúng ta hãy ở trong vị trí của mình, ở trong Chúa Jêsus, ở trong quyền năng vô cùng của Ngài như ở trong trụ mây và trụ lửa, rồi chúng ta sẽ thấy Chúa làm gì cho chúng ta.

b/ “Người Ê-díp-tô mà các ngươi ngó thấy ngày nay, thì chẳng bao giờ ngó thấy nữa”. Tại sao đạo quân hùng dũng của người Ê-díp-tô đang đuổi theo để bắt họ trở lại thì chẳng bao giờ thấy nữa? –Vì Chúa sẽ tận diệt quân Ê-díp-tô trong Biển Đỏ, bởi không ai đứng nổi trước mặt Đức Chúa Trời.

c/ “Đức Giê-hô-va sẽ chiến cự cho, còn các ngươi cứ yên lặng”. Dân Y-sơ-ra-ên cứ yên lặng, không thể vượt qua Biển Đỏ, không thể đương đầu với dân Ê-díp-tô. Nhưng chính Đức Chúa Trời đứng ta chiến cự cho họ. Vì ai chiến cự với dân sự Chúa là chiến cự với chính mình Ngài. Và ngay trong đêm đó, trụ mây và trụ lửa vốn đi trước dân sự để soi sáng che nắng, dẫn đường đã lộn lại phía sau, để chặn đường quân Ê-díp-tô và khiến họ không thể tiến gần dân Y-sơ-ra-ên được.

Halêlugia, Chúa biết mọi sự và Chúa làm những điều vượt khỏi sự suy nghĩ của dân Y-sơ-ra-ên. Dân Y-sơ-ra-ên dầu đứng trong thế cùng như chiên con trước mặt chó sói, nhưng chó sói không làm gì được. Hội Thánh của Chúa trải qua các đời cũng như vậy. Ma quỉ, tội lỗi, thế gian lúc nào cũng sẵn sàng làm hại Hội Thánh của Chúa. Nhưng Hội Thánh của Chúa suốt 20 Thế kỷ vẫn tồn tại, phát triển và Chúa bảo rằng sẽ cứ như vậy cho tới ngày Chúa từ trời trở lại. Cảm tạ Chúa, đó làm niềm an ủi và khích lệ mỗi chúng ta.

d/ “Sao ngươi kêu van Ta? Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên cứ đi”. Chữ “cứ đi” không có nghĩa là đi ngay, nhưng chuẩn bị tinh thần để đi, đi qua Biển Đỏ. Đây là mạng lệnh cũng chỉ một mình Chúa nói được thôi, không có một Thống soái nào ở trần gian nầy có thể nói được như thế.

Nếu chúng ta học Kinh Thánh thì thấy rằng Đức Chúa Trời không bao giờ cho chúng ta thấy con đường suốt cả đời mình đâu, nhưng Chúa mở cho chúng ta từng giai đoạn một, hoặc chúng ta đến bước này thì Chúa mở bước khác. Chúng ta cứ đi, không biết con đường xa đến chừng nào, nhưng chỉ biết một điều là cứ đi theo sự dẫn dắt của Chúa.

4- Chúa rẽ biển đỏ cho dân Y-sơ-ra-ên (14:21-22). “Vả, Môi-se giơ tay ra trên Biển, Đức Giê-hô-va dẫn trận gió đông đến đùa biển lại cả đêm. Ngài làm cho biển bày ra khô, nước phân rẽ. Dân Y-sơ-ra-ên Xuống biển đi như trên đất cạn, còn nước làm thành một tấm vách ngăn bên hữu và bên tả”.

Chúng ta cảm tạ Đức Chúa Trời vì Ngài đã mở một con đường trong biển, một con đường qua nước sâu để cho dân Ngài có thể đi qua. Dân Y-sơ-ra-ên đã kinh nghiệm một việc mà suốt đời họ không bao giờ ngờ. Họ kinh nghiệm được quyền năng đó là nhờ Chúa đưa họ vào cái thế “vô sở Xuấtất”.

Chúng ta ngày nay cũng vậy. Đức Chúa Trời đặt chúng ta vào một chỗ khó khăn, nguy hiểm hơn hết, không phải là tàn nhẫn đối với chúng ta đâu, nhưng để Ngài có cơ hội bày tỏ quyền năng, vô cùng, và tình thương vô đối của Ngài đối với chúng ta. Nếu không có hoàn cảnh khó thì không có phép lạ, nếu không có phép lạ thì không bao giờ nâng đỡ, an ủi và thêm đức tin cho chúng ta trên con đường theo Ngài.

5- Chúa lấp Biển Đỏ, chôn vùi dân Ê-díp-tô (14:23-31). “Người Ê-díp-tô bèn đuổi theo, hết thảy ngựa, binh xa cùng lính kỵ của Pha-ra-ôn đều theo xuống giữa biển. Vả, đến canh sáng, Đức Giê-hô-va ở trong lòng trụ mây và lửa nhìn ra thấy trại quân Ê-díp-tô, bèn làm cho họ phải rối loạn. Ngài tháo bánh xe của họ, khiến dẫn dắt cực nhọc. Người Ê-díp-tô bèn nói với nhau rằng: Ta hãy trốn khỏi dân Y-sơ-ra-ên đi, vì Đức Giê-hô-va thế dân đó mà chiến cự cùng chúng ta. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy giơ tay ngươi ra trên biển, nước sẽ trở lấp người Ê-díp-tô, binh xa cùng lính của chúng nó. Môse bèn giơ tay mình ra trên biển, lối sáng mai, nước trở lấp, phủ đáy biển lại, người Ê-díp-tô chạy trốn bị nước chận. Vậy, Đức Giê-hô-va xô họ xuống giữa biển”.

Con đường ở lòng Biển Đỏ không phải cho dân Ê-díp-tô đi. Con đường đó chỉ dân sự của Ngài mới đi được. Đó là con đường đức tin. Vì thế, khi đạo quân của người Ê-díp-tô Xuống biển, thì Chúa gây rối loạn để họ phải ở lâu dưới biển, chờ cho người Y-sơ-ra-ên cuối cùng lên rồi nước tức thì lấp lại.

Ôi, chúng ta thấy rằng những kẻ thù của Chúa không đứng nỗi trước mặt Ngài. Đáng thương hại cho họ. Biển Đỏ là con đường sống cho dân Y-sơ-ra-ên, lại là mồ chôn của đạo quân Ê-díp-tô. Trong Biển Đỏ không có một người Y-sơ-ra-ên nào bị chết, nhưng cũng không có người Ê-díp-tô nào sống xót. Đức Chúa Trời tể trị mọi sự. Ngài khiến mọi sự hiệp lại làm ích lợi cho kẻ yêu mến Ngài, nhưng Ngài cũng khiến mọi sự hiệp lại lại hại cho kẻ nào chống cự Ngài. Vì vậy, chúng ta phải cảm tạ Chúa qua sự dẫn dắt kỳ diệu đối với Hội Thánh Ngài gần hai ngàn năm qua. Chắc chắn Chúa sẽ còn bảo vệ, giải cứu, lo liệu cho chúng ta.

– KẾT LUẬN:

Dân Y-sơ-ra-ên bỏ Ê-díp-tô ra đi và không hề trở lại. Họ dướt khoát với Ê-díp-tô, bỏ xứ nô lệ lại đằng sau mình và hướng về Ca-na-an, là xứ đượm sữa và mật.

Chúng ta cũng vậy, đừng bao giờ muốn trở lại con đường của ma quỉ, của thế gian, của tội lỗi. Một lần dứt khoát ra đi không hề trở lại, không nhìn lại phía sau. Và đó là thái độ của một người tin Chúa, theo Chúa để tôn thờ, phục vụ Ngài. Chúng ta được giải cứu thế nào thì cũng được bảo vệ, hướng dẫn thể ấy.

Chúng ta ôn lại một vài nhân vật trong Kinh Thánh để thấy Chương trình kỳ diệu của Đức Chúa Trời:

1- Đa-vít. Đa-vít bị Sau-lơ săn đuổi để giết cho kỳ được. Đa-vít có lần phải thất vọng mà nói rằng: “Chắc Ta sẽ chết trong tay của Sau-lơ”. Nhưng kết quả ngược lại, không phải Đa-vít chết trong tay của Sau-lơ, mà trái lại Sau-lơ đã chết và Đa-vít lên ngôi cai trị thế cho Sau-lơ. Con người không thể hiểu được ai sẽ ra thể nào, chỉ có một mình Chúa đã dẫn chúng ta đi con đường tốt đẹp như Ngài đã dẫn Đa-vít”

2- Ê-li. Ê-li đã tận tâm phục vụ Chúa, muốn đem dân Y-sơ-ra-ên trở về với Ngài. Nhưng hoàng hậu Giê-sa-bên là một người đàn bà đại ác, đã tìm phương giết hết các Tiên tri của Đức Chúa Trời. Vì vậy, bà thề rằng: “Nếu ngày mai ta không giết được Ê-li, nguyện các thần đãi ta cách nặng nề”. Ê-li sợ. Ông chạy trốn và thưa rằng: “Xin cho con chết”. Nhưng rốt lại, Giê-sa-bên bị giết một cách sỉ nhục, bị giày đạp dưới chân, bị chó ăn thịt và Ê-li được cất lên trời.

Những khí giới mà người ta rèn để chống lại những kẻ yêu mến Chúa sẽ bị bẻ gãy. Chúa bênh vực đầy tớ của Ngài và bảo vệ họ. Vì vậy, chúng ta không sợ hoàn cảnh khó khăn, thuận hay nghịch, mà sợ rằng mình không yêu mến Chúa. Nguyện Chúa cho mỗi chúng ta hết lòng yêu Ngài, tận tâm theo Ngài.

BÀI 9: NHỮNG BƯỚC ĐẦU VÀO SA MẠC

Xuất 15:1-27

Hành trình của dân Y-sơ-ra-ên từ Ê-díp-tô đến Ca-na-an chỉ về hành trình của chúng ta theo Chúa. Mỗi bước đường họ đi cũng là mỗi bước đường đức tin của chúng ta theo Chúa hàng ngày.

1- Dân Y-sơ-ra-ên được giải cứu khỏi Ê-díp-tô chỉ về chúng ta được giải cứu khỏi ma quỉ, tức là khỏi nô lệ mà đến tự do, từ tối tăm qua sáng láng.

2- Dân Y-sơ-ra-ên vượt qua Biển Đỏ chỉ về đời sống của chúng ta chịu báp têm một lần đủ cả, chết đối với thế gian, ma quỉ, tội lỗi và sống cho Đức Chúa Trời (ICo 10:1-2).

3- Dân Y-sơ-ra-ên vào sa mạc là chỉ về hành trình của chúng ta tiếp tục theo Chúa cho đến khi gặp Ngài (Ro 15:4).

I. ĐẾN MA-RA (Xuất 15:22-26):

Sau khi dân Y-sơ-ra-ên qua Biển Đỏ, lên bờ bên kia rồi, họ nhìn lại thấy cả đạo quân của Pha-ra-ôn bị chìm dưới Biển Đỏ vì biển lấp lại. Thế là toàn dân Y-sơ-ra-ên lúc bấy giờ- vào khoảng trên dưới hai triệu người- đồng hát bài ca tôn đại Chúa (Xuất 15:1-21). Họ ca ngợi Đức Chúa Trời quyền năng đã làm việc lớn lao mà họ chưa từng thấy bao giờ. Sau đó, họ bắt đầu cuộc hành trình vào đồng vắng, tức là hành trình theo Chúa. Mỗi chúng ta là những người theo Chúa, chúng ta theo dõi cuộc hành trình của dân Y-sơ-ra-ên để biết rằng cuộc hành trình của chúng ta có nhiều điểm giống như họ.

Môi-se dẫn dân Y-sơ-ra-ên vào đồng vắng Su-rơ. Họ đi trọn ba ngày, nhưng không tìm được nước, cuối cùng họ tìm được nước tại Ma-ra, nhưng nước đắng quá uống không được. Dân sự bèn oán trách Môi-se. Môi-se kêu van với Đức Chúa Trời, xin Ngài cứu giúp họ.

Chúng ta thử hỏi: Vì sao Đức Chúa Trời lại đem họ vào đồng vắng? –Vì Chúa muốn họ có cơ hội để học biết về Chúa nhiều hơn, nhận biết quyền năng của Ngài, hầu cho đức tin của họ được lớn mạnh và chuẩn bị vào Ca-na-an.

Vì vậy, sự thử thách đầu tiên của họ trong sa mạc là không có nước. Họ đã bỏ Ê-díp-tô lại phía sau và không thể trở lui được, vì Biển Đỏ đã lấp lại, nhìn phía trước, Ca-na-an còn xa lắm. Bây giờ, ở giữa đồng vắng hui quạnh không có bánh ăn, nước uống, họ cảm thấy hết sức cô đơn, buồn bã. Đáng lẽ trong tình trạng đó, họ quỳ gối Xuống xin Chúa giải cứu họ, vì họ đã thấy mười phép lạ mà Chúa làm trong xứ Ê-díp-tô và phép lạ gần nhất là Chúa rẽ Biển Đỏ ra cho họ đi ngang qua. Nhưng họ chưa hiểu biết Đức Chúa Trời quyền năng và chúng ta phải nhắc lại điều nầy: Chúa phải dùng sự khó khăn mỗi lúc một nhiều hơn, đến nỗi có thể nguy hiểm cho mạng sống họ nữa, nhờ đó, Chúa bày tỏ quyền năng và ân điển của Ngài, khiến cho họ hiểu biết Chúa rõ ràng hơn.

Ngày hôm nay, trên con đường theo Chúa, Ngài cũng đưa chúng ta vào hoàn cảnh cô đơn, không thể nhờ cậy mình hay bất cứ ai, mà phải hoàn toàn nhờ cậy Chúa. Đồng vắng là trường cô đơn, trường hiu quạnh của dân Đức Chúa Trời.

Môi-se trước khi được Chúa trọn dụng lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô mà đưa và Ca-na-an, ông phải ở 40 năm trong đồng vắng. Đó là trường để Chúa huấn luyện, đào tạo Môi-se có đủ khả năng, ân tứ, kinh nghiệm làm công tác vĩ đại mà Chúa giao cho.

Phao-lô sau khi gặp Chúa trên con đường Đa-mách, ông đã vào sống trong sa mạc Ảrập ba năm để Chúa đào tạo ông trở nên một Giáo sĩ, một sứ đồ nỗi tiếng cho đến ngày nay.

Mỗi chúng ta là người theo Chúa, phải từng trải bước con đường đồng vắng, tức là kinh nghiệm cuộc đời cô đơn, hiu quạnh. Khi chúng ta tin Chúa thì bắt đầu cô đơn giữa láng giềng, bạn bè, thân thuộc. Ai nấy nhìn chúng ta bằng con mắt lạnh lùng, muốn ruồng bỏ, muốn xa lánh. Trước kia họ yêu quí chúng ta, bây giờ họ xem khinh chúng ta. Hết thảy chúng ta đều ở trong cô đơn, hiu quạnh như dân Y-sơ-ra-ên ở giữa sa mạc. Chúa đã đẹp lòng đưa chúng ta vào cảnh đó. Chương trình của Đức Chúa Trời là mỗi chúng ta muốn theo Chúa phải vác Thập tự giá, cô đơn, hiu quạnh và phải bị ruồng rẫy, bị bạc đãi, bị sĩ nhục, bị vu oan. Chúng ta đã nghe: “Đức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ rằng: Nếu ai muốn theo Ta, thì hãy liều mình, vác thập tự giá mình mà theo Ta” (Mat 16:24-25). “Vác thập tự giá mình”có nghĩa là mỗi người phải từ chối mình, vác Thập tự giá theo Chúa cũng như chính mình Chúa đã vác Thập tự giá. Và Chúa bảo rằng: “Nếu ai không vác Thập tự giá thì không đáng làm môn đồ của Chúa”nghĩa là không thể theo Chúa được.

Mat 10:35-36 chép: “Ta đến để phân rẽ con trai với cha, con gái với mẹ, dâu với bà gia, và người ta sẽ có kẻ thù nghịch là người nhà mình”. Một số Tín đổ thắc mắc: Tại sao Chúa đến để tạo sự phân rẽ như thế?- Không có gì lạ cả, vì nếu mình tin Chúa thì tất cả mọi người xem mình là kẻ thù, nếu người đó là dâu thì bị phân rẽ với bà gia, nếu người đó là rễ thì bị phân rẽ với cha vợ, nếu là con gái thì bị phân rẽ với mẹ, nếu là con trai thì bị phân rẽ với cha. Ngay trong nhà mình thì ai đó đều tìm thấy có kẻ thù mình. Không phải Chúa làm ra tình trạng đó đâu, nhưng vì một số người không chịu tin Chúa. Chúa phán: “Ai yêu cha mẹ hơn Ta thì không đáng cho Ta, ai yêu con trai hay là con gái hơn Ta thì cũng không đáng cho Ta” (Mat 10:37-38). Đành rằng mỗi chúng ta ngồi đây là người con yêu thương cha mẹ, là vợ yêu thương chồng, là chồng yêu thương vợ, là cha mẹ yêu thương con, là em yêu thương anh chị, hay là ngược lại. Nhưng chúng ta không được phép yêu thương ai hơn Chúa Jêsus, Ngài là Đấng đáng yêu hơn hết. Chúng ta có quyền yêu mọi người nhưng không thể đặt ai ngang hàng với Chúa Jêsus. Chúng ta phải hết lòng, hết trí, hết sức mà kính mến, tôn thờ và phục vụ Ngài. Lắm khi chúng ta đặt loài người lên trên Đức Chúa Trời, và kết quả thật là tai hại.

Khi A-đam phạm tội là A-đam muốn đánh hạ Đức Chúa Trời Xuống và đặt mình trên ngôi cao cả. Chúng ta ngày nay có thể như vậy. Chúng ta đem mình hay người khác đặt vào cái chỗ của Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta phải quyết định một lần đủ cả, phải vác Thập tự giá mình mà theo Chúa, nghĩa là chỉ có Chúa đáng theo, chỉ có Chúa đáng tôn thờ, chỉ có Chúa đáng phục vụ và hết thảy chúng ta sẵn sàng trả mọi giá để theo Ngài, dầu phải cô đơn, dầu phải hiu quạnh, dầu phải bị phân rẽ với những người thân yêu của mình. Tất cả những người theo Chúa đều phải trải qua con đường đó.

Đời xưa có một vị Tiên tri nỗi tiếng tên là Ê-li. Một ngày nọ, ông nằm dưới gốc cây và xin Chúa cho chết. Tại sao? –Vì ông cảm thấy cô đơn quá. Ông than thở: dân Y-sơ-ra-ên đã lìa bỏ Chúa, phá hủy các Bàn thờ của Ngài, bội giao ước Ngài, dùng gươm giết các tiên tri của Ngài, chỉ còn một mình tôi, nhưng họ cũng tìm phương cất lấy mạng sống của tôi. Dầu vậy, Chúa biết hết mọi sự, Ngài không để ông quá sức chịu đựng. Chúa đã an ủi, thêm ơn cho ông. Ngài đã khiến cho bà Giê-sa-bên bị giết chết và Ê-li được cất lên trời. Theo Chúa, chúng ta sẽ không bao giờ hối tiếc.

Sundar Singh là người được sinh ra trong dòng quý tộc của Ấn độ giáo và ông rất sùng đạo như tổ phụ đã sống. Khi ông học trong trường Tin lành, được người ta biếu một quyển Tân ước, Sundar Singh đem về nhà đọc. Ban đầu ông chống đối đến nỗi bỏ Kinh Thánh vào trong lò lửa mà đốt rụi. Nhưng sau một thời gian, ông thấy Ấn độ giáo không mang lại cho mình sự thỏa mãn tâm linh, Sundar Singh bắt đầu đọc Kinh Thánh và tin Chúa. Việc ông tin Chúa làm cho gian đình ông ngạc nhiên lắm. Cha mẹ hỏi ông: “Trước đây mấy tháng, chính con đốt Kinh thánh, mà tại sao bây giờ con lại tin theo Chúa Jêsus?”. Ông trả lời: “Con đã tìm thấy trong Chúa Jêsus những điều con cần trong đời sống”. Cha mẹ ông bèn tìm đủ mọi cách ngăn trở và phá tán đức tin của ông nhưng không được. Cuối cùng, cha mẹ phải đuổi Sundar Singh ra khỏi nhà. Cha mẹ Sundar bảo: “Trước khi con ra khỏi nhà hãy ăn một bữa cuối cùng với cha mẹ”. Ông ngồi lại ăn bữa cơm chiều, sau đó lên xe lữa đến nhà một người bạn để tạm trú. Nhưng khi đến nơi, Sundar ngã vật người ra, gần chết. Một vị bác sĩ được mời đến liền, bác sĩ cho biết đã hết phương cứu chữa, vì ông đã bị trúng thuốc độc. Sundar hiểu rằng cha mẹ ông đã bỏ thuốc vào thức ăn để đầu độc ông trước khi ông ra đi. Vị bác sĩ nói với người bạn của Sundar: “Tôi không thể làm gì cả. Sáng mai tôi sẽ đến dự lễ an táng”. Đêm đó, Sundar Singh cầu nguyện thiết tha với Chúa: “Con sẵn sàng về với Chúa, nhưng nếu đẹp ý Chúa, xin cho con sống để con có thể làm chứng về ơn cứu rỗi kỳ diệu của Ngài”. Sáng hôm sau, bác sĩ đến thì gặp chíng Sundar Singh ra đón tại cửa nhà.

Chúng ta là những người theo Chúa như dân Y-sơ-ra-ên, như Sundar Singh cũng phải sẵn sàng đi con đường Thập tự giá và sẵn sàng mang lấy Thập tự.

Khi dân Y-sơ-ra-ên kêu la với Môi-se về việc ông đem họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô, thì Môi-se đã cầu nguyện với Chúa. Chúa bảo ông lấy một khúc gỗ ném xuống chỗ nước đắng. Lạ thay, khi khúc gỗ được ném xuống nước đắng, thì nước biến thành ngọt và dân Y-sơ-ra-ên uống thỏa thích. Thực sự, để dạy cho dân Y-sơ-ra-ên biết quyền năng của Đức Chúa Trời là thể nào. Đức Chúa Trời có thể đổi cảnh thử thách, đau buồn thành ra vui vẻ.

Mỗi chúng ta cũng vậy, hết thảy chúng ta đều trải qua những ngày trong sa mạc, đang thiếu nước, nhưng cái giếng trước mặt lại chứa toàn nước đắng. Chỉ có một khúc gỗ có thể biến nước đắng đó trở thành nước ngọt. Khúc gỗ đó là Thập tự giá mà Chúa Jêsus đã xả thân vì chúng ta. Chính quyền năng của Thập tự giá biến cảnh buồn trở thành vui, biến cảnh khô hạn trở thành hạnh phước, biến cảnh tối tăm trở thành sáng láng. Không biết quí vị đã nếm mùi an ủi, yên nghỉ của Thập tự giá chưa? Tôi tin rằng không ai có thể theo Chúa cho tới ngày nay mà chưa nếm được Thập tự giá.

Phao-lô và Si-la đem Tin lành đến thành Phi-líp của Âu châu. Hai ông bị dân chúng vu khống. Nhà cầm quyền không tra xét, bắt hai ông đánh đòn rồi bỏ vào ngục tối, xiềng lại. Trong cảnh buồn thảm đau đớn đó, Phao-lô và Si-la đã cầu nguyện với Chúa, hát tôn vinh Ngài. Tiếng hát van rền trong khám và hết thảy tù nhân đều thức dậy để nghe. Cuối cùng, phép lạ đã xảy ra, cả gia đình người đề lao tin theo Chúa. Phao-lô và Si-la đã đứng trước một suối nước đắng, nhưng quyền năng và sự sống lại của Chúa Jêsus đã biến suối nước đắng trở thành ngọt, biến cảnh buồn thảm trở thành vui mừng, biến cảnh hoạn nạn trở thành hạnh phúc.

Nếu đời mình không bao giờ gặp khó khăn thì cũng không bao giờ gặp phép lạ. Đức Chúa Trời làm phép lạ khi nào chúng ta gặp cảnh khó. Vì vậy, Đức Chúa Trời thường đưa chúng ta vào những nỗi nguy nan, thiếu thốn, đau ốm, bắt bớ hoặc trăm ngàn thử thách khác nhau để Đức Chúa Trời thi hành phép lạ. Hội Thánh các nước Âu châu có một câu như thế này: “Sự tuyệt vọng của loài người là cơ hội của Đức Chúa Trời”, nghĩa là khi nào chúng ta đứng trước một hoàn cảnh tuyệt vọng, không còn làm gì được nữa, chỉ còn chờ chết thôi, lại là cơ hội tốt để Chúa thi hành phép lạ.

II. ĐẾN Ê-LIM (Xuất 15:27):

“Đoạn, dân sự đến đất Ê-lim, nơi có mười hai suối nước và bảy mươi cây chà là. Dân sự đóng trại tại đó, gần bên suối nước”.

Bên kia của Ma-ra có Ê-lim. Hai chỗ rất khác nhau. Ma-ra có suối nước đắng, mà Ê-lim có 12 suối nước và 70 cây chà là. Như vậy, dân sự đóng trại tại Ê-lim, có đủ nước uống và thức ăn. Chúa muốn dạy họ rằng: Bên kia sự thử thách có sự an ủi. Nếu chỉ có thử thách mà thôi thì không ai chịu nỗi. Nếu ngày nào cũng gặp nước đắng thì không ai có thể chịu đựng được, nhưng sau cơn thử thách thì có sự an ủi, sau khi sửa trị sẽ có phần thưởng.

Trên bước đường theo Chúa, chúng ta đã từng ở tại Ma-ra, cũng đã từng ở tại Ê-lim. Ê-lim của chúng ta là gì? –Thi 36:8-9 trả lời: “Họ nhờ sự dư dật của nhà Chúa mà được thỏa nguyện, Chúa sẽ cho họ uống nước sông phước lạc của Chúa, vì nguồn sự sống ở nơi Chúa”. Chúa là suối không hề khô cạn, trong Ngài chúng ta không bao giờ khát. Thi 87:7 chép: “Những kẻ hát xướng và những kẻ nhảy múa sẽ nói rằng: các suối tôi đều ở trong người”. Các suối tôi đều ở trong Chúa, có nghĩa là tất cả các hy vọng của tôi, tất cả những gì tôi khát khao, tìm kiếm đều ở trong Đức Chúa Trời.

Kh 7:17 hứa: “Vì Chiên con ở giữa ngôi sẽ chăn giữ và đưa chúng đến suối nước sống. Đức Chúa Trời sẽ lau ráo hết nước mắt nơi mắt chúng”. Dân lựa chọn của Đức Chúa Trời ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng được Ngài chăn giữ và Ngài là suối nước sống của họ, Ngài lau ráo nước mắt của họ. Con cái của Chúa trải qua các đời đều khóc nhiều, nhưng cũng được an ủi nhiều.

Kh 22:1-2: “Thiên sứ chỉ cho tôi xem sông nước sự sống, trong như lưu ly, từ ngôi Đức Chúa Trời và Chiên con chảy ra. Ở giữa phố thành và hai bên bờ sông có cây sự sống trổ hai mùa, mỗi tháng một lần ra hai trái”. Thiên đàng có sông nước sống và cây sự sống, tức là mô tả cảnh vườn Ê-đen mà A-đam và Ê-va đã đánh mất, thì bây giờ dân sự của Chúa tìm lại được.

Trong Chúa Jêsus có sông nước sống và cây sự sống, tức là Ngài cung cấp mọi nhu cầu cho chúng ta. Mỗi chúng ta phải ngạc nhiên đặt câu hỏi: “Tại sao Chúa đặt tôi ở đây? Bao nhiêu câu hỏi như thế không trả lời được. Nhưng Kinh Thánh không thiếu câu trả lời. Dân Y-sơ-ra-ên rất khổ khi bị lưa đày tại xứ Ba-by-lôn. Nhưng vua Nê-bu-cát-nết-sa còn buộc họ sấp mình Xuống thờ lạy pho tượng vàng, nếu không sẽ bị quăng vào lò lửa hực. Họ phải chọn, hoặc sấp mình Xuống thờ lạy pho tượng vàng, hay là bị quăng vào lò lửa. Chúa không cứu họ khỏi bị quăng vào lò lửa nhưng ở với họ trong lò lửa và làm cho lửa không có quyền trên họ. Đó là phương cách của Chúa. Lắm khi Ngài đặt chúng ta vào cảnh sống cực khổ và tại đó Chúa biến cảnh cực khổ thành sung sướng.

-KẾT LUẬN:

Năm 1947 là năm kháng chiến dữ dội. Pháp, Nhật đánh nhau tơi bời. Gia đình tôi ở Bến tre. Hội Thánh Hàmlong- lúc đó gọi là Sóc sãi – không có Mục sư. Vì cớ chiến tranh, Mục sư đã ra đi, bầy chiên ở đó rất lớn mà không có ai chăn. Vợ chồng tôi tình nguyện đến Hàm long để phục vụ Chúa. Tôi có một người bạn làm Bưu điện ở Bến tre. Sau hai năm ở Sóc sãi, trong một dịp lên Chợ lớn tôi gặp anh. Anh ta nói: “Bây giờ anh ở đâu?” “Tôi đã bỏ Bến tre lên Sóc sãi rồi”. Anh ta nói: “Trời ơi, tôi ở Bến Tre còn sợ, phải xin về Chợ lớn đây. Còn anh ở Bến Tre mà xin về Sóc sãi”. Dầu anh nói vậy, tôi không ngại gì hết khi về Sóc sãi, nhưng trái lại tôi cảm thấy vui và phước hạnh. Nhiều người trong Hội Thánh, ngay cả Mục sư, Truyền đạo nghe tôi đi Sóc sãi, họ cũng thương hại vì nghĩ rằng ở đó khổ sở lắm. Nhưng tôi thưa với mọi người rằng: “Dầu tôi ở đó như ba bạn Hê-bơ-rơ trong lò lửa hực, thì Chúa ở đó với tôi”. Và quả thật, tôi đã nếm được sự hiện diện của Chúa. Ngài biến nước đắng trở thành ngọt, biến lò lửa thành tổ ấm êm đềm, đến nỗi lúc nào tôi cũng cảm tạ, ca ngợi Chúa.

Vì vậy, qua bài học nầy, mỗi chúng ta ý thức con đường mà Chúa dẫn dắt và xin Chúa cho chúng ta khi gặp khó khăn, sẽ quỳ gối Xuống kêu cầu với Chúa: “Xin Chúa ở đây với con. Xin biến nước đắng trở thành nước ngọt. Xin Ngài biến lò lửa trở thành tổ ấm êm đềm, mát mẻ, để con cảm tạ, ca ngợi Ngài, sống đẹp lòng Ngài.”

Bài 10: MA-NA

Xuất 16:1-36

Sau khi rời Ê-díp-tô hơn một tháng, dân Y-sơ-ra-ên đến đồng vắng Sin. Tại đây, họ oán trách Môi-se và A-rôn: “Ôi, thà rằng chúng tôi chịu chết về tay Đức Giê-hô-va tại xứ Ê-díp-tô, khi còn ngồi kề nồi thịt và ăn bánh chán hê. Vì hai người đã dẫn dắt chúng tôi vào nơi đồng vắng nầy đặng làm cho cả đoàn dân đồng nầy đều bị chết đói” (Xuất 16:3). Trong con mắt xác thịt, họ đã nói đúng, vì không ai có thể nuôi gần hai triệu người trong sa mạc. Nhưng tâm linh họ không chịu mở ra để nhớ lại bao nhiêu việc lớn lạ mà Chúa đã thực hiện cho họ. Nếu họ biết Đấng dẫn dắt mình vào sa mạc là Đấng dựng nên trời đất, muôn vật thì nhu cầu của họ dầu lớn đến đâu vẫn còn là nhỏ quá so với quyền năng của Chúa. Chúa vĩ đại như thế, nhưng Ngài đã yêu thương dân Y-sơ-ra-ên đến nỗi nhịn chịu sự bội nghịch vô ơn của họ, và Ngài phán cùng Môi-se: “Ta đã nghe lời oán trách của dân Y-sơ-ra-ên. Vậy, ngươi hãy nói cùng chúng nó rằng: Lối chiều, các ngươi sẽ ăn thịt, lối mai, các ngươi sẽ ăn bánh no nê và sẽ biết Ta là Đấng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi”. (Xuất 16:12)

Bài học cho chúng ta cũng vậy, lâm vào hoàn cảnh khó khăn chúng ta thường phàn nàn, oán trách, thay vì quỳ gối thưa với Chúa: “Xin Ngài giải cứu con, xin Ngài lo liệu mọi sự cho con”. Chúa bao giờ cũng giải cứu, bảo vệ, chăm sóc, lo liệu cho chúng ta. Chúng ta hãy giữ mình trong mọi hoàn cảnh khó khăn, bày tỏ niềm tin đến với Chúa mà thiết tha cầu nguyện, hơn là oán trách.

Trong suốt hơn 40 năm, dân Y-sơ-ra-ên không thiếu một bữa ăn nào, họ lấy làm hãnh diện mà nói rằng: “Chúng tôi đã ăn Ma-na từ trời rơi xuống.” Như vậy, việc dân Y-sơ-ra-ên ăn Ma-na trong đồng vắng có ý nghĩa gì cho chúng ta.

I. Ý NGHĨA CỦA MA-NA (Gi 6:35,51)

Chúa Jêsus đã ứng dụng Ma-na là chính mình Ngài. “Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là bánh của sự sống, ai đến cùng Ta chẳng hề đói và ai tin Ta chẳng hề khát”. “Ta là bánh hằng sống từ trên trời Xuống, nếu ai ăn bánh ấy, thì sẽ sống vô cùng và bánh mà Ta sẽ ban cho vì sự sống của thế gian, tức là thịt Ta” (Gi 6:35,41). Mạng sống của Chúa là một thứ Ma-na thuộc linh cho đời sống mỗi chúng ta.

Dân Y-sơ-ra-ên muốn sống trong sa mạc phải ăn Ma-na. Ngày nay, nếu chúng ta muốn sống cuộc đời đạo đức thì chúng ta phải bởi đức tin mà ăn Chúa Jêsus; tức là tin cậy, và vâng lời Ngài, để cho linh hồn mình hàng ngày được hưởng chính sự sống của Chúa.

Kinh Thánh cũng dạy chúng ta rằng Ma-na là lời của Đức Chúa Trời. “Đức Chúa Jêsus phán: Có lời chép: người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời” (Mat 4:4). Dân Y-sơ-ra-ên cần Ma-na để nuôi thân thể, nhưng cũng cần Ma-na thuộc linh nuôi linh hồn.

Như vậy, hôm nay Ma-na của chúng ta là chính mình Chúa, Ma-na của chúng ta là lời của Chúa. Cả hai đều gọi là “Lời”. Chúa Jêsus gọi là Lời thành nhục thể, Kinh Thánh là Lời thành văn. Cả hai được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI, cả hai đều là Ma-na thuộc linh cho chúng ta.

II. HÌNH DÁNG, MÀU SẮC VÀ MÙI VỊ CỦA MA-NA (Xuất 16:31):

Mỗi sáng sớm, dân Y-sơ-ra-ên đi ra và thấy dưới lớp sương có vật chi nhỏ, tròn như hột ngò, mùi thơm như bánh ngọt pha mật ong. Đó là Ma-na mà họ ăn trong suốt 40 năm. Dầu Ma-na không có gì đẹp đẽ, nhưng hết sức thích hợp. Dân Y-sơ-ra-ên ăn chỉ một thức đó suốt 40 năm, nhưng thân thể của họ mạnh khỏe luôn luôn.

Mỗi chúng ta hàng ngày phải sống bằng lời của Chúa. Lời nầy xem như khô khan, không có gì hấp dẫn, nhưng Lời nầy có sự sống, có chất bổ đáp ứng cho nhu cầu tâm linh của chúng ta mỗi ngày. Vì vậy, chúng ta phải hiểu nhu cầu tâm linh của chúng ta là chính mình Chúa Jêsus và Lời của Ngài. Đó là lý do chúng ta phải đọc Kinh thánh, phải học Kinh thánh, phải suy gẫm Kinh thánh, phải áp dụng Kinh Thánh vào đời sống của mình.

Mỗi ngày chúng ta không phải ăn một lần, hai lần, ba lần, nhưng muốn ăn nhiều hơn nữa. Chúng ta cũng phải ham thích lời Chúa như vậy. Có người tưởng rằng mỗi tháng đọc Kinh Thánh một hai lần là đủ. Ôi, mỗi tuần lễ một lần cũng không đủ, hai lần cũng không, vì nếu có sự sống thuộc linh mạnh mẽ thì linh hồn cũng đòi được học Kinh Thánh nhiều lần. Nếu khi nào chúng ta chán chê Kinh Thánh là ngay khi đó chúng ta mắc bệnh. Ông Phi-e-rơ nói rằng: Chúng ta hãy ham thích lời Chúa như con trẻ mới đẻ ham thích sữa, nếu nó ham thích nhiều chừng nào thì nó lớn đều đăn, đẹp đẽ, mạnh mẽ. Những con cái của Chúa ham thích lời của Ngài thì đời sống thuộc linh của người đó lớn lên đều đặn, mạnh mẽ và đẹp đẽ. Ngược lại, một người không thấy lớn lên, không thấy tiến bộ chỉ vì không ăn nuốt lời của Chúa.

III. CÁCH ĂN MA-NA (Dan 11:7-8)

“Vả, Ma-na hình như bột ngò, sắc như trân châu. Dân sự đi tản ra và hốt lấy, rồi nghiền bằng cối xay, hay là giã bằng cối giã, nấu trong một cái nồi và làm bánh, nếm giống như bánh nhỏ pha dầu”. Dầu Ma-na có sắc như trân châu, mùi như mật ong, nhưng muốn ăn ngon dân Y-sơ-ra-ên phải tốn nhiều công sức chế biến.

Chúng ta phải ăn Kinh Thánh như vậy. Nếu chúng ta mở Kinh Thánh ra bất cứ đoạn nào và đọc từ câu thứ nhất đến câu cuối cùng, thì chúng ta như dân Y-sơ-ra-ên lượm Ma-na bỏ vào miệng và nhai. Muốn ăn Kinh Thánh ngon lành, bổ dưỡng và không bao giờ chán thì chúng ta phải nghiền, giã…, có nghĩa là chúng ta phải dụng công nghiên cứu.

Muốn hiểu Kinh thánh, chúng ta phải quỳ gối xuống cầu nguyện xin Chúa mở mắt, để thấy được sự lạ lùng trong Luật pháp của Ngài. Bao nhiêu người đi trước chúng ta đã từng được dạy dỗ và họ đã ghi lại trong các sách vỡ. Vì thế, chúng ta phải tham khảo nhiều sách như: Thánh kinh Phù dẫn, Thánh kinh Tự điển, Kinh tiết Sách dẫn, Thánh kinh giải nghĩa.

Tác giả Thi thiên nói rằng: “Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Chúa”. Chữ “giấu”có nghĩa là tích trữ. Người đời thường tích trữ lúa gạo, của cải, áo quần, vàng bạc, ngọc ngà… Nhưng con cái Chúa phải tích trữ Lời của Chúa. Chúng ta phải học Lời Chúa, để Lời đó tan vào trong huyết quản của chúng ta, biến thành sự sống của chúng ta, để chúng ta vừa muốn vừa làm theo Lời của Chúa.

Có người hỏi tôi: “Khi phải đương đầu với những nan đề thì phải làm sao?” Tôi trả lời: “Tất cả những nan đề của chúng ta đều được giải đáp trong Kinh thánh”. Vì vậy, mỗi người phải học Kinh Thánh để mỗi người sẵn sàng có câu giải đáp cho mỗi nan đề. Vì vậy, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm chúng ta phải học Kinh thánh. Dầu những điều mình học chưa được đem ra áp dụng. Chúa Jêsus bảo rằng: “Người khôn ngoan đem cả những vật cũ và mới ra”. Cũ là Cựu ước, mới là Tân ước, tức là chúng ta phải đem cả Lời của Chúa ra áp dụng cho đời sống của mình, làm cho mạnh mẽ.

IV. CÁCH LƯỢM MA-NA (Xuất 16:21)

“Vậy, hằng buổi sớm mai, mỗi người lượm vừa đủ sức mình ăn; khi mặt trời nắng nóng thì vật đó tan ra”. Chúa ban cho Ma-na hết sức dồi dào, dân Y-sơ-ra-ên cần bao nhiêu cũng có. Nhưng khi mặt trời mọc lên, Ma-na tan đi. Ai ngủ trưa, dậy trễ, chắc là ngày đó nhịn đói, vì mỗi người phải lượm phần Ma-na của mình. Ý đó dạy cho chúng ta mỗi sáng sớm thức dậy cầu nguyện, đọc Kinh Thánh và suy gẫm.

Dân Y-sơ-ra-ên phải lượm như thế nầy: Mỗi người ăn bao nhiêu thì lượm đủ cho ngày đó. Nếu lượm dư thì cũng không ăn được, vì qua một đêm Ma-na đã hóa sâu, có mùi hôi hám và phải bỏ. Chúa muốn dạy chúng ta là mỗi ngày Chúa ban cho chúng ta Lời của Ngài và mỗi ngày chúng ta phải nghiên cứu Lời Chúa, để tìm kiếm những ơn phước thuộc linh. Chúng ta thường sống ngày hôm nay bằng ơn phước của ngày hôm qua. Ơn phước ngày hôm qua cũng giống như là Ma-na để qua đêm, nó hóa ra sâu và không thể dùng được. Mỗi ngày có nhu cầu mới, mỗi ngày có ơn phước mới. Tôi không thể sống hôm nay bằng lời Chúa của ngày hôm qua, mà tôi phải nài xin Chúa cho tôi Sứ điệp của ngày hôm nay, nghĩa là ơn phước thích đáng với ngày hôm nay. Chúng ta thường bị cám dỗ mà ỷ lại rằng mấy năm trước tôi đã đọc Kinh Thánh nhiều lần, mấy năm trước tôi thường Xuấtyên đi nhà thờ, ở trong Ban Hát, dâng tiền…Luôn luôn khoe về dĩ vãng, nhưng hiện nay thì sao? –Hiện nay không có gì hết! Vì vậy, có người suốt đời sống thật là vất vưởng, lang thang, khốn nạn. Có thể nào một người nào đó bảo rằng: “Tôi ăn mười năm qua đủ rồi, bây giờ không cần ăn nữa không? –Không ai dại dột mà nói như thế. Trái lại, mỗi ngày cần có thức ăn, thức ăn ngày nào đủ cho ngày đó. Nhưng trong phương diện tâm linh nhiều người đã nói như thế. Đáng buồn thật! Đến giờ này, sau khi tin Chúa đã hơn năm mươi năm, tôi vẫn còn học Kinh Thánh như lúc mới tin Chúa và tôi phải học nhiều hơn nữa, vì tôi thấy nhu cầu nhiều hơn. Các ông bà anh chị đang học Kinh Thánh thì đủ cho ngày hôm nay mà thôi, và ngày mai phải có lời của Chúa cho ngày mai. Thân thể chúng ta cần phải ăn mỗi ngày, linh hồn chúng ta cũng đòi phải ăn Lời Chúa mỗi ngày.

“Đến ngày thứ sáu, dân sự lượm lương thực gấp hai… Dân sự bèn để dành cho đến sáng mai y như lời Môi-se đã truyền, vật đó chẳng sanh mùi hôi hám và cũng chẳng hóa sâu chút nào” (Xuất 16:22,24).

Ngày thứ sáu dân sự lượm Ma-na gấp hai để dành cho ngày thứ bảy. Ngày thứ bảy, vài người trong dân Y-sơ-ra-ên ra đồng lượm Ma-na, nhưng chẳng thấy gỉ cả vì ngày đó là ngày Sa-bát, ngày yên nghỉ. Giả định chúng ta làm việc sáu ngày, Chúa nhật là ngày yên nghỉ. Nếu ai làm việc ngày Chúa nhật, thì cũng như dân Y-sơ-ra-ên đi lượm Ma-na trong ngày yên nghỉ, sẽ không có gì hết. Chúng ta phải bởi lòng tin cậy vâng lời, xin Chúa cho chúng ta có đủ sức làm việc liên tiếp trong sáu ngày và ngày Chúa nhật phải là ngày yên nghỉ, tức là chúng ta yên nghỉ cả thể xác lẫn tâm hồn, để thờ phượng, ca ngợi và cảm tạ Chúa, để Ngài ban ơn cho chúng ta trong những ngày sắp đến. Nếu chúng ta sống trong trật tự, trong những Điều răn dạy dỗ của Chúa thì chúng ta sẽ thấy đời mình được an ninh, bảo đảm. Nhưng tôi tiếc rằng, chúng ta dại dột quá. Chúng ta tham lam, muốn làm mỗi ngày và có người làm cả ban đêm nữa. Tôi biết trước đây, có một bà Tín đồ mạnh khỏe, làm việc hết sức giỏi. Bà tận dụng sức khỏe của mình để làm giàu, làm việc mỗi ngày, kể cả Chúa nhật. Nhưng rồi bà chết, buông trôi hết cả, để lại cho ai? Thật là đáng thương! Chúng ta cũng vậy, phải có tiết độ. Nên nhớ rằng: “trái của Thánh linh ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ”. Tiết độ là có chừng mực, vừa làm vừa nghỉ. Tôi làm việc mỗi ngày, nhưng cũng nghỉ mỗi ngày, tâm linh, thể xác lúc nào cũng cảm thấy thoải mái.

Dân Y-sơ-ra-ên được Chúa dạy dỗ phải cày cấy ruộng trong sáu năm, và năm thứ bảy phải cho ruộng nương nghỉ. Nhưng thấy nghỉ cả một năm uổng quá, nên họ đã bất tuân lệnh của Chúa. Sau một thời gian kêu gọi họ ăn năn, song họ vẫn cứng lòng. Chúa đày họ qua Ba-by-lôn 70 năm để cho ruộng nghỉ ngơi. Cũng vậy, nếu chúng ta tham lam thì Chúa có cách để lấy lại, Đức Chúa Trời không thua chúng ta đâu. Chúng ta dại dột thì gặt lấy kết quả tai hại.

V. THÁI ĐỘ CỦA DÂN Y-SƠ-RA-ÊN ĐỐI VỚI MA-NA (Dan 11:4-6)

Dân Y-sơ-ra-ên sau một thời gian ăn Ma-na thì họ cảm thấy chán Ma-na từ trời xuống, Ma-na mà cả Thế giới chưa người nào biết đặt ân mà Chúa dành cho họ, nhưng khi họ ngã lòng thì nói rằng: “Linh hồn chúng tôi đã ghớm ghê thứ đồ ăn đạm bạc nầy”. Ôi, tôi ngại rằng một ngày nào đó quí ông bà anh chị bị cám dỗ nói lời vô lễ đó. Không! không có thứ đồ ăn nào bằng thứ đồ ăn nầy, là đồ ăn từ trời rơi Xuống, là sanh mạng của Chúa. Tôi thường nói rằng: “Đây là môt Huyết thư”. Chúa Jêsus không viết trên Kinh Thánh nầy bằng mực, mà bằng huyết của chính Ngài. Nếu Chúa Jêsus không đổ huyết ra trên Thập tự giá thì không có Kinh thánh. Kinh Thánh là huyết thư mà Thiên phụ gởi cho con cái của Ngài.

Vì vậy, chúng ta phải xem Kinh Thánh quí như mạng sống của mình, vì chính mạng sống của Chúa Jêsus đổ ra trên Thập tự giá mới có Kinh thánh. Không có gì quí bằng Kinh Thánh và chúng ta bị ma quỉ cám dỗ mà xem thường Kinh thánh. Trên trần gian không có quyển sách nào so được với Kinh thánh, những sách lớn thường được dịch ra chừng 100 thứ tiếng là cùng, nhưng Kinh Thánh được dịch ra gần 2000 thứ tiếng!

Ở tại Long Xuấtyên, có một Tín đồ sáng nào cũng đi Nhà thờ. Một người quen hỏi: “Anh ơi, quyển sách anh đang cầm đó có gì quí mà đi đâu anh cũng mang theo?”. Ông trả lời: “Kinh Thánh quí lắm anh ơi, tôi cầm trên tay như thế nầy là vô lễ đáng lẽ tôi phải đội trên đầu mà đi mới phải”. Khi nào chúng ta quí Kinh Thánh như vậy thì sẽ thấy đời mình phước hạnh là dường nào.

Trước đây 50 năm, báo “SÀI GÒN MỚI”có đăng câu chuyện nhà triệu phú ROGER. Ông có hai con trai. Người con lớn tử trận, để lại vợ và đứa con côi. Ông sống với người con dâu và đứa cháu nội trong ngôi nhà đồ sộ. Người con thứ bỏ nhà đi xa. Khi ông ROGER qua đời, thì báo chí cả thành phố Luânđôn đều đăng tin. Tình cờ đọc báo, biết cha qua đời, người con thứ liền trở về nhà. Anh hỏi người chị dâu: “Trước khi qua đời, cha có để lại gì cho em không?”. Chị trả lời: “Cha có để lại cho chú một gia tài tại văn phòng Chưởng khế, chú hãy ra trình giấy tờ mà lấy phần gia tài đó”. Anh thất vọng vì cả nhà nầy không còn là của mình nữa, nhưng hi vọng nơi gia tài để ở phòng Chưởng khế. Anh trình giấy tờ, anh Chưởng khế đem ra cho anh một cái gói được gói kín bằng một tờ giấy kiếng màu xanh rất đẹp. Anh vội vàng mở giấy kiếng ra, thì lại thấy bên trong cũng được gói bằng một loại giấy đẹp có đóng dấu của cha. Anh run lên vì chắc đây là gia tài lớn lắm. Cuối cùng, lớp giấy sau chót được mở ra và anh thấy một quyển Kinh thánh. Anh ta dằn mạnh quyển Kinh Thánh xuống bàn và không tiếc lời nói nặng cha mình, vì để phần gia tài lớn lại cho chị dâu và đứa cháu và không để lại gì cho mình. Anh bực bội: “Tôi đang cần tiền, cha để lại quyển Kinh Thánh cho tôi làm gì?”. Và rồi anh ta bỏ ra về.

Viên Chưởng khế cho người gói lại và đăng trên báo: “Cụ già triệu phú ROGER đã để lại một phần gia tài cho con, nhưng anh ROGER đã từ chối. Ai là người bà con gần hơn hết của người quá cố, xin đến nhận gói quà đó. Sáu tháng sau, có một chàng thanh niên đến trình giấy tờ và được văn phòng Chưởng khế chấp nhận. Anh mở gói giấy ra và thấy quyển Kinh thánh. Anh tỉ mỉ hơn và mở ra đến Gios 1:8: “Quyển sách luật pháp nầy chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong…”, câu nầy gạch viết chì đỏ bên dưới, và tại đó có chi phiếu 1000 Anh kim. Anh lật qua Thi 1:1 có ghi bút chì đỏ: “Phước cho người nào chẳng theo mưu kế của kẻ dữ, chẳng đứng trong đường tội nhân…”, tại đó có 1000 Anh kim. Đến Thi 20:1: “Nguyện Đức Giê-hô-va đáp lời con trong ngày gian truân”. Lại có một phiếu nữa, qua Thi 37 lại có một phiếu nữa, rồi rải rác trong cả quyển Kinh Thánh có những phiếu như vậy. Đến Mat 6:33 “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều khác nữa”, có một chi phiếu lớn hơn những gì mà ông để lại cho người con dâu và đứa cháu. Nhưng người con thứ đã từ chối.

Cũng sáu tháng sau, nhằm mùa Đông, người ta thấy một thanh niên nằm chết trên băng đá tại thành phố Luânđôn. Xem giấy tờ thì chính là ROGER đã từ chối gia tài của cha. Tôi không bao giờ quên câu chuyện nầy: Một ông cha rất nhơn từ với con, dầu là con hoang đàng vẫn dành gia tài cho con. Người cha nghĩ để lại cho con một gia tài, nó tiêu ít lâu rồi cũng hết. Để gia tài trong Kinh thánh, con có tiền tiêu mà đồng thời cũng có cơ hội đọc những câu Kinh Thánh mà ông ghi lại, cả hai đều cần thiết, tiền nuôi thể xác, Lời Chúa nuôi linh hồn. Nhưng than ôi, người con đã từ chối gia tài và phải chết một cách thê thảm.

Chúng ta có thể giống như người con trai đó. Tôi không nói trong Kinh Thánh nầy có vàng, có bạc, nhưng có Lời của Đức Chúa Trời, còn quí hơn bất cứ bửu vật nào mà trần gian có. Chúng ta phải không ngoan để nhìn thấy giá trị của Kinh Thánh không có gì sánh được, mà từ xưa người ta đã từ bỏ mạng sống để bảo vệ Kinh Thánh còn đến ngày nay. Bây giờ, chúng ta phải bảo vệ Kinh Thánh để còn mãi muôn đời về sau.

Môi-se và A-rôn lấy một cái bình bằng vàng đổ đầy Ma-na để trong Hòm giao ước, đê kỷ niệm về sau cho dân Y-sơ-ra-ên biết Đức Chúa Trời đã nuôi họ trong 40 năm bằng thức ăn nầy. Kh 2:17 chép: “Kẻ nào thắng Ta sẽ cho Ma-na đương giấu kín”. Đó là thức ăn rất ngon, nhưng lại là thức ăn giấu kín ở trong nơi Chí thánh của Đền thờ, trong hòm giao ước của Ngài.

Lời của Chúa cũng như chính mình Ngài là Ma-na đương giấu kín không ai thấy được, nhưng kẻ nào tin cậy Chúa, yêu mến Chúa, vâng lời Chúa sẽ hưởng được Ma-na đương giấu kín đó. Vì vậy, chúng ta thấy có những người đang sống trong tình trạng thê thảm khốn nạn, như không bao giờ sống được. Nhưng họ có thể sống được vì cớ họ hưởng được Ma-na đương giấu kín, tức là hưởng được chính mình Chúa và lời quí báu của Ngài, mà trần gian không thể thấy, không thể hiểu, nhưng đối với chúng ta thật là quí báu vô vàn, không có gì so sánh được.

Bài 11: HÒN ĐÁ TUÔN NƯỚC

Xuất 17:1-7; Dan 10:2-13

Đức Chúa Trời đã khiến cho hòn đá tuôn ra nước như một dòng sông, để dân sự uống. Điều đó không phải là hiếm có, nhưng mà là không có bao giờ. Ngoài Đức Chúa Trời ra không ai có thể tuôn nước từ hòn đá. Cảm tạ Chúa vì Ngài đã làm điều đó cho dân sự của Ngài.

Dân Y-sơ-ra-ên tiếp tục đi từ Ê-lim đến đồng vắng Sin, từ Sin đến Hêphiđim. Tại đây, một lần nữa dân sự không có nước uống. Đáng lẽ dân Y-sơ-ra-ên quì gối Xuống cầu xin với Chúa, vì họ đã nhìn thấy biết bao nhiêu phép lạ của Ngài đổ Xuống hình phạt xứ Ê-díp-tô. Ngài đã rẽ Biển đỏ cho họ đi qua, hóa nước đắng ra ngọt cho họ uống, và ban mưa Ma-na xuống cho họ ăn. Nhưng họ đã kêu la, lằm bằm cùng Môi-se: “Sao người khiến chúng tôi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, hầu cho chúng tôi, con và các bầy súc vật phải chịu chết khát thế nầy?” (Xuất 17:3b). Những lời nói của họ thật vô ơn, thiếu bình tỉnh và thiếu suy xét. Môi-se bèn quì gối Xuống và kêu cầu Chúa. Đứng trước cùng một nghịch cảnh, một bên thì lằm bằm, một bên thì cầu nguyện. Nếu lằm bằm là vì không cầu nguyện, và nếu đã cầu nguyện thì không lằm bằm.

Chúng ta cũng không hơn gì dân Y-sơ-ra-ên trong trường hợp nầy, vì đã bao nhiêu lần gặp khó khăn trong nhu cầu hàng ngày của mình, thay vì quì gối cầu nguyện thì chúng ta cũng đã kêu la, oán trách và lằm bằm. Xin Chúa dạy chúng ta qua bài học nầy.

I. HÒN ĐÁ BỊ ĐẬP (Xuất 17:5-7):

“Đức Giê-hô-va đáp cùng Môi-se rằng: Hãy cầm gậy của ngươi đã đập dưới sông, dẫn theo các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, rồi đi trước mặt dân sự. Nầy, Ta sẽ đứng đằng trước ngươi ở trên hòn đá tại Hô-rếp kia, ngươi hãy đập hòn đá thì nước từ đó chảy ra, dân sự sẽ uống lấy” (Xuất 15:5-6). Môi-se vâng lời và nước từ hòn đá chảy ra như một dòng sông cho dân sự và cả bầy súc vật của họ uống.

Dân Y-sơ-ra-ên đã không tin Đức Chúa Trời có thể làm phép lạ, mặc dầu họ đã chứng kiến bao nhiêu phép lạ rồi. Mỗi lần gặp khó khăn, họ lại thách đố Đức Chúa Trời: Ngài có mặt ở giữa chúng ta không? Ngài có thể nuôi dân sự Ngài ở giữa đồng vắng không? Họ đã thách đố Đức Chúa Trời trong suốt cuộc hành trình của họ vào xứ Ca-na-an. Về sau, trong đời Tân ước, con cháu của dân Y-sơ-ra-ên vẫn tiếp tục thách đố Đức Chúa Trời như vậy. Họ hỏi Chúa Jêsus: “Thế thì thầy làm phép lạ gì để cho chúng tôi thấy và tin?” (Gi 6:30). Ngài đã làm không biết bao nhiêu phép lạ rồi, nhưng họ vẫn cứng cỏi, không tin, cứ đòi Ngài phải làm phép lạ nữa. Khi Chúa Jêsus bị đóng đinh trên Thập tự giá, những người đứng bên dưới thách đố rằng: “Nếu ngươi là con Đức Chúa Trời, hãy xuống khỏi Thập tự giá đi thì chúng ta mới tin” (Mat 27:40-42). Chúa không bao giờ làm theo sự thách đố của họ, tức là Ngài không làm theo tính hiếu kỳ của họ, nhưng Ngài đã làm phép lạ lớn hơn điều mà họ đòi hỏi và thách đố. Họ thách đố Chúa xuống khỏi Thập tự giá, Ngài không làm điều đó. Nhưng Ngài chết trên Thập tự giá và sống lại là phép lạ lớn hơn phép lạ xuống khỏi Thập tự giá.

Mỗi chúng ta ngày nay khi gặp khó khăn thì đòi hỏi Chúa làm phép lạ. Chúng ta thường quên rằng Chúa đã làm không biết bao nhiêu là phép lạ, chúng vẫn cứ đòi hỏi vô lý…lòng không tin và thách đố Đức Chúa Trời. Ngài không bao giờ làm theo điều chúng ta thách đố đâu. Người ngoại cũng đòi hỏi: “Nếu Chúa chữa lành bệnh tôi sẽ tin. Nếu Chúa đuổi quỉ ra khỏi người nầy, tôi sẽ tin”. Không bao giờ chúng ta được phép đặt điều kiện với Chúa. Ngài đã dựng nên cả vũ trụ nầy, làm những phép lạ lớn lao, không ai có quyền đòi hỏi Ngài làm gì nữa. Chúng ta là con cái của Chúa phải hiểu rằng chỉ có Chúa mới có quyền đặt điều kiện với chúng ta: “Ai muốn theo Ta, phải liều mình vác Thập tư giá mà theo Ta”.

-Hòn đá bị đập có nghĩa gì?

Tại sao phải đập hòn đá để nó có thể ra nước? Chúng ta đọc ICo 10:4: “Và uống một thức uống thiêng liêng, vì họ uống nơi một hòn đá thiêng liêng theo mình, và đá ấy tức là Đấng Christ”. Sứ đồ Phao-lô đã giải thích hòn đá Môi-se đã đập để tuôn nước cho dân sự uống là chính mình Chúa Jêsus.

Ê-sai 53:4 chép: “Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã ghánh sự buồn bực của chúng ta, mà chúng ta tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ”. Đức Chúa Trời đã đánh đập Chúa Jêsus trên Thập tự giá, như hòn đá mà cây Môi-se đã đập vào, vì cớ tội lỗi chúng ta. Chúa Jêsus chịu chết trên Thập tự giá là hòn đá bị đập, để tuôn ra dòng suối ơn phước cho nhân loại mà chúng ta được hưởng hôm nay. Nhờ hòn đá bị đập mà dân Y-sơ-ra-ên có nước uống, chớ không họ đã chết rồi, thì cũng vậy, nhờ Chúa Jêsus chịu chết trên Thập tự giá mà chúng ta được một dòng sông ơn phước tràn đầy. Nếu không, chúng ta cũng chết trong hỏa ngục như bao nhiêu người khác. Vì vậy, Chúa Jêsus là hòn đá bị đập cho mỗi chúng ta.

Thi 107:9 chép: “Vì Ngài làm cho lòng khao khát được thỏa thích, khiến cho hồn đói được đầy dẫy vật tốt”. Khi dân Y-sơ-ra-ên đứng trước một hòn đá tuôn tràn như một dòng sông, chắc họ vui mừng lắm, vì nhu cầu thể xác của họ được đáp ứng một cách đầy đủ và đúng lúc. Hôm nay, Chúa cũng làm cho lòng khát khao của chúng ta được thỏa mãn. Chúng ta thường hướng về của cải vật chất, vì tưởng nó làm thỏa nguyện đời mình, nhưng tâm hồn của chúng ta vẫn còn cứ khao khát, cho đến chừng nào chúng ta được Chúa Jêsus. Vì vậy, các tác giả đã cảm thúc bởi Thánh linh mà viết: “Linh hồn tôi mơ ước Chúa như con nai thèm khát khe nước”, “Trong một đất khô khan, cực nhọc, chẳng nước, linh hồn tôi khao khát Chúa, thân thể tôi mong mỏi về Chúa” (Thi 42:2; 63:1).

II. HÒN ĐÁ VÂNG LỜI (Dan 20:2-13)

Sau hơn 30 năm, dân Y-sơ-ra-ên đến một nơi gọi là Cađe, gần biên giới Ca-na-an. Tại đây, dân Y-sơ-ra-ên lại không có nước. Đáng lẽ qua bao nhiêu bài học, họ phải quỳ gối xuống cầu nguyện, nhưng họ lại dấy loạn cùng Môi-se và A-rôn: “Sao người đem Hội chúng của Đức Giê-hô-va vào nơi đồng vắng nầy, làm cho chúng tôi và súc vật của chúng tôi phải chết? Sao người khiến chúng tôi đi lên khỏi xứ Ê-díp-tô, đặng dẫn đến chỗ độc nầy, là nơi người ta không gieo mạ được và chẳng có cây vả, cây nho, cây lựu, và cũng không có nước uống?”. Chúng ta suy nghĩ và đặt mình vào địa vị của Môi-se, thì mới thấy những lời nầy thật cay đắng và độc ác. Đáng lẽ họ phải nói những lời cảm ơn, vì họ vốn là dân nô lệ trong nước Ê-díp-tô, nhưng Môi-se đã đưa họ ra khỏi đó. Và bây giờ đã gần đến biên giới xứ đượm sữa và mật mà Đức Chúa Trời hứa ban cho họ. Chúng ta không nghe được một lời nào của dân Y-sơ-ra-ên tỏ lòng biết ơn Môi-se, nhưng mỗi lần thiếu bánh ăn, thiếu nước uống…thì họ đổ hết oán trách tức giận lên Môi-se và có lần muốn ném đá ông. Môi-se và A-rôn sấp mặt Xuống đất mà cầu nguyện. Chúa phán: “Hai ngươi phải nói cùng hòn đá trước mặt Hội chúng, thì hòn đá sẽ chảy nước ra” (Dan 20:8b). Lệnh của Chúa là Môi-se chỉ cần nói với hòn đá để nó chảy nước, chớ không cần phải đập nữa. Nhưng Môi-se bực tức về dân Y-sơ-ra-ên, nên thay vì nói với hòn đá, ông lại nói với dân Y-sơ-ra-ên: “Hỡi dân phản nghịch, hãy nghe chúng ta há sẽ khiến nước chảy từ hòn đá nầy ra cho các ngươi được sao?”. Rồi ông giơ gậy đập lên hòn đá hai lần. Nước chảy tràn ra cho dân sự uống. Sau đó, Chúa quở trách Môi-se và A-rôn: “Bởi vì hai ngươi không có tin đến Ta, đặng tôn ta nên thánh trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, vì cớ đó, hai ngươi sẽ không đem Hội chúng nầy vào xứ mà Ta đã cho nó đâu” (Dan 20:12).

Tại sao việc đó quan trọng như vậy? –Vì cớ hai ông đã làm hư hình ảnh tượng trưng về Chúa Jêsus, có nghĩa là Chúa Jêsus chịu chết một lần đủ cả, chớ không bao giờ phải chết lần thứ hai. Vì vậy, họ phải bị phạt rất là nặng. Kinh Thánh cho chúng ta thấy ý nghĩa đó: “Bởi biết rằng Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, thì chẳng chết nữa, sự chết không còn cai trị trên Ngài. Vì nếu Ngài đã chết, ấy là chết cho tội lỗi một lần đủ cả” (Ro 6:9-10). “Vả, Đấng Christ cũng vì tội lỗi chịu chết một lần” (IPhi 3:18)

Chúng ta rút ra ở đây một bài học: Người chọc tức và người bị chọc tức cả hai đếu bị thiệt hại. Cho nên trong cuộc giao dịch hàng ngày của chúng ta, trong gia đình trong Hội Thánh…, chúng ta hãy tránh những lới độc ác, những lời châm chọc, những lời gây đau đớn. Những lời đó làm cho con người chịu không nỗi. Có một ông đã từng bị người ta nói xấu, than rằng: “Ước gì Chúa giữa môi miệng tôi từ đây về sau, để tôi đừng nói một lời nào phạm đến danh dự của anh em tôi, bôi lọ anh em tôi, nói xấu anh em tôi. Đó là những việc đại ác, chớ không phải tầm thường”.

Tóm lại, suốt 40 năm, Chúa cho dân Y-sơ-ra-ên có bánh ăn, có nước uống, có mọi nhu cầu. Ôn lại 40 năm đó, ông Giô-suê đã hai lần bảo rằng: “Không hề có một lời hứa nào mà Ngài không làm”. Nhưng dân Y-sơ-ra-ên của Chúa luôn luôn phàn nàn, oán trách, thở than, nói những lời vong ơn bội nghĩa. Chúng ta hãy coi chừng ma quỉ gieo rắc tinh thần đó vào trong đời sống của chúng ta, làm cho chúng ta có những lời vô lễ, có những ý tưởng sai lầm; làm buồn lòng Chúa chúng ta.

Ý thứ hai mà chúng ta học là dân Y-sơ-ra-ên có một hòn đá theo họ suốt đoạn đường 40 năm đó, và hòn đá luôn luôn tuôn tràn nước cho dân sự uống. Ý thuộc linh muốn nói rằng mỗi chúng ta điều có một hòn đá thiêng liêng đi theo mình là Chúa Jêsus. Chúa hứa: “Ta ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế”“Ai đến cùng Ta, chẳng hề đói và ai tin Ta chẳng hề khát…Kẻ nào tin Ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình” (Mat 28:20; Gi 6:35; 7:38). Có một nguồn an ủi phước hạnh luôn luôn tràn vào đời sống chúng ta và qua chúng ta tràn ra cho người khác. Như vậy, chúng ta không cần phải phàn nàn và than vãn, nhưng sẵn sàng cảm tạ, ca ngợi Chúa, rồi mọi sự khác Ngài sẽ ban cho đầy đủ.

Dòng nước tuôn ra từ hòn đá chỉ về Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh ngự vào đời sống chúng ta như sông tràn vào, làm cho lúc nào chúng ta cũng cảm thấy lòng mình vui vẻ, ngọt ngào, tươi mát. Xin Chúa cho mỗi chúng ta không những có Thánh linh ngự trong lòng nhưng đầy dẫy Thánh linh. Có người hỏi: “Đầy dẫy Thánh linh là thế nào?”. –Hết thảy mọi người quỳ gối ăn năn tin Chúa thì ngay giờ phút đó được Đức Thánh Linh ngự trong lòng, vì chính Thánh linh tái tạo người đó trở nên mới, làm con trai, con gái của Đức Chúa Trời. Phao-lô nói rằng: Nếu không có Thánh linh thì không thuộc về Chúa. Vì thế, hết thảy người thật lòng tin Chúa đều có Thánh linh. Phao-lô cũng khuyên: “Đừng làm buồn Đức Thánh Linh, đừng dập tắt Thánh linh”, tức là hãy hoàn toàn bước đi theo Thánh linh, phải đầu phục Thánh linh, giao chính mình cho Thánh linh, để suốt đoạn đường theo Chúa, lúc nào chúng ta cũng có một dòng sông tuôn chảy vào lòng. Dân Y-sơ-ra-ên từ Ê-díp-tô qua tới Ca-na-an là chỉ về đời sống có Thánh linh và thuộc về Ngài, khi vào Ca-na-an, họ mới nếm trải đời sống đầy dẫy Thánh linh. Chúng ta cũng vậy, khi quỳ gối ăn năn tội, tin Chúa, là có Thánh linh ngự trong lòng rồi, nhưng chưa được đầy dẫy Thánh linh cho đến khi nào chúng ta hoàn toàn đầu phục Chúa, nghĩa là bởi đức tin mà thưa rằng: “Chúa ơi, con thuộc về Ngài, con phó thác đời sống con cho Ngài, xin Chúa ngự vào, kiểm soát, sử dụng, hướng dẫn, dạy dỗ, làm hết mọi sự cho con”. Khi đó, chúng ta được đầy dẫy Thánh linh. Chúng ta lấy nước đổ vào bình thì bình đầy nước, nhưng một thời gian sau, bình có thể vơi đi. Có một cách làm cho bình luôn luôn đầy là lấy bình, mở nút, ném xuống dòng sông, nước ở trong bình, bình ở trong nước, lúc nào bình cũng đầy cả. Cũng vậy, chúng ta hãy dâng mình cho Chúa, chìm đắm trong Chúa, biến mất trong Chúa, phó thác mọi sự trong tay của Chúa mà thưa rằng: “Ngài đã mua chuộc con, con thuộc về Ngài, và con phó thác chính mình con cho Ngài”. Khi chúng ta dám nói như vậy, chúng ta sẽ được đầy dẫy Thánh linh, đời sống chúng ta vui vẻ, thỏa mãn, phước hạnh, lúc nào Chúa cũng cung cấp mọi nhu cầu cho chúng ta một cách đầy đủ, vượt quá điều chúng ta cầu xin và so ước.

Vì vậy, câu chuyện về hòn đá tuôn ra nước là chỉ Chúa Jêsus chịu chết để tuôn tràn ơn cứu rỗi, cũng chỉ về Thánh linh từ Chúa ban ra làm đầy dẫy lòng chúng ta, để không còn khao khát mà bất cứ lúc nào, hoàn cảnh nào chúng ta cũng thấy thỏa nguyện.

Bài 12: CUỘC CHIẾN ĐẤU VỚI A-MA-LÉC

Xuất 17:8-16

Cuộc hành trình của dân Y-sơ-ra-ên từ Ê-díp-tô qua Ca-na-an giống như cuộc hành trình của chúng ta từ khi tin Chúa cho đến khi bước vào cuộc đời nên Thánh. Dân Y-sơ-ra-ên được giải cứu khỏi Ê-díp-tô chỉ về chúng ta được giải cứu khỏi cảnh nô lệ trong tay của ma quỉ. Dân Y-sơ-ra-ên qua Biển đỏ chỉ về mỗi chúng ta chịu báp têm, -kể mình chết cuộc đời bại hoại, hư xấu trước kia mà bắt đầu cuộc sống mới. Dân Y-sơ-ra-ên ăn Ma-na từ trời rơi Xuống suốt 40 năm chỉ về chúng ta được nuôi mình bằng Kinh Thánh và chính mình Chúa Jêsus, Ngài là bánh hằng sống cho linh hồn của chúng ta. Dân Y-sơ-ra-ên uống nước từ hòn đá phun ra chỉ về chúng ta đầy dẫy Thánh linh, Ngài làm cho linh hồn chúng ta được thoải mái và phước hạnh. Bây giờ chúng ta học về dân Y-sơ-ra-ên chiến đấu với dân A-ma-léc.

I. NGUỒN GỐC CỦA DÂN A-MA-LÉC (Xuất 17:8)

“Vả, khi đó dân A-ma-léc khiêu chiến cùng Y-sơ-ra-ên tại Rê-phi-đim”. Dân Y-sơ-ra-ên đang đóng trại tại Rê-phi-đim, chỗ mà họ vừa được Chúa ban nước từ hòn đá. Thình lình, dân A-ma-léc đổ xô đến tấn công dân Y-sơ-ra-ên. Dân A-ma-léc là dòng dõi của Ê-sau, còn dân Y-sơ-ra-ên là dòng dõi của Gia-cốp. Dòng dõi Y-sơ-ra-ên là dòng dõi lời hứa, là dân sự của Đức Chúa Trời, còn dòng dõi của Ê-sau hay là A-ma-léc là dòng dõi xác thịt. Từ khi Ê-sau bán quyền trưởng nam cho Gia-cốp, thì dòng dõi của Gia-cốp được phước, dòng dõi của Ê-sau không được phước. Vì cớ không được phước nên họ đem lòng ghanh ghét dân Y-sơ-ra-ên, và đến đây họ tấn công ngay, không cần nêu lên lý do gì cả.

Dân A-ma-léc là dân du mục, đã từng quen sống trong sa mạc nên họ rất mạnh mẽ. Cuộc chiến đấu nầy gay go lắm cho dân Y-sơ-ra-ên, vì họ chưa từng ra chiến trận bao giờ. Chúng ta đọc Kinh Thánh để thấy dân A-ma-léc có thái độ nào đối với dân Y-sơ-ra-ên.

Phu 25:17-19: “Hãy nhớ điều A-ma-léc đã làm cho ngươi dọc đường, khi các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, thế nào người không kính sợ Đức Chúa Trời đến đón ngươi trên đường, xông vào binh hậu ngươi, đánh các người yếu theo ngươi, trong khi chính mình ngươi mỏi mệt và nhọc nhằn. Vậy, khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã ban sự bình an cho và giải cứu ngươi khỏi mọi kẻ thù ngươi trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi nhận lấy làm sản nghiệp, thì phải xóa sự ghi nhớ A-ma-léc khỏi dưới trời. Chớ hề quên”.

ISa 15:1-3: “Dân nầy vẫn còn một số tàn quân ở khắp đó đây. Sa-mu-ên nói cùng Sau-lơ rằng: Đức Giê-hô-va đã sai ta sức dầu cho ngươi, lập làm vua Y-sơ-ra-ên của Ngài. Vậy, bây giờ hãy nghe lời phán của Đức Giê-hô-va: Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Ta nhớ lại điều A-ma-léc làm cho dân Y-sơ-ra-ên, ngăn cản đường lúc nó ra khỏi xứ Ê-díp-tô. Vậy, hãy đi đánh A-ma-léc và diệt hết thảy mọi vật thuộc về chúng nó. Ngươi sẽ không thương xót chúng nó, phải giết người nam và nữ, đàn trẻ và con bú, bò và chiên, lạc đà và lừa”.

Như vậy, chúng ta thấy A-ma-léc là kẻ thù không đội trời chung với dân Y-sơ-ra-ên.

II. CÁCH CHIẾN ĐẤU VỚI DÂN A-MA-LÉC (Xuất 17:9-13)

“Môi-se bèn nói cùng Giô-suê rằng: Hãy chọn lấy tráng sĩ cho chúng ta, ra chiến đấu cùng dân A-ma-léc, ngày mai ta sẽ đứng với đầu nổng, cầm gậy của Đức Chúa Trời trong tay. Giô-suê bèn làm y như lời Môi-se nói để cự chiến dân A-ma-léc. Còn Môi-se, A-rôn và Hu-rơ lên trên đầu nổng. Vả, hễ đương khi Môi-se giơ tay lên thì dân Y-sơ-ra-ên thắng hơn, nhưng khi người Xuấtôi tay Xuống thì dân A-ma-léc lại thắng hơn. Tay Môi-se mỏi, A-rôn và Hu-rơ bèn lấy đá kê cho người ngồi, rồi ở hai bên đỡ tay người lên, tay người chẳng lay động cho đến khi mặt trời lặn. Giô-suê lấy lưỡi gươm đánh bại A-ma-léc và dân sự người”.

Kinh Thánh không cho chúng ta biết số quân và khí giới của dân Y-sơ-ra-ên và quân A-ma-léc, chỉ nói vắn tắt là Giô-suê vâng lệnh của Môi-se, đem quân ra chiến đấu với A-ma-léc. Nhưng Giô-suê không bị bỏ cô đơn trong chiến đấu, vì Môi-se lên đỉnh đồi và ở tại đó, ông cầm gậy của Đức Chúa Trời trong tay đưa lên trời. Khi Môi-se giơ tay lên thì đạo quân của Giô-suê đắc thắng, nhưng khi Môi-se mỏi, hạ tay xuống thì quân của Y-sơ-ra-ên thất bại. Vì vậy, A-rôn và Hu-rơ lấy đá kê cho Môi-se ngồi, rồi đứng ở hai bên đỡ tay Môi-se lên. Môi-se ngồi trên đỉnh đồi cao, đưa tay lên hướng về Đức Chúa Trời, là chỉ về sự cầu nguyện và sự cầu nguyện là bí quyết của đắc thắng. Sự cầu nguyện là sức mạnh vô địch mà kẻ thù nào cũng phải run sợ. Nhưng cầu nguyện không phải là một việc dễ dàng, cầu nguyện cũng là chiến đấu. Trong thơ Phi-líp, Phao-lô nói rằng: “Ê-pháp-ra đã chiến đấu không thôi trong khi cầu nguyện”. Chúa Jêsus đã chiến đấu trong sự cầu nguyện tại vườn Ghết-sê-ma-nê, đến nỗi mồi hôi tuôn ra như giọt máu lớn. Một sự chiến đấu khủng khiếp để chiến thắng.

Ứng dụng sự dạy dỗ này cho chúng ta thì tôi là Gôsuê ra trận chiến đấu với kẻ thù là ma quỉ, các ông bà anh chị là Môi-se, A-rôn và Hu-rơ ở hậu phương nâng đỡ chúng tôi bằng sự cầu nguyện, để bảo đảm cho chúng tôi sự đắc thắng. Không có Mục sư, Truyền đạo nào thành công nếu không nhờ Tín đồ cầu thay cho. Đôi khi chúng ta vô tình, đã bỏ quên những người đang phục vụ Chúa. Có những Hội Thánh nói với ông Truyền đạo, Mục sư của mình: “Ông phải chịu hết mọi trách nhiệm, chúng tôi không làm gì hết”. Mục sư phải tự túc nuôi mình, phải giảng Đạo, phải thăm viếng, phải cầu nguyện, phải làm hết thảy mọi sự. Nếu Hội Thánh không tiến bộ, không có ai tin Chúa thì Hội Thánh trách Mục sư, Truyền đạo đã không làm tròn bổn phận. Đang khi đó, dầu Mục sư, Truyền đạo có cố gắng đến đâu cũng chắc chắn thất bại, vì thiếu sự cầu thay của Hội Thánh. Nếu Môi-se không đưa tay lên trời mà cầu nguyện từ sáng đến tối, thì Giô-suê cùng đạo quân của ông chắc chắn sẽ bị tiêu diệt bởi đạo quân A-ma-léc. Vì thế, tôi tha thiết nài xin các ông bà anh chị đừng mỏi mệt đừng sờn lòng trong sự cầu nguyện. Sự cầu nguyện của các ông bà anh chị rất là quan trọng đối với mọi người. Đừng bỏ quên họ ở chiến trường thuộc linh, nhưng phải ủng hộ họ đắc thắng bằng sự cầu thay hàng ngày. Nói như vậy không có nghĩa là tôi đổ hết trách nhiệm lên quí ông bà anh chị đâu, tôi cũng có thể đóng vai Môi-se, các ông bà anh chị cũng có thể đóng vai Giô-suê, nghĩa là chúng ta phải luôn luôn hướng về Đức Chúa Trời mà cầu thay cho nhau.

Phao-lô viết thư cho các Hội Thánh, ông nói rằng: “Tôi cầu nguyện cho anh em hàng ngày”. Ngược lại, ông cũng tha thiết yêu cầu tất cả các Hội Thánh: “Xin nhớ đến mỗi chúng tôi, xin cầu nguyện cho chúng tôi với, xin Đức Chúa Trời mở cửa giảng Đạo”. Mỗi chúng ta đều có trách nhiệm nặng nề là tôn vinh Đức Chúa Trời qua cuộc chiến đấu thuộc linh với ma quỉ.

Một vị truyền đạo được bổ nhiệm đến một nơi xa xôi để hầu việc Chúa. Nhưng ông thấy công việc Chúa tại đó chậm tiến, bao nhiêu hột giống gieo ra như là gieo trên đá sỏi, không kết quả gì, thiếu ân điển, thiếu quyền năng thay đổi đời sống con người. Buồn quá, ông yên lặng trở về thăm Hội Thánh mà từ đó ông đã xuất thân. Hội Thánh đang họp lại cầu nguyện. Ông nhẹ nhàng bước vào ngồi ở hàng ghế sau. Sau buổi cầu nguyện, ông đứng lên, xin có lời chào Hội Thánh. Sau lời chào thăm, ông nói rằng: “Bây giờ tôi biết tại sao tôi thất bại, tại sao bao nhiêu năm hầu việc Chúa tôi không thấy kết quả, vì trong giờ cầu nguyện, tôi nghe quí Ông Bà cầu nguyện nhiều vấn đề, nhưng không hề có một lời cầu thay cho Mục sư, Truyền đạo ở nơi này, nơi kia. Riêng tôi, Xuấtất thân từ nơi đây để đi hầu việc Chúa, mà không ai nhớ đến tôi để cầu thay cho. Vì vậy, tôi tha thiết nài xin quí ông bà anh chị từ đây hãy đặt tôi trước mặt, cũng như đặt tôi vào lòng mà cầu thay cho, để rồi tôi sẽ mặc lấy quyền năng và ân điển mà hầu việc Chúa. Sự thực đó dạy cho chúng ta rằng mỗi chúng ta có trách nhiệm cầu thay như Môi-se, A-rôn và Hu-rơ, để đạo quân của Đức Chúa Trời được chiến thắng.

III. KẾT QUẢ CỦA CUỘC CHIẾN ĐẤU (Xuất 17:14-16)

“Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy chép điều này trong sách làm kỷ niệm, và hãy nói cho Giô-suê biết rằng Ta sẽ bôi sạch kỷ niệm về A-ma-léc trong thiên hạ. Môi-se lập nên một bàn thờ, đặt tên là “Giê-hô-va cờ xí của tôi”; và nói rằng: Bởi vì A-ma-léc có giơ tay lên nghịch cùng ngôi Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va chinh chiến với A-ma-léc từ đời nầy qua đời kia”.

Giô-suê đã chiến thắng hoàn toàn và Đức Chúa Trời tuyên bố sẽ xóa kỷ niệm của A-ma-léc trên mặt đất. Chúng ta theo dõi lịch sử của dân A-ma-léc thì thấy đúng như vậy. ISu 4:13 chép: “Chúng đánh người A-ma-léc còn xót lại”. Các vua của Y-sơ-ra-ên phải tìm dân A-ma-léc còn xót lại để tiêu diệt đúng như mạng lệnh của Chúa.

“Bởi vì A-ma-léc có giơ tay lên nghịch cùng ngôi Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va chinh chiến với A-ma-léc từ đời nầy qua đời kia”. Đấy là việc mà dân A-ma-léc không ngờ. Họ cố ý chặn đường tiêu diệt dân Y-sơ-ra-ên mà thôi, nhưng họ không biết họ đang phá hủy chương trình của Đức Chúa Trời, nên chính Chúa bảo rằng: ‘Dân A-ma-léc đã giám giơ tay lên nghịch cùng ngôi của Đức Chúa Trời’. Vì vậy, chính mình Ngài chinh chiến với họ từ đời nọ qua đời kia, để tiêu diệt dân tộc dám chống nghịch với Đấng Tạo hóa.

Theo gương đó, chúng ta hãy coi chừng những tư tưởng, hành động, ngôn ngữ của chúng ta. Chúng ta tưởng nói lời nầy cho người nầy, làm việc kia cho người kia, nhưng nếu chúng ta chống lại Chương Trình của Chúa đối với những người đó, thì vô tình chúng ta chống lại với Đức Chúa Trời. Và dám đưa tay lên chống nghịch cùng Đức Chúa Trời, thì không thể không nhận lấy cái hậu quả khủng khiếp. Vì vậy, chúng ta phải cẩn thận. Khi Sau-lơ bắt bớ, phá tán Hội Thánh của Chúa tại Giê-ru-sa-lem, thì lúc bấy giờ, ông nghĩ rằng mình sốt sắng theo tục truyền của tổ phụ.- Như khi đi đừng thì ông gặp Chúa Jêsus hiện ra. Chúa hỏi: “Hỡi Sau-lơ! Sau-lơ! Sao ngươi bắt bớ Ta?”. Chúa không hỏi: ‘Sao ngươi bắt bớ Hội Thánh Ta?’. Vì Hội Thánh là của Ngài, con cái của Ngài, là chính mình Ngài. Đụng đến họ là đụng đến chính mình Ngài.

A-ma-léc đã làm một việc mà họ không ngờ hậu quả khủng khiếp như vậy. Nhưng bên phía Y-sơ-ra-ên họ đã làm một việc tốt là lập bàn thờ dâng của lễ để cảm tạ, ca ngợi Chúa. Ôi, chúng ta dự phần với dân Y-sơ-ra-ên để cảm tạ Chúa vì chúng ta được chiến đấu và chiến thắng dân A-ma-léc, do sức toàn năng của Chúa ban cho.

IV. Ý NGHĨA THUỘC LINH CỦA CUỘC CHIẾN ĐẤU:

A-ma-léc của chúng ta hôm nay là sự sống xác thịt. Từ xác thịt mà tôi dùng đây không có nghĩa là thân thề nầy đâu, nhưng là sự sống của con người cũ còn lại trong mỗi chúng ta. Dân Y-sơ-ra-ên không thể tiến được, vì cớ dân A-ma-léc ngăn trở bước đường của họ. Người Tín đồ không tiến được trên Linh trình, vì cớ sự sống của xác thịt. Kẻ thù số một của chúng ta là bản chất xác thịt còn lại trong mỗi chúng ta, là bản chất bại hoại, hư xấu do A-đam truyền lại đã tiêm nhiễm vào xương tủy, tiêm nhiễm vào tâm linh của chúng ta. Có lẽ các ông bà anh chị ngạc nhiên mà hỏi rằng: ‘Kinh Thánh dạy: Ai ở trong Đấng Christ thì nấy là người dựng nên mới, thì tại sao bản chất lại còn trong chúng ta?’. Ga 5:16-17,24 cho biết: “Vậy, tôi nói rằng: Hãy bước đi theo Thánh linh, chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt. Vì xác thịt có những điều ưa muốn trái với những điều của Thánh linh, Thánh linh có những điều ưa muốn trái với của xác thịt; hai bên trái nhau dường ấy, nên anh em không làm được điều mình muốn làm. Vả, những kẻ thuộc về Đức Chúa Jêsus Christ đã đóng đinh xác thịt với tình dục và dâm dục mình trên Thập tự giá rồi”.

Người chưa tin Chúa thì chỉ có con người xác thịt trong đời sống họ. Người cũ hay người xác thịt là bại hoại hư xấu do A-đam truyền lại. Người chưa tin Chúa phạm đủ thứ tội, vì họ làm theo những gì mà lòng họ muốn. Người tin nhận Chúa thì tội lỗi được huyết của Chúa bôi xóa hết và được Chúa ngự vào đời sống, là người mới, là người được dựng nên mới bởi Đức Chúa Trời, người được tái tạo bởi Thánh linh của Đức Chúa Trời.

Người cũ và người mới luôn luôn chiến đấu với nhau, nên đời sống của chúng ta là bãi chiến trường giữa hai lực lượng của con người đó. Đời sống của Tín đồ không tiến được nếu cứ dung dưỡng người cũ, người xác thịt. Nó đòi hỏi luôn luôn, đòi hỏi rất nhiều: Gian dâm, ô uế, luông tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, buồn giận, cải lẫy, ghen ghét, bất bình, bè đảng, ghanh gỗ, say sưa, mê ăn uống, và nhiều điều khác kể không xiết. Trái lại, muốn tiến phải triệt để bồi dưỡng người mới, người thuộc linh. Người nầy chỉ đỏi hỏi: Yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ. Đối với sự đòi hỏi của người cũ, phải trả lời một tiếng thôi: KHÔNG! Đối với sự đòi hỏi của người mới, phải trả lời:ĐƯỢC! ĐƯỢC! Dứt khoát với người cũ như vậy cũng chưa đủ, mà phải lên án tử hình nó: “TÔI ĐÃ BỊ ĐÓNG ĐINH VÀO THẬP TỰ GIÁ VỚI ĐẤNG CHRIST” (Ga 2:20). Việc này đã hoàn tất gần hai ngàn năm trước cho mọi người, song chúng ta phải áp dụng riêng cho chính mình: “TÔI SỐNG KHÔNG PHẢI LÀ TÔI SỐNG NỮA NHƯNG ĐẤNG CHRIST SỐNG TRONG TÔI”. Ai nấy phải kể mình thật chết về tội lỗi, đối nghịch với tội lỗi và sống cho Đức Chúa Trời (Ro 6:11). Khi chúng ta kể như vậy, Chúa sẽ thực hiện điều chúng ta kể đó, cũng như khi dân Y-sơ-ra-ên vâng lời Chúa chiến đấu với A-ma-léc, thì Ngài cho họ chiến thắng hoàn toàn. Chính Đức Chúa Trời chinh chiến với dân A-ma-léc luôn luôn để tiêu diệt họ, vì họ có giơ tay lên nghịch cùng Ngài (Xuất 17:16). Ngài cũng chinh chiến với xác thịt như vậy để tiêu diệt nó, vì nó nghịch với Ngài, không phục dưới Luật pháp của Ngài (Ro 8:7).

Bài 13: CHÚA DẮT DÂN Y-SƠ-RA-ÊN

Xuất 19:1-6

Sau ba tháng đi đường, dân Y-sơ-ra-ên đã đến chân núi Si-na-i- núi đó bây giờ vẫn còn. Trong ba tháng đó, Chúa đã cứu họ khỏi tay của Pha-ra-ôn, và Xuấta quân lính của vua xuống Biển Đỏ. Ngài ban cho dân Y-sơ-ra-ên đủ mọi nhu cầu: bánh ăn, nước uống… Bây giờ, họ không còn là những tên nô lệ, cũng không chỉ là dòng dõi của Gia-cốp nữa, nhưng còn là dân Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, Chúa nhắc cho họ thế nào Ngài đã dẫn dắt họ như chim ưng hay chim phụng hoàng chăm sóc con của nó.

“Các ngươi đã thấy điều Ta làm cho người Ê-díp-tô, ta chở các ngươi trên cánh chim ưng làm sao, và dẫn ngươi đến cùng Ta thế nào” (Xuất 19:4). Môi-se đã giải thích sự chăm sóc đó của Chúa trong bải giảng của mình: “Như phụng hoàng phất phới giỡn ổ mình, bay chung quanh con nhỏ mình, sè cánh ra xớt nó, và cõng nó trên chéo cánh mình thể nào, thì một mình Đức Giê-hô-va đã dẫn dắt người thể ấy” (Phu 32:11-12). Chúa đã ví sánh Ngài là chim ưng hay chim phụng hoàng, dân sự của Ngài là đàn con của chim ấy. Chim ưng đã chăm sóc, dạy dỗ con của mình thể nào, thì Chúa cũng dẫn dắt, chăm sóc, dạy dỗ dân sự Ngài như vậy.

I. CHIM MẸ TUNG CON RA NGOÀI Ở:

Chim phụng hoàng làm tổ trên đỉnh núi cao. Ổ của nó rất êm ấm, vững vàng và đẹp đẽ. Khi chim con lớn lên, chim phụng hoàng sẽ phá cái ổ để chim con không còn lẩn quẩn trong đó, và chim mẹ sẽ tập cho chim con bay.

Chúa cũng dẫn dắt chúng ta như thế. Đức Chúa Trời đã từng tung con cái của Ngài ra khỏi cái ổ êm ấm đẹp đẽ. Trước hết, Ngài đã tung dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi tổ ấm của họ. Khi Gia-cốp đem 70 người từ Ca-na-an đến Ê-díp-tô, họ được tiếp đón rất nồng hậu và được dành cho một chỗ đất rất phì nhiêu, vì lúc bấy giờ Giô-sép làm tể tướng của nước Ê-díp-tô. Chúng ta thấy rằng trong thời gian hai ba trăm năm dân Y-sơ-ra-ên ở tại Ê-díp-tô, họ như là đàn chim trong tổ ấm. Nhưng rồi Giô-sép qua đời, vị hoàng đế quen biết ông cũng qua đời. Các vị vua kế tiếp không còn đối xử tử tế với dân Y-sơ-ra-ên như trước. Trái lại, họ bắt bớ tàn nhẫn, buộc dân Y-sơ-ra-ên phải làm những tên nô lệ cho họ và lần hồi họ sẽ tiêu diệt dân Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời đã cho phép điều đó xảy ra, giống như chim mẹ tung đàn chim con ra khỏi ổ để dạy dỗ, và khiến họ trưởng thành trong cuộc sống, trong bước đường theo Ngài.

Chúa đã tung Hội Thánh Giê-ru-sa-lem ra ngoài. Sau khi Chúa Jêsus Thăng thiên, thì Hội Thánh nhóm tại phòng cao được một trăm hai mươi người. Hội Thánh tăng trưởng đến ba ngàn người, đến năm ngàn người, đến nhiều quá, đông lắm. Ai nấy hiệp chung của cải để không người nào thiếu thốn. Vì vậy, mỗi người sống thật êm ấm như trong tổ chim ưng vậy. Thình lình, Chúa cho cơn bắt bớ dữ dội xảy ra. Ê-tiên bị ném đá chết. Các Tín đồ ở Giê-ru-sa-lem, kẻ thì bị ở tù, người thì bị tịch biên gia sản, rồi họ như đàn chim bị tung ra khỏi tổ, kẻ thì qua Sa-ma-ri, kẻ thỉ qua An-ti-ốt, kẻ qua Chíp-rơ, nghĩa là bốn phương trời đều có Tín đồ từ Giê-ru-sa-lem đến.

Ngày nay Hội Thánh Việt Nam cũng như đàn chim bị tung ra khỏi tổ. Cả thế giới đều có một Hội Thánh Việt Nam. Nhưng không phải chỉ những người Việt Nam ra khỏi xứ, mà chúng ta là những người còn ở lại đều cảm xúc mình như đàn chim con bị tung ra khỏi ổ. Nhưng chúng ta biết rằng đó là đường lối của Chúa, đó là cách Chúa dẫn dắt Hội Thánh của Ngài, và chúng ta phải cuối đầu cảm tạ và ca ngợi Chúa, vì đường lối của Ngài thật là kỳ diệu. Trời cao hơn đất bao nhiêu thì đường lối của Ngài cao hơn đường lối của chúng ta bấy nhiêu. Ý tưởng chúng ta rất là thấp và ý tưởng Chúa rất là cao. Vì vậy, nhìn chim mẹ tung chim con ra khỏi ổ thể nào, thì Đức Chúa Trời cũng tung chúng ta là con cái của Ngài như vậy.

II. CHIM MẸ GIỠN VỚI CON:

“Như phụng hoàng phất phới giỡn ổ mình, bay chung quanh con nhỏ mình” (Phu 32:11). Khi chim mẹ đã tung con ra khỏi ổ, chim mẹ bắt đầu bay chung quanh con. Bay như vậy để cho con cảm thấy an tâm, vì biết mẹ ở bên mình, sẵn sàng bảo vể cứu mình khi cần thiết. Chúa cũng làm như vậy cho dân Y-sơ-ra-ên. Ngài quyết định tung họ ra khỏi tổ ấm để Ngài thi hành những phép lạ: Nào là 10 tai vạ đổ Xuống trên dân Ê-díp-tô, nào là Chúa đưa họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô, có trụ mây, trụ lữa dẫn đường trong sa mạc, nào rẽ Biển Đỏ cho họ đi ngang qua như đi trên đất khô, nào chôn vùi cả đạo quân Ê-díp-tô xuống Biển, nào Chúa hóa nước đắng thành nước ngọt cho họ uống, mưa Ma-na từ trời xuống cho họ ăn, khiến hòn đá phun nước cho họ và bầy súc vật của họ uống. Ôi, Chúa làm cho họ thấy được quyền năng, sự chăm sóc, bảo vệ, yêu thương vô cùng của Chúa vinh hiển của Ngài và kinh nghiệm được quyền năng đối với họ.

Nếu chúng ta ngồi mà ôn lại đời sống của mình thì mỗi chúng ta cũng thấy được rằng Đức Chúa Trời đã thi hành bao nhiêu phép lạ cho đời sống của chúng ta và Hội Thánh của Ngài. Mỗi lần chúng ta dự Tiệc thánh, chúng ta thường nghe nhắc lại câu nầy: “Hãy làm điều nầy để nhớ Ta”. Như vậy, chúng ta phải luôn luôn nhớ lại những ơn phước mà Chúa đã làm cho mình, để quên đi những khó khăn ở chung quanh. Lắm khi con mắt chúng ta dễ nhìn hoàn cảnh chung quanh để buồn thảm, lo lắng, nhưng không thấy cánh tay quyền năng vô cùng của Chúa đưa ra ban phép lạ, để được an ủi và khích lệ. Lời của Chúa bảo rằng: “Hãy theo Ta”. Lời đó nhắc cho chúng ta biết rằng không có điều gì khó bằng theo Chúa, nhưng trên Linh trình, chúng ta không bị thiệt hại đâu, Chúa đền bù lại trăm ngàn lần hơn nữa.

Thi 66:16 chép: “Hỡi hết thảy người kính sợ Đức Chúa Trời, hãy đến nghe, thì tôi sẽ thuật điều Ngài đã làm cho linh hồn tôi”. Ý tác giả muốn nói rằng những điều mà Chúa làm cho ông nhiều quá, lớn quá, mà ai muốn nghe thì hãy đến, ông sẽ thuật lại cho. Cũng vậy, Chúa luôn luôn nhắn nhủ và nhắc nhở chúng ta nhớ lại những điều mà Chúa đã làm, để chúng ta quên đi những gì mà chúng ta mất mát.

III. CHIM MẸ CHỞ CON TRÊN CÁNH MÌNH:

Sau khi chim phụng hoàng tung con ra khỏi ổ, thì nó sè cánh ra để cho chim con thấy đôi cánh to rộng của mẹ mà an tâm trước mọi tình huống. Chúa mượn sự thực đó để dạy rằng dân Y-sơ-ra-ên đã nghe tổ phụ của họ là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp nói lại, nhưng họ chưa bao giờ kinh nghiệm quyền năng của Ngài. Vì vậy, họ như là thách đố Đức Chúa Trời: Làm sao Đức Chúa Trời giải cứu chúng ta khỏi tay người Ê-díp-tô được? Làm sao Đức Chúa Trời có thể rẽ Biển Đỏ cho chúng ta đi ngang qua? Làm sao Đức Chúa Trời có thể nuôi đoàn dân đông nầy trong sa mạc được? Họ không bao giờ hưởng được các ơn phước, vì họ tưởng Đức Chúa Trời cũng như các vị thần khác của các dân tộc chung quanh. Vì vậy, Chúa đã đưa họ vào sa mạc để họ có cơ hội thấy được quyền năng của Chúa, như chim phụng hoàng sè cánh ra cho đàn con thấy. Dân Y-sơ-ra-ên lúc bấy giờ có gần hai triệu người sống trong sa mạc. Giả định họ có đến 100 triệu người và sống trong 40 năm, 400 năm, 4000 năm, thì Đức Chúa Trời Toàn năng vẫn có thể nuôi họ. “Đức Chúa Trời hằng sống là nơi ở của ngươi, ở dưới có cánh tay đời đời của Ngài” (Phu 33:27). Cánh tay của Ngài là cánh tay đời đời. Cánh tay giương ra để bao phủ chúng ta từ dưới lên trên, từ bên nầy qua bên kia, không thiếu thốn gì. Cơ hội nầy đây là cơ hội khủng hoảng trong tâm linh chúng ta, nhưng lại là cơ hội tốt đẹp nhất mà Đức Chúa Trời bày tỏ quyền năng của Ngài để chúng ta thấy được. Nguyện Chúa cho chúng ta là con cái của Chúa thấy được quyền năng lạ lùng nhất của Ngài trong giai đoạn nầy, cũng như đàn chim con thấy cánh của mẹ mình vậy. Chim phụng hoàng chở con trên đôi cánh mà bay lên cao. Sau đó, chim mẹ nghiêng cánh và thả chim con rơi xuống. Bấy giờ, chim con kêu thất thanh, đầy sợ hãi, nhưng do bản năng sinh tồn, nó đập đập đôi cánh non nhỏ, yếu ớt của nó để bay. Chim con chắc trách mẹ sao tàn nhẫn quá, đưa nó ra khỏi tổ ấm và đi vào chỗ chết. Lúc đó chim mẹ làm gì? –Chim mẹ bay lượn xung quanh con, chăm chú nhìn con và khi thấy con đuối sức, thì mẹ bay bên dưới và xớt con bằng đôi cánh lớn rộng của mình. Sau đó, chim mẹ lại bay lên cao, lên thật cao và lại nghiêng cánh cho chim con rơi xuống. Chim con lại kêu la, lại đập cánh… Chim mẹ cứ tập cho con như thế đến khi chim con biết bay. Khi đó chim con hiểu được mẹ và cảm ơn mẹ đã giúp nó khai thác khả năng của nó, giúp nó trưởng thành.

Thưa các ông bà anh chị, chắc là Chúa đã tung các anh chị ra khỏi tổ ấm, Chúa tung chúng ta ra không gian và chúng ta tưởng rằng mình đã chết. Nhưng chúng ta như đàn chim non đó, bao nhiêu năm qua, bao nhiêu năm qua chúng ta sử dụng cặp cánh Đức tin của mình. Người công bình sống bởi Đức tin và cặp cánh Đức tin chúng ta đã cho chúng ta còn đến ngày nay. Đức tin của chúng ta mỗi lúc một lớn lao hơn, mỗi ngày chúng ta sử dụng Đức tin để sống. Vì vậy, cảm tạ ơn Chúa, như đàn chim non của phụng hoàng, sau một thời gian ngắn, đã bay lượn được trong khoảng không trung thì chúng ta là con cái của Chúa cũng được tung đôi cánh Đức tin và trưởng thành. Hiện nay, tôi dám quả quyết rằng một số Tín đồ đã bay được, tự bước đi trên con đường theo Chúa. Tôi cảm tạ ơn Chúa vì thấy điều đó rất rõ ràng, và lòng tôi được khích lệ vô cùng. Tôi biết rằng Hội Thánh của Chúa không bao giờ bị tàn hại, mà mỗi lúc một mạnh mẽ, mạnh mẽ hơn lên. Dầu chúng ta bị quăng ra khỏi ổ, dầu chúng ta bị tung ra không trung, nhưng thật Đức Chúa Trời không bỏ chúng ta đâu, Ngài vẫn chăm sóc chúng ta. Khi nào chúng ta cùng cực, khi nào chúng ta đuối sức, thì Ngài đem chúng ta ra khỏi. Tôi cảm tạ ơn Chúa, vì biết rằng Hội Thánh của Chúa ở đây, Hội Thánh của Chúa ở nước ngoài đã trãi qua bao nhiêu sự tập luyện như chim mẹ tập luyện chim con, để chúng ta trở thành những con người manh mẽ trong đời sống thuộc linh. “Ngài tập tay tôi đánh giặc, đến nỗi cánh tay tôi giương nổi cung đồng”. (Thi 18:34).

IV. NẾP SỐNG CỦA CHIM PHỤNG HOÀNG:

Bây giờ chúng ta không còn là những chim con trong tổ ấm, nhưng là những chim phụng hoàng đang bay, thì chúng ta phải sống như thế nào?

1- Bay cao: “Nhưng ai trông đợi Đức Giê-hô-va thì chắc được sức mới, cất cánh bay cao như chim ưng” (Ê-sai 40:31). Chim ưng tức là chim phụng hoàng. Chim sẻ thì bay là là trên mặt đất để tìm nhặt từng hạt lúa, nhưng chim phụng hoàng bay rất cao. Người Tín đồ là chim phụng hoàng, vì vậy, đời sống thuộc linh của chúng ta mỗi lúc phải bay bao hơn, bay lên thật cao. Thư Cô-lô-se bảo chúng ta: “Hãy ham mến các sự ở trên trời, “tìm kiếm các sự ở trên trời”, vì chúng ta không phải là công dân ở dưới đất, mà là công dân ở trên trời. Tất cả những gì mà chúng ta đòi hỏi, những gì chúng ta hi vọng đều ở trên trời, chỉ có Thiên đàng mới có mà thôi. Vì vậy, nếu chúng ta là phụng hoàng, thì mỗi lúc một bay cao hơn trên đạo đức, trên cõi tâm linh, trên cõi Thiên đàng.

2- Thấy xa. Con mắt của chim phụng hoàng rất đặt biệt, nó nhìn thẳng vào mặt trời và bay lên cao. Vì cớ đó mắt của phụng hoàng thấy rõ lắm. Đây cũng là bài học cho mỗi chúng ta, vì khi nào chúng ta đứng chỗ cao thì thấy xa. Các ông bà có thể thấy cây chuối cao hơn đỉnh núi không?- Cây chuối không cao hơn đình núi, vì cây chuối ở gần bên chúng ta còn đỉnh núi ở xa quá. Nếu chúng ta chỉ bay là là trên mặt đất, thì thấy gần, xem những việc tầm thường. Khi nào chúng ta bay lên cao, thì thấy được xa và đánh giá được giá trị của mọi vật. Xin Chúa cho chúng ta thấy xa hơn cái cõi vật chất tạm bợ nầy, mà thấu vào cõi đời đời. Chỉ có con mắt đức tin, con mắt thuộc linh giúp chúng ta thấy được điều đó.

3- Sống lâu. “Ngài cho miệng ngươi được thỏa các vật ngon, tuổi đang thì của ngươi trở lại như của chim phụng hoàng”, (Thi 103:5). Chim phụng hoàng là loài chim sống rất lâu và tác giả mượn thực sự đó mà bảo rằng chúng ta là con cái của Chúa, thì bởi sức toàn năng của Ngài chúng ta lúc nào cũng mạnh, cũng vui vẻ, cũng hăng say, hoàn cảnh nào cũng chịu được để chúng ta tiến lên trên con đường phục vụ Ngài.

Thi 84:7 chép: “Họ đi tới, sức lực lần lần thêm; ai nấy đều ra mắt Đức Chúa Trời tại Si-ôn”. Đoàn người của Đức Chúa Trời đi tới, không đi giật lùi, không nhìn sang bên hữu hay bên tả. Họ đi tới, đang khi họ đi tới, sức lực lần lần thêm, đi từ sức mạnh đến sức mạnh, càng hầu việc Chúa thì muốn hầu việc Chúa nhiều hơn, càng tiến bộ thì muốn tiến bộ mãi, càng bay cao thì muốn bay cao hơn, lúc nào cũng thỏa mãn và ra mắt Chúa tại Si-ôn, tức là bệ kiến Ngài ở Thiên đàng.

Chắc chắn lòng chúng ta đều ao ước ai nấy bay cao như chim ưng, thấy xa như chim phụng hoàng và lúc nào cũng đi tới, để càng thêm sức mạnh, hầu vượt qua được mọi cám dỗ, thử thách mà bệ kiến Đức Chúa Trời tại Thiên đàng trong một ngày không xa. Ha-lê-lu-gia!

Bài 14: ĐỨC CHÚA TRỜI BIỆT RIÊNG DÂN Y-SƠ-RA-ÊN

Xuất 19:5-6

Người thả lưới khi kéo lên thì chọn cá tốt để riêng ra. Người chăn nuôi cũng lựa những con cá tốt trong bầy để riêng ra. Người trồng tỉa cũng lựa giống tốt để riêng ra. Cũng một thể ấy, trong muôn dân, Đức Chúa Trời để riêng dân Y-sơ-ra-ên, bây giờ gọi là Do thái, để họ trở nên một dân thuộc về Chúa, là một nước Thầy Tế lễ, là một dân Thánh.

I. MỘT DÂN THUỘC VỀ CHÚA:

“Vậy, bây giờ, nếu các ngươi vâng lời Ta và giữ sự giao ước Ta, thì trong muôn dân các ngươi sẽ thuộc riêng về Ta” (Xuất 19:5). Chúa lựa chọn dân Y-sơ-ra-ên, Ngài để riêng họ ra làm một dân thuộc về Ngài, như một cơ nghiệp, một báu vật. Vì vậy, Ngài đã giải cứu họ ra khỏi Ai-cập, rẽ Biển Đỏ cho họ đi qua, làm mưa Ma-na từ trời cho họ ăn, đập hòn đá phun ra nước cho họ uống. Và qua dân tộc đó, chúng ta có bộ Kinh thánh. Toàn bộ Kinh Thánh có liên quan đến dân Y-sơ-ra-ên. Ngày kia, có một vị Hoàng đế hỏi một cận thần là Tín đồ: “Anh có thể dùng một chữ để minh chưng Kinh Thánh là thật không?”. Người đó suy nghĩ một chút rồi trả lời: “Nếu dùng một chữ thì đó là DO THÁI”. Chính dân Y-sơ-ra-ên chứng minh cho chúng ta rằng Kinh Thánh là thật.

Tạ ơn Chúa, không những dân Y-sơ-ra-ên mà thôi, nhưng cả Hội Thánh chúng ta hôm nay, cũng là dân Y-sơ-ra-ên thuộc linh. Chúng ta là cơ nghiệp, là sản vật quí báu mà Ngài đã mua chuộc bằng chính sanh mạng của Ngài. Chúa xem dân Y-sơ-ra-ên là quí không phải là tây vị đâu, vì trong cả thế gian nầy không tìm được người như Áp-ra-ham,Y-sác, Gia-cốp, Sa-mu-ên… Họ là những người kính thờ Chúa, yêu mến và tin cậy Ngài. Đó là lý do Ngài đã ban phước cho họ và cả dòng dõi họ cho đến ngày nay. Chúng ta được Chúa chọn trong Chúa Chúa Jêsus từ trước buổi sáng thế, để làm một dân thuộc riêng về Ngài và Ngài đã xem chúng ta là quí báu, có thể hơn cả dân Y-sơ-ra-ên nữa (Eph 1:3-6). Hội Thánh của Chúa là dân của Ngài. Ai tin nhận Chúa Jêsus được tái tạo trở nên con cái Đức Chúa Trời, được ghi tên vào sổ sự sống ở trên trời, được đóng ấn bằng Thánh linh, là thuộc về Ngài.

IPhi 2:9,10 chép: “Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân Thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời…Anh em ngày trước không phải là một dân mà bây giờ là dân Đức Chúa Trời, trước không được thương xót, mà bây giờ được thương xót”. Chữ “anh em” bao gồm người Việtnam, người Trunghoa, Âu châu, Mỹ-châu, Á-châu, Úc-châu, Phi-châu… Bất cứ người ở thời đại nào, phương trời nào, hễ đã tin Chúa Jêsus thì được kể là một dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời. Vì vậy, chúng ta phải vui mừng tạ ơn Chúa hơn dân Y-sơ-ra-ên đời xưa nữa. Ôi, nếu chúng ta xem Kinh Thánh thì thấy rằng dân Y-sơ-ra-ên rất hãnh diện vì họ là dân của Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời không thẹn mà xưng họ là dân thuộc về Ngài. Chúa Jêsus cũng xem chúng ta như vậy. Sứ đồ Phao-lô đã viết: “Ước gì từ nay về sau, chẳng ai làm khó cho tôi, vì trong mình tôi có đốt dấu vết của Đức Chúa Jêsus vậy” (Ga 6:17). Đời xưa, những người nô lệ hay là đầy tớ bị người chủ đóng dấu trên lưng để làm dấu rằng họ thuộc về người chủ đó. Về phương diện tâm linh, Chúa đóng ấn Phao-lô bằng Thánh linh, chứng minh ông thuộc về Ngài. Về phương diện hình thức, bao nhiêu lằn roi còn trên mình Phao-lô. Ba lần bị đánh roi, mỗi lần thiếu một roi là bốn mươi, một lần ông bị ném đá tưởng chết rồi, người ta kéo ra ngoài thành, không ngờ ông sống lại, đứng lên, vào thành tiếp tục giảng Đạo. Bao nhiêu lần bị tù đày… Ông lấy làm hãnh diện vì Chúa đã đóng dấu trên mình ông, để ông thuộc về Ngài.

Ôi, nếu chúng ta vì danh Chúa mà gặp khó khăn, nguy hiểm nào, thậm chí bị thương tích đi nữa, đó là dấu chứng minh chúng ta thuộc về Ngài. Chúng ta thật đáng hãnh diện vì mình thuộc về Chúa và Chúa thuộc về chúng ta.

II. MỘT NƯỚC THẦY TẾ LỄ:

Lúc bấy giờ dân Y-sơ-ra-ên chưa phải là một nước Thầy Tế lễ, vì chưa phải mọi người đều làm Thầy Tế lễ, chỉ có chi phái Lê-vi mà thôi. Nhưng đứng về phương diện tâm linh, thì dân Y-sơ-ra-ên đều là Thầy Tế lễ, vì họ được dâng hương và dân của lễ. Đa-vít không phải là Thầy Tế lễ, ông là vua, nhưng ông hành động như một Thầy Tế lễ: “Nguyện lời cầu nguyện tôi thấu đến trước mặt Chúa như hương. Nguyện sự giơ tay tôi lên được giống như của lễ buổi chiều!” (Thi 141:2). Ông cầu nguyện như là dâng hương cho Đức Chúa Trời; ông giơ tay lên hướng về Chúa để dâng đời mình như một của lễ toàn thiêu đẹp lòng Đức Chúa Trời. Nhưng từ khi Chúa Jêsus chịu chết trên Thập tự giá, Ngài tuyên bố: “Xong rồi”, thì bức màn nơi Chí thánh bị xé ra làm hai, từ trên chí dưới, tức là mở một con đường cho mọi người vào nơi Chí thánh (Ma 27:51).

Vì vậy, mỗi chúng ta ngày nay Nam Phụ Lão Ấu đều là Thầy Tế lễ của Đức Chúa Trời, chúng ta được phép dâng hương bằng sự cầu nguyện, dâng tế lễ bằng lời ca ngợi, dâng tiền bạc làm của lễ có mùi thơm cho Chúa, dâng cả đời mình cho Chúa để Phục vụ Ngài. Phi 4:18 chép: “Vậy, tôi đã nhận được hết, và đương dư dật; tôi được đầy dẫy vì đã nhận đồ nơi Ép-ba-phô-đích mà anh em gởi cho tôi, như một thứ hương có mùi thơm, tức là một của lễ Đức Chúa Trời đáng nhận, và đẹp lòng Ngài”. Ôi, câu nầy quí quá! Phao-lô ngồi tù tại thành La-mã, Hội Thánh Phi-líp lạc quyên và gởi các thứ nhu cầu cho ông, do Ép-ba-phô-đích mang đến. Ông viết thư để cảm ơn và nói rằng của lễ của họ như một thứ hương có mùi thơm mà Đức Chúa Trời đáng nhận. Quí ông bà anh chị đã dâng tiền thì nên biết rằng không phải mình dâng cho Mục sư, Truyền đạo, nhưng hết thảy các của lễ của chúng ta là dâng cho Chúa, là một của lễ đẹp lòng Ngài mọi đàng, như các Thầy Tế lễ đời xưa đã dâng các Tế lễ trong Đền thờ vậy.

Trong IICo 8:1-7, Phao-lô thuật lại việc Hội Thánh tại Ma-xê-đoan nghe tin Hội Thánh Giê-ru-sa-lem gặp cơn đói kém, họ xin phép Phao-lô để quyên tiền trợ giúp Hội Thánh Giê-ru-sa-lem. Ban đầu Phao-lô có chối từ, vì biết họ đã nghèo khổ quá chừng, ông nói anh em cầu thay cho Hội Thánh Giê-ru-sa-lem là đủ rồi. Nhưng không biết bao lần, họ nài ép ông để được dự phần giúp đỡ Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem. Phao-lô không cần phải quyên vì họ muốn dâng, ông đã từ chối mà họ nài nỉ để được phép dâng, vì họ muốn dâng của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời mọi đàng. Đây là điều khích lệ tôi luôn luôn. Mỗi chúng ta đều là Thầy Tế lễ. Dâng hương là cầu nguyện, dâng Tế lễ là ca ngợi, dâng tiền bạc và cả đời sống mình làm của lễ sống và thánh đẹp lòng Đức Chúa Trời mọi đàng.

Chúng ta nên biết rằng Chúa lựa chọn mình thuộc về Ngài là một đặt ân, Chúa cho chúng ta dự phần hầu việc Ngài là một đặt ân lớn hơn nữa. Vì vậy, chúng ta không nên chối từ bất cứ điều gì mà Chúa muốn dùng. Tôi thường tự nhủ: “Phần thưởng của người phục vụ Chúa là cứ được phục vụ Chúa”. Tôi không ao ước tiền bạc, địa vị hay bất cứ điều gì, nhưng là mỗi lúc được hầu việc Chúa nhiều hơn, nhiều hơn. Đó là một phần thưởng lớn. Trong Mat 25 Chúa thuật ẩn dụ về các ta-lâng: Ngài giao cho người nầy 5 ta-lâng, người kia 2, người nọ 1. Rồi Chúa đi xa một thời gian. Khi Ngài trở về, người nhận 5 ta-lâng đã làm lợi thêm được 5 ta-lâng nữa, người nhận hai ta-lâng được lợi hai. Chúa đã phán: “Hỡi đầy tớ ngay lành và trung tín kia, được lắm. Ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, Ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều”. Điều đó có nghĩa là ngươi đã trung tín trong việc nhỏ thì Ta tin cậy ngươi trong việc lớn. Ngươi đã phục vụ Ta, nên bây giờ Ta cho ngươi tiếp tục phục vụ Ta nhiều hơn. Tôi thật sung sướng vô cùng vì được phục vụ Chúa và mỗi lúc được phục vụ nhiều hơn, và tôi coi đó là đặc ân vô giá mà Chúa giành cho tôi.

III. MỘT DÂN THÁNH:

Chữ “Thánh”mà Chúa dùng có hai nghĩa: Một là Thánh trong địa vị, hai là Thánh trong Linh tánh hay là kinh nghiệm thánh trong địa vị, tức là bất cứ ai, tức làbất cứ ai, bất cứ vật gì, con vật nào biệt riêng ra cho Chúa thì người đó, vật đó, con vật đó là Thánh. Dân Y-sơ-ra-ên là Thánh vì được biệt riêng dâng cho Chúa, nên được gọi là Thánh. Thánh trong kinh nghiệm, Thánh trong Linh tánh, có nghĩa là có những cá nhân được nên Thánh trong Linh tánh hay là kinh nghiệm. Toàn thể dân Y-sơ-ra-ên được kể là Thánh, nhưng trong nếp sống hằng ngày, chỉ có một số ít như Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, Giô-sép, Môi-se, Giô-suê, Ca-lép, Sa-mu-ên, Đa-vít… có nếp sống Thánh khiết hàng ngày. Nên Thánh trong địa vị đã đành, nhưng cũng cần phải nên Thánh trong Linh tánh.

Chúng ta là con cái của Chúa cũng vậy. Toàn thể Hội Thánh Nam Phụ Lão Ấu, người tin Chúa lâu hay là mới tin Chúa đều được kể là Thánh trước mặt Chúa, vì chúng ta thuộc về Chúa. ICo 1:2 chép “Gởi cho Hội Thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô, tức là cho những người đã được nên Thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi là Thánh đồ, lại cho mọi người bất luận ở nơi nào, cầu khẩn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, là Chúa của những người ấy và của chúng ta”. Gởi cho Hội Thánh Cô-rinh-tô, tức là toàn thể Tín đồ được gọi là Thánh, được nên Thánh trong Chúa Jêsus.

ICo 3:16,17 chép: “Anh em há chẳng biết mình là đền thờ của Đức Chúa Trời và Thánh linh Đức Chúa Trời ở trong anh em sao? Ví có ai phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời sẽ phá hủy họ, vì đền thờ của Đức Chúa Trời là Thánh, mà chính anh em là đền thờ”. “Anh em”là nói chung, hết thảy con cái của Chúa là đền thờ của Đức Chúa Trời, vì chính Ngài đang ngự trong mỗi người. Vì vậy, đền thờ của Đức Chúa Trời là Thánh, chúng ta đều thuộc về Chúa, được kể là Hội Thánh. Mặc dầu trong kinh nghiệm hàng ngày không phải hết thảy chúng ta đều có nếp sống Thánh khiết đâu. Chúng ta có những lỗi lầm, có những yều đuối, nhưng trước mặt Đức Chúa Trời, Ngài kể chúng ta là Thánh, vì Ngài nhìn xem chúng ta ngang qua Huyết báu của Chúa Jêsus. Dầu mỗi chúng ta có địa vị Thánh trong Chúa Jêsus, thì chúng ta cần phải bước đến một bước nữa là có nếp sống Thánh khiết. “Vì ý muốn Đức Chúa Trời, ấy là khiến anh em nên Thánh: tức là phải lánh sự ô uế, mỗi người phải biết giữ thân mình cho Thánh sạch và tôn trọng, chẳng bao giờ sa vào tình dục luông tuồng như người ngoại đạo, là kẻ không nhìn biết Đức Chúa Trời”. (Te 4:3-5). Kinh Thánh bảo chúng ta phải có một nếp sống Thánh khiết, khác hơn lúc chúng ta chưa tin Chúa, khác hơn người không tin Chúa. Người không tin Chúa thì sống thế nào cũng được, nhưng chúng ta là dân Thánh của Đức Chúa Trời, chúng ta là Thầy Tế lễ của Đức Chúa Trời, chúng ta là người thuộc về Đức Chúa Trời, thì chúng ta phải có một nếp sống xứng đáng với địa vị đó. Nếu chúng ta sống như người trần gian, thì chúng ta sỉ nhục Cha chúng ta ở trên trời gọi chúng ta là dân Thánh, gọi chúng ta là Thầy Tế lễ, gọi chúng ta là dân thuộc về Ngài.

“Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiết anh em nên Thánh trọn vẹn, nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được khi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đến!” (ITe 5:23). Cả ba phương diện: Tâm thần, linh hồn và thể xác đều phải Thánh. Đền thờ có ba phần: Hành lang, nơi Thánh và nơi Chí Thánh. Ba phần đó đều thuộc về đền thờ của Đức Chúa Trời, được gọi là Thánh. Nếu con vật nào đụng đến phạm vi của Đền thờ, thì phải xử tử nó. Thân thể của chúng ta như hành lang của Đền thờ, linh hồn của chúng ta như nơi Thánh và tâm thần của chúng ta như nơi Chí Thánh. Vì vậy, Đức Chúa Trời làm cho cả ba phương diện của chúng ta đều nên Thánh. Không phải là cố gắng, như khi nào chúng ta sẵn sàng dâng chính mình cho Chúa và thưa với Ngài rằng: ‘Xin Chúa ngự vào đời sống của con, vì Ngài đã mua chuộc bằng chính Huyết quí báu của Ngài, con thuộc về Ngài, con là Thầy Tế lễ của Ngài, con là dân sự của Ngài và xin Chúa làm cho con nên Thánh, không những là trong địa vị mà trong kinh nghiệm hàng ngày. Xin Chúa cho con có nếp sống Thánh khiết, tức là Thánh khiết trong mọi cách ăn nết ở của con, lời nói phải Thánh khiết, việc làm phải Thánh khiết, tư tưởng phải Thánh khiết để xứng hiệp với dân Thánh, Thầy Tế lễ và nước Thánh.

Ngay khi chúng ta quì gối cầu nguyện, ăn năn tin nhận Chúa là chúng ta đã được sanh ra bởi Đức Chúa Trời. Một em bé sanh ra xong, nó phải lớn lên. Nếu em sanh ra và không bao giờ lớn lên, cha mẹ sẽ khổ tâm lắm. Gia đình nào có con mà mỗi ngày thấy nó lớn lên thì rất lấy làm thỏa mãn. Cũng vậy, mỗi chúng ta đã được sanh ra bởi Đức Chúa Trời trong Hội Thánh nầy, thuộc về đại Gia đình trong nước của Ngài, thì mỗi chúng ta phải lớn lên mỗi ngày, để đạt đến bậc thành nhơn, tức là trưởng thành. Một cậu bé sáu tuổi đến trường xin học, nhà trưởng kể cậu là một học sinh. Được kể là học sinh cũng chưa đủ, mỗi ngày cậu ấy phải cắp sách đến trường, và cứ mỗi năm phải lên được một lớp cho đến khi tốt nghiệp. Đối với chúng ta cũng thế. Các ông bà anh chị đừng ngạc nhiên mà hỏi tại sao phải đi Nhà thờ, tại sao phải dâng tiền, tại sao phải sinh hoạt tâm linh? –Vì nhờ đó mà tâm linh của chúng ta lớn lên, đặng đến bậc trưởng thành. Nếu ai không sinh hoạt như vậy, thì đời sống tâm linh không thể nào lớn lên được.

IPhi 2:2 có chép: “Thì hãy ham thích sữa thiêng liêng của đạo, như trẻ con mới đẻ vậy”. Mỗi đứa bé sinh ra đều ham thích sữa. Nếu một em bé mới sanh mà đòi hút thuốc, ăn trầu, uống rượu, xem hát, thì cha mẹ nó chắc phải chạy trốn, vì nó đã thành quỉ rồi. Chắc không có đâu, con trẻ mới đẻ chỉ ưa thích sữa mẹ mà thôi. Kinh Thánh là sữa mẹ. Nếu chúng ta muốn lớn lên để làm trọn nhiệm vụ của một Thầy Tế lễ, của một công dân Thánh trong một nước thuộc về Đức Chúa Trời, thì chúng ta phải ham thích lời Chúa, như trẻ con mới sanh ham thích sữa mẹ vậy.

IV. TRÁCH NHIỆM CỦA DÂN Y-SƠ-RA-ÊN:

Chúa ban cho dân Y-sơ-ra-ên được làm một dân thuộc về Ngài, một nước Thầy Tế lễ, một dân Thánh. Chúng ta thử hỏi: ‘Chúa ban đặc ân cho họ để làm gì? Họ có trách nhiệm gì?’. –Theo Thi 67:1-7 thì Chúa ban cho dân Y-sơ-ra-ên đặt ân để họ truyền bá Đạo cứu rỗi của Chúa cho mọi người và mọi người sẽ ca ngợi Đức Chúa Trời. Nhưng không phải, toàn thể dân Y-sơ-ra-ên biết trách nhiệm đó đâu, nên họ đã sống ích kỷ và không làm trách nhiệm truyền ơn cứu rỗi cho người khác. Tôi lo cho các ông bà anh chị, cũng như cho tôi là chúng ta được đặt ân như dân Y-sơ-ra-ên và lớn hơn nữa, nhưng chúng ta có thể xao lãng trách nhiệm lo cho đồng bào của chúng ta được cứu rỗi. Mỗi tuần có những buổi Truyền giảng và tôi cứ theo dõi, cứ nài xin Chúa thương xót để cho thêm người được cứu. Tôi không biết các ông bà anh chị có băn khoăn đau đớn khi không có người được cứu không? Nếu tôi chỉ ích kỷ lo cho mình, để được “vinh thân phì gia”cả thuộc thể lẫn thuộc linh, thì chẳng có ích gì. Phước hạnh lớn lao hơn hết mà Chúa dành cho chúng ta là không những được cứu lại còn chia xẻ ơn phước cho người khác, để họ cũng được cứu như mình đã được. Tôi nói rằng ngày nào Chúa chưa tái lâm là để chúng ta truyền giảng Tin Lành, cứu vớt tội nhân. Nếu không viện lý do đó, Chúa đã cất Hội Thánh lên trời rồi, không để đây làm gì. Ngày nào chúng ta còn sống, là để đem đồng bào chúng ta đến sự cứu rỗi. Chúng ta phải thoát khỏi tấm lòng ích kỷ. Đối với chúng ta không còn phải lo gì hết cả, chúng ta đã được cứu, đã được phước, hi vọng đầy đủ. Nhưng mà ngày nào chúng ta còn sống, phải nghĩ đến những kẻ hư mất; cầu nguyện, dâng tiền, làm chứng. Ôi, lòng khao khát của tất cả chúng ta là toàn thể đồng bào chúng ta được cứu rỗi. Trước khi về trời, mạng lệnh chót của Chúa là “Hãy khiến muôn dân trở nên môn đồ Ta…Hãy đi khắp thế gian giảng Tin lành cho mọi người…Hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà Ta đã truyền cho các ngươi”. Mỗi lần dự tiệc thánh Chúa nhắc nhở Hội Thánh qua môi miệng của Phao-lô: “Mỗi khi anh em ăn bánh nầy, uống chén nầy thì phải rao truyền sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến”.

Trách nhiệm của chúng ta là phải truyền rao Tin lành của Chúa cho tới khi Ngài đến. Hãy vui mừng về các đặt ân mà Chúa đã dành cho mình, đồng thời cũng đem người khác cùng đến với Chúa, để cùng hưởng các đặt ân mà chúng ta đã được.

Bài 15: CÁCH THỜ PHƯỢNG ĐỨC CHÚA TRỜI

Xuất 20:1-17

Dân Y-sơ-ra-ên ở 400 năm tại Ê-díp-tô. Khi được Chúa giải phóng, họ bỏ Ramse đến Sucốt, đến Êtam, đến Phihahirốt, đến Mítđôn và qua Biển Đỏ. Chúa đã rẽ Biển Đỏ làm hai cho họ đi ngang qua như đi trên đất. Họ đến Ma-ra, nơi Chúa đã hóa nước đắng thành nước ngọt cho họ uống, rồi đến Ê-lim, Nê-phi-đim, Hô-rếp và núi Si-nai. Chúa đã hiện ra trên đỉnh núi, gọi Môi-se lên mà ban cho họ Luật pháp và các luật lệ về sự thờ phượng. Dân Y-sơ-ra-ên ở tại đây lâu hơn hết, vì có nhiều điều Chúa dạy họ. Những việc đã xảy ra được ghi trong Kinh Thánh không phải làviệc hoang đường, bịa đặt, nhưng là những việc thật sự. Dân Ai-cập, Biển Đỏ, những nơi mà họ đi ngang qua và núi Si-na-i vẫn còn. Vì vậy, những điều mà chúng ta đã học, là những sự thật đã xảy ra cho dân Y-sơ-ra-ên trước đây hơn 3000 năm, khi họ được giải phóng khỏi xứ Ê-díp-tô. Chúa đã ghi lại những bài học vô giá đó cho mọi người, suốt mọi thời đại.

Trên núi Si-nai, Đức Chúa Trời đã hiện ra với Môi-se và ban cho Môi-se bộ Luật pháp, trong đó có 10 điều răn. Mười điều răn dạy chúng ta về sự thờ phượng Đức Chúa Trời và cách chúng ta đối xử với nhau, tức là bổn phận của chúng ta đối với Chúa và đối với nhau.

I. PHẢI THỜ PHƯỢNG MỘT MÌNH CHÚA (Xuất 20:1-3):

1- Vì chỉ một mình Chúa cứu họ (20:1-3). “Bấy giờ, Đức Chúa Trời phán mọi lời nầy, rằng: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là nhà nô lệ. Trước mặt Ta, ngươi chớ có các thần khác”.

Dân Y-sơ-ra-ên phải thờ phượng một mình Đức Chúa Trời mà thôi. Tại sao? –Vì chỉ một mình Chúa cứu họ. Đang khi họ làm nô lệ tại Ai-cập, thì Hoàng đế, cũng như dân Ai-cập quyết định giữ họ ở lại đó mãi mãi,

Nhưng chính Chúa đã thi hành phép lạ, đổ 10 tai vạ trên dân Ai-cập, buộc họ phải phóng thích dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ của mình. Khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ, họ không biết đường nào mà đi, thì Chúa dẫn dắt và bảo vệ họ ban ngày bằng trụ mây, ban đêm bằng trụ lửa. Chúa rẽ Biển Đỏ cho họ đi ngang qua như đi trên đất khô. Chúa mưa Ma-na từ trời Xuống cho họ ăn, khiến hòn đá phun ra nước cho họ uống, và đến núi Si-nai thì dạy cho họ cách thức để thờ phượng Ngài. Chúa bảo: “Phải thờ phượng một mình Ngài mà thôi”, vì chỉ một mình Chúa giải cứu họ.

Cũng vậy, chúng ta chỉ thờ phượng một mình Chúa mà thôi, vì chỉ một mình Ngài cứu chúng ta ra khỏi tay ma quỉ, khỏi xiềng xích của tội lỗi xấu xa, và biến chúng ta trở thành con trai, con gái của Ngài, được làm dân Thánh, làm dân thuộc riêng về Ngài. Hết thảy những việc đó chỉ có một mình Chúa làm được mà thôi, vì vậy, Chúa bảo rằng: “Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác; vì ở dưới trời chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu”.

2- Vì ngoài Đức Chúa Trời không có thần nào khác (ICo 8:4-6; 10:19-22). Mặc dầu người Ta tạo ra nhiều thần, nhưng thật ra không phải nhiều thần, mà tất cả là ma quỉ. Chúng ta biết có hai lực lượng sáng và tối, chánh và tà, Đức Chúa Trời và ma quỉ; ngoài hai lực lượng đó, không có ai khác. Nếu không thờ phượng Đức Chúa Trời, thì thờ phượng ma quỉ. Chúng ta thờ phượng Đức Chúa Trời, vì chỉ có một mình Đức Chúa Trời, ngoài Ngài không có ai khác, chỉ có ma quỉ mà thôi. “Vậy, về sự ăn cúng tế các thần tượng, chúng ta biết thần tượng trong thế gian thật là hư không, chỉ có một Đức Chúa Trời, chớ không có thần nào khác. Thật người ta xưng có các thần khác, hoặc ở trên trời, hoặc ở dưới đất,(bởi đó họ thờ nhiều thần nhiều chúa), về phần chúng ta, chỉ có một Đức Chúa Trời mà thôi, là Đức Chúa Cha, muôn vật bởi Ngài mà ra, và chúng ta hướng về Ngài, lại chỉ có một Chúa mà thôi, là Đức Chúa Jêsus Christ, muôn vật đều nhờ Ngài mà có, và chúng ta cũng vậy” (ICo 8:4-6). Mấy câu nầy giải thích rất rõ ràng là không có thần nào khác, chỉ có tà linh, ma quỉ và các quỉ sứ của nó. Nếu người ta tạo ra các thần, thì các thần đó không có giá trị gì cả để cho người ta nhờ cậy hoặc là thờ phượng.

ICo 10:19-22 chép: “Nói vậy có ý chi? Của cúng thần tượng có giá trị gì và thần tượng có ra gì chăng? Chắc là không; nhưng đồ người ngoại đạo cúng tế là cúng tế các quỉ, chớ không phải cúng tế Đức Chúa Trời. Vậy, tôi không muốn anh em thông đồng với các quỉ. Anh em chẳng có thể uống chén của Chúa và cũng uống chén của các quỉ; chẳng thể dự tiệc của Chúa, lại dự tiệc của các quỉ. Hay là chúng ta muốn treo lòng Chúa ghen chăng? Chúng ta há mạnh hơn Ngài sao?”. Những câu nầy dạy chúng ta rằng tất cả những gì người ta thờ lạy, cúng tế- mặc dầu người ta nói là thờ ông thần nầy, ông thánh kia- nhưng kỳ thật, không có thần nào cả, hết thảy đều là ma quỉ đã hiện ra nhận lấy của lễ đó. Thậm chí khi chúng ta chưa tin Chúa, đã cúi đầu thờ lạy bàn thờ ông bà, và dâng của lễ cho ông bà đã qua đời gọi là cúng ông bà, kỳ thật, ông bà đâu còn ở đó mà ăn. Ông bà đã qua đời là bỏ đời nầy qua đời khác, đã từ trần là bỏ cõi trần nầy về Thiên đàng, hay hỏa ngục, đâu còn ở đây mà ăn. Đó là những chuyện bịa đặt, nhảm nhí, mê tín dị đoan, có ma quỉ đứng phía sau. Người ngoại cúng tế là cúng tế các quỉ, chúng ta đừng tiếp tục làm công việc đó! Gần đây, tôi nghe có người tổ chức kỷ niệm ngày qua đời của ông bà. Hãy coi chừng, nó đưa đến sự thờ lạy hình tượng, không phải đời nầy mà có lẽ đời con cháu của chúng ta. Khi chúng ta có cha mẹ qua đời, chúng ta tổ chức ngày kỷ niệm, mời nhiều người đến ăn uống, chúng ta không đến nỗi bị cám dỗ thờ lạy thần tượng. Nhưng con cháu chúng ta sẽ bắt chước và lần hồi chúng ta đi đến chỗ thờ lạy thần tượng, cúng tế như người thế gian. Việc nào tựa như điều ác, gần với mê tín dị đoan, chúng ta phải tiêu hủy, đừng để một di tích nào còn lại trong mình.

Khi dân Y-sơ-ra-ên vào xứ Ca-na-an, Chúa bảo họ phải tận diệt tất cả chùa miễu, thần tượng, những gì mà dân Ca-na-an đã làm và chính vì những việc đó, mà Chúa đã quyết định tiêu diệt họ. Chúng ta đừng mở đường cho ma quỉ xen vào Gia đình của mình, trong dòng họ của mình, để rồi con cháu mình bị vướng vào cái bẫy do mình đặt ra.

3- Đừng thờ tiền bạc (Mat 6:24). Có một vị thần mà chúng ta không ngờ, đó là tiền bạc. Chúa Jêsus đã phán: “Chẳng ai được làm tôi hai chủ” (Mat 6:24). Gái không thể lấy hai chồng, tôi trung không thờ hai chủ, chúng ta không được phép làm tôi Đức Chúa Trời lại làm tôi tiền bạc nữa. Nếu chúng ta có tiền bạc, thì sử dụng nó như một đầy tớ, nhưng đừng để nó làm chủ mình, đừng đặt nó nhưng trên bàn thờ để thờ lạy. Chúng ta cần có tiền bạc, miễn là tiền bạc đó do công khó của mình làm ra cách chánh đáng. Tiền bạc không phải để vào trong tủ, mà đem ra sử dụng hầu cho người khác được phước. Ôi, có biết bao nhiêu bài học mà Chúa dạy chúng ta phải sử dụng tiền bạc như một đầy tớ, đừng tôn sùng nó như một vị thần. Chúa phán với dân Y-sơ-ra-ên: “Các ngươi mang hình tượng ở trong”, nghĩa là dân Y-sơ-ra-ên thờ thần tượng mà người ta không thấy được. Chúng ta không có thần tượng như người đời, nhưng có một thứ thần tượng ở trong lòng chúng ta không ai thấy được, mà Chúa thấy được. Ngài bảo chúng ta hãy coi chừng thứ thần tượng đó. Chúa phán: “Tham lam chẳng khác nào thờ thần tượng”. Nếu làm bất cứ việc gì một cách không xứng đáng để được tiền bạc, thì tiền bạc trở thành một vị thần cho mình rồi.

Một nhà Truyền giáo rất nổi tiếng đã nói: “Chúng ta phải làm hết sức mình để được nhiều tiền, nhưng khi đã làm được nhiều tiền rồi, thì chúng ta cũng phải đem hết số tiền đó chi tiêu vào công việc phước thiện, nhất là truyền giảng Tin lành để cứu vớt đồng bào mình!”. Ngày nay, khắp nơi trên Thế giới đều có dấu chân của những người giảng Tin lành. Ngay tại Việt-nam, Tin lành đã đến hơn 70 năm rồi, nhờ những con cái của Chúa trên Thế giới đã dâng tiền để chi phí cho Hội Thánh, để gởi Giáo sĩ đi giảng cho người ngoại quốc, để mở mang công việc Truyền giáo cho các nơi trên Thế giới. Đó là những người không thờ tiền bạc, nhưng sử dụng tiền bạc. Chắc chắn họ không bao giờ hối tiếc, vì đã dùng tiền vào công tác hết sức đẹp đẽ. Nếu chúng ta có cơ hội dâng tiền, thì hãy cảm ơn Chúa và triệt để sử dụng cơ hội đó hầu cho đồng tiền của chúng ta sẽ có giá trị và sẽ tìm lại được khi chúng ta gặp Chúa yêu dấu ở trên trời.

Một khách ngoại quốc hỏi một Tín đồ bản xứ: ‘Khi lên trời; ông muốn gặp ai trước nhất?’.

– Tôi muốn gặp Chúa Jêsus trước nhất, vì Ngài đã hy sinh mạng và cứu chuộc tôi.

‘Người thứ hai mà ông muốn gặp là ai?’.

– Là người đã đem Tin lành cho tôi, vì dầu Chúa Jêsus đã chết trên Thập tự giá cho tôi, tôi vẫn có thể hư mất vì không biết Ngài. Nhờ có người đến tận nhà giảng Tin lành cho tôi, tôi mới được cứu.

‘Người thứ ba mà ông muốn gặp là ai?’.

– Là người đã dâng tiền bạc để các Giáo sĩ ra đi Truyền giáo cho tôi.

Chúng ta thờ phượng Chúa bằng cách dâng tiền hay dâng mọi thứ khác. Đừng để tiền bạc trở thành ông thần của mình. Trước mặt Chúa, chúng ta chỉ có Ngài. Tôi phải hết lòng, hết sức, hết trí mà Thờ phượng, Phục vụ, Tôn vinh một mình Đức Chúa Trời mà thôi.

II. ĐỪNG THỜ PHƯỢNG ĐỨC CHÚA TRỜI BẰNG HÌNH TƯỢNG (Xuất 20:4-6):

“Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật ở trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất. Ngươi chớ quì lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đức Chúa Trời kỵ tà, hễ ai ghét Ta, Ta sẽ nhơn tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời, và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến Ta và giữ các điều răn Ta”.

Đừng thờ phượng Đức Chúa Trời bằng hình tượng, vì Đức Chúa Trời thực hữu nhưng vô hình. Môi-se nói rằng: ‘Tôi không thấy Đức Chúa Trời đối mặt tôi’, nghĩa là ông thấy Ngài qua một hình ảnh nào đó. Kinh Thánh chép Ê-sai thấy Chúa, Môi-se thấy Chúa, một số người thấy Chúa, nhưng thật ra họ không thấy như chúng ta thấy nhau đây. Tôi không bao giờ thấy được cái trán của mình, tôi chỉ có thể thấy qua gương mà không trực tiếp thấy được. Điều đó dạy cho chúng ta rằng Môi-se và bao nhiêu người nói đã thấy Chúa là họ thấy hình ảnh của Ngài phản chiếu vào một nơi nào đó. Vì vậy, chúng ta không có phép làm bất cứ một hình tượng nào để thờ phượng Chúa. Đừng ai thờ phượng Thập tự giá. Đó chỉ là khúc gỗ, không có giá trị gì hết, nhưng đặt ở Nhà thờ để dạy dỗ cho người ta biết Chúa Jêsus đã chịu chết trên cây Thập tự. Đừng ai thờ những hình mà người ta nói là hình của Chúa Jêsus. Những hình vẽ đó chỉ rằng Chúa Jêsus có hình ảnh của một người Dothái. Kinh Thánh không bao giờ ghi chép Chúa Jêsus có thân hình như thế nào. Tại sao vậy? –Vì Ngài không muốn cho người ta thờ lạy hình tượng.

Trong Thi 115:4-8, Chúa nghiêm cấm sự thờ lạy thần tượng. “Hình tượng chúng nó bằng bạc bằng vàng, là công việc tay người ta làm ra. Hình tượng có miệng mà không nói; có mắt mà chẳng thấy; có tai mà không nghe; có lỗ mũi mà chẳng ngửi; có tay nhưng không rờ rẫm; có chân, nào biết bước đi; cuống họng nó chẳng ra tiếng nào. Phàm kẻ nào làm hình tượng, và nhờ cậy nơi nó, đều giống như nó”. Vậy thì, chúng ta với hình tượng ai hơn? – Chúng ta hơn hình tượng xa quá! Thế thì tại sao chúng ta sấp mình Xuống mà thờ lạy hình tượng vô tri bằng gỗ, đá, bạc, vàng, vì nếu thế thì làm cho mình trở nên hèn hạ quá!

Một ngày nọ, có một chiếc thuyền chở một bức tượng rất lớn, sơn son, thiếp vàng rất đẹp đẽ. Mỗi lần thuyền gặp chiếc cầu bắc ngang qua rạch, những người trên thuyền phải khiêng tượng đi vòng lên bờ. Một vị Truyền đạo thấy thế hỏi: ‘Vì sao các ông phải khổ như vậy?’ Họ trả lời: ‘Tượng nầy quí lắm. Để tượng đi qua dưới dạ cầu là tội lắm’ –Các ông đem tượng về để ở chúa miếu phải không? Các người thợ cũng đã ngồi trên mái để lợp.

Dân Y-sơ-ra-ên đã có lần làm con bò vàng để thờ lạy. Dân Ai-cập thờ con bò. Vì vậy, chịu ảnh hưởng 400 của người Ai-cập, người Y-sơ-ra-ên đã làm ngay một con bò. Kết quả là có ba ngàn người chết trong một ngày. Tại sao Chúa làm như vậy? –Vì Chúa nghiêm trị những kẻ thờ lạy thần tượng.

Điều răn thứ hai bảo rằng: “Hễ ai ghét Ta”, là không vâng lời Chúa mà thờ lạy thần tượng, thì Ngài sẽ nhơn tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời. Nếu đời cha mà thờ lạy hình tượng, thì con cháu phải chịu ảnh hưởng khốn nạn đó. Nhưng ngược lại, Ngài làm ơn đến ngàn đời cho ai tin cậy và vâng lời Ngài, mà thờ lạy đúng theo điều Chúa dạy. Vì vậy, chúng ta là con cái của Chúa, đừng bao giờ sấp mình Xuống mà thờ lạy một hình tượng nào cả. Đức Chúa Trời mà chúng ta thờ lạy không có hình tượng nào đem sánh được (Cong 17:29). Có người nói rằng nếu chúng ta thờ lạy hình tượng, thì tốt hơn nên thờ lạy ông thợ làm ra hình tượng. Tại sao? –Vì ông thợ có quyền làm ra hình tượng đó, nếu ông muốn mũi nhọn thì làm như thế… Như vậy, chúng ta thấy hình tượng không đáng thờ. Vì vậy, dòng dõi của Áp-ra-ham được Chúa dạy từ lúc đó cho đến ngày nay vẫn không bao giờ thờ lạy thần tượng. Mỗi lần bị cám dỗ theo thế gian mà thờ lạy thần tượng, là mỗi lần họ bị phạt rất nặng.

III. CHỚ LẤY DANH GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI MÀ LÀM CHƠI (Xuất 20:7):

“Ngươi chớ lấy danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi, vì Đức Giê-hô-va chẳng cầm bằng vô tội kẻ nào lấy danh Ngài mà làm chơi”. Danh của Chúa với chính mình Chúa là một, vì thế, chúng ta đừng nhơn Danh Chúa mà lừa dối nhau hay nói chơi. Có người đi đâu cũng nói rằng: ‘Tôi là con cái của Chúa, vì cớ Danh Ngài, xin quí ông bà anh chị giúp đỡ tôi ít nhiều bạc…’. Không nên làm như thế, chúng ta rất cẩn thận khi nhơn Danh Chúa mà nói hay là làm, là vì vinh hiển của Danh Chúa chớ không phải vì ích lợi riêng của chính mình. Nếu chúng ta mượn Danh Chúa để lừa dối thì tội hết sức nặng. Chúa bảo rằng Ngài không cầm bằng vô tội kẻ nào lấy Danh Chúa mà làm chơi. Cũng đừng nhơn Danh Chúa mà thề dối hay hứa nguyện suông. Có Tín hữu đã đem con lên dâng cho Chúa, người đó đã nhơn Danh Chúa mà hứa nguyện, vì vậy, phải cẩn thận về lời hứa nguyện nuôi nấng, dạy dỗ và làm gương sáng để cho con cái mình trở nên tốt đẹp, chớ không phải là một lời hứa suông. Tín hữu nào sắp làm lễ Thành hôn, họ hứa nguyện sẽ sống với nhau trọn đời. Lời hứa nguyện này rất long trọng. Nếu ai không làm trọn lời hứa nầy thì khiến cho Danh Chúa trở thành một trò chơi, không thoát khỏi sự trừng phạt nặng nề của Ngài.

Vì vậy, mỗi khi chúng ta nhơn Danh Chúa mà cầu nguyện thì phải tôn trọng sự cầu nguyện. Cầu nguyện là tương giao với chính mình Chúa. Hiện nay, có người nhân Danh Chúa mà trừ quỉ, nhân Danh Chúa mà chữa bệnh. Kinh Thánh có dạy điều đó, nhưng chúng ta đừng để điều đó trở thành một trò chơi. Nhân Danh Chúa mà trừ quỉ, chữa bệnh, nghĩa là Chúa trừ quỉ, Chúa chữa bệnh, chớ không phải là tôi. Lạm dụng Danh Chúa mà làm chơi, thì phạm đến sự Thánh khiết của Ngài, nghĩa là biến sự Thánh khiết của Chúa trở thành phàm tục và Chúa không chịu. Vì cớ dân Y-sơ-ra-ên dựa vào vật chất, Chúa cho phép vua Nê-bu-cát-nết-sa đánh phá thành Giê-ru-sa-lem, cướp lấy những vật dụng trong Đền thờ Đức Chúa Trời và đem về để trong kho. Nhưng khi vua Nê-bu-cát-nết-sa uống rượu hứng chí, bảo người hầu đem những vật dụng đã lấy từ đền thờ Giê-ru-sa-lem ra để đãi khách, thì ngay lúc đó, vua thấy một bàn tay hiện ra trên tường, ghi lại bản án của vua. Ngay đêm đó, Nê-bu-cát-nết-sa bị giết, xứ sở Ba-by-lôn thuộc về tay người Mê-đi, tức là Ba-tư. Chúa không chịu khinh dễ đâu, ai gieo giống chi sẽ gặt giống ấy.

IV. HÃY NHỚ NGÀY NGHỈ (Xuất 20:6-11)

“Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày Thánh. Ngày hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày; nhưng ngày thứ bảy là nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái, tôi trai tớ gái, súc vật của ngươi, hoặc khách ngoại bang ở trong ở trong nhà ngươi, đều chớ làm công việc chi hết; vì trong sáu ngày Giê-hô-va đã dựng nên trời, đất, biển và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ: vậy nên Đức Giê-hô-va đã ban phước cho ngày nghỉ và làm nên ngày Thánh”.

Hôm nay chúng ta nghỉ ngày Chúa nhật, vì là ngày Chúa đã sống lại, ngày Đức Thánh Linh giáng lâm, ngày Hội Thánh đầu tiên thờ phượng Chúa. Chúa bảo rằng phải nghỉ hết mọi công việc, vì Chúa nghỉ đến chúng ta. Chúng ta làm việc luôn trong sáu ngày, đã mệt mỏi, thì ngày Chúa nhật phải nghỉ để được bổ sức lại. Luôn sáu ngày chúng ta phải đương đầu với bao nhiêu sự cám dỗ, linh lực bị hao mòn. Ngày Chúa nhật chúng ta ngồi lại, cùng nhau học hỏi, thờ phượng, ca hát, cầu nguyện, nghe giảng để bồi bổ tâm linh. Vì vậy, ngày Chúa nhật được gọi là ngày Thánh. Vì vậy, mỗi chúng ta làm việc trong sáu ngày, nhưng ngày Chúa nhật chúng ta phải dành để thờ phượng Chúa. Tôi nhớ khi tôi mới tin Chúa, nhà ở xa Nhà thờ lắm, một tháng tôi đến Nhà thờ một lần. Tôi thấy khao khát quá, đời sống thuộc linh đói kém, chậm tiến. Khi tôi về gần Nhà thờ, tôi thích thú vô cùng, ước ao mau đến Chúa nhật để thờ phượng Chúa, vì ngày đó thật là phước hạnh.

Mỗi chúng ta là người tin Chúa, thì phải áp dụng lời Chúa vào đời sống hàng ngày của mình, để Chúa ban phước cho chúng ta. Nhưng nếu chúng ta không tin cậy, không vâng lời thì Ngài không thể làm điều đó được. Ngài hứa ban phước cho đến ngàn đời những ai vâng giữ các Lời của Chúa.

Bài 16: BỔN PHẬN CỦA CON CÁI ĐỐI VỚI CHA MẸ

Eph:1-3

Một trong những trở ngại mà đồng bào chúng ta không tin Chúa được là họ hiểu lầm rằng người Tin lành bất hiếu, vì không thờ cúng ông bà. Vì vậy, chúng ta phải biết bổn phận con cái đối với cha mẹ, hay là hiếu kính cha mẹ.

Con cái có bổn phận rất nặng, rất lớn đối với cha mẹ: Không có Tình thương nào bằng Tình thương của cha mẹ đối với con cái. Tình mẫu tử như non cao bể rộng, đến nỗi Đức Chúa Trời phải mượn tình mẫu tử để chứng minh Tình yêu đời đời của Ngài đối với chúng ta. Nhưng Chúa bảo rằng “Đờn bà há chẳng quen con mình cho bú, không thương đến con trai ruột mình sao? Dầu đờn bà quên con mình, Ta cũng không quên ngươi”

Chúng ta biết Đa-vít có nhiều con trai, nhưng một trong những con trai ngỗ nghịch hơn hết là Áp-sa-lôm đã kết hợp một số người chung quanh mình, sắm ngựa, xe, gươm, giáo để đánh cha mình và mong đoạt ngôi vua. Vì vậy, hai bên phải có một trận quyết liệt. Các tướng sĩ yêu cầu Đa-vít ở trong cung, để họ được đương đầu với Áp-sa-lôm. Đa-vít thiết tha kêu nài các tướng sĩ làm ơn dung thứ cho Áp-sa-lôm. Nên khi thấy từ mặt trận trở về, bất cứ người nào thì câu hỏi đầu tiên của Đa-vít là: “Áp-sa-lôm có bình an không?: “Áp-sa-lôm có bình an không?”. Ông ngồi trong cung mà lo sợ cho số phận của con trai mình, mặc dầu nó là đứa con ngỗ nghịch, bất hiếu. Tin cuối cùng đưa về cho biết Áp-sa-lôm đã tử trận. Đây là lời của Đa-vít khóc con mình (IISa 18:33): “Vua rất cảm thương bèn lên đầu cửa thành và khóc. Người vừa đi vừa nói rằng: Ôi, Áp-sa-lôm con trai ta! Con trai ta! Ước chi chính ta chết thế cho con! Ôi, Áp-sa-lôm con trai ta! Con trai ta!”. Qua câu chuyện nầy là lời của cha khóc con, chúng ta biết rằng tình cha thương con thật vô cùng lai láng. Vì vậy, một con bất hiếu là đáng chết.

I. HIẾU KÍNH CHA MẸ LÀ ĐIỀU RĂN THỨ NĂM TRONG 10 ĐIỀU RĂN (Eph:1-2)

Trong 10 điều răn thì điều răn thứ năm dạy: “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi” Phao-lô thêm: “Ấy là điều răn thứ nhất, có lời hứa cặp theo, hầu cho ngươi được phước và sống lâu trên đất”. Mười điều răn chia ra làm hai: Bổn phận người đối với Chúa là bốn điều răn đầu, sáu điều răn sau là bổn phận người đối với người. Điều răn thứ năm: “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi”nằm vào hàng đầu. Vậy, hiếu kính cha mẹ không phải là thường, người đối với người thì hiếu kính cha mẹ là điều răn thứ nhất.

“Ai bất hiếu thì bị xử tử” (Xuất 20:17). Kẻ nào mắng cha mẹ mình sẽ bị xử tử và lời đó được lặp lại trong Phu 27:16: “Đáng rủa sả thay người nào khinh bỉ cha mẹ mình. Cả dân sự phải đáp: A-men”. Bất hiếu là một tội nặng, không có người nào theo Chúa mà bất hiếu, hay nói ngược lại, kẻ bất hiếu không thể theo Chúa được. Người Tin lành không thể bất hiếu. Mỗi chúng ta là con cái Chúa phải hiếu kính cha mẹ.

Các cô cậu Thanh niên, Thiếu niên sốt sắng đến nhà thờ tập hát, học Kinh Thánh là điều rất tốt, nhưng phải cẩn thận giữ sao để đồng bào không nói rằng: “Những Thanh niên, Thiếu niên Tin lành chỉ biết đến nhà thờ đọc Kinh Thánh và ca hát mà không hề giúp đỡ cha mẹ trong việc gia đình”. Trái lại, các cô cậu phải lo việc gia đình trước khi đến Nhà thờ. Sáng nào đến nhà thờ thì thức dậy sớm, lo tất cả những gì mình phải lo, để giúp đỡ cha mẹ. Sau khi xong là thì giờ đến Nhà thờ. Đức Chúa Trời không thể chấp nhận một người sốt sắng hầu việc Ngài trong Hội Thánh, tại Nhà thờ mà bỏ bê gia đình, không chăm sóc cha mẹ mình. Nếu đối với cha mẹ là con hiếu kính, thì đối với Chúa mới là Tín đồ sốt sắng được.

II. KHÔNG HIẾU KÍNH LÀ BỊ RỦA SẢ:

Sau cơn nước lụt, gia đình Nô-ê được bình an. Ông khởi sự trồng nho và uống rượu, nên đã say rượu đến nỗi đã lõa thể trong trại mình. Khi một trong ba người con của ông là Cham, tình cờ vào trại, thấy cha mình như vậy, chạy ra thuật cho hai anh là Sem và Gia-phết, nhưng thuật với thái độ khinh bỉ và chế giễu cha mình. Hai anh không có như vậy, họ tỏ vẻ đau lòng. Mỗi người mang một chiếc áo choàng, đi lui từ ngoài vào trong đến chỗ cha mình nằm, họ buông áo choàng phủ kín cha mình. Khi Nô-ê thức dậy, biết việc ba con đã làm thì ông rủa sả Cham, chúc phước cho Sem và Giaphết. Dầu cha mẹ có lỗi, việc đó đối với Chúa, Ngài sẽ sữa trị. Nhưng bổn phận làm con, vô luận hoàn cảnh nào không được phép khinh dễ cha mẹ. Một vài Thanh niên đến than thở với tôi: “Cha mẹ tôi thế nầy, như thế nầy, làm sao tôi kính trọng được?” Tôi nói rằng cha mẹ ai cũng có chỗ bất toàn, nếu con muốn đoán xét cha mẹ thì có thể đoán xét, dầu vậy, cha mẹ có lỗi lầm thì vẫn là cha mẹ, con không được phép khinh dễ.

Chúa Jêsus quở trách người Pha-ri-si (Mat 12:1-5). Người Pha-ri-si thích theo trí thức, khẩu truyền của người xưa. Họ hỏi Chúa tại sao không rửa tay trước khi ăn, vì họ xem việc đó là quan trọng. Chúa bảo rửa tay trước khi ăn hay sau khi ăn chẳng liên quan gì đến cuộc sống thuộc linh, song họ theo truyền khẩu mà bỏ điều răn của Đức Chúa Trời mới là quan trọng. Truyền khẩu đó là nếu người nào đã dâng cho Đức Chúa Trời điều nầy, điều khác, thì không cần phải hiếu kính cha mẹ nữa. Vì những điều tôi làm cho cha mẹ, tôi đã làm cho Chúa rồi. Chúa bảo họ là kẻ giả hình, chỉ lấy môi miếng mà thờ kính Ngài, nhưng lòng của họ cách xa Ngài.

III. GƯƠNG HIẾU KÍNH CHA MẸ:

“Không những là điều răn của Chúa bảo hiếu kính mà Kinh Thánh còn ghi lại những gương hiếu kính, để khích lệ chúng ta:

1-Giu-đa, con của Gia-cốp. Gia-cốp có 12 con trai do bốn người vợ, thành ra con một cha khác mẹ. Các anh ghét Giô-sép nên họ đã bắt ông bán số bạc là 30 miếng. Đem qua Ê-díp-tô, Chúa đã đưa ông từ địa vị một tên nô lệ đến Thủ tướng Ê-díp-tô, bây giờ là Ai-cập. Khi gia đình của Gia-cốp tại Ca-na-an bị đói kém, phải Xuống Ê-díp-tô mua lúa, Giô-sép biết các anh mà các anh không biết Giô-sép. Lần cuối cùng, Giô-sép bảo các anh phải đem Bên-gia-min và lập mưu bắt Bên-gia-min ở lại. Bấy giờ, Giu-đa nói mấy lời thảm thiết nầy: “Cha tôi thương em út tôi lắm, cho đến nỗi hai linh hồn khắng khít với nhau, nếu bây giờ, khi tôi trở về với kẻ tôi tớ Chúa, là cha tôi, mà không có em út đó, thì khi vừa thấy con út không còn nữa, chắc người sẽ chết. Nếu vậy các tôi Chúa sẽ làm cho cha già tóc bạc của chúng tôi, cũng là kẻ tôi tớ Chúa, đau lòng xót dạ Xuống âm phủ. Vì kẻ tôi tớ nầy có chịu bảo lãnh đứa con út đó, mà thưa rằng: “Nếu con không đem về cho cha, thì sẽ cam tội cùng cha mãi mãi. Vậy bây giờ, xin cho kẻ tôi tớ chúa ở tôi mọi thế cho đứa trẻ, đặng nó theo trở về cùng các anh mình. Vì nếu đứa trẻ không trở về, làm sao tôi dám trở về cùng cha tôi? Ôi! tôi nỡ nào thấy điều tai họa của cha tôi ư!”. Lòng hiếu kính của Giu-đa đã cảm kích Giô-sép biết là chừng nào, đến nỗi ông khóc sướt mướt và la lên: “Tôi là Giô-sép đây!” Lòng hiếu kính có sức mạnh phi thường cảm kích lòng người.

2-Chúa Jêsus đối với Giô-sép và Ma-ri. Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời nhưng đã hóa thân làm người trong gia đình của Ma-ri và Giô-sép, Chúa sống trong đó 33 năm. Nhưng trong 33 năm đó, chia ra làm hai thời kỳ. Ba mươi năm đầu, Chúa Jêsus phải phục vụ gia đình Ma-ri nghèo khổ, làm nghề thợ mộc. Tôi không thấy Kinh Thánh ghi lại một lời Chúa than thở, nhưng chỉ ghi: “Ngài theo về Na-xa-rét và chịu lụy cha mẹ”. Tôi chắc rằng tay của Chúa chai cũng như bao nhiêu người thợ mộc khác và Ngài hoàn toàn đầu phục Ma-ri và Giô-sép như một người con hiếu thảo trong gia đình. Giô-sép là người làm sao tránh khỏi những bất toàn yếu đuối, thiều thốn, dại dột, nhưng Chúa Jêsus không có một thái độ khinh dễ, không có một lời phản đối. Đức Chúa Trời vâng phục loài người không phải dễ đâu, còn chúng ta vâng phục cha mẹ là dễ. Cha mẹ yếu đuối thiếu thốn lại cần chúng ta hiếu kính, lòng hiếu kính được nổi bật trong gia đình yêu đuối, thiếu thốn.

Không những 30 năm Chúa Jêsus sống trong gia đình Ma-ri và Giô-sép mà thôi, khi Chúa Jêsus bị đóng đinh trên Thập tự giá, Ma-ri đứng bên cạnh đó, ở dưới chân Ngài. Một người bị đóng đinh như vậy đau đớn vô cùng, nên hai người bị đóng đinh bên hữu và bên tả Ngài phải uống rượu hòa với mật đắng, để cho đê mê đỡ đau, nhưng Chúa quyết định không uống. Bấy giờ, Chúa lại nghĩ đến Ma-ri, Ngài nhìn Ma-ri, rồi nhìn sứ đồ Giăng mà nói rằng: “Bà ơi! Kìa là con của bà!”. Ngài nhìn lại Giăng, rồi nhìn lại Ma-ri, mà nói với Giăng rằng: “Anh ơi! Nầy là mẹ của anh!”. Chúa Jêsus đã gởi gắm Ma-ri cho Giăng phụng dưỡng trong những ngày già nua, không làm chi được. Kinh Thánh chép rằng: “Bắt đầu từ đó, Giăng đem Ma-ri về nhà mình”. Thế là trong giờ nguy nan hơn hết, Chúa Jêsus vẫn nhớ đến mẹ của mình theo phần xác, mà chu toàn bổn phận làm con.

Vì vậy, chúng ta có thể nói gì khác hơn, muốn theo Chúa, làm người Tin lành, ta phải hiếu kính cha mẹ, không phải hiếu kính bằng hình thức, nhưng bằng việc làm, không phải hiếu kính cha mẹ khi giàu có để hưởng gia tài, mà cũng hiếu kính cha mẹ nghèo khổ, không phải hiếu kính cha mẹ xứng đáng, đoan trang, nhưng nếu cha mẹ bị cám dỗ lỗi lầm, chúng ta vẫn phải hiếu kính.

VI. LỜI HỨA BAN THƯỞNG CHO NGƯỜI HIẾU KÍNH (Eph:1-3)

1-Được phước. “Hầu cho ngươi được phước và sống lâu trên đất” Dầu chúng ta không biết trước đó là gì, nhưng đại ý nói rằng, bất cứ phước nào Đức Chúa Trời cũng sẵn sàng đổ Xuống cho kẻ hiếu kính, hay nói cách khác, kẻ hiếu kính không thiếu một phước nào của Chúa cho. Nếu cầu nguyện rằng: “Xin Chúa ban phước cho con, xin Chúa ban phước cho con”, mà bất hiếu với cha mẹ, thì đừng mong một phước nào. Nếu chúng ta muốn được phước hãy hiếu kính cha mẹ.

2-Được sống lâu trên đất. Kẻ bất hiếu đáng bị xử tử, nhưng người hiếu kính đáng làm mẫu cho mọi ngươi, họ phải sống lâu. Khi Chúa kêu gọi Áp-ra-ham, thì hứa rằng: “Ta sẽ ban phước cho ngươi, Ta sẽ ban phước cho dòng dõi ngươi và các dân tộc trong thế gian sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước”. Đấng cứu thế ra từ dân Do thái, Kinh Thánh mà chúng ta có hôm nay qua người Do thái, hết thảy những chuyện tích được chép là chép về người Do thái. Hội Thánh đầu tiên là Hội Thánh Do thái, những Giáo sĩ đầu tiên là Giáo sĩ Do thái.

Nguyện mỗi chúng ta hết thảy là những người con hiếu kính.

Bài 17: CÁCH CHÚNG TA ĐỐI XỬ VỚI NHAU

Xuất 20:13-17

Dân Y-sơ-ra-ên trên núi Si-na-i, Đức Chúa Trời ban cho họ 10 điều răn. Điều răn thứ Nhất đến điều răn thứ Tư dạy về cách thờ phượng Đức Chúa Trời. Điều răn thứ năm đến thứ Mười là cách chúng ta đối xử với nhau.

I. ĐIỀU SÁU: CHỚ GIẾT NGƯỜI (Xuất 20:13):

“Ngươi chớ giết người”. Điều nầy chúng ta dễ hiểu, nhưng cũng phải hiểu rằng: Giết người là tội, mà giết mình cũng tội như vậy, nên không ai được phép tự sát, vô luận là cách nào, và ghét người cũng cầm bằng giết người như vậy, vì nếu tôi ghét ai, thì tôi muốn cho người đó bị hại, muốn cho người đó chết. Nếu người ta có thể giết mà không bị tù thì người ta sẽ giết không biết là bao nhiêu người. Hơn nữa, nếu chúng ta không cứu người thì cũng kể như là giết người. Nếu chúng ta thấy em bé té Xuống nước mà bỏ lơ thì cũng là giết nó, mặc dầu chúng ta không xô nó Xuống giếng. Nói chung một lời, mỗi chúng ta phải yêu người chớ không nên ghét người, cứu người chớ không giết người. Chúng ta phải làm bất cứ cách nào để có thể đem lại cho mọi người Xuấtng quanh sự an lành. Nếu họ nghèo yếu, nếu họ gặp bất cứ tai họa nào, mà chính ta thấy được, nghe được và có thể giúp đỡ được, thì đừng bao giờ bỏ qua. Vì nếu chúng ta bỏ qua là giết người vậy. Đó là lý do mà suốt dòng lịch sử Cơ Đốc giáo, Hội Thánh lúc nào cũng sốt sắng Truyền giảng Tin lành: chúng ta biết rằng những người không tin Chúa Jêsus sẽ bị hư mất đời đời trong hỏa ngục. Chúng ta biết hậu quả sẽ như vậy mà không sốt sắng Truyền giảng Tin lành để cứu họ, thì chúng ta bị kể là kẻ giết họ, vào Chúa đòi máu oan của họ nơi tay chúng ta. Khi từ giả Hội Thánh Ê-phê-sô, Phao-lô nói rằng: “Tôi tinh sạch về huyết anh em hết thảy, vì tôi không trể nãi một chút nào để tỏ ra cho biết hết thảy ý muốn của Đức Chúa Trời” (Cong 20:26-27). Mỗi chúng ta phải nói được câu: ‘Tôi tinh sạch về huyết mọi người có tương quan đến tôi, tôi sẵn sàng dự phần Truyền giảng Tin lành đủ mọi cách, mong sao đồng bào tôi được cứu rỗi’.

II. ĐIỀU BẢY: CHỚ PHẠM TỘI TÀ DÂM (Xuất 20:14):

“Ngươi chớ phạm tội tà dâm”. Tội nầy không phải nhỏ đâu, mà là một trong những trịnh tội và có sức phá hủy kinh khủng. Vì ai phạm gian dâm, ngoại tình là phá hủy hôn nhân, phá hủy Gia đình, phá hủy Hội Thánh. Vì vậy, He 13:4 dạy: “Mọi người phải kính trọng sự hôn nhân, chốn khuê phòng chớ có ô uế, vì Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt kẻ dâm dục cùng kẻ phạm tội ngoại tình”. Gian dâm và ngoại tình phá hủy Gia đình, làm cho tình nghĩa vợ chồng là tình nghĩa Thánh khiết trở thành ô uế, không những làm hại chính mình, những cũng làm hại cho cả một dòng dõi nối theo sau.

Phao-lô dạy: “Hãy tránh sự dâm dục. Mặc dầu người ta phạm tội gì, tội ấy còn là ngoài thân thể; nhưng kẻ buông mình vào sự dâm dục, thì phạm đến chính thân thể mình” (ICo 6:18). Thân thể của chúng ta là Đền thờ của Đức Thánh Linh (ICo 6:19). Ai phạm tội đó đương nhiên phá hủy Đền thờ của Đức Chúa Trời, làm cho Đền thờ của Đức Chúa Trời trở thành ô uế. Chúng ta không có thể tưởng tượng được tội đó lớn lao, nặng nề là dường nào. Kinh Thánh luôn luôn cảnh cáo chúng ta về tội đó. Chúa Jêsus kết án nặng nề về tội ngoại tình và tôi gian dâm: “Hễ ai ngó đàn bà mà động tình tham muốn, thì trong lòng cũng đã phạm tội tà dâm cùng người rồi”. Chưa hành động, chỉ có trong tư tưởng thì đã làm cho mình trở thành ô uế. Chúa bảo: “Nếu con mắt bên hữu Xuấti cho ngươi phạm tội, thì hãy móc mà quăng nó cho xa ngươi đi, vì thà chịu một phần thân thể ngươi phải hư, còn hơn là cả thân thể bị ném vào địa ngục”

Chúng ta sẵn sàng tiêu trừ bất cứ điều gì Xuấti cho mình phạm tội, dầu là trong tư tưởng, trong lời nói. Nếu chúng ta gieo một hạt giống Xuống đất, thì nó nẩy lên một cái mầm, thành cây, rồi sinh ra trái. Cũng vậy, bất cứ tội nào cũng phát sinh trong tư tưởng. Ma quỉ gieo hạt giống độc đó trong tư tưởng của chúng ta. Chúng ta nuôi nó ngày nầy qua ngày khác, rồi từ tương tưởng đến hành động không bao xa, và hành đông đó đưa đến sự chết hiểm nghèo cả thể xác lẫn linh hồn đến đời đời. Vì vậy, chúng ta sẵn sàng triệt để trừ khử những gì có thể Xuấti cho mình phạm tội gian dâm và ngoại tình. Chúng ta không xem một bức tranh ô uế, không đọc một bài báo, một bài văn có gợi ý xấu xa. Môi miệng chúng ta không thể nói một lời gian dâm và ngoại tình. Chung quanh chúng ta, ngay trong nhà chúng ta, chúng ta phải xem xét lại có gì khiến mình nghĩ đến, để rồi một ngày nào sẽ phạm tội gian dâm và ngoại tình. Phải triệt để tiêu trừ nó. Người ta có thể bị cám dỗ khi nghĩ đến những người nổi tiếng như Áp-ra-ham, Gia-cốp, Đa-vít… mà nói rằng: ‘Coi kìa, Áp-ra-ham cũng lấy người vợ lẻ, Gia-cốp, Đa-vít cũng vậy, thì tại làm sao hôm nay Chúa lại cấm chúng ta:’. Đừng hiểu lầm những câu chuyện đó. Mặc dầu Áp-ra-ham đã lấy vợ lẻ, nhưng chúng ta hãy xem lại cái hậu quả đó. Chính vì hai vợ, hai dòng con mà gia đình Áp-ra-ham luôn luôn bị xáo trộn và có sự tranh chiến suốt cả dòng dõi ông cho đến ngày hôm nay. Dòng dõi của Y-sác là dân Do thái, dòng dõi của Ích-ma-ên là dân Ảrập, vẫn còn hiềm khích nhau, lúc nào cũng sẵn sàng tiêu diệt nhau. Gia-cốp có bốn người vợ, và chúng ta biết rằng các bà vợ của ông không hòa thuận với nhau, và gia đình đó làmột địa ngục thu hẹp, chớ không phải là Thiên đàng đâu. Đa-vít có nhiều vợ có nhiều dòng con, và chúng ta biết rằng dòng con nầy giết hại dòng con khác. Những điều đó được ghi lại không phải để chúng ta bắt chước, nhưng để chúng ta thức tỉnh và tránh xa, đừng dại dột đi con đường khốn nạn đó.

III. ĐIỀU TÁM: CHỚ TRỘM CẮP (Xuất 20:15)

“Ngươi chớ trộm cắp”. Trộm cắp là có tội. Các em nhỏ thường bị cám dỗ trộm cắp tiền bạc, thức ăn của cha mẹ, nhưng trộm cắp của cha mẹ cũng là tội. Cha mẹ phải dạy con, nếu cần tiền, cần ăn thì xin cha mẹ, không được cho thì thôi. Đừng trộm cắp bất cứ bằng cách nào. Người làm việc đừng trộm cắp tiền bạc, vật dụng và cũng không ăn cắp thì giờ nữa. Nếu một ngày phải làm 8 tiếng, mà mình chỉ làm 7 tiếng thôi, cũng là ăn cắp. Đang khi phải làm mà ngồi chơi thì cũng là hình thức trộm cắp. Mua bán mà gian lận, cân đo thiếu cũng là một lối trộm cắp. Chúng ta là con cái của Chúa phải luôn luôn trừ khử những điều ô uế. Hai bàn tay nầy không đặt vào một số tiền nào, một của ăn, một vật dụng nào bất chính, bất nghĩa. Chúng ta phải giữ cho đời sống mình thánh khiết.

Có một Tín đồ bán vé xe buýt. Một người Tín đồ khác, bạn của anh bước lên xe. Người bạn đưa tiền trả vé xe buýt. Người bán vé nói: ‘Tôi với anh mà, khỏi mua vé, tôi không hỏi thì ai hỏi’. Anh bạn Tín đồ nói: ‘Anh là thế thì khiến tôi trở thành ăn cắp và anh cũng trở thành ăn cắp nữa. Anh phải bán vé cho tôi như thường’.

Tôi nhớ có một Tín đồ đi xe lửa và gặp người xoát vé cũng là Tín đồ. Ngưởi xoát vé mời bạn của mình lên tàu, đi suốt cả lộ trình mà không mua vé. Người Tín đồ nầy trở về, là chứng cảm ơn Chúa vì đi xe lửa mà khỏi phải trả một Xuất nào. Tôi đã mời anh đó riêng ra và nói rằng: ‘Anh là như vậy không được; đó là ăn cắp, ăn cắp của mọi người. Chúng ta cảm tạ Chúa cho mình có đủ tiền mua vé hơn là đi không trả tiền. Chúa ban phước cho anh là có tiền mua vé, chớ không giúp anh đi tàu khỏi mua vé’. Chúng ta cần phải tránh những điều như vậy, mặc dầu là nhỏ mọn. Thật không nhỏ đâu, vì từ việc nhỏ nó biến thành việc lớn.

IV. ĐIỀU CHÍN: CHỚ LÀM CHỨNG DỐI (Xuất 20:16)

“Ngươi chớ nói chứng dối cho kẻ lân cận mình”. Đừng nói dối, vì nói dối là tội. Ma quỉ là cha của kẻ nói dối. Ai nói dối là tự nhận mình là con cái của ma quỉ. “Chớ có lời dữ nào ra từ miệng chúng ta”. Không những không nói dối, cũng đừng bao giờ vu khống, nói xấu, nói hành. Đây là một điều mà chúng ta rất dễ mắc phải. Đành rằng những người đó có xấu như vậy, nhưng nếu tôi biết, tôi quỳ gối Cầu nguyện, xin Chúa cứu anh em tôi, chớ không phải đi nói xấu như vậy. Nói như thế đã không cứu được người phạm tội mà còn làm cho họ phạm tội hơn, và chính mình cũng phạm tội nữa. Đừng bao giờ nói một lời nào làm hại danh dự anh em mình. Chúng ta phải bảo vệ nhau để giữ tình nghĩa đối với nhau, giữ sự tôn trọng đối với nhau. Nếu anh em mình phạm tội, thì mình không nói với người khác, nhưng cần khóc trước mặt Chúa, xin Ngài cứu anh em mình. Vì nếu nói xấu anh em mình thì mình có tốt chi, ma quỉ thường cám dỗ chúng ta nói xấu người khác, để cho người ta nói rằng: ‘Anh đó cũng xấu như tôi’, hay là muốn nói rằng: ‘Anh đó xấu, tôi mới tốt’. Con người như thế không tốt bao giờ. Vì vậy, chúng ta đừng nói xấu một ai, đừng nói dối một ai, phải cẩn thận giữ gìn môi miệng của mình. Chúng ta phải nói để giúp đỡ, để gây dựng, để người nghe được phước.

Thỉnh thoảng có người đến với tôi: ‘Ông ơi, ông A phạm tội’. Tôi hỏi: ‘Ông biết rõ hay là nghe người ta nói?’. ‘Tôi nghe người ta nói vậy’. Chỉ nghe người ta nói, chưa biết thực hư, nhưng đã đồn ra khắp mọi nơi, là hại đến danh dự của anh em mình, gây vấp phạm cho người khác. Môi miệng nầy tuyệt đối không nên nói những lời như vậy. Nếu nghe và biết chắc, lại còn phải giữ kín để bảo vệ anh em mình và mong rằng họ ăn năn. Vì nếu tung tin ra như vậy, làm cho người đã phạm tội sinh ra cứng lòng, chống đối, không chịu ăn năn, vì bị người ta bêu xấu. Xin Chúa cho chúng ta cẩn thận giữ môi miệng của mình, nói những lời đáng nói, nói những lời tôn vinh danh Chúa.

Ông Gia-cơ nói: ‘Cái lưỡi là nhỏ, nhưng quan trọng như cái bánh lái của chiếc tàu’. Chiếc tàu thật to, nhưng nó được điều khiển bằng một bánh lái hết sức nhỏ, thì cũng vậy, đời sống của chúng ta được điều khiển tốt hay xấu là do cái lưỡi nhỏ xíu nầy. Cái lưỡi nầy hôm nay hát Halêlugia tạ ơn Chúa, có thể ngày mai nói xấu người khác. Không nên như thế.

V. ĐIỀU MƯỜI: CHỚ THAM LAM (Xuất 10:17)

“Ngươi chớ tham lam nhà kẻ lân cận ngươi, cũng đừng tham vợ người, hoặc tôi trai tớ gái, bò, lừa, hay là vật chi thuộc về kẻ lân cận ngươi”. Điều răn thứ mười như là nhỏ hơn hết, nhưng lại quan trong hơn hết. Tham lam là cội rễ của mọi điều ác, cho nên Kinh Thánh bảo rằng: “Tham lam chẳng khác nào thờ thần tượng”. Vì người tham lam thì không hiếu kính cha mẹ, phạm tội tà dâm, cưới vợ người, giết người vì cớ trộm cướp, người tham lam cũng làm chứng dối. Nếu tham lam thì đã lìa bỏ Đức Chúa Trời, thờ lạy thần tượng, phạm tất cả mọi tội khác, vì không có điều nào xấu mà người tham lam không dám làm. Vì vậy, phải tránh khọi sự tham lam. Chúng ta nghèo nhưng luôn luôn giữ nếp sống thánh khiết hay là thanh bần, nghĩa là nghèo mà thanh sạch. Đừng tham lam, vì Chúa ban cho chúng ta đủ ăn, đủ mặc hàng ngày. Đa-vít nói rằng: “Trước tôi trẻ, rày đã già, tôi chưa hề thấy người công bình bị bỏ và dòng dõi người phải đi ăn mày”. Tại sao chúng ta sợ mà tham lam? Khối óc với hai bàn tay Chúa cho có thể nuôi mình được. Chúa chăm sóc từng đóa hoa, từng con chim sẻ lẽ nào Ngài bỏ chúng ta sao? –Không! Tôi dám quả quyết rằng không một người nào trung thành theo Chúa lại bị bỏ. Dầu có gặp hoàn cảnh khó khăn hơn hết, thì chính Chúa can thiệp, thi hành phép lạ giải cứu chúng ta. Vậy, chúng ta đừng bao giờ tham lam, vì tham lam không yêu ai hết: Không yêu Chúa, không yêu cha mẹ, không yêu bạn bè hay người lân cận. Người tham lam chỉ biết có mình mà thôi. Không có một chỗ nào ở Thiên đàng dành cho kẻ tham lam, nhưng phần của họ nơi hồ lửa đời đời.

Tóm lại, chúng ta yêu Chúa, vì nếu yêu Chúa thì không thờ ai khác ngoài Chúa. Nếu yêu Chúa thì không bao giờ sấp mình xuống thờ lạy thần tượng, không lấy Danh Ngài làm chơi, và nhớ ngày yên nghỉ làm nên ngày Thánh. Nếu chúng ta yêu người thì hiếu kính cha mẹ, không giết người, không tà dâm, không trộm cắp, không làm chứng dối, không tham lam điều gì, hay vật gì của người khác.

Có một người từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-cô, dọc đường người bị kẻ cướp lột hết, còn đánh cho mình mẩy bị thương, dở sống dở chết. Có Thầy Thông giáo và người Lê-vi đi qua, nhìn rất rõ tình trạnh của nạn nhân, nhưng đi thẳng. Cuối cùng, người SaMa-ri đi ngang qua, thấy, nhảy Xuống con vật mà mình đang cỡi, rồi lấy dầu và thuốc băng vết thương cho nan nhân, đoạn đỡ người lên con vật của mình, đưa đến nhà quán và nói với chủ quán: “Tôi trả trước cho anh một số tiền. Anh chăm sóc chu đáo cho người nầy, tốn bao nhiêu khi trở về tôi sẽ trả”. Như vậy, chúng ta thấy có ba hạng người đối với kẻ khốn nạn. Hạng thứ nhất là bọn cướp. Kẻ cướp nói rằng: ‘Bất cứ cái gì anh có, phải trao cho tôi: của anh là của tôi. Nếu không thì tôi đánh chết’. Chúng ta biết rằng hạng đó xấu lắm. Hạng thứ hai là Thầy Thông giáo và người Lê-vi: ‘Tôi thấy anh lâm nạn, tôi thương hại lắm, nhưng anh lâm nạn thì ráng mà chịu. Tồi có dầu, có rượu, có tiền, nhưng của tôi, tôi giữ’. Nhiều người có hành động như thế: Ai chết mặc ai, miễn tôi được sung sướng, giàu có, no ấm là đủ rồi. Đó là nếp sống ích kỷ, người Tín đồ không nên nghĩ đến. Hạng thứ ba là người Sa-ma-ri. Người lấy dầu và rượu xức cho nạn nhân, đưa lên con vật của mình, bỏ tiền ra trả cho nhà quán. Anh muốn nói rằng: ‘Tất cả những gì tôi có cũng là của anh. Dầu và rượu của tôi là của anh, tiền và con vật của tôi là của anh, tôi sẵn sàng trả hết, để cho anh được lành bệnh’. Chúa kể câu chuyện đó là Ngài muốn nói tấm lòng của Ngài đối với chúng ta. Chúng ta là những nạn nhân từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-cô. Chúa đã bỏ hết mọi sự, thậm chí trả một giá thật đắc là huyết Ngài đổ ra trên cây Thập tự, để cứu chuộc chúng ta. Bây giờ, đối với nhau chúng ta cũng phải như vậy: Mọi sự của tôi là của anh. Nếu tôi có thuốc men, tôi giúp cho; nếu tôi có phương tiện, tôi giúp cho; nếu còn tiền bạc thì tôi cũng giúp đỡ, mong rằng anh được lành lặn và được cứu rỗi.

Muốn giữ được 10 điều răn của Chúa dạy thì chúng ta phải hành động như người Sa-ma-ri, vì Chúa bảo rằng: “Hãy đi và làm theo như vậy”. Nếu chúng ta sống bằng Tình yêu thương thì đã làm trọn các điều răn. Xin Chúa cho chúng ta thoát khỏi lòng ích kỷ, mà tràn ngập tình thương đối với Chúa và đối với nhau.

Bài 18: DÂN Y-SƠ-RA-ÊN DỰNG ĐỀN TẠM

Xuất 25:1-9

Công việc lớn lao nhất mà dân Y-sơ-ra-ên đã làm trong khi lưu lạc tại sa mạc là dựng Đền tạm. Vì người Y-sơ-ra-ên đã qua khỏi Ai-cập, qua hồng hải, vào sa mạc, đã trở thành một dân tộc thì cần phải có luật pháp; nhưng chưa đủ cần phải biết cách nào để thờ phượng Chúa. Một trong các cách đó là việc xây dựng Đền tạm. Đức Chúa Trời đã gọi Môi-se lên núi và ở đó với Ngài 40 ngày đêm; Ngài đã chỉ dẫn ông phải dựng Đền tạm cách nào. Sách Xuấtất Ê-díp-tô ký đã để 16 đoạn từ 25 đến 40 chép về việc xây dựng Đền tạm. Như vậy, chúng ta biết Đền tạm quan trọng là dường nào.

Đền tạm là một cái Đền thờ có thể tháo gỡ ra và ráp lại được. Vì dân Y-sơ-ra-ên sống trong sa mạc, phải di chuyển luôn, nên không thể xây dựng một Đền thờ cố định. Vì vậy, Đền tạm của họ nhiều mảnh bằng gỗ, bạc, vàng ghép lại. Mãi cho đến khi vào tận Ca-na-an, đời vua Salamôn thì mới xây được một Đền thờ cố định, trên một đỉnh đồi ở Giê-ru-sa-lem.

I. MỤC ĐÍCH DỰNG ĐỀN TẠM (Xuất 25:8):

“Họ sẽ làm cho Ta một Đền thánh và Ta sẽ ở giữa họ”. Mục đích dựng Đền tạm là để được Chúa ở giữa dân Y-sơ-ra-ên. Đây là điều rất cần thiết, không có không được, vừa quí báu vừa phước hạnh, vì không có ai bằng Chúa; được Ngài ở với, ở giữa thì họ được Ngài giải cứu, được bảo đảm an ninh. Ôi! Có Chúa ở giữa thì không còn phải lo sợ gì nữa: Thú dữ, rắn rết không thể hành hại họ được, kẻ thù, trộm cướp không thể đến gần họ được, vì Chúa đang ở giữa họ ngay trong Đền tạm đó. Vì vậy, Kinh Thánh luôn nhắc lại: “Chúa luôn luôn ở giữa dân sự Ngài”. “Chính Đức Giê-hô-va sẽ đi trước ngươi, Ngài sẽ ở cùng ngươi, chẳng lìa khỏi ngươi, chẳng từ bỏ ngươi đâu. Chớ sợ và chớ kinh khủng” (Phu 31.8). Câu nầy hết sức an ủi và khích lệ chúng ta. “Ta há không có phán dặn ngươi sao? Hãy vững lòng bền chí, chớ run sợ, chớ kinh khủng, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi” (Gios 1:9). Lời hứa nầy khích lệ Giô-suê trên đường hướng dẫn dân Y-sơ-ra-ên vào xứ Ca-na-an. Ê-sai 41:10 chép: “Đừng sợ, vì Ta ở cùng ngươi; chớ kinh khiếp vì Ta là Đức Chúa Trời ngươi. Ta sẽ bổ sức cho ngươi; phải, Ta sẽ giúp đỡ ngươi, lấy tay hữu công bình Ta mà nâng đỡ ngươi”. Những lời nầy được nhắc đi, nhắc lại luôn trong cả Kinh thánh, để ai nấy được vững lòng trên đường theo Chúa. Dầu phải đương đầu với bao nhiêu khó khăn, chúng ta cũng không sợ, vì Đức Chúa Trời luôn ở với chúng ta và Ngài sẽ giải quyết mọi nan đề đó. Không chỉ có vậy, dân Y-sơ-ra-ên còn được thông công với Chúa; qua Đền tạm, họ được Chúa phán dạy những điều phải làm, những sự phải tránh, đồng thời họ được phép Cầu nguyện, trình dâng mọi sự cho Chúa. Mối thông công mật thiết đó khiến họ thấy ấm áp, không bị cô đơn, lạnh lùng. Nếu chúng ta thờ một vị thần mà không biết vị đó ở đâu thì rất buồn; nhưng dân Y-sơ-ra-ên có Đức Chúa Trời ở ngay trong Đền tạm, mà lúc nào họ muốn gặp Ngài cũng được cả- qua sự cầu nguyện, suy gẫm Lời của Chúa. “Trong ngày gian truân, hãy kêu cầu cùng Ta, Ta sẽ giải cứu ngươi và ngươi sẽ ngợi khen Ta” (Thi 50:15). Lời hứa nầy hết sức quí báu. Trong ngày gian truân, bạn bè xa lánh, thân nhân cũng bó tay, không làm chi được cho mình, thì Chúa hứa hãy kêu cầu Ngài, Ngài sẽ giải cứu cho, chỉ có Đức Chúa Trời mới dám hứa những lời đó. “Tôi đã xin Đức Giê-hô-va một điều, và sẽ tìm kiếm điều ấy!”

“Ấy là tôi muốn trọn đời được ở trong nhà Đức Giê-hô-va, để nhìn xem sự tốt đẹp của Đức Giê-hô-va,và cầu hỏi trong đền của Ngài. Vì trong ngày tai họa, Ngài sẽ che khuất tôi trong đền của Ngài, giấu tôi nơi kín mật của trại Ngài; cũng sẽ đỡ tôi lên trên một hòn đá”. (Thi 27:4-5). Chính lúc nguy nan hơn hết thì Chúa chịu trách nhiệm bao phủ chúng ta phía sau và phía trước, bên tả và bên hữu, giấu chúng ta trong nơi bí mật của trại Ngài, là nơi mà kẻ thù không bao giờ đến được. Tất cả con cái Chúa đều kinh nghiệm là lúc nguy nan hơn hết, lại được Chúa chăm sóc chu đáo hơn hết. Vì vậy Đa-vít nói: “Tôi sẽ ở trong nhà Đức Giê-hô-va cho đến lâu dài”. (Thi 23:6). Chúng ta ước ao cứ được ở đó mãi mãi mà thôi, vì ngoài Chúa không có chỗ nào tốt hơn.

Ngoài Đền tạm ở giữa họ, thì chính Chúa cung cấp cho họ đầy đủ mọi nhu cầu. Dân Y-sơ-ra-ên nhờ Chúa mà có Ma-na ăn, có nước uống hằng ngày. Ban ngày có trụ mây che phủ, ban đêm có trụ lữa soi sáng. Khi nào cần đi, Chúa kêu họ giở trại, khi cần đóng trại, Chúa bảo họ dừng lại. Hễ nơi nào đóng trại thì nơi đó có Ma-na rơi xuống, có đủ nước cho họ uống. Phu 2:7 chép: “Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã ban phước cho mọi công việc làm của tay ngươi; Ngài đã biết cuộc đi đường ngươi ngang qua đồng vắng lớn lao nầy. Trong bốn mươi năm nầy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi; ngươi không thiếu chi hết”. Những lời đó không chỉ là hứa suông đâu, nhưng có kinh nghiệm cập theo. Chúng ta đọc lời của Nê-hê-mi: “Chúa cũng ban cho chúng Thần linh lương thiện của Chúa, để dạy dỗ cho chúng, không từ chối cho miệng chúng ăn Ma na, và ban cho chúng nước đặng uống khát. Phải, Chúa nuôi dưỡng chúng bốn mươi năm trong đồng vắng: chúng chẳng thiếu thốn chi cả; quần áo chúng không cũ rách, và chân chúng chẳng phù lên”. (Ne 9:20-21).

Thử hỏi, đối với chúng ta ngày nay, Chúa có ở với chúng ta như vậy không? –Chắc chắn là có, vì chúng ta hôm nay là dân Y-sơ-ra-ên thuộc linh, tức là một Hội Thánh trong thời Tân ước, như dân Y-sơ-ra-ên là Hội Thánh của Đức Chúa Trời trong thời Cựu ước. Những Lời hứa cho dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa cũng dành cho chúng ta ngày nay. Vì vậy, chúng ta đọc những gì Chúa hứa cho dân Y-sơ-ra-ên, thì phải nhận rằng đó là Lời Chúa hứa cho chúng ta. Trong Tân ước, Chúa hứa gì cho chúng ta qua Mat 28:20? –”Dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế”. Chúa ở với chúng ta cho đến tận thế. Vì vậy, tôi quả quyết rằng Hội Thánh của Chúa sẽ tồn tại và cứ phát triển mãi cho đến ngày Chúa Tái lâm, Tin lành cứ được rao truyền để cứu vớt tội nhân cho đến khi Chúa trở lại. “Vì nơi nào có hai ba người nhân Danh Ta nhóm nhau lại thì Ta ở giữa họ” (Mat 18:20). Chúng ta biết rằng Chúa đang ở giữa chúng ta. Nơi nào không có Nhà thờ, mà gia đình nhóm nhau lại để thờ phượng Chúa, thì Ngài cũng có mặt tại đó. Bất cứ nơi nào có hai ba người nhân danh Chúa nhóm nhau lại thì Ngài ở giữa. Cong 18:9-10 chép: “Ban đêm, Chúa phán cùng Phao-lô trong sự hiện thấy rằng: Đừng sợ chi; song hãy nói và chớ làm thinh; ta ở cùng ngươi, chẳng ai tra tay trên ngươi đặng làm hại đâu; vì ta có nhiều người trong thành nầy”. Lời Chúa hứa đối với chúng ta cũng như vậy. Hãy dạn dĩ bày tỏ danh Chúa ra cho mọi người. Đừng sợ hãi, vì Chúa biết trong Thành phố nầy, trong nước Việt nam còn nhiều người cần được cứu rỗi, và Chúa muốn cho họ được cứu, miễn là chúng ta làm chứng về ơn cứu rỗi của Chúa cho họ.

“Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Nếu ai yêu mến Ta thì vâng giữ lời Ta, Cha Ta sẽ thương yêu người, chúng ta đều đến cùng người và ở trong người” (Gi 14:23). Chúng ta tiến đến một bước sâu nhiệm hơn, không những là Chúa ở với, nhưng Chúa ở giữa. Ở với hay ở giữa có nghĩa là ở bên cạnh. Nhưng câu nầy bảo rằng Chúa ở trong chúng ta, tức là ngự vào đời sống, làm cho đời sống chúng ta với Ngài là một: Chúng ta là chi thể của Ngài. Vì vậy, ai đụng đến chúng ta là đụng đến Chúa. Ngài xem chúng ta là quí báu đến nỗi Ngài ngự vào mỗi đời sống, mỗi gia đình của chúng ta. Vì vậy, chúng ta được phước như dân Y-sơ-ra-ên và được phước hơn. Chúng ta đều vui mừng cảm tạ Chúa, dầu lên trời hay Xuống biển, dầu đi đâu Chúa luôn ở với và ở trong mỗi chúng ta. Đó là niềm hãnh diện của chúng ta.

Dân Y-sơ-ra-ên rất sung sướng được xây dựng Đền tạm để có Chúa ở giữa họ.

II. VẬT LIỆU XÂY DỰNG ĐỀN TẠM (Xuất 25:1-7):

“Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên đặng họ dâng lễ vật cho Ta; các ngươi hãy nhận lấy lễ vật của mọi người có lòng thành dâng cho. Nầy là lễ vật các ngươi sẽ nhận lấy của họ: vàng, bạc, và đồng; chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, vải gai mịn, lông dê, da chiên đực nhuộm đỏ, da cá nược, cây si-tim, dầu thắp, hương liệu đặng làm dầu xức và hương, bích ngọc cùng các thứ ngọc khác để gắn vào ê-phót và bảng đeo ngực”. Hết thảy những vật liệu nầy cần thiết để xây dựng Đền tạm, nhưng làm sao có được? –Do dân sự tình nguyện dâng cho Chúa. Câu 2 chép: “Họ tình nguyện dâng”. “Hãy lấy một lễ vật chi ở nhà các ngươi mà dâng cho Đức Giê-hô-va. Hễ người nào có lòng thành dâng cho, hãy đem lễ vật cho Đức Giê-hô-va” (Xuất 35:5). Hễ trong nhà mình có bất cứ vật gì trong những vật có thể dùng xây dựng Đền tạm như vàng, bạc và đồng…thì hãy đem đến dâng cho Chúa, mà đây là lễ vật tình nguyện. Chúng ta rất muốn dâng chớ không phải là buộc phải dâng. Xuất 35:21-22 chép: “Mọi người có lòng cảm động, và mọi người có lòng thành, đều đem lễ vật đến dâng cho Đức Giê-hô-va, để làm công việc hội mạc, các đồ phụ tùng và bộ áo thánh. Phàm người nam cùng nữ, tức mọi kẻ có lòng thành, đều đến đem những hoa tai, nhẫn, khâu, kiềng, các thứ trang sức bằng vàng, và hết thảy đều dâng lễ vật bằng vàng cho Đức Giê-hô-va”. Điều nầy nói lên lòng yêu mến Chúa của họ, đến nỗi các phụ nữ đã có lòng thành mà dâng hoa tai, nhẫn, khâu, kiềng và các thứ trang sức bằng vàng. Nếu chúng ta đi xa hơn thì biết rằng trong Đền tạm có nhiều vật bằng vàng. Chân đèn bảy ngọn toàn bằng vàng, Hòm giao ước gỗ sitim bọc vàng, bàn thờ xông hương bằng gỗ sitim bọc vàng, bàn thờ bánh trần thiết cũng vậy. Ngoài việc dâng, các phụ nữ còn dùng tài khéo của mình để kéo chỉ, dệt thành những bức màn treo trong Đền tạm.

Họ dâng như thế nào? –”Trước mặt Môi-se, họ thâu các lễ vật của dân Y-sơ-ra-ên đã đem đến, để làm các công việc định dùng về sự tế lễ nơi Thánh. Nhưng mỗi buổi sớm mai, dân sự lại đem đến lễ vật tình nguyện nữa. Thế thì, các người khôn khéo làm mọi công việc của nơi thánh, đều tạm đình, đến nói cùng Môi-se rằng: Dân sự đem đến dư bội phần đặng làm các công việc mà Đức Giê-hô-va đã phán dặn. Theo lịnh truyền của Môi-se, họ bèn đi rao từ trại quân rằng: Bất kỳ người nam hay nữ, chớ làm công việc về lễ vật của nơi Thánh nữa! Vậy họ cấm dân sự không cho đem đến chi thêm nữa hết. Vì đã đủ các vật liệu đặng làm hết thảy công việc, cho đến đỗi còn dư lại nữa” (Xuất 36:3-7). Thật là cảm tạ Chúa vô cùng! Không những là đủ mà dư dật, dư đến nỗi Môi-se đã ra lệnh cấm không cho đem đến thêm. Lòng của họ như là sẵn sàng tuôn tràn, họ muốn dâng và muốn dâng nhiều hơn nữa. Tại sao? –Vì họ biết rằng với các của dâng nầy, họ xây dựng Đền tạm để Chúa ở giữa họ. Từ dâu họ có các của dâng nầy? Nếu chúng ta nhớ lại thì biết rằng không phải tự họ có, nhưng khi họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô, thì Chúa đã đưa dân Ê-díp-tô vào cái thế muốn dân Y-sơ-ra-ên đi sớm chừng nào tốt chừng nấy, vì vậy, dân Y-sơ-ra-ên muốn xin bất cứ vật gì thì dân Ê-díp-tô cũng cho hết!.

Vua Đa-vít đã nói: “Những gì chúng ta dâng lên cho Chúa vốn đã thuộc về Chúa, chúng tôi có gì đâu? Ra đời thì trần truồng, nhưng tất cả những gì mà chúng tôi có là do Chúa cho”. Hôm nay chúng ta thế nào? Thiết tưởng chúng ta không thua dân Y-sơ-ra-ên, nếu chúng ta biết dâng cho Chúa là phước hạnh. Giả định một lúc nào đó, chúng ta không còn có thể dâng cho Chúa nữa thì thật là khốn nạn. Chúa hạ mình xuống, cần đến mỗi chúng ta, để ai nấy được dự phần và nhà của Ngài, vào nước của Ngài. Như vậy, chúng ta không phải là tránh trút để khỏi dâng hiến, nhưng chúng ta ước ao được dâng hiến nhiều chừng nào tốt chừng nấy, để chúng ta dự phần vào sự mở mang bờ cõi nước của Chúa.

Trong đời của Đa-vít có một câu chuyện thật lạ lùng. Vua Đa-vít được Chúa bảo: hãy dựng cho Ngài một bàn thờ của Lễ thiêu, tại sân đạp lúa của Ọt-nan, là nông dân của nước ông, để Chúa ban phước cho ông và cả dân sự. Đa-vít là vua, nhưng đến với Ọt-nan không theo tư cách của một nhà vua, không có quân lính, không có đoàn tùy tùng nào cả. Vua đến với Ọt-nan và nói rằng: ‘Anh hãy nhường cho tôi sân đạp lúa của anh, để tôi xây dựng bàn thờ của lễ thiêu cho Chúa’. Chúng ta biết người Do thái quí sân đạp lúa lắm, vì tất cả hoa màu, súc vật đều tập trung trong sân đạp lúa. Bây giờ, nếu bán cho Đa-vít cái sân đạp lúa đó, thì mọi vật phải dời đi đâu? Vì vậy, Ọt-nan có thể chối từ một cách lễ phép, hoặc nhân cơ hội nầy Ọt-nan đặt một giá cao, bắt Đa-vít phải trả. Nhưng Ọt-nan không chối từ, cũng không bán với một giá cao hạy thấp, mà sẵn sàng dâng. Ọt-nan nói rằng: ‘Muôn tâu bệ hạ, xin hãy nhận lấy sân đạp lúa nầy và lập tại đây một bàn thờ cho Chúa, và khi đã lập một bàn thờ xong rồi, nếu bệ hạ cần những của lễ thiêu, thì đây tôi có những con bò, bệ hạ cứ bắt mà dâng cho Chúa, nếu cần có củi thì đây tôi có sẵn xe. Nếu bệ hạ cần của lễ chay, tôi có sẵn sàng’. Cuối cùng, ông nói: ‘Tôi dâng tất cả’ (ISu 21). Vì vậy, Chúa đã ban phước lớn cho dân Y-sơ-ra-ên. Tại đó, Đa-vít lập bàn thờ của lễ thiêu. Cũng tại đó, Sa-lô-môn xây Đền thờ lớn, mà chúng ta gọi là Đền thờ Giê-ru-sa-lem. Lễ khánh thành trọng thể trên ngọn đồi là sân đạp lúa của Ọt-nan.

Cảm tạ Chúa, nếu chúng ta dâng cho Ngài thì không thiệt hại gì cả, ngược lại, nếu chúng ta dâng cho Chúa bao nhiêu thì Chúa sẽ ban phước cho chúng ta bấy nhiêu. Nguyện Chúa cho chúng ta thật lòng yêu mến Ngài, muốn dâng cho Ngài. Hội Thánh trong thời Tân ước cũng đã hết lòng dâng cho Chúa. IICo 8:1-5: “Hỡi anh em, chúng tôi muốn anh em biết ơn Đức Chúa Trời đã làm cho các Hội Thánh ở xứ Ma-xê-đoan: Đang khi họ chịu nhiều hoạn nạn thử thách, thì lòng quá vui mừng, và cơn rất nghèo khó của họ đã rải rộng ra sự dư dật của lòng rộng rãi mình. Vì tôi làm chứng cho họ rằng họ đã tự ý quyên tiền theo sức mình, hoặc cũng quá sức nữa, và nài xin chúng tôi làm ơn cho họ có phần vào sự giùm giúp các thánh đồ. Họ lại làm quá lòng trông cậy của chúng tôi, vì trước hết đã dâng chính mình cho Chúa, và sau lại cho chúng tôi, theo ý muốn Đức Chúa Trời”. Cảm tạ ơn Chúa, vì lòng yêu thương Chúa, vì ân điển Chúa đã làm việc trong Tín đồ Ma-xê-đoan, đến nỗi họ lấy làm sung sướng mà dâng, cũng như người dân Y-sơ-ra-ên ở trong sa mạc vậy.

III. KIỂU MẪU CỦA ĐỀN TẠM (Xuất 25:9):

“Hãy làm đền đó y theo kiểu Đền tạm, cùng các kiểu đồ dùng mà Ta sẽ chỉ cho ngươi”. Câu nầy được nhắc lại nhiều lần: “Vậy, ngươi hãy xem, cứ làm y như kiểu đã chỉ cho trên núi” (Xuất 25:40), “Ngươi phải dựng Đền tạm y như kiểu đã chỉ cho ngươi trên núi vậy” (Xuất 26:30), “Bàn thờ sẽ đóng bằng ván, trống bộng, làm y như đã chỉ cho ngươi trên núi vậy” (Xuất 27:8). Bốn lần lập lại: “Làm y như Ta đã chỉ cho ngươi trên núi”. Nếu chúng ta đi sâu vào chi tiết thì sẽ thấy rằng mỗi một cây đinh, một cái khoen hay một chiếc bàn đều phải đúng theo kiểu mà Chúa đã định. Vì kiểu mẫu là kiểu mẫu ở trên trời, mà không ai biết được, nên toàn dân Y-sơ-ra-ên phải làm đúng theo điều mà Chúa đã chỉ. Tại sao phải làm đầy đủ như vậy? – Vì chính Đền tạm bày tỏ Chúa Jêsus, từ khi Ngài ở trên trời, sống dưới trần gian 33 năm, cuối cùng chết trên Thập tự giá. Tất cả mọi vật trong Đền tạm đều là hình bóng về Chúa Jêsus. Trong Tân ước cho chúng ta thấy như vậy: “Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống, chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha”. Ngài là con đường duy nhất dẫn chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời, vì ngoài con đường đó không có con đường nào khác. Sứ đồ Phi-e-rơ nói rằng: “Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác, vì ở dưới trời chẳng có Danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu”. Nếu muốn được cứu, phải nhờ Chúa Jêsus mà thôi. Vì chính Chúa Jêsus làm ứng nghiệm tất cả những gì trong Đền tạm mà chúng ta đã học và sẽ học đây.

Tôi thiết tưởng, từ xưa đến nay người ta đã từng sáng lập ra nhiều vị thần để thờ phượng, thậm chí người ta sáng lập ra cả Đức Chúa Trời nữa. Người ta thiết lập hệ thống Tôn giáo, tưởng rằng nhờ đó mà mình được cứu. Nhưng Kinh Thánh dạy chúng ta thấy rằng chỉ có một con đường, chỉ có một phương pháp là Chúa Jêsus giáng thế chịu chết và sống lại để cứu chuộc chúng ta.

Có người nói như thế nầy: ‘Tôi muốn lấy những cái tốt của các Tôn giáo mà lập ra một tôn giáo hoàn hảo’. Có đúng không? Ngay tại Việt nam, người ta đã làm điều đó rồi: Lấy một phần của Tôn giáo nọ, một phần của Tôn giáo nầy, một phần của Tôn giáo kia để lập nên một Tôn giáo mà họ cho là tốt nhất. Chắc chắn là không được. Để vẽ hình một con vật, tôi thấy người ta vẽ con voi có cái vòi tốt quá nên tôi vội vẽ vào, thấy con khỉ có cái tay giống như người tôi vẽ vào. Thử hỏi quí vị, con vật mà tôi vẽ đó là con gì? Các Tôn giáo ở trần gian, dầu muốn làm tốt nhưng không tốt chi cả. Chỉ có một con đường tốt nhất là Chúa Jêsus.

“Đền tạm ta sẽ ở giữa chúng nó; ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta. Bấy giờ các nước sẽ biết ta, là Đức Giê-hô-va, biệt Y-sơ-ra-ên ra thánh, vì nơi thánh ta sẽ ở giữa chúng nó đời đời” (Exe 37:27-28). Dân Y-sơ-ra-ên được Đức Chúa Trời ở giữa luôn luôn. “Có thể nào hiệp đền thờ Đức Chúa Trời lại với hình tượng tà thần? Vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ; Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ làm dân Ta” (IICo 6:16). Chúng ta là Đền thờ của Đức Chúa Trời, Ngài đang ở giữa và ở trong chúng ta.

“Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi Ngai mà đến, nói rằng: Này, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng” (Kh 21:3).

Trong cảnh trời mới, đất mới, Chúa ở với chúng ta luôn luôn. Hạnh phúc lớn nhất của chúng ta không phải là vàng, bạc hay ngọc châu, không phải bất cứ điều gì hết, nhưng là được chính mình Chúa ở với chúng ta và ở trong chúng ta. Đó là cuộc đời hạnh phúc được bảo đảm, không những là hiện tại nhưng cho đến đời đời vô cùng. Vì vậy, xưa nay có biết bao người sẵn sàng mất hết mọi sự, nhưng không bao giờ để mất Chúa, tức là giữ trọn niềm tin đối với Chúa, dầu bất cứ giá nào cũng sẵn sàng trả hết.

Chúng ta hôm nay cũng vậy, chúng ta không có chi, nhưng điều chúng ta có là chính mình Chúa, vì có Chúa là có đủ mọi sự, không cần phải sợ gì hết. Nguyện Chúa cho chúng ta cứ được ở trong Chúa và Chúa ở trong chúng ta mãi mãi.

Bài 19: Ý NGHĨA CỦA ĐỀN TẠM

Xuất 25:10-40

Nếu ai đọc Cựu ước thì biết rằng Đền tạm được nhắc đi nhắc lại nhiều lần để dạy cho chúng ta con đường cứu rỗi, tức là cách nào người ta đến gần Đức Chúa Trời, để tôn thờ Ngài. Đó là niềm khao khát của toàn thể nhân loại xưa nay, và việc đó đã được thực hiện trong Chúa Jêsus.

Đền tạm được chia làm ba phần: Phần thứ nhất gọi là Hành lang. Khi đọc Kinh thánh, chúng ta thường thấy chữ Hành lang, nghĩa là phía ngoài. Phần thứ hai là nơi Thánh, phần thứ ba là nơi Chí Thánh. Từ phía trước vào trong Đền tạm chỉ có một cái cửa hay là cái cổng. Phía trong cổng Hội mạc có bàn thờ bằng đồng hay bàn thờ của Lễ thiêu. Kế đó là cái chậu đồng để các Thầy Tế Lễ rữa tay chân trước khi vào nơi Thánh. Trong nơi Thánh có: 1/Bàn bánh trần thiết, trên bàn luôn luôn có 12 ổ bánh mì. 2/ Chân đèn bảy ngọn được thắp sáng luôn bằng dầu ôliu. 3/ Bàn thờ xông hương. Mỗi sáng và tối, Thầy Tế Lễ bỏ hương vào bình, rồi lấy lửa từ bàn thờ của Lễ thiêu bỏ vào bình hương. Bình hương được đặt trên bàn thờ xông hương để tỏa hương thơm cho cả Đền tạm. Nơi Thánh và nơi Chí Thánh được ngăn bởi một bức màn phủ từ trên chỉ dưới. Nơi Chí Thánh có Hòm giao ước. Trong hòm giao ước đựng bảng Luật pháp và bảng 10 Điều răn. Hòm giao ước được đậy bởi nắp Thi ân.

Tất cả ý nghĩa của Đền tạm đều chỉ về Chúa Jêsus. Ngài là Đền thờ, là tất cả những hình ảnh trên đây. Có một lần ngươi Do thái hỏi Chúa Jêsus: “Thầy cho chúng tôi thấy phép lạ gì?”. Chúa bảo: “Hãy phá Đền thờ nầy đi, trong ba ngày Ta sẽ dựng lại”. Họ không hiểu ý nghĩa đó. Dân Do thái đã phá Đền thờ bằng cách đóng đinh Ngài trên Thập tự giá, và ba ngày sau Chúa sống lại y như Ngài đã phán. Đền tạm dạy chúng ta: Tội nhân bước vào cổng của Đền thờ, có bàn thờ dâng của Lễ thiêu, chỉ bóng về Chúa Jêsus chịu chết vì chúng ta trên Thập tự giá, và sau khi tin nhận Ngài được tha thứ tội lỗi, thì bước đến thùng nước để rửa, tức là nhờ quyền năng của Đức Thánh Linh và Lời của Đức Chúa Trời tái tạo trở nên con cái Đức Chúa Trời, có một nếp sống thánh khiết. Rồi tội nhân được nếm bánh trên bàn thờ. Bánh nầy chỉ về Chúa Jêsus, vì Ngài là sự sáng. Kế đó, bàn thờ xông hương chỉ về Chúa Jêsus là Đấng chúng ta nhân danh mà cầu nguyện với Đức Chúa Trời. Rồi sau đó chúng ta gặp Hòm giao ước hay là hòm bảng chứng. Đức Chúa Trời đã ban Luật pháp và 10 điều răn cho dân Y-sơ-ra-ên mà họ không giữ. Vì vậy, 10 Điều răn đặt trong hòm bảng chứng và chính hòm bảng chứng đều chỉ về Chúa Jêsus. Điều đó có ý nghĩa là Ngài đến trần gian thay chúng ta giữ các luật lệ và điều răn của Đức Chúa Trời. Dân Y-sơ-ra-ên có hòm giao ước nên Đức Chúa Trời kể rằng họ giữ điều răn, kỳ thực họ không giữ nỗi, nhưng hòm giao ước giữ thay cho họ. Cũng vậy, Chúa Jêsus giáng thế làm trọn luật pháp của Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời luôn luôn bảo rằng: “Nầy là con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng”. Nên đang khi chúng ta có Chúa Jêsus ngự vào lòng, thì Đức Chúa Trời kể rằng chúng ta giữ trọn điều răn của Ngài. Trên nắp thi ân có hai Thiên sứ chỉ rằng đây là Ngôi của Đức Chúa Trời. Ngài ngự trên Ngôi thi ân, tức là Ngôi tha tội cho chúng ta. Chúa Jêsus đã từ Ngôi thi ân nầy giáng Xuống giữ Luật pháp thay cho chúng ta, ban cho chúng ta được quyền nhân Danh Ngài mà cầu nguyện, ban cho chúng ta sự sống của Ngài, sự sáng của Ngài, sự rửa sạch, và cuối cùng Chết vì chúng ta trên Thập tự giá, nghĩa là Ngài từ Thiên đàng Xuống tận trần gian chịu chết vì chúng ta, để mở cho chúng ta con đường từ trần gian ô nhục nầy đến Ngôi Thi ân là Thiên đàng của Chúa. Bây giờ, chúng ta sẽ đi vào từng chi tiết một:

I. BÀN THỜ BẰNG ĐỒNG ĐỂ DÂNG CỦA LỄ TOÀN THIÊU (Xuất 27:1-8):

“Ngươi cũng hãy đóng một bàn thờ bằng cây si-tim, hình vuông, năm thước bề dài, năm thước bề ngang, và bề cao ba thước. Nơi bốn góc bàn thờ hãy làm sừng ló ra và bọc đồng. Những đồ phụ tùng của bàn thờ thì hãy làm bằng đồng: bình đựng tro, vá, ảng, nĩa và bình hương. Lại làm cho bàn thờ một tấm rá bằng lưới đồng; và nơi bốn góc rá làm bốn cái khoen bằng đồng; rồi để rá đó dưới thành bàn thờ, từ dưới chân lên đến nửa bề cao. Cũng hãy chuốt đòn khiêng bàn thờ bằng cây si-tim, bọc đồng, rồi xỏ vào những khoen; khi khiêng đi, đòn sẽ ở hai bên bàn thờ. Bàn thờ sẽ đóng bằng ván, trống bộng, làm y như đã chỉ cho ngươi trên núi vậy”.

Dân Y-sơ-ra-ên muốn được tha tội thì dẫn một con bò (nếu là người giàu), một con chiên (nếu là bậc trung), một con bồ câu (nếu là người nghèo). Rồi người đã phạm tội đặt tay của mình lên đầu con sinh đó và xưng hết tội lỗi của mình ra. Sau đó, Thầy Tế lễ tới giết con sinh, để trên củi của bàn thờ rồi thiêu hóa tất cả. Đó là bàn thờ của Lễ thiêu. Bước thứ nhất, người ta đến gần Đức Chúa Trời phải đi con đường đó. Bàn thờ chỉ về Thập tự giá của Chúa Jêsus, Ngài bảo rằng: “Ta là đường đi… Chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha”. Giăng Báp-tít nói: “Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời”. Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời hi sinh trên bàn thờ của Lễ thiêu, mà bây giờ là Thập tự giá, để mở một con đường cho chúng ta bước vào, để được tha thứ tội lỗi, đến nỗi Đức Chúa Trời không còn thấy chúng ta có một tội nào hết. Vì vậy, Kinh Thánh bảo rằng: “Đức Chúa Trời là cho Đấng chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta”, tức là Chúa Jêsus hoàn toàn vô tội, mang lấy tất cả tội lỗi của nhân loại và chết trên Thập tự giá, Kinh Thánh cũng nói thêm rằng: Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta, đến nỗi sai con Ngài làm tế lễ chuộc tội cho chúng ta. Con sinh bị giết và thiêu trên bàn thờ nầy chỉ về Chúa Jêsus chịu chết vì chúng ta trên Thập tự giá. Đó là cái cửa thứ nhất hay là bước thứ nhất đưa chúng ta đến gần Đức Chúa Trời. Vì Kinh Thánh bảo rằng: “Không có sự đổ huyết thì không có sự tha tội, mọi tội nhờ huyết mà được sạch”, và huyết của con sinh không đủ giá trị để đền tội cho chúng ta, nhưng nó chỉ là tượng trưng cho huyết quí báu của Chúa Jêsus phiếu sạch tội lỗi của chúng ta.

II. CHẬU NƯỚC BẰNG ĐỒNG (Xuất 30:17-21):

“Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se nữa rằng: Ngươi hãy làm một cái thùng với chân thùng bằng đồng, đặng rửa mình ở trong, rồi để giữa khoảng của hội mạc và bàn thờ, và đổ nước vào. A-rôn cùng các con trai người sẽ rửa tay và chân mình ở trong. Khi họ vào hội mạc sẽ lấy nước rửa mình, hầu cho họ khỏi chết; và khi lại gần bàn thờ đặng phụng sự, tức là xông của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va, họ cũng phải giữ như vậy. Thế thì, họ hãy rửa tay và chân, hầu cho khỏi chết. Ấy là một lệ đời đời cho A-rôn cùng dòng dõi người trải qua các đời”.

Thầy Tế lễ muốn vào nơi Thánh để dâng mọi tế lễ cho Đức Chúa Trời, thì phải qua cái chậu bằng đồng. Cái chậu bằng đồng phải thật sáng, để khi các Thầy Tế lễ đến với cái chậu đó thì soi mặt mình, để thấy dơ ở chỗ nào, rồi nhờ nước trong chậu đó mà rửa trước khi vào nơi Thánh, để thi hành các thánh lễ. Điều này có hai sự dạy dỗ quí báu cho chúng ta: 1/ Thấy hình ảnh mình trong chiếc thùng. 2/ Nhờ nước trong thùng rửa cho mình được sạch, để có đủ tư cách bước vào nơi Chí Thánh thờ phượng và hầu việc Chúa.

Ý thứ nhất chỉ về sự tái sanh và đổi mới của chúng ta. Tit 3:5 chép: “Không phải cứu vì việc công bình chúng ta đã làm, nhưng cứ theo lòng thương xót Ngài, bởi sự rửa về sự lại sanh và sự đổi mới của Đức Thánh Linh”. Câu nầy ám chỉ về cái thùng bằng đồng. “Bởi rửa và sự đổi mới của Đức Thánh Linh”tức là sau khi đã được tha tội tại bàn thờ của Lễ thiêu, là dĩ vãng được giải quyết xong, nhưng chúng ta có thể tái phạm. Nên cái thùng bằng đồng ám chỉ về sự Tái sanh để chúng ta trở thành một người hoàn toàn mới, không ưa thích tội nữa mà ưa thích sự công bình và thánh khiết. Chúa Jêsus đã nói với Ni-cô-đem: “Ngươi phải sanh lại…Nếu không sanh lại thì không thể nào thấy được nước Đức Chúa Trời”. Ý nghĩa là không nhờ quyền năng tái tạo của Đức Chúa Trời thì không có một người nào bước vào sự hiện diện của Ngài được (hay là vào nơi Thánh được). Chúng ta hôm nay cũng vậy, sau khi tin Chúa các ông bà, anh chị, các em trở nên Thầy Tế lễ, mà muốn vào nơi Thánh để tôn thờ và phục vụ Chúa, thì chúng ta phải qua cái thùng bằng đồng đó.

Ý nghĩa thứ hai: Nước trong thùng bằng đồng chỉ về Kinh thánh. Chúa Jêsus bảo rằng: “Các ngươi đã được trong sạch, vì lời ta đã bảo cho” (Gi 15:3). “Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh, lời Cha tức lẽ thật”. Gia-cơ nói: Nếu chúng ta xem mặt mình ở trong gương, thấy dơ rồi bỏ đi, thì nó vẫn còn dơ; nhưng biết nó là dơ thì phải nhờ nước là Lời của Chúa làm cho sạch. Cái thùng chỉ về Kinh thánh, vì nhờ Kinh Thánh chúng ta thấy mình có những lỗi lầm, chân tướng của mình được ghi trong Kinh thánh.

Trước đây lâu lắm, có một nữ Giáo sĩ đến thăm một sắc tộc bán khai, chưa từng thấy chiếc gương soi bao giờ. Bà Giáo sĩ tặng bà tù trưởng một chiếc gương để soi mặt. Bà nhìn vào gương, bà thấy da của mình sao mà đen quá, môi sao dày quá, bà thấy mặt của mình xấu quá. Bà ta giận dữ và ném gương xuống đất. Bà nghĩ rằng cái gương chỉ cho thấy mặt xấu của mình mà thôi. Người ta không ưa đọc Kinh Thánh cũng vì vậy, vì Kinh Thánh chỉ ra cái mặt của mình không đẹp bao nhiêu, tấm lòng của mình còn xấu hơn nữa và hành vi, cử chỉ của mình thật là bỉ ổi. Chúng ta không ưa đọc Kinh Thánh như thế là sai lầm. Kinh Thánh chỉ cho chúng ta biết lỗi lầm, đồng thời cũng làm cho mình được thánh thiện. Tội lỗi làm cho chúng ta xa cách Kinh Thánh, nhưng Kinh Thánh làm cho chúng ta xa cách tội lỗi. Cái thùng này chỉ cho chúng ta thấy cái mặt mình dơ, nhưng đồng thời cũng làm cho mặt mình được sạch. Kinh Thánh cũng như thế, cho nên mỗi chúng ta hàng ngày phải đọc Kinh Thánh để thấy mình ra thế nào, đồng thời cũng nhờ Kinh Thánh làm cho chúng ta thánh khiết, để rồi bước vào nơi Thánh là nơi có sự hiện diện của Đức Chúa Trời, và chúng ta sẽ được gặp bàn bánh trần thiết.

III. BÀN BÁNH TRẦN THIẾT (Xuất 25:25-30):

“Ngươi cũng hãy đóng một cái bàn bằng cây sitim, bề dài hai thước, bề ngang một thuớc và bề cao một thước rưỡi, bọc bằng vàng ròng và chạy một đường viền chung quanh, rồi lên be cho tứ vi bàn, cao chừng bốn ngón tay và chạy cho be một đường viền vàng. Lại đúc bốn cái khoen vàng, tra vào bốn góc nơi chân bàn. Khoen sẽ ở gần be, để xỏ đón khiêng bàn. Ngươi hãy chuốc đòn bằng cây si-tim, bọc vàng, rồi người_____ly đặng dùng làm lễ quán. Trên bàn, ngươi sẽ để bánh trần thiết cho có luôn luôn trước mặt Ta”.

Trần thiết là bày ra.

– Xin lưu ý: Cái thước mà Kinh Thánh dùng làm thước tay, tính từ đầu cùi chỏ đến ngón tay dài hơn hết. Bàn bánh trần thiết luôn luôn có 12 ổ bánh và mỗi tuần thì thay bánh mới một lần. Các Thấy Tế Lễ khi vào trong đền thánh thi hành chức vụ thì được phép ăn bánh đó, có nghĩa là Chúa không để người hầu việc Ngài bị đói.

Hôm nay chúng ta cũng vậy, mỗi chúng ta là Thầy Tế Lễ mà Chúa Jêsus là bánh hằng sống.Gi 6:35 có chép: “Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là bánh của sự sống; ai đến cùng ta chẳng hề đói, và ai tin ta chẳng hề khát”. Ngài là bánh từ trời Xuống, ai tin Ngài thì được hưởng sự sống đời đời trong tâm linh của mình. Như vậy, Chúa Jêsus hôm nay là Bàn bánh trần thiết cho chúng ta, mỗi ngày chúng ta phải nhờ Chúa để nuôi mình, tức là nuôi mình bằng chính sự sống của Chúa, cũng như Lời của Chúa vậy.

IV. CHÂN ĐÈN VÀNG BẢY NGỌN:

Trong Đền tạm không có một ánh sáng nào ngoài ra ánh sáng của chiếc đèn bảy ngọn, nên đèn phải cháy luôn luôn, và chiếc đèn đó cũng chỉ về Chúa Jêsus. Chúng ta cần bánh ăn và cũng cần đến ánh sáng để làm việc. Chúa bảo rằng: “Ta là sự sáng của thế gian, người nào tin ta chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống”. Đức Chúa Trời cung ứng cho chúng mọi nhu cầu thuộc thể lẫn thuộc linh. Ở trong Khải Huyền, chân đèn bảy ngọn này chỉ về Hội Thánh, vì Chúa cũng bảo rằng: “Các ngươi là sự sáng của thế gian…Sự Sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời”. Về phương diện tâm linh, không có sự sáng nào ngoài ra Chúa Jêsus, cũng không có sự sáng nào ngoài ra chúng ta là con cái Ngài, được Ngài chiếu sáng cho chúng ta và chúng ta phản chiếu lại cho mọi người chung quanh.

Vì vậy, chúng ta phải luôn luôn bước theo Chúa, nhờ sự dẫn dắt của Ngài. Ai đi với Chúa Jêsus là đi trong sự sáng và ai không đi với Ngài là ở trong sự tối tăm. Kinh Thánh bảo rằng: “Một người được cứu là được đem ra khỏi nơi tối tăm và bước vào nơi sáng láng”. Chúng ta là con cái của sự sáng thì chúng ta phải bước đi trong sự sáng và là các Thầy Tế Lễ ở trong Đền thờ vậy.

V. BÀN THỜ XÔNG HƯƠNG (Xuất 30:1-10):

Mỗi ngày hai lần, các Thầy Tế Lễ thay phiên nhau lấy hương đã được chế sẵn đem dâng lên bàn thờ, không được phép lấy lửa ở nơi khác, mà lấy lửa tại Bàn thờ của lễ thiêu bỏ vào bình hương. Trong Lê-vi ký, hai Thầy Tế Lễ Na-đáp và Abihu đã lấy hương bỏ vào mà không lấy lửa tại Bàn thờ của lễ thiêu, nhưng lấy lửa tại nơi khác. Lửa đó gọi là lửa lạ. Khi bỏ vào thì hai ông ngã chết bên Bàn thờ. Tại sao? – Vì bàn thờ của lễ thiêu chỉ về Chúa Jêsus, và Chúa Jêsus giúp cho chúng ta được tự do đến gần Đức Chúa Trời mà cầu nguyện, không ai có thể nhân danh mình hoặc bất cứ một người nào mà cầu nguyện. Kinh Thánh đã nhắc lại nhiều lần: “Các ngươi nhân Danh Ta cầu xin điều chi mặc dầu, Ta sẽ làm cho” (Gi 14:13-14; 16:24 ; Kh 5:8; 8:3). Chúng ta nhân Danh Chúa mà cầu nguyện thì Đức Chúa Trời nhậm lời cầu nguyện của chúng ta và xem sự cầu nguyện của chúng ta như là một thức hương được dâng lên cho Đức Chúa Trời. Thật phước vô cùng khi chúng ta được phép cầu nguyện với Đức Chúa Trời. Chúng ta được phép như vậy không phải vì chúng ta có gì xứng đáng đâu, nhưng nhờ Chúa chịu chết trên Thập tự giá, như con sinh chịu chết trên Bàn thờ của lễ thiêu đó. Không có sự cứu rỗi nào ngoài Danh Chúa Jêsus, không có con đường nào khác đưa ta đến gần Đức Chúa Trời. Chỉ có một con đường là Chúa Jêsus.

VI. HÒM GIAO ƯỚC HAY LÀ HÒM BẢNG CHỨNG (Xuất 25:10-16):

“Vậy, chúng hãy đóng một cái hòm bằng cây sitim, bề dài hai thước rưỡi, bề ngang một thước rưỡi và bề cao cũng một thước rưỡi, lấy vàng ròng bọc trong, bọc ngoài, và chạy đường viền chung quanh hòm bằng vàng để tại bốn góc hòm, hai cái bên hông nầy, hai cái bên hông kia, cũng làm hai cây đòn bằng cây sitim bọc vàng, rồi lòn đòn vào khoen hai bên hông hòm, để dùng đòn khiêng hòm. Đòn sẽ ở trong khoen luôn, không nên rút ra. Ngươi hãy cất trong hòm bảng chứng mà Ta ban cho”.

Hai bảng đá do Đức Chúa Trời viết mười điều răn trên đó, phải đặt trong hòm bảng chứng. Điều đó có ý nghiã quan trọng: 1/ Điều răn là quí báu, phải để trong Hòm bảng chứng. 2/ Dân Y-sơ-ra-ên dầu được Chúa ban 10 Điều răn; nhưng họ không giữ nổi. Hòm giao ước chỉ về Chúa Jêsus. Ngài giáng Xuống trần gian. Ngài nói rằng: “Một chấm một nét của Luật pháp không bỏ đi được cho đến khi mọi sự được trọn”, tức là Ngài giữ hoàn toàn, nên hai lần Đức Chúa Trời tuyên bố: “Nầy là con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng”. Vậy, Chúa Jêsus đã giữ trọn 10 Điều răn và Luật pháp mà Ngài ở giữa dân Y-sơ-ra-ên, nên Đức Chúa Trời kể rằng dân Y-sơ-ra-ên giữ trọn và Ngài ban phước cho họ. Cũng vậy, Đức Chúa Trời kể chúng ta là trọn vẹn không phải do kinh nghiệm của chúng ta, nhưng Chúa ở giữa chúng ta và ở trong chúng ta, và Ngài giữ trọn Luật pháp thay cho chúng ta, cho nên Đức Chúa Trời lúc nào cũng thấy chúng ta là trọn vẹn. Chúng ta không bao giờ làm được điều gì ngoài ra Chúa Jêsus, và Chúa bảo rằng: “Hãy cứ ở trong Ta thì Ta sẽ ở trong các ngươi”. Nếu chúng ta cứ ở trong Chúa và Chúa ở trong chúng ta thì mọi sự điều kết quả, mọi sự đều trọn vẹn. Ngoài Chúa ra, chúng ta không làm chi được cả.

VII. NẮP THI ÂN (Xuất 25:17-22):

“Ngươi cũng hãy làm một cái nắp thi ân bằng vàng ròng, bề dài hai thuớc rưỡi, bề ngang một thước rưỡi. Lại làm hai tượng chêrubin bằng vàng giát mỏng, để hai đầu nắp thi ân, ló ra ngoài, một tượng ở đầu này và một tượng ở đầu kia. Hai chêrubin sẽ sè cánh ra, che trên nắp thi ân, đối diện nhau và xây mặt vào nắp thi ân. Ngươi hãy để nắp thi ân trên hòm, rồi để vào trong hòm bảng chứng mà Ta sẽ ban cho. Ta sẽ gặp ngươi tại đó và ở trên nắp thi ân, giữa hai tượng chê-ru-bin, trên hòm bảng chứng, Ta sẽ truyền cho ngươi các mạng lịnh về dân Y-sơ-ra-ên”.

Đức Chúa Trời gặp dân sự của Ngài trên nắp Thi ân, nên cũng gọi là Ngôi Thi ân, tức là Đức Chúa Trời thi hành ân điển của Ngài đối với chúng ta tại đó. Nắp Thi ân cũng gọi là nơi Đức Chúa Trời ngự, và tại đó Ngài sẵn sàng tiếp đón con cái của Ngài. He 4:16 nói rằng: “Vậy, hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước” hay là đến gần Ngôi Thi ân, để tại đây chúng ta tìm được mọi thứ ơn trong khi có cần. Chúng ta bắt đầu từ bước thứ nhất cho đến bước thứ bảy, tức là khởi sự từ Bàn thờ của lễ thiêu và cuối cùng bước đến Ngôi Thi ân, tức là chỗ Đức Chúa Trời ngự, để tương giao mật thiết với Ngài. Ngài nhắc lại một lần nữa, không có con đường nào khác ngoài ra con đường mà Chúa đã vạch ra cho chúng ta từ buổi sáng thế mỗi lúc càng rõ ràng hơn, để chúng ta ai nấy nhờ Chúa Jêsus mà đến gần Đức Chúa Trời.

Chúng ta xem He 10:19-22: “Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ huyết Đức Chúa Jêsus được dạn dĩ vào nơi rất thánh, bởi đường mới và sống mà Ngài đã mở ngang qua cái màn, nghĩa là ngang qua xác Ngài”. Chúng ta thấy giữa nơi Thánh và nơi Chí Thánh có một cái màn phủ từ trên Xuống. Bức màn nầy đã bị xé ra làm hai từ trên tới dưới, khi Chúa Jêsus tắt hơi trên Thập tự giá, hoàn thành công cuộc cứu rỗi. Bức màn đã bị xé, mở một con đường cho chúng ta tự do đến gần Đức Chúa Trời. “Bởi đường mới và sống mà Ngài đã mở ngang qua cái màn, nghĩa là ngang qua xác Ngài. Lại vì chúng ta có một Thầy Tế Lễ lớn đã lập lên cai trị nhà Đức Chúa Trời, nên chúng ta hãy lấy lòng thật thà với đức tin đầy dẫy trọn vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu, thân thể rửa bằng nước trong mà đến gần Chúa”. Chúa chuẩn bị sẵn sàng hết, có Của lễ thiêu trên Bàn thờ bằng đồng, có Chậu nước để rửa sạch, có Bánh để ăn ngon, có Đèn để soi sáng, có tự do để đến gần Đức Chúa Trời mà dâng hương cho Đức Chúa Trời bằng sự cầu nguyện, rồi đến gần Ngài như con đến gần cha vậy.

Hôm nay chúng ta đến trước Ngôi Thi Ân, phó thác mình trong tay của Chúa, mà thưa rằng: “Cha ơi con thuộc về Cha. Ngài đã mua chuộc con, đã mở cho con một con đường để con đến gần Ngài bởi đức tin, con chấp nhận phó thác đời con cho Chúa”. Các ông bà, anh chị sẽ nghe tiếng Chúa phán: “Con ơi, Cha đây”. Dầu hoàn cảng không có gì thay đổi, vẫn mưa gió, bão bùng, nhưng chúng ta không cần phải sợ, vì đặt mình trong tay của Chúa là Đấng có cả trời đất trong tay. Tất cả nhu cầu của chúng ta dầu lớn đến đâu, đối với Ngài còn là nhỏ quá. Những sự nguy hiểm mà chúng ta không thể nào vượt qua được, đối với Ngài không có gì đáng kể. Thậm chí dầu khi chúng ta đi qua trũng bóng chết cũng không sợ tai họa nào, vì tại đó Chúa ở với chúng ta.

Nguyện Chúa cho chúng ta hưởng được tất cả ơn phươc của Chúa trước Ngôi Thi Ân của Ngài.

Bài 20: CON BÒ VÀNG

Xuất 32:1-35

Dân Y-sơ-ra-ên đến núi Si-na-i, tại đó Đức Chúa Trời kêu gọi Môi-se lên núi để Ngài ban cho ông luật lệ và nhất là luật dựng Đền tạm. Trước khi đi ông đã dặn dò, giao một việc cho A-rôn và 70 Trưởng lão, bảo họ cứ chờ đợi ông tại chân núi đó, cho đến khi nào ông trở Xuống. Môi-se đã lên núi ở với Đức Chúa Trời 40 ngày đêm. Khi ông còn ở trên núi, thì ở dưới này dân Y-sơ-ra-ên đã ngã lòng, nghĩa là không đủ sức chờ đợi ông trong 40 ngày đó, rồi họ bị cám dỗ thờ hình tượng. Họ làm một con bò vàng để thờ lạy thế cho Đức Giê-hô-va.

I. SỰ BỘI ĐẠO CỦA DÂN Y-SƠ-RA-ÊN (Xuất 32:1-6)

Chỉ trong vòng 40 ngày, đâu phải là lâu lắm và bên cạnh họ có A-rôn và 70 Trưởng lão. Nếu có việc chi, họ nhờ mấy người nầy giải quyết. Nhưng ngược lại, họ đến với A-rôn mà nói rằng: “Chúng tôi không biết có việc gì đã xảy ra cho Môi-se, chắc có lẽ ông đã chết rồi. Bây giờ, xin ông làm cho chúng tôi những vị thần, một thứ hình tượng nào đó biểu minh cho Đức Giê-hô-va và cho chúng tôi thờ phượng” A-rôn có lẽ không đồng ý, nhưng không đứng vững mà khuyên lơn họ. Trái lại, ông bảo: “Các ông hãy về bảo vợ con lột vòng vàng đem đến cho tôi”. Có lẽ ông nghĩ rằng bảo như vậy họ không dám làm, vì sợ mất vàng bạc của vợ con. Nhưng không ngờ, dân chúng nghe vậy lại hết sức hoan nghinh, họ trở về nhà lột vòng vàng nơi tay vợ con mình mà đem đến cho A-rôn. A-rôn bèn đúc thành một con bò vàng. Sau đó, ông đặt con bò vàng trên một bàn thờ và nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Đây là thần đã dẫn các ngươi ra khỏi Ê-díp-tô, sáng sớm ngày mai chúng ta tổ chức một cuộc thờ phượng để dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân. Vì vậy, sáng hôm sau dân Y-sơ-ra-ên đãtổ chức một cuộc thờ phượng mà họ mệnh danh là thờ phượng Đức Giê-hô-va. Nhưng họ hình dung Đức Giê-hô-va đó bằng một con bò vàng. Ôi, đọc qua thì chúng ta phải ngạc nhiên, vì 400 ở tại Ai-cập họ từng thấy người Ai-cập thờ con bò và điều đó đã tiêm nhiễm vào đời sống của họ. Nên bây giờ, khi cần có một hình tượng để thờ phượng, thì họ nghĩ ngay đến hình tượng con bò vàng. Khi suy nghĩ đến điều đó, chúng ta thật là buồn: Một dân đã được Chúa cứu ra khỏi nhà nô lệ và Ngài đã dạy họ đừng làm một tượng nào, đừng đúc một hình tượng nào hoặc giống như trên trời hay dưới đất, cũng không bao giờ được sấp mình thờ lạy những thần đó. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian 40 ngày, họ đã thờ lạy thần tượng. Họ không muốn thờ lạy Đức Chúa Trời vô hình, vô tượng, nghĩa là không rờ được, không thấy được, họ muốn hình dung Đức Giê-hô-va của họ bằng một con bò con. Điều đó làm sỉ nhục Đức Chúa Trời, là sỉ nhục mình và là một tội rất nặng, đáng bị hủy diệt chớ không phải chuyện thường. Trải qua các đời, nhân loại luôn luôn lý luận là không muốn thờ phượng một Đức Chúa Trời mà mình không thấy được, nhựng họ muốn thờ một Đức Chúa Trời mà mình thấy được qua một hình ảnh nào đó, do tay người làm ra, bằng bạc, bằng vàng, bằng đá, bằng giấy cũng được. Người ta thường viện dẫn rằng:’Chúng tôi không thờ hình tượng, nhưng phải nhờ hình tượng giúp đỡ mình để dễ thờ phượng Đức Chúa Trời không thấy’. Họ biết Đức Chúa Trời không thấy’. Họ biết Đức Chúa Trời không thấy, nhưng họ muốn hình dung Đức Chúa Trời bằng những hình tượng như vậy. Thưa các ông bà, anh chị, hãy coi chừng, kẻo chúng ta tạo nên một thứ hình tượng cho mình thờ lạy. Có lẽ hình tượng của chúng ta không phải là con bò, nhưng là một con vật nào đó tốt hơn. Chúa Jêsus đã nói rằng: Có một thứ hình tượng mà Ngài đặt tên là Ma-môn, tức là tiền bạc. Hôm nay nhân loại đã lìa bỏ Đức Chúa Trời mà thờ lạy thần Ma-môn. Họ đặt của cải, quyền lợi, danh vọng và cả con người vào chỗ của Đức Chúa Trời, rồi sấp mình thờ lạy. Dầu rằng có thể chúng ta không thờ lạy hình tượng mà người ta thấy, nhưng có một thứ hình tượng ở trong lòng mình, mình cất giấu nó, mình yêu mến nó, mình tôn sùng họ mà lìa bỏ Đức Chúa Trời. Vì khi chúng ta ham mến một điều gì đó, thì điều đó trở nên hình tượng. Vì vậy, Kinh Thánh bảo rằng: “Hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi”, mới là thờ phượng Chúa. Dân Y-sơ-ra-ên cũng nói rằng chúng tôi thờ phượng Đức Giê-hô-va, nhưng lại thờ phượng bằng hình tượng một con bò vàng. Xin Chúa cho chúng ta thoát khỏi điều đó.

II. MÔI SE CẦU THAY CHO DÂN Y-SƠ-RA-ÊN (Xuất 32:7-14):

Khi Môi-se còn ở trên núi, thì Chúa bảo ông: “Dân mà ngươi đã đưa ra khỏi xứ Ê-díp-tô đã bại hoại rồi, vội bỏ Đạo Ta truyền dạy, đúc một con bò tơ, mọp trước tượng bò đó… Vả, bây giờ hãy để mặc Ta làm, hầu cho cơn thạnh nộ Ta nổi lên cùng chúng nó, diệt chúng nó đi, nhưng Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn”. Câu nầy có thể làm Môi-se hãnh diện. Chúa diệt tất cả dân Y-sơ-ra-ên, lập một dân mới do Môi-se sanh ra. Nhưng chúng ta thấy Môi-se không làm như thế, ông cầu thay cho dân Y-sơ-ra-ên: “Lạy Đức Giê-hô-va, sao nổi thạnh nộ cùng dân Ngài là dân mà Ngài đã dùng quyền lớn lao mạnh mẽ đưa ra khỏi xứ Ê-díp-tô?” Chúa đã chối từ dân mà người đã dẫn ra khỏi xứ Ê-díp-tô, nhưng Môi-se thưa rằng: “Lạy Chúa, không phải là dân của tôi, không phải là tôi dẫn, nhưng là dân của Chúa, chính mình Ngài đã đưa tay mạnh mẽ cứu họ ra khỏi”. Ôi, chúng ta thấy Môi-se tận tâm, tận lòng, không dám nhận dân đó là dân của mình, nhưng là dân của Chúa, không dám nhận rằng tôi đã dẫn dân đó ra khỏi xứ Ê-díp-tô, nhưng mà chính Chúa dẫn.

Mỗi chúng ta ngày nay cũng phải noi theo điều đó. Hội Thánh nầy không phải là Hội Thánh của tôi, vì tôi cũng là một thành phần trong Hội Thánh. Dầu anh, chị, em nghe tôi giảng và tin Chúa, thì không phải là tôi làm gì cho anh chị em đâu, bất quá tôi chỉ là công cụ trong tay của Chúa, rồi chính Chúa giải cứu mọi người, chính Chúa bảo vệ mọi người. Hội Thánh nầy là Hội Thánh của Đức Chúa Trời, dân sự nầy là dân sự của Đức Chúa Trời, không phải là của ai. Vì vậy, Hội Thánh trải qua hai ngàn năm còn tồn tại và sẽ cứ tồn tại cho đến khi Chúa Tái lâm. Chúng ta phải nhận điều đó. Đừng bao giờ cướp lấy sự vinh hiển của Chúa mà nói rằng: Hội Thánh là của tôi, Tín đồ của tôi, tôi làm điều nầy, điều kia. Nếu ai nói như vậy là bị cám dỗ mà nói.

Rồi Môi-se nói thêm nữa trong câu 12: “Sao để cho người Ê-díp-tô nói rằng: Ngài đưa chúng nó ra khỏi xứ đặng làm hại cho, giết đi tại trong núi, cùng diệt chúng nó khỏi mặt đất? Cầu xin Chúa hãy nguôi cơn giận và bỏ qua điều tại họa mà Ngài muốn giáng cho dân Ngài”. Môi-se muốn thưa với Chúa rằng: ‘Nếu Chúa hủy diệt dân nầy, thì cả thế gian sẽ hiểu sai, nhất là dân Ai-cập sẽ nói rằng: Dân Y-sơ-ra-ên ở trong xứ chúng tôi bình an. Chúa đã đem họ ra khỏi xứ để giết chết, chớ không phải để cứu. Điều đó làm cho mất sự vinh hiển của Ngài mà thôi’. Ôi, lời cầu thay nầy rất là đẹp đẽ. Ông Môi-se không lo cho dân Y-sơ-ra-ên sống hay là chết, nhưng lo cho danh vinh hiển của Chúa.

Khi đương đầu với mọi việc hàng ngày, chúng ta nghĩ đến mình nhiều hơn, lợi hay hại cho tôi, nhưng không bao giờ nghĩ đến lợi hay là hại cho Danh của Chúa. Môi-se nói thêm: “Xin Chúa nhớ lại Áp-ra-ham, Y-sác, Y-sơ-ra-ên là các tôi tớ mà Ngài có chỉ Danh mình thề cùng họ rằng: Ta sẽ thêm dòng dõi ngươi lên nhiều như sao trên trời, Ta sẽ ban dòng dõi đó cả xứ mà Ta chỉ phán và họ sẽ được xứ ấy làm cơ nghiệp đời đời”. Ông Môi-se nhắc lại lời thề hứa của Chúa đối với tổ phụ của dân Y-sơ-ra-ên là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, và tha thiết xin Ngài giữ trọn lời hứa đó, không những là bảo vệ dân Y-sơ-ra-ên tồn tại, mà hơn nữa, làm cho họ đông như sao trên trời, như cát bờ biển. Lời cầu thay đó rất có giá trị và làm nguôi cơn giận của Chúa: “Đức Giê-hô-va bèn bỏ qua điều tai họa mà Ngài nói rằng sẽ giáng cho dân mình”. Dầu dân Y-sơ-ra-ên phạm tội, không có một chỗ đứng nào để Môi-se xin được, nhưng sự cầu thay của ông làm cho Chúa phải bỏ qua và không tiêu diệt dân Y-sơ-ra-ên. Chúng ta thấy như thế vẫn chưa đủ: “Vậy, Môi-se trở lên cùng Đức Giê-hô-va mà thưa rằng: Ôi, dân sự nầy có phạm tội trọng, làm cho mình các thần bằng vàng; nhưng bây giờ Chúa tha tội cho họ! Bằng không, hãy xóa tên tôi khỏi sách Ngài đã chép đi”. Ôi, đây là một lời cầu nguyện kỳ diệu, chỉ có con người cao thượng, hi sinh mới cầu nguyện được như vậy mà thôi. Ý ông muốn nói rằng: Xin Chúa tha cho họ, nhưng nếu Ngài tiêu diệt họ, thì xin cũng tiêu diệt tôi nữa. Nếu Chúa giết họ, thì tôi xin Ngài cho tôi được chết chung với họ.

Chúng ta có bao giờ cầu thay cho con cái mình như vậy không? Có khóc trước mặt Chúa vì con cái mình không? Vợ có khóc vì chồng không? Chồng có khóc vì vợ không? Chúng ta có yêu thương đồng bào của chúng ta mà cầu nguyện như vậy không? Hay là ngược lại, chúng ta thấy một người phạm tội thì dễ bị cám dỗ mà đoán xét họ, phỉ nhổ họ, chớ không đưa họ đến chỗ ăn năn. Mỗi chúng ta điều biết rằng: Dầu cha mẹ có quyền dạy con, rầy con, đánh con, nhưng không thể thay đổi đời sống của con bằng khóc với con. Chính tôi đã từng khóc với con tôi, khóc trước mặt Chúa về chúng nó, và tôi cũng khóc về đồng bào mình. Tôi thưa với Chúa rằng: ‘Con không xin vàng hay là bạc, hay bất cứ cái gì ở trần gian, mà xin Chúa cho con một phần thưởng, phần thưởng đó là một tội nhân được cứu đem về với Chúa.

Môi-se đã bảo vệ được dân Y-sơ-ra-ên bằng sự hi sinh, cầu thay cho họ. Tình yêu của ông thật là lớn lao, tâm tình của ông thật là cao thượng, không nghĩ đến mình mà chỉ nghĩ đến đồng bào của mình, không những chỉ nghĩ đến đồng bào của mình nhưng cũng nghĩ đến Danh cao cả của Chúa. Nhờ đó còn ghi lại những dòng chữ nầy, và mỗi lần đọc, tôi chịu cảm động và cầu xin Chúa ban cho tôi tấm lòng như Ngài đã ban cho Môi-se. Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu rằng dầu Đức Chúa Trời yêu thương, nhưng Ngài cũng rất thánh khiết, không dung chịu tội lỗi. Dầu Môi-se yêu thương, sẵn sàng chết với đồng bào mình, thì cũng không vì cớ đó mà ông chấp nhận tội lỗi của họ đâu. Ngược lại, ông là con người thánh khiết và thẳng thắn đối với tội lỗi, cũng như Đức Chúa Trời đối với tội lỗi vậy.

III. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN BỊ HÌNH PHẠT (Xuất 32:15-29):

Khi Môi-se ở trên núi Xuống, tay cầm hai bảng luật pháp. Giô-suê nghe dân chúng la lên, bèn nói cùng Môi-se: ‘Trong trai quân có tiếng chiến đấu’, thì Môi-se trả lời: ‘Ta nghe tiếng hát’. Khi đến gần trại quân, Môi-se thấy bò con và sự nhảy múa. Lòng ông thật là bực tức và đau đớn. Ông ném hai bảng luật pháp Xuống bể tan ra hết. Tại sao?_ Vì ông thấy rằng luật pháp đã ban cho họ, mà họ đã phạm tội thì không cần luật pháp nữa, và họ đã hủy phá luật pháp rồi. Ông lấy con bò bằng vàng đem đốt trong lửa, rồi nghiền ra thành bụi, hòa tan trong nước cho dân Y-sơ-ra-ên uống. Không có sự dung dưỡng, không có sự bỏ qua tội lỗi, nhưng phải nghiền thành bụi. Chúng ta thường hèn nhát mà dung dưỡng tỗi lỗi, bênh vực và che đậy tội lỗi, viện đủ lý do để nó tồn tại chỗ nầy hay chỗ khác. Nếu chúng ta thấy trong nhà mình còn một thứ hình tượng nào, hoặc nhỏ hoặc lớn, thì cũng phải làm như Môi-se, nghĩa là đốt, nghiền nó thành tro bụi, bỏ, giày đạp nó đi, chớ không bao giờ dung dưỡng nó.

Kế đó, Môi-se nói với A-rôn: ‘Dân nầy làm chi cho anh, mà anh Xuấti cho chúng phạm tội nặng dường ấy!’. Lời nầy nặng lắm. Dầu A-rôn là anh ruột, Môi-se vẫn thẳng thắn quở trách. A-rôn có trách nhiệm, đáng lẽ ông phải nói với dân Y-sơ-ra-ên: ‘Anh em đừng làm như vậy, đây là một tội rất nặng trước mặt Chúa. Ngài bảo chúng ta đừng thờ lạy hình tượng, và Ngài phạt con cháu đến ba bốn đời. Môi-se bảo chúng ta chờ ở đây, rồi ông sẽ trở xuống’. Ôi, nếu ông thẳng thắn mà khuyên thì dân Y-sơ-ra-ên đã thoát khỏi tội nặng dường ấy. Nhưng vì khiếp nhược, ông đã nói: “Xin Chúa tôi đừng nổi giận, Chúa biết rằng dân nầy chuyên làm điều ác. Họ nói cùng tôi: Hãy làm các thần đi trước chúng tôi, vì về phần Môi-se nầy, là người đã dẫn chúng tôi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chúng tôi chẳng biết có điều chi xảy đến cho người rồi. Tôi bèn nói cùng chúng rằng: Ai có vàng hãy lột ra. Họ bèn đưa cho tôi, tôi bò vào lửa và bởi đó thành ra con bò nầy”. A-rôn sợ dân chúng, không dám nói thẳng với họ, rồi bây giờ ông viện dẫn lý do không đâu để bào chữa tội của mình: ‘Tôi bỏ vào lửa và bởi đó thành ra con bò nầy’. Chúng ta cũng thường nói quanh co như vậy, không dám nhận tội của mình, không sợ Đức Chúa Trời bằng sợ dân sự. A-rôn sợ nếu từ chối lời đề nghị của dân Y-sơ-ra-ên thì họ sẽ giết ông. Nhưng nếu ông giám đứng về phía Đức Chúa Trời mà không phạm tội, không Xuấti cho dân sự phạm tội, thì chắc chắn Đức Chúa Trời có ngàn đường lối khác nhau để bảo vệ và giải cứu ông.

Chúng ta hãy coi chừng! Cha mẹ hay ông bà có thể Xuấti cho con cháu phạm tội bằng cách để lại một cái gì đó khiến chúng ta vấp phạm, nuôi dưỡng một tội lỗi ở trong nhà, để rồi sau nầy con cháu trở lại thờ thần tượng.

“Vả, Môi-se thấy dân sự buông lung, vì A-rôn để họ buông lung, đến nỗi bị sỉ nhục trong vòng các thù nghịch, thì người đứng nơi cửa trại quân mà nói rằng; Ai thuộc về Đức Giê-hô-va, hãy đến cùng ta. Hết thảy người Lê-vi đều nhóm lại gần bên người”. Một số người Y-sơ-ra-ên vẫn tiếp tục thờ lạy thần tượng, dầu con bò đã cất đi, song họ vẫn còn ăn uống vui chơi. Họ thách thức Môi-se: ‘Ông có quyền cất con bò đi, song ông không có quyền cất sự tự do của tôi’. Vì vậy, ông kêu gọi mọi người ai dám đứng với Đức Giê-hô-va thì lại gần ông. Chi phái Lê-vi đã đến gần Môi-se. Đó là những người không đứng với bọn thờ lạy hình tượng, mà đứng với chính mình Chúa. Môi-se bảo họ nịt gươm vào và nói: Ai có ý sấp mình thờ lạy hình tượng, theo đuổi cuộc vui chơi ăn uống, thì hãy giết đi. “Trong ngày đó, có chừng ba ngàn người bị chết”. Môi-se bảo đừng tiếc, dầu người đó là anh em, con cái, bạn hữu, là những người bên cạnh cũng không để sót, tức là thẳng thắn đối với tội lỗi. Về phần chúng ta, không phải giết họ như Môi-se đã giết những người thờ lạy hình tượng đâu, nhưng chúng ta có thái độ thẳng thắn đối với tội lỗi. Một bà mẹ tin kính Chúa nói với con: ‘Thà mẹ thấy con chết còn hơn thấy con phạm tội!’. Tình mẫu tử thấy một đứa con chết đau đớn lắm, nhưng không đau đớn bằng khi thấy nó phạm tội, vì nếu nó chết, chỉ đau đớn cho mình mà thôi, nhưng nếu nó tiếp tục phạm tội là phá hại Hội Thánh, sỉ nhục cho Đức Chúa Trời, càng đau đớn hơn.

Ôi, chúng ta thường không nghĩ đến Đức Chúa Trời và Hội Thánh của Ngài, mà chỉ nghĩ đến mình nên làm mọi cách để cố giấu tội lỗi, dung dưỡng, chấp nhận nó. Môi-se là một con người xứng đáng, dầu ba ngàn người bị thiệt mạng, nhưng đã làm cho số người còn lại ăn năn, thì ông cũng sẵn sàng tiêu diệt họ, để cho toàn dân khỏi phạm tội.

Ghét tội lỗi như Môi-se nghiền nát con bò vàng, vì nó đã Xuấti cho dân phạm tội. Ghét tội lỗi, thậm chí anh ruột của mình làm quấy, thì cũng sẵn sàng quở trách nặng nề, chớ không bao giờ dung thứ. Xin Chúa cho chúng ta có thái độ như vậy để được phước. Mỗi người hãy xét lại lòng mình, còn một hình tượng nào ở trong không. Gia đình mình còn một hình tượng nào ở giữa không? Anh em mình trong Hội Thánh còn đang thờ lạy hình tượng nào không? Xin Chúa cho chúng ta khóc với những người đó. Khóc để xin họ lìa bỏ tội, chớ không phải khóc để an ủi và xúi giục họ tiếp tục phạm tội. Hi sinh chính mình để cứu tội nhân, nhưng tiêu trừ tội lỗi bất cứ dưới hình thức nào, ở trong người khác hay trong chính mình.

Khi chúng ta có thái độ đó thì có nếp sống thánh khiết, gia đình chúng ta sẽ thánh khiết, Hội Thánh xứng đáng được gọi là Hội Thánh của Đức Chúa Trời, nhiên hậu Ngài mới ban phước cho chúng ta.

Hôm qua tôi tiếp một con cái Chúa đến thăm. Tôi đã thuật lại cho anh về dân Y-sơ-ra-ên trong thời A-háp. Họ ở vào trong một thế khó xử. Nếu theo Đức Chúa Trời như tổ phụ của họ đã truyền thì A-háp bắt bớ, vì ông đã giết nhiều Tiên tri, nhưng nếu theo A-háp thì thờ thần tượng, phạm tội cùng Đức Chúa Trời. Vì vậy, họ muốn đi hàng hai, vừa thờ Đức Giê-hô-va, vừa thờ Ba-anh. Họ cứ đi hàng hai như vậy trong ba năm sáu tháng. Họ tưởng rằng mình khôn ngoan, không mích lòng Chúa, không mích lòng ai, vừa đẹp lòng vua, vừa đẹp lòng Đức Chúa Trời. Nhưng có ngờ đâu, ba năm sáu tháng không có mưa, xứ khốn khổ vô cùng. Ê-li đã triệu tập dân Y-sơ-ra-ên lại mà hỏi: ‘Anh em còn đi giẹo hai bên, tức là đi hàng hai cho đến chừng nào? Há không thấy ba năm sáu tháng không có sương va mưa sao? Vì vậy, anh em phải dứt khoát, nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời thì hãy theo Ngài đi; còn nếu Ba-anh là Đức Chúa Trời, thì hãy theo hắn. Dân sự không dám đáp lại, nghĩa là họ không dứt khoát theo Chúa hay theo ma quỉ. Theo cả hai tức là theo ma quỉ, đâu phải là theo Chúa.

Cuối cùng, Ê-li phải giải cứu họ. Ông lấy 12 hòn đá, chỉ về 12 chi phái Y-sơ-ra-ên mà dựng lên một bàn thờ. Rồi ông lấy một con bò để ở trên đống củi mà không hề châm lửa. Ông cầu nguyện, lửa từ trên cao rơi Xuống thiêu đốt của lễ, củi, đá và rút nước trong mương. Ông nói rằng: “Anh em hãy trở về, sửa lại cái Bàn thờ trong đời sống của mình, trong Gia đình hay trong Hội Thánh mình”. Có lẽ Bàn thờ trong lòng, trong Gia đình hay trong Hội Thánh của Anh Chị đã bị phá hủy rồi. Phải làm lại hết. Phải tôn Chúa lên Ngôi của lòng mình, của Gia đình, của Hội Thánh mình. Nhiên hậu, lửa từ trời sẽ thiêu hủy, thậm chí tấm lòng bằng đá cũng phải tan nát, để Gia đình, Hội Thánh cũng như các nơi khác sẽ được phước. Ôi, chúng ta phải có thái độ xứng đáng đối với Chúa về tội lỗi, để rồi Chúa sẽ ban phước cho chúng ta, như Môi-se đã được Chúa ban phước, như dân Y-sơ-ra-ên còn tồn tại cho đến ngày hôm nay.

Bài 21: CỦA LỄ TOÀN THIÊU

Le 1:1-17

Dân Y-sơ-ra-ên đã dựng Đền tạm xong, rồi việc quan trọng kế đó là dâng tế lễ trong Đền tạm.

Có năm thứ Tế Lễ được dâng trong Đền tạm: 1/ Tế Lễ toàn thiêu. 2/ Tế Lễ chay. 3/ Tế Lễ thù ân. 4/ Tế Lễ chuộc tội. 5/ Tế Lễ chuộc sự mắc lỗi.

Cả năm thứ Tế Lễ được chia ra làm hai loại: 1. Loại có mùi thơm. 2. Loại không có mùi thơm. Cả năm thứ Tế Lễ đều tượng trưng về Chúa Jêsus chịu chết trên Thập tự giá. Phải dùng năm thứ Tế Lễ, vì có năm phương diện khác nhau về sự Chết đó, như một viên kim cương có năm mặt sáng chói vậy. Bây giờ chúng ta học về của lễ toàn thiêu:

I–Ý NGHĨA CỦA TẾ LỄ TOÀN THIÊU:

1-Tế Lễ toàn thiêu chỉ về Chúa Jêsus tình nguyện dâng mình trọn vẹn cho Đức Chúa Trời trên Thập tự giá, vì vậy, có ba lần lập lại: “Có mùi thơm dâng lên cho Đức Chúa Trời” (Le 1:9,13,17). Tân ước ghi lại hai lần Đức Chúa Trời xác nhận Đức Chúa Jêsus đẹp lòng Ngài mọi đàng (Mat 3:17; 17:5). Kinh Thánh trực tiếp nói về Đức Chúa Jêsus dâng mình cho Đức Chúa Trời như một của lễ có mùi thơm dâng lên cho Ngài đẹp lòng. Suốt 33 năm, Chúa Jêsus cũng sống đẹp lòng Đức Chúa Trời. Khi sắp lên Thập tự giá, Ngài đã thưa với Đức Chúa Trời: “Con đã làm xong công việc Cha giao cho Con, là đã tôn vinh Cha trên đất”. Trong vườn Ghết-sê-ma-nê. Lúc sắp lên Thập tự giá, Chúa đã cầu nguyện: “Nếu chén nầy không thể lìa khỏi Con, mà Con phải uống thì xin ý Cha được nên”. Có nghĩa là Ngài hoàn toàn phục tùng Đức Chúa Trời, không tiếc bất cứ điều gì, kể cả mạng sống của Ngài. Chúa là Người, lại là Người trọn vẹn, trần gian nầy không thể có được. Phi 2:5-8 mô tả sự dâng mình trọn vẹn của Chúa: “Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời – tức là Đức Chúa Jêsus có bản thể của Đức Chúa Trời, như Đức Chúa Trời – song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ”. Dầu Ngài ngang hàng với Đức Chúa Trời, nhưng không cố giữ địa vị của mình: “Chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ, và trở nên giống như loài người. Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình Xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây Thập tự “. Đó là ý nghĩa của Lễ toàn thiêu mà dân Do Thái đã từng dâng lên trong Đền tạm và Đền thờ.

2-Tế lễ toàn thiêu cũng có ý nghĩa đối với chúng ta là những ngưới theo Chúa Jêsus, tức là những ngưới tình nguyện dâng đời mình trọn vẹn cho Đức Chúa Trời. “Hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh” (Ro 12:1). Vì Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta đến nỗi hiến Con một của Ngài chết đền tội cho chúng ta, nên Phao-lô nài khuyên chúng ta dâng thân thể, linh hồn làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời (chúng ta thường viện đủ lý do chối từ không chịu dâng mình cho Chúa). Nếu không dâng mình trọn vẹn cho Chúa như một của lễ toàn thiêu thì chúng ta không làm đẹp lòng Chúa, không thờ phượng Chúa cách phải lẽ, xứng đáng.

Mỗi người phải dâng mình cho Đức Chúa Trời cách trọn vẹn, kể rằng Chúa đã mua chuộc tôi trọn vẹn bằng huyết của Ngài, vì vậy, tôi thuộc về Ngài.

Dâng mình trọn vẹn cho Chúa là làm gì, làm thế nào? He 13:15-16 chép như vầy: “Vậy, hãy cậy Đức Chúa Jêsus mà hằng dâng tế lễ bằng lời ngợi khen cho Đức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của môi miếng xưng Danh Ngài ra. Chớ quên việc lành và lòng bố thí, vì sự tế lễ dường ấy đẹp lòng Đức Chúa Trời”. Tế lễ toàn thiêu mà chúng ta dâng hôm nay là tôn vinh Đức Chúa Trời qua môi miệng mình, qua đời sống mình là làm việc lành và bố thí. Chúng ta tận hiến cho Chúa, nhưng cũng sẵn sàng chia sẽ cho nhau, vì điều đó là tế lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời. Phi 4:18 chép: “Vậy, tôi đã nhận được hết, và đương dư dật; tôi được đầy dẫy vì đã nhận đồ nơi Ép-ba-phô-đích mà anh em gởi cho tôi, như một thứ hương có mùi thơm, tức là một của lễ Đức Chúa Trời đáng nhận, và đẹp lòng Ngài”. Khi Phao-lô ngồi tù tại thành La-mã, Hội Thánh Phi-líp đã cổ động tiền bạc và mọi nhu cầu khác, đặt trong tay một người đại diện là Ép-ba-phô-đích. Ông nầy đi từ thành Phi-líp đến thành La-mã trao tận tay Phao-lô món quà đó, đồng thời ông ở lại bên cạnh giúp đỡ Phao-lô trong những ngày tù đày. Phao-lô gởi thư nói rằng: “Tôi đã nhận đầy đủ, và món quà của anh em như là thứ hương có mùi thơm mà Đức Chúa Trời nhận lấy”. Ôi, có lẽ chúng ta không ngờ của mình dâng được Chúa nhậm. Hàng ngày chúng ta dâng tiền cho Chúa, lo việc Hội Thánh nơi nầy, nơi khác, lo việc chăm sóc anh em. Đó là những thức hương có mùi thơm, đẹp lòng Đức Chúa Trời mọi đàng, mà chúng ta được phép dâng lên cho Ngài như một Của lễ toàn thiêu. Tôi phải Halêlugia cảm tạ ơn Chúa, vì Ngài cho chúng ta cái đặt ân đó.

II. CÁC CON SINH ĐƯỢC DÂNG LÀM CỦA LỄ TOÀN THIÊU:

Có ba loại súc vật được dâng lên làm của Tế Lễ: 1. Con bò không tì vít. 2. Con dê đực hay con chiên không tì vít. 3.Chim cu hay là bồ câu con. Cả ba loài vật đựoc dâng lên làm Tế Lễ toàn thiêu cho Đức Chúa Trời. Các của Tế Lễ đó dạy chúng ta bốn điều:

1- Dâng tùy theo sức của mình. Tại sao có ba loại súc vật: Bò, dê, chiên và chim bồ câu? – Ai là người giàu thì dâng bò, ai khá thì dâng chiên hay là dê, ai nghèo thì dâng chim bồ câu ; có nghĩa là ai nấy phải dâng của lễ toàn thiêu cho Chúa tùy sức của mình. Không ai có thể viện lý do nầy, lý do khác để bảo rằng tôi không thể dâng hay không đủ sức dâng. Như vậy Chúa muốn mọi người đều dâng của lễ toàn thiêu, tức là mọi người dư phần vào sự tôn vinh, phục vụ Chúa tùy sức của mình.

Trong thời Chúa Jêsus đã có nhiều người dâng rất nhiều tiền để nuôi đoàn Truyền giáo của Chúa, tuy nhiên, Ngài đã ban khen một quả phụ chỉ dâng hai đồng tiền thôi, vì bà lấy chính của nuôi mình để dâng cho Chúa.

2- Phải dâng điều tốt nhất của mình. Người dâng đem con chiên hay con bò đến trước bàn thờ, rồi đặt tay trên con sinh đó. Đặt tay nghĩa là nhận rằng con vật nầy thay cho tôi, tôi hiệp nhất với nó để dâng lên cho Đức Chúa Trời. Không phải tôi dâng một con vật cho Chúa mà thôi, nhưng chính mình tôi cũng hiệp với nó trong sự dâng đó, như là chính tôi cũng nằm trên bàn thờ của Lễ thiêu để dâng lên cho Ngài.

Điều quan trọng là phải dâng con đực. Con đực là con có sức mạnh. Chúa muốn dạy dỗ chúng ta phải dâng mình cho Chúa ngay khi sức lực còn dồi dào, chớ không ai có phép đợi tới lúc già nua, tàn phế mới dâng cho Chúa. Chúng ta sai lầm biết bao khi nghĩ rằng tôi vội gì mà hầu việc Chúa, trong khi còn nhiều thì giờ. Nhưng Sa-mu-ên đã phục vụ Chúa ngay khi còn thơ ấu. Sa-lô-môn đã khuyên: “Hãy tưởng nhớ Đấng Tạo Hóa đang khi còn thơ ấu”. Nếu chúng ta muốn tặng hoa cho bạn, chắc chắn chúng ta sẽ lựa những chiếc hoa rất tươi, rất mới, sắc còn nguyên vẹn, đẹp đẽ. Chúng ta không thể tặng cho bạn một đóa hoa tàn, phương chi đối với Đức Chúa Trời. Vì vậy, ngay bây giờ, mỗi người phải dâng chính mình cho Chúa như một của Lễ toàn thiêu.

3- Phải dâng một Tế lễ trọn vẹn. Dâng con vật không tì vít, tức là con vật trọn vẹn. Con vật phải được Thầy tế lễ xem xét và khi thấy không tì vít, Thầy Tế lễ lấy con dấu của Đền thờ đóng vào, chứng rằng đây là con sinh được phép dâng lên làm Của lễ toàn thiêu cho Đức Chúa Trời.

Chúng ta cũng phải dâng cho Chúa một đời sống thánh khiết, một đời sống trọn vẹn, dầu không phải trọn vẹn trăm phần trăm, nhưng lúc nào chúng ta cũng phải tiến lên trên con đường trọn vẹn, để xứng đáng dâng lên cho Chúa.

4- Dâng Tế lễ tùy theo đức tin. Ba con vật: Bò, chiên và bò câu có giá trị khác nhau. Cả ba con vật đều tượng trưng cho Chúa Jêsus chịu chết trên Thập tự giá vì cớ chúng ta. Mỗi chúng ta đều tin Chúa Jêsus, nhưng chúng ta hiểu Ngài và đánh giá Ngài khác nhau. Có người nhận biết giá trị lớn lao của Ngài, có người xem Ngài một cách tầm thường. Như vậy, Chúa Jêsus đã chịu chết cho: mọi người, nhưng mỗi người đánh giá Ngài khác nhau, tùy theo đức tin của họ. Phao lô biết Chúa rất rõ nên ông bằng lòng bỏ mọi sự, xem tất cả như rơm rác, để được Chúa Jêsus và Ngài là quí nhất cho Phao-lô.

Tôi mong rằng anh chị em hiểu Đấng mình tin và có thể nói được như Phao-lô đã nói, tận hiến đời mình để đem Tin lành cho Thế giới. Ngược lại, bên cạnh Phao-lô có một người tên là Đê-ma. Ông nầy là bạn đồng lao với Phao-lô, đã dự phần truyền giảng Tin lành, gây dựng Hội Thánh. Nhưng đang khi Phao-lô ngồi tù tại La-mã thì Đê-ma đã bỏ Phao-lô, vì người ham mê đời nầy. Đê-ma đã xem sự chết và đền tội của Chúa Jêsus không có giá trị bằng thế gian. Nếu chúng ta không hiểu biết Chúa đúng, không đánh giá Ngài cách xứng đáng thì chúng ta có thể hành động như Đê-ma. Xin Chúa cứu chúng ta thoát khỏi điều nầy.

III.CÁCH DÂNG CỦA LỄ TOÀN THIÊU:

1- Người dâng tay đặt trên đầu con sinh (Le 1:4). “Người sẽ nhận tay mình trên đầu con sinh, nó sẽ được nhậm thế cho, hầu chuộc tội cho người”. Người dâng của lễ thiêu phải hai tay đặt trên đầu con sinh tức là nhận rằng con sinh nầy thay cho mình dâng lên làm Của lễ toàn thiêu cho Chúa. Nhưng không phải chính con sinh có thể chuộc tội cho mình đâu. Làm sao một người phạm tội chỉ nhờ một con bò, con dê hay con chim bò câu mà được chuộc tội? Nhưng khi họ đặt tay trên con sinh đó, thì Đức tin của họ hướng về Đấng Cứu Thế chịu chết vì họ và Đức tin đó được Đức Chúa Trời nhậm. Đức Chúa Trời không phải nhậm vì con sinh nầy, nhưng nhậm vì nó đại diện cho Đấng cứu thế Giê-xu trên Thập tự giá. Hôm nay chúng ta không còn nhờ con sinh nữa, vì Chúa Jêsus đã chết trên Thập tự giá.

2- Người dâng giết con sinh trước mặt Chúa. “Đoạn, người sẽ giết bò tơ trước mặt Đức Giê-hô-va”. Ai giết? _ Chính người dâng phải giết con sinh. Bây giờ thử hỏi một câu: Ai đã đóng đinh Chúa Jêsus trên Thập tự giá? Giu-đa không? Dân Dothái không? Đế quốc La-mã không? – Không! Vậy thì ai? – Chính chúng ta đã giết Chúa Jêsus trên Thập tự giá, cũng như người dâng phải giết con sinh của mình để dâng. Toàn thể nhân loại đã giết Chúa Jêsus, vì nếu không bởi chúng ta phạm tội, thì Chúa Jêsus không bao giờ chết trên Thập tự giá. Không ai có thể giết Ngài được, Ngài có cả uy quyền trời đất trong tay.

Ngài phán một lời biển lặn sóng yên, Ngài phán một lời kẻ chết sống lại, Ngài phán một lời thì người bại được chữa lành. Ngài dùng 5 cái bánh và 2 con cá để nuôi gần một vạn người. Khi đoàn người đến bắt Ngài, Ngài chỉ hỏi một câu: “Các ngươi tìm ai?”. Họ nói: “Giê-xu ở Na-xa-rét”. Chúa bảo: “Chính Ta đây”, họ ngã ra vì sợ hãi. Một lời phán của Ngài có thể tiêu diệt toàn cả vũ trụ, cũng như do lời phán của Ngài mà vũ trụ có. Điều đó là lẽ đương nhiên. Nhưng Ngài phải hy sinh, đền tội cho chúng ta. Tôi nài xin Chúa Thánh Linh chi cho ông bà, anh chị biết Chân lý nầy, và mỗi chúng ta phải sấp mình cảm tạ, ca ngợi Ngài và thưa rằng: ‘Nếu Chúa không chết vì con, thì con đời đời tuyệt vọng trong Địa ngục’

Ro 5:6-8 chép: “Thật vậy, khi chúng ta còn yếu đuối, Đấng Christ đã theo kỳ hẹn chịu chết vì kẻ có tội. Vả, họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa; dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành. Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết”. Chúa Jêsus vì chúng ta cũng như toàn thể nhân loại trên Thế giới mà chụi chết.

Phao-lô ứng dụng cho mình khi viết Ga 2:20: “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi”. Ôi, Chúa Jêsus đã chịu chết vì kẻ có tội, vì tôi, tôi đã giết Ngài. Nguyện Chúa cho chúng ta thấy được Chân lý muôn đời nầy, để chúng ta không tiếc gì đối với Ngài.

3- Phần việc của các Thầy Tế lễ:

a/ Rảy huyết. “Rồi các con trai A-rôn, tức những Thầy Tế lễ rưới huyết chung quanh trên bàn thờ”. Sự chết của Chúa có giá trị trước mặt Đức Chúa Trời, khi Ngài tận hiến mình trên Thập tự giá, nhưng cũng tương quan đến tất cả mọi người. Vì vậy, huyết phải rảy ra, tức là Tin lành mỗi lúc một truyền bá cho mọi người ở khắp mọi nơi. Chúng ta dự Tiệc thánh trong lời khuyên bảo rằng: “Khi anh em ăn bánh nầy, uống chén nầy thì phải rao sự Chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến”.

b/ Thầy Tế lễ thiêu hết thảy trên Bàn thờ (Le 9:24). Của lễ nầy phải thiêu trên Bàn thờ. Lửa mà Kinh Thánh dùng ở đây là chỉ về sự hiện diện của Đức Chúa Trời.

Le 9:24: “Một ngọn lửa từ trước mặt Đức Giê-hô-va lòe ra thiêu hóa của lễ thiêu và mỡ trên bàn thờ. Cả dân sự thấy, đều cất tiếng reo mừng và sấp mặt Xuống đất”. Cảm tạ Chúa! Chúa thiêu hóa Của lễ để chứng minh sự hiện diện của Ngài và Ngài chấp nhận của lễ đó.

4- Dâng tế lễ thiêu mỗi ngày (Le 6:8-9,12-13). “Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng: Hãy truyền lịnh nầy cho A-rôn cùng các con trai người: Nầy là luật về của lễ thiêu: Của lễ thiêu phải ở trên đống lửa tại bàn thờ trọn đêm cho đến sáng mai, và lửa của bàn thờ giữ cho cháy luôn” (Le 6:8-9).

“Lửa trên bàn thờ phải cháy luôn luôn, không nên tắt. Mỗi buổi sáng thầy tế lễ sẽ lấy củi chụm lửa thêm, sắp của lễ thiêu lên trên, và xông những mỡ về của lễ thù ân tại đó. Lửa hằng cháy luôn trên bàn thờ, chẳng nên tắt” (Le 6:12-13).

Không phải mỗi ngày một người cứ dâng, nhưng dân Y-sơ-ra-ên thay nhau dâng, đến nỗi trên bàn thờ của lễ thiêu lữa vẫn cứ cháy. Điều nầy dạy mỗi chúng ta phải luôn luôn nhắc lại, nhấn mạnh hàng ngày. ‘Tôi thuộc về Chúa và hàng ngày hành động đúng như một người dâng Của lễ toàn thiêu. Lữa trên bàn thờ lòng của chúng ta không bao giờ để cho tàn tắt. Ôi, tôi đã khóc mà nghĩ rằng: Một số người lòng đã nguội quá, phải chăng họ đã phá hủy bàn thờ trong đời sống của mình, trong gia đình của mình và lửa không còn cháy ở đó nữa? Ở đây hai lần xác nhận: Lửa trên bàn thờ của lễ thiêu không bao giờ được tắt. Ý Chúa muốn lòng của chúng ta đối với Chúa lúc nào cũng cháy bùng lên. Bài Thánh ca 225 “TÂM HỒN TÔI ĐANG CHÁY”dạy chúng ta điều đó.

“Vì sự sốt sắng về đền Chúa tiêu nuốt tôi”. (Thi 69:9). Lửa của bàn thờ của lễ thiêu thiêu hóa tôi. Bàn thờ lòng tôi không bao giờ thiếu lửa, lửa sẽ cháy lên mãi mãi, không lúc nào tắt. Con cái của Chúa hằng có những người như vậy, họ ra đi truyền giảng Tin lành cho dân tộc mình, cho các dân tộc trên Thế giới. Họ hi sinh cả cuộc đời nầy, và họ bị lửa sốt sắng thiêu hóa họ và trở thành tro tàn. Nhưng trong tro tàn đó là sức mạnh mẽ, lòng sốt sắn đối với Chúa. Dầu chúng ta không dám nói mình hi sinh tới mức nào, nhưng các ông bà, anh chị hãy sốt sắng như Chúa muốn chúng ta sốt sắng. Chính Chúa Jêsus đã sốt sắng từ trời giáng xuống trần gian, đến tận đồi Gô-gô-tha và Ngài lên Thập tự giá. Ngài sẵn sàng tất cả mọi giá để chuộc chúng ta, thì chúng ta nỡ nào đối với Ngài cách lạnh nhạt, thờ ơ? Nguyện lòng sốt sắng của Chúa Jêsus tràn đầy trong đời sống của chúng ta.

Xin Chúa tha thứ cho tôi, tôi không đủ sức nói cho các ông bà, anh chị lời nầy, nhưng Tháng Linh của Chúa nói cho các ông bà, anh chị và giục giã mọi người thưa với Chúa rằng: ‘Con thuộc về Ngài, vì Ngài đã mua chuộc con, Ngài đã chết vì con. Xin cho con sự dự phần với Chúa Jêsus, dâng lên cho Ngài một của lễ thiêu, không những hôm nay mà suốt những ngày sống trong trần gian’

Bài 22: CỦA LỄ CHAY

Le 2:1-16

Tế lễ chay là Tế lễ không có huyết, chỉ bằng bánh mà thôi. Đây là hình ảnh thứ hai về Chúa Jêsus hi sinh trên Thập tự giá. Tế lễ toàn thiêu chỉ về Chúa Jêsus tình nguyện dâng mình cho Đức Chúa Trời trên Thập tự giá. Tế lễ chay chỉ về đời sống của Ngài từ khi giáng sanh cho đến khi sắp lên Thập tự giá. Cuộc đời đó được hình dung bằng một cái bánh toàn bằng bột lọc có chế dầu và nhũ hương. Cả hai của lễ đều có mùi thơm cho Chúa, tức là đời sống của Ngài hoàn toàn thánh khiết.

I. LỄ VẬT DÙNG LÀM TẾ LỄ CHAY:

Có hai loại: 1.Cần yếu. 2.Bị cấm.

1- Những lễ vật cần yếu. Những lễ vật cần yếu có hai thứ:

a/ Bột lọc. Người Y-sơ-ra-ên phải dùng bột lọc làm bánh dâng lên cho Đức Chúa Trời. Bột lọc đó chỉ về tánh thánh khiết của Chúa Jêsus, vì bột lọc là thứ bột rất mịn nhuyễn, không có hột nào lớn hột nào nhỏ, hoàn toàn đều như nhau. Ngài tự sánh là hột lúa mì rơi xuống đất và khi hột lúa mì rơi Xuống đất thì trở thành cây lúa và ra bông lúa. Khi lúa chín, người ta gặt, hái đem về, xay, giã, nghiền, tán mới thành ra bột lọc được. Chúa Jêsus cũng vậy, Ngài đã từ trời Giáng thế và suốt đời Ngài là bột lọc, có nghĩa là đức tánh Ngài trọn vẹn. Ngài có tình yêu trọn vẹn, có sự Nhân từ vượt quá trí hiểu, có Quyền năng vô hạn, có sự khôn ngoan vô cùng, có Tài sản vô tận. Lỗ tai của Ngài sẵn sàng mở ra để nghe tiếng kêu cầu của chúng ta, bàn tay của Ngài đưa ra để cung ứng mọi nhu cầu của chúng ta. Lòng Ngài yêu chúng ta bằng tình yêu âu yếm thật là khó tả. Nếu chúng ta đọc bốn sách Tin lành và các Thư tín thì thấy đời sống đạo đức của Chúa Jêsus hoàn toàn như là bột mịn, không bao giờ hơn, không bao giờ kém. Để dễ hiểu, chúng ta thử so sánh: Môi-se là nhà lãnh đạo của dân Y-sơ-ra-ên, nổi tiếng là hi sinh, người ôn hoà nhất thế gian, dầu vậy, ông đã cãi lời Chúa, đập hòn đá, vì cớ tức giận dân Y-sơ-ra-ên. Ông Phi-e-rơ là người sốt sắng, tận tâm theo Chúa, nhưng cũng đã ba lần chối Chúa vì sợ hãi. Ông Giăng là con người hết sức đạo đức, ông nghiêng mình trên ngực Chúa, tuy nhiên có lần ông đã tức giận dân Sa-ma-ri đã không tiếp đón Chúa Jêsus vào làng, và ông thưa với Chúa: ‘Chúa có muốn chúng tôi khiến lửa từ trời thiêu họ đi chăng?’ Phao-lô là con người sốt sắng lắm, hi sinh cho Hội Thánh, tuy nhiên, đã có lần ông đã tức giận nói nặng Thầy tế lễ. Nói một lời, hễ con người thì ai cũng bất toàn, nhưng Chúa Jêsus, dầu mang lầy thân thể của một con người Dothái, nhưng mà hoàn toàn không ai giống như Ngài, tuyệt đối, vô song, trước không có, sau không bao giờ tìm lại được, chỉ một mình Ngài mà thôi.

b/ Dầu. Dầu chỉ về Thánh linh. Chúa Jêsus như bột lọc, lại được nhồi với dầu ô-li-ve, và chế dầu lên trên, có nghĩa là Ngài được đầy dẫy Đức Thánh Linh, ngay khi đầu thai trong lòng trinh nữ Ma-ri. Vì vậy, thiên sứ nói với Ma-ri: “Con mà nàng tho thai đó là bởi Thánh Linh”, nên Con Thánh đã sanh ra được gọi là con của Đức Chúa Trời. Thiên sứ bỗng bảo với Giô-sép: “Chớ ngại lấy Ma-ri làm vợ, vì con mà người chịu thai đó là bởi Thánh linh”, và đó là Em-ma-nu-ên, tức là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta. Đức Chúa Trời ở trên trời, không ai có thể gặp Ngài được, nên Ngài phải mượn hình một người để sống giữa chúng ta.

Có người hiểu sai và cho rằng Chúa Jêsus là một người như chúng ta, nhưng khi chịu Báp-têm thì Ngài đầy dẫy Đức Thánh Linh, rồi khi Ngài lên Thập tự giá, Ngài trở lại như một người thường bị đóng đinh. Đó là một Tà giáo nguy hiểm, ai có ý tưởng đó hãy lột bỏ ngay. Nếu Chúa Jêsus là người, thì tại sao trước khi Ngài giáng sanh hàng ngàn năm đã có lời dự báo về sự sanh ra của Ngài? Tại sao khi Ngài giáng sanh tại Bết-lê-hem, xứ Do thái, có Thiên sứ báo tin cho Mục đồng? Tại sao khi Ngài giáng sanh tại Bết-lê-hem, xứ Do thái, có các bác sĩ từ Đông phương đến thờ lạy Ngài và dâng tế lễ? Không thể nào như vậy được. Nhưng khi Ngài chịu Báp-têm dưới sông Giô-đanh, thì Kinh Thánh chép rằng: ‘Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự Xuống như chim bò câu, đậu trên Ngài’. Như vậy, có hai giai đoạn: Ngài đầu thai trong lòng Trinh nữ Ma-ri bởi Thánh Linh và Ngài bắt đầu chức vụ, lại được Thánh Linh đáp đậu trên một cách đầy dẫy, cũng như bột lọc nhồi với dầu và sau đó còn chế dầu lên trên. Hai giai đoạn khác nhau, Chúa Jêsus vốn đầy dẫy Đức Thánh Linh, khi bắt đầu chức vụ lại được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Tất cả chúng ta đều có từng trãi đó. Ông Phi-e-rơ đầy dẫy Thánh Linh trong ngày Ngũ tuần, nhưng khi đứng trước toà công luận Dothái thì Kinh Thánh bảo rằng: “Ông đầy dẫy Thánh Linh:, vì trong trường hợp đó, ông phải có sự đầy dẫy đặt biệt mới đứng nổi trước hoàn cảnh khó khăn. Ông Phao-lô cũng vậy, khi gặp Chúa trên đường Đa-mách, ông đầy dẫy Thánh Linh, nhưng khi bắt đầu chức vụ thì Kinh Thánh nhiều lần lập lại: “Ông đầy dẫy Thánh Linh”. Mỗi chúng ta nếu thật tin Chúa thì đều có Đức Thánh Linh ngự trong lòng, đầy dẫy Thánh Linh, nhưng khi Chúa giao chức vụ cho một người nào, thì Ngài ban cho người đó đầy dẫy Thánh Linh để thi hành chức vụ đặt biệt mà Ngài giao phó. Cảm tạ ơn Chúa!

Vì vậy, chúng ta biết rằng Chúa Jêsus vốn đầy dẫy Thánh Linh trong lòng Trinh nữ Ma-ri, khi bắt đầu chức vụ Ngài đầy dẫy Đức Thánh Linh một lần nữa, như bột lọc nhồi với dầu lần thứ nhất và chế dầu lên trên lần thứ hai. Chúa mượn những hình thức như vậy để dạy dỗ chúng ta về ý nghĩa thuộc linh, và xin Chúa chúng ta có con mắt, lỗ tai, trí và lòng thuộc linh để hiểu được ý nghĩa thuộc linh.

c/ Nhũ hương. Nhũ hương là chất nhựa của một loại cây rất thơm. Thơm nhất là khi đốt nó lên. Vì vậy, Tế lễ chay phải dùng bột lọc nhồi dầu, đổ dầu lên trên, và rắc thêm nhũ hương nữa. Điều đó ám chỉ đời sống của Chúa Jêsus là đời sống tôn vinh Đức Chúa Trời mọi đàng. Càng chịu khó khăn, đau khổ bao nhiêu, thì mùi thơm của Ngài tỏa ra bấy nhiêu; cũng như nhũ hương chưa gặp lửa thì đã thơm, nhưng không thơm bằng lúc gặp lửa. Có những con cái của Chúa bình thường đã tỏa mùi thơm, đến khi họ gặp thử thách như là lửa, đời của họ tỏa ra mùi thơm lạ lùng.

Thưa các ông bà, anh chị, theo tâm lý chung, chúng ta đều sợ lửa, tức là sự đau đớn, nghèo khổ, bắt bớ. Nhưng nếu chúng ta thật là nhũ hương thì lửa sẽ làm cho chúng ta tỏa mùi thơm khắp chốn. Chúng ta không thể biết ông Gióp đạo đức đến mức độ nào, nếu không phải trải qua hai cơn thử thách khủng khiếp: Con chết, của hết, kế đó cả thân thể từ đầu chí chân bị ghẻ như là bệnh cùi vậy. Và qua lửa đó chúng ta thấy đời sống ông Gióp toả mùi hương như là nhũ hương gặp lửa vậy.

Tôi không bao giờ quên câu chuyện một bà Tín đồ ở bên Pháp: Bà góa chồng, để lại ba đứa con. Ba đứa con đó là cả một cơ nghiệp vĩ đại của bà. Trong Thành phố bà ở bỗng có một bệnh dịch nổi lên, giết hại không biết bao nhiêu người, nhất là trẻ em. Thế rồi một trong ba người con của bà chết. Hội Thánh cũng đưa linh cửu em ra mộ phần và khóc: ‘Xin Chúa giữ gìn hai con còn lại của bà’. Nhưng tuần lễ sau, đứa thứ hai chết. Hội Thánh cũng đưa linh cửu em ra mộ phần. Bà khóc rất nhiều, cho đến nỗi không nói được. Hội Thánh tha thiết cầu nguyện: ‘Xin Chúa giữ đứa con cuối cùng của bà’. Nhưng lạ thay, tuần lễ sau đứa thứ ba cũng chết. Hội Thánh không biết nói lời gì để yên ủi bà, chỉ yên lặng đi sau bà ra phần mộ. Thình lình bà nói: ‘Lạy Chúa, nếu con cũng chết, con vẫn cứ cảm tạ, ca ngợi Chúa’. Toàn thể Hội Thánh đồng cất tiếng hát bài Ha-lê-lu-gia, cảm tạ Chúa. Bà quyết định nói như Gióp: ‘Không những là ba con tôi, nhưng nếu Chúa đem tôi về với Ngài, tôi sẽ cảm tạ ca ngợi Chúa’. Chính lúc nầy chúng ta như gặp lửa. Nguyện Chúa cho mỗi chúng ta như nhũ hương.

d/ Muối (Le 2:13). “Phải nêm muối các của lễ chay; chớ nên dâng lên thiếu muối; vì muối là dấu hiệu về sự giao ước của Đức Chúa Trời đã lập cùng ngươi; trên các lễ vật ngươi phải dâng muối”.

Muối rất quí, vì không có người nào không cần muối, muối để lâu vẫn không sao cả, muối gặp lửa thì tốt hơn. Người ta thường dùng muối hầm tốt hơn muối sông, càng gặp lửa muối càng tốt hơn. Muối cũng dùng để chữa bệnh, để bảo vệ những thức ăn để lâu. Vì vậy, của lễ chay không bao giờ thiếu muối. Đời sống của chúng ta dâng lên cho Chúa cũng không thể thiếu muối. Muối đây có nghĩa gì? _ “Các ngươi phải có muối trong lòng mình” (Mac 9:31). Đời sống của chúng ta phải có muối tức là chất đạo đức bền vững, đủ sức chịu đựng trong mỗi giai đoạn, để gây ích lợi cho mọi người, phước hạnh cho mọi người.

“Lời nói anh em phải có ân hậu theo luôn, và nêm thêm muối, hầu cho anh em biết nên đối đáp mỗi người là thể nào” (Co 4:6). Lời nói phải có ân hậu, phải có muối, tức là trong lòng phải có tình thương, có sự thánh khiết. Nói chung là có đạo đức, đến nỗi lời của mình giúp cho người nghe được ích lợi. Vì vậy, trong đời sống chúng ta đừng bao giờ thiếu muối.

2- Những lễ vật bị cấm trong khi dâng tế lễ chay:

a/ Men. Men thường chỉ về việc xấu, về tội lỗi. Vì vậy, của lễ chay không bao giờ có một chút men lộn vào. Người ta làm bánh thường dùng men, nhưng của lễ chay là thứ bánh không bao giờ có men, cũng như người Y-sơ-ra-ên dự lễ Vượt qua phải ăn bánh không men. Tại sao? Lu 12:1 chép: “Khi ấy, dân chúng nhóm lại kể hàng ngàn người, đến nỗi giày đạp nhau, Đức Chúa Jêsus mới trước hết phán cùng môn đồ rằng: Hãy giữ mình về men của người Pha-ri-si, là sự giả hình”. Men chỉ về sự giả hình. Chúng ta theo Chúa không được phép giả dối, vì Đức Chúa Trời là Chân thật, chúng ta phải chân thật, đều phải thánh khiết. Nếu lộn men vào thì Tế lễ đó không bao giờ được Chúa nhậm. Mỗi chúng ta là Tế lễ dâng lên cho Đức Chúa Trời, đời sống phải tuyệt đối không có men.

ICo 5:6-8 dạy: “Thật anh em chẳng có cớ mà khoe mình đâu! Anh em há chẳng biết rằng một chút men làm cho cả đống bột dậy lên sao? Hãy làm cho mình sạch men cũ đi, hầu cho anh em trở nên bột nhồi mới không men, như anh em là bánh không men vậy”. Phải bỏ hết những gì tội lỗi và tựa như tội lỗi, để đời sống chúng ta như bánh không men. “Vậy thì, chúng ta hãy giữ lễ, chớ dùng men cũ, chớ dùng men gian ác, độc dữ, nhưng dùng bánh không men của sự thật thà và của lẽ thật”. Khi người Y-sơ-ra-ên dự lễ Vượt qua thì phải xét lại trong nhà mình, nếu có chút men thì hãy bỏ đi, để cho đời sống cá nhân, gia đình được thánh khiết trước mặt Đức Chúa Trời. Các ông bà, anh chị cũng như tôi hàng ngày đối diện với Đức Chúa Trời Chí Thánh, cầu nguyện với Chúa Chí Thánh, dâng tiền cho Chúa Chí Thánh, ca ngợi Chúa Chí Thánh và tất cả mối tương quan của chúng ta hàng ngày, hàng giờ chỉ là tương quan đến Đấng Chí Thánh và Ngài đòi hỏi chúng ta thánh khiết, không được môt chút tội lỗi nào trong đời sống của mình.

b/ Mật ong. Trong Của lễ chay không được phép dùng mật ong, cũng như không được phép dùng men. Mật thì ngọt. Thiết tưởng ai cũng thích mật ong, nhưng vô lửa thì nó khét, hôi. Nghĩa là trong con người có một thứ đạo đức thiên nhiên dễ thương lắm, nhưng chưa phải là đạo đức siêu nhiên. Đạo đức thiên nhiên không chịu nổi mọi sự. Mỗi ngày đều bình an, vui vẻ thì được, nhưng nếu có một biến cố gì như đau yếu, thiếu thốn, bắt bớ, khổ sở thì giống như mật ong không chịu nổi lửa. Vì vậy, chúng ta phải nhờ cậy Chúa mà đạp bỏ cái thứ mật xem như là ngọt, hay men xem như là to lớn, nhưng cả hai đều không cùng được trong tế lễ dâng lên cho Đức Chúa Trời.

II. CÁCH DÂNG TẾ LỄ CHAY:

1-Thiêu, nướng hay hấp. Dùng bột lọc trộn với dầu, chế dầu lên rồi rắc nhũ hương và nướng trên lửa, hấp hay là thiêu hóa như Của lễ toàn thiêu. Điều đó hình bóng về Chúa Jêsus chịu đau khổ từ khi giáng sanh cho đến khi Ngài sắp lên Thập tự giá, Ngài phải chịu đau khổ như gặp lửa. Đau khổ thế nào? – Khi thấy dân Y-sơ-ra-ên không chịu tin nhận Ngài, lìa bỏ Ngài thì Ngài đau đớn vì lòng cứng cỏi của họ. Rồi Ngài thương xót họ khi thấy họ như bầy chiên không có người chăn và Ngài đã khóc trước thành Giê-ru-sa-lem. Khi thấy nhân loại chết cả thể xác lẫn tâm hồn, vì cứ miệt mài trong tội lỗi. Đó là nỗi đau đớn của Ngài như bánh không men bị thiêu hay bị nướng, bị hấp trên lửa vậy. Đời sống của chúng ta nếu thật có một tâm tình như Chúa, thì chúng ta cũng đau đớn như vậy. Khi thấy anh em bị đau khổ thì cũng như chính mình bị đau khổ, muốn chia xẻ, muốn nâng đỡ. Khi anh em mình đau yếu, nằm ở trên giường rũ liệt, chúng ta cảm xúc đau đớn như là chính mình cũng bị đau đớn như họ, và muốn làm việc gì để chia bớt gánh nặng đó. Khi thấy đồng bào của mình cứng cỏi, không chịu ăn năn thì chúng ta cũng đổ nước mắt ra khóc vì họ. Khi chúng ta thấy Hội Thánh sa sút, nguội lạnh, Tín đồ phạm tội thì chúng ta cũng thấy đau đớn và thương xót, vì anh em làm như thế là sỉ nhục Danh Chúa. Chúa bị đau đớn bao nhiêu thì chúng ta cũng bị đau đớn bấy nhiêu. Nguyện Chúa cho chúng ta cảm thông với Ngài như bánh thiêu hấp trên lửa.

2- Thầy tế lễ được ăn một phần. Thầy tế lễ được ăn một phần Của lễ chay và phải ăn trong nơi Thánh, vì đó là những vật Chí thánh, bởi bánh đó chỉ về đời sống của Chúa Jêsus. Đời sống của Chúa dầu sắp lên Thập tự giá cũng là nguồn phước cho mỗi chúng ta. Ai là người đã đọc đời sống của Chúa Jêsus thì cảm thấy được khích lệ vô cùng. Càng đọc, càng học chúng ta nhận được những sự dạy dỗ hết sức quí báu.

Một ông Tín đồ được người ta khen có một nếp sống như Thánh Augustin. Người ta tưởng rằng như vậy ông sẽ vui, nhưng ngược lại, ông nói rằng: ‘Đáng lẽ tôi phải được người ta khen là có một đời sống giống như Chúa Jêsus. Tôi chỉ giống như một người, thì tôi chưa lấy làm thỏa lòng’. Câu nói đó cảm động lòng tôi rất nhiều. Chúng ta thường đem mình mà so sánh với người khác: Tôi yếu đuối như vậy, có người yếu đuối hơn; tôi phạm tội, có người phạm tội nặng hơn; tôi xấu, lại có người xấu hơn tôi. Chúng ta không được nói như vây, nhưng phải nói: ‘Chúa của tôi thể nào, thì tôi phải sống như vậy’.

Có người hỏi một Tín đồ: ‘Tại sao theo Chúa lại không được uống rượu, xem hát, hút thuốc lá? Kinh Thánh có chỗ nào nói đâu?’. Người Tín đồ trả lời: ‘Tôi không muốn nói là Kinh Thánh cấm hay không, nhưng tôi muốn có một đời sống như Chúa yêu dấu của tôi. Chúa Jêsus không hút thuốc lá, không xem hát, không làm bậy bạ thì tôi cũng không bao giờ khác hơn Chúa tôi’. Chúng ta là con cái Chúa cũng vậy.

Đại ý tế lễ chay dạy chúng ta một đời sống thánh khiết. Dầu bây giờ, chúng ta không bằng Chúa chúng ta sống tại trần gian, nhưng chính Ngài là mẫu mực cho chúng ta phải sống. Và chúng ta khát khao được như Chúa của chúng ta. Trong Kinh Thánh có biết bao nhiêu lần dạy chúng ta phải sống đẹp lòng Chúa, nhưng chúng ta thường hay đòi Đức Chúa Trời phải đẹp lòng mình: Tại sao tôi bị như thế nầy, như thế kia? IICo 5:9 bảo “Cho nên chúng ta dầu ở trong thân thể nầy, dầu ra khỏi, cũng làm hết sức để được đẹp lòng Chúa”. Bao nhiêu ngày mình còn sống, bao nhiêu khả năng, ân tứ Chúa cho mình thì phải dùng vào việc đẹp lòng Chúa. Đó là Của lễ chay.

Eph:10 dạy: “Hãy xét điều chi vừa lòng Chúa”, nghĩa là phải nghiên cứu, phải học hỏi, tìm kiếm để biết điều chi vừa lòng Chúa. Tôi làm việc nầy có vừa lòng Chúa hay không? Lắm khi chúng ta thách đố Đức Chúa Trời: Nếu Chúa không cho tôi làm việc nầy, tôi không theo Chúa nữa. Nếu Hội Thánh không nghe lời tôi, tôi không đi nhà thờ nữa. Chúng ta buộc mọi người, buộc Đức Chúa Trời phải làm theo ý muốn của mình. Đó là một Tín đồ trẻ con. Một đứa trẻ ba, bốn tuổi hay tưởng mình là quan trọng, nó khóc đòi ăn, đòi uống, đòi đồ chơi, đòi đủ thứ và buộc mọi người phải theo nó. Nhưng đã thành nhơn thì không bao giờ hành động như vậy. Chúng ta phải làm gì để giúp đỡ kẻ khác, phải làm gì để tôn vinh Đức Chúa Trời.

Co 1:10 đòi hỏi chúng ta phải: “Hầu cho anh em ăn ở cách xứng đáng với Chúa, đặng đẹp lòng Ngài mọi đường, nẩy ra đủ các việc lành, càng thêm lên trong sự hiểu biết Đức Chúa Trời”. He 12:28 khuyên: “Như vậy, vì chúng ta có phần trong một nước không hay rúng động, nên hãy cảm ơn, hầu cho lấy lòng kính sợ hầu việc Đức Chúa Trời một cách đẹp lòng Ngài”. Hãy sống một cách đẹp lòng Chúa, các ông bà sẽ thấy đời mình thật là thánh khiết, thật là phước hạnh cho người khác. Mỗi lần nghe bài hát “DÂNG ĐIỀU CHI TỐT NHẤT CHO NGÀI”tôi phải cầu nguyện; ‘ Chúa ôi, con xin dâng điều tốt nhất cho Ngài, vì chỉ một mình Ngài xứng đáng cho con làm như vậy, nếu con dâng tất cả những gì con có cũng chưa vừa tới sự vinh hiển, cao trọng của Ngài’.

Nguyện Chúa cho các ông bà, anh chị cũng như tôi dâng lên Chúa một Của lễ chay đẹp lòng Ngài mọi đường, với mùi thơm ngào ngạt, dầu phải gặp lửa thử thách, bắt bớ, khó khăn, đau ốm hay bất cứ điều gì. Xin Chúa cho chúng ta cứ tỏa mùi thơm như nhũ hương gặp lửa vậy.

Bài 23: CỦA LỄ THÙ ÂN

Le 3:1-17

Đời xưa có năm thứ Tế Lễ mà dân Y-sơ-ra-ên thường dâng lên cho Đức Chúa Trời. Năm thứ Tế Lễ đó bày tỏ cho năm phương diện của Chúa Jêsus. Cũng như một viên ngọc có năm mặt khác nhau, mặt nào cũng chiếu sáng cả. Tế lễ thiêu bày tỏ Chúa Jêsus tình nguyện chịu chết để làm trọn mọi Thánh ý của Đức Chúa Trời. Của lễ chay chỉ về Chúa Jêsus có một đời sống hoàn toàn vô tội, thánh khiết. Tế lễ thù ân bày tỏ Chúa Jêsus làm niềm vui cho tất cả chúng ta, và ai nấy đều cảm tạ ca ngợi Đức Chúa Trời, qua sự chết đền tội của Ngài. Vì thế, Của lễ thù ân là của lễ cảm tạ, ca ngợi, cũng có nghĩa là tế lễ bình an, thông công.

I. CÁCH DÂNG CỦA LỄ THÙ ÂN:

Tế lễ thù ân có điểm giống và cũng có điểm khác với tế lễ thiêu:

1- Khác nhau. Tế lễ thiêu thì hết thảy đều thiêu trên bàn thờ, vì nó là tượng trương cho sự hinh sinh hoàn toàn của Chúa Jêsus cho Đức Chúa Trời trên Thập tự giá. Tế lễ thiêu cần phải con đực như là bò đực, chiên đực, nhưng tế lễ thù ân có thể dâng bò, chiên đực hay là cái cũng được. Tế lễ thù ân chỉ thiêu một phần mà thôi.

2- Giống nhau. Tế lễ thiêu cũng như tế lễ thù ân đều có mùi thơm cho Đức Chúa Trời. Mỗi người muốn dâng phải dẫn con sinh đến Đền thờ, con sinh đó phải không tì vít chi và mạnh. Người dâng phải đặt tay trên đầu của con sinh, tức là phải hòa mình với nó. Chính người dâng phải giết con sinh. Thầy tế lễ lấy huyết con sinh rảy lên bàn thờ để tạ ơn Đức Chúa Trời.

II. Ý NGHĨA CỦA LỄ THÙ ÂN:

1- Phần dâng lên cho Đức Chúa Trời. Hết thảy mỡ, hết thảy những gì thuộc về phần mạnh mẽ nhất của con sinh là thuộc về Đức Chúa Trời. Hai trái cật và cái đuôi là những vật xem như tầm thường, nhưng là phần mạnh mẽ nhất, phải dâng lên cho Đức Chúa Trời.

2- Phần của Thầy tế lễ. “Rồi Thầy tế lễ sẽ xông mỡ trên bàn thờ, còn cái o thuộc về phần A-rôn và các con trai ngươi. Các ngươi cũng sẽ cho Thầy tế lễ cái giò hữu về của lễ thù ân đặng làm của lễ giơ lên”. Thầy tế lễ sẽ được dự phần trong nầy cái o, tức là cái ức hay là ngực của con sinh và cái giò hữu của con sinh.

3- Phần của người dâng (Le 7:15). “Thịt của con sinh tế cảm tạ thù ân thì phải ăn hết nội ngày đã dâng lên, không nên để sót chi lại đến sáng mai”. Chúng ta biết rằng con bò, con chiên hoặc con dê mập mạnh mà dâng cho Đức Chúa Trời chỉ một phần quan trọng là mỡ, hai trái cật và cái đuôi, cho Thầy tế lễ cái ức và cái giò phía trước, thì phần còn lại rất lớn, gia đình phải ăn tại bàn thờ, trước mặt Chúa và phải ăn chỉ ngày đó mà thôi, không được để lại ngày sau, tức là phải mời cả bà con, bạn hữu cùng ăn với mình, để chung vui, cảm tạ, ca ngợi. Đó là cách Chúa dạy dân Y-sơ-ra-ên đời xưa dâng tế lễ thù ân cho Ngài.

III. Ý NGHĨA CỦA LỄ THÙ ÂN ĐỐI VỚI CHÚNG TA:

1-Ý nghĩa tượng trưng. Tế lễ thù ân là tế lễ cảm tạ, cảm thông, bình an, nên người dâng tế lễ cũng như Thầy tế lễ, nhất là Đức Chúa Trời đều có phần trong con sinh tế nầy. Gia đình của người dâng ăn sinh tế không hết trong một ngày, thì phải mời bà con, bạn hữu đến cùng chung vui với mình, để ca ngợi, cảm tạ Chúa. Chúa muốn dạy chúng ta phải biết ơn Chúa, phải dâng lên cho Ngài tế lễ cảm tạ để thông công với Chúa và với nhau, và hiệp một trong sự ca ngợi Chúa.

Thế thì, mỗi chúng ta ngày hôm nay cũng như dân Y-sơ-ra-ên phải luôn luôn dâng của lễ cảm tạ cho Chúa. Nếu có một ân tứ đặt biệt nào thì chúng ta nên bày tỏ tấm lòng biết ơn Chúa, dâng cho Ngài những gì mình có.

Thỉnh thoảng tôi thấy các ông bà, anh chị có tổ chức lễ cảm tạ Chúa, thì chúng ta hãy sử dụng những điều mình có đúng theo lời dạy ở đây. Về phương diện tâm linh, chúng ta phải cảm tạ Chúa luôn luôn, vì mỗi ngày Chúa đều ban phước cho chúng ta, nhưng có những cơ hội đặt biệt mà Chúa làm việc cho mình, thì chúng ta nên tổ chức lễ cảm tạ trọng thể để mỗi chúng ta chia xẻ ơn phước cho nhau, để hết thảy con cái của Chúa đều dự phần cảm tạ, ca ngợi Chúa với chúng ta.

Nhờ Chúa Jêsus chịu chết trên Thập tự giá, chúng ta được tha thứ tội lỗi, chúng ta hòa lại với Đức Chúa Trời và hòa lại với nhau. “Nhưng trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em là kẻ ngày trước cách xa, hiện nay đã nhờ huyết Đấng Christ mà được gần rồi. Vì, ấy chính Ngài là sự hòa hiệp của chúng ta; Ngài đã hiệp cả hai lại làm một, phá đổ bức tường ngăn cách” (Eph 2:13-14). Chúng ta thấy hai câu nầy nói về sự hòa hiệp của chúng ta với Đức Chúa Trời. Ngài không kể chúng ta là thù nghịch với Ngài nữa, và hoà lại với anh em mình, không còn bức tường chia rẽ giữa người nầy với người khác, dân tộc nọ với dân tộc kia. “Ngài lại đã đến rao truyền sự hòa bình cho anh em là kẻ ở xa, và sự hòa bình cho kẻ ở gần. Vì ấy là nhờ Ngài mà chúng ta cả hai đều được phép đến gần Đức Chúa Cha, đồng trong một Thánh Linh” (Eph 2:17-18). Như vậy, Của lễ nầy là Của lễ hòa bình, tức là đem sự hoà bình giữa loài người với Đức Chúa Trời, giữa loài người với nhau, để hết thảy đều được đến gần Đức Chúa Trời, được hưởng phước của Ngài. Chúng ta thấy Thập tự giá có hai chiều, Chúa Jêsus chịu chết trên Thập tự giá đem con người hòa lại với Đức Chúa Trời- chiều đứng – và đem con người hòa lại với nhau – chiều ngang – Cảm tạ ơn Chúa!

IGi 1:3: “Chúng tôi lấy điều đã thấy đã nghe mà truyền cho anh em, hầu cho anh em cũng được giao thông với chúng tôi. Vả, chúng tôi vẫn được giao thông với Đức Chúa Cha, và với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ”. Ở đây nói sự giao thông hai chiều: “Anh em được giao thông với chúng tôi”, tức là chiều ngang, và “chúng tôi được giao thông với Đức Chúa Trời và Đức Chúa Con”, là chiều đứng. Thiết tưởng không có gì vui mừng bằng cảnh hòa thuận. Con người sống trong đời nầy luôn luôn cảm thấy thù nghịch, chúng ta thù nghịch với Đức Chúa Trời và thù nghịch với nhau. Nhưng nhờ Huyết Chúa Jêsus đổ ra trên Thập tự giá, chúng ta – Hội Thánh trong cả Thế giới, bao gồm muôn dân, muôn nước – đều hòa lại với nhau, cũng hòa lại với chính mình Đức Chúa Trời. Xưa nay, người ta thường nói rằng: ‘Tứ hải giai huynh đệ’. Bốn biển là anh em với nhau, nhưng câu nói đó không thực hiện được, mà ngược lại, bốn biển đều là thù nghịch, đầy dẫy chiến tranh, vì người ta thù nghịch với Đức Chúa Trời, nhiên hậu mới hòa lại với nhau.

Khi người con trai hoang đàng ở xứ người thì thật là buồn thảm. Cậu phải ra đồng chăn heo, đói rách ghê gớm, đến nỗi phải ăn vỏ đậu mà người ta cho heo ăn cũng không được. Nhưng khi cậu trở về với cha mình thì được cha ôm lấy cổ mà hôn, được mặc quần áo tốt nhất, được đeo nhẫn vào tay, mang giày vào chân. Rồi cha bắt bò con mập làm thịt. Cả nhà vui mừng. Thật là phước hạnh cho một người quay về với Chúa.

Thế thì, chúng ta sử dụng tất cả những gì mình có để cảm tạ ơn Chúa. Chúng ta thường ít cảm tạ ơn Chúa, nên Kinh Thánh bảo: “Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời luôn luôn. Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời trong mọi sự”. Khi chúng ta làm điều đó thì mới thấy đời của mình vui vẻ, mọi người chung quanh vui vẻ và Đức Chúa Trời sẽ dự phần vui vẻ với chúng ta.

2. Ý nghĩa thuộc linh. trong ICo 10:16-18 chép: “Cái chén phước lành mà chúng ta chúc phước, há chẳng phải là thông với huyết của Đấng Christ sao? Cái bánh mà chúng ta bẻ, há chẳng phải là thông với thân thể của Đấng Christ sao? Vì chỉ có một cái bánh, chúng ta dầu nhiều, cũng chỉ một thân thể; bởi chưng chúng ta đều có phần chung trong một cái bánh”. Hãy xem dân Y-sơ-ra-ên theo phần xác, những kẻ ăn thịt còn sinh tế, há không thông đồng với Bàn thờ sao? Ở đây, Kinh Thánh nói về Tiệc thánh nhưng cũng nhắc lại Tế lễ thù ân. Khi người Y-sơ-ra-ên ăn thịt của lễ thù ân là thông công với Đức Chúa Trời, thông công với nhau, tức là ngồi chung một bàn tiệc với Đức Chúa Trời, với mọi bạn bè thân thuộc, như con trai hoang đàng trở về với cha và mọi người để ai nấy đồng ca ngợi cha mình. Tiệc thánh được mô tả như là tiệc Cảm tạ. Anh em có biết rằng tất cả mọi dân tộc trên Thế giới đã tin Chúa thì chung một huyết thống, vì cùng chung một dòng huyết mà Chúa Jêsus đã đổ ra trên Thập tự giá, nên chúng ta được cứu rỗi. Vì vậy, chúng ta không có phép xem nhau như kẻ thù, nhưng mà yêu nhau tha thiết, nhìn nhau qua dòng Huyết của Chúa Jêsus. Bánh mà chúng ta dự tiệc thánh là tượng trưng thân thể của Chúa Jêsus tan nát vì cớ chúng ta trên Thập tự giá. Nhờ thân thể tan nát đó mà chúng ta được cứu rỗi. Vì vậy, chúng ta phải yêu mến lẫn nhau, sẵn sàng chia sẻ cho người khác, đừng bao giờ ích kỷ hưởng riêng một mình. Nếu chúng ta có gì thì nên nghĩ người bên cạnh cũng cần có.

Ý nầy cũng dạy chúng ta về sự giảng Tin Lành. Phao-lô nhắc nhở mỗi lần dự Tiệc thánh: “Anh em hãy rao sự Chết cho Chúa cho tới lúc Ngài đến”. Chúng ta chia sẻ phước hạnh về sự cứu rỗi cho người chưa tin, cũng như người Y-sơ-ra-ên dâng cho Chúa một phần nhỏ của con sinh, dành cho thầy Tế Lễ một phần nhỏ, còn lại bao nhiêu phải ăn hết trong một ngày, tức là mời bà con, bạn hữu cùng đến dự. Ý Chúa dạy chúng ta là phải chia sẻ cho người khác. Chúng ta đước phước nào, phải chia sẻ phước đó cho anh em của mình. Cũng như chúng ta dự Tiệc thánh, được thông công với Chúa, được thông công với nhau thì phải rao giảng Tin Lành để người khác cũng được hưởng như chúng ta vậy.

Trong thời nước Nga còn dưới quyền Quân chủ, một vị vua nghĩ đến những người nghèo khổ, khốn nạn. Vua cải trang thành một gã ăn mày. Đêm nọ, vua đến gõ cửa một nhà kia và xin tạm trú qua đêm, vì trời quá lạnh. Nhưng rồi mọi nhà đều từ chối, dẫu nản lòng nhưng vua vẫn cố gắng đến thêm một nhà nữa. Chủ nhà vui vẻ nói: “Tôi sẵn sàng mời Ông ngủ lại đêm, nhưng rất tiếc, gia đình tôi nghèo qua, vợ tôi mới sanh, con tôi đau yếu, nên không có chiếc giường nào dành cho ông. Tôi chỉ có một ổ rơm, xin ông vào đó tạm nghỉ qua đêm. Tối hôm đó nhà vua ngủ trong ổ rơm, sáng ra, vua đi sớm. Một tuần sau, vua thân hành trở lại ngôi nhà đó, chủ nhà ra đón với vẻ sợ sệt. Vua chỉ vào chiếc xe chở đầy quần áo, thức ăn, thuốc men, tiền bạc và hỏi: ‘Nhà ngươi có cần những thứ đó không?’. ‘Muôn tâu bệ hạ, hạ thần cần lắm, nhưng hạ thần không xứng đáng nhận’. ‘Nhà ngươi xứng đáng lắm chứ. Trước đây một tuần lễ, có phải ngươi đã cho một người ăn mày ngủ trong ổ rơm của nhà ngươi không? Người ăn mày đó chính là ta. Ngươi thật là người nhân hậu, dầu nghèo khổ vẫn hết lòng giúp đỡ người khác. Nhà ngươi đáng nhận phần thưởng ta ban cho’. Việc nhỏ quá nhưng kết quả to tát quá!

Tôi nghĩ rằng một ngày nào đó Chúa Jêsus tái lâm, những phần thưởng mà Chúa dành cho chúng ta hơn ngàn lần của hoàng đế nước Nga đã cho một nông dân. Ngài bảo rằng: “Ta đến, đem phần thưởng theo với Ta, để trả cho mỗi người tùy theo việc họ làm”. Chúng ta không nghĩ đến phần thưởng, nhưng nghĩ đến điều đẹp lòng Chúa. Chúa bảo rằng: “Ai tiếp đón kẻ thuộc về Ta, tức là tiếp đón Ta. Ai không đón tiếp kẻ thuộc về Ta, tức là không đón tiếp ta vậy. Ai cho kẻ thuộc về Ta uống một ly nước lạnh, cũng không mất phần thưởng của mình đâu”. Đức Chúa Trời không bao giờ quên lòng yêu thương của anh chị em đã tỏ ra vì cớ Danh Ngài, để phục vụ Ngài.

Ôi, nguyện Chúa cho chúng ta dâng của lễ cảm tạ cho Ngài để chính mình Chúa đẹp lòng, chúng ta thông công với Chúa và thông công với nhau. Vua đời nầy còn biết nghĩ đến dân trong nước của mình, ban phần thưởng cho kẻ làm ơn cho vua, phương chi Đức Chúa Trời lại không nghĩ đến chúng ta sao? Xin Chúa cho chúng ta sẵn sàng chia xẻ để Chúa đẹp lòng, anh em cũng được vui và chính mình cũng được phước. Nguyện ý nghĩ Của lễ thù ân sẽ khích lệ chúng ta.

BÀI 24: TẾ LỄ CHUỘC TỘI

Le 4:1-35

Khi một Thầy Tế lễ hoặc cả hội chúng hay môt cá nhân đã phạm tội, thì phải dâng tế lễ chuộc tội cho mình. Tế lễ được dâng bằng một trong các con sinh: Bò tơ, dê đực, dê cái, chiên con, chim cu hay là chim bò câu.

Về cách dâng thì có chỗ giống như Tế lễ thiêu, Tế lễ thù ân, nhưng có chỗ khác nhau. Chúng ta cần ghi nhớ năm ý nghĩ thuộc linh của Tế lễ chuộc tội: 1/ Con sinh không tì vít. 2/ Người dâng phải hay tay đặt trên đầu con sinh. 3/ Người dâng phải giết con sinh. 4/ Con sinh phải thiêu ở ngoài trại quân. 5/ Lời hứa của Đức Chúa Trời.

I. CON SINH KHÔNG TÌ VÍT:

Trong Lê-vi ký đoạn 1,2,3,4 dạy bất cứ ai dùng con vật dâng Tế lễ cho Đức Chúa Trời thì phải là con vật không tì vít. Ngài đã từ trời giáng thế, sống đẹp lòng Đức Chúa Trời, và loài người về mọi phương diện, Ngài không có một tội lỗi nào cả. Trước mặt bao nhiêu người muốn tìm thấy lỗi lầm của Ngài, thì Chúa Jêsus thách đố họ: “Trong các ngươi ở đây có ai bắt ta thú tội được chăng?”. Hết thảy đều ngậm miệng. Những kẻ được sai đi bắt Chúa Jêsus đã trở về và nói rằng: “Chúng ta há chưa hề nghe người nào giảng như vậy”. Vì thế, chỉ một mình Chúa mới có quyền chuộc tội chúng ta.

IPhi 1:18-20 chép: “Vì biết rằng chẳng phải bởi vật hay hư nát như bạc hoặc vàng mà anh em đã được chuộc khỏi sự ăn ở không ra chi của tổ tiên truyền lại cho mình, bèn là bởi huyết báu Đấng Christ, dường như huyết của chiên con không lỗi, không vít đã định sẵn trước buổi sáng thế và hiện ra trong cuối các thời kỳ vì cớ anh em”. Không bởi bạc vàng hay bất cứ điều gì có thể cứu chúng ta khỏi tội lỗi, nhưng bởi Huyết của Chúa Jêsus, như huyết của con sinh không lỗi, không vít, hoàn toàn thánh khiết. Đó là chương trình của Đức Chúa Trời đã dự định từ buổi sáng thế hay là từ khi A-đam và Ê-va là tổ phụ của chúng ta phạm tội. Vì vậy, Kinh Thánh bảo rằng: “Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác, vì ở dưới trời chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu”.

II. NGƯỜI DÂNG PHẢI ĐẶT HAI TAY TRÊN ĐẦU CON SINH:

Khi người đã phạm tội dẫn con sinh không tì vít đến trước Đền thờ, thì việc thứ nhất phải làm là hai tay đặt trên đầu con sinh mà xưng hết mọi tội của mình ra. Điều đó có nghĩa là chất tội của mình trên con sinh, là nhờ con sinh vô tội mang lấy tội của mình và chịu chết thế cho. Một ngàn con chiên, một ngàn con bò cũng không đủ chuộc tội cho một người, nhưng khi người Y-sơ-ra-ên làm như vậy là hướng lòng về Đấng Cứu Thế sẽ chịu chết đền tội cho mình, mà con sinh nầy làm tượng trương. Cho nên, chúng ta ở trong thời Tân ước không còn dùng con sinh làm Tế lễ nữa, vì Chúa Jêsus đã chịu chết cho chúng ta trên Thập tự giá rồi.

Tế lễ chuộc tội có ý nghĩa là mỗi người bởi đức tin đặt tội lỗi của mình trên Chúa Jêsus và thưa rằng: ‘Ngài đã mang tội lỗi của con mà chết thay cho con trên Thập tự giá’. Đó là cách chúng ta nhờ Ngài mà được cứu rỗi. Ở IICo 5:21 chép: “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tỗi lỗi(Chúa Jêsus) trở nên tỗi lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời”. Điều đó có ý nghĩ là Chúa Jêsus tình nguyện mang lấy địa vị tội nhân của chúng ta và chịu chết thay cho chúng ta, để chúng ta được nhận địa vị của Ngài; là địa vị thánh khiết, vinh hiển. Chúa Jêsus bị đối xử như là một tội nhân, để chúng ta được đối xử như một người công bình. Vì vậy, Đức Chúa Jêsus bị Đức Chúa Trời lìa bỏ, để chúng ta được tiếp nhận vào gia đình của Ngài. Chúa Jêsus đã ở trong sự tối tăm ba tiếng đồng hồ, để chúng ta được bước vào sự sáng đời đời. Chúa Jêsus đã bị Đức Chúa Trời xây bỏ để hướng về chúng ta. Chúa Jêsus chịu buồn khổ trong một thời gian, để chúng ta được vui vẻ đời đời trong Thiên đàng. Chúa Jêsus uống cạn chép thạnh nộ của Đức Chúa Trời, để chúng ta uống chén phước hạnh cứu rỗi vĩnh cửu. Tỗi lỗi của chúng ta đã kéo Chúa Jêsus lên Thập tự giá, nhưng Chúa Jêsus lại kéo chúng ta về với Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus đã mang lấy sự rủa sả của chúng ta trên Thập tự giá, để nhờ Ngài Kinh Thánh tuyên bố rằng: “Chẳng có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Chúa Jêsus”.

Bây giờ chúng ta hãy so sánh để thấy rõ. Khi A-đam và Ê-va phạm tội, Chúa đuổi ông bà ra khỏi vườn Ê-đen. Khi dân thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ phạm tội, Chúa đã khiến hủy diệt mọi sinh vật có hơi thở trong lỗ mũi. Đó là do tỗi lỗi của một người, tỗi lỗi của một thành phố, phương chi tỗi lỗi của toàn thể nhân loại trải qua các đời mà Chúa Jêsus đã mang lấy trong thân thể của Ngài. Ôi, Đấng hoàn toàn thánh khiết đã mang lấy tôi lỗi của toàn thể nhân loại, là một sự ghê gớm không thể nào tả được và sự hình phạt nặng nề không thể nào tưởng tượng nỗi.

Có thể đưa ra một thí dụ dễ hiểu. Chúng ta hầu hết đều ghê sợ con rắn. Giả định có một Thành phố có vô số rắn ở trong đó và chúng ta là người bị ném vào trong thành, chúng ta tưởng tượng là mình sẽ ghê sợ là dường nào. Tỗi lỗi chúng ta còn ghê sợ hơn những con rắn đó, nhưng Chúa Jêsus đã mang lấy hết trong thân thể của Ngài. Vì vậy, Đức Chúa Trời Thánh khiết đã lìa bỏ Ngài và Chúa Jêsus đã kêu lên: “Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! Sao Ngài lìa bỏ tôi!”. Vì tiếng hô của Chúa, ông Giăng Báp-tít – đã biết điều đó, nên đã chỉ vào Chúa Jêsus mà nói với các môn đồ: “Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tỗi lỗi thế gian đi”, và Chúa Jêsus là “Chiên Con đã bị giết từ buổi sáng thế” (Kh 13:8b).

III. NGƯỜI DÂNG PHẢI GIẾT CON SINH:

Sau khi người phạm tội đã hai tay đặt trên đầu con sinh đó, xưng hết tội lỗi của mình ra, để nhờ con sinh chịu chết đền tội cho mình, thì chính người phải giết con sinh. Và con sinh đó làm tượng trưng về Chúa Jêsus, thì thử hỏi: Ai giết Chúa Jêsus? Ai đóng đinh Chúa Jêsus trên Thập tự giá? Không phải dân Dothái, không phải đế quốc La-mã, mà toàn thể nhân loại hay nói riêng là mỗi chúng ta. Tất cả chúng ta đã phạm tội và chúng ta đã giết Chúa Jêsus trên Thập tự giá. Vì tôi mà Chúa chịu chết. Nếu không vì chúng ta thì chẳng hề có ai giết Chúa Jêsus, thậm chí nếu không vì chúng ta Chúa Jêsus không cần phải giáng thế. Ngài có cả uy quyền trời đất trong tay, một lời phán của Ngài dựng nên vũ trụ, thì làm sao dân Do thái có thể đóng đinh Ngài trên cây Thập tự. Nhưng Ngài đã tình nguyện chịu chết vì cớ mỗi chúng ta. Mỗi chúng ta phải hiểu sâu xa như vậy và biết rằng: nếu chúng ta tiếp tục tội lỗi thì chúng ta đóng đinh Ngài trên Thập tự giá một lần nữa. Vì vậy, tôi tha thiết khuyên nài các anh, chị đừng bao giờ đóng đinh Ngài trên Thập tự giá một lần nữa, vì chúng ta đã đem Ngài lên Thập tự giá một lần rồi.

Ê-sai 53:4-5 chép: “Thật, Ngài đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta, mà chúng ta lại tưởng rằng Người đã bị Đức Chúa Trời đáng và đập, và làm cho khốn khổ. Nhưng Người đã vì tội lỗi của chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác của chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt Người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bệnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy. Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên Người”. Chúng ta đã giết Ngài trên Thập tự giá, hoặc có nghĩa khác hơn là chính Chúa Jêsus đã chết vì cớ chúng ta, chúng ta phải nói rằng: ‘CHÚA CHẾT VÌ TÔI”.

IV. CON SINH PHẢI THIÊU Ở NGOÀI TRẠI QUÂN:

Sau khi giết con sinh, Thầy Tế lễ lấy huyết con sinh và rảy bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va, “vì không đổ huyết thì không có sự tha thứ”. Tất cả tội lỗi phải nhờ huyết để được tha thứ. Thây của con vật không được phép thiêu trên bàn thờ, mà phải đưa ra một nơi ngoài trại quân, ngoài thành Giê-ru-sa-lem để thiêu hóa tại đó.

He 13:11-12 dạy: “Vả, huyết của con sinh bị thầy tế lễ thượng phẩm đem vào nơi thánh để làm lễ chuộc tội, còn thân thể nó thì đốt đi bên ngoài trại quân. Ấy vì đó mà chính mình Đức Chúa Jêsus đã chịu khổ tại ngoài cửa thành để lấy huyết mình làm cho dân nên thánh”. Đó là lý do Chúa Jêsus chịu đóng đinh trên đồi Gô-gô-tha, ngoài thành Giê-ru-sa-lem. Tỗi lỗi chúng ta là ô uế vô cùng, nên con sinh không được phép dâng trên bàn thờ của lễ thiêu như các con vật khác, mà phải đem ra ngoài trại quân.

Sự thật đó cho chúng ta thấy nỗi khổ của Chúa Jêsus trên Thập tự giá. Khi Phi-lát ra lệnh đóng đinh Chúa Jêsus trên Thập tự giá, thì nhiều người đã chế nhạo và sỉ nhục Ngài. Họ đặt trên đầu Ngài mão triều thiên bằng gai và quất roi da lên lưng Ngài. Rồi họ bắt Ngài vác cây Thập tự mà Ngài sắp chịu đóng đinh. Tôi nhắc sơ lại điều đó để các ông bà thấy tội lỗi của chúng ta lớn lao là dừng nào, sự hình phạt mà chúng ta đáng phải chịu là khủng khiếp làm sao, và đồng thời chúng ta cảm nhận tình yêu bao la của Chúa.

V. LỜI HỨA CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI:

“Cách dâng con bò tơ nầy cũng như cách dâng con bò dùng làm lễ chuộc tội: ấy vậy, thầy tế lễ sẽ chuộc tội cho hội chúng và tội hội chúng sẽ được tha” (Le 4:20). “Ấy vậy, thầy tế lễ sẽ chuộc tội cho người, và tội người sẽ được tha” (Le 4:26b). “Ấy vậy, thầy tế lễ sẽ chuộc tội cho người đó, thì tội người sẽ được tha” (Le 4:35b).

Nhờ dâng Tế lễ chuộc tội mà thầy Tế lễ hoặc Hội chúng, hoặc là cá nhân nào chẳng hạn cũng được tha thứ mọi tội lỗi. Họ được tha thứ không phải đức tin của họ hướng về chiên con, con bò đâu, nhưng đức tin hướng về Đấng Cứu Thế đã chịu chết đền tội cho chúng ta ngày nay. Kinh Thánh bảo: “Ai tin Ngài thì được tha tội. Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác”.

“Vậy nên chúng ta hãy ra ngoài trại quân, đặng đi tới cùng Ngài, đồng chịu điều sỉ nhục” (He 13:13). Chúng ta phải ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, đến đồi Gô-gô-tha để cùng Chúa chịu sỉ nhục. Các ông bà, anh chị có sẵn sàng để cùng Chúa chịu sỉ nhục không? Con người kiêu ngạo, ích kỷ, không bao giờ chấp nhận con đường Thập tự giá. Nhưng đó là con đường phước hạnh, không có một con đường nào khác. Vì Chúa, chúng ta chấp nhận chịu bắt bớ, chịu sỉ nhục, chịu vu oan, chịu bất cứ hoạn nạn nào, để bày tỏ lòng yêu Ngài, lòng biết ơn Chúa, lòng tin của chúng ta đối với Ngài.

Tại một xứ kia, dân hãm còn dã man lắm, chánh quyền muốn dạy chữ cho họ, nhưng không có thầy giáo nào đến dạy được, vì có những học trò 30, 40 tuổi không chịu vâng lời. Nếu rầy họ thì họ cự lại, nếu đánh họ thì họ đánh lại. Vì vậy, không có giáo viên nào dạy được đến một tuần. Nhưng cuối cùng có một giáo viên tình nguyện dạy cho đám người đó. Khi giáo viên vào lớp học, ông viết 10 điều nội qui lên bảng. Ai phạm điều thứ nhất bị 10 roi, điều thứ hai bị 20 roi, điều thứ năm bị 50 roi, điều thứ mười bị 100 roi. Những học trò nghe thầy giáo đọc bản nội qui đó, nhưng không sợ chút nào, vì họ nghĩ nếu thầy giáo thấy một người phạm lỗi mà đem người đó ra đánh thì họ sẽ đứng lên đánh lại thầy giáo.

Thế rồi, đến ngày thứ hai thì một người đã phạm điều thứ nhất và theo nội qui, phải bị đòn 10 roi. Học trò thấy đã có sẵn cây roi và họ chuẩn bị, nếu thấy thầy đánh người của mình thì họ sẽ giựt roi đánh lại thầy, không sợ gì cả. Thầy đọc lại nội qui và tuyên bố: ‘Anh đã phạm điều thứ nhất và phải bị đánh 10 roi. Nhưng tôi biết anh không đủ sức chịu đựng nỗi, vì vậy tôi sẽ chịu thế’. Thấy giáo đưa cây roi cho anh học trò phạm lỗi, rồi tự ông cỡi áo ra và nằm xuống. Ông bảo: ‘Anh phải đánh tôi đủ 10 roi theo đúng luật lệ của nhà trường’. Ai nấy ngạc nhiên quá chừng, tất cả yên lặng. Thầy giáo thúc hối: ‘Anh phải đánh 10 roi mau lên’. Anh học trò không dám đánh và bỏ chạy. Thầy giáo chạy theo bắt anh lại, buộc lòng anh phải đánh một roi nhẹ. Thầy không bằng lòng và bắt anh phải đánh mạnh. Anh cố gắng đánh được hai roi rồi bỏ chạy. Thầy giáo bắt lại và buộc anh phải đánh đủ mười roi. Anh vừa đánh vừa khóc. Cả lớp cũng khóc. Lưng của thầy giáo lằn ngang, lằn dọc đau đớn lắm. Từ đó, tất cả học sinh lớn nhỏ đều ngoan học, kính mến thầy và sống đạo đức, không phải vì sợ thầy bị đánh, nhưng sợ làm cho thầy đau đớn.

Hình ảnh đơn sơ đó cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời cũng đối với chúng ta như vậy. Mỗi chúng ta là những người đã phạm 10 điều răn của Đức Chúa Trời. Chúa không hình phạt chúng ta, nhưng chính Chúa chịu hình phạt thay chúng ta, chính Chúa đã đóng đinh Ngài trên Thập tự giá, chính Chúa đã giết Ngài. Ngài đã tha thứ cho chúng ta, thay đổi đời sống chúng ta như thay đồi đám học trò ngổ nghịch. Chúng ta không dám phạm tội không phải vì sợ hình phạt, nhưng không dám phạm tội vì sợ Ngài bị đau đớn, sỉ nhục và bị đóng đinh trên Thập tự giá một lần nữa. Xin Chúa cho chúng ta thấy được tình yêu của Ngài để cảm tạ, ca ngợi Ngài, và từ nay sống cuộc đời đạo đức, thánh khiết, vinh hiển để không đóng đinh Ngài trên Thập tự giá một lần nữa.

Bài 25: CỦA LỄ CHUỘC SỰ MẮC LỖI

Le 5:14-6:7

Mọi tội của chúng ta đều đã được Chúa tha thứ qua dòng Huyết Ngài đổ ra trên Thập tự giá. Chúa tha thứ một lần đủ cả, song vì hàng ngày chúng ta đã vấp phạm những lỗi lầm đáng tiếc đối với Chúa, đối với người, nên cũng hàng ngày chúng ta được tha thứ. Bài cầu nguyện chung như là bài cầu nguyện hàng ngày, có câu: “Xin tha tội cho chúng con”. Trong IGi 1:7 có chép: “huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta”. Động từ ‘làm sạch’ có nghĩa là làm sạch liên tục để luôn luôn Chúa thấy chúng ta là thanh sạch. Vì vậy, Tế lễ chuộc lầm lỗi là Tế lễ hàng ngày chúng ta phải dâng lên cho Đức Chúa Trời để được tha thứ những lỗi lầm hàng ngày chúng ta vấp phải đối với Đức Chúa Trời hoặc đối với người lân cận.

Cách dâng Tế lễ chuộc tội và chuộc lỗi lầm có chỗ giống nhau, vì đều dâng bằng một con sinh không tì vít, làm của lễ thiêu dâng lên cho Đức Chúa Trời. Năm thứ Tế lễ giống như năm mặt của một viên ngọc, chiếu sáng năm ý nghĩa của Thập tự giá mà Chúa Jêsus chết vì chúng ta.

I. TẾ LỄ CHUỘC LỖI VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI (Le 5:14-19):

Luật pháp của Chúa ban ra, mỗi người Y-sơ-ra-ên phải học cho biết, để khi phạm lỗi lầm, họ biết và sửa ngay. Chúng ta phải cẩn thận trong nếp sống của mình để coi có đúng với luật pháp của Chúa dạy không. Một người dân trong nước phải biết luật pháp để sống đúng với luật pháp đó, chúng ta là công dân thiên quốc cũng phải sống đúng với luật pháp của Đức Chúa Trời, để có một nếp sống xứng đáng, tức là lúc nào cũng thánh khiết. Kinh Thánh bảo rằng: “Tư tưởng ngu dại là tội lỗi”, chúng ta không được phép làm điều ngu dại mà phải sáng suốt, khôn ngoan, tức là biết Chúa dạy gì để làm theo. Vì vậy, hàng ngày chúng ta phải học Kinh thánh, hàng tuần chúng ta phải nhóm lại để vừa đọc, vừa học, vừa nghe, hầu cho biết những lỗi lầm nào mà mình đã phạm mà sửa lại. Tế lễ chuộc lỗi có nghĩa là sửa lại những hư hỏng, những khuyết điểm hàng ngày trong nếp sống của mình. Không ai không soi mặt mình trong gương để biết mặt mình dơ hay sạch, hầu cho nếu dơ thì lau ngay. Cũng vậy, con người thuộc linh phải nhìn theo Kinh thánh, dò theo luật pháp để biết đời sống mình có xứng đáng, có hiệp lẽ hay không. Không phải chúng ta hiểu hết những lỗi lầm đã phạm, vì mình thơ ấu quá trong Chúa. Những anh em mới tin Chúa rất sốt sắng, điều đó rất đáng mừng, nhưng trong sự sốt sắng, họ cũng có lỗi lầm cần sửa lại hàng ngày đối với Chúa và với người.

Thế thì, làm sao chúng ta biết lỗi lầm mà sửa lại? – Khi một người tin Chúa thì được Thánh linh ngự vào đời sống để tái tạo trở nên con cái Đức Chúa Trời. Và chính Thánh linh giúp cho chúng ta để có sự sống thánh khiết, chính sự sống đó nhạy cảm, có nghĩa là khi chúng ta nghĩ gì, nói gì, làm gì sai lầm, thì chính Thánh linh cáo trách tỗi lỗi chúng ta, làm cho chúng ta biết và sửa lại ngay. Ngoài ra, mỗi chúng ta thường được giao thông với Chúa bằng sự cầu nguyện, và khi nào chúng ta phạm lỗi, làm buồn lòng Thánh linh, thì sự giao thông mật thiết với Đức Chúa Trời bị lạnh nhạt, và có thể tiến đến chỗ gián đoạn.

Vì vậy, chúng ta hiểu được rằng lỗi lầm nhỏ nhặt đã gây cho sự sống thuộc linh của chúng ta không lớn mạnh, đồng thời sự giao thông giữa chúng ta với Đức Chúa Trời bị gián đoạn.

Tôi có biết một vài sự thật như thế nầy; Tại Hội Thánh của tôi… trước đây, có một bà đã tin Chúa trước tôi lâu lắm. Bà thuật lại đời sống của bà như thế nầy: ‘Bà ở xa chợ, nhưng một buổi sáng nọ trong khi đi chơi, thì bà được nghe cựu Mục sư Nguyễn Hữu Ninh từ Đà Nẵng vào, vừa đi bán sách vừa làm chứng. Bà chịu cảm động và bằng lòng quỳ gối trong nhà một người Tín đồ để ăn năn tin nhận Chúa. Trưa hôm đó về nhà, ngồi lại bàn ăn cơm – dầu góa bụa, nhưng mỗi bữa ăn đều phải có một chai rượu cho bà. Trưa hôm đó, rót rượu ra, bà nếm thử trước khi ăn cơm, liền la lên: ‘Mấy đứa bây mua rượu ở đâu mà đắng ngét, làm sao uống được?’. Mấy đứa cháu vội thưa: ‘Tụi con mua rượu ở cái tiệm bấy lâu nay nội vẫn mua đó’. Bà đổ ly rượu đó đi rót ly khác, nếm một miếng rồi cũng phun ra, vì đắng quá. Bất chợt có một người quen đi ngang qua nhà, bà chạy ra kêu: “Anh ơi, uống thử hớp rượu nầy coi, mấy đứa nhỏ mua sao đắng quá, tôi không uống nổi!’. Anh đó uống một miếng, rồi nói: ‘Rượu của người ta ngon thế nầy mà chị chê là đắng à?’ Bà ngồi suy nghĩ một hồi, rồi nói: ‘Cũng rượu nầy, anh uống thì khen là ngon, nhưng sao tôi uống lại thấy đắng? Sáng nay tôi đã cầu nguyện theo đạo Tin Lành, có lẽ trong đạo ấy cấm uống rượu chăng?’. Thế là từ đó về sau, bà không uống rượu nữa, vì Đức Thánh Linh đã ngự vào đời sống của bà, và làm một việc mà bà không bao giờ ngờ được. Uống rượu là một việc không được phép mà bà không biết, nhưng Đức Thánh Linh cảm động cho bà biết và bà đã bỏ.

Riêng tôi cũng có một kinh nghiệm như vậy. Sau khi tin Chúa, tôi biết không được ăn đồ cúng, vì là cúng tế ma quỉ, và chúng ta không có phép thông công với nó. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng mình có thể ăn nhưng đồ không cúng, vì vậy, tôi đến nhà các anh chị tôi nhằm ngày cúng tế. Họ nói với tôi: ‘Mời chúa Bảy ăn với tôi. Đây nè, đồ không cúng tôi để riêng’. Tôi ăn, nhưng sau khi ăn xong, về nhà tôi thấy nhột nhạc đau đớn: ‘Mình đến đám cúng thì có cái gì riêng cho mình được’. Vì vậy, tôi cảm thấy buồn và hối tiếc. Kể từ đó, tôi chẳng bao giờ ăn một đám cúng nào, hoặc quen hay là lạ, dầu họ nói rằng để riêng phần cho tôi đi chăng nữa. Đức Thánh Linh hành động trong mỗi chúng ta, khiến chúng ta nhận biết lỗi lầm của mình, trừ phi chúng ta chai lì, dập tắt Thánh Linh thì chúng ta không nghe thấy gì khi có những lỗi lầm xảy ra.

Chúa bảo: “Khi một người Y-sơ-ra-ên vô tình hay cố ý phạm những vật thánh, thì bị kể là mắc lỗi lầm”. Chúng ta phải phân biệt hai điều nầy: Tội đã được tha thứ trong dĩ vãng một lần đủ cả, và lỗi lầm hàng ngày trong nếp sống. Về lỗi lầm hàng ngày trong nếp sống, thì người Y-sơ-ra-ên có thể phạm những vật thánh bằng cách ăn trộm một phần mười của Chúa. Ma 3:8 chép: “Người ta có thể ăn trộm Đức Chúa Trời sao? Mà các ngươi ăn trộm ta. Các ngươi nói rằng; Chúng tôi ăn trộm Chúa ở đâu? Các ngươi đã ăn trộm trong các phần mười và trong các của dâng”. Phần mười và lạc hiến là hai hoa lợi thuộc về Đức Chúa Trời, là những vật thánh, những vật biệt riêng ra cho Chúa. Nếu người Y-sơ-ra-ên nào không dâng cả hai, phần mười và lạc hiến, thì kể là ăn trộm của Đức Chúa Trời. Khi nào họ phạm như vậy thì lương tâm của họ bị cáo trách, mất sự giao thông với cha mình ở trên trời. Nếu họ nhận ra mình có lỗi, thì phải làm hai việc nầy: 1.Phải bắt một con chiên đực đến đền thờ dâng Tế lễ chuộc sự mắc lỗi. 2. Đồng thời, phải hoàn lại số phần mười đó và thêm một phần năm. Thí dụ: Phần mười của tôi dâng lên cho Chúa là 100 đồng, nhưng tôi đã không dâng. Sau một thời gian tôi biết lỗi, không những tôi xin Chúa Jêsus tha thứ cho tôi, nhưng đồng thời tôi phải hoàn lại cho Đức Chúa Trời 100 đồng và thêm một phần năm, tức là thêm 20 đồng nữa. Điều đó bởi ân điển của Chúa, chớ không phải là việc nhỏ mọn đâu, vì của lễ thánh mà chúng ta làm cho nó trở nên phàm tục, thì phạm tội trước mặt Đức Chúa Trời.

Vua Bên-xát-xa của nước Ba-by-lôn mở một bữa tiệc trong đại. Vua đem các vật dụng lấy trong đền thờ Giê-ru-sa-lem mà người ta đã dùng để thờ phượng Đức Chúa Trời để đãi tiệc. Ngay trong giờ phút đó, vua thấy bàn tay hiện ra trên tường, viết bản án của vua. Ngay trong đêm đó, nước Ba-by-lôn bị mất và rơi vào tay người Ba-tư. Những lỗi lầm như vậy phải sẵn sàng xưng ra và lìa bỏ.

Nhưng trong Le 5:5 có dạy: “Vậy, khi nào ai mắc tội về một trong các điều nầy, thì phải xưng mình phạm tội chi”. Chúng ta không có phép nói rằng: ‘Lạy Chúa, con có tội, xin Chúa tha thứ’, nhưng phải nói rằng: ‘Con đã phạm tội ăn cắp một phần mười, hoặc là đã ăn cắp một phần thì giờ, vì không nhóm lại sáng Chúa nhật, hoặc là đã phạm bất cứ một hình thức nào, đều phải kể ra từng điều một.

Ngày nọ, Chúa Jêsus đến thăm ông Xachê ở tại thành Giê-ri-cô. Ông tiếp Ngài vào nhà của mình, cũng tiếp Ngài vào tại đời sống của mình nữa. Xachê đứng trước mặt Chúa và mọi người tuyên bố: ‘Tôi lấy những gia tài mình mà cho kẻ nghèo, và nếu có làm thiệt hại ai bất kỳ việc gì, tôi sẽ đến gấp tư”. Chúa Jêsus nói rằng: “quả thật, người nầy cũng là con cháu Áp-ra-ham”, tức là người Y-sơ-ra-ên thật, sống theo luật pháp của Đức Chúa Trời, sẵn sàng xưng tội và đền bù.

Nếu chúng ta xúc phạm đến Chúa thì không có lỗi nào được bỏ qua, mà hết thảy đều có sự hình phạt, nhưng nếu muốn thoát khỏi sự hình phạt, thì phải có sự chuộc lỗi và đền bù. Luật pháp của Chúa thì một chấm, một nét cũng không bỏ qua được. Không ai được phép nói rằng: ‘Tôi ăn ở theo lương tâm. Lương tâm của chúng ta khi nầy khi khác, luôn luôn thay đổi và tội lỗi làm cho lu mờ. Chúng ta phải sống theo luật pháp của Chúa, tức là luật pháp không hề thay đổi. Đừng hạ thấp sự thánh khiết của Chúa Xuống, nhưng chúng ta phải vươn mình lên sự Thánh khiết của Ngài. Chúng ta không thể phạm tội và cứ tiếp tục phạm tội, rồi xin Hội Thánh bỏ qua cho, và xin Đức Chúa Trời thông cảm cho. Luật pháp của Chúa không phải là trò chơi, ai muốn bẻ cong cũng được, ai muốn giải nghĩa thế nào cũng được, nhưng sự Thánh khiết của Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta phải vươn lên, chớ không bao giờ kéo Xuống để ngang hàng với nếp sống thấp hèn phàm tục. Vì vậy, mỗi chúng ta hàng ngày phải sống xứng đáng. Hàng ngày xin Chúa tha thứ và sửa lại những sai lầm, phạm đến luật pháp của Ngài.

II. MẮC LỖI VỚI NGƯỜI LÂN CẬN (Le 6:1-7):

Ở trong Le 6:1-7 nêu ra năm điều con người thường mắc lỗi với nhau, và cũng cần phải ăn năn, sửa lại, đền bù để được tha thứ.

1- Lấy của người ta gởi. Bởi sự tin cậy nhau, người nầy gởi cho người kia vàng, bạc, của cải để nhờ giữ giùm một thời gian. Nhưng người giữ giùm lại phản bội, lấy làm của riêng, hay là đem bán đi. Người đó đã phạm tội và phải làm hai điều là dâng Tế lễ chuộc tội với Đức Chúa Trời và trả lại tất cả vàng, bạc, của cải mình đã nhận giữ giùm và thêm một phần năm trong số của cải đó.

2- Trọm cướp, lấy của người lân cận. Trong trường hợp trộm cướp hoặc lấy của người lân cận, người phạm lỗi phải hoàn lại của cải cho người mình đã lấy và thêm một phần năm, rồi đối với Chúa cũng phải dâng Tế lễ chuộc tội bằng một con sinh.

3-Lượm của rơi ngoài đường. Lượm của rơi hoặc của ở ngoài đường mà mình biết chủ nó, hoặc là người ta bỏ quên hay là người ta trả tiền mình mà dư, thay vì 100 đồng mà người ta lại đưa đến 120 đồng, thì chúng ta phải tìm người chủ trả lại vật mà chủ đã quên đi, hoặc vật mà họ làm rớt, hoặc tiền mà họ trả dư. Nếu chúng ta không trả ngay, mà đợi một thời gian lâu ngày, đến khi Thánh linh cáo trách mà mình ăn năn, mình phải hoàn lại đủ số và phải bồi thường một phần năm, rồi dâng Tế lễ chuộc sự mắc lỗi để được Chúa tha thứ.

4- Hà hiếp hay cưỡng bách người lân cận để cướp giợt của cải. Nếu chúng ta hà hiếp hay cưỡng bách người lân cận để cướp của cải người đó, thì phải hoàn lại đủ số, phụ thêm một phần năm giá trị của nó, đồng thời dân con sinh để làm của lễ chuộc tội.

5- Đừng trả rẽ tiền công khi mướn thợ. Nếu mướn một người làm công thì đừng bao giờ lợi dụng cơ hội người ta thất nghiệp mà trả rẻ, hoặc khi người ta làm xong mình không trả tiền công ngay, mà cứ hẹn lại ngày mai, ngày mốt. Nếu giá mỗi ngày bao nhiêu, chúng ta phải trả theo luật công bình và tình thương. Nếu ta không làm như vậy thì lương tâm bị cáo trách, làm buồn lòng Thánh Linh, mất sự tương giao với Chúa. Chúng ta phải sửa lại điều đó. Phải trả đủ và phải trả thêm nữa.

Tôi đi xích lô từ A đến B. Anh xích lô đồng ý giá 20 đồng. Tôi trả đúng 20 đồng, nhưng khi tôi trở về anh xích lô khác chỉ nói giá 15 đồng. Khi tới nơi, tôi không trả 15 đồng mà trả 20 đồng, vì theo luật công bình. Tôi trả anh kia 20 đồng thì tôi cũng phải trả anh nầy 20 đồng. Nếu tôi thêm được thì tốt, chớ không bớt của anh ấy, nhưng nếu thấp hơn thì tôi phải trả đủ 20 đồng chớ không bao giờ trả thiếu. Lương tâm tôi không cáo trách vì tôi không cướp tiền công của họ. Anh ấy đạp xích lô, tôi có tiền và anh ấy có công, tôi phải trả đàng hoàng.

Chúng ta phải sửa lại những việc xem như là quá tầm thường, nhưng bất công, bất nghĩa với người và lỗi với Chúa nữa. Le 6:2-3 dạy: “Khi nào ai mắc tội phạm đến Đức Giê-hô-va, hoặc nói dối cùng người lân cận mình về đồ vật gởi hay là tin mà giao cho, hoặc về một tài vật trộm cắp, hoặc giựt lấy của người lân cận mình: hoặc nếu xí được một của mất mà nói dối về của đó, hoặc thề dối về một trong các việc người ta phạm tội được”. Khi nào mắc tội như thế phải ăn năn. Khi chúng ta làm hại anh em, thì chúng ta không phải chỉ mắc tội với anh em mình mà thôi, còn mắc tội với Chúa nữa, vì anh em của mình thuộc về Chúa, làm hại anh em mình là làm hại chính mình Chúa, đụng đến anh em mình là đụng đến Chúa. Nếu chúng ta không làm lợi cho anh em mình cũng là tội rồi, huống chi là hại họ.

Chúa nói trong Ma-thi-ơ 25 là khi Ngài trở lại sẽ có một cuộc phán xét, để chia loài người ra làm hai, kẻ lành ở bên hữu, kẻ dữ ở bên ta. Ngài nói với những người ở bên hữu: “Hãy đến hưởng phần Thiên đàng mà Ta đã dành cho các ngươi từ buổi sáng thế, vì ta đói các ngươi cho Ta ăn, Ta khát các ngươi cho Ta uống, Ta rách các ngươi cho Ta mặc, Ta đau yếu các ngươi thăm viếng Ta, Ta bị tù các ngươi chăm sóc…”. Những người bên hữu thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng tôi đã thấy Chúa đói, mà cho ăn; Chúa khát mà cho uống, có bao giờ Chúa bị tù mà chúng tôi thăm viếng đâu?”. Nhưng Chúa bảo rằng: “Vì các ngươi làm những việc đó cho anh em Ta, là làm cho chính mình Ta vậy”. Chúa phán với những kẻ ở bên tả: “Hãy đi vào hỏa ngục đời đời đã sắm sẵn cho các ngươi cùng quỉ sứ nó, vì Ta đói các ngươi không cho Ta ăn, Ta khát các ngươi không cho Ta uống, Ta đau, Ta bị tù các ngươi không thăm viếng, không chăm sóc”. Những người bên tả thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng tôi thấy Chúa đói mà không cho ăn, có bao giờ Chúa đau mà không thăm viếng đâu?”. Chúa bảo rằng: “nếu các ngươi đã không làm việc đó cho một kẻ hèn mọn thuộc về anh em, thì đã không làm cho Ta”.

Không làm tốt cho anh em mình đã là tội rồi, phương chi làm xấu cho anh em mình nữa. Vì vậy, huyết của Chúa Jêsus không những tha thứ mọi tội chúng ta, mà còn thay đổi đời sống của chúng ta, tức là thay đổi nếp sống tệ bạc, xấu xa thành nếp sống cao thượng, tốt đẹp. Từ một kẻ bị rủa sả, chúng ta trở nên những kẻ được phước, từ một công cụ của ma quỉ, trở nên sứ giả của Đức Chúa Trời, từ một con cái của sự tối tăm, trở nên con cái của sự sáng láng, từ một lòng ích kỷ, chỉ tìm thú vui riêng mình mà thôi, trở nên nôlệ của xác thịt, trở nên một đầy tớ của Đức Chúa Trời, từ một người chắt bóp, hà tiện, trở nên một người bố thí, rộng rãi.

Đối với Đức Chúa Trời, chúng ta dâng hiến đầy đủ một phần mười và các của dâng, đối với anh em, chúng ta không làm hại ai. Giả định tôi đã lại hại ai, thì tôi phải hoàn lại cho họ và bù thêm cho họ nữa. Kính viễn vọng của nhà thiên văn cho họ thấy bầu trời bao la đẹp đẽ vô cùng. Nhưng kính hiển vi cho các nhà khoa học thấy những con vi trùng thật nhỏ. Điều đó có nghĩa là lời của Đức Chúa Trời hay là luật pháp của Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy muôn vàng vẻ đẹp trên thiên đàng mà Chúa dành cho chúng ta, đồng thời cũng cho chúng ta thấy những tội lỗi nhỏ mọn hơn hết, để xin Chúa tha thứ, và lúc nào mình cũng thánh khiết, xứng đáng ở trên thiên đàng bao la, vô cùng đẹp đẽ đó. Tội lỗi nào Chúa cũng tha, miễn là chúng ta sẵn sàng xưng ra và từ bỏ. Nếu không sửa lại đời sống mà cứ miệt mài trong tội lỗi, thì phải hiểu rằng tội lỗi ban đầu nhỏ lắm, giống như một bức màn đen che khuất Đức Chúa Trời với chúng ta, chúng ta cầu nguyện nhưng thấy Đức Chúa Trời cách mập mờ. Nếu chúng ta cứ sống như vậy, thì chiếc màn đen ấy sẽ trở thành một chiếc mền dày, phần cách chúng ta với Chúa, đến nỗi sự cầu nguyện rườm rà của chúng ta không lên khỏi mái nhà, không thấu đến ngôi Đức Chúa Trời được. Nhưng nếu chúng ta không ăn năn để được cất đi kịp thời, thì chiếc mền đen trở thành một bức tường đen, và Chúa và chúng ta bị ngăn cách, chúng ta sống cô đơn trong Thế Giới tối tăm, tuyệt vọng như không có Đức Chúa Trời.

Thưa các ông bà, anh chị, hãy coi chừng những lỗi nhẹ, hãy coi chừng những điều mà chúng ta tưởng không đáng kể. Nếu mình giữ lại thì nó mỗi lúc lớn hơn, mỗi lúc nó nặng hơn. Vì vậy, Tế Lễ chuộc lỗi lầm là Tế Lễ cuối cùng, nhưng rất là quan trọng. Tội lỗi của chúng ta được Chúa tha thứ rồi, dĩ vãng Chúa không còn nhớ đến nữa. Nhưng trong hiện tại, có lỗi lầm hàng ngày, hoặc vô tình hay cố ý đối với Chúa, đối với nhau, chúng ta phải sửa lại ngay. Nếu ai chưa biết dâng một phần mười và các của dâng hiến khác thì hãy làm. Nếu ai không trung tín sinh hoạt với Hội Thánh để tôn vinh Chúa, hãy lập lại sự thờ phượng cho xứng đáng. Nếu có lỗi lầm với anh em mình, hoặc là giữ trong nhà mình một số tiền nào, một vật dụng nào không phải là của mình, thì phải thanh toán, hoàn lại cho chủ nó và trả thêm phần bồi thường, hầu cho chúng ta được xứng đáng. Nhưng việc làm đó giúp chúng ta sẵn sàng nhìn mặt anh em mình, lúc nào cũng sẵn sàng đối diện với Đức Chúa Trời qua sự Cầu nguyện, giữ mối tương giao mật thiết không bao giờ bị gián đoạn, không bao giờ bị lu mờ, đời sống thật thánh khiết, bình an, vui vẻ, hạnh phúc, dầu hoàn cảnh như thế nào, chúng ta vẫn nếm được mùi vị của Thiên đàng.

Bài 26: TỘI XÚC PHẠM ĐỨC CHÚA TRỜI

Le 10:1-11

Mỗi chúng ta vô luận nam phụ lão ấu, đều là những Thầy Tế Lễ của Đức Chúa Trời. Vì thế, mỗi hành động của chúng ta đều tương quan đến Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta làm đúng là tôn vinh Chúa, nếu chúng ta làm sai là sỉ nhục Đức Chúa Trời, xúc phạm đến chính mình Đức Chúa Trời.

Hai Thầy Tế Lễ Na-đáp và A-bi-hu thi hành chức tế lễ trong Đền Thánh nhưng họ đã là sai, tức là xúc phạm đến Đức Chúa Trời, và hậu quả rất thê thảm. Mỗi chúng ta hôm nay phải cẩn thận để kẻo e chúng ta cũng đi vào con đường dấu xe đã đổ đó chăng?

I.TỘI DÂNG HƯƠNG BẰNG LỬA LẠ (Le 10:1):

Chúa ban mệnh lệnh cho Na-đáp và Abihu rằng: “Khi nào dâng hương thì phải lấy lửa tại Bàn thờ của lễ thiêu, nơi con chiên đã chịu giết”. Nhưng hai Thầy Tế Lễ nầy đã dâng hương bằng một thứ lửa la, tức không phải lửa trên Bàn thờ của lễ thiêu, mà lấy lửa từ một nơi khác, do họ theo ý kiến riêng mình mà tìm. Vì vậy, chúng ta thấy họ xúc phạm đến sự thánh khiết của Chúa. Có lẽ hai Thầy tế lễ dâng lửa lạ vì bướng bỉnh, họ nghĩ rằng lửa nào cũng vậy. Họ thiếu kính sợ Đức Chúa Trời, thiếu lòng cẩn thận, thiếu sự chu đáo. Cũng có lẽ họ hiếu kỳ, lửa tại bàn thờ của lễ thiêu họ đã dâng hàng ngày trải qua một thời gian. Bây giờ họ muốn dâng một thứ lửa lạ, tức là làm cho nó mới hơn. Những điều cũ đã cũ quá rồi, tưởng rằng những điều mới có thể làm tốt hơn mạng lệnh của Đức Chúa Trời, nên họ đã bị lửa từ bàn thờ thiêu hóa họ. Mỗi chúng ta phải coi chừng mình cũng ở trong tinh thần như vậy.

1- Bướng bỉnh là cứng đầu, ngang ngạnh nên không cẩn thận, không chu đáo làm đúng theo mạng lệnh của Chúa. Hành động bừa bãi đó do lòng không kính sợ Chúa mà ra. Làm cho có làm, thế nào xong thôi, bạ đâu làm đó, không theo nguyên tắc kỷ luật.

a/ Sáng Chúa nhật, đáng lẽ người Tín đồ phải chuẩn bị quần áo sạch sẽ, tươm tất, hoặc chọn những quần áo tốt nhất của mình để đi thờ phượng, nhưng một số người lại mặc quần áo lếch thếch, đến không đúng giờ.

b/ Không chuẩn bị số tiền sẽ dâng cho Chúa, dâng bao nhiêu cũng được tiền rách cũng xong.

c/ Cầu nguyện là một thức hương dâng lên cho Chúa, nhưng nhiều người cầu nguyện như nói chơi, xem thường sự cầu nguyện như thầy Tế lễ Na-đáp và Abihu dâng lửa lạ.

Tr 5:1 dạy: “Khi ngươi vào nhà Đức Chúa Trời, hãy giữ chừng chân mình. Thà lại gần mà nghe, hơn là dâng của tế lễ kẻ ngu muội; vì nó không hiểu biết mình làm ác”. Na-đáp và A-bi-hu đã dâng tế lễ ngu muội, do cá tánh kỳ hoặc của mình gây ra, tưởng rằng một điều mới lạ, như vậy sẽ vui lòng Đức Chúa Trời. Nhưng vượt qua mạng lệnh của Đức Chúa Trời là xúc phạm đến Ngài, là một tội rất nặng. Mỗi chúng ta có thể bị cám dỗ mà hành động theo tánh hiếu kỳ của mình. Chúng ta nghĩ rằng Hội Thánh mấy ngàn năm qua cứ sinh hoạt như thế nầy không có gì mới, và chúng ta đã cố tạo ra những điều mới mẻ cho Hội Thánh. Lịch sử chứng minh rằng; do những điều mới mẻ đó mà có tà giáo xen vào trong Hội Thánh, và phá hoại từ bên trong, gây nhiều đổ vỡ đáng tiếc. Ma quỉ cũng cố gắng xúi giục ta tìm kiếm những gì mới lạ và áp dụng những điều của trần gian vào trong Hội Thánh, tưởng làm cho Hội Thánh tốt đẹp hơn, nhưng chỉ phá hoại dễ dàng hơn. Vì vậy, Chúa đã cấm rất nghiêm đối với vấn đề nầy và Ngài không bao giờ chấp nhận những gì từ loài người đến. Dầu loài người có những ý tưởng tự coi mình là tốt, nhưng chỉ tốt đối với chúng ta chớ không tốt đối với Đức Chúa Trời, mới lạ đối với chúng ta chớ không mới lạ đối với Đức Chúa Trời. Chúa bảo Môi-se hàng chục lần: “Hãy làm theo điều mà Ta chỉ cho ngươi trên núi”. Nếu mỗi tín đồ tự ý thêm vào hay là bớt đi điều gì mình cho là xấu, hoặc tốt thì Hội Thánh sẽ tan nát, Đức Chúa Trời không còn làm chủ Hội Thánh, Hội Thánh chỉ còn mang danh là Hội Thánh của Đức Chúa Trời, kỳ thật là của ma quỉ.

2- Tôi tha thiết khuyên nài các ông bà phải cẩn thận, đừng xúc phạm đến Đức Chúa Trời trong khi chúng ta nhân danh Ngài mà đi nhà thờ, dâng tiền, cầu nguyện hay làm bất cứ điều gì. Trong mọi sự hãy áp dụng đúng lời Chúa dạy.

Chúa truyện dặn Giô-suê: “Quyển sách luật pháp nầy chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong”. Chúa lại dặn trong Kh 22:18-19: “…Nếu ai thêm vào sách tiên tri nầy điều gì, thì Đức Chúa Trời sẽ thêm cho người ấy tai nạn đã ghi chép trong sách nầy. Và kẻ nào bớt điều gì trong những lời ở sách tiên tri nầy, thì Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần họ…”. Một chấm, một nét của lời Chúa không hề qua đi, vì vậy, suốt 75 năm, lịch sử của Hội Thánh Tin lành Việt nam, Hội Thánh vẫn giữ vẹn tinh thần theo Chúa. Mỗi khi chúng ta giảng dạy là giảng dạy theo Kinh thánh. Nếu tôi giảng sai thì các ông bà phải lên tiếng, bất cứ ai giảng sai các ông bà cũng phải lên tiếng, đừng để ma quỉ lợi dụng đem những điều xấu vào trong Hội Thánh như Na-đáp và Abihu.

II. HẬU QUẢ CỦA TỘI XÚC PHẠM ĐỨC CHÚA TRỜI (Le 10:2):

“Một ngọn lửa từ trước mặt Đức Giê-hô-va loè ra, nuốt tiêu họ và họ chết trước mặt Đức Giê-hô-va”. Nếu Na-đáp và Abihu làm đúng theo mạng lệnh của Chúa, họ được phước biết bao nhiêu, vì được ra trước sự hiện diện của Chúa, được dâng hương cho Ngài, nhưng vì làm sai, họ đã chết. Đức Chúa Trời cao cả và thánh khiết, Ngài không dung chịu được Thầy tế lễ trái mạng lệnh của Ngài, vì xem thường mạng lệnh đó. Không những thế, chúng ta thấy A-rôn là cha của Na-đáp và Abihu cũng không được phép nói một lời, tức là phải cúi đầu yên lặng chấp nhận biện pháp của Chúa. Tội lỗi là sự chết. Dầu hai Thầy tế lễ không chết phần linh hồn, nhưng thể xác họ phải chết để làm gương cho chúng ta trải qua các đời. Đức Chúa Trời hết sức yêu thương chúng ta đến nỗi đã đổ huyết ra để phiếu trắng tội lỗi của chúng ta, hầu cho chúng ta sống cuộc đời thánh khiết, chớ không phải tiếp tục trong tội lỗi. Chúng ta thường lệch lạc mà nghĩ rằng: Chúa là Đấng yêu thương mà lợi dụng tình thương của Chúa mà sống bừa bãi, sống bướng bỉnh, sống bê tha, sống vô kỷ luật, muốn làm gì thì làm. Không phải điều gì chúng ta cho là tốt thì tốt thật đâu, chỉ khi nào Đức Chúa Trời cho là tốt thì mới thật tốt. “Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật và rất xấu xa”. Phao-lô đã viết: “Tôi biết rằng trong tôi không có điều tốt lành nào cả”. Chúng ta càng gần Chúa bao nhiêu thì phải cẩn thận với Chúa bấy nhiêu. Chúng ta không thể vì được sống gần với Đức Chúa Trời mà dễ ngươi.

Ngày nay, khi chúng ta xúc phạm đến Đức Chúa Trời, Ngài không hình phạt chúng ta phải ngã chết tức khắc, nhưng đời sống thuộc linh của chúng ta bị chết, vì tội lỗi đã cắt đứt sự tương giao của Đức Chúa Trời và chúng ta. Nếu không ăn năn, càng lúc chúng ta càng xa Chúa, chìm sâu trong tội lỗi và đi vào con đường của ma quỉ. Tôi đã tin chúa hơn 50 năm qua và 50 năm trong chức vụ hầu việc Chúa, mỗi lúc tôi thấy run sợ hơn, không dám dễ ngươi mà tưởng rằng mình khôn ngoan, hiểu biết. Tôi thưa với Đức Chúa Trời: “Mỗi bước tiến trên con đường thuộc linh, con thấy mình thiếu thốn nghèo nàn, không ra chi cả, nhưng cảm tạ Chúa, bởi vì ân điển Ngài đã xức dầu mới, ban sức mới cho con, để con xứng đáng hầu việc Ngài”. Tôi cậy sự hướng dẫn của Chúa và cẩn thận từng ly, từng li, để không mắc tội xúc phạm đến Chúa.

III. NGUYÊN DO GÂY NÊN TỘI (Le 10:8-11)

“Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng A-rôn rằng: Khi nào vào hội mạc, ngươi và các con trai ngươi chớ nên uống rượu hay là uống vật chi có tánh say, e phải chết chăng: – ấy là một mạng lịnh đời đời, trải các thế đại, hầu cho các ngươi được phân biệt điều thánh và điều chẳng thánh, sự khiết và sự chẳng khiết, và dạy dân Y-sơ-ra-ên các mạng lịnh mà Đức Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền dặn cho”.

Vì sao có mạnh lệnh nầy? _ Vì hai Thầy tế lễ Na-đáp và Abihu đã say rượu khi thi hành chức vụ trong đền thờ, nên không còn tự chủ, nhận định sai lầm và họ đã nhận lấy hậu quả buồn thảm.

Chúng ta sống trong sự hiện diện của Chúa, Ngài ngự trong lòng chúng ta. Hàng ngày chúng ta dâng hương cho Ngài bằng lời cầu nguyện và chúng ta đừng bao giờ lệch lạc mà nghĩ rằng mình có thể uống rượu. Tín đồ không được uống rượu “vì rượu khiến người ta nhạo báng, đồ uống say làm cho hỗn hào” (Ch 20:1). Người say rượu chỉ làm trò cười và phiền hà cho người khác mà thôi. Nếu ở đâu có người say đang ngồi, chúng ta cũng không dám đến gần. Chúng ta đừng bao giờ viện lý do ‘ tôi uống không say’, để cứ uống rượu. Có ai nói rằng tôi uống thuốc độc miễn là không chết không? Không ai dại như thế! Rượu là chất độc, nó hành hại cơ thể, phá hoại đền thờ của Đức Chúa Trời, nó làm cho con người mất sự sáng suốt, sống theo những ham muốn của xác thịt, gây ra nhiều tội lỗi. Chúng ta phải tránh xa rượu, để tránh hậu quả buồn thảm như Na-đáp và Abihu. Chúng ta phải giữ tâm trí sáng suốt, bình tĩnh luôn luôn, để suy gẫm Lời của Đức Chúa Trời và sống theo Lời Ngài. Phước hạnh cho người nào biết ý Chúa và sống theo ý của Ngài.

Một ngày nọ, ma quỉ đến với Chúa Jêsus và cám dỗ Ngài: ‘Ngài không cần phải lên Thập tự giá chịu chết để đền tội cho nhân loại, Ngài chỉ cần lên nóc đền thờ nhảy Xuống. Nếu Ngài là Đức Chúa Trời, thiên sứ sẽ bảo vệ Ngài và Ngài sẽ an toàn. Khi dân Do thái thấy như vậy, họ sẽ tin Ngài là Đấng Cứu Thế’. Nhưng Chúa Jêsus đáp: ‘Ngươi đừng thử Chúa là Đức Chúa Trời ngươi’. Chúng ta thường bị ma quỉ cám dỗ làm điều nầy, điều kia để tỏ ra ‘Ta đây đạo đức hơn người’. Người đạo đức hơn hết là người khiêm nhường hơn hết. Người đạo đức hơn hết là người vâng phục Đức Chúa Trời hơn hết. Mỗi khi có vấn đề gì xảy ra trong đời sống của mình, chúng ta phải lấy Kinh Thánh ra đọc và suy gẫm, để xem Chúa dạy mình như thế nào. Chúng ta đừng để thế gian, xác thịt Xuấti giục làm những việc mới lạ, ngoài ý của Đức Chúa Trời. Chính tinh thần vâng phục Chúa mới gây dựng Hội Thánh và đem đồng bào đến với Chúa. Nếu chúng ta không vâng phục Chúa thì chỉ phá hoại Hội Thánh và đưa đồng bào mình đến với ma quỉ. Hãy luôn luôn thưa với Chúa: ‘Xin cho con bước đi trong Thánh ý của Ngài, cho con có cuộc sống đẹp lòng Ngài để gây dựng Hội Thánh và đưa đồng bào con đến với Ngài’. Chính Chúa Jêsus khi đến thế gian đã long trọng tuyên bố: ‘Ta không làm theo ý muốn của Ta, nhưng làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến’. Thử hỏi: Ý riêng của Chúa Jêsus còn tốt hơn ý riêng của chúng ta hàng ngàn lần, mà Ngài vẫn không làm theo ý riêng của mình, nhưng làm theo ý cha, thì chúng ta là ai mà tưởng rằng không cần tuyệt đối vâng phục Đức Chúa Trời? Chúng ta đừng để ma quỉ cám dỗ mình vào con đường xúc phạm đến Đức Chúa Trời như thế. Nếu chúng ta yêu mến và vâng phục Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ đầy dẫy lòng chúng ta, đến nỗi Đức Thánh Linh sẽ dạy dỗ, sẽ dẫn dắt chúng ta trong mọi công việc. Công việc do Thánh linh thực hiện sẽ tồn tại mãi mãi.

Hội Thánh trải qua hơn hai mươi Thế kỷ như bầy chiên yếu đuối, dại khờ, nhưng Hội Thánh vẫn luôn luôn phát triển, lan tràn khắp thế giới và sẽ cứ tồn tại đến ngày Chúa Tái lâm, vì Chúa ở với Hội Thánh, dạy dỗ hướng dẫn Hội Thánh. Vì vậy, chúng ta đừng đưa ý riêng mình vào, đừng sốt sắng theo xác thịt, đừng hành động theo tư tưởng dại dột mà cứ tưởng là khôn ngoan, vì sự khôn ngoan của loài người chỉ là dại dột trước mặt Đức Chúa Trời mà thôi.

Sau-lơ và Đa-vít là hai vị vua, nhưng có hai đường lối khác nhau: Sau-lơ không vâng theo lời Đức Chúa Trời. Ngày nọ, Sau-lơ lập một bàn thờ. Việc dâng tế lễ chỉ có Sa-mu-ên được phép thực hiện, nhưng khi Sa-mu-ên chậm đến, Sau-lơ đã tự ý dâng tế lễ. Khi Sau-lơ dâng tế lễ xong, thì Sa-mu-ên đến. Sa-mu-ên nói với Sau-lơ “Ngươi thật có làm ngu dại, không vâng theo mạng lệnh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã truyền cho…Nước ngươi sẽ không bền lâu. Đức Giê-hô-va đã chọn lấy cho mình một theo lòng Ngài”. Dầu Sau-lơ có dâng bao nhiêu Tế lễ cũng không giá trị gì, vì không vâng lệnh Chúa xúc phạm đến sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Đa-vít đã chứng kiến điều đó, nên ông luôn luôn vâng lời Đức Chúa Trời. Dầu có vài lần ông sai phạm, phải ăn năn ngay đừng cố chấp.

Bởi ân điển và quyền năng của Chúa, chúng ta được dự phần vào việc thờ phượng Chúa: Giảng dạy, ca ngợi, đánh đàn, dâng tiền cầu nguyện…Chúng ta phải thờ phượng Chúa cách hết lòng, hết trí, hết linh hồn. Phải cẩn thận, kẻo e chúng ta xúc phạm đến sự thánh khiết của Đức Chúa Trời mà chuốc lấy sự rủa sả cho mình. Đừng say rượu để lúc nào chúng ta cũng sáng suốt và áp dụng triệt để Lời Chúa vào trong đời sống mình. Có điều gì chúng ta còn nghi ngờ, không biết đúng ý Chúa không, thì đừng bao giờ thực hiện. Kinh Thánh dạy: “Điều gì không bởi đức tin mà làm thì phạm tội”. Đừng bao giờ bướng bỉnh và làm theo tánh hiếu kỳ, thích những điều mới lạ. Hãy sống trong kỷ luật của Chúa để gây dựng Hội Thánh và đón nhiều người về với Chúa.

Nguyện Chúa dùng gương của Na-đáp và A-bi-hu răn dạy chúng ta trong nếp sống Đạo hằng ngày.

Bài 27: SỰ PHÀN NÀN CỦA DÂN Y-SƠ-RA-ÊN

Dan 11:1-15

Đức Chúa Trời đã dẫn dân Y-sơ-ra-ên từ Ai-cập vào sa-mạc để đến Ca-na-an. Sau một thời gian dừng lại ở chân núi Si-nai để dựng Đền tạm, tổ chức thờ phượng, nhận luật pháp từ Đức Chúa Trời, dân Y-sơ-ra-ên lại ra đi và họ bắt đầu phàn nàn. Ai cũng thích ngồi và nằm, chớ đi và chạy thì không ai muốn. Dân Y-sơ-ra-ên cũng ở trong thế đó, nên họ phàn nàn về số phận của mình. Họ đã oán trách Môi-se đã dẫn họ ra khỏi Ê-díp-tô.

Chúng ta biết rằng vui mừng ca hát là một điều đẹp lòng Chúa, tôn vinh Ngài mà phàn nàn, oán trách là sỉ nhục Ngài, gây cho Ngài đau đớn. Vì vậy, cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nổi lên từ trại nầy đến trại khác. Dân Y-sơ-ra-ên hoảng hốt la lên, Môi-se phải kêu cầu và Chúa cứu họ thoát được điều đó. Dân Y-sơ-ra-ên phàn nàn và đòi hỏi điều gì?

I. HỌ ĐÒI ĂN THỊT, CÁ VÀ RAU (Dan 11:4-5):

“Bọn dân tạp ở trong dân Y-sơ-ra-ên sanh lòng tham muốn, đến đỗi dân Y-sơ-ra-ên lại khóc nữa mà rằng: Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt? Chúng tôi nhớ những cá chúng tôi ăn nhưng không tại xứ Ê-díp-tô, những dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành, và tỏi”.

1- Dân tạp (Xuất 12:38). Dân tạp là dân gì? Đang khi dân Y-sơ-ra-ên được giải phóng khỏi xứ Ê-díp-tô, thì dân nô lệ thừa cơ hội chạy theo dân Y-sơ-ra-ên và cứ tiếp tục sống với dân Y-sơ-ra-ên 40 năm trường trong sa mạc. Họ ở giữa dân Y-sơ-ra-ên nhưng không thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, họ ở giữa Đức Chúa Trời nhưng không thuộc về Đức Chúa Trời, họ chỉ biết ăn uống, vui chơi. Và vậy, họ phàn nàn, họ cũng Xuấti giục dân Y-sơ-ra-ên phàn nàn với họ.

Chúng ta ngày nay phải hiểu rằng dầu Hội Thánh ở phương trời nào thì cũng có một số dân tạp ở chung quanh, tức là những người chưa được tái sanh, là những người chưa thuộc về Ngài, không thờ phượng Đức Chúa Trời, nhưng thừa cơ hội để hưởng lợi lộc mà lòng họ ham muốn. Chính những người như thế làm hại Hội Thánh nhiều hơn hết, chính những người đó phá Hội Thánh ngay từ bên trong. Vì vậy, chúng ta phải cẩn thận làm báp-têm cho những người mới tin Chúa, nếu không thấy có dấu hiệu đã tin Chúa, có lòng theo Chúa chân thật, thì đừng bao giờ nhận làm báp têm cho họ. Phao-lô nói rằng: “Một chút men làm cho cả đống bột dậy lên”. Dân tạp là một chút men làm cho dân Y-sơ-ra-ên phàn nàn và oán trách. Một chỗ khác Phao-lô cũng nói: “Bạn bè xấu làm hư hỏng tánh nết tốt”. Kinh Thánh khuyên lơn các anh chị là người đã tin Chúa lâu năm mà vẫn còn tinh thần của dân tạp, hoặc mới tin Chúa mà không sẵn sàng đầu phục Ngài thì hãy chấm dứt tinh thần đó. Đừng hiểu lầm mà tưởng rằng bước vào Hội Thánh để được lợi lộc gì. Được lợi lộc ở trần gian nầy, Hội Thánh không có. Lợi lộc lớn lao hơn hết của Hội Thánh không thuộc về đời nầy, mà thuộc về đời sau đời đời vô cùng. Xin Chúa cho chúng ta đều trở nên con trai, con gái của Đức Chúa Trời, trở nên công dân Thiên quốc, đến nỗi suốt cuộc đời chúng ta là cuộc đời vui mừng, ca ngợi, cảm tạ Đức Chúa Trời, thậm chí ca hát ở ngay trên giường bệnh, trên giường chết. Ôi, có biết bao nhiêu người trong thế kỷ thứ I, II, III vì cớ Danh Chúa đã bị thiêu sống trên giàn hỏa, nhưng họ vẫn cứ ca hát. Vì vậy, chúng ta là con cái của Chúa phải luôn luôn vui mừng, cảm tạ, ca ngợi Chúa và xin Chúa đặt bài ca tốt nhất cho chúng ta.

2- Dân Y-sơ-ra-ên khóc. Dân Y-sơ-ra-ên đã khóc nhiều lần, bây giờ họ cũng khóc nữa. Khóc là tốt nhưng cũng là xấu. Nếu khóc về tội lỗi mình, với lòng ăn năn thì tốt biết bao! Nếu khóc vì đồng bào, đồng loại của mình thì càng quí hơn, nếu khóc vì vui mừng cảm ơn Chúa thì càng quí hơn nữa. Đa-vít nói rằng: “Xin Chúa để nước mắt tôi trong ve của Chúa”, khóc lóc với lòng ăn năn đau đớn thì Chúa cho là quí lắm, Ngài giữ luôn trước mặt Ngài để làm kỷ niệm. Giê-rê-mi nói rằng: “Đầu tôi là suối nước mắt tôi là nguồn lụy”. Có bao giờ chúng ta khóc về những người chưa tin Chúa không? Có bao giờ chúng ta khóc về họ hàng của mình là những người chưa được cứu không? Cha mẹ có khóc về những đứa con phóng đảng và các con có khóc về những cha mẹ chưa tin Chúa không? Đó là những giọt nước mắt quí giá lắm. Khi Chúa Jêsus chết trên Thập tự giá và bị chôn nơi phần mộ, sáng Chúa nhật đầu tiên, bà Ma-ri Ma-đơ-len đến thăm mộ của Chúa, bà không ngời nhìn thấy một trống, nên bà ngồi bên một mà khóc, vì tưởng rằng người ta đã lấy thây Ngài đi đâu rồi. Khóc như vậy hết sức tốt và phước hạnh.

Ê-sau và Gia-cốp là hai anh em ruột, vì bất đồng ý kiến, họ xa cách nhau 20 năm. Sau đó họ trở lại gặp nhau hòa thuận. Kinh Thánh chép rằng: hai anh em ông nhau khóc một hồi lâu, nói không ra lời.

3- Dân Y-sơ-ra-ên đòi ăn. Nhưng ở đây thì dân Y-sơ-ra-ên khóc vì một động cơ không tốt, khóc vì cớ đòi ăn. Họ cay đắng vì cớ phàn nàn bực tức. Họ đòi ăn gì?…Thịt cá và đủ thứ rau mà họ đã từng ăn trong xứ Ai-cập. Họ nói như thế nầy: ‘Chúng tôi trước khi ra khỏi xứ Ai-cập thì được ăn uống no nê và đầy đủ, nhưng bây giờ Chúa đã kêu gọi chúng tôi ra đây, Môi-se đã dẫn chúng tôi đi, bây giờ không có gì hết, không có cá, không có thịt, không có rau, mà chỉ có một thứ là Ma-na mà thôi’. Như vậy, họ so sánh hai cuộc sống trước và sau, trong xứ Ê-díp-tô và trong đồng vắng. Họ thấy cuộc sống nô lệ trong xứ Ê-díp-tô là tốt hơn cuộc sống tự do tại sa mạc. Ôi, không có cảnh nào đau buồn bằng cảnh nầy. Trong khi họ làm nô lệ tại Ai-cập, người Ai-cập muốn tiêu diệt, bắt họ làm mọi sự khổ sở không kể xiết được, và họ đã kêu la với Chúa. Chúa đã sai Môi-se thi hành 10 phép lạ để dân Ê-díp-tô và Pha-ra-ôn phóng thích họ và để họ được tự do. Bao phép lạ xảy ra trước mắt họ: Nào là Chúa rẽ biển đỏ cho họ đi, nào là soi sáng họ ban đêm bằng một trụ lửa, bảo vệ họ ban ngày bằng một trụ mây, đập hòn đá phun nước cho họ uống, khiến Ma-na từ trời rơi Xuống cho họ ăn. Thế mà bây giờ họ nói ngược lại, ở trong xứ Ê-díp-tô là sướng hơn đồng vắng. Đó là lời nói, vong ơn bội nghĩa, lời nói vô tín. Lấy xấu làm tốt, lấy tốt cho là xấu, lấy phải cho là quấy, lấy quấy cho là phải. Mỗi chúng ta hãy coi chừng kẻo e chúng ta cũng nói năng như vậy chăng? Có khi chúng ta nói rằng: ‘Từ khi tin Chúa đến bây giờ không được phước bằng lúc trước khi tin Chúa’. Nếu nói như vậy là giày đạp huyết của Chúa Jêsus trên Thập tự giá, coi thường sự hi sinh của Ngài.

Trước kia chúng ta làm nô lệ cho ma quỉ, sống trong tội lỗi, cuối cùng chỉ có hỏa ngục dành cho chúng ta mà thôi. Bây giờ, Chúa đem chúng ta từ tối qua sáng, từ chết qua sống, từ nô lệ đến tự do, từ con cái ma quỉ đến con cái Đức Chúa Trời. Tôi thiết tưởng không có phước hạnh nào lớn bằng phước được cứu rỗi, nếu ở trần gian nầy chúng ta vô phước, thì không ai có phước, nghĩa là chúng ta là những người được phước nhất trần gian nầy. Đa-vít nói rằng: “Phước hạnh và sự thương xót sẽ theo tôi”. Ông nói thêm rằng: “Phước thay cho kẻ được tha thứ các tội lỗi mình”. Đó là phước mà Chúa dành cho chúng ta. Ôi, xin Chúa cho chúng ta đừng nói những lời phạm thượng, đừng nhận định sai lầm, vô tín. Trong suốt 30 năm trường tại sa mạc, dây Y-sơ-ra-ên có đầy đủ mọi sự, quần áo của họ không rách, giày của họ không bị mòn,bệnh tật không có. Tại sao? _Vì Đức Chúa Trời ở giữa họ. Ngài chăm sóc họ thật chu đáo. Nếu chúng ta đọc kỹ, thì chúng ta thấy rằng không có điều gì đáng làm mà Chúa không làm cho dân Y-sơ-ra-ên, nhưng Ngài tập trung cả quyền lực thiên nhiên và siêu nhiên mà hướng về dân Y-sơ-ra-ên, lo liệu cho họ một cách chu đáo. Giữa sa mạc thì ai, chánh phủ nào có thể nuôi một số dân hai triệu người, trong suốt 40 năm trường. Cho đến bây giờ, sau ba bốn ngàn năm, thiết tưởng không có một chánh phủ nào nuôi được một số dân như vậy. Nhưng tại sa mạc, dân Y-sơ-ra-ên không đói, không khát, không thiếu thốn gì, mọi phương diện đầy đủ, phương diện thuộc linh qua Tế lễ dâng lên, họ được tương giao với Đức Chúa Trời, tức là có quyền cầu nguyện, tương giao với Ngài và Chúa hứa: “Ta sẽ làm ơn đến ngàn đời cho kẻ nào yêu mến Ta và vâng giữ lời Ta”. Có biết bao nhiêu lời hứa mà Chúa dành cho dân Y-sơ-ra-ên đời xưa và Chúa dành cho chúng ta ngày nay. Như vậy, chúng ta phải cảm tạ Chúa, không thể nào phàn nàn được.

II. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN CHÁN MA-NA (Dan 11:6):

“Bây giờ, linh hồn chúng tôi khô héo, không có chi hết. Mắt chỉ thấy Ma-na mà thôi”. Ma-na là gì? –Ma-na là một thức ăn từ trời vàsuốt dòng lịch sử nhân loại không ai ăn Ma-na được, chỉ có dân Y-sơ-ra-ên ăn trong suốt 40 năm. Ma-na hình như hột ngò, sắc như trân châu nếm như là mật có dầu, tức là có đủ thứ chất bổ, mà họ muốn ăn bao nhiêu cũng có. Mỗi sáng sớm Ma-na rơi trên mặt đất một lớp dày, và ai ăn được bao nhiêu thì cứ ăn. Xay để làm đủ thứ bánh. Dân Y-sơ-ra-ên thật sung sướng vì Chúa lo cho họ thật chu đáo. Ở trong xứ Ê-díp-tô, họ phải làm suốt ngày mà không đủ ăn. Vua Ê-díp-tô còn ra lệnh cho đàn bà Y-sơ-ra-ên ném con trai mới sanh Xuống sông. Hãy coi chừng, đừng lấy sự ăn uống làm quan trọng. Đành rằng thân thể chúng ta cần ăn, nhưng ăn để mà sống, để có sức khỏe phục vụ Chúa, chớ không phải ăn để thỏa thích xác thịt, đừng nhìn theo sự ham muốn của nó, nhưng phải tể trị sự ham muốn của xác thịt.

Chúng ta nhớ một lần nọ, tiên tri Ê-li nản lòng, ngồi dưới gốc cây xin Chúa cho được chết, nhưng mệt quá ông ngủ quên. Thình lình Thiên sứ gọi ông dậy và bảo ông ăn. Ông tỉnh dậy, thấy có bánh nướng trên lửa và một bình nước. Ông ăn, uống rồi ngủ tiếp. Thiên sứ lại đánh thức ông dậy và bảo: ‘Hãy ăn, vì đường xa quá cho ngươi!’ – Chúa không cấm chúng ta ăn, nhưng ép chúng ta ăn để có sức khỏe hầu việc Ngài, chớ không phải để thỏa thích. Phao-lô nói rằng: “Tôi đã tập hễ cảnh ngộ nào cũng thỏa lòng ở vậy. Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết được dư dật. Trong mọi sự và mọi sự tôi đã tập cả”. Nhờ vậy, Phao-lô gặp khổ cũng không oán trách, gặp sang cũng không thỏa lòng, hễ gặp cảnh ngộ nào cũng hầu việc Chúa. Phi-e-rơ bảo rằng: “Anh em như người ở trọ, kẻ đi đường, tôi khuyên phải kiêng những điều xác thịt ưa thích, là điều chống trả với linh hồn”.

III. MÔI-SE NẢN LÒNG VÌ DÂN Y-SƠ-RA-ÊN (Dan 11:10-15):

Môi-se nghe tiếng dân Y-sơ-ra-ên khóc từ trại quân nầy đến trại quân khác. Họ than thở vì mình không có cá, không có thịt, không có rau. Chúa giải phóng họ khỏi tay Pha-ra-ôn và đưa họ vào đây với đầy đủ mọi sự, đáng lẽ họ phải vui mừng cảm tạ, ca ngợi Chúa, nhưng họ lại khóc. Tiếng khóc của họ làm cho Môi-se khổ tâm. Ông thưa với Chúa: “Sao Ngài làm cho tôi tớ Ngài buồn? Sao tôi chẳng được ơn trước mặt Ngài và sao Ngài lại chất gánh nặng của hết thảy dân sự nầy lên mình tôi? Tôi há có thọ thai dân nầy sao? Hay có sanh đẻ nó sao mà Ngài lại phán biểu tôi rằng: Hãy ẳm dân nầy trong lòng ngươi như người cha nuôi bồng đứa trẻ bú, tôi không thể một mình gánh hết dân sự nầy, vì thật là rất nặng cho tôi. Nếu Chúa đãi tôi như vậy và nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin thà giết tôi đi, để tôi không thấy sự khốn nạn tôi”.

Không có người nào làm ơn cho dân Y-sơ-ra-ên bằng Môi-se. Ông đã liều mạng mình đến với Pha-ra-ôn, yêu cầu ông phóng thích dân Y-sơ-ra-ên và trong suốt lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên, không có một vĩ nhân nào so được với Môi-se. Nhưng ông đã nản lòng, vì đã làm mọi sự cho họ được phước mà ngược lại họ oán trách, thở than, lâm bầm, làm như ông là kẻ thù của họ. Trước cảnh đó chúng ta có đau lòng không? Nếu một đứa con nói ngược lại với cha mẹ: ‘Cha mẹ sanh con ra làm chi cho con bị khổ’, cha mẹ nào mà không đau đớn, có khi cũng phải khóc.

Chúng ta phải hiểu rằng tâm trạng của người hầu việc Chúa đều muốn cho Hội Thánh được phước, nhưng khi nào Hội Thánh không được phước, thì thật là đau đớn. Năm ngoái, có vài người cay đắng đến hỏi tôi: ‘Tại sao Hội Thánh không cho uống rượu?’,không phải tôi không trả lời được, nhưng nghe câu hỏi đó tôi nghẹn ngào; tôi khóc trước mặt Chúa. Đáng lẽ không có ai phải hỏi câu đó. Một Tín đồ mà sao lại muốn trở lại cảnh nô lệ, đã từng làm nô lệ cho tội lỗi mà bây giờ muốn trở lại làm nô lệ cho nó nữa. Tôi trả lời câu hỏi đó như vầy: Trên Thập tự giá, Chúa Jêsus đã chết vì tôi. Hai tên cướp ở bên hữu và bên tả của Chúa đều uống rượu hòa một dược, nhưng chính Ngài không uống. Vì sao? _Vì Ngài muốn chịu hết sự đau đớn thay cho chúng ta. Trong trường hợp đó Chúa không uống, còn chúng ta nỡ nào nhẫn tâm mà uống rượu. Thử hỏi Tín đồ như vậy có xứng đáng không? Có gọi là con cái Đức Chúa Trời được không? Câu hỏi đó làm cho tôi nản lòng.

Có người hỏi tôi: ‘Tín đồ có được hút thuốc lá không?’. Tôi nói vui: ‘Không uống rượu, không hút thuốc lá là người khôn ngoan’. Chúa bảo rằng: “Hãy khôn ngoan, đừng dại dột”. Bỏ tiền mua rượu, mua thuốc là hút là bỏ tiền ra mua bệnh vào mình. Hành động đó không khôn ngoan, không sáng suốt, không xứng đáng chút nào. Phao-lô bảo: “Mọi việc anh em có phép làm, nhưng chẳng phải mọi việc đều có ích”. Tôi có phép làm điều gì có ích, tôi phải trở thành gương tốt cho mọi người. Nếu chúng ta không sống đẹp lòng Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời nản lòng vô cùng. Nếu bao nhiêu công trình Chúa hi sinh cho quí ông bà trên Thập tự giá, mà không đem lại cho quí ông bà cuộc đời hạnh phúc mà quí ông bà đòi phải hút thuốc, uống rượu mới có phước, thì hóa ra rượu và thuốc là có giá trị hơn là huyết của Chúa Jêsus đã đổ ra vì chúng ta trên Thập tự giá sao? Nguyện Chúa cứu chúng ta thoát khỏi điều nầy, để chúng ta đi con đường thiên đàng. Là công dân thiên quốc, chúng ta đi tới, sức lực lần lần thêm, ai nấy đều ra mắt Đức Chúa Trời tại Si-ôn.

Chúng ta cần an ủi nhau. Tôi cảm tạ ơn Chúa và cảm tạ quí ông bà anh chị em đã an ủi tôi rất nhiều, vì vậy, tôi được đứng vững đến ngày nay. Cho nên, chúng ta hãy làm con trai, con gái của sự an ủi, tức là cuộc sống của chúng ta an ủi kẻ khác, đừng bào giờ chất thêm gánh nặng cho người khác, phải dân Y-sơ-ra-ên đã chất thêm gánh nặng cho Môi-se.

Có một giáo sĩ sắp lên đường đi giảng đạo tại một nơi xa. Khi đang sửa soạn hành lý, ông nghe tiếng gõ cửa, và một cụ già bước vào. Hai người chưa quen nhau lắm, cụ già biết vị giáo sĩ, nhưng vị giáo sĩ chưa biết cụ già. Cụ già trịnh trong thưa: ‘Thưa giáo sĩ, ông sắp lên đường đi giảng Đạo cho người chưa biết Chúa. Xin ông dành cho tôi một đặt ân’. Câu nói đó làm cho giáo sĩ hơi ngạc nhiên. Giáo sĩ chận lại: ‘Tôi là ai, tôi có gì mà cụ nói tôi dành cho cụ một đặc ân?’. Cụ già nói: ‘Tôi là thợ đóng giày, tôi không có chi dâng lên cho Chúa, nhưng tôi có đôi giày nầy để giúp giáo sĩ đi Truyền giảng cho người khác chưa biết Ngài, và xin giáo sĩ cho tôi được dự phần với giáo sĩ trong một việc rất nhỏ. Đó là đặc ân mà tôi tha thiết xin giáo sĩ dành cho tôi’. Câu chuyện thật là đẹp. Dầu không lớn lao, không nhiều bao nhiêu, nhưng tấm lòng và thái độ của cụ Tín đồ làm cho vị giáo sĩ đó được an ủi và khích lệ.

Chúng ta cùng nhau suy gẫm mấy câu trong Thi 149:1-5: “Ha-lê-lu-gia! Hãy hát xướng cho Đức Giê-hô-va một bài ca mới! Hãy hát ngợi khen Ngài trong hội các thánh Ngài. Nguyện Y-sơ-ra-ên mừng rỡ nơi Đấng đã dựng nên mình; nguyện con cái Si-ôn vui vẻ nơi Vua mình. Nguyện chúng nó nhảy múa mà ngợi khen danh Ngài, dùng trống cơm và đàn cầm mà hát ngợi khen Ngài! Vì Đức Giê-hô-va đẹp lòng dân sự Ngài; Ngài lấy sự cứu rỗi trang sức cho người khiêm nhường. Nguyện các thánh Ngài mừng rỡ về sự vinh hiển, hát vui vẻ tại trên giường mình”. Trên giường đau yếu chúng ta vẫn hát, ngay trên giường chết vẫn hát,vì “phước cho người chết là chết trong Chúa”, phương chi cho chúng ta còn sống hôm nay lại không ca ngợi Ngài?.

Bài 28: ĐỨC CHÚA TRỜI DỌN TIỆC TRONG ĐỒNG VẮNG

Dan 11:6-55

Đức Chúa Trời mà chúng ta thờ phượng là Đấng Toàn Năng, không có việc gì mà Chúa không làm được. Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu rằng Chúa không thi hành quyền năng của Ngài một cách bừa bãi, Ngài chi làm khi có ích lợi cho chúng ta, có phước hạnh cho chúng ta. Vì vậy, Ngài đã dọn tiệc cho dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng, số người dự tiệc trên dưới hai triệu. Chúng ta hãy nghĩ một số dân hai triệu mà phải cho họ ăn, thì thật đời nầy không ai cho họ ăn được. Vì vậy, dân Y-sơ-ra-ên đã nghi ngờ rằng Đức Chúa Trời không thể dọn tiệc cho họ ăn trong đồng vắng, nhưng Chúa đã làm.

I. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN ĐÒI ĂN THỊT (Dan 11:4; Thi 78:20):

Dan 11:4 chép: “Bọn dân tạp ở trong dân Y-sơ-ra-ên sanh lòng tham muốn, đến đỗi dân Y-sơ-ra-ên lại khóc nữa mà rằng: Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt?” Họ đã uống nước từ hòn đá tuôn ra, họ đã ăn Ma-na từ trời rơi Xuống, nhưng họ đòi ăn thịt. Không phải là không bao giờ ăn thịt đâu, nhưng họ phải ăn một cách hạn chế, vì họ có bầy bò, bầy chiên mang theo. Những thứ tế lễ mà họ dâng, có thứ Tế lễ toàn thiêu, nhưng cũng có Tế lễ ăn được một phần trong đó. Tuy nhiên, họ không thỏa mãn, họ muốn ăn cho thật thỏa thích. Vì vậy họ đòi hỏi, và sự đòi hỏi đó làm cho Chúa buồn. Không phải Ngài không thể cho họ ăn, nhưng Ngài không muốn cho họ ăn thịt nhiều tại đồng vắng nóng bức, vì khó tiêu. Ăn Ma-na vừa dễ tiêu, vừa bổ dưỡng, làm cho thân thể họ được khỏe mạnh. Nếu ăn không tiêu hóa được sanh bệnh tật.

Mỗi chúng ta phải sống tiết độ. Có chín trái Thánh linh trong Ga 5:22 thì trái cuối cùng là Tiết độ. Tiết độ là gì? – Tiết độ là có chừng mực. Người đạo đức nói năng, ăn uống có chừng mực, nghĩa là giữ được thăng bằng, không quá bên nầy, không quá bên kia. Trong thế giới nầy có người nghĩ rằng, tôi phải kiêng cử, làm cho xác thịt nầy bị kiệt. Ngược lại, có người đòi ăn quá, cả hai đều không được. Có người theo chủ nghĩa độc thân, có người theo chủ nghĩa đa thê, cả hai đều sai. Tiết độ là ăn uống có chừng mực, để bảo vệ sức khỏe chớ không phải ăn để thỏa mãn cái miệng của chúng ta. Vì vậy, suốt 40 năm trường trong đồng vắng, dân Y-sơ-ra-ên no nê, đầy đủ. Nhưng không phải là thỏa mãn xác thịt. Đối với chúng ta ngày nay cũng vậy. Chúa có thể cho chúng ta giàu có, nhưng Ngài không cho. Giàu có không phải là phước hạnh, mà đủ ăn, đủ mặc hàng ngày mới là phước hạnh. Nếu chúng ta đi đường, bó gậy trên vai thì không cần thiết, lại nặng nữa. Vì vậy, đủ ăn, đủ mặc hàng ngày là cây gậy, sự giàu có như bó gậy, gây cho nặng nề, lo toan. Giàu có cũng ăn chừng đó, nhưng không ngủ được. Chúa biết nhu cầu của chúng ta hơn là chúng ta. Vì vậy, chúng ta nên tiết độ, đừng bao giờ tham lam quá độ.

II. MÔI-SE BỐI RỐI (Dan 11:13):

“Tôi sẽ có thịt ở đâu đặng phát cho cả dân sự nầy? Bởi vì họ khóc về tôi mà rằng: Hãy cho chúng tôi thịt ăn”. Môi-se làm nhà lãnh đạo, bị dân Y-sơ-ra-ên đòi hỏi phải cho thịt ăn. Sáu trăm ngàn tráng niên, nếu kể nam phụ lão ấu là hai triệu người, mà hai triệu người đòi ăn thịt, thì bao nhiêu thịt đủ cho họ ăn? Ông nghĩ trong sa mạc không có thịt đủ để nuôi dân một ngày, vì vậy, ông bối rối quá và xin với Chúa cho được chết.

Thiết tưởng mỗi chúng ta cũng có nhiều lần như vậy, vì chúng ta nghĩ về mình mà không nghĩ về Đức Chúa Trời. Đành rằng Môi-se không thể nào nuôi dân Y-sơ-ra-ên được, dầu chỉ một ngày mà thôi, vì con người bất năng, nhưng Đức Chúa Trời Toàn năng, không có gì khó cho Ngài cả. Nếu Môi-se nghĩ về Chúa Toàn năng thì ông không bối rối, nhưng đang khi ông nghĩ về mình thì ông hết sức lo âu, nản lòng. Trong mọi vấn đề hàng ngày của chúng ta cũng vậy, lắm khi chúng ta bối rối, nhưng chúng ta hãy nghĩ đến Đức Chúa Trời Toàn năng mà chúng ta đang thờ phượng và phục vụ, Ngài có thể làm trổi hơn vô cùng những gì chúng ta cầu xin, ao ước và chúng ta không bối rối.

Một ngày nọ, Chúa Jêsus giảng cho đoàn dân đông khoảng năm ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con. Nếu kể họ vào nửa thì khoảng mười ngàn người. Bấy giờ, Chúa bảo các môn đồ: “Hãy cho họ ăn”. Ở trong đồng xa, không ai bán gì cả mà phải cho một vạn người ăn, thì các môn đồ rối quá. Làm sao mua đủ thức ăn, tiền đâu có! Chúa nói như vậy để thử đức tin của họ thôi, Ngài đã làm xong mọi sự rồi. Có một em bé đem theo năm cái bánh mạch nha nhỏ và hai con cá. Chúa lấy bánh và cá đó hóa ra cho mọi người ăn no nê và những miếng bánh thừa đầy 12 giỏ. Giả định không phải là năm ngàn người, mà là năm mươi ngàn người hay bao nhiêu ngàn người thì Chúa vẫn lo đủ hết, bởi quyền năng của Chúa là vô hạn.

Vì vậy, chúng ta không nên bối rối trước những hoàn cảnh khó khăn, nếu chúng ta biết đem trình mọi sự cho Chúa. Những năm qua là bài học vô giá cho chúng ta. Chúng ta thường đứng trước những hoàn cảnh khó khăn, nhưng chính Chúa lo liệu một cách chu toàn hơn điều chúng ta cầu xin và ao ước. Cảm tạ Chúa!

III. ĐỨC CHÚA TRỜI HỨA CHO DÂN Y-SƠ-RA-ÊN ĂN THỊT (Dan 11:18-20):

“Ngươi phải truyền cho dân sự rằng: Ngày mai phải dọn mình ra thánh, thì các ngươi sẽ ăn thịt. Vì chưng lỗ tai Đức Giê-hô-va có nghe các ngươi khóc mà rằng: Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt, vì chúng tôi lấy làm sung sướng tại xứ Ê-díp-tô, – bởi cớ đó, Đức Giê-hô-va sẽ ban thịt cho các ngươi, thì các ngươi sẽ ăn. Chẳng phải các ngươi sẽ ăn thịt một ngày, hai ngày, năm ngày, mười ngày hay là hai mươi ngày đâu; nhưng cho đến một tháng trọn, cho đến chừng nào thịt tràn ra lỗ mũi, và các ngươi ngán đi, vì các ngươi đã bỏ Đức Giê-hô-va ở giữa mình, và khóc trước mặt Ngài, mà rằng: Vì sao chúng tôi đã ra khỏi xứ Ê-díp-tô?”. Vì vậy, Chúa cho họ ăn vì họ thách đố Đức Chúa Trời, tưởng rằng Ngài không dọn được bữa tiệc cho họ trong đồng vắng. Ngài cho họ ăn đến chừng thịt tràn ra lỗ mũi!

Chúa toàn năng làm được mọi sự, nhưng Ngài không làm như điều chúng ta ao ước. Có những thức ngon nhưng độc, cha mẹ không cho con ăn. Tôi nhớ có lần tôi đang cạo râu, con nhỏ của tôi thấy và thích lắm, nó xin: ‘Ba cho con dao cạo để con cạo râu’. Tôi không cho và nói: ‘Khi nào con lớn không, có râu, ba sẽ cho con’. Tội cho con dao cạo khi nó còn nhỏ thì chỉ hại cho con mà thôi. Đức Chúa Trời không cho dân Y-sơ-ra-ên ăn vô độ, vì Ngài yêu họ.

IV. SỰ LO NGẠI CỦA MÔI-SE (Dan 11:21-22):

“Môi-se thưa rằng: Trong dân sự tôi đương ở đây, có sáu trăm ngàn người đàn ông, mà Ngài có phán rằng: Ta sẽ phát thịt cho dân nầy ăn trong một tháng trọn. Người ta há sẽ giết chiên và bò đến đỗi được đủ cho họ sao? hay là người ta há sẽ gom hết thảy cá dưới biển đến đỗi được đủ cho họ sao?”. Môi-se bối rối khi nghe Chúa hứa như vậy.

Chúng ta nên nhớ rằng trí óc của chúng ta hữu hạn, có thể nói là ngu dại. Môi-se nghĩ theo trí hữu hạn của con người, tưởng rằng phải giết chiên bò hết thảy, tưởng rằng phải bắt hết cá ở dưới biển cho họ ăn trong một tháng. Nhưng Đức Chúa Trời có những phương pháp kỳ diệu, không phải như Môi-se tưởng, không phải như chúng ta tưởng. Trong kinh nghiệm của chúng ta khi phải đương đầu với những khó khăn, thì chúng ta đứng trong thế bị động và hoàn toàn thất vọng.

Nhưng chúng ta hãy xem Chúa làm phép lạ:

V. ĐỨC CHÚA TRỜI THỰC HIỆN LỜI HỨA (Dan 11:31-32):

“Đức Giê-hô-va bèn khiến một trận gió nổi từ biển, dẫn những chim cút đến vải trên trại quân và Xuấtng quanh, bên nầy trải ra dài chừng một ngày đường đi, và bên kia trải ra dài chừng một ngày đường đi, khỏi mặt đất chừng hai thước bề cao. Dân sự đứng dậy lượm những cút trong ngày đó, đêm đó và trọn ngày sau; ai lượm ít hơn hết có mười ô-me; người ta căng nó ra khắp chung quanh trại quân”.

Chúng ta biết rằng từ cõi hư vô, tức là không có gì, Đức Chúa Trời đã dùng lời phán của Ngài thì có vũ trụ mà chúng ta thấy đó, huống chi là có rồi chúng ta đem lại thì dễ lắm. Trước đó mấy năm, dân Y-sơ-ra-ên đứng trước hồng hải, dân Ê-díp-tô đuổi theo để bắt lại làm nô lệ. Trong một đêm, Chúa khiến gió thổi lên, thì biển Đỏ chia ra làm hai, thành một con đường để dân Y-sơ-ra-ên đi ngang qua. Bây giờ cũng vậy, có một trận gió Đông nổi lên, đưa một bầy chim cút đến. Tại đó chim cút hết sức nhiều, mùa Hạ thì chúng ở phương Bắc, và mùa Đông thì ở phương Nam. Chim cút là loài chim như vậy, và khi chúng đang bay từ Nam chí Bắc thì Chúa cho một trận gió thổi đến, khiến chúng bay không được và đáp xuống trên sa mạc, để dân Y-sơ-ra-ên đang đóng trại vẫn bắt được. Chim cút trải ra bên nầy dài bằng một ngày đường đi, bên kia dài bằng một ngày đường đi và bay là là vào khoảng một mét tây. Vì vây, dân Y-sơ-ra-ên cứ tự do mà bắt lấy, ăn bao nhiêu thì ăn, nếu ăn không hết thì căng ra làm khô đê ăn lâu ngày. Và họ ăn như vậy suốt một tháng.

Chúng ta biết rằng Chúa cầm quyền tể trị trên muôn loài vạn vật, hết thảy vũ trụ ở dưới quyền điều khiển của Ngài. Khi Ê-li ngồi bên khe suối, thì Chúa chỉ thị cho những con qua đem bánh và thịt đến để nuôi ông. Chúa đã dự bị con cá lớn để nuốt Giô-na và sau đó Ngài cũng chỉ thị để nó nhả ông ra. Sau khi Chúa sống lại, các môn đồ ngã lòng, trở về nghề đánh cá. Họ là những tay đánh cá tài ba, nhưng suốt đêm không được một con cá nào cả. Đến sáng, Chúa tới với họ và bảo: “Hãy thả lưới bên hữu thuyền”. Ngay chỗ mà họ đã thả lưới bao nhiêu lần không có, Chúa lại bảo cứ thả lưới xuống. Họ thả lưới xuống và kéo lên thì được 155 con cá. Tại sao? – Chúa muốn dạy họ, nếu Ngài không ra lệnh thì hết thảy cá ra khỏi chỗ đó, nếu Chúa ra lệnh thì những con cá tập trung lại. Vì vậy, không có gì là khó khăn cho chúa. Dân Y-sơ-ra-ên muốn ăn thịt một bữa hay một ngày thôi, thì Chúa cho, hoặc cả một tháng.

VI. DÂN Y-SƠ-RA-ÊN BỊ HÌNH PHẠT (Dan 11:33-34)

Thịt vẫn còn nơi răng, chưa nhai, thì cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân sự, hành dân sự một tai vạ rất nặng. Người ta đặt tên chỗ đó là Kíp-rốt-Ha-tha-va; vì tại đó người ta chôn dân sự sanh lòng tham muốn”.

Đây nói rằng Đức Chúa Trời phạt dân sự, nhưng không phải là Đức Chúa Trời trực tiếp phạt họ đâu, nhưng đó là kết quả tự nhiên do họ gây ra. Trong sa mạc hết sức nóng, nên ăn thịt rất khó tiêu. Hàng ngày họ không làm gì cả, bất quá sáng sơm đi ra lượm Ma-na rồi đem về giã xay. Bây giờ họ ăn thịt nhiều quá, không tiêu và sanh bệnh, một số người phải ngã chết. Người ta nói rằng: ‘Người tham ăn đào huyệt cho mình bằng cái răng’. Răng vì ăn nhiều quá làm cho chết, chớ không phải ăn nhiều là sống lâu đâu. Chúng ta thấy những người nghèo ăn rất đơn sơ, nhưng họ sống lâu. Còn những người giàu ăn quá độ, không làm việc nặng, không lao lực mà ăn những cao lương mỹ vị là tự sát. Chính vì đó mà Chúa đã không cho họ ăn, vì cớ lợi ích cho họ. Họ cãi lời Chúa, nên Chúa để cho họ gặp lấy hậu quả đó.

Mỗi chúng ta hãy thận trọng trong mọi việc, đừng bao giờ ham mê ăn uống mà phải chết. Phi-e-rơ dạy rằng: chúng ta là lữ khách đi đường về trời, chúng ta phải kiêng những gì mà xác thịt ưa thích, là những điều chống trả với linh hồn. Ăn để bổ, để bảo vệ sức khỏe, nhưng đừng để ăn làm cho tổn hại thân thể nầy là Đền thờ của Đức Chúa Trời. Mỗi chúng ta đều có linh hồn quí báu, đừng bao giờ để tội lỗi do cái miệng của mình gây ra. Hãy lấy điều mình có làm đủ, đừng ham muốn những điều khác. Ôi, có biết bao nhiêu người ham muốn trở nên giàu có mà sa vào hố sâu tội lỗi, sa vào cái bẫy rập của ma quỉ, rồi suốt đời hối tiếc. Dân Y-sơ-ra-ên đặt tên chỗ nầy là “Kíp-rót-Ha-tha-va”, có nghĩa là Danh của Chúa, chết vì tin Chúa thì đáng chết, nhưng chết vì tham ăn thì thật đáng hổ thẹn.

Chúng ta là con cái Chúa thì phải cẩn thận để giữ gìn một đời sống thánh khiết, một đời sống cao thượng, một đời sống đạo đức mà trần gian không với kịp. Phao-lô nói: “Tôi đã tập hễ gặp cảnh ngộ nào cũng thỏa lòng ở vậy. Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết được dư dật. Trong mọi sự và mọi nơi tôi đã tập cả, dầu no hay đói, dầu dư hay thiếu cũng được”. Trong mọi phương diện ông đều kinh nghiệm, ở mức độ nào ông cũng đều giữ được sự bình tĩnh, thản nhiên chấp nhận ý muốn của Chúa.

Mong rằng mỗi chúng ta cũng vậy, không đòi hỏi nhưng gì mình muốn, nhưng đòi hỏi những gì theo ý muốn Chúađể chúng ta hoặc ăn, hoặc uống, hay làm điều chi khác, cũng đều tôn vinh Chúa, đẹp lòng Ngài.

Bài 29: SỰ THÁNH KHIẾT

Le 11:1-19

Đức Chúa Trời đã xóa sạch tội lỗi của chúng ta, đồng thời ban Thánh Linh ngự vào lòng của mỗi người, để ai nấy có cuộc đời Thánh Khiết. Le 11:44-45 chép: “Vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi; Ta là thánh, nên các ngươi phải nên thánh, thì sẽ được thánh. Các ngươi chớ vì một con nào của loại côn trùng trên mặt đất mà làm lây ô uế cho thân mình.Vì ta là Đức Giê-hô-va, Đấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô đặng làm Đức Chúa Trời của các ngươi; các ngươi phải nên thánh, vì Ta là Thánh”. Đức Chúa Trời muốn dânY-sơ-ra-ên biết thế nào là Thánh, thì Ngài bảo họ cử ăn thịt những con vật ô uế, và phải ăn nhưng con vật tinh sạch. Ngày nay, chúng ta không làm như thế nữa, vì chúng ta đã hiểu được ý nghĩa thuộc linh của các con vật đó.

I. CHỈ ĂN NHỮNG CON VẬT CÓ MÓNG RẼ RA VÀ NHƠI (Le 11:1-8)

Con bò là loài thú ăn thịt được, vì nó có móng rẽ ra và nhơi, con heo không ăn được, vì nó có móng rẽ ra, nhưng không nhơi. Dân Y-sơ-ra-ên ăn được hết thảy các súc vật, với hai điều kiện: 1. Có móng rẽ ra. 2. Phải nhơi.

1- Có móng rẽ ra. Người Thánh Khiết là người phân rẽ ra với tội lỗi, thế gian và ma quỉ. Thi 1:1 chép: “Phước cho người nào chẳng theo mưu kế của kẻ dữ, chẳng đứng trong đường tội nhân, không ngồi chỗ của kẻ nhạo báng”. Đó là bước thứ nhất của sự thánh khiết. Kinh Thánh chép: “Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin, bởi vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng?” (IICo 6:14-18). Chúa phán với dân Y-sơ-ra-ên: “Nếu các ngươi vâng lời Ta và giữ sự giao ước Ta, thì trong muôn dân các ngươi sẽ thuộc riêng về Ta… làm một dân thánh cho Ta… Bởi ngươi là một dân thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi. Đức Giê-hô-va đã chọn ngươi trong các dân trên mặt đất, hầu các ngươi làm dân riêng của Ngài” (Xuất 19:5-6 ; Phu 14:2). về chúng ta Kinh Thánh chép: “Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời” (IPhi 2:9)

2- Ăn phải nhơi. Khi ở ngoài đồng vốn bò ăn rất mau, nuốt cỏ vào bụng, chứa ở một nơi. Tối về chuồng nó nằm xuống, nhả cỏ đó ra và nhơi lại thật kỹ, rồi mới nuốt vào một cách ngon lành. Chúa mượn thực sự đó dạy dỗ ta rằng người nên thánh luôn luôn ‘nhơi’ Lời của Chúa. Chúng ta đọc một đoạn Kinh thánh, nghe một bài giảng, chưa tiêu hóa ngay được. Nếu không tiêu hóa được thì không ích lợi cho việc đọc hay nghe của mình. Điều cần yếu là phải nhơi lại luôn, tức là suy gẫm, cho đến nỗi nó thành vật thực tiêu hóa trong đời sống của chính mình. Thi 1:2 ghi tiếp: “Song lấy làm vui vẻ về luật pháp của Đức Giê-hô-va, và suy gẫm luật pháp ấy ngày và đêm”. Gios 1:8 chép: “Quyển sách luật pháp nầy chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong; vì như vậy ngươi mới được may mắn trong con đường mình, và mới được phước”. Chúng ta ăn, nếu chúng ta ăn mau quá thì không ngon, khó tiêu hóa, nên cần phải nhai kỹ, ăn chậm để được dễ tiêu hóa và ngon lành. Con bò cũng vậy, khi nó ăn cỏ ngoài đồng thì không thấy ngon đâu, nhưng tối về nằm xuống nó nhơi lại rất kỹ và nuốt vào thì nó mới thấy thật là ngon lành và bổ dưỡng. Đó là các chúng ta đối với lời của Chúa.

Hai điểm Chúa dạy chúng ta để sống cuộc đời thánh khiết: Chia rẽ với tội ác, về phương diện tiêu cực; suy gẫm luật pháp Chúa ngày và đêm, cẩn thận làm theo, đến nỗi lời của Chúa không những ở trong trí, mà ở trong lòng, hơn nữa nó còn phải tiêu hóa trong máu, lưu thông trong huyết quản của mình, là phương diện tích cực.

Mỗi sáng sớm người Y-sơ-ra-ên ra ngoài trại quân sẽ thấy sương đóng trên đất, dưới lớp sương đó có Ma-na. Ma-na hình như hột ngò, sắc như trân châu. Nếu họ hốt Ma-na bỏ ngay vào miệng thì không ngon chi hết, song họ phải đem về xay, giã ra bột, rồi làm bánh, nấu, hấp, chiên thì ăn rất ngon lành và bổ dưỡng. Chúng ta phải dụng công để ăn lời Chúa như người Y-sơ-ra-ên ăn Ma-na, như con bò nhơi cỏ.

II. CHỈ ĂN CÁC LOÀI CÁ CÓ VI VÀ CÓ VẢY (Le 11:9-12):

“Những loài vật ở dưới nước mà các ngươi được phép ăn, là loài vật nào, hoặc ở dưới biển, hoặc ở dưới sông, có vây và có vảy”. Đó là hai điều kiện của một con cá ăn được. Con lươn không ăn được, con cá trê không ăn được vì không có vảy. Vậy ý nghĩa thuộc linh dạy chúng ta ăn ở thánh khiết là thể nào?

1- Cá có vi (vây). Con có có vây là con cá lội rất mau. Con cá bao giờ cũng lội dòng nước ngược, hễ nước chảy vào con cá lội ra, nước chảy ra thì cá lội vào, nó không bao giờ chịu thả trôi theo dòng nước, trừ ra khi đã chết. nó vần cái vây để lội.

Người Tín đồ thánh khiết như con cá có vây, tiến bộ không ngừng, dầu trong nghịch cảnh. Có người chỉ biết thả trôi theo dòng nước, không bao giờ tiến bộ, đời sống đó không bao giờ thánh khiết. Chúa muốn con cái Ngài phải tiến bước không ngừng trên đường thuộc linh. ‘Tôi hôm nay phải hơn tôi hôm qua, tôi ngày mai phải hơn tôi ngày nay; tôi năm nay phải hơn tôi năm ngoái, tôi sang năm phải hơn tôi năm nay’. Mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm chúng ta phải tiến bước trên linh trình và có như vậy thì đời sống mới thánh khiết, Thi 84:5 chép: Phước cho người nào được sức lực trong Chúa, và có lòng hướng về đường dẫn đến Si-ôn! Tức là đi con đường lên Thiên đàng. “Đương khi đi qua trũng khóc lóc. Họ làm trũng ấy trở nên nơi có mạch”; dầu qua trũng khô khan họ biết thành nơi có mạch nước. ‘Họ đi tới’ chớ không bao giờ đi lùi. Họ có con mắt ở phía trước chớ không có con mắt ở phía sau, ‘họ đi tới sức lực lần lần thêm’, càng đi càng mạnh. ‘Ai nấy đều ra mắt Đức Chúa Trời tại Si-ôn’, nghĩa là không một người nào ngã gục dọc đường, nhưng đến Thiên đàng, bệ kiến cha chúng ta tại đó. Thánh đồ có một sức phi thường để cứ tiến, vượt qua mọi trở lực không làm nô lệ cho hoàn cảnh mà bắt phục hoàn cảnh.

Ai nấy hãy xem xét lại đời sống mình năm nay có hơn năm ngoái không? Hôm nay có hơn hôm qua không? Và năm tới sẽ hơn năm nay không?

2- Con cá phải có vảy. Có hai loại cá: Loại có vảy và loại không có vảy. Loại không có vảy là không tin sạch, có ý nghĩa gì? – Con có vảy có sức chịu đựng như mặt giáp bào, nếu con cá nào muốn làm hại nó, thì cái vảy của nó bảo vệ nó. Thánh đồ như chiến sĩ mặc giáp binh, là bộ giáp cứu rỗi. Trên linh trình, lúc nào kẻ thù cũng sẵn sàng tấn công, bắn tên lửa vào để làm hại bằng đủ mọi cách như hiểu lầm, vu oan, bắt bớ, Thánh đồ có sức chịu đựng cao, không bao giờ nản lòng, không bao giờ lùi bước, mà lúc nào cũng sẵn sàng tiến bước.

ICo 4:12-13: “Chúng tôi dùng chính tay mình làm việc khó nhọc; khi bị rủa sả, chúng tôi chúc phước; khi bị bắt bớ, chúng tôi nhịn nhục; khi bị vu oan, chúng tôi khuyên dỗ; chúng tôi giống như rác rến của thế gian, cặn bã của loài người, cho đến ngày nay”. Phao-lô và các sứ đồ là những người có sức chịu đựng quá điều chúng ta tưởng tượng, họ như những con cá có vảy.

IICo 6:8-10: “dầu vinh dầu nhục, dầu mang tiếng xấu, dầu được tiếng tốt; ngó như kẻ phỉnh dỗ, nhưng là kẻ thật thà; ngó như kẻ xa lạ, nhưng là kẻ quen biết lắm; ngó như gần chết, mà nay vẫn sống; ngó như bị sửa phạt, mà không đến chịu giết; ngó như buồn rầu, mà thường được vui mừng; ngó như nghèo ngặt, mà thật làm cho nhiều người được giàu có; ngó như không có gì cả, mà có đủ mọi sự!”. Đó là một đời sống như con cá có vảy, làm được mọi sự, chịu được mọi sự, dầu trăm ngàn khó khăn xảy đến, bao nhiêu thử thách vây quanh, những tiến bộ không ngừng từng bước một. Đó là nếp sống thánh khiết.

Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thấy mình không chịu nổi khhi nghe một lời công kích, bị một sự hiểu lầm, thấy một điều trái tai, gai mắt. Chúng ta có da mỏng quá phải không? Vì bất cứ cái gì chạm vào cũng đau, nhưng khi chúng ta mặc giáp binh thì những điều đó không gây cảm xúc chi. Eph:14-17 chép: “Vậy, hãy đứng vững, lấy lẽ thật làm dây nịt lưng, mặc lấy giáp bằng sự công bình, dùng sự sẵn sàng của Tin lành bình an mà làm giày dép. Lại phải lấy thêm đức tin làm thuẫn, nhờ đó anh em có thể dập tắt được các tên lửa của kẻ dữ. Cũng hãy lấy sự cứu chuộc làm mão trụ, và cầm gươm của Đức Thánh Linh, là lời Đức Chúa Trời”.

III. CHỈ ĂN THỊT LOÀI KHÔNG ĂN TẠP (Le 11:13-19):

Có những loài ăn tạp như chim ưng, chim ó, chim diều hâu, chim quạ… Đó là loài ô uế, không nên ăn chúng nó. Chúa bảo người Y-sơ-ra-ên không nên ăn các loại chim đó, có nghĩa là không nên sống như chúng. Mỗi chúng ta cần ăn mỗi ngày, nhưng phải ăn thế nào để không bị ô uế. Đa-ni-ên và ba bạn của ông qua Ba-by-lôn vì bị lưu đày, họ nhất định không ăn đồ cúng, mặc dầu đồ cúng đó là của vua ăn, chắc chắn là ngon lắm. Phao-lô dạy: “Điều thiện ấy là đừng ăn thịt, đừng uống rượu, và kiêng cữ mọi sự chi làm dịp vấp phạm cho anh em mình” (Ro 14:21). Con cháu Rêcáp quả quyết: “Chúng tôi không uống rượu nào; vì tổ chúng tôi là Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp, có truyền dạy chúng tôi rằng: Các ngươi cho đến con cháu các ngươi đời đời chớ khá uống rượu” (Gie 35:6-7). Khi Nô-ê đã ở trong tàu đã 40 ngày, ông thả con quạ ra thì nó không bao giờ trở về tàu của ông nữa. Khi ông bồ câu ra thì bồ câu bay mấy vòng, rồi trở lại tàu. Tại sao? – Vì con quạ thích những thức ăn ô uế, nhưng bồ câu thì không thích ăn những thức ăn như vậy. Quạ là thú ô uế, bồ câu là thú tinh sạch.

Phao-lô viết trong ICo 10:31: “Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm”. Chúng ta ăn làm sao để Chúa được vinh hiển, chúng ta làm mọi sự để Chúa được vinh hiển.

ITi 4:4 chép: “Mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được”. Ngày nay chúng ta được ăn tất cả những con vật vừa kể trên, miễn là mình cảm ơn Chúa. Thử hỏi: Có ai cúi đầu cảm ơn Chúa trước khi ăn của cúng? Trước khi uống rượu? Trước khi trộm cắp không? – Không! Vì những điều đó không tôn vinh Chúa, không làm gương tốt cho ai, mà chỉ gây vấp phạm (Co 10:32-33). Tôi không ăn thịt chó, không phải tôi sợ tội, nhưng theo quan niệm của người Việt Nam cho rằng những người ăn thịt chó là không đàng hoàng, nên gọi là ‘đám ăn thịt chó’, ‘tui ăn thịt chó’, lời đó không tốt chút nào. Vì vậy, tôi là Mục sư mà lại ăn thịt chó, khiến người ta hiểu sai tôi không xứng đáng làm gương mẫu đạo đức, thì giảng Tin lành cho họ sao được? Tôi không bao giờ muốn ăn thịt chó, mặc dầu điều đó không có tội gì, nhưng gây cớ vấp phạm cho người khác. Tôi nhớ chỉ có hai lần trong đời tôi khi đến thăm Tín đồ, họ dọn thịt chó cho tôi ăn, tôi không từ chối, nhưng không muốn ăn, ăn không vui, không ngon chút nào.

Nói tóm một lời, Lê-vi ký đoạn 11 có ý nghĩa thuộc linh rất sâu nhiệm, dạy dỗ chúng ta cách để sống cuộc đời thánh khiết, hầu thích hiệp với Thiên đàng mà chúng ta sắp bước vào đó:

1- Phải phân rẽ với tội lỗi.

2- Phải suy gẫm Lời Chúa.

3- Phải tiến bộ không ngừng.

4- Phải mặc giáp cứu rỗi.

5- Phải cẩn thận khi ăn, uống, làm việc.

6- Phải nhằm mục đích tôn vinh Chúa.

Bài 30: TỘI NỔI LOẠN

Dan 12:1-15

Miriam là nữ Tiên tri, còn A-rôn là Thầy tế lễ, hai người đã hiệp nhau chống lại Môi-se. Lý do của cuộc nổi loạn là lòng ganh tị, mặc dầu ba người là anh chị em với nhau trong một gia đình.

I. LÝ DO NỔI LOẠN (Dan 12:1-2)

“Hai người nói rằng: Đức Giê-hô-va há chỉ dùng một mình Môi-se mà phán sao? Ngài há không dùng chúng ta mà phán nữa sao?”. Họ bảo rằng không phải một mình Môi-se có quyền đại diện Đức Chúa Trời mà phán dạy dân chúng, như Miriam và A-rôn cũng có thể được như vậy. Họ nghĩ rằng Môi-se dìm họ Xuống, chớ họ đáng ngang hàng với Môi-se hay là trên Môi-se nữa. Lòng ganh tị sanh lòng kiêu ngạo, tưởng rằng không ai sánh bằng mình, mình được tôn trọng và mình đáng được tôn trọng nữa. Do lòng kiêu ngạo sanh lời vô lễ.

Chúng ta là con cái của Chúa ở trong Hội Thánh, là một đoàn thể như dân Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời chỉ cho người nầy làm việc nầy, người kia làm việc kia, cũng như mỗi chi thể đều có trách nhiệm, có trật tự hẳn hoi. Trong Hội Thánh cũng phải có trật tự. Chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời rất quí trật tự. Trong vũ trụ mà không có trật tự thì sẽ trở nên hỗn độn và tan nát. Bao nhiêu triệu hành tinh, bao nhiêu triệu ngôi sao, nhưng có một trật tự hẳn hoi, không bao giờ sai lệch cả. Trong Hội Thánh cũng vậy, mỗi chúng ta là con cái của Chúa đều muốn bước đi theo Ngài trong trật tự, mà đừng bao giờ sanh lòng kiêu ngạo mà nổi loạn, dầu nổi loạn bằng lời nói cũng không nên.

Câu 1 chép: “Ma-ri-am và A-rôn nói hành Môi-se về việc người nữ Ê-thi-ô-bi mà người đã lấy; vì người có lấy một người nữ Ê-thi-ô-bi làm vợ”. Khi Môi-se trốn khỏi cung điện Pha-ra-ôn, ông đã vào đồng vắng Ma-đi-an. Tại đó, Môi-se đã lấy người nữ Ê-thi-ô-bi hay là Ma-đi-an làm vợ và hai người đã có hai con. Trong khi Môi-se dẫn dân Y-sơ-ra-ên lưu lạc trong sa mạc, thì Môi-se cũng dẫn vợ và hai con theo. Tôi tưởng gia đình bên vợ của Môi-se cũng tin Chúa, vì khi Môi-se lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên, thì ông gia của Môi-se dẫn vợ và hai con của Môi-se đến cho Môi-se. Chính ông gia của Môi-se đã chỉ dẫn cách lãnh đạo dân trong việc lập những Quan trưởng. Nhưng bây giờ Miriam và A-rôn bới việc đó ra để lên án Môi-se không đáng lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên, mà chính họ mới xứng đáng.

Mỗi chúng ta là con cái của Chúa đều không trọn vẹn một trăm phần trăm. Tuy nhiên, một người lỗi lầm biết ăn năn thì Chúa tha thứ. Khi Chúa đã tha thứ thì Ngài không còn nhớ đến. Ngài chôn vùi như liệng một thứ gì đó vào trong đáy biển. Ngài xóa sạch qua huyết báu của Chúa Jêsus, phiếu trắng lòng chúng ta như tuyết và hơn tuyết nữa. Nếu Đức Chúa Trời tha thứ thì làm sao chúng ta còn bắt tội. Đức Chúa Trời đã bỏ qua thì làm sao chúng ta còn nhớ đến. Chúng ta vẫn thường có một tật xấu là không thấy điều gì tốt trong anh em mình, nhưng luôn luôn chỉ thấy điều xấu trong người đó mà thôi, cho nên lòng ganh tị có thể có, tánh nổi loạn có thể nẩy sinh trong chúng ta. Nếu chúng ta không bước đi trong con đường kính sợ Chúa, mà làm những điều Chúa không bảo mình làm, nói những lời Chúa không bảo mình nói, và nếu chúng ta có tấm lòng ganh tị, có ý gây nổi loạn, gây khó khăn cho nhau thì điều đó làm buồn lòng Chúa.

II. KẾT QUẢ TỘI NỔI LOẠN (Dan 12:4-11):

Câu 2b chép: “Đức Giê-hô-va nghe điều đó”. Dầu Môi-se có nghe điều A-rôn và Miriam nói, dân chúng cũng nghe, nhưng điều quan trọng hơn hết là Đức Chúa Trời nghe. Khi Đức Chúa Trời nghe thì Ngài nổi thịnh nộ với Miriam và A-rôn. “Thình lình Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se, A-rôn và Mi-ri-am rằng: Cả ba hãy ra đến hội mạc. Cả ba đều đi”. Cả ba phải ứng hầu trước mặt Chúa. Tại sao Ngài lại can thiệp như vây? _Vì tội lỗi giống như một thứ ghẻ, một thứ bệnh truyền nhiễm, nếu để lâu thì tinh thần nỗi loạn đó sẽ lan tràn. Ma-r-iam và A-rôn sẽ lôi cuốn nhiều người theo họ, ngăn trở con đường tiến của dân sự, gây khó khăn cho Môi-se trong việc lãnh đạo dân sự vào Ca-na-an. Ngài nói như thế nầy: ‘Nếu trong các ngươi có một tiên tri nào, Ta là Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra cùng người trong sự hiện thấy vào nói với người trong cơn chim bao. Tôi tớ Môi-se Ta không có như vậy, người thật trung tín trong cả nhà Ta. Ta nói chuyện cùng người miệng đối miệng, một cách rõ ràng, không lời đố và người nhìn thấy hình Đức Giê-hô-va. Vây, các ngươi không sợ mà nói hành kẻ tôi tớ ta là Môi-se sao?’. Trong hết thảy Tiên tri Chúa dùng, thì Ngài phán với họ qua chiêm bao và dị tượng, nhưng một mình Môi-se thì lại khác, Ngài phán với Môi-se một cách trực tiếp như hai người bạn cùng nói chuyện. Môi-se được Chúa kêu lên núi. Ông ở lại đó 40 ngày đêm và Ngài chỉ cho ông cách nào để dựng Đền tạm. Như vậy, Môi-se đã trổi hơn hết thảy các Tiên tri mà Chúa trọng dụng, Môi-se trung tín hơn cả những người chung quanh. Chính Môi-se đã đến Pha-ra-ôn yêu cầu vua phóng thích dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi cảnh nô lệ, mà đưa họ vào Ca-na-an để được tự do đầy đủ. Dầu vậy, dân Y-sơ-ra-ên không thấy được điều cao trọng của Môi-se, họ không thấy được sự đối đãi của Đức Chúa Trời đối với Môi-se, không như đối với các tiên tri khác, nhưng trổi hơn các Tiên tri khác. Chúng ta thấy rõ một điều, khi Miriam và A-rôn muốn đánh hạ Môi-se Xuống, thì Chúa lại cất ông lên cao hơn bao giờ hết, họ nói Môi-se không xứng đáng là nhà lãnh đạo, thì Chúa nói cho họ biết rằng ông xứng đáng hơn bất cứ người nào trong trăm ngàn Tiên tri của Đức Chúa Trời.

Chúng ta hãy coi chừng, đừng nói xấu anh em mình, đừng nói một lời gì đánh hạ phẩm giá của họ. Chúng ta thường đi từ nhà nầy sang nhà khác, gặp người nọ, gặp người kia, tìm cách nói xấu anh em mình, nhất là những người tôn trọng trong Hội Thánh. Mỗi chúng ta phải hiểu rằng, ai nấy phải tôn trong lẫn nhau, nếu tôi quí trọng ông bà thì quí ông bà mới quí trọng tôi. Ngược lại, nếu tôi không tôn trọng quí ông bà, thì quí ông bà cũng không tôn trọng tôi. Nếu người nầy nói xấu người kia, người kia nói xấu người nầy, thì cả hai cùng là người xấu cả. Không có lợi cho bên nầy, cũng không có lợi cho bên kia, chỉ có lợi cho kẻ thù là ma quỉ, kẻ chỉ muốn phá hoại Hội Thánh của Chúa. Vì vậy, Kinh Thánh dạy: “Hãy tôn trọng lẫn nhau”, thật chỉ coi người khác tôn trọng hơn mình. Chính vì chúng ta tôn trọng lẫn nhau thì người ngoài mới tôn trọng chúng ta là Hội Thánh Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta nói xấu nhau, chúng ta đánh hạ nhau, thì ma quỉ sẽ vui mừng. Nó thích chúng ta có hành động, ngôn ngữ như vậy. Đó là điều Chúa luôn luôn cấm

A-rôn và Ma-ri-am muốn đánh hạ Môi-se, thì Ngài bênh vực ông, vì Ngài có thần quyền và lý do. Ngài đã kêu gọi, lựa chọn, sai phái, trọng dụng và làm hết mọi sự cho Môi-se, chớ không phải Môi-se tự đặt mình trong chức vụ đó, nên Ngài có thẩm quyền để giải quyết. Lý do Ngài giải quyết là Môi-se không phải người như họ tưởng, nhưng là người rất có giá trị hơn bất cứ ai, nên chính Chúa đã nâng đỡ ông.

Mỗi chúng ta là con cái của Chúa, chúng ta thuộc về Ngài, chúng ta được ngồi trong nhà thờ thật là một đặc ân vô giá. Tôi không xứng đáng được đặt ân nầy nhưng Chúa đã yêu thương tôi, đã cứu chuộc tôi, cho tôi được đặt ân phục vụ Ngài và được ngồi trong nhà thờ. Tôi không tiếc lời nào để ca ngợi tình yêu của Chúa. Xin Chúa giữ gìn chúng ta, đừng bao giờ đòi hỏi một địa vị cao hơn mà Chúa chưa đặt, đó là tinh thần của quỉ Sa-tan. Đọc Ê-sai đoạn 14, có một vị thiên sứ nói: “Ta sẽ…ta sẽ…ta sẽ…ta sẽ…”. Năm lần nó có kế hoạch ‘Ta sẽ’; Ta sẽ lên, lên cho đến ngang hàng với Đức Chúa Trời là Đấng Tạo hóa của vũ trụ. Vì vậy, Chúa sẽ đuổi nó Xuống khỏi Thiên đàng. Nó Xuống, Xuống mãi cho đến tận đáy của địa ngục. Ma quỉ cũng cám dỗ chúng ta, nó cũng thổi phồng chúng ta mà nói rằng: ‘Anh xứng đáng ở trong địa vị đó lắm’, và chúng ta bị cám dỗ mà đòi hỏi địa vị cao hơn, cao hơn. Nhưng rồi chúng ta không bao giờ được cao hơn, nhưng trái lại bị khốn nạn hơn.

Chúng ta đã thấy khi A-rôn và Ma-ri-am muốn được ngang hàng với Môi-se, thì Chúa đã can thiệp. Đây là lời của Chúa: “Các ngươi không sợ nói hành tôi tớ Ta là Môi-se sao?”. Tại sao không bước đi đường kính sợ Chúa mà dám nói hành đầy tớ của Chúa? Kết quả Miriam mắc bệnh phung, A-rôn khiếp sợ trước sự kiện đó.

Chúng ta không thấy điều gì khác hơn trong sự nổi loạn nầy là hậu quả tai hại vô cùng.

III. THÁI ĐỘ CỦA MÔI-SE ĐỐI VỚI KẺ NỔI LOẠN (Dan 12:11-15):

“Vả, Môi-se là người rất khiêm hoà hơn mọi người trong thế gian”. Môi-se rất khiêm nhu, tức là khiêm nhường, nhu mì hơn mọi người. Chúng ta thấy Môi-se có lời nào phản đối không? Ông im lặng hoàn toàn, phó thác việc nầy cho Chúa, vì không phải ông tự đặt địa vị của mình, nhưng Chúa đã đem ông lên. Ông im lặng, nhường sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng xử đoán công bình, nếu ông tự biện hộ hoặc lên tiếng cải vã, thì Chúa không can thiệp đâu. Ngược lại, vì cứ ông im lặng, không nói một lời gì, mà nhường cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, nên chính Chúa đã can thiệp, giải cứu ông, bênh vực ông, mà trách nặng A-rôn và Ma-ri-am. Môi-se lại được tôn trọng hơn bao giờ hết.

Chúng ta phải khao khát tinh thần khiêm nhu của Môi-se, nhất là trong trường hợp như vậy. Ông đang nắm quyền điều khiển dân sự, chính ông đã dẫn họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chính ông được Chúa trọng dụng hướng dẫn họ suốt thời gian gần 40 năm. Ông có nhiều lý lẽ biện hộ cho mình, nói cho họ biết lỗi lầm của họ, nhưng ông đã im lặng. Đức Chúa Trời có mặt tại đó và ông đã nhường sự vinh hiển cho Ngài. Mỗi người chúng ta là người không xứng đáng gì hết để tự biện hộ cho mình; chúng ta đáng phải hổ thẹn vì bao lần chúng ta gân cổ cải lại, cho mình là quan trọng trước những lời nói của anh em.

Tôi nhớ một câu chuyện: Một buổi sáng Chúa nhật, Hội Thánh bầu ban Chấp sự. Trong vòng Tín hữu có nhiều người muốn đắc cử Chấp sự. Người nầy lên tiếng cho mình là người tin Chúa lâu năm, có công trong việc gây dựng Hội Thánh, đáng được ứng cử vào ban Chấp sự. Người khác cũng không chịu thua cho rằng mình hơn người kia, và cứ như vậy nhiều người đứng lên bày tỏ mình là xứng đáng, nên cuối cùng cuộc bầu cử không thể tiến hành được. Sau đó, một cụ già cao tuổi nhất- là người vẫn im lặng từ ban đầu đứng dậy nói: ‘Các ông ai cũng cho mình là xứng đáng được bầu vào chức viên của Hội Thánh. Nếu tôi nói tôi xứng đáng thì thật tôi cũng xứng đáng lắm, xứng đáng hơn các ông nữa, nhưng mà xứng đáng gì? Tôi chỉ xứng đáng ở Địa ngục, chớ không xứng đáng gì hết. Tội nhân khốn nạn nầy không xứng đáng gì hết, nhưng Chúa đã cứu lấy, và còn được ngồi đây. Tôi mong mỗi người hiểu được mình xứng đáng gì? Cảm tạ Chúa, qua lời phân trần của cụ già, nhiều người được thức tỉnh, nước mắt đổ ra với tấm lòng đau đớn và ăn năn, vì tự cho mình là xứng đáng, gây sự cải vả trước mặt Chúa. Vấn đề được giải quyết một cách mau lẹ trong tình thương với sự khiêm nhu.

Không những Môi-se im lặng không nói một lời, nhưng ông còn cầu thay cho Miriam, khi Miriam bị Đức Chúa Trời hình phạt mắc bệnh phung. Câu 11 chép: “A-rôn bèn nói cùng Môi-se rằng: Ôi, lạy chúa tôi, xin chớ để trên chúng tôi tội mà chúng tôi đã dại phạm và đã mắc lấy”. “Môi-se bèn kêu van cùng Đức Giê-hô-va rằng: Ôi, Đức Chúa Trời! Tôi cầu khẩn Ngài chữa cho nàng“. Chúng ta biết là Chúa tha thứ ngay, nhưng Ngài bảo phải biệt riêng bà ra khỏi trại quân trong một tuần lễ, tức là bị tạm dứt phép thông công, và dân Y-sơ-ra-ên phải dừng trại tại đó để chờ Miriam trở vào với đoàn thể dân tộc, và sau đó họ mới tiếp tục đi. Sự việc xảy ra cho chúng ta thấy Môi-se rất cao thượng, rất thánh khiết, một con người chịu đựng giỏi, một nhà lãnh đạo lỗi lạc của một dân tộc thánh khiết, dân tộc của Đức Chúa Trời.

Mỗi chúng ta đều có trách nhiệm lãnh đạo trong một phạm vi rộng hay hẹp. Nếu nói rộng là hướng dẫn một Chi hội, nếu nói hẹp là hướng dẫn một Ban; Ngành nào đó trong Hội Thánh, hay ít hơn là hướng dẫn đàn con của mình trong gia đình. Muốn thánh công trong chức vụ lãnh đạo, chúng ta phải có thái độ im lặng và khiêm nhu. Dầu bị công kích, dầu bị hiểu lầm, thì chúng ta phải im lặng phó thác mình cho Chúa, nghiêng mình trên ngực Ngài. Và khi Chúa đã trách họ- là những người đã phạm tội nghịch cùng chúng ta- thì chúng ta sẵn sàng tha thứ. Phao-lô đã nói trong Eph 3:2 “Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy”. Trong gia đình, chồng vợ phải sẵn sàng tha thứ cho nhau. Im lặng chừng nào thì tốt chừng nấy. Hãy nhường sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta gân cổ cải lại, lớn tiếng mà nói nặng lời thì không giải quyết được vấn đề, mà chỉ thêm vấn đề thôi. Chỉ khi nào chúng ta im lặng đủ, phó thác mình cho Đức Chúa Trời, thì chính Ngài sẽ can thiệp, sự giải quyết của Ngài thật mau lẹ và dễ dàng.

Bài học của chúng ta là đừng ganh tị. Khi anh em mình có chức vụ cao hơn, khi anh em mình được Chúa trọng dụng hơn mình, hãy vui mừng về điều đó, hãy tôn trọng lẫn nhau để hết thảy đều được tôn trọng. Mỗi chúng ta càng phải bước đi trong sự khiêm cung hàng ngày như Môi-se, đừng bao giờ tham lam và ganh tị như Mi-ri-am và A-rôn. Đừng kiêu ngạo vì “Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau, và tánh tự cao đi trước sự sa ngã”. Nhưng Đức Chúa Trời ban ơn cho kẻ khiêm nhường. Ai tự hạ mình Xuống sẽ được nhắc lên, ai tôn trọng Chúa sẽ được tôn trọng, ngược lại sẽ bị sỉ nhục. Xin Chúa giúp mỗi chúng ta áp dụng bài học nầy vào đời sống của mình.

Lên đầu trang