BÀI 1. KINH THÁNH – QUYỂN SÁCH QUAN TRỌNG NHẤT
KINH THÁNH: Thi thiên 1.
CÂU GỐC: “Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình” (II Ti-mô-thê 3:16).
MỤC ĐÍCH: Giúp học viên nhận thức được tầm quan trọng của Lời Đức Chúa Trời và muốn tự mình học hỏi, nghiên cứu.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Quyền năng của Kinh Thánh |
(Hê-bơ-rơ 2:12-16). |
|
TH: |
Quyền năng của KT trong đời sống |
(Công vụ 8:26-38). |
|
TB: |
Một thành phố chịu ảnh hưởng KT |
(Công vụ 13:16-52). |
|
TT: |
Thế giới bị đảo lộn |
(Công vụ17:1-6). |
|
TN: |
Thành công nhờ Lời Đức Chúa Trời |
(Thi thiên 1; Giô-suê 1:8). |
|
TS: |
Lời Chúa có linh nghiệm để dạy dỗ |
(II Ti-mô-thê 3:14-42). |
|
TB: |
Được sức mạnh nhờ Lời Đức Chúa Trời |
(Công vụ 20:25-32). |
Chúng ta phải nhận thức tầm quan trọng của Kinh Thánh, và phải sống thế nào để người khác nhìn vào chúng ta cũng có được nhận thức như vậy. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải đọc Kinh Thánh mỗi ngày trước khi đọc bất cứ sách nào khác, chúng ta ham thích Lời Chúa như ham thích một thức ăn ngon lành bổ dưỡng, học Lời Chúa một cách đều đặn, thận trọng, và làm theo lời Chúa.
I. KINH THÁNH – QUYỂN SÁCH CÓ MỘT KHÔNG HAI.
Kinh Thánh được dịch ra nhiều thứ tiếng hơn bất cứ sách nào khác trên thế giới. Hiện nay Kinh Thánh đã được dịch ra hơn 3.000 ngôn ngữ và thổ ngữ. Kinh Thánh luôn luôn bán chạy nhất, vì số người muốn đọc Kinh Thánh mỗi ngày một nhiều.
Kinh Thánh có liên quan đến nhu cầu của con người. Ai nấy đều có cảm tưởng như Kinh Thánh được viết bằng tiếng mẹ đẻ của mình và Kinh Thánh như phán trực tiếp với chính mình. Có người nói: “Đấng viết Kinh Thánh cũng là Đấng đã dựng nên tôi”.
Ngôn ngữ của Kinh Thánh rất đơn sơ, song ý nghĩa của Kinh Thánh rất cao thâm. Ngay những kẻ dốt nát, thất học cũng có thể hiểu được Kinh Thánh. Song những người có học thức đến đâu cũng không bao giờ hiểu hết ý nghia cao thâm của Kinh Thánh. Vì vậy, người ta có thể học Kinh Thánh suốt đời như khai thác một kho tàng vô tận.
Kinh Thánh giúp đỡ và an ủi mọi người. Khi gặp đau buồn, hoạn nạn, người ta có thể tìm được an ủi trong Kinh Thánh. Khi phải đương đầu với những nan đề, người ta có thể tìm câu giải đáp trong Kinh Thánh. Vua Đa-vít đã kinh nghiệm: “Lời Chúa làm cho tôi được sống lại, ấy là sự an ủi tôi trong cơn hoạn nạn” (Thi thiên 119:50). “Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi, ánh sáng cho đường lối tôi” (Thi thiên 119:105).
Kinh Thánh đề cập đến những biến cố thuộc cõi tương lai. Đó là một trong những điểm quan trọng làm cho Kinh Thánh có một giá trị tuyệt đối. Những việc mà Kinh Thánh đề cập đến đã được ứng nghiệm, đang được ứng nghiệm và sẽ được ứng nghiệm. Ai cũng tò mò muốn biết tương lai. Kinh Thánh nói đến số phận tương lai của loài người và mỗi công trình của họ trên đất.
Mỗi người cần sự cứu rỗi. Nhưng họ không bao giờ mãn nguyện, bất luận họ tìm cầu cách nào và ở đâu, cho đến chừng họ tìm thấy chương trình đó được công bố trong Cựu ước, được Chúa Jêsus thực hiện và được chép trong Tân ước.
Kinh Thánh dạy cách có uy quyền. Kinh Thánh là lời phán của Đấng Chủ Tể trời đất, muôn vật và loài người. Lời Chúa phán không hề phỏng đoán, nhưng khẳng định và quả quyết. Lời Chúa không bao giờ qua đi, mặc dầu trời đất sẽ qua đi. Vì vậy từ bao nhiêu ngàn năm rồi, ma quỉ đã cố sức phá hủy, tiêu diệt Kinh Thánh mà không được, và cũng sẽ chẳng bao giờ được.
II. KINH THÁNH CHỈ CHO LOÀI NGƯỜI CON ĐƯỜNG HẠNH PHÚC (Thi thiên 1:1).
Thi thiên 1 mô tả một người được phước, cũng gọi là người công bình, và một người vô phước cũng gọi là kẻ gian ác. Đặt kẻ gian ác bên cạnh người công bình, là để người công bình được nổi bật, cũng như đặt bức tranh xấu bên cạnh bức tranh đẹp, đặt cái phông đen bên cạnh cái bảng trắng.
1. Bức tranh về người được phước (Thi thiên 1:1-3).
a. Lánh xa kẻ ác.
Người được phước không theo, không đứng, không ngồi, mặc dầu kẻ dữ có mưu kế nhiều và hay, mặc dầu con đường của tội nhân là rộng rãi, mặc dầu chỗ ngồi của kẻ nhạo báng là cao ngất ngưởng. Vì người được phước biết rằng mưu kế của kẻ quỉ quái sẽ bị bại (Gióp 5:13). Con đường rộng rãi của tội nhân sẽ dẫn đến sự hư mất (Ma-thi-ơ 7:13), chỗ ngồi cao ngất ngưởng của kẻ nhạo báng “sẽ bị hạ xuống tới âm phủ” (Ma-thi-ơ 11:23).
b. Gần gũi lời Chúa.
Đã lánh xa kẻ ác, người được phước không những vui vẻ vì có Lời Chúa trong lòng, song còn vui vẻ làm theo Lời Chúa, lấy Lời Chúa làm trung tâm của đời mình. Người ấy ngày đêm suy gẫm Lời Chúa, đem Lời Chúa áp dụng vào đời sống thường nhật của đời mình. Vô luận người ấy đi đâu, làm gì, nói gì, nghĩ gì, thì Lời Chúa chỉ huy tất cả. Ai nấy có thể lấy Lời Chúa dầm thấm trong mỗi tư tưởng, ngôn ngữ và hành động của mình. Không những giữ Lời Chúa trong trí mà người còn giữ trong lòng mình (Thi thiên 119:11). Quyển sách luật pháp của Chúa phải gần với miệng người, gần với lòng người và gần với mỗi hành vi cử chỉ của người (Giô-suê 1:8).
c. Được bình an và thịnh vượng.
Cuộc sống đạo đức của người được phước lớn lên, nẩy nở một cách đều đặn. Nó êm đềm, song vững vàng, thanh thoát như cây trồng gần dòng nước. Một cây như vậy thì lá cứ xanh tươi, hoa trái cứ ra hoài theo thời tiết, bất luận mùa xuân hay mùa hạ. Một năm còn có bốn mùa, lâu lâu cũng có hạn hán, huống chi một đời người suốt mấy mươi năm làm sao tránh khỏi có lúc gian nguy. Song người sống gần gũi với Lời Chúa như có một dòng nước ngầm chảy trong mình ngày và đêm, làm cho đời mình lúc nào cũng bình an. Vì vậy Đa-vít đã nói: “Trọn đời tôi, phước hạnh và sự thương xót sẽ theo tôi” (Thi thiên 23:6).
Sự thịnh vượng của người có phước không nhất thiết phải là giàu có về tiền của, mà giàu có về đạo đức. Người ấy như cây nho sai trái trong vườn của Chúa, luôn sống tôn vinh Chúa, đẹp lòng Ngài. Nếu tín đồ có một đời sống thịnh vượng cho mình mà không thịnh vượng cho Chúa, giàu có tiền của mà không giàu có đạo đức thì giống như cây vả đưng (Lu-ca 13:6-9), như cây vả có lá mà không có trái (Mác 11:12-14).
2. Bức tranh về người vô phước (Thi thiên 23:4-5).
“Kẻ ác chẳng như vậy đâu”, kẻ ác với người công bình khác nhau như tối với sáng, đen với trắng.
a. Giống như rơm rác.
“Người công bình như cây trồng gần dòng nước”, song kẻ ác chỉ như rơm rác. Rơm có thể chất thành đống cao lớn, song giá trị quá ít, chỉ một cơn gió lớn có thể làm bay mất đi. Xem bề ngoài, kẻ ác có vẻ đồ sộ, song không có giá trị trường cửu, chỉ tạm thời thôi.
b. Không đứng nổi trong ngày đoán xét.
Đấng đoán xét là Đức Chúa Trời thánh khiết, công bình, chánh trực, toàn tri. Vì vậy kẻ ác không thể tự biện hộ, cũng không có ai biện hộ cho, chỉ phải cúi đầu, ngậm miệng nhận lấy án phạt đời đời.
c. Không được vào hội người công bình.
Hiện nay kẻ gian ác sống chung với người công bình, song trong ngày đoán xét, chính Chúa sẽ chia họ ra như người chăn chiên chia chiên với dê ra. Người công bình thuộc về hội người công bình và kẻ gian ác thuộc về hội của kẻ gian ác. Chúa biết rõ ai là người công bình và ai là kẻ gian ác. Rồi kẻ nầy vào sự sống đời đời, kẻ kia nhận lấy hình phạt đời đời (câu 6).
CÂU HỎI
1. Xin kể lại bằng cớ chứng minh Kinh Thánh là một quyển sách quan trọng có một không hai.
2. Thi thiên vẽ ra hai bức tranh gì?
3. Xa lánh kẻ ác có nghiã gì?
4. Thế nào là gần gũi Lời Chúa?
5. Người được phước giống như gì?
6. Người ấy được thịnh vượng, có nghĩa gì?
7. Kẻ ác được ví như gì và tại sao?
8. Tại sao kẻ ác không đứng nổi trong ngày đoán xét?
9. Kinh Thánh mô tả số phận cuối cùng của kẻ ác là thế nào?
BÀI 2. ĐẤNG TẠO HÓA TỰ BÀY TỎ
KINH THÁNH: Thi thiên 96.
CÂU GỐC: “Nguyền xin sự tôn quí, vinh hiển đời đời vô cùng về nơi Vua muôn đời, không hề hư nát, không thấy được, tức là Đức Chúa Trời có một mà thôi! Amen” (I Ti-mô-thê 1:17).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ thế nào Đức Chúa Trời tự tỏ mình để chúng ta biết Ngài.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời |
(Ê-sai 6:1-8). |
|
TH: |
Quyền năng và vinh quang của Đức Chúa Trời |
(Thi thiên 96:97). |
|
TB: |
Sự chăm sóc, lo liệu của Đức Chúa Trời |
(Thi thiên 104). |
|
TT: |
Sự chăm sóc, bảo vệ của Đức Chúa Trời |
(Thi thiên 91). |
|
TN: |
Sự tha thứ của Đức Chúa Trời |
(Thi thiên 113). |
|
TS: |
Tình thương của Đức Chúa Trời |
(IGiăng 4:7-21). |
|
TB: |
Sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời |
(Rô-ma 5:1-11). |
Chắc chắn chúng ta đều nhận biết Đấng quan trọng nhất trong vũ trụ là Đức Chúa Trời. Không những chúng ta nhận biết Ngài có thật mà còn được thông công mật thiết với Ngài, cảm tạ Ngài, tôn thờ Ngài, phục vụ Ngài. Làm sao chúng ta có thể nhận biết Ngài như vậy? Chúng ta không thể nhờ tri thức hay bất luận một giả thiết nào để nhận biết Đức Chúa Trời, song Ngài đã tự biểu hiện cho chúng ta qua ba đường lối khác nhau.
I. ĐẤNG TẠO HÓA TỰ BÀY TỎ QUA CÕI THIÊN NHIÊN (Thi thiên 19:1).
Đấng Tạo hóa là Đức Chúa Trời tự biểu hiện Ngài ra trong công việc của Ngài. Vì không thể nào có loài thọ tạo mà không có Đấng Tạo Hóa. Có hiệu quả tất phải có căn nguyên và căn nguyên phải lớn hơn hiệu quả.
Khi chúng ta nhìn bầu trời bao la vô tận với muôn vàn tinh tú, lại ngắm biển cả, non cao, chúng ta phải nhận rằng Đấng dựng nên trời đất thật quyền năng vĩ đại. Khi chúng ta nhìn ngắm cỏ xanh, nước biếc, trăm hoa đua nở, cảnh vật muôn màu, chim muông ca hát, chúng ta phải nhận rằng Đấng Tạo Hóa thật khôn ngoan, khéo léo tuyệt vời, khi chúng ta ngắm thân hình đẹp đẽ của con người như một vũ trụ thu nhỏ, chúng ta phải cảm tạ ca ngợi Đấng Tạo Hóa đã thương yêu, chăm sóc, lo liệu cho con người chu đáo là dường nào! Ngoài ra còn vô số sự vật tinh vi, tuyệt hảo, diệu kỳ mà chúng ta không làm sao kể cho xiết và hiểu trọn hết được, đó là công việc của Đức Chúa Trời!
II. ĐẤNG TẠO HÓA TỰ BÀY TỎ QUA KINH THÁNH.
“Đời xưa Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần, nhiều cách” (Hê-bơ-rơ 1:1). Ngài dùng chiêm bao, dị tượng, tiếng phán từ trời, trực tiếp do thiên sứ, hoặc qua các nghi thức thờ phượng như đền tạm, đền thờ, sinh tế, thầy tế lễ.
Đức Chúa Trời phán dạy loài người qua lịch sử dân Y-sơ-ra-ên. Chúa dùng các trước giả chép lại các biến cố xảy ra có tương quan đến dân Y-sơ-ra-ên trong các sách Sáng thế ký đến Ê-xơ-tê. Ngài cũng cảm động các người thành tâm kính mến, tôn thờ Ngài, để họ sáng tác các văn thơ, ca khúc như các sách từ Gióp đến Nhã ca. Ngài hướng dẫn các tiên tri ghi lại các sứ điệp mà họ đã truyền giảng cho người đồng thời, như các sách từ Ê-sai đến Ma-la-chi.
Sau khi Chúa Jêsus thăng thiên, các sứ đồ và bạn hữu của họ được thần cảm ghi chép đời sống, công việc và lời giảng dạy của Ngài trong ba năm chức vụ, công việc và lời giảng của các sứ đồ trong Hội Thánh đầu tiên, như bốn sách Tin Lành và sách Công vụ các sứ đồ. Vì nhu cầu phổ biến giáo lý, sửa trị Hội Thánh và truyền thông tin tức mà Phao-lô, Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng, Giu-đe đã được linh cảm viết các thư tín như từ Rô-ma đến Khải huyền.
“Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời” (II Phi-e-rơ 1:21).
“Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình” (II Ti-mô-thê 3:16).
1. Đức Chúa Trời là Thần. (Giăng 4:24).
Chúng ta tin Đức Chúa Trời có thật (Hê-bơ-rơ 11:6). Song không có nghĩa là Ngài có thân xác. Hiện nay chúng ta có thật trong thân xác, song khi chết, hồn lìa khỏi xác, chúng ta vẫn còn có thật. Thân xác chỉ là phương tiện để chúng ta tỏ mình ra. Chúng ta có thật vì chúng ta biết suy tư, lý luận, ước ao, chọn lựa, yêu, ghét… Đức Chúa Trời có thật vì Ngài, nghe, thấy, nói, làm, suy tư, quyết định v.v… Ngài là một vị phẩm, Ngài là Thần. Chúa Jêsus giải thích: “Thần thì không có thịt và xương” (Lu-ca 24:39). Vì vậy, Kinh Thánh tuyệt đối ngăn cấm dân Y-sơ-ra-ên thờ Đức Chúa Trời bằng vô luận một hình tượng nào (Phục truyền 4:15-18).
2. Đức Chúa Trời hằng hữu (Sáng thế ký 21:33; Xuất Ê-díp-tô ký 3:14; Thi thiên 90:2).
Chúa hằng hữu từ trước vô cùng cho đến sau vô tận. Ngài không bao giờ thay đổi, muôn đời vẫn y nguyên.
3. Đức Chúa Trời toàn tri và toàn tại (Thi 139:1-12).
Chúa biết hết mọi sự từ buổi sáng thế cho đến sau ngày tận thế. Không có gì là bí mật cho Chúa, không có gì là ngẫu nhiên, là đột xuất cho Ngài. Đối với Chúa không có quá khứ, cũng chẳng có vị lai, mà chỉ có hiện tại, và cõi vô tận đều hiện ra trước mắt Ngài.
4. Đức Chúa Trời toàn năng (Gióp 42:4).
Chúa dựng nên vũ trụ và bảo tồn vũ trụ, không có gì là bất năng cho Ngài cả. “Các dân tộc khác nào một giọt nước nhỏ trong thùng, kể như một mảy bụi rơi trên cân… Mọi dân tộc ở trước mặt Đức Giê-hô-va thảy đều như không, Ngài xem như trống không và hư vô vậy” (Ê-sai 40:15,17).
5. Đức Chúa Trời thánh khiết và công bình (Ê-sai 5:16; 6:3).
Ngài gớm ghê tội lỗi, chống cự tội lỗi, lúc nào Ngài cũng sẵn sàng tiêu trừ tội lỗi, bất luận nó ở đâu, dưới hình thức nào, Ngài đã khiến đất há miệng nuốt Cô-rê, Đa-than, A-bi-ram và đảng của họ, Ngài hình phạt Na-đáp và Abihu. Song sự thánh khiết và công bình của Ngài bảo vệ, bênh vực kẻ có lòng kính mến Ngài và ban thưởng cho họ (IITê 1:6-8; II Ti-mô-thê 4:8; Hê-bơ-rơ 6:10).
6. Đức Chúa Trời thương yêu (Giăng 3:16; IGiăng 4:8,16).
Không có nơi nào chứng tỏ tình thương của Chúa rõ ràng bằng tại thập tự giá. Không có tình thương nào bằng tình thương Đức Chúa Trời khi Ngài ban cho Con Độc sanh chịu chết đền tội cho chúng ta (Rô-ma 5:6-8).
7. Đức Chúa Trời thành tín (Phục truyền 7:9; Hê-bơ-rơ 10:23).
Chúa giữ lời hứa của Ngài. Những lời ra từ miệng Ngài phải ứng nghiệm trọn vẹn. Điều chi Ngài đã hứa, Ngài sẽ làm. Ngài không bao giờ chậm trễ, cũng không bao giờ thất tín. Sự thành tín Ngài lớn lắm. Trời đất sẽ qua đi song Lời Chúa không bao giờ qua đâu. Tin cậy Chúa, chúng ta sẽ không bao giờ bị hổ thẹn (Thi thiên 119:89-90). Đó là Đức Chúa Trời toàn năng, toàn tri, toàn thiện, toàn mỹ, chí ái, chí nhân, chí công, chí thánh, vô thỉ vô chung, là Đấng muôn nước, muôn dân, muôn vật phải hát xướng, tôn thờ một cách cung kính và run rẩy (Thi thiên 96).
III. ĐẤNG TẠO HÓA TỰ BÀY TỎ QUA CHÚA JÊSUS (Hê-bơ-rơ 1:2).
Dầu Đức Chúa Trời đã biểu hiện chính mình Ngài cho nhân loại qua cõi thiên nhiên, qua Kinh Thánh, song vẫn chưa trọn vẹn. Ngài đã tự biểu hiện qua Con Độc sanh của Ngài. Chúa Jêsus là mặc khải tối cao và tối hậu của Đức Chúa Trời.
Chúa Jêsus đã đến trần gian và thi hành công tác Đức Chúa Cha giao phó cho Ngài đúng như các tiên tri đã báo trước (Ma-thi-ơ 5:17; Lu-ca 22:44). Vì vậy, bốn sách Tin Lành và sách Công vụ thường trưng dẫn Cựu Ước để chứng minh Chúa Jêsus làm ứng nghiệm các lời tiên tri về Ngài. Chúa Jêsus là Ngôi Lời đã trở nên xác thịt ở giữa chúng ta để giãi bày Đức Chúa Trời, không những giãi bày bằng lời nói mà cũng bằng việc làm. Mọi lời Chúa Jêsus nói, mọi việc Ngài làm nhằm mục đích giãi bày Đức Chúa Trời cho mọi người. Ai nghe Chúa Jêsus là nghe Đức Chúa Trời, ai tiếp Ngài là tiếp Đức Chúa Trời, ai tôn Ngài là tôn Đức Chúa Trời. Nhân loại không thể nào biết Đức Chúa Trời nếu không nhờ Chúa Jêsus là sự mặc khải tối hậu của Đức Chúa Trời.
CÂU HỎI
1. Qua các đường lối nào, ta có thể biết Đức Chúa Trời?
2. Qua cõi thiên nhiên chúng ta biết Đức Chúa Trời thế nào?
3. Qua Kinh Thánh chúng ta biết Đức Chúa Trời có những đức tính gì?
4. Xin giải thích một trong các đức tính của Ngài.
5. Chúa Jêsus đến trần gian để làm gì?
6. Chúa Jêsus giãi bày Đức Chúa Trời cách nào?
7. Tại sao chúng ta tin Chúa Jêsus là sự mặc khải tối hậu của Đức Chúa Trời?
8. Chúng ta phải làm gì khi biết Đức Chúa Trời qua cõi thiên nhiên, Kinh Thánh và Chúa Jêsus?
BÀI 3. NHẬN BIẾT CHÚA JÊSUS.
KINH THÁNH: Phi-líp 2:1-11.
CÂU GỐC: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con Một đến từ nơi Cha” (Giăng 1:14).
MỤC ĐÍCH: Giới thiệu Chúa Jêsus như Kinh Thánh đã mặc khải.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Chúa Jêsus tự xưng là Đức Chúa Trời |
(Giăng 8:48-58). |
|
TH: |
Chúa Jêsus với Đức Chúa Trời là một |
(Giăng 14:1-14). |
|
TB: |
Chúa là Đức Chúa Trời và Cứu Chúa của chúng ta |
(Cô-lô-se 1:10-22). |
|
TT: |
Đức Chúa Trời tuyên bố về thần tánh của Chúa Jêsus |
(Hê-bơ-rơ 1:1-8). |
|
TN: |
Bằng chứng về thần tánh của Chúa Jêsus |
(Giăng 20:1-18). |
|
TS: |
Bằng chứng về thần tánh của Chúa Jêsus |
(Giăng 20:19-31). |
|
TB: |
Thần tánh của Chúa là nền tảng của HT |
(Ma-thi-ơ 16:13-20). |
Hoàng tử Giô-na-than đã kết bạn với gã chăn chiên Đa-vít và yêu mến chàng. Giô-na-than trao cho Đa-vít cung, đai, gươm, áo của mình. Vì thế về sau Đa-vít đã khóc Giô-na-than: “Hỡi Giô-na-than, anh tôi, lòng tôi quặn thắt vì anh. Anh làm cho tôi thỏa dạ, nghĩa bầu bạn của anh quý hơn tình thương người nữ” (II Sa-mu-ên 1:26).
Chúa Jêsus, Hoàng tử của Nước Trời đã giáng trần và kết bạn với chúng ta. Ngài yêu chúng ta đến nỗi đã ban chính sinh mạng Ngài làm tế lễ đền tội cho chúng ta và Ngài đã sống lại. Ngài đã trở nên bạn chân thành nhất của chúng ta.
Dầu chúng ta đã biết Ngài và tin Ngài, song chúng ta cần biết Ngài nhiều hơn nữa qua bài học hôm nay.
I. CHÚA JÊSUS LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI.
Sự giáng sinh của Chúa Jêsus, sự giảng dạy của Ngài, các phép lạ Ngài đã làm như chữa mọi thứ bệnh tật, đuổi quỉ, hóa bánh, quở bão tố yên lặng, gọi kẻ chết sống lại là những bằng chứng cho thấy Ngài chính là Đức Chúa Trời.
Nhiều lần Chúa Jêsus đã công khai tuyên bố Ngài với Đức Chúa Trời là một (Giăng 10:30), ai thấy Ngài là thấy Đức Chúa Trời (Giăng 12:45), Ngài bình đẳng với Đức Chúa Trời (Giăng 5:18).
Kinh Thánh cũng xưng Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 1:18; Rô-ma 9:5; Giăng 20:18). Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Cựu Ước là Chúa Jêsus của Tân Ước (Sự so sánh Thi thiên 102:23-28 với Hê-bơ-rơ 1:10-12; Ê-sai 40:3-4 với Ma-thi-ơ 3:3 và Lu-ca 1:68,69,76 với Khải huyền 22:8-9).
Tuy nhiên sự sống lại của Chúa Jêsus từ trong kẻ chết mới là bằng cớ minh bạch và hùng hồn nhất. Ngài là Đức Chúa Trời. Các lãnh tụ Dothái giáo đã nộp Ngài để bị giết vì tội phạm thượng, vì Ngài đã tự xưng là Đức Chúa Trời. Nhưng Chúa Jêsus đã chứng minh lời phán của Ngài bằng chính sự sống lại của Ngài. Chỉ một mình Ngài có quyền trên sự sống và sự chết. Ngài phó mình vào sự chết và cũng có quyền lấy lại. Ngài không hề phạm thượng vì Ngài thật là Đức Chúa Trời. Sau khi sống lại, Ngài đã phán: “Hết thảy quyền phép trên trời và dưới đất đã giao cho ta”. Đó là tuyên ngôn Ngài là Vua của cả vũ trụ.
Khi Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá. Thô-ma đã nản lòng sợ hãi, không còn muốn hội họp gì nữa với các bạn bè. Bỗng ông thấy đám bạn đổ xô đi tìm ông và khi tìm được, họ phấn khởi la lớn: “Thô-ma ơi! Chúa Jêsus đã sống lại! Chúng tôi đã gặp Ngài!” Thô-ma tỏ vẻ nghi ngờ, đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh trong bàn tay Ngài thì tôi không tin”. Rồi một hôm, Thô-ma theo bạn bè đến phòng cao. Thình lình Chúa Jêsus hiện ra đứng giữa đó, Ngài chỉ cho Thô-ma xem bàn tay Ngài, Thô-ma bèn sấp mình dưới chân Ngài và thưa: “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi”.
Xin đừng nản lòng vì sợ hãi nữa. Chúa Jêsus đã sống lại. Chúng ta đã gặp Ngài. Hãy nghe Ngài tuyên phán: “Đừng sợ chi! Ta là Đấng trước hết, và là Đấng sau cùng, là Đấng sống, Ta đã chết, kìa nay Ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ” (Khải huyền 1:17-18). Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời.
II. CHÚA JÊSUS LÀ ĐẤNG CỨU THẾ (Phi-líp 2:5-11).
Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời. Ngài có đặc tính thiên thượng như toàn tri, toàn năng, hằng hữu, chí thánh, chí nhân. Song vì muốn cứu chúng ta nên Chúa Jêsus đã phải qua những bước sau đây:
1. Ngài không nắm giữ sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời.
Chúa Jêsus có địa vị, bản chất, quyền năng, vinh hiển như Đức Chúa Trời, ngang hàng với Đức Chúa Trời, song vì yêu chúng ta, Ngài không nắm giữ điều đó.
2. Ngài tự bỏ chính mình.
Điều này có nghĩa là Chúa Jêsus tự lột bỏ sự vinh hiển của Ngài vốn có từ trước vô cùng. Song xin nhớ rằng Ngài không bao giờ lột bỏ thần tính của Ngài, suốt cuộc đời tại trần gian, Ngài vẫn là Đức Chúa Trời.
3. Ngài lấy hình tôi tớ.
Tôi tớ là người vâng lời, phục vụ. Ở trên trời, Ngài có hàng triệu thiên sứ sẵn sàng vâng lời, phục sự Ngài. Nhưng Ngài bằng lòng bỏ mọi sự, làm tôi tớ của Đức Giê-hô-va để thực hiện chương trình cứu rỗi của Ba Ngôi Đức Chúa Trời (Ê-sai 52:13; 53:1).
4. Ngài trở nên giống như loài người.
Ngài đã mặc lấy hình con người, vì Ngài là Ngôi Lời trở nên xác thịt ở giữa chúng ta. Ngài không thể nào ở giữa chúng ta, nếu Ngài không trở nên người như chúng ta. Vì không ai thấy mặt Đức Chúa Trời mà còn sống (Xuất Ê-díp-tô ký 33:20).
5. Ngài hiện ra như một người.
Nếu Ngài chỉ là Đức Chúa Trời thì Ngài không thể chết để đền tội cho chúng ta. Song nếu Ngài chỉ là người thì sự chết của Ngài không có giá trị để đền tội cho chúng ta. Ngài là Đức Chúa Trời trọn vẹn và cũng là người trọn vẹn, nên Ngài mới có thể chết và sự chết của Ngài mới có giá trị đầy đủ để đền tội cho chúng ta. “Vì con cái có phần về thịt và huyết nên chính Đức Chúa Jêsus cũng có phần vào đó, hầu cho Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết là ma quỉ” (Hê-bơ-rơ 2:14).
6. Ngài hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết.
A-đam đã không hạ mình, cũng không vâng phục, nên đem đến cho nhân loại một thảm họa vô cùng kinh khiếp. Chúa Jêsus đã hạ mình và vâng phục cho đến chết để ai nấy được hạnh phúc đời đời.
7. Ngài chết trên cây thập tự.
Chúa Jêsus đã vâng phục cho đến chết nhưng còn phải chết trên cây thập tự. Đóng đinh trên cây thập tự là cách xử tử đau đớn và sỉ nhục nhất. Hình phạt này chỉ dành cho nô lệ và dân bị trị. Phao-lô bị chém đầu vì ông là công dân La-mã. Còn đối với người Dothái: “Khi một người phạm tội đáng chết thì hãy giết nó và treo lên trụ hình. Kẻ nào bị treo ắt bị Đức Chúa Trời rủa sả” (Phục truyền 21:22-23). Lý do người Dothái khước từ Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế vì cho rằng Ngài bị Đức Chúa Trời rủa sả. Song họ có ngờ đâu, chính vì họ và toàn thể nhân loại mà Chúa Jêsus đã bị Đức Chúa Trời rủa sả (Ga-la-ti 3:13).
Trên đây là bảy bước mô tả Chúa Jêsus vốn ở nơi vinh hiển cao tột đã tình nguyện xuống nơi thấp hèn cùng tột để tìm và cứu chúng ta, nên sau khi công tác đã xong, Đức Chúa Trời khiến Chúa Jêsus sống lại, đem Ngài lên rất cao, ngồi bên hữu Đức Chúa Trời và tôn Ngài làm Chúa Cứu Thế (Công vụ 2:32-33,36).
Biết Chúa Jêsus, chúng ta không những tin Ngài, mà còn phải nói về Ngài cho mọi người. Đừng làm cho sự hi sinh của Chúa ra vô ích bằng cách im hơi lặng tiếng. Nếu chưa được nghe Tin Lành, vô số linh hồn sẽ xuống chốn trầm luân mà không hay biết gì cả về Chúa là Đấng đã chết và sống lại vì họ.
III. CHÚA JÊSUS LÀ ĐẤNG CHỦ TỂ (Công vụ 2:36; 10:36; Rô-ma 14:9; Lu-ca 2:11; Phi-líp 2:11).
Các câu Kinh Thánh trên đây và nhiều câu khác làm chứng rằng Chúa Jêsus là Chúa, tức là Chủ Tể. Đức Chúa Trời đã lập Chúa Jêsus làm Chúa và tuyên bố Chúa Jêsus là Chúa của nhân loại. Ngài đã chết và sống lại để làm Chúa kẻ sống và kẻ chết.
Chúng ta đã tin Chúa Jêsus và được tha thứ hết mọi tội lỗi, song cũng phải tôn Ngài làm Chúa lòng mình (I Phi-e-rơ 3:15). Tôn Chúa Jêsus làm Chủ Tể lòng mình là kể tất cả khả năng, tri thức, sức khỏe, tiền tài, thì giờ của chúng ta đều thuộc về Chúa. Chúa đã dựng nên chúng ta, Ngài lại mua chuộc chúng ta, nên chúng ta hoàn toàn thuộc về Ngài.
Hãy nghe Chúa trách: “Sao các ngươi gọi ta là Chúa, Chúa mà không làm theo lời Ta phán?” (Lu-ca 6:46). Nếu chúng ta không tôn Chúa Jêsus làm Chủ Tể lòng mình là chúng ta chống lại mạng lịnh của Đức Chúa Trời, cướp quyền sở hữu của Chúa Jêsus, xem tuyên ngôn của Ngài là vô giá trị. Hành động đó giống như các người chống đối đã nói: “Chúng tôi không muốn người này cai trị chúng tôi” (Lu-ca 19:14). Chúng ta không bao giờ có một đời sống đẹp lòng Chúa và Chúa cũng không thi hành quyền năng vô cùng của Ngài trong chúng ta cho đến chừng nào chúng ta tôn Ngài làm Chủ Tể của mình.
Nhờ đâu Phao-lô có một đời sống đắc thắng luôn luôn? Vì khi gặp Chúa trên đường Đa-mách ông đã thưa: “Lạy Chúa! Tôi phải làm chi?” (Công vụ 22:10) và khi viết thư cho Hội Thánh Phi-líp, ông nói: “Ngài là Chúa tôi!” (Phi-líp 3:8).
Mỗi chúng ta cũng phải nhận biết Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời, là Đấng Cứu Thế và là Đấng Chủ Tể của Hội Thánh, của trời đất, muôn vật và của chính tôi. Chỉ nhờ sự nhận biết đó mà chúng ta được tha thứ tội lỗi, được cứu, được tái sinh, được làm con cái Đức Chúa Trời và được hưởng sự sống đời đời.
CÂU HỎI
1. Người bạn chân thành nhất của chúng ta là ai?
2. Hãy kể ra bằng cớ chứng minh Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời?
3. Trong các bằng cớ đó, bằng cớ nào mạnh mẽ hơn hết? Vì sao?
4. Chúa Jêsus đã đi những bước nào để từ thiên đàng đến thập tự giá?
5. Trong các bước đó, bước nào đau khổ hơn hết?
6. Tin Chúa Jêsus là Đấng Chủ Tể có nghĩa gì?
7. Tin nhận Chúa Jêsus là Chúa Cứu Thế, chúng ta còn phải làm gì nữa?
8. Không tin Chúa Jêsus là Đấng Chủ Tể, có nguy hại gì?
9. Chúng ta nên có thái độ nào khi biết Chúa Jêsus của chúng ta là Đức Chúa Trời, Đấng Chủ Tể?
BÀI 4. ĐỨC THÁNH LINH – ĐẤNG HƯỚNG DẪN BẢO ĐẢM NHẤT CỦA CHÚNG TA
KINH THÁNH: Giăng 16:1-15.
CÂU GỐC: “Nhưng Đấng Yên ủi, tức là Đức Thánh Linh mà Cha sẽ nhân danh Ta sai xuống, Đấng ấy sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều Ta đã phán cùng các ngươi” (Giăng 14:26).
MỤC ĐÍCH: Giới thiệu Đức Thánh Linh là một trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời, Đấng hướng dẫn chúng ta.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Lời hứa về Đức Thánh Linh |
(Giăng 14:16-26). |
|
TH: |
Đức Thánh Linh giáng lâm |
(Công vụ 2:1:21). |
|
TB: |
Công tác của Đức Thánh Linh |
(Giăng 16:7-15). |
|
TT: |
Đức Thánh Linh dò xét |
(ICôr 2:1-16). |
|
TN: |
Quyền năng của Đức Thánh Linh |
(Công vụ 1:8; 4:31-33). |
|
TS: |
Bước đi trong Thánh Linh |
(Rô-ma 8:1-26). |
|
TB: |
ĐTL làm chứng cho Chúa Jêsus |
(Giăng 15:1-27). |
Ngày kia, Phao-lô đến thành Ê-phê-sô gặp một số tín đồ, câu hỏi đầu tiên của ông là: “Từ khi anh em tin, có nhận lãnh Đức Thánh Linh không?” Đáp: “Không! Chúng tôi cũng chưa hề nghe có Đức Thánh Linh nào!” Sau khi được giải thích, họ chịu báptêm và Đức Thánh Linh giáng trên họ.
Ngày nay cũng có những tín đồ chưa hề nghe về Đức Thánh Linh, nhiều người đã nghe song chưa rõ, họ còn xa lạ với Ngài. Phước cho ai quen biết Đức Thánh Linh để Ngài ngự trị lòng mình và được Ngài hướng dẫn từng bước một.
Chúng ta đã học về Đức Chúa Cha (Bài 2), Đức Chúa Jêsus (Bài 3), bây giờ chúng ta học về Đức Thánh Linh (Bài 4). Kinh Thánh cho chúng ta biết Đức Chúa Trời có Ba Ngôi. Đức Chúa Trời tự xưng bằng ngôi thứ nhất số nhiều: “CHÚNG TA”. “Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta”. “Nầy sự phân biệt điều thiện và điều ác, loài người đã thành một bậc như chúng ta” (Sáng 1:26; 3:22). “Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta?” (Ê-sai 6:8). Tân Ước chỉ rõ Ba Ngôi là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh (Ma-thi-ơ 3:16; 28:19; IICôr 13:13).
I. ĐỨC THÁNH LINH LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI.
1. Đức Thánh Linh có bản tính như Đức Chúa Trời.
Đức Thánh Linh hằng hữu, toàn tri, toàn năng, và toàn tại (Hê-bơ-rơ 9:14; Thi thiên 139:7-10; Lu-ca 1:35; Giăng 14:26; 12:13).
2. Đức Thánh Linh có phẩm vị như Đức Chúa Trời.
Đức Thánh Linh yêu, buồn, muốn, dò xét, cầu thay, phán dạy, làm chứng, cáo giác, hướng dẫn v.v… (Rô-ma 15:30; Ê-phê-sô 14:30; ICôr 12:11; 2:10; Rô-ma 8:26; Khải huyền 2:7; Giăng 15:26; 16:8; Rô-ma 8:14).
3. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Cựu Ước là Đức Thánh Linh của Tân Ước.
So sánh Thi thiên 95:7-9 với Hê-bơ-rơ 3:7-9; Ê-sai 6:9 với Công vụ 28:25; Giê-rê-mi 31:3 với Hê-bơ-rơ 10:15-16.
4. Kinh Thánh xưng Đức Thánh Linh là Đức Chúa Trời.
Công vụ 5:3-4; ICôr 3:16-17 và 6:19.
II. CÔNG VIỆC CỦA ĐỨC THÁNH LINH.
Trong giới hạn bài học nầy, chúng ta không thể học hết công việc của Thánh Linh trong vũ trụ, trong các nhân vật đời Cựu Ước, song chỉ học về công việc của Ngài trong tín đồ đời Tân Ước, căn cứ vào Giăng 16:1-15.
1. Đối với thế gian: Đức Thánh Linh cáo giác mọi người (c.8-11).
a. “Về tội lỗi, vì họ không tin Ta”.
Qua cách ăn ở và sự làm chứng của tín đồ, Thánh Linh cáo giác thế gian về tội chối bỏ Chúa Jêsus. Dân Dothái đã phạm tội không tin mà chối bỏ Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế, đưa đến tội đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Ngày nay ai chối bỏ Chúa Jêsus đều bị kết án là đồng lõa với dân Dothái. Khi Phi-e-rơ đầy dẫy Thánh Linh, ông kết án dân Dothái: “Các ông đã mượn tay độc ác mà đóng đinh Ngài trên cậy thập tự và giết đi” (Công vụ 2:23). Cảm biết tội mình, họ đau đớn dữ dội, kêu lên: “Anh em ơi! Chúng tôi phải làm chi?” Kết quả có 3.000 người được cứu.
Có người nói: “Tin Chúa thì tốt, song không tin cũng tốt thôi”. Kinh Thánh không bao giờ nói vậy, mà nói rằng: “Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu, ai không tin thì đã bị đoán xét rồi, vì không tin đến Danh Con Một Đức Chúa Trời. Ai tin Con thì được sự sống đời đời, ai không chịu tin Con thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người ấy” (Giăng 3:18,36). Không tin Chúa Jêsus là tội nặng nhất, đáng bị hình phạt.
b. “Về sự công bình, vì Ta đi đến cùng Cha”.
Khi người Dothái nộp Chúa Jêsus để bị đóng đinh trên thập tự giá thì họ cho Ngài là kẻ phạm thượng, là tay gian ác. Nhưng khi Đức Chúa Trời đã khiến Đức Chúa Jêsus sống lại và về trời thì đó là bằng cớ hiển nhiên Ngài là Đấng công bình, thánh khiết. Cho nên khi Phi-e-rơ đầy dẫy Đức Thánh Linh, ông tố cáo sự lầm lạc của dân Dothái: “Các ông đã chối bỏ Đấng công bình và thánh khiết…, các ông đã giết Chúa của sự sống mà Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, và chúng tôi là người làm chứng cho điều đó” (Công vụ 3:14-15). Ông liền kêu gọi họ ăn năn (Công vụ 3:19).
c. “Về sự phán xét, vì vua chúa thế gian nầy đã bị phán xét”.
Vua chúa của thế gian nầy là ma quỉ. Nó đã tập trung toàn lực tại thập tự giá của Chúa Jêsus, song tại đó nó đã bị thất bại chua cay như con rắn bị người ta chà nát đầu. Số phận của nó đã định đoạt, án nó đã tuyên bố rồi, chỉ còn chờ ngày thi hành. Sự chết và sự sống lại của Chúa Jêsus đã chiến thắng ma quỉ, thế gian, tội ác một lần đủ cả cho đến đời đời.
Mỗi khi chúng ta truyền giảng hoặc làm chứng về sự chết và sự sống lại của Chúa Jêsus, thì Đức Thánh Linh lấy điều đó cáo giác mọi người về tội vô tín và lầm lạc của họ, khiến họ ăn năn. Nếu Thánh Linh không làm điều đó thì công lao của chúng ta đều vô ích. Đồng thời mỗi lần chúng ta truyền giảng và làm chứng là xác nhận sự thất bại hoàn toàn của ma quỉ, nó không còn là một kẻ thù đáng sợ nữa.
2. Đối với Hội Thánh: Đức Thánh Linh hướng dẫn chúng ta vào trong lẽ thật (c.12-13).
Lẽ thật chỉ có một, song có nhiều phương diện, có nhiều chủ đề. Đức Thánh Linh là Thần Lẽ thật. Ngài đang dạy dỗ, hướng dẫn, để chúng ta hiểu Lời của Đức Chúa Trời về các giáo lý, về các chủ đề của đời sống trong quá khứ, hiện tại và vị lai một cách đúng. Chỉ có Thánh Linh mới hiểu thấu mọi sự thuộc về Đức Chúa Trời, nên Ngài làm giáo sư lớn, tối cao, có đủ tư cách và khả năng giải thích Lời của Đức Chúa Trời cho chúng ta. Nếu không nhờ Ngài, chúng ta không thể hiểu được gì, hoặc hiểu sai.
Xưa nay có nhiều người đọc Kinh Thánh, song không nhờ Thánh Linh hướng dẫn và dạy dỗ, nên họ đã hiểu sai. Vì vậy, đã có nhiều tà giáo dấy lên. Ngoài ra, còn có người lợi dụng Kinh Thánh như ma quỉ hoặc giải nghĩa sai sẽ “chuốc lấy sự hư mất cho mình” (II Phi-e-rơ 3:16). Vì “người xác thịt không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời, bởi chưng người đó coi sự ấy như là rồ dại và không có thể hiểu được, vì phải xem xét một cách thiêng liêng” (ICôr 2:14).
Chúng ta hãy cung kính xin Thánh Linh mở mắt để chúng ta thấy, mở tai để chúng ta nghe, và mở lòng để chúng ta hiểu sự lạ lùng trong luật pháp của Ngài. Rồi chúng ta hãy sẵn sàng bước theo sự hướng dẫn của Ngài (Ga-la-ti 5:19,25).
3. Đối với Chúa Jêsus: Đức Thánh Linh tôn vinh Ngài (c.14-15).
Đức Thánh Linh hướng dẫn chúng ta vào chân lý để chúng ta hiểu biết phạm vi, sự vinh hiển, ân điển và quyền năng không đo lường được của Chúa Jêsus. Công tác quan trọng nhất của Đức Thánh Linh trong thế gian nầy là tôn vinh Chúa Jêsus. Đức Thánh Linh tôn vinh Chúa Jêsus như Chúa Jêsus tôn vinh Đức Chúa Cha.
Trên đây cũng là câu trả lời cho câu hỏi: Tại sao chúng ta đã xin cho được đầy dẫy Đức Thánh Linh mà không được? – Ấy là chúng ta không nhắm mục đích tôn vinh Chúa Jêsus. Nếu chúng ta cung kính xin Thánh Linh ngự trị lòng mình để chúng ta sống cuộc đời tôn vinh Chúa Jêsus và làm trọn công việc Ngài, chúng ta sẽ được nhận ngay. Chúa Jêsus đã phán: “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về Ta…” (Công vụ 1:8). Ngài cũng đã phán về Thánh Linh: “Khi nào Đấng yên ủi đến… chính Ngài sẽ làm chứng về Ta” (Giăng 15:26).
Vậy mỗi chúng ta phải ước ao cho được đầy dẫy Đức Thánh Linh để có quyền năng mà làm chứng về Chúa Jêsus cho mọi người ở khắp mọi nơi. Chúa Jêsus chịu chết vì chúng ta và sống lại không chỉ để cứu chúng ta khỏi địa ngục, mà còn để chúng ta sống cuộc đời tôn vinh Ngài qua sự truyền giảng và làm chứng về Ngài.
CÂU HỎI
1. Hãy trưng dẫn Kinh Thánh để chứng minh Đức Chúa Trời Ba Ngôi.
2. Trưng dẫn bằng cớ chứng minh Đức Thánh Linh là Đức Chúa Trời.
3. Đức Thánh Linh tố cáo thế gian ba điều gì?
4. Giải thích câu: “Về tội lỗi vì họ không tin Ta”.
5. Giải thích câu “Về sự công bình vì Ta đi đến cùng Cha”.
6. Nhờ đâu ta biết tội khi nghe giảng hoặc nghe làm chứng?
7. Đức Thánh Linh làm gì đối với Hội Thánh?
8. Đức Thánh Linh làm gì đối với Chúa Jêsus?
9. Chúng ta phải xin cho được đầy dẫy Đức Thánh Linh để làm gì?
BÀI 5. SA-TAN – KẺ THÙ GHÊ GỚM NHẤT CỦA NHÂN LOẠI
KINH THÁNH: Ê-phê-sô 6:10-18.
CÂU GỐC: “Hãy tiết độ và tỉnh thức, kẻ thù nghịch anh em là ma quỉ, như sử tử rống, đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được” ( I Phi-e-rơ 5:8).
MỤC ĐÍCH: Cảnh cáo tín hữu rằng ma quỉ có thật, ai nấy phải cẩn thận giữ mình, và mặc binh giáp của Đức Chúa Trời để chống cự nó.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Sa-tan cám dỗ người ta |
(Sáng thế ký 3:1-24). |
|
TH: |
Sa-tan cám dỗ Gióp |
(Gióp 1:1-22). |
|
TB: |
Sa-tan cám dỗ Chúa Jêsus |
(Ma-thi-ơ 4:1-11). |
|
TT: |
Giá trị của sự cám dỗ (thử thách) |
(Gia-cơ 1:1-12). |
|
TN: |
Giá trị của sự cám dỗ (thử thách) |
(I Phi-e-rơ 1:1-7). |
|
TS: |
Vũ khí chống lại sự cám dỗ |
(Ê-phê-sô 6:10-18). |
|
TB: |
Số phận của đứa cám dỗ |
(Khải huyền 20:1-10). |
Theo câu gốc trên đây, kẻ thù nguy hiểm của chúng ta là ma quỉ. Nó được hình dung như sư tử rống, lúc nào cũng rình mò, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được. Nó còn được hình dung là con rồng, con rắn đời xưa. Tên nó là Sa-tan.
Vậy chúng ta phải xem xét cẩn thận để biết Sa-tan là ai? Làm sao chúng ta có thể thắng nó?
I. SA-TAN LÀ AI?
1. Nó là một thân vị có thật mặc dầu chúng ta không thấy nó.
Nó là một tà linh. Nó hành động như một người. Nó kiêu căng, ghen ghét, lừa dối, giả mạo, rình mò, cám dỗ, tố cáo, ngăn trở, giết người v.v… Kinh Thánh gọi nó là vua chúa của thế gian tăm tối nầy (Giăng 12:31; IICôr 4:4; Ê-phê-sô 6:12).
2. Nó là nguyên nhân của tội lỗi.
Nó đã lén vào vườn Ê-đen lừa dối bà Ê-va, cám dỗ bà bất tuân Đức Chúa Trời mà ăn trái cấm, rồi cho A-đam ăn nữa. Kết quả ông bà đã phạm tội, rồi lưu truyền một dòng dõi tội lỗi từ đó cho đến ngày nay. Kinh Thánh gọi ma quỉ là kẻ “phạm tội từ ban đầu” (IGiăng 3:8). Chúa Jêsus đã phán: “Từ ban đầu nó là kẻ giết người”. Nó đã xúi giục Ca-in ghen ghét và nhẫn tâm giết em mình là A-bên. “Nó vốn là kẻ nói dối và là cha của sự nói dối” (Giăng 8:44). Ai phạm tội là thuộc về ma quỉ, ai nói dối là con cái của nó.
3. Nó là kẻ thù ghê gớm nhất của Hội Thánh.
Chúa Jêsus phán: “Ta sẽ lập Hội Thánh Ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó” (Ma-thi-ơ 16:18). Chúa có ý cho chúng ta biết rằng ma quỉ sẽ tập trung tất cả quyền lực, kể cả quyền lực sự chết để phá hại Hội Thánh. Song chính Chúa đã lập Hội Thánh. Ngài là Chủ, là Đầu, là Nền vĩnh viễn của Hội Thánh. Vì thế ma quỉ chẳng bao giờ thắng được Hội Thánh.
Lịch sử chứng minh rằng dưới nhiều hình thức khác nhau, qua nhiều giai đoạn khác nhau, công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, ma quỉ nhắm vào Hội Thánh mà tấn công ráo riết. Ma quỉ là kẻ thù ghê gớm nhất của Hội Thánh.
II. CÔNG TÁC CỦA MA QUỈ LÀ GÌ?
1. Đối với người ở dưới quyền ma quỷ.
Ma quỉ làm cho người dưới quyền nó mù lòng để không nhìn thấy sự vinh hiển chói lọi của Tin Lành (IICôr 4:4). Nó ám ảnh làm cho họ đau đớn và bệnh tật (Lu-ca 13:10; Công vụ 10:38). Nó gài bẫy để họ mắc vào lưới của nó và làm theo ý nó (II Ti-mô-thê 2:26). Nó cũng tuyên truyền giáo lý của nó và lập hội của nó (I Ti-mô-thê 4:1-3; Khải huyền 2:9; 3:9). Nó xui giục người ta phản Chúa và vào lòng họ để sử dụng họ vào công tác gian ác của nó (Giăng 13:2,27). Khi người ta nghe giảng thì lập tức nó cướp đi những điều người ta đã nghe để không ai tin Chúa. Nó cám dỗ người ta thờ lạy nó mà cứ tưởng là thờ lạy thần nầy, thánh nọ. Còn rất nhiều hình thức tế nhị khác mà ma quỉ thường dùng để lôi cuốn người ta theo nó hầu sẽ đồng số phận với nó.
2. Đối với tín đồ.
Đối với tín đồ, ma quỉ vừa cám dỗ vừa tố cáo, vừa xúi giục vừa bắt bớ như vừa ăn cướp vừa la làng. Vợ Phô-ti-pha cố sức cám dỗ Giô-sép phạm tội, nhưng khi không thể cám dỗ được thì bà vu khống Giô-sép để ông bị tù. Đôi khi nó đảo ngược thứ tự là khủng bố tinh thần trước rồi cám dỗ sau. Nê-bu-cát-nết-sa rất tế nhị trong vấn đề nầy. Trước hết ông khủng bố tinh thần ba thanh niên Hê-bơ-rơ bằng lò lửa hực, nếu họ không chịu sấp mình thờ lạy pho tượng vàng của ông. Khi biết họ bất tuân, ông không giết họ ngay mà cho họ có dịp ăn năn! Ông vừa dỗ dành vừa đe dọa họ. Mưu của ông rất thâm độc. Song chính Đức Chúa Trời đã sử dụng cơ hội đó để làm cho danh Ngài càng thêm vinh hiển (Đa-ni-ên 3:28-30).
Ma quỉ đã không tiếc lời vu khống Gióp, cho ông không thật lòng kính sợ Chúa, nếu Chúa đụng đến tài sản và thân thể ông, ông sẽ phỉ báng Ngài. Nó cũng tố cáo Giê-hô-sua, thầy tế lễ mà mặc áo bẩn. Đối với ma quỉ, không có ai tốt cả. Song cả hai trường hợp trên đều được Chúa bênh vực (Gióp 1:9-11; 2:4-5; Xa-cha-ri 3:1-5). Ngoài ra lúc nào nó cũng sàng sảy chúng ta và ném chúng ta vào ngục (Lu-ca 22:31; Khải huyền 2:10). Nhứt là ma quỉ cố dùng đủ cách để ngăn trở công cuộc truyền giảng Tin Lành (Công vụ 13:4:12; ITê 2:18).
III. LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐẮC THẮNG MA QUỈ?
1. Nên nhớ ma quỷ là kẻ thù đã bị đánh bại.
Trước nhất nó đã bị tống khứ khỏi thiên đàng (Ê-sai 14:12; Lu-ca 10:18; Khải huyền 12:8-9). Chúa Jêsus không ngớt xua đuổi nó khỏi những kẻ nó ám ảnh, Ngài còn ban cho các môn đồ quyền trừ quỉ. Trên thập tự giá, Ngài đã phá hủy công việc của nó. Số phận cuối cùng của nó là hồ lửa (Ma-thi-ơ 25:41; Khải huyền 20:10).
2. Hãy chống cự ma quỷ.
Chúng ta hãy vừa tiết độ và tỉnh thức, vừa đứng vững trong đức tin mà chống cự nó (I Phi 5:8-9). Cũng hãy vâng phục Đức Chúa Trời, dùng Lời của Ngài mà chống trả ma quỉ như Chúa Jêsus đã làm (Gia-cơ 4:7; IGiăng 2:14). Đừng để cho ma quỉ nhơn dịp (Ê-phê-sô 4:26-27). Ma quỉ không làm hại chúng ta được đâu (IGiăng 5:18). Chúa đã đặt một giới hạn cho nó, và nó không thể vượt qua giới hạn đó, như trường hợp của Gióp (Gióp 1:12; 2:6; 38:10-11). Nó là con sư tử rống, song là con sư tử bị cột.
3. Hãy mặc lấy binh giáp của Chúa (Ê-phê-sô 6:10-18).
Từ khi A-đam sa ngã, một cuộc chiến đấu bắt đầu giữa điều thiện với điều ác, tức là giữa con cái Đức Chúa Trời với ma quỉ và các quỉ sứ nó. Không thể nào sống cuộc đời thánh thiện để tôn vinh Chúa mà không phải chiến đấu. Phao-lô khuyên chúng ta hãy mạnh dạn trong Chúa nhờ sức toàn năng của Ngài, và hãy mặc lấy binh giáp của Ngài để đứng vững trong ngày gian nan. Mỗi chúng ta, vô luận nam, phụ, lão, ấu đều là một chiến sĩ. Đây là một chiến trận thuộc linh, nên binh giáp đều có ý nghĩa thuộc linh.
a. Nịt lưng bằng lẽ thật.
b. Mặc giáp bằng sự công bình.
c. Mang giầy của Tin Lành bình an.
d. Lấy thuẫn của đức tin.
e. Đội mão trụ của sự cứu rỗi.
f. Cầm gươm Thánh Linh là Lời Đức Chúa Trời.
g. Thức canh và cầu nguyện.
Ai nấy phải có và phải triệt để sử dụng. Lẽ thật, sự công bình, Tin Lành bình an, đức tin, sự cứu rỗi, Lời của Đức Chúa Trời và thức canh cầu nguyện là thứ binh giáp sau cùng, song cũng trước nhứt. Vì nếu không thức canh cầu nguyện thì các thứ binh giáp kia sẽ thành ra vô hiệu (Ma-thi-ơ 26:41). Trong con người có nhiều dục vọng, thường là những dục vọng không chánh đáng, như bà Ê-va thấy trái cấm đẹp mắt ăn ngon lại mở trí (Gia-cơ 1:14-15). Ai nói ma quỉ không cám dỗ mình là người ấy đang bị cám dỗ mà nói. Ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã. Sự cám dỗ chắc chắn phải có, và mỗi lần chúng ta đắc thắng, đức tin sẽ mạnh mẽ hơn, danh Chúa được tôn vinh hơn.
Những cơn bắt bớ dữ tợn không nguy hiểm bằng những lúc cám dỗ êm đềm. Đa-vít đã đứng vững trước những cơn bắt bớ kinh hoàng của Sau-lơ, nhưng ông đã sa ngã trước sự cám dỗ êm đềm của tình dục. Khi sư tử gầm thét không đáng sợ bằng lúc nó nằm im mà giả bộ ngủ. Vì nó gầm thét làm cho chúng ta thức canh và cầu nguyện nhiều hơn hết và nhờ đó được vững vàng hơn hết.
“Chẳng bao lâu chúng nó (kẻ dữ) sẽ bị phát như cỏ, và phải héo như cỏ tươi xanh” (Thi thiên 37:2).
“Còn ít lâu, thật ít lâu nữa, thì Đấng phải đến sẽ đến; Ngài không chậm trễ đâu” (Hê-bơ-rơ 10:37).
“Đức Chúa Trời bình an sẽ giày đạp quỉ Sa-tan dưới chân anh em…” (Rô-ma 16:20).
CÂU HỎI
1. Ma quỉ được hình dung như gì?
2. Xin kể ra tính tình của ma quỉ?
3. Tại sao gọi ma quỉ là nguyên nhân của tội lỗi?
4. Tại sao chúng ta biết nó thù nghịch với Hội Thánh?
5. Công tác của ma quỉ đối với người thuộc về nó là gì?
6. Công tác của nó đối với tín đồ là gì?
7. Tại sao chúng ta biết mình đắc thắng ma quỉ?
8. Binh giáp mà chúng ta có để đắc thắng ma quỉ là gì?
9. Ma quỉ dùng sự bắt bớ và sự cám dỗ để làm hại Hội Thánh, hai điều đó điều nào nguy hơn? Tại sao?
BÀI 6. TỘI LỖI – VẤN ĐỀ TỆ HẠI NHẤT CON NGƯỜI PHẢI ĐƯƠNG ĐẦU
KINH THÁNH: Rô-ma 6:1-14.
CÂU GỐC: “Vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta” (Rô-ma 6:23).
MỤC ĐÍCH: Trình bày tội lỗi là vấn đề quan trọng nhất chúng ta phải đương đầu, và giải pháp duy nhất là Chúa Jêsus.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Tội lỗi đã vào thế gian như thế nào? |
(Sáng 3:10-19). |
|
TH: |
Tội lỗi đã bành trướng như thế nào? |
(Rô-ma 3:10-19). |
|
TB: |
Tội lỗi theo nhãn quan của Đức Chúa Trời |
(Rô-ma 1:18-32). |
|
TT: |
Tội lỗi bị lên án |
(Rô-ma 6:12-23). |
|
TN: |
Giá phải trả cho tội lỗi |
(Ê-sai 53). |
|
TS: |
Phương thuốc chữa trị tội lỗi |
(Giăng 3:1:21). |
|
TB: |
Tội lỗi làm ô uế đền thờ của Chúa |
(ICôr 6:9-20). |
Trên đời có nhiều bệnh khó trị, mà còn có bệnh vô hy vọng chữa trị. Bệnh dầu nguy hiểm đến đâu cũng chỉ làm hại thân thể, còn tội không những làm hại thân thể mà còn làm hại linh hồn. Không có gì đáng sợ bằng tội. Tội cướp mất mọi sự, phá hủy mọi sự cho đến đời đời. Vấn đề phải giải quyết trước tiên chưa phải là cơm ăn, áo mặc, nhà ở, mà là tội.
I. TỘI LÀ GÌ?
1. Tội là bất tuân và phản nghịch với Đức Chúa Trời (Rô-ma 5:).
A-đam và Ê-va đã bị cám dỗ, nghi ngờ tình thương của Đức Chúa Trời, xem thường mạng lệnh của Ngài, sanh lòng kiêu ngạo, muốn được như Chúa, biết điều thiện và điều ác, nên hái trái cấm mà ăn. Đó là hành động bất tuân, phản nghịch với Đức Chúa Trời. Từ đó, nhơn loại là dòng dõi do A-đam và Ê-va lưu truyền, ngày càng miệt mài trong sự bất kính, bất nghĩa. Dầu ai nấy đều biết Chúa, song cố ý khước từ, lìa xa Ngài, không tôn thờ, không cảm tạ, không phục tùng và không yêu mến Ngài.
Bất tuân, phản nghịch Đức Chúa Trời là gốc rễ của vô vàn tội khác, vì khi con người đã dám bất tuân, phản nghịch Chúa thì không còn tội ác nào mà họ không dám phạm như kiêu căng, bất kính, bất nghĩa, độc hiểm, tham lam, hung dữ, ghen ghét, dối trá, giết người v.v… Họ chìm đắm vào sự ô uế, tình dục xấu xa, và đủ mọi gian ác (Rô-ma 1:18-32; Cô-lô-se 1:21).
2. Tội là thiếu hụt tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời (Rô-ma 3:23).
Tiêu chuẩn bình thường của một người phải là: “Hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa” và “yêu kẻ lân cận như mình” (Ma-thi-ơ 22:37,39). Nhưng dầu con người có cố gắng đến đâu, thậm chí được tôn như thánh hiền, cũng đều bất toàn, tức là thiếu hụt tiêu chuẩn đạo đức đó. “Vì mọi người đều đã phạm tội”, kẻ nhiều người ít, kẻ nặng người nhẹ, kẻ kín giấu người tỏ tường, người này hơn, kẻ kia kém, song cả hai đều thiếu hụt, nên cả hai đều là tội nhơn, kẻ đứng trên núi cũng như người đứng dưới thung lũng, dầu có cao thấp khác nhau, song cả hai đều thiếu hụt, vì không ai đụng đến trời.
Không phải suốt đời phạm tội mới ngồi tù, mà chỉ phạm một lần là đủ ngồi tù, không phải phạm tất cả luật pháp mới ngồi tù, mà chỉ phạm một điều trong luật pháp là đủ ngồi tù. “Vì người nào giữ trọn luật pháp, mà phạm một điều răn, thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy” (Gia-cơ 2:10). Luật pháp gồm những điều phải tránh và những điều phải làm. Không phạm tội chưa đủ, mà phải làm lành. “Cho nên kẻ biết làm điều lành mà chẳng làm thì phạm tội” (Gia-cơ 4:17). Phao-lô đã thú nhận: “Tôi chẳng làm điều mình muốn, nhưng làm điều mình ghét” (Rô-ma 7:15).
Ngoài ra, mục đích của Đức Chúa Trời dựng nên loài người là để họ tôn vinh Ngài, để Ngài được vinh hiển trong họ. Song từ khi phạm tội, loài người đã xoay khỏi mục đích đó để tôn vinh mình, tôn vinh lẫn nhau. Loài người đã tự đặt mình lên địa vị của Đức Chúa Trời. Họ nói như Pha-ra-ôn: “Giê-hô-va là ai mà trẫm phải vâng lời người để cho dân Y-sơ-ra-ên đi? Trẫm chẳng biết Giê-hô-va nào hết, cũng chẳng cho dân Y-sơ-ra-ên đi nữa” (Xuất Ê-díp-tô ký 5:2). Kẻ gian ác nói với Đức Chúa Trời: “Ngài hãy lìa xa chúng tôi, vì chúng tôi không muốn biết đạo của Ngài. Đấng Toàn năng là chi mà chúng tôi phải phục sự Ngài? Nếu chúng tôi cầu khẩn Ngài thì được ích gì” (Gióp 21:14-15).
II. HẬU QUẢ CỦA TỘI LỖI RA SAO?
1. Bị phân rẽ với Đức Chúa Trời (Ê-sai 59:1-2).
Trước khi phạm tội, A-đam và Ê-va được thông công mật thiết với Chúa, nên ông đã thật được phước hạnh. Song khi ông bà chìu theo sự cám dỗ mà phạm tội thì đã tuyệt giao với Chúa. Đó là sự chết thuộc linh, đúng như Chúa đã phán: “Vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết” (Sáng 2:17). Sống xa mặt trời thì lạnh lùng và tối tăm, song không buồn khổ bằng sống đời đời xa Đức Chúa Trời, không có Ngài. Nơi nào không có Đức Chúa Trời thì nơi đó trở thành địa ngục. Người ta khổ vì thiếu ăn, thiếu mặc, song người ta còn khổ hơn vì thiếu Đức Chúa Trời, vì Ngài là nguồn sống, nguồn phước của con người.
2. Bị phân rẽ với người khác.
Khi người ta bị phân rẽ với Đức Chúa Trời thì đồng thời cũng bị phân rẽ với nhau. Khi người ta thù địch với Đức Chúa Trời thì đồng thời cũng thù địch lẫn nhau. Khi A-đam đã phạm tội thì ông thưa với Chúa về Ê-va rằng: “Người nữ (đàn bà) mà Chúa đã để gần bên tôi cho tôi ăn trái đó và tôi đã ăn rồi” (Sáng 3:12). Ông vừa đổ tội cho Chúa, vừa tố cáo Ê-va, vừa không nhìn nhận bà là vợ của ông. Tiếp theo đó, Ca-in giết em là A-bên, rồi nhơn loại cứ tiếp tục giết nhau cho đến ngày nay.
Chính vì phân rẽ với Chúa và phân rẽ với nhau mà loài người đau khổ triền miên, mặc dầu họ văn minh, đầy đủ tiện nghi vật chất. Tuyệt giao với Chúa và tuyệt giao với nhau, con người sống cuộc đời hoàn toàn vô phước, tội lỗi đã đào một hố sâu, xây một tường cao giữa Đức Chúa Trời với con người và giữa con người với nhau.
3. Bị hình phạt đời đời (Rô-ma 6:23; Ga-la-ti 6:7).
Kết quả của tội lỗi thật là kinh hoàng! Một tội nhân đứng trước quan án của đời này còn phải sợ hãi thay, phương chi đứng trước quan án của cả vũ trụ! Đối với Đức Chúa Trời chí thánh, không có gì đáng gớm ghiếc bằng tội. Ngài chống cự tội, sẵn sàng tiêu diệt nó, bất chấp nó ở đâu, dưới hình thức nào. Dầu Ngài rất nhơn từ, song không xem kẻ có tội là vô tội. Ngài báo trả xứng đáng cho người nào phạm tội. Ai biết đời đời là bao lâu? Một bệnh nhân nằm trên gường, rũ liệt, kêu la tuyệt vọng vì đau đớn, thì người mong được chết sớm chừng nào hay chừng nấy, nếu người cứ sống trong cảnh ngắc ngoải đó, một năm, mười năm, một trăm năm, thì đáng thương hại biết bao! Thế mà tội nhơn cứ sống trong cảnh ngắc ngoải không phải trăm năm, cũng không phải ngàn năm hay vạn năm mà ĐỜI ĐỜI. Sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là điều khủng khiếp thay!
III. LÀM SAO ĐỂ ĐƯỢC CỨU KHỎI TỘI?
1. Phải nhận mình là một tội nhân khốn nạn, đáng bị rủa sả như con rắn (Giăng 3:14).
Rắn là một loài thú bị rủa sả. Vì không có loài nào như nó, chỉ có đầu, mình và đuôi mà không có chơn. Tội nhân được so sánh như con rắn. Nọc độc chúng nó như nọc độc con rắn, chúng nó tợ rắn hổ mang (Thi thiên 58:4). Tục ngữ ta đã nói: “Độc là nọc rắn kim ong, mà còn ít độc hơn lòng người ta. Nọc độc người bằng mười nọc rắn”. Nhận mình như vậy là bước thứ nhất để được cứu.
2. Phải nhận Chúa Jêsus vô tội đã mang lấy tội của chúng ta mà chịu rủa sả thay cho chúng ta (Giăng 3:15; Ga-la-ti 3:13).
– Chúa Jêsus trở nên tội lỗi vì chúng ta (IICôr 5:21).
– Chúa Jêsus đã yêu tôi và phó chính mình vì tôi (Ga-la-ti 2:20).
– Chúa Jêsus đã vì tôi mà bỏ sự sống (IGiăng 3:16).
Thế thì không phải dân Dothái đóng đinh Chúa Jêsus, cũng không phải chánh quyền La-mã đóng đinh Ngài, song tội lỗi của chúng ta, chính chúng ta đã đóng đinh Ngài. Nếu không vì yêu chúng ta, muốn cứu chúng ta khỏi tội thì đế quốc La-mã, cả nhân loại cũng không thể đóng đinh Ngài. Hãy tin nhận Ngài làm Cứu Chúa của riêng mình để ai nấy đều được cứu khỏi tội.
3. Phải kể mình hiệp với Chúa Jêsus trong sự chết về tội lỗi trên thập tự giá (Rô-ma 6:1-4).
Sự chết của Chúa Jêsus trên thập tự giá không những cứu chúng ta khỏi hậu quả của tội lỗi mà cũng cứu chúng ta khỏi quyền lực của tội lỗi. Chúa không những đã chết vì tội lỗi mà cũng chết về tội lỗi hay đối với tội lỗi. Về phương diện Chúa chết về tội lỗi, chúng ta được kể là đã hiệp một với Ngài trong sự chết đó, nên tội lỗi không còn có quyền gì trên chúng ta cả, vì chúng ta đã chết đối với nó. Lễ báptêm là hình ảnh chúng ta đồng chết với Chúa, đồng chôn với Ngài và đồng sống lại với Ngài để sống một cuộc đời mới. Đó là lý do Phao-lô long trọng tuyên bố: “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi” (Ga-la-ti 2:20). Chúng ta hãy đồng thanh với Phao-lô mà tuyên bố như vậy, và xin Đức Chúa Trời thi hành bản án ấy.
CÂU HỎI
1. Tội là gì? Xin giải thích hai ý nghĩa của tội?
2. Tội nguy hiểm đến mức độ nào?
3. Bị phân rẽ với Đức Chúa Trời có nghĩa gì?
4. Bị phân rẽ với người khác có nghĩa gì?
5. Bị hình phạt đời đời là thế nào?
6. Làm sao thoát khỏi sự trừng phạt do tội lỗi gây ra?
7. Làm sao thoát khỏi quyền lực của tội lỗi muốn cai trị mình?
8. Chết đối với tội có nghĩa gì?
BÀI 7. TIN LÀNH TỐT ĐẸP NHẤT NHÂN LOẠI ĐƯỢC NGHE.
KINH THÁNH: Giăng 3:14-21.
CÂU GỐC: “Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin” (Rô-ma 1:16).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ giá trị Tin Lành của Đức Chúa Trời và thúc giục học viên truyền bá Tin Lành ấy.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Một nhà tiên tri mô tả Cứu Chúa |
(Ê-sai 53:1-12). |
|
TH: |
Một dân tộc thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời |
(Xuất 12:21-28). |
|
TB: |
Một người Pha-ri-si gặp Cứu Chúa |
(Công vụ 9:1-22). |
|
TT: |
Bề tôi một nữ hoàng gặp Cứu Chúa |
(Công vụ 8:26-39). |
|
TN: |
Một phụ nữ tội lỗi gặp Cứu Chúa |
(Giăng 4:3-29). |
|
TS: |
Một người nghi ngờ gặp Cứu Chúa |
(Giăng 20:24-31). |
|
TB: |
Giúp người khác gặp Cứu Chúa |
(Mat 28:16-20; Công 1:8). |
Trong thế gian có nhiều tin lành như tin lành về hai nước đang đánh nhau bây giờ ký kết hòa bình, các cường quốc ký kết hiệp ước hạn chế vũ khí chiến lược v.v… Nhưng không có tin lành nào đáng sánh với Tin Lành cứu rỗi của Đức Chúa Trời đã được ban cho nhân loại gần hai ngàn năm trước đây, mà đến nay vẫn còn hiệu lực. Đang khi nhân loại tuyệt vọng vì đã phạm tội, và cứ đắm chìm trong tội lỗi để cuối cùng đưa mình đến số phận bị hình phạt đời đời trong hỏa ngục, thì Đức Chúa Trời đã sai Con Độc sanh của Ngài giáng thế chịu chết đền tội, rồi sống lại và thăng thiên. Đó là tin tức tốt lành phước hạnh nhất đời mà chúng ta phải nhận cho chính mình và phải truyền bá cho mọi người.
I. TIN LÀNH CỨU RỖI ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ.
1. Tin Lành cứu rỗi là của Đức Chúa Trời (Rô-ma 1:1).
Tin Lành này không thuộc về một người nào, một dân nào, một nước nào, song thuộc về Đức Chúa Trời. Cũng như Đức Chúa Trời không thuộc về một người nào, một dân nào, một nước nào, song thuộc về mọi người, mọi dân, mọi nước vì tất cả đều do Ngài dựng nên. Vì Tin Lành của Đức Chúa Trời, nên Tin Lành có quyền năng cứu rỗi mọi người tin. Vì lý do đó mà Phao-lô đã nói: “Thật vậy tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu… Mọi điều tôi làm thì làm vì cớ Tin Lành… Tôi lấy làm vinh mà truyền bá Tin Lành” (Rô-ma 1:16; ICôr 9:23; Rô-ma 15:20).
2. Tin Lành cứu rỗi là chính Chúa Jêsus (Giăng 3:14-15).
Chúng ta là những tội nhân đáng bị rủa sả và đáng bị treo trên cây sào như con rắn (Dân số ký 21:4-9). Song Chúa Jêsus hoàn toàn vô tội đã tình nguyện mang lấy tội lỗi và sự rủa sả của chúng ta mà chết vì chúng ta trên thập tự giá (Ga-la-ti 3:13). Nhờ đó, ai tin đến Ngài thì được sự sống đời đời, là sự sống của Đức Chúa Trời. Sự sống đời đời ở trong Chúa Jêsus và chính Ngài là sự sống đời đời (IGiăng 5:11-12). Được cứu rỗi là được Chúa Jêsus ngự trị trong lòng mình. Chúa ban sự cứu rỗi cho chúng ta là ban chính mình Ngài cho chúng ta, tức là ban mọi sự rồi.
3. Tin Lành cứu rỗi ban cho vô điều kiện (Giăng 3:16).
“Hầu cho hễ ai tin”. Tin thì có tốn kém gì đâu, có khó khăn gì đâu. Như người Y-sơ-ra-ên nào bị rắn cắn chỉ cần nhìn con rắn bằng đồng bị treo trên cây sào thì được lành, chúng ta là tội nhân tin Chúa Jêsus thì cũng như vậy. Nên biết rằng sự cứu rỗi không phải là việc chúng ta làm cho Đức Chúa Trời hay là chúng ta làm cho mình, song là việc mà Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta. Sự cứu rỗi vô cùng lớn lao, vô cùng quí giá, tồn tại đời đời, nên chỉ có Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời thực hiện được cho chúng ta trên thập tự giá. Chúng ta chỉ bởi đức tin mà nhận lấy sự cứu rỗi đó (Ê-phê-sô 2:8-9).
4. Tin Lành cứu rỗi ban cho ngay bây giờ (Giăng 3:16).
“Hầu cho hễ ai…” Bất luận ai tin Chúa Jêsus, bất luận tin lúc nào thì không bị hư mất mà được sự sống đời đời. Người tin được sự sống đời đời ngay lúc mình tin Chúa chớ không phải chờ đợi một thời gian nào cả. Đức Chúa Trời không muốn một ai bị hư mất mà muốn mọi người đều được cứu rỗi. Ngài muốn chúng ta được cứu rỗi hơn chính chúng ta muốn mình được cứu rỗi. Vì vậy lúc nào Ngài cũng sẵn sàng chờ đợi, để bất luận lúc nào chúng ta tin thì Ngài tha thứ ngay và ban cho sự sống đời đời lập tức. Chúa đã nói với Xachê rằng: “Hôm nay sự cứu rỗi đã vào nhà này” (Lu-ca 19:9). Chúa cũng phán với anh trộm cướp biết ăn năn và tin nhận Ngài: “Quả thật, hôm nay ngươi sẽ được ở với Ta trong Ba-ra-đi” (Lu-ca 23:43).
5. Tin Lành cứu rỗi dành cho cả thế gian (Giăng 3:16).
“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian…” nên Tin Lành của Ngài dành cho mọi người trong cả thế gian. Chúa Jêsus đã phán: “Tin Lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất để làm chứng cho muôn dân” (Ma-thi-ơ 24:14). Trước khi thăng thiên, Ngài cũng đã phán: “Hãy đi khắp thế gian giảng Tin Lành cho mọi người”. “Hãy đi dạy dỗ muôn dân” (Mác 16:15; Ma-thi-ơ 8:19).
Tin Lành này không riêng cho dân nào, nước nào, phương trời nào, thời đại nào, song chung cho muôn dân, muôn nước, mọi phương trời, mọi thời đại. Vì mọi người đều đã phạm tội, nên mọi người đều cần Tin Lành cứu rỗi. Phao-lô đã nói với Ạc-ríp-ba: “Cầu xin Đức Chúa Trời chẳng kíp thì chầy, không những một mình vua, nhưng hết thảy mọi người nghe tôi hôm nay đều trở nên như tôi, chỉ trừ xiềng nầy thôi” (Công vụ 26:29).
II. TRÁCH NHIỆM TRUYỀN BÁ TIN LÀNH CỨU RỖI.
Tin Lành cứu rỗi thật rất lớn lao, quí giá vĩnh viễn, có quan hệ đến mọi người trên toàn thế gian. Vậy ai có trách nhiệm và đặc quyền truyền bá Tin Lành?
1. Tin Lành cứu rỗi phải do tín đồ truyền bá.
Ai là người đã tiếp nhận Tin Lành và được cứu rỗi thì có trách nhiệm phải truyền bá Tin Lành cho người khác. Thiên sứ không thể truyền bá Tin Lành vì họ không kinh nghiệm ơn cứu rỗi của Tin Lành. Người thi hành trách nhiệm đó, đem được nhiều người về với Chúa thì phước biết bao! Dưới trời này không có công tác nào lớn lao, vinh hiển bằng công tác truyền bá Tin Lành. Vì linh hồn người ta là vô giá và bất diệt, còn cả thế gian chỉ dành cho lửa (Ha-ba-cúc 2:13; Thi thiên 3:10).
Kinh Thánh chép: “Những kẻ dắt đem nhiều người về sự công bình sẽ sáng láng như các ngôi sao đời đời” (Đa-ni-ên 12:3).
Chúa Jêsus đã kiên nhẫn đem một người đàn bà Sa-ma-ri về sự công bình (Giăng 4:3-29). Phi-líp đã kịp thời đem một hoạn quan Ê-thi-ô-pi đến sự cứu rỗi (Công vụ 8:26-39). Các công tác ấy rất lớn lao mà chỉ có cõi đời đời mới lường hết giá trị.
2. Tin Lành cứu rỗi phải truyền bá khắp thế gian.
Chúa Jêsus phán: “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép và làm chứng về Ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất” (Công vụ 1:8).
Trải qua các đời, tín đồ đã cứ tiếp tục kẻ trước người sau, kẻ đi xa người đi gần đem Tin Lành truyền bá khắp thế gian. Kẻ đi xa như Phao-lô rất là ít, người đi gần như Phi-e-rơ, Phi-líp và các tín đồ bị tản lạc thì rất nhiều. Khi Phao-lô đem Tin Lành truyền đến một nơi nào và lập được Hội Thánh, thì giao lại cho tín đồ tại đó chịu trách nhiệm truyền bá Tin Lành cho địa phương mình, còn người thì đi nơi khác.
Chúa Jêsus không bảo Hội Thánh đầu tiên khởi sự đi xa như đến Sa-ma-ri hoặc Ê-phê-sô, mà khởi sự tại Giê-ru-sa-lem. Mỗi chúng ta hãy lo truyền bá Tin Lành cho khu vực mình đang trú ngụ. Hãy nghĩ đến người lân cận mà cầu nguyện cho họ. Hãy bắt đầu làm quen với người mà mình thấy dễ làm quen. Hãy mời người ấy đến nhà mình và mình cũng đến nhà người, rồi cứ tiếp tục vừa cầu nguyện vừa tiếp xúc để làm chứng về Tin Lành.
Đừng bao giờ nghĩ rằng trách nhiệm truyền bá Tin Lành là của mục sư, truyền đạo. Xưa nay, nếu chỉ có họ truyền bá Tin Lành thì chắc chắn giờ này nhiều người trong chúng ta chưa được cứu rỗi vì mục sư, truyền đạo chỉ là một số rất ít. Vả lại lời làm chứng có hiệu lực hơn hết là của tín đồ.
Truyền bá Tin Lành không những là một trách nhiệm mà cũng là một đặc ân. Nếu chỉ nghĩ đến đặc ân, chúng ta sẽ cảm thấy nhẹ nhàng và phấn khởi. Phải lấy làm vinh hiển mà được truyền bá Tin Lành. Kinh Thánh đã xem “những bàn chơn của kẻ rao truyền Tin Lành là tốt đẹp biết bao!” (Rô-ma 10:15). Cơ hội hiện lúc này là cơ hội truyền bá Tin Lành như cơ hội của bà Ê-xơ-tê (Ê-xơ-tê 4:14). Xin đừng bỏ qua, đừng chậm trễ.
Thiết tưởng không có gì sung sướng cho chúng ta bằng khi lên thiên đàng, có người chạy đến chào chúng ta với vẻ mặt vui mừng khôn tả, nói rằng: “Cảm ơn anh hoặc chị đã làm chứng về Tin Lành cho tôi, nhờ đó tôi đã được cứu”. Muốn được như thế, bây giờ hãy đi ra làm chứng!
CÂU HỎI
1. Tin Lành cứu rỗi là của ai?
2. Tin Lành cứu rỗi là ai?
3. Tin Lành cứu rỗi được ban cho thế nào?
4. Nhận Tin Lành thì bao lâu mới được cứu rỗi?
5. Tin Lành cứu rỗi được dành cho ai? Tại sao?
6. Ai có trách nhiệm truyền bá Tin Lành?
7. Phải truyền bá Tin Lành đến đâu? Cách nào?
8. Truyền bá Tin Lành thì được phước hạnh gì?
BÀI 8. HỘI THÁNH – NƠI THÔNG CÔNG TỐT ĐẸP NHẤT
KINH THÁNH: ICôr 1:1-10.
CÂU GỐC: “Ấy cũng chính Ngài là đầu của thân thể, tức là đầu Hội Thánh. Ngài là ban đầu, sanh trước nhất từ trong những kẻ chết, hầu cho trong mọi vật, Ngài đứng đầu hàng” (Cô-lô-se 1:18).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ tầm quan trọng của Hội Thánh và địa vị Cơ Đốc nhân trong Hội Thánh.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Hội Thánh được khai sinh |
(Công vụ 2:37-47). |
|
TH: |
Sinh hoạt của Hội Thánh |
(Giăng 15:1-8). |
|
TB: |
Các thuộc viên trong HT cộng tác với nhau |
(Ê-phê-sô 2:1-12). |
|
TT: |
Chức phận của từng chi thể |
(Ê-phê-sô 4:1-16). |
|
TN: |
Hội Thánh cần đến từng thuộc viên |
(Cô-lô-se 12:12-31). |
|
TS: |
Chúa yêu thương Hội Thánh |
(Ê-phê-sô 5:25-32). |
|
TB. |
Hội Thánh với Chúa |
(Khải huyền 19:1-9). |
Phao-lô gởi thơ cho Hội Thánh Đức Chúa Trời tại Cô-rinh-tô và nhấn mạnh chủ quyền của Hội Thánh là Đức Chúa Trời (I Ti-mô-thê 3:15). Ngài mua chuộc và cai trị Hội Thánh (Công vụ 20:28; ICôr 12:28). Chúa Jêsus thành lập và điều khiển Hội Thánh (Ma-thi-ơ 16:18; Ê-phê-sô 4:11; 5:23-32; Khải huyền 2:3). Đức Thánh Linh ban mọi sự để gây dựng Hội Thánh (ICôr 12:4-11). Đó là Ba Ngôi Đức Chúa Trời hiệp nhất trong việc thành lập, cai trị, điều khiển, bảo vệ và gây dựng Hội Thánh.
Hội Thánh của Đức Chúa Trời tại Cô-rinh-tô là Hội Thánh địa phương như Hội Thánh Sài gòn, Hội Thánh Hà nội, song cũng có Hội Thánh quốc gia như Hội Thánh xứ Ma-xê-đoan (IICôr 8:1), Hội Thánh Việt nam và Hội Thánh phổ thông trong cả thế giới. Khi Phao-lô viết thơ cho Hội Thánh Rô-ma, trong lời chào, ông nói: “Hết thảy các Hội Thánh của Đấng Christ chào anh em” (Rô-ma 16:16) là ông ngụ ý Hội Thánh phổ thông thời bấy giờ.
Có Hội Thánh hữu hình và Hội Thánh vô hình. Hội Thánh hữu hình bao gồm tất cả tín đồ có tên trong sổ Hội Thánh, có mặt ở trong nhà thờ. Hội Thánh vô hình gồm những người đã được nên thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi là thánh đồ… mọi người bất luận ở nơi nào cầu khẩn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta (ICôr 1:2). Một mình Chúa biết đúng con số tín đồ thuộc Hội Thánh vô hình.
I. ĐỊNH NGHĨA HỘI THÁNH.
1. Hội Thánh là một đoàn người được gọi ra.
Chữ “Hội Thánh” mà Kinh Thánh dùng có nghĩa là được gọi ra. Đời xưa, Áp-ra-ham được Chúa gọi ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ông để đi đến nơi Chúa chỉ định (Sáng 12:1). Con cháu của ông cũng đã được Chúa gọi ra khỏi giữa vòng các dân tộc khác để làm một dân thuộc về Ngài (Xuất 19:5-6; Phục truyền 7:6; 14:2). Ngày nay Hội Thánh là một đoàn người được Chúa gọi ra khỏi đời gian ác, tối tăm để thuộc riêng về Ngài (Ga-la-ti 1:4; Tít 2:14; I Phi-e-rơ 2:9). Điều đó không có nghĩa là chúng ta sống ngoài thế gian, trái lại chúng ta sống trong thế gian. Song tinh thần của thế gian không có trong chúng ta. Chúng ta có một nếp sống khác hơn người đời (IICôr 6:14-18), vì không yêu mến hay đề cao giá trị các vật tạm thời, mà yêu mến và đề cao các giá trị vĩnh viễn.
2. Hội Thánh là thân thể của Chúa Jêsus.
Để giải thích mối thông công mật thiết giữa Chúa với tín đồ và giữa tín đồ với nhau, Phao-lô đã ví sánh Hội Thánh với một thân thể (ICôr 12:27). Toàn thân gồm nhiều chi thể, lớn có, nhỏ có, có cái xem như vô nghĩa, song tất cả đều cần thiết cho sự hoạt động nhịp nhàng của thân thể và đều lệ thuộc lẫn nhau. Trong Hội Thánh không ai dám nói rằng mình không cần người khác, cũng như trong thân, không chi thể nào không cần chi thể khác, trái lại ai nấy liên kết chặt chẽ với nhau đến nỗi khi một người bị đau đớn thì hết thảy bị đau đớn, cũng như khi một chi thể đau đớn thì toàn thân đau đớn.
Chúa Jêsus là đầu của Hội Thánh. Các chi thể liên kết chặt chẽ với nhau và liên kết chặt chẽ với đầu. Cũng vậy, các tín đồ liên kết chặt chẽ với nhau, và liên kết chặt chẽ với Chúa. Sự liên kết đó làm cho sự sống của Chúa tràn đầy trong chúng ta, và chúng ta sống bởi Ngài, sống cho Ngài. Vì vậy nếu chúng ta sống thấp kém hơn tiêu chuẩn dành cho con cái Chúa, thì chúng ta làm cho Ngài và Hội Thánh Ngài bị đau đớn và sỉ nhục.
II. MỤC ĐÍCH CỦA HỘI THÁNH.
1. Làm nơi ngự của Chúa.
Khi Đức Chúa Trời kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, thì Ngài muốn ngự luôn luôn giữa họ (Xuất 25:8; 29:45-46). Ngài muốn thông công mật thiết với họ để mặc khải Ngài cho họ, hầu qua đó, Ngài mặc khải cho thế gian. Nhờ đó mà chúng ta có bộ Kinh Thánh là sự khải thị của Ngài.
Hội Thánh là nơi ngự của Chúa, không những Ngài ở giữa Hội Thánh mà còn ở trong cá nhân từng tín đồ. Hội Thánh là cơ quan, là lợi khí mà Chúa dùng để bày tỏ cho nhân loại. Không có nơi nào tốt hơn cho nhân loại gặp Chúa và biết Chúa bằng Hội Thánh. Chúng ta phải sống thế nào để người đời sấp mặt xuống đất mà nói rằng: “Thật có Đức Chúa Trời ở giữa anh em” (ICôr 14:25).
Nếu Chúa Jêsus là đầu của Hội Thánh thì Ngài rất quan trọng đối với Hội Thánh. Con người không có đầu thì không còn là con người nữa. Hội Thánh không có Chúa Jêsus thì không còn là Hội Thánh nữa. Đầu phải cai trị và điều khiển toàn thân. Thử hỏi: Chúng ta có để ma quỉ cướp chủ quyền của Chúa trong Hội Thánh không? Chúng ta có để bản ngã cướp ngôi của Chúa trong lòng mình không?
2. Làm nơi tôn vinh Chúa.
Đức Chúa Trời đã tạo thành loài người song loài người đã không tôn vinh, không cảm tạ Ngài (Rô-ma 1:21). Ngài tái tạo một đoàn người là Hội Thánh để họ tôn thờ, cảm tạ, ca ngợi, phục vụ Ngài. Nếu chúng ta yêu thương nhau, tha thứ nhau, hòa thuận nhau, hiệp một nhau, nâng đỡ nhau, đùm bọc nhau, dìu dắt nhau, lo tưởng nhau thì Chúa được tôn vinh là dường nào! Chúa Thánh Linh hành động trong chúng ta để thực hiện những điều đó. Trái lại, nếu chúng ta dập tắt Thánh Linh, chống trả Ngài, khinh lờn Ngài mà ganh tị, chia rẽ, thù hằn thì chúng ta làm tổn thương Chúa và tổn thương nhau là dường nào! Hãy nghe lời Phao-lô khuyên (ICôr 1:10).
“Hiện nay sự khôn sáng mọi đường của Đức Chúa Trời cậy Hội Thánh mà bày tỏ ra cho những kẻ làm đầu và những kẻ cầm quyền trong các nơi trên trời” (Ê-phê-sô 3:10). Hội Thánh là kỳ quan của vũ trụ. Nhân loại vẫn còn tấm tắc khen sự khôn ngoan, khéo léo của người xưa qua bảy kỳ quan của thế giới như kim tự tháp của Ai-cập, vườn treo Ba-by-lôn, lăng tẩm của Halicarnasse, hải đăng ở Alexandrie, đền thờ nữ thần Đianh ở Ê-phê-sô, tượng thần Giu-bi-tê của Hy-lạp và tượng khổng lồ ở Phodes. Song Hội Thánh là một kỳ quan siêu việt của vũ trụ, một kỳ quan sống mà thế gian cũng như thiên đàng phải chiêm ngưỡng. Đây là công trình tuyệt hảo của Đức Chúa Trời. Đây là nơi bày tỏ ân sủng, tình thương, khôn ngoan, quyền năng của Ngài mà muôn đời về sau vẫn còn cảm tạ và ca ngợi Ngài.
III. TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI THÁNH ĐỊA PHƯƠNG.
Hội Thánh là một đoàn người trên khắp thế giới được liên kết chặt chẽ với nhau bởi Thánh Linh ngự trong mỗi người, và mỗi Hội Thánh địa phương đều có trách nhiệm của mình.
1. Tạo cơ hội thông công với nhau.
Mặc dầu chúng ta có thể thờ phượng Chúa một mình như Phao-lô trong khám tù La-mã, như Giăng tại đảo Bát-mô, song phước đặc biệt mà Chúa dành cho chúng ta là được nhóm họp nhau tại một chỗ (Ma-thi-ơ 18:20; Hê-bơ-rơ 10:25). Cơn phục hưng trong thời Nê-hê-mi được mô tả: “Bấy giờ dân sự đều nhóm họp như thể một người” (Nê-hê-mi 8:1). “Đến ngày Lễ Ngũ Tuần, môn đồ nhóm họp tại một chỗ” thì Đức Thánh Linh giáng lâm thành lập Hội Thánh Ngài (Công vụ 2:1).
Mỗi tín đồ phải ham thích nhóm họp để tôn thờ, cảm tạ, ca ngợi Chúa và để chia vui sẻ buồn, chia ơn sẻ phước cho nhau. Những người cùng có một Cha, cùng thờ một Chúa, cùng có một tình thương, một đức tin, một hy vọng, một tư tưởng, một chí hướng, cùng họp nhau lại một nơi thì phước biết bao! Khi dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày tại Ba-by-lôn, không còn được nhóm họp, họ đã than: “Xưa tôi đi cùng đoàn chúng, dẫn họ đến nhà Đức Chúa Trời, có tiếng reo mừng và khen ngợi. Một đoàn đông giữ lễ. Rày tôi nhớ lại điều ấy và lòng buồn thảm” (Thi thiên 42:4).
Vì thế, khi được trở về cố quốc, họ đã nhóm họp như thể một người, từ rạng đông cho đến trưa và kéo dài liên tiếp trong tám ngày.
2. Chăm sóc lẫn nhau.
Hội Thánh địa phương phải là một gia đình đoàn tụ, ấm cúng. Trong một gia đình, các em bé sơ sinh cũng như người bệnh hoạn đều cần được chăm sóc cẩn thận. Nếu chúng ta biết chắc chắn mình không phải là khách lạ hoặc kiều dân, nhưng là người đồng quốc với các thánh đồ và là người nhà của Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 2:19), thì chúng ta phải chịu trách nhiệm chăm sóc người mới tin Chúa là những trẻ sơ sinh thuộc linh. Phải tham dự các lớp học Kinh Thánh, các buổi nhóm cầu nguyện, các công tác thăm viếng và chứng đạo. Phải giữ gìn trật tự, kỷ luật khi đến nhà thờ, ân cần tiếp đón người lạ và hướng dẫn họ trong việc thờ phượng. Phải cho họ thấy rằng đây là nơi thờ phượng Chúa Tể của trời đất. Chúng ta phải lấy làm hãnh diện được thuộc về Hội Thánh của Đức Chúa Trời và tận dụng đời mình vào việc duy trì, phát triển Hội Thánh.
CÂU HỎI
1. Hội Thánh là của ai?
2. Hội Thánh là gì?
3. Tại sao ví Hội Thánh như một thân thể?
4. Trách nhiệm của Hội Thánh là gì?
5. Phải làm sao để tôn vinh Chúa?
6. Trách nhiệm của Hội Thánh địa phương là gì?
7. Làm sao tạo được cơ hội cho mọi người thông công với nhau?
8. Chăm sóc tín đồ mới là trách nhiệm của ai?
9. Chúng ta phải sống gương mẫu thế nào?
BÀI 9. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỜI SỐNG TÍN ĐỒ
KINH THÁNH: Ga-la-ti 5:16-26.
CÂU GỐC: “Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời” (Ma-thi-ơ 5:16).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ rằng chủ đích của đời sống tín đồ là tôn vinh Đức Chúa Trời và kết quả tự nhiên sẽ là niềm vui hết sức tươi mới và trong sáng.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Một mẫu mực về sinh hoạt tín đo |
(I Phi-e-rơ 1:13-25). |
|
TH: |
Một mẫu mực về sinh hoạt tín đồ |
(Cô-lô-se 3:1-17). |
|
TB: |
Một mẫu mực về sinh hoạt tín đo |
(Công vu 20:18-35). |
|
TT: |
Mục đích đời sống của một nhà vua |
(ICác 3:5-13). |
|
TN: |
Tiêu chuẩn của sinh hoạt tín đồ |
(Ma-thi-ơ 5:1-16). |
|
TS: |
Bí quyết của sinh hoạt tín đo |
(Giăng 15). |
|
TB: |
Bí quyết của sinh hoạt tín đồ |
(IGiăng 2:24-29). |
Chúng ta biết Chúa thương yêu chúng ta và đã chết thay để chúng ta được cứu. Vậy chúng ta được cứu để làm gì? Sinh hoạt hằng ngày của chúng ta nhằm mục đích gì? Bài học hôm nay giúp chúng ta trả lời câu hỏi đó.
Mục đích của con người thiên nhiên, tức con người chưa được tái sanh là sống vì mình để tự tôn vinh. Ai nấy chuyên tâm, nỗ lực làm tất cả mọi việc để chứng tỏ cho mọi người thấy mình tài trí, thành công, không những trong việc đời mà cả trong việc đạo nữa. Để chứng tỏ tinh thần phản loạn Đức Chúa Trời và tự tôn vinh, nhân loại sau cơn nước lụt đã biểu đồng tình: “Nào! chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời, ta hãy lo làm cho rạng danh…” (Sáng thế ký 11:4).
Song mục đích tối cao của người đã được cứu là tôn vinh Đức Chúa Trời trong sinh hoạt hằng ngày của mình như ăn, uống, nói, làm (ICôr 10:3; Cô-lô-se 3:16-17). Đó là chủ đích của Đức Chúa Trời khi tạo thành chúng ta, nhất là khi Ngài hy sinh Con Một của Ngài để cứu chúng ta.
Làm thế nào để bày tỏ mục đích của đời sống là tôn vinh Đức Chúa Trời?
I. CÓ ĐỜI SỐNG KẾT QUẢ TRONG CHÚA.
1. Có bông trái của Thánh Linh.
Chúa Jêsus phán: “Nầy, Cha Ta sẽ được sáng Danh là thế nào: Ấy là các ngươi được kết nhiều quả, thì sẽ làm môn đồ của Ta vậy” (Giăng 15:8). Một cây nho có nhiều nhánh, dầu có nhánh to, nhánh nhỏ, song nhánh nào cũng có trái. Chúa là gốc nho, chúng ta là nhánh nho, nếu nhánh nho dính vào gốc nho, thì to hay nhỏ đều có trái nhiều hoặc ít. Nếu chúng ta cứ ở trong Chúa, chúng ta sẽ có một đời sống kết quả, vì sự sống Ngài tuôn tràn vào chúng ta.
Loại trái nào tôn vinh Đức Chúa Trời? Trái của Thánh Linh. Cây sinh trái tùy theo hột giống. Trong hột giống có sự sống của cây. Cây cam sinh trái cam, cây xoài sinh trái xoài. Trái ngọt hay chua tùy theo loại hột giống người ta gieo xuống đất. Nếu chúng ta xin Thánh Linh ngự trị lòng mình, Ngài sẽ đem sự sống thánh khiết bất diệt vào đời sống chúng ta và nhờ đó sẽ sanh ra những trái “yêu thương, vui mừng, bình an…” (Ga-la-ti 5:22). Đó không phải là bông trái do chúng ta cố gắng, song đó là hành động của Thánh Linh khi chúng ta triệt để phục tùng Ngài mà bước theo Ngài. Ngược lại, nếu chúng ta làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt thì chúng ta sẽ sanh ra những trái xấu xa, ghê tởm, làm sỉ nhục Đức Chúa Trời (Ga-la-ti 5:19-21).
2. Có bông trái của việc làm.
Nếu lòng chúng ta đầy dẫy bông trái yêu thương, vui mừng, bình an… thì việc làm của chúng ta sẽ tốt đẹp biết bao, Danh Chúa sẽ được tôn vinh là dường nào! (Matthiơ 5:16).
Chúa Jêsus đã sống cuộc đời tôn vinh Đức Chúa Trời bằng mọi tư tưởng, ngôn ngữ và hành động. Ngài đã vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự. Trong vườn Ghết-sê-ma-nê, Ngài đã thưa: “Cha ơi, nếu chén nầy không thể lìa khỏi Con được mà Con phải uống thì xin ý Cha được nên” (Ma-thi-ơ 26:42).
Chúng ta là kẻ được cứu bởi Đức Chúa Jêsus thì chúng ta cũng phải vâng phục như chính mình Ngài đã vâng phục. Mối bận tâm của chúng ta là: Tôi phải làm gì cho Đấng đã không tiếc chính Con Một của Ngài vì tôi? Tôi phải làm gì cho Đấng đã xả thân vì tôi? Xưa Đa-vít đã nói rằng: “Tôi sẽ lấy gì báo đáp cho Đức Giê-hô-va về các ơn lành mà Ngài đã làm cho tôi” (Thi thiên 116:12).
Chúng ta đáng phải khóc khi thấy mình và anh chị em mình đã không làm gì để Chúa được tôn vinh. Dầu chúng ta có làm thì cũng ít ỏi, nhỏ mọn quá, chưa tôn vinh Chúa đúng mức. Chúng ta đã làm quá nhiều cho chính mình được giàu có, được tôn vinh, thậm chí khi chúng ta ăn cũng vì thích khẩu, chứ không nghĩ đến có đẹp lòng Chúa hay không, có tôn vinh Ngài hay không! Đồng bào chung quanh không thấy việc làm của chúng ta để ngợi ca Cha chúng ta ở trên trời. Chúng ta sẽ trả lời thế nào khi gặp Chúa đây?
3. Có bông trái của môi miệng.
Nếu lòng của chúng ta đầy dẫy những trái yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục… và đầy dẫy Lời của Chúa, thì chúng ta sẽ không ngớt ca tụng Ngài. Mặc dầu nói hay làm chúng ta đều nhờ Ngài mà cảm tạ Đức Chúa Trời (Cô-lô-se 3:16-17). Đức Chúa Trời phán: “Kẻ nào dâng sự cảm tạ làm của lễ, tôn vinh Ta; còn người nào đi theo đường ngay thẳng, Ta sẽ cho thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời” (Thi thiên 50:23). “Còn Chúa là Thánh, Ngài là Đấng ngự giữa sự ngợi khen của Y-sơ-ra-ên” (Thi thiên 22:3).
Chúng ta phải cảm tạ, ca ngợi Chúa mỗi ngày trong mỗi công việc như một của lễ hằng dâng lên cho Ngài. Trong cuộc hành trình từ Ê-díp-tô đến Ca-na-an, dân Y-sơ-ra-ên đã nhiều lần lằm bằm oán trách Chúa trong khi họ đáng phải cảm tạ và ca ngợi Ngài. Chúa ban mana cho họ ăn, khiến hòn đá phun nước cho họ uống, ban đêm soi sáng bằng trụ lửa, ban ngày che phủ bằng đám mây suốt 40 năm, họ không thiếu thốn chi cả, quần áo họ không cũ rách, chân họ không phù lên (Nê-hê-mi 9:19-21). Có điều gì đáng làm cho họ mà Chúa đã không làm đâu, song thói quen lằm bằm của họ như thói quen của một em bé, lúc nào cũng kêu la, lúc nào cũng than phiền vì bất mãn. Ngày nay nếu chúng ta không cảm tạ và ca ngợi Chúa, chúng ta sẽ lần lần bị nhiễm thói quen lằm bằm và oán trách Ngài, đến nỗi hễ mở miệng ra là kêu la, là than thở. Trong một gia đình, không có ông cha bà mẹ nào chịu nổi những đứa con luôn luôn lằm bằm cha, oán trách mẹ.
Nếu chúng ta xin Thánh Linh ngự trị lòng mình, và bước theo Ngài từng bước một thì môi miệng chúng ta sẽ sẵn sàng tôn vinh Đức Chúa Trời (Thi thiên 146:1-3).
II. PHƯỚC HẠNH CỦA NGƯỜI SỐNG THEO MỤC ĐÍCH CHÚA MUỐN.
Tôn vinh Đức Chúa Trời chẳng phải là một việc làm rỗng không vô nghĩa, song có kết quả lớn lao. Qua Thi thiên 16, chúng ta thấy lòng Đa-vít ngọt ngào, môi miệng ông tràn ngập lời ca tụng Chúa để tôn vinh Ngài. Đó là một Thi thiên vàng, một Thi thiên châu báu.
Ông đã thưa với Chúa: “Ngài là Chúa tôi, trừ Ngài ra tôi không có phước gì khác… Đức Giê-hô-va là phần cơ nghiệp của tôi… Tôi ngợi khen Ngài…” Sau hết ông nói: “Trước mặt Chúa có trọn sự khoái lạc, tại bên hữu Chúa có điều vui sướng vô cùng”.
Thế thì phước biết bao cho ai tôn vinh Chúa, càng tôn vinh Chúa càng được phước, càng được phước càng muốn tôn vinh Chúa.
Biết bao tấm lòng như nước đắng tại Ma-ra mà chưa được cây gỗ là thập tự giá quyền năng chạm vào để làm cho nó trở nên ngọt ngào (Xuất 15:22-25). Biết bao đời sống như nước độc và đất chai tại Giê-ri-cô mà chưa được muối của ân sủng thấm nhuần để làm cho nó trở nên hiền lành và phì nhiêu (IICác 2:19-22). Thập tự giá quyền năng, muối của ân sủng vẫn sẵn sàng làm việc đó, để ban cho chúng ta một tấm lòng, một đời sống phước hạnh, để bất cứ lúc nào, nơi nào, việc gì, chúng ta đều cảm tạ và ca ngợi hầu tôn vinh Đức Chúa Trời.
Dầu công việc có khác nhau, nguyện chúng ta có thể thưa như Chúa Jêsus: “Con đã tôn vinh Cha trên đất, làm xong công việc Cha giao cho làm” (Giăng 17:4).
CÂU HỎI
1. Mục đích của người chưa được cứu là gì?
2. Mục đích của tín đồ là gì?
3. Đời sống có kết quả trong Chúa sẽ có những bông trái nào?
4. Làm sao chúng ta có được bông trái đó?
5. Chúng ta phải làm gì để tôn vinh Đức Chúa Trời?
6. Thế nào là tôn vinh Đức Chúa Trời bằng môi miệng?
7. Tôn vinh Đức Chúa Trời thì được kết quả gì?
8. Ai là người được phước và tôn vinh Đức Chúa Trời?
9. Nếu lòng của chúng ta như nước Ma-ra, như nước và đất Giê-ri-cô, chúng ta phải làm sao?
10. Sau bài học nầy anh chị em có quyết định gì?
BÀI 10. CHUÁ JÊSUS TÁI LÂM – HY VỌNG TƯƠI SÁNG
KINH THÁNH: Ma-thi-ơ 24:3-14; 23:35.
CÂU GỐC: “Đương chờ đợi sự trông cậy hạnh phước của chúng ta, và sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ” (Tít 2:13).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ ràng sự tái lâm của Chúa Jêsus là hy vọng duy nhất cho thế gian hỗn loạn nầy.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Một thi sĩ mô tả nước của Chúa Jêsus |
(Thi thiên 72:1-17). |
|
TH: |
Một tiên tri mô tả nước của Chúa Jêsus |
(Ê-sai 11:1-12). |
|
TB: |
Mở đầu về Nước Trời |
(Ma-thi-ơ 24:3-23). |
|
TT: |
Lời chỉ dẫn về Nước Trời |
(II Phi-e-rơ 3:10-14). |
|
TN: |
Chúa Jêsus tái lâm |
(ITê 4:13-18). |
|
TS: |
Chúa Jêsus là Vua |
(Khải huyền 19:11-21). |
|
TB. |
Nhìn về tương lai |
(Khải huyền 21:1-7; 22-27). |
Con người ai cũng có hy vọng, người học trò hy vọng đỗ đạt thành tài, người làm nông hy vọng lúa trổ đầy đồng, người làm công hy vọng nơi tiền lương, người buôn bán hy vọng nơi tiền lời v.v… Nhưng toàn thể nhân loại hy vọng gì?
Hậu quả của Chiến tranh thế giới lần thứ I (1914-1918) là có gần 10 triệu người chết và 30 triệu người bị thương hoặc mất tích. Chiến tranh thế giới thứ II (1939-1945) đã khiến cho gần 40 triệu người chết tại mặt trận và trên 30 triệu người bị thương, kể cả thường dân và tài sản bị phá hủy cũng như chiến phí thì nhiều hơn trận chiến trước.
Sau mỗi cuộc thế chiến, nhân loại hy vọng một thế giới hòa bình, một thế giới không còn bệnh tật, không còn đói kém, không còn kỳ thị chủng tộc và giai cấp, không còn hận thù mà năm châu chung chợ, bốn biển một nhà như câu: “Tứ hải giai huynh đệ”. Nhưng chúng ta hy vọng nơi ai để được như vậy?
I. HY VỌNG NƠI LOÀI NGƯỜI LÀ MỘT BỨC TRANH ĐEN TỐI.
Ai cũng tưởng mình có thiện chí, có nhiệt tâm, có khả năng hơn người khác, có thể đem lại hòa bình cho thế giới, nhưng không ai nhận biết một cách sâu xa rằng mình là một tội nhân, lòng mình vốn rất dối trá và xấu xa, trong đó đầy dẫy chất độc giết người còn hơn nọc rắn hổ mang (Thi thiên 58:4; 140:3). Ngoài ra, lòng mình còn ích kỷ, tham lam, tàn bạo như một hang sư tử (Nahum 2:11-12). Vì vậy nhân loại vẫn bất năng trong việc kiến tạo một thế giới hòa bình.
Chúa Jêsus đã tuyên bố: “Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc. Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia” (Ma-thi-ơ 24:6-7). Suốt dòng lịch sử, con người đã không ngừng chém giết nhau. Vì nếu người ta đã dám liều mình đánh giặc với Đức Chúa Trời thì còn ai mà người ta không dám! (Công vụ 5:39). Và nếu người ta đã không chịu làm hòa với Đức Chúa Trời thì còn muốn làm hòa với ai? (Gióp 21:14).
Sau cơn nước lụt đời Nô-ê, nhân loại đã ý thức nhu cầu của mình nên đã tập trung tài sản, năng lực, thống nhất ý chí, tư tưởng, mục đích trong công cuộc xây dựng một cái tháp chót cao đến tận trời để bảo vệ nhau, kẻo bị tản mát khắp trên mặt đất. Song kết quả trái ngược là nhân loại bị chia rẽ qua nhiều thứ tiếng khác nhau và phải tản mác khắp trên mặt đất.
Sau đệ nhất thế chiến có Hội Quốc Liên cũng như sau Đệ nhị thế chiến có Liên Hiệp Quốc đều nhằm mục đích ngăn ngừa chiến tranh tái phát. Song Hội Quốc Liên đã không ngăn nổi Đệ nhị thế chiến nên ít ai dám tin Liên Hiệp Quốc sẽ ngăn nổi Đệ tam thế chiến. Vì mọi người tin rằng mình đang sống trong hiểm họa chiến tranh thế giới.
Chúa Jêsus cũng đã tuyên bố: “Bấy giờ, anh sẽ nộp em cho phải chết, cha sẽ nộp con, con cái sẽ dấy lên nghịch cùng cha mẹ mình mà làm cho phải chết” (Mác 13:12). Không những có chiến tranh trong thế giới mà cũng có chiến tranh trong gia đình. Sau khi A-đam và Ê-va sa ngã, Ca-in đã giết em mình là A-bên. Rồi từ đó cứ tiếp tục cảnh gia đình xung đột không ngừng cho đến ngày nay như anh em giết nhau, vợ chồng ly dị, con cái không vâng lời cha mẹ.
Dầu nhân loại đã cố gắng tối đa để chận đứng nạn đói, song số người bị đói trên thế giới càng ngày càng gia tăng. Dầu các nhà bác học đã làm việc hết sức nhằm ngăn cản bệnh tật, song bệnh tật vẫn lan tràn. Những gì mà nhân loại sợ hãi, muốn tránh lại càng xảy đến cho mình.
Thế giới chiến tranh, gia đình xung đột, nạn đói gia tăng, bệnh tật lan tràn, là hậu quả tất nhiên của tội lỗi. Nếu không thể tiêu trừ tội lỗi thì nhân loại không thể kiến tạo một thế giới hòa bình mặc dầu họ đã lên được cung trăng hay đi xa hơn nữa. Tội lỗi ở khắp nơi, ở trong lòng người. Tội lỗi đã vẽ ra bức tranh đen tối, đã phá hủy hy vọng của loài người.
II. HY VỌNG NƠI CHÚA JÊSUS LÀ MỘT BỨC TRANH TƯƠI SÁNG.
Từ ngàn xưa, Đức Chúa Trời đã trù hoạch một thế giới hòa bình, không những hòa bình giữa loài người với nhau, mà cũng hòa bình giữa loài người với loài vật và giữa loài vật với nhau, trên nền tảng của hòa bình giữa loài người với Đấng Tạo Hóa là Đức Chúa Trời. Kinh Thánh mô tả: “Ngài sẽ làm sự phán xét trong các nước, đoán định về nhiều dân. Bấy giờ họ sẽ lấy gươm rèn lưỡi cày, lấy giáo rèn lưỡi liềm. Nước nầy chẳng còn giá gươm lên nghịch cùng nước khác, người ta chẳng còn tập sự chiến tranh” (Ê-sai 2:4).
“Bấy giờ muông sói ở với chiên con, beo nằm với dê con; bò con, sư tử con với bò nuôi mập cùng chung một chỗ, một con trẻ sẽ dắt chúng nó đi. Bò cái sẽ ăn với gấu, các con nhỏ chúng nó nằm chung, sư tử ăn cỏ khô như bò. Trẻ con đương bú sẽ chơi kề ổ rắn hổ mang, trẻ con thôi bú sẽ thò tay vào hang rắn lục. Nó chẳng làm hại, chẳng giết ai trong cả núi thánh của Ta; vì thế gian sẽ đầy dẫy sự hiểu biết Đức Giê-hô-va, như các dòng nước che lấp biển” (Ê-sai 11:6-9).
Trong cảnh thanh bình như vậy, nhân loại sẽ sống hoàn toàn hạnh phúc: “Tại đó sẽ không có trẻ con chết non, cũng chẳng có ông già nào chẳng trọn đời mình; vì chết lúc trăm tuổi, còn là chết trẻ, và kẻ có tội lúc trăm tuổi, ấy là bị rủa sả” (Ê-sai 65:20). Đói kém, bệnh tật không còn hoành hành trên con người nữa.
Một thế giới thanh bình, an ninh, trật tự, vượt quá hy vọng và sức tưởng tượng của nhân loại thì không thể được thực hiện bởi nhân loại mà phải được thực hiện bởi Đấng Tạo Hóa của nhân loại, là Đức Chúa Trời. Và Ngài đã giao trách nhiệm thực hiện một thế giới như vậy cho Chúa Jêsus, khi Đấng ấy từ trời tái lâm với tất cả đại quyền đại vinh để làm vua trên toàn thể nhân loại (Ma-thi-ơ 24:30).
Chúng ta mừng tạ ơn Chúa, vì các dấu hiệu tiên báo sự tái lâm của Ngài đã lần lượt xảy ra gần đủ. Bây giờ chúng ta đang ở vào một thời điểm của cây vả nứt lộc, báo tin mùa hạ đã gần, tức là Chúa Jêsus như đang đứng trước cửa. Ngài phán rằng: “Trời đất sẽ qua đi, song lời Ta nói chẳng qua đâu” (Ma-thi-ơ 24:35). Vì vậy, hy vọng nơi Chúa chẳng bao giờ là hy vọng đen tối hoặc sẽ bị vỡ mộng, hổ thẹn, song là hy vọng tươi sáng, vinh hiển và vững vàng.
III. NẾP SỐNG BÀY TỎ HY VỌNG CHÚA TÁI LÂM (II Phi-e-rơ 3:10-14).
1. Ăn ở thánh khiết và tin kính.
Đang khi chờ đợi Chúa tái lâm, chúng ta không thể sống bê tha, trụy lạc như nhân loại trong đời Nô-ê chỉ biết lo ăn, uống, cưới, gả, hay miệt mài trong vật dục đến nỗi ngày của Chúa đến thình lình cho mình như lưới bủa. Chúng ta là con cái của sự sáng, của ban ngày, nên phải thức tỉnh, thận trọng trong mỗi bước đi, lúc nào cũng thánh khiết và tin kính trong cách ăn ở hằng ngày, như chực sẵn chờ đợi Chúa để bất luận lúc nào Ngài tái lâm đều thấy chúng ta đang làm như vậy (Ma-thi-ơ 24:46). Nếu chúng ta tin rằng đất và mọi công trình trên nó đều phải bị tiêu tan thì chúng ta còn ước ao gì hơn!
2. Phải làm hết sức mình.
Chờ đợi Chúa tái lâm không phải khoanh tay bó gối ngồi một chỗ, nhưng phải xem đây là dịp tiện cuối cùng mà tận dụng khả năng, thì giờ, tiền bạc vào việc giúp đỡ người khác biết Chúa như mình. Phải thoát khỏi cuộc sống ích kỷ mà sống cuộc sống vị tha, sẵn sàng chia xẻ ơn phước cho đồng bào. Khi biết sắp có nước lụt hủy diệt mọi người sống trên mặt đất, Nô-ê và gia đình đã vâng mạng lịnh Chúa chuyên tâm vào một việc: Vừa đóng tàu, vừa giảng đạo, là hai phương diện của một công tác. Lời giảng giải thích cho việc làm, việc làm chứng minh cho lời giảng. Dầu nhân loại trong thời bấy giờ đã không tin lời giảng lẫn việc làm của Nô-ê, thì khi bị nước lụt đến, họ không có cớ gì để trách cứ ông, và ông cũng không có cớ gì để phải hối tiếc. Nguyện khi Chúa đến, Ngài sẽ thấy chúng ta “không dấu vết, chẳng chỗ trách được”.
CÂU HỎI
1. Hy vọng của nhân loại hiện nay là gì?
2. Tại sao nhân loại không thể thực hiện được điều mình hy vọng.
3. Khi nhân loại hy vọng thế giới hòa bình, gia đình hạnh phúc thì thực tế ra sao?
4. Đức Chúa Trời có chương trình gì cho thế giới?
5. Khi Chúa Jêsus cai trị thì thế giới sẽ ra sao?
6. Chừng nào Chúa Jêsus sẽ cai trị?
7. Chúng ta phải làm gì khi chờ đợi Chúa tái lâm?
8. Sau khi Chúa cai trị 1.000 năm hòa bình, thì sẽ có gì xảy ra (Khải huyền 20:7-15; 21:1).
BÀI 11. SỰ PHÁN XÉT
KINH THÁNH: Ma-thi-ơ 25:3-46.
CÂU GỐC: “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét” (Hê-bơ-rơ 9:27).
MỤC ĐÍCH: Khuyên giục học viên nhìn về ngày phán xét mà tỉnh thức và chuẩn bị.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Tín đồ hữu danh vô thực |
(Ma-thi-ơ 7:21-29). |
|
TH: |
Lời xưng nhận không có Thánh Linh |
(Ma-thi-ơ 25:1-13). |
|
TB: |
Các ân tứ bị phung phí |
(Ma-thi-ơ 25:14-30). |
|
TT: |
Kẻ vô tâm bị phán xét |
(Ma-thi-ơ 25:31-46). |
|
TN: |
Đừng dẫn người khác đi lạc |
(Giu-đe 5-15). |
|
TS: |
Tòa án trắng |
(Khải huyền 20:1-15). |
|
TB: |
Người ở trong Chúa chẳng sợ hãi gì cả |
(Rô-ma 8:1,31-39). |
Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa của vũ trụ, là Vua Chúa của loài người nên mọi sự trong Ngài đều có tính cách vĩ đại và tối hậu. Sự cứu rỗi của Ngài là vĩ đại, lời mời của Ngài “Hãy đến cùng Ta” là niềm vui vô tận. Lời tuyên phán khủng khiếp của Ngài “Hãy lui ra khỏi Ta” là nỗi sầu thảm vô biên. Không có nỗi sầu thảm nào ở thế gian có thể so sánh với nỗi sầu thảm của một tội nhân ở dưới sự đoán xét của Đức Chúa Trời khi nghe: “Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi Ta, đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó” (Ma-thi-ơ 25:41).
Chúng ta cần phải nghiêm chỉnh, cung kính học bài nầy!
I. CHẮC CHẮN SẼ CÓ SỰ PHÁN XÉT.
Biết bao người làm dữ mà vẫn được vinh thân phì gia cho tới lúc tắt hơi. Biết bao người làm lành mà vẫn bị lận đận lao đao cho đến khi qua đời. Vì vậy phải có một tòa thượng thẩm, một quan án tối cao để phán xét và thưởng lành phạt dữ đúng theo luật công bình. Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu, ai gieo giống chi lại gặt giống ấy. Ngài là Đấng sẽ báo ứng mỗi người tùy công việc họ. “Phải biết rằng tội lỗi các ngươi sẽ đổ lại trên các ngươi” (Dân số ký 32:23).
Đừng để bị cám dỗ nghĩ rằng sẽ chẳng bao giờ có sự phán xét. Trái lại, Đức Chúa Trời đã phán xét nhân loại trong đời Nô-ê bằng một cơn nước lụt. Ngài đã phán xét dân thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ bằng lửa diêm sinh. Ngài đã phán xét toàn thể nhân loại bằng sự đóng đinh Chúa Jêsus trên thập tự giá. Song nếu ai khước từ sự chết đền tội đó thì “chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi”; “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét” (Hê-bơ-rơ 10:27; 9:27). Cả Kinh Thánh cũng như lương tâm của con người đều chứng rằng phải có sự phán xét. Đức Chúa Trời chí ái, chí nhân, song cũng chí công, chí thánh, nên không thể nào bỏ qua sự phán xét.
II. THỜI ĐIỂM XẢY RA SỰ PHÁN XÉT.
Sự phán xét được diễn tả bằng một từ ngữ khác là sự tính sổ (Ma-thi-ơ 18:23; 25:19).
Ví dụ: Một người mua gánh bán bưng có thể tính sổ mỗi ngày để biết lời lỗ bao nhiêu. Một người làm ruộng có thể tính sổ mỗi mùa để biết thu hoạch được chừng nào. Song những công trình, xí nghiệp, ngân hàng thì cả năm mới tính sổ một lần. Vì vậy sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với loài người phải hàng ngàn năm mới tính sổ một lần đủ cả, nên gọi là sự phán xét cuối cùng.
Đức Chúa Trời đã giao quyền phán xét cho Chúa Jêsus và Ngài sẽ phán xét kẻ sống và kẻ chết (Giăng 5:22,27; Công vụ 10:42). Chúa Jêsus đã thi hành sự phán xét đó khi Ngài từ trời trở lại trần gian nầy: “Khi Con Người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài” (Ma-thi-ơ 25:31).
Chừng ấy, thời đại ân điển đã chấm dứt, cửa cứu rỗi đã đóng lại, tội nhân không còn dịp tiện để ăn năn. Sau 120 năm Nô-ê vừa đóng tàu vừa giảng đạo, Đức Chúa Trời bảo ông: “Ngươi và cả nhà ngươi hãy vào tàu… đoạn Đức Giê-hô-va đóng cửa tàu lại” (Sáng 7:1,16). Khi nước lụt xảy ra, có nhiều người chạy đến Nô-ê vì thấy ông đã nói đúng. Họ xin ông mở cửa ra và cho họ vào tàu. Dầu Nô-ê rất thương hại, song ông đã phải đáp: “Đức Chúa Trời đã đóng cửa, tôi không thể nào mở được!” Thế là hết thảy những người ở ngoài tàu đều bị nước lụt cuốn đi.
Thử hỏi: Ông đã vào tàu chưa? Bà đã vào tàu chưa? Các con của ông bà đã vào tàu chưa? Hãy mau mau vào tàu cứu rỗi là Chúa Jêsus. Hãy dắt đem cháu chắt, thân nhân, bạn hữu vào tàu! Chúa Jêsus phán: “Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời Ta mà tin Đấng đã sai Ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống” (Giăng 5:24).
“Hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Rô-ma 8:1).
III. NỀN TẢNG CỦA SỰ PHÁN XÉT.
Đức Chúa Trời sẽ phán xét dựa trên bản chất và hành động của mọi người.
1. Bản chất.
Chiên hay dê (Ma-thi-ơ 25:32-33). Bắt đầu cuộc phán xét, Vua chia ra người nầy với kẻ khác, chiên ở bên hữu và dê ở bên tả, tức là kẻ tin Ngài và kẻ không tin Ngài, kẻ thuộc về Ngài và kẻ không thuộc về Ngài. Ngài quen biết kẻ thuộc về Ngài như người chăn quen biết chiên mình. Quen biết là nhờ thông công thân mật, nhờ liên hệ sâu xa và riêng tây như anh em cha con, chồng vợ. Chúa phán: “Chiên Ta nghe tiếng Ta, Ta quen nó và nó theo Ta” (Giăng 10:27).
Còn những kẻ khác không thuộc về Ngài, mặc dầu họ cứ tự xưng là thuộc về Ngài, như đã nhân Danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỉ, nhân Danh Chúa mà làm nhiều phép lạ. Chúa phán: “Nhưng các ngươi không tin Ta, vì các ngươi chẳng phải là chiên của Ta” (Giăng 10:26). Vì vậy cuối cùng, Ngài sẽ phán với họ: “Hỡi kẻ làm ác, Ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi Ta!” (Ma-thi-ơ 7:23).
2. Hành động.
Những kẻ ở bên hữu nhờ có bản chất đức tin mà được thuộc về Chúa, được quen biết Chúa, nên hành động của họ là vị tha như cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách mặc, tiếp rước khách lạ, chăm sóc người đau, thăm viếng người bị tù. Chúa gọi những kẻ đã làm như vậy là được Cha Ngài ban phước và mời họ đến nhận nước thiên đàng, vì Chúa Jêsus kể họ làm mọi việc đó là làm cho Ngài.
Những kẻ ở bên tả vì không tin Chúa nên không thuộc về Ngài, không quen biết Ngài, không thông công với Ngài, không liên hệ gì với Ngài. Vì thế hành động của họ là vị kỷ như không cho kẻ đói ăn, không cho kẻ khát uống, không cho kẻ rách mặc, không tiếp rước khách lạ, không chăm sóc người đau, không thăm viếng người bị tù. Chúa gọi những người không làm như vậy là kẻ bị rủa, họ bị đuổi khỏi mặt Ngài, vì Chúa kể họ không làm các việc đó là không làm cho chính mình Ngài.
IV. HẬU QUẢ CỦA SỰ PHÁN XÉT.
1. Bị xa cách Chúa, bị Ngài lìa bỏ.
Khi Chúa mỉm cười bảo: “Hãy đến cùng Ta”, lời đó ngọt ngào, êm ái, nồng hậu biết bao! Câu ấy bao hàm một bầu trời quang đãng, một kho tàng vô giá, một tấm lòng bao dung. Còn khi Chúa nghiêm nghị tuyên phán: “Hãy lui ra khỏi Ta”, thì lời đó kinh hoàng thảm não biết chừng nào! Đó chính là hình phạt mà Ca-in đã cho rằng nặng quá mang không nổi (Sáng 4:13-14). Đó là lý do mà Chúa Jêsus phải kêu lên khủng khiếp khi Ngài mang lấy tội lỗi của hết thảy chúng ta mà chết trên thập tự giá: “Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Ma-thi-ơ 27:46).
2. Bị quăng vào hồ lửa.
Tội nhân sẽ bị quăng vào hồ lửa và diêm cháy bừng bừng: Đó là sự chết thứ hai (Khải huyền 21:8). Sau sự chết thứ nhất thì có sự sống lại, trong đó tội nhân sẽ mang lấy một thân thể không tan biến được. Với thân thể đó, tội nhân “sẽ phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời” (Khải huyền 20:10). Họ muốn chết mà không chết được, song cứ phải sống trong cảnh ngắc ngoải đó mà Kinh Thánh gọi là “chết đời đời”. Đời đời là một thời gian vô cùng tận, vô hạn định! (Khải huyền 14:10-11).
Đức Chúa Trời chí công, song cũng chí ái, không muốn cho một người nào bị trừng phạt mà muốn mọi người được cứu rỗi, nên đã hy sinh Con Một của Ngài vì chúng ta. Ngài đã kêu gào tha thiết: “Thật như Ta hằng sống, Ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui, nhưng vui về nó xây bỏ đường lối mình và được sống. Các ngươi khá xây bỏ, xây bỏ đường lối xấu mình. Sao các ngươi muốn chết?” (Ê-xê-chi-ên 33:11).
CÂU HỎI
1. Tại sao chúng ta biết sự phán xét chắc chắn phải có?
2. Sự phán xét xảy ra khi nào?
3. Trải qua các thời đại, Chúa đã phán xét ai?
4. Chúa sẽ phán xét tội nhân về điều gì?
5. Dê và chiên chỉ về những ai?
6. Sự hình phạt Chúa dành cho tội nhân trong ngày phán xét là gì?
7. Làm sao để tránh khỏi sự phát xét?
8. Tại sao chúng ta, những người ở trong Chúa Jêsus, sẽ không hề bị phán xét?
BÀI 12. THIÊN ĐÀNG
KINH THÁNH: Khải huyền 21:1-8, 22-27.
CÂU GỐC: “Ngợi khen Đức Chúa Trời, là Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài lấy lòng thương xót cả thể khiến chúng ta lại sanh, đặng chúng ta nhờ sự Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết mà có sự trông cậy sống, là cơ nghiệp không hư đi, không ô uế, không suy tàn, để dành trong các từng trời cho anh em” (I Phi-e-rơ 1:3-4).
MỤC ĐÍCH: Trình bày lời giáo huấn về thiên đàng và làm thế nào để được thừa hưởng nơi ấy.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Thiên đàng là được ở với Chúa |
(IICôr 5:1-8). |
|
TH: |
Chúa sắm sẵn thiên đàng cho chúng ta |
(Giăng 14:1-6). |
|
TB: |
Áp-ra-ham thấy trước thiên đàng |
(Hê-bơ-rơ 11:8-16). |
|
TT: |
Nhìn qua thiên đàng |
(Khải huyền 7:9-17). |
|
TN: |
Nhìn qua thiên đàng |
(Khải huyền 21:1-8). |
|
TS: |
Nhìn qua thiên đàng |
(Khải huyền 21:9-27). |
|
TB: |
Nhìn qua thiên đàng |
(Khải huyền 22). |
Vì phạm tội, A-đam đã mất nơi phước lạc dưới đất. Bởi tình thương, Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho những người được cứu chuộc nơi phước lạc trên trời. Kinh Thánh gọi nơi đó là PA-RA-ĐI (Lu-ca 23:43), là QUÊ HƯƠNG TRÊN TRỜI (Hê-bơ-rơ 11:16), là TRỜI hay CÁC TỪNG TRỜI (Công vụ 1:11; 3:21), là NƯỚC TRỜI (II Ti-mô-thê 4:18), là NHÀ CHA (Giăng 14:2), là THÀNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Thi 46:4), là TRỜI MỚI ĐẤT MỚI (II Phi-e-rơ 3:13), là GIÊ-RU-SA-LEM MỚI (Khải huyền 21:2), là THIÊN ĐÀNG v.v…
Địa ngục không phải là điều bịa đặt để cảnh cáo người làm dữ, thiên đàng không phải là điều bịa đặt để khích lệ người làm lành. Song đó là hai nơi ở cuối cùng và vĩnh viễn của loài người. Dương gian là cảnh, thiên đàng là quê, hay dương gian là cảnh, địa ngục là quê. Cuối cùng loài người phải đến một trong hai nơi đó, nếu không phải là thiên đàng thì địa ngục!
Thiên đàng là nơi Chúa sắm sẵn cho toàn thể chúng ta, là những tín đồ chân chính để được ở đó đời đời. Vậy chúng ta hãy cố gắng học biết về quê hương mến yêu của chúng ta.
I. THIÊN ĐÀNG LÀ MỘT NƠI CÓ THẬT.
Thiên đàng được gọi là thành Giê-ru-sa-lem mới. Chữ “GIÊ-RU-SA-LEM” có nghĩa là “CHÚA ĐANG Ở ĐÓ”. Sở dĩ toàn thể dân tộc Dothái quí trọng Giê-ru-sa-lem dưới đất này vì Đức Chúa Trời đã chọn địa điểm ấy làm nơi ngự đặc biệt của Ngài. Vì thế khi Kinh Thánh đề cập đến Giê-ru-sa-lem mới là đề cập đến một nơi có thật trên trời mà Đức Chúa Trời đang ở đó (Ê-xê-chi-ên 48:35).
Chúa Jêsus phán: “Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở”. Đức Chúa Trời phải có một ngôi nhà cho Ngài và có đủ chỗ dành cho tất cả con cái Ngài. Đức Chúa Trời là Vua, dĩ nhiên Ngài có một vương quốc là quê hương cho công dân của Ngài. Cũng có một thành gọi là nơi ở của Đấng Chí Cao. Khi trở lại trần gian nầy, Chúa sẽ biến hóa thân thể hèn mạt của chúng ta ra giống như thân thể vinh hiển của Ngài, rồi cất chúng ta lên trời để ở với Ngài luôn luôn. Chúng ta cũng như Chúa chúng ta đều thực hữu, chúng ta sẽ ở với Ngài trong thiên đàng thực hữu.
II. LỜI MÔ TẢ VỀ THIÊN ĐÀNG.
Thiên đàng là một đô thị lớn có hình khối (bề ngang, bề dài, bề cao đều bằng nhau), mỗi bề hai ngàn cây số (Khải huyền 21:16). Nó giống như nơi chí thánh của đền thờ do Sa-lô-môn xây cất (ICác 6:20). Thành phố này có đủ chỗ cho cho mọi người của mọi thời đại.
Sứ đồ Giăng đã dùng ngôn từ trần gian để mô tả thiên đàng khi ông được nhìn thấy qua một dị tượng. Thành chói lọi như một khối kim cương, lấp lánh muôn màu như bích ngọc. Nền và tường thành thì xây toàn bằng đủ thứ ngọc, đường đi lót bằng vàng ròng như thủy tinh trong suốt. Mười hai cửa làm bằng mười hai ngọc châu nguyên khối. Thiết tưởng Đức Chúa Trời đã xây dựng thiên đàng bằng những nguyên liệu mà trần gian không có, nên Giăng không biết dùng ngôn từ nào để mô tả, đành phải mượn nguyên liệu thượng hạng của trần gian làm tượng trưng.
Ví dụ: Vàng là một kim loại mà nhiều người đã phí cả đời mình để được nó thì trên thiên đàng chỉ dùng để lót đường. Tuy nhiên loại kim khí mà Giăng nói là vàng ròng tợ như thủy tinh trong suốt đó, không phải như vàng của chúng ta có đâu, vì Kinh Thánh đã nói: “Vàng hay hư nát” (I Phi-e-rơ 1:7). Thế thì vàng ròng mà thiên đàng dùng phải là một thứ kim loại mà trần gian không có, vì nó không hư nát. Ôi, thiên đàng là một đô thị rộng lớn, đẹp đẽ, kiên cố, lộng lẫy làm sao, huy hoàng làm sao!!!
III. CUỘC SỐNG TRÊN THIÊN ĐÀNG.
1. Không có bệnh tật chết chóc (Khải huyền 21:40).
Vì bệnh tật chết chóc nên mới có đau đớn, khóc than, tang chế xảy ra hằng ngày tại trần gian. Thiên đàng không có như vậy. Vì Chúa sẽ làm mới lại mọi sự, cai trị trên mọi sự, ban nước sống cho mọi người (Khải huyền 21:5-6).
2. Không có tội lỗi (Khải huyền 21:8,27; 22:15).
Từ khi sa ngã, tội lỗi tràn vào ngự trị lòng người, nên sinh ra ghen ghét, ganh tị, hận thù, dối trá, vu oan và vô vàn điều xấu xa khác nữa. Còn thiên đàng là nơi không có chút tội lỗi, nên kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ gớm ghét, kẻ giết người, kẻ gian dâm, kẻ phù phép, kẻ thờ hình tượng, kẻ nói dối, kẻ ô uế không hề được vào thành, mà phải ở ngoài hết thảy. Chỉ có những kẻ được “rửa sạch tội lỗi, đã giặt và phiếu áo mình trong huyết Chiên Con, được biên tên trong Sách Sự Sống của Chiên Con”, thì mới được vào thành (Khải huyền 1:6; 7:14; 21:27). Vì không co tội lỗi tại đó, nên thiên đàng được vui vẻ hạnh phúc trọn vẹn (Ê-sai 35:10).
3. Có vinh hiển chói lòa ( Khải huyền 21:23-35).
Thiên đàng không cần mặt trời, mặt trăng vì không có ban đêm. Sự vinh hiển chói lòa của Đức Chúa Trời soi sáng cả thiên đàng. Mọi người ở đó sẽ được rực rỡ như sự sáng trên vòng khung… như các ngôi sao đời đời mãi mãi. Họ sẽ chói lòa như mặt trời trong nước của Cha mình (Đa-ni-ên 12:3; Ma-thi-ơ 13:43). Thế thì, đâu có cần gì mặt trời, mặt trăng nữa! Không có sự tối tăm nên người ta không cần ngủ nghỉ vì không ai mệt mỏi bao giờ.
4. Mọi người đều tôn thờ Chúa.
Đời xưa, Môi-se tha thiết xin cho thấy mặt Chúa. Nhưng Chúa đáp: “Ngươi sẽ chẳng thấy được mặt Ta, vì không ai thấy mặt Ta mà còn sống” (Xuất 33:20). Trong đời nầy chúng ta tôn thờ Chúa một cách bất toàn, nhìn xem Ngài như trong một cái gương mập mờ. Trên thiên đàng chúng ta sẽ thấy Chúa mặt đối mặt.
Khi ngắm một đóa hoa, một chiếc lá, một viên ngọc hay một hột kim cương, chúng ta phải cúi đầu khâm phục kỳ tài của Cha chúng ta đã cho các vật nhỏ mọn ấy vẻ đẹp rực rỡ như vậy. Phương chi khi chúng ta gặp Ngài mặt đối mặt, được chiêm ngưỡng dung nhan Ngài, chừng ấy chúng ta sẽ phủ phục dưới chơn Ngài để tôn thờ và ước ao được hôn chân Ngài như Ma-ri đã hôn. Đó là giờ phút mãn nguyện nhất của chúng ta. Công tác vĩ đại và thường xuyên của chúng ta trên trời là tôn thờ Chúa (Khải huyền 4:10-11; 5:8-9; 7:9-12; 11:16-18; 15:3-4; 19:5).
5. Mỗi người đều phục vụ Chúa (Khải huyền 7:15; 21:3; 22:3).
Chúng ta được cứu để phục vụ Chúa. Phục vụ Chúa cũng như tôn thờ Ngài là một đặc ân, một hạnh phúc không thể thiếu. Khi lên thiên đàng chúng ta vẫn tiếp tục phục vụ Chúa. Chúng ta đã tận tâm phục vụ Chúa thì sẽ được phục vụ Chúa thêm nữa (Ma-thi-ơ 24:47; 25:21,23).
6. Nơi có Chúa ngự luôn luôn (Khải huyền 21:3; 22:3).
– Ánh sáng của thiên đàng là vinh quang mặt Chúa.
– Sự vui vẻ của thiên đàng là hiện diện của Chúa.
– Vẻ đẹp của thiên đàng là sự toàn thiện toàn mỹ của Chúa.
– Thời hạn của thiên đàng là sự vô thỉ vô chung của Chúa.
– Nhiệt độ của thiên đàng là tình yêu của Chúa.
– Hòa âm của thiên đàng là ca ngợi Chúa.
– Giai điệu của thiên đàng là Danh của Chúa.
– Đề tài của thiên đàng là công việc của Chúa.
– Hoạt động của thiên đàng là phục vụ Chúa.
– Sự sung mãn của thiên đàng là chính Chúa vô hạn lượng.
Vì thiên đàng như thế nên Áp-ra-ham đã xem đó là một quê hương tốt hơn, đáng yêu hơn quê hương dưới đất. Vì thiên đàng như thế nên Môi-se xem thường châu báu của Ê-díp-tô. Vì thiên đàng như thế nên Phao-lô đã xem mọi sự lời là sự lỗ mà bằng lòng liều bỏ mọi sự, xem như rác rến. Vì thiên đàng như thế nên Đức Chúa Trời luôn luôn chăm sóc, sửa trị, rèn luyện, dạy dỗ, dẫn dắt để chuẩn bị cho chúng ta có một nếp sống thánh khiết là nếp sống xứng hiệp với thiên đàng. Về phần chúng ta hãy nghĩ đến câu: “Của cải ngươi ở đâu, lòng ngươi cũng ở đó” (Ma-thi-ơ 6:21).
CÂU HỎI
1. Thiên đàng cũng được gọi là gì?
2. Tại sao biết thiên đàng có thật?
3. Xin mô tả thiên đàng.
4. Thiên đàng không có những gì và có những gì?
5. Thiên đàng có ai là cao quý nhất?
6. Ai là những người yêu mến thiên đàng?
7. Làm sao để được vào thiên đàng?
8. Ai là những người không thể vào thiên đàng?
BÀI 13. CHIẾN THẮNG CUỐI CÙNG
KINH THÁNH: IICôr 2:14-17.
CÂU GỐC: “Tạ ơn Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta” (ICôr 15:57).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ chiến thắng cuối cùng của Đức Chúa Trời và những người thuộc về Ngài.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Chiến thắng các hậu quả của tội lỗi |
(Ê-sai 11:1-9). |
|
TH: |
Chiến thắng sự chết |
(ICôr 15:50-58). |
|
TB: |
Chiến thắng tội lỗi |
(Rô-ma 5:21-29). |
|
TT: |
Chiến thắng trong dân Y-sơ-ra-ên |
(Ê-xê-chi-ên 39:21-29). |
|
TN: |
Chiến thắng cõi thiên nhiên |
(Ê-sai 35:1-10). |
|
TS: |
Chiến thắng của Đấng Christ |
(Ê-sai 53:1-12). |
|
TB: |
Chiến thắng của Đấng Christ |
(Khải huyền 19:1-16). |
Đây là bài học cuối cùng trong loạt bài ba tháng đầu và cũng là bài học ôn các bài trước. Chúng ta đã học về Sa-tan, về Hội Thánh, về sự phán xét cuối cùng. Nay chúng ta học về sự chiến thắng cuối cùng.
Trong thời nầy, chúng ta dường như nghĩ điều ác thắng điều thiện, tối tăm thắng sáng láng, ma quỉ thắng Đức Chúa Trời. Suy nghĩ sai như vậy làm cho chúng ta sợ hãi, ngã lòng, thất vọng. Kỳ thật, không phải thế đâu. Trái lại điều thiện sẽ thắng điều ác, sự sáng sẽ thắng sự tối, Đức Chúa Trời sẽ thắng ma quỉ. Hãy xem kế hoạch của Ngài.
I. KẾ HOẠCH CHIẾN THẮNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
Đức Chúa Trời đã dựng nên vũ trụ, trong đó có thiên sứ cũng như loài người. Song một trong các thiên sứ đã phản loạn, chống lại uy quyền và công việc của Chúa, cám dỗ A-đam và Ê-va phạm tội, lôi cuốn tội nhân theo nó. Thiên sứ ấy đã trở thành ma quỉ và nó chỉ đắc thắng tạm thời. Song Chúa đã định một ngày để xét đoán thế gian và thiên sứ (ICôr 6:2-3). Tại đây, Phao-lô nhấn mạnh bằng một câu hỏi lặp lại hai lần: “Anh em không biết sao? Các thánh đồ sẽ xét đoán thế gian và thiên sứ”.
Sau khi A-đam và Ê-va sa ngã, Đức Chúa Trời có ngay một kế hoạch phá hủy Sa-tan và công việc nó bằng sự chết của Chúa Jêsus để đền tội cho nhân loại. Kế hoạch đó không phải chỉ có hiệu lực gần hai ngàn năm trước đây, song đã có hiệu lực ngay từ thời A-đam và Ê-va, “vì chiên con đã bị giết từ buổi sáng thế” (Khải huyền 13:8). Chính A-đam, Ê-va và hậu tự của ông bà đã tin vào sự chết của Chúa Jêsus, Đấng Cứu Thế, để đền tội cho mình. Đức tin của họ được bày tỏ bằng chiên con qua của lễ được dâng lên. Từ thời A-đam cho đến Chúa Jêsus chịu chết, ai nấy đã tin rằng Chúa Cứu Thế sẽ chịu chết đền tội cho họ mà chiên con làm tượng trưng, nhờ đó họ được cứu rỗi. Từ sau khi Chúa Jêsus chịu chết cho đến nay, ai tin nhận Ngài đã chịu chết đền tội cho mình thì người ấy nhờ đó mà được cứu rỗi. Chúa Jêsus là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi của thế gian.
II. ĐỨC CHÚA TRỜI THỰC HIỆN KẾ HOẠCH CHIẾN THẮNG QUA DÂN Y-SƠ-RA-ÊN.
Trước hết Chúa đã kêu gọi Áp-ra-ham, để ông sinh ra một dòng dõi, một dân tộc, rồi qua dân tộc đó, Ngài bày tỏ chương trình và kế hoạch của Ngài. Qua những giai đoạn thăng trầm của lịch sử Y-sơ-ra-ên, qua nếp sống tin kính của họ, nhân loại được biết về chính mình Chúa và kế hoạch cứu rỗi của Ngài. Dân Y-sơ-ra-ên có lúc yếu đuối, vấp phạm, nên bị Chúa sửa phạt, song khi họ ăn năn thì được Chúa tha thứ và giải cứu. Song giữa vòng họ lúc nào cũng có những con người vĩ đại, những anh hùng đức tin, những nhà đạo đức chân chính. Nhờ đó chúng ta được biết Chúa quyền năng, thánh khiết, vinh hiển, song cũng rất nhơn từ, thương yêu, thành tín. Lịch sử dân Y-sơ-ra-ên là bài học vô giá cho nhân loại.
Dân Y-sơ-ra-ên rất ít, nước nhỏ, thế yếu giữa những nước lớn mạnh. Song dân Y-sơ-ra-ên lúc nào cũng giữ một địa vị đặc biệt là thờ Đức Chúa Trời mà thôi. Chúa dùng họ làm chứng về Ngài cho thế giới: “Ta sẽ khiến ngươi làm sự sáng cho các dân, hầu cho ngươi đem sự cứu rỗi của Ta đến nơi đầu cùng đất” (Ê-sai 49:6b). Chúa đã dùng họ ban sự khải thị là Kinh Thánh cho thế giới, Chúa đã dùng họ ban Đấng Cứu Thế cho nhân loại. Ngài đã thực hiện kế hoạch của Ngài qua họ.
III. ĐỨC CHÚA TRỜI THỰC HIỆN KẾ HOẠCH CHIẾN THẮNG QUA HỘI THÁNH.
Chúa Jêsus đã giáng sinh, chịu chết trên thập tự giá không phải là một sự thất bại, song là một sự đắc thắng, vì đã hoàn thành kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Ngài đã chịu chết đền tội để phá hủy công việc của Sa-tan, làm cho nó không còn chỗ đứng mà tố cáo và đòi mạng sống của nhân loại (Hê-bơ-rơ 3:14). Biết như vậy nên ma quỉ đã cố gắng cám dỗ Chúa Jêsus đừng lên thập tự giá (Ma-thi-ơ 26:22-23). Song cuối cùng Ngài đã tuyên phán một lời toàn thắng: “Mọi sự đã được trọn” (Giăng 19:30). Từ đó, Ngài sống lại và về trời, ban Đức Thánh Linh giáng lâm trong ngày Lễ Ngũ Tuần. Cũng từ đó Hội Thánh được thành lập, Tin Lành được truyền giảng từ Giê-ru-sa-lem đến Giu-đê, xứ Sa-ma-ri và cho đến cùng trái đất, làm nguồn phước cho vô số người. Tin Lành đã giải phóng kẻ tiếp nhận Chúa khỏi ách nô lệ cho tội lỗi và ma quỉ, ban bình đẳng và tự do cho họ (Cô-lô-se 3:11; Ga-la-ti 3:28). Dầu Hội Thánh có chỗ bất toàn, và luôn luôn có người mới gia nhập, nên không thể nào tránh khỏi sự yếu đuối trong thời kỳ con đỏ. Song Hội Thánh là một đoàn thể đặc biệt được Chúa ban phước như Ngài ban phước cho dân Y-sơ-ra-ên: “Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước” (Sáng thế ký 12:3).
Hội Thánh là muối và là sự sáng của thế gian, thế gian không có muối thì hư hoại, không có sự sáng cũng vậy. Hội Thánh là kỳ quan của thế giới, là nơi Đức Chúa Trời bày tỏ ân điển dồi dào của Ngài, sự giàu có vô lượng của Ngài, quyền năng đời đời và sự khôn ngoan muôn mối của Ngài. Đức Chúa Trời đã hoàn thành kế hoạch của Ngài trong Hội Thánh.
IV. CHIẾN THẮNG CUỐI CÙNG TRONG CHÚA JÊSUS.
Khi Chúa Jêsus từ trời tái lâm thì ma quỉ sẽ hoàn toàn thất bại, tội lỗi bị tiêu diệt, sự tối tăm sẽ bị sự sáng đánh tan. Song hiện nay, mỗi ngày chúng ta đắc thắng luôn luôn trong Chúa Jêsus như Ngài đã đắc thắng thế gian, ma quỉ, tội lỗi và sự chết. Bởi sự đắc thắng đó, chúng tôi rải mùi thơm Chúa khắp nơi, “ở giữa kẻ được cứu, và ở giữa kẻ bị hư mất; cho kẻ nầy mùi sự chết làm cho chết, cho kẻ kia mùi sự sống làm cho sống”.
Phao-lô đã mượn hình ảnh một cuộc chiến thắng khải hoàn của quân đội La-mã thời xưa để diễn tả. Khi một tướng lãnh và một đoàn quân được sai đi, đã đại thắng và trở về, thì chính phủ liền tổ chức một đại lễ ăn mừng. Một đoàn người vĩ đại diễn hành qua các đường phố của kinh thành La-mã theo thứ tự như sau:
1. Các vị tộc trưởng, nghị viên đại diện chính phủ.
2. Đoàn quân nhạc thổi kèn chiến thắng.
3. Đoàn quân mang chiến lợi phẩm.
4. Đoàn tù binh bị bắt trong trận đánh.
5. Đoàn các thầy tế lễ mang các bình hương.
6. Vị tướng lãnh
7. Đoàn quân chiến thắng.
Phao-lô muốn nói Chúa Jêsus là vị tướng lãnh bách chiến bách thắng, và chúng ta là đoàn quân chiến thắng theo Ngài. Chúa và chúng ta đang diễn hành qua các làng mạc xa xôi, hẻo lánh, cũng như các thành phố, đô thị khắp thế gian qua sự truyền bá Tin Lành để rãi mùi thơm cho Ngài.
Cùng một mùi thơm từ các bình hương của đoàn quân chiến thắng diễn hành, song đối với kẻ chiến thắng thì đó là mùi của sự sống làm cho sống, tức là khiến họ sung sướng vô cùng, còn đối với kẻ chiến bại thì đó là mùi của sự chết làm cho chết. Kết quả của sự chiến thắng cuối cùng, kẻ được cứu sẽ vào nơi vinh hiển đời đời, kẻ bị hư mất sẽ vào nơi hình phạt đời đời. Kết quả khác nhau đó tùy chúng ta tiếp nhận Tin Lành hay khước từ Tin Lành cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
CÂU HỎI
1. Cuối cùng ai sẽ thắng?
2. Kế hoạch của Đức Chúa Trời để đánh bại Sa-tan là gì?
3. Kế hoạch của Đức Chúa Trời qua dân Y-sơ-ra-ên là gì?
4. Tại sao gọi sự chết của Chúa Jêsus trên thập tự giá là một sự đắc thắng?
5. Hội Thánh là một đoàn người thế nào?
6. Tin Lành là mùi của sự sống làm cho sống và mùi của sự chết làm cho chết, có nghĩa gì?
7. Khi nào Chúa sẽ đạt được sự chiến thắng cuối cùng?
BÀI 14. LÒNG TIN QUYẾT
KINH THÁNH: Giăng 7:14-31.
CÂU GỐC: “Nếu ai khứng làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, thì sẽ biết đạo lý Ta có phải bởi Đức Chúa Trời, hay là Ta nói theo ý Ta” (Giăng 7:17).
MỤC ĐÍCH: Dạy rằng Kinh Thánh cung cấp cho chúng ta các phương tiện, nhờ đó chúng ta có thể biết chắc những gì Chúa muốn chúng ta biết.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Chúng ta có thể biết chắc |
(IGiăng 5:13-21). |
|
TH: |
Nền tảng của lòng tin quyết |
(Rô-ma 8:26-39). |
|
TB: |
Từng trải về sự tin quyết |
(Giăng 9:1-41). |
|
TT: |
Ích lợi của lòng tin quyết |
(II Ti-mô-thê 1:8-14). |
|
TN: |
Lòng tin quyết bày tỏ |
(Thi thiên 23:1-6). |
|
TS: |
Chúa Jêsus giải quyết lòng nghi ngờ |
(Lu-ca 7:9-23). |
|
TB: |
Người tin quyết luôn luôn vững vàng |
(Công vụ 4:1-31). |
Mỗi chân lý mà chúng ta đã học, đang học và sẽ học đều được rút ra từ Kinh Thánh, là sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Chúng ta đặt niềm tin tuyệt đối nơi Kinh Thánh là một quyển sách không hề sai lầm, có đủ tư cách hướng dẫn chúng ta trên đường theo Chúa.
Chúng ta tin Kinh Thánh không phải là vì cha mẹ chúng ta tin, cũng không phải vì có nhiều người tin, nghĩa là không phải chúng ta cứ tin mà không cần biết Kinh Thánh đúng hay sai. Chẳng hề như vậy! Chúng ta tin Kinh Thánh vì chúng ta đã kiểm tra, khảo sát những điều Kinh Thánh nói là đúng, đồng thời chúng ta cũng kinh nghiệm bản thân những điều Kinh Thánh nói là thật.
Suốt đời theo Chúa, Giô-suê đã từng làm nô lệ ở Ai-cập, được giải phóng, qua Hồng Hải, vào đồng vắng, nhất là 40 năm lưu lạc rày đây mai đó, rồi dẫn dân Y-sơ-ra-ên đi chiếm đất hứa Ca-na-an. Khi đến tuổi 110, ông biết mình sắp qua đời. Ôn lại những ngày qua và sau khi kiểm tra, khảo sát mọi sự xảy ra mà chính mắt ông đã thấy, tai ông đã nghe, ông hai lần long trọng tuyên bố: “Trong các lời lành mà Đức Giê-hô-va đã phán cho nhà Y-sơ-ra-ên, chẳng có một lời nào là không thành, thảy đều ứng nghiệm hết… Nầy, ngày nay ta sẽ đi đường cả thế gian phải đi; vậy, hãy hết lòng hết ý nhận biết rằng trong các lời lành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã phán về các ngươi, thật chẳng có một lời nào sai hết” (Giô-suê 21:45; 23:14). Chúng ta phải tin quyết như Giô-suê đã tin quyết.
I. LẼ CẦN CỦA LÒNG TIN QUYẾT.
Nhu cầu căn bản của tín đồ là lòng tin quyết. Nếu không có lòng tin quyết thì khi đi làm xa gia đình, xa Hội Thánh, gặp bạn bè chất vấn, chế giễu, chúng ta sẽ nghi ngờ và sa ngã.
Đa-ni-ên và ba bạn của ông đã biết Chúa, biết Lời của Chúa nên họ đã có lòng tin quyết. Dầu phải xa gia đình, xa quê hương, họ vẫn giữ lòng tin quyết. Bởi lòng tin quyết, họ không nhận đồ ngon vua ăn và rượu ngon vua uống mà chỉ ăn rau, uống nước để khỏi bị ô uế (Đa-ni-ên 1:8). Bởi lòng tin quyết, họ không đồng số phận với các thuật sĩ Ba-by-lôn mà được Nê-bu-cát-nết-sa sấp mình cảm tạ, vua ấy còn tôn vinh Đức Chúa Trời của họ là Chúa của các thần và là Vua của các vua (Đa-ni-ên 2:46-47).
Bởi lòng tin quyết, ba bạn của Đa-ni-ên thà bị quăng vào lò lửa hực, chớ không chịu thờ lạy hình tượng (Đa-ni-ên 3:16-18). Bởi lòng tin quyết, Đa-ni-ên thà bị quăng vào hang sư tử, chớ không chịu bỏ sự cầu khẩn danh Chúa (Đa-ni-ên 6:10). Kết quả thế nào, chúng ta đã biết rồi.
Trong thời Chúa Jêsus, đoàn dân thỏa thích nghe lời Ngài dạy, “Vì Ngài dạy như có quyền phép, chớ không phải như các thầy thông giáo” (Mác 1:22). Chúa dạy cách có quyền vì Ngài biết rõ Đức Chúa Trời, biết rõ Kinh Thánh, biết Ngài là ai, biết tại sao Ngài đến thế gian. Bởi sự biết chắc chắn sanh ra lòng tin quyết, Chúa đã lôi cuốn nhiều người nghe Ngài, tin Ngài. Nếu thiếu lòng tin quyết như vậy, chúng ta không thể làm chứng, không thể giảng dạy một cách xứng đáng, không thể đem ích lợi cho người nghe.
II. MỤC ĐÍCH CỦA LÒNG TIN QUYẾT.
Chúa không bao giờ phán dạy một cách miễn cưỡng, song Ngài luôn luôn quả quyết. Khi hứa với Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời đã chỉ chính mình Ngài mà thề rằng: “Ta sẽ ban phước cho ngươi, thêm dòng dõi ngươi nhiều như sao trên trời, đông như cát bờ biển” (Sáng 22:16-17). Theo phép thề thì phải chỉ Đấng lớn hơn mình, nhưng vì không có ai lớn hơn nên Đức Chúa Trời phải chỉ chính mình Ngài mà thề để cho lời hứa được mười phần chắc chắn. Chúa Jêsus đã phán một lời như thế: “Trời đất sẽ qua đi, song lời Ta không bao giờ qua đâu” (Mác 13:31).
Để ai nấy có lòng tin quyết do sự biết chắc chắn mà ra, sứ đồ Giăng đã viết trong thư tín thứ nhất của ông rất nhiều lần chữ “biết”: Biết Chúa Jêsus, biết mình ở trong Chúa, biết Đức Chúa Cha, biết sự cuối cùng của ma quỉ, biết lẽ thật, biết mọi sự cần thiết, biết Chúa là công bình, biết mình là con cái Chúa, biết mình đã vượt sự chết đến sự sống, biết mình có sự sống đời đời, biết tình thương của Chúa, biết mình thuộc về lẽ thật, biết Chúa đang ngự trong lòng mình, biết Đức Thánh Linh, biết các tà thần v.v… Có hơn 40 lần chữ “biết” như thế trong thơ I Giăng.
Khi giảng dạy cũng như khi viết thơ cho các Hội Thánh, Phao-lô muốn họ biết tất cả những gì cần biết (Công vụ 20:20-21). Ông cũng tha thiết cầu nguyện cho họ để họ biết Chúa như ông đã từng khao khát biết Ngài (Ê-phê-sô 1:17-19; Cô-lô-se 1:9-10; Phi-líp 3:8-10). Chúa không muốn chúng ta sống trong sự ngu muội như trước kia (I Ti-mô-thê 1:13; I Phi-e-rơ:14) mà muốn ai nấy sống trong sự khôn ngoan. Người có lòng tin quyết là người khôn ngoan. Nếu muốn trở nên khôn ngoan và có lòng tin quyết, chúng ta học Kinh Thánh (II Ti-mô-thê 3:14).
III. PHƯỚC HẠNH CỦA LÒNG TIN QUYẾT.
Đành rằng có nhiều luận cứ chứng minh sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, song không có luận cứ nào vững vàng trọn vẹn. Không phải tại Đức Chúa Trời không hiện hữu, song tại trí năng của chúng ta hữu hạn, còn Đức Chúa Trời vô hạn. Kinh Thánh không hề đưa ra một luận cứ nào chứng minh sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Sự hiện hữu ấy đã được Kinh Thánh khẳng định: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” (Sáng thế ký 1:1).
Đức Chúa Trời đã ban cho loài người lòng tin quyết không căn cứ vào trí năng, học thức của họ. Nếu vậy thì chỉ có người thông minh mới biết Chúa. Song Ngài ban cho loài người có lòng tin quyết qua đức tin của họ. Vì vậy muôn dân trên đất, xưa cũng như nay, học thức cũng như dốt nát, văn minh cũng như dã man, tự do cũng như nô lệ, da trắng cũng như da màu, nam phụ lão ấu đều biết Chúa và tin quyết nơi Ngài. Họ biết Ngài vì Ngài tự bày tỏ cho họ. Chúa Jêsus đã thưa với Đức Chúa Cha: “Hỡi Cha, là Chúa của trời đất, tôi khen ngợi Cha, vì Cha đã giấu những điều nầy với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ, mà tỏ ra cho những con trẻ hay. Thưa Cha, phải, thật như vậy, vì Cha đã thấy điều đó là tốt lành”. Ngài phán: “Mọi việc Cha Ta đã giao cho Ta, ngoài Cha không ai biết Con; ngoài Con và người nào mà Con muốn tỏ ra cùng, thì cũng không ai biết Cha” (Ma-thi-ơ 11:25-27).
Đức Chúa Trời đã kêu gọi Áp-ra-ham, đã tự bày tỏ cho ông mỗi ngày một rõ ràng hơn. Nhờ đó ông biết Chúa một cách thân mật đến nỗi Ngài gọi ông là bạn hữu của Ngài, và Ngài không muốn giấu điều gì với ông (Sáng 18:17; II Sử ký 20:7; Ê-sai 41:8; Gia-cơ 2:23).
Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời đã trở nên người ở giữa người Dothái. Ngài đã dùng lời nói và việc làm đầy quyền năng và vinh hiển để chứng minh cho họ biết Ngài. Song lòng của một số người vẫn đóng kín vì vô tín, nên Ngài đã phán: “Các ngươi quen Ta, các ngươi biết Ta từ đâu lại! Ta đã đến chẳng phải tự Ta, nhưng Đấng đã sai Ta đến là thật, mà các ngươi không biết Ngài” (Giăng 7:28). Song bất luận ai đã tin nhận Chúa Jêsus thì mỗi lúc mỗi biết Ngài rõ hơn là Con Đức Chúa Trời hằng sống, là Cứu Chúa của nhân loại v.v…
Chúng ta không thể bước đi bởi mắt thấy mà phải bước đi bởi đức tin. Chúa không thể tự bày tỏ cho kẻ không tin Ngài. Chúng ta tin Chúa thì biết được Ngài, càng biết Ngài thì chúng ta càng tin Ngài một cách quả quyết, đến nỗi dầu trời long đất lở cũng không thể nào cất đi được lòng tin quyết đó.
Chúa Jêsus phán rằng: “Ta là bánh của sự sống; ai đến cùng Ta chẳng hề đói, và ai tin Ta chẳng hề khát” (Giăng 6:35). Nếu chúng ta khao khát muốn biết Đức Chúa Trời, hãy tin Chúa Jêsus, chúng ta sẽ được thỏa mãn, vì Ngài từ trời đến để giãi bày Đức Chúa Trời cho chúng ta (Giăng 1:18).
CÂU HỎI
1. Những bài chúng ta học là từ đâu?
2. Tại sao chúng ta tin Kinh Thánh?
3. Suốt đời theo Chúa, Giô-suê đã làm chứng thế nào về Chúa?
4. Nhờ đâu mà Đa-ni-ên và ba bạn của ông không sa ngã khi bị lưu đày qua Ba-by-lôn?
5. Tại sao Chúa Jêsus dạy một cách có quyền chứ không như các thầy thông giáo?
6. Nhờ đâu mà chúng ta có lòng tin quyết?
7. Nhờ đâu mà Chúa có thể tự bày tỏ cho chúng ta?
8. Lòng tin quyết của chúng ta mạnh như thế nào?
BÀI 15. SỰ MẶC KHẢI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
KINH THÁNH: Giăng 1:1-18.
CÂU GỐC: “Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần, nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã dựng nên thế gian” (Hê-bơ-rơ 1:1-2).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ thế nào Đức Chúa Trời đã chủ động trong việc bày tỏ Ngài cho ai nấy được biết và khích lệ thái độ đáp ứng thích đáng với sự mặc khải của Ngài.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Nét tương phản giữa Đức Chúa Trời và loài người |
(Ê-sai 40:5-31). |
|
TH: |
Nhu cầu mặc khải |
(Phục 8:1-13). |
|
TB: |
Sự kiện mặc khải |
(Ga-la-ti 1:11-2:2). |
|
TT: |
Mặc khải qua lịch sử |
(Thi 78:1-72). |
|
TN: |
Mặc khải bằng lời phán xét |
(Xuất 3:1-17). |
|
TS: |
Mặc khải bằng sự nhập thể |
(Giăng 1:1-18). |
|
TB: |
Kết quả của sự mặc khải |
(Ê-sai 6:1-8). |
Chúng ta đã có một niềm tin quả quyết rằng Đức Chúa Trời hiện hữu, Ngài là Đấng dựng nên trời đất, muôn vật và loài người. Song nếu chúng ta chỉ biết và tin Ngài một cách phổ quát như vậy thì chưa đủ, không đem đến cho chúng ta hạnh phúc, vì ma quỉ cũng tin như vậy và run sợ (Gia-cơ 2:19). Ví dụ: Tôi biết trong xứ nầy có một nhà tỷ phú. Điều tôi biết đó rất đúng song không đem lại kết quả nào, nếu nhà tỷ phú đó không liên hệ gì với tôi cả. Điều quan trọng là tôi phải biết thêm nhà tỷ phú đó là anh, hoặc là cha của tôi. Chúng ta cần biết Đức Chúa Trời như vậy.
Bài học hôm nay giúp chúng ta hiểu biết Đức Chúa Trời chí cao, chí ái, toàn năng, toàn tri, đã hạ mình tự bày tỏ cho loài người tội lỗi, vì Ngài muốn cứu chuộc chúng ta, đưa chúng ta đến sự thông công mật thiết với Ngài.
I. LẼ CẦN CỦA SỰ MẶC KHẢI.
Con người không thể nào nhờ sự nghiên cứu, truy tầm mà hiểu biết Đức Chúa Trời. Trí năng nhỏ bé, hạn hẹp của chúng ta không thể nào hiểu biết Đức Chúa Trời vô cùng, vô hạn. Con người vừa yếu đuối, vừa nặng nề, đi lại khó khăn, làm sao hiểu biết Đức Chúa Trời vô sở bất tại mà cả vũ trụ không đủ chỗ cho Ngài (Ê-sai 66:1). Người ta thường tưởng tượng Đức Chúa Trời như thế này, như thế kia, song hết thảy đều sai lầm. Vì tư tưởng và đường lối Chúa cao hơn tư tưởng và đường lối của chúng ta như trời cao hơn đất (Ê-sai 55:8-9), thì làm sao chúng ta thấu đáo được.
Ngoài ra sự cao siêu của Đức Chúa Trời với sự thấp hèn của chúng ta, sự vô hạn của Đức Chúa Trời với sự hữu hạn của chúng ta làm cho cách biệt, thì còn một vấn đề nữa. Vấn đề đó là tội lỗi. Tội lỗi như một tấm màn, như một bức tường, như một hố sâu đã làm cho chúng ta bị cách biệt với Đức Chúa Trời (Ê-sai 59:1-2). Loài người như kẻ mù rờ rẫm trong bóng tối, “hết thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy”.
II. ĐỨC CHÚA TRỜI MẶC KHẢI QUA LỊCH SỬ.
Để vượt qua mọi trở lực trên, Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho loài người qua nhiều cách, trong đó có lịch sử. Đức Chúa Trời đã dùng lịch sử loài người, nhất là lịch sử dân Y-sơ-ra-ên để bày tỏ kế hoạch cứu rỗi của Ngài như sau:
1. Tiêu diệt kẻ ác và cứu người công bình.
Trong cơn Đại Hồng Thủy đời Nô-ê, Đức Chúa Trời đã bày tỏ sự thánh khiết của Ngài bằng sự hình phạt tội lỗi, hủy diệt kẻ ác. Đồng thời Ngài cũng bày tỏ tình thương của Ngài bằng sự chuẩn bị một chiếc tàu với đầy đủ tiện nghi để cứu vớt những kẻ có lòng tin kính. Khi thuật lại việc ấy, sứ đồ Phi-e-rơ đã viết: “Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn mọi người đều ăn năn” (II Phi-e-rơ 3:9).
2. Giải phóng con người khỏi tội lỗi.
Trong việc giải phóng dân Y-sơ-ra-ên khỏi ách nô lệ của Ê-díp-tô (Ai cập), vượt Hồng Hải vào Đất Hứa, Đức Chúa Trời đã bày tỏ địa vị của con người là nô lệ cho ma quỉ và tội lỗi, mà ai nấy vô phương tự cứu. Song Đức Chúa Trời quyền oai, nhân ái, sẵn sàng giải phóng con người để được tự do đến nơi hạnh phúc. Chúa Jêsus đã hiện ra với Phao-lô và phán: “Ta sẽ phù hộ ngươi khỏi dân này và dân ngoại là nơi Ta sai ngươi đến, để mở mắt họ, hầu cho họ từ tối tăm mà qua sáng láng, từ quyền lực của quỉ Sa-tan mà đến Đức Chúa Trời và cho họ bởi đức tin nơi Ta được sự tha tội, cùng phần gia tài với các thánh đồ” (Công vụ 26:17-18).
3. Giúp họ nhận biết Ngài là Đức Chúa Trời.
Khi dân Y-sơ-ra-ên được vào đất hứa là nơi đượm sữa và mật, hưởng cảnh “vinh thân phì gia” thì họ lại ngã vào sự thờ hình tượng như các dân tộc chung quanh, nếp sống đạo đức của họ rất bại hoại. Để cứu vãn tình trạng đó, Đức Chúa Trời đã cho phép đạo quân Canh-đê xâm chiếm nước Y-sơ-ra-ên, triệt hạ Giê-ru-sa-lem, hủy phá đền thờ, bắt dân lưu đày qua Ba-by-lôn 70 năm. Đức Chúa Trời đã giải thích mục đích của kế hoạch Ngài là: “Ta sẽ ban cho chúng nó tấm lòng hay nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va. Chúng nó sẽ làm dân Ta, và Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó; vì chúng nó sẽ hết lòng trở về cùng Ta” (Giê-rê-mi 24:7).
Kết quả, từ khi dân Y-sơ-ra-ên được trở về tổ quốc, họ không còn thờ lạy hình tượng như trước. Phao-lô đã tóm tắt: “Mọi sự đã chép từ xưa đều để dạy dỗ chúng ta, hầu cho bởi sự nhịn nhục và sự yên ủi của Kinh Thánh dạy mà chúng ta được sự trông cậy” (Rô-ma 15:4). Cho đến ngày nay, Đức Chúa Trời vẫn còn tể trị dòng lịch sử nhân loại, khiến mọi sự hiệp lại để sửa trị con cái Ngài, làm cho họ ra tốt hơn, xứng hiệp với danh vinh hiển của Ngài, chuẩn bị họ vào cõi đời đời với Ngài.
“Đức Chúa Trời bày tỏ cho Môi-se đường lối Ngài, và cho dân Y-sơ-ra-ên biết các công việc Ngài” (Thi thiên 103:7) để họ truyền lại lịch sử mặc khải của Ngài cho nhân loại. Nhờ đó chúng ta có toàn bộ Kinh Thánh như ngày nay.
III. ĐỨC CHÚA TRỜI MẶC KHẢI QUA CHÚA JÊSUS (Giăng 1:1-18).
Chúa Jêsus là tuyệt đỉnh của sự mặc khải. Ngài là Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời, tức là Ngôi Lời đã trở nên xác thịt ở giữa chúng ta, để giãi bày Đức Chúa Trời cho chúng ta biết. Chẳng ai biết Đức Chúa Trời cho bằng Con Một ở trong lòng của Ngài. Chúng ta không thể nào hiểu biết Đức Chúa Trời một cách thấu đáo, ngoài Đấng Trung bảo là Đức Chúa Jêsus Christ. Chính Ngài đã phán: “Ví bằng các ngươi biết Ta thì cũng biết Cha Ta, và từ bây giờ các ngươi biết Ngài và đã thấy Ngài… Ai đã thấy Ta tức là đã thấy Cha” (Giăng 14:7-9).
Trong những lúc nguy nan hơn hết, lại là cơ hội cho chúng ta biết Chúa rõ hơn hết, như Nô-ê trong cơn Đại Hồng Thủy, như Y-sơ-ra-ên trong khi bị lưu đày cũng như trong khi được giải phóng. Chúa chúng ta không khi nào hành động một cách vô ý thức, song luôn luôn có lý do, có mục đích chính đáng trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta không nên thắc mắc, đắng cay, song hãy cung kính, ngọt ngào thưa rằng: “Chúa muốn dạy con điều gì, Chúa hãy phán, con xin nghe”.
Thiết tưởng không có gì sung sướng cho con người bằng biết Đức Chúa Trời, không phải chỉ biết một cách phổ quát, song biết một cách đặc biệt, riêng tư, thân mật. Biết mình thuộc về Ngài, và Ngài thuộc về mình. Biết Ngài cho đến nỗi có thể nói rằng: “Ngài là Chúa tôi, trừ Ngài ra tôi không có phước gì khác… Ở trên trời, tôi có ai trừ ra Chúa? Còn ở dưới đất, tôi chẳng ước ao người nào khác hơn Chúa” (Thi thiên 16:2; 73:25).
“Thật vậy tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ là quý hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó. Thật tôi xem những điều đó như rơm rác, hầu cho được Đấng Christ” (Phi-líp 3:8).
Cầu Chúa cho chúng ta không hề mãn nguyện bằng bất luận điều gì thế gian cung cấp, mà chỉ mãn nguyện khi được biết Chúa qua sự mặc khải của Ngài.
CÂU HỎI
1. Tại sao chúng ta không mãn nguyện khi chỉ biết Đức Chúa Trời cách phổ quát?
2. Tại sao sự hiểu biết Đức Chúa Trời là vượt quá khả năng của loài người?
3. Khi người ta cố gắng nghiên cứu để biết Đức Chúa Trời thì kết quả thế nào?
4. Chướng ngại vật lớn lao đã làm cho loài người bị cách biệt với Đức Chúa Trời là gì?
5. Để vượt qua chướng ngại, Đức Chúa Trời đã làm gì?
6. Đức Chúa Trời đã tự bày tỏ qua lịch sử như thế nào?
7. Tuyệt đỉnh của sự mặc khải là gì?
8. Chúa tể trị dòng lịch sử nhân loại thì tại sao Ngài cho phép con cái Ngài gặp nguy nan?
9. Chúng ta nên có thái độ nào khi gặp nguy nan?
BÀI 16. SỰ MẶC KHẢI ĐƯỢC GHI CHÉP
KINH THÁNH: II Ti-mô-thê 3:10-17.
CÂU GỐC: “Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình” (II Ti-mô-thê 3:16).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ Kinh Thánh là lời mặc khải có một không hai của Đức Chúa Trời.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Sự mặc khải trong thiên nhiên và trong Lời của Đức Chúa Trời |
(Thi thiên 19:1-14). |
|
TH: |
Một thí dụ về sự linh cảm |
(Giê-rê-mi 36:1-4;27-32). |
|
TB: |
Quan điểm của Chúa về uy quyền của KT |
(Giăng 5:30-47). |
|
TT: |
Cách sử dụng Kinh Thánh rất thực tế |
(Lu-ca 4:1-15). |
|
TN: |
Nguồn cảm hứng của lời tiên tri |
(I Phi-e-rơ 1:12-21). |
|
TS: |
Kinh Thánh là nguồn của sự cứu rỗi |
(II Ti-mô-thê 3:10-4:5). |
|
TB: |
Chủ đích thực tiễn của sự cảm ta |
(ICôr 10:1-13). |
Toàn bộ Kinh Thánh được chia làm hai phần lớn: Cựu Ước và Tân Ước. Đó là giao ước của Đức Chúa Trời đã lập với loài người. Một giao ước quan trọng không thể nào chỉ bằng lời nói mà phải được ghi vào giấy, để đôi bên nhớ và làm theo. Vì vậy Đức Chúa Trời đã chỉ thị các đầy tớ Ngài ghi chép giao ước đó thành văn trong quyển sách là Kinh Thánh.
Kinh Thánh ra từ Đức Chúa Trời, có uy quyền của Đức Chúa Trời, chính Đức Thánh Linh là tác giả của Kinh Thánh, Kinh Thánh là sự mặc khải được chép thành văn.
I. SỰ MẶC KHẢI THÀNH VĂN.
Sự mặc khải của Đức Chúa Trời cần được giữ lại và lưu truyền trải qua các đời để làm nền tảng đức tin cho nhân loại. “Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ Danh Ngài mà được sự sống” (Giăng 20:31).
Đức Chúa Trời đã chỉ thị cho một số chừng 40 người, sống trong những thời đại khác nhau khoảng 1.600 năm, chép lại những sự việc họ đã nghe và thấy, bắt đầu từ Môi-se cho đến Giăng (Xuất 17:14; Giê-rê-mi 30:2; 36:2-4; Ha-ba-cúc 2:2; Khải huyền 1:11). Mặc dầu họ không ghi chép như một bộ máy, cũng không như viết chính tả, mà theo cảm xúc của họ, song được Đức Thánh Linh điều khiển để họ ghi chép điều Chúa muốn họ ghi chép.
II. CÁCH GHI CHÉP SỰ MẶC KHẢI.
1. Về phương diện loài người.
Các trước giả là những con người có thật. Họ thuộc nhiều thành phần khác nhau: Nông dân, ngư phủ, binh sĩ, quan lại, triết gia, vua chúa… Mỗi người đều để lại dấu vết sâu đậm về nhân cách của họ trong sách họ viết. Đọc sách của họ, chúng ta có thể thấy hình ảnh của họ trong đó. Các nhân vật ấy viết bằng văn thể và ngôn ngữ riêng. Tuy nhiên, tư tưởng của các nhân vật ấy không hề chống đối nhau mà hòa hợp nhau trọn vẹn từ chữ thứ nhất của Sáng thế ký đến chữ cuối cùng của Khải huyền. Điều đó nói lên toàn bộ Kinh Thánh chỉ có một tác giả là Đức Thánh Linh, còn các trước giả chẳng qua là lợi khí trong tay của Chúa để Ngài dùng ghi lại biến cố lịch sử làm bài học vô giá cho nhân loại.
2. Về phương diện Đức Chúa Trời.
“Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn”. Đức Thánh Linh đã dùng uy quyền của Ngài tác động và hướng dẫn các trước giả ghi chép những gì Ngài muốn họ ghi chép, kể cả việc sử dụng từ một cách chính xác. Kinh Thánh là ngôn ngữ của loài người được dùng để diễn tả tư tưởng của Đức Chúa Trời (II Phi-e-rơ 1:21). Nhờ sự soi dẫn mà các tiên tri và sứ đồ đã biết những sự mầu nhiệm giấu kín từ trước các đời là: “Sự mắt chưa thấy, tai chưa nghe, và lòng người chưa nghĩ đến” (ICôr 2:9).
Soi dẫn cũng có nghĩa là hà hơi vào, là hà sinh khí vào. Khi Đức Chúa Trời lấy đất nắn nên hình người, hà sinh khí vào lỗ mũi, thì người trở nên một loài sanh linh (Sáng 2:7). Để làm cho trũng xương khô trở nên một đạo quân lớn, Đức Chúa Trời đã phán: “Hỡi hơi thở, khá đến từ gió bốn phương, thở trên những người bị giết, hầu cho chúng nó sống” (Ê-xê-chi-ên 37:9). Đức Chúa Trời cũng đã hà hơi sống trên trước giả và trên lời của họ ghi chép, làm cho lời đó sống động. “Lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm” (Hê-bơ-rơ 4:12).
III. SỰ MẶC KHẢI ĐƯỢC LINH CẢM.
1. Các trước giả quả quyết.
Những nhân vật đã trước tác Kinh Thánh quả quyết rằng những gì họ đã viết đều do Đức Chúa Trời cảm động. Môi-se, Sa-mu-ên, Đa-vít cũng như các tiên tri từ Ê-sai cho đến Ma-la-chi là những nhân vật có tư cách đáng tin cậy. Họ đem chính đời sống mình chứng minh rằng lời của họ đã chép là Lời của Đức Chúa Trời phán (Xuất 34:27; II Sa-mu-ên 23:2).
Trong Ngũ kinh có đến 420 lần chép, “Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se”. Chỉ trong Thi thiên 119 có đến 24 lần chép, “Lời của Đức Giê-hô-va”. Trong các sách tiên tri không ngớt lặp lại: “Vậy Đức Giê-hô-va phán… Hãy nghe lời phán của Đức Giê-hô-va… Miệng của Đức Giê-hô-va phán… Đức Giê-hô-va đã phán với tôi”. Sách tiên tri Ê-sai có 120 lần, Giê-rê-mi có 430 lần, Ê-xê-chi-ên có 329 lần, A-mốt có 53 lần, A-ghê trong 38 câu có 27 lần và Xa-cha-ri có 53 lần chép, lời của Đức Giê-hô-va… Đức Chúa Trời không muốn chúng ta nghi ngờ chút nào về Kinh Thánh là lời phán của Ngài.
2. Chúa Jêsus xác nhận.
Chính Chúa Jêsus đã tuyên bố rằng Môi-se và các tiên tri truyền giảng lời được Đức Chúa Trời hà hơi vào. Ngài xác nhận luật pháp Môi-se, các sách tiên tri cùng các thi thiên tức là Kinh Thánh Cựu Ước đã được Đức Chúa Trời hà hơi vào nên phải ứng nghiệm: “Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh… Ấy đó là điều mà khi Ta còn ở với các ngươi, Ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về Ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các thi thiên phải được ứng nghiệm” (Lu-ca 24:27,44).
Ngài còn bảo rằng tất cả những gì các sứ đồ sẽ viết ra sau nầy, khi Ngài đã về trời, tức là cả Tân Ước, đều sẽ được Đức Chúa Trời hà hơi vào. “Nhưng Đấng Yên Ủi, tức là Đức Thánh Linh mà Cha sẽ nhân Danh Ta sai xuống, Đấng ấy sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều Ta đã phán cùng các ngươi… Lúc nào Thần Lẽ thật sẽ đến, thì Ngài sẽ dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật, vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến” (Giăng 14:26; 16:13).
Trong những năm thi hành chức vụ, Chúa Jêsus đã luôn luôn trưng dẫn Kinh Thánh Cựu Ước, Ngài đã dùng Kinh Thánh chống lại sự cám dỗ của Sa-tan, Ngài đã dùng Kinh Thánh để giảng dạy hằng ngày, “Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm, một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn” (Ma-thi-ơ 5:18). “Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời. Ấy là Kinh Thánh làm chứng về Ta vậy” (Giăng 5:39).
3. Các sứ đồ tin quyết.
Các sứ đồ đã tin rằng lời của họ viết ra cũng như lời của các tiên tri đều do Đức Chúa Trời cảm động. Phao-lô viết: “Chúng tôi tạ ơn Đức Chúa Trời không thôi về sự anh em tiếp nhận Lời của Đức Chúa Trời mà chúng tôi đã truyền cho, không coi như lời của loài người mà coi như Lời của Đức Chúa Trời, vì thật là Lời của Đức Chúa Trời cũng hành động trong anh em có lòng tin (ITê 2:13).
Phi-e-rơ viết về các thơ tín của Phao-lô: “Phao-lô, anh rất yêu dấu của chúng ta, đã đem sự khôn ngoan được ban cho mình mà viết thơ cho anh em vậy. Ấy là điều người đã viết trong mọi bức thơ, nói về những sự đó, ở trong có mấy khúc khó hiểu, mà những kẻ dốt nát và tin không quyết đem giải sai ý nghĩa, cũng như họ giải sai về các phần Kinh Thánh khác” (II Phi-e-rơ 3:15-16). Phi-e-rơ đặt các thơ tín của Phao-lô ngang hàng với Kinh Thánh.
Giăng viết: “Nhằm ngày Chúa nhật, tôi được Đức Thánh Linh cảm hóa, nghe đằng sau có tiếng kêu vang như tiếng loa rằng: Điều ngươi thấy hãy chép vào một quyển sách mà gởi cho bảy Hội Thánh…” (Khải huyền 1:10-11).
Thế thì Kinh Thánh là tài sản quý giá hơn hết của loài người. Chúng ta phải cảm tạ Chúa về tài sản này, yêu mến tài sản này hơn bất luận một tài sản nào khác. Hằng ngày chúng ta phải sống bằng tài sản này.
CÂU HỎI
1. Tại sao Kinh Thánh có hai phần Cựu Ước và Tân Ước?
2. Tại sao Đức Chúa Trời bảo các đầy tớ Ngài chép sự mặc khải vào sách?
3. Đức Chúa Trời đã dùng bao nhiêu người, trong khoảng bao nhiêu năm để chép Kinh Thánh?
4. Những người đó là ai? Làm chức vụ gì?
5. Tại sao các người đó chép được Kinh Thánh?
6. “Soi dẫn” có nghĩa gì? “Hà hơi vào” có nghĩa gì?
7. Các tiên tri và sứ đồ làm chứng thế nào về những điều họ đã chép trong Kinh Thánh?
8. Chúa Jêsus xác nhận thế nào về uy quyền của Kinh Thánh?
9. Kinh Thánh là gì đối với chúng ta?
10. Sống bằng Kinh Thánh có nghĩa gì?
BÀI 17. KINH THÁNH ĐƯỢC LƯU TRUYỀN
KINH THÁNH: Xuất Ê-díp-tô ký 24:12-18; Lucca 24:44-48.
CÂU GỐC: “Khi nãy đi đường, Ngài nói cùng chúng ta và cắt nghĩa Kinh Thánh, lòng chúng ta há chẳng nóng nảy sao?” (Lu-ca 24:32).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ tính chất thông suốt của Kinh Thánh và chủ đích của Đức Chúa Trời tiềm tàng qua các văn phẩm khác nhau của Kinh Thánh.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Luật pháp của Đức Chúa Trời khắc trên bảng đá |
(Xuất 32:15-19). |
|
TH: |
Ê-sai phải viết trên một bảng đá |
(Ê-sai 30:8-15). |
|
TB: |
Ha-ba-cúc phải viết trên một bảng đá |
(Ha-ba-cúc 2:1-4). |
|
TT: |
Giê-rê-mi phải viết trong một quyển sách |
(Giê-rê-mi 36:1-8). |
|
TN: |
Sứ đồ Phao-lô viết trên giấy da |
(II Ti-mô-thê 4:13). |
|
TS: |
Lời của Đức Chúa Trời được viết trên bảng lòng |
(IICôr 3:6-8). |
|
TB: |
Quyển sách tồn tại lâu dài hơn hết |
(Khải 22:12-21). |
Kinh Thánh được nhiều người trước tác qua một thời gian khá dài. Kinh Thánh được chép từng phần một trên bảng da, trên đất sét, trên giấy da, trên giấy bằng vỏ cây. Song Đức Chúa Trời toàn ái, toàn năng đã tham gia công tác bảo tồn các phần ấy, sưu tập thành một bộ phổ biến khắp thế gian. Vào thế kỷ 15, một người Đức đã sáng chế máy in và trước nhất là in Kinh Thánh bằng chữ Latinh. Ngày nay cả bộ Kinh Thánh đã thành một quyển nhỏ nằm gọn trong tay của chúng ta. Vậy Kinh Thánh được lưu truyền như thế nào?
I. KINH THÁNH LÀ MỘT TOÀN KHỐI THỐNG NHẤT.
Kinh Thánh có 66 quyển, chép về nhiều vấn đề như: Lịch sử, luật pháp, lễ chế, thi phú, thánh ca, châm ngôn, giảng luận, đối thoại v.v… Song hết thảy các vấn đề đều hòa hợp trọn vẹn. Chủ đề của Kinh Thánh là kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Chủ đề đó chạy suốt từ đầu chí cuối không hề sai lệch, không hề mâu thuẫn. Có người ví quyển Kinh Thánh như 66 hột châu được một sợi chỉ điều xuyên qua thành một xâu. Vì vậy, chúng ta phải thừa nhận rằng Kinh Thánh vốn do một tác giả là Đức Chúa Trời.
Dầu các trước giả đã dùng nhiều hình thức văn chương khác nhau để diễn tả những gì Đức Chúa Trời muốn phán dạy loài người, nhưng nội dung chỉ có một, tức là Đấng Cứu Thế. Đấng Cứu Thế đã được hình dung bằng một chiên con bị giết để làm của lễ đền tội bắt đầu từ A-đam, đến Nô-ê, Áp-ra-ham, Môi-se, Đa-vít… Vì thế Giăng Báp-tít đã giới thiệu Chúa Jêsus cho môn đồ mình rằng: “Kìa Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29).
Sứ đồ Giăng giới thiệu: “Ngài là Chiên con bị giết từ buổi sáng thế” (Khải huyền 13:8). Cho đến bây giờ trên trời vẫn còn hát “Chúc cho Đấng ngồi trên ngôi, cùng Chiên Con được ngợi khen, tôn quý, vinh hiển và quyền phép cho đến đời đời” (Khải huyền 5:13). Chúa Jêsus là trung tâm và là chu vi của Kinh Thánh, là đầu tiên và cuối cùng của Kinh Thánh. Loại bỏ Chúa Jêsus khỏi Kinh Thánh là loại bỏ mặt trời khỏi địa cầu, là chuốc lấy sự tối tăm, lạnh lùng và chết mất. Kinh Thánh không phải là một quyển sách khoa học, tuy nhiên Kinh Thánh không bao giờ phản khoa học thực nghiệm, vì vũ trụ và Kinh Thánh là hai tác phẩm của cùng một tác giả.
II. KINH THÁNH ĐƯỢC SƯU TẬP, PHIÊN DỊCH VÀ PHỔ BIẾN.
Đức Chúa Trời đã chỉ thị cho các đầy tớ Ngài ghi chép những lời mặc khải để lưu truyền cho hậu thế. Chính Ngài đã bảo tồn và sưu tập sự mặc khải đó.
1. Cựu Ước.
a. Chúa đã nhiều lần bảo Môi-se chép vào một quyển sách những sự việc đã xảy ra (Xuất 17:14; 24:4; Phục 31:24-26). Giô-suê đã đọc cho dân sự nghe tất cả các lời của Môi-se được chép trong một quyển sách (Giô-suê 8:34-35).
b. Giô-suê cũng đã chép những gì đã xảy ra trong đời ông vào sách luật pháp của Chúa (Giô-suê 24:25-26).
c. Sa-mu-ên chép những gì ông đã giảng cho dân sự trong một cuốn sách (I Sa-mu-ên 10:25).
d. Đời trị vì của Đa-vít cũng được các tiên tri như Sa-mu-ên, Na-than và Gát ghi chép (I Sử ký 29:29-30).
e. Công việc của các vua khác cũng được ghi chép (ICác 14:19,29; II Sử ký 16:11; 9:29; 12:15).
f. Các sách tiên tri từ Ê-sai đến Ma-la-chi do chính họ ghi chép lại.
Khoảng 150 năm trước Chúa giáng sinh. Cựu Ước đã được sưu tập và phiên dịch từ tiếng Hy-bá-lai ra tiếng Hy-lạp. Cựu Ước đã chia làm ba phần lớn:
(1) Ngũ Kinh Môi-se từ Sáng thế ký đến Phục truyền luật lệ ký.
(2) Các sách tiên tri là Giô-suê, Các quan xét, Sa-mu-ên, Các vua và từ Ê-sai đến Ma-la-chi.
(3) Các sách văn thơ là Ru-tơ, Sử ký, E-xơ-ra, Nê-hê-mi, Ê-xơ-tê, Gióp, Thi thiên, Châm ngôn, Truyền đạo, Nhã ca và Ca thương. Chúa Jêsus đã xác nhận ba phần đó (Lu-ca 24:44).
2. Tân Ước.
Tân Ước đã được các sứ đồ hoặc bạn của các sứ đồ nhờ Đức Thánh Linh mà ghi chép như bốn sách Tin Lành, sách Công vụ và Khải huyền. Họ cũng nhờ Đức Thánh Linh mà viết ra các thư tín như của Phao-lô, Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng, Giu-đe. Công việc ấy hoàn tất vào khoảng 100 năm sau Chúa giáng sinh.
a. Vào cuối thế kỷ thứ nhất, các phần của Tân Ước được chép thành nhiều bản và phổ biến.
b. Đến đầu thế kỷ thứ hai, các sách ấy đã được đem ra giảng dạy trong các Hội Thánh.
c. Đến cuối thế kỷ thứ hai, các sách ấy được kể là thuộc về kinh điển, được phiên dịch và phổ biến rộng rãi.
d. Đến thế kỷ thứ tư, Cơ Đốc Giáo đã thừa nhận Tân Ước có thẩm quyền như Cựu Ước.
Kinh Thánh tươi mới luôn luôn, giống như một đồng cỏ xanh mà bầy chiên có thể cứ ăn, cỏ sẽ mọc lên lớp khác. Những câu Kinh Thánh chúng ta đọc lần thứ 100 cũng như đọc lần thứ nhất đều có ý nghĩa mới mẻ. Những đoạn Kinh Thánh rất quen thuộc vẫn mang lại cho chúng ta sứ điệp thích hợp với bất cứ hoàn cảnh nào từng bị thay đổi. Dầu nhân loại đã từng tiến bộ không ngừng thì Kinh Thánh vẫn theo kịp, nghĩa là không bị lỗi thời, không bị đào thải. Lúc nào Kinh Thánh cũng đáp ứng được nhu cầu của loài người, Kinh Thánh chứa đựng Lời của Đức Chúa Trời hằng sống như suối nước vô tận, tuôn tràn không dứt.
Kinh Thánh là một quyển sách không bị tiêu diệt. Từ đời nầy qua đời kia Kinh Thánh bị ghen ghét một cách cay đắng, nên lúc nào Kinh Thánh cũng bị đe dọa sẽ bị tiêu diệt. Song đến cuối cùng những kẻ đe dọa đều thua đi, mà Kinh Thánh vẫn tồn tại và y nguyên, vì Kinh Thánh có một sức sống mãnh liệt mà không lực lượng nào tiêu diệt được.
Kinh Thánh như một chiếc gương trong suốt, phản chiếu một cách trung thực lòng gian ác và bại hoại của loài người và số phận dành cho họ là hỏa ngục. Song Kinh Thánh cũng nói lên tình thương vô lượng của Đức Chúa Trời vốn sẵn sàng cứu vớt kẻ biết ăn năn tin nhận công lao cứu chuộc của Chúa Jêsus. Kinh Thánh đánh hạ lòng kiêu căng tự cao của loài người như lên án, cảnh cáo mà không hoan hô, xu thời. Đó là lý do Kinh Thánh bị ghen ghét.
Song Kinh Thánh lại được hàng triệu triệu người trải qua các đời yêu mến, tin cậy, vâng phục, đến nỗi họ sẵn sàng hy sinh mạng sống để bảo vệ, lưu truyền và phổ biến Kinh Thánh. Vì Kinh Thánh đã chỉ cho họ con đường cứu rỗi, đã thay đổi đời sống của họ, đã ban phước cho họ một cách không xiết kể. Kinh Thánh là một kho tàng vô giá.
Cho đến ngày nay, Kinh Thánh đã được phiên dịch ra hơn 3.000 ngôn ngữ và thổ ngữ mà vẫn đang còn phiên dịch ra nữa. Hằng năm Kinh Thánh được phát hành nhiều hơn bất cứ cuốn sách nào trên thế giới. Kinh Thánh là một quyển sách vô địch. Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời hằng sống.
CÂU HỎI
1. Khi các trước giả ghi chép các phần của Kinh Thánh, họ chép trên những gì?
2. Các trước giả dùng hình thức văn chương nào để chép Kinh Thánh?
3. Chủ đề của Kinh Thánh là gì?
4. Tại sao ta biết Kinh Thánh không phản khoa học thực nghiệm, mặc dầu Kinh Thánh không phải là một quyển sách khoa học?
5. Cựu Ước được sưu tập như thế nào?
6. Tân Ước được sưu tập như thế nào?
7. Cựu Ước được chia làm ba phần lớn nào?
8. Tại sao Kinh Thánh bị ghen ghét?
9. Tại sao Kinh Thánh được yêu mến?
BÀI 18. CHỨNG CỚ HIỂN NHIÊN CỦA KINH THÁNH
KINH THÁNH: Hê-bơ-rơ 2:1-4; 4:11-13.
CÂU GỐC: “Vì Lời của Đức Chúa Trời là Lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng” (Hê-bơ-rơ 4:12).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ thế nào Kinh Thánh đưa ra chứng cớ hiển nhiên về nguồn gốc thiên thượng của mình bằng cách chẩn mạch đúng bệnh trạng của con người và cung cấp đúng một phương thần dược.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Chỉ có Đức Chúa Trời thấu rõ lòng người |
(Giê-rê-mi 17:5-10). |
|
TH: |
Lời Đức Chúa Trời phơi bày tấm lòng người ta |
(Hê-bơ-rơ 2:1-4;4:11-13). |
|
TB: |
Cơ nguy của việc tự dối mình |
(Gia-cơ 1:16-25). |
|
TT: |
Lời Đức Chúa Trời tiết lộ về sự phán xét của Ngài |
(Giê-rê-mi 23:23-37). |
|
TN: |
Lời Đức Chúa Trời cáo trách tội lỗi |
(Rô-ma 7:7-25). |
|
TS: |
Lời Đức Chúa Trời khiến người ta ăn năn |
(IICác 22:11-20). |
|
TB: |
Dùng Lời Đức Chúa Trời để tự tiết chế |
(Phục 6:1-9). |
Có một người cảm thấy đau trong lồng ngực, nên đã đến với bác sĩ. Sau khi xem qua loa, bác sĩ bảo, không có gì đáng ngại, chẳng bao lâu nữa sẽ khỏi thôi! Song sức khỏe người ấy cứ mỗi ngày một sút giảm hơn. Cuối cùng, người ấy đến một bác sĩ khác. Sau khi chẩn mạch cẩn thận, bác sĩ cho biết bệnh nhân mắc chứng ung thư, phải được giải phẩu lập tức.
Kinh Thánh có quyền năng khám phá và phô bày mọi bệnh tật kín đáo và nguy hiểm nhất trong loài người, rồi chữa lành bằng một phương thần dược.
I. KINH THÁNH NÓI ĐÚNG BỆNH TRẠNG CỦA CON NGƯỜI.
Phần đông loài người nghĩ rằng, nguyên nhân bất ổn của thế giới, cá nhân, cũng như gia đình họ là vì thiếu các thứ như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, học hành. Đến khi nào con người không còn thất học, ai nấy đều được ăn no mặc ấm, ở nhà khang trang với đầy đủ tiện nghi thì thế giới sẽ hòa bình, loài người sẽ hạnh phúc.
Đành rằng nghèo đói, bệnh tật, thất học, là kẻ thù của loài người mà ai cũng muốn chống lại và tiêu diệt chúng. Song nguyên nhân chính của sự bất an không phải là điều đó. Có những cá nhân, những gia đình từng sống trong nhung lụa, có đủ các điều kiện nêu trên mà vẫn không thấy hạnh phúc. Nếu loài người có thể sống trên cung trăng, chắc họ đã di cư lên trên đó. Ví như loài người có thể sống trên cung trăng thì cũng không nhờ đó mà họ có hạnh phúc.
Nguyên nhân chính của bất an không phải là nghèo đói, bệnh tật, thất học, vì các điều đó chỉ là hậu quả, còn nguyên nhân chính là tội lỗi. Đây là bức tranh trung thực mô tả lòng người:
“Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn. Thế gian bấy giờ đều bại hoại trước mặt Đức Chúa Trời và đầy dẫy sự hung ác” (Sáng thế ký 6:5,11).
“Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật và rất là xấu xa” (Giê-rê-mi 17:9).
“Vì thật là tự trong, tự lòng người mà ra những ác tưởng, sự dâm dục, trộm cướp, giết người, tà dâm, tham lam, hung ác, gian dối, hoang đàng, con mắt ganh đố, lộng ngôn, kiêu ngạo, điên cuồng. Hết thảy những điều xấu ấy ra từ trong lòng thì làm cho dơ dáy người” (Mác 7:21-23).
“Họng chúng nó như huyệt mả mở ra; dùng lưỡi mình để phỉnh gạt; dưới môi chúng nó có nọc rắn hổ mang. Miệng chúng nó đầy những lời nguyền rủa và cay đắng. Chúng nó có chân nhẹ nhàng đặng làm cho đổ máu. Trên đường lối chúng nó rặc những sự tàn hại và khổ nạn. Chúng nó chẳng hề biết con đường bình an. Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời ở trước mặt chúng nó” (Rô-ma 3:13-17).
Tội với phước như nước với lửa. Vì loài người có tội nên không thể nào có phước. Hơn nữa Đức Chúa Trời là nguồn phước, và khi loài người phạm tội thì đã trở nên thù nghịch cùng Ngài, nên không thể nào được Ngài ban phước. Trái lại, loài người bị Đức Chúa Trời phó mặc cho sự ô uế của tư dục, cho tà tình xấu hổ, cho lòng hư xấu để phạm những sự chẳng xứng đáng (Rô-ma 1:24,26,28).
Xưa nay phần đông loài người không muốn giải quyết vấn đề tội lỗi, mà muốn tránh né bằng cách đổ tội cho người khác, cho hoàn cảnh. Khi A-đam đã phạm tội ăn trái cấm, ông nói: “Người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi cho tôi ăn trái cây đó và tôi đã ăn rồi” (Sáng thế ký 3:12). Làm như thế không giải quyết được vấn đề mà làm cho nó càng nặng hơn. Tránh cái khó, chúng ta sẽ gặp cái khó khăn hơn; đương đầu để giải quyết cái khó, sẽ không còn khó nữa. Một người mắc bệnh ung thư mà cứ giấu giếm, nói là không có, thì không nhờ đó được khỏi bệnh, trái lại bệnh sẽ càng ngày càng tăng hơn. Nếu thành thật nhận mình mắc bệnh thì còn có hy vọng được chữa lành.
Có người nói rằng khơi dậy ý thức tội lỗi trong một con người là gây nguy hiểm cho người đó. Nói vậy là rất đúng, vì nó giống như một bác sĩ sau khi chẩn mạch cho một bệnh nhân, rồi lắc đầu thở dài, nói: Tuyệt vọng! Kinh Thánh không hề làm vậy! Trái lại, sau khi chiếu điện, chụp hình, chẩn mạch cẩn thận, Kinh Thánh nói rõ ràng là bệnh nặng, song bệnh nhân không cần sợ vì đã có sẵn thuốc hay.
II. KINH THÁNH CHỈ ĐÚNG PHƯƠNG THUỐC CHỮA BỆNH.
Kinh Thánh chỉ đúng cho mọi người biết mình có tội. Đồng thời Kinh Thánh cũng cho mọi người biết không ai có thể nhờ tu tâm dưỡng tánh hay bất cứ một phương lược nào có thể cải thiện đời mình. Người da đen không thể đổi được da mình, con beo cũng không thể đổi được vằn nó. Loài người cũng không thể đổi được bản chất bại hoại của mình (Giê-rê-mi 13:23).
Liền sau đó, Kinh Thánh chỉ cho loài người phương thuốc chữa lành bệnh tội lỗi. Phương thuốc đó là: CHÚA JÊSUS! “Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29). Chỉ một mình Ngài thương yêu chúng ta đến nỗi đã bằng lòng xả thân chịu chết vì tội chúng ta, để lấy huyết Ngài rửa sạch tội lỗi của chúng ta (Rô-ma 5:8; Khải huyền 1:6).
– Chúa Jêsus đã chết VÌ MỌI NGƯỜI (Hê-bơ-rơ 2:9b).
– Chúa Jêsus đã chết VÌ NGƯỜI CÓ TỘI (Rô-ma 5:6).
– Chúa Jêsus đã chết VÌ CHÚNG TA (Rô-ma 5:8).
– Chúa Jêsus đã chết VÌ TÔI (Ga-la-ti 2:20).
Mỗi chúng ta đáng phải nói: “Chúa Jêsus đã yêu tôi và chịu chết vì tôi”.
Như vậy, muốn được tha tội, tôi phải làm gì?
1. XƯNG TỘI RA.
Nhận rằng nguyên nhân của bất an, đau khổ, vô phước là vì tội lỗi đang ở trong mình. Hãy làm như người thâu thuế đấm ngực mà thưa rằng: “Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót tôi, vì tôi là một tội nhân” (Lu-ca 18:13). Xưng tội ra không phải để bị Chúa phạt, song để được Chúa tha (Thi thiên 32:5). Một người chẳng may bị một mảnh đạn ghim vào mình, người ấy sẽ đi ngay đến bệnh viện, nhờ bác sĩ giải phẫu để lấy mảnh đạn ra, sớm chừng nào hay chừng nấy. Xưng tội ra là như thế.
2. LÌA BỎ TỘI.
Lìa bỏ tội là lấy làm hối tiếc về dĩ vãng của mình, gớm ghê tội lỗi mà mình đã phạm, giải quyết một lần đủ cả và chẳng bao giờ dám tái phạm. Gớm ghê tội lỗi như khi thấy con chó liếm lại đồ nó mửa, như khi thấy con heo được tắm sạch rồi lăn lóc trong vũng bùn (II Phi-e-rơ 2:22). “Ai giấu tội lỗi mình sẽ không được may mắn, nhưng ai xưng nó ra và lìa bỏ nó sẽ được thương xót” (Châm ngôn 28:13).
3. TIẾP NHẬN CHÚA JÊSUS LÀM CỨU CHÚA CỦA RIÊNG MÌNH.
Chúa là thần dược chữa lành bệnh tội lỗi. Ai tiếp nhận Ngài vào đời sống mình, thì được tha tội ngay, được tái tạo để trở nên con trai, con gái Đức Chúa Trời (IGiăng 1:9; Giăng 1:12; Ga-la-ti 3:26). Một đời sống như thế rất có phước (Thi thiên 32:1-2).
Đó là chứng cớ hiển nhiên Kinh Thánh là Lời hằng sống và linh nghiệm của Đức Chúa Trời. Vì ngoài Kinh Thánh không ai có thể biết được bịnh trạng của loài người, và dĩ nhiên cũng không ai có thể chỉ đúng phương thuốc chữa lành bệnh. Chỉ có Kinh Thánh làm được cả hai việc đó. Trải qua mấy mươi thế kỷ, triệu triệu người đã chứng nghiệm Kinh Thánh là thế. Vì vậy, họ đã sốt sắng, dạn dĩ chia sẻ kinh nghiệm hạnh phúc của mình cho mọi người vô luận ở đâu, lúc nào. Chúng ta còn chờ đợi gì mà chưa sẵn sàng xin Chúa dùng Lời Ngài để phô bày hết tội lỗi nhỏ nhặt và kín đáo nhất trong lòng chúng ta, cũng sẵn sàng xin Chúa dùng Lời ấy chữa lành chúng ta, tức là làm cho chúng ta sạch hết mọi gian ác.
CÂU HỎI
1. Nguyên nhân của mọi bất an, đau khổ mà con người đang chịu là gì?
2. Ai có thể nói đúng bệnh trạng của con người?
3. Kinh Thánh đã mô tả bức tranh lòng người như thế nào?
4. Tại sao loài người không được phước?
5. Nói cho người ta biết họ có tội là tốt hay xấu? Vì sao?
6. Sau khi chỉ cho loài người biết mình có tội thì Kinh Thánh còn làm gì nữa?
7. Phương thuốc duy nhất chữa lành bệnh tội lỗi cho loài người là gì?
8. Làm sao để được tha tội?
9. Chúa Jêsus đã chịu chết vì ai?
BÀI 19. CÁC PHÉP LẠ TRONG KINH THÁNH
KINH THÁNH: Giăng 11:38-46.
CÂU GỐC: “Đức Chúa Jêsus đã làm trước mặt các môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách nầy. Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống” (Giăng 20:30-31).
MỤC ĐÍCH: Trình bày thêm bằng cớ để giúp học viên càng tin chắc hơn rằng Kinh Thánh là thật và có uy quyền.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Phép lạ bày tỏ quyền năng thuộc linh |
(Mác 2:1-12). |
|
TH: |
Phép lạ, dấu hiệu của uy quyền thuộc linh |
(Hê-bơ-rơ 2:1-4). |
|
TB: |
Phép lạ bày tỏ vinh quang của Đức Chúa Trời |
(Giăng 11:17-27;38-46). |
|
TT: |
Phép lạ bày tỏ thần tánh của Chúa |
(Giăng 20:24:31). |
|
TN: |
Phép lạ khiến một số người bỏ Chúa |
(Giăng 10:31-39). |
|
TS: |
Phép lạ chữa trị lòng nghi ngờ |
(Lu-ca 7:18-23). |
|
TB: |
Phép lạ dẫn đến đức tin cá nhân |
(Giăng 2:1-11). |
Các phép lạ chứng minh Kinh Thánh có quyền năng. Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời. Các phép lạ cũng chứng minh Chúa Jêsus là Con độc sanh của Đức Chúa Trời, có thần tánh như Đức Chúa Trời, các phép lạ thêm đức tin cho chúng ta. Đức Chúa Trời của chúng ta là Đấng hay làm các việc lạ lùng. Hôm nay chúng ta cùng nhau học về các phép lạ trong Kinh Thánh.
I. ĐỊNH NGHĨA PHÉP LẠ.
Phép lạ là một việc xảy ra ngoài công lệ thiên nhiên, nên chỉ một mình Đức Chúa Trời làm được. Vì Ngài đặt ra công lệ thiên nhiên, nên Ngài không hề bị nó ràng buộc hay chi phối.
Phép lạ là việc của Đức Chúa Trời xen vào việc của loài người bằng một luật lệ riêng hầu thực hiện mục đích của Ngài. Ví dụ: Y-sác và Giăng Báp-tít được sinh ra trong lúc cha mẹ họ không còn có thể sinh con theo công lệ thiên nhiên. Nước của Hồng Hải và sông Giô đanh bị rẽ ra, trở thành một con đường cho dân Y-sơ-ra-ên đi ngang qua là ngoài công lệ thiên nhiên. Việc mặt trời và mặt trăng bị đứng lại theo lời cầu nguyện của Giô-suê cũng như việc Chúa Jêsus thăng thiên là ngoài công lệ thiên nhiên… Tất cả các phép lạ đều có ý nghĩa như vậy. Đó là việc chỉ có Đức Chúa Trời làm được vì Ngài là Đấng Tạo Hóa quyền năng hằng sống.
II. GIÁ TRỊ CÁC PHÉP LẠ.
Phép lạ được thực hiện là để bày tỏ quyền năng và sự nhân từ của Chúa đối cùng kẻ thuộc về Ngài.
1. Các phép lạ bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời.
Nếu Kinh Thánh không ghi chép các phép lạ thì làm sao chúng ta biết được quyền năng của Chúa. Ví dụ: Ở trong xứ Ai-cập 400 năm với tư cách kiều dân bị bắt làm nô lệ, dân Y-sơ-ra-ên chẳng hề biết Đức Chúa Trời quyền năng như thế nào. Chúa đã tự bày tỏ cho họ qua các phép lạ liên tiếp xảy ra tại Ai-cập, nhất là tại đồng vắng suốt 40 năm, để chứng minh cho họ biết Ngài là Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus cũng đã thực hiện một số phép lạ như chữa lành mọi thứ tật bịnh, hóa bánh, đuổi quỉ, quở bão tố phải yên lặng, kêu kẻ chết sống lại, nhất là Ngài đã phó mình vào sự chết và đã sống lại.
2. Các phép lạ bày tỏ sự nhân từ của Đức Chúa Trời.
Nhờ các phép lạ mà dân Y-sơ-ra-ên đời xưa và Hội Thánh ngày nay biết Chúa nhân từ thương xót, chăm sóc, lo liệu mọi nhu cầu của chúng ta một cách chu đáo. Suốt thời kỳ lưu lạc trong đồng vắng, Chúa đã mưa mana mỗi ngày cho dân Y-sơ-ra-ên ăn, khiến hòn đá phun nước cho họ uống, dùng trụ mây che họ khỏi nắng, dùng trụ lửa soi họ khỏi tối, giữ áo họ khỏi rách, giày họ không mòn, thân thể họ không bệnh hoạn (Phục truyền 8:4; 29:5; Nê-hê-mi 9:19-21). Suốt ba năm chức vụ trên đất, Chúa Jêsus không hề từ chối một bệnh nhân nào đến với Ngài, Ngài động lòng thương xót mà chữa cho họ được lành bệnh cả (Ma-thi-ơ 14:14). Ngài không để cho đoàn dân phải đói mà trở về sau khi Ngài giảng dạy, nên Ngài đã hóa bánh cho họ ăn no nê (Ma-thi-ơ 15:32-39).
III. MỤC ĐÍCH CÁC PHÉP LẠ.
1. Các phép lạ luôn luôn có công dụng cứu chuộc.
Các phép lạ nằm trong chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Bất cứ phép lạ nào được thực hiện cũng đều nhằm mục đích tối hậu là bày tỏ sự cứu chuộc cho loài người. Chiếc tàu Nô-ê chỉ về sự cứu chuộc trong Chúa Jêsus. Lễ Vượt qua do huyết chiên con để cứu các con đầu lòng của người Y-sơ-ra-ên chỉ về huyết Chúa Jêsus vì chúng ta mà đổ ra. Sự rẽ Biển Đỏ và sông Giô đanh chỉ về sự chết của chúng ta đối với thế gian và bản ngã. Sự vào xứ Ca-na-an đượm sữa và mật của dân Y-sơ-ra-ên chỉ về cuộc đời nên thánh, đắc thắng, phong phú của chúng ta trong Chúa Jêsus.
Các phép lạ mà tiên tri Ê-sai và Ê-li-sê đã làm để cứu vãn tình trạng đạo đức suy đồi của dân Y-sơ-ra-ên, đem họ đến sự phục hưng, là một bài học cho Hội Thánh trải qua các đời, nhất là cho chúng ta ngày nay (ICác 18).
Chúa Jêsus đã giáng Sinh là một phép lạ, đã sống cuộc đời phép lạ, đã thực hiện vô số phép lạ để chứng minh Ngài là Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của nhân loại, hầu cho hễ ai tin Ngài thì được sự sống (Giăng 20:30-31).
Chúa đã dùng các môn đồ làm phép lạ, như người què được đi, người bại được lành, và kêu kẻ chết sống lại, quở thuật sĩ Êlyma bị mù v.v… đều nhằm mục đích tối hậu là chứng minh Tin Lành quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin (Công vụ 3:1-11, 9:23-43, 13:4-12).
2. Các phép lạ luôn luôn nâng đỡ đức tin chúng ta.
Không bao giờ Chúa thực hiện một phép lạ vì sự tò mò của dân chúng. Nhiều lần dân Dothái thách đố Ngài làm phép lạ nhưng Chúa cự tuyệt (Ma-thi-ơ 12:38; 16:1; Lu-ca 11:16; Giăng 2:18; 6:30; ICôr 1:22). Chính Vua Hê-rốt vui mừng khi gặp Chúa vào dịp cuối cùng và mong được xem Ngài làm phép lạ, song Ngài chẳng hề làm, mà cũng chẳng hề trả lời một câu hỏi nào của ông ấy (Lu-ca 23:8-10).
Chúa làm phép lạ để nâng đỡ đức tin của dân Ngài. Dân Y-sơ-ra-ên thích thuật lại các phép lạ mà Chúa đã thi hành trong đời sống của họ và của tổ phụ họ. Và mỗi lần thuật lại, lòng yêu Chúa tuôn tràn, đức tin lớn mạnh nên môi miệng họ không ngớt ca ngợi quyền năng, sự vinh hiển, nhân từ, thành tín của Chúa (Thi thiên 66:16; 71:15-16; 106:107; 136).
Trong thời Tân Ước cũng vậy, Chúa Jêsus chỉ làm các phép lạ để nâng đỡ đức tin của những người thuộc về Ngài (Giăng 7:31; 11:45). Ai nấy đều tôn vinh Đức Chúa Trời khi thấy các phép lạ hoặc nhận được các phép lạ.
Chúng ta không thể nào đứng vững và tiến bộ trên con đường theo Chúa và phục vụ Ngài nếu không tin vào các phép lạ. Bất luận lúc nào và nơi nào, Chúa đều có thể làm phép lạ nếu cần, không có việc gì là bất năng cho Ngài cả (Lu-ca 18:27).
Khi chúng ta tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa một cách riêng và mời Ngài ngự trị trong lòng mình, Ngài liền tái tạo chúng ta trở nên con trai, con gái của Đức Chúa Trời. Không những tha thứ chúng ta mọi tội lỗi mà cũng giải phóng chúng ta khỏi quyền lực của tội lỗi, tức là khỏi thói hư tật xấu, ban cho chúng ta tự do trong Ngài để sống một đời thánh khiết, đắc thắng luôn luôn. Đó há không phải là một phép lạ vĩ đại sao?
Về Giăng Báp-tít, dân Y-sơ-ra-ên đã làm chứng: “Giăng chưa làm một phép lạ nào, nhưng mọi điều Giăng nói về người nầy (Chúa Jêsus) là thật” (Giăng 10:41). Giăng Báp-tít không làm phép lạ, nhưng cả đời sống của ông là một phép lạ lớn lao. Ông là một người công bình và thánh khiết mà bạo quân Hê-rốt cũng phải sợ ông (Mác 6:20). Nhờ Giăng có một đời sống như vậy nên có nhiều người tin Chúa Jêsus (Giăng 9:10-42).
Chúa đã làm phép lạ cho dân Y-sơ-ra-ên trong thời Cựu Ước, Chúa đã làm phép lạ khi Ngài thi hành chức vụ tại trần gian. Chúa đã làm phép lạ qua các sứ đồ. Hôm nay Chúa vẫn tiếp tục làm phép lạ trong đời sống của mỗi chúng ta. Nguyện cả đời sống chúng ta là một phép lạ lớn lao để chứng minh quyền năng và sự thương xót của Chúa hầu đem nhiều người đến với Ngài.
CÂU HỎI
1. Phép lạ là gì?
2. Phép lạ bày tỏ gì?
3. Trong thời lưu lạc trong đồng vắng, dân Y-sơ-ra-ên đã kinh nghiệm được những phép lạ nào?
4. Xin thuật lại các phép lạ có mục đích bày tỏ sự nhân từ của Chúa?
5. Xin thuật lại các phép lạ có mục đích bày tỏ sự cứu chuộc?
6. Xin thuật lại các phép lạ để nâng đỡ đức tin?
7. Giăng Báp-tít không làm phép lạ, tại sao dân chúng nghe lời ông mà tin Chúa?
8. Tại sao vua Hê-rốt cũng phải sợ Giăng Báp-tít?
9. Phép lạ mà Chúa đã làm cho chúng ta là gì?
BÀI 20. LỜI TIÊN TRI CHỨNG MINH UY QUYỀN CỦA KINH THÁNH
KINH THÁNH: Ê-xê-chi-ên 26:1-10.
CÂU GỐC: “Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời” (II Phi-e-rơ 1:21).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ lời tiên tri trong Kinh Thánh, xác nhận nguồn gốc siêu việt và uy quyền của sách ấy.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Trắc nghiệm đối với vị tiên tri chân chính |
(Phục 18:13-22). |
|
TH: |
Một thách đố đối với các tà thần |
(Ê-sai 41:20-29). |
|
TB: |
Lời tiên tri quan trọng về Đấng Cứu Thế |
(Ê-sai 53:1-12). |
|
TT: |
Chúa làm ứng nghiệm lời tiên tri |
(Lu-ca 24:25-27; 44-49). |
|
TN: |
Sự ngạc nhiên của nhà tiên tri |
(I Phi-e-rơ 1:10-12). |
|
TS: |
Nguồn gốc của lời tiên tri chân chính |
(II Phi-e-rơ 1:13-21). |
|
TB: |
Ảnh hưởng của lời tiên tri cho cá nhân |
(II Phi-e-rơ 3:1-14). |
Khi tiên tri Ê-xê-chi-ên viết về sự sụp đổ của thành Ty-rơ thuộc xứ Phê-ni-xi thì ông đang bị lưu đày tại Ba-by-lôn (Ê-xê-chi-ên 26:1-14). Bấy giờ vào khoảng năm 600 TC. Lúc đó thành Ty-rơ là một hải cảng nổi tiếng được xây cất đã hơn 2.000 năm tại phía bắc của xứ Phalêtin. Người Phê-ni-xi có nhiều thương thuyền giao thiệp, buôn bán với các nước xa, như Trung Quốc, Anh Quốc. Người Phê-ni-xi tại Ty-rơ rất giàu có, khôn ngoan, khéo léo (II Sa-mu-ên 5:11; ICác 7:13-14). Vì vậy, lời tiên tri của Ê-xê-chi-ên về Ty-rơ sẽ bị sụp đổ dường như không thể nào ứng nghiệm được.
Nhưng đến năm 585 TC, vua Ba-by-lôn đem quân vây thành và đánh phá suốt 13 năm mới hạ được Ty-rơ. Một thành phố mới được xây lại. Sau đó hơn 200 năm, tức là vào năm 332 TC, A-lịch-sơn Đại đế của Hy-lạp đã đem quân vây hãm Ty-rơ suốt bảy tháng và hạ được thành. Dầu người ta đã tiếp tục xây lại, song thành phố cũ của Ty-rơ đã bị sụp đổ hoàn toàn như lời tiên báo của Ê-xê-chi-ên. Đây là một trong những bằng cớ chứng minh uy quyền của Kinh Thánh.
I. ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÀ TIÊN TRI.
Lời tiên tri được công bố bởi nhà tiên tri. Nhà tiên tri không nhất thiết nói về những việc chưa xảy đến, những việc tương lai. Tiên tri là người được Đức Chúa Trời mặc khải ý muốn và quyền năng của Ngài để nhơn danh Ngài truyền giảng sứ điệp và tiết lộ đường lối của Ngài cho loài người, hầu dạy dỗ họ. Chúa phán: “Ta sẽ lập cho chúng một Đấng tiên tri như ngươi, thuộc trong anh em chúng, Ta sẽ lấy các lời tiên tri để trong miệng người thì người sẽ nói cho chúng mọi lời Ta đã phán dặn người” (Phục truyền 18:18).
Môi-se là một tiên tri, vì ông đã nhân danh Chúa ban luật pháp cho dân Y-sơ-ra-ên và dạy dỗ họ. Áp-ra-ham là một tiên tri, vì Đức Chúa Trời đã trực tiếp hiện ra với ông để ông truyền lại cho hậu tự mình mạng lịnh của Ngài (Sáng thế ký 15:1; 18:17-19; 20:7). A-rôn và Miriam cũng là tiên tri (Xuất 7:1; 15:20).
II. DẤU HIỆU NHẬN BIẾT NHÀ TIÊN TRI CHÂN CHÍNH.
Tiên tri phải là người được Chúa gọi như Môi-se (Xuất 3:1-4,17), như Ê-sai (Ê-sai 6:1-10), như Giê-rê-mi (Giê-rê-mi 1:4-29), như Ê-xê-chi-ên (Ê-xê-chi-ên 1:3), như Ô-sê (Ô-sê 1:2), như A-mốt (A-mốt 7:14-15) v.v… Họ là những người đã từng đứng trước mặt Chúa nên cũng đã sẵn sàng đứng trước mặt mọi người (ICác 17:1; 18:15).
Tiên tri giả là những người không hề được Chúa gọi mà đã ra đi nói theo ý mình. Chúa phán về họ như sau: “Ấy là những lời nói dối, mà các tiên tri đó nhân danh Ta truyền ra. Ta chẳng từng sai họ đi, chẳng từng truyền lịnh và chẳng từng phán cùng họ. Họ nói tiên tri đó là nói theo những sự hiện thấy giả dối, sự bói khoa, sự hư không và sự lừa gạt bởi lòng riêng mình” (Giê-rê-mi 14:14).
“Ta chẳng sai những tiên tri nầy, mà chúng nó đã chạy, Ta chẳng phán với mà đã nói tiên tri… Nầy, Ta nghịch cùng những kẻ lấy chiêm bao giả dối mà nói tiên tri, thuật lại và lấy lời dối trá khoe khoang mà làm cho dân Ta lầm lạc, nhưng Ta không sai và cũng không bảo chúng nói, chúng nó cũng không làm ích gì cho dân nầy hết” (Giê-rê-mi 23:21,32).
Dân Y-sơ-ra-ên bị hình phạt nặng nề bởi các tiên tri giả, họ vì nghe lời các tiên tri giả mà bắt bớ các tiên tri thật (ICác 22:5-28; Giê-rê-mi 28:1-17; Công vụ 7:52).
Bằng cớ chứng minh một nhà tiên tri chân chính thì ngoài việc được Chúa kêu gọi, những điều người ấy nói trước đều ứng nghiệm. “Khi kẻ tiên tri nhân danh Đức Giê-hô-va nói, ví bằng lời người nói không xảy đến và không được ứng nghiệm, ấy là lời mà Đức Giê-hô-va chẳng có phán. Kẻ tiên tri đó bởi sự kiêu ngạo mà nói ra, chớ sợ người” (Phục truyền 18:22).
Đây chúng ta xem một lời tiên tri được ứng nghiệm hoàn toàn, nó làm chứng cho sự chân chính của nhà tiên tri và uy quyền của Kinh Thánh. Khoảng 1500 năm trước, Môi-se đã cảnh cáo dân Y-sơ-ra-ên rằng, nếu họ lìa bỏ Đức Giê-hô-va mà thờ lạy các thần tượng như các dân bản xứ tại Ca-na-an, thì kết quả tối hậu là họ bị lưu đày (Xin đọc Phục truyền 28:36-37,65,66).
Chúng ta biết rõ rằng lời cảnh cáo của Môi-se trên đây đã được ứng nghiệm hai lần.
1. Ứng nghiệm lần thứ nhứt.
Khoảng 700 năm sau, các vua A-si-ri và Ba-by-lôn đã đem quân xâm chiếm Giu-đa và Y-sơ-ra-ên, bắt dân đem đi khỏi xứ và lưu đày 70 năm tại Ba-by-lôn (Giê-rê-mi 25:12). Khi 70 năm đã mãn, họ được trở về tổ quốc và đã bỏ sự thờ lạy tà thần (II Sử ký 36:22-23).
2. Ứng nghiệm lần thứ nhì.
Vào đầu kỷ nguyên Cơ Đốc, dân Y-sơ-ra-ên lại phạm tội nặng là từ chối Đấng Cứu Thế. Chúa Jêsus đã từng cảnh cáo và khóc lóc về họ mà họ không ăn năn (Ma-thi-ơ 23:37-38; Lu-ca 19:41-44). Họ hiệp cùng dân ngoại đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Vào năm 70, đại tướng Titus của La-mã đã đem quân vây hãm và triệt hạ thành Giê-ru-sa-lem. Một lần nữa, dân Y-sơ-ra-ên bị bán làm nô lệ, lưu đày, tan tác khắp thế giới cho đến năm 1948, họ mới được trở về tổ quốc (Phục truyền 4:27). Lịch sử chứng minh uy quyền của Kinh Thánh vì lời tiên tri trong đó đã được ứng nghiệm hoàn toàn.
III. CHỦ ĐÍCH CỦA LỜI TIÊN TRI.
Cũng như các phép lạ, Đức Chúa Trời không đưa ra các lời tiên tri về tương lai để thỏa mãn lòng ao ước điều mới lạ hay tánh tò mò của chúng ta. Ngài muốn chúng ta sống bởi đức tin, giao phó tương lai cho Ngài vì Ngài biết hết mọi sự và làm mọi sự cho chúng ta. Xin thưa với Chúa rằng: “Kỳ mạng con ở trong tay Chúa” (Thi thiên 31:15).
Tuy nhiên, chúng ta cần biết đại khái các tiên tri đã dự ngôn những điều quan trọng như sau:
1. Liên quan đến dân Y-sơ-ra-ên.
Đức Chúa Trời xét đoán về lòng vô tín và gian ác của họ. Nhưng Ngài hứa sẽ phục hồi địa vị của dân ấy sau thời gian sửa trị họ.
2. Liên quan đến Đấng Cứu Thế.
Kinh Thánh Cựu ước nói trước về thân vị, sự giáng sanh, sự khổ nạn, sự sống lại, sự thăng thiên và sự tái lâm của Ngài.
3. Liên quan đến ngày tận thế.
Nước bình an của Đức Chúa Trời sẽ thành lập trên đất 1.000 năm, và Ngài sẽ phán xét thế giới vô tín và ma quỉ.
Các lời tiên tri như cái đèn soi sáng trong nơi tối tăm (II Phi-e-rơ 1:19), không phải soi sáng tất cả mọi sự, song chỉ có những gì tương quan đến chúng ta. Chúa Jêsus phán: “Hãy giữ lấy, Ta đã nói trước cho các ngươi cả” (Mác 13:23). Đức Chúa Trời đã nói trước về nước lụt cho Nô-ê, sự hủy diệt Sô-đôm và Gô-mô-rơ cho Áp-ra-ham, về số phận Ni-ni-ve cho Giô-na, về sự sụp đổ Ba-by-lôn cho Đa-ni-ên, về dân Y-sơ-ra-ên, về Hội Thánh, về thế gian và về ma quỉ cho mọi người.
Lời tiên tri trong Kinh Thánh chứng tỏ uy quyền của sách ấy. Chúng ta thấy các lời tiên tri đã ứng nghiệm và sẽ ứng nghiệm thì biết đó là Lời của Đức Chúa Trời. Biết như vậy, chúng ta hãy đọc, suy gẫm, làm theo. Nếu biết Chúa Jêsus sắp tái lâm, chúng ta phải ăn ở cách nào đẹp lòng Chúa (Lu-ca 21:20-36). Nếu biết mọi vật sẽ bị tiêu tan, chúng ta biết cần phải làm gì (II Phi-e-rơ 3:11-14). Chúng ta thật sung sướng mà biết như thế. Nhưng biết không thì chưa đủ, sự biết có giá trị là khi nào đưa đến hành động đúng như điều mình biết, như Nô-ê đóng tàu, như Lót ra khỏi Sô-đôm, như Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ba-by-lôn mà trở vể tổ quốc của họ vậy.
CÂU HỎI
1. Khi Ê-xê-chi-ên viết sách của ông (26:1-14) thì thành Ty-rơ ra sao?
2. Sách Ê-xê-chi-ên 26:1-14 được ứng nghiệm thế nào?
3. Sự ứng nghiệm lời tiên tri nói lên Kinh Thánh là quyển sách thế nào?
4. Nhà tiên tri là người thế nào?
5. Làm sao chúng ta biết được ai là tiên tri chân chính?
6. Lời tiên tri của Môi-se trong Phục truyền đoạn 28 được ứng nghiệm thế nào?
7. Chủ đích của lời tiên tri là gì?
8. Biết trước mọi sự như Lời Chúa tiên báo, chúng ta nên có thái độ như thế nào?
9. Tại sao chúng ta không cần sợ khi nhìn về tương lai?
BÀI 21. GIÁ TRỊ CỦA LỊCH SỬ THEO KINH THÁNH
KINH THÁNH: ICôr 15:1-8.
CÂU GỐC: “Vả, mọi sự đã chép từ xưa đều để dạy dỗ chúng ta, hầu cho bởi sự nhịn nhục và sự yên ủi của Kinh Thánh dạy mà chúng ta được sự trông cậy” (Rô-ma 15:4).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ một vài biến cố lịch sử tạo thành nền tảng đức tin của Cơ Đốc nhân.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Nền tảng đức tin qua các sự kiện |
(ICôr 15;1-8). |
|
TH: |
Trọng tâm các sự kiện |
(Giăng 1:9-18). |
|
TB: |
Sự cần thiết của các sự kiện |
(ICôr 15:12-19). |
|
TT: |
Chứng nhân cho các sự kiện |
(II Phi-e-rơ 1:16-19). |
|
TN: |
Một sứ giả thận trọng |
(Lu-ca 1:1-43). |
|
TS: |
Giảng về lịch sử |
(Công vụ 2:22-76). |
|
TB: |
Chủ đích của lịch sư |
(ICôr 10:1-11). |
Phần lịch sử được ghi chép trong Kinh Thánh là những sự kiện, tức là những sự việc có thật. Từ lịch sử một người, một chi phái, một dân tộc cho đến lịch sử nhân loại đều là những sự kiện, Đức Chúa Trời cho ghi chép các sự kiện đó để làm gì? Phao-lô đáp: “Vả, mọi sự đã chép từ xưa đều để dạy dỗ chúng ta…” (Rô-ma 15:4). Đức Chúa Trời không những dạy dỗ chúng ta về đường lối và tư tưởng của Ngài bằng lời các tiên tri nói ra, song cũng bằng việc làm của Ngài đã được ghi chép trong Kinh Thánh mà chúng ta gọi là lịch sử.
I. MỤC ĐÍCH CÁC SỰ KIỆN LỊCH SỬ TRONG KINH THÁNH.
Đức Chúa Trời phán dạy chúng ta qua các sự kiện lịch sử.
1. Cách Đức Chúa Trời đối xử với một dân tộc.
Đức Chúa Trời đã giải phóng dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi cảnh nô lệ tại Ê-díp-tô (Ai-cập), đưa họ qua Biển Đỏ, vào đồng vắng đến Ca-na-an đượm sữa và mật. Đó là sự kiện lịch sử, vì cho đến ngày nay, dân Ai-cập và dân Y-sơ-ra-ên đang làm chứng cho điều đó. Qua phần lịch sử nầy chúng ta biết được:
a. Đức Chúa Trời thành tín.
“Ngài nghe tiếng than thở của chúng, nhớ đến sự giao ước mình đã lập cùng Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp” (Xuất 2:24). Điều gì Chúa đã hứa, Ngài không bao giờ quên cho đến khi làm trọn (Sáng 22:16-18; 26:2-5; 28:13-18). Sự thành tín của Ngài lớn lắm và còn đời đời.
b. Đức Chúa Trời thương yêu.
“Ta đã thấy rõ ràng sự cực khổ của dân Ta tại xứ Ê-díp-tô, và có nghe thấu tiếng kêu rêu vì cớ người đốc công của nó; phải, Ta biết được nỗi đau đớn của nó” (Xuất 3:7). Trong câu nầy có mấy chữ đáng chú ý: CHÚA THẤY, CHÚA NGHE, CHÚA BIẾT MỌI SỰ.
c. Đức Chúa Trời quyền năng.
Ngài hình phạt Pha-ra-ôn và dân sự của ông bằng mười tai vạ, buộc họ phải phóng thích Y-sơ-ra-ên. Chúa rẽ Biển Đỏ cho dân Ngài đi qua. Ngài nuôi họ 40 năm trong đồng vắng và Ngài chăn dắt họ từng bước một cho đến khi vào tận Ca-na-an. Ngài không từ chối vô luận một nhu cầu nào của họ, thậm chí nếu phải khiến mặt trời dừng lại, Chúa cũng đã làm.
d. Đức Chúa Trời thánh khiết.
Đấng Thánh khiết đòi dân sự Ngài phải thánh trong mọi cách ăn nết ở, nên khi họ phạm tội, Ngài sửa trị họ ngay. Ngài thương yêu họ nhưng không chịu tội ác của họ.
e. Đức Chúa Trời nhân từ.
Ngài khoan dung, nhẫn nại, chậm giận và chờ đợi họ ăn năn để tha thứ ngay và tha thứ trọn vẹn. Ngài đã ban cho họ những đặc ân vô giá mà họ không ngờ, vì họ không đáng được như vậy. Hãy nghe họ ca tụng sự nhân từ của Chúa (Thi thiên 136:10-26).
Đọc lịch sử dân Y-sơ-ra-ên, chúng ta biết được đường lối và ý tưởng của Chúa. Xem cách đối xử của Đức Chúa Trời với dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa chúng ta biết được cách Ngài đối xử với chúng ta ngày nay.
2. Các bài giảng về lịch sử trong Kinh Thánh.
Các bài giảng trong Kinh Thánh phần nhiều căn cứ vào sự kiện lịch sử để chứng minh đường lối và tư tưởng của Đức Chúa Trời. Ba bài giảng rất dài và rất xuất sắc của Môi-se được ghi chép trong Phục truyền luật lệ ký, hầu hết đều nhắc lại lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên qua suốt cuộc hành trình từ Ai-cập đến biên giới Ca-na-an. Đó là những sự kiện rành rành mà người Y-sơ-ra-ên nào cũng biết. Bài giảng của Phi-e-rơ trong ngày Lễ Ngũ Tuần là dựa vào sự kiện lịch sử đã xảy ra những ngày trước để giải thích biến động vừa xảy ra hôm đó. Đồng thời, ông cũng trưng dẫn lời tiên tri để chứng minh. Lịch sử về sự chết và sự sống lại của Chúa Jêsus như lời tiên tri trong Cựu Ước là những sự kiện không ai chối cãi được và vì vậy mà có kết quả lớn lao.
Trong sự giảng dạy của chúng ta ngày nay, không nên nhắm vào sự biện luận về tư tưởng tôn giáo, triết thuyết. Nếu lịch sử không chứng minh được sự hiện hữu của Đức Chúa Trời quyền năng, nhân từ, thánh khiết, thì không tư tưởng hoặc triết thuyết nào có thể chứng minh được. Lịch sử nhân loại nói chung, lịch sử dân Y-sơ-ra-ên nói riêng có đủ sự kiện cho chúng ta chứng minh Đức Chúa Trời và công việc kỳ diệu của Ngài.
II. NỘI DUNG LỊCH SỬ THEO KINH THÁNH.
Phao-lô đã tóm tắt một giai đoạn lịch sử vô cùng quan trọng đối với nhân loại, nhất là đối với chúng ta, trong thơ ICôr 15:1-8.
1. Sự kiện mặc khải.
“Theo lời Kinh Thánh”, Đức Chúa Trời đã dựng nên muôn vật và bảo tồn muôn vật. Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người và bảo tồn loài người. Hơn nữa vì loài người khôn hơn muôn vật nên “đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần, nhiều cách, rồi đến những ngày ra rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài” (Hê-bơ-rơ 1:1-2), nhờ đó chúng ta có Kinh Thánh trong tay. Kinh Thánh là sự mặc khải của Đức Chúa Trời, tức là Ngài tự bày tỏ cho chúng ta được biết Ngài.
2. Sự kiện Chúa Jêsus giáng sinh và chịu chết.
Chúa Jêsus giáng sinh là một sự kiện lịch sử trọng đại đã xảy ra gần 2.000 năm rồi. Ngài là hiện thân của Đức Chúa Trời mặc lấy hình người để đến thế gian ở giữa loài người. Chúng ta biết Đức Chúa Trời qua Chúa Jêsus vì Ngài là hình tượng của Đức Chúa Trời không thấy được. “Hình tượng” đây là bản chất, như sự thánh khiết, công nghĩa, thương yêu của Ngài. Chúa Jêsus với Đức Chúa Trời là một về phương diện thần tánh, bản chất.
Chúa chịu chết vì tội chúng ta. Đây là một sự kiện lịch sử. Tội lỗi lại là một sự kiện hiển nhiên. Tội lỗi ở khắp mọi nơi, ở trong lòng mọi người. Song Chúa đã chịu chết vì tội lỗi chúng ta một lần đủ cả. Ngài đã giải quyết một cách dứt khoát món nợ tội lỗi của chúng ta bằng huyết Ngài đổ ra trên thập tự giá. Sự chuộc tội không phải là một ý niệm suông, mà là một công tác, một sự kiện lịch sử đã xảy ra tại đồi Gô-gô-tha gần hai ngàn năm trước đây.
3. Sự kiện Chúa Jêsus phục sinh.
Chúa Jêsus thật đã sống lại cũng như Ngài thật đã giáng sinh và đã chịu chết. Sau khi sống lại, Ngài đã hiện ra với Sêpha (Phi-e-rơ), với Gia-cơ, với 12 sứ đồ, với 500 môn đồ mà khi Phao-lô viết thư nầy vào năm 57 thì một số người giữa vòng họ còn sống. Lần cuối cùng, Ngài đã hiện ra với Phao-lô. Thế là Ngài hiện ra cách chung có, cách riêng có. Thực sự nầy nói lên Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời hằng sống, quyền năng, là Chúa và Cứu Chúa của nhân loại. Sự chết của Ngài để chuộc tội cho chúng ta là chắc chắn, đã được đóng ấn bằng sự sống lại của Ngài. Trước sự kiện lịch sử đó không ai có thể giải thích khác hơn được. Phao-lô đã nói: “Ngài đã bị nộp vì tội lỗi chúng ta, và sống lại vì sự công bình chúng ta” (Rô-ma 4:25).
Sau khi kể ra nhiều chứng cớ về sự sống lại của Chúa Jêsus, Phao-lô lấy làm sung sướng nói lên: “Ngài đã hiện ra với tôi”. Nguyện hết thảy chúng ta đều có thể nói: Chúa đã hiện ra với tôi, tôi đã gặp Ngài. Tôi đã nghe tiếng phán của Ngài với lòng tôi nên tôi yêu Ngài và tôi theo Ngài.
Chúa Jêsus đã giáng sinh, chịu chết vì tội chúng ta, sống lại, về trời là những sự kiện lịch sử. Chúng ta tin hay không tin cũng chẳng hề thay đổi được mảy may nào các sự kiện ấy. Nếu chúng ta tin thì được cứu rỗi, nếu chúng ta không tin thì bị định tội.
Lịch sử đã được ghi chép trong Kinh Thánh thật rất quý giá cho đức tin của chúng ta; bởi đó chúng ta nên chuyên tâm nghiên cứu lịch sử để đức tin của chúng ta được mạnh mẽ và lớn lên.
CÂU HỎI
1. Tại sao Đức Chúa Trời cho ghi chép nhiều sự kiện lịch sử trong Kinh Thánh?
2. Lịch sử dân Y-sơ-ra-ên được giải phóng đã dạy chúng ta về gì?
3. Phần nhiều các bài giảng trong KT đều dựa vào đâu?
4. Ai đã giảng những bài linh động nhờ dựa vào sự kiện lịch sử?
5. Chúa Jêsus giáng sanh, chịu chết, sống lại và về trời là chuyên hoang đường hay sự kiện lịch sử?
6. Sự chuộc tội của Chúa cho chúng ta là một ý niệm, là một triết lý hay là một sự thật trong lịch sử?
7. Chúng ta tin hay không tin một sự kiện thì có vì đó mà thay đổi được sự việc không? Tại sao?
8. Bạn đã gặp Chúa một cách riêng tư chưa?
9. Tại sao chúng ta thích đọc lịch sử trong Kinh Thánh?
BÀI 22. BẰNG CHỨNG CỦA QUÁ KHỨ (KHẢO CỔ HỌC)
KINH THÁNH: Thi thiên 2:1-12.
CÂU GỐC: “Lời Chúa còn lại đời đời” (I Phi-e-rơ 1:25).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ các phát giác của khảo cổ học để khích lệ đức tin chúng ta.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Khảo cổ học xác nhận sự thật |
(Giô-suê 6:1-27). |
|
TH: |
U-rơ được khai quật |
(Sáng 11:31-12:9). |
|
TB: |
Ai đã tiết lộ nhiều tài liệu? |
(Xuất 5:1-9). |
|
TT: |
Bước đầu của các thứ tiếng |
(Sáng 11:1-9). |
|
TN: |
Các công trình khai quật tại Ba-by-lôn |
(Thi thiên 137:1-5). |
|
TS: |
Tính cách vững chắc của Lời Đức Chúa Trời |
(Thi thiên 119:89-90). |
|
TB: |
Phương pháp học hỏi |
(ICôr 1:18-31). |
Về phương diện tiên tri, Kinh Thánh đã chứng minh uy quyền của mình bằng lời báo trước về số phận các dân, các nước, các thành phố và các lời tiên tri đó đều đã được ứng nghiệm. Về phương diện lịch sử, những gì Kinh Thánh ghi chép đều là những sự kiện đã được chứng minh như sự giáng sinh, chịu chết, sống lại và về trời của Chúa Jêsus. Ngoài ra Kinh Thánh cũng chép về các nhân vật, các dân tộc đã sống trong thời thượng cổ, các thành phố, các biến cố đã xảy ra hàng ngàn năm trước. Các nhà khảo cổ đã khai quật các nơi hoang địa, khám phá các tàn tích đổ nát đều chứng minh Kinh Thánh nói đúng. Khảo cổ học đã giúp cho đức tin của chúng ta thêm vững bền vì những điều chúng ta tin là thật.
I. PHƯƠNG PHÁP CỦA KHẢO CỔ HỌC.
Trước đây 200 năm, nhân loại chưa hề nghĩ đến việc đào bới các nơi đổ nát để khám phá nền văn minh tối cổ. Song từ 200 năm qua, nhân loại đã bắt đầu và ngày càng quan tâm đến khoa khảo cổ học. Các địa điểm khai quật nổi tiếng nhất là các quốc gia chung quanh vùng được gọi là “Chiếc nôi của nền văn minh”, như Irắc, Sy-ri, Abrabi, Ai-cập và Dothái (Palestine).
Thường thường, các nhà khảo cổ bắt đầu chọn một trong những gò đất vốn có nhiều tại các nơi ấy để đào bới. Các gò nầy là những núi nhân tạo thường được nghiệm thấy là tàn tích của các thành phố xưa, nơi thành phố nầy được xây chồng lên đống đổ nát của thành phố khác, và tất cả đều bị vùi lấp dưới những lớp đất cát và mảnh vụn chồng chất lên nhau từ thế kỷ này sang thế kỷ kia. Khi đào bới như vậy, nhà khảo cổ tìm được chứng cớ về kỹ thuật của người xưa, những tên riêng, những tài liệu sao chép bằng các cổ ngữ trên những bảng đất sét, bảng đá hoặc trên công trình kiến trúc. Nhiều biến cố mà chỉ có Kinh Thánh ghi lại từ trước đến nay đã được các nhà khảo cổ chứng minh là đúng.
II. CÔNG TÁC CỦA KHẢO CỔ HỌC.
Khoa khảo cổ học có nhiệm vụ nghiên cứu các dấu vết của quá khứ để cung cấp kiến thức cho thế hệ hiện tại về các nền văn minh đã qua. Khi chưa có khoa khảo cổ học, người ta đâm ra ghi ngờ những điều Kinh Thánh ghi chép. Cơn đại hồng thủy đời Nô-ê, các tộc trưởng Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, thành Giê-ri-cô bị sụp đổ, Môi-se chép Ngũ kinh v.v… được nhiều người xem như chuyện hoang đường. Nhưng từ khi có khảo cổ học thì chính khoa học đó đã chứng minh sự chính xác của Kinh Thánh.
1. Cơn đại lụt đời Nô-ê.
Từ năm 1927 đến 1929, các nhà khảo cổ người Anh chia ra làm hai đoàn. Đoàn I đến Kish gần Ba-by-lôn. Đoàn II đến gần U-rơ, xứ Canh-đê. Tại Kish, họ đào xuống hai lớp đất riêng biệt, lớp này chừng 6m50 dưới lớp kia. Đào sâu hơn, họ bỗng gặp một lớp đất hoàn toàn đồng chất nghĩa là không lẫn lộn. Đó là lớp phù sa từ dưới sông được đưa lên. Đào sâu hơn chừng 1m50 nữa, họ lại gặp nhiều đồ gốm và nhiều mảnh vụn như một nền văn minh đã bị chôn vùi.
Các nhà khảo cổ cũng tìm được phía nam Ba-by-lôn những bảng được ghi chép bằng chữ hình đinh, cũng gọi là “Tiết hình tự”, mô tả cơn đại lụt. Về tiểu tiết có khác hơn điều đã chép trong Kinh Thánh, song đại thể vẫn giống nhau.
Vì vậy, các nhà khảo cổ đã phải kết luận rằng lớp đất phù sa không phải vốn ở trên mặt đất mà là từ dưới sông đưa lên do cơn đại lụt đời Nô-ê. Việc ấy xảy ra vào khoảng 2.400 năm trước Chúa giáng sinh.
2. Môi-se chép Ngũ Kinh.
Các phê bình gia tỏ ra rất tự tin khi tuyên bố rằng con người không thể có chữ viết trong thời các tộc trưởng như Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp và cả đến thời Môi-se cũng vậy. Do đó, Môi-se không thể là trước giả của Ngũ Kinh. Họ cho rằng lịch sử thành văn mới bắt đầu được viết vào khoảng năm 778 TC, trong khi Môi-se đã sống độ 1.500 năm TC (trước Chúa).
Khảo cổ học đã chứng minh rằng điều khẳng định trên là sai. Vì họ đã đào được một tảng đá trên đó có ghi khắc bộ luật của Hammurabi. Ông nầy là vua thuộc vương triều đầu tiên của Ba-by-lôn và sống khoảng 1.700 năm TC, gần đồng thời với Áp-ra-ham. Bộ luật nầy của vua Hammurabi cho thấy trình độ văn minh rất cao của thời ấy. Ngày nay chúng ta biết rằng chữ viết đã có gần 4.000 năm TC. Cho nên không có gì để nghi ngờ là Môi-se đã biết nghệ thuật viết chữ (Công vụ 7:22) và ông đã chép Ngũ Kinh.
3. Thành Giê-ri-cô bị sụp.
Các phê bình gia cũng chế giễu câu chuyện thành Giê-ri-cô bị sụp đổ mà Kinh Thánh đã ghi, vì cho là một chuyện thần thoại. Các cuộc khai quật tại thành Giê-ri-cô đã cho các nhà khảo cổ biết rằng thành ấy có hai lớp tường bao bọc, lớp ngoài dày 2 mét, lớp trong dày bằng hai, cao chừng 9 mét; giữa hai lớp tường đó có một khoảng trống, người ta xây nhà trên hai bức tường đó để ở. Tường xây bằng gạch có pha rơm rồi phơi nắng chứ không phải nung trong lửa, không phải dùng xi măng như chúng ta mà dùng bùn để xây. Nền của tường thành bằng những viên đá đủ cỡ, dài ngắn, lớn nhỏ khác nhau, cũng không được sắp xếp cẩn thận nên dễ bị đổ.
Sau nhiều năm đào bới tại Hátsô, A-hi và Giê-ri-cô, nhà khảo cổ người Đức là giáo sư Garstang đã tuyên bố vào năm 1933 rằng, thành Giê-ri-cô bị sụp đổ do một cơn động đất nhẹ. Họ còn tìm thấy gỗ bị cháy sém do một cuộc phóng hỏa. Tất cả sự kiện đó chứng minh điều đã chép trong Kinh Thánh về thành Giê-ri-cô là đúng.
4. Cuộc kiểm tra dân số tại Bết-lê-hem.
Lu-ca đã ký thuật tỉ mỉ về cuộc kiểm tra dân số đã khiến Giô-sép phải đưa vợ là bà Ma-ri từ Na-xa-rét đến Bết-lê-hem ngay trước khi Chúa Jêsus ra đời. Các phê bình gia đã chế nhạo việc ấy mà cho rằng đàn bà không cần phải đăng ký kiểm tra dân số, và lúc đó Quiriniu không phải là quan tổng đốc xứ Sy-ri. Họ tố cáo Lu-ca muốn viết như vậy để làm cho sự giáng sinh của Chúa Jêsus đúng như tiên tri Mi-chê đã dự ngôn (Mi-chê 5:2). Nhưng ngày nay, không còn ai nghi ngờ về việc Quiriniu vốn là quan tổng đốc xứ Sy-ri vào thời đó, và người ta đào được một tảng đá ghi rằng người vợ cũng phải đích thân đi dự cuộc kiểm tra y như chồng. Như thế, khảo cổ học đã cung cấp các sự kiện để chứng minh sự chính xác của Kinh Thánh.
Năm 1947, một cậu bé chăn chiên người Ảrập đã vào một trong các hang đá của rặng núi hiểm trở nhìn xuống Biển Chết (Tử Hải). Cậu ta thấy tại đó có nhiều chiếc ché xưa, bên trong đựng một cuộn giấy. Phác giác ấy làm náo động thế giới vì một trong những ché đó có bản sao cổ nhất chép sách Ê-sai. Các nhà khảo cổ đã lục soát các hang đá vùng ấy thật kỹ lưỡng và tìm được rất nhiều bản sao những phần trong Cựu ước. Các bản sao nầy (Cuộn Bản Biển Chết) đã chứng minh bản Kinh Thánh mà chúng ta có hiện nay là hoàn toàn chính xác.
(Xin bạn tìm đọc trong “Thánh Kinh Lược Khảo” của Halley và “Tuyển tập khảo cổ” của Thánh Kinh Thần Học Viện Nha Trang).
III. GIỚI HẠN CỦA KHẢO CỔ HỌC.
Khảo cổ học không thể giải đáp được mọi vấn đề, dầu họ có đào bới và tìm được nhiều tài liệu hơn nữa tại các sa mạc. Khảo cổ học có thể chứng nghiệm cho sự thật của các biến cố lịch sử, song không thể giải nghĩa nguyên nhân các biến cố ấy. Khảo cổ học chú trọng vào những sự việc thuộc vật chất, chứ không chú trọng vào những sự kiện thuộc linh, như vấn đề tội lỗi và nhu cầu được cứu rỗi. Ngoài khoa khảo cổ học và nhiều khoa học khác chứng minh uy quyền của Kinh Thánh, hàng triệu đời sống được Chúa biến cải là bằng cớ hùng hồn về quyền năng của Lời hằng sống do Đức Chúa Trời ban cho con người.
Cơ Đốc nhân không có gì phải sợ hãi khi có người xem xét cẩn thận để tìm sự thật về Kinh Thánh. “Lời Chúa còn lại đời đời”. Kinh Thánh là một tảng đá mà các phê bình gia dầu có tạo được bão tố, cũng chỉ phí công. Kinh Thánh vẫn đứng vững, biện minh cho đức tin của chúng ta và hướng dẫn chúng ta. Tạ ơn Chúa về mọi bằng cớ căn bản lịch sử đã củng cố đức tin của chúng ta.
CÂU HỎI
1. Khảo cổ học là khoa học gì?
2. Khảo cổ học cho biết gì về cơn nước lụt đời Nô-ê?
3. Làm sao chúng ta biết Môi-se chép Ngũ Kinh?
4. Khảo cổ học nói gì về Giê-ri-cô bị sụp đổ?
5. Làm sao chúng ta biết được Giô-sép và Ma-ri đến Bết-lê-hem đăng ký kiểm tra dân số là đúng?
6. Xin cho biết gía trị của các Cuộn Bản Biển Chết.
7. Những gì khảo cổ học không làm được?
8. Tại sao chúng ta không cần sợ hãi khi có người tìm xem sự thật của Kinh Thánh?
BÀI 23. KINH THÁNH VÀ KHOA HỌC
KINH THÁNH: Thi thiên 19:1-14.
CÂU GỐC: “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, bầu trời giãi tỏ công việc tay Ngài làm” (Thi thiên 19:1).
MỤC ĐÍCH: Chứng minh rằng chân lý của Kinh Thánh hoà hợp với mọi lãnh vực. Giữa chân lý và khoa học chân chính không hề có sự dị biệt.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Loài người phải quản trị thế giới |
(Sáng 1:26-31). |
|
TH: |
Nhà bác học nguyên thủy |
(Gióp 26:1-14). |
|
TB: |
Sự khôn ngoan của đời là hư không |
(Truyền 1:12-28). |
|
TT: |
Đức Chúa Trời là chủ tể cõi thiên nhiên |
(Thi 104:1-35). |
|
TN: |
Giới hạn của tri thức con người |
(Châm 30:1-6). |
|
TS: |
Số phận tương lai của thế giới |
(II Phi-e-rơ 3:1-10). |
|
TB: |
Lãnh vực của chân lý cứu rỗi |
(Gióp 38:31-38). |
Có người hỏi: Phải chăng khoa học càng tiến, thì tôn giáo không còn chỗ đứng? Phải chăng những khám phá của khoa học luôn luôn mâu thuẫn với Kinh Thánh? Và đức tin là điều phản khoa học?
Có người lại nghĩ rằng khoa học chống lại Kinh Thánh nên nếu ai thừa nhận các phát kiến của khoa học, thì người ấy không tin Kinh Thánh nữa!
Bài học hôm nay sẽ giúp chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời toàn năng, toàn tri là Đấng dựng nên vũ trụ. Ngài biết tất cả sự kiện khoa học và chính Ngài đã linh cảm các tiên tri chép Kinh Thánh. Vũ trụ và Kinh Thánh là hai tác phẩm của cùng một tác giả nên không thể nào có sự mâu thuẫn trong đó.
I. VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC.
Khoa học bắt đầu bằng việc nghiên cứu chuyển động của sự vật, trong đó bao hàm ý niệm không gian và thời gian. Vai trò của khoa học là giải thích những chuyển động dựa trên mối tương quan giữa các sự kiện, khoa học không tạo ra định luật mà chỉ khám phá các định luật chi phối sự vật. Khoa học được chia thành nhiều ngành: Vật lý học, hóa học, sinh vật học v.v… Khoa học và Kinh Thánh được giải thích đúng thì không hề có sự mâu thuẫn nhau. Nghiên cứu khoa học là việc làm chính đáng. Khoa học chứng minh Kinh Thánh nói đúng và giúp chúng ta hiểu được Kinh Thánh dễ dàng hơn.
Đức Chúa Trời phán:”Hãy… làm cho đầy dẫy đất, hãy làm cho đất phục tùng…” (Sáng 1:28). Mạng lịnh nầy khích lệ loài người học hỏi thêm luôn, nếu không khám phá được bí mật của thiên nhiên và không thấu triệt được các định luật đang vận hành trong đó, loài người sẽ không bắt phục được mọi vật chung quanh mình. Chúa đặt mọi vật dưới quyền sử dụng của loài người.
Kinh Thánh là sự khải thị của Đức Chúa Trời về công việc cứu rỗi nhân loại chứ không phải là một quyển sách khoa học, tuy nhiên Kinh Thánh không hề phản khoa học nên Kinh Thánh có giá trị cho mọi thời đại. Không phải tất cả các khoa học gia trên thế giới là tín đồ, song cũng không phải hết thảy đều vô tín. Giữa vòng họ có những tín đồ rất tốt, chính họ đã làm chứng rằng sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật đã ủng hộ Kinh Thánh.
Chúng ta có thể khẳng định rằng khoa học và Kinh Thánh không bao giờ mâu thuẫn nhau. Thiên nhiên là đối tượng của khảo sát khoa học, còn Kinh Thánh là đối tượng khảo sát của thần học, đều là tác phẩm của cùng một tác giả, nên không thể có sự chống đối nhau giữa nhà khoa học và nhà thần học chân chính.
II. NHỮNG NGUY HIỂM CỦA KHOA HỌC.
1. Con người không chế ngự được điều mình đã học biết.
“Học biết sinh kiêu căng” (ICôr 8:1). Kiêu căng đưa đến lợi dụng và lạm dụng. “Khoa học mà không lương tâm chỉ phá hoại linh hồn”. Trừ phi con người đạt được tiến bộ về phương diện đạo đức ngang hàng với tiến bộ về phương diện kiến thức khoa học thì mới tránh được nguy hiểm. Thế giới luôn luôn bất an và có thể gặp đại họa bất cứ ngày nào, vì nhân loại đã tiến bộ vượt mức về phương diện kiến thức khoa học mà lại thoái hóa về phương diện đạo đức.
Việc khám phá ra nguyên tử năng và kiến thức về phương pháp chế ngự và sử dụng nó đã có nhiều triển vọng làm ích lợi cho nhân loại. Song các khoa học gia cũng có thể sử dụng nó để tiêu diệt nhân loại. Ngày nay, một nỗi kinh hoàng đang đè nặng trên nhân loại ấy là có ngày nguyên tử năng sẽ được sử dụng để tận diệt nhân loại và thế giới. Mới đây, một nhà bác học lỗi lạc đang nắm trong tay nguồn năng lực ghê rợn ấy, nói với bạn mình rằng: “Lắm khi nghĩ đến tương lai, tôi cảm thấy muốn bỏ hết công việc của mình để chạy ra các đường phố bảo mọi người ở khắp mọi nơi hãy ăn năn, hãy chuẩn bị vì ngày tận thế đã gần lắm rồi”.
2. Con người quá tôn sùng khoa học.
Một số người quá sùng bái khoa học nên đã xem khoa học có đủ khả năng giải quyết tất cả mọi nan đề cho thế giới loài người, trong khi chỉ Đấng Tạo Hóa mới làm được. Việc này dẫn đến chỗ con người tôn thờ chính mình thay vì thờ phượng Đấng Tạo Hóa. Khoa học không tạo ra được gì, khoa học không có khả năng sáng tạo và tái tạo, song chỉ có khả năng phát minh và kiểm chứng. Khoa học tạo ra được nhiều điều hữu ích cho con người nhưng phải nhờ Đức Chúa Trời, nghĩa là họ chỉ khám phá và sử dụng những gì Đấng Tạo Hóa đã làm sẵn trong vũ trụ. Ngoài ra khoa học chỉ mới khám phá được một phần rất nhỏ của vũ trụ bao la gần như vô tận nầy. Ngày nay các khoa học gia vẫn còn nghiên cứu, thí nghiệm để tìm ra định luật của các sự vật và sau nhiều lần thí nghiệm, họ còn phải sửa đổi vì đã sai lầm. Chỉ có Lời của Đức Chúa Trời là “được vững lập đời đời trên trời” (Thi thiên 119:89). Chúa Jêsus đã phán:”Trời đất sẽ qua đi, song lời Ta chẳng bao giờ qua đâu” (Mác 13:31). Lời Chúa đáng cho chúng ta đem lòng tin cậy trọn vẹn mà nhận lấy.
Năm 1968, khi các phi hành gia bay trong không gian, họ đã đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Câu Kinh Thánh mà họ đọc để kỷ niệm là “Ban đầu Đức Chúa Trời…” (Sáng 1:1). Năm 1969, có 13 khoa học gia đã xin thôi việc tại trung tâm không gian Hoa kỳ để dùng trọn thì giờ phục vụ Chúa.
Cơ Đốc nhân phải chú ý đến mỗi phát kiến của khoa học, song phải coi chừng các nguy cơ của nó. Khoa học tôn vinh Đức Chúa Trời chứ không thay thế Đức Chúa Trời.
III. GIÁ TRỊ CỦA KHOA HỌC.
Khoa học chỉ cung ứng cho con người kiến thức về thế giới chung quanh và tiện nghi vật chất chứ không thể giải quyết những vấn đề về phương diện tâm linh. Đức Chúa Trời đã dựng nên vũ trụ bao la để chúng ta được hưởng, đồng thời để chứng minh sự hiện hữu và quyền năng vô cùng của Ngài (Thi thiên 19:1). Qua lời Ngài, chúng ta đã biết số phận tương lai dành cho vũ trụ vật chất (II Phi-e-rơ 3:10-12), do vậy các nghiên cứu khoa học chỉ có giá trị giới hạn trong hiện tại trong khi việc nghiên cứu Lời Đức Chúa Trời có giá trị trong hiện tại lẫn trong cõi đời đời.
Đức Chúa Trời muốn chúng ta quan tâm, không phải những gì thoáng qua, mà những gì còn mãi mãi, không phải những gì tạm thời, mà những gì vĩnh viễn (IGiăng 2:17; IICôr 4:18). Kinh Thánh nói rất ít về công cuộc sáng tạo, mà nói rất nhiều về công cuộc cứu rỗi. Vì mối quan tâm của Đức Chúa Trời là cứu chúng ta khỏi tội, đem chúng ta vào trong mối tương giao mật thiết với Ngài. Khám phá bí mật của vũ trụ là công việc lớn lao và thú vị lắm, song khám phá tình thương của Đức Chúa Trời trong Con Độc Sanh của Ngài còn là việc lớn lao và thú vị hơn biết bao, phước hạnh biết bao!
Tác giả Thi thiên 19 đã ca ngợi Đức Chúa Trời qua công việc vĩ đại của Ngài trong cõi thiên nhiên (c.1-6), song ông ca ngợi Chúa nhiều hơn qua Lời Ngài (c.7-14). Ông muốn nói rằng cõi thiên nhiên và Lời của Đức Chúa Trời, cả hai đều mặc khải (giãi bày) về chính Ngài. Cõi thiên nhiên mặc khải quyền năng của Chúa, Kinh Thánh mặc khải tình thương cứu rỗi của Ngài. Chúng ta phải nghiên cứu cả hai để tôn vinh Cha chúng ta. Đức tin của chúng ta không thể dựa vào những khẳng định hay thay đổi khoa học mà phải dựa vào Lời bất biến của Chúa chúng ta là Kinh Thánh.
CÂU HỎI
1. Tại sao chúng ta biết rằng Kinh Thánh và khoa học không mâu thuẫn nhau?
2. Khoa học đã giúp gì cho chúng ta đối với Kinh Thánh?
3. Làm sao chúng ta biết được rằng không phải các khoa học gia đều vô tín?
4. Sự khám phá vũ trụ đã giúp gì cho các khoa học gia?
5. Những nguy hiểm khoa học là gì?
6. Làm sao chúng ta dám nói rằng Kinh Thánh là đáng tin hơn các giả thuyết của khoa học?
7. Tại sao giá trị thuộc linh là cao hơn giá trị khoa học vật chất?
8. Đức tin của chúng ta nên dựa vào đâu?
BÀI 24. CHÚA JÊSUS LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI
KINH THÁNH: Cô-lô-se 1:9-23.
CÂU GỐC: “Chiên Con đã chịu giết đáng được quyền phép, giàu có, khôn ngoan, năng lực, tôn quý, vinh hiển và ngợi khen” (Khải huyền 5:12).
MỤC ĐÍCH: Nêu lên và nhấn mạnh tính cách độc nhất vô nhị của Chúa Jêsus.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Đấng xứng đáng duy nhất |
(Khải huyền 5:1-14). |
|
TH: |
Tính cách kỳ diệu của cá tính Chúa Jêsus |
(Giăng 8:42-47). |
|
TB: |
Tính cách kỳ diệu của quyền năng Chúa |
(Mác 1:1-12). |
|
TT: |
Tính kỳ diệu về sự thông biết của Chúa |
(Giăng 2:23-3:3). |
|
TN: |
Tính cách kỳ diệu của nhân cách Chúa |
(Mác 1:21-28). |
|
TS. |
Tính cách kỳ diệu của thần tính Chúa |
(Lu-ca 9:28-36). |
|
TB: |
Tính cách kỳ diệu của tình thương Chúa |
(Rô-ma 5:6-11). |
Chúa Jêsus đã giáng sinh qua nữ đồng trinh Ma-ri tại thành Bết-lê-hem, nước Dothái, lớn lên trong một gia đình thợ mộc tại làng Na-xa-rét, song Ngài có tính cách kỳ diệu, độc nhất vô nhị, nghĩa là chỉ một mình Ngài, chứ không có một ai khác giống như Ngài vì Ngài là Đức Chúa Trời.
I. BẰNG CHỨNG CHÚA JÊSUS LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI.
1. Chúa Jêsus tự xưng là Con Đức Chúa Trời.
Dân Y-sơ-ra-ên là con cái của Đức Chúa Trời (Xuất 4:22-23; Phục 14:1; Ê-sai 43:6) cũng như chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời (IGiăng 3:1-2; Ga-la-ti 4:6; Rô-ma 8:14-17). Song Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời thì lại có nghĩa khác; Đức Chúa Trời là Cha chúng ta, khác với Đức Chúa Trời là Cha của Đức Chúa Jêsus. Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời khác hơn chúng ta là con Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là Cha chúng ta theo tính cách phổ thông, còn Đức Chúa Trời là Cha của Đức Chúa Jêsus theo tính cách đặc biệt. Chúa Jêsus đã dạy môn đồ cầu nguyện: “Lạy Cha chúng tôi ở trên trời”, song chính Ngài không bao giờ nói: “Cha chúng tôi” (Ma-thi-ơ 11:25-27, Mác 14:36; Giăng 11:41-42).
Sau khi sống lại, Ngài nói với Ma-ri một cách rõ ràng: “Chớ rờ đến Ta, vì Ta chưa lên cùng Cha! Nhưng hãy đi đến cùng anh em Ta, nói rằng Ta lên cùng Cha Ta và Cha các ngươi, cùng Đức Chúa Trời Ta và Đức Chúa Trời các ngươi” (Giăng 20:17).
Khi chúng ta nói về cha con thì có nghĩa cha lớn hơn con một bậc, cha sinh ra con. Song khi Đức Chúa Jêsus xưng Ngài là Con Đức Chúa Trời thì có nghĩa là Ngài bằng Đức Chúa Trời và Ngài là Đức Chúa Trời (Giăng 5:18, 10:33).
a. Ai biết Ngài là biết Đức Chúa Trời (Giăng 14:7).
b. Ai thấy Ngài là thấy Đức Chúa Trời (Giăng 14:9).
c. Ai tin Ngài là tin Đức Chúa Trời (Giăng 12:44).
d. Ai tiếp Ngài là tiếp Đức Chúa Trời (Mác 9:37).
e. Ai tôn kính Ngài là tôn kính Đức Chúa Trời (Giăng 5:23).
f. Ai ghét Ngài là ghét Đức Chúa Trời (Giăng 15:23).
2. Đức Chúa Trời xưng Đức Chúa Jêsus là Con của Ngài (Ma-thi-ơ 3:17; 17:5).
Con Đức Chúa Trời có nghĩa là bình đẳng với Đức Chúa Trời, là chính mình Đức Chúa Trời. “Nhưng nói về Con thì Ngài lại phán rằng: Hỡi Đức Chúa Trời, ngôi Chúa còn mãi đời nọ qua đời kia, quyền bính của Đức Chúa Trời là quyền bính ngay thẳng” (Hê-bơ-rơ 1:8).
3. Các nhân chứng xưng Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời.
Thánh Giăng, Phi-e-rơ, bà Ma-thê, Thô-ma, các môn đồ, thầy đội La-mã, Phao-lô, ma quỉ đều xưng Ngài là Đức Chúa Trời (Giăng 1:1,14, 6:69, 11:27, 20:28, Tít 2:13, Ma-thi-ơ 14:33, 27:54, 2:29).
II. CÁC THUỘC TÍNH THIÊN THƯỢNG CỦA CHÚA JÊSUS CHỨNG MINH NGÀI LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI.
Chỉ có Đức Chúa Trời là tự hữu, hằng hữu, vô sở bất năng, vô sở bất tri, vô sở bất tại và Chúa Jêsus cũng có những thuộc tính đó.
1. Chúa Jêsus Tự Hữu Hằng Hữu (Giăng 10:23; 17:2).
Chỉ có Đấng Tự Hữu Hằng Hữu mới có thể ban sự sống đời đời cho kẻ theo Ngài và gìn giữ họ suốt mọi thời đại. Chỉ có Đức Chúa Trời mới tự hữu hằng hữu (Xuất Ê-díp-tô ký 3:14).
2. Chúa Jêsus Vô Sở Bất Năng (Toàn năng).
a. Ngài có quyền chữa tất cả bệnh tật chỉ bằng lời phán của Ngài (Ma-thi-ơ 4:23-24; 8:16; Mác 1:32-34).
b. Ngài có quyền tha tội cho mọi người (Mác 2:10-11).
c. Ngài có quyền kêu kẻ chết sống lại (Giăng 11:43).
d. Ngài có quyền trên sóng gió và đi bộ trên mặt biển (Ma-thi-ơ 8:26-27; 14:26-32).
e. Ngài có quyền phó mình vào sự chết và sống lại (Ma-thi-ơ 16:21; 17:22-23).
f. Chỉ một mình Đức Chúa Trời mới làm được những việc như thế, vì Ngài là Đấng toàn năng (Sáng 17:1).
3. Chúa Jêsus Vô Sở Bất Tri (Toàn tri).
a. Ngài biết những điều người ta đang suy nghĩ trong lòng (Mác 2:8; Lu-ca 5:22).
b. Ngài biết lòng của mỗi người (Giăng 2:24-25).
c. Ngài biết trước hành động của mỗi người (Giăng 6:64).
d. Ngài biết trước sự việc sẽ xảy ra (Lu-ca 22:10-12).
e. Ngài biết trước khi người ta còn ở đàng xa (Giăng 1:48).
f. Ngài biết đời tư của người ta (Giăng 4:16-29).
g. Ngài biết trước những sự việc sẽ xảy ra cho Ngài (Mác 8:31; 9:31).
h. Chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng vô sở bất tri (Thi thiên 139:1-4).
4. Chúa Jêsus Vô Sở Bất Tại (Toàn tại).
a. Cùng một lúc Ngài ở với mọi nhóm tín đồ, vô luận nơi nào họ nhân danh Ngài hội họp lại (Ma-thi-ơ 18:20).
b. Cùng một lúc Ngài ở với mọi tín đồ khắp mọi nơi, suốt mọi thời đại (Ma-thi-ơ 28:19-20).
c. Cùng một lúc Ngài ngự trị trong lòng của hàng triệu triệu tín đồ (Giăng 15:4).
d. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể như vậy, tức là vô sở bất tại (Thi thiên 139:7-10).
III. CÁC THUỘC TÍNH ĐẠO ĐỨC CỦA CHÚA JÊSUS CHỨNG MINH NGÀI LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI.
Chỉ một mình Đức Chúa Trời vô tội, tức là thánh khiết, chỉ một mình Ngài là thương yêu trọn vẹn. Chúa Jêsus có các thuộc tính đạo đức đó.
1. Chúa Jêsus vô tội.
Tất cả những người đã từng biết Chúa Jêsus, từ bạn hữu cho đến kẻ thù, đều đồng thinh làm chứng Ngài vô tội: Phi-e-rơ (Công vụ 3:14; I Phi-e-rơ 2:22), Giăng (IGiăng 3:5), Phao-lô (IICôr 5:21), một nhóm sứ đồ và tín đồ, A-na-nia (Công vụ 4:27, 22:14), vợ Phi-lát (Ma-thi-ơ 27:19), tổng đốc Phi-lát (Giăng 18:39; 19:4,6), Giu-đa Íchcariốt (Ma-thi-ơ 27:3-4), anh ăn cướp (Lu-ca 23:41), ma quỉ (Mác 11:23-24), chính mình Chúa Jêsus (Giăng 8:46). Ngài tha tội cho người ta và xin Đức Chúa Trời tha tội cho họ, song Ngài không bao giờ xin Đức Chúa Trời tha tội cho Ngài.
2. Chúa Jêsus thương yêu trọn vẹn.
Tình thương của Ngài không ích kỷ, được tỏ ra như sau:
a. Tình thương của Chúa Jêsus đối với Đức Chúa Cha là vâng phục trọn vẹn cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự (Lu-ca 22:42; Giăng 4:34; Phi-líp 2:8).
b. Tình thương của Chúa Jêsus đối với loài người là Ngài lo nghĩ đến nhu cầu của họ (Ma-thi-ơ 15:32), cảm thông nỗi đau buồn của họ (Giăng 11:35-36), khóc lóc về sự cứng lòng của họ (Lu-ca 19:41-42), tha thứ cho ai ăn năn (Lu-ca 7:48), chữa lành cho mọi người tật bệnh (Ma-thi-ơ 8:17; 14:14), an ủi kẻ ngã lòng (Giăng 14:1), chịu chết đền tội cho họ (Ma-thi-ơ 20:28), Ngài thương yêu kẻ thuộc về Ngài cho đến cuối cùng (Giăng 13:1).
(Giải thích bản sơ đồ về Đức Chúa Trời Ba Ngôi; Đức Chúa Cha không phải là Đức Chúa Con, Đức Chúa Con không phải là Đức Thánh Linh, Đức Thánh Linh không phải là Đức Chúa Cha. Song Đức Chúa Cha là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Con là Đức Chúa Trời và Đức Thánh Linh là Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 3:16-17; 28:19; IICôr 13:13).
Biết Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời, chúng ta phải tin nhận Ngài làm Chúa và Cứu Chúa của mỗi người một cách riêng tư. Không phải ai tin Ngài là tốt mà ai không tin Ngài cũng tốt, song ai tin Ngài thì được cứu rỗi, ai không tin Ngài thì bị hư mất (Mác 16:16; Giăng 3:16,18,36).
Tin Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời, chúng ta phải giải quyết một lần đủ cả các nan đề về phép lạ, lời tiên tri, sự chết đền tội và sự sống lại của Chúa Jêsus, nói chung là uy quyền tuyệt đối của Kinh Thánh. Tin nhận Chúa Jêsus là Chúa và Cứu Chúa của đời mình, Ngài sẽ giải phóng chúng ta khỏi quyền lực của ma quỉ, tội lỗi, thế gian, bản ngã, để chúng ta sống cuộc đời đắc thắng, thánh khiết. Tin nhận như vậy cũng có nghĩa là tận hiến đời mình cho Chúa để Ngài hoàn toàn chiếm hữu và sử dụng.
CÂU HỎI
1. Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời có nghĩa như thế nào?
2. Dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa và chúng ta hôm nay là con Đức Chúa Trời khác hơn Chúa Jêsus là con Đức Chúa Trời thế nào?
3. Đức Chúa Trời gọi Chúa Jêsus là Con của Ngài có nghĩa gì?
4. Xin kể ra các nhân chứng đã xưng nhận Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời.
5. Chúa Jêsus có những thuộc tính thiên thượng nào chứng minh Ngài là Đức Chúa Trời? Xin hãy chứng minh Ngài có những thuộc tính đó.
6. Chúa Jêsus có những thuộc tính đạo đức nào? Xin hãy chứng minh Ngài có những thuộc tính đó.
7. Tin nhận Jêsus làm Chúa và Cứu Chúa của riêng mình thì được phước gì?
BÀI 25. TẦM QUAN TRỌNG VỀ SỰ SỐNG LẠI CỦA CHÚA JÊSUS
KINH THÁNH: ICôr 15:12-28.
CÂU GỐC: “Vả, nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích” (ICôr 15:17).
MỤC ĐÍCH: Giúp các học viên thấu triệt ý nghĩa và thực sự về Chúa Jêsus đã sống lại.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Là bằng chứng hiển nhiên của Cơ Đốc giáo |
(Công 5:27-32). |
|
TH: |
Là bằng chứng cho thân vị Chúa Jêsus |
(Công vụ 2:22-36). |
|
TB: |
Là bằng chứng sự cứu rỗi đã hoàn tất |
(ICôr 15:12-28). |
|
TT: |
Là bằng chứng sự hiện diện của Chúa |
(Mat 28:16-20). |
|
TN: |
Sự sống lại bảo đảm cho quyền năng hiện tại |
(Rô 6:1-11). |
|
TS: |
Sự sống lại bảo đảm tương lai chúng ta |
(I Cô 15:51-58). |
|
TB: |
Sự sống lại là nền tảng đức tin chúng ta |
(Rô-ma 4:16-25). |
Không có phép lạ nào được chép trong Kinh Thánh mà có ý nghĩa và quyền năng lớn lao, mạnh mẽ bằng phép lạ Chúa Jêsus sống lại. Đức tin của tín đồ ở khắp thế gian đều đặt trên sự kiện lịch sử đó. Sự sống lại của Chúa Jêsus là niềm tin nòng cốt của Cơ Đốc giáo. Mọi vấn đề khác đều xoay quanh bản lề đó.
Trước đây mấy năm có hai người Anh vô tín đã nhất định sẽ tìm cách phá hủy niềm tin Cơ Đốc giáo, tức là phá hủy niềm tin Chúa Jêsus sống lại. Hai người phân công như sau: Một người nghiên cứu bốn sách Tin Lành, một người nghiên cứu đời sống Phao-lô, vì cả hai đều làm chứng sự sống lại của Chúa Jêsus. Họ mong rằng sau thời gian nghiên cứu, họ sẽ viết một quyển sách chứng minh Chúa Jêsus đã không sống lại. Họ bắt tay vào việc, rồi đang khi nghiên cứu, cả hai đều ăn năn tin nhận Chúa Jêsus, vì thấy rõ ràng sự sống lại của Ngài là thật.
I. SỰ KIỆN CHÚA JÊSUS SỐNG LẠI.
Chúa Jêsus đã sống lại là một sự kiện, tức là một thực sự đã xảy ra, song xưa nay vẫn có người ngoan cố, tìm cách bác bỏ, vì nếu nhận rằng Chúa Jêsus sống lại, tức nhận Ngài là Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa của nhân loại, mà ai nấy phải ăn năn, phủ phục để tôn thờ Ngài. Vì thế, người ta đã nỗ lực nghiên cứu và nêu lên các luận cứ như sau.
1. Chúa Jêsus giả bộ chết hoặc chỉ bất tỉnh mà thôi.
Xin đáp: “Khi quân lính đến nơi Đức Chúa Jêsus, thấy Ngài đã chết rồi, nhưng có một tên lính lấy giáo đâm ngang sườn Ngài, tức thì máu và nước chảy ra” (Giăng 19:33-34).
Quân lính rất cẩn thận, dầu biết Ngài đã chết, họ muốn làm cho Ngài thật chết. Hơn nữa, nếu Ngài hồi tỉnh thì làm sao đủ sức tung hết các vải liệm rồi lăn tảng đá lấp cửa mộ để đi ra mà trước đó hai ngày, Ngài đã không vác nổi thập tự giá từ Giê-ru-sa-lem đến Gô-gô-tha? Vả lại, tảng đá đó ba phụ nữ còn không di chuyển nổi. Vậy luận cứ này không đứng vững được.
2. Các môn đồ của Chúa Jêsus lấy trộm xác ngài.
Xin đáp: Khi Chúa Jêsus bị bắt, hầu hết các môn đồ Ngài đều chạy trốn (Ma-thi-ơ 26:56), không hề có ai nghĩ đến việc lấy trộm xác Ngài. Vả lại, cũng không thể nào lấy trộm xác Ngài được, vì quân lính canh phòng rất cẩn mật ngôi mộ của Ngài (Ma-thi-ơ 27:62-67). Hơn nữa, nếu các môn đồ lấy trộm xác Chúa thì làm sao họ tháo vải liệm ra để một chỗ và khăn trùm đầu Ngài lại để một chỗ khác (Giăng 20:6-7). Vậy luận cứ này cũng không đứng vững được.
3. Các môn đồ bị ảo giác chứ không phải thấy Chúa sống lại.
Xin đáp: Khi nào có người quá ước ao một điều gì mới thành ra ảo giác. Đằng này, các môn đồ đã không hề ước ao Chúa sống lại thì làm gì có ảo giác. Vả lại, nếu là ảo giác thì chỉ là tình trạng của một vài người chứ không thể là của nhiều người được. Còn việc Chúa Jêsus sống lại và hiện ra với các môn đồ thì không phải chỉ một lần mà mười ba lần, bằng nhiều cách và tại nhiều chỗ khác nhau trong bốn mươi ngày (Công vụ 1:3). Ngài đã hiện ra cho một người, hai người, mười người, mười một người, năm trăm người. Trong vòng họ, có người đến ôm chân Ngài để thờ lạy, có người trò chuyện với Ngài lúc đi đường. Chúa đã hiện ra với họ trong phòng cao, đưa tay cho họ xem, ăn bánh trước mặt họ. Ngài đã hiện ra với họ trên mặt biển, chuyện trò thân mật cùng họ, cuối cùng họ không còn nghi ngờ chi hết về sự sống lại của Ngài.
Vậy cả ba luận cứ trên đây đều không đứng vững được. Chúa Jêsus thật đã chết và cũng thật đã sống lại và hiện ra với các môn đồ. Cho nên:
a. Năm mươi ngày sau khi Ngài bị đóng đinh, nhằm Lễ Ngũ Tuần, trước mắt một đám đông, trong đó có đủ mặt những người đã trực tiếp hoặc gián tiếp giết Ngài, hoặc chứng kiến tấn thảm kịch đó, sứ đồ Phi-e-rơ đã dỏng dạc tuyên bố: “Vậy, cả nhà Y-sơ-ra-ên khá biết chắc rằng Đức Chúa Trời đã tôn Jêsus này, mà các ông đã đóng đinh trên thập tự giá, làm Chúa và Đấng Christ” (Công vụ 2:36).
Không hề có ai đứng lên phản đối Phi-e-rơ. Trái lại, họ kêu lên: “Hỡi anh em, chúng tôi phải làm chi?”. Kết quả có 3.000 người ăn năn tội và gia nhập Hội Thánh.
b. Khi Chúa Jêsus bị đóng đinh, các môn đồ kinh tâm tán đởm, bỏ Ngài chạy trốn, rồi cũng sau đó năm mươi ngày, họ chường mặt ra với mọi người, làm chứng về sự sống lại của Ngài. Dầu phải bị ngăm dọa, cấm đoán, đánh đòn, bỏ tù, họ vẫn thản nhiên chấp nhận. Không thể nào giải thích sự thay đổi lạ lùng và đột ngột đó, ngoài ra sự kiện họ gặp được Chúa Jêsus sống lại!
c. Trong ngày Lễ Ngũ Tuần, số môn đồ nhóm lại chỉ có 120 người. Thế rồi số ấy cứ được thêm vào: Ba ngàn, năm ngàn, đông lắm, nhiều lắm, thêm lên, tràn ra, tấn tới, cũng có rất nhiều thầy tế lễ và mấy vạn người Giu-đa tin theo nữa (Công vụ 6:7; 21:20). Kết quả đó không do sức mạnh của con người mà phải do sức sống đắc thắng của Chúa Jêsus khi Ngài từ phần mộ bước ra một cách khải hoàn. “CHÚA THẬT ĐÃ SỐNG LẠI” (Lu-ca 24:34).
II. SỰ SỐNG LẠI CỦA CHÚA JÊSUS CHỨNG MINH CHO BỐN GIÁO LÝ QUAN TRỌNG.
1. Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời.
Nhiều lần Chúa Jêsus tự xưng là Đức Chúa Trời, song người Dothái không tin, cho rằng Ngài phạm tội lộng ngôn thì không thể nào sống lại. Nhưng Ngài đã sống lại chứng minh Ngài không lộng ngôn. Ngài là Đức Chúa Trời. Phao-lô viết: “Bởi sự sống lại của Ngài, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép” (Rô-ma 1:4).
Dân Dothái bị kết án là đã đóng đinh Đấng Cứu Thế, đã giết Chúa của sự sống (Công vụ 2:36; 3:15). Còn tội nào lớn hơn tội đó? Ai không tin Chúa Jêsus là phạm tội đó như dân Dothái vậy!
2. Sự chết của Chúa Jêsus là một của lễ chuộc tội.
Sự chết của Chúa Jêsus là để làm tế lễ chuộc tội chúng ta (Giăng 1:29), song nếu Ngài không sống lại thì tế lễ đó không có giá trị. Làm sao chúng ta biết Đức Chúa Trời đã nhận tế lễ chuộc tội chúng ta mà Chúa Jêsus đã dâng lên? “Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại…” (Công vụ 2:24). Sự sống lại của Chúa Jêsus là một biên nhận rằng tội lỗi của chúng ta đã được chuộc, nợ nần của chúng ta đã thanh toán. Chúng ta đã được cứu vì sự chết của Chúa Jêsus mà cũng vì sự sống lại của Ngài (Rô-ma 5:10).
3. Chúa Jêsus đã sống lại để ở với chúng ta luôn luôn.
Phần cuối cùng trong bản tuyên ngôn của Chúa Jêsus sau khi Ngài sống lại là: “Và nầy, Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế” (Ma-thi-ơ 28:20). Nếu Ngài cứ nằm trong phần mộ thì làm sao được ở với mỗi tín đồ khắp thế giới, qua mỗi thời đại? Cám ơn Chúa, Ngài đã sống lại. Được Chúa ở cùng tức là được Ngài ở bên chúng ta, thuộc về chúng ta, bênh vực chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta? (Rô-ma 8:31).
4. Chúa Jêsus sống lại là hy vọng của chúng ta.
Vô số lời hứa quý báu của Chúa được chép trong bốn sách Tin Lành. Nếu Ngài không sống lại thì làm sao thực hiện được? Song Ngài đã sống lại và sống đời đời để thực hiện lời hứa của Ngài. Chúa phán: “Trời đất sẽ qua đi, song lời Ta không bao giờ qua đâu” (Mác 13:31). Đặt niềm tin và hy vọng vào Đấng Hằng Sống, chúng ta sẽ chẳng bao giờ sợ hãi hổ thẹn (Khải huyền 1:17-18).
Thập tự giá không phải là điểm tận cùng của đức tin, bèn là ngôi vinh hiển (Công vụ 2:32-33; 5:30-31; 7:55; Rô-ma 8:34; Hê-bơ-rơ 12:2).
CÂU HỎI
1. Niềm tin nòng cốt của Cơ Đốc giáo là gì?
2. Tại sao chúng ta biết chắc Chúa Jêsus không phải chỉ bất tỉnh rồi sống lại?
3. Tại sao chúng ta biết Chúa sống lại chứ không phải các môn đồ lấy trộm xác Ngài?
4. Tại sao chúng ta biết các môn đồ gặp Chúa sống lại và hiện ra với họ chứ không phải họ chỉ thấy do ảo giác?
5. Còn bằng chứng nào về sự sống lại của Chúa là thật?
6. Sự sống lại của Chúa Jêsus tỏ ra Ngài là ai?
7. Sự sống lại của Chúa Jêsus làm chứng thế nào về sự cứu chuộc của chúng ta?
8. Làm sao chúng ta biết chắc rằng Ngài đang ở với mỗi chúng ta luôn luôn?
9. Đức tin của chúng ta chỉ hướng về thập tự giá hay nơi nào khác?
BÀI 26. KINH THÁNH VỚI CHÚNG TA
KINH THÁNH: Gia-cơ 1:19-25.
CÂU GỐC: “Hãy làm theo Lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình” (Gia-cơ 1:22).
MỤC ĐÍCH: Chứng tỏ Kinh Thánh phải được ứng dụng một cách thực tiễn và riêng tư như thế nào cho có giá trị.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Bốn cách đáp ứng Lời của Đức Chúa Trời |
(Mác 4:10-20). |
|
TH: |
“Sữa” cho các CĐN đang tăng trưởng |
(I Phi-e-rơ 1:21-2:3). |
|
TB: |
Niềm vui giữa cơn đau khổ |
(Giê-rê-mi 15:15-18). |
|
TT: |
Phương tiện ân điển trong sự tăng trưởng |
(Công 20:24-32). |
|
TN: |
Phương pháp đẹp lòng Đức Chúa Trời |
(II Ti-mô-thê 2:14-15). |
|
TS: |
Phương pháp duyệt xét lời dạy của giáo sư |
(Công 17:10-11). |
|
TB: |
Nên giữ Lời Chúa ở đâu? |
(Châm ngôn 7:1-5). |
Trong các bài học qua, chúng ta đã thu góp rất nhiều bằng chứng về Kinh Thánh. Bây giờ đã đến lúc chúng ta phải ứng dụng Kinh Thánh như thế nào. Làm sao những điều chúng ta học Kinh Thánh được ích lợi. Có ba điều chúng ta phải suy nghĩ sau đây.
I. CHÚNG TA NGHIÊN CỨU KINH THÁNH.
Nghiên cứu Kinh Thánh đem lại cho chúng ta ích lợi gì?
1. Kinh Thánh là sự mặc khải của Đức Chúa Trời.
Nhờ nghiên cứu Kinh Thánh, chúng ta biết Đức Chúa Trời là ai, Ngài đã và đang làm gì, Ngài làm cách nào. Chúng ta cũng biết về thân vị, thuộc tính của Ngài là vinh hiển, quyền năng, nhân từ, thành tín, thánh khiết. Chúa là Đấng đáng cho chúng ta tôn thờ, phục vụ, tin cậy, vâng lời trọn vẹn. Nhiờ Kinh Thánh, chúng ta còn biết kế hoạch và đường lối của Ngài đối với loài người trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
2. Kinh Thánh ban sự sống.
Kinh Thánh tức là Lời Chúa có một sức sống phong phú và mãnh liệt. Kinh Thánh ban sự sống cho chúng ta, đồng thời hướng dẫn chúng ta cách sống. Kinh Thánh như sông nước sự sống, cứ tuôn tràn không dứt. Kinh Thánh như đồng cỏ xanh tươi, cứ sinh sôi nẩy nở không ngừng, nên bầy chiên của Chúa cứ hưởng thụ mãi, mà không bao giờ hết, không bao giờ chán.
3. Kinh Thánh có giá trị lớn về mặt văn chương.
Nhờ nghiên cứu Kinh Thánh, kiến thức chúng ta được mở rộng, nghĩa là chúng ta thấy và biết nhiều hơn và xa hơn. Kinh Thánh làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan, làm cho lòng vui mừng và mắt sáng sủa (Thi thiên 19:7-8). Đọc Kinh Thánh chúng ta được biết những việc cổ kim và biết đúng để “suy cổ nghiệm kim”, là ăn ở cách phải đạo. Qua Kinh Thánh, chúng ta được đọc tiểu sử của một số vĩ nhân lỗi lạc nhất thế giới. Không ai là người am hiểu Kinh Thánh lại có thể bị gọi là thất học hay dốt nát (Thi thiên 119:99,130).
4. Kinh Thánh là thực phẩm của linh hồn.
Như sữa cần cho con trẻ, Kinh Thánh cũng cần cho tín đồ, để nhờ đó họ được lớn lên. Người nào lấy làm vui vẻ mà suy gẫm Lời Chúa ngày đêm và cẩn thận làm theo thì giống như cây trồng gần bờ suối, đâm rễ theo dòng nước chảy, gặp khi trời nắng chẳng hề sợ hãi mà lá cứ xanh tươi; gặp năm hạn hán cũng chẳng lo gì mà cứ ra trái không dứt. Mọi sự người làm đều sẽ thịnh vượng (Thi thiên 1:2-3; Giê-rê-mi 17:7-8).
5. Kinh Thánh là ánh sáng và kim chỉ nam.
Kinh Thánh soi đường dẫn lối một cách đúng đắn, trăm lần như một. Kinh Thánh là kim chỉ nam đáng tin cậy hơn bất luận một sách nào. Nhờ Kinh Thánh chúng ta biết đâu là con đường phải đi, việc chi phải làm, lời nào phải nói, điều gì phải suy nghĩ. Khi gặp một nan đề, đứng trước một ngã ba đường, không biết phải qua bên tả hay bên hữu, chúng ta sẽ tìm thấy câu giải đáp, lời chỉ dẫn trong Kinh Thánh (Thi thiên 119:105; 32:8-9; Ê-sai 32:21).
II. CÁC BÍ QUYẾT GIÚP CHÚNG TA NGHIÊN CỨU KINH THÁNH.
Phương pháp bí mật hay là chìa khóa để mở các kho tàng của Kinh Thánh là:
1. Sốt sắng học hỏi.
Không nên đợi đến lúc gặp một nan đề, đứng trước một ngã ba, chúng ta mới mở Kinh Thánh ra đọc. Song chúng ta phải sốt sắng đọc Kinh Thánh một cách thường xuyên, liên tục, hầu bất luận lúc nào có cần, chúng ta đem Lời Chúa áp dụng ngay một cách kịp thời, thích hợp.
Để duy trì và phát triển sự sống, chúng ta phải ăn uống một cách đều đặn, chứ không phải từng hồi từng lúc, một cách bất thường. Chúng ta phải nói và làm như Giê-rê-mi: “Tôi vừa nghe những Lời Ngài thì đã ăn lấy rồi, Lời Ngài là sự vui mừng hớn hở của lòng tôi vậy” (Giê-rê-mi 15:16). Cũng như Đa-vít, chúng ta phải nói: “Tôi đã giấu Lời Chúa trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Chúa” (Thi thiên 119:11). Chữ “giấu” trong câu này có nghĩa là chất chứa, tích trữ như người ta thường làm với vàng bạc, lúa gạo. Chúng ta phải giàu có Lời Chúa.
Việc đọc Lời Chúa cách sốt sắng vô cùng quan trọng nên ma quỉ cố sức ngăn trở chúng ta làm việc ấy. Song, nếu bụng đói, thì chân đi tìm thức ăn, dầu gần hay xa cũng vậy. Nếu hồn đói, chúng ta cũng phải vượt qua mọi trở lực để đọc Lời Chúa là thức ăn ngon lành nhứt (Thi thiên 9:10; 119:103).
2. Sẵn sàng đáp ứng.
Đáp ứng Lời Chúa là chìa khóa thứ hai để mở các kho tàng của Kinh Thánh. Không phải chỉ khi nào chúng ta biết hết mọi điều Kinh Thánh chép rồi mới làm theo, song chúng ta cứ làm theo điều mình đã biết, thì Chúa sẽ cho chúng ta biết thêm các điều khác nữa. Ngài sẽ dẫn chúng ta đi từng bước một, ngày càng xa hơn, ngày càng sâu hơn. Trái lại, nếu chúng ta lấy nghe làm đủ thì sẽ không được ích lợi gì cả (Gia-cơ 1:22), chỉ giống như người dại cất nhà mình trên cát (Ma-thi-ơ 7:26).
Nếu lúc nào chúng ta cũng sẵn sàng đáp ứng như: “Xin hãy phán, kẻ tôi tớ Ngài đang nghe” (I Sa-mu-ên 3:10), “Có tôi đây, xin hãy sai tôi” (Ê-sai 6:8), “Lạy Chúa, tôi phải làm chi?” (Công vụ 22:10), thì chúng ta đã nắm được bí quyết, tức là chìa khóa các kho tàng của Kinh Thánh.
III. NHỮNG ĐIỀU NÊN TRÁNH KHI CHÚNG TA NGHIÊN CỨU KINH THÁNH.
Sau đây là những lời cảnh cáo nghiêm trọng.
1. Đừng kiêu ngạo về kiến thức Kinh Thánh của mình.
Người Y-sơ-ra-ên đã rất kiêu hãnh về kiến thức Kinh Thánh của họ. Họ thật có biết Kinh Thánh hơn nhiều người khác, song chỉ để khoe khoang chứ không đem lại cho họ ích lợi thực tiễn. Khi ba bác sĩ từ Đông phương đến Giê-ru-sa-lem hỏi: “Vua dân Giu-đa mới sinh tại đâu?” Các thầy tề lễ cả và các thầy thông giáo đều đuợc vời đến, họ trả lời ngay: “Tại Bết-lê-hem xứ Giu-đa, vì có lời tiên tri chép như vậy” (Ma-thi-ơ 2:4-5). Thế mà sau đó chẳng có môt người nào trong vòng họ đến Bết-lê-hem để tìm kiếm Chúa.
2. Đừng lấy nghe làm đủ mà quên đi.
Đừng thỏa lòng vì đã đọc hoặc đã nghe Kinh Thánh. Sau khi đã đọc hoặc nghe, hãy xem xét, suy gẫm và cẩn thận làm theo mọi điều Chúa dạy. Xem mặt mình trong gương để biết nó dơ thế nào, rồi rửa cho nó sạch liền, chứ không nên bỏ qua để rồi quên đi.
3. Đừng chỉ đọc hoặc nghe cho người khác.
Đành rằng chúng ta đọc hoặc nghe Kinh Thánh để chia xẻ lại cho bạn bè, song Lời đó trước nhứt phải đem đến phước hạnh cho chúng ta, trở thành sự sống của chúng ta, nhiên hậu sự chia xẻ lại cho bạn bè mới có giá trị. Đó là sự khác nhau giữa sự dạy dỗ của Chúa và sự dạy dỗ của các thầy thông giáo: “Chúng đều cảm động về sự dạy dỗ của Ngài, vì Ngài dạy như có quyền phép chứ chẳng phải như các thầy thông giáo đâu” (Mác 1:22). “Ai nấy đều …lấy làm lạ về các lời đầy ơn lành từ miệng Ngài ra” (Lu-ca 4:22).
CÂU HỎI
1. Qua Kinh Thánh chúng ta biết được Đức Chúa Trời là Đấng thế nào?
2. Kinh Thánh có sự sống giống như gì?
3. Tại sao chúng ta nói Kinh Thánh có giá trị lớn về mặt văn chương?
4. Kinh Thánh là gì đối với linh hồn?
5. Tại sao chúng ta gọi Kinh Thánh là ánh sáng và kim chỉ nam?
6. Muốn mở các kho tàng của Kinh Thánh, tức là muốn hiêu Kinh Thánh, chúng ta phải có hai chìa khóa nào?
7. Đáp ứng Kinh Thánh có nghĩa gì?
8. Tại sao người Y-sơ-ra-ên có nhiều tri thức về Kinh Thánh mà họ lại không được phước?
9. Sau khi đọc và nghe Kinh Thánh thì còn phải làm gì?
10. Phải làm thế nào để khi chúng ta chia xẻ Kinh Thánh cho người khác thì họ được phước?
BÀI 27. SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI
KINH THÁNH: IGiăng 1:1-4.
CÂU GỐC: “Chứng ấy tức là Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài” (IGiăng 5:11).
MỤC ĐÍCH: Thúc giục các học viên biết chắc họ đã được sự sống đời đời.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Thánh Giăng muốn chúng ta có gì? |
(IGiăng 1:1-4). |
|
TH: |
Thánh Giăng muốn chúng ta làm gì? |
(IGiăng 1:5-2:2). |
|
TB: |
Bằng cớ của mối thông công với Đức Chúa Trời |
(IGiăng 2:3-17). |
|
TT: |
Mối nguy hại của tà giáo |
(IGiăng 2:18-28). |
|
TN: |
Các điều kiện để được thông công. |
(IGiăng 2:29-4:6). |
|
TS: |
Chứng cớ của tình yêu Đức Chúa Trời trong chúng ta |
(IGiăng 4:7-21). |
|
TB: |
Chúng ta có thể chắc chắn điều gì? |
(IGiăng 5:1-21). |
Từ xưa đến nay, nhiều người muốn được trường sinh bất tử, nhưng không ai đạt được. Mọi người đều phải ở dưới định luật của Đức Chúa Trời: “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét” (Hê-bơ-rơ 9:27).
Nhưng sự cứu rỗi mà Chúa Jêsus đã thực hiện cho chúng ta bởi sự chết của Ngài trên thập tự giá và sự sống lại của Ngài khỏi phần mộ, đem đến cho người tin Ngài sự sống đời đời.
I. SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI LÀ TẶNG PHẨM CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
Tin Chúa Jêsus, chúng ta nhận được sự sống đời đời là sự sống của Đức Chúa Trời (Giăng 3:16; IGiăng 2:25; 5:11-12). Sự sống đời đời vượt xa sự trường sinh bất tử mà loài người hằng ao ước mà vẫn chưa bao giờ đạt được. Vì sự sống đời đời không những chỉ về sự sống bất tận, mà còn chỉ về một đời sống thánh khiết, công bình, thương yêu, một đời sống hoàn toàn hạnh phúc. Người tin Chúa được đồng sống với Đức Chúa Trời tại trần gian và sẽ đồng sống với Ngài trong nước vinh quang đời đời của Ngài. Trái lại, những người không tin Chúa chỉ có sự sống bại hoại, khốn khổ trong đời này và sẽ sống với ma quỉ đời đời trong hỏa ngục. Kinh Thánh gọi đó là sự chết đời đời hay là sự hình phạt đời đời (Khải huyền 14:10-11; 20:10; Ma-thi-ơ 25:40,46).
II. KINH NGHIỆM SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI.
Chúng ta đã biết bản chất của sự sống đời đời là thánh khiết, công bình, thương yêu giống như Đức Chúa Trời. Ai nấy đều muốn sống thích hiệp với đời sống mình đang có. Vì thế, khi nào chúng ta bị cám dỗ mà phạm tội, tức là không còn sống thánh khiết, công bình, thương yêu thì lòng chúng ta cảm thấy xót xa, đau đớn cho đến chừng nào ăn năn để được tha thứ.
Như vậy mỗi người trong chúng ta nên tự hỏi: Tôi có thực lòng tin Chúa chưa? Tôi có được cứu chưa? Tôi có sự sống đời đời chưa? Nếp sống hằng ngày của tôi có phải là nếp sống hằng ngày của con cái Chúa không? Kinh nghiệm của tôi có phải là kinh nghiệm của người có sự sống đời đời không? Tôi có quen biết với Chúa Jêsus một cách riêng tư không?
III. THÔNG CÔNG TRONG SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI.
Người ta không thể sống hạnh phúc nếu thiếu sự thông công với Đức Chúa Trời và với nhau. Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người để họ thông công với Ngài và với nhau. Bầy gà con ở trong cánh mẹ thì được thông công với mẹ và với nhau, đồng thời cũng được bình an vui vẻ.
Tội lỗi đã phá hủy sự thông công. Khi A-đam và Ê-va phạm tội thì bắt đầu sợ hãi, trốn tránh Chúa và cuối cùng bị đuổi khỏi vườn Ê-đen. A-đam tố cáo vợ: “Người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi cho tôi trái cây đó và tôi đã ăn rồi” (Sáng thế ký 3:12). Không những tố cáo và đổ lỗi, ông cũng không gọi là vợ mình nữa mà chỉ gọi là “người nữ”. Tiếp theo, Ca-in giết em mình là A-bên và nhân loại giết lẫn nhau cho đến ngày nay. Thế là loài người đã mất sự thông công với Chúa và với nhau mà trở nên thù nghịch, chống đối. Người ta thường nêu lên những câu văn hay, ý đẹp: “Năm châu chung chỗ, bốn biển một nhà, tứ hải giai huynh đệ”. Song trên thực tế, con người vẫn sống cô đơn giữa chợ đời, lúc nào cũng khao khát sự thông công với nhau, nhất là thông công với Đức Chúa Trời.
Bởi sự khao khát đó, xưa nay người ta đã dùng đồng cốt làm trung gian, làm phương tiện để liên lạc với thế giới vô hình, thế giới thần linh. Song thay vì liên lạc với Đức Chúa Trời, người ta chỉ liên lạc được với ma quỉ, nên kết quả còn tệ hại hơn, như trường hợp vua Sau-lơ cầu bà bóng ở Ênđôrơ (I Sa-mu-ên 28:4-24).
Muốn thông công chân chính và hạnh phước, đôi bên phải có đồng một sự sống với nhau. Nếu chúng ta bước vào một ngôi nhà đầy dẫy hình tượng, những hình người hay thú vật bằng gỗ, bằng đá, bằng bạc, bằng vàng, lớn có, nhỏ có, cao có, thấp có, thì chúng ta chẳng hề được thông công với chúng vì các hình tượng đó không có sự sống, còn chúng ta thì có. Nếu chúng ta bước vào một vườn bách thú, có đủ loại, loại hai chân, loại bốn chân, loại bay trên không, loại lội dưới nước, chúng ta cũng chẳng thông công được với chúng, vì giữa chúng với chúng ta không có cùng một sự sống. Chúa Jêsus đã từ trời xuống đất, sống giữa loài người mà Ngài đã dựng nên, sống giữa một dân mà Ngài đã thương yêu, song họ không nhìn biết Ngài, không tiếp nhận Ngài, vì họ không có cùng một sự sống với Ngài là sự sống đời đời (Giăng 1:10-11).
Trong thư thứ nhất của Giăng (1:1-4), ông đã làm chứng về những điều mà các sứ đồ và chính mình ông đã nghe, đã thấy, đã ngắm, đã rờ Lời của sự sống. Đó là “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt ở giữa chúng ta” là Chúa Jêsus (Giăng 1:14). Các sứ đồ chẳng những đã nghe, đã ngắm, đã rờ Lời của sự sống đời đời, mà còn nhận được sự sống ấy. Nhờ sự sống ấy, họ được thông công với Đức Chúa Trời và với nhau. Không những sứ đồ mà ngay cả tín đồ đều được ơn phước đó trong chính kinh nghiệm bản thân của họ (Công vụ 2:14-47). Được thông công với Chúa và với nhau, Giăng thấy hạnh phước quá, nên ông nôn nao viết thư cho Hội Thánh chung tại bất cứ nơi nào, hầu cho ai nấy cũng được sự thông công đó (IGiăng 1:3).
Trong Bài Tín Điều mà các sứ đồ đã truyền lại, có câu, “Tôi tin Hội Thánh phổ thông, sự cảm thông của thánh đồ”. Câu ấy có nghĩa là tôi tin Hội Thánh địa phương như Hội Thánh Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Sài Gòn, Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau… Tôi tin Hội Thánh quốc gia như Hội Thánh Việt Nam, Trung Hoa, Nga, Hoa Kỳ, Chi Lê, Công Gô, Úc Đại Lợi… Tôi tin Hội Thánh phổ thông là Hội Thánh trong cả thế giới, không phân biệt tiếng nói, màu da. Tôi tin sự cảm thông của thánh đồ, tức là sự hiệp nhất bất khả phân của thánh đồ như các chi thể trong một thân mà Chúa Jêsus là đầu, như các nhánh nho trong một cây mà Chúa Jêsus là gốc.
Giăng nói về sự thông công đó là một ơn phước, là một nhu cầu tất yếu “hầu cho sự vui mừng của chúng ta được đầy dẫy” (câu 4). Khi Chúa Jêsus nói về sự thông công của tín đồ với Chúa và giữa tín đồ với nhau qua các hình ảnh nhánh nho và gốc nho, thì Ngài kết luận: “Ta nói cùng các ngươi những điều đó, hầu cho sự vui mừng của Ta ở trong các ngươi, và sự vui mừng của các ngươi được trọn vẹn” (Giăng 15:11). Vậy, dấu hiệu đặc biệt của một người được thông công với Chúa và với nhau là sự vui mừng đầy dẫy và trọn vẹn. Đức Chúa Trời lập sự thông công với loài người qua sự chết của Con Ngài là để đem lại sự vui mừng tràn ngập tâm linh của kẻ tin nhận Ngài (Giăng 3:29; 16:24; 17:13).
Bản chất Tin Lành là sự vui mừng. Người Tin Lành chân chính không phải lúc nào cũng mặt ủ mày chau, mà trái lại lúc nào cũng vui mừng, cảm tạ, ca ngợi Ngài dù phải qua hàng nước mắt.
Chúng ta chỉ sống thật khi chúng ta bắt đầu tin nhận Chúa Jêsus, vì chính lúc đó chúng ta có sự sống đời đời, nên được thông công với Đức Chúa Trời và được thông công với nhau.
CÂU HỎI
1. Một điều thông thường mà nhiều người thích là gì?
2. Chúa Jêsus chịu chết và sống lại để ban cho chúng ta điều gì?
3. Chúng ta phải làm sao để được sự sống đời đời?
4. Sự khác nhau giữa sự sống đời đời và sự trường sinh bất tử là gì?
5. Điều gì phá hoại sự thông công giữa Đức Chúa Trời với loài người và loài người với nhau?
6. Điều kiện để có sự thông công thật là gì?
7. Người có sự thông công thật với Đức Chúa Trời và với nhau thì có dấu hiệu gì?
8. Các bạn có biết chắc mình đã được sự sống đời đời chưa? Làm sao bạn biết được như thế?
9. Làm sao biết được một người đã được sự sống đời đời?
BÀI 28. BƯỚC ĐI TRONG SỰ SÁNG
KINH THÁNH: IGiăng 1:5-10.
CÂU GỐC: “Nhưng nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau, và huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta” (IGiăng 1:7).
MỤC ĐÍCH: Giúp học viên biết, nếu chúng ta bước đi trong sự sáng thì chúng ta giao thông cùng nhau và huyết của Chúa sẽ tha thứ tội lỗi chúng ta.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Đức Chúa Trời là sự sáng |
(I Ti-mô-thê 6:9-16). |
|
TH: |
Sự sáng của thế gian |
(Giăng 1:1-14). |
|
TB: |
Bước đi trong sự sáng |
(IGiăng 1:5-2:2). |
|
TT: |
Để bước đi trong sự sáng? |
(Mat 5:23-24; Châm 28:13). |
|
TN: |
Hội Thánh đối với sự tối tăm |
(Công vụ 5:1-10). |
|
TS: |
Sự tối tăm tàn phá sự thành công |
(Giô-suê 7:1-12). |
|
TB: |
Bước đi trong sự sáng |
(Thi thiên 32). |
Tuần trước chúng ta học về sự sống đời đời, trong sự sống đó, chúng ta được thông công với Đức Chúa Trời và thông công với nhau. Sự thông công đó đem lại cho chúng ta sự vui mừng đầy dẫy và trọn vẹn. Đó là một đặc ân Chúa ban cho chúng ta.
Bài học hôm nay dạy cho chúng ta cách nào để giữ gìn sự thông công đó khỏi bị gián đoạn mà vẫn cứ liên tục. Muốn được vậy, chúng ta phải sẵn sàng nhận tội để được Chúa tha thứ và tiếp tục bước đi trong sự sáng. Chúng ta phải nhận thức rằng tội là tội, dầu kín đáo hay tỏ tường, dầu đã bị khám phá hay không. Chúng ta thường có khuynh hướng là chỉ chịu ăn năn và xin được tha thứ khi nào lỗi lầm của mình đã bị phơi bày và đe dọa bị hình phạt. Như thế, chúng ta vẫn chưa chịu xưng hết tội mình mà còn cố che đậy.”Người nào giấu tội lỗi mình sẽ không được may mắn”. Vì chính tội lỗi sẽ phá hủy đời sống của chúng ta, làm mất sự thông công của chúng ta với Chúa và với nhau. “Nhưng ai xưng nó ra và lìa bỏ nó thì sẽ được thương xót” (Châm ngôn 28:13).
Muốn cứ được thông công với Đức Chúa Trời, chúng ta phải biết đặc tính của Ngài. Biết đặc tính của Đức Chúa Trời là biết một điều kiện căn bản của sự thông công với Ngài.
I. ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ SỰ SÁNG (IGiăng 1:5).
Giăng long trọng tuyên bố sứ mạng Chúa đã truyền cho ông: “Đức Chúa Trời là sự sáng, trong Ngài chẳng có sự tối tăm đâu”. Ngài là sự sáng, cũng như Ngài là tình thương, là thần linh, là đám lửa thiêu hóa (IGiăng 4:8; Giăng 4:28; Hê-bơ-rơ 12:29).
Về phương diện tích cực, Đức Chúa Trời là sự sáng, tức là Ngài rất thánh khiết, rất trong sạch, rất cao trọng, rất vinh hiển, rất thương yêu. Về phương diện tiêu cực thì trong Ngài chẳng có sự tối tăm, vì sự tối tăm chỉ về tội lỗi, ngu dốt, sai lầm, xấu xa. Giữa sự sáng và tối tăm không hề có sự thông đồng (IICôr 6:14) mà chỉ có sự chống đối. Đâu có sự sáng, đó không có tối tăm, đâu có tối tăm, đó không có sự sáng. Không có gì vinh quang và huy hoàng bằng ánh sáng. Ánh sáng làm cho hột kim cương lóng lánh, làm cho cỏ cây, hoa lá rực rỡ muôn màu. Nếu không có ánh sáng, thì viên kim cương cũng giống như sỏi đá ngoài đường, cảnh vật thê lương, nhuộm màu tang tóc.
Ánh sáng đánh tan bóng tối và phô bày sự thật. Vì thế “phàm ai làm ác thì ghét sự sáng, e rằng công việc của mình phải trách móc chăng”, “nhưng kẻ nào làm theo lẽ thật thì đến cùng sự sáng hầu cho các việc của mình được bày tỏ ra vì đã làm trong Đức Chúa Trời” (Giăng 3:20-21).
Đức Chúa Trời là sự sáng, Ngài là nhu cầu tất yếu cho muôn loài vạn vật, nhất là loài người. Phước cho ai được thông công cùng Ngài.
II. CHÚNG TA PHẢI BƯỚC ĐI TRONG SỰ SÁNG (Giăng 1:6-7).
Nếu chúng ta biết Đức Chúa Trời là sự sáng mà muốn thông công với Ngài, chúng ta phải bước đi trong sự sáng. Nếu chúng ta nói mình được thông công với Ngài mà còn đi trong sự tối tăm, ấy là chúng ta nói dối và không làm theo lẽ thật. Một người được thông công với Ngài là một người được cứu từ tối tăm qua sáng láng (Công vụ 26:18; I Phi-e-rơ 2:9).
Thời nào cũng có người oang oang rằng mình được thông công với Chúa, trong khi đó hành vi và nếp sống của họ theo sự tối tăm, ở trong tối tăm. “Kẻ nào nói mình ở trong sự sáng mà ghét anh em mình, thì còn ở trong sự tối tăm… làm những việc tối tăm và không biết mình đi đâu, vì bóng tối tăm đã làm mù mắt người” (IGiăng 2:9-11). Đó là người nói dối và làm dối. Người đó không thể thông công với Đức Chúa Trời cũng như người dưới đáy mỏ than không hề thấy mặt trời.
Muốn được thông công với Đức Chúa Trời là sự sáng, chúng ta phải gớm ghiếc và chối từ bất cứ việc gì thuộc sự tối tăm, từ sự mê tham của xác thịt, mê tham của mắt và sự kiêu ngạo của đời, cho đến việc gì tựa như điều ác, tránh cả cái áo bị xác thịt làm ô uế (IGiăng 2:15; ITê 5:22; Giu-đe 23). Chúa Jêsus phán: “Ta là sự sáng của thế gian, người nào theo Ta chẳng đi trong nơi tối tăm” (Giăng 8:12). “Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta” (IGiăng 1:7).
Chữ “đi” trong câu 6-7 chỉ về hành vi hằng ngày của chúng ta. Điều đó đã trở thành thói quen, khuôn mẫu, tức là bất luận lúc nào chúng ta cũng được thông công với Chúa, cũng sống trong sự hiện diện của Ngài như sống trong ánh sáng của mặt trời. Chúng ta được thông công mật thiết với Chúa chừng nào, thì cũng được thông công mật thiết với anh em mình chừng nấy. Trái lại, nếu chúng ta mất sự thông công với Chúa, thì cũng mất sự thông công với nhau và sẽ như Ca-in phạm tội ganh tị và giết em mình.
Đi trong sự sáng, chúng ta được huyết Chúa Jêsus làm sạch mọi tội. Động từ “làm sạch” ở trong thì liên tục. Lúc nào huyết Chúa Jêsus cũng sẵn sàng làm sạch mọi tội lỗi của chúng ta, miễn là chúng ta xưng tội mình. Cứ được thông công với Chúa thì được sạch tội, được sạch tội để cứ được thông công với Chúa. Ngoài thập tự giá của Chúa Jêsus, không có đường nào khác đưa chúng ta đến sự thông công với Chúa và với nhau.
III. PHƯƠNG CÁCH GIÚP CHÚNG TA BƯỚC ĐI TRONG SỰ SÁNG (1:8-19).
1. Nhận mình có tội (câu 8).
Chúng ta thường tự lừa dối mà nói mình không có tội chi hết, vì chẳng qua hoàn cảnh bắt buộc: “Ai cũng phạm tội như tôi, có người còn tệ hơn tôi nữa”. Chúng ta tìm nhiều lý do không chính đáng để tự biện hộ, để che đậy tội lỗi mình, không chịu trách nhiệm về tội lỗi đó. Làm như thế, chúng ta khiến cho huyết Chúa Jêsus vô hiệu đối với mình, vì huyết Chúa đâu có thể tha thứ kẻ vô tội? Trái lại, nếu chúng ta đang bước đi với Đức Chúa Trời trong sự sáng, chúng ta sẽ thắng được những tội nhỏ nhất của mình vì tội lỗi nào cũng ghê gớm cả, cũng khiến chúng ta phải kêu la như Gióp và Ê-sai (Gióp 42:5-6, Ê-sai 6:5).
2. Sẵn sàng xưng tội của mình (câu 9).
Nếu muốn được tha thứ mọi tội thì nhận tội chưa đủ, mà còn phải xưng tội và lìa bỏ tội. Chúng ta phải xưng ra mọi tội, không giấu gì hết, dầu sự xưng tội đó làm cho mình đau đớn đến đâu (Thi thiên 32:5). Chối tội không làm cho mình khỏi tội, song xưng tội làm cho mình được tha thứ tội. Chúa tha tội là xóa hết dấu vết của tội trong chúng ta, xem như chúng ta như chưa hề phạm tội và cũng không hình phạt chúng ta nữa. Đức Chúa Trời là thành tín, giữ lời hứa của Ngài, và công bình là căn cứ vào sự chuộc tội đã làm trọn trong Chúa Jêsus mà tha thứ chúng ta. Sẵn sàng xưng tội là thái độ và hành động của một người đang bước đi trong sự sáng.
3. Không ngoan cố (câu 10).
Cố ý chối tội dẫn chúng ta từ nguy hiểm đến nguy hiểm như “nói dối” người ta (câu 6) đến “lừa dối mình” (câu 8), cuối cùng “cho Ngài là kẻ nói dối” (câu 10). Rồi cũng từ chỗ “không làm theo lẽ thật” (câu 6) đến chỗ “lẽ thật không ở trong chúng ta” (câu 8), cuối cùng “Lời Ngài không ở trong chúng ta” (câu 10). Tình trạng đó là không còn phân biệt phải trái, sáng tối, tốt xấu, “không biết mình đi đến đâu vì bóng tối tăm làm mù mắt người” (IGiăng 2:11).
Điều quan trọng không phải là không hề vấp ngã, song đứng dậy tức thì sau khi vấp ngã, không phải là không hề phạm tội, song phải ăn năn. Đó là con người đang bước đi trong sự sáng.
CÂU HỎI
1. “Đức Chúa Trời là sự sáng” có nghĩa gì?
2. Sự sáng có ích lợi gì?
3. Sự tối tăm chỉ về gì?
4. Muốn thông công với Đức Chúa Trời, chúng ta phải làm gì?
5. Thế nào là bước đi trong sự sáng?
6. Nếu bước đi với Đức Chúa Trời trong sự sáng thì huyết Chúa Jêsus làm gì cho chúng ta?
7. Làm sao chúng ta biết mình đang bước đi trong sự sáng?
8. Chúng ta phải cảm xúc tội mình là gớm ghê như ai đã cảm xúc?
9. Xưng tội mình có nghĩa gì?
10. Kết quả của sự ngoan cố chối tội là gì?
BÀI 29. VÂNG LỜI ĐỨC CHÚA TRỜI
KINH THÁNH: IGiăng 2:3-6.
CÂU GỐC: “Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài” (IGiăng 2:3).
MỤC ĐÍCH: Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc vâng lời Đức Chúa Trời.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Sự vâng lời tốt hơn của lễ |
(I Sa-mu-ên 15:16-26). |
|
TH: |
Tầm quan trọng của các điều răn |
(Ma-thi-ơ 5:17-20). |
|
TB: |
Các điều răn căn bản |
(Xuất 20:1-17). |
|
TT: |
Chúa Jêsus tóm tắt các điều răn |
(Ma-thi-ơ 22:35-40). |
|
TN: |
Vâng phục cho đến chết |
(Lu-ca 22:39-46). |
|
TS: |
Phần thưởng cho sự vâng lời |
(Giăng 3:18-24). |
|
TB: |
Nghe và làm theo |
(Ma-thi-ơ 7:21-29). |
Chúng ta đã biết sự thông công với Đức Chúa Trời là quí báu dường nào! Muốn giữ sự thông công đó, chúng ta phải bước đi trong sự sáng như bài chúng ta đã học. Hôm nay chúng ta học về cách giữ sự thông công với Chúa là vâng lời Ngài.
Nếu con cái không vâng lời cha mẹ thì phá vỡ sự thông công mật thiết với cha mẹ, làm mất sự vui vẻ trong gia đình. Một gia đình có hạnh phúc là gia đình mà con cái vâng lời cha mẹ. Khi A-đam và Ê-va, với tinh thần ngỗ nghịch đưa tay hái trái cấm rồi chia nhau ăn là đã phá vỡ sự thông công của ông bà với Đức Chúa Trời, đem lại cho mình sự buồn bã và sợ hãi.
Đức tính tốt nhất của con cái là vâng lời cha mẹ, đức tính tốt nhất của chúng ta là vâng lời Đức Chúa Trời. Vâng lời Chúa là cách giữ sự thông công với Ngài, là giữ niềm vui thánh khiết và trường cửu. Đây phải là lời cầu nguyện hằng ngày của chúng ta: “Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, luật pháp Chúa ở trong lòng tôi” (Thi thiên 40:8).
Bây giờ chúng ta phải trắc nghiệm để biết mình có thực sự vâng lời Chúa hay không?
– Người vâng lời Chúa là người biết Chúa.
– Người vâng lời Chúa là người yêu Chúa.
– Người vâng lời Chúa là người sống như Chúa.
I. NGƯỜI VÂNG LỜI CHÚA LÀ NGƯỜI BIẾT CHÚA (câu 3-4).
Những câu này có hai lần lặp lại hai chữ “biết Ngài”. Biết Chúa mà Giăng nói đây không có nghĩa là biết Ngài đã giáng sinh, đã chịu chết, cũng đã sống lại và về trời hơn 2.000 năm trước. Nếu chỉ biết như vậy, chúng ta không có sự thông công với Ngài, vì sự biết đó chỉ tương quan đến trí não của chúng ta mà thôi, đó là biết Ngài qua lịch sử. Song biết Chúa mà Giăng nói đây là quen biết Ngài một cách thân mật qua sự thông công hằng ngày như cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè. Sự biết này không tương quan đến hành vi và tính tình của chúng ta, nhưng biết bằng kinh nghiệm bản thân. Có biết Chúa như vậy chúng ta mới là người vâng giữ lời Ngài.
Vậy nên, Giăng lên án kẻ nói mình biết Chúa mà không vâng giữ lời Ngài là kẻ nói dối, lẽ thật không ở trong người. Không ai kính nể, tin cậy kẻ nói dối bao giờ. Chúng ta phải chứng tỏ sự biết Chúa bằng sự vâng giữ lời Ngài. Hiểu biết phải đưa đến hành động. Không ai là kẻ thật lòng biết Chúa mà lại không giữ lời Ngài. Vậy giữ lời Ngài là cách duy trì và bảo tồn sự thông công thân mật với Ngài. Chúa Jêsus phán: “Ví bằng các ngươi biết những sự này thì có phước miễn là các ngươi làm theo” (Giăng 13:17).
II. NGƯỜI VÂNG LỜI CHÚA LÀ NGƯỜI YÊU CHÚA (câu 5).
Ai thật lòng biết Chúa thì cũng thật lòng yêu Chúa. Càng biết Chúa nhiều chừng nào, chúng ta càng yêu Chúa nhiều chừng nấy; càng yêu Chúa, chúng ta càng vâng giữ lời Ngài, càng vâng giữ lời Ngài thì tình yêu của Ngài càng trọn vẹn trong chúng ta. Nếu tình yêu của Chúa được trọn vẹn trong chúng ta thì đó là dấu hiệu chúng ta biết mình ở trong Ngài và Ngài ở trong chúng ta, tức là đang được thông công mật thiết với Ngài.
Không ai có thể nói mình yêu Chúa mà không vâng lời Ngài. Không một đứa con nào thật lòng yêu cha mẹ nếu nó không vâng lời cha mẹ. Tình yêu đưa đến sự vâng lời. Dấu hiệu của tình yêu là vâng lời: “Vì này là sự yêu mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài” (IGiăng 5:3). Chúa Jêsus phán: “Ai có các điều răn của Ta và vâng giữ lấy, là kẻ yêu mến Ta… Nếu các ngươi yêu mến Ta thì vâng giữ lời Ta…” (Giăng 14:21,23).
Chúng ta không thể yêu Chúa bằng tình yêu lạnh nhạt, thấp hèn, ích kỷ của chúng ta. Song chúng ta phải yêu Ngài bằng tình yêu nóng cháy cao thượng, bất vụ lợi của Ngài. Với tình yêu đó, chúng ta sẽ hết lòng, hết sức, hết ý vâng giữ lời Ngài. Ngày kia Chúa gọi Áp-ra-ham và bảo ông: “Hãy bắt đứa con một mà ngươi yêu dấu, là Y-sác, làm của lễ thiêu ở trên một hòn núi mà Ta sẽ chỉ cho ngươi” (Sáng thế ký 22:2). Thật, Chúa đã bảo ông làm một việc vô cùng khó khăn, song ông đã vâng lời. Áp-ra-ham vâng lời Chúa vì ông yêu Ngài hơn đứa con một của mình, nên Chúa đã phán: “Vì ngươi đã làm điều đó, không tiếc con ngươi tức là con một ngươi… nên Ta sẽ ban phước cho ngươi” (Sáng thế ký 22:16).
Yêu Chúa hơn hết, Áp-ra-ham không tiếc chi với Ngài, thậm chí đứa con một yêu dấu của ông cũng vậy. Tình yêu nóng cháy, tình yêu cao thượng, tình yêu bất vụ lợi của Chúa đã cảm động Áp-ra-ham, nên ông đã vâng lời Ngài trọn vẹn.
III. NGƯỜI VÂNG LỜI CHÚA LÀ NGƯỜI SỐNG NHƯ CHÚA (câu 6).
Chúa Jêsus sống cuộc đời vâng lời trọn vẹn. Chúa vâng giữ các điều răn của Cha Ngài (Giăng 15:10). Chúa nói và làm theo mạng lịnh của Cha Ngài (Giăng 12:49-50). Chúa làm theo ý muốn của Cha Ngài (Giăng 5:30). Chúa làm đẹp lòng Cha Ngài luôn luôn (Giăng 8:29).
Dầu Ngài là Con Đức Chúa Trời song vẫn học tập vâng lời qua những nỗi khốn khổ (Hê-bơ-rơ 5:8). Ngài vâng phục Cha Ngài cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự (Phi-líp 2:8). Ngài hoàn toàn phó mình cho Đức Chúa Trời là Đấng xử đoán công bình (I Phi-e-rơ 2:23).
Một người con yêu cha thì lấy làm sung sướng được phục vụ cha, nên lúc nào cũng mong được cha sai khiến. Người con ấy khao khát hiểu biết ý của cha để làm theo hầu đẹp lòng cha. Vâng phục cha cho đến chết, không giữ lại một chút cho mình, người con đó là Chúa Jêsus. Ai nói mình ở trong Ngài, thông công với Ngài, thì phải sống như chính Ngài đã sống.
A-đam đã sống cuộc đời không vâng phục, nên lưu truyền một dòng dõi không vâng phục. Chúa Jêsus đã sống cuộc đời vâng phục nên lưu truyền một dòng dõi vâng phục (Rô-ma 5:19). Sự hy sinh của Chúa Jêsus là để lập lại trật tự mà A-đam đã phá vỡ, tức là đem con người trở lại vâng phục Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus là “cội rễ của sự cứu rỗi đời đời cho kẻ vâng lời Ngài” (Hê-bơ-rơ 5:9). Cơ Đốc nhân không còn thuộc về dòng dõi bội nghịch mà thuộc về dòng dõi vâng lời. Cơ Đốc nhân là người thôi làm điều mình muốn mà làm điều Chúa muốn.
Có phải chúng ta cảm thấy run sợ khi nghĩ rằng mình phải sống như vậy chăng? Có phải chúng ta sẽ mất niềm vui trong cuộc sống, nếu chúng ta vâng lời Đức Chúa Trời cách trọn vẹn không? Nếu có mất thì chỉ mất niềm vui trần tục và tạm thời, song được thay thế bằng niềm vui thánh khiết và trường cửu. “Trước mặt Chúa có trọn sự khoái lạc, tại bên hữu Chúa có điều vui sướng vô cùng” (Thi thiên 16:11).
Giá trị đạo đức của ta chỉ được chứng minh bằng sự vâng lời Chúa. Vì thế ngay bây giờ, chúng ta hãy học tập vâng lời Chúa trong việc nhỏ cũng như việc lớn, trong cơn khốn khó cũng như lúc vui mừng, trong khi nghèo ngặt cũng như lúc thạnh vượng. Càng vâng lời Chúa, chúng ta càng được thông công cùng Chúa cách thân mật, nhờ đó, nguồn phước của Chúa cứ tuôn tràn vào chúng ta không dứt.
CÂU HỎI
1. Điều gì có thể phá vỡ sự thông công của chúng ta với Chúa?
2. Muốn giữ sự thông công với Chúa, chúng ta phải làm sao?
3. Đức tính tốt nhất của con cái là gì?
4. Dấu hiệu của người biết Chúa là gì?
5. Những người nói mình biết Chúa mà không vâng lời Ngài bị Giăng lên án như thế nào?
6. Khi môt đứa con yêu cha mẹ thì phải làm gì đối với cha mẹ?
7. Vì sao chúng ta biết Áp-ra-ham yêu Chúa hơn hết?
8. Sống giống như Chúa Jêsus là sống như thế nào?
9. Sự hy sinh của Chúa Jêsus để lập lại trật tự gì?
10. Người tín đồ thuộc về dòng dõi nào và của ai?
11. Người tín đồ là người thế nào?
BÀI 30. TÌNH THƯƠNG CHIẾN THẮNG GHEN GHÉT
KINH THÁNH: IGiăng 2:7-11.
CÂU GỐC: “Điều răn của Ta đây này: Các ngươi hãy yêu nhau cũng như Ta đã yêu các ngươi” (Giăng 15:12).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ người tín hữu phải dùng tình thương để chiến thắng ghen ghét.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Mô tả tình thương |
(ICôr 13:1-8). |
|
TH: |
Tình thương chịu trắc nghiệm |
(IGiăng 2:7-11). |
|
TB: |
Tình thương được bộc lộ |
(Rô-ma 13:8-14). |
|
TT: |
Trưởng dưỡng tình thương |
(I Phi-e-rơ 1:22-2:14). |
|
TN: |
Tình thương biến thành hành động |
(Gia-cơ 2:8-17). |
|
TS: |
Một thí dụ về tình thương |
(Giăng 15:1-17). |
|
TB: |
Biện pháp yêu thương của Chúa Jêsus |
(Rô-ma 5:1-8). |
Thế giới đầy hận thù và ghen ghét được Kinh Thánh hình dung bằng sự tối tăm và mỗi chúng ta phải đem ánh sáng yêu thương chiếu rọi vào nơi ấy. Chính tình thương chiến thắng hận thù như ánh sáng đánh tan bóng tối. Tình thương đẹp đẽ như ánh sáng, ghen ghét xấu xa như bóng tối. Con cái Chúa không nên dành chỗ nào trong đời mình cho ghen ghét, song phải dành cho tình thương.
I. NGUY CƠ CỦA LÒNG GHEN GHÉT (2:9-11).
Ghen ghét là mầm mống gây nhiều đổ vỡ.
1. Ghen ghét luôn luôn phá hoại.
Người ghen ghét là người đang ở trong tối tăm, mặc dầu người đó nói mình ở trong ánh sáng. Người đó nói vậy là vì bị lừa gạt và tự lừa gạt. Người ghen ghét là người luôn phá hoại, mặc dầu người nói mình gây dựng. Người ở trong tối tăm thì không làm gì được. Nếu bị nhốt vào ngục tối, con người sẽ chết mòn. Thiếu ánh sáng thì từ cây cỏ, súc vật cho đến loài người đều không thể sống. Người ghen ghét không những làm hại người khác mà cũng làm hại mình. Ai giữ sự ghen ghét trong lòng thì sẽ bất mãn, cố chấp, tinh thần và thân thể ngày càng hao mòn, đời sống thuộc linh không bao giờ được lớn lên và mạnh mẽ. Ghen ghét có một sức phá hoại khủng khiếp.
2. Ghen ghét làm cho mù quáng.
Ánh sáng rất cần cho đôi mắt, còn bóng tối làm cho mù mắt. Tính ghen ghét làm cho tâm trí tối tăm, suy nghĩ sai lầm, nhận định không chính xác, thấy trắng hóa đen, tưởng bạn là thù. Người mù quáng không biết đường nào để đi, người đó cứ mãi quanh quẩn trong cuộc sống ích kỷ, ganh tỵ, ngày càng xa Chúa như xa ánh sáng mặt trời. Ghen ghét là một trở lực to tát từ bên trong con người làm cho cả phần thuộc thể lẫn phần thuộc linh không tiến bộ được.
3. Ghen ghét là mầm chia rẽ.
Không có gì gây chia rẽ bằng ghen ghét. Bất cứ nơi đâu có ghen ghét, nơi đó có chia rẽ, trong gia đình hay trong Hội Thánh cũng vậy. Trong Hội Thánh Cô-rinh-tô có sự ghen ghét tranh cạnh, nên đã chia rẽ thành nhiều phe phái và từ đó sanh ra nhiều điều tệ hại khác nữa. Ghen ghét là một loại vũ khí mà Sa-tan luôn sử dụng để phá hoại sự hiệp một, cảm thông, phước hạnh của những người cùng trong một gia đình, một Hội Thánh. Ghen ghét là thứ rễ đắng nứt ra, gây trở ngại và làm ô uế nhiều người (Hê-bơ-rơ 12:15).
Tóm lại có ba điều chỉ về người ghen ghét.
a. Người ấy ở trong tối tăm mặc dầu cứ nói là ở trong ánh sáng.
b. Người ấy đang đi trong tối tăm, quờ quạng như người mù. Từ phẩm hạnh cho đến tính tình, người ấy không phân biệt phải trái theo ý nghĩa thuộc linh.
c. Người ấy không đạt được mục tiêu, vì không biết mình đi đâu: “Nẻo kẻ gian ác vẫn như tăm tối; chúng nó chẳng biết mình vấp ngã vì đâu” (Châm ngôn 4:19).
II. PHƯỚC HẠNH CỦA LÒNG YÊU THƯƠNG (2:7-8,10).
IGiăng 2:6 bảo chúng ta: “Phải làm theo như chính Ngài đã làm”, tức là yêu thương nhau như chính Ngài đã yêu thương, đó là điều răn của Chúa. Điều răn này vừa cũ mà cũng vừa mới. Cũ là vì nó đã có từ xưa (Lê-vi ký 19:18), mới là vì Chúa đã làm cho ý nghĩa nó ra sâu nhiệm hơn (Giăng 13:34). Điều răn này đã được nghe từ ban đầu (IGiăng 3:11; IIGiăng 6), tức là ngay khi ai nấy tin Chúa. Dầu vậy, cho đến ngày nay, điều răn này vẫn mới cho chúng ta. Giáo lý rất cũ, song kinh nghiệm bao giờ cũng mới. Theo thời gian thì rất cũ, song theo tính chất thì rất mới. Cũ như mặt trời nhưng mới như rạng đông. Điều răn mới này làm cho tối tăm tan đi và ánh sáng thật đang chói lọi.
Trái với ghen ghét, yêu thương không có hại mà chỉ có lợi. Ghen ghét là mầm mống của mọi đổ vỡ, yêu thương là mầm mống của mọi xây dựng.
1. Yêu thương hàn gắn.
Ghen ghét gây chia rẽ, yêu thương hàn gắn lại. Ánh sáng đánh tan bóng tối, đem lại vui mừng, thoải mái cho mọi người. Trong các buổi họp ban đêm, thỉnh thoảng đèn điện bị tắt, bóng tối bao trùm, ai nấy tiu nghỉu ngồi im một chỗ. Thình lình đèn bật sáng, ai nấy vui mừng, chuyện trò, đi lại. Ánh sáng yêu thương đánh tan bóng tối ghen ghét, hàn gắn vết đau, đem lại hạnh phúc cho mọi người.
2. Yêu thương gây dựng.
Yêu thương anh em mình là bước đi trong ánh sáng. Bước đi một cách tự do, nhanh nhẹn để giúp đỡ mọi người mà không hề đụng chạm hoặc gây đổ vỡ, trở ngại cho ai. Chẳng những vậy thôi, chính mình cũng không hề bị đụng chạm hay bị vấp phạm: “Sự yêu thương gây dựng” (ICôr 8:1), tức là hướng dẫn, khích lệ, vỗ về, vì “sự yêu thương chẳng hề làm hại kẻ lân cận” (Rô-ma 13:10).
3. Yêu thương chiến thắng.
Bóng tối sợ ánh sáng, ánh sáng đánh tan bóng tối. Kẻ ghen ghét sợ người yêu thương. Yêu thương chiến thắng ghen ghét như Chúa Jêsus chiến thắng ma quỉ. Yêu thương là một loại vũ khí mà Chúa Jêsus đã sử dụng để chinh phục những tội nhân xấu xa hơn hết. Ngoài ra chinh phục, yêu thương còn cảm hóa tội nhân, khiến họ trở nên thánh nhân.
Thương yêu anh em mình là dấu hiệu của người đang bước đi trong ánh sáng. Ghen ghét anh em mình là dấu hiệu của người đang bước đi trong bóng tối. Mỗi người đang bước đi trong ánh sáng của tình thương hoặc bóng tối của ghen ghét chứ không có tình trạng ở giữa như lúc nhá nhem của buổi hoàng hôn.
Nếu Đức Chúa Trời là tình yêu và nếu điều răn của Chúa Jêsus là phải yêu nhau, thì tình yêu đem chúng ta đến gần Chúa và gần nhau, còn ghen ghét đem chúng ta xa nhau cũng như xa Chúa.
Hãy nghĩ đến anh em mình, tức là lo tưởng đến họ, xem nhu cầu của họ như nhu cầu của mình, kể quyền lợi của họ như quyền lợi của mình, phục vụ họ như Chúa đã phục vụ mọi người, tình thương phải luôn luôn thành thật (Rô-ma 12:9). Hãy suy gẫm về tình thương của Đức Chúa Trời đối với mình và chia xẻ tình thương đó cho mọi người. Không ai có thể sống hạnh phúc, nếu không yêu thương nhau.
CÂU HỎI
1. Yêu thương và ghen ghét được ví với những gì?
2. Những nguy cơ của ghen ghét là gì?
3. Người ghen ghét làm hại ai?
4. Người ghen ghét giống ai?
5. Vì sao điều răn yêu thương được gọi là cũ và mới?
6. Phước hạnh của yêu thương là gì?
7. Người ghen ghét và người yêu thương đang ở đâu?
8. Mặt của người ghen ghét và người yêu thương khác nhau thế nào?
9. Tình thương có sức mạnh như thế nào?
BÀI 31. CHỚ YÊU THẾ GIAN!
KINH THÁNH: IGiăng 2:12-17.
CÂU GỐC: “…Nếu ai yêu thế gian thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy” (IGiăng 2:15b).
MỤC ĐÍCH: Giúp các học viên hiểu rằng thế gian chống lại Chúa Jêsus, nên chúng ta không thể yêu thế gian được.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Chúa xa lánh thế gian |
(Lu-ca 4:1-13). |
|
TH: |
Chúa xa lánh thế gian |
(Ma-thi-ơ 16:21-26). |
|
TB: |
Nhân loại về phe thế gian |
(Sáng thế ký 3:1-6). |
|
TT: |
Nhân loại về phe thế gian |
(Lu-ca 13:11-24). |
|
TN: |
Thế gian bày tỏ sự đố kỵ |
(Công vụ 8:1-3; 12:1-4). |
|
TS: |
Hội Thánh chiến thắng thế gian |
(Công vụ 8:4-8; 11:19-22). |
|
TB: |
Hội Thánh chiến thắng thế gian |
(Giăng 17:6-26). |
Tuần trước chúng ta đã học về người có lòng ghen ghét là người đang đi trong tối tăm. Người đó đang chống nghịch Đức Chúa Trời là sự sáng, nên kết quả rất buồn bã.
Hôm nay, chúng ta học thêm một đặc điểm của người đi trong tối tăm, đó là người yêu mến thế gian. Nhưng chúng ta là con cái Chúa, Kinh Thánh khuyên dạy chúng ta phải xa lánh thế gian, chống cự thế gian, chiến thắng thế gian và chớ yêu thế gian.
I. THẾ GIAN LÀ GÌ?
Chữ thế gian trong Kinh Thánh có ba nghĩa: Cõi thiên nhiên, con người, thế giới tội ác. Tuy nhiên ý nghĩa chính xác của chữ đó tùy thuộc vào phần Kinh Thánh liên hệ. Chúng ta nên hiểu ý nghĩa của chữ “thế gian” mà thánh Giăng dùng ở đây.
1. Thế gian không phải chỉ về cõi thiên nhiên.
Vì trời đất, núi sông, cỏ cây, hoa lá có thiên hình vạn trạng, muôn hồng, ngàn tía, mỗi loại một vẻ, đẹp đẽ vô cùng, tiếng chim hót, tiếng nước chảy, tiếng thông reo… tạo nên một điệu nhạc êm đềm nhưng hùng tráng. Đó là công trình vĩ đại của Chúa. “Đất và muôn vật trên đât, thế gian và những kẻ ở trong đó đều thuộc về Đức Giê-hô-va” (Thi thiên 24:1).
2. Thế gian không phải là loài người.
Loài người được Chúa dựng nên có thân thể, linh hồn, tâm thần rất cao quí và vinh hiển. Dầu loài người đã phạm tội, lòng người trở nên dối trá và xấu xa hơn mọi vật, song khi một người ăn năn, tin nhận Cứu Chúa thì lòng người được đổi mới, chân thành và thánh khiết hơn mọi loài. Qua đó chúng ta thấy rõ chữ “thế gian” được dùng trong câu gốc trên không phải chỉ về loài người.
3. Thế gian là tinh thần phản loạn.
Thế gian mà Giăng nói đây là tinh thần lìa bỏ Đức Chúa Trời, ở dưới quyền điều khiển của ma quỉ để phản loạn với Chúa. “Hỡi bọn tà dâm kia! Anh em há chẳng biết làm bạn với thế gian tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời sao? Cho nên, ai muốn làm bạn với thế gian, thì người ấy trở nên kẻ thù nghịch cùng Đức Chúa Trời vậy” (Gia-cơ 4:4). Đó chính là thế giới tối tăm, không có hy vọng, không có Đức Chúa Trời, chỉ có ma quỉ.
II. CƠ ĐỐC NHÂN CÓ ĐIỀU GÌ KHÁC THẾ GIAN? (2:12-14).
Giăng đã viết cho ba hạng người: Con trẻ, phụ lão, trai tráng. Đây không nói về tuổi tác mà nói về thuộc linh. Con trẻ là người mới tin Chúa, phụ lão là người đã tin Chúa lâu, trai tráng là người tin Chúa có phần thuộc linh mạnh mẽ. Cả ba hạng người trên đều khác thế gian ở chỗ: Được tha tội, được biết Chúa và được thắng ma quỉ.
Ba lần Giăng chép “Ta viết cho” là muốn xác nhận rằng chúng ta được tha tội, được biết Chúa, được thắng ma quỉ là chắc chắn.
1. Được tha tội.
Sự tha tội làm cho chúng ta khác hơn thế gian, vì cả thế gian đều phục dưới quyền tội lỗi (Rô-ma 3:9), mà chúng ta được tha tội và được giải phóng khỏi quyền lực của tội nhờ huyết báu của Chúa Jêsus. Được tha tội là một ơn phước quá lớn đến nỗi Đa-vít phải kêu lên rằng: “Phước thay cho người nào được tha sự vi phạm mình, được khỏa lấp tội lỗi mình” (Thi thiên 32:1).
2. Được biết Chúa.
Người đời dầu biết có Chúa (Rô-ma 1:21), song họ không hiểu biết Ngài như đáng phải hiểu biết (Rô-ma 3:11), nên ai nấy đã phạm tội và cứ miệt mài trong tội. Con biết cha, người biết Đấng Tạo Hóa, tội nhân biết Cứu Chúa là rất chính đáng, trái lại, nếu không biết là rất ngạc nhiên (Ê-sai 1:2-4). Nhờ biết Chúa ngày càng sâu sắc hơn, chúng ta ngày càng yêu mến Chúa hơn, ngày càng vâng giữ lời Chúa hơn, đến nỗi không còn tiếc chi với Ngài như Môi-se, như Phao-lô (Xuất 33:13; Phi-líp 3:10).
3. Được thắng ma quỉ.
Ma quỉ là vua của thế gian mờ tối, là tà linh hiện đang hành động trong các con bội nghịch (Ê-phê-sô 2:2;6:12). Vì thế, chẳng ai thắng nổi nó mà hết thảy đều ở dưới quyền của nó, chỉ có Chúa Jêsus là thắng ma quỉ (Hê-bơ-rơ 2:14; IGiăng 3:8). Do vậy, chúng ta được dự phần trong sự chiến thắng với Ngài. Chúng ta là những người mạnh mẽ, vì Lời của Chúa ở trong chúng ta. Thế gian thuộc về ma quỉ mà chúng ta đã thắng ma quỉ là đã thắng thế gian (IGiăng 5:4-5).
Có hai khối, Đức Chúa Trời và ma quỉ. Hội Thánh thuộc về Đức Chúa Trời, thế gian thuộc về ma quỉ (IGiăng 5:19). Chúa Jêsus cũng đã phán: “Ai không ở với Ta, thì nghịch cùng Ta, ai không thâu hiệp với Ta thì tan ra” (Ma-thi-ơ 12:30). Điều quan trọng không phải là ta làm gì, mà ta đứng ở đâu, ta đứng với ai? Hãy trung thành với Chúa, chắc chắn Ngài sẽ ban quyền năng giúp chúng ta đắc thắng thế gian để sống đẹp ý Ngài.
III. VÌ SAO CHÚNG TA KHÔNG YÊU THẾ GIAN?
Chúng ta đã thuộc về Chúa thì không thuộc về thế gian, và chúng ta không yêu thế gian, vì các lý do sau:
1. Nếu ai yêu thế gian thì không thể yêu Chúa.
Chúa Jêsus phán: “Chẳng ai được làm tôi hai chủ, các ngươi không thể làm tôi Đức Chúa Trời lại làm tôi mamôn nữa” (Ma-thi-ơ 6:24). Tiền bạc hay sự giàu có đã trở thành vị thần với biệt danh là Mamôn, mà lắm con cái Chúa đã bắt đầu yêu nó, nên Chúa phải ra lệnh cất nó đi. Chúng ta phải “hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa” (Ma-thi-ơ 22:37), chứ không có phép chia xẻ lòng yêu mến đó cho bất cứ ai, cho bất cứ điều gì. Nếu một tín đồ bắt đầu yêu thế gian, thì lòng yêu Chúa cũng bắt đầu nguội dần (Ma-thi-ơ 24:12). Thần Mamôn cũng như thần Đa-gôn đều không đứng nổi trước mặt Chúa (I Sa-mu-ên 5:1-7).
2. Vì thế gian không ra từ Đức Chúa Trời.
Bản chất cốt yếu và đường lối của thế gian gom lại trong ba điều: Mê tham của mắt, mê tham của xác thịt và kiêu ngạo của đời.
a. Mê tham của mắt: Như Ê-va đã thấy trái cấm (Sáng thế ký 3:6), như A-can đã thấy áo choàng, bạc và vàng (Giô-suê 7:21), như Đa-vít đã thấy vợ Uri (II Sa-mu-ên 11:2). Cả ba điều sinh lòng mê tham nên đã phạm tội nặng.
b. Mê tham của xác thịt: Từ sự mê tham của mắt đưa đến sự mê tham của xác thịt như Ê-va, A-can, Đa-vít và đã làm như Lót, ngước mắt lên thấy khắp cánh đồng bằng bên sông Giô-đanh đều có nước nên ông chọn lấy cho mình hết cả (Sáng thế ký 13:10-11).
c. Kiêu ngạo của cuộc đời: Mê tham là ước ao một cách bất chính điều mình chưa có, còn kiêu ngạo là khoe khoang điều mình đã có. Song vì kiêu ngạo nên mới mê tham. Vì kiêu ngạo nên một thiên sứ cực phẩm đã trở thành ma quỉ, bị đuổi từ trời cao xuống âm phủ: “Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo” (I Phi-e-rơ 5:5).
3. Vì thế gian sẽ qua đi.
Thế gian với mọi điều nó có và mọi tham dục mà nó chưa đạt được, cũng sẽ qua đi. Tất cả đều tạm thời. Chúng ta không thuộc về thế gian mà thuộc về Đức Chúa Trời, nên phải nghĩ đến những gì còn lại đời đời. “Chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được, vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy” (IICôr 4:18).
Trong thời tiên tri Ê-li, dân Y-sơ-ra-ên bị hạn hán ba năm rưỡi không có sương và mưa. Cây cỏ chết, súc vật chết, người cũng chết vì thiếu nước, nhưng không ai biết nguyên do tại sao. Ê-li tụ tập dân Y-sơ-ra-ên lại và hỏi: “Anh em đi giẹo hai bên cho đến chừng nào? Nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, khá theo Ngài, nếu Ba-anh là Đức Chúa Trời, hãy theo hắn!” (ICác 19:21). Ông đã nêu ra nguyên do của nạn hạn hán là vì họ đã làm tôi hai chủ, vừa thờ Đức Chúa Trời, vừa thờ thần Ba-anh; vừa yêu thế gian, vừa yêu mến Chúa. Con cái Chúa không thể sống như vậy được, ai nấy phải dứt khoát một lòng theo Chúa, yêu mến Chúa, tôn thờ Chúa, hầu việc Chúa mà thôi.
CÂU HỎI
1. Chữ “thế gian” mà Giăng nói đây có nghĩa gì?
2. Thế gian thuộc về ai? Hội Thánh thuộc về ai?
3. Nhờ Chúa, chúng ta đã được ba điều gì?
4. Tại sao không thể vừa yêu Chúa vừa yêu thế gian?
5. Bản chất của thế gian gồm có ba điều gì?
6. Mọi sự thuộc về thế gian sẽ ra như thế nào?
7. Chúng ta phải chăm về những sự gì?
8. Đi giẹo hai bên như dân Y-sơ-ra-ên có nghĩa gì?
9. Chúng ta phải sống thế nào để đẹp lòng Chúa?
BÀI 32. NHẬN BIẾT CÁC TÀ GIÁO
KINH THÁNH: IGiăng 2:18-28.
CÂU GỐC: “Ai là kẻ nói dối, há chẳng phải kẻ chối Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ sao?” (IGiăng 2:22).
MỤC ĐÍCH: Giúp học viên phát giác những sai lầm của tà giáo và chỉ cho họ đâu là lời nói dối lớn hơn hết của các tà giáo.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Lời tuyên bố của thánh Giăng |
(Giăng 1:1-4; 14-16). |
|
TH: |
Lời tự xưng của Chúa Jêsus |
(Giăng 10:30-38). |
|
TB: |
Lời chứng của Đức Chúa Trời |
(Hê-bơ-rơ 1:1-8). |
|
TT: |
Đầu của Hội Thánh |
Cô-lô-se 1:15-19). |
|
TN: |
Gương của tín đồ |
(Phi-líp 2:4-13). |
|
TS: |
Lời chỉ dẫn để nhận biết phải trái |
(Ma-thi-ơ 7:15-23). |
|
TB: |
Ở trong Ngài |
(IGiăng 2:18-28). |
Ở đời, có sáng thì cũng có tối, có chính cũng có tà, có phải cũng có trái, có thật cũng có giả, song ngụy lý không thể trở thành chân lý, tà giáo không thể biến thành chính giáo, vàng giả không thể biến thành vàng thật. Đó là những nguyên tắc không bao giờ thay đổi.
Sản phẩm tốt nhất của ma quỉ là sự dối trá: Nói dối, làm dối. Nó là chó sói mang lốt chiên, bụi gai mang trái vả, ma quỉ giả làm thiên sứ, tiên tri giả mạo làm tiên tri thật. Vì vậy người bước đi với Chúa, bước đi trong Chúa là người phân biệt phải trái, không mắc mưu ma quỉ, không lừa gạt ai, cũng không bị ai lừa gạt.
I. NHẬN BIẾT GIÁO SƯ GIẢ CỦA CÁC TÀ GIÁO (2:18-21).
Sứ đồ Giăng thổi kèn báo động về giờ cuối cùng đã gần. Nếu lúc đó mà giờ đã gần thì lúc này lại gần là dường nào! Dấu hiệu của giờ đã gần là kẻ địch lại Đấng Christ phải đến. Kẻ địch lại Đấng Christ còn có biệt danh là “người tội ác, con của sự hư mất” (IITê 2:3). Song hiện nay chính nó chưa hiện ra mà chỉ có những kẻ tiên phong của nó là các giáo sư giả.
Chúa Jêsus tiên báo: “Vì nhiều christ giả và tiên tri giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn phép lạ, nếu có thể được thì họ cũng đến dỗ dành chính những người được chọn” (Ma-thi-ơ 24:24). Phi-e-rơ cảnh cáo: “Trong dân chúng cũng đã có tiên tri giả, và cũng sẽ có giáo sư giả trong anh em, họ sẽ truyền những đạo dối làm hại, chối Chúa đã chuộc mình, tự mình chuốc lấy sự hủy phá thình lình” (II Phi-e-rơ 2:1).
Sứ đồ Giăng cho chúng ta biết làm cách nào nhận diện các giáo sư giả.
1. Họ từ giữa chúng ta mà không thuộc về chúng ta.
Giáo sư giả ở trong Hội Thánh mà không thuộc về Hội Thánh. Có tên trong Hội Thánh hữu hình, sống giữa tín đồ thật mà không có sự thông công với tín đồ, họ là những tín đồ hữu danh vô thực. Dầu đã chịu Báp-têm, làm chức viên trong Hội Thánh, họ vẫn không thuộc về Hội Thánh. Họ là những người đã dạy Hội Thánh, song không gây dựng Hội Thánh mà chỉ phá hoại, vì dạy tà giáo. Họ nói mình thuộc về Đấng Christ, song hành động của họ là địch lại Đấng Christ. Họ xưng là anh em với chúng ta, song là anh em giả dối, lẻn vào trong vòng chúng ta để làm hại (Ga-la-ti 2:4). Phao-lô đã nói lên nỗi khổ tâm của ông: “Còn tôi biết rằng sau khi tôi đi, sẽ có muông sói dữ tợn xen vào trong vòng anh em, chẳng tiếc bầy đâu, lại giữa anh em cũng sẽ có những người nói lời hung ác dấy lên, ráng sức dỗ môn đồ theo họ” (Công vụ 20:29-30). Phao-lô đã gặp nhiều nguy hiểm, nhưng có lẽ nguy hiểm nhất là vì anh em giả dối (IICôr 11:26). Hễ xem trái thì biết cây.
2. Họ không ở với chúng ta mà ra khỏi chúng ta.
Khi thấy âm mưu phá hoại không thành, hoặc âm mưu bị bại lộ, mặt nạ bị rơi xuống, họ từ bỏ chúng ta. Chừng đó, ai nấy sẽ nhận diện họ là những anh em giả dối, bởi “chẳng có gì giấu mà không lộ ra, chẳng có gì kín mà không được biết” (Lu-ca 12:2). Cũng như Chúa Jêsus đã phán: “Nếu các ngươi hằng ở trong đạo Ta, thì thật là môn đồ Ta” (Giăng 8:31). Chúa biết kẻ thuộc về Ngài, nên kẻ giả dối không thể cứ ở trong Ngài.
Ngoài ra, người tín đồ thật nhờ sự xức dầu tức là đầy dẫy Thánh Linh mà nhận biết thật giả, phân biệt phải trái. Sự phân biệt đó căn cứ trên một nguyên tắc: “Chẳng có sự dối trá nào bởi lẽ thật mà ra”, ngược lại chẳng có lẽ thật nào bởi sự dối trá mà ra. Quỉ Phitôn đã ám ảnh một bà. Bà cứ đi sau Phao-lô và Si-la mà giới thiệu: “Những người này là đầy tớ của Đức Chúa Trời rất cao, rao truyền cho các ngươi đạo cứu rỗi”. Nó muốn tham gia đoàn truyền giáo của Phao-lô, nó muốn làm thiên sứ (IICôr 11:13-15). Chỉ sau vài ngày, Phao-lô đã đuổi nó ra khỏi người đàn bà đó và nó im mồm! (Công vụ 16:16-18).
II. NHẬN BIẾT TÍNH CHẤT VÀ HẬU QUẢ CỦA TÀ GIÁO (2:22-23).
1. Tính chất của tà giáo là sự dối trá.
Phi-e-rơ đại diện cho các sứ đồ đã tôn xưng Chúa Jêsus là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời Hằng Sống. Chúa Jêsus đã chấp nhận sự tôn xưng đó. Các sứ đồ đã chứng minh và truyền giảng luôn như vậy (Công vụ 5:42; 9:22; 17:3; 28:23; 18:28). Vì thế, không có sự dối trá nào bằng sự dối trá chối Chúa Jêsus là Đấng Christ. Những kẻ chối như vậy là địch lại Đấng Christ, họ là con cái, là công cụ của ma quỉ. Trong đời của Giăng cũng như ngày nay, có người chỉ nhận Chúa Jêsus là một vĩ nhân, một con người thánh thiện, một anh hùng tuận đạo mà chúng ta phải noi gương, song không nhận Ngài là Đấng Cứu Thế, Con của Đức Chúa Trời hằng sống mà chúng ta phải tôn thờ để được cứu rỗi. Giăng lên án kẻ đó là kẻ nói dối, không còn có kẻ nào nói dối hơn.
2. Hậu quả của tà giáo.
Chối Chúa Jêsus là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống là chối thần tính và nhân tính của Ngài, chối sự cứu rỗi mà Ngài đã hoàn thành trên thập tự giá, chối Tin Lành quyền năng của Đức Chúa Trời. Chối Chúa Jêsus thì cũng chối Đức Chúa Trời vì Chúa Jêsus là hiện thân của Đức Chúa Trời, là Đấng Trung bảo giữa Đức Chúa Trời và loài người, là con đường dẫn loài người đến cùng Đức Chúa Trời. Chối Chúa Jêsus là phá hủy niềm tin, làm mất sự cứu rỗi, biến Tin Lành của Đức Chúa Trời trở nên Tin Lành của người. Ảnh hưởng của tà giáo rất là nguy hiểm.
III. NHẬN BIẾT CÁCH GIỮ MÌNH KHỎI CÁC TÀ GIÁO (2:24-28).
Sứ đồ Giăng chỉ cho ta thấy cách nào nhận diện các giáo sư giả, tính chất và hậu quả của tà giáo mà các giáo sư ấy dạy. Bây giờ ông cũng chỉ cho chúng ta cách giữ mình khỏi các tà giáo.
1. Giữ điều mình đã nghe từ ban đầu (câu 24-25).
Tin Lành cứu rỗi mà chúng ta đã nghe từ ban đầu là Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con một của Ngài. Chúa Jêsus đã giáng sinh, đã chịu chết đền tội chúng ta, đã sống lại và về trời… Các điều đó phải ở trong chúng ta luôn, trở thành sự sống của chúng ta, lưu thông trong huyết quản của chúng ta; như vậy, chúng ta cứ được ở trong Con và trong Cha. Kết quả là chúng ta hưởng được sự sống đời đời của Ngài.
2. Giữ sự xức dầu mà mình đã nhận (câu 26-28).
Đức Chúa Trời đã xức dầu Thánh Linh cho mỗi chúng ta, nhờ Thánh Linh dạy dỗ chúng ta sẽ không hề lầm lạc mà hiểu được lẽ thật. Chúng ta không cần các giáo sư giả dạy dỗ vì chúng ta đã có Đức Thánh Linh là Giáo sư từ trời dạy dỗ mọi sự.
“Vậy bây giờ, hỡi các con cái bé mọn ta, hãy ở trong Ngài”. Trong thơ IGiăng có đến 23 lần dùng từ ngữ “Ở TRONG NGÀI”. Điều đó có nghĩa là hiệp nhất với Ngài, thông công với Ngài, dâng mình cho Ngài, biến mất trong Ngài, nhận lấy mọi sự trong Ngài.
Nếu ai nấy giữ điều mình đã nghe từ ban đầu, giữ sự xức dầu bằng Thánh Linh cho đến cuối cùng thì không còn lo sợ phải hổ thẹn khi Chúa đến, mà vững lòng. Chúa biết trước mọi sự, nên đã chuẩn bị mọi nhu cầu cho chúng ta. Hãy nhận điều đang nhận, hãy giữ điều đang giữ, hãy ở nơi đang ở cho đến cuối cùng.
CÂU HỎI
1. Sứ đồ Giăng đã báo động, trong giờ cuối cùng sẽ có ai hiện đến?
2. Làm sao chúng ta nhận diện được các tiên tri giả?
3. Những người giả dối trong Hội Thánh đã làm khó Phao-lô thế nào?
4. Tính chất của tà giáo mà Giăng nói đây là gì?
5. Ma quỉ nói dối thế nào?
6. Sự dối trá đó gây tai hại cho tín đồ thế nào?
7. Hai điều nào giữ chúng ta khỏi tà giáo?
8. Giữ sự xức dầu của Chúa có nghĩa gì?
9. Thế nào là ở trong Chúa?
BÀI 33. XỨC DẦU BẰNG ĐỨC THÁNH LINH
KINH THÁNH: IGiăng 2:24-28.
CÂU GỐC: “Chúng ta biết Ngài ở trong lòng chúng ta, là nhờ Đức Thánh Linh mà Ngài đã ban cho chúng ta” (IGiăng 3:24b).
MỤC ĐÍCH: Giúp các học viên nhận thức được tất cả những gì Đức Thánh Linh làm cho họ và qua trung gian của họ.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Được Đức Thánh Linh khiến sống lại |
(Rô-ma 8:1-13). |
|
TH: |
Được ĐTL ban quyền năng để làm chứng |
(Công vụ 1:1-8). |
|
TB: |
Được Đức Thánh Linh bảo đảm |
(Rô-ma 8:14-23). |
|
TT: |
Được Đức Thánh Linh an ủi và chỉ dạy |
(Giăng 14:15-31). |
|
TN: |
Được Đức Thánh Linh cầu thay |
(Rô-ma 8:22-28). |
|
TS: |
Hiệp một nhờ Đức Thánh Linh |
(Ê-phê-sô 2:13-22). |
|
TB: |
Được Đức Thánh Linh xức dầu |
(IGiăng 2:24-28). |
Khi Chúa Jêsus sắp về trời, Ngài hứa sẽ ban Đức Thánh Linh đến ở với và ở trong mọi tín đồ luôn cho đến tận thế. Công việc của Đức Thánh Linh là ứng dụng sự cứu rỗi vào đời sống của mỗi người như: Cáo trách tội lỗi và khiến cho tội nhân ăn năn, tái tạo đời sống người tin nhận Chúa Jêsus, khiến họ trở nên người mới. Khi đã trở nên người mới, Đức Thánh Linh đóng ấn, ngự trị, an ủi, dẫn dắt, nhắc nhở, chỉ dạy mọi sự cho người mới ấy.
Bài học hôm nay nói về Đức Thánh Linh chỉ dạy chúng ta mọi sự mà thánh Giăng gọi là ƠN XỨC DẦU.
I. Ý NGHĨA SỰ XỨC DẦU BẰNG ĐỨC THÁNH LINH.
Trong thời Cựu Ước, xức dầu là lễ tấn phong một cách trọng thể cho những người được giao phó những chức vụ đặc biệt như thầy tế lễ (Xuất 29:7), vua (I Sa-mu-ên 10:1) và tiên tri (ICác 19:16). Người được xức dầu còn là người được yêu mến, được chăm sóc và được các đặc ân của Đức Chúa Trời (Thi thiên 23:5; 105:14-15). Dân Y-sơ-ra-ên được gọi là dân lựa chọn của Chúa, là dân thánh, là nước thầy tế lễ (Xuất 19:6), vì họ được Ngài yêu thương, quí trọng.
Trong thời Tân Ước, Hội Thánh là thân thể của Chúa Jêsus, gồm tất cả tín hữu chân chính ở khắp thế gian, tức là những người được xức dầu bằng Thánh Linh. Tất cả những người đó, vô luận nam, phụ, lão, ấu đều là dòng dõi được lựa chọn, thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời (I Phi-e-rơ 2:5-9; Khải huyền 1:6). Trong cả vũ trụ, Chúa yêu chuộng Hội Thánh hơn hết, vì Ngài đã mua chuộc Hội Thánh bằng một giá rất cao là chính huyết mình. Hội Thánh như các chi thể trong một thân mà Chúa là đầu, Hội Thánh như các nhánh nho mà Ngài là gốc, Hội Thánh như các con cái trong một đại gia đình mà Ngài là Cha. Vì vậy Chúa thương yêu, lo liệu, chăm sóc Hội Thánh hơn hết. Các anh chị em có biết các đặc quyền Chúa ban cho mình đó không? Các anh chị em có hưởng được các đặc quyền đó chưa? Chúng ta hằng ngày cầu nguyện: “Lạy Cha chúng tôi ở trên trời” mà sống như kẻ mồ côi!
Trong thời Cựu Ước, những người được xức dầu làm vua là để chăn dân, làm tiên tri là để dạy dân và làm thầy tế lễ là để cầu thay cho dân. Trong ba chức vụ đó, thầy tế lễ là người quan trọng hơn cả, vì ngoài sự cầu thay cho dân được tha tội, còn truyền giảng Lời Chúa cho họ như một sứ giả: “Vì môi miệng của thầy tế lễ nên giữ sự thông biết, người ta tìm luật pháp trong miệng nó, vì nó là sứ giả của Đức Giê-hô-va vạn quân” (Ma-la-chi 2:7; Phục truyền 17:8-11).
Mỗi chúng ta ngày nay là kẻ được xức dầu của Chúa để làm chức tế lễ. Nhiệm vụ của chúng ta là cầu thay cho tội nhân, giải thích luật pháp của Chúa cho họ và đưa họ đến sự cứu rỗi. Chúng ta phải ý thức được quyền và nhiệm vụ của mình để thi hành ngay. Đời xưa, nếu một thầy tế lễ không làm nhiệm vụ của mình một cách đầy đủ, chắc chắn dân sự của Chúa phải chịu thiệt thòi biết bao! Ngày nay cũng vậy, đồng bào chúng ta không thể biết Chúa để tin nhận Ngài và được cứu rỗi nếu chúng ta không làm nhiệm vụ tế lễ của chúng ta. Chức tế lễ rất có phước và đem phước hạnh đến cho kẻ khác.
II. CÔNG HIỆU CỦA SỰ XỨC DẦU BẰNG ĐỨC THÁNH LINH.
Khi được xức dầu bằng Thánh Linh, chúng ta có một giáo sư ở cạnh bên và ở luôn trong lòng. (Xin đọc lại câu gốc).
1. Thánh Linh dạy dỗ chúng ta mọi sự (IGiăng 2:27).
a. Khi Thánh Linh giáng lâm, Ngài đã nhắc lại cho các sứ đồ nhớ mọi điều mà Đức Chúa Jêsus đã dạy, nên nhờ đó họ ghi chép một cách chính xác trong bốn sách Tin Lành. Thánh Linh cũng dạy dỗ các sứ đồ mọi sự khác có tương quan đến sự cứu rỗi, nên nhờ đó, họ đã phô bày chân lý một cách không sai lầm như có ghi chép trong sách Công vụ các sứ đồ và các thơ tín (Giăng 15:26; 26:13).
Đối với chúng ta, Thánh Linh cũng nhắc cho chúng ta nhớ lại mọi điều mình đã học để áp dụng vào nếp sống hằng ngày. Thánh Linh cũng dạy chúng ta hiểu được chân lý mà Ngài đã dùng các sứ đồ ghi chép lại.
Chúa Jêsus cũng đã đề cập đến trường hợp bất luận con cái nào của Ngài phải vì đức tin mà bị bắt giải đến trước mặt các quan “thì chớ lo về cách nói làm sao hoặc nói lời gì, vì những lời đáng nói sẽ chỉ cho các ngươi trong chính giờ đó. Ấy chẳng phải các ngươi tự nói đâu, song là Thánh Linh của Cha các ngươi sẽ từ trong lòng các ngươi nói ra” (Ma-thi-ơ 10:19-20).
b. Khi Thánh Linh giáng lâm, Ngài đã dạy các môn đồ làm chứng về Chúa Jêsus (Giăng 15:26-27). Thánh Linh đến để làm chứng về Chúa Jêsus, nên chúng ta phải nhờ Ngài dạy chúng ta làm chứng. Không có ai đủ tư cách, khả năng làm chứng về Chúa Jêsus nếu không nhờ Thánh Linh. Vì vậy, Chúa Jêsus đã dặn dò các môn đồ đừng bắt đầu làm chứng cho đến chừng nào Thánh Linh giáng lâm trên họ (Công vụ 1:4-8). Từ khi Thánh Linh giáng lâm, nhờ sự chỉ dạy và công tác của Ngài, Hội Thánh đầu tiên đã làm chứng và có kết quả lạ lùng.
– 3.000 người (Công vụ 2:41).
– Số tín hữu lên đến 5.000 (4:4).
– Đông lắm (4:32; 5:14).
– Thêm lên nhiều lắm và cũng có các thầy tế lễ (6:1-7).
– Số của hội được thêm lên (9:31).
– Số người tin và trở lại cùng Chúa rất nhiều (11:21).
– Rất đông người tin theo Chúa (11:24).
– Số người ngày càng thêm lên (16:5).
– Đạo Chúa ngày càng được thắng (19:20).
– Mấy vạn người Giu-đa đã tin (21:20).
c. Thánh Linh cũng dạy chúng ta cầu nguyện (Ê-phê-sô 6:18). Nếu không nhờ Thánh Linh dạy dỗ và hướng dẫn, không ai biết phải cầu nguyện như thế nào cho xứng đáng để được Đức Chúa Trời nhậm lời. Nếu không nhờ Thánh Linh cảm động, chúng ta sẽ cầu nguyện một cách lạnh nhạt, buồn tẻ và lời mình xin chẳng đi đến đâu hết! Đó là lý do khiến chúng ta nản lòng trong sự cầu nguyện. Vậy chúng ta hãy thưa với Chúa như các môn đồ: “Lạy Chúa, xin dạy chúng tôi cầu nguyện” (Lu-ca 11:1).
2. Thánh Linh khiến chúng ta dạn dĩ trong ngày Chúa Jêsus tái lâm (IGiăng 2:28).
Sự xức dầu bằng Thánh Linh còn là một sự đóng dấu, chứng minh rằng chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời. Bất luận một bửu vật nào cũng đều được đóng dấu của chủ nó. Sự đóng dấu đó nói lên nó thuộc về ai. Đức Chúa Trời không đóng dấu chúng ta bằng mực, nhưng bằng Thánh Linh ngự trong lòng chúng ta, là một ấn chứng không bao giờ phai mờ, nên chúng ta không còn lo sợ gì trong ngày Chúa Jêsus tái lâm (Ê-phê-sô 1:13; 4:30).
Tóm lại, sự xức dầu bằng Thánh Linh thật rất quí báu. Tại Phi Châu, một thanh niên có việc phải ra thành phố. Nhờ đó anh được nghe Tin Lành và tin Chúa. Anh yêu cầu Mục sư sai người vào làng anh để giảng. Song vì làng anh ở sâu trong rừng rậm, nên chưa có ai đi được. Vì thế, anh trở về làng với hai quyển sách Tin Lành. Sau 5 năm, các tín hữu đến làng anh thì ai nấy ngạc nhiên vì cả làng đều tin Chúa và thường họp trong một túp lều tranh mỗi sáng Chúa nhật. Điều rất lạ lùng là anh hiểu rất chính xác Lời Chúa, giảng giải và áp dụng Lời Chúa vào nếp sống hằng ngày của mỗi người. Thử hỏi: Ai đã chỉ dạy anh? – Đức Thánh Linh.
Hiện nay, một số anh chị em ở xa không được giáo sư nào chỉ dạy, song xin đừng thất vọng! Các anh chị có một giáo sư lỗi lạc nhất, khôn ngoan nhất, quyền năng nhất, gần gũi nhất, chính Ngài chỉ dạy anh chị em những điều cần yếu nhất để ai nấy bước đi một cách xứng đáng trước mặt Chúa. Ngài là Đức Thánh Linh.
CÂU HỎI
1. Xức dầu là lễ tấn phong cho những ai?
2. Ngày nay mỗi chúng ta được xức dầu bằng Thánh Linh để làm gì?
3. Chức tế lễ của chúng ta hôm nay có nhiệm vụ gì?
4. Đức Thánh Linh dạy chúng ta những gì?
5. Nhờ đâu Hội Thánh đầu tiên có kết quả?
6. Hãy kể sơ lược các bước tiến của Hội Thánh đầu tiên.
7. Làm thế nào để chúng ta có thể cầu nguyện cách phải lẽ?
8. Nhờ ai để chúng ta không hổ thẹn mà dạn dĩ trong ngày Chúa Jêsus tái lâm?
9. Ai là giáo sư tốt nhất của mỗi tín đồ?
BÀI 34. CON CÁI ĐỨC CHÚA TRỜI
KINH THÁNH: IGiăng 2:29-3:3.
CÂU GỐC: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy” (IGiăng 3:2).
MỤC ĐÍCH: Thúc giục người Cơ Đốc lãnh hội tính cách kỳ diệu của việc làm con cái Đức Chúa Trời.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Làm con Đức Chúa Trời nhờ quyền năng Ngài |
(Giăng 1:1-14). |
|
TH: |
Làm con nhờ đức tin đến Chúa Jêsus |
(Ga-la-ti 3:22-27). |
|
TB: |
Làm con nhờ được sinh ra lần thứ hai |
(I Phi-e-rơ 1:18-25). |
|
TT: |
Làm con nhờ Thánh Linh làm chứng |
(Rô-ma 8:10-17). |
|
TN: |
Trong gia đình Đức Chúa Trời |
(Mác 3:31-35). |
|
TS: |
Được Đức Chúa Trời sinh ra |
(Gia-cơ 1:13-21). |
|
TB: |
Giống như Ngài |
(IGiăng 2:29-3:3). |
Chúng ta phải biết mình là ai và nhớ mình là ai! Chúng ta bị cám dỗ ăn ở bừa bãi, bê tha thường là vì chúng ta không biết mình là ai, không nhớ mình là ai. Chúng ta khinh mình trước, người khác mới khinh mình sau. Các bài học vừa qua cho chúng ta biết Đức Chúa Trời là sự sáng, chúng ta là con cái của sự sáng, chúng ta phải bước đi trong sự sáng để được thông công với Ngài và với nhau. Chúng ta phải là những người mạnh dạn, phải sống như Chúa Jêsus đã sống, đắc thắng ma quỉ, xa lánh thế gian, phân biệt phải trái nhờ được Đức Thánh Linh xức dầu… Nay chúng ta học để biết mình là CON CÁI ĐỨC CHÚA TRỜI.
I. Ý NGHĨA CON CÁI ĐỨC CHÚA TRỜI.
Có người tưởng rằng từ ngữ “con cái Đức Chúa Trời” mang một tính cách phổ thông vì toàn thể nhân loại đều là con cái Đức Chúa Trời. Đó là tưởng lầm, thật ra không phải như vậy!
Nhân loại đều là con cái Đức Chúa Trời theo công lệ thiên nhiên mà Chúa đã đặt khi Ngài phán với A-đam và Ê-va: “Hãy sinh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất” (Sáng thế ký 1:28). Nhưng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời vì “được Ngài sinh ra”. Chính Thánh Linh đã phân loại: “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài” (Giăng 1:12).
Không phải mọi người đều đương nhiên là con cái Đức Chúa Trời, nhưng người đó phải nhận Chúa Jêsus, tin danh Ngài. Con cái Đức Chúa Trời là những người theo phương diện tiêu cực thì “chẳng phải sinh bởi khí huyết hoặc bởi tình dục hoặc bởi ý người”, và theo phương diện tích cực thì người ấy “SINH BỞI ĐỨC CHÚA TRỜI VẬY” (Giăng 1:12-13). Từ ngữ “con cái Đức Chúa Trời” được Phao-lô và Giăng dùng với ý nghĩa khác nhau. Phao-lô nói về địa vị, phẩm hạnh, quyền lợi hay là sự tương quan hợp pháp (Ga-la-ti 4:5-7 và Ê-phê-sô 1:5). Còn Giăng nói về sự sinh lại hay tái sinh (IGiăng 3:9).
Vì vậy, không những chúng ta được xưng, được gọi là con cái Đức Chúa Trời mà chúng ta là con cái Ngài, chứ không phải là những kẻ hữu danh vô thực, có tiếng mà không có miếng! Do đó, chúng ta rất dạn dĩ và tự nhiên mà kêu Đức Chúa Trời là Aba, Cha.
Thế gian chẳng biết chúng ta thật là con cái Đức Chúa Trời, vì họ chẳng từng biết Ngài. Qua cõi thiên nhiên, thế gian biết Chúa là Đấng Tạo Hóa quyền năng, vinh hiển, thánh khiết (Rô-ma 1:19-21). Song họ không biết Ngài là Đấng yêu thương mình. Chúng ta là con cái của Ngài nên chúng ta biết bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu của tình thương Ngài (Ê-phê-sô 3:18-19).
II. LÝ DO ĐỨC CHÚA TRỜI KHIẾN CHÚNG TA TRỞ NÊN CON CÁI NGÀI.
– BỞI TÌNH THƯƠNG KỲ DIỆU CỦA NGÀI: “Hãy xem Đức Chúa Cha đã tỏ cho chúng ta sự yêu thương dường nào, mà cho chúng ta được xưng là con cái Đức Chúa Trời” (IGiăng 3:1).
Để khiến chúng ta trở nên con cái Ngài, Đức Chúa Trời phải trả một giá, phải làm một việc kỳ diệu là sai Con Độc sanh của Ngài giáng thế làm người, chịu chết đền tội cho chúng ta và sống lại. Chữ “Hãy xem” trong câu Kinh Thánh trên là tiếng kêu: Hãy chú ý, bình tâm định thần mà suy gẫm tình thương của Chúa đối với chúng ta là kỳ diệu dường nào! Phao-lô cũng đã kêu lên: “Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta, nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống lại với Đấng Christ. Ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu” (Ê-phê-sô 2:4-5).
Chúng ta không xúc động trước tình thương của Chúa hay sao? Tình thương đó chưa đủ chinh phục chúng ta hay sao? Phao-lô vốn là người phạm thượng, bắt bớ hung bạo (I Ti-mô-thê 1:13), song ông được tình thương của Chúa chinh phục. Ông nói: “Vì tình yêu của Đấng Christ cảm động chúng tôi…” Cảm động cũng có nghĩa là ép buộc, kềm chế, cưỡng bách, nên ông tiếp: “Chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người thì mọi người đều chết, lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình” (IICôr 5:14-15).
Vì vậy, Phao-lô đã xem mọi quyền lợi, dầu là quyền lợi chính đáng lớn lao, như rơm rác. Ông đã tận hiến đời mình cho Chúa, sẵn sàng chấp nhận đòn vọt, lao tù, đói rét, hiểm nguy để theo Chúa và phục vụ Ngài. Vì vậy, đã có lần Phê-tu nói lớn lên rằng: “Hỡi Phao-lô, ngươi lãng trí rồi! Ngươi học nhiều quá đến nỗi ra điên cuồng” (Công vụ 26:24). Phao-lô đã tự nhận như thế vì cớ danh Chúa (IICôr 5:13). Chắc Phao-lô lấy làm vinh về điều đó, vì người Do thái cũng đã cho Chúa Jêsus là điên cuồng (Mác 3:21; Giăng 10:20). Kỳ thực Chúa Jêsus cũng như Phao-lô đều không điên cuồng. Chúa Jêsus bị tình thương của Ngài thúc giục, Phao-lô bị tình thương của Ngài cảm động. Nguyện tình thương của Chúa cảm động tất cả chúng ta!
III. TƯƠNG LAI CỦA CON CÁI ĐỨC CHÚA TRỜI.
Ngay bây giờ, chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. Điều đó đã rất rõ ràng và chắc chắn! Còn chúng ta sẽ ra thế nào thì chưa được bày tỏ, vì điều đó rất trọng đại và tế nhị. Song chúng ta biết rằng khi Chúa hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài (IGiăng 3:2).
Ngày kia, một người phiên dịch Kinh Thánh đến câu: “Chúng ta sẽ giống như Ngài”, thì người đã để viết xuống và nói: “Không! Chúng ta không xứng đáng được giống như Ngài đâu, nên phải dịch Chúng ta sẽ hôn chân Ngài”. Ôi! Tương lai của con cái Đức Chúa Trời kỳ diệu quá đến nỗi dịch giả đã phải ngạc nhiên, song đó là một chân lý, vì tình thương của Chúa đã dự bị cho chúng ta được như vậy.
Không diễn tả nổi sự vinh hiển tương lai của chúng ta, nên Phao-lô đã nói: “Tôi tưởng rằng những sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta. Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sẽ sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng vô biên” (Rô-ma 8:18; IICôr 4:17).
Chúng ta có thể biết được một ít về sự vinh hiển mà chúng ta sẽ được là “Ngài sẽ biến hóa thân thể hèn mạt của chúng ta ra giống như thân thể vinh hiển của Ngài” (Phi-líp 3:21).
Đã có lần Chúa biểu lộ thân thể vinh hiển Ngài trên núi hóa hình: “Mặt Ngài sáng lòa như mặt trời, áo Ngài trắng như ánh sáng” (Ma-thi-ơ 17:2). Vì thế, Chúa đã phán về chúng ta rằng: “Khi ấy những người công bình sẽ chói rạng như mặt trời trong nước của Cha mình” (Ma-thi-ơ 13:43).
IV. HY VỌNG CỦA CON CÁI ĐỨC CHÚA TRỜI (IGiăng 3:3).
Nếu chúng ta muốn tương lai được vinh hiển như Chúa, thì hiện tại chúng ta phải tinh sạch như Ngài. Hy vọng được vinh hiển như Chúa làm cho chúng ta xem thường mọi vật xung quanh. Hy vọng đó là một sức mạnh lôi cuốn chúng ta đi theo Chúa, sống cuộc đời xứng đáng như Ngài. Trái lại, nếu ai không có hy vọng đó, thì sống cuộc đời bê tha, bừa bãi như thế gian.
Nếu chúng ta thật là con cái Đức Chúa Trời, chúng ta có hy vọng vô cùng lớn lao, thì không thể nào ăn ở liều lĩnh như người vô vọng. Ngày hiện đến của Chúa đã gần. Hãy nghe sứ đồ Giăng: “Kìa, Ngài đến giữa những đám mây… quả thật vậy. Amen” (Khải huyền 1:7).
CÂU HỎI
1. Tại sao chúng ta biết rằng cả thế gian không phải là con cái Đức Chúa Trời như chúng ta?
2. Muốn được trở nên con cái Đức Chúa Trời thì phải làm sao?
3. Tại sao Đức Chúa Trời khiến chúng ta trở nên con cái Ngài?
4. Tình thương đã làm gì cho Chúa Jêsus và cho Phao-lô?
5. Tại sao người đời đã cho Chúa Jêsus và Phao-lô là điên cuồng?
6. Trong tương lai, con cái Đức Chúa Trời sẽ được gì?
7. Sự vinh hiển của Chúa Jêsus đã từng biểu lộ ở đâu?
8. Nếu muốn được vinh hiển với Chúa trong tương lai, thì hiện tại chúng ta phải ăn ở như thế nào?
9. Nếu giờ nầy Chúa đến thì lòng của chúng ta có tinh sạch không? Nếu không, chúng ta phải làm gì?
BÀI 35. TIÊU CHUẨN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
KINH THÁNH: IGiăng 3:4-10.
CÂU GỐC: “Ai sanh bởi Đức Chúa Trời thì chẳng phạm tội, vì hột giống của Đức Chúa Trời ở trong người, và người không thể phạm tội được vì đã sanh bởi Đức Chúa Trời” (IGiăng 3:9).
MỤC ĐÍCH: Dạy rằng bí quyết giúp chúng ta đạt đến tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời là ở trong Chúa và để cho Lời Chúa ở trong mình.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Tội không vâng lời đầu tiên |
(Sáng 3:1-24). |
|
TH: |
Tội nói dối |
(Ê-phê-sô 4:25; Cô-lô-se 3:9). |
|
TB: |
Tội ngoại tình |
(Sáng 39:1- 23; ICôr 6:18-20). |
|
TT: |
Tội ghen tị |
(Gia-cơ 3:13- 4:12; Cô-lô-se 3:12-14). |
|
TN: |
Tội sát nhân |
(Sáng thế ký 4:1-8). |
|
TS: |
Nhờ lời Chúa giữ mình khỏi tội |
(Thi 119:1-16). |
|
TB: |
Làm trọn luật pháp |
(Rô-ma 13:8-10; IGiăng 3:4-10). |
Đức Chúa Trời có một đường lối và một tiêu chuẩn đạo đức cho con cái Ngài. Nếu chúng ta theo đường lối của Ngài thì đạt đến tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn đó là: Ai nấy phải ăn ở một cách ngay thẳng và trong sạch. Vì chỉ có cuộc đời như vậy mới đẹp lòng Chúa, tôn vinh Chúa và đem nhiều tội nhân về với Chúa.
I. TIÊU CHUẨN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ KHÔNG PHẠM TỘI (3:4- 5,8).
Phạm tội là một hành động trái luật, là bất pháp, là vô kỷ cương. Kẻ nào phạm tội là thuộc về ma quỉ, vì ma quỉ là đứa phạm tội từ lúc ban đầu. Căn nguyên của tội lỗi là ma quỉ. Công việc của nó là phạm tội và cám dỗ mọi người phạm tội như nó.
Không gì đáng gớm ghiếc bằng tội lỗi. Không gì có sức phá hủy bằng tội lỗi. Tội lỗi phá hủy đời sống cá nhân, gia đình, xã hội. Tất cả sự đau đớn của nhân loại trong đời này lan tới đời sau đều do tội lỗi mà ra. Vì vậy, Chúa Jêsus đã đến thế gian để cất tội lỗi đi và phá hủy công việc của ma quỉ. Phá hủy đây không có nghĩa là làm cho nó bị tiêu diệt hoàn toàn, song vô hiệu hóa, tước đoạt sức của nó, chiến thắng và chinh phục nó… Vì vậy, ma quỉ không có quyền ép buộc tín đồ phạm tội mà nó chỉ có thể cám dỗ, lừa gạt.
Để thực hiện hai công tác trên, Chúa Jêsus đã phải hiện ra, tức là giáng sinh làm người, chịu chết đền tội cho chúng ta. “Vì con cái có phần về huyết và thịt, nên chính Đức Chúa Jêsus cũng có phần vào đó, hầu cho Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ” (Hê-bơ-rơ 2:14). Xem đó, chúng ta thấy rằng: Vì muốn chúng ta đạt đến một đời sống không phạm tội mà Đức Chúa Trời đã không tiếc chính Con Độc sanh của Ngài là Chúa Jêsus. Thế mà một số các anh chị em đã không ý thức tầm quan trọng của nó, nên vẫn sống theo một tiêu chuẩn quá thấp. Hành động như vậy là phụ lòng Chúa, xem thường sự hy sinh của Ngài, khiến Ngài bị đau đớn là dường nào! Chúng ta phải luôn nhớ rằng bản chất đời đời của Chúa chúng ta là vô tội, trọn vẹn, còn bản chất của tội lỗi là gớm ghiếc khôn tả. Hai bản chất đó không thể dung hòa nhau được mà luôn chống đối nhau. Nếu thật là con cái Chúa, chúng ta không nỡ nào có hành động làm buồn Cha mình.
II. BÍ QUYẾT SỐNG ĐẠT TIÊU CHUẨN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
Đường lối nào đưa chúng ta đến tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời là không phạm tội?
Trong một bữa ăn, chồng nói với vợ: “Dường như đã có điều gì xảy ra cho anh A ở bên cạnh nhà ta. Trước đây, anh ấy đi vắng thì thôi mà hễ về đến nhà thì rầy vợ đánh con, lúc nào cũng ồn cả xóm. Bây giờ, anh ta lại bình tĩnh vui vẻ, nói năng đàng hoàng, gia đình êm ấm. Lạ thật!” Vợ đáp: “Nghe nói anh ấy đã theo đạo Tin Lành. Chắc đạo đã thay đổi tính tình của anh ấy nên mới được như vậy!”
1. Ở trong Chúa (3:6).
Chúa không hề phạm tội, trong Ngài không hề có tội. Vậy nếu chúng ta ở trong Ngài thì không có tội và không phạm tội.
Ở trong Chúa có nghĩa gì? Làm sao để được ở trong Chúa? Chúa Jêsus phán: “Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong Ta và Ta trong họ thì sinh ra lắm trái, vì ngoài Ta các ngươi chẳng làm chi được” (Giăng 15:5). Bởi đức tin, chúng ta được liên kết với Chúa, hiệp nhất cùng Ngài, trở nên một phần tử của Ngài như các nhánh nho trong cùng một gốc. Gốc nho có trách nhiệm cung cấp mọi nhu cầu cho các nhánh để nhờ đó các nhánh kết quả. Chúa cũng lo cho chúng ta như vậy.
Cứ ở trong Ngài là cứ giữ mối thông công mật thiết với Ngài, tức là bước đi trong Ngài, sống như Ngài đã sống. Cứ ở trong Ngài là cứ yên nghỉ trong Ngài vì hoàn toàn tin cậy Ngài như em bé ở trong cánh tay của mẹ. Cứ ở trong Ngài là phục tùng Ngài trọn vẹn, để Ngài thực hiện chương trình tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Ngài trong chúng ta.
2. Lời Chúa ở trong chúng ta (3:9).
Không hề có sự mâu thuẫn giữa IGiăng 1:8-19 và 2:1-2 với 3:6,9. Câu 6 “Ai ở trong Ngài thì không phạm tội…” Câu 9 “Ai sanh bởi Đức Chúa Trời thì chẳng phạm tội vì hột giống của Đức Chúa Trời ở trong người, và người không thể phạm tội được”. Vậy, IGiăng 3:6,9 có nghĩa gì? Tín đồ có thể phạm tội vì yếu đuối, vì vô tình như có chép trong IGiăng 1:8-10 và 2:1-2, song không thể cứ phạm tội, không có thói quen phạm tội, không cố tình phạm tội, phạm tội không phải là nếp sống của họ. Vì tín đồ là người đã được sinh ra bởi Đức Chúa Trời, đã dự phần bản chất của Ngài (II Phi-e-rơ 1:4), lại được hột giống của Đức Chúa Trời ở trong người. Hột giống đó là “Lời bền vững và đời đời của Đức Chúa Trời” (I Phi-e-rơ 1:23). Lời đó cũng là Chúa Jêsus, vì Ngài vốn là Ngôi Lời đã trở nên xác thịt (Giăng 1:14). Vậy nên, một Cơ Đốc nhân chân chính mỗi khi lỗi lầm, vấp phạm thì ăn năn ngay để cứ giữ được mình ở trong Chúa, và Chúa cùng Lời Ngài ở trong mình.
Thế thì, người đạt đến tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời là người ở trong Chúa và Chúa ở trong người. Người đó chẳng phạm tội và không thể phạm tội được. Người đó kể mình đã chết về tội lỗi và đang sống cho Đức Chúa Trời, không phải người đó sống nữa, nhưng Chúa Jêsus sống trong người. Không ai có thể sống cuộc đời Cơ Đốc nhân ngoài ra Chúa Cơ Đốc. Nói cách khác, chỉ có Chúa Cơ Đốc mới có thể sống cuộc đời Cơ Đốc nhân, và hiện nay Ngài đang sống cuộc đời đó trong những kẻ bằng lòng hiệp nhất với Ngài để Ngài ở trong họ và họ ở trong Ngài.
Một chiếc bình không, mở miệng, được ném xuống dòng nước, thì bình ở trong nước và nước cũng ở trong bình. Một thỏi sắt được ném vào lò lửa thì sắt ở trong lửa và lửa ở trong sắt. Để đạt đến tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, chúng ta phải chìm đắm và biến mất trong Chúa, để đồng thời Ngài cũng chiếm hữu và đầy dẫy trong chúng ta đến nỗi “không phải là tôi sống nữa nhưng Đấng Christ sống trong tôi” (Ga-la-ti 2:20).
Tóm lại, trong thế gian có hai nhóm: Con cái Đức Chúa Trời và con cái ma quỉ (3:10). Mỗi người phải tự xét để biết chắc mình thuộc về nhóm nào. Phạm tội là con cái ma quỉ, làm điều công bình và yêu anh em mình là con cái Đức Chúa Trời. Nếu biết mình là con cái Chúa mà chưa đạt đến tiêu chuẩn đạo đức Ngài muốn thì không nên nhắm mắt làm ngơ, song phải ăn năn ngay, phải tận hiến đời mình cho Chúa để Ngài ngự trị, hầu cho sự sống phục sinh của Ngài khiến chúng ta có một đời sống thánh khiết, không phạm tội. Đó là tiêu chuẩn Ngài muốn cho chúng ta đạt đến.
CÂU HỎI
1. Tiêu chuẩn đạo đức Chúa muốn chúng ta đạt đến là gì?
2. Phạm tội là gì?
3. Ai là căn nguyên của tội lỗi?
4. Bản chất của Chúa và bản chất của tội khác nhau như thế nào?
5. Làm thế nào để đạt đến tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời?
6. Ở trong Chúa có nghĩa gì?
7. Chúa ở trong mình có nghĩa gì?
8. Tại sao người tín đồ chẳng phạm tội và không thể phạm tội được?
9. Làm sao để được ở trong Chúa và Chúa ở trong mình?
BÀI 36. YÊU THƯƠNG NHƯ ĐỨC CHÚA TRỜI
KINH THÁNH: IGiăng 3:10-14.
CÂU GỐC: “Bởi đó chúng ta nhận biết lòng yêu thương, ấy là Chúa vì chúng ta bỏ sự sống; chúng ta cũng nên bỏ sự sống vì anh em mình vậy” (IGiăng 3:16).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ rằng, nếu chúng ta yêu thương các con cái Đức Chúa Trời như Ngài đã yêu thương chúng ta thì chúng ta có thể tin chắc mình là con cái Ngài.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Tình thương kết hợp |
(Ê-phê-sô 4:1-6). |
|
TH: |
Tình thương kết quả |
(Ê-phê-sô 4:30-32; ITê 4:9-12). |
|
TB: |
Tình thương làm trọn luật pháp |
(Rô-ma 13:8-14). |
|
TT: |
Gương tốt cho chúng ta |
(Ê-phê-sô 5:1, 2, 17-20). |
|
TN: |
Điều răn phải yêu thương |
(Giăng 13:34- 35; 15:12-17). |
|
TS: |
Hai điều răn quan trọng |
(Ma-thi-ơ 22:34-40). |
|
TB: |
Tình thương của Đức Chúa Trời |
(IGiăng 3:10-24). |
Tuần trước, chúng ta đã học về dấu hiệu của con cái Đức Chúa Trời là ngay thẳng, trong sạch, tức là không phạm tội. Hôm nay chúng ta học về dấu hiệu khác của con cái Chúa là ngay thẳng và yêu thương lẫn nhau (3:10). Nếu sống cuộc đời ngay thẳng (công bình) và yêu thương lẫn nhau thì chúng ta biết chắc mình là con cái Chúa. Vì vậy, thánh Giăng đã nhắc luôn sứ điệp mà ai nấy đã nghe từ ban đầu là phải yêu thương lẫn nhau (2:7-8; 3:11,23).
I. CA-IN VÀ THẾ GIAN ĐÃ THẤT BẠI VÌ THIẾU YÊU THƯƠNG (3:12-15).
“…Ca-in là kẻ thuộc về ma quỉ, đã giết em mình”. Ma quỉ đã cám dỗ A-đam và Ê-va phạm tội nên nó đã bị kết án là kẻ giết người từ ban đầu (Giăng 8:44). Vậy ai phạm tội giết người như Ca-in thì bị kể là con cái của ma quỉ.
Tại sao Ca-in giết em mình? – “Bởi việc làm của người là dữ, còn việc làm của em người là công bình” (IGiăng 3:12). Ca-in không giết người xấu hơn mình, song giết người tốt hơn mình. Ca-in giết em vì ganh tị khi thấy của lễ của em được Chúa nhậm, còn tế lễ của mình bị khước từ. Đáng lẽ ông vâng lời Chúa như em mình đã vâng lời, hoặc sửa lại việc sai lầm của mình, song ông lại giết em mình (Sáng thế ký 4:1-8). Đã không tin cậy Chúa, chẳng vâng lời Ngài, làm việc ác, ông lại không ăn năn và làm việc ác hơn. Đó là tội chồng trên tội. Nơi nào không có tình thương thì ích kỷ ngự trị và nó trở thành trung tâm hoạt động của con người. Ích kỷ biến thành ganh tị, ganh tị đưa đến sát nhân. Ganh tị là một tội đáng sợ.
Vì lòng ganh tị và ghen ghét, các anh của Giô-sép chẳng có thể lấy lời tử tế để nói cùng chàng được và cuối cùng đã lập mưu giết chàng (Sáng thế ký 37:4-5,8,11,18). Sau-lơ quyết định hạ sát Đa-vít cho kỳ được, vì dân chúng hoan nghinh Đa-vít hơn ông (I Sa-mu-ên 18:6-9). Hàng giáo phẩm của Dothái giáo đã tìm phương giết Chúa Jêsus chỉ vì lòng ganh tị (Giăng 11:47; Ma-thi-ơ 27:18). Thầy cả thượng phẩm và phe cánh của người bỏ tù Phi-e-rơ và Giăng cũng chỉ vì “đầy lòng ghen ghét” (Công vụ 5:7). Ôi! Ghê gớm thay là lòng ganh tị và ghen ghét!
Không những Ca-in mà dòng dõi của ông cũng sinh ra trong sự ghen ghét mà thánh Giăng gọi là “thế gian”. Như Ca-in ghen ghét em mình là A-bên thì thế gian cũng ghen ghét con cái Chúa như vậy. Người công bình là con cái Chúa luôn bị ghen ghét bởi kẻ gian ác là con cái ma quỉ. Nếu thế gian ghen ghét Chúa, thì làm sao họ yêu thương chúng ta được? (Giăng 15:18-19). Chúng ta đừng ngạc nhiên vì bị ghen ghét, song phải thản nhiên. Thánh Giăng đã so sánh sự trái nhau giữa con cái Chúa và con cái ma quỉ như sáng với tối, thương với ghét, sống với chết, giết người và cứu người, “Ai ghét anh em mình là kẻ giết người”.
II. CHÚA JÊSUS VÀ HỘI THÁNH ĐÃ ĐẮC THẮNG BỞI TÌNH YÊU THƯƠNG (3:16-24).
Đặc điểm của con cái ma quỉ là tức giận, ghen ghét khi thấy người khác thành công, song cười to thoải mái khi thấy người khác phạm tội. Đặc điểm của con cái Đức Chúa Trời là vui mừng, cảm tạ khi thấy anh em mình được phước, và khóc lóc cầu xin khi thấy họ phạm tội.
Ca-in hành động trái với Chúa Jêsus. Ca-in hủy diệt sự sống của em là vì tự ái và lòng ghen tị của mình. Còn Chúa Jêsus hy sinh chính sự sống của mình vì yêu thương anh em mình. Tình thương của Chúa được bày tỏ qua sự chết của Ngài vì chúng ta (Giăng 15:12-13). Chúng ta không biết tình thương, không có tình thương, nếu chúng ta không biết Chúa Jêsus và không có Ngài ngự trị trong lòng mình. Nếu Chúa đã bày tỏ tình thương của Ngài như vậy, chúng ta cũng phải bỏ sự sống vì anh em mình. Kẻ ghen ghét cất sự sống của anh em mình, người yêu thương ban sự sống của mình cho anh em. Nếu Chúa ở trong chúng ta thì sự sống của Ngài phải được bày tỏ qua chúng ta, chúng ta phải sống như Ngài đã sống (2:6). Môi-se và Phao-lô đã sẵn sàng bỏ sự sống vì dân tộc của họ (Xuất 32:32; Rô-ma 9:3). Nếu cần, chúng ta cũng phải bỏ sự sống vì anh em mình, phương chi “nếu chúng ta có của cải đời này, thấy anh em mình đang cùng túng mà chặt dạ” thì làm sao nói được là chúng ta yêu thương! Hằng ngày chúng ta không thực hiện những việc nhỏ nhất để bày tỏ tình thương đối với nhau thì mong gì chúng ta sẽ thực hiện việc lớn lao là bỏ sự sống vì anh em mình!
“Của cải đời này” là tiền bạc, sức khỏe, địa vị, tri thức… “Thấy anh em mình cùng túng” là biết rõ sự nghèo thiếu của anh em như thầy tế lễ và người Lê-vi thấy kẻ bị cướp đang ở trong tình trạng nửa sống, nửa chết (Lu-ca 10:31-32). “Chặt dạ” là đóng cửa lòng lại, là đặt một hàng rào, một chướng ngại vật giữa mình với anh em đang cùng túng. Không! Chúng ta không thể hành động như vậy. Chúng ta không thể chỉ yêu thương bằng lời nói và lưỡi, tức là bề ngoài và không thành thật, mà phải yêu thương bằng việc làm và lẽ thật. Giá trị của tình thương không phải tại lời nói mà tại việc làm. “Ví thử có anh em hoặc chị em nào không có quần áo mặc, thiếu của ăn uống hằng ngày mà một kẻ trong anh em nói với họ rằng: Hãy đi cho bình an, hãy sưởi cho ấm và ăn cho no, nhưng không cho họ đồ cần dùng về phần xác thì có ích gì chăng?” (Gia-cơ 2:15-16).
Ca-in ghen ghét nên đã giết người và dòng dõi của ông cũng như ông vẫn còn ghen ghét và giết người. Chúa Jêsus đã yêu thương nên đã cứu người. Hội Thánh là dòng dõi của Ngài cũng phải như Ngài, tức là yêu thương như Ngài đã yêu thương. Dấu hiệu làm chứng chắc chắn thế gian là con cái ma quỉ vì họ sống ghen ghét, lúc nào cũng tìm phương làm hại người tốt hơn họ. Dấu hiệu làm chứng chắc chắn chúng ta là con cái Chúa, Ngài ở trong chúng ta là chúng ta yêu thương mọi người. Đó là hai lối sống khác nhau. Vì vậy, Ca-in và dòng dõi ông đã thất bại, còn Chúa Jêsus và Hội Thánh Ngài đã đắc thắng.
Tình thương làm cho chúng ta đứng nổi trước mặt Đức Chúa Trời (19-24). Câu 19 chép rằng: “Chúng ta… giục lòng vững chắc ở trước mặt Ngài”. Câu 21, “Chúng ta có lòng rất dạn dĩ đến gần Đức Chúa Trời”. Được như vậy nhờ chúng ta vâng giữ điều răn Ngài là tin Chúa Jêsus và yêu thương lẫn nhau. Chúng ta có thể vâng giữ các điều răn Ngài là nhờ chúng ta ở trong Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời ở trong chúng ta bởi Đức Thánh Linh.
Sau khi nghiên cứu bài học này, học viên có thấy lòng mình lên án mình không? Học viên có thấy hối hận vì mình vốn thiếu tình thương không? Nếu có thì ăn năn ngay. Hãy xưng sự thất bại của mình và xin Chúa ngự vào lòng, đổ tuôn tình thương của Ngài trong đó để chúng ta có tình thương của Ngài và hành động như Ngài.
CÂU HỎI
1. Thánh Giăng luôn luôn nhắc lại cho chúng ta điều răn nào?
2. Tại sao Kinh Thánh gọi Ca-in thuộc về ma quỉ?
3. Tại sao Ca-in ganh tị em mình?
4. Tại sao thế gian ghen ghét con cái Chúa?
5. Ca-in và Chúa Jêsus khác nhau thế nào?
6. Phải làm gì để bày tỏ tình thương đối với nhau?
7. Dấu hiệu chắc chắn của con cái Chúa là gì?
8. Tình thương làm cho chúng ta có lòng thế nào trước mặt Chúa?
9. Bạn nghĩ thế nào sau khi học bài này?
BÀI 37. TRƯỞNG THÀNH TRONG TÌNH THƯƠNG
KINH THÁNH: IGiăng 4:7-12.
CÂU GỐC: “Chưa hề có ai thấy Đức Chúa Trời; nếu chúng ta yêu nhau, thì Đức Chúa Trời ở trong chúng ta, và sự yêu mến Ngài được trọn vẹn trong chúng ta” (IGiăng 4:12).
MỤC ĐÍCH: Đào sâu để nhận thức rằng, tình thương chỉ có thể trọn vẹn trong chúng ta là nhờ Đức Chúa Trời.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Trình độ ấu trĩ gây chia rẽ |
(ICôr 3:1-7). |
|
TH: |
Ấu trĩ thì thiếu khả năng dạy dỗ |
(Hê-bơ-rơ 5:5-14). |
|
TB: |
Bí quyết trưởng thành trong tình thương |
(Ê-phê-sô 3:1-21). |
|
TT: |
Bản chất của tình thương |
(ICôr 3:1- 7). |
|
TN: |
Gương yêu thương |
(GIĂNG 13:1-17). |
|
TS: |
Kết quả thực tiễn của tình thương |
(Công vụ 4:31-37). |
|
TB: |
Kết quả thực tiễn của tình thương |
(Rô-ma 12:1-21). |
Đây là lần thứ ba thánh Giăng nhấn mạnh về tình thương trong thư tín của ông, mỗi lần nhấn mạnh là ông lại bày tỏ một khía cạnh sáng chói của viên kim cương. Tình thương mà Giăng cũng như Phao-lô (ICôr 13) đã mô tả thật quí giá như một viên kim cương.
Lần thứ nhất (2:7-17): Tình thương là một thử nghiệm trong đời sống tín đồ. Lần thứ hai (3:11-21): Tình thương là một điều răn cho đời sống tín đồ. Lần này ông bày tỏ bản chất, nguồn gốc của tình thương, sự phát triển một cách đầy đủ của tình thương và kết quả của tình thương. Trong thơ IGiăng có 46 lần dùng chữ “tình thương” nói về tình thương của Đức Chúa Trời đối với người, tình thương của người đối với Đức Chúa Trời và tình thương của người đối với nhau. Giăng mô tả tình thương không những để cho chúng ta biết mà để cho chúng ta làm theo, xem tình thương là một nguyên tắc của đời mình.
I. NGUỒN GỐC VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA TÌNH THƯƠNG (4:7-12).
Trong phần Kinh Thánh này có một điệp khúc là “YÊU THƯƠNG LẪN NHAU” (câu 7,11-12). Yêu thương là bản chất của Đức Chúa Trời, là trách nhiệm của con người và là dấu hiệu của Ngài ở trong con người.
1. Nguồn gốc của tình thương (7-10).
Sự yêu thương đến từ Đức Chúa Trời hay là của Đức Chúa Trời, giống như ánh sáng và sức nóng ra từ mặt trời hay là của mặt trời. Vì vậy kẻ không yêu thương thì không sinh bởi Đức Chúa Trời và không hề biết Ngài. Nếu một người không được tình thương điều khiển như một nguyên tắc của đời sống thì người ấy chưa biết Đức Chúa Trời. Người ấy có thể biết sự thuộc về Đức Chúa Trời mà không biết chính mình Ngài.
Hơn nữa, tình thương là bản chất của Đức Chúa Trời cũng như ánh sáng và sức nóng là bản chất của mặt trời. Đức Chúa Trời là tình thương cũng như Đức Chúa Trời là thần và là sự sáng (Giăng 4:24; I Giăng1:5). Tình thương của con người là tình thương vì mình, thương để nhận hoặc thương để cho và để nhận lại. Song tình thương của Đức Chúa Trời là thương chỉ để cho. Dầu Đức Chúa Trời dựng nên, Đức Chúa Trời cai trị và xét đoán thì tất cả hành động của Ngài đều vì yêu thương. Ngài dựng nên, cai trị, xét đoán trong sự yêu thương, vì bản chất của Ngài là yêu thương.
Chúng ta biết Đức Chúa Trời là sự yêu thương và biết sự yêu thương của Ngài là lớn lao siêu việt dường nào! Ngài đã sai Con Một của Ngài đến thế gian để làm của lễ chuộc tội chúng ta, hầu cho nhờ Con Ngài chúng ta được cứu rỗi. Đó là Đức Chúa Trời đã cụ thể hóa tình thương của Ngài để chúng ta biết được, thấy được và hưởng được.
a. Vì tình thương lớn lao nên quà tặng cũng lớn lao. Không có quà tặng nào lớn bằng quà tặng Đức Chúa Trời đã cho loài người là Con Một của Ngài. Đó là quà tặng lớn nhất và quí nhất.
b. Vì tình thương lớn lao nên Đức Chúa Trời không những cho quà tặng lớn lao mà mục đích cũng lớn lao là để chúng ta được sự sống đời đời, tức là được sự cứu rỗi lớn lao (Hê-bơ-rơ 2:3).
c. Tình thương đó lớn lao vì không phải chúng ta đã yêu thương Đức Chúa Trời và được Ngài yêu thương lại, song Ngài yêu thương chúng ta từ khi chúng ta bội nghịch cùng Ngài bởi ý tưởng và việc làm gian ác của mình (Cô-lô-se 1:21; Ê-phê-sô 2:1-3). Ngài yêu thương chúng ta từ buổi sáng thế nên đã chuẩn bị một ơn phước lớn lao cho chúng ta (Ê-phê-sô 1:3-5).
d. Tình thương đó còn rất lớn lao là Con Một của Đức Chúa Trời chịu chết đền tội cho chúng ta. Không có sự chết nào đau đớn và sỉ nhục cho bằng sự chết đền tội. Khi một mũi giáo đâm ngang qua sườn của Chúa Jêsus ở dưới đất thì cũng có một mũi giáo khác đâm ngang qua lòng Đức Chúa Trời ở trên trời. Huyết của Chúa Jêsus đã đổ ra ở dưới đất thì huyết của Đức Chúa Trời cũng đổ trên trời (Công vụ 20:28). Chúa Jêsus với Đức Chúa Trời là một, Ngài đau đớn bao nhiêu thì Cha Ngài cũng đau đớn bấy nhiêu.
2. Trách nhiệm của tình thương(11-12).
Đây không phải chỉ là một lời khuyên: “Hãy yêu thương nhau” như trong câu 7, song “phải yêu thương nhau” tức là một mạng lệnh mà ai nấy phải phục tùng bằng một hành động. Tình thương của Đức Chúa Trời khích lệ chúng ta bằng lý do, bằng gương sáng. Nếu chúng ta không yêu thương nhau là chúng ta không đáp lại mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Nếu vậy thì làm sao chúng ta dám xưng mình là con cái Ngài?
“Chưa hề có ai thấy Đức Chúa Trời”, nhưng nếu chúng ta yêu thương nhau thì họ sẽ thấy Đức Chúa Trời ở trong chúng ta. Vì nơi nào có Đức Chúa Trời ngự, nơi đó có tình thương được tỏ ra. Thương yêu nhau là trách nhiệm của chúng ta đối với Chúa và đối với nhau, làm cho tình thương của Chúa trong chúng ta đạt đến mức độ trọn vẹn.
II. BÍ QUYẾT ĐẠT ĐẾN SỰ TRƯỞNG THÀNH TRONG TÌNH THƯƠNG (4:13-16).
Để cho tình thương của Chúa ở trong chúng ta còn mãi và đạt đến mức độ trọn vẹn, chúng ta phải:
1. Nhận lãnh Đức Thánh Linh (13).
“Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời khiến ở trong lòng chúng ta ham mến chúng ta đến nỗi ghen tương” (Gia-cơ 4:5). Chính Đức Thánh Linh đem tình thương của Đức Chúa Trời đổ tuôn vào lòng chúng ta (Rô-ma 5:5). Sự hiện diện của Đức Thánh Linh là hiện diện của Đức Chúa Trời ở trong chúng ta. Dấu hiệu của một người trưởng thành trong tình thương là đầy dẫy Thánh Linh, sống trong Thánh Linh và bước theo Thánh Linh.
2. Xưng Chúa Jêsus là Cứu Chúa (14-15).
Các sứ đồ đã thấy và làm chứng về tình thương của Đức Chúa Trời qua sự sai Con Một Ngài đến làm Đấng Cứu Thế. Ai tin và xưng Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của riêng mình thì Đức Chúa Trời ở trong người đó và người đó ở trong Đức Chúa Trời. Dấu hiệu của một người trưởng thành trong tình thương là xưng danh Chúa ra trước mặt mọi người.
3. Ở trong Đức Chúa Trời (16).
Bởi đức tin chúng ta biết mình đã nhận sự yêu thương của Đức Chúa Trời. Chúng ta đang ở trong sự yêu thương đó và sự yêu thương đó ở trong chúng ta. Vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương nên chúng ta ở trong sự yêu thương là ở trong Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời ở trong chúng ta.
Ở trong sự yêu thương là sống động bằng sự yêu thương. Chúng ta làm, chúng ta nói, chúng ta nghĩ trong sự yêu thương, bởi sự yêu thương. Nói cách khác, sự yêu thương điều khiển mọi hành động, mọi ngôn ngữ và mọi tư tưởng của chúng ta. Đó là dấu hiệu tình thương đã trưởng thành.
Tình thương ấu trĩ là tình thương nay dời mai đổi, vừa lòng mình thì thương, phật lòng mình thì ghét, vì lấy chính mình làm trung tâm của mọi hoạt động. Khi một em bé được mẹ nuông chìu thì nghĩ là mẹ thương và thương mẹ, còn khi có lỗi mà bị mẹ sửa trị thì nghĩ là mẹ không thương và không thương mẹ. Song khi em bé đó đã trưởng thành, em biết rõ tình mẹ thương con nên sẵn sàng vâng lời mẹ, giúp đỡ mẹ, làm vui lòng mẹ, và càng ngày càng thương yêu mẹ hơn bao giờ hết.
III. KẾT QUẢ CỦA TÌNH THƯƠNG TRƯỞNG THÀNH (4:17-21).
1. Chúng ta dạn dĩ trong ngày xét đoán (17-18).
Ngày xét đoán là ngày đáng sợ vì bấy giờ mọi sự kín đáo nhất sẽ được bày tỏ. Sự hình phạt sẽ khủng khiếp. Song chúng ta sống cuộc đời yêu thương như Chúa đã yêu thương, thì chúng ta không bị xét đoán mà sẽ cùng Chúa xét đoán thế gian và thiên sứ (ICôr 6:2-3). Sợ hãi và thương yêu không cùng sống với nhau, không có chỗ nào dành cho sợ hãi trong tấm lòng đầy dẫy tình thương. Tình thương xua đuổi sợ hãi, chiến thắng sợ hãi như ánh sáng xua đuổi và chiến thắng tối tăm.
2. Cứ yêu thương anh em mình (19-21).
Câu 20: Hằng ngày chúng ta phải bày tỏ tình thương đối với anh em mình. Tình thương phải có đối tượng mà đối tượng đó là anh em. Tình thương phải có cơ hội bày tỏ mà cơ hội đó là nhu cầu của anh em mình.
Câu 21: Thương yêu nhau không phải là một việc tùy ý, muốn làm hay không cũng được, song là một điều răn: “Ai yêu Đức Chúa Trời cũng phải yêu anh em mình”. Yêu thương nhau như vậy là kết quả của tình thương trưởng thành.
CÂU HỎI
1. Qua bài học này, thánh Giăng nói gì về tình yêu thương?
2. Nguồn gốc của tình yêu thương ở đâu?
3. Tình yêu thương của con người khác tình yêu thương của Chúa thế nào?
4. Tình yêu thương là bản chất của ai?
5. Tình yêu thương của Đức Chúa Trời được bày rỏ ra lớn lao thế nào?
6. Những bí quyết nào đem lại sự trưởng thành trong tình yêu thương?
7. Tình yêu thương ấu trĩ khác hơn tình yêu thương trưởng thành thế nào?
8. Kết quả của tình yêu thương trưởng thành là gì?
9. Thương yêu nhau là một mạng lịnh hay một việc làm tình nguyện?
BÀI 38. ĐẮC THẮNG NHỜ ĐỨC TIN
KINH THÁNH: IGiăng 5:1-5.
CÂU GỐC: “Vì hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời, thì thắng hơn thế gian; và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta” (IGiăng 5:4).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ rằng, nhờ tình thương yêu và sự vâng lời Chúa mà một người có thể phát triển đức tin để đắc thắng thế gian.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Đức tin đẹp lòng Đức Chúa Trời |
(Hê-bơ-rơ 11:1-7). |
|
TH: |
Đức tin thấy điều vô hình |
(Hê-bơ-rơ 11:8-19). |
|
TB: |
Đức tin chiến thắng |
(Hê-bơ-rơ 11:24-40). |
|
TT: |
Chúa ngự trong lòng |
(Rô-ma 8:31-39). |
|
TN: |
Trở thành người chiến thắng |
(Khải 2:7,26; 3:5,12,21). |
|
TS: |
Cơ nghiệp của kẻ chiến thắng |
(Khải 21:1-8). |
|
TB: |
Đức tin chiến thắng |
(IGiăng 5:1-5). |
Thơ IGiăng đề cập ba điều quan trọng là: ĐỨC TIN, YÊU THƯƠNG, VÂNG LỜI.
– Đoạn 2: Vâng lời (3-6), yêu thương (7-11), đức tin (18-27).
– Đoạn 3: Vâng lời (2:28-3:10), yêu thương (11-18).
– Đoạn 4: Đức tin (1-6), yêu thương (7-12).
– Đoạn 5: Đức tin, yêu thương, vâng lời.
Chúng ta được cứu rỗi bởi đức tin, và sống trong sự cứu rỗi cũng bởi đức tin, nhờ đức tin mà chúng ta sống đẹp lòng Đức Chúa Trời, đắc thắng ma quỉ (2:13-14), đắc thắng tà giáo (2:18-25), đắc thắng tội lỗi (3:9), bây giờ chúng ta nhờ đức tin mà đắc thắng thế gian.
Chúa Jêsus đã đắc thắng. Kẻ theo Ngài là kẻ dự phần sự đắc thắng của Ngài, tức là đắc thắng như Ngài đã thắng (Khải huyền 2:11,17,26; 3:5,12,21). Tất cả cơ nghiệp trong trời mới đất mới đều dành cho kẻ đắc thắng. Tại đó không có chỗ dành cho kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng gớm ghiếc, kẻ giết người… vì phần của họ là hồ lửa và diêm sanh (Khải huyền 21:8).
I. PHẢI CÓ ĐỨC TIN ĐỂ TRỞ NÊN CON CÁI ĐỨC CHÚA TRỜI (5:1a).
Đây là bước thứ nhất trên đường đắc thắng: Tin Chúa Jêsus là Con Độc sanh của Đức Chúa Trời, Đấng đã yêu chúng ta đến nỗi dâng mình làm tế lễ chuộc tội chúng ta. Không những Ngài đã chết vì chúng ta mà cũng sống lại vì chúng ta. Bởi đức tin đó, chúng ta nhận được quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, vì được sinh bởi Ngài. Phao-lô đã nhấn mạnh điểm này “Chính anh em hãy tự xét để xem mình có đức tin chăng?” (IICôr 13:5). Đó là đức tin thật, đức tin sống, đức tin để đắc thắng. Bây giờ, anh em có thật là con cái của Đức Chúa Trời chưa?
II. PHẢI CÓ ĐỨC TIN ĐỂ SỐNG NHƯ CON CÁI ĐỨC CHÚA TRỜI (5:1b-3).
Đây là bước thứ hai trên đường đắc thắng: Đã được sinh ra bởi Đức Chúa Trời, chúng ta thuộc về đại gia đình của Ngài, trong đó có rất nhiều anh chị em. Trong một gia đình, con cái yêu thương cha mẹ, đồng thời họ cũng yêu thương nhau. Vậy, không thể nào yêu thương Đức Chúa Trời lại không yêu thương con cái Ngài; ngược lại, cũng không thể nào yêu thương con cái Ngài mà không yêu thương chính mình Ngài. Chúng ta thật lòng yêu thương nhau khi đã thật lòng yêu thương Chúa, chúng ta thật lòng yêu thương Chúa, khi đã thật lòng yêu thương nhau.
Khi chúng ta thật lòng yêu thương nhau là dấu hiệu đã thật lòng yêu thương Chúa, và khi đã thật lòng yêu thương Chúa thì chúng ta giữ điều răn Ngài, tức là vâng lời Ngài. Bởi đức tin, chúng ta được sinh ra bởi Chúa, chúng ta yêu thương Ngài; yêu thương Ngài thì chúng ta giữ các điều răn của Ngài. Yêu thương Chúa và vâng lời Chúa là một. Không thể nào yêu thương Chúa mà không vâng lời Chúa. Chúng ta không thể yêu thương anh em mình bằng đầu môi chót lưỡi, song bằng việc làm và lẽ thật (3:18). Chúng ta cũng phải yêu thương Đức Chúa Trời như vậy, tức là bằng sự vâng lời và giữ điều răn của Ngài (Giăng 14:15,21). Vậy, đức tin, yêu thương và vâng lời là ba bước quan trọng trong nếp sống hằng ngày của tín đồ.
“Điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề”. Điều răn của Chúa chỉ nặng nề cho người đời vì họ không tin Ngài, không yêu thương Ngài nên cũng không thể vâng lời Ngài. Đối với con cái Chúa, điều răn của Ngài rất thích hợp với bản chất của họ. Điều răn đó là đường lối, là phương pháp hướng dẫn chúng ta trong cuộc sống hạnh phúc, nếu chúng ta thật lòng yêu Chúa thì lấy làm vui vẻ về luật pháp của Ngài, sẵn sàng làm theo vì xem như nhẹ nhàng và dễ chịu (Phục truyền 30:11,14; Ma-thi-ơ 11:30).
III. PHẢI CÓ ĐỨC TIN ĐỂ ĐẮC THẮNG THẾ GIAN (5:4-5).
Thế gian là lực lượng đã được ma quỉ sử dụng để chống lại Đức Chúa Trời. Vì vậy không ai, không sự gì có thể thắng thế gian. Song bất luận sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời thì thuộc về trời, có bản chất thiên thượng, có sự sống vĩnh cữu, có sức mạnh vô địch, nên thắng hơn thế gian vì thế gian là những sự thuộc về đất, chỉ tạm thời, hay hư nát, hay chết và chúng ta đắc thắng vì Đấng ở trong chúng ta là lớn hơn kẻ ở trong thế gian (IGiăng 4:4). Đây là một nguyên tắc không bao giờ thay đổi.
Bí quyết thắng hơn thế gian là đức tin của chúng ta. Đức tin cho phép chúng ta liên kết chặt chẽ với Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng, nên đâu có đức tin, đó có đắc thắng và đắc thắng liên tục. Những kẻ có đức tin thì dầu sự cám dỗ muôn hình, muôn sắc cũng không quyến rũ họ được. Những kẻ có đức tin thì dầu lực lượng của thế gian như sóng to gió lớn đến đâu cũng không nhận chìm họ được. Đó là đức tin đến Chúa Jêsus, Con Độc sanh của Đức Chúa Trời.
Giăng viết thư này vào thế kỷ thứ nhất. Khi đó, nước La-mã hùng cường bậc nhất, đã chinh phục mọi lân bang, họ kể thế gian thuộc về họ. Song không phải nước La-mã đắc thắng thế gian mà là Chúa Jêsus và Hội Thánh Ngài đã đắc thắng và sẽ còn đắc thắng (Giăng 16:33; IGiăng 5:5). Vì chỉ có quyền năng của đức tin, yêu thương, vâng lời mới chinh phục được lòng người và thay đổi được lòng người. Chúng ta nhìn xem gương của các thánh thưở xưa và làm theo:
1. Nô-ê.
Đức Chúa Trời đã cho Nô-ê biết Ngài sẽ dùng nước lụt hủy diệt mọi sinh vật trên đất. Ông tin Đức Chúa Trời và vâng lời Ngài, đóng một chiếc tàu lớn. Người đồng thời của ông chỉ lo ăn uống, cưới gả, và chắc họ đã không tiếc lời chế giễu ông là mê tín, lẩm cẩm, điên cuồng. Song đức tin đến Đức Chúa Trời đã nâng ông lên trên những lời chế giễu của thế gian, cũng như chiếc tàu của ông đã nâng ông lên trên cơn đại hồng thủy, còn cả thế gian phải bị chìm trong đó.
2. Áp-ra-ham.
Áp-ra-ham được Đức Chúa Trời kêu gọi và ban những lời hứa rất quí, rất lớn. Áp-ra-ham đã tin Chúa và vâng lời Ngài, bỏ hết mọi sự để ra đi theo sự dẫn dắt của Ngài. Hành động như vậy, Áp-ra-ham không sợ bị thế gian chế giễu. Hơn nữa, Đức Chúa Trời cũng hứa sẽ ban dòng dõi ông đông như sao trên trời, không có ai có thể đếm được, mặc dầu ông bà đã cao tuổi, theo luật thiên nhiên, không thể nào sinh con. Sức lực dầu kém, song đức tin của Áp-ra-ham không kém. Ông tin rằng điều chi Đức Chúa Trời đã hứa, Ngài sẽ làm. Cuối cùng những kẻ chế giễu ông đã phải hổ thẹn, Áp-ra-ham đắc thắng.
Đừng sợ thế gian chế giễu đức tin của chúng ta. Hãy tôn vinh Chúa bằng sự tin cậy và vâng lời Ngài. Ai tôn vinh Ngài, người ấy sẽ được tôn vinh. Đức Chúa Trời tôn vinh kẻ nào dám tin cậy và vâng lời Ngài. Đức tin, yêu thương và vâng lời là đặc tính của con cái Đức Chúa Trời.
CÂU HỎI
1. Nhờ đức tin thế nào mà chúng ta được trở nên con cái Đức Chúa Trời?
2. Con cái Chúa phải bởi đức tin mà sống thế nào?
3. Nếu chúng ta thật lòng yêu thương nhau và yêu thương Chúa thì phải làm gì?
4. Tại sao điều răn của Chúa là không nặng nề đối với chúng ta?
5. Bí quyết nào giúp chúng ta đắc thắng thế gian?
6. Giải thích đức tin của Nô-ê.
7. Giải thích đức tin của Áp-ra-ham.
8. Ba điều quan trọng trong nếp sống của tín đồ là gì?
BÀI 39. BẠN BIẾT CHẮC
KINH THÁNH: IGiăng 5:13-21.
CÂU GỐC: “Ta đã viết những điều này cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến danh Con Đức Chúa Trời” (IGiăng 5:13).
MỤC ĐÍCH: Giúp các tín hữu biết chắc Chúa Jêsus đã ban cho họ sự sống đời đời và nhiều điều khác nữa.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Đức Chúa Trời là sự sống |
(IGiăng 1:1-4). |
|
TH: |
Đức Chúa Trời là sự sáng |
(IGiăng 1:5-2:2). |
|
TB: |
Đức Chúa Trời là sự sáng |
(IGiăng 2:3-28). |
|
TT: |
Đức Chúa Trời là sự công nghĩa |
(IGiăng 2:29-4:6). |
|
TN: |
Đức Chúa Trời là tình thương |
(IGiăng 4:7-21). |
|
TS: |
Đức Chúa Trời là tình thương |
(IGiăng 5:1-12). |
|
TB: |
Tóm tắt |
(IGiăng 5:13-21). |
Đây là một phần kết thúc của bức thư. Chủ yếu của phân đoạn này là giúp độc giả biết chắc điều mình tin, mình nhận và mình có. Chữ quan trọng được lặp lại 7 lần trong đoạn này là “BIẾT”. Cả thư có hơn 40 lần dùng chữ “BIẾT”. Xin mở I Giăng, gạch viết chì màu dưới những chữ “BIẾT”, rồi tìm ý nghĩa chữ ấy.
Một người đang đi trên đường, có người gặp và hỏi:
– “Anh đi đâu đó?”
– “Tôi đi Sài Gòn”.
– “Anh có biết chắc đường này về Sài Gòn không?”
– “Tôi cũng không biết chắc!”
Có một số người cũng nói một cách mơ hồ như vậy khi đi con đường về thiên đàng. Ước ao trong số đó không có tín đồ của Chúa.
I. BIẾT CHẮC MÌNH CÓ SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI (câu 13).
Sự sống đời đời là sự sống của Đức Chúa Trời mà chúng ta đã được khi tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa. Ai đã được sinh bởi Đức Chúa Trời thì có sự sống đó, vì là đặc ân, đặc quyền của con cái Ngài. Bản chất của sự sống đó là vĩnh cữu và thuộc linh.
Được cứu rỗi và biết chắc mình được cứu rỗi là hai điều giống nhau mà vẫn khác nhau. Có tín đồ đã được cứu mà không biết chắc, nên chưa bao giờ có sự bình an, vui vẻ, tâm hồn lúc nào cũng băn khoăn, lo sợ. Vì vậy, người ấy chưa bao giờ can đảm xưng danh Chúa ra để làm chứng và hướng dẫn ai đến cùng Chúa. Còn tín đồ nào biết chắc mình đã được cứu thì vui vẻ, dạn dĩ chia xẻ cho người khác và hướng dẫn người ấy đến cùng Chúa. Đó là lý do đời sống thuộc linh của tín đồ này thì mạnh mẽ, vui tươi và đạt kết quả, còn đời sống thuộc linh của tín đồ kia lại yếu đuối, buồn rầu và đơn độc.
Biết chắc mình có sự sống đời đời vì đã được cứu rỗi là điều rất quan trọng, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm tình và hành động của chúng ta.
II. BIẾT CHẮC LỜI CẦU XIN CỦA MÌNH ĐƯỢC CHÚA NGHE (14-17).
Biết chắc lời cầu xin của mình được Chúa nghe là kết quả của sự biết chắc mình có sự sống đời đời, vì nhờ thế chúng ta mới đủ tư cách, dạn dĩ đến gần Đức Chúa Trời mà cầu xin và được Ngài nghe.
1. Dạn dĩ cầu xin (14-15).
Chúng ta đến với Đức Chúa Trời như con đến với cha (Ga-la-ti 4:6). Chúng ta dạn dĩ và từ đó nói cho Chúa nghe mọi nhu cầu của mình (Hê-bơ-rơ 4:16), Chúa muốn nghe lời cầu xin của chúng ta hơn là chúng ta muốn dâng lời cầu xin lên Ngài (Thi thiên 116:1-2).
Chúng ta dạn dĩ cầu xin vô luận điều gì, vì chúng ta cầu xin theo ý muốn Ngài. Khi nào chúng ta thiếu dạn dĩ, đến độ sợ hãi cầu xin là vì chúng ta cầu xin theo ý mình. Nếu muốn lời cầu xin của chúng ta luôn luôn được Chúa nghe, hãy nhớ lấy những điều này:
a. Cầu xin trong danh Chúa (Giăng 14:13).
b. Có một đời sống công bình (Gia-cơ 5:16).
c. Không theo tư dục (Gia-cơ 4:3).
d. Bởi đức tin (Ma-thi-ơ 21:22; Gia-cơ 1:60).
e. Theo ý muốn Chúa (Ma-thi-ơ 6:10; IGiăng 5:14).
Nếu chúng ta biết Chúa nghe chúng ta thì mọi việc chúng ta cầu xin kể là được. Chúng ta chỉ còn cảm tạ và ca ngợi Ngài. Đức Chúa Trời đã hứa cho Áp-ra-ham một trai, dầu lời Chúa chưa thực hiện song Áp-ra-ham đã “ngợi khen Đức Chúa Trời” (Rô-ma 4:20).
2. Dạn dĩ cầu thay (16-17).
Cầu xin cho mình còn dạn dĩ và chắc chắn được Chúa nghe, phương chi cầu thay cho anh em mình. Cầu thay cho người khác là đặc ân cao nhất và là trách nhiệm thánh khiết của con cái Chúa. Chúng ta không những “thấy” nhu cầu xác thể của anh em mình (3:17), mà cũng “thấy” nhu cầu tâm linh của họ (5:16). Thấy anh em mình phạm tội, không phải là cơ hội để chúng ta xét đoán, mà để cầu thay. Vui mừng khi thấy anh em mình phạm tội, thản nhiên khi thấy họ đau đớn là một hành vi độc ác (Ápđia 1:1-14).
Tội không đến nỗi chết là khi vô ý, tình cờ mà phạm tội (Ga-la-ti 6:1), hoặc phạm tội vì lầm lạc. Còn tội đến nỗi chết là khi cố ý phạm tội, có kế hoạch, có phương pháp phạm tội (Dân số ký 15:30; Thi thiên 19:3; Hê-bơ-rơ 6:4-6; 10:26-31).
Hãy cầu thay cho người phạm tội không đến nỗi chết và làm bất luận điều gì để đem họ trở lại con đường cứu rỗi (Gia-cơ 5:19-20). Về phần người phạm tội đến nỗi chết, không phải Giăng cấm cầu thay cho họ, song đối với những người như vậy có cầu thay cũng không được Chúa nghe, thậm chí dầu có Nô-ê, Đa-ni-ên và Gióp cầu thay cũng vậy (Ê-xê-chi-ên 14:20).
III. BIẾT CHẮC MÌNH CHẲNG PHẠM TỘI (câu 13-21).
Mới xem qua chúng ta thấy như có sự mâu thuẫn trong sự dạy dỗ của thánh Giăng. Trong 2:1, ông viết: “Nếu có ai phạm tội, thì chúng ta có Đấng cầu thay…” Đến 3:9 ông viết: “Ai sanh bởi Đức Chúa Trời thì chẳng phạm tội vì hột giống của Đức Chúa Trời ở trong người, và người không thể phạm tội được, vì đã sanh bởi Đức Chúa Trời”. Đến 5:16 ông viết: “Ví có kẻ thấy anh em mình phạm tội…” Rồi 5:18 ông lại viết: “Chúng ta biết rằng ai sanh bởi Đức Chúa Trời thì hẳn chẳng phạm tội”.
Thiết tưởng ý nghĩ của các câu ấy như sau: Biết chắc mình chẳng phạm tội là một đặc ân kỳ diệu Chúa ban cho con cái Ngài (3:6,9). Rồi ông xác nhận một lần nữa, con cái Chúa có môt bản chất mới từ Ngài ban cho, với bản chất đó chúng ta không thể phạm tội. Điều này có nghĩa là chúng ta không muốn phạm tội, không có thói quen phạm tội, không thích phạm tội. Vì thế bất luận khi vô ý, tình cờ phạm tội thì chúng ta đau đớn, buồn rầu không chịu nổi cho đến chừng hết lòng ăn năn mà được Chúa tha thứ. Một con cái Chúa có thể vô ý, tình cờ phạm tội, song không thể miệt mài trong tội. Tình trạng bình thường của người đó là chống cự tội lỗi.
Ai sanh bởi Đức Chúa Trời thì Ngài giữ người đó, ma quỉ không làm hại người được. Chúng ta chỉ giấu mình trong Chúa, còn chính Chúa giữ chúng ta khỏi ma quỉ làm hại. Ma quỉ có thể tấn công chúng ta như trường hợp của Gióp, song nó không được quyền tự tiện, tùy ý làm hại chúng ta (Thi thiên 27:5; 31:20).
Đó là nếp sống của một con cái Chúa có lòng phục tùng Ngài. Tuy nhiên con người của chúng ta vẫn còn tự do, nên vô luận lúc nào chúng ta lạm dụng tự do mà không phục tùng Chúa, chúng ta có thể phạm tội và cố ý phạm tội đến nỗi chết như trường hợp Giăng đề cập đến trong 5:16. Vì vậy Kinh Thánh luôn luôn cảnh cáo chúng ta hãy coi chừng con đường của người xưa (Giu-đe 11).
Câu 19 chỉ ra sự khác nhau giữa chúng ta với người thế gian. Chúng ta thuộc về Chúa, được Ngài gìn giữ, ma quỉ không làm hại được, còn thế gian hoàn toàn trong tay ma quỉ, thuộc về nó. Vì vậy chúng ta không phạm tội, còn thế gian buộc phải phạm tội.
Câu 20 tóm tắt các bí quyết hạnh phúc của chúng ta là được biết Chúa và được ở trong Ngài. Đó là điều chúng ta đã học trong thơ Giăng và là cuộc sống bảo đảm của mọi con cái Chúa.
Nguyện Chúa cho chúng ta biết chắc những điều mình nghe, những điều mình tin, những điều mình nhận, những điều mình có, hầu cho nếu có những biến thiên xảy ra như trời long, đất lở, chúng ta vẫn không nao núng (Thi thiên 46:1-11).
CÂU HỎI
1. Chữ quan trọng trong bài học hôm nay là gì?
2. Chúng ta biết chắc mình có gì?
3. Biết chắc mình được cứu rỗi thì có ảnh hưởng gì trên tâm linh và trên hành động của chúng ta?
4. Tại sao chúng ta biết chắc lời cầu xin của mình được Chúa nghe?
5. Ngoài ra cầu xin cho mình, chúng ta còn làm gì?
6. Con cái Chúa không thể phạm tội có nghĩa gì?
7. Làm sao giữ mình khỏi phạm tội?
8. Con cái Chúa khác người thế gian thế nào?
9. Bí quyết của một đời sống luôn luôn hạnh phúc là gì?
BÀI 40. THỜI KHAI SINH CỦA HỘI THÁNH
KINH THÁNH: Công vụ 2:1-47.
CÂU GỐC: “Vậy, những kẻ nhận lời đó đều chịu phép Báp-têm, và trong ngày ấy, có độ ba ngàn người thêm vào Hội Thánh” (Công vụ 2:41).
MỤC ĐÍCH: Vẽ lại một bức tranh rõ ràng về thời khai sinh của Hội Thánh để Hội Thánh hôm nay noi theo.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Lời Chúa hứa về Hội Thánh |
(Ma-thi-ơ 16:13-18). |
|
TH: |
Quyền năng cho Hội Thánh |
(Công vụ 1:1-24). |
|
TB: |
Đức Thánh Linh giáng lâm |
(Công vụ 2:1-40). |
|
TT: |
Sinh hoạt của Hội Thánh đầu tiên |
(Công vụ 2:41-3:1). |
|
TN: |
Hội Thánh hiệp một và phát triển |
(Công vụ 4:23-27). |
|
TS: |
Sự sửa trị trong Hội Thánh |
(Công vụ 5:1-16). |
|
TB: |
Các chấp sự của Hội Thánh |
(Công vụ 6:1-7). |
Hội Thánh là một tổ chức quan trọng nhất thế giới. Hội Thánh được Đức Chúa Trời thành lập để con cái Ngài họp lại thờ phượng Chúa, học hỏi Lời Chúa và thông công với nhau. Hội Thánh bắt đầu tại một phòng cao, với một ít người đầy lòng sợ hãi. Không ai tưởng họ sẽ thêm lên ngày càng đông mãi. Nhiều người tưởng chẳng bao lâu Hội Thánh sẽ mai một như bao tổ chức khác. Nhưng Đức Chúa Trời đã làm cho Hội Thánh Ngài mỗi ngày một lớn mạnh và lan tràn khắp thế giới cho đến nay.
I. LỜI HỨA VỀ HỘI THÁNH (Ma-thi-ơ 16:13-18).
Ngày nọ Chúa Jêsus hỏi các môn đệ rằng: “Thiên hạ bảo Ta là ai?” Rồi Ngài hỏi thêm “Còn các ngươi thì bảo Ta là ai?” Phi-e-rơ đáp rằng: “Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống”. Chúa Jêsus đã khen ngợi Phi-e-rơ về câu trả lời đó, song Ngài nói cho ông biết rằng, sự hiểu biết đó không phải của riêng ông mà do Đức Chúa Trời mặc khải cho ông. Sau đó, Chúa phán: “Ta sẽ lập Hội Thánh Ta trên đá nầy”, tức là trên sự kiện mà Phi-e-rơ vừa công bố: “Chúa Jêsus là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống”. Chính Chúa Jêsus lập Hội Thánh của Ngài. Hội Thánh thuộc quyền sở hữu của Chúa. Ngài là đầu của Hội Thánh và Hội Thánh là thân thể Ngài. Hội Thánh của Ngài với chính mình Ngài là một. Cuối cùng Chúa bảo đảm: “Các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó”. Không có quyền lực nào, kể cả quyền lực của địa ngục, của ma quỉ, của sự chết… thắng được Hội Thánh của Ngài.
Hội Thánh là một tổ chức gồm các tín hữu chân chính, tức là những người đã được tái sanh bởi Đức Thánh Linh, trở nên con trai, con gái của Đức Chúa Trời. Hội Thánh cũng gồm Hội Thánh địa phương, Hội Thánh quốc gia và Hội Thánh phổ thông, tức là Hội Thánh trên cả thế giới. Hội Thánh không thể tự khoe về sự thành công hay tồn tại của mình vì đó là công việc của Chúa làm cho Hội Thánh và làm qua Hội Thánh để bày tỏ sự vinh hiển của Ngài giữa thế gian.
II. HỘI THÁNH RA ĐỜI (Công vụ 2:1-41).
Các môn đồ vốn không hiểu được sự thành lập Hội Thánh mà Chúa Jêsus đã hứa, nên họ không hề hỏi Ngài xem bao giờ thì Hội Thánh sẽ được thành lập. Song sau khi Chúa sống lại, họ hỏi: “Lạy Chúa, có phải lúc này Chúa lập lại nước Y-sơ-ra-ên chăng?” (Công vụ 1:6). Họ chỉ chú trọng đến việc Chúa sẽ lập một vương quốc tại trần gian để giải phóng xứ sở họ khỏi quyền thống trị của đế quốc La-mã thời bấy giờ. Để trả lời câu hỏi đó, Chúa bảo rằng họ sẽ nhận được Đức Thánh Linh rồi làm chứng nhân cho Ngài khắp mọi nơi (Công vụ 1:8).
Mười ngày sau đó, Đức Thánh Linh đã giáng lâm, có những biến động xảy ra như tiếng gió mạnh thổi tới, lưỡi bằng lửa xuất hiện đáp đậu trên môn đồ và ai nấy đều nói tiếng ngoại quốc. Được đầy dẫy Đức Thánh Linh, Phi-e-rơ giảng một bài xuất sắc. Ông buộc tội người Y-sơ-ra-ên đã giết Chúa Jêsus, song ông chứng minh Ngài đã sống lại đúng như các tiên tri đã dự ngôn. Ngài được đem lên bên hữu Đức Chúa Trời và ban Đức Thánh Linh giáng lâm như họ đang thấy và nghe. Cuối cùng ông tuyên bố rằng Chúa Jêsus mà họ đã giết thì Đức Chúa Trời làm sống lại, họ đã sỉ nhục Chúa Jêsus thì Đức Chúa Trời tôn lên làm Chúa và Cứu Chúa.
Nghe qua các lời đó, người Y-sơ-ra-ên bị Thánh Linh cáo trách dữ dội. Ai nấy cảm động hỏi Phi-e-rơ: “Hỡi anh em, chúng tôi phải làm chi?” Theo sự hướng dẫn của Phi-e-rơ, có 3.000 người được cứu. Ngay khi đó Hội Thánh đã ra đời.
Mặc dầu chưa có nhà thờ, chỉ họp lại dưới hiên cửa Sa-lô-môn, chưa có tổ chức như Hội Thánh ngày nay, song sinh hoạt bình thường của Hội Thánh đã diễn ra như: Bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, bền lòng giữ sự thông công của anh em, bền lòng giữ lễ bẻ bánh và bền lòng giữ sự cầu nguyện.
Đó là bốn điều căn bản mà Hội Thánh của Chúa trải qua các đời đã bền giữ để được tồn tại và phát triển. Nhờ đó có nhiều sự kỳ và phép lạ xảy ra mà một là người què được chữa lành, danh Chúa được tôn vinh, nhiều tội nhân được cứu rỗi.
III. HỘI THÁNH BỊ THỬ THÁCH.
Chúng ta nên nhớ rằng ma quỉ không chống ai bằng chống Hội Thánh của Chúa. Nếu Hội Thánh ngủ mê, im lìm như chết thì ma quỉ rất vui, cứ để cho Hội Thánh như thế. Song khi nào Hội Thánh sốt sắng, tận tâm phục tùng Chúa trong công tác cứu vớt tội nhân, mở mang nước Ngài một cách có quyền năng, có kết quả, thì cơn bắt bớ chắc chắn sẽ xảy ra. Có hai đường lối mà ma quỉ thường áp dụng: Trực tiếp và gián tiếp, nghĩa là tấn công từ bên ngoài và xâm nhập vào bên trong.
1. Tấn công từ bên ngoài (Công vụ 4:1-31).
Khi người què được chữa lành, quần chúng kinh ngạc, sững sờ, đổ xô đến xem, còn nhà cầm quyền Dothái thì bực tức, hốt hoảng. Để chận đứng và đánh tan ảnh hưởng đó, họ bắt Phi-e-rơ và Giăng bỏ vào khám, dầu vậy số tín đồ lên đến 5.000 người, tức là thêm 2.000 người nữa.
Hôm sau, một tòa án tối cao được triệu tập tại Giê-ru-sa-lem, thành phần là các quan, các trưởng lão và các thầy thông giáo. Đồng thời cũng có thầy cả thượng phẩm An-ne, Cai-phe, Giăng, Alecxanđơ và hết thảy mọi người thuộc về họ của thầy cả thượng phẩm. Họ muốn gây áp lực để khủng bố tinh thần của hai sứ đồ. Khi bị thẩm vấn, Phi-e-rơ được đầy dẫy Đức Thánh Linh, giảng một bài rất linh động, làm cho cả tòa phải ngạc nhiên về sự dạn dĩ của hai người. Vì không có lý do buộc tội nên họ chỉ đe dọa, cấm đoán rồi trả tự do cho hai người.
Khi trở về, Phi-e-rơ và Giăng hiệp cùng Hội Thánh mà trình mọi sự lên Chúa. Họ không xin Chúa làm hại những người đã làm hại họ, cũng không xin Chúa giảm bớt sự đe dọa, cấm đoán của nhà cầm quyền. Họ chỉ xin Chúa ban cho họ lòng dạn dĩ giảng đạo Ngài và có những dấu kỳ phép lạ để làm cho vững đạo. Chúa nhậm lời ngay: “Khi đã cầu nguyện, thì nơi nhóm lại rúng động; ai nấy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, giảng đạo Đức Chúa Trời cách dạn dĩ”.
2. Xâm nhập vào bên trong (Công vụ 4:32-5:16).
Sau cơn bắt bớ nói trên, người tin theo đông lắm, cứ một lòng một ý cùng nhau. Có Giô-sép “là con trai của sự yên ủi”, có một đám ruộng, bán đi, đem tiền đặt nơi chân các sứ đồ. Nhưng Sa-tan đã xâm nhập vào giữa vòng các tín đồ, cám dỗ A-na-nia và Sa-phi-ra muốn được nổi danh. A-na-nia cũng bán ruộng mình và âm mưu với vợ giữ lại một phần số tiền bán, rồi đem phần còn lại dâng vào quĩ Hội Thánh, nói rằng tất cả giá bán chỉ có chừng đó.
Nếu tội tham lam và dối trá của Annania không được khám phá ngay thì sẽ lây ra như một căn bịnh truyền nhiễm làm cho Hội Thánh mất quyền năng và bị tê liệt.
Đường lối này còn nguy hại cho Hội Thánh nhiều hơn là sự bắt bớ trực tiếp. Lịch sử chứng minh điều đó rất rõ ràng. Sự tham lam của A-can còn nguy hại hơn cả đạo binh hùng dũng và thành trì kiên cố của Giê-ri-cô (Giô-suê 6-7). Sau khi Hoàng đế La-mã là Constantin tin Chúa, cơn bắt bớ dữ dội được chấm dứt. Nhưng từ đó, ma quỉ đã xâm nhập vào bên trong Hội Thánh xúi giục tín đồ phạm tội, làm cho Hội Thánh chỉ có lượng mà không có phẩm, chỉ có hình thức mà không có tinh thần. Ngày nay tại các địa phương, có nhiều chi hội đã bị ma quỉ phá hoại từ bên trong. Không có sức mạnh nào phá hoại Hội Thánh một cách đáng sợ bằng sức mạnh tội lỗi.
Cảm ơn Chúa, Ngài đã dùng Phi-e-rơ tiêu trừ tội lỗi, làm cho cả Hội Thánh đều sợ hãi. Nhờ đó, có nhiều dấu kỳ phép lạ được làm ra, nên số người tin Chúa ngày càng thêm lên, nam nữ đều đông lắm.
CÂU HỎI
1. Ai đã lập Hội Thánh? Hội Thánh thuộc về ai?
2. Ai thắng được Hội Thánh?
3. Hội Thánh được ra đời từ ngày nào?
4. Sinh hoạt thường xuyên của Hội Thánh là gì?
5. Hội Thánh bị thử nghiệm bằng hai đường lối nào?
6. Khi nào Hội Thánh bị bắt bớ?
7. Khi bị bắt bớ thì Hội Thánh đã làm gì?
8. Ma quỉ xâm nhập Hội Thánh bằng đường lối nào?
9. Chúng ta phải làm gì để giữ gìn Hội Thánh luôn luôn đắc thắng?
BÀI 41. HỘI THÁNH ĐƯỢC PHÁT TRIỂN
KINH THÁNH: Công vụ 6:1-7.
CÂU GỐC: “Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội Thánh” (Công vụ 2:47).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ là nhờ cầu nguyện, Hội Thánh đã phát triển và càng được ban thêm quyền năng của Đức Thánh Linh.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Vị thánh tử đạo đầu tiên |
(Công vụ 6:8-15; 7:54-60). |
|
TH: |
Nhà truyền giáo ngoại quốc đầu tiên |
(Công vụ 8:24-40). |
|
TB: |
Sau-lơ trở lại đạo |
(Công vụ 9:1-20). |
|
TT: |
Tin Lành truyền đến người ngoại bang |
(Công vụ 10:24-48). |
|
TN: |
Hội Thánh tại An-ti-ốt |
(Công vụ 11:19-30). |
|
TS: |
Truyền giảng cho người ngoại bang |
(Công vụ 13:42-52). |
|
TB: |
Giáo hội nghị tại Giê-ru-sa-lem |
(Công vụ 15:1-35). |
Đức Thánh Linh đã thiết lập và phát triển Hội Thánh. Các tín đồ đã nhờ Đức Thánh Linh mà hoạt động ráo riết, vừa có tính cách tập thể, vừa có tính cách cá nhân, nên có kết quả lớn lao. Đây không phải là công việc của người, song là công việc của Chúa mà tín đồ chỉ là công cụ trong tay Ngài. Xin Chúa cho chúng ta biết rằng ngoài Ngài chúng ta chẳng làm chi được.
“Số môn đồ càng tăng lên… Đạo Đức Chúa Trời càng ngày càng tràn ra, số môn đồ tại Giê-ru-sa-lem thêm lên nhiều lắm. Cũng có rất nhiều thầy tế lễ vâng theo đạo nữa” (Công vụ 6:1,7). Hãy tưởng tượng trong một thành phố có một Hội Thánh với số tín đồ 5.000 người và mỗi ngày cứ thêm lên nhiều lắm. Sự sinh hoạt hằng ngày của Hội Thánh như một đại hội đồng của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam trước đây. Vậy nên, Hội Thánh phát triển đó cần được tổ chức để ai nấy sống trong trật tự và kỷ luật. Việc xảy ra trong bài học này vào khoảng năm 32-67 SC.
I. TỔ CHỨC BAN CHẤP SỰ.
Trong số hơn 5.000 tín đồ có quả phụ, cô nhi, có người đau yếu, nghèo khó, có người già cả mà Hội Thánh có trách nhiệm phải chăm sóc, thăm viếng và chia xẻ để “không ai thiếu thốn gì cả”. Muốn được vậy, cần có các chấp sự để đảm đương việc đó. Các chấp sự phải có tư cách như:
– Có danh tốt: Tức là có uy tín, đáng kính trọng.
– Được đầy dẫy Đức Thánh Linh: Vì công việc của Hội Thánh là công việc của Thánh Linh.
– Có sự khôn ngoan: Tức là có tài tổ chức hướng dẫn.
Cũng như Hội Thánh đầu tiên, Hội Thánh ngày nay không thể bỏ bê cô nhi, quả phụ, bệnh nhân, kẻ khó, người già (Ê-sai 58:6-10; Gia-cơ 1:27). Chúng ta phải lo tưởng đến nhau như các chi thể chung một thân. Hội Thánh đầu tiên đã cử bảy người, song trong đó có hai người nổi bật nhất là Ê-tiên và Phi-líp.
1. Ê-tiên (Công vụ 6:8-15; 54-60).
Dầu ông chỉ là một chấp sự, song bởi được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nên Chúa đã dùng ông làm một công tác lớn lao là truyền giảng, đồng thời cũng làm dấu kỳ phép la. Vì lòng cứng cỏi, chống đối, nhà cầm quyền Do thái đã xúi giục dân chúng ném đá ông cho đến chết. Ê-tiên, người thứ nhất trong Hội Thánh đã tuận đạo. Ông chết một cách vinh hiển với lòng bình an nhẹ nhàng, tha thứ cho kẻ giết mình. Vì vậy, Chúa Jêsus đã đứng dậy khỏi ngai của Ngài để tiếp rước ông.
2. Phi-líp (Công vụ 8:1-8; 26-40).
Ma quỉ tưởng có thể dùng sự chết của Ê-tiên để làm cho tín đồ kinh tâm tán đởm mà chối Chúa, bỏ Ngài. Song ngược lại, họ đã tỏ ra cam đảm, thương yêu, “chôn xác Ê-tiên và than khóc người quá bội”.
Sau sự chết của Ê-tiên, lại một cơn bắt bớ tiếp diễn: “Sau-lơ tàn hại Hội Thánh, sấn vào các nhà, dùng sức mạnh bắt đàn ông, đàn bà mà bỏ tù”. Vì vậy, hết thảy tín đồ đều phải chạy tan lạc trong các miền Giu-đê và Sa-ma-ri. Song không phải chạy tan lạc để im hơi lặng tiếng, giữ kín miệng mình, bèn là “đi từ nơi này đến nơi khác truyền giảng đạo Tin Lành”. Trong số đó có chấp sự Phi-líp, ông đến thành Sa-ma-ri giảng về Chúa Jêsus và nhân danh Ngài làm các phép lạ như đuổi quỉ, chữa bịnh. Kết quả là có rất nhiều người tin, đàn ông lẫn đàn bà và hết thảy đều chịu Báp-têm. Vì vậy, cả thành Sa-ma-ri “vui mừng khôn xiết”.
Thình lình, Chúa sai thiên sứ đến bảo Phi-líp bỏ thành Sa-ma-ri đến con đường từ Giê-ru-sa-lem xuống Ga-xa vắng vẻ.
Mạng lịnh của Chúa thật khó hiểu cho Phi-líp. Đang khi tại Sa-ma-ri có nhiều người nghe và tin thì ông lại phải bỏ đó mà đi đến một con đường vắng vẻ. Song Chúa không lầm, vì Ngài là Đấng toàn tri. Biết như vậy, Phi-líp vâng lời ngay, nên có kết quả thật vô cùng lớn lao là nhờ đó hoạn quan Ê-thi-ô-pi đã tin Chúa, chịu Báp-têm, rồi hớn hở đem Tin Lành về truyền bá cho lục địa Phi Châu và Tin Lành được phát triển, tồn tại từ đó cho đến ngày nay.
Hội Thánh đầu tiên có hai chấp sự rất đặc sắc. Ảnh hưởng sự chết của Ê-tiên đã chinh phục Sau-lơ, về sau trở nên Phao-lô làm sứ đồ cho dân ngoại, đem Tin Lành cho thế giới. Sự vâng phục của Phi-líp đã cứu hoạn quan Ê-thi-ô-pi và ông này trở nên một chứng nhân đem Tin Lành cho lục địa Phi Châu. Qua hai chấp sự đó, có những việc lớn đã xảy ra: Sự bắt bớ lớn, tình thương lớn, đức tin lớn, phép lạ lớn, kết quả lớn và vui mừng lớn.
II. ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN HỘI THÁNH (Công vụ 10:24-40).
Hội Thánh đầu tiên được thành lập tại Giê-ru-sa-lem giữa người Dothái. Người Dothái không chịu giao thiệp với người ngoại bang vì sợ bị ô uế (Giăng 4:9; Công vụ 10:28; 11:3). Các tín hữu cũng như sứ đồ Phi-e-rơ chưa hề nghĩ đến việc đem Tin Lành cho dân ngoại mặc dù mạng lịnh của Chúa rất rõ ràng. Họ có thiên kiến, luôn nghĩ rằng sự cứu rỗi là đặc ân Chúa dành cho người Dothái mà thôi.
Vì vậy, Chúa đã cho Phi-e-rơ thấy một dị tượng, qua dị tượng đó ông mới hiểu rằng: Quả thật Đức Chúa Trời chẳng vị nể ai, nhưng trong các dân, hễ ai kính sợ Ngài và làm sự công bình thì nấy được đẹp lòng Chúa (10:34-35). Vì thế Phi-e-rơ đã dạn dĩ đến nhà Cọt-nây theo lời mời của ông ấy để giảng Tin Lành và kết quả thật lạ lùng. Vì ngoài sự vâng lời của Phi-e-rơ, còn có Cọt-nây là người đạo đức, cả nhà kính sợ Đức Chúa Trời, dọn lòng để sẵn sàng chờ đợi Phi-e-rơ. Khi Phi-e-rơ đến, Cọt-nây trịnh trọng thưa: “Vậy bây giờ thay thảy chúng tôi đang ở trước mặt Đức Chúa Trời để nghe mọi điều Chúa đã dặn ông nói cho chúng tôi” (10:33). Vì vậy, khi Phi-e-rơ còn đang nói, Đức Thánh Linh đã giáng trên mỗi người nghe đạo, ai nấy nói tiếng ngoại quốc để ca ngợi Đức Chúa Trời, rồi Phi-e-rơ làm Báp-têm cho họ nhân danh Đức Chúa Jêsus. Kinh nghiệm đó đã cho Phi-e-rơ mạnh dạn tuyên bố tại giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem rằng: “Ngài chẳng phân biệt chúng ta với dân ngoại đâu, vì đã lấy đức tin khiến cho lòng họ tinh sạch. Trái lại, chúng ta tin rằng nhờ ơn Đức Chúa Jêsus, chúng ta được cứu cũng như dân ngoại vậy” (15:9,11).
Lần trước, Phi-e-rơ đã dùng chìa khóa nước thiên đàng của Chúa giao cho ông để chính thức mở cho dân Dothái trong ngày Đức Thánh Linh giáng lâm (2:14-41). Lần này ông cũng chính thức mở cho dân ngoại bắt đầu từ gia đình Cọt-nây. Bây giờ, mỗi chúng ta hãy sử dụng chìa khóa đó, tức là sự truyền giảng Tin Lành để mở nước thiên đàng cho từng thành phố và làng mạc, từng gia đình và cá nhân tại Việt Nam.
Cứ theo đà trên, các tín đồ tan lạc đến xứ Phê-ni-xi, đảo Chíp-rơ, thành An-ti-ốt. Ban đầu họ chỉ giảng cho người Giu-đa, lần hồi cũng giảng cho người ngoại bang nữa. Nhất là tại thành An-ti-ốt xứ Sy-ri có rất đông người tin theo Chúa. An-ti-ốt là Hội Thánh thứ nhất được thiết lập giữa dân ngoại. Tín hữu của Hội Thánh này là những người đầu tiên được gọi là Cơ Đốc nhân (11:26). Họ cũng là những người đầu tiên đã cử giáo sĩ là Phao-lô và Ba-na-ba đi ngoại quốc để giảng đạo (13:2-3). Hội Thánh bắt đầu như một khe nước, nhưng lần hồi đã trở nên một con sông sâu rộng và dài vô tận, đem nước sống cho nhân loại khắp thế gian.
Hội Thánh của bạn có ráo riết truyền giảng để có thêm người tin Chúa không? Bạn đã để bao nhiêu thì giờ cầu nguyện cho Hội Thánh của bạn được đầy dẫy Thánh Linh? Nên nhớ rằng Hội Thánh đầu tiên là gương mẫu. Qua Hội Thánh đầu tiên, Chúa vạch một đường lối chung cho Hội Thánh thuộc mọi thời đại.
CÂU HỎI
1. Khi Hội Thánh phát triển thì Hội Thánh phải được tổ chức như thế nào?
2. Hội Thánh có đông tín hữu thì Hội Thánh có những nhu cầu nào?
3. Tư cách của chấp sự phải như thế nào?
4. Ai là người nổi bật hơn hết trong số 7 chấp sự?
5. Ê-tiên đã làm gì?
6. Vì sao Ê-tiên bị ném đá chết?
7. Vì sao Chúa Jêsus đã đứng lên tiếp rước Ê-tiên?
8. Phi-líp đã làm gì?
9. Thiên kiến của tín đồ Dothái là gì?
10. Chúa phải làm gì để khiến Phi-e-rơ thoát khỏi thiên kiến?
11. Hội Thánh An-ti-ốt có những đặc điểm nào?
BÀI 42. HỘI THÁNH TĂNG TRƯỞNG TẠI ÂU CHÂU
KINH THÁNH: Công vụ 16:1-15.
CÂU GỐC: “Nhưng tôi chẳng kể sự sống mình làm quí, miễn chạy cho xong việc đua tôi và chức vụ tôi đã lãnh nơi Đức Chúa Jêsus, để mà làm chứng về Tin Lành của ơn Đức Chúa Trời” (Công vụ 20:24).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ thế nào Hội Thánh đã tuân hành mạng lịnh của Chúa đi truyền giảng Tin Lành cho khắp thế gian.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Hội Thánh tại Âu châu |
(Công vụ 16:1-40). |
|
TH: |
Hội Thánh tại Hy-lạp |
(Công vụ 17:15-24). |
|
TB: |
Hội Thánh tại La-mã |
(Công vụ 28:16-31). |
|
TT: |
Một giáo sĩ bị chống đối |
(Công vụ 19:23-41). |
|
TN: |
Một giáo sĩ tự biện hộ |
(Công vụ 26:1-31). |
|
TS: |
Câu chuyện của môt giáo sĩ |
(IICôr 11:16-12:10). |
|
TB: |
Lời làm chứng của một giáo sĩ |
(II Ti-mô-thê 4:6-18). |
Khi đọc sách Công vụ, chúng ta thấy rõ nếp sống của các Cơ Đốc nhân thời đó. Nếp sống của họ là một thách thức cho chúng ta ngày nay phải sống như họ. Để thực hiện ý chỉ của Chúa, các Cơ Đốc nhân đã bị bắt bớ và tan lạc ra nước ngoài, nhưng vô luận đi đến đâu, ai nấy cũng đều vui vẻ, hăng hái truyền giảng Tin Lành tại đó mặc dầu phải sống lang thang vất vả (Công vụ 8:1-8; 11:19-26).
Khi gặp thử thách, chúng ta có xin Chúa chỉ cho mình thấy chủ đích của Ngài trong việc đó hay không? Các bạn nên biết rằng không có việc gì xảy ra cho chúng ta là tình cờ, song tất cả đều nằm trong ý chỉ của Chúa. Sách Công vụ cho chúng ta thấy bao giờ Chúa cũng có một chủ đích khi để các con cái Ngài chịu đau khổ (Công vụ 9:15-16).
Biết được chủ đích của Chúa đối với mình, các Cơ Đốc nhân đã chấp nhận sự bắt bớ, chịu đựng sự gian khó để truyền giảng Tin Lành và thiết lập Hội Thánh. Một số người đi lên phía Bắc đến thành Đa-mách xứ Sy-ri và vùng phụ cận, nhờ đó Tin Lành được truyền sang Ấn Độ và Trung Hoa. Một số người xuống phía Nam, đến Ai-cập (Ê-díp-tô) và thành lập Hội Thánh tại đó. Nhưng vị giáo sĩ đi xa nhất và truyền giảng kết quả lớn nhất là người đi về hướng Tây (Châu Âu). Bây giờ chúng ta theo dõi cuộc hành trình truyền giáo của ông.
I. TIN LÀNH ĐƯỢC TRUYỀN SANG CHÂU ÂU.
Trong vòng truyền giáo thứ hai, Phao-lô và Si-la trở lại thăm các Hội Thánh đã được thành lập trong vòng truyền giáo thứ nhất, làm cho ai nấy được vững vàng, và số người tin Chúa ngày càng thêm lên (Công vụ 15:41-16:5).
Thế mà Chúa cấm Phao-lô tiếp tục truyền đạo tại Á Châu. Chúng ta không biết Chúa cấm cách nào, song Phao-lô biết rõ lắm nên ông yên lặng chờ đợi ý chỉ của Chúa. Rồi một đêm nọ, Phao-lô thấy dị tượng, một người Ma-xê-đoan đứng trước mặt ông mà nài xin ông qua xứ đó để cứu giúp họ. Thế là Phao-lô biết rõ ý chỉ của Chúa muốn ông qua truyền đạo tại phương Tây, tức là Châu Âu.
Những câu “Đức Thánh Linh cấm truyền đạo trong cõi Asi… nhưng Thánh Linh của Đức Chúa Jêsus không cho phép…” và “Đức Chúa Trời gọi chúng ta rao truyền Tin Lành ở đó”, thật là tuyệt diệu (Công vụ 16:6-10). Chính Chúa hướng dẫn và điều khiển công việc truyền giáo của Phao-lô, cũng hướng dẫn và điều khiển công tác của mọi con cái Ngài. Trong cuộc sống hằng ngày đầy bối rối, lo âu, nhiều khi quá sức chịu đựng của chúng ta, thì Chúa vẫn tể trị mọi sự để làm ích lợi cho chúng ta. Bất luận ai có lòng trông đợi Chúa sẽ được Ngài hướng dẫn vào một con đường chắc chắn an lành. Điều quan trọng không phải là đường nào tôi muốn đi, chỗ nào tôi muốn ở, nhưng là đường nào Chúa muốn tôi đi, chỗ nào Chúa muốn tôi ở. Con đường nào có Chúa đi cùng, nơi nào có Chúa ở với là có phước. Nên nhớ luôn rằng khi Chúa đóng cửa nầy, đồng thời Ngài mở cửa khác. Hãy lắng nghe, hãy nhìn kỹ, hãy để ý, hãy chờ đợi. Đầy tớ phải phục tùng chủ, người hầu việc Chúa phải phục tùng Ngài trong mọi sự. Vì Chúa biết hơn chúng ta đường nào phải đi, đi lúc nào, chỗ nào phải thi hành công tác và phải thi hành cách nào.
II. DIỄN TIẾN CỦA TIN LÀNH TẠI CHÂU ÂU.
Bất luận nơi nào Phao-lô đến truyền giảng đều có người tin Chúa và hầu hết mỗi nơi đều lập thành Hội Thánh. Song nơi nào cũng có những người chống đối bằng những hình thức bắt bớ dữ dội nhất để làm cho tín đồ nản lòng. Vì vậy, sau khi đi qua, Phao-lô thường trở lại để làm vững chí anh em mình, nhất là chọn người xứng đáng, có ân tứ, khả năng, lập họ làm trưởng lão phụ trách chi hội mới. Sau đó Phao-lô tiếp tục đi nơi khác.
Trô-ách là cửa biển từ Á qua Âu. Đoàn truyền giáo phải đi thuyền rồi đi bộ mới đến thành Phi-líp. Trái đầu mùa tại Phi-líp cũng như tại Châu Âu là một người đàn bà Dothái vừa giàu có vừa sẵn lòng tiếp nhận Chúa như hoạn quan Ê-thi-ô-pi, như gia đình Cọt-nây. Khi bà và cả nhà chịu Báp-têm thì tha thiết mời đoàn truyền giáo về ngụ tại nhà mình.
Nếu chấp sự Phi-líp không bỏ thành Sa-ma-ri xuống con đường vắng vẻ tại Ga-xa thì ông đã mất dịp tiện hướng dẫn hoạn quan Ê-thi-ô-pi về với Chúa (Công vụ 8:26-40). Nếu Phi-e-rơ không từ Giốpbê đến Sê-sa-rê thì ông đã mất cơ hội đem cả gia đình Cọt-nây và một số bà con, bạn hữu ông ấy trở về với Chúa (Công vụ 10:23-48). Còn Phao-lô chắc ông sung sướng lắm vì Chúa cấm ông đi Á Châu mà bảo qua Âu Châu, nhờ đó ông đã đưa gia đình bà Lyđi về với Chúa. Lỡ một bước theo ý riêng có thể mất biết bao cơ hội.
Tại thành Phi-líp cũng có một phụ nữ nô lệ, bị quỉ bói khoa ám, đem nhiều lợi lộc cho chủ của bà. Tình cảnh của bà thật đáng thương, xác thịt làm nô lệ cho người, linh hồn làm nô lệ cho quỉ. Song bà đã được Chúa giải phóng khỏi quyền lực của ma quỉ.
Sau đó, cả gia đình của người cai ngục đã được cứu, mặc dù Phao-lô và Si-la phải chịu đau đớn rất nhiều. Song sự đau đớn đó không thể sánh với sự vui mừng vì đã có một số người thuộc ba thành phần, ba dân tộc tin theo Chúa, thành lập Hội Thánh thứ nhất tại Âu Châu. Bà Lyđi là người Dothái giàu có, phụ nữ bị quỉ ám là một nô lệ người Hy-lạp, ông cai ngục là người La-mã quyền thế. Khi Phao-lô ra đi đã để lại một Hội Thánh nhóm trong nhà bà Lyđi. Hội Thánh Phi-líp là niềm hãnh diện của Phao-lô như một mão triều thiên. Trong thư gởi cho Hội Thánh Phi-líp, Phao-lô nhắc lại thế nào họ đã giúp đỡ ông trong cảnh tù đày tại La-mã (Phi-líp 2:25-27; 4:18).
III. TIN LÀNH ĐƯỢC TRUYỀN SANG LA-MÃ.
Sau vòng truyền giáo thứ ba, khi Phao-lô từ Âu Châu trở về Giê-ru-sa-lem thì bị bắt. Vì ông là công dân La-mã nên không bị xét xử trước tòa án Dothái mà trước tòa án của hai vị tổng đốc La-mã là Phê-lít, Phê-tu và vua Ạc-ríp-ba. Ông có dịp giảng Tin Lành cho các vị ấy và dân chúng.
Cuối cùng, Phao-lô kêu nài xét xử trước tòa án Hoàng đế La-mã nên ông được giải qua đó. Cuộc hành trình đầy gian nguy của ông được chép trong Công vụ 27-28. Ông đã sống những năm chót của đời mình tại khám tù thành La-mã, vừa giảng dạy những người đến thăm, vừa viết thơ cho các Hội Thánh và cá nhân như thơ Ê-phê-sô, Phi-líp, Cô-lô-se, Phi-lê-môn và Ti-mô-thê. Khi ông tuận đạo, thì Hội Thánh La-mã đã vững mạnh, nhiều gia nhân của bạo chúa Sêsa đã được cứu.
Phao-lô đã sống đúng như ông nói trong câu gốc của bài học này (Công vụ 20:24). Khi Phao-lô mới tin Chúa, Hội Thánh chỉ là một nhóm người không đáng kể. Khi Phao-lô qua đời, Hội Thánh đã bành trướng khắp thế gian, mặc dù thời gian hầu việc Chúa của ông chỉ trên dưới 30 năm. Đó không phải là công việc của Phao-lô song là công việc của Đức Thánh Linh mà Phao-lô chỉ là một dụng cụ trong tay Ngài. Mỗi chúng ta là một dụng cụ sắc bén, có lợi hay hại tùy theo chúng ta chịu đặt mình vào trong tay Chúa hay ma quỉ. Chính vì vậy mà Phao-lô khuyên: “Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình” (Rô-ma 6:13).
CÂU HỎI
1. Trong khi bị thử thách, các Cơ Đốc nhân đã làm gì?
2. Làm sao để biết được chủ đích của Chúa cho đời sống chúng ta?
3. Tại sao Chúa cấm Phao-lô truyền đạo tại Á Châu?
4. Trái đầu mùa của Hội Thánh Phi-líp là ai?
5. Hội Thánh thứ nhất tại Âu Châu là Hội Thánh nào?
6. Hội Thánh Phi-líp gồm những thành phần nào và dân tộc nào?
7. Hội Thánh Phi-líp đã làm gì cho Phao-lô?
8. Dịp tiện nào đưa Phao-lô đến La-mã?
9. Trong những năm ngồi tù tại La-mã, Phao-lô đã làm gì?
10. Khi Phao-lô tuận đạo thì Hội Thánh Chúa thế nào?
BÀI 43. HỘI THÁNH ĐẦU TIÊN PHÁT TRIỂN RỰC RỠ
KINH THÁNH: Hê-bơ-rơ 11:32-40.
CÂU GỐC: “Số người tin Chúa ngày càng thêm lên, nam nữ đều đông lắm” (Công vụ 5:14).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ Hội Thánh thuộc thế kỷ thứ nhất là một lực lượng lớn lao của Đức Chúa Trời trên cả thế giới.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Gương của những người đi trước |
(Hê-bơ-rơ 11:32-40). |
|
TH: |
Bước đi của đức tin và hy vọng |
(Hê-bơ-rơ 12:1-15). |
|
TB: |
Tiên báo việc Giê-ru-sa-lem bị tàn phá |
(Mác 13:1-5). |
|
TT: |
Lòng vô tín tại Giê-ru-sa-lem |
(Lu-ca 19:14-44). |
|
TN: |
Bí quyết để được quyền năng |
(Giăng 13:1-27). |
|
TS: |
Bí quyết để cộng tác với nhau |
(ICôr 13:1-13). |
|
TB: |
Thánh Giăng viết sách Khải huyền |
(Khải huyền 1:1-19). |
Những việc của Hội Thánh xảy ra trong bài học này vào khoảng năm 67-100 SC. Hội Thánh đầu tiên như ngọn lửa lan rộng cách mau chóng không ai ngờ được. Lý do là các tín đồ đã nhờ Đức Thánh Linh mà hăng say dâng mọi sự cho Chúa, kể cả mạng sống của mình để làm chứng cho danh Ngài. Họ sẵn sàng chấp nhận mọi bắt bớ miễn là Tin Lành được truyền giảng để cứu vớt tội nhân.
Ngày nay, nếu vì danh Chúa phải mất của cải, việc làm, bị gia đình và bạn bè từ bỏ, thì chúng ta có chấp nhận không? Nên nhớ rằng sự bắt bớ đã khích động Hội Thánh đầu tiên phát triển rực rỡ.
I. HỘI THÁNH PHÁT TRIỂN TRONG CƠN BẮT BỚ.
1. Phát triển nhân số.
a. Một ngày có 3.000 người tin Chúa (Công vụ 2:41).
b. Số tín đồ lên đến 5.000 (Công vụ 4:4).
c. Nam nữ đều đông lắm (Công vụ 5:14).
d. Số môn đồ thêm lên nhiều lắm, có các thầy tế lễ nữa (Công vụ 6:7).
e. Số của Hội Thánh được thêm lên (Công vụ 9:31).
g. Số người tin Chúa rất nhiều, rất đông (Công vụ 11:21, 24).
h. Đạo Chúa tấn tới rất nhiều, ngày càng tràn ra (12:24).
i. Số người càng ngày càng thêm lên (16:5).
k. Đạo Chúa càng ngày càng được thắng (19:20).
l. Có mấy vạn người Giu-đa đã tin (21:20).
2. Phát triển phạm vi.
a. Từ Giê-ru-sa-lem đến Giu-đê, Sa-ma-ri, Sy-ri thuộc Châu Á (Công vụ 8:1-8; 11:19-26).
b. Đến Ê-thi-ô-pi của Châu Phi (8:26-40).
c. Đến Hilạp, La-mã của Châu Âu (16:1-40; 17:15-24; 28:16-31).
II. HỘI THÁNH PHÁT TRIỂN SAU SỰ CHẾT CỦA PHI-E-RƠ VÀ PHAO-LÔ.
Theo lịch sử Hội Thánh thì vào khoảng năm 60 SC, Phao-lô và Phi-e-rơ đã tuận đạo tại La-mã. Phi-e-rơ bị đóng đinh và Phao-lô bị chém đầu.
Bấy giờ, một phần thành phố La-mã bị lửa thiêu rụi và người ta nghi chính Hoàng đế Néron là thủ phạm. Để đánh tan mối hoài nghi đó, Néron vu cáo các tín đồ đã gây ra cuộc hỏa hoạn. Thế là Phi-e-rơ, Phao-lô và một số đông tín đồ bị bắt bớ cho đến chết. Nhiều người bị đóng đinh, thiêu sống, ném cho thú dữ xé thây.
Chính quyền La-mã đã từng làm vậy để mong quét sạch Cơ Đốc giáo khỏi mặt đất. Song họ đã lầm và hoàn toàn thất bại. Cơ Đốc giáo vẫn tiếp tục phát triển và vững vàng hơn. Cuộc bắt bớ chỉ làm tăng thêm ước vọng của tín đồ muốn được Chúa kể mình là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Ngài, trung tín với Chúa cho đến cùng, dầu phải chấp nhận cái chết (Công vụ 5:41; Phi-líp 1:29).
III. HỘI THÁNH VẪN PHÁT TRIỂN KHI GIÊ-RU-SA-LEM BỊ TÀN PHÁ.
Khoảng năm 68 SC, Hoàng đế Néron tự sát lúc ông chỉ mới 32 tuổi. Hai năm sau đó, một biến cố kinh hoàng xảy ra là thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá.
Vào năm 70 SC, hoàng tử Titus của La-mã đem quân vây thành Giê-ru-sa-lem vì dân Dothái nổi loạn. Sau nhiều tháng chống cự, cuối cùng, thành cũng lọt vào tay quân đội La-mã. Đền thờ Giê-ru-sa-lem bị san bằng đúng như lời Chúa Jêsus đã phán (Mác 13:2).
Sự tàn phá đó càng làm cho tín đồ vững tin lời Chúa, càng tỉnh thức hầu việc Ngài. Hơn nữa, sự tàn phá đó đánh dấu một sự tách rời của Cơ Đốc giáo với Dothái giáo khiến cho Cơ Đốc nhân người Dothái không còn bị cám dỗ nương tựa vào các nghi lễ của Cựu Ước. Bấy giờ, hết thảy Cơ Đốc nhân đều bước đi theo sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh và nhờ quyền năng Ngài mà mạnh tiến trên đường phát triển Hội Thánh.
IV. HỘI THÁNH PHÁT TRIỂN DÙ GIĂNG BỊ LƯU ĐÀY.
Vào cuối thế kỷ thứ nhất, trong vòng các sứ đồ, chỉ có thánh Giăng còn lại. Khoảng năm 95 SC, ông bị bắt và bị đày qua đảo Bát-mô. Dometien, Hoàng đế La-mã nghĩ rằng đó là cách tốt nhất làm cho Hội Thánh mất người lãnh đạo cuối cùng, rồi sẽ lần hồi bị tiêu diệt.
Sống tại nơi hoang vu, cô tịch nầy, Giăng được Chúa Jêsus hiện ra, ban cho ông thấy dị tượng về tương lai của Hội Thánh, của nhân loại và muôn vật. Ông đã chép mọi điều mình nghe và thấy trong sách Khải huyền. Đây là quyển sách cuối cùng trong bộ Kinh Thánh, đem lại cho tín đồ niềm tin, hy vọng, an ủi, khích lệ lớn lao và mạnh mẽ, và nếu không có sách Khải huyền, chúng ta thiếu một phần quan trọng trong giáo lý Cơ Đốc. Một lần nữa, “chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời…” (Rô-ma 8:28). Lúc nào Chúa cũng tể trị và điều khiển dòng lịch sử nhân loại. Tất cả các cuộc “danh hư tiêu trưởng thịnh suy bỉ thái” của mọi dân, mọi nước đều xoay quanh chương trình cứu rỗi nhân loại của Chúa.
Từ sự bắt bớ của chính quyền Dothái trong lúc Hội Thánh mới được thành lập, cho đến sự bắt bớ của chính quyền La-mã ngày càng khủng khiếp suốt hai thế kỷ với quyết tâm tận diệt Hội Thánh, song có thể nói là nhờ sự bắt bớ đó, Hội Thánh được phát triển rực rỡ và mau chóng quá sức tưởng tượng của mọi người. Vào đầu thế kỷ thứ hai, hàng vạn người ăn năn tin nhận ơn cứu rỗi của Chúa. Vào cuối thế kỷ thứ hai và đầu thế kỷ thứ ba, hầu hết các tỉnh của đế quốc La-mã đều có tín đồ. Đức Thánh Linh đã làm việc của Ngài qua Hội Thánh để lời của Chúa Jêsus được hoàn toàn ứng nghiệm (Ma-thi-ơ 28:18-20; Công vụ 1:8).
Chúng ta đang sống trong những ngày sau rốt, là thời kỳ khó khăn (II Ti-mô-thê 3:1) vì “hết thảy mọi người muốn sống cách nhơn đức trong Đức Chúa Jêsus Christ, thì sẽ bị bắt bớ” (II Ti-mô-thê 3:12).
Nhưng chúng ta chấp nhận con đường bị bắt bớ để theo Chúa và cứ tiếp tục theo Chúa cho đến cùng, Ngài sẽ thêm sức cho chúng ta để ai nấy làm được điều Chúa muốn mình làm (Phi-líp 4:13), và chịu được điều Chúa muốn mình chịu cách vui vẻ (Cô-lô-se 1:11).
Nếp sống đạo đức và sức chịu đựng các cơn bắt bớ của tín đồ trong Hội Thánh đầu tiên đã làm cho mọi người chung quanh phải ngạc nhiên. Họ muốn hiểu lý do nào, quyền năng nào đã khiến cho tín đồ được như vậy. Khi đã hiểu, họ cũng muốn trở nên tín đồ.
Hôm qua, ngày nay, cho đến đời đời Chúa vẫn y nguyên. Ngài còn muốn làm việc của Ngài qua bạn và tôi như Ngài đã làm qua các tín đồ đầu tiên. Trái lại, nếu tín đồ đầu tiên không sống như họ đã sống thì Hội Thánh đã mai một từ lâu rồi. Chúng ta hôm nay cũng vậy!
CÂU HỎI
1. Xin lược kê sự phát triển của Hội Thánh về nhân số.
2. Xin lược kê sự phát triển của Hội Thánh về phạm vi.
3. Phi-e-rơ và Phao-lô đã chết trong trường hợp nào?
4. Sự chết của hai ông tác động trên Hội Thánh ra sao?
5. Tại sao thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá?
6. Sự tàn phá đó có liên hệ gì đến Hội Thánh?
7. Tại sao sứ đồ Giăng bị lưu đày?
8. Sự lưu đày của Giăng đã đem ích lợi gì cho Hội Thánh chung?
9. Hội Thánh đã phát triển ra sao trong thế kỷ thứ hai và thứ ba?
10. Chúng ta có trách nhiệm gì đối với Hội Thánh trong thế kỷ này?
BÀI 44. HỘI THÁNH BỊ BẮT BỚ
KINH THÁNH: I Phi-e-rơ 4:12-19.
CÂU GỐC: “Đừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn, nhưng thà sợ Đấng làm cho mất được linh hồn và thân thể trong địa ngục” (Ma-thi-ơ 10:28).
MỤC ĐÍCH: Mô tả thêm các công trình của Hội Thánh đã thực hiện được khi bị bắt bớ.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Phi-e-rơ cảnh cáo về sự bắt bớ hầu đến |
(I Phi 4:12-19). |
|
TH: |
Cách đối phó khi bị bắt bớ |
(I Phi-e-rơ 2:18-25). |
|
TB: |
Lý do của việc bắt bớ |
(I Phi-e-rơ 1:1-9). |
|
TT: |
Sức mạnh để chịu đựng sự bắt bớ |
(IICôr 12:1-10). |
|
TN: |
Bắt bớ là cơ hội đem hạnh phúc cho tha nhân |
(II Cô 1:1-11). |
|
TS: |
Giá trị của sự bắt bớ đối với Tin Lành |
(Phi-líp 1:12-14). |
|
TB: |
Chúa Jêsus cảnh cáo về sự bắt bớ hầu đến |
(Mat 10:16-28). |
Hội Thánh của Chúa suốt hai mươi thế kỷ qua đều bị bắt bớ, hoặc dưới hình thức này hay dưới hình thức khác, hoặc ít hay nhiều, có khi khủng khiếp, hầu như đến mức độ quá sức chịu đựng của tín đồ. Dầu dưới phương trời nào, thuộc thời đại nào, Cơ Đốc nhân đều phải cậy ân điển quyền năng của Chúa để đắc thắng sự bắt bớ, xem như đó là cơ hội để mình tôn vinh Ngài.
Vẻ đẹp đạo đức của con người chỉ được chứng minh khi bị đè nén và áp bức. Có những loại cỏ chỉ tiết ra hương thơm khi bị vò nát, có loài hoa chỉ tiết ra hương thơm trong bóng đêm. Cũng vậy, sự bắt bớ làm cho Hội Thánh được thanh lọc và trở nên như vàng ròng. Sự bắt bớ làm cho mùi thơm của Chúa từ trong Hội Thánh được tỏa ra ngào ngạt khắp nơi (Nhã ca 4:16). Hễ mỗi lần có tín đồ tuận đạo thì có thêm người được cứu để sẵn sàng tuận đạo. “Huyết của những người tuận đạo là hạt giống của Tin Lành”. Không có cách nào để đếm con số tín đồ tuận đạo trong hai mươi thế kỷ qua, song chắc chắn là nhiều lắm.
I. LÝ DO HỘI THÁNH BỊ BẮT BỚ (I Phi-e-rơ 1:3-9).
Giữa thế kỷ thứ II và thứ III (từ năm 100 đến 313 SC) Hội Thánh phải trải qua nhiều đợt bắt bớ. Giữa đợt này và đợt kia, có lúc Hội Thánh được an toàn, có rất nhiều người thêm vào Hội Thánh. Song chính lúc đó Hội Thánh lâm nguy hơn hết vì có nhiều người không thật lòng ăn năn, họ giữ nguyên nếp sống cũ là nếp sống bại hoại. Bấy giờ Hội Thánh sống trong tình trạng đạo đời pha trộn, sáng tối nhá nhem, vàng thau lẫn lộn! Thế là một cơn bắt bớ lại xảy ra để thanh lọc Hội Thánh. Những người không tin kính thì không sẵn sàng chịu khổ nên tự ý rút lui, chỉ còn lại những người chân chính thì càng chân chính hơn (Khải huyền 22:11). Sự bắt bớ đó ích lợi cho Hội Thánh về phương diện thuộc linh, làm tăng thêm vẻ thuần khiết của Hội Thánh là bản chất cao quí nhất.
Vì vậy, Phi-e-rơ đã nói: “Anh em vui mừng về điều đó…”, tức là vui mừng về hy vọng một cơ nghiệp đời đời để dành cho anh em trên trời mà không ai có thể cướp lấy được, dầu hiện nay anh em phải bị buồn bã ít lâu do sự thử thách trăm bề xảy đến cho mình. Sự thử thách có giới hạn (Khải huyền 2:10) và chỉ tạm thời. Nhờ sự thử thách, đức tin anh em sẽ tốt hơn như vàng thử lửa, sinh ra ca ngợi, tôn trọng cho anh em khi Chúa đến.
Một trong những đợt bắt bớ khủng khiếp nhất đối với Hội Thánh xảy ra vào năm 250 SC. Đế quốc La-mã bị các kẻ thù từ bốn phương đe dọa nên một trong các nỗ lực để chống lại với kẻ thù là thống nhất tôn giáo, vì thống nhất tôn giáo là thống nhất đế quốc, thống nhất toàn dân. Tôn giáo duy nhất của đế quốc La-mã thời đó là ai nấy phải thờ Hoàng đế như thờ Đức Chúa Trời. Các viên chức chính quyền ra lệnh cho toàn dân phải thắp hương trong đền thờ Hoàng đế. Ai làm như vậy được cấp chứng chỉ là công dân tốt. Ai không có chứng chỉ sẽ bị bỏ tù hay xử tử. Cơn bắt bớ này kéo dài 60 năm. Dĩ nhiên có nhiều tín đồ bị tù, bị giết.
II. CÁCH ĐỐI PHÓ CỦA HỘI THÁNH KHI BỊ BẮT BỚ (I Phi-e-rơ 2:21-23; 4:12-19).
Dầu bấy giờ, các sứ đồ đã qua đời, song sự dạy dỗ của họ hoặc trực tiếp, hoặc qua các thư tín, nhất là nếp sống của họ đã làm mẫu mực cho Hội Thánh chung:
Sau khi chữa lành cho người què từ thuở sinh ra thường ngồi tại cửa Đẹp của đền thờ để xin ăn, Phi-e-rơ và Giăng đã giảng cho dân chúng. Nhà cầm quyền Dothái liền đòi hai ông đến đe dọa và cấm đoán: “Từ rày về sau, chớ lấy Danh Jêsus mà dạy dỗ ai nữa” (Công vụ 4:17). Nhưng hai ông cứ dạy dỗ vì “thà vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta” (Công vụ 5:29). Khi nhà cầm quyền bắt giam, đánh đòn thì hai ông không hề phản đối, vì họ biết rằng, nếu Chúa không cho phép thì không điều gì có thể xảy ra cho họ và họ vâng lời Đức Chúa Trời (Công vụ 4:3,21; 5:17-18,40).
Ngoài nếp sống như trên, Phi-e-rơ còn khuyên tín đồ theo gương Cứu Chúa Jêsus. Ngài kêu gọi chúng ta chịu khổ với Ngài và chịu khổ như Ngài. Ngài chịu khổ khi không đáng phải chịu khổ vì Ngài vô tội. Ngài chịu khổ một cách bình thản chứ không hề cay đắng. Ngài chịu khổ mà không hề căm giận, thù oán, cũng không hề phản đối, song cứ phó mình cho Đấng xử đoán công bình. Chúa chịu khổ trước nhất là để đền tội cho chúng ta, sau đó là để làm gương cho chúng ta.
Để đánh tan thắc mắc của tín đồ khi bị bắt bớ và khích lệ họ vui mừng, chịu khổ, Phi-e-rơ đã nhắc họ về ngày vinh hiển của Chúa sẽ hiện ra. Ông cảm thông với họ khi đang ở trong thử thách như trong một lò lửa. Song họ có phần trong sự đau khổ với Chúa thì có hy vọng trong sự vinh hiển với Ngài. Hãy xem sự chịu khổ vì Danh Chúa là một niềm hãnh diện, là ân điển Chúa ban cho mình (Ma-thi-ơ 5:11-12; Công vụ 5:14; Phi-líp 1:29). Bị thử thách bao nhiêu là dự phần vinh hiển với Chúa bấy nhiêu nên hãy vui mừng và cứ vui mừng nhiều hơn. “Vì sự đau đớn bây giờ không đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta” (Rô-ma 8:18).
Chúng ta biết Đấng chúng ta đã tin nên chúng ta sẵn sàng chịu khổ vì Danh Ngài. Chúng ta đi với Ngài vào lò lửa và Ngài ở đó với chúng ta. Chúng ta dự phần với Ngài trong sự đau khổ và Ngài thêm sức cho chúng ta. Chúng ta khốn khổ bao nhiêu, Chúa cũng khốn khổ bấy nhiêu (Ê-sai 63:9). Vì ý chỉ của Chúa như vậy, nên chúng ta hãy cứ làm lành mà phó mình cho Ngài.
Spafford là một tín đồ tại Chicago. Năm 1876, vợ và bốn con của ông đi trên một chiếc tàu vượt đại dương. Chẳng may, tàu đụng nhằm một tàu khác và bị chìm trong 20 phút. Hai tuần sau, vợ ông từ Ái nhĩ lan gửi về một điện tín: “ĐƯỢC CỨU MỘT MÌNH”. Trong cảnh tan lòng nát dạ đó. Spafford sáng tác bài thánh ca số 277 tựa đề: “TÂM LINH TÔI, YÊN NINH THAY”.
III. HÀNH ĐỘNG CỦA CÁC GIÁO PHỤ KHI BỊ BẮT BỚ.
Trong các cơn bắt bớ, vô số tín đồ đã liều thân để Tin Lành của Chúa khỏi bị tiêu diệt và cứ phát triển mạnh mẽ. Các sứ đồ đã lần lượt tuận đạo. Sau khi các sứ đồ qua đi, có những nhân vật quan trọng nối tiếp gọi là các giáo phụ. Họ là bạn của các sứ đồ.
Trong vòng các giáo phụ có những người tận tâm, hăng say khảo cứu Kinh Thánh để dạy dỗ tín đồ, viết ra những sách giải nghĩa giáo lý Cơ Đốc một cách rõ ràng, chính xác và đầy đủ, lưu truyền cho hậu thế. Các sách đó có giá trị trong thời đại của họ và còn có giá trị cho chúng ta ngày nay. Nhờ các sách đó, Hội Thánh đã được vững vàng trong các cơn bắt bớ, vì đức tin của các tín đồ đâm sâu vào Lời Chúa, dầu bấy giờ chưa có máy in, nên sự phổ biến Lời Chúa còn hạn hẹp. Song ai nấy đã vì lòng khao khát mà cố gắng học hỏi để củng cố niềm tin và chia xẻ niềm tin cho kẻ khác. Cho đến năm 1448, nhờ Gutenberg là một người Đức, sáng chế máy in mà chúng ta ngày nay có Kinh Thánh và rất nhiều văn phẩm Cơ Đốc.
Các giáo phụ có công hơn hết đối với giáo hội thời bấy giờ có Iranus, Polycarpe, Tertullien và Augustin.
Cầu Chúa dấy lên trong Hội Thánh ngày nay những nhà lãnh đạo có tâm tình đó.
CÂU HỎI
1. Lý do nào khiến Hội Thánh bị bắt bớ?
2. Hội Thánh bị bắt bớ thì có ích lợi gì?
3. Chính quyền La-mã đòi Hội Thánh phải làm gì?
4. Trong cơn bắt bớ, Phi-e-rơ đã làm gì?
5. Trong cơn bắt bớ, Phi-e-rơ đã dạy gì cho Hội Thánh?
6. Chúng ta phải xem sự chịu khổ vì Danh Chúa là thế nào?
7. Các giáo phụ đã làm gì để giúp cho Hội Thánh khi bị bắt bớ?
8. Các giáo phụ có công hơn hết đối với Hội Thánh là ai?
9. Chúng ta được dạy dỗ gì qua bài này?
BÀI 45. HỘI THÁNH THỎA HIỆP VỚI THẾ GIAN
KINH THÁNH: Khải huyền 3:14-22.
CÂU GỐC: “Vậy, vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta” (Khải huyền 3:16).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ rằng Hội Thánh của Đức Chúa Trời luôn luôn bị suy yếu khi thỏa hiệp với thế gian.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Thỏa hiệp với thế gian |
(Giu-đe 1-25). |
|
TH: |
Chắc chắn anh em đang đứng vững |
(I Phi 2:1-22). |
|
TB: |
Cảnh cáo sự thỏa hiệp với thế gian |
(Công vụ 20:28-38). |
|
TT: |
Hậu quả sự thỏa hiệp với thế gian |
(Khải huyền 3:14-22). |
|
TN: |
Phương cách tránh thỏa hiệp |
(II Ti-mô-thê 2:1-26). |
|
TS: |
Cứ tiếp tục trong Lời của Đức Chúa Trời |
(II Ti-mô-thê 3:1-17). |
|
TB: |
Binh giáp chống thỏa hiệp với thế gian |
(Ê-phê-sô 6:10-18). |
Bài học hôm nay nói về Hội Thánh trong những năm từ 313 đến 475 SC. Đó là thời kỳ Hội Thánh đã mất ý thức về địa vị cao quí của mình (I Phi-e-rơ 2:9-10). Hội Thánh muốn sống đẹp lòng con người nên đã thỏa hiệp với thế gian và bị pha lẫn.
Mối bận tâm của mỗi Cơ Đốc nhân cũng như toàn thể Hội Thánh là sống cho Chúa, sống đẹp lòng Chúa. Chúng ta phải nói như Phao-lô: “Dầu tôi sống hay chết, Đấng Christ sẽ được tỏa sáng trong mình tôi… Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó. Thật tôi xem những điều lợi đó như rơm rác hầu cho được Đấng Christ” (Phi-líp 1:20,38).
I. BIẾN CỐ ĐƯA HỘI THÁNH THỎA HIỆP VỚI THẾ GIAN.
Năm 313 SC, hoàng đế La-mã là Constantin tin Chúa. Ông ra lệnh chấm dứt sự bắt bớ Hội Thánh, tìm cách kết thân với các lãnh tụ Hội Thánh, hủy bỏ một vài tập tục có tính cách chống Hội Thánh và vận động giải phóng các nô lệ là Cơ Đốc nhân. Các Cơ Đốc nhân đã từng sống trốn tránh trong hầm mộ, bây giờ ra khỏi đó. Nói tóm lại một lời, hoàng đế rất dễ dãi đối với Hội Thánh.
Nhưng, hoàng đế Constantin không tận hiến đời mình cho Chúa. Trước khi băng hà, ông nói rằng mình chỉ đề cao Cơ Đốc giáo nhằm được ích lợi về chính trị mà thôi.
II. NGUYÊN NHÂN KHIẾN HỘI THÁNH THỎA HIỆP VỚI THẾ GIAN.
Bấy giờ Hội Thánh có thế lực lớn, được nhà nước hậu thuẫn về mặt tài chánh, hàng giáo phẩm được miễn thuế, Hội Thánh cố vấn cho nhà nước trong nhiều phương diện và phần tổ chức bắt đầu chiếm ưu thế trong sinh hoạt thuộc linh của Hội Thánh.
Thêm vào đó, hai lực lượng chính quyền và giáo quyền cấu kết với nhau để tạo sự thỏa hiệp, khiến nội bộ Hội Thánh bị xáo trộn. Đồng thời số người ngoại đạo đua nhau gia nhập Hội Thánh và đem vào Hội Thánh nhiều thói tục ngoại đạo, việc thờ lạy tà thần được thay thế bằng việc thờ lạy các thánh. Những người gia nhập Hội Thánh như vậy chỉ vì lý do xã hội chứ không vì lý do thuộc linh nên Hội Thánh bị phàm tục hóa.
Hội Thánh mất tình yêu ban đầu, không còn gần gũi với Chúa, không còn nương tựa nơi Ngài để kiên trì chịu đựng sự khó khăn (IICôr 2:10). Ai nấy nương tựa vào các lễ lạc nghi thức, đức tin không còn, Hội Thánh chìm vào sự tối tăm.
III. HẬU QUẢ CỦA HỘI THÁNH THỎA HIỆP VỚI THẾ GIAN (Khải huyền 3:14-22).
Hội Thánh trong thời kỳ đó giống như Hội Thánh Lao-đi-xê. Thành phố Lao-đi-xê được xây cất trên một bờ sông mà dòng nước bắt nguồn từ một suối nước nóng. Nhưng khi dòng nước nóng đó chảy gần đến thành phố thì đã bị pha lẫn với một dòng nước lạnh, nên khi chảy ngang qua thành phố Lao-đi-xê thì nó đã trở nên hâm hẩm. Thực sự đó rất đúng với tình trạng thuộc linh của Hội Thánh Lao-đi-xê là Hội Thánh đã thỏa hiệp với thế gian.
Dân chúng tại Lao-đi-xê rất hãnh diện về sự giàu có của mình nhờ thương nghiệp cùng thủ công nghiệp. Hội Thánh Lao-đi-xê chịu ảnh hưởng đó nên đã tự mãn, khoe khoang rằng: “Ta giàu, ta đã giàu có rồi, không cần chi nữa”. Song họ không biết được thực trạng thuộc linh của mình là khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù và lõa lồ. Vì thế, Chúa bảo: “Ước gì ngươi lạnh hoặc nóng thì hay! Vậy vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên Ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng Ta” (Khải huyền 3:15-16).
Một số tín đồ đã tự mãn mà nghĩ rằng: Dầu tôi không sốt sắng, nhưng cũng không đến nỗi nguội lạnh, dầu tôi không tiến bộ, nhưng cũng không đến nỗi thối lui, dầu tôi không mạnh mẽ, nhưng cũng không đến nỗi yếu đuối. Tôi còn khá hơn bao nhiêu người khác đang nguội lạnh, thối lui, yếu đuối. Tôi giữ mức bình thường, trung dung.
Ma quỉ thích tín đồ hâm hẩm. Như tắm nước lạnh thì rùng mình, tắm nước nóng thì phỏng da, còn tắm nước hâm hẩm thì dễ chịu lắm. Ma quỉ nói rằng: Anh chị theo đạo như vậy rất tốt. Vì đó là những người nó muốn và luôn luôn rình mò để nuốt chửng. Nuốt tín đồ nguội lạnh làm chi vì không có sức sống! Nuốt tín đồ sốt sắng như than lửa thì nuốt không trôi! Còn nuốt tín đồ hâm hẩm thì vừa miệng lắm! (I Phi-e-rơ 5:8).
Trái lại, Chúa Jêsus cho tín đồ hâm hẩm là tín đồ buồn mửa. Ngài ước ao họ thà lạnh hoặc nóng. Tín đồ hâm hẩm là tín đồ lưng chừng, cầu an, ích kỷ, thế nào xong thôi, ai chết mặc ai. Tín đồ đó không chống đối Tin Lành mà cũng không bênh vực Tin Lành, không làm ác mà cũng không làm thiện, tình thương nguội lạnh, tinh thần trách nhiệm đã chết hay chưa bao giờ có.
Người nguội lạnh muốn nóng nảy, người thối lui muốn tấn tới, người yếu đuối muốn mạnh mẽ, song người hâm hẩm không muốn gì cả! Họ luôn luôn nói rằng: “Tôi đủ rồi, không cần chi nữa”.
Chúa Jêsus yêu chúng ta bằng tình yêu nồng cháy như lửa mà không nước nào dập tắt được. Tình yêu đó đã đem Ngài từ trời xuống đất, đưa Ngài đến tận đồi Gô-gô-tha, lên thập tự giá. Không có sự hy sinh nào là lớn quá cho Ngài. Cho đến giờ này Ngài cũng đang ngồi bên hữu Đức Chúa Cha để cầu thay cho chúng ta, sẵn sàng trở lại để đem chúng ta về với Ngài. Thế mà chúng ta yêu Ngài bằng tình yêu hâm hẩm hời hợt, thì làm sao Ngài chịu được? Vì vậy, Ngài phải nhả chúng ta ra vì gớm quá!
Thà bắt bớ Hội Thánh như Sau-lơ, nhưng khi ăn năn thì trở nên Phao-lô tận tụy, còn hơn lưng chừng cầu an, thụ hưởng như Ga-ma-li-ên. Thà như con trai hoang đàng ăn năn trở về cùng cha còn hơn anh cả chỉ biết phàn nàn.
Vì vậy, đối với Hội Thánh Lao-đi-xê, Chúa đã quở trách, khuyên lơn và kêu gọi họ: “Hãy có lòng sốt sắng và ăn năn”. Ngài không thể thấy họ cứ sống trong tình trạng hâm hẩm vì thỏa hiệp với thế gian. Trong tình trạng đó, Chúa Jêsus không còn đứng bên trong Hội Thánh của họ, bên trong gia đình của họ, bên trong đời sống của họ, mà Ngài chỉ đứng ngoài cửa. Một Hội Thánh như thế không tôn vinh Ngài mà chỉ sỉ nhục Ngài, vì Ngài không còn làm chủ Hội Thánh mà thế gian làm chủ. Ngài chỉ là một người khách đang đứng trước cửa để chờ. Chúa thật là nhân từ, khoan dung, kiên nhẫn, nếu không, Ngài đã bỏ họ mà đi.
Chúa đã hứa hễ cá nhân nào nghe tiếng Ngài mà mở cửa cho, Ngài sẽ vào ăn tối với người và người với Ngài. Đó là Ngài muốn tái lập sự thông công mật thiết giữa đôi bên và ngoài Ngài với người đó không còn một người thứ ba nào khác. Hơn nữa, Ngài còn hứa cho kẻ nào thắng, tức là thắng thế gian, ma quỉ, tội lỗi, xác thịt như Ngài đã thắng, thì được ngồi với Ngài trên ngôi Ngài. Thiết tưởng lời hứa ấy đủ khích lệ Hội Thánh tuyên bố một lần đủ cả như Phao-lô: “Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, bởi thập tự giá ấy, thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy!” (Ga-la-ti 6:14).
Ai có tai hãy nghe! Thỏa hiệp với thế gian không làm cho Hội Thánh mạnh mẽ hơn, song chỉ làm cho Hội Thánh suy yếu hơn. Sự tìm kiếm của Hội Thánh không phải là danh, lợi, quyền do thế gian bố thí cho, song là nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, rồi mọi sự khác Chúa sẽ cung cấp.
CÂU HỎI
1. Thế nào là một Hội Thánh thỏa hiệp?
2. Biến cố nào đưa Hội Thánh đến tình trạng thỏa hiệp?
3. Hậu quả của Hội Thánh thỏa hiệ với thế gian là gì?
4. Hội Thánh hâm hẩm là Hội Thánh như thế nào?
5. Tại sao Chúa không chịu tín đồ hâm hẩm?
6. Ai thích tín đồ hâm hẩm? Tại sao?
7. Chúa bảo Hội Thánh Lao-đi-xê làm gì?
8. Tình trạng của Hội Thánh Lao-đi-xê khiến Chúa phải đứng ở đâu?
9. Chúa hứa gì cho Hội Thánh đó?
10. Làm sao để không thỏa hiệp với thế gian?
BÀI 46. HỘI THÁNH THỜI TRUNG CỔ
KINH THÁNH: Khải huyền 3:1-6.
CÂU GỐC: “Ta biết công việc ngươi, ngươi có tiếng là sống, nhưng mà là chết. Hãy tỉnh thức và làm cho vững sự còn lại” (Khải huyền 3:1-2).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ Hội Thánh thời trung cổ bị mất quyền năng vì các lãnh tụ giáo hội đã tẻ tách khỏi giáo lý chân chính.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Một chứng nhân bất khuất |
(Công vụ 22:1-21). |
|
TH: |
Các tiêu chuẩn để sống và phục vụ |
(ICôr 12:12-31). |
|
TB: |
Lời khuyên một thanh niên |
(I Ti-mô-thê 1:1-2). |
|
TT: |
Đời sống đáng kể đối với Đức Chúa Trời |
(I Ti-mô-thê 2:1-15). |
|
TN: |
Nếp sống gương mẫu cho cấp lãnh đạo |
(I Ti-mô-thê 3:1-7). |
|
TS: |
Tiêu chuẩn cho một chức viên trong HT |
(I Ti-mô-thê 3:8-16). |
|
TB: |
Đời sống thánh khiết và lời khuyến cáo |
(I Ti-mô-thê 4:1-16). |
Những sự kiện của bài học hôm nay xảy ra từ năm 500-1500 SC. Khoảng thời gian 1.000 năm này gọi là thời đại trung cổ. Trong đó có nhiều biến cố gây nhiều mâu thuẫn trong Hội Thánh.
Khoảng 500 năm đầu, Hội Thánh được tiến bộ, phát triển rực rỡ, bước sang 1.000 năm kế tiếp, Hội Thánh tiến bộ rất chậm, kết quả rất ít, trình độ thuộc linh rất thấp, nên người ta gọi là thời kỳ hắc ám!
Sau khi Hoàng đế Constantin băng hà, các con ông tranh quyền kế vị, phân chia đế quốc La-mã ra làm hai: Tây đế quốc lấy La-mã làm kinh đô, Đông đế quốc lấy Constantinople làm kinh đô. Năm 476, Tây đế quốc sụp đổ, chỉ còn Đông đế quốc. Sự sụp đổ đó làm cho Hội Thánh bị xáo trộn vì không còn trông cậy vào thế lực nhà nước giúp mình mà phải tự lo liệu lấy.
I. GIÁO HỘI LA-MÃ XUẤT HIỆN.
Bấy giờ, chỉ có Hội Thánh tại thành La-mã là tổ chức mạnh mẽ nhất. Năm 445, hoàng đế La-mã ban hành một chính sách mới cho các giám mục được quyền tối cao trên mọi người về các vấn đề thuộc linh. Thế lực các giám mục tại La-mã ngày càng gia tăng. Cuối năm 590, danh hiệu và chức vị giáo hoàng được dành cho vị giám mục tại La-mã. Giám mục Gregoire l là người đầu tiên được ban cho chức vị giáo hoàng.
Khi lên ngôi giáo hoàng, Gregoire l đã đem vào giáo hội giáo lý luyện tội, chủ trương rằng sau khi qua đời, tín hữu phải trải qua lửa luyện tội một thời gian rồi mới được lên thiên đàng. Giáo lý đó phá hủy niềm tin Cơ Đốc, làm cho tín hữu không còn nhờ cậy ân điển của Chúa Jêsus mà nhờ cậy công lao mình để được cứu.
Cũng từ đó, giáo hội lập ra nhiều tu viện để tín hữu từ bỏ cuộc đời bình thường mà sống khổ hạnh, hoặc khổ tu, thực thi những hành vi sám hối như nằm trên chông, ngồi trên cọc nhọn… Sau đó, giáo hội La-mã lại lần lượt đưa ra giáo lý xưng tội với các linh mục, thờ lạy bà Ma-ri, thờ lạy các thánh, thờ lạy hình tượng, các thánh tích xuất hiện và được công nhận.
Cũng trong thế kỷ đó, Tôn giáo pháp đình được giáo hội lập ra nhằm bắt bớ những người không đồng niềm tin với giáo hội. Bấy giờ, các tín đồ chân chính muốn giữ niềm tin thuần khiết phải sống lén lút, tổ chức thờ phượng Chúa bí mật nên thường bị bắt bớ, săn đuổi, ngược đãi bằng đủ cách, nhưng không bị tiêu diệt. Nhờ đó mà chính giáo còn được duy trì cho đến ngày nay.
II. MỘT CUỘC CẢI CHÁNH HỘI THÁNH ĐƯỢC HỨA HẸN.
Vì quá sốt sắng, giáo hội La-mã đã khiến cho nhiều người không cùng niềm tin bất an vì bị đàn áp khắc nghiệt. Trước tình thế nguy ngập đó, Hội Thánh cần một cuộc cải chánh. Đức Chúa Trời dấy lên hai người đầy dẫy đức tin và quyền năng là John Wycliffe ở Anh và Jean Huss ở Tiệp khắc. Hai người này là hai nhà tiên phong của cuộc cải chánh Hội Thánh vào thế kỷ XIV và XV đã làm rung động thế giới.
Ở Anh, John Wycliffe được gọi là “Sao mai của cuộc cải chánh”, tin rằng Kinh Thánh phải được dịch ra ngôn ngữ phổ thông để quần chúng có thể tự mình đọc và học lấy. Ông bắt đầu dịch Kinh Thánh ra Anh ngữ và đã hoàn tất năm 1388. Phước cho dân tộc Anh sớm được có Kinh Thánh trong tay.
Ở Tiệp khắc, Jean Huss là một trong những người hậu thuẫn cho Wycliffe. Ông sốt sắng giảng Tin Lành chân chính, bất chấp nỗ lực của giáo hội La-mã nhằm bịt miệng ông. Ông có ảnh hưởng lớn trên nhiều người. Đang khi ông tiếp tục giảng đạo và tố giác sự băng hoại của hàng giáo phẩm thì ông bị lên án và bị thiêu sống vào năm 1414. Dầu Jean Huss đã chết, song ảnh hưởng của ông vẫn còn. Nó gây thành một phong trào và từ đó tiến đến cuộc cải chánh Hội Thánh cho đến khi thành công.
III. HỘI THÁNH DỠ SỐNG DỠ CHẾT (Khải huyền 3:1-6).
Chúa toàn tri đang ở giữa Hội Thánh Sạt-đe, đang cầm trong tay Ngài vận mạng của Hội Thánh. Ngài phán rằng: “Ta biết công việc ngươi: Ngươi có tiếng là sống nhưng mà là chết”.
Sạt-đe là Hội Thánh hữu danh vô thực, có tiếng mà không có miếng. Về phần tổ chức, Hội Thánh rất đầy đủ, song về phần thuộc linh gần như không còn gì cả. Hội Thánh có hình thức rất trưởng giả song tinh thần sa sút đến chỗ chết. Trong Hội Thánh có những người mang danh là Cơ Đốc nhân mà trong lòng không có Chúa ngự. Họ là những chiếc đèn không dầu, những cây đuốc không cháy!
“Hãy thức tỉnh và làm cho vững sự còn lại là sự hầu chết, vì Ta không thấy công việc của ngươi là trọn vẹn…” (câu 2).
Chúa rất yêu Hội Thánh nên khuyên họ hãy nhận biết thực trạng khốn nạn của họ và cố giữ sự còn lại. Dầu họ đã mất, song chưa phải là mất hết, dầu họ yếu đuối song chưa đến chết, dầu họ bất toàn song vẫn là Hội Thánh của Chúa. Họ đừng ỷ lại vào công việc to tát của mình mà không có sự sống bên trong.
Tình trạng của Hội Thánh thời trung cổ rất giống tình trạng của Hội Thánh Sạt-đe. Chúng ta có thức tỉnh mà thấy tình trạng của Hội Thánh ngày nay giống như Hội Thánh Sạt-đe không? Có phải chúng ta cũng chuộng hình thức hơn tinh thần, vật chất hơn thuộc linh đến nỗi Chúa đã phán: “Vậy nên, khi các ngươi giơ tay thì Ta che mắt khỏi các ngươi. Khi các ngươi cầu nguyện rườm rà, Ta chẳng thèm nghe” (Ê-sai 1:15).
“Vậy, hãy nhớ lại mình đã nhận và nghe đạo thế nào thì giữ lấy và ăn năn đi” (câu 3a).
Chúa nhân từ nhắc họ nhớ lại điều họ đã nhận, đã nghe. Họ đã khởi sự theo Chúa rất tốt, song không tốt mãi mà đã sa sút, lìa chính giáo mà theo tà giáo hay đem tà giáo pha lẫn với chính giáo. Phao-lô khuyên Hội Thánh Cô-lô-se: “Anh em đã nhận Đức Chúa Jêsus Christ thế nào, thì hãy bước đi trong Ngài thể ấy, hãy châm rễ và lập nền trong Ngài, lấy đức tin làm cho bền vững” (Cô-lô-se 1:6-7).
Nếu họ không ăn năn, e quá trễ. Chúa sẽ đến thình lình như kẻ trộm thì họ làm sao tránh được sự giả hình “hữu danh vô thực” (câu 3b).
Song Chúa đã an ủi họ: “Ngươi còn mấy người chưa làm ô uế áo xống mình: Những kẻ đó sẽ mặc áo trắng mà đi cùng Ta vì họ xứng đáng là như vậy” (câu 4).
Cám ơn Chúa! Hội Thánh của Ngài bao giờ cũng có một số người trung tín, ngay giữa thời kỳ hắc ám cũng vậy. Những người ấy không bị ô uế bởi các đam mê của xác thịt, mà lúc nào cũng giữ đời mình được thánh khiết và tận tụy. Nhờ đó Hội Thánh luôn luôn tồn tại cho đến ngày nay. Hội Thánh thời trung cổ là thời sa sút nhất vẫn còn có những người giữ áo xống trắng như tuyết. Chính những người đó là hạt giống, là đám lửa duy trì sự sống của Hội Thánh. Họ là những ngôi sao sáng chói giữa đêm trường tối mịt, soi đường dẫn lối cho khách lữ hành. Họ rất xứng đáng đi với Chúa.
“Kẻ nào thắng… Ta sẽ không xóa tên người khỏi sách sự sống và sẽ nhận danh người trước mặt Cha Ta, cùng trước mặt các thiên sứ Ngài…” (câu 5-6).
Bắt phục được ma quỉ cũng không đáng mừng bằng tên mình được ghi trên thiên đàng (Lu-ca 10:20). Kẻ đắc thắng không bao giờ bị Chúa xóa tên, trái lại, còn được Ngài tuyên xưng tên người trước cả cõi trời.
Để giữ Hội Thánh ngày nay khỏi tình trạng bi đát của Hội Thánh thời trung cổ, mỗi chúng ta hãy sốt sắng học Lời Chúa và sống đúng với Lời Chúa (Công vụ 17:11; II Ti-mô-thê 2:15; 3:15).
CÂU HỎI
1. Xin kể ra điều gì đã làm cho Hội Thánh sống trong hắc ám?
2. Hai nhà tiên phong của cuộc cải chánh Hội Thánh là ai?
3. Công việc của mỗi ông là gì?
4. Hội Thánh thời trung cổ giống như Hội Thánh nào trong Kinh Thánh?
5. Hội Thánh Sạt-đe ra sao?
6. Chúa trách Hội Thánh Sạt-đe điều gì?
7. Chúa khuyên Hội Thánh Sạt-đe điều gì?
8. Chúa khen Hội Thánh Sạt-đe điều gì?
9. Làm sao để giữ Hội Thánh thời nay khỏi tình trạng của Hội Thánh thời trung cổ?
BÀI 47. HỘI THÁNH VÀ CUỘC CẢI CHÁNH
KINH THÁNH: Ê-phê-sô 2:1-10.
CÂU GỐC: “Vả lại, chẳng hề có ai cậy luật pháp mà được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời, điều đó là rõ ràng lắm, vì người công bình sẽ sống bởi đức tin” (Ga-la-ti 3:11).
MỤC ĐÍCH: Dạy rằng cuộc cải chánh Tin Lành phục hồi uy quyền của Kinh Thánh, trách nhiệm của mọi người và giáo lý được xưng nghĩa bởi đức tin.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
KT đã được ban cho để dạy dỗ chúng ta |
(Rô-ma 15:1-13). |
|
TH: |
Đức Thánh Linh ban sự thông hiểu |
(ICôr 2:9-16). |
|
TB: |
Phải nhớ lại Lời của Đức Chúa Trời |
(Phục truyền 6:4-25). |
|
TT: |
Dân chúng nghe Lời của Đức Chúa Trời |
(Nê-hê-mi 8:1- 8). |
|
TN: |
Lời Đức Chúa Trời phải được tôn trọng |
(Thi thiên 19:7-14). |
|
TS: |
Tầm quan trọng của Lời Đức Chúa Trời |
(Thi thiên 119:1-16). |
|
TB: |
Trung tín với Lời Đức Chúa Trời |
(II Ti-mô-thê 3:14-4:5). |
Bài học hôm nay nói về lịch sử Hội Thánh vào những năm từ 1.500 đến 1.700 SC. Biến cố trọng đại trong thời gian này là cuộc cải chánh giáo hội tức là đem giáo hội trở lại con đường của Chúa, đúng như Kinh Thánh dạy.
Làm việc này cần có những con người can đảm phi thường, song không phải là thứ can đảm như dám trèo lên đỉnh núi cao nhất, dám vượt đại dương bằng thuyền… mà phải có thứ can đảm do lòng yêu mến Chúa, tin cậy và nắm vững lời của Ngài. Đó là can đảm nói và làm điều phải, điều thật, dầu phải trả bất luận giá nào.
Trong cuộc cải chánh giáo hội, chúng ta tìm thấy những người như vậy. Trong bài trước đây, chúng ta tìm thấy Jean Huss, Wycliffe. Qua bài này chúng ta tìm thấy Martin Luther, Jean Calvin.
I. ĐỨC CHÚA TRỜI CHỌN NGƯỜI CHO CUỘC CẢI CHÁNH.
Đức Chúa Trời đã tìm được một người để dùng trong cuộc cải chánh giáo hội. Người đó là Martin Luther ở Đức. Martin Luther là con của một người dân quê, nhưng được giáo dục hẳn hoi. Năm lên 21 tuổi, ông tốt nghiệp cao học luật khoa và định tập sự luật sư. Thế rồi, một biến cố đã xảy ra trong đời ông nên sau đó, ông thay đổi chương trình và đi tu.
Năm 1505, Martin Luther vào tu viện, ông khao khát làm hòa với Đức Chúa Trời để được tương giao cùng Ngài, nhưng không biết làm sao. Ông sẵn sàng làm bất cứ điều gì miễn là được thỏa nguyện, như đọc kinh, kiêng ăn, xưng tội, lau nhà, đi hành khất ngoài đường… Nhưng vì lòng chưa bao giờ được bình an, nên cuối cùng ông đến La-mã, tin rằng tại đó mình sẽ tìm được con đường bình an.
Tại La-mã, một tu sĩ bạn đề nghị Martin Luther đi bằng đầu gối lên 28 bậc thang thánh để gặp giáo hoàng hầu được ơn đại xá. Martin Luther quì xuống, bò từng bậc thang một, cứ mỗi bậc đọc một câu Kinh Thánh và hôn xuống đất một lần. Được nửa chừng, thình lình ông nhớ lại câu Kinh Thánh trong Rô-ma 1:17 “Người công bình sẽ sống bởi đức tin”. Ông liền đứng dậy, chạy xuống, vào phòng riêng, tìm đọc câu Kinh Thánh đó. Nhờ Thánh Linh soi sáng, ông hiểu rõ sự cứu rỗi không do công đức riêng của vô luận ai mà chỉ do huyết đền tội của Chúa Jêsus mà mình phải tin để được. Với kinh nghiệm đó, Martin Luther bắt đầu cuộc cải chánh giáo hội.
II. BƯỚC ĐẦU CỦA CUỘC CẢI CHÁNH.
Sau khi được Thánh Linh soi sáng, Martin Luther hiểu rõ hơn Lời của Chúa, thấy rõ hơn những sai lầm bại hoại của giáo hội, nhất là việc các linh mục bán bùa xá tội, bảo rằng giáo hội tha tội cho người nào mua bùa ấy. Những người đã mua bùa xá tội nghĩ rằng mình có quyền tha hồ phạm tội mà vẫn không hề bị phạt. Về sau giáo hội còn thêm rằng ai có bùa xá tội sẽ khỏi phải qua lửa luyện tội. Sự mua bán bùa xá tội ngày càng thịnh hành, đem đến cho giáo hội một nguồn lợi lớn lao. Martin Luther rất đau lòng về sự hối lộ thuộc linh đó và nhiều tệ lạm khác, nên vào năm 1517, ông đã viết 95 luận đề ghi rõ những sai lầm của giáo hội và dán trước cửa nhà thờ.
Làm việc này, ban đầu Martin Luther chỉ nhằm mục đích chống đối tà ngụy, đem giáo hội trở lại đúng con đường như Kinh Thánh đã dạy. Song giáo hội cố chấp, không chịu nhận sự sai lầm của mình mà sửa lại, nhưng bắt bớ Martin Luther. Năm 1520, ông bị gọi ra trước tòa án của giáo hội và bị bắt buộc phải phủ nhận tất cả niềm tin của mình, rút lại các luận đề mà ông đã viết. Họ cho ông 24 tiếng đồng hồ để suy nghĩ rồi trả lời. Trước các nhà lãnh đạo của giáo hội, Luther không chịu rút lại các luận đề đó, nhưng còn làm sáng tỏ lập trường của mình bằng một câu nói lừng danh: “Tôi xin giữ lập trường. Tôi không thể làm khác hơn được. Nguyện Đức Chúa Trời phù hộ tôi. Amen!”
Bất chấp sự đe dọa, Luther cứ tiếp tục công tác cải chánh giáo hội. Ông viết nhiều sách chú giải Kinh Thánh có giá trị, dịch Tân Ước ra tiếng Đức cho đồng bào mình đọc. Chúa ở cùng ông, khiến các âm mưu hại ông đều thất bại. Từ đó phong trào cải chánh giáo hội ngày càng tràn lan, nhờ đó chúng ta mới có Tin Lành thuần túy như ngày nay.
Ngoài Luther, còn có Calvin. Hai ông đồng quan điểm với nhau. Calvin sốt sắng truyền bá tư tưởng của Luther khắp nước Pháp. Ảnh hưởng của ông chinh phục được tín hữu ở nước Anh và Tô cách lan.
Kết quả, Hội Thánh đã hồi sinh, ánh sáng Tin Lành bắt đầu chiếu rọi khắp thế giới. Tiếp theo là cuộc phục hưng lớn tại Châu Âu và Châu Mỹ: Ai nấy trở về với Kinh Thánh, hết lòng ăn năn tin cậy công lao cứu chuộc của Chúa Jêsus, sống đúng với tiêu chuẩn mà Chúa Jêsus đã đề ra, chứ không phải là giáo hoàng hay linh mục.
III. MỤC ĐÍCH CỦA CUỘC CẢI CHÁNH (Ê-phê-sô 2:1-10).
Mục đích của cuộc cải chánh là đem giáo hội trở lại con đường cứu rỗi mà Kinh Thánh đã bày tỏ qua các phương diện sau:
1. Mọi người đều chết trong tội lỗi (câu 1-3).
Sống là hiện hữu với Đức Chúa Trời, còn chết là hiện hữu ngoài Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời là sự sống. Hễ ai hiện hữu trong tội lỗi là người đã chết vì xa cách Đức Chúa Trời (Lu-ca 15:24). Một người như vậy là đang phục tùng ma quỉ mà phản nghịch Chúa, nên mặc dầu thân thể đang sống, song tâm linh đã chết, người đó bị kết án là con cái phản nghịch, là con cái của sự thạnh nộ. Đức Chúa Trời là Cha từ ái song chí thánh, nên không thể không nổi thạnh nộ đối với những con cái phản nghịch.
2. Mọi người có thể sống với Cứu Chúa (câu 4-7).
Câu 4 bắt đầu bằng chữ “NHƯNG” có nghĩa là đổi cảnh. Từ một cảnh tối tăm, bi đát mà tội nhân đáng chết trong tội lỗi dưới cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời được đổi ra cảnh vô cùng tươi đẹp, cảnh đó là Đức Chúa Trời giàu lòng thương xót, vì tình yêu lớn Ngài đem mà yêu chúng ta nên đang khi chúng ta chết, Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ. Chúa ban cho chúng ta ân huệ cực kỳ phong phú và vĩ đại một cách vô điều kiện, mặc dầu chúng ta không xứng đáng gì cả.
3. Mọi người đều được cứu bởi đức tin (câu 8-10).
Chúng ta được cứu không nhờ việc làm dầu là việc tốt đến đâu, vì không ai có việc làm nào xứng đáng để được cứu khỏi tội. Kinh Thánh đã khẳng định: “Chẳng hề có ai cậy luật pháp (việc làm) mà được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời…” (Ga-la-ti 3:11). Chúng ta cũng không được cứu nhờ bạc hay vàng, dầu số lượng có nhiều đến đâu. Kinh Thánh đã khẳng định rằng: “Chẳng phải bởi vật hay hư nát như bạc hoặc vàng mà anh em đã được chuộc khỏi sự ăn ở không ra chi của tổ tiên truyền lại cho mình, bèn là bởi huyết báu Đấng Christ” (I Phi-e-rơ 1:18-19).
Chúng ta được cứu bởi đức tin. Chúng ta tin rằng mình là những tội nhân khốn nạn tuyệt vọng. Chúng ta cũng tin rằng Chúa đã yêu chúng ta đến nỗi đã ban Con Một của Ngài chịu chết đền tội cho chúng ta. Chúng ta hết lòng ăn năn tiếp nhận ân huệ của Ngài. Nhờ đó chúng ta được cứu rỗi.
Đành rằng, sau khi được cứu, chúng ta sẽ làm việc lành mà Chúa sắm sẵn cho chúng ta làm theo, nhưng không phải nhờ làm lành mà chúng ta được cứu, song nhờ được cứu mà chúng ta làm lành.
CÂU HỎI
1. Để cải chánh giáo hội, Chúa đã dùng người có thứ can đảm nào?
2. Ông Luther là con người thế nào?
3. Nhờ câu Kinh Thánh nào mà ông được cứu khỏi sự sai lầm?
4. Điều sai lầm tai hại hơn hết của giáo hội thời bấy giờ là gì?
5. Luther bắt đầu cải chánh giáo hội bằng cách nào?
6. Kinh Thánh mô tả địa vị của mọi người là thế nào?
7. Tình thương của Chúa đối với chúng ta ra sao?
8. Tại sao công lao hay tiền bạc không cứu chúng ta được?
9. Chúa dùng gì để chuộc chúng ta ra khỏi tội lỗi?
10. Chúng ta muốn hưởng ơn phước cứu rỗi của Chúa thì phải làm gì?
BÀI 48. CÁC GIÁO PHÁI TRONG HỘI THÁNH
KINH THÁNH: II Ti-mô-thê 4:1-5.
CÂU GỐC: “Hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi” (II Ti-mô-thê 4:2).
MỤC ĐÍCH: Dạy các tín hữu về bối cảnh lịch sử của các giáo phái và vạch rõ ràng những giáo phái có thể phục vụ Chúa nếu biết giữ đúng Lời Ngài.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Các HT địa phương trong Tân Ước |
(Khải huyền 1:9-20). |
|
TH: |
Các vấn đề trong chi hội địa phương |
(IIIGiăng 1-15). |
|
TB: |
Hai Hội Thánh bị cảnh cáo |
(Khải huyền 2:1-11). |
|
TT: |
Hai Hội Thánh bị khiển trách |
(Khải huyền 2:2-29). |
|
TN: |
Hai Hội Thánh được mô tả |
(Khải huyền 3:1-13). |
|
TS: |
Hội Thánh hâm hẩm |
(Khải huyền 3:14-22). |
|
TB: |
Cảnh cáo nạn bè phái trong HT |
(ICôr 1:10-25). |
Cuộc cải chánh giáo hội phải tốn rất nhiều nước mắt, mồ hôi và máu. Đến cuối cùng, sau suốt 30 năm nội chiến tại nước Đức, với hòa ước Westphalie năm 1648, các ranh giới mới được vĩnh viễn vạch ra giữa giáo hội La-mã và giáo hội Tin Lành.
Tin Lành chỉ có một (Ga-la-ti 1:6-9). Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh, một hy vọng, một Chúa, một đức tin, một Báp-têm, một Đức Chúa Trời là Chúa của mọi người. Ngài vượt trên mọi người, suốt qua mọi người và ở trong mọi người (Ê-phê-sô 4:4-6). Tuy nhiên, trong giáo hội Tin Lành, có nhiều giáo phái, và các giáo phái xuất phát từ năm 1750.
I. BƯỚC ĐẦU CỦA CÁC GIÁO PHÁI.
Khi cuộc cải chánh đã hoàn thành, Cơ Đốc nhân không còn nhận giáo hoàng là không sai lầm, hàng giáo phẩm không còn độc quyền giải thích Kinh Thánh theo ý mình. Mỗi Cơ Đốc nhân có quyền đọc Kinh Thánh và nhờ sự soi sáng của Thánh Linh mà hiểu. Họ không còn bị bắt buộc phải nhắm mắt tin điều gì người khác nói, song ai nấy dụng công để nghiên cứu lời Chúa hầu giữ vững niềm tin của mình.
Cơ Đốc nhân đã tìm thấy trong Kinh Thánh có nhiều chỗ bảo phải đọc, phải suy gẫm, phải làm theo lời Chúa để được phước (Giô-suê 1:8; Thi thiên 1:2; II Ti-mô-thê 2:15). Chức tế lễ không phải dành riêng cho hàng giáo phẩm mà chung cho mọi Cơ Đốc nhân (I Phi-e-rơ 2:9; Khải huyền 1:6). Bởi đức tin, Cơ Đốc nhân có quyền đến gần Đức Chúa Trời mà cầu nguyện trong danh của Chúa Jêsus (Hê-bơ-rơ 7:25), chứ không phải nhờ giáo hoàng hoặc linh mục hay bà Ma-ri cầu thay. Đấng trung bảo duy nhất giữa Đức Chúa Trời và loài người là Chúa Jêsus (I Ti-mô-thê 2:5). Thế là các tín hữu được phóng thích khỏi sự trói buộc và đóng khung của hàng giáo phẩm và đó là lý do trong giáo hội Tin Lành có nhiều giáo phái.
II. CÁC GIÁO PHÁI PHÁT TRIỂN.
Trong quyền tự do mới mẻ của cá nhân tín hữu, ai nấy đua nhau làm việc lớn cho Chúa, kẻ dấy lên phong trào nầy, người dấy lên phong trào khác.
Tại nước Anh, một phong trào được phát động là Trường Chúa nhật. Một tín hữu nghĩ đến con số rất đông trẻ em không được dạy dỗ bèn tổ chức Trường Chúa nhật để dạy dỗ chúng. Các tín hữu đóng vai trò quan trọng trong việc dạy lời Chúa cho các em trong Hội Thánh và ngoài Hội Thánh.
Cũng có một số Cơ Đốc nhân rất được phước qua việc đọc Kinh Thánh nên muốn chia xẻ Kinh Thánh cho vô số người khác chưa được đọc hoặc nghe. Mối bận tâm này đưa đến việc thành lập Thánh Kinh Hội tại nhiều quốc gia. Thêm vào đó, có hội Ngôn Ngữ Học chuyên việc đặt chữ, phiên dịch Kinh Thánh ra nhiều ngôn ngữ địa phương.
Trong giai đoạn nầy, có những phong trào phục hưng Hội Thánh dấy lên, và từ đó có thêm những giáo phái Tin Lành như Giám lý, Trưởng lão, Menonite… Những giáo phái nầy không những nhằm phục hưng Hội Thánh, đồng thời cũng cử giáo sĩ đi khắp thế giới để truyền giảng Tin Lành theo mạng lịnh của Chúa (Ma-thi-ơ 28:18-20; Mác 16:15; Lu-ca 24:46-47; Công vụ 1:8). Mỗi giáo phái đều có điểm chú trọng riêng, đã đóng góp vào sinh hoạt của Hội Thánh chung. Dầu có đôi giáo phái quá chú trọng vào một vài khía cạnh nào đó của chân lý, thì chân lý căn bản vẫn là một vì đặt trên Lời Đức Chúa Trời là Kinh Thánh. Thánh Linh luôn luôn hành động trong các giáo phái để tái tạo kẻ nhờ Lời Đức Chúa Trời mà tin nhận Cứu Chúa Jêsus, rồi hướng dẫn họ trên đường theo Ngài. Tuy nhiên, ai nấy phải chịu trách nhiệm với Chúa về chính linh hồn mình. Sự cứu rỗi đời đời của chúng ta không thể lập trên uy quyền của bất luận ai, mà phải trên chính Chúa Jêsus, mà mỗi chúng ta là những phần tử xây dựng trên nền ấy như những viên đá sống xây trên nền đá sống (I Phi-e-rơ 2:4-5). Hội Thánh trong cả thế giới gồm nhiều giáo phái, nhiều cá nhân song vẫn là một khối thống nhất mà không ai có thể phân rẽ, đập tan.
III. TRÁCH NHIỆM CỦA GIÁO PHÁI (II Ti-mô-thê 4:1-5).
Trước khi qua đời, Phao-lô đã đặt Ti-mô-thê là bạn đồng lao của mình trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời và của Đức Chúa Jêsus Christ. Nhân vì Chúa Jêsus sẽ tái lâm để xét đoán kẻ sống và kẻ chết, để lập Nước Ngài mà Phao-lô khuyên Ti-mô-thê. Lời mở đầu thật là trang trọng tỏ ra mỗi chúng ta cũng như Ti-mô-thê, phải chịu trách nhiệm trước mặt Chúa, vì chúng ta phải khai trình việc mình ra với Chúa khi Ngài từ trời hiện đến. Trách nhiệm mà Phao-lô giao cho Ti-mô-thê là giảng đạo, tức là giảng Lời Đức Chúa Trời. Ti-mô-thê không được phép giảng gì khác ngoài Lời Chúa. Ông phải chuyên tâm cho được đẹp lòng Chúa một cách không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng Lời của lẽ thật (II Ti-mô-thê 2:15).
Giảng không có nghĩa là chỉ đứng trên tòa giảng, song bất luận tại đâu, lúc nào, cũng không có nghĩa là chỉ có mục sư, truyền đạo giảng mà thôi, song là mỗi Cơ Đốc nhân. Tất cả những ai đã được cứu rỗi đều có trách nhiệm rao giảng Lời Chúa.
Giảng là tuyên ngôn, công bố. Giảng Lời Chúa là tuyên ngôn, công bố mạng lệnh của Chúa cho loài người. Chúng ta phải giảng như một sứ giả của Chúa được Ngài sai đi công bố lời Ngài.
Chúng ta phải hết lòng giảng dạy, dầu gặp thời hay không. Điều này có nghĩa là chúng ta không chờ đợi mà làm ngay, phải tận dụng thì giờ, cơ hội, khả năng vào việc giảng đạo. Hãy xem mọi thì giờ là cơ hội giảng đạo vì giảng đạo là trách nhiệm trọng đại của Hội Thánh.
Chúng ta phải rất nhịn nhục. Không có việc gì cần sự nhẫn nại bằng giảng đạo. Nhẫn nại trong sự bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, dạy dỗ luôn luôn để đem tội nhân đến sự ăn năn, tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa. Giảng đạo không nhằm vào sự đẹp lòng người mà nhằm vào sự đẹp lòng Chúa (Ga-la-ti 1:10). Giảng đạo không phải qua loa chiếu lệ mà phải hết lòng, hết sức, nhất là phải thi hành cách liên tục cho đến khi Chúa tái lâm.
Không có gì khó bằng giảng Lời Đức Chúa Trời, vì bản chất con người vốn phản nghịch với Ngài nên họ không chịu nghe theo lẽ thật mà thích chuyện hoang đường, giả dối. Họ bịt tai đối với lời Chúa, mở lòng tiếp nhận Sa-tan.
Bởi lẽ đó, người giảng Tin Lành như Ti-mô-thê đời xưa và Hội Thánh ngày nay phải thật cẩn thận trong mọi sự, sẵn sàng chịu khổ mới làm tròn trách nhiệm của mình. Phao-lô luôn luôn kêu gọi chúng ta chịu khổ để giảng Tin Lành (II Ti-mô-thê 1:8; 2:3).
Tóm lại, trách nhiệm của Hội Thánh nói chung, của cá nhân tín đồ nói riêng, là giảng Lời của Chúa cho mọi người chưa biết Ngài. Chúng ta làm việc nầy trong sự hiện diện của Chúa, làm việc nầy một cách khẩn cấp, tận tâm và liên tục. Nhu cầu của mọi người là Lời của Chúa, niềm vui của Chúa là tội nhân được cứu rỗi. Trong Hội Thánh có nhiều giáo phái để cùng nhau giảng Tin Lành, cứu tội nhân.
CÂU HỎI
1. Tại sao trong giáo hội Tin Lành có nhiều giáo phái?
2. Các giáo phái bắt đầu xuất hiện từ khi nào?
3. Các giáo phái xuất hiện với mục đích nào?
4. Trách nhiệm của các giáo phái hay nói chung của Hội Thánh là gì?
5. “Giảng đạo” có nghĩa là gì?
6. Phải giảng cách nào?
7. Tại sao người ta không thích nghe Lời Chúa?
8. Muốn làm trọn trách nhiệm giảng Tin Lành, chúng ta phải chịu gì?
BÀI 49. HỘI THÁNH TRUYỀN GIẢNG
KINH THÁNH: Công vụ 8:1-14.
CÂU GỐC: “Vậy những kẻ đã bị tan lạc đi từ nơi nầy đến nơi khác truyền giảng đạo Tin Lành” (Công vụ 8:4).
MỤC ĐÍCH: Vạch rõ chức vụ của Hội Thánh là truyền giảng. Hội Thánh như con sông, như ống dẫn nước, phải tuôn tràn ơn phước cho kẻ khác chứ không ứ đọng một chỗ.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Sứ mạng của Chúa |
(Ê-sai 61:1-3). |
|
TH: |
Tiếng gọi của Chúa |
(Ê-sai 6:1-13). |
|
TB: |
Nước của Đức Chúa Trời |
(Ê-sai 35:1-10). |
|
TT: |
Sứ mạng của Hội Thánh |
(Ê-sai 49:1-12). |
|
TN: |
Tình yêu của Chúa đối với Hội Thánh |
(Ê-sai 49:13-26). |
|
TS: |
Lòng nhiệt thành đối với Hội Thánh |
(Ê-sai 62:1-12). |
|
TB: |
Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem |
(Công vu 8:1-14). |
Chúa Jêsus đã giáng sinh tại Bết-lê-hem. Ngài thi hành chức vụ, bị đóng đinh trên thập tự giá và sống lại tại Giê-ru-sa-lem. Trước khi về trời, Ngài đã dặn các môn đồ đừng ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem cho đến khi Đức Thánh Linh giáng lâm trên họ.
Trong ngày lễ Ngũ tuần, số 120 tín hữu đang họp lại đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh và từ đó Hội Thánh được thành lập. Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem là Hội Thánh mẹ đã sinh ra Hội Thánh trên cả thế giới như hiện có.
I. HỘI THÁNH GIÊ-RU-SA-LEM PHÁT TRIỂN DO TRUYỀN GIẢNG.
Trong ngày lễ Ngũ tuần, Hội Thánh Giê-ru-sa-lem từ 120 người lên 3.000 người, rồi sau đó lên đến 5.000 người. Số ấy cứ thêm lên nhiều lắm, đông lắm, không những dân chúng mà cũng có các thầy tế lễ tin theo Chúa nữa (Công vụ 4:32; 5:14; 6:1,7).
Chính quyền Dothái lúc bấy giờ làm đủ cách để chận đứng làn sóng người chạy đến nghe giảng và tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa. Họ đe dọa, cấm đoán các sứ đồ giảng về danh Chúa Jêsus. Họ giam giữ, đánh đòn các sứ đồ. Song số người tin Chúa mỗi ngày một thêm lên (Công vụ 2:47).
Ban đầu chỉ có các sứ đồ được Chúa trọng dụng thi hành những dấu kỳ phép lạ như đuổi quỉ, chữa lành các thứ tật bệnh (Công vụ 2:43). Nhưng sau đó, Chúa cũng trọng dụng Ê-tiên là chấp sự (Công vụ 6:8). Ban đầu chỉ có sứ đồ Phi-e-rơ và Giăng giảng đạo (Công vụ 4:13). Song sau đó chấp sự Ê-tiên cũng giảng (Công vụ 6:8-7:53).
Hội Thánh Giê-ru-sa-lem không những phát triển về nhân số, về quyền năng làm phép lạ và giảng dạy có kết quả, song đồng thời Hội Thánh cũng phát triển về đạo đức như yêu thương nhau. Họ tự ý dâng hiến của cải mình cho Chúa để các sứ đồ phân phát cho những người thiếu thốn (Công vụ 2:44-45; 4:32,37). Khi Ê-tiên bị ném đá chết, thì theo luật của tòa công luận không ai được phép than khóc một người như vậy. Song Hội Thánh không những đã chôn xác Ê-tiên, còn than khóc người quá đỗi (Công vụ 8:2).
Hội Thánh ngày nay phải học đòi Hội Thánh Giê-ru-sa-lem ngày xưa. Chúng ta phải hoàn toàn đầu phục và tận hiến đời mình để Thánh Linh ngự trị, sử dụng, hầu qua đời sống chúng ta, Chúa bày tỏ ân điển và quyền năng của Ngài mà truyền giảng Tin Lành, cứu vớt tội nhân, phát triển Hội Thánh về mọi mặt.
II. HỘI THÁNH BỊ TẢN LẠC VẪN TRUYỀN GIẢNG (Công vụ 8:1-3).
Chúa đã dặn các sứ đồ: “Khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về Ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất” (Công vụ 1:8).
Song mấy năm qua, dầu Hội Thánh Giê-ru-sa-lem có phát triển về nhiều mặt thì cũng chỉ truyền giảng giữa vòng người Dothái tại đó chứ chưa có ý thức đem Tin Lành cho những người trong cả Giu-đê, Sa-ma-ri và xa hơn nữa. Để giúp Hội Thánh Giê-ru-sa-lem thi hành nhiệm vụ truyền giảng, Chúa đã cho phép sự bắt bớ dữ tợn xảy ra để làm tan lạc tín đồ đi khắp nơi, không những cả miền Giu-đê, xứ Sa-ma-ri mà còn qua đến xứ Sy-ri, đảo Chíp-rơ (Công vụ 8:1; 11:19).
Đó là một cơn bão lớn làm cho các trái khô của một cây to bị tung bay rất xa hầu cho các hột giống nó sẽ mọc lên tua tủa khắp nơi thành một khu rừng. “Giọt huyết của kẻ tử đạo là hột giống của Tin Lành”. Chữ “tan lạc” trong câu Kinh Thánh trên đây có nghĩa như người gieo giống rải giống ra.
Cơn bắt bớ dữ tợn mà ma quỉ nhắm vào là để tiêu diệt Hội Thánh của Chúa, nhưng ngược lại đã giúp Hội Thánh thi hành nhiệm vụ Ngài giao cho. Chúa cho phép cơn bắt bớ xảy ra để làm ích lợi cho Hội Thánh, mặc dầu ban đầu không ai nghĩ như vậy.
Về phương diện hình thức, Hội Thánh thật lâm nguy.
1. Tất cả tín đồ đều chạy tản lạc.
Khi trốn chạy, các tín đồ bị mất nhà cửa, ruộng vườn, của cải, công ăn việc làm và trở nên nghèo nàn đói khổ.
2. Tín đồ bị bách hại (Công vụ 8:3; 22:4,19-20).
Một số tín đồ nam, nữ bị bỏ tù, bị đánh đòn và giết chết. Ngoài ra họ còn bị hà hiếp, buộc phải nói phạm Danh Chúa (Công vụ 26:11).
3. Tín đồ bị tịch thu tài sản (Hê-bơ-rơ 10:32-34).
Thật đủ hình thức bắt bớ, đáng gọi là bách hại.
Hội Thánh Giê-ru-sa-lem mới được thành lập nên về phương diện tổ chức còn đơn sơ, song rất già dặn về phương diện thuộc linh nên đã sẵn sàng chấp nhận cơn bắt bớ dữ tợn. Chúa đã ban cho họ ân tứ ấy. Chúng ta ngày nay không nên ngạc nhiên nếu mình gặp cảnh bắt bớ như Hội Thánh Giê-ru-sa-lem ngày xưa.
III. HỘI THÁNH TRUNG TÍN TRUYỀN GIẢNG (Công vụ 8:4-14).
Những kẻ đã bị tản lạc đi từ nơi này đến nơi khác truyền giảng đạo Tin Lành. Họ đến xứ Phê-ni-xi, đảo Chíp-rơ và thành An-ti-ốt, giảng đạo cho người Giu-đa. Nhưng trong những người ấy, có vài người cũng giảng đạo cho người Gờréc nữa (Công vụ 8:4; 11:19-20).
Mặc dầu ai nấy phải đầu tắt mặt tối tìm công ăn việc làm để nuôi sống, song sống để truyền đạo Tin Lành. Trong cảnh khó khăn, họ cũng tìm mọi cơ hội để phục vụ Chúa. Họ sống đúng như câu: “Người khôn tìm thấy cơ hội trong sự khó khăn, kẻ dại tìm thấy sự khó khăn trong cơ hội”.
Có người hỏi một tín đồ:
– Anh làm nghề gì?
– Tôi làm thợ mộc, song đó chỉ là nghề phụ.
– Vậy, nghề chính của anh là gì?
– Nghề chính của tôi là làm chứng về Chúa. Tôi làm thợ mộc để tự nuôi sống và làm chứng về Chúa cho mọi người.
Ban đầu, trong Hội Thánh Giê-ru-sa-lem chỉ có sứ đồ Phi-e-rơ và Giăng giảng, kế đó có chấp sự Ê-tiên, đến nay thì mọi tín đồ cùng giảng. Hội Thánh đã lan tràn mau lẹ, phát triển rực rỡ vì mọi người vô luận thuộc thành phần nào cũng đều giảng đạo. Chúng ta thường hiểu lầm chỉ có mục sư hay chấp sự là người giảng đạo. Giảng đạo đây không có nghĩa là phải đứng trên tòa giảng, trong nhà thờ, song bất cứ tại đâu, bất cứ lúc nào có cơ hội nói về Chúa cho bất cứ ai. Người chưa tin Chúa tin cậy lời làm chứng về Chúa của tín đồ là bạn của họ hơn là lời làm chứng của mục sư. Họ nghĩ rằng mục sư truyền giảng vì trách nhiệm hơn vì tình thương.
Chấp sự Phi-líp cũng như bao nhiêu tín đồ khác đến Sa-ma-ri giảng về Chúa Cứu Thế Jêsus. Chúa dùng ông đuổi quỉ, chữa nhiều kẻ bại được lành. Vì thế, nhiều người bỏ thầy phù thủy Si-môn mà tin Chúa và Phi-líp làm Báp-têm cho họ. Sau đó, chính Si-môn cũng tin Chúa và “tại cớ đó trong thành được vui mừng khôn xiết”.
Vậy, là tín hữu, chấp sự, mục sư, chúng ta đều là người làm chứng, truyền giảng. Chúng ta chấp nhận mọi sự Chúa cho phép xảy ra là để chúng ta có cơ hội làm chứng về Chúa cho mọi người. Đồng thời chúng ta cầu xin Chúa thi hành phép lạ lớn lao để vô luận tại thành phố nào, thị trấn nào, làng mạc nào cũng đều vui mừng khôn xiết vì có nhiều người được cứu rỗi.
CÂU HỎI
1. Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem được thành lập từ khi nào?
2. Hội Thánh Giê-ru-sa-lem được phát triển trên những phương diện nào?
3. Làm sao Hội Thánh Giê-ru-sa-lem phát triển được như vậy?
4. Tại sao Chúa cho phép cơn bắt bớ dữ tợn xảy ra để làm tan lạc Hội Thánh Ngài?
5. Hội Thánh Giê-ru-sa-lem lúc bấy giờ giống như gì?
6. Sự bắt bớ dữ tợn đó có hại cho Hội Thánh về phương diện nào?
7. Sự bắt bớ dữ tợn có lợi cho Hội Thánh về phương diện nào?
8. Tín hữu Giê-ru-sa-lem có tinh thần thế nào?
9. Kết quả của sự bắt bớ dữ tợn đó là gì?
10. Trách nhiệm trọng đại của Hội Thánh trong mọi hoàn cảnh là gì?
BÀI 50. HỘI THÁNH VỚI CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO THẾ GIỚI
KINH THÁNH: Công vụ 1:1-9.
CÂU GỐC: “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép Báp-têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà Ta đã truyền cho các ngươi. Và này, Ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế” (Ma-thi-ơ 28:19-20).
MỤC ĐÍCH: Mô tả phong trào truyền giáo hiện đại và nhấn mạnh sự kiện Hội Thánh có trách nhiệm truyền giảng Tin Lành cho cả thế giới.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Một lệnh truyền “Hãy đi” |
(Công vụ 1:1-9). |
|
TH: |
Gánh nặng phải chia xẻ |
(Rô-ma 9:1-16). |
|
TB: |
Nhơn từ, quyền năng và cơn giận của Đức Chúa Trời |
(Rô 9:17-33). |
|
TT: |
Đạo đức tin |
(Rô-ma 10:1-13). |
|
TN: |
Sứ điệp phải truyền giảng |
(Rô-ma 10:14-21). |
|
TS: |
Chức vụ giảng đạo |
(Rô-ma 11:1-12). |
|
TB: |
Gánh nặng của Phao-lô đối với thế giới |
(Rô-ma 1:13-36). |
“Những bàn chân của kẻ rao truyền Tin Lành là tốt đẹp biết bao” (Rô-ma 10:15).
“Kẻ nào gieo giống mà giọt lệ sẽ gặt hái cách vui mừng, người nào vừa đi vừa khóc đem giống ra rãi, ắt sẽ trở về cách vui mừng, mang bó lúa mình” (Thi thiên 126:5-6).
“Những kẻ khôn sáng sẽ rực rỡ như ánh sáng trên vòng khung, và những kẻ dắt đem nhiều người về sự công bình sẽ sáng láng như các ngôi sao đời đời mãi mãi” (Đa-ni-ên 12:3).
Chúng ta hãy suy gẫm Lời Chúa và lịch sử Hội Thánh qua công cuộc truyền giáo để được khích lệ mà không ai bị mỏi mệt sờn lòng.
I. BA VÒNG TRUYỀN GIÁO CỦA PHAO-LÔ.
Hội Thánh An-ti-ốt xứ Sy-ri do Ba-na-ba và Phao-lô thành lập (Công vụ 11:25-26). Hội Thánh đó có tinh thần truyền giáo rất cao. Chính họ đã theo lệnh của Chúa mà đặt tay sai Ba-na-ba và Phao-lô đi truyền giáo.
1. Từ An-ti-ốt đi ra và trở về An-ti-ốt (Công vụ 13:4-14:27).
Vòng truyền giáo thứ nhất phát xuất từ An-ti-ốt (xứ Sy-ri) qua Sêlơxi, đến đảo Chíp-rơ, giảng trong hai thành phố Salamin và Baphô (13:4-12).
Bỏ đảo Chíp-rơ, Phao-lô đi thuyền đến thành phố Bẹtgiê của xứ Bamphili. Từ đó, Phao-lô đến An-ti-ốt xứ Bisiđi. Có hai thành phố mang tên An-ti-ốt thuộc hai xứ Sy-ri và Bisiđi (13:13-52).
Từ An-ti-ốt (Bisiđi) Phao-lô đến Ycôni, Lít-trơ và Đẹt-bơ. Tại các nơi này, công cuộc truyền giáo đều có kết quả. Từ thành Đẹt-bơ, Phao-lô đi ngược lại Lít-trơ, Ycôni, An-ti-ốt (Bisiđi) để chọn các trưởng lão hướng dẫn các Hội Thánh mới được thành lập. Rồi ông trở xuống thành Bẹtgiê đến hải cảng Áttali, đi thuyền về An-ti-ốt xứ Sy-ri mà không ghé qua Chíp-rơ (Công vụ 14:1-28).
2. Từ An-ti-ốt ra đi và trở về An-ti-ốt (Công vụ 15:40-18:22).
Vòng truyền giáo thứ hai của Phao-lô cũng phát xuất từ An-ti-ốt (Sy-ri), đi đường bộ đến Đẹt-bơ, Lít-trơ, Ycôni để thăm viếng các Hội Thánh và làm cho ai nấy vững vàng trong đức tin (15:40-18:5).
Vì Chúa cấm không cho đoàn truyền giáo tiếp tục công tác tại các xứ thuộc Á Châu như Phirigi, Ga-la-ti, nên họ xuống thành Trô-ách. Tại Trô-ách, họ đi thuyền qua Samôtraxơ, Nêabôli và tới thành Phi-líp thuộc Châu Âu theo lệnh của Chúa. Tại Phi-líp, Phao-lô đã lập đuợc một Hội Thánh (Công vụ 16:6-40).
Từ Phi-líp, Phao-lô đến Amphipôlít, A-bô-lôni và Tê-sa-lô-ni-ca để giảng Tin Lành. Từ Tê-sa-lô-ni-ca ông đến Bê-rê, rồi từ Bê-rê đi đường biển đến Athen, Cô-rinh-tô và Ê-phê-sô. Từ Ê-phê-sô ông đi thuyền một mạch về Sê-sa-rê rồi đến Giê-ru-sa-lem thăm các Hội Thánh. Lại từ đó lên An-ti-ốt là nơi đã ra đi (Công vụ 17:1-18:22).
3. Từ An-ti-ốt trở về Giê-ru-sa-lem (Công vụ 18:23-21:15).
Vòng truyền giáo thứ ba của Phao-lô cũng phát xuất từ An-ti-ốt xứ Sy-ri, đi ngay đến Đẹt-bơ, Lít-trơ, Ycôni, An-ti-ốt xứ Bisiđi để làm cho Hội Thánh tại các nơi này vững vàng (18:23).
Từ An-ti-ốt xứ Bisiđi, Phao-lô đến Ê-phê-sô, ở tại đây luôn hai năm để giảng dạy, làm cho Hội Thánh được vững vàng và rất nhiều người xa gần được nghe đạo Chúa. Từ Ê-phê-sô, Phao-lô đến Phi-líp, rồi từ Phi-líp trở về Trô-ách qua Asốt, Mitilen, Chiô, Samốt. Sau đó ông đến Ê-phê-sô từ giã Hội Thánh, rồi về Ty-rơ, Bêtôlêmai, Sê-sa-rê, và Giê-ru-sa-lem (18:24-21:15).
Từ ngày Phao-lô tin Chúa đến ngày ông qua đời là vào khoảng hơn 30 năm. Trong thời gian đó, ông vào đồng vắng Ảrập 3 năm (Ga-la-ti 1:17-18), làm tín đồ 14 năm (Ga-la-ti 2:1), ngồi tù tại Sê-sa-rê hơn hai năm (Công vụ 24:27), ngồi tù tại La-mã 2 năm (Công vụ 28:30). Như vậy 3 vòng truyền giáo của Phao-lô vào khoảng 15 năm. Trong 15 năm đó ông đã đi thuyền và đi bộ chừng 12.000 cây số. Trong thời gian ngồi tù và đi lại ông đã viết 13 thơ: Rô-ma, I & IICôr, Ga-la-ti, Ê-phê-sô, Phi-líp, Cô-lô-se, I & IITê, I & II Ti-mô-thê, Tít, Phi-lê-môn.
Từ khi tin Chúa, Phao-lô “chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Jêsus và Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh trên cây thập tự”. Ông “quên lững sự ở đàng sau mà bươn theo sự ở đàng trước, nhắm mục đích mà chạy để giựt giải về sự kêu gọi trên trời…” Ông “chẳng kể sự sống mình làm quí, miễn chạy cho xong cuộc đua và chức vụ ông lãnh nơi Đức Chúa Jêsus để làm chứng về Tin Lành của ơn Đức Chúa Trời” (ICôr 2:2; Phi-líp 3:14; Công vụ 20:24).
II. CÁC HỘI TRUYỀN GIÁO THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI.
Sau cuộc cải chánh gần một thế kỷ, Hội Thánh cảm thấy trách nhiệm truyền giảng Tin Lành cho cả thế giới là trọng đại nhất. Bấy giờ, phong trào truyền giáo dấy lên, các hội truyền giáo được thành lập và cử giáo sĩ đi khắp nơi. Trong đó có các hội Giám lý, Trưởng lão, Báp-tít, Phước âm liên hiệp, Ngũ tuần…
Qua các hội truyền giáo đó, Tin Lành đã chính thức đến Việt Nam, từ miền xuôi chí mạn ngược đều có dấu chân của người Tin Lành. Giữa các dân tộc Stiêng, Kơho, Mnông, Rađê, Bahnar, Jơrai, Halang, Chàm, Mường, Mán, Thổ, Nùng đều có người tin Chúa như người Kinh. Suốt thời gian 90 năm, hàng triệu người đã được huyết Chúa tha tội, quyền năng Chúa giải phóng họ khỏi nô lệ cho tội lỗi mà có một nếp sống tự do, công bình, thánh khiết. Các tín đồ còn đang sống vẫn tiếp tục trong nếp sống đúng như Kinh Thánh dạy: “ĐỨC TIN, THƯƠNG YÊU, HY VỌNG”, chờ đợi ngày Chúa Jêsus tái lâm là ngày con cái Ngài trong muôn dân muôn nước thuộc muôn đời sẽ được trùng phùng (ITê 4:16-18).
III. TRÁCH NHIỆM TRUYỀN GIÁO CỦA HỘI THÁNH.
Trước khi chịu chết, Chúa Jêsus đã phán: “Tin Lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ, sự cuối cùng sẽ đến” (Ma-thi-ơ 24:14).
Sau khi sống lại, Chúa Jêsus đã phán: “Hãy đi khắp thế gian giảng Tin Lành cho mọi người… Hết cả quyền phép trên trời và dưới đất đã giao cho Ta, vậy hãy đi dạy dỗ muôn dân…” (Mác 16:15; Ma-thi-ơ 28:18-20).
Trước khi về trời, Chúa Jêsus đã phán: “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép và làm chứng về Ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất” (Công vụ 1:8).
Vậy, trách nhiệm trọng đại nhất của Hội Thánh ngày nay vẫn là trách nhiệm truyền giảng Tin Lành cho mọi người khắp mọi nơi cho đến chừng Chúa chúng ta trở lại (ICôr 11:26).
Chúa đã chết vì mọi người, Ngài không muốn một ai hư mất mà muốn mọi người đều được cứu (II Phi-e-rơ 3:9). Chúa không vui về sự chết của kẻ dữ, song vui về kẻ ác xây bỏ đường mình để được cứu (Ê-xê-chi-ên 33:11). Không có gì làm cho Chúa vui bằng một tội nhân ăn năn (Lu-ca 15:7,10,24,32).
Chúng ta phải truyền giảng, vì có truyền giảng người ta mới nghe, có nghe người ta mới tin, có tin người ta mới được cứu (Rô-ma 10:14-17).
CÂU HỎI
1. Phao-lô đi truyền giáo mấy lần và bao lâu?
2. Trong những năm chức vụ, Phao-lô đã viết các thư tín nào?
3. Phao-lô đã tỏ ra tinh thần truyền giáo của ông như thế nào?
4. Sau cuộc cải chánh, có phong trào gì được dấy lên? Các hội truyền giáo nào đến Việt Nam?
5. Tin Lành đến Việt Nam từ năm nào? Dân tộc nào tại Việt Nam đã tin Chúa?
6. Trách nhiệm trọng đại nhất của Hội Thánh là gì?
7. Tại sao gọi truyền giáo là trách nhiệm trọng đại nhất?
8. Thi hành trách nhiệm truyền giáo thì được phước gì? Xin trưng dẫn Kinh Thánh.
BÀI 51. HỘI THÁNH GIẢNG DẠY
KINH THÁNH: Phục truyền 6:1-9.
CÂU GỐC: “Ngày nào cũng vậy, tại trong đền thờ hoặc từng nhà, sứ đồ cứ dạy dỗ, rao truyền mãi về Tin Lành của Đức Chúa Jêsus, tức là Đấng Christ” (Công vụ 5:42).
MỤC ĐÍCH: Để vạch rõ cho học viên nhớ rằng, theo lệnh truyền của Chúa, nhiệm vụ đầu tiên của Hội Thánh là giảng dạy Lời của Đức Chúa Trời.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Lệnh truyền phải giảng dạy |
(Phục 6:1-9). |
|
TH: |
Chúa Jêsus là giáo sư |
(Ma-thi-ơ 5:1-16). |
|
TB: |
Dạy bằng cách so sánh |
(Ma-thi-ơ 5:17-26). |
|
TT: |
Dạy bằng cách sống hằng ngày |
(Ma-thi-ơ 5:27-37). |
|
TN: |
Dạy bằng các thí dụ |
(Ma-thi-ơ 13:1-9). |
|
TS: |
Giải nghĩa các thí dụ |
(Ma-thi-ơ 13:10-23). |
|
TB: |
Huấn luyện các giáo viên |
(II Ti-mô-thê 2:1-2). |
Việc giảng dạy Lời Chúa là nhiệm vụ trọng yếu của Hội Thánh nhằm giới thiệu Cứu Chúa cho mọi người và hướng dẫn họ đến cùng Ngài. Sau đó, Hội Thánh còn tiếp tục dạy dỗ luôn để họ hiểu biết lẽ thật và lớn lên trong sự sống thuộc linh, đạt đến bậc trưởng thành, có tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Chúa.
Nếu bạn đang dạy Lời Chúa cho bất luận ai như đồng ấu, thiếu niên, thanh niên, lão thành… thì đó là một đặc ân, cũng đồng thời là một nhiệm vụ trọng yếu của Chúa giao phó cho bạn. Bạn phải dạy thế nào để học viên của bạn thấy bạn xứng đáng với đặc ân và nhiệm vụ ấy. Nếu bạn là học viên, thì hãy hết lòng tỏ ra tinh thần hiếu học cầu tiến để khích lệ người dạy Lời Chúa.
I. VIỆC GIẢNG DẠY TRONG THỜI CỰU ƯỚC (Phục truyền 6:6-9).
Môi-se khuyên dân Y-sơ-ra-ên dạy dỗ Lời Chúa cho con cái họ khi ở trong nhà, khi đi ngoài đường, khi nằm xuống, khi chỗi dậy, tức là bất luận lúc nào và nơi nào cũng hãy tận dụng thì giờ và cơ hội để làm việc đó. Họ cũng phải buộc Lời Chúa trên tay, ghi Lời Chúa nơi khăn đội đầu, viết trên cột nhà, trên cửa, và nhất là giữ trong lòng, như Đa-vít đã nói: “Tôi đã giấu Lời Chúa trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Chúa” (Thi thiên 119:11). Trước đó, Giêtrô cũng đã khuyên Môi-se một câu rất hay: “Hãy lấy mạng lệnh và luật pháp Ngài mà dạy họ, chỉ cho họ biết đường nào phải đi, điều chi phải làm” (Xuất 18:20).
Sau đời Môi-se, Giô-suê và các quan xét, dân Y-sơ-ra-ên sống trong tối tăm vì “ai nấy làm theo ý mình lấy làm phải” (Các quan xét 17:6; 21:25). Lời Chúa là ngọn đèn, là ánh sáng cho đường lối chúng ta, nếu không có Lời Chúa thì chúng ta sẽ giống như người đi đêm không có đèn, thấy một con đường tưởng là chánh đáng, song cuối cùng nó là cái nẻo diệt vong (Châm ngôn 14:12; 16:25).
Đến đời Sa-mu-ên, nhận biết tình trạng đó, thấy rõ nhu cầu đó, ông đã mở ra rất nhiều trường dạy Lời Chúa, được gọi là trường tiên tri như Ghi-bê-a tại Na-giốt, tại Ra-ma (I Sa-mu-ên 10:5; 19:18-20). Đến đời các vua, tiên tri Ê-li và Ê-li-sê cũng tiếp tục mở các trường dạy Lời Chúa tại Bê-tên, tại Giê-ri-cô… (IICác 2:3,5; 4:38). Nhờ đó đã có nhiều tiên tri phục vụ Chúa giữa dân sự Ngài.
Trong thời bị lưu đày tại Ba-by-lôn, dân Y-sơ-ra-ên không có đền thờ nên họ họp nhau tại nhà riêng, sau đó là trong nhà hội để dạy và học Lời Chúa rồi cầu nguyện (Ê-xê-chi-ên 8:1; 20:3). Khi được giải phóng khỏi Ba-by-lôn trở về tổ quốc, dân Y-sơ-ra-ên lập nhà hội bất luận nơi nào họ ở, cũng để làm nơi dạy, học Lời Chúa và thờ phượng Ngài.
II. VIỆC GIẢNG DẠY THỜI TÂN ƯỚC.
Nhà hội của người Dothái trước đây gần 2.000 năm cũng như nhà thờ của Hội Thánh chúng ta ngày nay, vừa là nơi thờ phượng, vừa là nơi dạy dỗ Lời Chúa. Trẻ em từ 5-10 tuổi được dạy Kinh Thánh tại đây. Lớn hơn nữa, họ được đến các trường của các giáo sư danh tiếng như Ni-cô-đem, Ga-ma-li-ên. Chính Phao-lô đã được học tại một trong các trường này (Công vụ 22:3).
Chúa Jêsus được tôn là giáo sư (Giăng 3:2), vì Ngài dạy dỗ một cách có quyền năng và ân điển. Ngài dạy từng người như đã dạy Ni-cô-đem và người đàn bà Sa-ma-ri (Giăng 3:1-16; 4:1-26). Ngài dạy 12 sứ đồ (Ma-thi-ơ 5:1; 13:1). Ngài dạy trong nhà hội (Lu-ca 4:15). Không những ban ngày, đôi khi Chúa cũng dạy cả buổi trưa và ban đêm, có lúc Ngài không còn thì giờ để ăn (Mác 6:31; 3:20). Ngài đã từng phán: “Chúng ta hãy đi nơi khác để Ta cũng giảng đạo ở đó nữa, vì ấy là cốt tại việc đó mà Ta đã đến” (Mác 1:38-39). Rồi “Ngài đi khắp xứ Ga-li-lê giảng dạy trong các nhà hội”. Trước khi về trời, Chúa đã truyền lệnh “Hãy đi khiến muôn dân trở nên môn đồ Ta… và dạy cho họ giữ hết cả mọi điều mà Ta đã truyền cho các ngươi” (Ma-thi-ơ 28:19). Sau khi về trời, Chúa còn hiện ra với thánh Giăng bảo chép sách Khải huyền để dạy dỗ chúng ta (Khải huyền 1:11-19).
Theo gương Cứu Chúa cũng như vâng lệnh Ngài, các sứ đồ xem việc giảng dạy Lời Ngài là trọng yếu hơn cả. Họ thi hành công tác đó hằng ngày, khắp nơi (Công vụ 5:42; 6:2,4); và cả trong ban đêm (Công vụ 20:20,31). Không những giảng dạy trực tiếp, họ còn viết thư giải thích, khuyên lơn, sửa chữa. Phao-lô khích lệ Ti-mô-thê dạy dỗ và huấn luyện người khác dạy dỗ Lời Chúa (I Ti-mô-thê 4:13,16; II Ti-mô-thê 2:2; 4:2,5).
III. LẼ CẦN CỦA SỰ GIẢNG DẠY.
Trong lịch sử nhân loại, chưa có thời kỳ nào người ta được dạy dỗ nhiều như ngày nay. Những sự dạy dỗ đó có lợi, cũng có hại, vì có những sự dạy dỗ chống lại Kinh Thánh, phá hủy niềm tin chân chính của chúng ta. Nền tảng của niềm tin chúng ta là Kinh Thánh, nếu niềm tin không lập trên Kinh Thánh thì giống như xây nhà trên bãi cát chứ không phải trên vầng đá (Ma-thi-ơ 7:24-27).
Đức Chúa Trời phán rằng: “Dân Ta bị diệt vì thiếu sự thông biết” (Ô-sê 4:6). Các thầy tế lễ chẳng phân biệt cái gì là thánh, cái gì là phàm, cái gì là ô uế, cái gì là thánh khiết (Ê-xê-chi-ên 22:26), nên Chúa bảo các thầy tế lễ phải dạy cho dân Ngài phân biệt các điều đó (Ê-xê-chi-ên 44:23). “Vì môi miếng của thầy tế lễ nên giữ sự thông biết, người ta tìm luật pháp trong miệng nó, vì nó là sứ giả của Đức Giê-hô-va” (Ma-la-chi 2:7).
Môi-se đã ân cần dạy Lời Chúa cho dân sự, Giô-suê cũng vậy. Các quan xét xem nhẹ việc đó nên cuộc sống của dân sự bị hỗn độn như người đi đêm không đèn. Sa-mu-ên ân cần dạy Lời Chúa cho dân sự nên có cơn phục hưng trong đời ông. Trong đời các vua, các trường tiên tri được tổ chức, nên có nhiều tiên tri hầu việc Chúa. Chúa Jêsus đã tận tâm giảng dạy ngày đêm, các sứ đồ cũng vậy, nên trong ba thế kỷ đầu tiên của lịch sử Hội Thánh, Tin Lành được đồn ra rất mau và kết quả rất lớn. Song sau đó, Hội Thánh đã đứng lại để tranh luận về thần học mất suốt mấy thế kỷ, tạo cơ hội cho Hồi giáo ra đời, dấy lên và truyền bá từ Ảrập đến các nước quanh bờ Địa Trung Hải, Á Châu và nhất là Phi Châu.
Xem đó, chúng ta thấy rằng việc giảng dạy Lời Chúa là cần thiết dường nào! Dân sự của Đức Chúa Trời vô luận thuộc thời Cựu Ước hay Tân Ước đều cần được dạy dỗ bằng Lời của Ngài. Họ sống hay chết, tiến hay thoái đều tùy thuộc vào việc học hỏi Lời Chúa. Đồng bào chúng ta cũng cần như vậy và cần hơn nữa!
Lời Chúa là chân lý muôn đời không hề thay đổi. Lời đó như đồng cỏ xanh tươi, lúc nào cũng có cỏ non dành cho bầy chiên của Chúa. Lời đó dạy dỗ chúng ta mọi sự có tương quan đến cuộc sống hiện tại và tương lai của chúng ta. Hãy chia xẻ Lời Chúa cho mọi người!
CÂU HỎI
1. Nhiệm vụ trọng yếu của Hội Thánh thuộc mọi thời đại là gì?
2. Trong thời Cựu Ước, hai người ân cần nhất trong việc dạy Lời Chúa là ai?
3. Tại sao trong thời các quan xét, dân sự sống trong hỗn độn?
4. Dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu lập nhà hội từ thời nào?
5. Tại sao người ta đã tôn Chúa Jêsus làm giáo sư?
7. Trước khi về trời và sau khi về trời, Chúa còn nhắn nhủ gì?
8. Ngoài việc giảng dạy trực tiếp, các sứ đồ còn làm gì nữa?
9. Hãy giải thích sự dạy Lời Chúa cần thiết như thế nào?
10. Sự trễ nải giảng dạy lời Chúa nguy hại như thế nào?
BÀI 52. TẬN TRUNG VỚI CHÚA
KINH THÁNH: Cô-lô-se 1:1-23.
CÂU GỐC: “Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin” (Rô-ma 1:16).
MỤC ĐÍCH: Thuyết phục học viên giữ những gì Chúa dạy và trung thành với Chúa.
KINH THÁNH ĐỌC HẰNG NGÀY
|
CN: |
Tận trung với Chúa Jêsus |
(IICôr 4:1-6). |
|
TH: |
Tận trung với Đức Chúa Trời |
(IICôr 4:7-18). |
|
TB: |
Tận trung, can đảm và tin cậy |
(IICôr 5:1-10). |
|
TT: |
Các đại sứ của Chúa Jêsus |
(IICôr 5:11-21). |
|
TN: |
Tận trung với Hội Thánh |
(Cô-lô-se 1:1-23). |
|
TS: |
Khuyên lơn và dạy do |
(Cô-lô-se 1:24-2:6). |
|
TB: |
Tận trung với chân lý |
(Cô-lô-se 2:7-23). |
Đã ba tháng qua, tức là từ bài số 40, chúng ta học về Hội Thánh. Hôm nay là bài học cuối cùng trong đại đề mục đó. Chúng ta cần ôn lại để nhớ rằng Hội Thánh bắt đầu là một số tín đồ ít ỏi gồm 120 người, nhưng nhờ Đức Thánh Linh, số ấy cứ gia tăng mỗi ngày và lan tràn từ Giê-ru-sa-lem đến xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri và hôm nay đã đến cả trái đất!
Hội Thánh của tôi, nói chung là Hội Thánh trong cả thế giới, nói riêng là Hội Thánh địa phương, tại nơi nào mà tôi chịu trách nhiệm trực tiếp, thì nếu Hội Thánh đó thất bại, sa sút là một phần tại tôi. Nếu Hội Thánh thành công, tiến bộ là một phần nhờ tôi. Vì vậy, tôi phải tận hiến đời tôi cho Chúa để trở thành một công cụ trong tay Ngài, hầu Hội Thánh của tôi được phát triển rực rỡ.
Sau ngày nước nhà độc lập, sở hỏa xa Ấn độ cho treo trên mỗi toa xe một câu khẩu hiệu “Đây là xe hỏa của các bạn”. Sở hỏa xa muốn ai nấy đều ý thức trách nhiệm của mình là giữ gìn toa xe cho sạch sẽ, lên xuống, đi lại có trật tự, bảo vệ tài sản chung. Song khi đọc qua câu khẩu hiệu, một số người hiểu sai, làm quấy là tháo gỡ hết dây điện, bóng đèn, gương soi, quạt máy trên các toa xe!
Khi nói “Hội Thánh của tôi”, không có nghĩa là chúng ta có tự do phá hoại, mà ngược lại, chúng ta có trách nhiệm tận trung xây dựng.
I. TẬN TRUNG VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI.
Tận trung với Chúa có nghĩa là hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Ngài, phục vụ Ngài. Người ấy không hề chối bỏ hay giấu giếm sự kiện mình là một tín đồ Tin Lành, người ấy không hổ thẹn mà hãnh diện vì mình đã tin nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa. Người ấy muốn sống một cuộc đời tôn vinh Đức Chúa Trời, lúc nào cũng cầu xin “Danh Cha được tôn thánh, Nước Cha được đến, Ý Cha được nên ở đất như trời”.
Tận trung với Chúa là chúng ta phải luôn luôn lo tưởng đến Hội Thánh của mình như gìn giữ nhà thờ cho sạch sẽ, khang trang, nhóm họp đều đặn, đúng giờ, dâng hiến thường xuyên và rộng rãi để duy trì sinh hoạt chung. Chúng ta phải vui vẻ làm bất luận việc gì để góp phần xây dựng Hội Thánh, truyền giảng Tin Lành khắp nơi, hầu cứu rỗi tội nhân khỏi chốn trầm luân, hư mất, vì ý muốn của Đức Chúa Trời là như vậy (II Phi-e-rơ 3:9).
II. TẬN TRUNG VỚI LỜI ĐỨC CHÚA TRỜI.
Tận trung với Lời Chúa là đọc Kinh Thánh một cách kính cẩn, khiêm nhu và thường xuyên như đọc thư của cha mình gởi đến. Không những đọc, chúng ta còn nhờ Thánh Linh hướng dẫn mà học hỏi, nghiền ngẫm từng sách, từng đoạn, từng câu, từng chữ để hiểu đúng, hiểu rõ. Không những hiểu, chúng ta còn nhờ Thánh Linh để vừa muốn vừa làm theo Lời Chúa.
Trung thành với Lời Chúa là chúng ta không thêm, không bớt một lời nào trong Kinh Thánh (Khải huyền 22:18-19). Chúng ta không xuyên tạc Lời Chúa để giữ vững lập trường riêng của mình mà phải “lấy lòng ngay thẳng giảng dạy Lời của lẽ thật” (II Ti-mô-thê 2:15). Chính Đức Chúa Trời đã phán bảo: “…Kẻ nào đã lãnh Lời Ta, hãy truyền lại Lời Ta cách trung tín”. Chúng ta đừng đem rơm rạ xen vào lúa mì (Giê-rê-mi 23:28). Phao-lô không những khuyên Ti-mô-thê phải tận trung với Lời Chúa mà còn ngăn ngừa các giáo sư giả giảng dạy tà giáo trong Hội Thánh (I Ti-mô-thê 1:3-4). Chúng ta phải tận trung và khuyên người khác cũng tận trung với Lời Chúa.
III. TẬN TRUNG VỚI CÔNG VIỆC CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG HỘI THÁNH.
Tại trần gian nầy, Đức Chúa Trời không có công việc gì khác ngoài công việc của Hội Thánh. Hội Thánh là một cơ quan, để qua đó Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài cho nhân loại. Nên tận trung với công việc của Đức Chúa Trời là chuyên tâm xây dựng và phát triển Hội Thánh như chứng đạo, thăm viếng, chăm sóc người mới tin, người yếu đuối, người vấp ngã, buồn bã. Ngoài ra, chúng ta cũng có thể hướng dẫn một lớp học Kinh Thánh, một ban hát… Đành rằng các công việc trên đây thuộc phạm vi trách nhiệm của mục sư, song ông chỉ là người điều khiển, còn thi hành công việc là trách nhiệm của cá nhân tín đồ. Ai nấy phải xem công việc của Hội Thánh là công việc Chúa giao cho mình và lấy làm hân hạnh mà làm công việc đó.
IV. TẬN TRUNG VỚI NHỮNG NGƯỜI PHỤC VỤ ĐỨC CHÚA TRỜI.
Mục sư, truyền đạo vốn là tín đồ được Chúa lựa chọn, kêu gọi, xức dầu để làm chức vụ chăn bầy của Ngài. Là một đầy tớ tận trung của Chúa, ông phải đêm ngày cầu nguyện, nghiên cứu Lời Chúa để nuôi bầy chiên. Ông phải sẵn sàng giúp đỡ tín đồ về phương diện thuộc linh nên lúc nào ông cũng bận rộn. Là thuộc viên của một chi hội, các bạn nên cộng tác với mục sư, truyền đạo chủ tọa để chức vụ của ông được kết quả. Không hề có mục sư, truyền đạo nào thành công nếu không được tín đồ cộng tác chặt chẽ với mình. Chính Phao-lô cũng đã nhờ nhiều người cầu nguyện và cộng tác bằng nhiều phương diện mà được thành công, nên ông gọi họ là bạn đồng công, đồng đội với ông. Gửi thư cho Hội Thánh Rô-ma, ông viết: “Hãy chào Bêrítsin và Aquila, là hai người liều chết để cứu sự sống tôi, ấy chẳng những một mình tôi tạ ơn hai người, nhưng cả Hội Thánh của dân ngoại nữa” (Rô-ma 16:3-4). Các bạn không phải là mục sư, truyền đạo, các bạn hãy giúp cho mục sư, truyền đạo thành công, chắc chắn các bạn sẽ lãnh phần thưởng của mục sư, truyền đạo (Ma-thi-ơ 10:41).
V. TẬN TRUNG VỚI ANH CHỊ EM TRONG CHÚA.
Hội Thánh là một đoàn người gồm cả nam, phụ, lão, ấu, không phân biệt tuổi tác, tiếng nói, màu da. Từ một Cha sinh ra, từ một dòng huyết mà mọi người được cứu, chúng ta hãy thương yêu lẫn nhau, đùm bọc lẫn nhau, dìu dắt lẫn nhau, an ủi lẫn nhau, nâng đỡ lẫn nhau, hòa thuận và hiệp một lẫn nhau… Trong Tân Ước có hàng trăm lần lặp lại hai chữ “lẫn nhau” đó.
Kinh Thánh chép: “Bằng hữu thương mến nhau luôn luôn; và anh em sinh ra để giúp đỡ trong lúc hoạn nạn” (Châm ngôn 17:17). Phản bội Chúa là một tội nặng, phản bội anh em cũng không phải là một tội nhẹ đâu! Sự thông công mật thiết giữa anh chị em trong Chúa là quí báu lắm nên chúng ta phải làm hết sức mình để duy trì sự thông công chứ không làm bất luận một việc gì để phá hủy nó. Phao-lô luôn luôn tỏ ra rất quan tâm đến anh em trong Chúa. Đối với người thiếu thốn, ông lạc quyên để giúp đỡ, đối với người ở xa, ông viết thư thăm hỏi. Tình bạn của ông thật chân thành, đậm đà, thủy chung như nhất.
Hội Thánh của các bạn ra sao? Các bạn có tận trung với Chúa mà lo cho Hội Thánh của Ngài không? Hãy ý thức trách nhiệm đối với Hội Thánh của bạn!
CÂU HỎI
1. Hội Thánh tiến hay thoái là trách nhiệm của ai?
2. Tận trung với Đức Chúa Trời có nghĩa gì?
3. Làm sao để tận trung với Lời Chúa?
4. Công việc của Chúa trong trần gian nầy là gì?
5. Mục sư, truyền đạo là ai?
6. Công việc của mục sư, truyền đạo là gì?
7. Chúng ta phải làm gì để giúp cho mục sư, truyền đạo thành công?
8. Chúng ta phải làm gì để tỏ ra tận trung với anh em trong Chúa?
9. Các bạn nghĩ thế nào về Hội Thánh? Bạn phải làm gì để tỏ ra bạn yêu quí Hội Thánh?
PHƯƠNG PHÁP HỌC KINH THÁNH CÁ NHÂN.
Là người Cơ Đốc, chúng ta hiểu rõ sự cần thiết và ích lợi của sự học Kinh Thánh cá nhân. Đời sống mỗi Cơ Đốc nhân có trưởng thành hay không, chắc chắn phần lớn tùy thuộc vào mức độ tương giao giữa người đó với Chúa trên hai yếu tố: Trung tín và chiều sâu.
LỢI ÍCH CỦA VIỆC HỌC KINH THÁNH CÁ NHÂN.
Nghiên cứu (học) Kinh Thánh, bạn sẽ nhận được 7 điều quí báu sau:
1. Chỉ ra tội lỗi của mình và kết án nó (Hê-bơ-rơ 4:12).
2. Tẩy sạch chúng ta khỏi sự ô nhiễm của tội lỗi (Ê-phê-sô 5:25- 26).
3. Lời Chúa thêm năng lực (Phục truyền 8:3).
4. Kinh Thánh dạy chúng ta phải thực hành (Gia-cơ 1:22).
5. Kinh Thánh là khí giới giúp chúng ta chiến thắng tội lỗi (Ê-phê-sô 6:17).
6. Kinh Thánh làm cho đời sống chúng ta được kết quả (Giô-suê 1:8-9).
7. Kinh Thánh hỗ trợ năng lực để chúng ta cầu nguyện (Giăng 15:7).
* * *
PHƯƠNG PHÁP HỌC KINH THÁNH CHỌN CÂU ƯA THÍCH.
I. LỜI GIỚI THIỆU.
Mục đích của những phương pháp học Kinh Thánh là khuyến khích mỗi tín đồ tự nghiên cứu Kinh Thánh. Mỗi phương pháp chỉ là một dụng cụ, giúp cá nhân tín đồ tìm hiểu Kinh Thánh.
Điều quan hệ là chúng ta nên có một vài phương pháp học Kinh Thánh thường xuyên và trực tiếp trong Lời của Đức Chúa Trời, để Thánh Linh có cơ hội nói với chúng ta qua các trang Kinh Thánh. Trong khi nghiên cứu Kinh Thánh theo phương pháp nầy, bạn cần nương cậy Thánh Linh dẫn dắt và soi sáng.
Có lẽ cách bắt đầu nghiên cứu Kinh Thánh tốt nhất được tỏ ra trong lời cầu nguyện ở Thi thiên 119:18 như sau: “Xin Chúa mở mắt tôi, để tôi thấy sự lạ lùng trong luật pháp của Chúa”. Lấy làm tốt cho chúng ta nhắc lại những lời nầy lúc cầu nguyện mỗi khi chúng ta bắt đầu nghiên cứu Lời Chúa!
II. NGUYÊN TẮC CĂN BẢN TRONG SỰ TỰ HỌC KINH THÁNH.
A. CHO NGƯỜI NGHIÊN CỨU KINH THÁNH.
1. Hoàn toàn nhờ cậy Thánh Linh dẫn dắt, dạy dỗ mình (ICôr 2:9-12).
2. Có lòng khao khát Lời Chúa (Giê-rê-mi 15:16).
3. Có thái độ trông đợi (Hê-bơ-rơ 11:6; Ê-sai 55:11).
B. TRONG VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1. Phải tự mình nghiên cứu.
2. Phải ghi chép.
3. Phải có sự ứng dụng.
4. Phải là một phương pháp dễ dàng để có thể giải thích cho người khác.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU “CHỌN CÂU ƯA THÍCH”.
A. MỤC ĐÍCH.
Phương pháp này có ý giúp bạn trong thì giờ thông công với Chúa hằng ngày. Tuy nhiên bạn cũng có thể dùng trong các nhóm học Kinh Thánh.
1. Từ thứ hai đến thứ bảy, mỗi ngày đọc một đoạn, tìm một câu ưa thích trong mỗi đoạn. Ghi những câu nầy ở trong Kinh Thánh hoặc sổ tay của bạn.
2. Tìm sự dạy dỗ của Chúa trong câu bạn ưa thích.
3. Ứng dụng sự dạy dỗ đó vào đời sống mình. Muốn ứng dụng, bạn nên lần lượt trả lời các câu hỏi sau:
– Theo sự dạy dỗ của Chúa tôi có:
a. Khuyết điểm nào phải sửa chữa?
b. Ưu điểm nào phải phát huy?
c. Sự hiểu biết nào cần lưu ý?
d. Điều nào cần cảm tạ?
e. Hành động nào ngay từ bây giờ để sửa chữa?
4. Ngày Chúa nhật thay vì đọc một đoạn Kinh Thánh mới, bạn hãy ôn lại sáu câu ưa thích của sáu ngày qua. Bạn đọc phần ứng dụng. Điều nào bạn đã thực hiện được, hãy cảm tạ Chúa. Điều nào bạn chưa thực hiện được, hãy cầu xin Chúa giúp bạn thực hiện.
* * *
HỌC KINH THÁNH THEO PHƯƠNG PHÁP TÌM TIM
(Tìm trọng tâm sự dạy dỗ).
Phương pháp tìm tim là một phương pháp học Kinh Thánh rất giản dị, gồm hai phần:
A. Tìm những trọng điểm
B. Tìm những sự dạy dỗ trọng tâm.
Nếu có thì giờ chúng ta sẽ học Kinh Thánh theo những câu hỏi gợi ý của cả hai phần trên. Trong giờ học Kinh Thánh và cầu nguyện gia đình, chúng ta chỉ học phần B.
Bước 1: Đọc phân đoạn Kinh Thánh thật chậm.
Bước 2: TÌM:
A. NHỮNG TRỌNG ĐIỂM.
1. Tìm nhân vật chính, hoặc từ ngữ chính của phân đoạn Kinh Thánh.
2. Chọn môt câu căn bản trong phân đoạn Kinh Thánh. Câu nầy là câu bao quát được ý hoặc nói được ý chính trong phân đoạn đó.
3. Đặt một tựa ngắn dễ nhớ.
B. NHỮNG SỰ DẠY DỖ TRỌNG TÂM (Ứng dụng sự dạy dỗ vào đời sống).
1. Phân đoạn Kinh Thánh nầy dạy gì về Chúa (Cha, Con, Thánh Linh).
2. Có mạng lịnh hoặc lời hứa nào cho tôi?
3. Có gương tốt hoặc xấu nào cho tôi theo hoặc tránh?
Bước 3: Cầu nguyện theo sự dạy dỗ của Lời Chúa.
Phương pháp nầy giúp tín hữu đi sâu vào trọng tâm của sự dạy dỗ. Do đó khiến Cơ Đốc nhân có một cái nhìn thấu suốt vấn đề và biết nắm giữ trọng tâm sự dạy dỗ để tổ chức đời sống, giải quyết công việc theo ánh sáng của Kinh Thánh.
BÀI MẪU ÁP DỤNG SỐ 1: Mác 6:30-44.
Bước 1: Đọc phân đoạn Kinh Thánh thật chậm.
Bước 2: TÌM.
A. NHỮNG TRỌNG ĐIỂM.
1. Nhân vật chính: Chúa Jêsus.
2. Câu căn bản: Câu 14 “Đức Chúa Jêsus lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời tạ ơn, rồi bẻ bánh ra mà trao cho môn đồ đặng phát cho đoàn dân, lại cũng chia hai con cá cho họ nữa”.
B. NHỮNG SỰ DẠY DỖ TRỌNG TÂM.
1. Phân đoạn Kinh Thánh nầy dạy gì về Chúa?
a. Chúa có thân thể giống như chúng ta (cần ăn, nghỉ) c.13, Phi-líp 2:5-7.
b. Chúa thu hút người khác (dân chúng chạy theo Chúa) c.31. Đời sống tôi có thu hút người khác đến với Chúa không?
c. Chúa thương yêu (c.34). Tôi phải sống yêu thương giống như Chúa.
d. Chúa giải quyết mọi nhu cầu của con người (c.37). Tại sao tôi còn lo âu?
e. Chúa làm việc trong trật tự (c.39) – Dầu Chúa và các môn đệ đều mệt đói, dân chúng cần về vì trời đã xế chiều, nhưng Chúa vẫn làm mọi việc trong trật tự. Tôi có theo gương của Chúa?
g. Chúa luôn luôn tạ ơn (c.41a). Còn tôi thế nào?
h. Chúa có quyền trên vật chất (hóa bánh c.41b).
i. Chúa ban cho dư dật (c.43). Tại sao tôi vẫn thiếu thốn?
2. Có mạng lịnh hoặc lời hứa nào cho tôi?
a. Đi tẻ nơi vắng vẻ c.31 (Mác 1:35), và nghỉ ngơi (Mác 14:37- 41). Tôi phải sống điều độ để có sức hầu việc Chúa.
b. Phải cho họ ăn (c.37). Tôi mệt và đói hơn cả đoàn dân (Mác 6:12, 13; 30-31) nhưng tôi vẫn phải lo cho người khác trước, ban cho họ Bánh Sự Sống.
c. Bảo dân chúng ngồi từng chòm (c.39). Có những mạng lịnh của Chúa xem như vô lý (Trời đã chiều, dân chúng đông đảo, Chúa lại bắt ngồi từng hàng), nhưng nếu vâng phục sẽ thấy kết quả tốt.
3. Có gương tốt cho tôi theo hoặc hoặc gương xấu nào để tránh?
a. Gương tốt của môn đệ.
– Tường trình mọi việc với Chúa (c.13). Tôi có dám tường trình mọi việc tôi làm với Chúa không?
– Vâng phục mọi mạng lịnh (c.39).
b. Gương tốt của dân chúng.
– Yêu mến Chúa và Lời của Ngài (Chạy theo Chúa, quên nhu cầu của thân xác, quên cả thời gian: c. 33,35-36). Mức độ yêu mến Chúa và Lời Chúa của tôi thế nào?
c. Gương xấu của môn đệ.
– Ngăn trở sự dạy dỗ của Chúa vì không có lòng tin.
Bước 3: Cầu nguyện theo sự dạy dỗ của Lời Chúa.
BÀI MẪU ÁP DỤNG SỐ 2 (II Ti-mô-thê 2:8-13).
Bước 1: Đọc phân đoạn Kinh Thánh thật chậm.
Bước 2: TÌM.
A. NHỮNG TRỌNG ĐIỂM.
1. Nhân vật chính: Phao-lô.
2. Câu căn bản: (c.9a) “Vì Tin Lành đó mà ta chịu khổ, rất đỗi bị trói như người phạm tội”.
3. Tựa đề: Chịu Khổ Vì Cớ Tin Lành.
B. NHỮNG SỰ DẠY DỖ TRỌNG TÂM.
1. Phân đoạn Kinh Thánh này dạy gì về Chúa?
a. Chúa là Đấng Mê-si đã được dự ngôn (Con cháu vua Đa-vít c.8a).
b. Chúa chiến thắng sự chết (c.8b). Một bảo đảm chắc chắn về sự cứu chuộc, sự chăm sóc trong đời này và sự sống lại của thân thể tôi trong ngày sau rốt. Tôi có sống trong niềm tin đó không?
c. Đấng Cứu Chuộc (c.10c).
d. Đấng vinh hiển đời đời (c.10c). Tôi cũng sẽ được vinh hiển với Ngài.
e. Chúa là Vua (Đồng trị c.12). Tôi phải sống xứng đáng là vợ hứa của Vua muôn vua.
g. Đấng thành tín (c.13). Nắm chắc mọi lời hứa của Chúa và vui sống.
2. Có mạng lịnh hoặc lời hứa nào cho tôi?
a. Mạng lịnh: Hãy nhờ Jêsus là Đấng Mê-si, Đấng đắc thắng tử thần (c.8).
– Đồng chết với Ngài (c.11). Tôi phải liên hiệp trong sự chết (đóng đinh bản ngã vào thập tự giá) để được liên hiệp trong sự sống lại của Ngài.
– Đồng trị với Chúa (c.12). Tôi phải sống xứng đáng để được đồng trị với Chúa.
b. Lời hứa.
– Đạo Đức Chúa Trời không hề bị trói. Tạ ơn Chúa (c.9).
– Người được chọn sẽ được cứu và vinh hiển đời đời. Tôi tin chắc.
– Cơ Đốc nhân được sống với Chúa và đồng trị với Ngài (c.11-12). Tương lai vinh hiển đang chờ tôi.
Bước 3. Có gương tốt hoặc xấu nào cho tôi theo hoặc tránh?
Gương tốt của Phao-lô: Chịu khổ vì Tin Lành (c.9).
Xin Chúa giúp tôi sống giống như Phao-lô để được đồng trị với Ngài.