301 . ĐỜI NGƯỜI VÀ VINH HIỂN THẾ GIAN LÀ MAU QUA
(Giấc mộng kê vàng)
"Năm chúng tôi ta mất như hơi thở" (Thi-thiên 90:9).
"Mọi xác thịt ví như cỏ, mọi sự vinh hiển của nó ví như hoa cỏ" (IPhi-e-rơ 1:24). Không có cách so sánh nào thích hợp hơn để tỏ ra đời loài người ngắn ngủi, và những sự thạnh vượng khoái lạc của đời nầy là mỏng manh dường nào. Hôm nay ta còn trong tuổi mạnh mẽ, ngày xuân tươi đẹp như hoa, còn lăn lộn trong vòng khoái lạc, buông theo tham dục điên cuồng của một tâm tình không chịu để chút chi ngăn trở; nhưng ngày mai ta đã là một vật đáng thương, bị thời gian làm cho tàn héo hoặc bịnh tật cắn nuốt, hoặc tử thần lôi kéo vào cõi đời đời.
Đây nầy, một người được chú ý vì sự giàu sang người; theo hầu người luôn là một bầy dua nịnh, cùng những bạn hữu chăm tìm ân huệ của người, những bà con mà lòng yêu thương chẳng còn chân thật gì nữa. Người đi đến đâu, ai nấy cũng thèm muốn sự xa hoa ở chung quanh người. Ta hãy thêm vào của cải dư dật ấy thế lực do phẩm tước, chức cai trị nhiều xứ, quyền chỉ huy quân đội, quyền chi phối sự tự do, tài sản và sanh mạng của tất cả các công dân.
Mọi sự ấy diễn ra rồi kết cục thế nào? Một đêm kia, một cơn sốt một chứng sưng phổi xô người ngã giữa sân sân khấu và chỉ trong giây lát đã lột hết bộ áo phường tuồng ấy. Mọi sự xa hoa, đường bệ ấy tiêu tan như một giấc mộng!
-T. Basile-
LỜI PHỤ THÊM.-T. Basile (329-379) là Giáo phụ của Hội Thánh Hy-lạp, giám mục thành Césarée, trứ tác những THƠ TÍN luận về những vấn đề đạo lý, luân lý và tu luyện. Ông thuộc vào số những người sáng lập chế độ tu hành trong đạo Đức Chúa Jêsus Christ.
302. SỰ SỐNG LẠI LÀ CHẮC CHẮN
(Quyền kêu sống lại)
Ta khó cắt nghĩa thế nào là thân thể mình vốn bị hạn chế nhiều bề lại hóa nên giống như thân thể vinh hiển của Đấng Christ. Nhưng Kinh Thánh quả quyết rằng việc đó có thể xảy ra. Vậy bởi đức tin, chúng ta trông đợi lúc cất bỏ mọi sự yếu đuối hạn chế và mình sẽ được thân thể trọn vẹn làm lợi khí cho linh hồn tự tỏ ra.
Đứng trong xưởng người thợ rèn, anh em sẽ thấy người đặt miếng sắt ten rỉ, lạnh lẽo đen thui vào lửa, và sẽ đợi lúc người rút miếng sắt đã được đổi hẳn ra... Vẫn là miếng sắt cũ, nhưng bây giờ nó sáng ngời, không còn ten rỉ, đen thui như trước. Thân thể chúng ta cũng sẽ như vậy. Nó bằng bụi đất, nằm trong mồ mả, chết cứng, nặng nề, nhưng nó sẽ dậy, hoạt động chói lọi vinh hiển của thiên đàng.
Ta chẳng những thấy bằng cớ về sự sống lại ở trong Kinh Thánh, song cũng thấy ở trong mỗi cái lá, cái chồi đương lúc trời xuân. Đức Chúa Trời đánh thức cây cối và hoa cỏ đương mơ màng giấc ngủ tiết đông chắc chắn thế nào, thì sẽ đánh thức con cái Ngài đương ngủ giấc trăm năm thể ấy.
Nếu gieo hột giống tốt xuống đất, ắt ta trông mong được mùa màng dư dật. Ta biết rằng nếu chẳng gieo hột giống xuống đất hoang để nó chết, ắt ló không kết quả được. Cũng như hột giống, thân thể chúng ta muốn sống lại, thì phải chết trước đã "Có kẻ hỏi rằng: Người chết sống lại thể nào, lấy xác nào mà trở lại ư? Hỡi kẻ dại kia, vật gì ngươi gieo, nếu không chết đi trước đã, thì không sống lại được" (I Cô-rinh-tô 15:35-36).
-Esther D. Hovey-
303. CẦN CHIA SẺ ƠN CHO NGƯỜI KHÁC
(Chết là phải)
Tại sao người ta gọi biển Chết (Mer Morte) là biển chết? Vì bao giờ nó cũng chỉ nhận nước, chớ không hề phát ra một chút nào.
Tại sao vô số tín đồ nguội lạnh như chết? Vì lúc nào cũng chỉ nhận lãnh mà không hề ban phát ơn Chúa cho mọi người ở chung quanh mình để ơn ấy ở trong mình được lưu thông và mới mẻ luôn.
-D. L. Moody-
304. CẦN TIN QUYỀN NĂNG TUYỆT ĐỐI CỦA CHÚA
(Vui khi động đất)
Mấy năm trước, miền kia có động đất, dân cư trong một làng nhỏ rất đỗi kinh khiếp, nhưng đồng thời cũng ngạc nhiên vì thấy một bà cụ vẫn bình tĩnh vui vẻ như thường. Ai nấy quen biết cụ, nên có người hỏi cụ rằng:
-Thưa, cụ không sợ sao?
-Ồ, không khi nào, cụ đáp, tôi vui mừng vì biết Đức Chúa Trời, là Cha tôi, có thể làm lay chuyển trái đất.
-T. L.-
305. HỮNG HỜ VỚI CHÚA LÀ ĐÁNG BUỒN
(Có đáng buồn không?)
Một nữ sinh Do-thái đã tin theo Đấng Christ, tần ngần hỏi ông giáo sư dạy sử ký rằng:
-Thưa, thầy có thể cho tôi biết kể từ lúc nào môn đồ Đấng Christ bắt đầu hững hờ, ghẻ lạnh với Ngài không?
Có lẽ anh em cũng không đáp được câu ấy. Nhưng anh em chỉ cần nghiêm trang suy nghĩ giây lát thì có thể đáp câu nầy:
-Kể từ lúc nào chính mình tôi bắt đầu hững hờ, ghẻ lạnh với Đấng Christ?
306. CẦN ĐỔI MỚI NGƯỜI DO ÂN ĐIỂN CHÚA CHỚ KHÔNG CẦN ĐỔI ĐỊA CHỈ
(Thay đổi thế nào?)
Một tín đồ mới đến hỏi ông mục sư rằng:
-Thưa ông, chỗ tôi ở thật là đầy dẫy tội lỗi, tôi muốn dọn đi nơi khác.
Mục sư đáp: -Ông không nên dọn đi nơi khác, nhưng nhờ ân điển Chúa mà thay đổi chỗ mình đương ở ra thánh khiết đạo đức.
307. GÁNH NẶNG GIÚP NGƯỜI KHÁC LÀ ĐEM LẠI CHO MÌNH NGUỒN PHƯỚC
(Vàng của vua hay là vàng của tôi?)
Ngày kia, A-lịch-sơn đại đế sai một binh đi trước kèm con la chở vàng đến một thành xa. Đi mãi, gần đến nơi, thì tên binh kia mệt mỏi quá, nhưng con la lại tệ hơn, nó loạng choạng gần ngã nhào xuống đất. Động lòng thương con vật, tên binh ấy bèn lấy bao vàng nặng mà vác trên lưng. Hắn mệt mỏi quá, nhưng cũng cố vác đến nơi.
Thấy cử chỉ nhơn đạo ấy, A-lịch-sơn đại đế lấy làm đẹp lòng lắm mà phán rằng:
-Giỏi đấy! Ngươi hãy cố gắng chở vàng về trại mình. Nó thuộc về ngươi hết thảy.
Nếu tín đồ vì lòng yêu thương mà gánh gánh nặng đỡ đần kẻ đồng loại, thì chính gánh nặng đó sẽ làm một nguồn phước cho đời sống mình. “Vậy, chớ bỏ lòng dạn dĩ mình, vốn có một phần thưởng lớn đã để dành cho” (Hê-bơ-rơ 10:35).
308. LÀM LẠI ÂN TỨ, ẮT ĐƯỢC BAN CHO THÊM
(Đem dùng hay mất hết)
Phương đông có truyện thuật rằng: Một người lái buôn phải đi ra ngoại quốc, bèn gọi hai người bạn đến, giao cho mỗi người hai bao thóc, nhờ giữ cho đến khi mình trở về. Năm, tháng trôi qua. Lúc trở về, người lái buôn bèn mời hai bạn đến, hỏi thóc ra sao.
Người thứ nhất đưa ông vào trong vựa, cho xem hai bao thóc vẫn còn nguyên, nhưng thóc đã mốc, mục, không còn giá trị gì cả.
Người thứ hai đưa ông ra ngoài đồng chỉ cho xem nhiều đám ruộng lúa rập rờn trước gió mà nói rằng:
-Hai bao thóc của ông đã sanh hóa ra chừng đó.
Vỗ vai bạn, người lái buôn nói rằng:
-Hỡi bạn trung tín, hãy trả lại tôi hai bao thóc, còn bao nhiêu là của bạn cả.
Chúng ta hãy lợi dụng ân tứ Đức Chúa Trời cho mình, ắt sẽ được thêm; bằng không, sẽ mất hết. Đức Chúa Jêsus có phán rằng: “Ai có thì sẽ cho thêm; song ai không có thì sẽ cất luôn của họ đã có nữa” (Lu-ca 19:26).
-Moody-
309. YÊU MẾN ĐỨC CHÚA TRỜI CÁCH TỰ NHIÊN
(Tình yêu tự nhiên)
Trong buổi trò chuyện về đạo, có một thiếu nữ phàn nàn với tôi rằng mình lấy làm khó mà yêu thương Đức Chúa Trời. Tôi bèn cô hỏi rằng:
-Cô có lấy làm khó mà yêu thương thân mẫu mình không?
Cô mủi lòng rơi lệ, ngước mắt lên đáp:
-Không, tôi không thể không yêu thân mẫu tôi được. Tình yêu thương ấy tự nhiên có.
-Phải đó, khi Đức Thánh Linh nhóm lửa yêu thương trong lòng cô, thì cô không thể không được mà phải yêu thương Đức Chúa Trời. Tình yêu thương ấy tự nhiên có.
-D.L. Moody-
310. VĂN HÓA DO THÁI PHỤC HƯNG LÀ ỨNG NGHIỆM KINH THÁNH
(Người Giu-đa phải biết tiếng mẹ đẻ)
“Bấy giờ ta sẽ ban cho dân một tiếng nói thuần túy” (Sô-phô-ni 3:9 – theo một bản tiếng Anh).
Thầy thông giáo Samuel Bluen Field viết một bài rất có giá trị đăng trong báo New Palestine, luận về người Giu-đa cần phải nói được tiếng mẹ đẻ. Hiện nay tiếng Hê-bơ-rơ đã chiếm phần ưu thế giữa vòng người Giu-đa ở xứ Pa-lét-tin. Có mở lớp dạy tiếng Hê-bơ-rơ trên tàu chở người Giu-đa trở về tổ quốc. Tiếng chết từ mười mấy thế kỷ ấy bây giờ thình lình phục hưng, thật có ý nghĩa tiên tri hệ trọng lắm. Ông Bluen Field nói rằng:
“Những cuộc hội họp mới đây của dân Giu-đa ở khắp thế giới đã bày tỏ số phận thảm khốc của dân ấy: Các đại biểu phải đối phó với những vấn đề quan hệ đến toàn thể quốc dân, nhưng khi hội họp để bàn cách tự vệ và tương trợ, thì họ không thể hiểu nhau. Bao nhiêu thì giờ, sức lực và trí khôn bị cướp mất bởi cái tháp Ba-bên mà họ đem theo từ nước mình kiều ngụ. Trước kia, ông Ahad Haam cảnh cáo dân Giu-đa phải bảo tồn lấy văn hóa Hê-bơ-rơ kẻo lại hóa ra những bộ lạc biệt lập. Ông chẳng ngờ lời cảnh cáo ấy lại được thực hành ngay khi ông còn sống. Quả thật, ta rất cần tiếng Hê-bơ-rơ nếu muốn cứ tiếp xúc với người Giu-đa, nhất là những người ở xứ Pa-lét-tin và miền đông Âu châu. Trong vòng những người nầy, hàng trăm, hàng ngàn bạn nam nữ thanh niên nói tiếng Hê-bơ-rơ và phần nhiều lấy tiếng Hê-bơ-rơ làm môi giới duy nhất để bày tỏ văn chương, triết học và thẩm mỹ học (Esthétique) theo lối kim thời.
“Có những duyên cớ thuộc về tôn giáo, quốc gia, văn hóa và sự tiện lợi bắt buộc người Giu-đa phải cần đến tiếng Hê-bơ-rơ nếu người ấy quan tâm đến số phận của đồng bào. Nhưng ai để ý đến lý tưởng của đạo Giu-đa thì cũng cần biết tiếng Hê-bơ-rơ. Ấy là nhờ tiếng Hê-bơ-rơ làm môi giới mà những lý tưởng đó ngày nay đang được sống lại trong xã hội và trong trường Kinh tế của những người Giu-đa đã trở về xứ Pa-lét-tin trước nhất. Giữa một thế giới nặng trĩu những chiến tranh, thù oán và bất công này, phái thanh niên Giu-đa ở xứ Pa-lét-tin miệng hát bài ca tiếng Hê-bơ-rơ, lòng có đức tin bền vững đương đào tạo thế lực xã hội và kinh tế cốt lại làm cho đạo Giu-đa trở nên một hiện tượng linh động và có ý nghĩa cho dân Giu-đa và cho cả thế giới nữa. Muốn cho dân Giu-đa có thể cứ trung thành với cổ tục về lý tưởng xã hội, thì chúng ta cần phải bảo tồn tiếng Hê-bơ-rơ, và lợi khí bày tỏ rõ ràng những giáo hóa và lý tưởng ấy.
“Đối với các văn sĩ, thì tiếng Hê-bơ-rơ là chìa khóa mở kho văn chương cổ điển ghi chép những sự từng trải và ký ức bí ẩn của một dân tộc tối cổ. Đối với người Giu-đa mộ đạo, thì tiếng Hê-bơ-rơ là tiếng để thờ phượng và để bày tỏ tư tưởng tôn giáo của người Giu-đa. Đối với người Giu-đa có tinh thần quốc gia, thì tiếng Hê-bơ-rơ có thể dùng làm dây liên hiệp dân Giu-đa ở khắp thế giới và làm phương pháp dẫn đến cuộc phục hưng văn hóa Hê-bơ-rơ và chủ nghĩa xã hội duy tâm như xưa kia đã bày tỏ ở xứ Pa-lét-tin, là tổ quốc của dân Giu-đa. Còn đối với toàn thể dân Giu-đa, thì tiếng Hê-bơ-rơ là cái động lực có hiệu nghiệm để phục hưng dân Giu-đa, vì nó ràng buộc họ với quá khứ cùng hiện tại của họ, lại cho họ sau nầy có thể dự vào công cuộc tuyên truyền đời sinh hoạt của dân mình cho thế giới.”
-Prophecy-
311. THANH THIẾU NIÊN DO THÁI HỒI CƯ LÀ ỨNG NGHIỆM KINH THÁNH
(Đem con về nước)
“Các ngươi sẽ ở trong đất mà ta đã ban cho tổ phụ các ngươi” (Ê-xê-chi-ên 36:28).
Có một việc quan trọng hơn hết, tức là người Giu-đa khôn khéo dự bị cho con cái họ trở về cố quốc, vì họ vẫn ước ao một ngày kia sẽ được an cư trên non sông tổ quốc họ. Đương khi chính sách của Hitler phá đổ nền tảng của xã hội Giu-đa, thì người Giu-đa vận động đem bọn thanh niên về xứ Pa-lét-tin. Dầu họ là bậc cha mẹ không thể ra khỏi nước Đức, nhưng ta thấy rõ rằng họ đặt hy vọng vào sự chọn bọn thiếu niên anh tuấn trở về nước.
Bọn thiếu niên Giu-đa cũng nghĩ rằng trở về xứ Pa-lét-tin là phương pháp độc nhất để thoát khỏi chính sách của Đảng quốc gia xã hội Đức. Trên dải đất Pa-lét-tin, họ sẽ cùng cha mẹ (nếu cha mẹ cũng về được) sống trong một đời mới. Các đoàn thể thanh niên Giu-đa lo cổ động phong trào trở về cố quốc; họ được nhiều người hưởng ứng và tán trợ tại các nước Anh, Hòa-lan, Đan-mạch, Thụy-điển, Na-uy, Tiệp-khắc, Finlande, Bulgarie, Yougoslavie và nhiều nước khác ở Âu châu. Ở các nước này, họ đã lập nhiều ban lạc quyên tiền của.
Hiện nay, ở xứ Pa-lét-tin có một làng con nít, đặt tên là Ben Schemen. Trong mười năm vừa qua, người Giu-đa ở nước Anh và nhiều nước Âu châu gởi tiền về giúp làng ấy, lại cũng cho con về ở đó để tập quen cách sinh hoạt tại xứ Pa-lét-tin. Chừng một ngàn con trai, con gái đã từ nước Đức về ở đó, và số ấy càng ngày càng tăng. Họ chẳng những cho con về ở làng Ben Schemen, song cũng cho về ở các địa hạt có trường do người Giu-đa quản đốc.
Mọi việc này há chẳng quan hệ đến các lời tiên tri trong Kinh Thánh? Đức Chúa Trời há chẳng đương xây đắp lại nền móng của nước Giu-đa, theo như Ngài hứa sẽ khôi phục nước ấy trong ngày sau rốt? “Trong ngày đó, ta sẽ dựng lại nhà tạm của Đa-vít, là nhà đã đổ, và tu bổ lại những chỗ rách nát của nó. Ta sẽ dựng lại những nơi đổ nát và xây nó lại như ngày xưa” (A-mốt 9:11).
-Prophecy-
312. GIÚP ĐỠ NGƯỜI GIÀ YẾU, ẮT ĐƯỢC ĐỨC CHÚA TRỜI GIÚP LẠI
(Ngồi cạnh Hoàng hậu)
Người Đức kể một truyện rất hay về một cô bé tên Jeannette đi xem cuộc diễn binh lớn ngày xưa. Hàng mấy ngàn người đứng quanh khán đài có Hoàng đế và Hoàng hậu ngự xem các toán quân diễn qua. Jeannette được ngồi trong khán đài vì là con nhà quí phái, nhưng thấy một bà cụ yếu đuối, lập cập cố ghé mắt xem mà không thấy gì.
Cô bèn nghĩ thầm: “Tôi khỏe mạnh mà ngồi đây, để bà cụ già yếu kia đứng và không thấy gì cả, thì không nên. Tôi phải kính trọng người già cũng như tôi muốn kẻ khác kính trọng tôi khi tôi già vậy.” Nghĩ thế, cô bèn nhường chỗ cho bà cụ, ra đứng trong đám đông.
Cô còn kiễng (nhón) chân cố xem mà chẳng thấy gì, thì một vị cận thần mặc áo giát vàng lách đám đông đến trước mặt cô mà nói rằng:
-Cô bé ơi, Hoàng hậu cho mời cô đến ngồi bên cạnh Người. Cô bé kinh ngạc đứng trước mặt Hoàng hậu, nhưng Hoàng hậu phán rằng:
-Hãy ngồi bên cạnh ta. Ta đã thấy em nhường chỗ cho bà cụ, nên bây giờ em được phép ngồi cạnh ta.
Đức Chúa Trời cũng tôn kính những ai tôn kính tôi tớ Ngài như thế. Đức Chúa Trời lại càng tôn trọng những ai cứu giúp các môn đồ già yếu và nghèo khổ gần đi hết bước đường đời.
313. PHẢI ĐẾN VỚI ÁNH SÁNG ÂN ĐIỂN CÁCH ĐÚNG KỲ
(Ánh đèn cứu mạng)
Sử chép rằng mỗi khi vây thành nào, vua Alexandre le Grand thắp một ngọn đèn, tỏ ý người nào ở trong thành đương bị vây mà chịu đi ra đường khi ánh đèn sáng thì sẽ được giữ vẹn mạng sống. Nếu chẳng ai chịu ra, thì khi đèn tắt và thành vỡ, hết thảy sẽ bị giết.
Từ thập tự giá trồng trên núi Gô-gô-tha, Đức Chúa Trời rọi “sự sáng của thế gian” (Giăng 8:12) Nếu đến cùng Ngài đương khi ánh sáng chói lòa, thì anh em được sống đời đời; nhưng nếu lìa xa ánh sáng, hẳn anh em chẳng còn được Ngài thương xót.
-Gospel Grain-
314. CẦN TIN CHÚA ĐỒNG CÔNG VỚI MÌNH
(Sao không đóng mạnh?)
Một người lùn muốn đóng đinh vào tường để treo bức ảnh. Ông đứng trên ghế, nhưng vẫn chưa với tới chỗ đóng. Vợ bèn kê thêm cái thùng, ông run rẩy đứng lên, giơ búa đóng nhẹ nhẹ. Sốt ruột, vợ hỏi rằng:
-Sao mình không dang thẳng cánh đóng thật mạnh? Đóng thế thì biết bao giờ cho xong?
Chồng đáp:
-Đứng trên chỗ lung lay không chắc chắn như thế này thì ai dám giơ búa đóng thật mạnh? Có mà ngã vỡ sọ.
Dạy ngay thẳng hay dạy rụt rè là do giảng sư hay giáo sư đứng trên nền vững chắc hay không vững chắc. Các tiên tri Hê-bơ-rơ không hề nói rụt rè, ngập ngừng, vì nền của các ông ấy là Đức Chúa Trời toàn năng. Các ông ấy biết trong khi mình nói: “Đức Giê-hô-va phán...” thì thật có Đức Giê-hô-va bên cạnh mình.
-Toronto Globe-
315. ĐỪNG HOÀI NGHI NHƯNG HÃY TIN QUYẾT
(Muốn bằng trời sao?)
Khi còn ít tuổi, Tiến sĩ Talmage có khuynh hướng về thuyết hoài nghi. Một ngày kia, ông hỏi một Mục sư cao tuổi: “Tại sao” lại có việc này, “thể nào” nào lại có việc kia. Cụ Mục sư đáp:
-Này Talmage, anh phải để cho Đức Chúa Trời biết một vài việc mà anh không biết chớ!
Talmage làm theo lời khuyên bảo sâu sắc ấy và tin cậy Chúa, về sau ông giảng đạo cho hàng vạn người.
316. LỜI CỦA GLADSTON XÂY DỰNG CON VỀ SỰ TIN KÍNH VÀ HOẠT ĐỘNG
(Lời danh nhân)
Hãy gắng dung hòa tâm trí con với ý tưởng này: Nếu muốn sống yên vui và làm việc phải lẽ trong thế giới này, cần nhớ rằng nó là cõi hoạt động, chớ không phải cõi ăn nhưng. Nếu con mạnh bạo làm theo ý tưởng đó, nó sẽ thành một phần tử của con, và con sẽ cảm biết mình không bao giờ lại chịu đổi nó lấy bất luận vật gì trong thế gian.
Càng lớn lên, con sẽ càng thấy cõi đời đầy dẫy cơ hội tốt, sẽ càng hiểu rằng nếu không gặp cơ hội, chẳng qua lỗi tại chúng ta. Đương khi sống động, ta thật ngã lòng vì không đủ sức làm trọn các bổn phận vây mình bốn phía. Nhưng có liều thuốc hiệu
nghiệm, có phương pháp yên ủi: Ấy là ta chẳng buộc phải làm việc gì quá sức mình, và nếu buộc phải làm quá sức, thì đã sẵn có ơn cứu trợ toàn năng của Đức Chúa Trời.
Hãy nhận Đức Chúa Trời làm thiết hữu của mình. Hãy nhớ rằng chẳng khi nào Ngài không nghe rõ và không đáp lại tiếng ta than thở cùng Ngài.
(Trích dịch một bức thơ của Gladstone, chính khách trứ danh nước Anh về thế kỷ thứ 19, gởi cho con).
317. LÀM THEO LỜI CHÚA, ẮT KHỎI CHẾT MẤT
(Được khỏi chết vì làm theo lời)
Lịch sử chép chuyện mấy thế kỷ trước, có một người bị kết án tử hình. Lúc người đến đoạn đầu đài, ông Hoàng kiêm chức giám trảm quan hỏi rằng:
-Nếu ngươi xin ơn nào mà ta có thể ban, thì ta sẽ ban.
-Tôi chỉ xin một ly (cốc) nước.
Quân đao phủ đi lấy cho hắn một ly to đầy nước, nhưng tay hắn run rẩy đến nỗi hắn không sao uống được. Ông Hoàng nói:
-Ví bằng ngươi chưa uống nước, ắt mạng sống ngươi vẫn được vô sự.
Làm theo lời ông Hoàng, hắn đổ nước xuống đất. Họ không bốc nước được, nên hắn khỏi chết. Hỡi bạn hữu, hiện nay anh em có thể được cứu bởi làm theo lời Đức Chúa Trời. Ngài ban nước hằng sống cho “Kẻ nào muốn” (Khải-huyền 22:17). Hãy nhận
lãnh để được sống.
318. NHỜ DANH ĐẤNG CHRIST ĐƯỢC CỨU CHUỘC VÀ QUÍ MẾN
(“Vì cớ Charlie”)
Cách đây mấy năm, tại một Hội-đồng của Hội Thánh, một quan tòa niên trưởng nghe giảng về khi cầu nguyện tín đồ nói: “Vì cớ Đấng Christ” hoặc “nhân danh Đức Chúa Jesus”, là để xin quyền lực cao cả giúp đỡ mình. Ông bèn thuật một chuyện mà tôi rất cảm động:
“Trong hồi chiến tranh, con trai một của tôi tòng quân nên tôi đột nhiên thương mến binh sĩ. Người lính nào đi qua nhà cũng khiến tôi tưởng nhớ con trai tôi và tôi có thể thấy con trai tôi trong người lính ấy. Mỗi khi có người lính bịnh hoạn tới thành Columbus là nơi tôi ở, và thấy người yếu mỏi đến nỗi không đi được, tôi bèn cho đặt người lên xe, chở đến binh sĩ quán dịch.
“Chẳng bao lâu tôi quản đốc binh sĩ quán dịch tại thành Columbus; hàng ngày tôi tới đó, ở suốt mấy giờ, săc sóc binh sĩ và xem xét họ có được đủ mọi thứ cần dùng chăng.
“Một bữa, tôi nói với nhà tôi rằng:
-Hiện nay tôi mất nhiều thì giờ để săn sóc binh sĩ. Tôi phải nghỉ việc ấy. Có một việc trong tòa án, tôi còn phải lo. Buổi mai nay, tôi sẽ đến phòng giấy, nhất định từ rày tôi sẽ không lo cho binh sĩ nữa.
“Tôi đến bàn giấy, bắt đầu viết. Chẳng mấy chốc, cửa mở toang, tôi thấy một người lính chống nạng thong thả bước vào. Vừa thấy chàng, tôi liền đứng đậy. Chàng lục trong túi áo móc ra một tờ giấy đã cũ nát, bẩn thỉu. Tôi nhận biết chính là chữ của con trai tôi. Thơ rằng:
“Thưa cha yêu dấu. - Chàng thiếu niên này thuộc trong cơ ngũ của con. Chàng mất một ống chân và sức khoẻ đương khi binh vực tổ quốc. Bây giờ chàng về nhà gặp mặt mẹ, rồi chết. Nếu chàng đến thăm cha, xin cha tiếp rước chàng tử tế vì cớ Charlie.”
“Vì cớ Charlie.” Đọc tới mấy chữ đó, lòng tôi bỗng chịu cảm động. Tôi liền bảo đánh xe đến, ôm xốc người lính què lên, cho chở về nhà, đặt chàng nằm trong phòng của Charlie; sai người đi mời thầy thuốc vẫn chữa cho gia quyến tôi. Tôi đối đãi chàng như con trai mình vậy.
Khi chàng đủ sức đi xe lửa về nhà với mẹ, tôi đưa chàng ra ga, để chàng ngồi chỗ êm và tốt nhất toa xe. Tôi tiễn chàng lên đường và làm mọi việc đó vì cớ Charlie.”
Hỡi bạn hữu, không cứ anh em làm việc gì, hãy làm vì cớ Đức Chúa Jesus. Hãy làm và xin mọi sự nhân danh “Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi.” (Ga-la-ti 2:21)
-D. L. Moody-
319. TÍN ĐỒ TRƯỞNG THÀNH PHẢI TÔN CAO CHÚA
(Dấu hiệu thành nhân)
Tấn sĩ Bonar tuyên bố rằng mình có thể nói đúng khi nào tín đồ lớn lên. Họ càng lớn lên trong ân điển, thì càng tôn cao Chúa, càng nói ít về mình đã làm gì, càng hạ mình cho đến nỗi biến mất như sao mai biến mất trước mặt trời mới mọc. Giô-na-than muốn hạ mình xuống ngõ hầu Đa-vít có thể dấy lên. Ông Giăng Báp-tít cũng bày tỏ tinh thần khiêm tốn đó.
-D. L. Moody-
320. NÓI VỚI CHÚA NHIỀU, ẮT ÍT KỂ LỂ VỚI NGƯỜI
(Khi Luther nghĩ)
Gặp ai cũng kể lể sự đau đớn, lo lắng, chính là vì ít kể lể với Đức Chúa Trời.
Trái lại, người thường được yên ủi, nâng đỡ vì dốc đổ nỗi lòng trước mặt Chúa, ắt không thấy mình cần phải nhờ cậy loài người.
Tôi đám chắc rằng kể lể sự đau thương của mình với người khác thì chẳng những không giảm bớt mà lại còn cay đắng thêm. Ai dự bị sẵn sàng để mỗi ngày gặp một cơn thử thách thì có khi suốt một ngày chẳng gặp một cơn thử thách nào; mà nếu có gặp, cũng sẵn sàng chiến thắng.
321. CHA TRÊN TRỜI HẰNG SĂN SÓC CON CÁI NGÀI
(“Cha chúng tôi ở trên trời”)
Đức Chúa Trời phán lời lạ lùng này: “Các bước đi và tóc trên đầu con đã đếm cả rồi.” Ta không thể hiểu như thế, song ta tin như thế vì Kinh Thánh không bao giờ bị lay đổ. Đức Chúa Cha săn sóc chúng tôi, mang gánh nặng của chúng tôi. Bất luận sự gì xảy đến, Ngài vẫn đứng cạnh chúng tôi. Suốt đêm Ngài thức canh trong khi chúng tôi ngủ.
Ơn phước của Đức Chúa Trời nhiều biết bao, vây phủ chúng tôi không sao kể siết! Ngài cho chúng tôi vật báu khiến lòng chúng tôi vui thích. Lòng thương xót của Ngài đối với chúng tôi thật vô hạn vô lượng. Dầu bè bạn lìa xa và hoạn nạn dồi dập, nhưng Đức Chúa Trời yên ủi chúng tôi trong cơn buồn thảm. Ngài ban phước cho chúng tôi, khiến chúng tôi yên tâm và bổ sức lại, và mai đây Ngài đổi mọi sự ra sáng sủa.
Phước thay cho ai làm con một Cha từ ái như thế! Lời hứa của Ngài không khi nào sai. Đức Chúa Trời vẫn ban ơn yêu thương và tha thứ, Ngài không hề lìa bỏ chúng tôi, hoặc để chúng tôi ở một mình. Cám ơn Ngài vô cùng.
-Samuel Stevenson-
322. XÂY DỰNG ĐỜI NGƯỜI THÌ LÂU. HỦY DIỆT THÌ MAU LẸ
(Trong một ngày)
Thành La-mã không xây xong trong một ngày, phải có mấy mươi năm kiến trúc. Nhưng khi lửa trời đổ xuống, thành La-mã bị hủy diệt trong một ngày.
Cây dẻ bộp không mọc lên to lớn trong một ngày, phải mấy mươi năm mới được như thế. Nhưng khi lưỡi rìu của gã tiều phu bổ vào, thì cây đẻ bộp bị hủy diệt trong một ngày. Đời ta không được nắn đúc trong một ngày, phải mất bao nhiêu năm luyện tập và thử rèn mới được như thế. Nhưng khi lòng ta lầm lạc rồi, thì đời ta bị hủy diệt trong một ngày.
-Gospel Herald-
323. PHẢI ĐỌC SÁCH VỞ CỦA HỘI THÁNH
(Thưa, chính thế)
Một tác giả vô danh có luận về ảnh hưởng do sách vở của Hội Thánh. Ông rằng:
-Nếu anh không đọc, thì anh không biết.
-Nếu anh không biết, thì anh không lo.
-Nếu anh không lo, thì anh không dâng.
-Nếu anh không dâng, thì anh không nhận lãnh.
-Nếu anh không nhận lãnh, thì anh không thành công.
-Nếu anh không thành công, thì tốt hơn là anh đọc.
-Gospel Banner-
324. THÚC GIỤC LÌA BỎ BẠN XẤU, TRỞ VỀ VỚI GIA ĐÌNH
(Ăn có ngon không?)
Một bà bước vào quán rượu bình tĩnh tiến đến trước mặt chồng mình đương ngồi uống rượu vời ba người khác. Bà nói rằng:
-Tôi tưởng mình bận quá, không thể về nhà ăn cơm tối, nên phải đem đến đây cho mình.
Rồi bà ra về. Chồng bà phá lên cười thô tục và mời bạn cùng ăn với mình. Ông mở nắp lên, té ra chỉ có dĩa không, chớ chẳng có món ăn gì cả. Trên dĩa có tờ giấy ghi mấy câu này: “Tôi mong rằng mình ăn ngon miệng. Vợ con mình ở nhà cũng ăn thế.”
325. TÁNH XẤU ĐƯA ĐẾN SỰ BỘI ĐẠO
(Tại sao tôi bội đạo?)
Vì tôi xao lãng không ăn bánh hằng sống.
Vì tôi đem thân đến cửa quân thù, ra chiến trường mà không có khí giới.
Vì tôi không dọn đường thiêng liêng cho sạch.
Vì tôi không nghe, không cẩn thận làm theo, không vâng giữ các điều răn và không đi trong đường lối Ngài.
Vì tôi không quay mặt đi cho khỏi nhìn xem những sự hư ảo.
Vì tôi nghe lời Chúa rồi quên bẵng. Tôi soi gương của Đức Chúa Trời rồi đi thẳng, quên ngay mình là thế nào.
Vì tồi quên mình mang hình ảnh của Đấng nào, quên mình là con của vua cao cả, -Ngài vẫn nhờ tôi nâng cao phẩm giá của Ngài.
-E.U.P.S.-
326. DUYÊN CỚ QUAN TÂM ĐẾN TRẺ CON
(Con trẻ là gì?)
Con trẻ là kẻ sẽ làm tiếp công việc anh em đã bắt đầu.
Con trẻ sẽ ngồi chính chỗ anh em đương ngồi, và khi anh em đi khỏi thì nó sẽ chăm lo những công việc mà anh em tưởng là hệ trọng biết bao!
Anh em muốn theo chính sách sách nào tùy ý, nhưng thi hành chính sách ấy cách nào ấy là tùy theo con trẻ. Nếu anh em lập hội liên minh và ký điều ước, thì cũng là con trẻ sẽ đứng lên chủ trương.
Con trẻ sẽ ngồi vào chỗ của anh em trong Thượng nghị viện và Tối cao pháp viện.
Con trẻ sẽ cầm quyền cai quản các thành phố, các quận huyện và cả nước của anh em.
Con trẻ sẽ chiếm cứ và hoạt động trong hết thảy nhà tù, nhà thờ, nhà trường và nghiệp đoàn của anh em.
Con trẻ sẽ đoán xét hết cả công việc của anh em, sẽ khen hoặc chê.
Danh dự và tương lai của anh em ở trong tay con trẻ.
Việc gì anh em làm cũng là vì con trẻ; nó nắm hết vận mạng của quốc gia và nhân loại trong tay.
327. ĐẤNG CHRIST CẦN DÙNG MÔI MIỆNG, TAY CHÂN TA
(Ta thay Chúa ngày nay)
Ngày nay Đấng Christ không có bàn tay nào khác ngoài ra bàn tay chúng ta để làm công việc Ngài.
Ngày nay Đấng Christ không có bàn chân nào khác ngoài ra bàn chân chúng ta để dẫn loài người di trong đường lối Ngài.
Ngày nay Đấng Christ không có miệng lưỡi nào khác ngoài ra miệng lưỡi chúng ta để bảo cho loài người biết rằng Ngài đã chịu chết vì họ.
Ngày nay Đấng Christ không có sự cứu giúp nào khác ngoài ra sự cứu giúp của chúng ta để đưa loài người đến bên cạnh Ngài.
328. TRUNG TÍN LÀM VIỆC CHÚA ẮT ĐƯỢC PHẦN THƯỞNG QUÍ BÁU
(Vì lòng trung tín)
Trong châu thành kia có một kho thuốc súng thật lớn. Trước cửa có một tấm bảng đề chữ “Cấm hút thuốc” và có một anh lính giữ cửa ấy.
Hôm ấy có một sĩ quan đi xem xét cả thành. Ông đi vào cửa kho thuốc súng này. Anh lính gác giơ tay cản lại không cho vào, vì ông kẹp điếu xì-gà. Ông cứ bước vào, không kể đến anh. Anh sẽ vì bội tinh đỏ chói của ông mà nín đi không? Không! Anh vừa giơ tay chỉ tấm bảng và và nói:
-Thưa, có lịnh cấm hút thuốc.
Viên sĩ quan cứ tiến vào. Anh bước tới và gạt điếu thuốc khỏi tay ông. Ông dừng lại, trợn mắt và hỏi:
-Anh tên chi? Họ chi? Ở đâu?
Bấy giờ anh lính dường như có sự hối hận và lo lắng lắm. Nhưng có một tia hi vọng làm cho anh vững lòng. Ấy là dầu vì phận sự mà anh phải bị đuổi ra và thất nghiệp, vợ con anh phải chết đói đi nữa, anh cũng vẫn vui lòng luôn, miễn làm trọn phận sự là được rồi. Trọn ngày ấy anh vẫn lo buồn, không biết rồi sẽ ra sao.
Chiều ấy có một tờ trát đem đến cho anh. Run lập cập anh cầm tờ giấy, đọc không ra chữ. Trát đòi anh đến dinh quan võ. Bấy giờ trí anh như tơ vò. Đến đây rồi bị đuổi, vợ con anh sẽ lấy chi nuôi sống? Cả ý tưởng ấy vẩn vơ trong trí anh. Đi đến nơi mà anh không hay. Kìa, quan võ gọi tên anh. Vui biết bao cho anh. Quan bước lại, vỗ vai anh, cười và bảo rằng:
-Anh thật trung tín, tôi khen anh, chớ sợ. Hãy đến, tôi giao cho anh coi sóc kho bạc thế cho tôi. Hỡi anh trung tín trong việc nhỏ, tôi tin anh nơi việc lớn. Hãy làm trọn bổn phận như trước!
Anh lính vui lắm, vì từ địa vị lính thấp thỏi mà nhờ lòng trung thành anh được bước lên địa đia vị sang hơn nhiều, là làm quản lý tài chính.
Xin xem Ma-thi-ơ 25:21. Chúng ta cũng vậy, nên hết lòng lo công việc Đức Chúa Trời cách thành thật, sốt sắng và trung tín, thì đến ngày Chúa tái lâm, chúng ta sẽ cùng nhau đều được cất lên với Chúa giữa nơi không trung hưởng sự vui mừng và lãnh mão miện vinh hiển.
-N. T. V.-
329. THÚC GIỤC LÌA BỎ ĐƯỜNG XẤU ĐỂ TRỞ VỀ VỚI GIA ĐÌNH TIN KÍNH
(Thiên đàng có ốc không?)
Có người thuật truyện ngụ ngôn về con dang và con sếu. Con dang mỹ miều đậu ở bên ao, là nơi chim sếu đang lội để mò ốc. Sếu nhìn dang một lúc bằng cặp mắt lạ lùng, bỡ ngỡ, rồi hỏi:
-Anh ở đâu đến?
-Tôi từ thiên đàng xuống đây. Dang đáp.
-Thiên đàng ở đâu?
-Thiên đàng! Thiên đàng! Anh không hề nghe nói về Thiên đàng sao?
Đoạn, con chim mỹ miều bắt đầu giải tỏ vẻ cao sang của thành phố đời đời. Nào đường bằng vàng, cửa và vách làm bằng đá quí, nào sông nước sống trong như pha-lê, trên bờ mọc cây trổ lá chữa lành muôn dân. Dang dùng những danh từ hùng hồn, cố mô tả những người ở thượng giới, nhưng chẳng gợi cho Sếu ham thích nơi ấy chút nào. Rốt cuộc Sếu hỏi:
-Thiên đàng có ốc không?
-Ốc à! Không! Chắc hẳn không có.
Cứ mò mẫm theo dọc bờ ao bùn lầy, Sếu nói:
-Vậy anh cứ ở thiên đàng. Tôi muốn ăn ốc!
Truyện cổ tích này bao hàm một chân lý sâu nhiệm. Biết bao bạn thanh niên được Đức Chúa Trời ban đặc ân, là có một gia đình theo đạo Tin Lành. Nhưng họ xây lưng bỏ gia đình, đi tìm ốc. Biết bao bậc nam nhi hi sinh vợ con, nhà cửa và hết trảy mọi sự để được ỐC tội lỗi. Biết bao khách quần thoa cương quyết xây bỏ tình yêu thương của cha mẹ và của gia đình để đến lúc quá muộn mới học biết rằng mình vì ỐC mà mất thiên đàng.
-D. L. Moody-
330. BỎ ĐƯỜNG LỐI RIÊNG, THUẬN PHỤC Ý CHÚA
(Ngưng thần suy gẫm)
Chớ xen vào các phương lược và ý chỉ Đức Chúa Trời, kẻo làm hư hỏng công việc Ngài. Anh em có thể quay kim đồng hồ theo ý mình thích, nhưng không thể thay đổi được thì giờ. Cũng vậy anh em có thể lo cho ý chỉ Đức Chúa Trời mau được nên nhưng thật ra lại làm hại chớ không giúp đỡ công việc Ngài. Anh em có thể mở bét nụ hường, nhưng sẽ làm hại cái hoa. Hãy trao mọi sự cho Ngài. Bỏ tay xuống! Xin theo ý Chúa, chớ không theo ý tôi!
-Gospel Grain-
331. ĐƠN SƠ
Đơn sơ không phải là ngu dốt hoặc dại dột; nhưng người đơn sơ có thể thâu thập nhiều sự hiểu biết, giao tiếp với lắm bậc anh tài và cả đến bậc thiên tài nữa. Đơn sơ cần yếu cho tâm thần cũng như tiết độ cho tánh nết. Đơn sơ là phương tiết kiệm khôn khéo trong cách tiêu dùng tài sản.
-Luther-
332. CẦN CHỌN SÁCH TỐT KHI ĐỌC
Loài người không thở dài mỗi khi nhớ lại một cuốn sách đã đọc vừa mất thì giờ, vừa hại linh hồn. Họ phải chịu nhọc nhằn lắm mới gột rửa được linh hồn khỏi những xấu xa in sâu bởi các sách ấy.
-Luther-
Chớ hề hổ thẹn khi xưng các lỗi lầm, vì đó là cách tỏ ra mình khôn ngoan hơn bữa qua.
333. CẦN TIN NHẬN CHÚA JESUS NGAY
(Linh hồn bạn bình an chăng?)
“Trong buổi còn thơ ấu hãy tưởng nhớ Đấng Tạo hóa ngươi, trước khi những ngày gian nan chưa đến, trước khi những năm tới mà ngươi nói rằng: Ta không lấy làm vui lòng!” (Truyền-đạo 12:1).
Hỡi người già cả, kẻ trai trẻ có thể chết; nhưng cụ phải chết. Hỡi kẻ trai trẻ, mỗi lần từ chối Đấng Christ thì lại khó tiếp nhận Ngài hơn, và mỗi năm bạn thêm một tuổi thì lại càng ít người cùng tuổi với bạn được cứu rỗi linh hồn.
Sau hai mươi năm thi hành chức vụ, một vị Mục sư theo tuổi mà liệt kê số người mình đã dắt đem trở về cùng Cứu Chúa như sau này: 305 người chưa đến 30 tuổi; 38 người từ 30 đến 40; 22 người từ 40 đến 50 tuổi; 8 người từ 50 đến 60 tuổi; 3 người từ 60 đến 70; 3 người từ 70 đến 80 tuổi; 1 người từ 80 đến 90 tuổi.
Mỗi năm hi vọng của anh em càng yếu đi, và tình cảnh anh em lại càng tuyệt vọng. Nghiêm trọng thay khi đáp rằng: “Ngày mai” và Đức Chúa Trời truyền: “Ngày nay!” vì có lẽ “Ngày mai” của loài người và “Ngày nay” của Đức Chúa Trời không hề gặp nhau. Từ ngôi Đức Chúa Trời phát ra một mạng lịnh rằng: “Hãy ăn năn và tin theo Đức Chúa Jesus ngay bây giờ để được cứu rỗi!” Số phận loài người nhất định tùy theo sự lựa chọn của họ.
Một Mục sư nói rằng: “Suốt đời làm chức vụ, tôi chỉ nghe có ba người quá năm chục tuổi hỏi câu: “Tôi phải làm chi cho được cứu rỗi?” Phần nhiều được cứu khi còn trẻ tuổi.”
Tiến sĩ Spencer xem xét một ngàn người tin theo Đấng Christ và thấy: 556 người tin trước khi 20 tuổi; 337 người tin trước khi 30 tuổi; 86 người tin trước khi 40 tuổi; 15 người tin trước khi 50 tuổi; 5 người tin trước khi 60 tuổi; 1 người tin trước khi 70 tuổi.
Đức Chúa Jesus ở đây, anh em nhận hay chối Ngài?
B. “Prophecy”
334. KIÊN NHẪN ĐEM LẠI SỰ ĐẮC THẮNG
(Nhìn nhện giăng tơ)
Ngày xưa, Robert Bruce, vua xứ Tô Cách Lan, phải trốn khỏi quân thù. Mòn mỏi và thất vọng, ông ẩn mình trong hang giữa một khu rừng. Ông muốn cứu tổ quốc thoát tay quân thù, nhưng đánh trận nào, thua trận ấy. Quân lính của ông bị giết, bi thương, hoặc phải trốn tránh. Ông nói rằng:
-Đánh nữa chỉ vô ích. Kẻ thù của ta quá mạnh!
Chính lúc đó ông thấy một con nhện giăng tơ giữa hai vầng đá. Nó cột một đầu tơ vào một vầng đá, rồi quăng mình qua vầng đá bên kia, nhưng lần nào cũng không tới. Ông ngồi xem nó lâu lắm, và muốn biết nó còn thử làm việc ấy bao lâu. Con nhện thử làm và hỏng việc bảy lần. Robert Bruce bèn nói một mình rằng:
-Ngươi là con nhện kiên nhẫn và can đảm lắm. Nếu ngươi thử giăng một lần nữa và giăng được, thì ta cũng sẽ đem quân giao chiến nữa.
Thì kia, con nhện lại quăng mình, và lần này nó tới vầng đá bên kia mà cột đầu tơ vào. Bruce nói lớn:
-Hỡi con nhện bé nhỏ, ta cám ơn ngươi vì bài học quí báu này. Ta sẽ thử cứu xứ Tô Cách Lan một lần nữa!
Vậy vua lại kéo quân ra trận. Họ giao chiến hăng hái hết sức, thắng trận và cứu được tổ quốc.
Sứ đồ Phao-lô cũng dạy chúng ta rằng: “Hãy vui mừng trong sự trông cậy, nhịn nhục trong sự hoạn nạn, bền lòng mà cầu nguyện. Hãy vì đức tin mà đánh trận tốt lành” (Rô-ma 12:12; ITi-mô-thê 6:12).
335. LÀM ĐƯỢC VIỆC LÀNH QUAN TRỌNG DO BIẾT TIẾT KIỆM TRONG VIỆC NHỎ
(Hà tiện hay tiết kiệm?)
Ngày kia, một nữ thuộc viên hội từ thiện đương bước lên lầu để vào quyên tiền, thì nghe bà chủ nhà mắng đầy tớ gái rằng:
-Chị lại đốt phí một que diêm rồi đấy! Nữ thuộc viên hội từ thiện bèn suy nghĩ thầm rằng mình sẽ quyên được rất ít. Tuy vậy, bà cũng bấm chuông; cửa mở ra, bà chủ nhà tươi cười nói rằng:
-Thưa bà, chắc bà mới nghe tôi mắng đầy tớ; nhưng nếu tôi chẳng suốt đời tiết kiệm từng que diêm, thì ngày nay đâu có năm trăm quan tiền mà quyên giúp hội từ thiện.
336. CỐ CHỐNG CỰ SA-TAN MỚI BIẾT SA-TAN LÀ THỰC HỮU
(Có quỉ Sa-tan không?)
Có người đến thăm Finney, nhà Truyền đạo trứ danh mà nói rằng:
-Ông phải biết, tôi không tin có quỉ Sa-tan.
-Thật à! Finney đáp. Này, ông hãy thử chống cự nó một lúc ắt sẽ tin rằng thật có nó.
337. CHÚA YÊU TA CÁCH TRỌN VẸN
(Đấng Christ yêu thương ta)
Một ông Mục sư trung thành, đạo đức, đương đau nặng. Anh em tín đồ quì cạnh giường bệnh, cầu xin Chúa cứa chữa ông. Họ nhắc với Chúa rằng ông chăm nom bầy chiên của Ngài rất tận tâm, và họ cứ lặp đi lặp lại mấy chữ: “Chúa biết rằng ông Mục sư yêu mến Ngài biết bao?”
Nghe vậy, ông Mục sư bèn xây qua phía họ mà nói rằng:
-Xin anh em đừng cầu nguyện thế. Khi Ma-ri và Ma-thê sai người đi mời Đức Chúa Jesus, thì họ không nói: “Lạy Chúa, này, kẻ yêu Chúa”, nhưng nói: “Lạy Chúa, này, kẻ Chúa yêu mắc bệnh.” Tôi được yên ủi chẳng phải vì tôi yêu Chúa cách bất toàn, nhưng chính vì Chúa yêu tôi cách trọn vẹn.
-Church of Christ Advocate-
338. TIN LỜI BỀN VỮNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI THÌ ĐƯỢC BÌNH AN
(Hai hạng người, hai tâm trạng khác hẳn)
Lo lắng và sầu não, thế giới tự hỏi: “Có gì ở đằng trước kia? Chúng ta đi đâu đây? Bao giờ tận thế? Hòa bình hay chiến tranh? Thạnh vượng hay khốn cùng? Trên sân khấu sẽ diễn tiếp cảnh nào?” Người đời không biết quay về đâu. Các nước bối rối, phần đông chính khách giữ một thái độ hoài nghi. Đối với kẻ ham mến thế gian, tương lai bị phủ bằng bức màn hắc ám. Người đời tin chắc rằng ngay trước mặt mình có một tai họa kinh khiếp, và tự hỏi phải chăng vực sâu đã mở rộng thả ra muôn vàn quỉ sứ đi làm hại từng nước và từng người một? Song, chúng ta, là môn đồ Đấng Christ, tìm được câu giải đáp trong lời bền vững của Đức Chúa Trời: “Chừng nào các việc đó khởi xảy đến, hãy đứng thẳng lên, ngước đầu lên, vì sự giải cứu của các ngươi gần tới” (Lu-ca 21:28). Chẳng những nói như Đa-vít: “Trong ngày sợ hãi, tôi sẽ để lòng nhờ cậy nơi Chúa” (Thi-thiên 56:3), chúng ta còn phải quả quyết như Ê-sai rằng: “Tôi sẽ tin cậy và không sợ hãi” (12:2). Vui mừng và tin cậy như thế vì biết ý chỉ Đức Chúa Trời sẽ được hoàn toàn thành tựu, chúng ta sẽ có linh lực lôi kéo người đời đương run rẩy sợ sệt trở về cùng Ngài.
-T.K.B.-
339. TIN CHÚA JESUS THÌ ĐƯỢC VUI MỪNG KHÔN XIẾT
(Nghĩa địa cùng khắp)
Thế giới chúng ta đương trải qua đây là một trũng bóng chết, một nghĩa địa thật. Số người chôn dưới đất gấp mấy mươi lần số người đương sống trên đất. Phải gọi địa cầu là “đất của những kẻ chết” chớ không phải “đất của những kẻ sống.” Mỗi ngày có chừng mười vạn người chết. Họ vừa mới sống trên đất đó thì đã bị chôn vùi dưới đất rồi.
Hỡi độc giả yêu quí, nếu suy nghĩ nghiêm trang về tình hình này, bạn tưởng rằng người chưa được cứu linh hồn, chưa được hi vọng trong đời sau, có thể vui cười không? Nghĩa
địa, kẻ chết, kẻ hấp hối ở chung quanh người ấy. Nếu người ấy vui cười được há chẳng phải như con trẻ cười đùa trong một đám tang?
Nếu bạn chưa được cứu linh hồn và lại biết mình đang ở trong vòng nguy hiểm kinh khiếp, thì chỉ Đức Chúa Trời có thể khiến bạn vui mừng, hớn hở đời này, đời sau. Bạn hãy tin theo Đức Chúa Jesus Christ, là Đấng đã đổ huyết chuộc hết tội của bạn, thì đời này và đời sau của bạn sẽ là một khúc hát vui mừng khôn xiết.
-T.S.S.V.-
340. “HÃY” TỈNH THỨC, VÌ CHÚA ĐẾN THÌNH LÌNH
(Nếu hôm nay...)
Ngày kia có một nhà du lịch dừng chân trước một biệt thự rất lộng lẫy trên bờ một cái hồ trong xanh ở nước Thụy-sĩ, nhưng không phải trên đường mà những người vãn cảnh thường qua lại.
Nhà du lịch gõ vào hàng rào sắt, tức thì có một ông cụ cai vườn ra mở cái cổng nặng nề vẫn đóng chặt. Sung sướng vì được thấy một tân khách, cụ cho ông xem cả khu vườn lớn rộng. Vị khách hỏi:
-Cụ ở đây bao lâu rồi?
-Thưa ông, tôi ở đây đã được hai mươi bốn năm.
-Chủ của cụ ít khi ở trong biệt thự này, có phải không? Cụ đã trông thấy ông mấy lần rồi?
-Tôi đã trông thấy ông bốn lần. Lần cuối cùng cách đây đã mười hai năm.
-Ông có viết thư cho cụ chăng?
-Chẳng bao giờ.
-Thế ai trả công cho cụ?
-Người quản gia của ông.
-Thế người quản gia này có năng đến đây chăng?
-Tôi chưa hề thấy mặt ông. Ông ấy luôn giao thiệp với tôi bằng thư từ.
-Thế thì ai hưởng sự đẹp đẽ này?
-Trừ ra vợ tôi và tôi thì không ai hưởng hết.
-Tuy vậy, cụ coi sóc vườn này; sân hoa này, bãi cỏ này một cách chu đáo, dường thư ngày mai chủ của cụ sẽ đến.
-Ồ! Thưa ông, tôi làm như chủ tôi phải đến ngày hôm nay, vâng, thưa ông, ngày hôm nay!
Đó là tinh thần ta phải noi theo để dự bị tiếp bước chủ Thiên Thượng của chúng ta. “Vậy, hãy tỉnh thức, vì các người không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến.”
-N.D.H-
341. HUYẾT CHÚA RỬA SẠCH HẾT MỌI TỘI TA
(Còn tội nữa không?)
Một bà kia ở thành Dundce, xứ Tô Cách Lan, trước kia vốn là người hư thân mất nết, gian ác, xấu xa, nhưng đã nhờ tin theo Đấng Christ mà được cứu rỗi. Bà đi làm chứng về ơn Chúa và gặp một người cậy sự công bình của mình. Nghe bà bày tỏ ân điển của Chúa, người kia chế nhạo rằng:
-Bà còn nhớ những năm vừa qua, bà làm gì không?
-Nhớ chớ, bà đáp. Chắc bà không biết phân nửa tội ác của tôi. Tôi xấu xa đến nỗi bà hoặc người khác không thể biết hết. Nhưng bà đã quên một điều: “Huyết của Chúa Jesus làm sạch mọi tội chúng ta.” Như vậy, thì còn chi nữa?
-Glad Tidings-
342. SỰ CAO QUÍ CỦA ĐẤNG CHRIST
(Đấng Christ có cao quí không?)
Mỗi năm một lần chúng ta cung kính và vui mừng giữ lễ Đấng Christ giáng sanh, chắc làm cho nhiều người chưa từng biết Ngài phải tự hỏi rằng: “Con người thợ mộc Giô-sép sanh trong máng cỏ thấp hèn, sống cuộc đời giản dị làm bạn với phái bình dân và kẻ hèn hạ đó có gì cao quí không mà muôn triệu người sùng bái như vậy?” Tôi đáp:
- Quả thật, Đấng Christ cao quí theo nhiều phương diện, xin kể ra như sau:
NGÀI CAO QUÍ VÌ CỚ VẺ ĐẸP CỦA NGÀI
- Quả thật, Ê-sai 53:2-3 chép rằng: “Ngài không có hình dung, chẳng có sự đẹp đẽ, khi chúng ta thấy Ngài, không có sự tốt đẹp cho chúng ta ưa thích được. Ngài đã bị người khinh dể và chán bỏ...” Chúng ta hãy nhớ rằng vì cớ Ngài gánh vác tội lỗi chúng ta nên ngoại diện không bày tỏ vẻ tốt đẹp của Ngài cho thế gian thấy. Cái áo choàng tôi tớ đã che khuất vẻ đẹp ấy. Nhưng không kể thực sự ấy, Ngài vẫn được tuyên bố “là Hoa hồng của trũng, là Hoa Huệ của Sa-rôn, là Đấng đẹp đẽ trọn vẹn.”
NGÀI CAO QUÍ VÌ HỮU ÍCH
- Trong đời này có nhiều sự nhu yếu, như nước uống, cơm ăn, áo mặc, tự do, ánh sáng, khí trời v.v... Không có những nhu yếu ấy, thì không ai sống được. Những vật ấy cần cho ta trong cõi vật chất thể nào, thì Đấng Christ cũng cần cho ta trong cõi thiêng liêng thể ấy. Quả thật, Ngài là “Bánh hằng sống.” Khi mọi sự khác không làm cho thỏa mãn, thì Đấng Christ làm cho thỏa mãn. Ngài cũng là “Nước hằng sống.” Nói chuyện với người đàn bà Sa-ma-ri, Ngài phán rằng: “Phàm ai uống nước Ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước Ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời” (Giăng 4:15). Ngài cũng hữu ích vì là Đấng giải phóng. Một mình Ngài cỏ thể bẻ xiềng tội lỗi và buông tha kẻ bị giam cầm. Ngài sẽ thi ân ấy cho mọi người kêu cầu Ngài – “Nếu Con buông tha các người, các người sẽ thật được tự do.” Sách Giăng 10:9 cũng chép rằng Ngài là cái cửa – “Ta là cái cửa: nếu ai bởi Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi; họ sẽ vào ra và gặp đồng cỏ.”
Trong sách Giăng đoạn 8:12 Đức Chúa Jesus cũng phán rằng: “Ta là sự sáng của thế gian.” Quả thật, Ngài là ánh sáng chói lòa. Ngài đã đổ ánh sáng trên tội lỗi, sự đau khổ, sự thất bại và sự chết, cũng tỏ cho chúng ta biết phải đối phó với những trạng huống ấy thể nào. Hỡi bạn, đối với bạn phải chăng Đấng Christ đã là bánh và nước hằng sống, là Đấng giải phóng, là cái cửa và là ánh sáng đời đời?
NGÀI CAO QUÍ VÌ LÀ ĐẤNG TRUNG BẢO ĐỘC NHẤT GIỮA ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ LOÀI NGƯỜI
-Trong đời này có nhiều vật quí báu vì hiếm có, tỉ như quang tuyến, ngọc, đồ cổ, tiền cổ, v.v... Chúa và thầy của chúng ta quí giá hơn hết tiền tài và châu báu vì Ngài là Cứu Chúa độc nhất, ngoài Ngài không còn ai nữa. Các sứ đồ và muôn triệu tín đồ xưa nay công nhận Ngài là Cứu Chúa. Anh em đã thử nghiệm những giáo chủ khác và thấy những vị đó còn thiếu sót chăng? Hãy tìm kiếm Đấng Christ, thì anh em sẽ được thỏa mãn.
NGÀI CAO QUÍ VÌ LÀ ĐẤNG HẰNG HỮU
Trong đời này sự vật thường biến cải, phương lược thất bại, hi vọng tiêu tan, và trong giây lát ta có thể mất hết sự nghiệp mấy mươi năm mới bồi đắp được. Mấy năm trước, một người ở miền Indiana chỉ trong ngót hai giờ đã bị thần lửa nuốt hết mọi vật gom góp được từ lúc thanh niên. Có lẽ chúng ta mất hết của cải trên thế gian này, nhưng nếu đã thả neo vào Đấng Christ, thì ta có một Đấng có thể làm cho thỏa mãn, và chẳng ai cướp Ngài khỏi chúng ta được. Ngài còn mãi, nên ta chắc được Ngài cứu giúp.
Phi-e-rơ tôn Đấng Christ là cao quí, và sứ mạng của Ngài đã thấu vào linh hồn những kẻ tin. Chúng ta ngày nay thế nào? Hài nhi thánh Bết-lê-hem có ý nghĩa gì cho anh em? Anh em coi Ngài là một người thường, một bậc tuẩn tiết không cứu giúp ai được, một người Giu-đa phiêu bạt, hay anh em thấy Ngài là Cứu Chúa của thế gian, là Cứu Chúa, Bạn và Vua của anh em? “Vậy nên cho anh em là kẻ đã tin, thì Ngài là quí.”
Mục sư CARL V. ANDERSON
Omaha (Mỹ-quốc)
343. ĐỪNG NÓI VIỆC HỆ TRỌNG, NẾU CHƯA TRA XÉT KỸ CÀNG
(Có nghe nói)
Một tín đồ kia thuật lại khi ông đã bị quở trách và xấu hổ nhưng đã nhờ đó học được một bài học quí báu. Số là ông đến cùng Mục sư, thuật một truyện rất hệ trọng. Yên lặng ngồi nghe xong, Mục sư nghiêm nghị mở sách Phục-truyền 13:12-14 mà đọc rằng: “Khi ngươi nghe nói... thì phải tìm kiếm, hỏi thăm và tra xét kỹ càng. Bằng điều người ta nói là chân thật và quả quyết, và nếu một điều gớm ghiếc như vậy đã phạm giữa ngươi...” Rồi Mục sư hỏi ông sáu câu một lúc:
1) Ông đã tìm kiếm chưa?
2) Đã hỏi thăm chưa?
3) Đã tra xét cho kỹ càng chưa?
4) Truyện ấy có chân thật không?
5) Truyện ấy có quả quyết không?
6) Có chắc một điều gớm ghiếc như vậy đã phạm giữa Hội Thánh không?
Ông tín đồ này phải hối hận mà thú nhận rằng mình chưa hề làm trọn một trong sáu điều kiện đó. Ông chỉ nhắc lại việc hệ trọng ấy vì đã nghe nói chớ không theo Kinh Thánh mà xem xét kỹ càng. Ông không hề quên bài học ấy và thường tìm dịp thuật lại để giúp ích anh chị em tín đồ.
-Wm Mclean-
344. BẢY PHƯƠNG DIỆN CỦA CÁI LƯỠI
(Kinh Thánh với cái lưỡi)
Cái lưỡi là ngọn lửa (Gia-cơ 3:6)
Cái lưỡi là một vật dữ không ai trị phục được, đầy dẫy những chất độc giết người (Gia-cơ 3:8)
Cái lưỡi dùng để phỉnh gạt (Rô-ma 3:13)
Cái lưỡi mài nhọn như rắn, trong môi có nọc độc rắn hổ (Thi-thiên 140:3)
Cái lưỡi khác nào dao cạo (Thi-thiên 52:2)
Cái lưỡi khác nào gươm nhọn bén (Thi-thiên 57:4)
Cái lưỡi thêu dệt sự dối gạt (Thi-thiên 50:19).
-T.L-
345. ĐỪNG NÓI LẠI VIỆC XẤU ĐÃ QUA RỒI
(Tôi phải gặp người ấy)
Có lần tôi vào thăm một nhà kia. Tôi chưa bước khỏi cửa, bà chủ đã kể cho tôi nghe một truyện rất phạm đến danh dự một người bạn của cả hai người. Tôi lấy bút chì và tờ giấy ghi hết mọi lời bà đương nói. Bà chủ hỏi tôi chép chi vậy, tôi đáp:
-Tôi chép mọi lời bà nói đó. Truyện này hệ trọng đến nỗi tôi cần phải gặp bà kia.
-Ồ, xin ông đừng nói gì với bà ấy. Truyện đã qua rồi, đã xảy ra từ ba năm trước.
-Nếu đã qua rồi bà còn nói đến làm chi?
Cách xử sự như thế rất có hiệu quả, nên tôi xin giới thiệu để anh em dùng.
-T. L.-
346. CÁI LƯỠI BÀY TỎ TÌNH TRẠNG CỦA LINH HỒN
(Cái lưỡi phản chiếu linh hồn)
Một người rất có kinh nghiệm nói rằng cái lưỡi là một cách thử đức tính thiêng liêng. Thánh Gia-cơ cũng nói: “Nếu ai không vấp phạm trong lời nói mình, ấy là người trọn vẹn, hãy hãm cầm cả mình” (Gia-cơ 3:2). Lưỡi luôn luôn bày tỏ địa vị thiêng liêng và tánh tình của một người. Người hiền hậu không thể ăn nói cay nghiệt. Người nào luôn luôn nói rằng kẻ khác có cớ tích xấu thì chỉ tỏ ra tâm hồn mình là xấu.
Như vậy, cái lưỡi kể rõ tình trạng của linh hồn và là, kim chỉ đúng tánh hạnh và đời sống. Bí quyết của lời nói ngay lành chính là tấm lòng đầy dẫy Đức Thánh Linh.
-T. L.-
347. TRÁNH MƯỜI CÁCH NÓI ĐÁNG NGỜ
(Mười cách nói đáng ngờ)
-Tôi có nghe...
-Họ nói rằng...
-Ai cũng nói rằng...
-Anh có nghe... không?
-Thật ghê gớm quá...
-Có lời đồn rằng...
-Có bao nhiêu người như vậy chăng?
-Có một người nói rằng...
-Đừng nói với ai chuyện tôi thuật đó nhé.
-Ồ, tôi tưởng như vậy thì kinh khiếp lắm.
The Outlook
348. SỰ KHÔNG NÓI HÀNH ĐEM LẠI PHỤC HƯNG
(Chớ nói hành ai)
Cách đây ít lâu, một số tín đồ nhóm họp, quyết định sẽ “không nói hành một người nào.”
Họ giữ lời hứa, và trong miền ấy có cơn phục hưng. Nguyện chúng ta biết noi theo gương sáng ấy để “dọn đường cho Chúa”, hầu cho ai nấy được chứng kiến một trận mưa ơn phước thiêng liêng dồi dào hơn hết từ lễ Ngũ tuần đến nay.
-T. L.-
349. ĐỪNG LÀM LỢI KHÍ GÂY RẮC RỐI DO NÓI HÀNH
(Bịt miệng kẻ nói hành)
Vua Sa-lô-môn có nói đến một hạng người gọi là “kẻ thèo lẻo” (Châm-ngôn 18:8; 26:20). Sứ đồ Phao-lô cũng luận đến hạng người ấy (IITi-mô-thê 3:11; ITi-mô-thê 5:13). Vì vẫn còn hạng người ấy đến bây giờ, nên chúng tôi xin thêm một truyện dưới đây:
Có tín đồ đến thăm một Mục sư khôn ngoan và thiêng liêng ở xứ Tô Cách Lan và muốn thuật việc lầm lỗi của một vài giáo hữu, Mục sư hỏi:
-Ngoài ông ra, còn ai biết truyện này nữa không?
-Thưa, không.
-Ông đã thuật truyện ấy với người nào nữa không?
-Thưa, không.
-Vậy ông nên giấu truyện ấy nơi chân Đức Chúa Jesus, và đừng nhắc đến nữa kẻo Đức Chúa Trời sẽ xui khiến ông phải lôi thôi với những giáo hữu kia. Nếu Đức Chúa Trời muốn trong Hội Thánh Ngài có chuyện rắc rối, nguyện ý Ngài được nên! Nhưng xin ông đừng làm lợi khí gây nên chuyện rắc rối ấy.
-Scripture Truth-
350. KHÍCH LỆ NGƯỜI GIÀ YẾU
(Tôi có già đâu?)
Tóc tôi bạc, có hề chi? Người ta há chẳng nói rằng tóc bạc là một vinh dự sao?
Mắt tôi yếu, có hề chi? Tôi còn thấy khá rõ để theo gót Đấng Christ đã chết trên thập tự giá vì tôi.
Thời gian làm cho má tôi nhăn nheo, có hề chi? Một nhà ở khác chờ đợi tôi ở trên trời, nhà ấy chẳng do người ta làm ra.
Tôi đi run rẩy, có hề chi? Tôi còn có thể đi trên đường hẹp.
Tôi không nói mau như trước, có hề chi? Tôi còn có thể tỉnh thức, cầu nguyện và thờ phượng Đức Chúa Trời.
Tai tôi không còn nghe rõ như xưa, nhưng tôi vẫn nghe được tiếng Cứu Chúa phán bảo tôi rằng: “Hãy theo Ta!” Dầu tôi chăm chú đến đâu, cuối cùng người bề ngoài cũng sẽ trở về bụi như hết thảy mọi vật trong cõi thiên nhiên. Nhưng Kinh Thánh dạy tôi rằng người bề trong có thể càng ngày càng mạnh mẽ hơn. Tôi ở trong “nơi kín đáo của Đấng Chí cao” (Thi-thiên 91:1), thì còn già sao được?
Một ngày kia, linh hồn tôi sẽ lìa bỏ nhà tạm bằng đất này mà bay về thiên đàng. Tôi sẽ lột bỏ xác thịt này mà mặc lấy vinh quang vô tận của chính Đức Chúa Trời.
Hỡi các ông già bà cả, bạn hữu của tôi, chúng ta sẽ lại gặp nhau trên các đường phố bằng vàng ròng và sẽ lại trẻ trung mãi mãi.
-J.R.-
351. LÀM VIỆC NHỎ MÀ VÌ CỚ CHÚA SẼ CÓ GIÁ TRỊ LỚN
(Bao nhiêu tiền một cốc sữa)
Nhà giải phẫu trứ danh thường đi chơi đây đó vì ham thích môn bác vật học. Ngày kia, ông đừng dừng chân trước nhà hẻo lánh của một tá điền, hỏi xin cô bé một cốc (ly) nước lạnh. Ngoan ngoãn, cô bé đáp rằng:
-Ồ, thưa ông, tôi sẽ biếu ông một cốc sữa vì danh Đức Chúa Jesus.
Uống xong cốc sữa ngon lành và mát mẻ, nhà giải phẫu đưa danh thiếp cho cô bé mà dặn rằng:
-Khi nào em hoặc người nhà em cần tôi chữa bịnh, thì tôi sẽ chữa cho, không lấy tiền.
Lạ lùng quá, cô bé hết lời cám ơn ông.
Mấy năm sau, mẹ cô lâm bịnh, cần phải mổ tốn nhiều tiền lắm. Cầm danh thiếp kia, bà được tiếp đãi nồng hậu, được điều trị trong bệnh viện đồ sộ. Lúc bà ra về, nhà giải phẫu trao cho bà một tờ giấy tính tiền phí tổn, dĩ nhiên là nhiều lắm. Nhưng bên dưới ông biên mấy chữ “Trả xong bằng một cốc sữa!”
Đức Chúa Jesus phán rằng: “Ai nhơn danh Ta mà cho một chén nước, người ấy không mất phần thưởng của mình đâu” (Mác 9:41).
352. LƯỠI PHẠM TỘI KHÔNG DÁM XƯNG DANH CHÚA LÚC CÓ CẦN
(Tôi đã bịt miệng)
Trong xưởng chế tạo kia, một người thợ trẻ tuổi ngã vào một miếng sắt nung đã trắng. Bạn hữu kiếm cách lôi hắn rất gấp ra khỏi nơi nguy hiểm ấy, nhưng trễ quá rồi. Thân thể hắn cháy xém, lòi cả xương. Một vài người thợ kêu rằng:
-Mời thầy thuốc, mau lên! Mời thầy thuốc!
Người thợ đáng thương kia rên rỉ:
-Thôi, thôi, đừng mời thầy thuốc làm gì. Nhưng trong anh em, có ai cho tôi biết phương cứu rỗi linh hồn được chăng? Tôi chết mà không biết Đức Chúa Trời. Ai có thể giúp tôi chăng?
Ba trăm người thợ chứng kiến tai nạn đó, nhưng chẳng ai có thể chỉ đường cứu rỗi cho người gần chết. Về sau một người trong số đó thú rằng:
-Tiếng kêu tuyệt vọng đó đến nay vẫn còn vang dội bên tai tôi. Tôi muốn nghiêng mình nói cho bạn biết Đức Chúa Jesus, nhưng lưỡi tôi bị tội lỗi làm cho tê liệt. Vì hành vi không xứng đáng, nên tôi không dám mở miệng nói về danh Ngài.
353. CẦN TIN LỜI CHÚA VÀ VIỆC LÀM CỦA CHÚA ĐỂ ĐƯỢC SỐNG
(Đọc sách cổ)
Vua Hoàng công đọc sách ở nhà trên. Có người thợ mộc đang đẽo bánh xe ở nhà dưới, nghe tiếng học, bỏ chàng, đục, chạy lên thưa vua rằng:
-Cả dám hỏi nhà vua học những câu gì thế?
Hoàng công nói:
-Những câu của Thánh nhân.
-Thánh nhân hiện nay còn sống không?
-Đã chết rồi.
-Thế thì những câu nhà vua học chỉ là những tao phách của cổ nhân đấy thôi.
-À, anh thợ! Ta đang đọc sách, sao dám được nghị luận? Hễ nói có lý thì ta tha, không có lý thì ta bắt tội.
Người thợ mộc nói:
-“Tôi đây cứ lấy việc tôi làm mà suy xét, khi đẽo cái bánh xe, đẽo rộng, thì mộng cho vào dễ nhưng không chặt, đẽo hẹp, thì mộng cho vào khó và không ăn. Còn làm không rộng, không hẹp, vừa vặn đúng mực, thì là do trí tôi suy tính và tay tôi làm như đã có cái phép nhất định, chớ miệng tôi không thể nói ra được. Cái khéo ấy tôi không có thể dạy được cho con tôi, con tôi cũng không thể học được. Bởi thế tôi năm nay bảy mươi tuổi mà vẫn giữ nghề đẽo bánh xe.
Người đời cổ đã chết thì cái hay của người đời cổ khó truyền lại được, tưởng cũng đã chết cả rồi. Thế thì những câu nhà vua học thật chỉ là những tao phách của cổ nhân mà thôi.”
Vua cho người thợ mộc nói là phải.
Đó là lời và việc của người đời, chết theo người đời! Còn Đức Chúa Jesus, Đấng từ kẻ chết sống lại phán: “Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin Ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống và tin Ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?” (Giăng 11:25-26).
-T.T.-
-C.H.T.H.-
354. SỨ MẠNG TÂN XUÂN
(Nghỉ lúc tân xuân)
Thì giờ đi mau quá!... Ta không khỏi suy nghĩ vẩn vơ như thế, nhất là vào lúc đầu năm. Lạ thật! Con trẻ muốn mau lớn, nên cho thì giờ là dài đằng đẵng; còn người già cả muốn thì giờ dừng cánh, nhưng lại thấy nó mỗi năm bay mau chóng. Người ta quen thấy thì giờ thấm thoát như thoi đưa, đến nỗi không còn nhờ đó sanh ra khôn ngoan.
Tôi tưởng hiện nay tín đồ không cần chúc gì cho người đời. Thế giới cứ đi buồn thảm và ngã lòng. Các guồng máy chính trị đã hư hỏng; các đạo luật xã hội không có hiệu lực. Luân lý suy đồi, cả đến những nước có quyền độc tài cầm giữ phong tục, và những dân tộc xưa kia tự hào là có đạo lý thuần túy. Các phái đạo yếu mòn, chia rẽ, không tôn kính Đức Chúa Trời, mơ tưởng một quyển Kinh Thánh theo ý riêng mình.
Dầu đây đó có một vài tia sáng, nhưng thanh niên vẫn ở trong bóng tối của sự tự do và hờ hững. Họ coi thường những giá trị chân chính của đạo Đấng Christ. Chiến tranh bùng nổ, trời Âu, Á đen ngòm những mây hoạn nạn.
Làm gì đây?
Người thì đề xướng liên hiệp các phái thượng lưu, kẻ thì quyết định cải tổ các chính phủ, nhưng nào có ăn thua gì. Đời cai trị của quỉ Sa-tan vững vàng đến nỗi tín đồ chỉ còn biết cầu nguyện. Phải sốt sắng cầu nguyện. Phải nhớ rằng hiện nay ta chỉ đáng kể sự hầu việc Đấng Christ là có giá trị cứu vớt một một số người khỏi vực sâu hư hoại.
Về phần chúng ta, là môn đồ Đấng Christ, thì phải chúc nhau những gì? Phải chúc cho đời trị vì của Đức Chúa Jesus thay các quyền lực đương làm tan tác năm châu; cho vua của linh hồn lập lại ngôi Ngài, ngôi mà những kẻ dối trá đã cướp mất; cho Đấng Christ lập nên hòa bình độc nhất và vĩnh cửu trên thế gian này, chỉ một mình Ngài làm được phép lạ ấy. Cầu nguyện như vậy, chúng ta sẽ hoàn toàn hiệp ý với Đấng Christ, vì Ngài có dạy chúng ta cầu nguyện rằng: “Nước Cha được đến!”
Nhưng thời kỳ hoạn nạn này cũng thúc giục chúng ta hành động cho mau đến lúc hừng đông rực rỡ kia. Người đời cảm thấy mình bị thua. Đương khi chờ lúc thế gian bị Đấng Toàn năng lên án, chúng ta, là môn đồ Đấng Christ, hãy lên án thế gian bởi cư xử khác hẳn với thế gian, không đụng đến những công việc quỉ quyệt, và không chịu ảnh hưởng những quyền lợi giả dối của thế gian đem cho mình. Đây tôi chẳng nói gì lạ cả, tôi chỉ dựa vào lời Cứu Chúa phán rằng: “Họ không thuộc về thế gian” (Giăng 17:16).
Hội Thánh theo thế gian sẽ bị đoán xét chung với thế gian. Tín đồ ham mê thế gian sẽ bị đoán xét chung với thế gian bội đạo. Ta không thể hầu việc Đức Chúa Trời và Ma môn, Đức Chứa Trời và tiền bạc, Đức Chúa Trời và xác thịt. Hãy lựa chọn!
Tôi xin chúc anh em chọn điều tốt lành và không hề đổi ý. Chỉ có ơn cứu rỗi trong Đức Chúa Jesus. Chúng ta biết rằng Ngài đang dự bị một kỷ nguyên mới, đương lo làm trọn những lời hứa lạ lùng cho mỗi một anh em Ngài.
Nguyện năm mới này, chúng ta sẽ thức canh cầu nguyện, mạnh bạo làm theo ý chỉ Đức Chúa Cha, chuộc lại thì giờ bởi luôn luôn làm chứng rõ ràng về Chúa, lo việc trên Trời, chứa của báu ở đó, nhìn xem Đức Chúa Jesus là cội rễ của đức tin và là chủ của linh hồn ta.
-A. Salagnier-
355. ĐỜI SỐNG TỐT CỦA TÍN HỮU LÀ ĐỀN THỜ QUÍ VÔ GIÁ
(Năm mươi triệu bạc một nhà thờ)
Năm 1892, ông Henri Potter, giám mục Hội Tin Lành, bắt đầu thâu góp tiền bạc để xây cất một nhà thờ rộng chừng 12.700 mét vuông tại đường Amsterdent và phố 112, thuộc Nữu Ước. Báo New Week nói rằng bốn người kế chức ông cứ theo tiền bạc quyên được mà lần lần xây cất nhà thờ ấy đặt tên là “St. John the Divine.” Bây giờ đã làm xong hai phần ba, và đã chi phí hết 17 triệu đồng Mỹ kim (chừng 50 triệu bạc Việt Nam).
Chỗ ban hát đứng và tòa giảng thì theo kiểu La-mã nhưng kiểu ấy đã bị loại bỏ từ ba năm nay. Bây giờ Giám mục William T. Manning đứng quyên một triệu đồng Mỹ kim, là bằng cớ hiển nhiên chúng ta tin cậy Đức Chúa Trời, để thay đổi chỗ ban hát đứng và tòa giảng cho hiệp với kiểu trung cổ, là kiểu của một phần khác trong nhà thờ. Ông muốn cho nhà thờ hoàn thành trước cuộc đấu xảo quốc tế năm 1939, là “một trong những nhà thờ lớn nhất thế giới, do mọi dân tộc và mọi nhánh Tin Lành giúp sức để xây cất xong.”
Năm mươi triệu bạc để xây cất một nhà thờ thật là một số tiền rất lớn! Nhưng giá chẳng thấm vào đâu với đền thờ của Đức Chúa Trời đương xây dựng. So với thời gian Đức Chúa Trời xây cất đền thờ Ngài, thì bốn mươi sáu năm xây cất nhà thờ St John the Divine kia bất quá như hai ba ngày. Kiểu đền thờ của Ngài giấu kín từ khi khởi thủy thế giới; công trình xây cất trải qua 1.900 năm mà chưa xong. Không ai lường được giá đặt Vầng đá Góc Nhà, vì chính là huyết quí báu của Đức Chúa Jesus đổ ra. Ngài phó mạng sống trên cây thập tự, gánh vác tội lỗi chúng ta, hầu cho có thể xây cất Đền Thờ ấy.
Nền tảng của đền thờ ấy là các Sứ đồ và các Đấng Tiên tri, phần nhiều đã liều mạng sống để giúp việc xây cất. Tầng trên đương xây cất bằng những đá sống, tức là những tội nhân thuộc về mọi chi tộc, mọi thứ tiếng, mọi nước đã được cứu bởi ân điển và bởi đức tin trong “Đức Chúa Jesus Christ là Đá Góc Nhà, cả cái nhà dựng lên trên đá đó, sắp đặt cách hẳn hoi, để làm nên một đền thờ thánh trong Chúa” (Ê-phê-sô 2:20-21).
Đền thờ của Đức Chúa Trời có nhiều chỗ khác nhau với nhà thờ của Giám mục Manning. Chính Ngài là nhà kiến trúc, và bản đồ của Ngài không hề phải sửa đổi. Hòn đá đã được chọn và đặt vào đâu, thì cứ ở đó mãi. Muôn triệu người thuộc về mọi giống nhưng chung một đức tin, đã giúp và sẽ giúp việc xây cất Đền thờ này. Dầu đền thờ này đã khởi công xây cất từ 19 thế kỷ nay, nhưng thế gian vẫn chưa thấy được.
Giám mục Manning muốn khánh thành nhà thờ St. John the Divine oai nghiêm và tráng lệ trong dịp du khách đến xem cuộc đấu xảo quốc tế; cùng một lẽ ấy, Đức Chúa Trời định một ngày kia sẽ “tỏ ra Hội Thánh đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được ở trước mặt Ngài.” (Ê-phê-sô 5:27).
Trải qua 19 thế kỷ rồi, không phải nhà thờ đáng giá năm mươi triệu bạc đâu, nhưng chính là những cuộc đời (và cũng có khi là những sự chết) của muôn triệu người trong Hội Thánh vô hình “Bằng cớ hiển nhiên chúng ta tin cậy Đức Chúa Trời” cho thế gian xem thấy.
-Báo Now-
356. ĐI ĐƯỜNG CỦA CHÚA THÌ PHẢI THEO Ý VÀ LỜI CỦA CHÚA
(Hai cha con với một con lừa)
Hai cha con đi dọc theo con đường nhà quê, bên cạnh có một con lừa. Mới đi một quãng thì gặp một bác nhà quê. Bác cười rồi nói rằng:
-Chà! Sao không để con trai ông cỡi lừa?
-Ồ, tôi chưa nghĩ tới điều đó.
Nói xong, ông bồng con ngồi trên lưng lừa. Họ cứ đi về phía thành phố, lai gặp một người khác. Người ấy rằng:
-Ơ kìa, đứa trẻ đi lừa để cho ông già đi bộ sao? Mày xuống ngay đi cho cha mày cỡi.
-Ồ, tôi chưa nghĩ tới việc đó.
Nói xong, con nhảy xuống đất, đỡ cha lên ngồi trên lưng lừa. Đi một đỗi khá xa, họ gặp một mụ bán cá xách cái rổ, mụ kêu rằng:
-Ông đáng hổ thẹn vì để con đi bộ dưới trời nắng nôi như thế.
-Ồ, tôi chưa nghĩ đến điều đó.
Nói xong, ông cho con lên cùng ngồi với mình. Khi tới thành phố, có mấy người nhìn chăm chăm họ mà kêu rằng:
-Hai cha con đáng phải khiêng con lừa kia, chớ lại bắt nó chở mình như vậy sao?
-Ồ tôi chưa nghĩ tới việc đó.
Nói xong, hai cha con nhảy xuống đất; họ vật ngửa con lừa, bốn cẳng giơ lên trời. Người cha đốn lấy một cây sào dài, trói bốn cẳng con lừa vào đó. Rồi hai cha con khiêng con lừa đi. Không quen như thế con lừa giẫy giụa đến nỗi gãy một chân khi đi qua cầu, con lừa quay cuồng, ngã lăn xuống sông chết chìm.
Ấy đấy, vì muốn làm đẹp lòng mọi người mình gặp mà hai cha con chẳng làm đẹp lòng một ai, hoặc chính mình, hoặc con lừa đáng thương kia.
Các bạn xem chuyện này chắc phải chê cười hai cha con nói trên là dại dột quá. Chúng ta đi đường của Chúa thì phải vâng theo tiếng Chúa và lời của Ngài thôi, chớ theo ý người hoặc ý mình mà phải thất bại đau đớn.
357. MẶT MÀY VÀ TINH THẦN PHẢN CHIẾU ÁNH SÁNG THIÊN ĐÀNG CÓ LINH LỰC NHƯ CHÂN LÝ
(Bằng cớ minh chứng đạo Đấng Christ)
Tấn sĩ Simpson, người sáng lập Hội Truyền giáo Phước âm liên hiệp, thường thuật truyện một ông Mục sư học vấn uyên thâm đã giảng luôn mấy bài về “BẰNG CỚ MINH CHỨNG ĐẠO ĐẤNG CHRIST.” Ông chỉ có ý thuyết phục và dẫn về với Chúa một người thuộc phái hoài nghi, giàu có và mạnh mẽ. Người ấy sốt sắng đến nghe giảng và tin theo Chúa thật.
Vài hôm sau, Mục sư đánh bạo hỏi ông xem bài giảng nào đã cảm động ông sâu xa đến nỗi ông quyết định tin Chúa như thế. Ông kia đáp:
-Bài giảng à! Thưa ông Mục sư, tôi quên hết đề mục các bài giảng của ông. Tôi không thể nói rằng các bài giảng ấy đã có ảnh hưởng đến tâm hồn tôi đến nỗi tôi quyết định tin Chúa. Tôi hối cải là nhờ lời làm chứng của một bà già người da đen đã đến nghe giảng. Bà trèo mãi lên nóc nhà thờ, ngồi gần tôi, mặt mày sáng sủa như thiên đàng, và cứ nói luôn rằng: “Ôi! Chúa Jesus yêu quí của tôi! Ôi! Lạy Chúa Jesus yêu quí của tôi!” Rồi bà quay lại phía tôi mà hỏi rằng: “Ông có yêu mến Đức Chúa Jesus của tôi không? Thưa ông, đối với tôi, đó mới là bằng cớ minh chứng đạo Đấng Christ.”
Mặt mày hớn hở với tinh thần phản chiếu ánh sáng của thiên đàng cũng có giá trị bằng chân lý.
-The Alliance Weekly-
358. CUỘC ĐỜI ĐẠO ĐỨC CỦA VỢ CÓ LINH QUYỀN BẮT PHỤC CHỒNG ĐẦU PHỤC ĐỨC CHÚA TRỜI
(Khác ở chỗ nào?)
Hôm ấy là ngày kỷ niệm đệ tứ chu niên lễ hôn phối, vợ nói với chồng rằng:
-Suốt bốn năm nay tôi là một người vợ rất có hạnh phước; nhưng nếu được một điều nữa như sở nguyện, thì tôi sẽ là người sung sướng nhất đời.
-Này, chồng đáp, mình ước mong điều chi? Tôi sẽ chìu theo ý mình.
-Tôi chỉ còn mong ước mình làm môn đồ của Đấng Christ.
-Mình có phải là môn đồ của Đấng Christ không? Chồng hỏi.
-Có chớ.
-Ô, thế mà tôi không biết.
Vợ ngạc nhiên, ngừng một chút, chồng hỏi vợ một hồi:
-Mình có chửi rủa không?
- Không đời nào.
-Tôi cũng vậy. Thế mình có ăn cắp không?
-Không!
-Tôi cũng không. À, mình có đánh bạc không?
- Không.
-Tôi cũng không. Mình có bao giờ say rượu không?
-Làm sao mình phải hỏi như thế? Tôi không hề say rượu.
-Tôi cũng thế. Nhưng này, khi dự tiệc yến, thì mình cũng uống một ít rượu chớ?
-Có, phải giữ phép lịch sự đối với bà chủ tiệc.
-Tôi cũng vậy. Mình có đi xem hát?
-Chắc có.
-Tôi cũng đi. Mình có đánh bài không ăn tiền, phải chăng?
-Tôi có đánh. Nhưng cái đó vô hại.
-Tôi cũng đánh. À, mình cũng khiêu vũ?
-Có. Nhưng khiêu vũ là một môn mỹ thuật vô hại. Tôi thích khiêu vũ, thích lắm.
-Tôi cũng thích khiêu vũ. Này, nếu mình có thể tỏ cuộc đời mình và cuộc đời tôi khác nhau như thế nào, thì tôi sẽ sẵn lòng làm môn đồ của Đấng Christ?
Thiếu phụ nhận thấy ý sâu sắc của chồng; khi chồng đi có việc ngoài phố về, thì thấy vợ quì gối, đầu gục vào tay, khóc thổn thức. Chồng xin vợ tha lỗi cho mình nếu mình đã làm mếch lòng. Vợ đáp:
-Không, chính tôi đáng phải xin lỗi mình. Nhờ Đức Chúa Trời giúp đỡ từ nay trở đi mình sẽ có một người vợ khác hẳn.
Mười bốn tháng sau, chồng dự một Hội đồng phục hưng đông đúc và làm chứng rằng:
-Từ mấy tháng nay, tôi đã làm môn đồ của Đấng Christ, cuộc đời đạo đức tốt đẹp cao thượng của vợ tôi đã khiến tôi phải đầu phục Đức Chúa Trời.
-The Missionary Work-
359. CON CÁI CHÚA CẦN HẾT LÒNG TIN CẬY CHA THIÊN THƯỢNG TRONG GIỜ NGUY HIỂM
(Con ơi, nhảy xuống!)
Buổi tối nọ, tôi đang đứng ở cổng vườn nhà bạn tôi, bỗng có hai đứa con trai lại gần. Thấy chúng tôi, người bạn cất tiếng nói với tôi rằng:
-Ông thử coi hai đứa trẻ này khác nhau thế nào?
Bạn tôi bồng một đứa, đặt lên trụ cổng, rồi lùi vài bước, khoanh tay lại, bảo nó nhảy. Trong nháy mắt, nó nhảy về phía ông và được ông giơ hai cánh tay đỡ lấy. Đoạn, xây qua đứa thứ hai, bạn tôi cũng thí nghiệm như vậy. Nhưng lần này khác hẳn, thằng bé run rẩy không chịu cử động. Bạn tôi dang hai tay, cố thúc giục nó tin cậy sức lực mình, nhưng chẳng chi lay chuyển được nó. Rốt cuộc bạn tôi phải nhấc nó từ trụ xuống và để nó đi.
Tôi hỏi:
-Tại sao hai đứa khác nhau như vậy?
Bạn tôi vừa mỉm cười vừa đáp:
-Đứa thứ nhất là con tôi nên biết tôi. Còn đứa thứ hai là con người lạ trước đây tôi chưa từng gặp nó.
Nếu thật anh em là con cái Đức Chúa Trời, cớ sao chẳng hết lòng tin cậy Ngài trong giờ nguy hiểm? Cớ sao không dám buông mọi sự mà lăn vào cánh tay toàn năng toàn ái của Ngài.
-D. L. Moody-
360. NHẬN NHIỀU LỢI MÀ DÂNG QUÁ ÍT LÀ BỘI BẠC TỪ ĐẦU ĐẾN CHÂN
(Bội bạc từ đầu đến chân)
Ông Sam Jones là một nhà Truyền đạo trứ danh bên Mỹ. Ngày kia, có tín đồ than thở với ông rằng:
-Thưa ông, tôi đóng góp cho Hội Thánh nặng quá!
-Bao nhiêu một năm? Jones hỏi.
-Năm đồng một năm.
-Thế ông tin Chúa đã bao lâu?
-Đã bốn năm nay.
-Trước khi tin Chúa ông làm gì?
-Tôi nghiện rượu!
-Mỗi năm ông uống rượu hết bao nhiêu tiền?
-Chừng 250 đồng mỹ kim.
-Khi ấy ông có đất ruộng gì không?
-Tôi phải mướn đất, cày bừa với một con bò.
-Bây giờ ông có gì không?
-Tôi có một khu ruộng tốt và một đôi ngựa cày.
Bây giờ ông Jones mới nghiêm nghị trách rằng:
-Trước kia, ông cho ma quỉ mỗi năm 250 đồng để được cày ruộng thuê, với một con bò; mà nay Đức Chúa Trời đã cứu ông, thì ông chỉ dâng cho Ngài năm đồng mỗi năm để được cày ruộng riêng của mình với một đôi ngựa! Ông là người bội bạc từ đỉnh đầu đến bàn chân.
-The Alliance-
361. THEO CHÚA KHÔNG CẦN TÍNH GIÁ
(Bạn tính giá nào?)
Hai người lính trẻ tuổi đương nói chuyện về sự tin theo Đấng Christ.
Một người nói:
-Tôi không thể nói hết cho anh biết Đấng Christ quí báu cho tôi dường nào và đã ban cho tôi những gì. Tôi ước ao anh sẽ sung vào quân đội của Ngài.
Người kia suy nghĩ rồi đáp rằng:
-Tôi đương suy nghĩ về sự đó, nhưng tin theo Ngài thì phải từ bỏ nhiều điều. Quả thật, tôi còn tính giá đã.
Một sĩ quan đi qua đó, nghe được câu chuyện, bèn đặt tay trên vai chàng mà rằng:
-Anh ơi, anh tính giá của sự tin theo Đấng Christ sao? Nhưng có bao giờ anh tính giá của sự không tin theo Ngài chăng?
Lời người khôn ngoan ví như đinh đóng. Câu hỏi kia cứ vang dội trong tâm trí, khiến chàng bối rối mãi cho đến khi chịu theo Đấng Christ. Và trong 27 năm nay. Chàng vẫn trung thành hầu việc Ngài.
Đức Chúa Jesus có phán: “Nếu ai muốn theo Ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo Ta. Vì ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai vì cớ Ta và đạo Tin Lành mà mất sự sống, thì sẽ được cứu (Mác 8:34-35).
-The Evangel-
362. CẦN GIỮ NGÀY THÁNH
(Bảy người cùng làm)
Có bài ngụ ngôn nói về bảy anh em sống chung với với nhau. Sáu người cùng làm việc, còn người thứ bảy trông nhà, dọn cơm nước cho sáu người kia ăn bữa tối. Nhưng sáu người kia nói rằng người thứ bảy cũng phải làm việc. Vậy buổi tối họ về thấy nhà cửa tối om, chẳng có món ăn nào cả. Bây giờ họ mới thấy mình ngu dại dường nào, bèn vội trở về lệ cũ.
Chúa Nhật là một trong bảy ngày cung cấp sự sáng, sự yên ủi, sự tốt lành cho sáu ngày kia. Nhưng nếu ta làm việc trong ngày ấy thì sáu ngày kia chẳng còn ơn phước thiêng liêng gì cả.
-Trích lục-
363. THÚC GIỤC TÍN ĐỒ LO VIỆC HỘI THÁNH
(Tín đồ đình công)
Một ngàn năm trước khi Đấng Christ đến thế gian này, nhà truyền đạo có nói rằng: “Chẳng có điều gì mới mới ở dưới mặt trời” (Truyền-đạo 1:9). Về mặt trời, gió, sông, sự kiêu ngạo và từng trải của đời, sự khoe khoang và các thói quen của loài người, thì ta có thể nói mà vẫn có lý mặc dầu họ dường như cũ rích.
Về những vụ đình công thì cũng chẳng mới lạ gì. Ít ra là ở trong Hội Thánh vẫn có như thế.
Thời đại nào cũng có hạng tín đồ không chịu làm việc cho Chúa, bây giờ lại đông hơn thuở trước nữa. Những người này không đứng lên vì Đức Chúa Jesus, không quì gồi cầu nguyện, không đi đem bó lúa về cho Chúa. Họ chỉ ngồi, chỉ ngồi và chỉ ngồi.
Hạng tín đồ ấy thích nghe âm nhạc du dương, hoặc bài hát có âm điệu rập ràng. Họ cũng thích một bài giảng hay, miễn là được ngồi yên mà nghe, và miễn là ông Mục sư đừng nói to quá, lâu quá hoặc chỉ trích riêng từng người quá.
Ho không muốn đi hầu việc Chúa. Họ không thể hứa đi thăm những người đau ốm, già cả, yếu đuối, cô đơn, ngã lòng, và người ngoại ở chung quanh mình. Họ nói rằng phải để việc ấy cho người khác, - người trẻ hơn hoặc khỏe hơn họ, người có nhiều thì giờ nhàn rỗi và tài cán hơn họ, v.v...
Tín đồ đình công trong Hội Thánh không chịu ngồi yên. Họ biết rõ và nói ra những điều mình muốn. Họ muốn thì giờ ngắn hơn và tiền bạc nhiều hơn, nghĩa là thì giờ nhóm họp phải ngắn hơn và kẻ khác phải dâng tiền nhiều hơn cho công việc Chúa để họ khỏi phải dâng. Họ muốn có nhiều phe đảng hơn và bớt lời cầu nguyện đi. Họ sốt sắng làm việc xã hội, nhưng không hề lo cứu vớt linh hồn ai.
Hãy để mặc ông Mục sư cầu nguyện. Họ nói rằng ông ăn lương chỉ để làm việc ấy. Họ lại nói phải quen mới cầu nguyện giữa công chúng được. Còn như họ có quen cầu nguyện riêng hay không thì không ai được phép nói đến. Họ ngồi trong nhà thờ, mệt mỏi vì suốt tuần lễ đã vui chơi, kiếm lợi, lẹ làng làm ác. Vậy nên họ phải yên nghỉ. Thần trí cũng như thân thể đã mệt mỏi, họ không muốn ai khuấy rối linh hồn họ quá gắt gao.
Sự đình công rất hay “lây”. Tín đồ đình công sẽ làm cho nhiều anh em đình công. Một vài người đình công trong một chi hội có thể làm ngã lòng hết thảy, cả đến những ai muốn sốt sắng hầu việc Chúa. Vấn đề đình công này càng ngày càng rắc rối và khó giải quyết.
Nhưng chúng ta vẫn còn hi vọng lập trên quyền phép của Đức Chúa Trời. Nguyện những tín đồ đình công trong Hội Thánh lại được lòng sốt sắng phục vụ Chúa bởi lời cầu nguyện của các thánh đồ và bởi sự rao giảng Tin Lành do các sứ giả của Đấng Christ đầy dẫy Đức Thánh Linh! Các sứ giả ấy không coi thường ma quỉ và giới thiệu Chúa bình an là Đấng hoàn toàn tốt đẹp, là sao mai chói lói trên cõi đời đời tối tăm. Hỡi anh em, chúng ta phải tự xét mình có làm tròn nhiệm vụ trong Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống không? Phải chăng chúng ta quá lo công việc đời này đến nỗi không còn làm cho phương lược của Ngài mau thành tựu và giúp cho một vài linh hồn tìm được sự cứu rỗi đời đời? Phải chăng chúng ta bằng lòng dâng một chút thì giờ cho Đấng đã hi sinh mọi sự vì cớ chúng ta?
Trong Kinh Thánh có ba mươi ngàn lời hứa mà Đức Chúa Trời ban cho ta chẳng đòi một giá nào. Ta có bằng lòng hứa lại với Ngài một lời nào chăng, mặc dầu đối với công việc Ngài thì lời hứa của ta nhỏ mọn và tầm thường quá? Chúng ta nên quì gối trước bàn thờ của Chúa mà dâng hết tâm thần cho Ngài.
-J. A. Sanaker-
364. SỨ ĐIỆP PHẤN HƯNG THANH NIÊN VỀ SỰ TRUYỀN TIN LÀNH
(Tiếng gọi bạn trẻ)
Hỡi các bạn trẻ đọc những dòng chữ này, phải chăng vì anh em sợ phải phá vỡ hình tượng của mình, hình tượng đó tên chi mặc lòng, nên không thể dâng mình trọn vẹn cho Đức Chúa Trời để giúp cho nước công bình, Thánh khiết và Yêu thương của Ngài mau đến? Hãy đứng trước Đấng Thánh bị khổ hình trên cây thập tự và nghe Ngài lại phán với bạn: “Đây này, việc ta đã làm cho con, con đã làm chi cho ta? Nếu ai muốn theo ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta.”
Bạn có biết vì cớ gì các tôi tớ trung thành của Chúa lại vui mừng và can đảm giữa những cảnh khó khăn không? Chẳng những vì họ đã bỏ của cải đời này mà cũng vì họ đã từ bỏ chính mình, đã hoàn toàn dâng mình cho Chúa, và đã để Ngài cai trị cả đời sống mình. Sự dâng mình hoàn toàn đó là đặc điểm của những tôi tớ thật của Đấng Christ hết đời nọ sang đời kia làm cho nước Ngài mau đến. Tín đồ hữu danh vô thực đã kéo xã hội và quốc tế vào nhiều tình trạng gay go và cả thế giới có thể biến thành địa ngục.
Bây giờ không còn là lúc chúng ta chỉ hiệp với Đức Chúa Trời trong ngày Chúa Nhật và dám nghịch với Ngài trong những ngày khác. Chúng ta phải tìm lại cho được tinh thần của đạo Tin Lành lúc đầu tiên, của thời đại Cải chánh và phục hưng. Trước thuyết thượng chất lan tràn ra như một đám cháy phá hại xứ ta, phải có nhiều bạn trẻ thoát ly khỏi vòng ham mến thế gian không ngại nếm trải sự tái sanh, nghĩa là hối cải và tin cậy. Phải có nhiều bạn trẻ không sợ dâng cho Chúa cả phần hồn lẫn phần xác để mau đi cứu những kẻ đang còn chìm ngập.
Ước gì anh em dâng sự hăng hái của mình vào việc thiêng liêng, sự hăng hái mà anh em đã tỏ ra trong các môn thể thao và mọi cuộc vui thú của đời. Cần sự hăng hái, sự trẻ trung cùng tài năng của anh em để đem lời Chúa đến mỗi gia đình, hầu cho những người đã thất vọng về thiện ác, chân giá đời này, đều nhận được sự khải thị của Đấng phán rằng: “Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình thì có ích gì? Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống. Ta là người chăn hiền lành, người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình. Các ngươi hãy yêu thương lẫn nhau.” Các bạn há chẳng nên giúp sức cho lòng yêu thương chân thật được toàn thắng trên mặt đất này và sự hiềm thù phải lui bước sao? Các bạn không muốn sung vào đội quân Đấng Christ mà chiến đấu sao? Ông Edmond De Pressensé đã nói: “Cái sẽ thắng thế gian này ấy là đạo Tin Lành trở lại như lúc ban đầu, có tinh thần hăng hái cùng sự dũng cảm thuở trước.”
S. VERNIER
-T.N.B. dịch-
365. THÚC GIỤC BỎ TÁNH XẤU TỔN THƯƠNG DANH CHA THIÊN THƯỢNG
(Bắn bức chân dung)
Thuở xưa, ở một thành kia có một ông phú hộ, lúc chết để lại một gia tài to tát. Gia tài này sẽ về tay đứa con một ông, nhưng lúc ấy nó đương đi du lịch, và cả thành không ai biết mặt nó.
Cách ít lâu có ba thanh niên ở đâu đến khóc lóc và kể lể dường như thương tiếc kẻ chết lắm. Có ai hỏi thì mỗi người đều tự nhận là con một của kẻ thất lộc.
Nội vụ lôi thôi mâu thuẫn này được đem đến quan tòa để nhờ phân xử.
Quan tòa dạy đem một bức chân dung của người chết đến, và họ vẽ nơi ngực tấm hình một dấu đen, đoạn Ngài nói với cả ba người rằng:
-Đây là hình của kẻ thất lộc, ta giao cung tên cho các ngươi, ai bắn trúng dấu của ta gạch, thì sẽ được thưởng trọn gia tài. Người thứ nhất bắn gần trúng, kẻ thứ nhì bắn gần hơn, nhưng đến phiên người thứ ba thì... Người này ái ngại ngại và lưỡng lự không muốn bắn. Quan tòa thúc giục mãi, người mới cầm cung tên lên, nhưng vừa nhắm thì tay, chân run rẩy, quăng cung tên và khóc rằng:
-Không tôi không biết bắn... và tôi không muốn bắn... tôi chịu mất gia tài tôi hơn là... chàng vừa nói đến đó, quan tòa bèn chạy lại nắm tay chàng và nói rằng: Ngươi quả thật là đứa con một của kẻ thất lộc, ngươi sẽ hưởng cả gia tài, còn hai đứa kia chỉ là những tên giả mạo... Vì con thật bao giờ cũng yêu cha, không nỡ nào xoi tim cha bằng mũi tên, mặc dầu hình kia chỉ là bức sơn vẽ.
Hỡi các bạn, ta có phải là con thật của Chúa chăng? Ta có đáng làm điều gì để chứng rằng ta là con của Ngài và đáng được hưởng gia tài Ngài chăng? Ta có giống như những kẻ kia, mạo nhận là con của Chúa, thương Chúa giả dối, là tay sai của ma quỉ và đã cùng nó đâm giáo vào tim Ngài chăng?
366. ĐỌC KINH THÁNH, SÁCH HAY CŨNG VẪN LÀ ÍCH LỢI LỚN
(Đem rổ múc nước)
Một người Ả-rập bảo con rằng:
-Con ơi, ra giếng múc nước đầy rổ này cho ta.
Đứa con vâng theo. Nhưng khi trở về nó nói rằng:
-Thưa cha, con làm theo lời cha, nhưng nước chẳng ở nguyên trong rổ.
Thật thế, nhưng rổ đã sạch hơn biết mấy! Cha đáp:
-Chúng ta không thể nhớ hết những điều hay, ý tốt đã đọc qua, nhưng chúng nó vẫn để dấu tích trong lòng ta và lọc sạch tư tưởng của ta. Vả, lời hay, ý tốt hơn hết là ở trong Kinh Thánh.
367. NHỮNG TÁNH XẤU LÀM TÊ LIỆT ĐỜI SỐNG THUỘC LINH
(Nhân sao bậc anh hùng ngã chết?)
(IISa-mu-ên 1:19-25)
Ô.J. C. Massée là một nhà truyền đạo có danh tiếng hơn hết của hội Baptiste ở nước Mỹ. Mới đây ông phát một bản báo cáo quan trọng dựa vào những sự xem xét của mình đương khi rao giảng Tin Lành ở nước Mỹ.
Xem xét cả 31 xứ của nước Mỹ trực tiếp với tình hình mỗi nhánh đạo Tin Lành, từ thôn quê đến thành thị, ông có một cảm tưởng rất rõ rệt rằng: Trừ ra một vài trường hợp đặc biệt, thì so với mười lăm năm trước, hầu hết các chi hội đều kém sút về từng trải thiêng liêng và trình độ đạo đức. Có một sự gì đã xảy ra, đã lan rộng và có tính cách nghiêm trọng đến nỗi ta cảm thấy Hội Thánh ngày nay hòng gặp tai họa.
Rồi ông kể ra rằng phần đông tín đồ trong Hội Thánh đã:
-không tin, không tôn kính và không đọc Kinh Thánh.
-không cảm thấy Chúa hiện diện.
-không từng trải sự tái sanh một cách rõ rệt, không cảm thấy tội lỗi là ghê gớm.
-không ước ao sự thánh khiết.
-không tin thật có địa ngục.
-không nhóm họp thờ phượng Đức Chúa Trời trong nhà thờ.
-không mạnh mẽ làm chứng về mình thật đã nếm trải Đấng Christ.
-không phân rẽ với thế gian.
-không thông công với Đức Chúa Trời.
-không kết tình giao hảo với các thánh đồ.
-không tin lẽ đạo về loài người là bất diệt.
-không tin rằng con trẻ đã khôn lớn mà ở ngoài Đấng Christ thì bị hư mất.
-không trực tiếp với bạn trẻ khi rao giảng Tin Lành.
-không thương xót kẻ hư mất.
-không có lòng sốt sắng gánh vác công việc truyền đạo ở các nước ngoài.
-không hiểu biết Tin Lành về sự chuộc tội.
-không quen cầu nguyện và không có linh lực để cầu nguyện.
Tình hình ấy đã sinh ra một thái độ hờ hững với cõi thiêng liêng, một đời đạo đức tê liệt, không ai lay chuyển được, một sự thất bại về phần các lãnh tụ của Hội Thánh, một sự lạt lẽo trong khi rao giảng Tin Lành, chẳng có ý nghĩa và quyền phép gì cả.
Anh em trong Hội Thánh Việt Nam có ai vấn vương một vài khuyết điểm nói trên chăng?
368. CẦN PHẢI DẠY ĐẠO CỨU RỖI CHO CÁC CON THƠ DẠI
(Mất con)
Không phải nó bị bắt cóc đâu. Không phải quân cướp bắt nó nhịn đói, mặc nó kêu khóc, làm cho cả nước hốt hoảng đi tìm. Thế mà sự mất con này lại thê thảm vả thiết thực khôn xiết.
Cha nó để mất nó. Ông bận làm việc mệt lắm, không thể ngồi trả lời những câu hỏi ngây thơ của nó. Nó chỉ biết cha nó là vĩ nhân, là anh hùng độc nhất, nhưng cha nó đã bỏ rơi nó.
Mẹ nó để mất nó. Bà lo tiếp khách, dự tiệc tiệc, trang điểm. Bà mặc cho đầy tớ dạy con cầu nguyện. Cho nên gia đình không giữ được con nữa.
Hội Thánh để mất nó. Người ta quá lo soạn những bài giảng sâu nhiệm, soạn những bài rất cao xa, nên đã bỏ lửng con trẻ. Chúng chẳng nhận được chút gì nơi Hội Thánh.
Ấy vì thế mà bây giờ cha mẹ buồn thảm và Hội Thánh lo lắng. Kìa, họ quì gối, khóc lóc xin Chúa cứu linh hồn của đứa trẻ hư mất. Nếu trước kia làm trọn bổn phận, thì bây giờ làm gì có cảnh tượng đau lòng ấy.
-The Elim Evangel-
369. CÁC CON SỐ VỀ SỰ PHÁT KINH THÁNH
(Đuốc soi đêm tối)
Tờ trình hằng năm của Thánh thơ công hội bao giờ cũng có ý vị. Trong năm vừa qua Hội đã phát được 11.318.575 cuốn sách; 1.151.099 Kinh Thánh; 1.379.509 Tân Ước; 8.787.967 sách trích ở Kinh Thánh. Hiện nay, Hội đã ấn hành Kinh Thánh bằng 723 thứ tiếng. Năm vừa qua đã dịch Kinh Thánh ra 12 thứ tiếng mới.
Ở Trung Hoa đã phát hành được 3.031.000 cuốn, kém năm trước 915.000 cuốn. Cứ theo hiện tình thì kết quả ấy thắng chớ không bại. Ở Đức sút kém năm trước mất 15.000 cuốn. Nếu không thì ở khắp Trung Âu đâu có tăng tiến. Ở Ý thêm được 26.000 cuốn và ở các xứ mà tiếng Anh thịnh hành có thêm được 132.000 cuốn.
Tốn tất cả 385.348 Anh kim và lỗ mất 7.256 Anh kim. Tóm lại, từ khi sáng lập vào năm 1804 Hội đã rải được hơn 498 triệu cuốn về Kinh Thánh, trong số đó chừng 124 triệu cuốn bằng tiếng Anh. Những con số đó thật là hùng biện! Không cần phải bình phẩm gì nữa.
-T.N.B-
370. KHOA HỌC GIA TIN NHẬN KINH THÁNH
(Nhà khoa học với Kinh Thánh)
Thường nghe nói rằng các nhà Khoa học không tin Kinh Thánh. Thật ra chỉ có một số đông tin còn một số không tin. Có mấy nhà Khoa học danh tiếng nhất hoàn cầu cũng tin theo Đấng Christ.
Michael Faraday, nhà khoa học danh tiếng của nước Anh, môn đồ sốt sắng của Đấng Christ, nói rằng: “Hi vọng của tôi lập trên đức tin trong Đấng Christ.” Một ngày kia, ông đương đọc Kinh Thánh, có người bạn vào thăm, thì ông nói rằng: “Có quyển sách đầy phước này để dắt dẫn mình, cớ sao loài người còn đi lạc đường?”
Ông Isacc Newton cũng là môn đồ Đấng Christ; ông rất tin: “Sự trông cậy hạnh phước” (Tít 2:13), tức là sự tái lâm của Đức Chúa Jesus Christ. Ông có viết một quyển “Phê bình sách Đa-ni-ên”.
Ông Kelvin, một nhà khoa học trứ danh, nói rằng: “Nếu anh em suy nghĩ cho thật sâu xa, thì buộc phải tin Đức Chúa Trời.”
Ông Pasteur vốn được coi là nhà khoa học bậc nhất, có một biệt hiệu là “kẻ thù của vi trùng và của chủ nghĩa vô thần.”
Kinh Thánh không phải là sách khoa học, nhưng không hề nói sai khoa học. Sách Gióp có lẽ cổ nhất trong Kinh Thánh, luận về Đức Chúa Trời rằng: “Chúa treo trái đất trong khoảng không không” (Gióp 26:7). Tại sao ông Gióp không nói rằng trái đất đặt trên vai thần Atlas, hoặc trên lưng con voi, con rùa? Vì đương khi chép ông được Đức Thánh Linh dắt dẫn. Cả Kinh Thánh cũng vậy. – “Ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời (IIPhi-e-rơ 1:21). Dầu sống trong một đời vô khoa học, các dân ấy cũng không lầm lẫn.
-Geo H. Gilmer (The Biblical Digest)-
371. TÍN ĐỒ KHÔNG CẦN SỢ “TRŨNG BÓNG CHẾT”
(Ngủ lúc qua hầm)
Một nhà Truyền đạo trứ danh của xứ Tô Cách Lan ưa thuật lại một truyện rất hay để tỏ ra rằng môn đồ của Đấng Christ không nên sợ “Trũng bóng chết”.
Ông nói rằng có một bà cụ ở miền núi xứ Tô Cách Lan suốt đời ao ước đến thăm thành Edimbourg. Nhưng bà sợ đi xe lửa, vì nếu đi xe lửa thì phải chui qua hầm.
Nhưng một ngày kia có việc bắt buộc bà phải đến Edimbourg. Trong mấy giờ đồng hồ bà khiếp sợ quá. Nhưng trước khi qua hầm, bà mệt mỏi vì xúc động nên ngủ thiếp đi, lúc thức dậy thì xe lửa đã vào ga Edimbourg!
Bao phen chúng ta sợ chết, nhưng chắc chúng ta ngủ đương khi qua đường chết. Trước khi biết mình vào hầm, thì ta đã ở bên kia hầm rồi!
372. SỰ CHẾT CỦA NGƯỜI CÓ LÒNG TRONG SẠCH THẬT TỐT ĐẸP THAY!
(Phút hóa hình)
Một thiếu nữ mười sáu tuổi đang hấp hối. Cô đầy hi vọng trong Đấng Christ, nhưng rất sợ phút chiến đấu cuối cùng. Buổi chiều cô phải từ trần, một buổi chiều tháng sáu đầy những hương thơm ngào ngạt, bà con họ hàng đương nhìn xem cô, thì tâm hồn trẻ trung của cô bắt đầu hóa hình. Có một ánh sáng thiên thượng bao bọc cô. Vui mừng và kinh ngạc, cô ôm choàng lấy cổ của cha mà nói rằng:
-Cha ơi, có việc gì xảy ra thế?
-Con ơi, Chúa đến rước con đây, người cha đáp.
-Ồ qua đời như thế này thật phước biết bao!
Những người chứng kiến dường như thấy linh hồn kẻ yêu dấu bay lên thiên đàng; họ nói rằng:
-Phải, sự chết của kẻ có lòng trong sạch thật tốt đẹp thay!
373. SỰ CHẾT CỦA TÍN ĐỒ LÀ BƯỚC ĐẦU VÀO CÕI ĐỜI ĐỜI
(Chiến sĩ đầy đức tin)
Trong cuộc chiến đấu Crimée, sau trận Inkerman, có bọn lính thu nhặt xác chết để chôn cất và kẻ bị thương để đưa họ đến bệnh viện. Họ dừng lại trước thi thể một chàng thiếu niên, - chàng thấy mình bị trọng thương, nên đã bò đến gần cây. Chàng nằm gối đầu vào cây, dường như đương ngủ.
Đỡ chàng lên, bọn lính nghe như có giấy rách sột soạt. Nhìn gần hơn, họ thấy một quyển Kinh Thánh mở ra, bàn tay đẫm máu của chàng đặt vào đó, và máu đọng lại đã làm mất một phần trang giấy. Một người khiêng cố mò ra chữ trên trang ấy và lớn tiếng đọc rằng: “Ta là sự sống lại và sự sống” (Giăng 11:25).
Họ chôn chàng thiếu niên ngón tay vẫn đặt trên câu đó. Bởi chết, chàng đã bắt đầu sống. Bởi nương cậy nơi lời hứa quí báu kia, chàng đã từ kẻ chết bước vào cõi sống đời đời, từ chiến đấu vào chiến thắng, từ tối tăm vào sáng láng, từ đau đớn vào bình an.
374. TÍN ĐỒ QUA ĐỜI SẼ ĐƯỢC HỌP MẶT VỚI NHỮNG NGƯỜI THÂN MẾN ĐÃ QUA ĐỜI TRƯỚC MÌNH
(Thấy gì khi tỉnh dậy?)
Lễ Phục sinh chẳng những tuyên bố sự toàn thắng tử thần, nhưng cũng tuyên bố rằng sau khi qua đời, chúng ta lại được họp mặt với những người yêu dấu đã qua đời trước mình.
Vào buổi sáng Phục sinh tươi đẹp kia, chúng ta sẽ thức dậy chẳng những đối mặt với Chúa, nhưng cũng đối mặt với mọi người Ngài đã cứu chuộc. Chúng ta không như hoa nở một mình, nhưng nở giữa muôn triệu hoa tươi đẹp khác trong các đồng cỏ thiên thượng.
Và đây là một chuyện thật:
-Có hai cha con bị đắm tàu, cố bám lấy một chiếc xuồng, nhưng chẳng bao lâu ngọn sóng cuốn mất con. Người cha được người ta vớt lên nhưng bất tỉnh. Mấy giờ sau, ông tỉnh dậy, thấy mình nằm trên giường ấm áp trong túp lều của một người đánh cá. Thình lình nghĩ lại giờ kinh khiếp đã qua, ông bèn nhớ đến con liền quay đầu lại, ông thấy con cũng nằm bình yên bên cạnh mình.
Chúng ta hết thảy bị ngọn sóng thời gian cuốn đi, kẻ nọ sau người kia; cũng có khi thình lình phân rẽ nhau vì cơn bão tố hung hăng. Nhưng khi tỉnh dậy ở bờ bên kia, chúng ta sẽ gặp hết thảy những người đã đến bến thiên đàng trước và đương đợi chờ mình.
375. SỨ ĐIỆP NGÀY LỄ PHỤC SANH
(Thua chăng? - Không!)
Đám sương mù trên đỉnh núi Gô-gô-tha đã bị tiêu tan vì ánh sáng chói lọi của buổi sáng ngày Phục sinh.
Buổi chiều ngày thứ sáu, vào lúc hoàng hôn, Ni-cô-đem và Giô-sép A-ri-ma-thê đến đồi Gô-gô-tha nơi Đức Chúa Jesus bị đóng đinh vào thập tự giá.
Hai ông sau khi được phép của Phi-lát, rút đinh khỏi tay, chân Đức Chúa Jesus và họ nhận thấy rằng tử thần đã hành động. Trong bóng tối, họ khiêng đến mồ mả một thi hài xanh nhợt không cử động nữa.
Thập tự giá chỉ truyền đi một tiếng: THUA! và ở địa ngục nổi lên một hồi thanh chế giễu vang lừng: THUA! Đó là sứ mạng bất toàn của buổi tối ngày thứ sáu.
Những ngày, giờ qua. Bóng tối bắt đầu tiêu tan. Ánh sáng rực rỡ của ngày thứ nhất trong tuần lễ tràn ngập khu vườn, làm nổi màu trắng thần tiên của hoa huệ, và làm lấp lánh những giọt sương đọng trên tấm thảm cỏ xanh.
Mấy bà thánh ủ rũ, cúi đầu bước trên đường hoa, đến gần mồ mả.
Ồ! Lạ lùng thay! Vầng đá đã lăn xa! Hơi sợ, các bà nhìn vào trong rồi lui lại, kinh ngạc. Một thiên sứ hiển hiện, khác nào một trụ tuyết, phán cùng mấy bà đương kinh ngạc rằng:
-Các ngươi đừng sợ chi cả! Ngài không ở đây đâu, Ngài sống lại rồi! Bây giờ các bà vội chạy đi báo tin toàn thắng cho các môn đồ của Chúa: “Đức Chúa Jesus đã đánh bại kẻ thù!”
“Hỡi sự chết, sự thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu?” (ICô-rinh-tô 15:55).
Lễ Phục sinh hôm nay, chúng ta hãy đứng thẳng lên, trước cây thập tự toàn thắng mà cũng trước một mồ mả trống không. Kẻ thù độc ác nhất của loài người đã bị thua và chúng ta chẳng chút sợ hãi.
376. QUYỀN TỂ TRỊ CỦA CHÚA LÀM ÍCH LỢI CHO TÍN ĐỒ
(Chim mẹ theo con)
Một toa xe lửa chở hàng đương chữa trong xưởng, thì một con chim sẻ đến đóng ổ và đẻ trứng ở góc mui toa. Chữa xong, toa đem ra chạy, mấy con chim sẻ mới nở dường như không còn được mẹ săn sóc nữa. Nhưng xe lửa đã chạy được mấy trăm dặm, thế mà chim mẹ vẫn không chịu bỏ con. Những người làm việc trên xe lửa cảm động quá, bèn trình ông Giám đốc. Ông ra lịnh để toa xe ấy nghỉ chạy cho tới khi những con chim non đủ lông đủ cánh, có thể tự nuôi thân được.
Này, anh em, Đấng Giám đốc cả vũ trụ há chẳng có thể ra lịnh cho mọi sự “Nghỉ chạy” hay “cứ chạy” hoặc “đổi hướng” để làm ích cho con cái Ngài sao?
-The Alliance Weekly-
377. CẦN XEM TRÁI ĐỂ BIẾT CÂY
(Sao biết ong giả?)
Một nhà chế tạo làm được con ong, cũng vỗ cánh bay được, cũng kêu vo vo, người đứng xem không tài nào biết được là ong giả cho tới khi hỏi rằng:
-Nó có làm ra mật không?
Chỉ một sự thí nghiệm đơn sơ ấy đã phân biệt ong thật với ong giả. Đức Chúa Jesus có phán rằng: “Vì hễ xem trái thì biết cây” (Lu-ca 6:44). Khi có ai khoe khoang lý thuyết hoặc lẽ đạo của họ, ta chỉ cần hỏi rằng: “Thế thì anh em được kết quả gì?” (Rô-ma 6:21).
378. ĐỜI SỐNG CÓ ẢNH TƯỢNG CHÚA ẮT CÓ QUYỀN NĂNG KHI CHỨNG ĐẠO
(Ảnh của thân phụ tôi)
Trong hồi Âu chiến có hai người lính nước Anh gặp lúc nhàn rỗi, cùng nhau chuyện trò. Một người nói về cha mình, khoe khoang đủ thứ tài đức của cha. Cứ như lời hắn nói, thì cha hắn là một bậc vĩ nhân rồi. Cuối cùng hắn móc túi rút một tập ảnh của cha mẹ, bày ra trước mắt bạn, bạn ngắm nghía và tấm tắc khen ngợi.
-Này, sao anh không nói cho tôi biết thân phụ anh là thế nào? Anh không có ảnh của thân phụ anh cho tôi xem sao?
Bạn chậm rãi đáp:
-Không chắc tôi có đem theo. À! Anh đợi một chút. Có lẽ tôi có đây. Mà tôi còn tặng anh tấm ảnh ấy nữa kia.
Người này móc túi lấy một đồng tiền vàng có in hình vua George nước Anh đương ngắm nghía thái tử và quần thần rồi tiếp:
-Đây là ảnh của thân phụ tôi. Anh hãy giữ lấy làm kỷ niệm.
Thì ra người lính đó chính là thái tử nước Anh. Thái tử bỏ đi, miệng mỉm cười, làm cho người lính kia ngạc nhiên hết sức.
Thật có một sự dạy dỗ quí báu. Nếu đời môn đồ Đấng Christ in rõ hình ảnh Đức Chúa Cha ở trên trời, thì lời làm chứng của họ trong thế gian này sẽ mạnh mẽ dường nào!
379. VIỆC THIỆN CỦA HỘI THÁNH CẦN TRỔI HƠN VIỆC ÁC VÂY QUANH HỘI THÁNH
(Ma quỉ nguôi giận)
Có truyện thuật rằng ma quỉ thấy xây một nhà thờ thì giận hoảng, bèn đi kiếm một vầng đá lớn để phá nhà thờ. Nhưng nhà kiến trúc can rằng:
-Ngươi không cần phải khó nhọc như vậy. Ngươi sẽ có phần. Ta sẽ xây một tiệm khiêu vũ ở gần nhà thờ.
Ma quỉ nguôi giận và biết rằng việc ác của một tiệm khiêu vũ bao giờ cũng trổi hơn việc thiện của một nhà thờ. Hỡi môn đồ Đấng Christ, anh em có làm gì để giúp cho việc thiện do chi hội mình trổi hơn việc ác ở chung quanh chi hội mình chăng?
380. AI NẰM TRONG VÕNG MÂY?
(Sự nhu mì)
Trên đời này phần đông hay khoe khoang, kiêu ngạo, dùng uy quyền hơn là dùng ân nghĩa, vậy chúng ta là môn đồ Đức Chúa Jesus phải đóng đinh xác thịt vào thập tự giá, mở lòng đón rước thần linh khiêm nhường, nhu mì vào cai trị mãi mãi. Lòng đã khiêm
nhường, nhu mì thì ta được bình yên, không tranh cạnh không tức bực ai, trái lại sẽ yêu thương, tha thứ và tử tế với mọi người. Sự thắng của tín đồ chẳng phải là đem mình lên, nhưng chính là hạ mình xuống. Chúng ta sẽ được đi qua khải hoàn môn của thiên
đàng chẳng phải vì đã dùng xác thịt mà chiến đấu, nhưng là vì đã dùng đạo tâm mà nhường nhịn.
381. SOI GƯƠNG CHÚA NHU MÌ
(Noi dấu chiên con nhu mì)
Đức Chúa Jesus là Đấng rất nhu mì (Ma-thi-ơ 11:29). Xin nhớ rằng suốt thời kỳ ở thế gian này, Ngài đã bày tỏ lòng nhu mì, khiêm nhường lạ lùng. Ngài bị thiên hạ bỏ quên và coi là con do tội lỗi mà sanh ra (Giăng 8:41; Ma-thi-ơ 1:19; v.v...); bị vu cáo là lấy quyền phép của quỉ mà trừ quỉ (Ma-thi-ơ 13:24); bị coi là ngu dốt (Giăng 7:15); bị khinh dể vì sốt sắng binh vực sự thánh khiết (Mác 3:20-21); vì sống trong địa vị thấp hèn (Mác 6:3; Lu-ca 4:22); vì chịu tiếp đãi kẻ tội lỗi gớm ghiếc (Lu-ca 15:2; 7:34, 37-39); và vì không từ cây thập tự nhảy xuống (Ma-thi-ơ 27:39-44).
Nhưng trong mọi trường hợp dễ tức giận và tự tôn đó, Đức Chúa Jesus “như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, Ngài chẳng từng mở miệng” (Ê-sai 53:7). Cho nên Ngài mới có thể kêu gọi chúng ta rằng: “Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường, nên hãy gánh lấy ách của Ta và học theo Ta” (Ma-thi-ơ 11:29).
382. SOI GƯƠNG DANH NHÂN NHU MÌ
(Danh nhân với sự nhu mì)
Giăng Báp-tít treo gương nhu mì cao quí cho ta: ông chỉ xưng mình là một tiếng nói chớ không phải một người, cũng không phải một Đấng Tiên tri. Ông cũng chẳng dám nhận mình là đáng làm việc như một đầy tớ thấp hèn nhất của Chúa. Vậy nên ông được Chúa kể là lớn hơn hết trong cả hàng Tiên tri của đời Cựu Ước (Giăng 1:19-27; Ma-thi-ơ 11:7-14).
Có một lời của Giăng Báp-tít mà chúng ta đáng ghi khắc vào lòng: “Ngài phải dấy lên, ta phải hạ xuống” (Giăng 3:30). Chúng ta hãy dùng câu ấy làm khẩu hiệu cho cả đời mình; càng ngày Đức Chúa Jesus cũng được tôn cao trong lòng tôi, và càng ngày tôi càng hạ mình dưới chân của Ngài. Theo nguyên văn, chữ “dấy lên” có ý càng ngày càng cao hơn mãi, và chữ “hạ xuống” có ý càng ngày càng xuống thấp hơn. Đời chúng ta nên tấn tới trong sự nhu mì.
Tấn sĩ Andrew Murray luận rằng: “Nhu mì là cội rễ của thiện đức. Kiêu ngạo là cội rễ của mọi tội lỗi.” Thật vậy, sự kiêu ngạo là tội lỗi lớn nhất và cổ nhất.
Ông Mục sư F.B. Meyer khi được 90 tuổi, có nói rằng: “Xưa kia, khi tôi còn trẻ thơ trong ân điển, tôi có một ý lạ, tôi tưởng Đức Chúa Trời như ông chủ tiệm buôn, bày ân tứ quí nhất ở ngăn cao nhất đến nỗi tôi phải nhón (kiểng) chân mới với được. Nhưng bây giờ đã già nua tuổi tác, tôi thấy Đức Chúa Trời làm trái hẳn, Ngài bày ân tứ quí nhất ở ngăn thấp sát đất, tôi phải cúi rạp xuống mới lấy được.”
Lời ấy có nghĩa là chúng ta càng tấn tới trong đời thiêng liêng bao nhiêu, thì càng hạ mình bấy nhiêu; và người nào thật nhu mì, sẽ được các ơn cao quí nhất của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 5:5; Thi-thiên 37:1).
383. CÁI THẢM CHÙI CHÂN GỢI ĐỨC NHU MÌ
(Cái thảm ở dưới chân người)
Nguyên văn Tân Ước có chép 24 lần chữ “Tapeinos” dịch là hạ xuống hay địa vị thấp hèn như trong Lu-ca 1:48, 52; Rô-ma 12:16; Gia-cơ 1:9-10, 4:6 và 5:3; Ê-phê-sô 4:2; Phi-líp 2:3; Ma-thi-ơ 11:29; v.v... ta nên đọc các câu này kỹ càng trước mặt Chúa và xin Đức Thánh Linh cho lòng mình dầm thấm ý nghĩa của các câu ấy.
Xin nhớ rằng chữ Gờ-réc “Tapeinos” có nghĩa là cái “thảm bằng nhung” mềm mại, đẹp đẽ, dầu bị người ta dày xéo cũng không bao giờ phàn nàn. Chữ “Tapis” (tấm thảm) trong tiếng Pháp do chữ “Tapeinos” này mà ra. Ở Phi-líp 2:8 mấy chữ “tự hạ mình xuống” (Tapeinos) có ngụ ý rằng chính Đức Chúa Jesus, vua vinh hiển đời đời, đã hạ mình làm cái thảm chùi chân chúng ta. Ba lần Tân ước dùng chữ “Tapeinos” nói về Đấng Christ (Phi-lip 2:8; Ma-thi-ơ 11:29; Công-vụ Các-sứ-đồ 8:33). Ông J. H. Jouett luận rằng: “Có lẽ ta không còn rửa chân môn đồ như Chúa đã làm, nhưng ta có thể là con đường dễ chịu hơn đôi chút cho tôi tớ Chúa. Đường đi lắm chặng có đá mấp mô làm đau chân, những người đầy lòng yêu thương sẽ trải thân làm tấm thảm mềm mại, dầu bị dày xéo cũng không oán trách.”
384. LÝ DO CẦN PHẢI SỐNG NHU MÌ
(Đức nhu mì thực hiện trong đời ta)
Xin chú ý vào lời phán của Đức Chúa Jesus: “Hãy đến cùng Ta... Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường nên hãy gánh lấy ách của Ta và học theo Ta, thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ.”
Cái ách cũng gọi là vai bò: chúng ta đồng đi với Đức Chúa Jesus, thì mới gánh vai bò ấy được. Con bò có tánh yên lặng, đi thong thả, con ngựa hay chạy và nhảy. Hai con thú ấy đồng đi dưới một cái vai bò thể nào được? Vậy phải đồng tánh với Chúa thì mới đồng đi với Ngài được. Tự nhiên chẳng có người nào nhu mì, khiêm nhường nên phải “học theo Ta!” Môi-se được Chúa khen là nhu mì, nhưng ông phải mất 40 năm ở xứ Ma-đi-an để học theo Đức Chúa Jesus (Giăng 12:3; Công-vụ Các-sứ-đồ 7:29-30). Chẳng những phải nhu mì mà thôi, chúng ta còn phải tấn tới trong sự nhu mì nữa.Ông Hudson Taylor nói rằng: “Đời sống Đức Chúa Jesus ở thế gian này bắt đầu trong cái võng mây và kết liễu trên cây thập tự. Trái lại, đời tín đồ bắt đầu tại nơi mình thấy cây thập tự rồi đến cuối cùng nằm trên võng mây.” Ý nghĩa câu này thật hay. Khi mới sanh ra Đức Chúa Jesus nằm trong cái võng mây trong làng Bết-lê-hem, rồi Ngài cứ lớn lên cho đến khi chịu chết trên cây thập tự. Trái lại đời thiêng liêng của chúng ta bắt đầu từ khi thấy Đức Chúa Jesus chịu chết trên cây thập tự thay mình, rồi càng ngày càng phải giống như con trẻ rất khiêm nhường, nhu mì, đến nỗi thành như con nít nằm trong võng mây! Nhưng chúng ta phải cẩn thận tránh sự khoe mình là nhu mì, khiêm nhường. Chắc sự kiêu ngạo thiêng liêng là tội nguy hiểm hơn hết. Người ta có thể trừ bỏ tánh khoe khoang về những điều bề ngoài nhưng cứ khoe khoang về đời thiêng liêng. Thật vậy, ta có thể trở nên kiêu căng vì mình có lòng nhu mì.
Mục sư Frost, Hội trưởng một Hội truyền giáo lớn nhất bên Tàu, có cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa, xin cho con thật nhu mì, khiêm nhường, nhưng đừng cho con sự đó.” Cuối cùng, hãy nhớ rằng khi ta xin Chúa làm cho mình nhu mì, Ngài sẽ cho phép nhiều điều rất khó chịu xen vào đời ta, để ta được nên thánh vì nhịn nhục. Nhưng nếu dốc lòng theo con đường nên thánh, ta sẽ có sự vui mừng, bình yên không chút nào tả xiết được, sẽ tự hút không khí của Thiên đàng, xa hẳn quả đất âu sầu, rối loạn này.
-H. H. D. X.-
385. CHĂM CHÚ VÀO CHÚA, ẮT TRÁNH ĐƯỢC SỰ CÁM DỖ
(Bình dầu)
Có sự tích một người đến xin một ông vua Phương Đông bảo cho cách tránh sự cám dỗ. Vua truyền cho người ấy lấy một bình dầu đầy tới miệng, và phải mang đi quanh kinh thành, không được đánh đổ một giọt nào.
-Nếu ngươi đánh đổ một giọt, thì ngươi sẽ bị chém đầu ngay. Vua phán. Hai tên lính tuốt gươm trần đi kèm hai bên, sẵn sàng thi hành mạng lệnh tàn ác đó. Hôm ấy, nhằm hội lớn, phố xá đông nghịt khách đi xem hội, hàng quán la liệt.
Người đi mang bình dầu cẩn thận đến nỗi chẳng một giọt nào đổ ra ngoài. Lúc trở về, vua hỏi:
-Ở thành phố có gì không? Ngươi có thấy ai không?
-Tâu bệ hạ, tôi chẳng thấy gì và chẳng thấy ai hết. Tôi chỉ chăm chú nhìn bình dầu.
-Chỉ có cách đó là tránh được sự cám dỗ. Hãy chăm chú vào Đức Chúa Trời như vậy, các ngươi chẳng còn bị cám dỗ nữa.
386. THÚC GIỤC THANH THIẾU NIÊN VÂNG LỜI CHA MẸ
(Từ nay xin chừa)
Vợ chồng ông Thụy đến ở Cẩm Phả đã mấy năm nay. Ông bà sanh được một gái và một trai. Cô Kim mười hai tuổi, còn cậu Ngọc lên mười. Ông Thụy làm thợ ở mỏ than rất vất vả. Nhà ông ở cách mỏ ba cây số, nên buổi sáng ông phải dậy sớm ra đi, đến tối mịt mới về. Trời mưa hay nắng, nóng hay lạnh, ông đều phải đi làm như thế. Bà Thụy lo thu dọn nhà cửa, thổi cơm nấu nước và trông nom con cái. Bà gắng sức dạy dỗ con cái phải kính sợ và phục sự Đức Chúa Trời.
Kim và Ngọc ít có bạn bè. Khi hai chị em chơi đùa, bà mẹ coi ngó luôn, sợ con làm điều gì không tốt chăng. Thứ nhất là bà cấm con vào chơi trong rừng. Buổi sáng kia, về mùa hạ, bà Thụy mải lo giặt quần áo ở đằng sau nhà. Hai chị em bị cám dỗ mạnh quá, nên nhất định đi chơi xa. Chúng lảng vảng trong vườn, rồi lén ra ngoài ngay khi mẹ lom khom giặt giũ. Sung sướng quá, chúng rảo bước, vừa ngoái cổ lại xem mẹ có nhìn theo mình không. Chúng đi hết khoảng đường dài cát bụi, rồi vào khu rừng rộng.
Lúc hai chị em từ nhà ra đi, thì mặt trời chói lòa; lòng chúng nhẹ nhàng, hớn hở. Chúng chạy, nhảy, chơi đùa như hai con chiên trên đồng cỏ xanh tươi. Đây đó mọc những cây dâu sai trái chúng hái ăn ngon lành. Chúng nghĩ thầm rằng suốt đời
mình chưa hề được một ngày nào sung sướng như thế. Trời đã về chiều, Ngọc nói với Kim rằng:
-Chị ơi, đi mãi, chơi mãi, mệt quá. Ta tìm chỗ nào nghỉ ngơi hè!
Kim nhìn quanh một phút, rồi đáp:
-Kìa, có một cây cao bóng mát, nhành lá sum suê, dưới gốc lại có cỏ xanh. Ta nên đến đó ngã lưng giây lát. Thế là hai chị em đến đó, nằm mỗi đứa một góc. Gió hiu hiu thổi. Mát quá! Chim chóc hót véo von như ru ngủ. Hai chi em mắt đã lim dim... rồi ngủ lúc nào không biết.
Khi chúng thức đậy, thì trời đã tối. Chết chưa! Chúng vội vã ra về nhưng không tìm thấy lối. Chúng cứ đi, đi mãi, mỗi lúc mệt thêm; cuối cùng Kim khóc nói rằng:
-Thôi, chúng ta lạc đường rồi! Biết thế này thì chẳng đi chơi là hơn.
Làm bộ mạnh dạn như một ông tướng, Ngọc nói rằng:
-Sợ gì? Chị đưa nón cho tôi. Tôi đi hái dâu ăn cho đỡ đói đã. Có no thì mới đủ sức tìm đường chớ?... Phải lo cho cái bụng mình no đã, còn thì tới đâu hay đó cần gì.
Rồi chúng cứ đi. Trời càng tối. Sau rốt Kim nói rằng:
-Ngọc ơi, chúng ta nên quì gối cầu xin Đức Chúa Trời giúp mình tìm thấy đường về nhà. Chị tin rằng Ngài sẽ nghe chúng ta.
Vậy, cả hai quì gối xuống đất và Kim cầu nguyện thiết tha rằng:
-Lạy Đức Chúa Trời yêu dấu, chúng tôi lạc đường rồi. Chúng tôi bỏ nhà đi chơi, thật là có tội. Nhưng xin Ngài tha tội và chỉ đường cho chúng tôi nhân danh Đức Chúa Jesus A-men!
Đoạn, cả hai đứng dậy, lại đi. Thình lình chúng nghe tiếng chó sủa; nhìn qua phía ấy, chúng thấy một ánh sáng lập lòe qua rặng cây. Vài phút sau, chúng ra khỏi khu rừng, và thấy đằng trước là một tòa nhà gạch, cửa sổ mở, trong nhà đèn đang sáng. Đi qua một đường hẹp rải đá sỏi, chúng đến trước cửa nhà đó. Ngọc nói với Kim rằng:
-Em nghĩ người nhà này tử tế. Ta thử gõ cửa.
Chúng gõ cửa, chờ xem có ai mở chăng. Kim lại cúi đầu cầu nguyện thầm rằng:
-Lạy Chúa Jesus, xin gìn giữ chúng tôi và đưa chúng tôi về nhà bình an!
Chính lúc đó, cửa mở ra, một ông trạc năm mươi tuổi, tay cầm cái đèn, giơ cao lên mà hỏi rằng:
-Các em đến đây có việc gì? Ở nhà có ai đau yếu sao?
Kim đáp:
-Thưa ông, không. Chúng tôi đi lạc đường, xin ông làm ơn cho chúng tôi ngủ nhờ một đêm.
Ngọc nói theo:
-Chúng tôi không dám phiền ông cho ăn, vì chúng tôi đã có một bọc dâu đây. Xin cho chúng tôi ngủ trên nền nhà cũng được.
Ông kia hỏi:
-Các em tên gì? Cha mẹ là ai? Ở đâu?
-Tôi tên là Kim, còn cậu này tên là Ngọc, em trai tôi. Cha chúng tôi là ông Thụy, làm ở mỏ than.
-À, à, ông Thụy! Tôi có biết ông ấy. Tôi là thầy thuốc của công ty mỏ than. Các em cứ vào nhà, ăn uống và ngủ nghỉ, sáng mai tôi sẽ dưa các em về nhà. Đừng sợ gì, tôi là người tử tế. Đừng sợ, cứ yên lòng.
Kim và Ngọc sung sướng quá, cám ơn ông.
Ông bà Thụy ở nhà sợ cuống cuồng, đi tìm con suốt đêm mà chẳng thấy đâu. Sáng đó ông không đi làm mỏ được, định đi trình nhà chức trách. Vừa ra khỏi cửa, thì ông thấy xe hơi của ông Đốc Minh là thầy thuốc của công ty mỏ than, trên xe cậu Ngọc và cô Kim ngồi chễm chệ. Ông bà Thụy mừng quá cảm ơn ông Đốc Minh khôn xiết.
Ông bà Thụy không cưng con quá đâu. Thấy con không vâng lời cha me, ông bà bèn đánh cho một trận thật đau. Kim và Ngọc không dám cãi nửa lời, chỉ kêu van xin cha mẹ tha tội, và hứa từ nay trở đi không dám trái lời cha mẹ nữa.
Các anh em xem đó làm gương, hễ cha me bảo điều hay, điều tốt thì vâng lời luôn, chớ có “Trứng khôn hơn vịt.”
-Thuật theo cô B. M. Brown, 13 tuổi-
387. BÍ QUYẾT THÀNH CÔNG CỦA D. L. MOODY
(Bảy nấc thang đến bậc vĩ nhân)
Ông Moody sanh năm 1837, trong túp lều tranh lụp xụp ở quận North Field, cảnh nhà nghèo túng; nhưng lạ thay, ông trở nên bậc vĩ nhân của thời đại mình. Tôi không có ý tán tụng ông, song muốn tôn vinh Ba Ngôi Chân Chúa: Đức Cha đã dùng ông dường ấy tùy theo ân điển vô lượng của Ngài; Đức Con đã cứu chuộc ông vì chịu chết đền tội và sống lại vẻ vang; Đức Thánh Linh đã ngự trong ông và làm việc bởi ông, - một mình Đức Thánh Linh nung đúc ông nên quyền cao cả giúp ích cho người đời. Và, Đức Chúa Trời dùng Moody trong thời đại trước cũng sẵn lòng dùng anh em và tôi trong thời đại này, miễn là chúng ta chịu làm công việc như ông để được Ngài đại dụng. Ông đã vâng theo các điều kiện nhận lãnh quyền phép Đức Chúa Trời, nên Ngài đào luyện ông thành nhà Truyền đạo lạ lùng nhất thời đại mình. Đời ông có bảy bí quyết được linh lực đề hầu việc Đấng Toàn năng, xin luận qua như dưới:
1) Ông dâng trọn thân cho Đức Chúa Trời, không chút giữ lại.
Một bữa có bạn thiết nói với ông rằng: “Tôi chưa hề thấy công việc Đức chúa Trời thi hành bởi một người hiến cả mình cho Ngài.” Ông bèn nói trong lòng: “Tôi sẽ làm người đó.” Xét chức vụ có kết quả khác thường, ta nhận biết ông nói sao làm vậy.
2) Ông là người cầu nguyện theo ý nghĩa sâu rộng nhất.
Ông là nhà Truyền đạo trứ danh, nhưng cũng là người chuyên tâm cầu nguyện. Chẳng những giúp ông gánh vác mọi việc, lời cầu nguyện cần phá tan mọi nỗi khó khăn, sung sướng trên đường đời ông. Trong cảnh ngộ nào ông cũng nhờ cậy Chúa đến cực điểm.
3) Sâu nhiệm thay, ông học tập và làm theo lời Đức Chúa Trời.
Cho tới khi buông tay nhắm mắt, ông hằng ngày dậy sớm - lối bốn giờ sáng - tra xem Kinh Thánh. Tối kia, chúng tôi bàn việc tới khuya mới ngủ. Lúc mờ mờ sáng, sau khi suy gẫm lời sống của Chúa một giờ, ông gõ cửa phòng tôi, gọi dậy nói chuyện. Ông quen ẩn trong phòng riêng, một mình với Đức Chúa Trời và xem Kinh Thánh. Có lẽ anh em đọc nhiều sách vở, dự lắm hội đồng, lại nhóm họp cầu nguyện suốt đêm để xin ban quyền Đức Thánh Linh; nhưng nếu không kết bạn thân với sách độc nhất, hẳn công phu chẳng ích lợi gì. Moody lôi kéo được muôn ngàn người đến cùng Cứu Chúa, chính vì hiểu biết và làm theo cả Kinh Thánh. Ông chỉ hiểu ít khoa học, triết học và văn học phổ thông, nhưng hiểu thấu sách độc nhất, mà thế gian tối cổ đang hư mất và nóng nảy khao khát biết rõ; họ sẽ ưa đến những ai hiểu biết và rao truyền lời sống. Anh em ơi, nên học, nên giảng, nên dạy sách độc nhất là Kinh Thánh vốn chứa tiếng phán của Đức Chúa Trời, có quyền lôi kéo, ban phước và giữ vững người ta.
4) Ông là người khiêm nhường.
Tôi tưởng suốt đời không gặp ai khiêm nhường bằng Moody. Ông thích trưng dẫn cách ngôn này: “Đức tin nhận nhiều nhất, yêu thương làm nhiều nhất, nhưng khiêm nhường giữ nhiều nhất.” Theo ý tôi, trong các nhà Truyền đạo, Đức Chúa Trời dùng Moody hơn hết; song ông chẳng có hề khinh người nào nửa con mắt. Tự biết là yếu đuối, ông hay sấp mình trước mặt Đức Chúa Trời, kêu xin và được Ngài cất bỏ ý tự cao, tự mãn.
Hỡi các bạn thanh niên, tôi tin rằng ma quỉ giăng bẫy nguy hiểm nhất ở đây. Nếu không thể lay chuyển chí khí, ma quỉ sẽ gieo giống kiêu ngạo vào lòng ta; Nó thầm nói rằng: “Tiên sinh là nhà Truyền đạo nổi tiếng nhất đời này.” Nếu lắng tai nghe, anh em sẽ bị nó phá hại. Giẫm trong lòng, thét trong trí, ngọn cuồng phong của tánh tự cao xô đẩy anh em vào đá ngầm và làm cho chìm đắm.
5) Ông được buông tha trọn vẹn khỏi ách tham tiền.
Ông có cơ hội làm nhà triệu phú, nhưng đối với ông, tiền bạc thiếu vẻ mỹ quan. Ông ưa quyên góp của cho công việc Chúa, chớ không chịu thâu trữ tài sản cho mình. Mấy triệu Mỹ kim lọt vào tay Moody song lại biến mất, không hề dính trong mười ngón tay thanh liêm.
6) Ông bị thiêu bởi lửa sốt sắng với kẻ trầm luân.
Vừa khi được cứu, ông quyết trong mỗi khoảng hai mươi bốn giờ vùn vụt qua đi, phải bàn luận về linh hồn ít nhất cho một người nghe. Ông bận rộn quá nên thường khi tới giờ cuối cùng mới sực nhớ ý định. Ông bèn từ giường nhảy xuống đất, bận áo, ra ngoài phố cắt nghĩa đạo cho một người nghe.
Đêm nọ, ông về nhà khuya lắm, thình lình nhớ chưa khuyên ai tiếp nhận Chúa Jesus, liền nói: “ Uổng mất một ngày!” Ông nhìn quanh, thấy một người lạ mặt đứng ở cột đèn, bèn lại gần gạn hỏi: “Ông tin Đấng Christ chưa?” – “Việc gì đến ông mà ông hỏi? Nếu ông không phải thầy giảng, ắt tôi đánh ngã vì tội xấc xược.” Người biết chính là Moody, nên căm tức lắm, phàn nàn với một bạn ông rằng ông “sốt sắng... không phải theo trí khôn”(Rô-ma 10:2). Nghe bạn thuật lại ông hổ ngươi đôi chút. Dầu vậy, cách mấy tuần lễ, vào lúc cảnh lặng trời khuya, ông đang nằm ngủ, bỗng nghe đập cửa thình lình. Hoảng hồn, nhảy phắt lên vì tưởng nhà cháy, ông lật đật mở cửa, té ra chính người lạ mặt kia đang tần ngần đứng đó. Người nói rằng: “Từ khi nghe ông gạn hỏi, tôi chưa hề được ngủ yên.” Ông mời người vào phòng khách, và chính đêm ấy người được buông tha khỏi quyền ma quỉ.
7) Rõ ràng thay, ông nhận lãnh quyền lực từ trên cao, tức là phép Báp-têm bằng Đức Thánh Linh!
Lúc bước vào chức vụ, ông hi vọng làm việc phi thường song chưa được quyền thật. Có hai bà thuộc hạng bình dân hay nhóm bọp ở nhà giảng ông, nói rằng mình cứ kêu xin cho ông được phép Báp-têm bằng Đức Thánh Linh. Ban đầu ông không hiểu vì sao. Nhưng lần lần ông biết mình thiếu thốn, bèn cầu nguyện với họ và cũng cầu nguyện riêng. Một bà cho tôi biết ông hằng nài nỉ thiết tha với Chúa. Khỏi ít lâu, chính lúc ông đang đi ngoài phố tấp nập, quyền phép Đức Chúa Trời giáng mạnh trên ông; ông phải vào phòng kín trong nhà một người bạn suốt mấy giờ. Đức Thánh Linh đậu trên ông, ban sự vui mừng đầy dẫy đến nỗi ông phải xin Ngài dừng tay kẻo mình chết mất. Từ chỗ đó quyền Chúa cứ theo ông, và làm việc trong ông tại thành Luân-đôn đến nỗi có mấy trăm người nhập vào Hội Thánh.
Ta đã thấy ông Moody chỉ là người học thức nông cạn, chữ nghĩa lờ mờ. Nhưng bảy bí quyết trên đây nắn đúc ông nên tay Truyền đạo có quyền năng đến nỗi nhiều lần ở khắp đô thành thế giới, lắm kẻ không có chỗ đứng ngồi để nghe ông giảng trong các nhà nhóm họp vẫn chứa được hàng vạn thính giả. Ta có thể thấy bảy đặc tính đó trong mỗi bạn thanh niên dâng mình trọn vẹn và đầy dẫy Đức Thánh Linh. Ta có thể thấy bảy đặc tính đó trong những bạn yêu quí được đọc bài này và đương kính phục Moody chăng?
Nguyện Đức Chúa Trời giúp chúng ta “chạy hầu cho giựt được, vì... đã được Đức Chúa Jesus Christ giựt lấy rồi!” (Phi-líp 3:12).
-Tấn sĩ R.A. Torrey-
388. ĐỨC TIN DŨNG CẢM CỦA HỘI THÁNH VAUDOISE
(Nhỏ mà thắng lớn)
Anh em có bao giờ nghe nói về phái tín đồ Vaudoise chưa? Bao người chẳng biết chút chi về họ, nhưng Hội thánh Vaudoise là Hội Thánh Tin Lành (Eglise Protestante) đáng chú ý nhất ngày nay. Quả thật, nói rằng Hội Thánh ấy là mẹ thiêng liêng của chúng ta cũng không phải là quá đáng.
Khẩu hiệu của Hội Thánh này là: “Sự sáng soi trong tối tăm” (Giăng 1:5). Lịch sử của Hội Thánh nhỏ mà lạ lùng này làm chứng quả quyết rằng sự tối không trừ khử được sự sáng. Chẳng ai có thể nói đúng Hội Thánh Vaudoise thành lập khi nào, có người nói là từ đời các Sứ đồ. Nhưng có điều này ta có thể quả quyết là Hội Thánh ấy bao giờ cũng theo đúng tôn chỉ đạo Tin Lành. Dầu ở trong nước Ý nhưng Hội Thánh ấy không hề chịu phục loài người.
Trong thời kỳ hắc ám, môn đồ Đấng Christ bị bắt bớ dữ dội, bèn chạy vào các thung lũng hẻo lánh của dãy núi Alpes, tại đó họ được tự do thờ phượng Đức Chúa Trời theo lòng tin của mình. Đầu chế kỷ thứ 12, các môn đồ ấy đổi danh hiệu Vaudoise mà tỏ mặt trong lịch sử. Từ đó về sau tín đồ Vaudoise nổi tiếng là những nhà Truyền đạo đại tài ở Âu châu. Tại Pra-del-torus, trên một đỉnh núi hầu như không hề có ai đặt chân đến, họ mở một trường Kinh Thánh để đào tạo các tay Truyền đạo. Tại đây, các bạn thanh niên học tập cốt để đi rao giảng Tin Lành khắp thế giới.
Thời kỳ ấy Kinh Thánh còn hiếm lắm, đem theo rất nguy hiểm, nên các viên Truyền đạo trẻ tuổi cần phải học thuộc lòng các Thi-thiên, các sách Tin Lành, vài thơ tín và mấy phần khác. Nhờ có họ giảng, Tin Lành truyền đến nước Anh, nhiều nước Âu châu và xứ Bohême, tại đây Hội Thánh Morave được khai sanh.
Khi ấy, sự bắt bớ dữ dội vô cùng đến nỗi tín đồ Vaudoise phải nhóm nhau thờ phượng Chúa trong hầm hố dưới đất. Tuy vậy họ có đức tin mạnh mẽ và chịu khổ cho đến chết.
Đầu thế kỷ 16, có một tin tức lạ lùng truyền đến Hội Thánh Vaudoise rằng một phong trào cải chánh đương làm náo động nhân dân nước Đức, và nhiều người chịu giữ giáo lý của Đấng Christ như anh em Vaudoise đã giữ trải qua hằng mấy thế kỷ. Anh em bèn phái người đi thăm dò; thì đích là như thế. Kết quả 1.532 tín đồ Cải chánh và tín đồ Vaudoise họp đại hội nghị tại Chamforan, rồi hai phái hiệp làm một. Sự quyết định ấy gây nên một cuộc phục hưng lớn mạnh như sóng biển. Anh em Vaudoise sanh lòng mạnh dạn, bèn ra khỏi hầm hố và bắt đầu xây dựng nhà thờ.
Cặp theo phong trào mới này nổi lên một cơn bắt bớ dữ dội. Hai năm 1560-1561, bóng tối tăm bủa giăng và tín đồ Vaudoise bị tàn sát, làng xóm bị đốt phá, của cải bị sung công. Năm 1655 diễn ra một tấn bi kịch gọi là lễ: “Phục sanh nhuộm máu.” Một Ủy ban được lệnh đến làm hòa với tín đồ Vaudoise, nhưng ngầm sai lính ở lẩn vời nhân dân. Đến đêm lễ Phục sanh, họ nổi hiệu lửa trên sườn đồi, và binh lính ra tay giết hết nam, phụ, lão, ấu. Những tấn kịch bi ai hơn hết đã diễn nhằm năm 1685. Không chịu phục loài người, tín đồ Vaudoise bị bỏ tù, hết cảnh tù tội cực khổ ghê gớm đến nỗi trong số 15 ngàn người thì chết hết 12 ngàn. Nhờ các tín đồ đạo Tin Lành có thế lực can thiệp, nên phần sót lại được tha ra, nhưng buộc phải bỏ xứ mà đi. Giữa mùa đông phải vượt qua dãy núi Alpes cao ngất, nên chỉ còn chừng một phần ba đến được nước Thụy Sĩ. Tại đây họ được biệt đãi, nhưng lòng họ vẫn tríu mến các thung lũng của dãy núi Alpes. Thời thế tạo anh hùng, có ông Henrarnaud dấy lên, ông vừa làm Mục sư,
vừa là đại tướng, quyết chỉ huy phần còn sót trở về chiếm lại địa phận cũ. Thật là một khúc anh hùng ca. Tám trăm người thiếu áo, thiếu ăn, nhưng không thiếu nghị lực và bền đỗ chịu cực khổ, đã thắng đạo binh đông gấp ba, đã vượt qua đất kẻ thù mà trở về các thung lũng của dãy núi Alpes.
Từ đó tín đồ Vaudoise ở phía tây bắc nước Ý, nhưng phải hoạt động trong phạm vi rất hẹp hòi cho đến năm 1848 là năm họ được giải phóng, là năm mở một kỷ nguyên mới mẻ cho họ. Giữ vững tinh thần truyền giáo, họ lập tức đi qua rao giảng Tin Lành. Ngày nay họ lập được 120 chi hội và mở nhà giảng ở khắp nước Ý. Hàng vạn người đã ra khỏi bóng tối tăm mà tiếp nhận ánh sáng của Tin Lành.
Hiện nay anh em Vaudoise lại đương trải qua cơn bắt bớ. Họ không phải đổ máu như xưa, nhưng gặp sự khó khăn trong khi hầu việc Chúa. Không được phép mở nhà giảng mới. Các ông Mục sư mỗi năm phải xin giấy phép giảng đạo, các ông bán sách Thánh mất nhiều thì giờ và phải nhọc sức mới xin được giấy phép, nhiều trường dạy đạo bị đóng cửa, và khắp cả nước Ý có phong trào bài đạo Tin Lành.
Dầu không còn được giảng giữa trời hoặc trong các diễn đàn của chính phủ như trước, nhưng anh em Vaudoise vẫn được giảng trong nhà thờ riêng. Công việc của họ làm chứng rằng “đạo của Đức Chúa Trời không hề bị trói đâu” (IITi-mô-thê 2:9) rất nhiều
người đến nghe, ăn năn tội, được cứu rỗi và dâng mình cho Đức Chúa Trời.
Hỡi anh em trong Hội Thánh khắp nơi, hãy nghiêng mình trước các bậc anh hùng đức tin ấy!
389. NGÔI SAO HƯỚNG DẪN CÁC BÁC SĨ
(Muôn sao thờ lạy)
“Kìa, ngôi sao!” (Ma-thi-ơ 2:9). Kepler, nhà thiên văn học trứ danh, đã phát minh rằng trong năm Đấng Christ giáng sanh, có xảy ra một biến động phi thường giữa các hành tinh. Ông xét trong năm đó: Mộc tinh (Jupiter) và thổ tinh (Saturne) vốn ở xa nhau, lại đến gần nhau ba lần, đến nỗi mắt trần có thể thấy tia sáng của hai hành tinh đó hút nhau. Sự hút đó sanh ra một ánh sáng rực rỡ lạ lùng suốt mấy tháng.
Song chúng tôi biết rằng ngôi sao dắt dẫn ba bác sĩ đến máng cỏ thành Bết-lê-hem là một ngôi sao đặc biệt từ ngôi thiên thượng hiện ra và sáng chói; chớ chẳng phải là ba bốn ngôi sao nào đã hiệp chung ánh sáng đâu.
-F. B. Meyer-
390. GHÉT NGƯỜI HẠI MÌNH
(Ghét người mà hóa giết mình)
Có hai con chim ó, con kia bay cao hơn con này. Không thích thế, con này gặp một tay săn bắn, bèn nói:
-Tôi ước ao ông bắn ngã con ó kia!
-Tôi bằng lòng, miễn là được vài cái lông để cặm vào tên.
Con ó này rút một lông cánh. Người bắn, nhưng không trúng con ó kia, vì nó bay cao quá. Con ó ganh gổ cứ rút cho đến khi trụi cánh, không bay được nữa. Tay săn bắn bèn xây lại giết nó.
Bạn ơi, nếu bạn ghen ghét, thì chỉ làm hại mình mà thôi.
-Moody-
391. NGƯỜI QUÍ HƠN CỦA CẢI
(Trọng người rẻ của)
Những của ta có trên đất, đến cuối cùng, đều tan vỡ như chiếc tàu đụng nhôm đá. Nhưng thà cho tàu đắm, của chìm mà mình “được lên bờ vô sự” còn hơn. Thôi, giã sóng, giã gió, giã hành trình nguy hiểm này, sau chót ta lên thiên đàng vui vẻ.
-Barnes-
392. NGƯỜI KHIÊM NHƯỜNG
(Diều gỗ)
Mạc Tử làm cái diều gỗ, ba năm mới xong. Lúc thả cho bay, được một hôm thì diều hỏng.
Học trò khen thầy rằng: “Thầy làm diều gỗ mà bay được thật là khéo!”
Mạc Tử nói: “Ta làm cái diều ba năm mới xong, diều bay mới được một ngày đã hỏng, cho là khéo thế nào được! Sao bằng người ta làm cái xe, gỗ chỉ tốn một ít, công không hết một buổi mà chở được nặng, đi được xa, dùng được lâu năm. Có thế mới gọi là khéo.”
Huệ Tử nghe câu chuyện, bảo: “Mạc Tử nói thế thật là người khéo.”
Bạn đọc tự ứng dụng lấy!
-M.T-
-C.H.T.H.-
393. ĐỪNG NGHI NGỜ ĐIỀU XẤU
(Mất búa)
Có người đánh mất cái búa, ngờ cho đứa con nhà láng giềng lấy trộm. Anh ta trông dáng nó đi, rõ ra đứa ăn trộm búa; nhìn vẻ mặt nó, rõ ra đứa ăn trộm búa; thấy nó cất nhắc, hành động, không một tí gì là không rõ ra một đứa ăn trộm búa cả.
Được một lúc, người ấy bới trong hố, lại thấy cái búa. Thì hôm sau, trông đứa con nhà láng giềng ngôn ngữ, cử chỉ lại không một tí gì là giống đứa ăn trộm búa nữa.
Ta không nên nghi ngờ điều xấu cho ai!
-L.T.-
-C.H.T.H.-
394. PHẢI THEO CHÚA
(Theo ai phải cẩn thận)
Đức Khổng Tử thấy kẻ đánh lưới chim sẻ chỉ đánh được toàn là sẻ non vàng mép. Ngài bèn hỏi rằng:
-Không đánh được sẻ già là tại làm sao?
Kẻ đánh lưới nói:
-Sẻ già biết sợ, cho nên khó được, sẻ non tham ăn, cho nên dễ bắt. Nếu sẻ non mà theo sẻ già, thì ắt sẻ non cũng khó, nhưng sẻ già mà theo sẻ non, thì ắt sẻ già bắt cũng dễ.
Đức Khổng Tử nghe, đoạn, quay lại bảo học trò rằng:
-Biết sợ để tránh tai họa, tham ăn mà quên nguy vong, đó đều là tánh tự nhiên vậy. Song phúc hay họa lại do ở cái theo khôn hay theo dại. Cho nên người quân tử, trước khi theo ai, phải cẩn thận.
“Đức Chúa Jesus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: “Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống” (Giăng 8:12).
-G. N.-
-C. T. T. H.-
395. TRÍ KHÔN LOÀI NGƯỜI LÀ BẤT TOÀN
(Mặt trời xa gần)
Đức Khổng Tử đi chơi ra phía đồng, thấy hai đứa bé cãi nhau, hỏi tại làm sao, thì một đứa nói rằng:
-Tôi, thì tôi cho rằng mặt trời lúc mới mọc, ở gần ta hơn; về buổi trưa, ở xa ta hơn.
Còn một đứa nói:
-Tôi, thì tôi cho mặt trời lúc mời mọc ở xa ta hơn; về buổi trưa ở gần ta hơn.
Đứa trẻ cãi:
-Mặt trời lúc mới mọc to như cái bánh xe, đến giữa trưa, nhỏ như cái bát ăn, thế chẳng phải tại xa ta mới nhỏ, gần ta mới to là gì?
Đứa sau cãi lại:
Lúc mặt trời mới mọc, thì mát mẻ, đến giữa trưa thì nóng nực, thế chẳng phải tại gần ta mới nóng, xa ta mới mát là gì?
Đức Khổng Tử nghe nói, không giải quyết được ra làm sao.
Hai đứa bé cười, bảo: “Thế thì cho ông là người đa trí thế nào được!”
-L.T.-
-C H. T. H.-
396. KHÔNG TIN CHÚA LÀ TỰ GIẾT MÌNH
(Ai sống lâu?)
Vua Ai-công nước Lỗ hỏi Đức Khổng Tử: “Người khôn có sống lâu không?”
Đức Khổng tử đáp:
-Có. Khôn thì sống lâu, chớ dại thì sống lâu sao được! Người ta có ba thứ chết, tự mình làm cho mình chết, chớ không phải số mệnh đáng chết mà chết!
Ăn uống không có chừng mực, thức ngủ không có điều độ, làm lụng khó nhọc quá, lười biếng chơi bời quá, người như thế, thì phải chết về bịnh tật.
Phần là người dưới, mà can phạm người trên, lòng tham muốn không chừng, tình yêu cầu không chán, người như thế thì chết về hình pháp.
Mình ngu mà kình địch người khôn, mình yếu mà khinh bỉ người mạnh; không biết lượng sức mình, mà cứ giận dữ làm liều, người như thế thì chết về binh đao.
Ba thứ chết ấy, thực không phải là số mệnh, chỉ tự mình giết mình mà thôi.
Ai không tin Đức Chúa Jesus sẽ chết trong tội lỗi mình, như Chúa phán: “Nên ta đã bảo rằng các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình; vì nếu các ngươi chẳng tin ta là Đấng đó, thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi” (Giăng 8:24).
-N. T. N. T.-
-C. H. T. N.-
397. ĐỪNG KIẾM CÁCH DÌM NGƯỜI TÀI BA
(Nói thí dụ)
Có người bảo vua nước Lương rằng: Huệ Tử nói việc gì cũng hay thí dụ. Nếu nhà vua không cho thí dụ, thì Huệ Tử chắc không nói gì được nữa.
Vua bảo: Ừ! để rồi ta xem.
Hôm sau, vua đến thăm Huệ Tử, bảo rằng:
-Xin tiên sinh nói gì cứ nói thẳng, đừng thí đụ nữa.
Huệ Tử nói: Nay có một người ở đây không biết nỏ là cái gì, mới hỏi hình trạng cái nỏ thế nào. Nếu tôi đáp rằng hình trạng cái nỏ giống như cái nỏ, thì người ấy hiểu được không?
Vua nói: Hiểu làm sao được?
-Thế thì nếu tôi bảo người ấy: Hình trạng cái nỏ giống như cái cung có cán, có lẫy, thì người ấy có biết được không?
Vua nói: Biết được.
Huệ Tử nói: Ôi! Khi nói với ai, là đem cái người ta đã biết làm thí dụ với cái người ta chưa biết, để khiến người ta biết. Nay nhà vua bảo tôi đừng thí dụ nữa thì tôi không sao nói được.
-H. T.-
-C.H.T.H.-
398. THÚC GIỤC SỰ TIẾN TRIỂN THIÊNG LIÊNG
(Hãy bay cao hơn!)
Tháng năm 1931, một nhà Bác học Thụy Sĩ là ông Piccard giáo sư ban vật lý học ở trường cao đẳng Bruxelles, cùng với người giúp việc là ông Paul Kipfer, đã thành công trong một cuộc thí nghiệm can đảm hơn hết mà hai ông đã định làm thử hồi tháng 9 năm trước, nhưng phải hoãn lại vì nhiều lẽ bất tiện. Hai ông muốn lên tới từng trên không khí (Stratosphère) cách đất 16.000 thước tây, là nơi chưa ai lên tới, để biết tính chất vùng không khí và sức mạnh các tia sáng trong vũ trụ ra sao.
Hai ông sắm sửa một chiếc khí cầu rộng 14.000 thước khối và đề phòng mọi sự. Ba giờ rưỡi sáng, hai nhà Bác học vào ngồi trong giỏ lớn hình tròn, bằng khinh kim, chứa sẵn nhiều dưỡng khí, cùng có nhiều cửa để nhìn ra ngoài.
Khí cầu bay lên rất mau. Quá một giờ rưỡi, nó cách xa mặt biển 5.000 thước, mắt trần vẫn nhìn thấy. Sau đó hai giờ, có tin báo rằng nó lên cao bảy, tám ngàn thước. Đoạn, nó lên mãi, lên mãi, và trong vòng bảy giờ thí nghiệm, nó lên cao đúng 16.000 thước. Hai nhà Bác học có thể dùng khí cụ mà ghi chép nhiều điều khảo sát rất quan trọng. Tối đến hai ông vặn máy để hạ khí cầu xuống. Trong trường hợp lạ lùng như thế, lòng hai ông tự nhiên phải hướng về Đấng Tạo Hóa, vì đã ngắm xem những công việc tốt đẹp của Ngài.
Nhằm lúc nửa đêm, sau cuộc biến thiên và lắm phen nguy hiểm, hai phi công xuống trên dãy núi Alpes Tyroliennes (1) gần xóm Gurgl. Có đội cứu binh từ thành Innsbruck sai đến tiếp đón. Được bình an vô sự, hai ông nghỉ ngơi rất xứng đáng.
(1) Là dãy núi ở miền Tyrol, nước Áo.
Người ta từ mọi nơi gởi đến vô số lời chúc mừng, khen ngợi hai bậc anh hùng trong khoa học. Vừa can đảm, vừa khiêm tốn, hai ông lại du lịch sau này bay lên tầng trên không khí một lần nữa, và cao hơn nữa, để nếu được thì sẽ ghi chép thêm nhiều điều khảo cứu về khoa học.
399. NHỜ CHÚA JESUS LÌA BỎ TỘI LÀ CÓ ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG CAO
Chúng ta khen ngợi kẻ được thành công trong phạm vi vật chất và trí khôn, nhưng trước hết nên nghĩ đến phạm vi thiêng liêng đã. Ôi! địa vị thiêng liêng hiện thời há chẳng đáng thương?
Loài người càng ngày càng chìm xuống biển ích kỷ, tư lợi, tình dục. Lương tâm họ ngủ mê, lòng họ bị xiềng xích. Họ sống trong vòng mơ hồ, lầm lạc không bay lên miền sáng láng, nhưng sa xuống cõi tối tăm. Nào ai dùng ý chí cương quyết để chống cơn cám dỗ quỉ quyệt và thoát đám sương mù tanh hôi? Phải tăng số lính hộ vệ lẽ thật, tình bác ái và tánh trong sạch. Tín đồ Đấng Christ phải dựng cao lá cờ có câu khẩu hiệu siêu việt chép bằng chữ lửa: “Phàm điều chi chơn thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thanh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhơn đức đáng khen, thì anh em hãy nghĩ đến.” (Phi-líp 4:8).
Nhưng tấn tới về phần thiêng liêng thế nào? Ta cứ chiều theo tội ác, và quá yếu đuối, bất tài hay sao?
-Này Đức Chúa Jesus ở cùng ta. Ngài là gương cao thượng, mẫu trọn vẹn, phi công đáng tin, Cứu Chúa toàn năng.
Hãy xem xét đời sống Chúa Jesus: “Ngài không giao kết với tội ác, không hề nói dối hoặc lầm lỗi; không hề chịu theo điều ô uế và tình dục hổ thẹn, nhưng bao giờ cũng chiến đấu với tội xua đuổi kẻ thù, cáo giác sự sai lầm, việc bất công, và phá tan cơn buồn thảm, cảnh nghèo hèn của loài người. Ngài ở miền thiêng liêng tối cao, chẳng chi kéo được Ngài xuống.
Sự chết nhục nhã trên cây thập tự dường đánh đổ Ngài, nhưng chỉ là dịp tiện cho Ngài ngự lên nơi vinh hiển.
Ngài có thể đổi lòng, xóa tội, ban ơn cho ta khiến tâm hồn ta đầy tình yêu và quyền phép, làm cho ta hằng được vui vẻ, đắc thắng, thanh sạch. Tóm một lời, Ngài dựng ta nên người mới. “Tạ ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Jesus Christ chúng ta” (ICô-rinh-tô 15:57).
400. CỨ ĐỒNG ĐI VỚI ĐỨC CHÚA JESUS LÀ LÊN CAO CÀNG THÊM
Ở tầng trên không khí, cao 16.000 thước, khí trời trong sạch biết bao! Hào quang rực rỡ biết bao! Còn dưới đất này thì chứa chan nỗi đau đớn, buồn thảm, vật ô uế và bước tối tăm!
Với Đấng Christ và đạo Tin Lành hay tái sanh, lòng ta bay lên miền thiêng liêng mà loài người không thể lấy sức riêng hèn mọn đạt tới.
Thiên đàng là cái đích tối cao của ta, là cửa biển yên lặng và vững chắc của linh hồn ta! Tại đó, có thể thỏa lòng trông cậy, tăng thêm dục vọng chính đáng và khỏi đói khát phước lành.
Hỡi anh em! Hãy cùng phi công thiêng liêng, là Đấng Christ, càng ngày càng lên cao. Chớ xuống khỏi nơi Ngài đã đem mình đến. Như vậy, anh em sẽ được vui trọn với Ngài cho tới khi trở về quê hương thiên thượng để gặp Ngài:
Ai ơi sự sống đời đời
Mở mang trọn vẹn trên trời cao xanh
Phước thiêng và sự công bình
Tăng thêm gấp bội thỏa tình trông mong
Ta nên nghĩ đến thiên cung!
-Paul Faivre: “Le Relèvement”-