LỜI NÓI ĐẦU
Tiếp theo quyển “Những Tia Sáng (Bố cuộc bài giảng)” vừa xuất bản, chúng tôi xin ân cần giới thiệu cùng quý vị Mục sư , Truyền đạo và các tín hữu quyển thứ hai.
Về hình thức, quyển sách này có tất cả năm trăm (500) truyện tích, bao gồm nhiều thể tài khác nhau, được biên soạn hoặc trích dịch từ các nguồn tài liệu trong sách báo ngoại quốc hay trong nước, đã đăng trước đây khá lâu hay gần đây. Bởi cớ muốn, để có thể giữ đúng bản sắc và thời gian tính của những câu chuyện, chúng tôi xin giữ nguyên vẹn những lối hành văn cá biệt của mỗi bài trích đăng mà không sửa đổi hoặc thêm bớt. Kính mong quý độc giả vui lòng lĩnh hội những tư tưởng hay, đẹp tiềm tàng trong những mẫu chuyện và bỏ qua cho những điểm sơ hở về phương diện văn chương.
Nội dung của quyển sách cũng không có ý nghĩa như một đường lối toàn vẹn hay một khuôn mẫu cố định, trái lại, mục đích của sự thành hình chỉ có nguyện vọng góp một phần rất nhỏ trong việc tìm cầu, nhận thức chân lý của Kinh Thánh. Với thái độ tinh thần đó, chúng tôi hy vọng giúp đỡ các tôi tớ, con cái Chúa một số ít các thí dụ điển hình khả dĩ làm sáng tỏ được phần nào những lẽ thật trừu tượng của đạo cứu rỗi, khi soạn thảo bài giảng cho Hội Chúng hoặc bài làm chứng về giáo lý Cơ Đốc cho những người chưa biết Chúa.
Cũng như các sách đã được xuất bản, quyển sách này vẫn trung thành với ý niệm là những tia sáng nhỏ, len lỏi bên cạnh muôn ngàn ánh đuốc bập bùng và những ngọn đèn dầu ẻo lả mảnh mai trong đêm tối, hướng về kho tàng rực rỡ của Kinh Thánh.
Bởi ơn dắt dẫn của Đức Thánh Linh cùng với tinh thần sốt sắng học hỏi, nghiên cứu Lời Chúa, mong rằng những hình ảnh đơn sơ này sẽ đem lại cho quý vị nhiều ơn phước mới, tô điểm cho đời sống thuộc linh thêm tươi thắm.
Soạn giả:
Mục sư LÊ VĂN THÁI
1. THEO CHÚA
(Ta thường ở với các ngươi)
Trận chiến tranh giữa Pháp và hai nước liên kết Ý và Áo đầu năm 1796, kết liễu ngày 17-11-1796 như sau:
Đại tướng Pháp, Bonaparte đưa quân đến một địa điểm, có cái cầu bắt qua trận tuyến địch. Trong lúc trận thế đang nguy, Đại tướng Bonaparte hô tiến qua cầu. Không một ai qua! Đại tướng xuống ngựa, giựt lá cờ quân đoàn chân bước qua cầu, miệng hô “Ai yêu tổ quốc thì theo ta.” Ngó lại, trên cầu chỉ có một mình mà lá cờ đã rách nhiều mảnh vì đạn của quân địch. Khi ấy có cậu bé mới 13 tuổi đánh trống thúc quân. Hai tay đập mạnh vào trống, chân bước qua cầu theo Đại tướng. Quân sĩ tràn theo qua cầu, Đại tướng Bonaparte toàn thắng và cũng chấm dứt cuộc chiến tranh ấy.
Tám tháng sau, Bonaparte đã là hoàng đế Napoléon trở lại chỗ cũ, có nghi lễ đón tiếp rất linh đình. Hoàng đế Napoléon muốn bắt tay cậu bé Vidal đã 21 tuổi hiện trong quân đoàn tại đó.
Hỏi đến Vidal thì cậu đã nghỉ phép để đưa đám tang mẹ. Hoàng đế Napoléon bãi bỏ tất cả nghi lễ quân cách. Đi thẳng đến làng Vidal, theo sau đám tang đến huyệt, đọc bài điếu văn. Rồi đi bộ với Vidal trở về. Vidal từ chối và mời Hoàng đế lên xe. Hoàng đế Napoléon đáp: “TÁM NĂM TRƯỚC CON ĐÃ LIỀU CHẾT THEO TA TRÊN CON ĐƯỜNG CHẾT, NAY TRÊN CON ĐƯỜNG ĐAU KHỔ CON CHO TA THEO CON CHO CON CÓ BẠN!”
Ai đã liều chết mà theo Chúa sẽ nghe tiếng Chúa “Ta ở với các ngươi cho đến tận thế.”
2. CHÂN LÝ CỨU RỖI HƠN HÌNH THỨC HAY TỔ CHỨC CỦA TÔN GIÁO
(Ngọc hay đá)
Sự tích ngọc Biện hòa.
Vào thời chiến quốc, có người nước Sở họ Biện tìm được ở núi Kim Sơn một viên ngọc đem dâng vua Lệ Vương, Vua trao cho thợ ngọc xem thì bảo là đá, Vua giận sai chặt chân trái của Biện Hòa. Đến đời Bảo Vương, Hòa lại đem ngọc phách đó dâng lên. Thợ ngọc lại bảo là đá nên Biện Hòa bị chặt thêm chân mặt. Qua đời Sở Văn Vương, Hòa định đem ngọc đi dâng nữa nhưng vì cụt hết hai chân nên ôm ngọc mà khóc 3 ngày 3 đêm đến mắt chảy máu.
Có người hỏi thì Biện Hòa đáp: Không phải vì tôi muốn được thưởng mà đem dâng ngọc, mà đau khổ vì ngọc lại bảo rằng đá, ngay mà bảo gian.
Sở Văn Vương nghe được chuyện, sai thợ ngọc đập viên đá ra thì quả có một viên ngọc phách thật đẹp. Từ đó đặt tên là Ngọc Biện Hòa.
Người đời đối với chân lý Cứu rỗi mà căn cứ vào hình thức của Tôn giáo và tổ chức của Tôn giáo thì
cũng như vậy.
Đã có câu: Rắn có chân thì Rết biết, Ngọc ẩn mình thì ngọc hay.
3. ĐỨC TÍNH KHIÊM NHƯỜNG
(Vua cũng là người)
Vua Philippe nước Macédoine là cha sinh ra vua Alexandre Le Grand, bình nhựt thường dặn một viên thiếu niên quý phái hậu cận (có người nói là một tên nô lệ) cứ mỗi sáng tinh sương phải vào tận long sàng đánh thức mà tâu nhắc rằng:
- Xin bệ hạ chớ lo: Vua cũng là người!
Trong ý vua Philippe, thì câu ấy nghĩa là: Vua chẳng qua cũng chỉ là một người. Sai người nhắc mình như thế là để trấn cái tính kiêu ngạo, nó là một thói thường hay làm hại kẻ vương giả.
Trong sách Sáng-thế Ký là sách thiêng của người Do-thái cũng có một câu ý nghĩa tương tợ để răn dạy người ta. Thiên Chúa phán bảo A-đam là người ra đời thứ nhứt rằng:
-Hỡi ngươi, ngươi nên nhớ rằng ngươi chẳng qua là một hạt bụi, rồi ngươi cũng trở về với bụi mà thôi.
Người phàm chúng ta, thì hẳn không mấy ai có luôn luôn một viên hầu cận, hoặc một tên nô lệ, để cứ sáng ra nhắc ta cái câu châm ngôn rất ích đó.
Tuy nhiên, ai nấy có thể tự nhắc lấy mình, hoặc viết ra chữ lớn mà dán trong phòng ngủ. Nhưng đồng một câu nói, vua Philippe hiểu một nghĩa, mà chúng ta lại phải hiểu một nghĩa hơi khác. Nghĩa của chúng ta thì câu ấy là “Ta nên nhớ ta là một người, phận sự ta phải ăn ở cho xứng đáng bậc làm người.”
“Ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về với bụi” (Sáng-thế Ký 3:19).
4. LẠC QUAN VỀ HÀNH ĐỘNG
(Baden Powell of Gilwell) 1
Cùng các H.Đ.S. thân mến,
Nếu đã có lần được xem vở kịch “Peter-Pan”, hẳn anh chị em sẽ nhớ lại rằng tên cướp biển luôn luôn làm tờ di chúc vì hắn sợ rằng, rất có thể không đủ thì giờ giải bày ra nữa trong khi hấp hối. Trường hợp đó rất giống với tôi, nên dù đây không phải là lúc hấp hối – nhưng tôi sẽ chết một ngày gần đây – tôi muốn gởi tới anh chị em một lời vĩnh biệt.
Hãy nhớ rằng đây là lần cuối cùng nghe tôi nói, anh chị em hãy suy tính cho kỹ.
Tôi đã hưởng một đời vô cùng vô cùng hạnh phúc và tôi muốn mỗi người trong anh chị em cũng có một đời hạnh phúc như thế.
Tôi tin tưởng Thượng Đế đặt chúng ta vào cái thế giới vui tươi nầy để hưởng hạnh phúc và hưởng những lạc thú ở đời. Chân hạnh phúc không do nơi sự giàu sang, sự thành công trong nghề nghiệp, hoặc sự đễ dãi đối với bản thân mình!
Một bước tiến tới hạnh phúc là ngay thuở hoa niên, anh chị em hãy tự tạo nên sức khỏe và sức mạnh, hầu trở thành những người hữu ích và biết hưởng đời ở mai hậu.
Sự học hỏi về thiên nhiên sẽ chỉ cho anh chị em biết rằng Đức Thượng Đế tạo nên thế giới nầy để anh chị em hưởng dụng một thến giới gồm toàn những điều đẹp đẽ và diệu kỳ.
Hãy hài lòng và hết sức tận dụng những gì mà anh chị em có, cũng như anh chị em hãy nhìn về phía trong sáng của sự vật thay vì bên tối tăm của nó.
Dầu sao phương cách tốt nhất để đạt tới chân hạnh phúc vẫn là chia xẻ hạnh phúc với người khác. Anh chị em hãy cố gắng làm cho thế giới này được tốt đẹp hơn khi anh chị em mở mắt chào đời, để rồi đến lượt mình chết, anh chị em sẽ chết một cách suing sướng với cảm nghĩ rằng mình không bao giờ phí phạm thời giờ; mà trái lại, đã hết sức lợi cụng nó.
“Sắp sẵn” như vậy để sống sung sướng và chết sung sướng. Hãy luôn luôn theo sát lời hứa hướng đạo của anh chị em dầu khi không còn thơ ngây. Cầu xin Thượng Đế giúp anh chị em thực hiện được điều nầy.
Thân ái,
Baden Powel of Gilwell
1. Là một tín đồ trung thành của Đấng Christ. Ông linh cảm tình yêu thương sâu rộng của Cứu Chúa! Hãy yêu thương người như chính mình! Ông đã sáng lập đoàn Hướng đạo, lòng mong muốn thi thố tình yêu thương của Cứu Chúa giữa nhân loại.
5. LỜI NGUYỆN CẦU ĐƯỢC NHẬM
(Quyền yên lặng nơi tâm hồn)
Ba mươi năm trước đây, tôi được một ông bạn biếu cuốn sách nhỏ giúp tôi đổi hẳn đời mình. Sách nhan đề: “Bình an thật”. Chính là một bài diễn thuyết thời trung cổ, chỉ có một ý thấu suốt: Đức Chúa Trời ở nơi sâu thẳm của toàn thể tôi, đợi chờ trò chuyện với tôi, miễn là tôi yên lặng đủ để nghe tiếng Ngài. Tôi tưởng chẳng khó khăn gì.
Vậy, tôi bắt đầu giữ lòng bình tịnh. Nhưng tôi vừa mới làm như thế, bèn có cả ngàn tiếng om sòm ở bên ngoài và bề trong đến nỗi tôi không còn nge được chút chi khác. Phần là các câu hỏi và mối lo của chính tôi; phần là lời tôi cầu nguyện; phần là tiếng ma quỷ cám dỗ và của thế gian loạn xạ. Trước kia tôi dường chẳng phải làm, nói, nghĩ nhiều đến thế. Tôi bị xô đẩy, lôi kéo đi khắp nơi, nghe nhiều tiếng hét hò vang lừng, nên bối rối khôn xiết.
Tôi dường cần nghe một vài tiếng đó; những Đức Chúa Trời đã phán: “Hãy yên lặng và biết rằng Ta là Đức Chúa Trời” (Thi-thiên 46:10). Kế đó có nhiều ý tưởng xung đột nhau quan hệ đến bổn phận và mối lo của ngày mai, những Ngài đã bảo: “Hãy yên lặng!”
Tôi lần lần học tập vâng lời, bịt tai không nghe tiếng nào hết; khỏi ít lâu, khi mọi tiếng đã dứt hoặc không thể lọt vào tai tôi nữa, nầy có một tiếng dịu dàng trong nơi sâu thẳm của thần linh tôi.
Tôi còn mải nghe, bỗng được tiếng ấy hóa ra quyền phép của sự cầu nguyện, tiếng khôn ngoan và sự kêu gọi đến bổn phận; vậy, tôi không còn suy nghĩ, khó cầu nguyện và khó nhờ cậy; nhưng tiếng se sẽ êm ái của Đức Thánh Linh trong lòng tôi thật là lời cầu nguyện của Chúa trong đáy linh hồn tôi và cũng là lời Chúa giải đáp mọi câu tôi hỏi.
A. B. Simpson
6. SỰ CỨU RỖI HƠN TIỀN CỦA
(Trọng người rẻ của)
Những của ta có trên đất, đến cuối cùng đều tan vỡ như chiếc tàu đụng nhằm đá. Nhưng thà cho tàu đắm của chìm mà mình “được lên bờ vô sự” còn hơn. Thôi, giã sóng, giã gió, giã hành trình nguy hiểm nầy, sau chót ta lên thiên đàng vui vẻ.
Barnes
7. LÒNG ĐỐ KỴ
(Sáu điều ước của ông John Wesley)
Nói vu là một tội nặng mà những người thuộc Hội Wesley’s đầu tiên đã lên án. Hiện nay, người ta mới tìm được một bản chép sáu điều ước của Hội do tay John Wesley viết, để làm chứng. Bản đó có chép:
1. Không nghe hoặc hỏi đến sự xấu của một người nào trong chúng ta;
2. Hễ nghe thấy sự xấu của người đó, thì chúng ta đừng in trí tin ngay;
3. Khi nghe thấy sự xấu của người đó, thì chúng ta nên nói hoặc viết ngay cho người ấy biết;
4. Trước khi chưa làm như vậy, chúng ta không nên nói hoặc viết cho người khác biết sự xấu đó;
5. Khi đã bày tỏ cho người đó biết rồi, chúng ta không nói với ai nữa;
6. Nếu còn sợ lương tâm cáo trách, thì chúng ta đừng làm trái những điều đó.
8. CẦN CÓ LẼ PHẢI
(Thế giới cần gì?)
Thế giới cần có ngay:
-Những người không chịu để ai thua mình.
-Những người giữ lời hứa.
-Những người để danh dự lên trên tiền bạc.
-Những người có một ý kiến và một ý chí, theo sự phải, nghịch sự trái.
-Những người lương thiện trong việc nhỏ cũng như trong việc lớn.
-Những người can đảm và không vụ lợi, có khi chịu hy sinh lợi riêng vì lợi chung của đoàn thể.
-Những bậc thanh niên trung thành đuổi theo lý tưởng, dầu bị bạn bè chê cười cũng mặc.
-Những bậc lãnh tụ thiêng liêng nghe theo một tiếng kêu gọi cao quý hơn tiếng kêu gọi của công chúng hoan hô, của lương cao, bỗng hậu và nhà thờ đẹp đẽ.
-Những nhà báo không sợ dư luận của số đông, cầm bút vì công lý và chân lý, dẫu phong trào hiện thời thế nào cũng mặc.
-Những nhà chính trị gan dạ sắt đá, không dùng mưu mẹo quỷ quyệt, không vì dục vọng, nhưng chỉ tìm kiếm hạnh phước cho tổ quốc.
-Nói tóm một lời, thế giới cần những người đi theo Đấng Christ, không chút nghi ngờ, sa sút.
Anh em có thuộc trong số ấy không?
9. GIÁ TRỊ NỤ CƯỜI
(Nụ cười)
Nụ cười không mắc mỏ gì nhưng có nhiều hiệu quả. Người nhận nụ cười chẳng giàu thêm, nhưng người ban nụ cười cũng chẳng nghèo đi. Nụ cười chỉ nảy trong giây lát, nhưng thường khi người ta tưởng nhớ nó luôn. Chẳng ai giàu có đến nỗi không cần nụ cười, cũng chẳng ai nghèo đến nỗi không thể được cái nụ cười.
Nụ cười gây nên hạnh phúc trong gia đình, nâng đỡ các công việc và là dấu hiệu thân ái rất dễ cảm biết. Nụ cười bổ sức cho kẻ mệt nhọc, ban sự can đảm cho kẻ thất vọng, yên ủi kẻ buồn rầu và là một phần tử của bổn tánh ta để chống lại mọi nỗi đau thương.
Nhưng ta không thể mua nụ cười, hoặc mượn nó, hoặc cươp nó. Vì ta có ban nụ cười thì nụ cười mới có giá trị. Mỗi khi anh em gặp người nào không ban cho mình cái nụ cười mà mình đáng được, thì hãy rộng lượng mà ban nụ cười cho người ấy. Vì chẳng có ai cần nhận một nụ cười bằng kẻ không thể ban một nụ cười cho người khác.
10. LÒNG RỘNG RÃI VỀ TIỀN BẠC
(Muốn thuộc hạng nào?)
Về sự thí của, có ba hạng người:
Hạng thứ nhứt ví như hòn đá, hễ muốn được gì, thì phải lấy búa mà đập; song chỉ được đá vụn và lửa nảy mà thôi. Hạng thứ nhì ví như bọt biển, càng bóp bao nhiêu thì càng được nhiều nước bấy nhiêu. Hạng thứ ba ví như tàng ong, không cần phải đập hay phải bóp, tự nhiên cũng được vật ngon.
Hạng thứ nhất là người cứng lòng và hà tiện. Nếu không bị ép thì không chịu cho chút gì. Hạng thứ nhì là người có lòng tốt, hễ quyên thì cho, càng quyên càng cho. Hạng thứ ba là người vui lòng mà cho cách ngọt ngào, chớ không đợi ai phải hỏi. Vậy độc giả muốn thuộc hạng người nào?
“Hãy biết rõ điều đó, hễ ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo nhiều thì gặt nhiều. Mỗi người nên tùy theo lòng mình đã định mà quyên ra... Đức Chúa Trời yêu kẻ thí của cách vui lòng” (IICô-rinh-tô 9:6-7).
11.CẦN SUY GẪM LỜI KINH THÁNH
(Ai biết suy gẫm?)
“Tôi yêu mến luật pháp Chúa (tức là Kinh Thánh) biết bao! Trọn ngày tôi suy gẫm luật pháp ấy” (Thi-thiên 119:97).
Andrew Bonar có nói về một người tín đồ đơn sơ ở thôn quê đã “suy gẫm” suốt bộ Kinh Thánh đến ba lần. Ấy chính là ý của trước giả câu Thi-thiên nêu trên. Không những xem mà thôi, lại còn suy gẫm nữa, đến nỗi giống như Luther “đã rung mỗi cây trong vườn Đức Chúa Trời và lượm lấy trái.”
Nguyên văn hai chữ “suy gẫm” có ý là đặt mình vào giữa một việc gì để hiểu thấu lấy sự thật. Sự suy gẫm tương quan với trí khôn cũng như cũng như sự tiêu hóa tương quan với thân thể. Nếu ăn không tiêu, thì thân thể không được ích lợi mà một ngày một gầy còm. Nếu muốn được ích lớn trong những điều thấy nghe, thì phải có sức tiêu hóa về phần trí, tức là sự “suy gẫm” vậy. Nếu muốn mua lẽ thật ta phải trả giá như lời Phao-lô gởi cho Ti-mô-thê rằng: “Hãy săn sóc chuyên lo những việc đó, hầu cho thein hạ thấy những sự tấn tới của con.” Vua Đa-vít yêu mến lời Chúa, nên mới suy gẫm; càng suy gẫm ông càng yêu mến bội phần.
12. NHỜ HUYẾT BÁU CỨU CHUỘC
(Có huyết ở đó không?)
Người Giu-đa (Juifs) thuật một chuyện cảm động về lễ Vượt-qua thứ nhứt tức là sự hủy diệt các con trưởng nam của xứ Ê-díp-tô do Thiên sứ vâng lời Chúa thi hành, nhưng riêng về những nhà Giu-đa có huyết bôi trên cột và mày cửa thì được giải thoát.
Một người Giu-đa kia có một cậu bé chừng mười tuổi, nâng niu quí hóa lắm. Bởi huyết chiên con dùng trong lễ Vượt-qua bôi trên hai cột và mày cửa, nên mạng sống cậu được giữ khỏi lưỡi gươm thiên sứ hủy diệt.
Trước khi đi ngủ cậu bé hỏi cha rằng: “Huyết có thật bôi nơi cửa không?” Cha nói quyết rằng mọi việc đã làm theo luật pháp cả rồi. Cậu bèn ngủ.
Nhưng buổi tối đó, cậu ngủ không yên giấv, nhiều lần thức dậy, vừa sợ, vừa hỏi: “Cha yêu dấu ơi, huyết có thật bôi nơi cửa không?” Lần nào cầu cũng được cha làm cho vững lòng.
Gần nửa đêm, cậu lại thức dậy, lòng đầy kinh khiếp. Lần nầy, chẳng có điều chi khiến cậu yên tâm. Người cha phải ẵm cậu để cậu tự thấy huyết Cứu chuộc.
Sợ thay! Cửa chưa bôi huyết, nên vẫn trắng tinh; chủ nhà đã sai đầy tớ bôi huyết chiên con dùng trong lễ Vượt-qua rồi đấy, thế mà nó lại quên đi mất.
Người cha sợ hãi, chạy đi kiếm huyết rảy vào cửa. Khi đã làm xong việc bỏ quên rồi, bèn đặt cậu bé nằm trên giường; cậu ngủ yên. Thiên sứ hủy diệt đi ngang qua, không ngừng bước trên cửa nhà đó.
Ngày nay, ta chỉ được cứu bởi tin Đấng Christ chịu chết trên thập tự giá tại núi Gô-gô-tha, để đền tội ta, cứu ta khỏi án phạt. Nếu anh em có thể nói rằng: “Ngài đã yêu tôi và phó chính mình Ngài vì tôi” thì Đức Chúa Trời sẽ đáp: “Ta sẽ thấy huyết, sẽ vượt qua các ngươi; các ngươi sẽ không bị hủy diệt.”
13. PHẢI NHỜ SỰ KHÔN NGOAN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
(Dốt biết, giỏi không?)
Đầu thế kỷ trước, lắm kẻ nói quyết rằng dân Cafes và dân Hottentots (giống da đen ở Nam Phi-châu) gần như muông thú đến nỗi không thể đem những điều yếu lược về văn minh và về đạo Đấng Christ mà đặt vào lòng họ được. Nhưng nhờ các Giáo sĩ Tin-lành tốn công nhọc sức nên trong dân hai xứ đó cũng có nhiều người tập đọc và nhờ ảnh hưởng Kinh Thánh mà con cái họ hóa ra cao thượng.
Một bữa, có hai Giáo sĩ tới thăm ông tù trưởng nơi đó, thì ông ta đang ngồi trên nhà lầu. Ông gần 90 tuổi và đui mù nhưng ông biết khách là hạng người nào, bèn tuôn tràn giọt lụy, bắt tay họ tạ ơn Đức Chúa Trời vì được họ đến thăm.
Đoạn, ông vừa bốc một nắm bụi đất, vừa nói: “Chẳng bao lâu, tôi sẽ lẫn với bụi đất nầy, nhưng tôi sẽ thấy Đức Chúa Trời. Tôi đui mù, nên không thể thấy ánh mặt trời nữa, song tôi sẽ thấy Đức Chúa Jêsus ngồi bên hữu Đức Chúa Trời và sẵn sàng tiếp rước linh hồn tôi.” Lời người mọi rợ nói đó thật trái với ý tưởng của Trajan, vua nước Rô-ma ngày xưa hay bắt bớ đạo, nói cách buồn thảm khi sắp qua đời: “Đầu nầy không đội mão triều thiên nữa, tai nầy không mê âm nhạc nữa, mắt nầy không ưa cảnh đẹp nữa. Hỡi linh hồn ta, sẽ đi đâu?” “Thế gian cậy sự khôn ngoan mình, chẳng nhờ sự khôn ngoan Đức Chúa Trời mà nhận biết Đức Chúa Trời” (ICô-rinh-tô 1:21).
14. NHỜ ĐẤNG CHRIST ĐƯỢC GIẢI PHÓNG KHỎI ÁCH TỘI LỖI
(Tôi mọi của tội lỗi)
Có phải ông là người tội lỗi không? Ít ai dám trả lời: “Không.”
Có phải ông là tôi mọi của tội lỗi không?
Nghe câu hỏi nầy, nhiều người sẽ tức giận lắm mà sẽ trả lời xẳng xớm rằng: “Tôi mà là tôi mọi à? Tôi mọi ai? Đời nào tôi làm tôi mọi ai. Tôi là người tín ngưỡng tự do; tôi tin tưởng những điều tôi ưa thích và làm những điều tôi muốn. Tôi chẳng làm tôi mọi ai cả!”
Ông có chắc được như vậy không? Ông có chắc thật làm được những điều ông muốn không? Giả tỉ như bây giờ ông quá ưa thích đánh chén, mà ông biết chắc rằng rượu làm hại sức mạnh và tánh nết ông? Trong gia đình ông không được vui vẻ: Vợ ông đã nhiều phen phải khóc lóc, con cái trong nhà thấy ông đi đâu về, sợ ông như sợ cọp.
Có phải quả hẳn ông không muốn trừ bỏ cái tánh hư, nết xấu đó đi chăng, mà khi ông làm theo nó là ông tự nguyện làm điều mình không muốn không? Tôi không dám tin là thật, vì ông là người thông minh, lại có tâm huyết, lẽ nào ông lại vui lòng làm như vậy; ông làm điều đó chẳng qua là làm trái nghịch với ý muốn của ông mà thôi, tức là ông vâng phục một đứa mạnh hơn ông và ông làm tôi mọi nó. Đứa đó tức là ông chủ của ông, tên nó là tội lỗi.
Về phần một người nam ô uế và dâm dục, hoặc một người nữ xấu nết và buông tuồng, há lại không lắm lúc lấy làm đau đớn về cái tật xấu xa nhơ nhuốc, bại hoại của mình mà chừa bỏ đi để trở nên người tử tế đạo đức sao?
À nầy, lại còn khi một người nổi cơn tức giận lên, lúc đó người ấy có làm điều mình muốn không? Ta há không thường nghe lời thú tội nầy: “Thật trong cơn giận, tôi không tự cai trị được tôi”; Vậy thì trong lúc đó ai cai trị trong tâm tánh người đó?
Thưa: Có một đứa rất mạnh, nó cai trị trong người đó, ai ai cũng biết tên nó, vì nó xưng danh là tội lỗi.
Nếu đem phơi bày tánh xấu của loài người ra, thì chắc chắn là không giấy nào chép được hết.
Những nết hư tật xấu là: ghen tương, khoe khoang, kiêu ngạo, dối trá, biển lận, tham ăn, mê uống đều là những ông chủ rất hung ác chẳng hay dung thứ, trong tay cầm roi da thường giơ ra đàn áp la lớn tiếng: “Hãy đi, tôi mọi, hãy đi.”
Nghe tiếng đó, thì phải đi và cứ đi... song vì họ mờ ám quá cho đến nỗi quên mình là tôi mọi, nên nhiều khi bị chủ sai đi, lại còn lấy làm hân hạnh, vừa đi vừa thổi kèn tứ phía: Tự do! Tự do! Khoan khoái! Khoan khoái!
Nhưng dẫu loài người bị mê muội trong con đường vật dục đến thế nào thì cũng có một đôi lúc biết tỉnh ngộ. Có lẽ là vì đã qua một giai đoạn cực khổ, một sự đau ốm hoặc một điều thất vọng nào. Trong những lúc đó, họ tự cảm biết mình thật là xấu xa, ô uế, hèn nhát, thấp kém, đáng khinh bỉ, dầu người khác có tưởng mình là đứng đắn, thật thà và xưng những thói xấu của mình là những điều yếu đuối nhỏ mọn thường, thì mình cũng không chịu nổi. Mà nếu bỗng nảy ra một ý tưởng gì về một Đức Chúa Trời, một Đấng Tạo Hóa nào mà một ngày kia mình phải đến ứng hầu để trình bày cái đời hư hỏng và tội lỗi của mình, thì lấy làm khiếp sợ, hoảng hốt mà kêu lên rằng: Khốn nạn cho tôi! Xong đời tôi rồi! Đời tôi thật ngắn ngủi thay mà tôi đã lợi dụng nó một cách rất xấu xa thay! Hỡi ôi! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi sự làm tôi mọi nầy?”
“Ai sẽ giải cứu tôi? Nghĩa là ai sẽ biến đổi đời sống tôi để tôi trở nên một người mới?”
Phải, ai sẽ làm điều đó cho tôi? Có phải những sự gắng sức của tôi không? Về điều nầy, nếu mình chỉ nghe những kẻ khác đã làm được mà mình thiếu sự kinh nghiệm, thì chắc phải gặp câu đáp nầy: “Không được”. Nếu vậy, có lẽ là ý dục của mình làm được chăng? Nói về ý dục, thì nào mình có ý dục đâu, vì mình thường làm những điều không muốn làm.
Vậy thì ai sẽ giải cứu người đó?... Chỉ trong sách của Chúa có câu trả lời được. Sách đó dạy ta rằng: Một Đấng rất nhơn lành đã dến lấy tay của loài người yếu đuối mà đặt vào tay của Đức Chúa Trời rất thánh, rất tài để cứu họ và Ngài trở nên Cha của họ, ban cho họ năng lực để thắng hơn tội ác.
Kinh Thánh dạy cho ta biết Đức Chúa Jêsus đã đến “để hủy phá công việc của ma quỷ” (IGiăng 3:8); công việc của ma quỷ tức là tội lỗi đã mặc lấy thiên hình vạn trạng đến với ta khiến ta vương mang lấy.
Các ông có muốn Đức Chúa Jêsus Christ “hủy phá hết những công việc của ma quỷ ở trong thân thể các ông”, tức là những điều đã bức bách các ông làm tôi mọi nó chăng?
Điều đó có thể được, xin hãy coi đây: Đức Chúa Jêsus Christ đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc tôi cho các ông. Tội hình mà Ngài đã chịu đã hủy tiêu cái nợ các ông mắc với Đức Chúa Trời. Các ông được hòa thuận với Đức Chúa Trời là nhờ huyết đổ ra của một Đấng hy sinh vô tội đã chịu chết trên cây thập tự thế cho các ông.
Đấng hy sinh mà Đức Chúa Trời đã nâng giá lên rất cao trước mặt Ngài và đã bày tỏ thần tánh của Đấng đó ra khiến Đấng đó từ kẻ chết sống lại để rồi ngày nay làm Cứu Chúa của các ông và cũng vừa là bạn thiết rất có quyền năng của các ông nữa. Nếu các ông tình nguyện nhận sự cứu rỗi ban cho bởi Đấng vốn trọn quyền năng ấy mà phó thác chính mình cho Ngài, thì Ngài sẽ giải cứu các ông khỏi tội lỗi và sự thèm muốn tội lỗi.
Tội lỗi đã xiềng xích đời sống và lòng ta nay đã bị đập bể bởi quyền năng của thập tự giá của Đấng Christ. Người nào bằng lòng nương mình nơi năng lực đó, thì đời sống mình sẽ kinh nghiệm về sự đổi mới.
Một ngày kia, có một nhà diễn võ được nghe giảnh Tin-lành và đã tin Chúa ít ngày sau, người đó gặp một người bạn thiết cũ hỏi rằng:
-Nầy anh, tôi nghe nói anh mới theo đạo phải không? Thật tức cười quá!
-Điều đó là thật, anh cười chi? - nhà diễn võ đáp.
-Nếu vậy, còn những nếp sẹo ngang, dọc trên mặt anh đó thì làm thế nào mà bôi cho sạch đi được, vì những vết sẹo đó cứ hằng tố cáo anh trước công chúng về cai chơn tướng của anh lúc trước; thật đáng tiếc thay!
-Tôi không tiếc chi hết, nhà diễn võ đáp, những vết sẹo đó bây giờ trở nên những cửa sổ mà bởi đó sự nhân từ, thương xót của Đức Chúa Trời được chói sáng ngày càng tỏ rạng thêm!
Hỡi quý độc giả, người nào đã từng chịu đau thương về một tội lỗi nào, có lẽ kín nhiệm, người ngoài không ai hay biết, nhưng không phải là không khốn khó đâu, vì tội lỗi thường để lại vết tích, điều đó là chắc chắn rồi; song chỉ là tỏ ra sự rất kỳ dị khi Đấng Christ ngự vào và hành động trong lòng tội nhân ấy. Ngài khiến cho người đó có thể thắng nổi tội lỗi, dầu là một tội lỗi đã ăn thấu vào lòng và in sâu vào xác.
Dầu có đời sống nào đã thật là bại hoại, ô uế, thì Ngài cũng sẵn lòng tiếp nhận để khiến họ nên tinh khiết, và vinh hiển.
Năng lực yêu thương đó hiện nay đã dành sẵn cho các ông từ lâu rồi, hãy đến mà thí nghiệm rồi sẽ biết. Nếu không thí nghiệm thì không khi nào hiểu biết cái năng lực diệu kỳ ấy được. Hỡi các ông, hãy kíp thí nghiệm đi! Rất mong thay!
A. M.
15. Ý NGHĨA CỦA SỰ XÓA TỘI
(Xóa tan tội lỗi)
Thuở xưa, có một em nhỏ đọc Kinh Thánh, gặp một câu như sau: “Ta đã xóa sự phạm tội ngươi như mây đậm và tội lỗi ngươi như đám mây” (Ê-sai 44:22,23). Em đó đến trước mặt bà mẹ mà hỏi rằng: “Mẹ ơi, con không hiểu sự xóa tội lỗi là thế nào? Khi Đức Chúa Trời đã bôi xóa các tội lỗi thì các tội ấy mất đi thế nào? Xóa tội nghĩa là gì?”
Mẹ rằng: “Mẹ có thấy con viết vào bảng đen, có phải không?” Con thưa: “Có”. Bà mẹ nói: “Con đem bảng đến đây cho mẹ xem”, bà chỉ vào bảng đen mà hỏi: “Những chữ con viết hôm qua vào đây, bây giờ đâu?” Con đáp: “Chữ con viết thì con đã xóa đi rồi.” Bà mẹ nói: “Thế thì, sự xoa tội của người ta khác nào những chữ con viết vào bảng đen, bây giờ đã mất đi vậy.”
R. M. J.
16. SỢ PHẠM TỘI
(Ông JEAN CHRYSOSTOME sợ gì?)
Vào thế kỷ thứ tư, tại thành Antioche, có một nhà chí sĩ Jean Chrysostome. Ông này có tài hùng biện, ai cũng khen ngợi. Không những ông được thiên hạ hoan nghênh khen chuộng cái tài hùng biện của ông, mà lại còn cảm phục tâm chí vững vàng và tánh tình cao thượng của ông nữa. Tánh cương trực của ông khiến Hoàng đế ở Constantinople ác cảm với ông, vì ông thường hay khuyên can và cũng chỉ trích những tội lỗi của vua. Hoàng đế Arcadius căm tức ông lắm, thường kiếm phương để báo thù ông cho bỏ ghét. Các triều thần hiệp ý với vua, cũng muốn trừ ông, nên có một người hiến kế rằng:
-Xin hãy đem đày hắn ra một nơi u tịch nào đó trong sa mạc Thébaide, thì không còn ai nghe tiếng hắn nói nữa.
-Xin tịch biên hết sản nghiệp của nó, để nó phải chịu nghèo đói. Một triều thần khác lại tâu:
-Xin hãy giam y vào ngục tối cho y chết rủ. Người thứ ba tâu:
-Bệ hạ há chẳng có quyền sanh sát nó sao? Xin phán một lời thì đầu nó sẽ rơi xuống đất, lời tâu của một viên quan rất ghét nhà hùng biện.
Sau rốt đến một viên quan cận thần, ra dáng mưu sĩ, đến gần bên vua mà tâu rằng: “Nãy giờ hạ thần nghe các quan hiến kế thảy đều sai lầm hết, vì các quan không biết rõ người nầy. Đem đày chăng? Nhưng đày làm sao cho người đó cách xa Đức Chúa Trời của hắn được? Vì Jêsus là Chúa của người đó thường ở mọi nơi với người. Tịch biên hết sản nghiệp chăng! Chính nó đã lấy hết của cải mà phân phát cho kẻ nghèo từ lâu rồi. Giam nó vào ngục tối chăng? Làm điều đó tức là cho nó có nhiều thì giờ ở riêng mà đến gần Đức Chúa Trời. Mà nếu lên án xử tử nó, thì tức là mở của trời cho nó vào vậy.
Kẻ hạ thần xin hiến một kế rất thần diệu là: “Nếu muốn hình phạt người này một cách rất nặng đối với nó, không gì bằng ép nó phạm tội lỗi. Đó là sự hình phạt đau đớn nhất cho nó, vì nó không sợ bị đày, không sợ nghèo cực, không sợ đau khổ mà cũng không sợ chết; song chỉ sợ nhất là sự phạm tội lỗi.”
Đó là điều đáng sợ của ông Jean Chrysostome.
A. M.
17. ĐỨC TIN CỨU RỖI
(Cô bé được tha)
Một ngày kia, trong khi giảng đạo, tôi thấy một cô em độ 10 tuổi, có ý chăm chỉ nghe giảng lắm. Khi giảng xong, tôi lại gần em, muốn xem em đã hòa thuận với Chúa và biết tội mình đã được tha chưa, nên hỏi rằng:
-Em có biết Chúa Jêsus không?
Em nhìn tôi, rồi mỉm cười mà rằng: Có, tôi biết Chúa chịu chết vì tôi.
Tôi nói: Phải, biết như vậy thì tốt lắm, nhưng chưa đủ. Em lấy gì mà tin chắc Con Đức Chúa Trời xuống đời chịu chết trên thập tự giá vì một người con gái nhỏ như em?
Em trả lời cách trịnh trọng rằng: Đức Chúa Trời phán Chúa Jêsus chịu chết vì kẻ tội mà tôi cũng là một người có nhiều tội.
-Em nói phải lắm, kìa Kinh Thánh có chép: “Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết.” (Rô-ma 5:8); lại có tâu rằng: “Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu” (ITi-mô-thê 1:15). Chúa đã tỏ cho em biết mình phạm nhiều tội, và bây giờ em thấy mình phải tin lời phán của Đức Chúa Trời. Em có tin rằng mình đã được tha hết thảy tội lỗi không? Trong một lúc em nín lặng, rồi rớm rớm nước mắt mà rằng: Tôi sợ rằng không.
-Sao lại không? Em đã biết Chúa Jêsus chịu chết cho em rồi, vậy sao không biết Đức Chúa Trời tha thứ tội lỗi cho em?
Em ngơ ngẩn nhìn tôi vừa muốn hiểu tôi nói gì. Em cũng như nhiều người khác thật tin Đức Chúa Jêsus Christ, nhưng chưa biết công việc rộng rãi của Chúa làm cho mình là thế nào. Em đã đến cùng Đức Chúa Jêsus khác nào người đàn bà trong sách Lu-ca đoạn 7 có nói. Lòng em đã nhận được sự thương xót của Chúa, nhưng lại cần phải nghe lời Chúa Jêsus phán: “Tội lỗi ngươi đã được tha rồi. Đức tin của người đã cứu ngươi; hãy đi cho bình an” (Lu-ca 7:48).
Tôi lại hỏi: Tại sao Chúa Jêsus chịu chết vì em?
Em trả lời ngay rằng: Để cứu tôi.
-Vậy sao Chúa phải chết để cứu em? Em suy nghĩ một lát rồi trả lời cách nghiêm trang rằng: Để mang tội lỗi tôi đóng đinh vào thập tự giá.
-Khi Chúa Jêsus bị đóng đinh trên cây thập tự, thì tội lỗi em bấy giờ ở đâu?
-Trên Chúa.
-Chắc hẳn như vậy, vì “Đức Giê-hô-va đã làm cho hết thảy tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên Ngài” (Ê-sai 53:6). Vậy tội lỗi em bây giờ ở đâu?
-Tội lỗi toi hãy còn ở trên Chúa Jêsus. Nói đến đây thì em ngừng lại, không nói nữa. Tôi hỏi, Đấng Christ bây giờ ở đâu? Em đáp luôn rằng: Chúa đã sống lại và lên trên trời.
-Phải, vậy thì tội lỗi em bây giờ ở đâu?
-Tội lỗi ở trong mồ mả.
Em đó vui vẻ mà trả lời như vậy. Thế là em đã hiểu rồi. Bây giờ em thấy rõ rằng Đấng Christ đã nộp vì tội lỗi của em, và cũng đã sống lại vì sự xưng công bình của em; em đã được xưng công bình bởi đức tin, thì được hòa thuận với Đức Chúa Trời. (Rô-ma 4:25; 5:21.)
Tôi nói tiếp rằng: Đức Chúa Trời phán: “Sau khi con Ngài làm xong mọi sự sạch tội, bèn ngồi bên hữu Đấng tôn nghiêm ở trong nơi rất cao” (Hê-bơ-rơ 1:3).
Tôi muốn nói một vài lời nữa, bỗng có người đến gọi em đi. Về đến nhà, em chạy lại bá cổ mẹ, mà rằng: “Mẹ ơi, con cũng đến cùng Chúa Jêsus.
Bà mẹ là một người tín hữu, dầu đang đau ốm, nhưng nghe con nói, cũng vui vẻ mà hỏi: Nói thế là nghĩa làm sao?
Con đáp: Tội lỗi con đã được xóa hết. Chúa Jêsus đã mang cả lên thập tự giá, và bây giờ Chúa đang ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Nầy, mẹ coi, tội lỗi con không thể ở đây với Ngài được. Ngài đã để ở cả ở trong mồ mả.
Mẹ con vui mừng, ôm nhau mà đồng ngợi khen Chúa. Từ đó đến nay, đã lâu năm rồi. Đấng Christ là Đấng đã sống lại mà ngồi bên hữu Đức Chúa Trời, hằng làm cho lòng em đó được bình yên chẳng ai cất đi được. Coi vậy, thấy rằng em đó bởi cách đơn sơ mà nhận được bao hạnh phước! Ai nấy há chẳng nên bắt chước sao?
Hỡi độc giả, tội lỗi anh em đã được tha thứ như em đó chưa?
18. ĐỨC TIN TUYỆT ĐỐI
(Chúa treo trái đất trong khoảng không)
Cầu Chúa lo liệu, ta hãy nhìn xem Chúa có gì để trả lời không. Khi cầu về tài chánh, ta hãy xét quanh mình xem Chúa có thể cảm động ai giúp đỡ. Nếu không thấy, thì khó tin Chúa giúp tiền được. Khi tìm việc làm để kiếm ăn, ta hãy đi hỏi các sở công tư, nếu thấy không đâu cần người, thì khó tin Chúa ban việc được. Khi đau ốm, thầy thuốc không biết chữa trị ra sao, thì khó tin Chúa chữa lành được.
Thật vậy, trong khi cầu nguyện, nếu thấy có gì Chúa giúp trả lời, thì ta mới thỏa lòng. Cần tiền, mà không biết người nào, hội nào có thể giúp mình, thì khác nào bóng tối bao phủ. Cần việc mà thấy nhiều người cũng cần như mình, thì hướng đi của ta dường như mờ tịt. Mang bịnh nằm giường, mà không bớt, vẫn đau hơn, tiền thuốc tốn hơn, công việc nhiều hơn, lòng kém kiên nhẫn hơn; thì thấy cảnh mình dường như tuyệt vọng! Đó vì tưởng không người nào có thể giúp mình. Vậy, tương lai chỉ đầy những nợ, hết cả vốn rồi!
Còn tình cảnh thật của con cái Chúa thì sao? Ngoài nợ, không còn gì à? Nhiều lắm chớ! Hết vốn rồi à! Còn lắm chớ! Hàng ngàn, hàng triệu, hàng ngàn triệu, hàng triệu triệu. Vốn đâu? Ở trên, ở dưới, ở xung quanh mình. Trái đất và khí trời đầy dẫy của cải không tính được. Anh em há không thấy sao? Nhưng không cần thấy, chỉ cần chú mắt thấy Chúa mà thôi.
Hãy thử để ý. Không cần thấy gì có thể giúp mình, cũng không cần Chúa có gì giúp đỡ vì Chúa không cần phải làm như vậy. “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” Chúa lấy gì để dựng nên? Không. Không có gì cả. Khi làm nên trái đất thì treo ở đâu? Không có gì hết. Dầu không lấy gì dựng nên, nhưng trái đất thật tốn lắm phải không? Hãy nhớ Chúa không lấy gì để làm trái đất, và treo trái đất trong khoảng không.”
Trái đất treo chắc chớ? Chắc lắm! Vậy, đừng nên sợ, đừng nên ngờ. Một Chúa lấy sự không có mà dựng nên trời đất muôn vật, chắc có thể cung cấp đủ mọi sự cần dùng cho người, hoặc bởi sự có, hoặc bởi sự không có. Đáng lạ thay đáng khen thay! Hãy nhờ Chúa, Ngài sẽ lo liệu cho ta, dầu phải lấy sự không có để cung cấp mọi sự mình cần có.
P. Y.S.
19. HẬU QUẢ LỜI NÓI
(Cái lưỡi)
Nếu luôn trong mấy ngày thân thể ta không được khỏe mạnh, hoặc bị nóng lạnh (sốt), hoặc ngủ không được, hoặc ăn không ngon, thì chắc trong lòng cha mẹ, anh em hoặc vợ con đều lấy làm lo sợ mà không hiểu ta đau bịnh gì. Họ bèn vội rước lương y đến coi mạch cho ta. Điều thứ nhứt lương y làm trong khi coi mạch là biểu ta le lưỡi ra cho người coi. Trên lưỡi ta lúc ấy thật trắng. Bấy giờ muốn chùi cái lớp trắng dơ bẩn đã đóng trên lưỡi ấy đi, thì phải dùng cái nạo lưỡi và một chút nước thuốc riêng, rồi lương y cho ta uống thuốc xổ. Tại sao phải cần uống thuốc xổ? Tại nơi bao tử (dạ dày) ta có bệnh, nên khiến cho lưỡi ta trắng.
Ta thử tự hỏi: Những tiếng dối trá, tục tỉu, nguyền rủa và độc dữ mà ta nói ra có khiến cho một lớp dơ bẩn vô hình đóng trên lưỡi ta làm nó trở nên gớm ghiếc không?
Có nhiều lời ra từ miệng ta, song nó có nọc độc như những tên thuốc của người mọi: Họ vót mũi tên cho thật nhọn bén, ngâm trong thuốc độc; rồi ngồi rình một chỗ đợi dịp bắn ra. Những lời độc dữ ngấm ngầm trong bụng chỉ chờ dịp mà phát ra: “”Rồi coi ta sẽ làm, sẽ làm cho mầy biết...”
Những lời khác như đá cuội mà con nít thường ném nhau chơi, tưởng không làm hại ai, nhưng tiếng kính bể trên cửa sổ bởi những hòn cuội (sỏi) kia văng vào, đã bao phen khiến con nít phải kinh hoàng. Những lời nhẹ như “bay trong gió” mà người ta nói không suy nghĩ, nhiều khi có sức mạnh đánh trúng vào trái tim đến giết người!
Lại những lời khác như tàn lửa đỏ rớt nhằm vào bao thuốc súng! Những lời vô ý, vu vơ, không đâu nhiều khi gây nên cơn giận lôi đình như trái phá nổ tan tành, làm thiệt hại vô số, và cũng nhiều khi lăn ra rất mau như lửa cháy nhà, gây ra những sự tổn hại không nhỏ vậy.
Lại cũng có những lời khác như con sâu trong trái táo. Đó chính là những lời xúi xiểm, sâu độc, có cái tánh chất gặm nghiến lần lần, đục hại danh dự của cả một đời người ta, hoặc tiêu hủy lần lần một cuộc giao hảo đương thân mật của một đôi bạn thiết.
Ấy chỉ bởi một cái lưỡi nho nhỏ mà gây nên biết bao độc hại, không đấu nào đong cho xiết được! Nhưng, thử coi nó lại có thể phát ra biết bao điều tốt: nào truyền bá học thuật bằng lời nói, nào yên ủi giục lòng bằng lời nói khiến người nghe được mát lòng, hả dạ, muốn tiến thủ trong công việc mình. Ấy tức là những lời vàng ngọc rất đáng yêu chuộng vậy. Nếu có những lời như tuyết giá sương lạnh, khiến kẻ nghe phải rùng mình sởn óc, thảm não lạnh lùng, thì cũng có những lời khác gây cho kẻ nghe một cảnh đầm ấm êm đềm. Nếu có những lời làm cho người khóc, thì cũng có những tiếng khiến cho người cười.
Sự khác nhau ấy bởi đâu?
Ấy chính tại sự thay đổi của lòng ta. Vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng nói ra. “Lòng người công bình suy nghĩ lời phải đáp; nhưng miệng kẻ ác buông ra điều dữ” (Châm-ngôn 15:28). “Lời nói vô độ đâm xoi khác nào gươm; nhưng lưỡi khôn ngoan vốn là thuốc hay” (Châm-ngôn 12:18). Hễ lòng làm sao thì lưỡi làm vậy.
20. LÒNG CAO THƯỢNG
(Mặt đen, lòng trắng)
Có hai người thổ cư Nam Phi-châu rất ghen ghét nhau, thề không đội trời chung. Ngày kia, một trong hai người gặp con gái nhỏ kẻ thù mình trong một khu rừng gần bên nhà kẻ mình ghét.
Con gái kẻ thù tức là kẻ thù; sự ghen ghét nổi lên đầy lòng, tên thổ cư liền bắt người con gái nhỏ, lấy dao chặt hai ngón tay, rồi thả ra. Cô em đó vừa chạy về vừa khóc, bàn tay chảy máu ròng ròng. Còn tên hung thủ vừa đi vừa la lớn tiếng vui cười độc dữ rằng: “Trả thù được rồi.”
Ngày qua tháng lụn, thấm thoát mười mấy năm, người con gái nhỏ kia đã có chồng con. Bữa kia, một tên ăn mày đầu bạc hoa râm, tới cửa xin ăn. Người đàn bà nầy liền nhìn ra, té ra là người chặt tay mình; vội vàng trở vào nhà biểu đầy tớ gái đem sữa bánh ra cho ăn. Khi tên ăn mày đã ăn thật no rồi, người đàn bà nầy liền giơ bàn tay cụt ra cho coi mà rằng: “Tôi cũng đã được trả thù rồi.”
Tên ăn mày ngó thấy hai ngón tay cụt, liền thất kinh; song riêng người gái nhỏ ấy vì đã làm tín đồ của Đấng Christ , nên hiểu được ý nghĩa của câu Kinh Thánh nầy: “Nếu kẻ thù mình có đói, hãy cho ăn; có khát hãy cho uống; vì làm như vậy, khác nào mình lấy những than lửa đỏ mà chất trên đầu người. Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện thắng điều ác” (Rô-ma 12:20-21).
Khen cô gái mặt đen mà lòng trắng! Cách phục thù cao thượng hơn hết ấy là sự tha thứ.
T.N.
21. GƯƠNG KẺ CƯỚP ANTHONY ZEOLI ĐƯỢC CỨU RỖI BỞI ĐỨC TIN
(Người tù số 9.924)
Lộp cộp! Lộp côp! Lộp cộp! Lộp côp! Một người đang ngồi trên giường trong phòng 66 ở khám số 7, cứ nghe tiếng chơn người gát tù qua qua lại lại từ đầu đến cuối lối đi. Quanh quẩn vẫn một tiếng chơn đó làm hắn dường như quen nghe từ khi tuổi trẻ, là khi bị án 5 năm tù.
Lộp cộp! Lộp côp! Lộp cộp! Lộp côp! Tiếng chơn dường như đập vào óc. Trong lòng hắn vừa chán nản, vừa tức giận, lấy tay che mặt, than thở cách cay chua. Đoạn, trong ngực sôi nổi cơn giận nghịch cùng luật pháp xã hội mà hắn đã phạm và hắn phải chịu hình phạt, chiếc thân vò võ lìa bà con, xa bạn hữu. Vì trong lòng cay đắng, hắn chưởi cả độ xếp bắt bớ, quan tòa lên án, nhà ngục giam cầm, và những kẻ canh giữ. Hắn tự biết nhà ngục đã chẳng sửa dạy được hắn, lại còn xui hắn làm ác hơn nữa.
Lộp cộp! Lộp côp! Lộp cộp! Lộp côp! Tiếng chân người gát vang động cả lối đi rồi dừng lại nơi phòng hắn. Hắn biết người đứng bên cửa ngó vào, vì trong cửa cólỗ nhỏ để thông ánh sáng, nhưng nay thấy đã che lấp. Người gát lất chìa khóa mở cửa rồi gọi: “Số 9.924! Mầy buồn giận lắm à? Đây, cho sách mà đọc! Sách đó tên là Kinh Thánh Tân Ước.” Người gát mỉa mai, ném sách vào cho, khóa cửa lại, rồi cứ lộp cộp quanh các lối đi như vậy.
Người tù số 9.924 ngồi tần ngần hồi lâu, nhắc đi nhắc lại những năm hư vô của đời mình. Hắn lại nghĩ đến cha mẹ hắn hay giữ nhiều nghi lễ của tôn giáo kia, nhưng không có quyền phép gì giúp cho hắn. Vừa rồi, hắn tự hỏi: Nếu cứ biệt khỏi xã hội mãi mãi, thì mình là vật dơ dáy, là người chỉ có số hiệu chớ không có tên; phải tù suốt đời, thỉnh thoảng được tha ít lâu, rồi lại bị tù vì phạm tội khác. Khi nghĩ đến những sự đã qua, hắn run rẩy, nhưng không biết sửa mình thế nào. Hắn biết lần này được tha khỏi tù, chắc sẽ có bọn tội nhân chờ đợi gặp hắn. Hắn nghiện thuốc á phiện, đam mê đến nỗi đành bán linh hồn nho nhỏ, giả thử có linh hồn! Khi nổi cơn nghiện, hắn liều phạm tội sát nhân. Tội sát nhân! Ôi! Khi đã suýt phạm tội đó, hắn đã kinh khiếp là dường nào! Hắn và bạn hắn đã đánh vỡ óc một người. Người mật thám tưởng hắn chắc sẽ bị xử tử, nhưng may người bị thương không chết. Nếu nó chết, thì hai người sát nhân ở đâu.” Chắc đã xuống địa ngục rồi! Ý đó khiến hắn run rẩy sợ hãi.
Ngay lúc đó, tay hắn rờ đến quyển sách mà người gát đã ném vào cho. Hắn nhớ mờ mờ là quyển Kinh Thánh Tân Ước. Dầu vậy, hắn không biết chút nghĩa gì về lời chép trong sách ấy. Nhưng hắn cứ mở sách ra hòng quên ý tưởng về sự chết và địa ngục. Vừa mở, hắn thấy lời chép trong Ma-thi-ơ đoạn 24:35: “Trời đất sẽ qua, nhưng lời ta nói chẳng bao giờ qua đi.” Lời đó khiến hắn suy nghĩ và tự hỏi rằng: “Nếu trên trời qua đi, thì Đức Chúa Trời và các thiên sứ sẽ ra thế nào?” Rồi hắn cứ đọc, nhưng càng đọc, càng không biết nghĩ ra sao. Lòng hắn hết sức ao ước hiểu ý lời mình đọc. Nhưng tìm đâu được người cắt nghĩa cho? Trong nhà tù, chẳng hỏi ai được; chẳng hề có ai nói với mình một lời nào về trên trời, địa ngục, Đức Chúa Trời, Đấng Christ hoặc sự cứu rỗi. Bỗng nhớ trong tù có hai người da đen, khi ra sân, họ thường cầm bộ Kinh Thánh, hắn quyết định hỏi hai người ấy.
Qua hôm sau, hắn nhân dịp tiện, liền nhờ một người da đen là tín đồ Chúa, cắt nghĩa câu Kinh Thánh ấy cho. Tín đồ ấy mở mắt cho kẻ trầm luân để nhờ Chúa mà được cứu. Người tín đồ vì hắn mở Kinh Thánh, đọc Giăng 5:24 “Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống.” Đoạn, người đó đặt tay trên hắn, nói: “Câu ấy chỉ về anh.” Sự sáng vinh hiển của Đức Chúa Trời tỏ trên mặt Đức Chúa Jêsus bấy giờ mới bắt đầu chiếu vào linh hồn tối tăm của người tù 9.924, khác nào ánh sáng mặt trời chiếu vào thế gian mờ tối nầy vậy. Người tù bèn cầm lấy sách ở tay người tín đồ, rồi chạy vào phòng nhỏ, quỳ gối xuống, ngửa mặt lên; kêu la thảm thiết: “Đức Chúa Trời ơi, xin thương xót tôi là kẻ có tội.” Sự thông biết về Đức Chúa Trời bắt đầu xâm nhập trí mờ mịt của người. Đức Thánh Linh khác nào làn sóng từ Đức Chúa Trời tràn vào lòng người, tẩy sạch mọi tội. Trong giây phút, mọi sự cũ đều qua đi, và người không còn uống rượu, nghiện thuốc nữa: Người tù số 9.924 được lòng mới, các sự cũ đều trở nên mới cả, vì đã tái sanh. Vinh hiển thay sự sáng thiêng liêng! Các bức tường trong nhà tù dường như cùng hát “A-lê-lu-gia” cho Chúa. Đó là mảnh chuyện Anthony Zeoli, kẻ trộm cướp, kẻ hung đồ, kẻ nghiện thuốc, kẻ tội trọng được trở lại cùng Chúa. Tiếc thay, người đó đã chơi bời hư hỏng mất mấy năm trời! Về sau, Anthony Zeoli siêng năng giảng đạo Tin Lành, thuật lại chuyện lạ lùng ấy.
22. THÚC GIỤC VỀ SỰ NÊN THÁNH
(Hãy bay cao hơn!)
Tháng 5 năm 1931, một bác học Thụy-sĩ là ông Piccard, giáo sư ban Vật-lý học ở trường Cao-đẳng Bruxelles, cùng với người giúp việc là ông Paul Kipfer, đã thành công trong một cuộc thí nghiệm can đảm hơn hết mà hai ông đã định làm thử hồi tháng chín năm trước nhưng phải hoãn lại vì nhiều lẽ bất tiện. Hai ông muốn lên tới tầng trên không khí (Stratosphere), cách đất 16.000 thước tây, là nơi chưa ai lên tới, để biết tánh chất vùng không khí và sức mạnh các tia sáng trong vũ trụ ra sao.
Hai ông sắm sửa một chiếc khí cầu rộng 14.000 thước khối và đề phòng mọi sự. Ba giờ rưỡi sáng, hai nhà Bác học vào ngồi trong giỏ lớn hình tròn, bằng khinh kim, chứa sẵn nhiều dưỡng khí; cùng có nhiều cửa để nhìn ra ngoài.
Khí cầu bay lên rất mau. Quá một giờ rưỡi, nó cách xa mặt biển 5.000 thước, mắt trần vẫn nhìn thấy. Sau đó hai giờ, có tin báo rằng nó lên cao bảy, tám ngàn thước. Đoạn, nó lên mãi lên mãi, lên mãi, và trong vòng bảy giờ thí nghiệm, nó lên cao đúng 16.000 thước! Hai nhà Bác học có thể dùng khí cụ mà ghi chép nhiều điều khảo sát rất quan trọng. Tối đến, hai ông vặn máy để hạ khí cầu xuống. Trong trường hợp lạ lùng như thế, lòng hai ông tự nhiên phải hướng về Đấng Tạo Hóa, vì đã ngắm xem những công việc tốt đẹp của Ngài.
Nhằm lúc nửa đêm, sau nhiều cuộc thay đổi bất ngờ và lắm phen nguyu hiểm, hai phi công xuống trên dãy núi Alpes Tyroliennes gần xóm Gurgl. Có đội cựu binh từ thành Insbruck sai đến tiếp đón. Được bình an vô sự, hai ông nghỉ ngơi khoan khoái.
Người ta từ mọi nơi gởi đến vô số lời chúc mừng, khen ngợi hai nhà khoa học anh hùng. Vừa can đảm, vừa khiêm tốn, hai ông lại dự định sau nầy bay lên từng trên không khí một lần nữa, và cao hơn nữa, để nếu được thì sẽ ghi chép thêm nhiều điều khảo cứu về khoa học.
Chúng ta khen ngợi kẻ được thành công trong phạm vi vật chất và trí khôn, nhưng trước hết nên nghĩ đến phạm vi thiêng liêng đã. Ôi! địa vị thiêng liêng hiện thời há chẳng đáng thương? Loài người càng ngày càng chìm xuống biển ích kỷ, tư lợi, chơi bời, tình dục. Lương tâm họ ngủ mê, lòng họ bị xiềng xích. Họ sống trong vòng mơ hồ, lầm lạc, không bay lên miền sáng láng, nhưng sa xuống cõi tối tăm. Nào ai dùng ý chí cương quyết để chống cơn cám dỗ quỷ quyệt và thoát đám sương mù tanh hôi? Phải tăng số lính hộ vệ lẽ thật, tình bác ái và lòng trong sạch? Tín đồ Đấng Christ phải nêu cao lá cờ có khẩu hiệu siêu việt chép bằng chữ lửa: “Phàm điều chi chơn thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thanh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhơn đức đáng khen thì anh em phải nghĩ đến” (Phi-líp 4:18).
Nhưng tấn tới về phần thiêng liêng thể nào? Ta cứ chiều theo tội ác, quá yếu đuối và bất tài sao?
Nầy, Đức Chúa Jêsus ở cùng ta. Ngài là gương cao thượng, mẫu trọn vẹn, phi công đáng tin, Cứu Chúa toàn năng.
Hãy xem xét đời Chúa Jêsus: “Ngài không giao kết với tội ác, không hề nói dối hoặc lầm lỗi, không hề chiều theo điều ô uế và tình dục xấu xa, nhưng bao giờ cũng chiến đấu với tội, xua đuổi kẻ thù, tố giác sự sai lầm, việc bất công và phá tan cơn buồn thảm, cảnh nghèo hèn của loài người. Ngài ở miền thiêng liêng tối cao, chẳng chi kéo được Ngài xuống.
Sự chết nhục nhã trên cây thập tự đương đánh đổ Ngài, nhưng chỉ là dịp tiện cho Ngài ngự lên ngôi cực vinh.
Ngài có thể đổi lòng xóa tội, ban ơn cho ta, khiến tâm hồn ta đầy tình yêu và quyền phép làm cho ta hằng được vui vẻ, đắc thắng, thanh sạch, tóm một lời, Ngài dựng ta nên người mới. “Tạ ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta.” (ICô-rinh-tô 15:57)
Ở tầng trên không khí, cao 16.000 thước, khí trời trong sạch biết bao. Hào quang rực rỡ biết bao! Còn dưới đất này thì chứa chan nỗi đau đớn, cơn buồn thảm, vật ô uế và bước tối tăm! Với Đấng Christ và đạo Tin Lành hãy tái sanh, lòng ta bay đến miền thiêng liêng mà loài người không thể lấy sức riêng hèn mọn đạt tới.
Thiên đàng là cái đích tối cao của ta, là cửa biển yên lặng và vững chắc của linh hồn ta! Tại đó, có thể thỏa lòng trông cậy, tăng thêm dục vọng chánh đáng và khỏi đói khát phước lành.
Hỡi anh em! Hãy cùng phi công thiêng liêng là Đấng Christ, càng ngày càng lên cao. Chớ xuống khỏi nơi Ngài đã đem mình tới. Như vậy, anh em sẽ được vui trọn với Ngài cho tới khi trở về quê hương thiên thượng để gặp Ngài:
Ai ơi, sự sống đời đời
Mở mang trọn vẹn trên trời cao xanh
Phước thiêng và sự công bình
Tăng thêm gấp bội, thỏa tình trông mong.
Ta nên nghĩ đến thiên cung!
- Paul Faivre: “Le Relèvement”
23. HẦU VIỆC ĐỨC CHÚA TRỜI
(May áo cho Đức Chúa Trời)
Đó là lời của một người mang danh là tín đồ Đức Chúa Jêsus học đòi thầy dạy luật tự xưng mình là công bình; nối gót bọn Pha-ri-si tự cao rằng mình từng trải thiêng liêng, thông hiểu Kinh Thánh, nhưng tâm hồn thì cách xa Chúa. Một ngày kia, người truyền đạo khuyên các giáo hữu rằng: “Ai là tín đồ Đức Chúa Jêsus, thì nên tỏ lòng biết ơn Ngài, làm chứng sự cứu rỗi linh hồn, bày tỏ sự từng trải thiêng liêng, và cắt nghĩa Kinh Thánh cho kẻ lân cận mình. Nếu không, giống như biển chết vì không chảy ra được.” Một người trong đó bèn hỏi nhà truyền đạo rằng: “Tôi muốn tỏ lòng biết ơn Chúa, muốn may cho Đức Chúa Trời một cái áo. Vậy ông tưởng phải mua bao nhiêu vải?” Nhà truyền đạo suy nghĩ một lát, rồi đáp: “Ông mua ba thước!” – Tại sao? Tôi thấy Kinh Thánh chép rằng: “Bầu trời là ngai Ngài, đất là bệ chơn Ngài” và “Ngài là Đấng thiêng liêng vô hình vô tượng! Vậy sao có thể may cho Ngài một cái áo chỉ bằng ba thước vải được?” – Chúa Jêsus phán: “Hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những kẻ rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mìnhta vậy”, (Ma-thi-ơ 25:40) và “Hãy yêu kẻ lân cận như mình.” Kìa! Ở bên cạnh ông, có một anh em đang thiếu áo mặc”.
L. V. T.
24. CẨN THẬN VỀ LỜI NÓI
(Nói gần, nói xa, chẳng qua nói thật)
Trong đời Thánh Gia-cơ cũng như ngày nay, thường có hạng đờn ông biếng nhác – còn đờn bà nữa – chỉ có việc ngồi lê nói vu. Nhưng không ai có thể phân biệt lời nói vu với lẽ thật, hoặc tìm kiếm sự giả dối ở trong đó được. Thật không ai có thể đun nước lời nói đó khiến bốc hơi lẽ thật lên, để thử xem đáy nồi có đóng cặn giả dối không. Lại cũng không ai có thể bắt được lời nào, câu nào là vu, vì vu không cần phải nói dối. Có khi nói thật một nửa lại xấu hơn nói dối trọn vẹn. Kìa, một cái biểu môi, một cái lườm mắt, một cái nhô vai, một cái cau mày, một cái vẻ mặt không tin, phải một cái làm thinh nghiêm nhặt, cũng đủ làm trọn lời vu, hại đến danh dự kẻ khác, chớ không cần phải nói rõ hết lời đâu, nhưng tai hại nó vẫn còn lại để hành động, xui giục, khuấy rối người ta, và lưu độc đến cả xã hội loài người ở nơi giếng của sự sống. Một người cả đời bị hại như thế, đã làm chứng rằng: “Trong miệng kẻ nói vu có chứa nọc độc của rắn hổ.”
F.W. Robertson
Những lời nói bá láp, có khi dường như một thứ khói bay lên từ cái điếu nhơ bẩn, vì chỉ tỏ ra cái vị không ngon của người đã nói đó.
George Eliot
Có hai lối tốt để đối phó lời nói xấu về người khác: một là đừng nghe, hai là đừng đem nói với ai nữa.
G.H. Lorimer
25. PHẢI CHỌN ĐẤNG CHRIST VÀ THÁNH LINH
(Lấy thứ kim cương nào?)
Một vua kia muốn thử các con, xem ai khôn ngoan hơn, đặng nối ngôi sau khi mình băng hà, bèn lấy thứ kim cương thật quý gói vào một gói bằng giấy rất xoàng, khó coi lắm; còn một thứ kim cương giả bằng thủy tinh thì để vào trong một hộp rất lịch sự có vẻ rực rỡ ưa nhìn. Đoạn, vua gọi người con cả đến, bảo tùy ý muốn chọn thứ kim cương nào thì chọn. Thấy gói xoàng, con đó bỏ qua; song chọn cái hộp đẹp, té ra là thứ kim cương giả. Sau vua gọi đến con út, hỏi muốn chọn lấy kim cương nào. Con đó nhìn cha bằng cặp mắt dịu hiền, rồi nói: “Thưa cha, xin cha lựa chọn giùm con.” Vậy, vua chọn cho thứ kim cương thật trong gói xoàng, và bảo con đó hãy đợi để mình sửa soạn cách trọn vẹn hơn nữa. Vua liền truyền thợ làm một cái mũ triều thiên, trên đính thứ kim cương thật đó, coi rất đẹp đẽ, đoạn, để vào trong hộp bằng vàng đẹp hơn cái hộp đựng kim cương giả trước gấp ngàn lần. Cuối cùng vua họp các thần dân lại tuyên bố rằng: Mai sau con út mình sẽ được nối ngôi làm vua. Vậy nay hãy dùng cái mũ kim cương quý giá nầy làm của cầm.
Cũng vậy, khi Đấng Christ giáng sanh tại thành Bết-lê-hem; bị người thế gian voi khinh, bị họ tưởng lầm rằng thà yêu chuộng sự hư vinh đời tạm nầy còn hơn tôn trọng một người hèn mọn như thế. Nhưng ai đã chọn Chúa trong sự khiêm nhường tại thành Bết-lê-hem, vườn Ghết-sê-ma-nê, và núi Gô-gô-tha, thì nầy sẽ thấy một ngày kia Chúa tới trong sự vinh quang trổi hơn mặt trời, ban cho phần thưởng quý báu. Đấng Christ đến thế gian lần thứ nhất chưa đủ, vì Ngài sẽ đến lần thứ hai nữa. Vậy, sự giáng sanh của Chúa cách hèn hạ tại thành Bết-lê-hem cũng là để thử mỗi linh hồn. Hỡi độc giả! Anh em sẽ chọn lấy của quý thật, hay chịu khổ dai khi Chúa Jêsus tái lâm?
H. Homer-Dixon
26. ĐỪNG VỘI PHÁN ĐOÁN
(Có tìm mới gặp!)
Có một Đại úy người da trắng nói cùng Mục sư kia rằng: “Tôi ở nước Ấn-độ đã mấy năm nay, song chưa thấy một người tín đồ nào.” Hôm sau ông lại nói: “Mới rồi tôi bắn được 30 con cọp.” Mục sư nói: “Lạ nhỉ! Thật 30 con à?” – “Thưa phải.” – “Tôi tưởng chỉ có ba con.” – “Không phải.” – “Ồ, tôi ở đây đã 25 năm, mà chưa thấy một con cọp nào!” – “Không lạ gì! Vì Mục sư không đi chỗ có cọp.” Mục sư nói: “Cũng vì lẽ ấy, ông không thấy người tín đồ nào.”
R.M.J.
27. PHẢI ĐƯỢC TÁI SANH
(Sống ở địa vị nào?)
Thời buổi văn minh, khoa học phát triển, nhơn tài xuất hiện, chen lấn trong các lý thuyết mưu sự sống tạm. Có nhiều người hy sinh cho nền học vấn để phátminh ra cái mới, cái lạ cho đời. Nhưng thật chẳng có gì là mới lạ cả. Kìa, Kinh Thánh chép: “Chẳng có điều gì mới ở dưới mặt trời” (Truyền-đạo 1:9). Nhà bác học Lavoisier: “Không có điều gì mất đi, cũng không có điều gì mới mẻ cả” (Rien ne se perd, rien ne se crée). Mới đây (1932) đâu đâu cũng nghe nói đến Voronoff là người tìm ra cái thuyết cải lão hườn đồng, lấy sự sống lưu truyền sự sống, gọi là tiếp hạch. Người đời đến lúc đã già, lưng còng, gối mỏi, tai lãng, mắt mờ, tinh thần suy nhược, ngồi yên chờn thần chết đến; nếu bằng lòng để Bác sĩ Voronoff lấy cái hạch của người tráng kiện tiếp vào, thì được sự sống mới, đủ sức mà xông pha mưa nắng chống trả với mọi sự tàn tạ. Đời sống của anh em ở trong địa vị nào? Ở địa vị già yếu suy nhược, khi gặp sự cám dỗ thì bị thua như A-đam đã gây nên tai vạ cho cả thế giới chăng? Hay có sự sống mới bởi tiếp cái hạch của Con Đức Chúa Trời (tức là sự sống của Đức Chúa Jêsus) mà có thể thắng hơn mọi sự cám dỗ như Chúa Jêsus đã thắng? “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới, những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới” (IICô-rinh-tô 5:17).
28. ĐỪNG NÓI MÀ KHÔNG LÀM
(Nói dễ, làm khó!)
Hội đồng chuột
Nhà kia có một con mèo bắt chuột rất hay, hễ chuột nào dầu khôn ngoan lanh lẹ cũng bị vào bụng mèo cả. Song hãy còn mấy con chuột khôn lanh ẩn cư trên mái nhà, nên mèo kia không bắt được. Mà bọn chuột dầu khôn lanh đến đâu, cũng không khỏi đêm ngày lo sợ cho tánh mạng mình.
Trong lũ chuột, có một con già, hình cao, vóc lớn, can đảm, lại có tài khẩu biện hơn mấy con chuột khác, bèn ra công cổ động nhóm một hội đồng, để ai có mưu cao chước lạ gì làm hại được mèo, thì đem tuyên bố cho hội đồng xét định.
Đến ngày khai hội, có lắm đại biểu đến dự, chuột già được chúng cử làm chủ tọa. Lại bầu một con chuột khác làm thư ký để làm biên bản. Lúc bấy giờ, chuột già chống ba-ton, bước lên tòa nghị luận; còn các đại biểu ở dưới.
Chủ tọa nói: “Bấy lâu nay, mèo làm cho loài chuột ta gần tuyệt chủng; bây giờ ta phải làm cách nào đặng thoát khỏi cái nạn ấy? Vậy, hội đồng lần này ai có mưu hay kế giỏi thì xin bày ra.”
Một đại biểu đứng dậy nói: “Xin phép chủ tọa, tôi có một kế rất hay, xin cho tôi nói.” – “Cứ nói.” – “Chúng ta muốn trừ nạn mèo, thì chẳng kế nào bằng kế hy sinh.” – “Hy sinh là làm sao?” – “Hy sinh nghĩa là trong chúng ta phải có một đứa chịu bỏ mạng.” – “Bỏ mạng thế nào?” – “Phải ăn thuốc độc, rồi chạy đến trước mặt mèo; mèo ăn ta, ắt nhằm thuốc độc mà chết. Mèo chết, chúng ta thoát nạn. Đó là kế hy sinh.”
Cả hội đồng đều vỗ tay mà rằng: “Kế đó hay lắm, chúng tôi biểu đồng tình cứ thi hành đi!”
Chuột già, chủ tọa nói: “Kế này hay lắm, không còn kế nào hơn nữa. Song xin hỏi ông (đại biểu chuột), ông có bằng lòng làm theo kế ông đã cống hiến đó không? Ông có bằng lòng hy sinh vì đồng bào mình không?” – Đáp: “Về phần tôi, tôi đã hiến kế thì đủ bổn phận rồi, (?) Xin nhường việc đó cho kẻ khác.”
Chủ tọa liền hỏi: “Còn ai dám vì đồng bào mà làm theo kế hy sinh đó không?”
Ai nấy đều ngó mặt nhau, không nói một lời, im lặng như tờ giấy trải. Hồi lâu, cả hội đồng đứng dậy nói rằng: “Chúng tôi xin nhờ ông chủ tọa (chuột già) ra ơn cứu giúp.”
Chủ tọa đáp: “Không được! Việc nầy không phải chức vụ của tôi (?) và tôi bây giờ tuổi cao tác lớn, để sống ít lâu nữa, rồi qua đời cho yên thân, tôi xin nhường cho quý ông trẻ tuổi.”
Sau đó, các đại biểu lần lượt bước ra khỏi nghị trường. Chuột già kia buồn lòng, rồi xuống ghế. Hội đồng giải tán!
Ôi! Nói được, làm không, câu “Năng thuyết bất năng hành!” là thế đó. Đức Chúa Jêsus Christ có phán rằng: “Hãy làm và giữ theo mọi điều họ đã bảo các ngươi; nhưng đừng bắt chước việc làm của họ, vì họ nói mà không làm” (Ma-thi-ơ 23:3).
T.K.
29. DÂNG MÌNH CHO CHÚA
(Chìa khóa cuối cùng)
Một bữa, đang khi nghe giảng đề mục “Dâng trọn mình cho Chúa”, Mục sư F.B. Meyer móc túi lấy một chùm chìa khóa, giơ lên mà rằng: “Tôi đã dâng mọi chìa khóa cho Chúa.” Nhưng ông thình lình nghe tiếng Chúa hỏi: Ngươi thật không còn chìa khóa nào nữa chăng? Ông thẹn đỏ mặt, thưa thầm: Hỡi Chúa... chỉ thiếu một cái chìa nhỏ. Vì bấy giờ ông còn phản đối Chúa, chưa chịu dâng hết mọi sự.
Một lần sau, ông làm chứng như vầy: “Chúa cứ phán như thế, nhưng tôi cứ phản đối. Sau tôi biết tội, không dám suy đi tính lại nữa, lập tức quỳ gối, rơi lụy, cầu nguyện rằng: Chúa ôi! Xin Chúa ban ơn giúp tôi bằng lòng dâng chìa khóa nhỏ nầy cho Chúa... Nghe tôi khóc lóc, cầu nguyện như thế Chúa liền nhậm lời, và lấy chìa khóa đó nơi tay tôi.”
Hỡi anh em, trong đời mình, có chi chưa chịu dâng cho Chúa để Ngài giữ giúp mình chăng? Tín đồ nào dâng trọn đời cho Chúa, chắc sẽ được vui vẻ, bình an biết bao!
Tấn sĩ DOLMAN
30. SỰ CẦU NGUYỆN
(Cầu nguyện là gì?)
Là cách kẻ yếu đuối nương cậy Đấng Toàn Năng.
Là lúc tấm lòng gặp Đức Chúa Trời mình.
Là đức tin nhận các lời hứa của Đức Chúa Trời.
Là tiếng linh hồn đang khát xin ban Nước Sống.
Là lòng trông cậy hay thấy trước trái chín.
Là hơi thở của Đức Chúa Trời bổ dưỡng cho sự sống loài người.
Là hoàn cảnh thuận tiện cho các đức tánh của tín đồ phát triển và đạt bậc trọn lành.
Là cây gậy giúp người đi đường.
Là con cái nắm tay Cha để được Ngài bổ sức và dẫn dắt.
Là lời khuyên giục ta leo thang lời hứa và chiếm các thật sự thiêng liêng.
Là bàn tay của tín đồ giơ ra, là con mắt nhìn lên trời để tìm kiếm sự đầy dẫy Đức Chúa Trời.
Là thanh thần kiếm làm cho tánh tình trở nên thánh khiết và đổi cơn thử thách, cám dỗ, buồn thảm ra vàng ròng.
Là cánh cửa mở toang mà tín đồ hoặc Hội Thánh đã thấy sự yếu đuối của mình hóa ra quyền lực, cơn chiến đấu của mình hóa ra cuộc đắc thắng đời đời, có thể bước qua.
- Tạp chí The Christian Evangelist
31.CÁCH DẠY CON CÁI
(Dạy con từ thuở còn thơ)
Con trẻ càng lớn lên; ta càng phải dạy cho chúng biết nào các cách nẩy nở tự nhiên của sự sống, nào có nên trông mong và chống cự những gì. Phải dạy như thế, chẳng chút sợ hãi. Phải bày tỏ cho chúng biết mọi sự Đức Chúa Trời sáng tạo và thiết lập điều tốt lành và trong sạch. Sự hiểu biết đó thường giữ gìn khỏi tội ác. Vì ta ít ngờ cả đến đàn trẻ được dưỡng dục trong gia quyến tín đồ có lẽ cũng bại hoại về tinh thần.
Khi còn cái đầu xanh tuổi trẻ, hay nhóm họp chung quanh mình để dạy những lẽ giản dị và chơn thật.
Hãy khuyên giục chúng suy nghĩ và học hỏi, ngõ hầu thấy chúng hiểu hay không. Đoạn, hãy cắt nghĩa cho chúng vài câu Kinh Thánh và dạy chúng nào cầu nguyện lớn tiếng, chẳng chút văn hoa, kiểu cách, nào xưng với Đức Chúa Trời mỗi công việc, mỗi lời nói, mỗi ý tưởng xấu xa mà chúng cảm biết.
Chăm lo như vậy, ta được thưởng chăng?
Chắc được, vì nếu ta làm trọn bổn phận mình; thì Đức Chúa Trời sẽ làm trọn bổn phận Ngài.
Tôi xin làm chứng rằng tôi đã khiêm nhường cố sức làm trọn bổn phận, nên được Đức Chúa Trời đáp lại lời cầu nguyện: Mười con, cả trai lẫn gái, đều sống cả và đều hầu việc Ngài. Ngài ban ơn cho tôi chẳng những được thấy con cái; song cũng được thấy mọi cháu nội, ngoại đi trong đường Ngài.
Nguyện vinh hiển thuộc trọn về một mình Ngài.
Một mẹ của mười con
– La Bonne Revue –
32. CẦN SIÊNG NĂNG LÀM VIỆC CHÚA
(Ong ơi, ta muốn học mầy!)
So với muôn loài sống trên không, dưới đất, trong biển, thân ong chỉ bé cỏn con. Song cứ gẫm cho kỹ, ta đừng vội khinh những cái nhỏ mọn thấp hèn. “Một đứa gái nhỏ làm phu tù” đã tỏ cho bậc thượng lưu mắc bệnh phung biết lối tìm Tiên tri Chúa để chữa lành. Tuy không biết tên nàng, nhưng ơn Na-ha-man đã hưởng, nào ai chối cãi được chăng? “Một đứa con trai” chỉ dâng vài chiếc bánh, vài con cá, cũng đủ giúp Chúa nuôi được đoàn dân. Đố anh em biết tên cậu đó là gì? Xét hai người làm việc to tát mà ẩn danh ấy, các tín đồ trẻ tuổi hẳn được giục lòng hầu việc Đấng Toàn Năng.
Nhịn nhục và chăm chỉ, con ong gây mật, cũng đủ cho loài người vừa làm thuốc, vừa ăn. Kinh Thánh nói nhiều về mật ong ngọt lịm, có thể làm cho ta thêm sức, no lòng, vui dạ. Vậy, nó làm hình bóng về cuộc vui chơi của thế gian cốt khiến linh hồn thỏa thích. Chúa cấm trộn mật ong và men vào của lễ dâng cho Ngài. (Lê-vi Ký 2:11).
ONG CÓ BA THỨ: Ong vàng (bourdon) là giống đực, chỉ làm cái máy để gây giống nòi. Ong chúa đẻ trứng, nở ra con, ong thợ làm việc như đắp tổ, giữ con, kiếm ăn. Trong Hội Thánh cũng vậy, Chúa để mỗi tín đồ gánh vác một việc cho đến khi Ngài trở lại. Dầu làm việc nhỏ mọn hèn hạ cho Đấng mình yêu mến, há chẳng đáng quí, đáng vui? Có khi con ong phải bay xa hàng hai mươi cây số, mới tìm được nhụy hoa nuôi bầy và vật liệu đắp tổ, gây mật.
ONG CHÚA: Bầy ong phải phục quyền ong chúa. Mẹo mực cai trị là do ý muốn chúa ong, không con nào dám nho nhoe chống cãi. Ong chúa khác dấy lên chăng? Phải chia quân đi lập chỗ khác. Con Đức Chúa Trời đáng làm Chúa và cai trị Hội Thánh. Nếu kính mến Đấng chết vì ta, chắc ta gần gũi và vâng theo Ngài. Như vậy, mỗi lời, mỗi việc của tín đồ là nét bút tô điểm bức tranh đạo lý của Đức Chúa Trời và của Cứu Chúa.
ONG VÀNG: Ong vàng chẳng giúp đỡ, lại còn phá hoại, ăn tàn, chỉ rình cướp kết quả công việc của bầy ong thợ. Hết mùa gây mật, tòa tuyên án diệt trừ ong vàng về tỗi ở nhưng vô ích. Đó há chẳng phải là hình bóng về tội nhân chưa được buông tha?
ONG THỢ: Do trứng tốt nở ra, ong thợ rất khỏe mạnh làm công việc ích lợi nhiều. Ong vàng khác hẳn, quanh năm suốt tháng chỉ ăn chơi hoài. Đó, thí dụ về chỗ trái nhau giữa tín đồ và người ngoại đạo: Một bên được tái sanh vì vâng theo lời thánh và tin cậy Jêsus; một bên đeo đuổi tội lỗi; chưa được đổi mới bởi quyền thiêng liêng.
Ong giữ tổ gây mật cũng ngang hàng với ong bay đi hút nước ngọt trong hoa. Nầy, đàn bà coi sóc cửa nhà, đàn ông ra ngoài làm lụng, cả hai giá trị bằng nhau, khác chăng chỉ tại đằng kia lặng lẽ êm đềm, đằng này xông pha bay nhảy. Ca dao nước Anh có câu:
Hừng đông, chàng cất chân ra,
Làm ăn đến tối, về nhà nghỉ ngơi.
Em đây bận lắm, chàng ơi!
Công kia, việc nọ không rời chân tay.
Không cứ ở chỗ nào, làm việc gì, mỗi người, hoặc đàn ông, hoặc đàn bà, đáng nên đứng vững và chuyên tâm hầu Chúa (Châm-ngôn 27:8). Nếu không tới hút nước ngọt trong hoa, thì loài ong chắc hẳn tiêu diệt. Mùa hanh, nhiều thứ hoa rỉ nước ngọt lúc trời mới sáng. Vậy, ong thợ phải đi làm sớm, vừa bay từ hoa này đến hoa kia, vừa thẳng ngòi hút nước ngọt, vừa gây mật. Ong chỉ cần gắng sức, nước ngọt tự nhiên do một mạch máu lên lưỡi, rồi vào túi mật. Nhụy hoa và mật nuôi sống bầy ong.
Vậy, ta nhớ đến dân Y-sơ-ra-ên ở đồng vắng, lượm ma-na, là lương thực đủ giữ mạng sống. Linh hồn ta hằng ngày được no nê bởi cầu nguyện và đọc Kinh Thánh. Nguyện mỗi độc giả trở nên con ong thợ siêng năng của Chúa Jêsus!
Thuật theo nguyên văn tiếng Anh của P.R.
33. LÒNG YÊU THƯƠNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
(Vua với Quan Thủ tướng)
Một vua kia có một vị thủ tướng rất tài giỏ, vì học rộng lắm. Một ngày kia, vị thủ tướng ấy trở nên tín đồ Đấng Christ, bèn công bố đức tin mình trước mặt dân chúng. Vị ấy thường làm chứng rằng mình tin Đấng Cứu Thế đã đến thế gian để cứu những kẻ có tội. Ông vua không hiểu được sự này nên đã nói: “Trẫm là vua, nếu trẫm muốn thi hành điều gì, thì chỉ phải truyền lịnh cho các thần dân là đủ. Lẽ nào Đấng christ là vua trên các vua mà lại tự hạ mình xuống thế gian nầy? Điều đó rất vô lý! Vua muốn đuổi thủ tướng về vườn, vì thấy ông đã tin theo Đấng Christ, nhưng vua có lòng yêu mến ông lắm, nên hứa rằng nếu ông có thể giải nghĩa vấn đề nầy, thì sẽ tha tội cho, không cách chức. Vị thủ tướng xin vua cho mình suy nghĩ trong 24 giờ rồi sẽ giải đáp. Vị ấy liền sai một người thợ mộc rất khéo , bảo làm một tượng gỗ giống in hình Hoàng thái tử mới mười hai tuổi, và cũng mặc một thứ quần áo giống như của Hoàng thái tử. Ngày hôm sau, vua cỡi thuyền rồng, chơi sông với Thủ tướng. Thủ tướng đã dặn người thợ mộc hãy đứng trên bờ sông kia, hễ xa xa thấy một dấu hiệu của Thủ tướng thì ném cái tượng gỗ ấy xuống nước. Vua ngồi trên thuyền thấy tượng gỗ rơi, tưởng là con mình ngã xuống sông, không kịp bảo ai, liền nhảy ùm xuống nước, bơi ra cứu con. Vị Thủ tướng bèn hỏi tại sao vua không sai một đầy tớ nhảy xuống nước để vớt hoàng tử, mà chính vua lại nhảy xuống nước làm gì, đến nỗi gần phải chết đuối và ướt hết long bào. Vua trả lời: “Đó là do lòng thương!” Vị Thủ tướng liền tâu rằng: “Cũng một lẽ ấy, Đức Chúa Trời là Đấng Thượng Đế dựng nên thần, người và muôn vật, cũng không đành lòng sai ai xuống thế hạ nầy để đem sứ mạng cứu rỗi cho loài người; nhưng vì lòng yêu thương của Ngài vô hạn, nên phải từ bỏ ngôi vinh hiển trên trời, giáng xuống trần gian, mà cứu chúng ta. Đó cũng là do nơi lòng thương chúng ta vậy!” “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Giăng 3:16).
D.N.T.
34. ĐƯỢC LÒNG MỚI VÀ THẦN MỚI TRONG TÂM LINH
(Vinh hiển kín giấu)
...Lấy bề ngoài mà xét, thì đời sống của tín đồ Chúa dường như âu sầu, buồn bã, vô vị lắm. Luật pháp dạy: “Đừng làm điều nầy, đừng làm điều kia.” Chẳng lạc thú gì, chẳng chơi bời gì, đó là số phận của tín đồ; nên người ta thường chẳng muốn đi vào đường ấy, vì tự nghĩ đời người như thế thì thật uổng lắm.
Những người lạ cứ lấy bề ngoài mà xét, thì thấy đời tín đồ chẳng có chút chi đáng cho mình hết. Nhưng lúc nào người ta bước qua ngạch cửa, đi vào bởi cửa Đức Chúa Jêsus Christ, lúc nào người ta đã biết sự từng trải ở cõi đời mới, thì thấy khác biết bao! Vầng thái dương công bình chiếu tỏ và soi sáng mọi sự tốt đẹp về phương lược và lời hứa của Đức Chúa Trời; tất cả vinh quang của đời người tín đồ đều bày ra trước mắt ta: Ta bỗng hiểu ngay rằng Đức Chúa jêsus Christ muốn dùng ân đeỉn mà chiếu ánh sáng vinh hiển Ngài trong đời ta. Hãy nghe lời hứa của Chúa: “Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt. Ta sẽ đặt thần ta trong các ngươi, và khiến các ngươi noi theo luật lệ ta; thì các ngươi giữ mạng lịnh ta và làm theo” (Ê-xê-chi-ên 36:26, 27).
35. SỰ THỬ THÁCH
(Ôi mọi sự nghịch cùng ta!)
“Các nông nỗi nầy đều đổ lại cho tao hết.” (Sáng-thế Ký 42:36)
Thuở xưa, Gia-cốp rền rĩ như thế, vì các con trai ở Ê-díp-tô về trình cho biết đã tìm được Giô-sép, nhưng buộc Si-mê-ôn phải làm con tin cho đến khi đem Bên-gia-min tới. Ngoài cảnh cay đắng, ông không nhận rõ chút gì. Ông kể lể nguồn cơn bi thảm: “Các nông nỗi nầy đều đổ lại cho tao hết.” Ông tưởng mình nói đúng.
Nhưng muôn vị thiên sứ nhìn xuống và mỉm cười, vì thấy ông nghĩ lầm. Từ trời, họ nhận biết tay Chúa đã làm việc khắp mọi nơi để ông được phước. Chẳng bao lâu quả như thế.
Lắm khi tín đồ chép trong tiểu sử mình những chuyện rủi ro khổ sở. Đức Chúa Trời cũng chép tiểu sử họ đối chiếu, nhưng toàn là những hiệu quả khác hẳn. Ta chỉ hay quá lo đến biến động, chớ không chịu suy gẫm đủ để được một quan điẻm chánh đáng. Ta kêu: “Mọi sự hiệp lại nghịch cùng tôi!” Kỳ thực, Chúa dùng cảnh dường như gian truân để gây phước đời đời cho ta.
Không trường hợp nào có thể xâm phạm quyền lợi vinh hiển của kẻ đầu phục ý chỉ Chúa và yên tâm vì nhờ lời hứa vững chắc: “Mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời” (Rô-ma 8:28). Ta sẽ nhìn cuộc quá khứ và thấy tình yêu thương xoay vần mọi bánh răng cưa của bộ máy công bình Chúa. Cảm tạ Chúa đã để ta chịu rèn luyện trong lò lửa.
K.L.B.
36. XÁC CHỨNG CÓ ĐỨC CHÚA TRỜI
(Đức Chúa Trời ở đâu?)
Một ngày kia, Hoàng đế Trajan nước La-mã hỏi ông Rabbin Josue, Bác sĩ trứ danh, người Giu-đa, rằng: “Đức Chúa Trời ngươi ở đâu?”
Hoàng đế hỏi tiếp: Ngươi chỉ Ngài cho ta thấy được không?
-Không có ai thấy Đức Chúa Trời của tôi được, không có con mắt phàm nào chịu nổi sự chói lòa của vinh quang Ngài được.
Khi nói dứt mấy lời đó, thì nét mặt Bác sĩ lộ ra một vẻ tự cao không gì sánh kịp. Lúc đó, Hoàng đế dường như ngẫm nghĩ một hồi.
Bác sĩ lại tiếp: Tôi không làm cho vua thấy Đức Chúa Trời của tôi được, song ít nữa tôi cũng có thể chỉ cho vua một trong những người thay mặt của Đức Chúa Trời tôi. Hoàng đế tỏ ý ưng chịu điều Bác sĩ vừa nói đó. Bác sĩ mời Hoàng đế ra trước nhà. Lúc đó đang trưa, nên mặt trời chiếu sáng hết sức. Bác sĩ vừa nói vừa chỉ lên mặt trời: Xin vua hãy ngước mắt nhìn đó là một trong những người thay mặt cho Đức Chúa Trời tôi vậy. Hoàng đế nói: Ta ngó không được, ánh sáng chói lòa quá, ta chịu không nổi.
-Vua đã không thể xem được một trong các vật thọ tạo của Đức Chúa Trời, vậy mà còn đòi thấy Đấng dựng nên muôn vật!
“Đức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần lẽ thật mà thờ lạy” (Giăng 4:24), Nguyện sự tôn quý vinh hiển đời đời vô cùng về nơi vua muôn đời, không hề hư nát, không thấy được, tức là Đức Chúa Trời có một mà thôi.”
N.H.K.
37. TẤN TỚI TRONG SỰ NÊN THÁNH
(Anh em đã nên thánh chưa?)
Một hôm, tín đồ đi nhà giảng về, gặp một người vô tín hỏi: “Anh đi đâu về?” – “Tôi đi nhà giảng.” – “Bữa nay giảng gì?” – “Giảng về vấn đề nên thánh.” – “Anh đã nên thánh chưa?” – “Coi cái mặt tôi đây thì đủ biết mà?” – “Coi thử mới biết chứ.” Nói rồi, người tín đồ vô tín bèn đánh cho một cái thật mạnh. Tín đồ quạu cọ, chưởi mắng om sòm. Người vô tín nói: “Ủa, tự xưng là mặt nên thánh sao còn chưởi mắng tôi?” – “Tôi xưng cái mặt nên thánh, chớ có xưng cái miệng đâu? Nên thánh ở trong óc, trong bụng, chớ ở ngoài mặt đâu? Sao anh thử tôi?” – “Ủa, bây giờ cái “Thánh” nó chạy vô óc vô bụng rồi sao? Thôi để tôi cú óc, thoi bụng, coi nó có thánh không nhỉ?” Người tín đồ nói: Mầy đánh tao nữa, thì tao cho mầy một thoi, mầy chết đó! – Ủa, nói nên thánh ở óc, ở bụng, sao còn đánh tôi? – Cái tay, cái chân chưa nên thánh, nên tao đánh.
-Ôi! Tưởng anh nên thánh trọn vẹn, chớ anh mới nên thánh có nửa người! Xin anh hãy nên thánh trọn vẹn, mới phải là người có đạo; bằng không, thì tánh anh hãy còn xấu hơn tôi nữa. Thế mà xưng là đạo đức gì!
Vậy, tôi xin hỏi anh em tín đồ trong Chúa: Anh đã nên thánh chưa? Có khi nào anh em bị người ngoài đoán xét tội mình không? Nếu có, là tại anh em mới nên Thánh một nửa người. Hãy tấn tời trong sự nên thánh “như Đấng đã gọi anh em là thánh thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn nết ở của mình” (Phi-líp 1:15).
K.C.T.
38. PHẢI TIN NHẬN DANH JÊSUS
(Chỗ nào không có Jêsus?)
Ở Âu-châu, một bà kia có một con trai. Lúc đã đầu bạc, răng long, lưng khòm, mà thóp, bà có suy nghĩ đến tương lai của đời mình, thì sợ hãi lắm, nên vội vàng tin cậy Chúa Jêsus để được cứu rỗi linh hồn. Khi bà công nhận Jêsus làm Chúa của mình thì lòng bà có một sự vui mừng lạ lùng đến nỗi cây viết của nhà đại văn hào cũng không thể nào tả ra được.
Về nhà, bà khuyên con hối tội, đổi lỗi, để được nhờ ơn cứu rỗi của Chúa Jêsus. Người con tức giận phản đối mẹ một cách kịch liệt. Nhưng bà mẹ cứ giữ thái độ ôn hòa, hằng ngày khuyên con cải tà quy chánh, tin cậy Chúa Jêsus để được hưởng vĩnh phước thiên thượng. Người con nói với mẹ rằng: “Xin mẹ đừng nói tới cái tên Jêsus nữa. Nếu mẹ nói hoài thì con bỏ nhà đi đó.” Tuy con nói lỗ mãng như vậy, nhưng bà mẹ cũng cứ năn nỉ khuyên con tin Chúa. Người con tức mình quá, bỏ nhà ra đi.
Con ấy ra đi, nhưng không biết đi đâu, thơ thơ thẩn thẩn, bỗng gặp một chiếc xe hơi chở khách, y liền mua một vé lên ngồi trên xe. Mới ngồi, gặp hai ông già đương đàm luận với nhau về sự tái lâm của Chúa Jêsus, y tức tối trong lòng, liền bỏ xe đó qua xe khác. Lại gặp hai người đang tra xem Kinh Thánh, cũng nói về Jêsus, y miệng nói lâm râm coi bộ khó thương lắm: “Cái gì mà đi đâu cũng nghe nói Jêsus! Thôi xuống đi phứt!” Y liền mua vé xuống tàu thủy. Một chốc, lại gặp một bọn nam nữ sinh viên đi dự hội phấn hưng về, họ đến gần y, trước còn làm quen, sau cũng khuyên y trở lại tin cậy Chúa Jêsus. Bọn đó nói chưa dứt lời, thì y tay gãi đầu, tay bịt tai, chân đi lập cập, còn miệng nói: Cái gì vậy? Cái gì vậy? Đi đâu cũng nghe nói Jêsus! Y liền bỏ phứt cái giấy tàu rồi lên bộ. Trong khi đi, mặt ủ, mày ê, có dáng thất vọng, nhưng vừa đi được một đỗi xa, y gặp một người mặt hớn hở, tay kẹp sách, biểu y rằng: “Anh hãy mua sách này mà xem, vì trong đó nói Jêsus là Cứu Chúa của nhân loại.” Y liền là to: “Jêsus gì mà Jêsus! Đi đâu cũng nghe Jêsus!”Đọan y cắm đầu chạy... gặp một người gác đường, y bèn hỏi: Anh ơi, xin anh chỉ cho tôi một nơi để cho tôi khỏi gặp Jêsus, kẻo lòng tôi khó chịu lắm! Người gác đường đó suy nghĩ một hồi rồi nói: Anh nầy trớ trêu quá! Hiện nay đạo Tin Lành giảng khắp năm châu, danh Cứu Chúa đồn vang bốn biển, chỗ nào không có mà anh hỏi kỳ vậy? Ờ, có!... – Nơi nào anh? Anh! Xin anh làm ơn chỉ giùm.
-Chỉ địa ngục không có Jêsus. Nếu anh muốn không thấy mặt Ngài, thì phải xuống nơi địa ngục. Nghe người đó nói như vậy, y suy nghĩ lại hồi lâu, trong lòng cảm động quá đỗi, bèn về nhà xin mẹ tha lỗi cho, và quyết định hối tội cải quá, tin kính Chúa Jêsus.
Hỡi độc giả! Hãy suy nghĩ về con người ngu dại chê bỏ Chúa Jêsus đó, chạy chỗ nầy, qua chỗ nọ, để thoát khỏi Jêsus, nhưng tội nghiệp thay! “Chạy trời, sao khỏi nắng?” Rốt lại, cũng phải đầu phục Jêsus, vì sợ linh hồn phải vào địa ngục. Hiện nay, ai là người khinh dể Chúa Jêsus, chưa công nhận Ngài, thì nên mau mau ăn năn tin cậy Chúa, vì Kinh Thánh chép: “Kìa, hiện nay là thì thuận tiện, kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi!”
– Trí bổn thuật –
39. KINH THÁNH KHIẾN TA BIẾT TỘI VÀ ĐƯỢC THA TỘI
(Kính hiển vi)
Trong bước đường đời, trí tưởng tượng hiến cho chúng ta đóa hoa vui vẻ vì nó chỉ vẽ nhiều việc gần xa. Nhưng, tiếc thay, lắm lúc ta dùng trí đó không nhằm, nên nó thành ra hoa ảo! Khoa học sáng tạo một thứ dụng cụ giúp ta nhìn rõ những vật nhỏ mọn. Ấy là kính hiển vi mà chúng tôi in ra đây.
Khác hẳn nhau, kính thiên lý đem vật xa lại gần, còn kính hiển vi đem vật gần lại gần hơn và làm cho vật lớn gấp nhiều lần. Có vật ở bên cạnh ta, nhưng ta không thấy và hiểu rõ, há chẳng kỳ dị lắm sao? Để mắt vào kính hiển vi thật tốt, nhìn cánh ruồi hoặc chơn nhện, ắt ta sẽ phải kêu la: “Lạ nhỉ! Lạ quá!Tôi không ngờ hai vật nhỏ mọn nầy là hai kỳ quan.” Song muốn biết thực lực của kính hiển vi, ta phải dùng nó xem xét giọt nước. Ta sẽ thây gì? hàng mầy chục sinh vật nhỏ xíu đang ngọ ngậy. Nhà khoa học dạy rằng trong nước uống có vô số vi trùng nhỏ đế nỗi mấy trăm con có thể chui qua lỗ kim một lúc.
Dùng kính hiển vi, xem xét cục đa nhỏ xíu mà người ta ném ngoài đường, ta thấy nó có vô số mặt sáng láng, mỗi mặt một màu tuyệt đẹp. Nhưng muốn thấy những kỳ quan ấy, ta phải vặn bánh xe của kính hiển vi cho xứng hiệp với mắt mình. Cũng thế, nếu để dcl sửa soạn dọn lòng ta cho xứng hiệp với Kinh Thánh, thì Kinh Thánh sẽ dạy dỗ ta những lẽ đạo cao siêu vô cùng.
Có kẻ thuật rằng một ông truyền giáo giỏi khoa học tới xứ nọ, cho thổ dân dòm kính hiển vi. Trong đám đó có mấy người kiêng sát sanh. Vừa khi thấy sinh vật cử động trong giọt nước, thì bối rối quá chừng. Sáng bữa sau, một người đi mua lại kính kia, lấy búa đập tan ngàn mảnh, rồi trở về, miệng nở nụ cười đắc thắng. Tội nghiệp! Người tưởng làm vậy thì nước không còn chứa sinh vật nữa; nào ngờ kính hiển vi chẳng đựng vi trùng mà chỉ bày tỏ vi trùng thôi.
Chắc nhiều độc giả sốt ruột mong ứng dụng thí dụ nầy. Được lắm, anh em không cần chờ đợi nữa. Lần khác tôi sẽ dùng kính thiên lý làm thí dụ về đức tin; bây giờ, xin dùng kính hiển vi làm thí dụ về lời Đức Chúa Trời. Kính hiển vi phân biệt và bày tỏ những vật giấu kín.
Cũng vậy, lời Đức Chúa Trời “xem xét tư tưởng và ý định trong lòng” (Hê-bơ-rơ 4:12). Câu đó bao gồm sáu tánh cách của Kinh Thánh: SỐNG, LINH, SÂU SẮC, THẤU, CHIA, XEM XÉT. Ấy là công việc Kinh Thánh thi hành nơi lòng chúng ta để vạch mặt những ý ghen ghét cong vạy đang ẩn núp tại đấy cũng như sanh vật đang ẩn núp trong giọt nước. Vậy, chẳng khác thổ dân trên kia, lắm kẻ không ưa thích Kinh Thánh vì tỏ cho biết chơn tướng mình.
Tỉ như cô nọ siêng năng nhóm họp cầu nguyện ở nhà thờ, nhưng về sau lần lần trễ nải. Thầy giảng hỏi về duyên cớ, thì cô đáp: Vì Chúa dùng Kinh Thánh phán bảo rằng Ngài biết mọi ý tưởng và tội lỗi giấu kín nơi đáy lòng của tôi. Cho nên tôi không muốn nhóm họp để nghe dạy Kinh Thánh nữa.
Trên mặt đất nầy, Kinh Thánh là sách được tín đồ yêu quý nhứt, song bị tội nhân ghen ghét nhứt. Người đời ghen ghét Kinh Thánh khác nào kẻ trộm ghét Cảnh sát và ông quan tòa, vì Cảnh sát đuổi bắt nó, giải đến cho ông lên án bỏ tù. Kinh Thánh bày tỏ tội lỗi, đuổi bắt và lên án tội nhân. Cám ơn Chúa, Kinh Thánh chẳng những vạch mặt tội lỗi, song cũng cho tội nhân con đường được tha. “Phước thay cho người nào được tha sự vi phạm mình, được khỏa lấp tội lỗi mình!” (Thi-thiên 32:1). Vậy, Kinh Thánh làm công việc của kính hiển vi. Kính hiển vi bày tỏ được, nhưng không khỏa lấp được.
Hãy nhờ cậy và quý mến Kinh Thánh. Nguyện sự dạy dỗ về kính hiển vi giúp nhiều người biết tội, trở lại cùng Đức Chúa Jêsus, và học tập lẽ đạo vàng ngọc nầy: ‘Huyết của Đức Chúa Jêsus, con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta.” (IGiăng 1:7)
Thuật theo T.B.
40. DẠY CON TRẺ HỌP GIA ĐÌNH LỄ BÁI
(Vài thói quen nên gây cho trẻ)
Làm việc thường phải nặng nhọc. Nhưng phước thay, nhiều chị em, vì bây giờ hiếm đầy tớ, lại buộc phải chăm nom con cái. Còn trước kia, họ có thể giao phó chúng cho những người làm thuê. Nếu thấy không thể không cần đến họ, thì phải hết sức cẩn thận lựa chọn kẻ giúp mình trong việc nầy. Con trẻ rất tài bắt chước, nên tập theo ngay những thói xấu xa, giọng vô phép và lời thô bỉ. Vậy, khi kiếm kẻ giúp việc, ta phải cầu nguyện và cẩn thận.
Không nên để trẻ con leo lên ghế dựa, ghế bành hoặc ghế trường kỷ, viết bậy trên vách, xé giấy dán tường, đập vỡ đồ chơi, làm bẩn sách ảnh, hoặc nhổ hoa. Phần nhiều con nít có tánh hay phá phách; vậy ta cần phải sớm ngăn cái ý hướng ấy đi. Nhờ đó, chúng ta sẽ sung sướng hơn. Trái lại, hãy dạy chúng chăm lo công việc nhỏ mọn, ngắm nghía cỏ cây, vuốt ve súc vật. Những người hung ác trước hết là bọn trẻ hành hạ súc vật. Việc nầy là một dấu hiệu rấr sâu xa, cần phải thẳng tay đánh đổ.
Cũng phải dạy trẻ tập một thói quen hệ trọng là yên lặng. Một bà bạn tôi thường gọi đàn con đến từng đứa một và bảo rằng:
-Bây giờ, con phải học bài yên lặng!
Rồi suốt năm, mười, mười lăm phút, đứa trẻ ngồi yên như phỗng đá trên chiếc ghế con; trước hết phải để nó tập ngồi yên hai ba phút; rồi lại phải thưởng nó chiếc bánh bích-qui hoặc cái kẹo và hôn nó nồng nàn. Tôi biết nhiều đứa trẻ ngồi yên lặng suốt nửa giờ, chẳng chút khó chịu, thì thói quen đã đâm rễ vững chắc. Như vậy, thật ích lợi cho những khi đi thăm ai, hoặc muốn dẫn nó cùng đi thờ phượng Chúa; ấy không kể đến cuộc gia đình lễ bái vốn là dịp tốt nhứt dạy cho chúng học “bài yên lặng.”
Trong khi gia đình lễ bái, mỗi trẻ biết chữ phải mở Kinh Thánh mình mà dò theo đoạn sách đương đọc. Nếu chồng không thể chủ tọa (đáng tiếc thay, vì đó là phận sự đàn ông) thì vợ phải chủ tọa chẳng chút ngần ngại. Mẹ mắc nợ con cái việc ấy.
Chẳng nên để việc gì, như đi đường hoặc làm gấp, cản trở cuộc gia đình lễ bái, vì nó là những lúc mình đến gần phước lành của Đức Chúa Trời.
Ta thường nghe nói: Ồ, sáng nay tôi không có thì giờ thờ phượng!
Kinh Thánh há chẳng đáp rằng: “Trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ thêm cho các ngươi mọi điều ấy nữa” (Ma-thi-ơ 6:33).
Nguyện cuộc gia đình lễ bái thật là sự thờ phượng của vợ chồng con cái nhóm họp thuận hòa. Chớ đọc quá 10 hoặc 12 câu Kinh Thánh; thà đọc ít cho trẻ nhớ dai còn hơn. Hãy hát bài Thánh ca hay, và nếu được, thì cũng nên đánh đờn họa theo. Khi cầu nguyện, hãy cảm tạ Đức Chúa Trời đã làm ơn cho mình khôn xiết. Hãy cầu nguyện cho con cái và cho việc chúng học hành trong trường. Chớ quên kẻ đang đau yếu và người bị thử rèn. Chớ cầu nguyện lâu, e có hại cho mọi người và nhứt là cho trẻ con, vì chúng sẽ sợ cầu nguyện và hay chán. Khi cầu nguyện riêng, mới nên kể tỉ mỉ.
– La Bonne Revue –
41. CHĂM CHÚ CHỨNG ĐẠO CHÚA
(Vớt được sách quý)
Ngày 14 tháng 5 năm 1866, Bác sĩ Verbeck, truyền đạo tại thành Nagasaki, nước Nhựt-bổn, được tiếp ông Wakasa, tổng trưởng Nhựt, tại nhà mình. Ông Tổng trưởng đi với anh ruột, hai con trai mình và một người bà con tên là Molino, đến thăm Bác sĩ. Sau một cuộc đàm luận rất lâu về sự vui mừng khôn xiết mà mình đã được trong khi tra xem các sách Tin Lành. Ông Tổng trưởng có xin nhà truyền đạo làm phép báp-têm cho mình và cho hai người cùng đi với mình nữa. Ở Nhựt-bổn, trong lúc đó cấm đạo Đấng Christ, vậy ai muốn chịu báp-têm, tức là muốn chịu tử hình.
Tại sao những nhà quý phái ấy được biết Tin Lành? Số là năm 1854, trong khi có cuộc đàm phán về một tờ hiệp ước Nhựt – Anh, do tờ hiệp ước ấy mà bốn năm về sau, các hải cảng Nhựt-bổn đã mở cửa cho tàu buôn Anh qua lại, một chiến hạm Anh đã đậu tại hải cảng Nagasaki. Chính phủ Nhựt vì sợ thủ quân Anh thình lình kéo lên bờ, nên phái Đại tướng Wakasa, khi ấy làm thống tướng các đạo binh Nhựt-bổn, lãnh trách nhiệm tuần phòng để ngăn ngừa dân Nhựt giao thông với hạm đội ngoại quốc ấy. Mỗi ngày Đại tướng ngồi trên chiếc thuyền nhỏ, dạo khắp hải cảng để giữ trật tự. Một hôm, đại tướng thấy nổi trên mặt nước một quyển sách, liền truyền lính vớt lên xem, vì sợ là cuốn sách cổ động dấy loạn. Nhưng té ra là một cuốn Kinh Thánh Tân Ước. Đại tướng nghe nói sách ấy cũng đã dịch ra chữ Tàu, nên gởi mua tại Thượng Hải để đem về xem. Khi hạm đội Anh rời hải cảng Nhựt-bổn thì hàng ngày, trong lúc nhàn rỗi Đại tướng cùng với em ruột mình là Ayabé, Molino và hai người bạn thân đồng tra xem cuốn Tân Ước ấy, và nhơn đó được biết Đức Chúa Jêsus.
42. GƯƠNG CHỊU ĐỰNG SỰ THỬ THÁCH
(Chiên mẹ theo con!)
Vợ chồng kia tin Chúa rất sốt sắng, sanh được bốn đứa con xinh đẹp. Cảnh gia đình thuận hòa vui vẻ, ai nhìn vào cũng ước muốn. Nhưng cơn bão thử rèn bỗng lay đổ gốc cây hạnh phước. Bốn đứa trẻ nối gót nhau vào cõi đời đời.
Ông bà thất vọng, ôm một mối sầu, cùng nhau du lịch phương xa để mong xóa nhòa bức tranh đau đớn. Đến xứ Sy-ri, đồng cỏ man mác, suối nước trong veo, người khác chắc hả dạ vui lòng, song ông bà vẫn hững hờ cùng cảnh đẹp. Thình lình ông bà thấy một chàng chăn chiên muốn dẫn bầy chiên đông đúc qua rạch rất nông, nhưng chảy xiết.
Nhìn dòng nước, bầy chiên rụt rè, chẳng dám vượt qua. Chàng không biết tính sao, chẳng lẽ bồng từng con một. Suy nghĩ hồi lâu, chàng nhẹ nhàng ẵm mấy con chiên con lội qua con rạch. Chiên mẹ mất con kêu la ầm ĩ, cũng nhảy phứt, chẳng sợ nguy nan. Cả bầy đều làm như thế. Chàng kia thành công mau chóng, chẳng khó khăn gì.
Trước cảnh tượng đó, ông suy nghĩ ngấm ngầm, rồi nói với vợ rằng: “Chàng nọ bồng chiên con đi trước, nên chiên mẹ và cả bầy mới chịu lội qua dòng nước mà chúng tưởng là nguy hiểm. Cũng vậy, Chúa ẵm bốn con ta về nước Thiên đàng, cốt để giục chúng ta đi đường hiểm trở. Vì Ngài chắc sẽ thấy rằng ta yêu thương và mong mỏi gặp con. Thôi, vợ chồng ta phải dâng trọn đời mình hầu việc Chúa, ngõ hầu sau nầy cùng bốn con họp mặt trong miền cực lạc.”
“Của cải ngươi ở đâu thì lòng ngươi cũng ở đó” (Ma-thi-ơ 6:21).
T.K.B.
43. LÒNG MỀM MẠI
(Hòn sỏi và bông đá)
Khi ta lấy hòn sỏi và miếng bông đá mà bỏ vào nước, thì thấy hai vật đó cũng thấm nước cả. Song khác nhau một điều là hòn sỏi chỉ thấm bề ngoài, nếu đập ra, trong vẫn khô, không có nước; còn cái bông đá chẳng những thấm bề ngoài, mà bề trong càng thấm hơn nữa. Tại sao? Vì cứng, mềm khác nhau. Về đời thiêng liêng cũng vậy. Có kẻ bề ngoài dường như được thấm nhuần ơn Chúa, mà thật ra trong lòng không có chút gì. Có người cả ngoài lẫn trong đều được đượm nhuần ân điển. Ấy vì lòng cứng, mềm khác nhau. Độc giả là hòn sỏi hay bông đá?
D.D.T.
44. CHÚA JÊSUS CHỊU HÌNH PHẠT THAY TÔI
(Yêu em, anh chịu thay!)
Hồi còn nhỏ dại, tôi không vâng lời cha mẹ tôi đương lúc ăn bữa lót lòng. Cha tôi bèn nói nặng rằng: “Minh! xuống ghế đi, ra đứng ngoài lối đi 5 phút.”
Lòng tôi thổn thức và tôi đành ra đứng gần cửa; cửa liền đóng lại. Tôi tưởng giây phút bấy giờ thật dài đằng đẳng, nước mắt rơi xuống nền gạch như mưa dào. Bỗng có tiếng vặn khóa, và mái tóc quăn của anh Huy thò ra ngoài. Anh vòng tay quanh cổ tôi, nói:
-Em Minh, em trở vào phòng ăn đi, anh chịu làm đứa dữ tợn thế cho em. Tôi chưa kịp nghĩ sao, thì anh Huy đã đẩy tôi vào phòng và đóng cửa lại.
Tôi đứng trân... Cha tôi nắm tay tôi, hôn tôi và dẫn tới chỗ cũ. Tôi được tha vì anh Huy chịu phạt thay tôi.
Sau 5 phút đó, cha tôi bồng cả hai đứa lên đầu gối: tôi dữ tợn và anh Huy rộng rãi liều mình. Tôi mủi lòng ăn năn đến nỗi không cầm được nước mắt.
Nầy, trước kia tôi đứng gần cánh cửa đóng kín giữa cha trên trời và tôi, Tội lỗi là cánh cửa ngăn trở tôi đến trước mặt Đấng dựng nên mình.
Xưa Chúa Jêsus, cũng như anh em tôi, đã chịu hình phạt thay tôi, và dẫn tôi đến gần bên Đức Chúa Trời là Cha chúng ta.
– L’aube –
45. ĐỨC TIN
(Ống thiên lý)
Hết xuân, sang hạ, tiết trời nóng nực lạ thường. Ai nấy tìm chốn nghỉ ngơi mát mẻ. Vậy, xin mời độc giả dùng trí tưởng tượng cùng tôi xuống tàu vượt biển đến nơi gió mát, suối reo, hoa cười chim hót. Biển trời man mát, làn sóng nhấp nhô, con tàu dập dờn mặt nước... Trên tàu, anh em dắt tay đi dạo, đăm đăm nhìn cõi không bờ... ủa kìa, ông thuyền trưởng đang cầm vật chi? – À, ống thiên lý!
Nầy, chẳng ai dám táo tợn vượt biển mà không cầm ống thiên lý trong tay, Vì nó giúp ta xem nơi xa, ngắm tinh tú, để biết rõ mình đang ở hướng nào, và đi đâu thì khỏi lạc. Vậy, có thể dùng ống thiên lý làm: Thí dụ về ĐỨC TIN.
Ống thiên lý không kéo vật xa đến gần, song dường như đưa các vật lại gần ta. Người ngắm ống thiên lý thấy được những vật tít mù mà mắt thịt kẻ đứng cận không thấy. Đó, thí dụ rõ ràng về đức tin là gì và làm gì cho tín đồ. Hãy nghe Đức Chúa Trời luận về đức tin: “Đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đương trông mong, là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy” (Hê-bơ-rơ 11:1).
Hãy suy gẫm mấy chữ sau đây: sự biết chắc vững vàng và bằng cớ. Nếu có đức tin, ta có bằng cớ về những điều mình chưa thấy: “Vì chúng ta bước đi bởi đức tin chớ chẳng phải bởi mắt thấy” (IICô-rinh-tô 5:7).
Nếu chỉ thấy, xét và khen ống thiên lý thôi, tưởng không cần nói, cũng biết chẳng được ích lợi chút nào. Phải đặt ống thiên lý vào mắt mà ngắm xem, mới có ích, vì sẽ nhìn được cảnh vật xa hơn tầm mắt tự nhiên. Đức tin cũng vậy, chỉ bàn luận suông, thật uổng thì giờ. Nhiều người vẫn hỏi: Đức tin là gì?
Muốn biết đức tin, phải làm thế nào? Có đức tin thì ích gì chăng? Lấy đức tin ở đâu? Về đức tin, óc ta vấn vương nhiều câu hỏi như thế. Nên biết ta tự nhiên chẳng có đức tin, cũng như không được ân điển. Vậy, phải làm gì để được đức tin? Gây đức tin thế nào? Xin đáp: “Đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi Lời của Đấng Christ được rao giảng” (Rô-ma 10:17). Hãy nhận biết đức tin liên lạc với tai nghe, và tai nghe liên lạc với lời Chúa. Cho nên ai nghe lời Chúa, nấy được giục lòng tin. Đức tin là tài thiêng Chúa ban cho, là tin lời Đức Chúa Trời phán trong Kinh Thánh. Nhưng ta hỏi: Ai cũng có tài thiêng ấy chăng? Chắc không. “Vì chẳng phải hết thảy đều có đức tin” (IITê-sa-lô-ni-ca 3:2).
Xin cử một thí dụ nữa để cắt nghĩa rõ hơn: Hai người thủy thủ đứng trên sân tàu. Người nầy ngắm ống thiên lý, còn người kia thì không. Người nầy nói:
Tôi thấy một chiếc tàu chạy đến phía chúng ta.
Người kia: Tôi không thấy, nên không tin như thế.
-Hãy ngó qua ống thiên lý nầy.
Người kia làm theo, rồi kêu:
-Ô, lạ nhỉ! Thật như lời anh nói; tôi có thể thấy làn khói từ ống bay lên.
Sao người mau đổi ý như vậy? Vì người đã ngó qua ống thiên lý là vật không đóng được tàu, nhưng chỉ bày tỏ tàu. Vậy, người hay tin và kẻ chẳng tin khác nhau hẳn. Kẻ vô tín nói:
Không có Đức Chúa Trời, không có ma quỷ, không có đời sau, không có thiên đàng, không có địa ngục, không có cuộc phán xét.
Nhưng tín đồ nói: Có một Đức Chúa Trời, tôi quen biết Ngài. Có thiên đàng, tôi sẽ ở đó đời đời.
Sao biết? Vì họ dùng đức tin làm ống thiên lý, nên hiểu biết, cảm giác, từng trải và bởi đó được vui.
Một thực sự nữa quan hệ đến ống thiên lý, khiến nó giống như sứ mạng Tin Lành ta vẫn thích, mà ai cũng được, bất luận chủ tàu hoặc thủy thủ, cụ già hoặc trẻ con, đờn ông hoặc đờn bà. Chẳng những thế thôi, ta còn có thể kéo dài ra hoặc thu ngắn lại cho vừa sức mắt và quãng đường. Thực sự nầy há chẳng nhắc ta nhớ lời Chúa phán trong sách Khải-huyền: “Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến, ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không” (Khải-huyền 22:17). Hãy đến cùng Đức Chúa Jêsus, ai cũng được Ngài tiếp rước vui vẻ, không phân biệt chi hết.
Sau rốt, ông thiên lý có một trung tâm là nơi các tia sáng tụ hợp. Phải nhìn qua trung tâm để nhìn thấy vật xa hiển hiện ở đó, mới nhận biết rõ ràng được. Vậy, đây, trung tâm bài giảng ngắn nầy: “Kìa Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29).
Đừng tranh luận về đức tin. Hãy dùng nó! Đừng bàn bạc về cách nhìn xem. Hyã nhìn xem để được sống!
– Thuật theo T.B. –
46. LỜI CHÚA LÀ GƯƠNG PHẢN CHIẾU
(Cái gương và Kinh Thánh)
Nhà truyền đạo kia làm quà cho một công chúa ngoại đạo cái gương. Khi công chúa soi gương, thấy mặt mình rất xấu, tức thì nổi giận, đập vỡ cái gương ra làm mấy mảnh, mà la lên rằng: “Hỡi gương! Mầy đã nói dối ta!”
Ấy chính cũng bởi một duyên cớ đó mà rất nhiều người không muốn nghe biết về Kinh Thánh. Có kẻ nói: “Kinh Thánh rất khó hiểu.” Cũng có người thì từ chối rằng: “Tôi không có thì giờ.” Cái lý do của mọi lời nầy chỉ tại Kinh Thánh tỏ rõ những sự dối trá và tội lỗi của người đời, khiến lòng khoe khoang và kiêu ngạo của họ không thể chịu nổi “Lẽ thật” đau đớn ấy, nhưng là “Lẽ thật” nhơn lành tế độ, như một phương thuốc thần hiệu vậy.
Nhưng không thể nào đập Kinh Thánh cho tan vỡ từng mảnh như đập cái gương được. Về điều nầy, chúng ta thật được yên ủi. Vì hễ mỗi cuốn Kinh Thánh bị xé hay bị đốt, thì Chúa lại khiến in ra 10 cuốn khác. Lời Ngài cứ còn đứng vững mãi, trải đời nọ, qua đời kia. Mà chúng ta là kẻ lãnh mạng lịnh Chúa, đi phân phát Kinh Thánh, thế nào cũng hái được bông trái thơm ngọt, dầu có khi phải chờ đợi lâu năm.
D.N.T.
47. QUYỀN LỰC TỘI LỖI
(Liệng đá mặt nước)
Than ôi, nhờ sự từng trải, các em đều biết rằng trẻ con thường làm việc không nên làm, đến nơi không được phép đến. Thí dụ mẹ nói:
-Con ơi, chớ lại gần đường xe lửa, chớ chơi gần sông, chớ đi qua đường đang khi xe hơi chạy vùn vụt...
Tội nghiệp, con cái không nghe lời cha mẹ; cấm chúng làm việc gì, thì chúng dường như cứ riêng thích làm việc ấy. Trong sự nầy, lạ lùng thay, chúng giống A-đam và Ê-va ở vườn Ê-đen. Đức Chúa Trời phán với ông bà rằng:
Về cây biết điều thiện và điều ác, thì chớ hề ăn đến.
Nhưng Ê-va thèm ăn chính trái cây đó. Bởi vậy, cái vật ghê gớm là tội lỗi vào cõi đời, đi khắp nơi, phá hại những kẻ nghèo hèn cũng như giàu sang, chia rẽ bà con họ hàng, đập tan trái tim các bậc làm mẹ, đem theo đủ thứ rầy rà, tật bịnh, buồn rầu, bối rối, ngã lòng.
Một ông kể cho tôi nghe truyện nầy:
Tôi nhớ lại em út tôi thiếu điều bỏ mạng vì không vâng lời. Cha mẹ cấm chúng đến gần sông; nhưng vừa ra khỏi cửa, chúng tôi bước thẳng tới đó. Chúng tôi đứng trên bờ, ném đá xuống mặt nước, lấy làm vui thích lắm. Song em tôi thình lình loạng choạng và ngã xuống sông. Tôi lập tức kêu cứu, vì dòng nước chảy xiết hơn lúc thường đã cuốn em đi. Tôi yếu hơn em, nên không thể cứu giúp: Thân thể em chìm trong dòng nước. Sau rốt, một người trẻ tuổi thấy chúng tôi, liền nhảy xuống vớt em và cứu được em khỏi chết. Ôi, tôi sung sướng biết bao, vì nếu tai nạn kia mà không giải cứu được thì tôi còn mặt mũi nào mà nhìn cha mẹ tôi?
Chúng ta đều giống cậu bé không vâng lời đến nỗi gần chết đuối đó. Tội lôi chắc kéo chúng ta đến nơi chết đời đời; nhưng hãy nghe Tin Lành: Đức Chúa Jêsus cũng như người trẻ tuổi kia, đã đến cứu vớt chúng ta. Ngài cứu được chúng ta, nhưng Ngài phải mất mạng sống. Ôi, để lôi chúng ta khỏi địa ngục, Cứu Chúa yêu quý chịu đau đớn biết bao! Ngài phải chịu đòn vọt, chế nhạo, chịu đội mão gai, chịu mấy mũi đinh ác nghiệt đóng vào chơn tay. Bây giờ, hỡi các em yêu dấu hãy dùng cặp mắt đức tin ngắm xem Chúa treo trên thập tự và nghĩ thầm rằng: Ngài chịu mọi sự nầy vì cớ tôi!
Như vậy, các em không thể làm chi khác, ngoài sự ăn năn mọi tội, vì thấy Ngài đau đớn; rồi các em được cứu bởi tin vững vàng trong lòng rằng Ngài tha thứ tội mình vì đã lấy huyết bôi xóa trọn vẹn.
(Dịch báo L’aube)
48. THÚC GIỤC BẠN TRẺ QUÝ TRỌNG LINH HỒN
(Ông biết bơi không?)
Ông bác sĩ nọ, học rộng, tài cao, lão thông các khoa thiên văn, cách trí, địa dư, nổi tiếng là một ngôi sao sáng trên nền hoc vấn. Vả, ông lại đem những điều mình đã biết mà bảo người khác, nhứt là những bọn tôi tớ, lao công, ông lại càng thích nói cho họ nghe lắm.
Một bữa ông đi thuyền đêm. Trời thanh, biển lặng, trên dưới xanh biếc một màu. Ông ngước mắt lên trời, thấy các vì sao vằng vặc, Bác sĩ hứng thú nói chuyện thiên văn, bèn chỉ một ngôi sao mà hỏi chú lái thuyền rằng:
-Chú biết tên ngôi sao kia không?
Chú lái đáp: - Tôi là người chở thuyền, biết đâu sự đó.
-Vậy thì chú chưa học khoa thiên văn sao?
-Chưa.
-Đáng tiếc! Đáng tiếc! Khoa thiên văn là một bộ phận trong mạng sống của người ta; nếu chú chưa học thì thật là thiếu quá.
Bác sĩ lại móc túi ra lấy một vật, giơ cho chú lái coi, rồi hỏi:
-Vật nầy có phải loài kim hay không?
-Tôi chưa hề học qua, biết đâu nó là loài kim hay không phải loài kim!
-Đáng tiếc! Đáng tiếc! Chú không biết cả cái đồng hồ là thuộc về loại gì? Thì uổng cho mạng sống chú lắm!
Bác sĩ lại tháo cái kính trắng gọng vàng đang cập trên mũi bảo chú lái rằng:
-Người ta làm cái kính nầy thế nào, chắc chú biết chớ?
Chú lái nổi quạu mà rằng:
-Ông khéo lôi thôi! Sao cứ đem những cái tôi đây không biết và không cần biết đến mà hỏi mãi như thế?
-Chao ôi! cả đến cái đó cũng không biết sao? Như vậy, được sống làm người còn quý nỗi gì? Giây lát, cảnh trời biển đổi, giông tố ầm ầm kéo đến. Chiếc thuyền chòng chành giữa biển, thiếu điều chìm đắm mấy lần.
Chú lái vôi hỏi Bác sĩ rằng:
-Ông biết bơi không?
Bấy giờ bác sĩ sợ hãi quá, người run rẩy, mặt xám xanh, ú ớ rằng: Không.
Nguy mất! Nguy mất! Đi biển mà không biết bơi, gặp cơn gió to sóng cả nầy, chẳng những mất một bộ phận mạng sống hoặc quá nữa mạng sống thôi đâu, mà đấn tất cả mạng sống cũng sẽ vào bụng cá nữa đấy!
Bác sĩ thấy chú lái nói xói mình, vừa thẹn vừa tức. Song những điều mình học trước kia nay thành vô dụng, cho nên chỉ đành chịu nhịn nhục, ngồi đợi cho thuyền chìm đắm mà thôi.
Hỡi các em! Chuyện này có ý dạy rằng kẻ nào chăm nghiên cứu khoa học thế gian, mà không lo đến linh hồn và đời sau, thì tới lúc hấp hối phải bối rối sợ hãi giữa cách vực sâu ngăn cách sự sống với sự chết, chớ quyết không thể nhờ cậy trí khôn thế gian mà yên ổn vượt qua được. Các em cũng đừng lầm là chuyện có ý bảo người đời không nên học đâu. Đức Chúa Trời ban thông minh tài lực cho ta, ta phải dùng hết thông minh tài lực mới không phụ phàng cái ân tứ đó. Nầy, có sự học bề trong, có sự học bề ngoài, không thể bỏ hẳn một thứ nào được. Nhưng, nếu chỉ lo học tập để mở mang trí khôn mà không nhờ đạo Tin Lành của Đấng Christ để được cứu rỗi linh hồn, thì suốt cõi đời đời, phải chịu thiệt hại. Vậy, các em đừng nên coi khinh khoa học, mà cũng phải trọng linh hồn, mới là trọn vẹn.
Thuật theo báo Chơn Quang
49. SỰ YÊU THƯƠNG THÀNH THẬT
(Hai trẻ mồ côi)
Nó tên là thằng Trọi, cái tên mà người ta đặt cho nó, vì nó trơ trọi một mình, không cha, không mẹ, không nhà, không cửa. Mới 12 tuổi đầu mà thằng Trọi phải tự nuôi lấy mình, không ai bao bọc, dạy dỗ. Ngày thì đi thổi sáo, ai thích nghe sẽ cho nó tiền. Đêm đến, nó lấy đất làm chiếu, lấy trời làm mền, thế mà nó vẫn sống vui vẻ với cảnh nghèo của nó.
Cũng trạc tuổi với Trọi, thằng Sang, con của bà Phán Tâm, dường như không biết cực khổ là gì. Sang ở trong một tòa nhà đẹp đẽ, ăn mặc bảnh bao mà lại có tính bướng bỉnh, kiêu căng, khó chịu. Dầu Sang là học sinh Trường Chúa Nhựt mà tánh ấy năm nào cũng còn nguyên. Chiều hôm nay, Sang đi học Trường Chúa Nhựt về, coi bộ hớn hở hơn mọi lần. Vừa bước vào cửa đã gọi ngược gọi xuôi, múa tay, múa chân và nói:
-Má ơi! Má ơi!
Bà Phán Tâm đón con hỏi rằng:
-Cái gì thế con? Sao kêu lớn vậy?
-Còn bốn ngày nữa là Lễ Giáng Sánh, má ạ! Lát nữa, dùng cơm xong, má dắt con đi mua hàng về may cho con cái áo mới, má mua cho con đôi dày mới, con đi dự lễ, má nhé.
Bà Phán Tâm cưng con nên nhận lời ngay. Cơm nước xong, Sang tung tăng chạy ra trước sân chờ mẹ sửa soạn để đi mua đồ cho Sang. Đang chạy giỡn, Sang bỗng yên lặng, lắng tai... Ủa lạ, tiếng sáo của ai thổi nghe hay quá nhỉ? Lần theo tiếng sáo, Sang ra đến cổng. Ơ kìa, thằng Trọi, lem luốc, đầu bù, tóc rối, đang đứng phùng miệng thổi ống sáo bằng tre, chung quanh có vài đứa trẻ đứng xem. Lên giọng đài các, Sang gọi:
-Ê Trọi, đem cái ống sáo của mầy lại cho tao xem chút nào! Mau lên, ê!
Trọi mừng quýnh, chắc chuyến nầy thế nào cũng được tiền thưởng, bèn vui lòng trao cho Sang xem. Sang cầm ống sáo một hồi rồi đưa lên miệng thổi. Nhưng tay, miệng Sang vụng về, không biết cầm làm sao, loay hoay mãi mà không thỏi ra tiếng. Sang phát cáu, liệng mạnh ống sáo xuống đất, rồi dẫm chân chá nát... Thế là rồi đời cái ống sáo yêu quý của thằng Trọi. Bấy giờ thằng Trọi cuống quít, khóc ầm ĩ lên:
-Cậu ơi! Sao cậu nhẫn tâm thế? Tại cậu không biết thổi, chớ nào phải tại ống sáo của tôi đâu. Cậu làm hư nó rồi thì tôi phải chết đói, vì nhờ nó tôi mới được sống đến ngày nay vậy.
Mặc kệ thằng Trọi khóc lóc, Sang đã chẳng chút thương xót không chịu bồi thường, lại còn xua tay đuổi:
-Thằng chết cha, chết mẹ, hoang đường, hoang sá kia! Đi chỗ khác cho mau.
Dứt lời, bỗng có tiếng bà Phán Tâm gọi Sang. Sang giựt mình xây lại, biến sắc. Thì ra nảy giờ mẹ Sang núp phía trong cổng nghe rõ đầu đuôi câu chuyện. Bà nghiêm nét mặt bảo Sang rằng:
-Nầy Sang, hãy nghe ta thuật một chuyện nầy đã: Năm năm trước đây, một đêm mưa phùn gió bấc, trước cổng nhà kia, có tiếng khóc la của một đứa bé. Chủ nhân trong nhà ra xem thì thấy đứa nhỏ chừng bảy tuổi, run lập cập, đứng không vững, bởi bộ giò ốm tong; mình trần, quần rách tả tơi. Hỏi nó ở đâu, thì nó nói là con mồ côi cha mẹ, không nhà cửa, chỉ ở đầu làng cuối chợ, hôm nay không chỗ ngủ, lạnh quá, lần mò đến đây. Chủ nhân thấy vậy, động lòng thương, đem nó vào nhà, nhận nó làm con (vì chủ không con), và cho nó ăn mặc tử tế. Vài năm sau, nó quên nó là con nhà bần; bởi vậy, má nó cho nó đi học, nó làm biếng học; cũng cho nó tin Chúa, vào Trường Chúa Nhựt, mà nó không có lòng đạo đức, cứ ỷ giàu sang, có tánh kiêu căng và hiếp đáp kẻ nghèo. Mẹ nuôi nó lấy làm hối hận vì đã nhận nó làm con.
Nghe xong, Sang suy nghĩ lung lắm và hỏi mẹ rằng:
-Thưa má, thằng nhỏ ấy là ai vậy?
Giọng quả quyết, bà Phán Tâm đáp rằng:
-Thằng nhỏ ấy chính là Sang đó, con ạ!
Sang bây giờ mới tỉnh ngộ, nhớ lại khi xưa, nó cũng như thằng Trọi hôm nay. Sang vội vàng xin lỗi mẹ và xin mẹ hãy tiếp nhận thằng Trọi làm con y như đã tiếp nhận Sang vậy.
Bà Phán Tâm rất bằng lòng, gọi thằng bé thằng Trọi lại, xoa đầu bảo rằng:
-Từ nay Trọi sẽ là con của ta nhé! Vậy, Trọi chẳng phải là trơ trọi nữa, bèn là Trọn, vì có mẹ và anh, chắc con bằng lòng lắm nhỉ?
Đính đông! Đính đông!... Chuông Noel vang rền... Bà Phán Tâm cùng hai con hớn hở đi nhà thờ mừng Chúa Giáng sinh. Sang và Trọn, quần áo tốt đẹp, sạch sẽ, dắt tay nhau bước vào cổng nhà thờ. Các bạn trong Trường Chúa Nhựt đón chào vui vẻ. Sang giới thiệu Trọn với các bạn:
-Đây là món quà Noel Chúa cho tôi; Trọn, em tôi đấy!
Rồi Sang luôn miệng thuật cho các bạn nghe vì sao Sang được món quà quý báu ấy. Nghe xong, ai nấy đều khen: Trọn có phước, mừng Sang đổi tánh, không còn kiêu căng như trước nữa. Đoạn, hết thảy đều hát mừng ngợi khen Chúa.
N.D.
SỰ BÌNH AN THẬT DO ĐẤNG ĐÃ GIÁNG SANH
(Bình an với đất)
Lúc Châu âu và Châu Mỹ mới bắt đường điện thoại ngầm qua biển nối liền thì sự vui mừng trên hai đại lục không sao kể xiết, Nhân dân ở Tân Thế Giới và Cựu Thế Giới cảm thấy được gần gũi nhau hơn, và ít ra trong một thì giờ ngắn ngủi cũng thật rõ hơn vì tình đoàn thể nên có sự ràng buộc lẫn nhau.
Các ông kỹ sư được hân hạnh truyền tin tức thứ nhất do đường điện tín ngầm qua biển, bèn nhứt định phát biểu cảm tưởng tự nhiên các ông lựa chọn khúc ca tuyệt diệu của Lễ Giáng Sanh:
“Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao,
Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người” (Lu-ca 2:14).
Sứ mạng truyền qua biển đó thật có ý nghĩa lắm. Tiếng thiên sứ hát mừng Cứu Chúa Giáng sanh vang dội qua biển, người bấy giờ lựa chọn như thế là đích đáng lắm.
Thật vậy, Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng dạy loài người coi nhau như anh em chớ không phải như thù nghịch. Khi Ngài xả thân vì mọi người, thì đã hội hiệp họ lại. Ngài dường như là trung tâm hấp lực của họ, là nơi họ gặp gỡ nhau. Họ càng yêu mến và hầu việc Ngài thì càng biết kính trọng lẫn nhau. Tiếp xúc với sự nhân ái của Ngài, lòng họ sẽ mở ra; đối mặt với sự hy sinh của Ngài, họ sẽ nhận thấy những công việc hung ác và những thủ đoạn báo cừu chẳng qua là kiêu ngạo và điên rồ.
Có chuyện kể rằng một buổi sáng kia, một người dân quê dậy thật sớm đi làm. Sương sa mù mịt phủ kín đường. Thình lình người thấy một hình quái gở và ghê gớm tiến về phía mình. Người sợ là con thú dữ, nên dự bị chống cự, nhưng vừa khi mặt trời chói rạng, sương mù tiêu tan, người kinh ngạc và vui mừng khôn xiết vì thấy chính em mình lẳng lặng đi cách mấy bước, tay cầm lưỡi hái.
Thật là một thí dụ rất cảm động về công việc Đức Chúa Jêsus Christ đã làm trọn. Khi Ngài hiện đến giữa vòng nhân loại như mặt trời chói rạng giữa đám tối tăm, thì Ngài đuổi tan những thành kiến tối tăm về giai cấp, chủng tộc, và tỏ ra người là đáng cứu giúp, đáng yêu thương.
Loài người thuộc về mọi nước, mọi thứ tiếng, đến quỳ nơi chơn Hài nhi mới sanh, và lần thứ nhứt họ nhận biết rằng mình cùng thuộc về một gia tộc cùng là con của một Cha.
51. TÌM KIẾM NƯỚC ĐỨC CHÚA TRỜI TRƯỚC MỌI SỰ
(Con thỏ và con chồn)
Ngày kia, có một anh chồn dạo chơi trong lúc trăng thanh gió mát, vừa lúc đó gặp bác thỏ. Anh chồn mạnh sức nhưng dại dột; bác thỏ yếu đuối nhưng khôn ngoan. Hai anh cùng nhau dạo chơi đây đó. Khi đến một cái ao kia, chồn ta dòm thấy cái hình mặt trăng ở dưới nước, ngỡ là cái bánh sữa, bèn bảo bác thỏ làm thế nào đem cái bánh ấy lên để hai anh em ăn chơi. Bác thỏ trả lời rằng: Được, không khó chi, anh hãy thòng cái đuôi anh xuống dưới ao nầy để tôi cột bánh sữa vào, chừng nào xong rồi, tôi sẽ cho anh hay và kéo lên. Chồn nghe lời bèn ngồi lại bên mé ao và thòng cái đuôi xuống nước.
Bấy giờ sương sa, tuyết đổ, nước ao lần lần đông lại như đá. Chồn ta nhổm cái đuôi lên và nghe hơi nặng, tưởng là bác thỏ đã cột cái bánh sữa vào cái đuôi mình rồi, tức thì ráng sức kéo mạnh lên. Thôi rồi, cái đuôi đã đứt lìa ra!
Trong thế gian biết bao nhiêu người cứng cỏi không chịu nghe Lời Chúa, không chịu đến nhà giảng để nghe rao truyền Danh Chúa đến nỗi có ai tới mời họ đi nghe giảng về Tin Lành, thì họ viện đủ lẽ mà từ chối. Có người nói rằng: “Ông ơi, ông hãy coi cửa hàng tôi đây, tôi phải ngồi mà chăm nom từ 6 giờ sáng, nghĩa là từ lúc mở cửa ra, đến 10 giờ tối, thế nào tôi rảnh được mà hòng đi đến đó?” Nhiều người trong thế gian nầy, vì tiền bạc và công ăn việc làm mà linh hồn phải bị hư mất, cũng như anh chồn kia phải cụt đuôi vì cái bánh sữa.
Vậy, xin quý vị đừng vì của cải tiền bạc mà mất linh hồn quí báu của mình, nhưng “trước hết hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ ban thêm mọi điều ấy nữa.”
L.V.C.
52. PHẢI YÊU THƯƠNG NGƯỜI LÂN CẬN
(Dùng bánh mì làm trái cân)
Bữa nọ, một người bán bánh mì vào cung đường thưa rằng:
-Bẩm quan lớn, tên Hai thường bữa bán bơ (beurre) cho tôi. Tôi tin cậy hắn, song hắn lại xấu bụng, cứ bán thiếu cho tôi.
Quan đòi Hai tới hỏi:
-Người ta kiện chú gian lận. Có thật vậy không?
-Bẩm quan lớn, tôi đâu dám gian lận!
-Chú có cân không?
Bẩm quan lớn, thường bữa tôi mua bánh mì của anh nầy! Mỗi ổ nặng một cân. Hễ anh mua bơ của tôi, thì tôi dùng ổ bánh của anh làm trái cân. Đầu nầy một cân bơ, thì đầu kia cũng một cân bánh; thiếu đủ là tại ổ bánh, chớ tôi không giám gian lận chút nào.
Hỡi độc giả! Đây là một bài về tâm lý chung. Có câu: “Suy bụng ta ra bụng người.” Nếu ta yêu thương người lân cận, ắt họ cũng yêu thương ta không sai. Vậy, khuyên độc giả trước khi trách ai, hãy suy xét lòng mình đã. Đức Chúa Jêsus dạy rằng: “Các ngươi đoán xét người ta thể nào, thì họ cũng đoán xét lại thể ấy; các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ cũng lường lại cho mực ấy” (Ma-thi-ơ 7:2).
T.V.N.
53. SỰ TIN CẬY VỮNG VÀNG
(Chế nhạo nữa thôi)
Một ông Mục sư đi tàu qua Đại Tây Dương. Khi ông họp lại thờ Chúa, có một người kiều ngạo tỏ ra nhều lời chế nhạo; nhưng ông cứ làm thinh mà giảng về đạo Chúa.
Sau đó, ông Mục sư lại giảng về vấn đề nhờ cậy Chúa, là Đâng mình chưa thấy. Nghe vậy, anh kiêu ngạo kia bèn chế nhạo mà nói rằng: “Tôi chẳng khi nào tin sự gì mà mắt chưa thấy.”
Trong số thính giả, có một người đứng lên hỏi anh rằng:
-Thưa, ông đi đâu?
-Tôi đi đến nước Ái-nhĩ-lan.
-Ông đã sang đấy chưa?
-Tôi chưa đến bao giờ.
-Ông đã gặp chủ tàu chưa?
-Tôi chưa gặp.
-Thế sao ông lại nhờ cậy một chủ tàu chưa gặp, để đưa mình đến nước mà mình chưa đến? Thật lạ quá! Ông có thấy được óc mình không? Ông tin rằng ông có óc chăng?
Nghe chuyện đó, ai nấy đều tức cười. Anh ta bẽn lẽn đi ra; còn ông Mục sư thì cứ giảng về Đấng có quyền cứu những kẻ tin.
Bà R.M.J.
54. NHỜ CẬY ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST TRỪ DIỆT TỘI LỖI
(Trừ tội cách nào)
Muốn trừ cho sạch cỏ đến nỗi không thể sanh ra được nữa, thì có ba cách: Dẫy cho hết cỏ đi. Song cách nầy mau lên lại lắm, vì cỏ còn gốc. Nhổ cho hết gốc. Cách nầy tuy khá, song ít lâu lại mọc lớp khác, vì tánh đất hay sanh cỏ. Muốn cho tiệt, chẳng cần chi dẫy hay nhổ, cứ đem đá mà lấp lên trên, như xây nền nhà hay trải đàng lộ, thì cỏ đến chừng nào cũng không lên được.
Cũng vậy, muốn trừ tội đến nỗi không thể sanh ra nữa, thì người đời cũng dùng ba cách: Mỗi khi lầm lỗi thì ăn năn. Song ăn năn hôm nay, mai lại vấp phạm, khác nào dẫy cỏ vậy. Thấy vậy, có người nhứt định chịu cực khổ ép xác để trừ gốc tội. Song cũng không thành, vì tại “cái tâm người ta là dối trá hơn mọi vật và rất xấu xa” (Giê-rê-mi 17:9). Nó có thể sanh ra nhiều thứ tội, bỏ tội nầy sanh tội khác, như đất có thể sanh ra nhiều thứ cỏ vậy. Chỉ có một cách là tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. “Ngài là hòn đá sống”, hễ ai nhờ cậy, thì được Ngài đổi mới và cai trị cả tâm lẫn tánh, như đá lấp trên cỏ, làm cho chết cả căn và quả. Vậy, không cần phải buồn bực, gắng sức giữ luật pháp tu thân hằng ngày, song chỉ nhờ Đức Thánh Linh dẫn dắt mà làm trọn luật pháp. “Cầu xin Chúa khiến anh em được quyền phép Đức Thánh Linh mà nên mạnh mẽ trong lòng, đến nỗi Đấng Christ nhơn đức tin mà ngự trong lòng anh em.” Đó là cách diệt trừ tội lỗi.
P.V.H.
55. TIN CHÚA ĐỂ KHỎI BỊ XÉT ĐOÁN
(Sau cùng thế nào?)
Một vị giáo sư nói chuyện với học trò mình rằng: Việc học của trò năm nay nữa là xong rồi, phải không?
-Thưa thầy, vâng ạ, lúc nầy tôi sắp sửa lo thi lần sau cùng của tôi.
-Thi rồi làm gì nữa?
Tôi sẽ kiếm một chức nghiệp gì để nuôi thân; tôi sẽ cưới một người vợ thạo việc để lo lập cơ nghiệp mà tranh đua với đời.
-Sau đó thì làm gì nữa?
-Tôi sẽ đi du lịch chỗ nầy xứ kia cho biết và học sự khôn ngoan của thế gian, để ở đời khỏi ai hà hiếp mình được.
-Sau thế nào nữa?
-Rồi đo tuổi già đến, song tôi cũng ước ao cứ hưởng sự khoái lạc luôn luôn.
-Sau cùng làm sao nữa?
-Tôi tưởng cũng phải chết một lần vậy.
-Chết rồi ra thể nào?
Đến câu hỏi nầy, cậu học sinh thiếu niên ấy không trả lời chi cả.
Còn phần độc giả, nếu nói thay người nầy , sẽ trả lời thế nào?
Chúa phán rằng: “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét.”
Xin độc giả chú ý đến bốn chữ “Rồi chịu phán xét”. Chết, chưaphải là hết; song còn phảo chịu đoán xét nữa. Quý vị có lo đến sự ấy không? Có suy nghĩ đến ngày tội nhân bị đoán phạt rất kinh khiếp không? Xin mau mau tin cậy Chúa Jêsus, là Đấng Cứu Thế để thoát khỏi sự phán xét đó. Chính miệng Đấng Cứu Thế có phán hứa rằng: “Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu; ai không tin thì đã bị đoán xét rồi, vì không tin đến danh Con Một Đức Chúa Trời” (Giăng 3:18).
N.H.K.
56. NHỜ LỜI ĐỨC CHÚA TRỜI
(Ông già với một thanh niên)
Ngày kia, một ông già gặp một thanh niên có tánh quỷ quyệt, khôn lanh.
Ông già là người đạo đức, tánh nết hiền lành, ăn nói chân thật, lại thêm dung mạo có bề dễ thương.
Chàng kia lý lắc làm người tân học, theo ghẹo ông già: “Xin ông giảng Đức Chúa Trời cho tôi nghe! Đức Chúa Trời ở đâu?” Ông già thật thà thủng thẳng cắt nghĩa cho chàng hồi lâu. Chàng lại cứ hỏi, không chịu nghỉ, kiếm nhiều điều bẻ bác. Ông già cũng bền lòng trả lời cách êm dịu. Chàng ta lại sừng sộ. Hồi lâu, chàng ta đổ liều, cởi áo tây, đưa cái bụng lớn ra, rồi nói: “Cái bụng tôi lớn thế nầy, nhưng tôi muốn nằm không mà ăn, vậy Đức Chúa Trời có thể làm để nuôi tôi, thì tôi mới theo.”
Ông già nói: “Nầy cậu, giá thử Đức Chúa Trời cày đất, cấy lúa, nhổ cỏ, gặt lúa, đập lúa, làm hết mọi việc, đến nỗi Ngài nấu cơm, bới ra, nhai nhỏ, rồi đút cho cậu ăn, thì cậu ưng không?” Chàng ta cười lớn, rồi nói: “Vậy tôi ưng lắm! Sướng lắm chứ.” Ông già bèn nói: “Thiết tưởng trên đời, một là con heo, hai là hình tượng, mới được hưởng cái sướng ấy. Nếu cậu muốn làm một trong hai hạng đó, thì được rồi.” Cậu ta mắc cỡ, bèn bỏ đi liền.
Ôi! Ai là người có học, xin nhớ câu: “Quân tử mưu đạo bất mưu thực” (người quân tử lo đạo chớ không lo ăn). Đức Chúa Jêsus Christ phán rằng: “Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời.” (Ma-thi-ơ 4:4). Ngài lại phán: “Nhưng trước hết hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ thêm cho các ngươi mọi điều ấy nữa.” (Ma-thi-ơ 6:33)
P.V.B.
57. ĐƯỢC CỨU RỖI KHÔNG DO VIỆC LÀNH MÀ DO CÔNG ĐỨC CỦA CHÚA JÊSUS CHRIST
(Ôi, trèo thang từ thiện!)
Một người nằm chiêm bao, thấy mình dựng một cái thang từ đất lên trời. Mỗi khi người làm một việc lành thì thang cao hơn vài bậc. Khi người làm một việc rất tốt, thì thang càng thêm cao hơn. Khi người phân phát tiền bạc cho kẻ nghèo, thì thang lại lên cao bội phần. Người nghĩ thầm:
-Cách ít lâu, thang cao tít mù. Ngày tháng qua đi, thang cứ lên cao, vượt các từng mây, đến tận trời.
Lúc chết, người tưởng mình leo thang, thì vào được miền cực lạc. Nhưng người nghe một tiếng phán từ thiên đàng: “Kẻ nào chẳng bởi cửa mà vào chuồng chiên, nhưng cứ trèo vào từ nơi khác, thì người đó là kẻ trộm cướp” (Giăng 10:1).
Người bèn tuột xuống chân thang và thức dậy. Người nói rằng nếu muốn được cứu rỗi, thì phải theo phương pháp khác, chớ không thể cậy việc lành. Người lập tức theo phương pháp khác đó, nghĩa là nhờ Đức Chúa Jêsus Christ mà lên thiên đàng.
Moody
58. LINH HỒN QUÍ HƠN CỦA CẢI
(Tiếc của được à?)
Một Mục sư nước Anh được mời đến bên giường bệnh của người nhà quê giàu có. Quì cạnh người hấp hối, ông xin người nắm tay mình đương khi mình cầu nguyện cho người được nâng đỡ trong giờ trọng thể ấy. Nhưng người không chịu đưa tay ra.
Sau khi người chết, họ lật mền, thấy hai bàn tay cứng đờ nắm chặt chìa khóa tủ bạc. Đến cuối cùng, tấm lòng bàn tay còn trìu mến tiền của, nhưng người không thể đem theo.
“Hỡi kẻ dại! Chính đêm nay linh hồn ngươi sẽ bị đòi lại; vậy, những của cải ngươi đã sắm sẵn sẽ thuuộc về ai?” (Lu-ca 12:20).
Moody
59.TIN CẬY VỮNG VÀNG
(Ai ơi, chớ vội ngã lòng!)
Trong tiểu sử của nhà đại âm nhạc Paganini, có truyện sau đây rất thú vị:
Có một lần, ông Paganini sắp họa đờn trước mặt những người đã hâm mộ tài ông mà kéo đến rất đông đảo. Không hiểu vì lẽ gì, khi nhà đại tài tử ấy lên dây đờn, đặt ngón tính gảy, thì dây đờn bỗng đứt.
Thấy một dây đứt, thì ông liền rối loạn, tâm thần bàng hoàng. Trong lúc bối rối, tay run lập cập, làm đứt một dây nữa, rồi lại đứt một dây khác; đứt luôn như thế, cho đến cuối cùng chỉ còn lại một dây mà thôi.
Bây giờ ông bèn lấy lại bình tĩnh, dùng hết tâm thần mà lên cung, xuống nhịp, nảy ra những khúc rất du dương, êm dịu, hoàn toàn, “trong như tiếng hạt bay qua, đục như suối nước mới ra giữa vời,” khiến cả thính giả dường như được bay bỗng lên mấy từng mây, bởi những tiếng bùi tai vui óc ra từ cây đờn còn có một dây đó.
Trong giờ hoạn nạn khốn cùng của ta, ta hay bị cám dỗ mà sanh thối chí, bỏ cái hy vọng cuối cùng, vì thường nghĩ rằng vận may mình gặp nay hết rồi. Chớ ngã lòng, hãy ngước mắt nhìn lên nơi cao, và “làm cho vững chắc cái điều còn lại, dầu điều đó dường như gần chết.” Vì Đức Chúa Trời có thể do điều còn lại cuối cùng của ta đó mà làm vinh hiển danh Ngài, nếu ta bằng lòng vâng phục ý thánh Ngài và gìn giữ đức tin để đạt đến mục đích.
Đ.N.T.
60. CẦN CÓ ĐỜI SỐNG ĐẸP LÒNG CHÚA
(Cuộc đời vô vị!)
Cách đây ít lâu, một người Châu Âu qua đời, thọ 73 tuổi. Cụ chép nhật ký từ năm lên 18 tuổi tới lúc 70 tuổi chẵn. Cụ không theo một ý tưởng cao xa nào.
Trong sách để lại, cụ nói suốt 52 năm, mình hút 628.715 điếu xì gà. Trừ 43.692 do kẻ khác đưa cho, còn 585.023 điếu kia, cụ mua hết 10.433 đồng Mỹ kim, tức là 76.082đ.50. Suốt thời kỳ ấy, cụ cũng uống 28.785 cốc (ly) la-ve và 20.086 cốc rượu mạnh, mất 5.350 đồng Mỹ kim, tức là 35.376đ.00. Kết luận cuốn nhựt ký cụ nói rằng: “Tôi đã thấy nhiều điều, đã nếm mọi vị, nhưng không làm nổi chút chi.”
Lời chứng của cụ khác hẳn với lời chứng của sứ đồ Phao-lô trong IITi-mô-thê 4:7-8: “Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin. Hiện nay, mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta; Chúa là quan án công bình, sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó, không những cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài.”
T.K. B.
61. CON NGƯỜI VÔ TÍN
(Địa ngục có xa không?)
Ở những nơi khai mỏ, có khi phải đào xuống đất sâu đến một cây số, mới thấy được than hoặc các loài kim. Những khách du lịch vì tánh tò mò, thường thích xuống hầm mỏ mà xem xét.
Một bữa, có một ông khách là người vô tín, xin phép xuống thăm một mỏ kia. Trong khi theo một người thợ mỏ, là tín đồ Đấng Christ, ngồi trong thang máy, thì ông mới nói lắm lời thô tục và phạm thượng, làm mích lòng người thợ đó. Ông ta hỏi: “Địa ngục có xa bằng dãy mỏ này không?”
Bác thợ mỏ đáp: “Thưa ông, tôi không biết địa ngục cách xa chừng nào; nhưng, nếu chiếc thừng thang máy nầy đứt thì chưa đầy hai phút ông sẽ ở đó.”
“Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy” (Ga-la-ti 6:7).
62. TỰ XÉT LÒNG MÌNH
(Mấy câu hỏi nên suy gẫm)
Anh em có nói những điều kẻ khác sai lầm mà không can thiệp đến mình và mình không cần nói đến chăng?
Anh em có thích nghe lời khen kẻ khác mà Chúa đã dùng chăng?
Anh em có vui vẻ, khi thấy người khác thành công mà mình thất bại chăng?
Anh em có hay nghiêm trách kẻ khác phạm một tội lỗi mà mình chưa bị cám dỗ, nhưng cứ chối hoài tội riêng của mình chăng? Anh em chưa rõ cách hành động của kẻ khác, có vội nghi ngờ là xấu, chớ không lấy lòng yêu thương mà cho là tốt không?
Anh em có tìm những điều hiệp ý người khác mà nói chuyện hay chỉ tìm điều ngang trái khó làm chăng?
Anh em đối diện với người khác, bị họ xét nét mình hơn con mắt sáng suốt của Đức Chúa Trời, vậy có thể nói mình là tín đồ thật của Chúa chăng?
63. NHỜ CẬY ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST ẮT ĐƯỢC CỨU RỖI VÀ VINH HIỂN
(Kìa, cờ báo hiệu!)
Khi các tàu biển chạy trên mặt nước, người ta phải dùng cờ hiệu để tỏ ý muốn nói gì với nhau. Thế gian chẳng khác biển rộng, còn linh hồn loài người thì ví như tàu nhỏ giương buồm đến bến xa xa. Lênh đênh trên mặt biển trần trong một thời gian ngắn ngủi, linh hồn chúng ta rồi sẽ cập bến VINH HIỂN đời đời hoặc KHỐN NẠN đời đời.
Tôi muốn cùng độc giả xét các cờ hiệu làm thí dụ về những sự thiêng liêng là thể nào.
Mắc nạn không có nước uống
(Cờ số 1)
Kinh khiếp thay, cái nạn không có nước ngọt để uống. Vẫn biết nước biển không thiếu gì thật, nhưng nó mặn, để uống được sao? Thân thể khát đã là khó chịu, song linh hồn khát còn khó chịu hơn bội phần. Cảm tạ Đức Chúa Trời! Có “nước suối sự sống... ban cho nhưng không” (Khải huyền 21:6).
Ở địa vị nguy hiểm
(Cờ số 2)
Phải kéo cờ xanh da trời, cờ đỏ, và cờ giữa có vòng trắng. Những người chưa được cứu rỗi đều ở vào địa vị rất nguy hiểm cả. Nếu chết trong tội mình, anh em không khỏi bị đời đời hư mất. Ví bằng chế nhạo, khi dể bỏ qua ơn cứu rỗi có một không hai của Đức Chúa Trời, thì nguy thay, anh em giống như kẻ mù đi trên bờ vực, hoặc như kẻ nằm ngủ trên kho thuốc súng.
Thỉnh thoảng trên tàu có bệnh truyền nhiễm mà không có thầy thuốc, thì thủy thủ kéo cờ hiệu số 3 tỏ ý:
Tôi cần thấy thuốc
(Cờ số 3)
Nhiều người sợ thầy thuốc, không thích cách chữa đáng khiếp của thầy, và không chịu nằm giường bệnh hết ngày nầy qua ngày khác. Sao vậy? Ấy vì họ thực không đau mấy; còn nếu đau nặng, ắt họ vui sướng vì được thầy cứu chữa cho. “Chẳng phải là người khỏe mạnh cần thầy thuốc đâu, song là người có bệnh” (Ma-thi-ơ 9:12). Linh hồn vương tơ sầu thảm, một trang thiếu niên quyền quý kêu la rằng: “Ôi, tôi mắc bịnh tội lỗi!” Nếu anh em cũng mắc bệnh ấy, nên nhờ danh sư Jêsus Christ trả cho. Ngài chẳng bắt anh em trả xu nào, nhưng chỉ nài anh em hết lòng kính mến Ngài vì Ngài đáng được như vậy.
Đường lối nguy hiểm và đá ngầm chơm chởm đã diệt nhiều người mạnh dạn và hủy lắm tàu đóng đắt tiền. “Một liều, ba bảy cũng liều”, các viên thuyền trưởng táo bạo dám theo ý riêng mà cầm lái trong tình hình nguy khốn dường ấy! Song kẻ khôn ngoan thì cờ hiệu số 4, tức là cờ trắng nẹp xanh da trời cùng cờ ba màu lam, trắng và đỏ, tỏ ý:
Tôi cần một viên hoa tiêu
(Cờ số 4)
Viên hoa tiêu thường rất minh mẫn, khôn khéo và thuộc đường lối. Kẻ cầm lái ohải vâng phục người ấy. Có khi chính người ấy tự cầm lái. Ai cần viên hoa tiêu nầy phải cảm biết mình đang đứng trước cảnh khó khăn, phải tin rằng viên hoa tiêu có tài năng giữ cho tàu được vô sự. Nếu cảm biết mình dại dột, yếu đuối, anh em khá kêu cầu viên hoa tiêu thiên thượng tức là Đấng Christ, ắt được Ngài đến cứu giúp liền.
Được người ta mời, viên hoa tiêu ở bờ biển chắc kéo cờ hiệu số 5, bảo rằng:
Hãy thả neo lập tức
(Cờ số 5)
Phải vâng theo mạng lịnh tuyệt đối ấy. Hỡi tội nhân, anh em đang đi trên con đường hủy diệt! “Hãy thả neo lập tức!” Đừng đi nữa! HÃY DỪNG CHƠN! HÃY SUY NGHĨ! Ma quỷ không chịu để cho suy nghĩ đâu, vì nó biết rằng nếu anh em lẳng lặng suy nghĩ về mình sẽ bị hư mất đời đời, thì anh em ắt tiếp nhận Đấng Christ và bởi đó thoát khỏi nanh vuốt của nó. Khắp thế gian vang dậy tiếng Đức Chúa Trời kêu gọi: “Các ngươi khá xem xét đường lối mình” (A-ghê 1:5). “Các ngươi hãy ăn năn và tin đạo Tin Lành” (Mác 1:15). “Hãy đến cùng ta” (Ma-thi-ơ 11:28). Chỉ có hai tiếng đáp lại mạng lện của viên hoa tiêu, một là VÂNG (cờ số 6), bởi kéo cờ trắng giữa có vòng xanh da trời; hai là KHÔNG (cờ số 7), bởi kéo cờ xanh có vòng giữa trắng. Anh em đáp thế nào?
Một cậu bé giải nghĩa đức tin là: “Ta cứ thưa VÂNG mỗi khi Đức Chúa Jêsus phán dạy.” Ngay bây giờ anh em hết lòng thưa với Đức Chúa Jêsus rằng: VÂNG. Chắc anh em không nỡ và không dám thưa KHÔNG, chớ!
T.R.D.
64. CẦN PHỔ BIẾN TIN LÀNH KHẮP ĐẤT
(Sao vội muốn chết)
Tôi nghe chuyện về một ông nằm chiêm bao, thấy mình vụt đến thiên đàng. Ôi! ông vui thỏa quá đỗi, vì nghĩ mình đã tới nơi phước hạnh. Thình lình có thiên sứ đến nói rằng:
-Mời ông đến đây, tôi muốn chỉ cho ông thấy một nơi.
Thiên sứ đưa ông tới lỗ vách thành rồi tiếp:
-Ông nhìn xuống cõi xa tít dưới kia; ông thấy gì?
-Tôi thấy một thế giới rất tối tăm.
-Hãy ngó kỹ, coi ông có biết thế giới ấy chăng?
-Đấy chính là quê hương tôi.
-Ông thấy gì nữa?
-Cư dân thế giới ấy đều đui mù phần nhiều đi đến vực sâu!
-Phải rồi, ông cứ ở đây để hưởng phước thiên đàng, hay là sẽ trở lại trần gian ít lâu nữa để nói cho những người kia biết về thiên đàng?
Ông là người Truyền đạo đã ngã lòng. Ông tỉnh mộng; về sau ông nói:
-Từ đó tôi không hề muốn chết nữa.
Moody
65. SỰ YÊU THƯƠNG CỦA ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST
(Liều một mạng, cứu năm người!)
Vụ tàu “Hoa Lợi” chìm tại sông An Hóa, tỉnh Mỹ Tho, đêm 22 tháng giêng năm 1933 mà các báo đã tường thuật lại thì ai cũng rõ, đây tôi không cần kể lại từng chi tiết nhưng chỉ có điều nầy rất cảm động khiến tôi đáng thuật lại.
Tàu chìm lúc 3 giờ khuya, người nào biết lội thì khỏi chết; cũng có kẻ nhờ người khác cứu vớt được khỏi thiệt mạng. Có một người kia đã lội vào bờ, song ngó ra sông, còn thấy nhiều người đồng hành với mình đang chơi vơi trên mặt nước:kẻ trôi lên, người chìm xuống, cảnh tình đáng thương! Người ấy bèn động lòng thương xót, tỏ dạ can đảm, nên lội ra vớt một người đem vào bờ, rồi trở ra cứu người thứ hai và cứ làm như thế cho đến cứu được 5 người sống. Lần sau cùng, ông lội vào đến bờ thì sặc máu ra mà chết!
Một người vì cứu kẻ khác mà phải bỏ mạng như thế, hỡi độc giả, các vị phê bình nguời ấy như thế nào? Có đáng thương tiếc, ngợi khen không?
Thảm thay cho người ấy đã khỏi chết mà lại chết! Vui thay cho 5 người gần mất mạng sống mà được sống! Đem người đó sánh với độc giả và tôi, thì chúng ta thua xa; vì ông có lòng thương xót, can đảm, quên mạng sống mình mà cứu kẻ khác. Song so sánh sự yêu thương của người đó với sự yêu thương của Đấng Cứu Thế, là Jêsus, thì trong trăm phần người ấy mới được một. Tại sao? Vì Chúa Cứu Thế ở nơi rất vinh hiển oai nghi có muôn vàn thiên sứ hầu hạ, thế mà Ngài đành lìa ngôi cao trọng, giáng xuống trần gian nầy. Bởi dòm thấy chúng ta trên mặt đất đang chìm đắm nơi biển trầm luân, lặn tội trong đường tội ác, cảnh ngộ thật nguy, vô phương khả cứu, hòng sa địa ngục, khác nào những người bị tàu chìm nói trên. Ngài bèn động lòng thương xót, xả thân châu ngọc, trải tuyết dầm sương, chịu đóng đinh trên thập tự giá, huyết ra lai láng, để cứu chúng ta ra khỏi tội ác, khỏi mất linh hồn mà được hưởng sự khoái lạc. Đó là nhờ huyết Ngài mà loài người được cứu rỗi.
Người nói trên kia bị sặc máu ra mà cứu được 5 người khỏi chết xác thịt; còn Chúa Jêsus đổ huyết báu ra cứu cả mọi người tìm đến Ngài mà được rỗi linh hồn. Sự yêu thương ấy có lạ lùng không? Có ai sánh kịp không? Xin quý độc giả suy nghĩ về sự yêu thương đó mà đem lòng thờ phượng Ngài, thì khỏi bị hư mất nơi đại ngục. Hãy chú ý: Chúa Jêsus là “Đấng yêu thương chúng ta đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta” (Khải-huyền 1:6).
N.H.K.
66. PHẢI NGHE TIẾNG CHÚA
(Chiên theo kẻ lạ?)
Một ông du lịch phương đông, nghe nói có người chăn chiên còn giữ tục gọi đích danh từng con trong bầy mình, ông bèn đến cùng người mà rằng:
-Anh cho tôi bận áo của anh, cầm gậy của anh, rồi tôi gọi chúng, coi thử chúng nó đến cùng tôi chăng? Người chăn chiên nhận lời. Ông khách cất tiếng gọi một con chiên: Mi-na! Mi-na!
-Nhưng cả bầy đều lánh ông, chạy đi hết. Thấy thế, ông hỏi người chăn:
-Khi tôi gọi chúng, thì chẳng có con nào chịu theo tôi sao?
_Thưa ông, có một vài con sẽ theo không cứ người nào, nhưng chẳng qua là những con đau ốm.
Tôi không muốn ứng dụng thí dụ nầy, xin nhường cho anh em.
Moody
67. NHỜ CẬY CHÚA JÊSUS ĐỂ ĐƯỢC GIẢI THOÁT TỘI LỖI
(Cái già ác nghiệt?)
Một hôm, trời lạnh, mưa to, tôi nằm trên giường, đương nghĩ đến cái kiếp phù sanh của nhân loại, bỗng chốc nghe hơi nhức mỏi trong mình. Lúc bấy giờ, cái cảm giác tôi hỏi trí ngộ rằng: “Cái gì làm nhức mỏi thế?” Thì trí ngộ đáp: “Ấy là cái già, cái chết nó đương làm việc đó.” – Cha mẹ nó tên gì? Sanh đẻ nó tại đâu mà nó làm việc ác thế? – Cha nó tên là Phạm Hữu Tội, mẹ nó tên là Phạm Tội Lỗi, sanh nó ra lúc loài người bị đuổi khỏi vườn Ê-đen (Sáng Thế Ký 3:19). Từ đó trở đi, nó mới nhập vào dòng giống loài người làm cho phải chịu trăm phần đau đớn.
Ôi, nó thật dữ hơn ác thú. Thú dữ tuy hại người, song ở còn có chỗ, tánh còn sợ người, nên người cũng có phương trị được, và muôn người mới có một người chết về nạn đó. Còn cái già ác nghiệt thì ở khắp nơi, chẳng biết sợ ai; nên người không phương trị nó, và mọi người đều chết về tay nó. Hiện nay, nó đang làm việc khắp năm châu, bứt tóc, nhổ râu, bẻ răng, lóc thịt người. Nó cướp lấy sức tráng kiện người, làm cho người điếc tai, làng mắt, lãng trí, cuồng tâm, quanh năm chỉ ngồi một chỗ; mà nếu có bước đi, thì nó làm cho run chơn, lỏng gối, cúi mặt, còng lưng. Thế mà nó chưa thỏa lòng, còn cứ làm cho người mệt mỏi đêm ngày, ăn không ngon, ngủ không trọn giấc, cho đến chết mới thôi.
Chao ôi, kinh sợ thay cái già! Nó làm việc luôn ngày thâu đêm, quanh năm mãn tháng, chẳng hề bỏ chút thì giờ. Người nghỉ, nó không nghỉ; người chơi, nó chẳng chơi; người ngủ, nó không ngủ; người đau, nó chẳng đau. Nó làm việc gì? Làm cho người càng già, càng yếu, càng ốm, càng gầy, càng đau, càng nhức và dắt người đến gần đường chết, là nơi người chẳng muốn đi.
Độc ác thay cái già! Nó đánh thắng cả hoàn cầu; chẳng một ai địch lại được nó. Kìa, lắm cụ giàu sang cạo râu, hớt tóc, hòng làm cho mặt trẻ ra; nhiều cô tiểu thư tô phấn thoa son đặng khỏa lấp các vết nhăn trên cặp má. Nhưng, than ôi! Mặt mũi cạo hoài, vẻ già chẳng hết; phấn son tô mãi, nào trẻ lại đâu? Có kẻ tài cao trí rộng, lên máy bay, vào tàu lặn, cũng bị cái già đuổi theo sau lưng, vật ngã anh hùng không ngóc đầu lên được. Mà ghê thay! Mỗi ngày nó diễn biết bao những tấn bi kịch trước mặt ta: rầu cha khóc mẹ, tiếc chồng thương vợ, xót bạn nhớ con, người đời tuôn chảy biết bao nhiêu nước mắt. Ôi, đau đớn thay trong giờ vĩnh biệt!
Qúi độc giả! Cái già ác nghiệt đó, cái giờ vĩnh biệt đó sắp đến gần anh em rồi. Anh em có tự mình giải thoát được không? Chắc không. Nhưng may thay! Có một Đấng giải thoát cho anh em rồi? Ai đó? Đức Chúa Jêsus . Nếu anh em tin Ngài, thì tránh khỏi cái già, cái chết. “Ngài (Đức Chúa Jêsus ) bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỷ” (Hê-bơ-rơ 2:14). Vả, nếu ai tin Ngài là Đấng Cứu Thế, thì không bị đoán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống. Ở đó anh em sẽ không đói, không khát, không khóc, không rầu, không đau, không chết, (Khải-huyền 7:16,17), mà được sự an vui bởi Chúa ban cho đời đời.
K.C.T.
68. PHẢI NHỜ ĐỨC THÁNH LINH MỚI THẤY SỰ TỐT ĐẸP CỦA KINH THÁNH
(Tìm đâu được loài lan đẹp?)
Có người thuật truyện một cậu con trai được cha mẹ cho cư trú miền Floride suốt mùa đông. Khi trở về tỉnh mình, cậu chán ngán nơi mình vừa ở. Cậu nói rằng miền ấy buồn tẻ, quê mùa, không đáng du ngoạn. Nhưng suốt mấy tháng sau, cha mẹ giao cậu cho một giáo sư vốn ham thích môn thực vật học. Ông gợi cho cậu ý chí đến cuộc khảo cứu mà mình ưa chuộng. Cậu học về sự sanh hoạt lạ lùng của loài lan.
Giáo sư để cậu ở viện thực vật học, ngõ hầu cậu thấy được một vài câu lan lớn lên, ông nói:
-Nếu ở miền Floride, chắc cậu thấy loài lan. Tại đó, nó mọc tươi tốt hơn nhiều; song ở đây những cây nầy sẽ cho cậu một ý niệm về loài lan.
Cậu rất ngạc nhiên và thưa với giáo sư:
-Trước đây tôi có ở miền Floride, nhưng không hề nhận thấy cây lan nào.
-Có lẽ cậu không chịu đi tìm kiếm nó; nhưng lần sau chắc cậu không thể không thấy nó.
Người ta thường đối với Kinh Thánh theo cách ấy. Có kẻ không thấy vẻ tốt đẹp trong Kinh Thánh; nhưng Đức Thánh Linh sẵn lòng mở mắt của tâm trí ta và dạy dỗ ta. Ngài có thể làm vậybởi dùng bài giảng hoặc sách giải nghĩa Kinh Thánh mà bày tỏ một lẽ thật kín giấu và đem ứng dụng lẽ ấy cho đời ta cách khác thường.
Moody
69. SỰ BẢO HỘ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
(Nằm trong tay mẹ)
Một bà ở xứ Galles thuật cho tôi nghe chuyện dưới đây:
-Người bạn tôi có đứa con gái đang đau. Ban đầu họ tưởng không nguy hiểm gì; nhưng bữa nọ, thầy thuốc vào thăm bệnh nhân nói rằng bịnh tình có vẻ đáng lo ngại lắm. Ông gọi bà mẹ ra ngoài phòng mà bảo cho biết con bà không sống được. Tin đâu sét đánh ngang tai! Thầy thuốc vừa ra về, bà bèn vào phòng con gài đang nằm, bắt đầu trò chuyện với nó, và cố làm cho nó khuây khỏa, bà nói:
“Con yêu dấu ơi, con có biết mình gần được nghe âm nhạc trên trời chăng? Con sẽ nghe bài ca êm ái hơn mọi bài mình đã nghe dưới nầy. Con sẽ nghe các thánh đồ hát “bài ca Môi-se và bài ca Chiên Con”. Con rất ham thích âm nhạc. Con yêu quý ơi, âm nhạc êm ái chăng?”
Đứa con mệt nhọc ốm yếu quay đầu đi, đáp rằng: “Ồ, má, con mòn mỏi và đau đớn lắm, nên tưởng rằng nghe âm nhạc ấy thì bịnh càng nặng.”
Bà mẹ nói: “Nầy, chẳng bao lâu, con sẽ thấy Đức Chúa Jêsus , cùng các vị Sê-ra-phin, Chê-ru-bin và những đường phố toàn lát bằng vàng.”
Rồi bà cứ nói về thiên đàng theo như sách Khải-huyền đã mô tả. Đứa con mệt nhọc quay đầu đi mà nói rằng:
-Ồ, má ôi, con mòn mỏi quá, nên tưởng rằng nếu thấy mọi sự đẹp đẽ ấy, ắt bịnh càng nặng.”
Sau bà bồng con, ghì nó vào tấm lòng từ ái của mình. Đứa con đau yếu lẩm bẩm: “Má ơi, con muốn được như thế nầy. Ước chi Đức Chúa Jêsus bồng ẵm con, và cho con yên ngỉ!
Hỡi bạn yêu dấu! anh em há chẳng mệt mỏi và buồn chán về tội lỗi? Anh em há chẳng ngán cho cuộc đời bối rối? Anh em có thể được yên nghỉ trên ngực của con Đức Chúa Trời.
Moody
70. TIỀN BẠC KÉM HƠN LINH HỒN
(Cái túi vàng)
Vào khoảng trước thế giới đại chiến thứ nhứt, bên láng giềng tôi có một người đương hấp hối trên giường bịnh. Chúng tôi cùng với vợ con ông ta đứng quanh giường bệnh để ý dò xem trên bộ mặt nhăn nhó, héo hon vì bệnh hiểm nghèo đang chực lôi ông ta đi. Thầy thuốc vừa báo cho chúng tôi biết giờ cuối cùng đã đến; bệnh nhân chỉ còn sống trong giây phút.
Thình lình người hấp hối mở mắt, nhìn chúng tôi một cách ão não buồn rầu, rồi dường như cố hết sức bình sanh ấp úng vài tiếng vô nghĩa lý: “Ai úi! Ai úi!...”
Chúng tôi ngơ ngác trông nhau, chưa hiểu ra sao cả. Chẳng hay ý muốn cuối cùng của kẻ hấp hối kia là gì? Mà anh ta cứ lắp bắp mãi: “Ai úi! Ai úi!”
Chị vợ vội vã chạy đến bên cái tủ lớn, đặt nơi góc nhà, lục lạo hồi lâu, lấy ra một cái túi bằng vải thô, có dây buộc chặt. Chị ta cổi dây, rồi hớn hở mang cái túi đến cho anh chàng hấp hối. Thì ra chị ta hiểu là “cái túi.” Đó là vật mà anh ta cố đòi cho kỳ được trong phút cuối cùng. Con người làm ăn vất vả, suốt đời chỉ lo nhặt nhạnh, nào ký gởi cho đầy cuốn sổ nhà băng, nào mua ngân phiếu, nào tích bạc cho đầy cái túi đó. Anh ta bèn cầm lấy cái túi ấy lần sau cùng... Thò tay vào, như có ý thèm thuồng, anh ta lôi ra những vóc tiền vàng nó luồn qua khe tay không sao nắm lại được. Anh ta mân mê mãi mấy đồng tiền yêu quý. Tiền rơi lung tung quanh mình, cả trên giường, cả trên thân thể trơ xương.
Mặt anh bỗng co rút lại như ghê sợ lạnh lùng. Anh ta cố ôm ghì vào ngực cái túi lưng một nửa tiền Lô-y (Louis), rồi tắt thở không có lời nào trối lại với người nhà để tỏ lòng nhớ, mong, yêu, tiếc. Trên giường, than ôi! Rải rác những vàng, chỉ có cái thây khốn nạn!
Hỡi các anh chị! Há chẳng rùng mình sau khi đọc câu chuyện thực nầy? Cái mục đích trong đời người ấy là “vàng”, vàng là hơn cả.
Ôi! trong các anh chị đây có bao nhiêu người như ông đó chỉ sống vì vàng, vì tiền? Cái đích mà nghị lực của anh chị em nhắm theo há chẳng phải là “kiếm tiền”, kiếm tiền thêm lên mãi chăng? Kiếm tiền để sung túc phong lưu, kiếm tiền để nở mày nở mặt với kẻ khác, kiếm tiền để hơn người, kiếm tiền để thỏa cái thú ưa kiếm tiền?
Ôi, khốn nạn thay chúng ta! Chúng ta đã quên mất rằng mình chỉ đi qua trên mặt địa cầu nầy mà sắp sửa bước vào cõi đời đời vô tận. Thì giờ phải lìa trái đất nầy đã tới, chúng ta làm gì bằng những của cải vật chất ấy mà vì nó nhiều khi ta phải mất linh hồn?
“Các ngươi chớ chứa của cải ở dưới đất là nơi có sâu mối, ten rét làm hư và kẻ trộm đào ngạch khoét vách mà lấy.” “Vì chưng của cải ngươi ở đâu thì lòng ngươi cũng ở đó.”
Ô, anh chị em ôi! Thật thế, chúng ta phải làm lụng để nuôi sống, song xin chớ để hết tâm thần vào của cải ở đời tạm nầy. Chúng ta hãy nhìn xem người Ga-li-lê nhũn nhặn, về sau thành Chúa tể cả thế gian. Ngài đã khuyến khích ta noi theo con đường dẫn đến nguồn hạnh phước. Hãy nghe lời dạy bảo của Chúa chúng ta, nên ăn ở ra người tín đồ Đấng Christ, nên nghĩ đến kẻ lân cận, nên học để thành người tốt, để kính phục Đức Chúa Trời và hầu việc Ngài, thì chúng ta sẽ thấy cửa thiên đàng. Giờ cuối cùng đã đến, ta chớ nên nghĩ mà tiếc tiền. Trong mắt chúng ta lúc đó sẽ nẩy ra một tia sáng hy vọng tự tín vì Đức Chúa Trời tiếp rước linh hồn bất tử của chúng ta, chúng ta sẽ trở nên một bảo tàng rất lâu bền vậy.
N.T.D.
71. PHẢI THẬT TÁI SANH MỚI CÓ LÒNG TRONG SẠCH
(Tưởng cầu nguyện, té ra uống rượu!)
Cách đây mấy năm, tại thành Luân-đôn có trưng bày một bức tranh tuyệt đẹp. Đứng xa mà nhìn, anh em dường như thấy một tu sĩ đương chấp tay, cúi đầu, chuyên tâm cầu nguyện. Nhưng nếu lại gần hơn mà ghé mắt xem bức tranh, thì hóa ra người đang vắt chanh vào chén rượu mạnh!
Thật là bức tranh tuyệt đẹp vẽ lòng người ta! Xem xét sơ qua, ta tưởng lòng người chất chứa mọisự tốt lành, cao thượng và đáng chuộng. Nhưng nếu tấm lòng đó chưa được tái sanh bởi Đức Thánh Linh, thì kỳ thật nó chỉ chất chứa mọi thứ hư hoại, xấu xa mà thôi.
“Sự đoán xét đó là như vầy: Sự sáng đã đến thế gian, mà người ta ưa sự tối tăm hơn sự sáng” (Giăng 3:19).
Moody
72. PHẢI NHỜ CẬY ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST ĐỂ ĐƯỢC SẠCH TỘI
(Bốc cát cọ da đen)
Người ta thuật rằng cả một khu đất kia chỉ có một gia quyến người da đen ở. Gia quyến đó gồm một và vợ, một người chồng và một đứa con trai chín tuổi. Cậu bé đi học, nhưng giữa bọn trẻ da trắng, riêng mình đen thui thủi, nên lắm phen bị chê cười, chế nhạo. Cậu luôn bị chọc ghẹo nên khó chịu, giống như một tấm lòng non nớt bịmột vết thương sâu. Sau rốt, cậu tự hỏi mình có thể thay đổi nước da chăng, rồi nhứt định làm theo ý nghĩ đó.
Bữa nọ, thầy giáo thấy cậu vắng mặt, bèn hỏi đám học sinh về cậu. Một trò thưa rằng thấy cậu đi đằng sau trường, giữa khu rừng nhỏ có rạch chảy qua. Thầy giáo ra công tìm kiếm và thấy cậu ở sát bờ rạch, đang dùng cát ướt kỳ cọ hai cánh tay đen. Thỉnh thoảng cậu dừng tay, rửa cát dính vào da, rồi nhìn coi màu da đen mất chưa. Chao ôi! Màu đen quá sậm, cậu mất công toi.
Vài phút sau, thầy giáo gọi cậu:
-Nầy em làm gì đấy?
Cậu giựt mình thưa:
-Tôi cố sức trừ bỏ màu đen để nên người da trắng, song không sao được.
Hỡi các em đọc truyện nầy! Chớ thử từ bỏ vết đen che phủ lòng mình. Gắng công và định ý tốt tới mấy cũng không ăn thua gì cả! Cớ sao không nhận vị thuốc đã được ban cho bởi lòng yêu thương Đức Chúa Trời? Cớ sao không đi đến thập tự giá là nơi Cứu Chúa đã đổ huyết báu để rửa sạch tội các em? Chỉ huyết báu Ngài làm cho lòng các em trở nên trắng tinh. Hãy đáp lại tiếng kêu gọi rất dịu dàng của Đức Chúa Trời, là Đấng cứu các em trong Đức Chúa Jêsus Christ: “Dầu tội các ngươi đỏ như hồng điều, sẽ trở nên trắng như tuyết; dầu đỏ như son, sẽ trở nên trắng như lông chiên” (Ê-sai 1:18).
D.B L’Aube
73. ĐƯỢC NĂNG LỰC DO ĐẤNG PHỤC SANH
(Gần tắt hơi còn hò hét!)
Nếu ta không thân chinh nơi chiến trường được, ta chớ kiếm cách làm ngã lòng kẻ khác.
Một viên Đại tướng lia, cầm quân ra trận, chẳng may bị thương, ngã gục xuống. Thấy vậy, binh lính nôn nao, đến nỗi làm cho bên địch thắng thế. Vết thương máu chảy như suối, viên tướng ấy cố chống cùi chỏ, ngóc dậy hò hét rằng: “Các con ơi, ta không chết đâu. Ta nhìn xem các con cứ làm bổn phận.” Hành động đó khiến cho binh lính được lòng can đảm và tận tâm chiến đấu.
Cũng một lẽ ấy, khi năng lực ta thiếu sút và lòng dạ ta mòn mỏi thì Đại tướng Cứu Thế (chỉ về Đức Chúa Jêsus) hò hét rằng: “Nầy, dẫu con ở đầu cùng đất, ta cũng hằng đứng cạnh con, không hề lìa bỏ con đâu.”
Moody
74. PHẢI HAM MẾN THIÊN QUỐC, ĐỪNG HAM MẾN TRẦN GIAN
(Không biết làm ổ!)
Các con chim nho nhỏ thường hay làm ổ ở nơi ống khói của lò sưởi. Chúng tưởng đó là nơi cao ráo, sạch sẽ, ẩn núp ấm áp, có thể tránh khỏi mưa, gió, tuyết, sương. Ngờ đâu, nhằm mùa đông, người chủ nhà đốt lửa trong lò để sưởi ấm, ngọn lửa vô tình kia phừng lên: nào trứng, nào con nhỏ, nào ổ, thảy đều tiêu tan!
Ở thế gian, thiếu gì người chăm chú lo lắng những việc trong đời tạm nầy: tranh danh, đoạt lợi, kiếm quyền, tưởng thế gian nầy là nơi yên vui của mình, nên tốn lắm công trình để gây dựng một sự nghiệp to tát. Nhưng tiếc thay! Giờ đến chết, danh-lợi-quyền-tước còn dùng vào đâu? Gia tài để lại cho kẻ khác hưởng! Rồi còn phải ứng hầu trước tòa án của Đức Chúa Trời mà chịu phán xét, bị sa vào nơi địa ngục, chịu sự hình phạt gớm ghê. Như thế, khốn khổ thay, nguy hiểm thay cho những hạng người chỉ biết lấy thế gian nầy làm nơi cư trú, mà không lo tìm kiếm nước Đức Chúa Trời! Vậy, họ khác nào các con chim nho nhỏ kia làm ổ nơi ống klhói của lò sưởi. Kinh Thánh dạy: “Trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời...” (Ma-thi-ơ 6:33).
Thương hại thay! Có người đã làm tín đồ của Đấng Christ, đã được gọi là công dân trên trời rồi, thế mà còn trìu mến thế gian, quanh năm cứ lo bồi bổ, xây dựng cái cơ nghiệp tạm thời hay hư nát trong đời nầy!
Hỡi ai đó! Nên nhớ đến chuyện Lót dời gia quyến vào thành Sô-đôm. Ông tưởng rằng đó là nơi cư trú tốt, sự sinh hoạt được dễ dàng, mình có thể trở nên bậc triệu phú. Mà thật thế, ông trở nên giàu có, lại được chức trọng quyền cao ở trong thành phố đó nữa, Nhưng, một ngày kia, mưa diêm sinh và lửa từ nơi Đức Giê-hô-va trên trời sa xuống Sô-đôm và Gô-mô-rơ, hủy diệt cả đồng bằng lẫn dân sự và cây cỏ ở trong hai thành ấy. Lót còn có gì? Ra khỏi thành, mình trần, thân trụi lại, thêm nỗi vợ chết thành tượng muối, ông và hai con gái ẩn núp trong thành Xoa, lòng bối rối, khiếp kinh. Chắc lúc bấy giờ ông ăn năn song đã muộn rồi. Đối mặt cùng Chúa, chắc ông hổ thẹn quá.
Hỡi quý ông bà, là tín đồ của Đấng Christ, chớ lầm tưởng thế gian nầy là nơi cư trú bền vững của mình. Kinh Thánh chép: “Thế gian với sự tham dục nó đều qua đi.” Chúng ta là khách bộ hành trên đất nầy, quê hương chúng ta là nước thiên đàng. Vậy ta chớ nên làm ổ mình ở nơi hạ thế nầy, như các con chim nho nhỏ kia làm ổ nơi ống khói của lò sưởi, rồi ra cả trứng, cả con nhỏ và cả ổ đều phải tiêu tan. “Hãy tìm các sự ở trên trời, là nơi Đấng Christ ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Hãy ham mến các sự ở trên trời, đừng ham mến các sự ở dưới đất” (Cô-lô-se 3:1-2).
Chim không biết lựa nơi làm ổ, thì trứng, con, ổ đều bị tiêu tan. Tín đồ không biết lo, bồi bổ cơ nghiệp ở dưới đất, thì cũng sẽ tiêu tan và lại bị hổ thẹn khi đối mặt cùng Chúa vậy. Rất mong mỏi rằng cả thảy chúng ta là tín đồ Đấng Christ đều lo làm ổ nơi trên trời. A-men.
L.V.Q.
75. SỰ CẦU NGUYỆN
(Thân mật với Đức Chúa Trời)
Tôi có thể dùng kính thiên lý mà nhìn xem hàng triệu cây số của không gian. Nhưng tôi có thể bỏ kính, vào phòng riêng, quỳ gối xuống, sốt sắng cầu nguyện, và như vậy, tôi lại được thấy rõ thiên đàng và gần với Đức Chúa Trời hơn là nhờ mọi kính thiên lý và mọi dụng cụ của thế gian.
Sir Issac Newton
76. CẦN DẠY TRẺ THƠ BIẾT ĐIỀU THIỆN CHỈ ĐẾN TỪ ĐỨC CHÚA TRỜI
(Bỏ dao lấy cam)
Một bữa, đứa con trai tôi còn nhỏ tuổi cướp lấy con dao nhọn. Nó múa máy, chẳng chút ngờ mình gặp nguy hiểm và gây cho kẻ khác gặp nguy hiểm nữa. Nó thật là hồn nhiên và không biết sự nguy hiểm là gì, nên nó còn có vẻ hung tợn. Lấy lại con dao thế nào đây? Giựt chăng? Làm vậy thì tai họa sẽ xảy đến mau hơn. Tranh luận với nó và thuyết phục nó chăng? Làm vậy chỉ phí thì giờ, vì nó còn thơ ấu, không sao hiểu được.
Tôi bối rối quá, nhưng thình lình nảy ra một ý, tôi bèn cầm một trái cam, đưa cho nó để đổi lấy con dao. Tôi liền thấy công hiệu theo như lòng mình ước ao: con tôi lập tức bỏ dao để lấy cam.
Những ai làm cha mẹ muốn giữ cho con cái tránh khỏi tội ác thì có một phương pháp, là bày tỏ cho chúng biết điều thiện do Đức Chúa Trời mà ra là tốt đẹp dường nào!
La Bonne Revue
77. PHẢI CÓ LÒNG TRONG SẠCH
(Cái gì có hiệu lực nhứt?)
Một thầy thông giáo Giu-đa hỏi học sinh rằng:
-Cái gì có hiệu lực nhứt để giúp người đời cứ đi con đường ngay thẳng?
Học sinh đáp:
-Ý định tốt lành;
-Bạn bè tử tế;
-Sự khôn ngoan.
Sau có một học sinh khác trả lời:
-Tôi tưởng tấm lòng tốt là quý báu hơn cả.
Thầy thông giáo bèn nói:
-Thật thế, anh hiểu hết ý của mấy anh kia. Vì ai có tấm lòng tốt, ắt có ý định tốt lành, ắt là bạn bè tử tế và ắt ăn ở khôn ngoan. Vậy, mỗi anh em nên vun trồng lòng thành thực, thanh liêm luôn; vì nó sẽ cứu mình khỏi lắm nỗi buồn rầu, đau đớn.
Chúng ta cần nên cầu nguyện như Đa-vít: “Đức Chúa Trời ôi! Xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng” (Thi-thiên 51:10).
Moody
78. ĐƯỢC QUYỀN NĂNG DO GẦN ĐỨC CHÚA TRỜI
(Nêu nào, bóng ấy)
Nhà truyền đạo Finney thấy lời mình giảng có nhiều kết quả rất khác nhau: khi thì thuyết phục tôi nhân và khiến họ hối cải, lúc lại không cảm động được họ chút nào. Những kết quả ấy hoàn toàn do địa vị thiêng liêng của nhà Truyền đạo và do cách ông thông công với Đức Chúa Trời. Khi cảm biết Ngài hiện diện, thì lời ông giảng có quyền phép lạ lùng. Nhưng khi chểnh mảnh thông công với Chúa, hoặc bởi không tin, hoặc bởi phạm lỗi thì ông chẳng có chút quyền phép nào để thuyết phục tội nhân. Đến gần Đức Chúa Trời đó là phương pháp không hề thay đổi để kéo linh hồn khốn cực đắm chìm đến cùng Chúa.
T.C.
79. SỰ YÊU THƯƠNG THẬT CÓ HIỆU NGHIỆM NHIỀU
(Tại sao ông buồn thế?)
Trên một cầu bắt ngang sông Tamise tại Kinh đô Londres nước Anh, một chàng thiếu niên đang đứng, dáng điệu rất là tiều tụy, trông dường như thất vọng lắm. Người ấy đương chăm chú nhìn dòng nước chảy và định ý nhảy xuống sông tự tử, nhưng còn sợ người ta ngó thấy mà cứu mình chăng? Gần đó có một cô gái bé, lên 5 tuổi đương đứng với cha, mà cha thì mải nói chuyện với một người bạn theít gặp ở trên cầu. Hai mắt cô bé chăm nhìn chàng thiếu niên nọ; thình lình cô buông tay cha mà chạy lại gần người tuyệt vọng đó. Ngước đầu lên nhìn chàng ta, cô gái bé cất tiếng êm dịu thiết tha hỏi: “Tại sao ông buồn thế?” Câu hỏi đột nhiên mà thiết tha ấy đã thấu vào tận đáy lòng chàng nọ, khiến chàng cảm kích quá đến nỗi run rẩy cả người. Chàng liền nảy cái cảm tưởng hổ thẹn vô cùng về cái mưu định tự sát của mình. Chàng quyết định sẽ sống và yêu sự sống. Một lát trước, chàng tứ cố vô thân; nhưng hiện bây giờ có người thăm hỏi đến mình. Lòng bác ái của cô bé đó đã nâng đỡ chàng và khiến chàng thấy cái tia sáng hy vọng đến từ Thiên thượng chói lòa cả trong tâm trí. Một người đã nói: “Sự cảm tưởng rằng mình không đến nỗi bị ruồng bỏ, mà còn có người yêu thương đến mình đã có hiệu nghiệm hơn hết thảy các sự quở trách; vì sự quở trách chỉ chọc giận thêm, nhưng sự yêu thương che đậy vô số tội lỗi. Cái cảm tưởng biết có người yêu thương đến mình đã khiến cái ngọn lửa làm lành trong tâm hồn được bùng cháy to lên.” Câu danh ngôn nầy thật đúng lắm thay! Nhưng sự quở trách dầu chánh đáng đến đâu cũng chỉ gây thêm sự tức giận mà thôi; vì nếu nó không ra bởi tình yêu thương, thì ắt để lại cái nỗi cay đắng! Còn lòng âu yếm, tình thương mến thường có hiệu nghiệm trên linh hồn của loài người.
D.N.T.
80. PHẢI NHỜ CẬY CHÚA JÊSUS LÀ ĐẤNG TRỌN LÀNH
(Người bạn với gấu!)
Trong sách kia, có một truyện ngụ ngôn, tựa đề: “Con gấu với ông già.” Lạ thay, người bạn với gấu! Số là ông già kia, vì phận cô đơn, quanh năm chỉ vui với hoa cỏ, không biết cùng ai bày tỏ sự tình, nên phải đi ra chốn quạnh hiu, mong tìm người đặng kết bạn.
Xảy đâu lại gặp một con gấu: thân phận nó cũng cô đơn như ông già kia vậy. Ông bằng rước thẳng về nhà, cùng nhau hôm sớm sum vầy. Gấu ở hết lòng trung hậu, hằng ngày ra công giúp đỡ, làm cho ông già đẹp dạ vui lòng.
Bữa nọ, ông già ngủ trưa, gấu ta ngồi một bên đuổi ruồi đập muỗi. Có một con ruồi lại đậu lên mũi ông già. Gấu ta đuổi đi, nhưng nó cũng trở lại đậu trên mũi nữa. Gấu hết sức tức giận, thấy bên cạnh có một viên đá, bèn rình mà ném một cái đặng giết con ruồi. Ôi thôi! Rồi đời cái óc ông già, mà chưa chắc con ruồi đã chết!
Hỡi anh em yêu dấu! Con gấu thật lòng thương yêu ông già, chớ chẳng phải ghét đâu; nhưng sự yêu thương dại dột, trái lẽ, đến nỗi bụng muốn giúp ông già, không ngờ thành ra làm hại! Cho nên, khi kết bạn, ta phải lựa chọn kỹ càng, kẻo sa chơn hụt bước đi rồi, thì sẽ lãnh lấy những sự đau đớn khốn cực. “Anh em chớ mắc lừa bạn bè xấu làm hư thói nết tốt” (ICô-rinh-tô 15:33).
Sự kết bạn phải cẩn thận như thế nay, phương chi sự thờ kính là việc rất quan trọng! Vì thời kỳ cuối cùng nầy biết bao nhiêu những đạo lạc, giáo giả làm tổn hại người chẳng vừa: Tổn hại về đức hạnh, giá trị học vấn, tánh mạng.
Đức Chúa Jêsus phán: “Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống; chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14:6). Vậy, chúng ta tin Đức Chúa Jêsus, thì không còn lo ngại bị sai đường lạc lối nữa. Vì Ngài là Đấng trọn lành toàn vẹn.
H.T.C.
81. THÚC GIỤC LÀM TRỌN CHỨC VỤ
(Chiêm bao và chức vụ)
Một ông Truyền đạo phải làm cái đích cho bao lời công kích và bao sự hiểu lầm, nên ngã lòng quá. Ông không được hoan nghênh và thiên hạ coi thường đạo lý của ông giảng dạy. Trong một phòng quán trọ, ông nằm nghỉ, buồn chán đến nỗi muốn chết. Ông thiu thiu ngủ, và có một giấc chiêm bao.
Ông thấy mình phải đi đến nhà thờ nhỏ trong làng kia để giảng đạo, nhưng khi nghỉ chơn nơi quán trọ, nằm trên giường, ông muốn chết và chết thật. Thiên sứ đưa ông về nước vinh quang, cho ông vào ở một cung điện và chờ Chúa đến. Nhìn chung quanh, ông tưởng mình nhận thấy bức tranh của đời mình: Lúc sanh ra, lúc còn trẻ, lúc lớn lên, lúc hối cải, lúc sa ngã, lúc được phục hưng, lúc hầu việc Đấng Christ, các bài giảng, các linh hồn ông đã cứu vớt, các nơi ông đã thăm viếng, các kết quả lạ lùng mà ông chẳng hề mơ tưởng. Rốt lại, ông đã sống gần hết đời ông thấy căn phòng có một người chết nằm trên giường, thấy con ngựa buộc nơi cửa quán trọ, thấy tín đồ họp ở nhà thờ nhỏ trong làng phải chờ đợi ông Truyền đạo, thấy công việc lớn lao chưa làm xong, và thấy những kết quả lạ lùng có thể thực hiện, kinh ngạc và đau đớn, ông ước ao mình chưa chết, ông mong mỏi trở về cỡi ngựa đi đến nhà thờ nhỏ trong làng kia.
Thình lình, ông thức dậy, ủa lạ, ông đương nằm trên giường và con ngựa đương buộc nơi cửa quán trọ. Ông quỳ gối tạ ơn Đức Chúa Trời còn cho mình sống; ông lại sanh lòng can đảm và hi vọng, đi làm việc, và làm trọn chức vụ và được kết quả mỹ mãn.
Ấy chính là nhà truyền đạo trứ danh Richard Baxter, người nước Anh, về thế kỷ thứ 17.
A.B. Simpson
82. VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂNG MÌNH CHO CHÚA LÀ ÍCH LỢI LỚN
(Công việc của Giáo sĩ)
Các Giáo sĩ đã dịch Kinh Thánh ra chừng bảy phần mười các thứ tiếng nói trên khắp thế giới.
Các giáo sĩ đã hoạt động hơn bất cứ môn phái nào khác để đem sự hòa bình cho các bộ tộc dã man.
Tất cả các viện bảo tàng ở thế giới có chứa những thảo mộc, thú vật và sản vật do các giáo sĩ thâu góp được.
Các Giáo sĩ là hạng người trước nhứt cho ta biết trung bộ cùng tột của Phi-châu. Các Giáo sĩ cho ta biết dùng địa dư Phi-châu hơn là tất cả các giới khác hiệp lại.
Nhờ các Giáo-sĩ cố gắng, nên các cù lao ở phương Nam mới có nền văn chương. Trong quần đảo Polinésie chẳng có một thứ chữ viết nào mà không do Giáo sĩ đặt ra.
Vậy, công việc của Giáo sĩ thật là to tát và có ảnh hưởng.
The United Evangelical
83. ĐƯỢC QUYỀN NĂNG GIÚP NGƯỜI DO CHỊU HY SINH
(Đấng lấy thân làm bánh)
Có người nói rằng: “Những nhân vật trứ danh hơn hết trong Kinh Thánh đã bị đập, bị giã, bị nghiền tán để làm bánh nuôi kẻ đói. Khi Áp-ra-ham đã tốt nghiệp trường đau khổ và vâng phục thì được danh hiệu là cha kẻ tin. Nếu không bị chà nát, đánh đòn và ném đá nhiều phen, ắt Phao-lô chẳng có thể làm bánh nuôi Hội Thánh được” (IICô-rinh-tô 4:10-12). Ông J.R.Miller nói rằng: “Trước khi bị tay Đấng Christ bẻ ra, phần đông chúng ta không thể làm bánh nuôi linh hồn người đời. Phước lành của Đấng Christ ban cho thường chính là sự đau đớn. Nhưng sự đau đớn, sầu thảm và hy sinh chẳng phải giá cao quý để mua cái vinh dự đưa kẻ đau ốm, hư mất đến nơi chơn Cứu Chúa sao.”
Trước khi có thể rải ơn lành, chúng ta phải chịu làm của lễ thiêu đã. Khi nào thôi nhỏ huyết thì chúng ta cũng thôi ban phước. “Nếu ngươi mở lòng cho kẻ đói, và làm cho kẻ khốn khổ, thì sự sáng ngươi sẽ sáng ra trong tối tăm, và sự tối tăm ngươi sẽ như ban trưa” (Ê-sai 58:10).
Phước thay cho những kẻ yêu thương mà bị tiêu hao, mòn mỏi, họ được vui mừng và vẻ vang khôn xiết!
S.C. Brebenner
84. NHỜ CHÚA THẮNG TỘI LỖI
(Những thuyết kỳ cục về tội lỗi)
Cứ theo Lời Kinh Thánh thì tội lỗi là sự phạm đến luật pháp trọn vẹn và thánh khiết của Đức Chúa Trời, tức là phản loạn với ý thánh của Ngài.
Có nhiều người tân thời muốn rứt bỏ tội, mà nói không có tội hoặc cho tội là một sự tưởng tượng, hay là hiệu quả của sự đãng trí hoặc là sự tật bịnh trong thân thể. Nhưng dầu họ lý luận thế nào, tội lỗi vẫn hoạt động và hành hạ loài người.
Thuyết tiến hóa muốn giấu sự ghê gớm của tội, luận rằng: Tội lỗi và ác nghiệt là do sự thừa hay thiếu chất cường toan trong thân thể! Như thế, tội lỗi chỉ là một sự khuyết điểm trong cơ thể mà thôi và những lương y chỉ dùng các vị thuốc chế ra thì nay mai có thể trị bịnh tội!!!
Không ai từ chối rằng khoa học đã chế ra nhiều linh dược có thể gợi lên những tánh tình ghê gớm, dữ tợn và khiến trí não sanh nhiều ý tưởng xấu xa, hiểm độc. Dầu có thuốc gây nên tội nhưng không có thuốc nào chữa tội được.
Ta chán nghe những thuyết vô lý như thế, là những thuyết giúp ma quỷ làm trọn công việc gian ác của nó trong loài người.
Ta hiểu biết sự thánh khiết và sự oai nghiêm của Đức Chúa Trời bao nhiêu, thì ta sẽ hiểu biết sự nguy hiểm và sự ghê gớm của tội bấy nhiêu. Kinh Thánh dạy cho biết phải khiếp tội như sợ hổ, báo và phải chống cự để tránh khỏi nanh vuốt nó.
Kinh Thánh nói rõ: “Ai phạm tội là thuộc về ma qủy.” Các sức lạ lùng của tội lỗi thế gian bởi đâu mà đến? Ấy là bởi cớ ma quỷ phản đối Đức Chúa Trời. Cái thế lực của tội lỗi và sự tối tăm vẫn còn giao chiến với nước sáng láng và công bình của Đức Chúa Trời. Nhưng cám ơn Chúa, ta không thất vọng. “Vì Con Đức Chúa Trời đã hiện ra để hủy diệt công việc ma quỷ.” Ma quỷ có sức mạnh thể nào, thì quyền phép của Cứu Chúa chúng ta bội phần hơn, khiến ta được sự đắc thắng, khải hoàn. Anh chị em đã được Ngài cứu khỏi tội chưa?
Prophecy
85. BẰNG CỚ VỀ LÒNG ĐỨC CHÚA TRỜI YÊU THƯƠNG NHÂN LOẠI
(Bằng cớ của lòng yêu thương)
Ngày xưa, khi mới tìm được Châu Mỹ, nhiều người da trắng kéo nhau đến đó kiều cư, làm ăn, buôn bán, trồng trọt, thổ dân rất mọi rợ, tánh khí rất hung tàn.
Có một quan án người Mỹ ở gần một bộ lạc da đỏ, trong miền ấy có ít người da trắng và việc cai trị của chính phủ chưa thành lập hẳn hoi. Khi người bổn xứ giận dữ thường gây ra sự đốt mùa màng và nông trại cùng chém giết những thực dân.
Quan án cảm thấy sự bình an tạm nên muốn được lòng tin cậy của các ông láng giềng “quí” ấy. Nhưng người tù trưởng luôn luôn tỏ ra với ông một ác cảm đáng lo ngại. Dầu vậy, một hôm, “con cáo già” ấy bằng lòng đến giảng hòa với ông.
Hắn nói: “Ông ơi, tôi thấy ông là người đáng yêu lắm, ông hứa nhiều và xin cũng lắm. Mọi người da trắng có lẽ tin những lời ông nói, nhưng đối với chúng tôi, những lời của người da trắng chỉ là khói bay thôi. Nầy, xin nghe: Cháu ông đây, hãy để nó về trại với tôi ba ngày, rồi tôi lại dẫn nó đến trả ông.”
Lời ấy như sét đánh bên tai quan lớn. Giao cho người mọi rợ nầy cháu trai mới 5 tuổi của mình ư? Mẹ nó là con gái ông mới góa chồng và nó là con một. Nghe người tù trưởng nói, nàng ôm chắc con trong lòng và trốn vào phòng ngủ. Người tù trưởng châu mày, đứng dậy về. Quan án gọi: Khoan đã nào! Đợi một chút! Rồi ông quay lại phía con gái mình, giọng nghẹn ngào, ông bảo nàng: Con biết cha yêu đứa trẻ nầy lắm, nó phải đi, Đức Chúa Trời sẽ coi giữ nó.
Vậy, nàng buộc lòng cho đứa trẻ đi, và trong ba ngày buồn thảm vô hạn. Đến buổi chiều thứ tư, khi quan án đi dạo từ phòng nầy qua phòng khác, và con gái ông thì đang mơ tưởng những sự rất bi thảm xảy đến cho con mình, nhưng may thay, lúc ấy họ thấy đứa con rất yêu dấu, xúng xính trong cái áo “măng tô” óng ánh của thổ dân miền ấy, với một cái long phụng hoàng mỹ miều cài trên tóc. Tay dắt đứa trẻ, người tù trưởng mỉm cười mà rằng: “Bây giờ chúng ta mới là bạn hữu nhau.”
Người da đỏ ấy có lý lắm, ấy chỉ bởi thử nhau mà biết tình chân thật. Cũng thế, anh em thử xem sự yêu thương lớn lao vô hạn mà Đức Chúa Trời dành cho chúng ta, Ngài để cho chúng ta chứng cớ về sự yêu thương nào? Xin nghe lời Chúa: “Ngài đã không tiếc chính con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó con ấy cho, hầu cho chúng ta, nhờ con ấy mà khỏi chết và được sự sống đời đời.”
Anh em có thể tin cậy Đấng đã ban con Ngài cho anh em nhưng có lẽ anh em nói: Chuyện đời xưa mà. Có thật không? Bạn ơi, Đức Chúa Trời không tha tội cho bạn. Bạn có biết một phương pháp khiến tội mình được bôi xóa không? Hoặc có phương pháp nào khác hơn là huyết Chúa Jêsus đổ ra trên thập tự giá? Vậy, nếu có thể được, thì hãy làm sạch lương tâm mình, xua đuổi khỏi trí mình những điều ác mình đã làm. Nhưng, không được đâu. Anh em chỉ được bình an khi tin đến lòng yêu thương của Đức Chúa Trời vì Ngài đã ban Con rất yêu dấu Ngài đến thế gian chịu đau đớn thay cho chúng ta. Như vậy, nguyện đời xưa ấy là chuyện có quyền phép và tức thì thành ra một Tin Lành cho anh em, khiến anh em đầy dẫy hạnh phúc lạ lùng.
L’Appel
86. TÌNH YÊU THƯƠNG
Tình yêu thương là điều rất mầu nhiệm, nó không hình, không thể chất nhưng hữu thực như phép. Nó hay bay như khói bị gió cuốn đi, nhưng mạnh hơn sự chết (Nhã-ca 8:6).
Tình yêu thương không phải sự xa xỉ, nhưng là điều rất cần thiết. Nó là một nguyên tố duy nhứt có thể “hàn” chồng, vợ và con làm một; nó là thứ “xi-măng” độc nhứt có đủ sức mạnh khiến cho người giàu, nghèo, mạnh, yếu, chủ và thợ hiệp nhau lập thành một quốc gia.
Sứ mạng thiên thượng “Hãy yêu lẫn nhau” cũng là một nguyên tắc cốt yếu trong cõi thiên nhiên.
M.D.
87.MỜI ÔNG TRUYỀN ĐẠO NGHỈ CHƠN
Tiết trời nóng bức, ai cũng tìm chỗ nghỉ ngơi dưỡng sức. Người ta không tiếc tiền, quý hồ thân thể được mạnh mẽ, thơ thái.
Con đường của nhà Truyền đạo cũng lắm chặng hiểm trở, gay go, làm cho thân hồn sẵn sàng hy sinh đôi phen phải mòn mỏi, sờn ngã thì mời ông Truyền đạo nghỉ chơn dùng mấy trái ngon ngọt mát mẻ nầy cho thêm sức.
88. NGƯỜI CHĂN CHIÊN PHẢI ĐI TRƯỚC BẦY CHIÊN
(Chăn hay làm thịt?)
Chúng tôi xin thuật một chuyện ngắn nhưng rất ý vị để anh em thưởng thức.
Một đoàn du khách đi đường đến xứ Pa-lét-tin, người hướng đạo đương tả vẽ mấy phong tục kỳ dị ở phương đông. Người nói rằng:
Các ông ở nước Anh, quen thấy người chăn đi theo bầy chiên trên những đường hẹp và đường tắt. Nhưng ở phương đông thì khác hẳn, vì người chăn bao giờ cũng dẫn đường và đi trước bầy chiên. Chiên theo người và quen tiếng của người.
Đoàn đến xứ Pa-lét-tin và du khách sững sờ vì thấy ngay một người ở sau bầy chiên mà xua chúng đi tới. Du khách cười thầm và người hướng đạo vội vã hỏi gã chăn chiên kỳ cục kia:
-Sao anh lại ở sau bầy chiên? Tôi vẫn nghe nói ở phương đông người chăn đi trước bầy chiên kia mà?
Hắn đáp: Ông nói phải lắm, người chăn vẫn đi trước bầy chiên mình, nhưng tôi có phải người chăn đâu, tôi là người chuyên làm nghề thịt chiên.
The Church of God Evangel
89. TẬN TỤY VỚI TIN LÀNH
(Nguy mà không lùi)
Trong một Hội đồng phục hưng kia, một giáo sư người Mỹ hầu việc Chúa ở Phi Châu, đứng lên làm chứng về sự từng trải của mình khiến cho thính giả cảm động khôn xiết.
Ông bắt tay làm việc với những đồng chí cũng sốt sắng như mình. Vì thổ dân bắt phục, các bạn đồng chí của ông mang bịnh nặng: Ông đã an táng ba người, và đưa những người khác xuống tàu về nước dưỡng bịnh. Rồi ông quay lại, trơ trọi một thân, giữa muôn ngàn người chưa hề được nghe danh Đức Chúa Trời.
Bao phen ông lận đận trên đàng cát nóng ran, lưỡi sưng to đến nỗi không nói được. Ông bị sốt rét ba mươi lần, chẳng được một ai săn sóc. Ông bị sư tử vồ, bị người bổn xứ rình giết, bị kiến cắn, bị nguy với loài tê ngưu. Và đây là lời ông kết luận:
“Tôi được nếm trải sự vui mừng khôn xiết vì cùng đi với Đức Chúa Jêsus Christ ở giữa mọi cảnh ngộ đó. Chính lúc này tôi sẵn sàng trở lại chỗ đó để có thể lòa ra một chữ CỨU CHÚA qua bóng tối tăm bao phủ một bộ lạc đông đúc từ mấy ngàn năm nay. Đức Chúa Trời muốn và có thể đổi đồng vắng ra mảnh vườn tốt tươi, khiến chốn âm u được sự hiện diện của Ngài chói sáng.
Youth’s Companion
90. NÀI XIN ƠN LỚN LÀ TÔN VINH CHÚA
(Xin nhiều mới là tôn kính)
Có người thuật truyện vua Alexandre Le Grand rất mực yêu quý một vị nguyên soái. Vua cho phép quan trích lấy một món tiền ở kho nhà nước. Gặp dịp tiện, quan viết giấy cho mình một số tiền to quá, đến nỗi một viên chức kho bạc không chịu đưa, trước khi hỏi ý kiến vua. Vậy, viên ấy đến trước mặt vua, bày tỏ việc vị nguyên soái đã làm. Vua hỏi:
-Ngươi không chịu chi số tiền đó sao?
-Tâu bệ hạ, tôi không chịu chi trước khi được lệnh truyền của bệ hạ, vì số tiền to quá!
Vua tức giận. Viên ấy tâu rằng nếu ông chi số tiền đó thì sợ vua không hài lòng chăng. Vua đáp:
-Ngươi há chẳng biết rằng quan nguyên soái tôn kính trẫm và nước của trẫm bởi viết giấy xin trả nhiều tiền, sao?
Truyện nầy có thật hay là bịa đặt cũng chẳng sao. Duy ta thật biết rằng mình tôn trọng Đức Chúa Trời bởi xin ơn dày phước rộng. “Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết” (Giê-rê-mi 33:3).
Moody.
91. ĐẤNG HƯỚNG ĐẠO TRONG NĂM MỚI
(Mồng một tháng Giêng!)
Nhân dịp năm mới, tôi chúc hết thảy các ông, các bà được hưởng hạnh phước!
-Cám ơn ông; chúng tôi cũng chúc ông như vậy.
Chúng ta toan định thế nào? Sẽ gắng sức để trở thành trung tâm điểm của sự vui mừng trong Đấng Christ, của tình yêu thương anh em, và của sự đồng công cứu vớt linh hồn... Muốn làm việc ấy, chúng ta nên cầu xin Đấng Christ chủ tọa mọi buổi trò chuyện bằng giấy mực, và cho chúng ta tự do đến gần Ngài trong koảng 30 ngày thường phân bách buổi nầy và buổi kia, ngõ hầu những cuộc đàm đạo của chúng ta có ích và được phước...
Có phải vậy chăng?
Chẳng ai nói gì. Hết thảy ưng thuận!
Chúng ta mộng tưởng thế nào? Hết thảy độc giả sẽ thành những tay trợ bút, bằng cách chú ý đến những lời lẽ trong báo có thể giúp ích cho chi hội mình, và tỏ cho chúng tôi biết ý tưởng mình lại bằng cách hỏi han, gởi cho chúng tôi những bài mình tập viết hoặc bằng văn xuôi, hoặc bằng văn vần, ngoài ra còn cổ động cho nhiều người mua báo, đưa báo cho bạn hữu đọc, cứ làm tín đồ hoặc trở nên tín đồ vững vàng, chơn thực và có tinh thần truyền giáo.
Anh em hiểu rõ chưa?
Xin đừng đáp lại. Nầy chúng ta nên cùng nhau cầu nguyện!
Sự toan định và ý mộng tưởng có cánh chim bồ câu: chúng mọc lông xanh biếc, tại thêm vẻ yêu kiều, tại thêm vẻ yêu kiều. Nhưng ta có cơ đánh gãy cánh chúng hoặc làm cho chúng mệt mỏi đến nỗi xỉu cánh. Bây giờ ta bay, ngó, nhọc nhằn thay!...
Thí dụ:
Anh em tính xong công việc năm 196... chưa?
Còn nợ ai một xu nhỏ chăng?
Đã đốt những bức thư vô ích chưa?
Đã sắp các kệ sách và ngăn kéo cho gọn gàng chưa?
Các phòng khối óc mình đã rửa sạch chưa?
Trí khôn anh em đã sắm sẵn để hấp thụ những điều mới mẻ tốt lành chưa?
Tội lỗi anh em đã sạch hết chưa?
Lòng đạo của anh em có trang điểm để bước qua năm mới chăng?
Có thêm đức tin, nhịn nhục và nhơn hiền chăng?
Bằng chẳng vậy, anh em sẽ kéo một khối nặng nề và vô ích; khối ấy sẽ làm mệt và gãy cánh...
Lại nữa;
Anh em được che chở chưa?
Được che chở khỏi cơn cám dỗ bởi một ý chí cương quyết chưa?
Được che chở khỏi tật bịnh bởi một tấm lòng vâng phục chưa?
Được che chở khỏi sự chết bởi lòng tin chắc vui vẻ chưa?
Và được che chở khỏi chính mình chưa?
Cả đời sống anh em thật là một ảo mộng dai dẳng. Anh em tưởng có thể làm trọn chương trình. Anh em định bay cao và lâu. Anh em nghĩ thầm chắc thực hành được những quan niệm về sự công bình và thánh khiết mà mình cảm biết là bổn phận và quyền lợi mà mình đã hiểu rõ... Tội nghiệp, tôi thương xót anh em. Hãy dạo quanh, hỏi những kẻ đã sinh hoạt rằng phải chăng họ bất quá là bọn đi ứng tuyển vì đã đọc tờ yết thị đầy dẫy lời hứa? Vẻ mặt đỏ bừng của họ còn ghê gớm hơn vẻ mặt đỏ ửng khi xưa, nhằm lúc họ nhận tin Đấng Christ.
Phải biết mình, phải biết những việc có thể xảy ra trong đời, phải đề phòng các hiệu quả, phải có tinh thần chuyên chú đến lời kẻ khác dạy dỗ, phải đầu phục tài kinh nghiệm của bậc trưởng thượng. Người đi lang thang trong đường quanh quẹo của Thần Tự Chủ mà ai nấy phụng sự ngang, quấy trong lỗi lầm nẻo lạc của lý tánh nhu nhược hoặc biến thiên. Còn tấm lòng? Chao ôi! nó dành sẵn cho những kỳ quan nào?
Phải có một Đấng Hướng Đạo ban cho tinh thần chịu sự dắt dẫn.
Anh em biết Đấng Hướng Đạo ấy. Ngài sẽ phán với anh em rằng: “Đầu nhứt, ngươi không làm chi được...” Rõ ràng lắm... và đích thực lắm. Rồi tiếp: “Nhờ ta, ngươi làm được mọi sự...” Cũng rõ ràng lắm, cũng đích thực lắm.
Hãy nương náu mình trong Ngài, nghĩa là hãy tin Ngài, hãy tựa vào vai Ngài mà tiến bước, và cũng có nghĩa là hãy cùng Ngài lập tờ giao ước mà Ngài đã ký bằng huyết Ngài. Tờ ấy ban cho anh em quyền phép để đắc thắng trong thế gian nầy và sự tin chắc được vinh hiển trên trời...
Bấy giờ, nhờ Ngài, anh em có thể toan định. Anh em sẽ nói: Tôi thích leo núi nầy. Ngài sẽ đáp: Ta biết đường. Anh em sẽ nói: Tôi muốn vượt cơn giông tố. Ngài sẽ đáp: Ta bẻ lái. Anh em sẽ nói: Tôi ước ao lên trên đám mây. Ngài sẽ đáp: Ta đã chế tạo máy bay. Vì quen biết anh em, nên Đấng Hướng Đạo đó sẽ dẹp hết khỏi lòng anh em những mộng tưởng vô ích, buồn teo, thường chỉ là các ảo tưởng làm cho bối rối. Ngài làm vậy để hằng dắt anh em trở lại đi đường xác thực; đường nầy có lẽ thỉnh thoảng tẻ ngắt, nhưng càng lâu càng rõ rệt.
Anh em sẽ nói: Tôi muốn vượt dãy núi cao. Ngài sẽ đáp: Trước hết hãy leo gò nổng. Anh em sẽ nói: Phải đánh liều qua Thái Bình Dương. Ngài sẽ đáp: Hãy ngắm vẻ đẹp của hồi trong trẻo. Anh em sẽ nói: Phải lên thật cao đến nỗi hết thở. Ngài sẽ đáp: Hãy lên đến nơi ngươi lên được. Vì trong cuộc tiến bộ không dứt có vẻ cao thượng, nên khá giữ lòng thành tín đối với những bổn phận nhỏ mọn. Đừng giỡn cợt với ma quỷ...
Lạy Đức Chúa Jêsus, là Đấng biết mọi sự, là Đấng đã trải qua hết đường lối loài người, là tay Hướng Đạo không lầm, xin dẫn dắt tôi! Xin tính xong cuộc quá khứ và bảo đảm tương lai cho tôi.
Xin chúc Ngài năm nay được vui mừng thỏa mãn bởi cách ăn nết ở chúng tôi xứng hiệp với đạo Tin Lành.
La Bonne Revue
92. LUẬT NHÂN QUẢ TRONG CÕI ĐỜI ĐỜI
(Quyển sách)
Hỡi anh em rất yêu dấu, mỗi ngày chồng giấy ghi chép cuộc đời chúng ta mỗi chất cao hơn. Chính chúng ta sắp chữ bởi công việc mình làm mỗi phút. Nhiều bàn tay vô hình đương đúc khuôn in; và chẳng bao lâu cuốn sách ghi chép sẽ in xong và sẽ đem tuyên đọc trước mặt cả vũ trụ và giữa những cuộc báo ứng trong cõi đời đời.
Alliance Chúng taekly
93. THỜI TIẾT BÀY TỎ BỔN TÁNH CHÚA
(Tuyết và mưa đá)
“Ngài cho mưa tuyết như lông chiên... Ngài ném giá từng miếng” (Thi-thiên 147:16).
Cũng một giọt mưa, ta thấy tuyết và mưa đá từ phòng thí nghiệm lạ lùng trên bầu trời sa xuống mặt đất. Tuyết chính là sương mới đặc lại, thành ra những hoa nho nhỏ. Ghé mắt vào kính hiển vi, ta xét thấy những hoa tuyết có nhiều hình khác nhau, nhưng đều đẹp lắm, và cũng dài từ một ly đến một phân tây. Khác nào lông chiên êm ái, tuyết là một cách đề phòng nhơn hậu của Đức Chúa Trời, để bao phủ và che chở những ngọn cỏ ẻo lả, yếu mềm khỏi sự lạnh lẽo cực điểm của mùa đông miền bắc. Tuyết dẫu lạnh, nhưng đóng thành tầng dày đặc, nên giữ cho sức nóng trong đất khỏi tiêu tan.
Mưa đá và nước lạnh đông lại thành những miếng đặc nhỏ bằng hột gạo, có khi cũng to, đường kính từ ba đến sáu phân tây. Cục mưa đá hình tròn, hoặc hình chữ kim, hoặc có nhiều cạnh, hoặc như hoa tuyết trong ngần.
Dầu nhỏ nhứt, hoặc lớn nhứt, mọi công việc của Đức Chúa Trời cũng đều xứng với danh Ngài. Những hoa tuyết rơi xuống trên miền thuộc về hàn đới tỏ ra rằng Đức Chúa Trời là Đấng chế tạo chúng nó, làm mọi việc đều trọn lành đẹp đẽ. Hoa tuyết nào cũng nặn đúng với kiểu riêng, hoặc có ba cạnh, sáu cạnh, tám cạnh hoặc có nhiều cạnh hơn nữa, hoặc như hình thập tự lấp lánh, hoặc như hoa đương chúm chím cười. Hình thể mỗi cái hoa tuyết làm chứng về sự hiện diện và cách hành động của một Đấng thiêng liêng. Nếu Đức Chúa Trời không dự bị những hoa tuyết trong trẻo, thì nhiều miền hiện đông người ở sẽ hóa ra hoang vu, vì hầu hết cây cối sẽ bị khí lạnh mùa đông làm cho tiêu diệt. Lạy Đức Chúa Trời, các thời tiết quanh năm đều bày tỏ bổn tánh Ngài một cách rõ rệt đầy đủ!
94. KHÔNG KHÍ SẼ NÓI LÊN SỰ KHÔN NGOAN MUÔN LỐI CỦA CHÚA
(Không khí giúp ích cho thế gian)
Không khí chẳng những có tánh chất và các chức vụ lạ lùng như đã nói trong một bài ở số 28 đầu, nhưng cũng gây nhiều hạnh phước cho thế gian mà ta đương ở.
Dầu mặt trời là nguồn lớn của ánh sáng, song cũng cần được không khí giúp đỡ trong việc làm, thì trái đất mới có ánh sáng xứng hiệp. Nếu thiếu không khí, thì bầu trời ắt sẽ tối đen như mực và mặt trời chỉ sáng như cái cầu bằng sắt và nung đỏ hồng, còn tia sáng mặt trời thì chỉ bày tỏ những vật được nó chiếu đến. Nếu thiếu không khí, thì này, chẳng có lúc hoàng hôn, chẳng chi bay được, ta chẳng ngửi mùi thơm và mùi hôi, chẳng nghe được tiếng nhạc hoặc tiếng nói chuyện, song thế gian sẽ lặng ngắt đời đời; vì âm thanh do làn sóng của khí trời mà có.
Cách tạo nên không khí hợp với Kinh Thánh mà tỏ ra rằng Đấng Tạo Hóa là khôn ngoan, oai quyền, nhơn đức. Vốn như bộ máy tra ráp phức tạp và lạ lùng, bầu không khí là bằng cớ rõ ràng và chắc chắn về Đấng Tạo Hóa thật có những đặc tính kể trên. Trong cả bầu không khí, ta thấy tỏ tường mưu định của Đức Chúa Trời và sự xứng hiệp trọn vẹn. Các nguyên chất hiệp nên không khí đều pha đúng theo tỷ lệ cần yếu cho các sinh vật được nuôi nấng khỏe mạnh.
Phổi, tai, họng, mũi, lỗ chơn lông đều được xứng hiệp với các tánh chất của không khí. Chẳng những vật thôi, không khí còn có những tánh chất lạ lùng để làm cho sức nóng rải ra, chất ướt thành hơi, thủy thổ điều hòa, để gây nên luồng gió, làm thành đám mây và truyền rộng ánh sáng. Vậy, ta thấy trong bầu không khí có nhiều cuộc sáng chế cả thể hiệp nên khúc thơ thánh cao siêu ngợi khen Đấng Tạo Hóa: “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm” (Thi-thiên 19:1)
Bà C. thuật
95. TÌM QUYỀN NĂNG HƠN TỔ CHỨC
(Quỳ lạy vòi rồng!)
Có một ông giáo sĩ đi giảng Tin Lành cho một bộ lạc ở Phi-châu. Ông vốn ham thích máy móc. Dân bổn xứ tưởng rằng ông làm phép lạ. Ông có một cái vòi rồng dẫn nước cho dân dùng; như vậy, đờn bà không cần phải leo lên đồi dốc, múc nước vào vò và đem về nữa.
Đặt xong vòi rồng hôm trước, thì hôm sau, lúc rạng đông, ông giáo sĩ lên đồi, và kìa, cả làng đang quỳ gối thờ lạy cái máy!
Nầy, ngày nay, phần đông tín đồ trong Hội Thánh há chẳng làm như thế? Chẳng khi nào Hội Thánh tổ chức mỹ mãn, có phẩm phục đẹp đẽ và... cũng thiếu thốn quyền phép như bây giờ! Hội Thánh cần được Đức Thánh Linh giục lòng hăng hái làm việc.
Hỡi anh em yêu dấu, chớ để công việc của chi hội mình giống như tiếng máy chạy xình xịch mà thôi. Chúa phán rằng: “Ta biết công việc ngươi, sự khó nhọc người, sự nhịn nhục ngươi... nhưng điều ta trách ngươi, là ngươi đã bỏ lòng kính mến ban đầu” (Khải-huyền 2:2-4).
Bà Dixon
96. KHÔNG BIẾT THÌ ĐỪNG DẠY
(Người mù chỉ lối)
Trời tối. Một người mù ở góc phố thuộc về châu thành lớn rộng. Bên cạnh hắn có một chiếc đèn lồng. Thấy hắn mù, người ta bèn lại gần. Hỏi hắn dùng đèn làm gì? Hắn đáp: Tôi để đèn cạnh mình, kẻo sợ ai vấp nhằm tôi chăng? Lắm kẻ cũng như người mù ấy. Chính họ ở nơi tối tăm của tội lỗi đến nỗi tâm trí mù, vậy mà còn chực cầm đèn soi đường chỉ lối cho người lân cận. Thật là một việc điên cuồng! Họ hẳn đã quên câu: “Nếu kẻ mù dẫn đưa kẻ mù, thì cả hai sẽ cùng té xuống hố” (Ma-thi-ơ 15:14).
Moody
97. LỜI NÓI VÀ VIỆC LÀM CỦA TA ĐƯỢC GHI VÀO SỔ CHÚA
(Nhìn ảnh thẹn mình)
Người ta nói rằng, ông Leech, nhà danh họa chuyên vẽ tranh khôi hài, có một phương pháp quở trách con cái rất hiệu nghiệm. Những khi mặt chúng nổi vẻ giận dữ, ngỗ nghịch, buồn rầu thì ông rút ngay cuốn vở vẽ nét mặt chúng, rồi giơ cho chúng thấy sự hung dữ là xấu xa dường nào! Thành thử chúng phải hổ thẹn.
Người lớn cũng như trẻ con, thảy đều ít thích tự xét như kẻ xét mình. Nhưng mọi lời ta nói và mọi việc ta làm đều ghi vào sổ của Đức Chúa Trời, mặc dầu ta thích hay không.
Moody
98. THÂN THỂ BÀY TỎ SỰ KHÔN KHÉO CỦA CHÚA
(Thân thể lạ lùng!)
Trong thân thể loài người có chừng 263 cái xương và chừng 500 bắp thịt. Ống tiêu hóa dài chừng hơn 10 thước tây. Máu của một người trưởng thành cân nặng chừng 13 ký-lô rưỡi, nghĩa là vừa đúng một phần năm sức nặng của người.
Trái tim dài chừng 15 phân tây, có đường kính dài chừng 15 phân tây và đập mỗi phút 70 lần mỗi giờ 4200 lần, mỗi ngày 100.800 lần, mỗi năm (365 ngày) 56.792.000 lần, và trong vòng 70 năm thì 2.575.440.000 lần. Trái tim phun mỗi lần chừng 70 gram máu, mỗi phút chừng 5 ký-lô máu, mỗi giờ chừng 289 ký-lô, mỗi ngày 7.093 ký-lô. Cứ mỗi ba phút thì cả máu trong thân thểlại đi qua trái tim một lần. Tính gồm lại, thì mỗi ngày trái tim bé mọn ấy dùng một sức mạnh khôn xiết mà thụt máu lên. Sức ấy có thể nhắc một khối nặng 1000 ký-lô lên độ 40 thước tây, hoặc một khối 100.000 ký-lô lên độ 40 phân tây.
Hai phổi thường chứa 4 lít rưỡi không khí. mỗi giờ ta thở ước chừng 12000 lần và hút vào chừng 2700 lít không khí. Mỗi ngày ta hút chừng 108.000 lít không khí. Tính gồm lại, thì bề mặt của tất cả tế bào chứa không khí trong hai lá phổi rộng hơn 16 thước vuông.
Khối óc của một người đàn ông đã trưởng thành cân nặng được chừng 1 ký-lô rưỡi; khối óc của một người đàn bà đã trưởng thành cân được chừng 1 ký-lô 14 gram. Thần kinh hệ liên lạc với khối óc hoặc trực tiếp, hoặc bởi tủy xương sống. Thần kinh hệ chia ra nhiều dây thần kinh lớn nhỏ, cộng hết cả được hơn 10 triệu chạy khắp thân thể, và họp thành một đạo binh gìn giữ thân thể đông hơn đạo binh lớn nhất xưa nay.
Da có ba lớp, dầy từ hơn 3 ly tây đến gần 7 ly tây. Cứ mười phân vuông của bề ngoài thân thể người thì bị áp lực của không khí đè nặng chừng 8 ký-lô rưỡi. Vậy, một người trung bình bị áp lực ấy đè nặng chừng 18.022 ký-lô. Cứ 10 phân vuông của da thì có chừng 47.360 lỗ chơn lông. Mỗi lỗ chơn lông có thể ví như một cái cống dài chừng 7 ly tây. Nếu nối hết các lỗ chân lông của làn da một đứa trẻ, thì thành cái cống dài hơn 65 cây số để cho mồ hôi trong thân thể lưu ra ngoài.
Loài người được dựng nên thật lạ lùng lắm. Ngày xưa Đa-vít đã nói rằng: “Tôi cảm tạ Chúa vì tôi được dựng nên cách đáng sợ lạ lùng” (Thi-thiên 139:14). Ai sốt sắng tìm tòi những công việc khéo léo, lạ lùng của Đấng khôn ngoan và quyền năng, thì hãy xem xét chính thân thể mình cũng đủ, chớ chẳng cần đi khắp thế gian mà tìm tòi làm chi.
Gospel Banner
99. CẦN GIỮ LÒNG TRONG SẠCH
(Trồng cây Vĩnh phước)
Trước hết mọi sự hãy trau dồi tâm thần mình. Một lời anh em nói trong khí lương tâm sáng sủa và lòng đầy dẫy Thánh Linh của Đức Chúa Trời có giá trị bằng một vạn lời anh em nói trong khi chẳng tin và phạm tội. Hãy nhớ rằng Đức Chúa Trời phải được vinh hiển, chớ loài người chẳng đáng được đâu. Nếu cất bức màn che phủ các biến động trong thế gian, ắt ta sẽ thấy Đức Chúa Trời đương làm bao việc để đáp lại tiếng kêu cầu của con cái Ngài!
Robert Mc Cheyne
100. PHẢI XIN NHIỀU ƠN CHÚA
(Ơn thánh dồi dào)
Có người thuật rằng vua Sê-sa xưa có ban đồ vật rất quý giá cho một quan đại thần. Quan đó tâu rằng: “Đồ vua ban cho thật đắt giá quá!” Vua đáp rằng: “Nhưng đối với vua Sê-sa, thì đồ vật nầy có phải là đắt giá quá đâu!” Đức Chúa Trời chúng ta là Vua cao cả muốn ban ơn cho chúng ta; vậy chúng ta nên xin Ngài ban ơn rộng rãi lạ lùng.
Moody