IIGIĂNG
1. CHÀO THĂM (IIGi 1:1-3)
Đây là phần mở đầu thường gặp đối với một bức thư thuộc thế kỷ thứ nhất. 1-2 Người viết tự xưng là trưởng lão , có lẽ điều này là một dấu hiệu chỉ về tuổi tác hay có thể là một địa vị chính thức trong Hội Thánh. Ông viết cho bà được chọn , cũng có thể được hiểu là “một quí bà đã được bầu chọn”. Trong tiếng Hi Lạp, cả hai từ ngữ này đều có thể là tên riêng, điều này đã mở ra rất nhiều khả năng: “Quí bà Electa” (Electa the Lady), “Kyria người được chọn” (the elect Kyria) hoặc “Electa Kyria”. Nhưng có lẽ “quí bà được chọn” là đúng nhất. Đây là lời ngỏ cho một cá nhân hay cho một Hội Thánh vẫn là điều đang còn tranh cãi. (xem phần Dẫn Nhập). Vị trưởng lão này khẳng định rằng ông (chữ tôi có ý nhấn mạnh) yêu mến quí bà và các con cái của bà trong lẽ thật . Cả từ yêu và từ lẽ thật đều rất nổi bật trong phần mở đầu này (từ yêu , có thể là danh từ hoặc động từ, đều xuất hiện bốn lần trong sáu câu đầu tiên, và từ lẽ thật thì năm lần trong bốn câu đầu tiên). Xin lưu ý mạch văn nối tiếp mà tôi thật yêu dấu trong lẽ thật… vì cớ chính lẽ thật . Như cách Giăng hiểu, thì lẽ thật sẽ dẫn đến tình yêu . Người ta có thể nhận biết lẽ thật; nó ở (sống) trong người tín hữu và sẽ ở với họ đời đời . Thật khó để nghĩ lẽ thật được mô tả ở đây lại có thể tách rời khỏi Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng đã phán rằng: “Ta là… lẽ thật” (Gi 14:6). Chúng ta không được bỏ quên mối liên hệ giữa tình yêu Cơ Đốc với lẽ thật Cơ Đốc. Có ai đó đã từng nói rằng cộng đồng của tình yêu cũng rộng lớn như cộng đồng của lẽ thật, đây vốn là một lời bình luận ý nghĩa. 3 Cụm từ sự thương xót được thêm vào cụm từ ân điển và sự bình an trong lời chào thăm là điều rất ít gặp trong Kinh Thánh Tân Ước (những chỗ còn lại được tìm thấy là trong I và II Ti-mô-thê). Nó củng cố thêm cho ý niệm về ân điển , chỉ về sự ban cho vô điều kiện của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế. Cũng là điều bất thường khi phần chào thăm này cũng cho biết rằng những phẩm chất này sẽ ở cùng chúng ta ; trong lời chào, người ta thường chờ đợi cụm từ “ ở cùng bà (hay anh em)”. Dường như đây là lời chào duy nhất trong Tân Ước đã được viết theo cách này. Đó là một cách bày tỏ sự đoàn kết giữa tác với độc giả. Mọi người ai cũng cần đến ân điển, sự thương xót và sự bình an . Ở đây, Chúa Giê-xu được gọi là Con của Cha (trong Kinh Thánh Tân Ước, nhóm từ chỉ xuất hiện ở đây). Người ta không thể tách rời Đức Chúa Cha ra khỏi suy nghĩ về Ngài.
2. ĐIỀU RĂN YÊU THƯƠNG (IIGi 1:4-6)
4 Tác giả vui mừng lắm khi biết rằng một số con cái của quý bà được chọn này làm theo lẽ thật, thành ngữ gần như tương đương với thành ngữ “sống đời sống Cơ Đốc nhân”. Chính cách dùng này cho thấy sự nhấn mạnh của tác giả đối với lẽ thật. Noi theo lẽ thật không đơn giản là một chọn lựa mà mọi người cho là đáng có, mà là sự đáp ứng điều răn của Đức Chúa Cha . Noi theo chân lý chắc chắn là hấp dẫn rồi, nhưng đó không phải là điều Giăng đang nhắm vào. Trong ba câu này, chúng ta gặp từ “điều răn” đến bốn lần, dưới hình thức là động từ hoặc danh từ. Đó chính là hình thức lặp lại nhằm mục đích nhấn mạnh mà chúng ta đã gặp trong I Giăng và cũng đã gặp lại ở bức thư này. 5 Vị trưởng lão không ra lệnh, nhưng nói tôi khuyên, đây là ngôn ngữ của lời đề nghị lịch sự. Ông không viết về một điều răn mới nhưng nhắc lại điều chúng ta đã nhận lãnh từ ban đầu (đối chiếu IGi 2:7). Điều răn yêu thương mà tác giả vừa trình bày, là một điều răn cũ; chính từ những giây phút khởi đầu của cách sống Cơ Đốc, người sống theo cách ấy đã được kết hiệp lại bằng sợi dây yêu thương. Ông không nói về nó vẫn là điều mới (như trong IGiăng). Ông nhấn mạnh lại bổn phận đã được giao phó cho Cơ Đốc Nhân, đó là chúng ta phải yêu thương nhau. Đây là điều trọng tâm và nó được nhấn mạnh trong tất cả các văn phẩm của Giăng. Chúng ta có xu hướng dùng từ “tình yêu” để chỉ về tình cảm và cho rằng điều đó thì không thể điều khiển được. Nhưng với Giăng, mặc dù rõ ràng tình yêu là một tình cảm nồng ấm, nhưng về căn bản, nó là một sự đáp ứng trước tình yêu lớn lao mà Đức Chúa Trời đã dành cho chúng ta. Tình yêu làm nảy sinh hành động, thể hiện qua sự phục vụ chu đáo và bất vị kỷ. 6 cụm từ Sự yêu thương là tại giới thiệu một phần định nghĩa đó là: làm theo các điều răn của Đức Chúa Trời . Ngày nay, việc tuân thủ mệnh lệnh thường được xem là bằng chứng hiển nhiên của tinh thần luật pháp chủ nghĩa, trái ngược hẳn với điều chúng ta xem là tình yêu. Nhưng sự trái ngược này chỉ mang tính giả tạo mà thôi. Tình yêu chân chính sẽ khiến người ta vui lòng làm theo ý muốn của người mình yêu (đối chiếu Gi 15:10 IGi 5:3). Những ai biết được thật sự tình yêu theo nghĩa Cơ Đốc giáo là gì, thì họ sẽ luôn sẵn lòng vâng theo những điều răn của Đức Chúa Trời. Giăng lặp lại rằng ông không đang giới thiệu một điều răn mới, mà chỉ nhắc lại một điều răn đã được nghe từ lúc ban đầu . Chúng ta không nên bỏ sót ý niệm nói về sự tiến bộ đều đặn được ngụ ý trong từ làm theo được lặp lại hai lần.
3. GIÁO LÝ THUẦN CHÁNH (IIGi 1:7-11)
7 Chữ Vì (bản dịch Việt văn bỏ sót chữ “vì” này) mở đầu lý do cho điều mà Giăng vừa nói: nhiều kẻ dỗ dành (những kẻ cố ý truyền bá các quan điểm sai lầm về Cơ Đốc giáo) đã đi ra . Điều này ngụ ý rằng có lúc họ đã từng là thành viên của Hội Thánh (đối chiếu 2:19). Sai lầm của họ chính là giờ đây họ chẳng xưng Đức Chúa Giê-xu Christ lấy xác thịt mà đến (đối chiếu 4:2-3). Trong I Giăng, luận điểm đang được bàn cãi là tầm quan trọng của sự nhập thể. Dĩ nhiên, Chúa Giê-xu chính là Chúa Cứu Thế mà Đức Chúa Trời sai đến trong xác thịt. Không nhận thức được điều này là phạm phải sai lầm nghiêm trọng nhất, và Giăng gọi những người phạm điều này là kẻ dỗ dành ( lường gạt) và là kẻ địch lại Đấng Christ . Ở chỗ khác, ông từng nói những người truyền dạy điều sai lầm này là “kẻ chống lại Đấng Christ” (4:3), nhưng kẻ dỗ dành là một danh hiệu mới. Chẳng những người dạy điều đó mắc phải sai lầm, mà còn dẫn nhiều người khác sai lạc nữa.
8 Các thủ bản bị phân lọai vì không có sự thống nhất về chữ đứng trước cụm từ khỏi mất kết quả là “các ngươi” hay “chúng tôi”. Những người chấp nhận từ “chúng tôi” (như bản NRSV, RFB) thì xem đây là lời tác giả cảnh báo rằng những điều các giáo sư chân chính đã tạo ra sẽ tiêu tan nếu các tín hữu bỏ đạo. Những người chấp nhận từ các ngươi (bản NIV) thì cho thấy rằng vị trưởng lão này đang cảnh cáo các độc giả rằng nếu họ đi theo các giáo sư giả, họ sẽ mất phần thưởng thiên đàng đang dành sẵn cho những tôi tớ trung thành của Đức Chúa Trời. Dĩ nhiên, đây không phải là sự cứu rỗi, vốn là món quà được ban cho vô điều kiện của Đức Chúa Trời. Đó chính là phần thưởng dành cho những người đã trung tín phục vụ và là phần thưởng mà Giăng nghĩ có thể bị mất nếu họ đi theo các giáo sư giả. Độc giả đã được khuyến cáo.
9 Rõ ràng các giáo sư giả tự cho mình là những nhà tư tưởng “tiến bộ”. Giăng cho rằng “bất cứ kẻ nào chạy trước” (hễ ai đi dông dài ) theo cách này đều đã vượt ra ngoài Cơ Đốc giáo! Mục tiêu của người tín hữu không nên là để khoe mình là người tiến bộ, mà phải bền lòng bước theo chân lý đã được bày tỏ, tức là bền lòng theo đạo Đấng Christ (có thể hiểu câu này là “theo lời truyền dạy về Đấng Christ” như bản REB, nhưng hiểu theo nghĩa là điều mà Đấng Christ đã phán dạy thì hợp lý hơn). Nếu chúng ta muốn có mối liên hệ phải lẽ với Đức Chúa Cha, thì chúng ta cần phải có mối liên hệ phải lẽ với Đức Chúa Con trước (đối chiếu 2:23). 10 Người tín hữu không được phép dung dưỡng bất kỳ một lời truyền dạy nào khác. Dĩ nhiên Giăng không dạy các tín hữu nên bỏ qua phép lịch sự thông thường đối với người theo giáo thuyết đối lập. Nhưng vào thời đó, việc tiếp rước một giáo sư vào nhà là bày tỏ rằng mình tán thành những lời truyền dạy của người ấy. Và từ khi tập tục đón tiếp khách chính là điều giúp cho các nhà truyền đạo đi đó đi đây với sứ điệp của mình, nó cũng góp phần giúp họ truyền bá những lời truyền dạy của mình rộng khắp. Cho nên nếu ai không đem đạo ấy (tức là lời truyền dạy Chúa Cứu Thế Giê-xu chính là Đức Chúa Trời nhập thể) theo thì sẽ không được rước vào nhà. 11 Giăng trình bày lý do: việc hoan nghênh một giáo sư như thế tức là dự phần vào công việc ác của người ấy. Cơ Đốc nhân không được phép dung dưỡng bất kỳ điều ác nào.
4. KẾT LUẬN (IIGi 1:12-13)
12 Vị trưởng lão này nêu rõ rằng lý do ông kết thúc bức thư tại điểm này không phải vì chủ đề này đã hết vấn đề để bàn. Trái lại, ông nói: Ta còn nhiều điều muốn viết cho các ngươi . Nhưng ông thích được trò chuyện với họ hơn là viết thư. Cho nên, sau khi đã viết những điều quan trọng nhất, ông gát bút và giữ phần tin tức còn lại cho đến khi ông gặp mặt những người bạn của mình. Ta không muốn viết bằng giấy và mực không phải là thành ngữ thông dụng, nhưng ý nghĩa của nó thì thật rõ ràng. Đối mặt nguyên văn là “đối miệng”, ngôn ngữ Hi Lạp vốn rất sống động. Cụm từ sự vui mừng của chúng ta đã nối kết quyền lợi của tác giả và của độc giả lại với nhau. 13 Bức thư được kết thúc với những lời chào thăm quen thuộc. Việc đề cập đến con cái phù hợp với một bức thư gởi cho một Hội Thánh; khi đó nó nó sẽ có nghĩa là “những thành viên của Hội Thánh”. Nhưng không phải là nó không thể dùng để ám chỉ “những thành viên trong một gia đình”; dù sao thì đây chỉ là một cách dùng từ thông thường.