1 GIĂNG

MỤC LỤC

IGIĂNG

1. LỜI NÓI ĐẦU (IGi 1:1-4)

Trong bản Kinh Thánh Hi-lạp, mấy câu này là một mệnh đề rất cô đọng và phức tạp, hình thành lời nói đầu cho cả bức thư.  Giăng phác hoạ một số ý niệm ông sẽ khai triển trong thư.

(IGi 1:1) Từ Hi-văn mở đầu, được dịch là  điều,  thuộc giống trung.  Như thế, dường như nó đề cập đến sứ điệp Phúc Âm hơn là một người nào đó.  Nhưng rồi Giăng tiếp tục nói đến việc nghe, thấy và thậm chí là rờ nữa, khiến chúng ta phải nghĩ đến Chúa Giê-xu.  Đây cũng là trường hợp của cụm từ  Lời sự sống,  vì mặc dù thông thường cụm từ này được hiểu là sứ điệp Phúc Âm, nhưng chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng Chúa Giê-xu vừa được gọi là “Ngôi Lời” vừa là “sự sống” ( Gi 1:1  14:6 ), Thánh Kinh chép “trong Ngài có sự sống, sự sống (đó) là sự sáng của loài người” (1:4).  Vì vậy, phần mở đầu khác thường này nhắc nhở chúng ta cả về Phúc Âm lẫn Đấng mà Phúc Âm ấy chú trọng vào. 

Từ trước hết  cho thấy Phúc Âm vốn không phải là sứ điệp đến sau.  Nó đã luôn tồn tại trong kế hoạch của Đức Chúa Trời.  Rồi Giăng chuyển sang đề cập đến tính thực hữu của toàn bộ điều đó, vốn là chủ điểm của ông.  Phúc Âm không đề cập đến một nhân vật thần thoại nào đó như những dạng thức không rõ rệt trong các huyền thoại Hi-lạp, mà là đến một nhân vật lịch sử có thật.  Người ta đã từng  nghe, thấy  và  rờ  đến Ngài (Lu 24:39  Gi 20:20,24-27 ).  Sự thực về Chúa Giê-xu ngày càng được nhấn mạnh đều đặn hơn.  Điều Giăng đang đề cập không phải là các khải tượng, mà là sự tồn tại vật lý.  Cho nên ông đề cập rằng  điều chúng tôi đã nghe, điều mắt chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã ngắm tay chúng tôi đã rờ.   Từ  chúng tôi  rất thường được dùng trong bức thư này (theo  Epistles of John,  của Brown, trang 158, thì  nó xuất hiện ở 51 trong số 105 câu).  Sự thay đổi chủ ngữ từ “chúng tôi” thành “tay chúng tôi” có lẽ chỉ mang tính văn phong, nhưng đây cũng có thể là một ý nhấn mạnh đến sự tiếp xúc vật lý. đó là điều mà  tay chúng tôi  đã thực hiện.

(IGi 1:2)   Giăng có thói quen nhấn mạnh một ý niệm bằng một dụng pháp đơn giản nhất, đó là sự lập lại.  Ở đây ông bắt đầu hơi ra ngoài đề khi lấy chọn ra từ  sự sống,  từ cuối của câu 1, rồi nhắc lại nó ba lần ở ba dòng.   Sự sống  mà ông đang nói đến không phải là sự sống hiểu theo khái niệm thông thường.  Điều quan tâm của ông là sự sống đã được  bày tỏ ra   rõ ràng là ông đang đề cập sự đến của Chúa Giê-xu, Đấng đã tự mô tả mình là “sự sống” (14:6 ).  Và chẳng những sự sống ấy đã xuất hiện, mà tác giả còn có thể nói rằng  chúng tôi thấy  sự sống ấy.  Ông đã nói về việc nhìn thấy sự sống ấy (và sẽ còn lặp lại điều này ở câu 3 nữa, ông thích nhấn mạnh một ý niệm).  Hơn nữa, ông và những người đã cùng ông nhìn thấy sự sống ấy thì  làm chứng  về và  rao truyền  về sự sống ấy.  Ông đã nói sự sống ấy vốn đã có “từ trước hết”.  Bây giờ ông lại trình bày ý tưởng đó theo cách khác khi đề cập đến  sự sống đời đời.   Rồi ông tiếp tục dùng dụng pháp nhắc lại của mình khi nói rằng sự sống ấy  đã bày tỏ.   Trong sách Phúc Âm Giăng,  Chúa Giê-xu đã được gọi là “sự sống” (14:6 ) và tương tự như vậy, ở đây Chúa Giê-xu là chính là Đấng được làm chứng cho và đã được rao truyền ra.  Đây cũng có thể là kết luận của chúng ta rút ra từ thành ngữ   cùng Đức Chúa Cha,  vì cấu trúc này giống với cấu trúc đã dùng chữ “Ngôi Lời” trong Gi 1:1   Dĩ nhiên là  Đức Chúa Cha  là danh hiệu đặc biệt mà Cơ Đốc giáo dùng để chỉ Đức Chúa Trời.  Nó được xuất hiện mười hai lần trong bức thư này.

(IGi 1:3)   Một lần nữa Giăng nói về  điều chúng tôi đã thấy đã nghe.   Chúng ta không nên xem nhẹ việc ông nhấn mạnh rằng mình là một nhân chứng, cũng như thực tế rằng điều này có liên hệ với đến việc  truyền  (loan báo)  cho anh em.   Câu này sẽ không có được hiểu đúng nếu chúng ta nghĩ rằng từ  chúng tôi  có nghĩa là “các Cơ Đốc nhân chúng tôi”.  Nó chỉ có nghĩa là tấc cả những tín hữu đã nhìn thấy Chúa Giê-xu bằng xương bằng thịt.  Những người này  rao truyền  điều họ đã thấy cho những người còn lại của Hội Thánh.  Ở mức độ nào đó, mục tiêu của Giăng là:  hầu cho anh em cũng được giao thông  (thông công)  với chúng tôi.   Rồi ông tiếp tục nói ngay về sự thông công của  chúng tôi với Đức Chúa Cha với Con Ngài Đức Chúa Giê-xu Christ.   Ý niệm căn bản trong sự thông công (Hi-văn  koinơnia ) chính là về sự cùng có điều gì đó, tức là về sự tham dự hoặc cùng chia sẻ.  Nó thường được dùng để chỉ về các mối quan hệ kinh doanh (business affairs  Lu 5:10 ).  Sự thông công của các Cơ Đốc nhân có nghĩa là cùng chia sẻ sự sống trong Chúa Cứu Thế qua Đức Thánh Linh.  Điều này nối kết các tín hữu lại với nhau, nhưng điều quan trọng chính là nó cũng kết nối họ với Đức Chúa Trời.  Chúng ta không nên quên một thực tế là mối thông công ấy vẫn đang tiếp diễn.  Các sứ đồ đã được thông công với Chúa Cứu Thế và vì thế họ cũng được thông công với Đức Chúa Trời.  Rồi họ đưa nhiều người khác đến tin nhận Ngài và như thế là đã đưa được những người này vào cùng một mối thông công (một quá trình vẫn còn tiếp tục mãi đến tận ngày nay).  Sự giao thông (thông công) đang được đề cập là mối thông công  với Đức Chúa Cha với Con Ngài Đức Chúa Giê-xu Christ.   Như thế, ngay từ đầu thư,  Đức Chúa Giê-xu Christ  đã được liên kết cách gần gũi với  Đức Chúa Cha.   Một trong những điều Giăng đặt biệt nhấn mạnh là địa vị cao trọng của Chúa Cứu Thế, và ông đã tận dụng cơ hội để trình bày điều này. 

(IGi 1:4)   Từ  chúng tôi  lẫn từ  viết  có phần được nhấn mạnh.  Thông điệp này được thể hiện dưới một hình thức chính xác và không thay đổi và nó được viết ra bởi người có đủ thẩm quyền để viết.  Có một số thủ bản xác nhận cách viết sự vui mừng “của anh em”, nhưng có thể  sự vui mừng của chúng tôi  là đúng nhất.  Chỉ khi Giăng đưa những người bạn của mình bước vào trong mối thông công mà ông vừa mới viết ở trên, thì niềm vui của chính ông mới được đầy trọn, và dĩ nhiên là những người này cũng vậy.  “Sự vui mừng của anh em” và “sự vui mừng của chúng tôi” đi song song với nhau.  Với cả hai, niềm vui thật chỉ đến từ mối thông công với Đức Chúa Trời.

2. THÔNG CÔNG VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI (IGi 1:5-2:6)

Giăng đã vạch rõ rằng chủ đích của ông là đưa độc giả mình vào sự thông công với Đức Chúa Trời và với các tín hữu khác.  Kế đến ông tiến hành rút ra từ bản tính của Đức Chúa Trời những điều kiện của sự thông công.

(IGi 1:5)   Đức Chúa Trời sự sáng  Nầy lời truyền giảng  bày tỏ rằng những điều được trình bày tiếp theo đây là quan trọng, thật vậy nó tóm tắt cả sứ điệp của Cơ Đốc giáo.  Sứ điệp đó vốn có nguồn gốc ( chúng tôi đã nghe nơi Ngài ), chứ không phải do những tư tưởng bắt nguồn từ các sứ đồ hay những người khác.  Ý nghĩa của từ  Ngài  nêu cho chúng ta một vấn đề, và vấn đề ấy sẽ tái diễn xuyên suốt bức thư này.  Nó không có mệnh đề đứng trước rõ ràng.  Cả Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con đều đã được nhắc đến ở câu 3 và có thể một trong hai Đấng này lại được nói đến ở đây.  Có lẽ nếu chỗ này muốn nói đến Đức Chúa Con thì có phần hợp lý hơn, nhưng chúng ta thật khó có thể nói thêm điều gì  cả hai rõ ràng là có liên hệ mật thiết với nhau.

Nội dung của sứ điệp này được tóm tắt trong mấy chữ  Đức Chúa Trời sự sáng  (đối chiếu  Gi 8:12    9:5 ), mà được gắn kết với nó là cụm từ  trong Ngài chẳng sự tối tăm đâu  (làm gợi nhớ cách thức của sách Phúc Âm thứ tư, nơi mà điều tích cực và cái tiêu cực thường được buộc chặt với nhau tương tự như ở đây) (Thi 27:1  Gi 1:4-9 ).  Từ  sự sáng  thường xuất hiện trong sách Phúc Âm, nhưng ở đó từ này có xu hướng liên quan đến Đức Chúa Con, hơn là đến Đức Chúa Cha như ở đây.  Nó xuất hiện sáu lần trong bức thư này (IGi 1:5,7  hai lần  2:8-10 ).  Nói Đức Chúa Trời là sự sáng là nhằm tập trung vào sự chính trực và sự công bình của Ngài.  Sự sáng là một biểu tượng tự nhiên cho sự công bình đầy hấp dẫn, cũng như sự tối tăm tượng trưng cho sự đen tối của tội lỗi vậy.  Ở đây việc phủ định lại  sự tối tăm  được nhấn mạnh đến hai lần  đó là trong Đức Chúa Trời chẳng hề có sự tối tăm  Ngài là  sự sáng  hoàn toàn.  Có thể cũng tồn tại những tư tưởng rằng đời sống chúng ta được phơi trần trước những luồng ánh sáng từ Đức Chúa Trời chiếu rọi.  Chẳng có gì che giấu được Ngài (đối chiếu  Thi 90:8 ).  Vì Ngài là sự sáng, nên điều quan trọng là những người thuộc về Ngài phải “bước đi trong sự sáng ấy” (.7).

(IGi 1:6-7) Sai lầm thứ nhất   Giăng thích trình bày luận điểm của mình ra bằng cách nêu ra một giả định và ở đây, ông đưa ra một chuỗi những vế câu bắt đầu bằng chữ “ví bằng” (c.6-10  IGi 2:1 ).  Ông bàn về ba điều gây trở ngại cho sự thông công, mà trở ngại đầu tiên nằm ở lời tuyên bố rằng chúng ta có sự thông công với Đức Chúa Trời.  Giăng từng nói rằng chủ đích của ông là muốn cho độc giả của mình từng trải được mối thông công ấy (c.3).  Bây giờ, ông vạch rõ rằng nếu chỉ tuyên bố thôi, thì không thể có được mối thông công với Đức Chúa Trời.   6  Nếu ai tuyên bố mình có sự thông công ấy nhưng bước đi  (“vẫn tiếp tục bước đi )  trong sự tối tăm,  thì người ấy đang nói dối, vì Đức Chúa Trời vốn là sự sáng (đối chiếu  2:21-22 ).  Điều cần có phải vượt trên cảm giác tôn giáo dễ chịu.  Chúng ta phải kiểm tra những cảm giác của mình bằng lời mặc khải mà Đức Chúa Trời đã ban cho.  Sai lầm mà Giăng lên án ở đây là sự từ chối tiếp nhận sự sáng mà Đức Chúa Trời đã ban cho trong sự mặc khải đã thực hiện thông qua các nhà tiên tri, sứ đồ và nhiều người khác nữa, nhưng lại ưa thích sự tối tăm của ý riêng mình.  Phần khẳng định này đã được nhấn mạnh bằng phần phủ định.   Chúng takhông làm theo lẽ thật  (bản NIV diễn giải ý nguyên văn Hi Lạp thành “không nhờ chân lý mà sống”).  Thành ngữ bất thường này cũng được tìm thấy trong  Gi 3:21  (và trong các cuộn sách Qumran).  Chúng ta thường bàn về “việc nói sự thật”, nhưng sự thật (chân lý) có thể là một đặt tính của hành động cũng như của lời nói.  Lẽ thật mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho mọi người phải được thể hiện qua đời sống của tôi tớ Ngài.  7  Bây giờ là cách giả định ngược lại, tức là chúng ta đang thật sự  đi trong sự sáng.   Đi là một hình ảnh ẩn dụ về cả cách sống.  Nó làm lộ rõ chân lý rằng Cơ Đốc nhân phải luôn luôn tiến bộ, dầu sự tiến bộ ấy chẳng có gì ngoạn mục.   Đi trong sự sáng  là sống cách công chính mỗi ngày.  Ở đây, yêu cầu này được nhấn mạnh cách tối đa với  như chính mình Ngài trong sự sáng  (Mat 5:48 ).  Chỉ sống tập trung hoàn toàn vào một tiêu chuẩn đúng đắn nào đó nhưng là của loài người thì chưa đủ.  Cơ Đốc nhân là tôi tớ Đức Chúa Trời, vì vậy các chuẩn mực của người ấy phải là các chuẩn mực của Đức Chúa Trời.  Cơ Đốc nhân phải sống giống như cách của Đức Chúa Trời vậy.  Sau lời phủ nhận những kẻ bước đi trong sự tối tăm (c.6) có được sự thông công với Đức Chúa Trời,  chúng ta trông mong ý tưởng cho biết rằng những người bước đi trong sự sáng sẽ thật sự được sự thông công với Đức Chúa Trời.  Nhưng thay vào đó, chúng ta thấy rằng họ được  giao thông cùng nhau.   Dĩ nhiên là họ sẽ được thông công với Đức Chúa Trời (c.3), nhưng cách thức trình bày của Giăng đã làm nổi bật một chân lý rằng mối thông công mà các tín hữu có với nhau có giá trị rất lớn lao.  Thêm vào điều này, Giăng viết, “ huyết của Đức Chúa Giê-xu, Con Ngài làm sạch mọi tội chúng ta .  Từ  tội  xuất hiện mười bảy lần trong bức thư ngắn ngủi này (trong sách Phúc Âm Giăng cũng mười bảy lần  chỉ có thư Rô-ma và Hê-bơ-rơ là các văn phẩm trong Kinh Thánh Tân Ước có số lần xuất hiện của chữ “tội” nhiều hơn).  Tên người  Giê-xu  được ghép với từ  Con Ngài,  làm nổi bật tính độc nhất của Chúa Cứu Thế, chúng ta không nên bỏ qua ý nghĩa của tên gọi, cũng như của danh hiệu này.  Từ  làm sạch  được dùng ở tiếp thì tiếp diễn, nó chứa đựng ý tưởng về sự thanh tẩy xảy ra dần dần ngày qua ngày, chứ không phải về sự làm sạch một lần đủ cả.  Giăng không nói rằng các tín hữu sẽ hoàn toàn không mắc phải tội lỗi nữa (c.9-10), mà là khi họ “đi trong sự sáng (tức là sống gần gũi với Đức Chúa Trời) thì tội lỗi họ được tẩy sạch.  Ngay cả những vị thánh vĩ đại nhất cũng cần sự thanh tẩy.  Sự tẩy sạch có được nhờ sự chết chuộc tội của Chúa Giê-xu   huyết  không có nghĩa là đời sống đã được giải thoát khỏi xác thịt như người ta thường tuyên bố, mà có nghĩa là sự sống được sinh ra trong sự chết. 

(IGi 1:8-9)  Sai lầm lần thứ hai  8  Giăng trình bày sai lầm thứ hai một cách đơn giản:   bằng chúng ta nói mình không tội chi hết  (đây là một câu không thông dụng, được tìm thấy ở những chỗ khác như  Gi 9:41  15:22,24  19:11 ).  “Có tội” không chỉ có nghĩa là “phạm tội”  nó đề cập đến nguyên tắc bên trong mà những hành động tội lỗi chỉ là những biểu lộ bên ngoài của nó.  Tội lỗi tồn tại dai dẳng.  Tội lỗi đeo bám lấy tội nhân.  Lời tuyên bố khẳng định được nhấn mạnh bằng câu phủ định sau đây,  lẽ thật không trong chúng ta  (cũng như những câu đi trước, và những câu tiếp theo sau).  Khi chúng ta nói mình không có tội tức là  chúng ta tự lừa dối mình  (rõ ràng là chúng ta không lừa dối ai khác!)   lẽ thật không trong chúng ta.   Chân lý được đánh giá là năng động, nó có thể chiếm ngự trong lòng người yêu mến chân lý.  Nhưng việc nói một điều sai lầm như chúng ta không có tội, sẽ khiến cho chân lý không thể tồn tại trong lòng chúng ta.  Những thuyết nguỵ biện ngày nay tuyên bố rằng tội lỗi là một căn bệnh hay một nhược điểm, một cái gì đó do di truyền hay môi sinh gây ra, do tình trạng nghèo túng hay những điều tương tự như thế  dần dần người ta xem tội lỗi như số phận của mình, chứ không phải là lỗi lầm của họ.  Những người như thế đang tự dối mình.   9  Trái lại: chúng ta  xưng tội mình  (dịch sát nghĩa thì câu này là: chúng ta xưng  các tội  mình).  Ở đây số nhiều rất có ý nghĩa: chúng ta xưng ra những tội cụ thể chứ không chỉ xưng là chúng ta có phạm tội mà thôi.  Và vì Đức Chúa Trời vốn  thành tín công bình  ( Phu 32:4  Mi 7:18-20  Ro 3:25 ), nên Ngài tha thứ cho ta.  Chúng ta có thể hoàn toàn tin cậy nơi Ngài.  Ở đây không nói gì đến phương cách Ngài sẽ  làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác,  nhưng câu 7 vẫn được gợi nhớ ở đây.  Chính huyết Chúa Giê-xu làm sạch tội lỗi chúng ta.  Không điều gì khác có thể xóa đi những tì vết của chúng ta.

(IGi 1:10)   Sai lầm thứ ba   Giả định tiếp theo chính là  mình chẳng từng phạm tội.   Tất cả những cách giải quyết của Đức Chúa Trời đối với loài người đều dựa trên cơ sở họ là những tội nhân cần sự cứu rỗi (đối chiếu  3:23 ).  Ai phủ nhận việc mình từng phạm tội là đồng nghĩa với việc cho  Ngài kẻ nói dối.   Chuyển thành thể phủ nhận thì câu này có nghĩa là  lời Ngài không trong chúng ta.   Ở nhiều phần của Thánh Kinh “lời (Chúa)” có đặc tính năng động.  Nó tác động đến chủ đích của Đức Chúa Trời (đối chiếu  Es 55:11 ).  Vì vậy những ai phủ nhận mình là tội nhân giải thích rằng Đức Chúa Trời là một kẻ nói dối, và qua đó, họ họ chứng tỏ rằng lời có hiệu lực của Đức Chúa Trời không ở trong họ.

(IGi 2:1-2) làm nguôi cơn giận đối với tội lỗi  1  Giăng thường gọi những người nhận thư ông là “con cái”  ở đây Giăng dùng một từ giảm nhẹ để bày tỏ sự trìu mến, “ các con cái mọn ta ” (tiếng Hi-lạp là  teknia   từ ngữ này xuất hiện 7 lần trong I Giăng và một lần, có lẽ là hai lần, trong toàn bộ phần còn lại của Kinh Thánh Tân Ước).  Ông viết  hầu cho các con khỏi phạm tội. Trước đây, Giăng từng bảo với họ rằng ông và những người ở cùng ông rao truyền rao sứ điệp này (Phúc Âm) hầu cho độc giả của ông có được thông công với ông và những người đó ( IGi 1:3 ) và nói rằng sở dĩ ông viết thư này là để niềm vui của ông được trọn vẹn (1:4 ).  Lời tuyên bố thứ ba này ăn khớp với những lời còn lại, vì tội lỗi đã cắt đứt mối thông công và hủy hoại niềm vui.  Tội lỗi và sự sống không thể hoà hợp với nhau được (3:6,9  5:18 ).  Nhưng, mặc dù Cơ Đốc nhân không sống trong tội lỗi, thì trong đời này họ cũng không bao giờ trở thành người hoàn toàn không phạm tội (1:8 ).  Càng sống gần gũi với Đức Chúa Trời bao nhiêu, lương tâm chúng ta sẽ càng nhạy bén bấy nhiêu, và chúng ta càng nhận thức được rõ hơn mình là tội nhân.  Một hậu quả nghịch lý của điều này là bây giờ chúng ta đi đến chỗ ý thức được rằng với tình trạng tội lỗi của mình, chúng ta không xứng đáng để đến gần Đức Chúa Trời vĩ đại và thánh khiết của mình.  Chúng ta cần được giúp đỡ.  Và Giăng khẳng định với chúng ta rằng chúng ta sẽ nhận được sự giúp đỡ mà chúng ta có cần.  Khi chúng ta phạm tội,  chúng ta Đấng cầu thay nơi Đức Chúa Cha  (tiếng Hi-lạp là  parakletos ).  Từ ngữ này là một thuật ngữ pháp lý  nó thường có nghĩa là một trạng sư, một người bạn biện hộ cho mình trước toà án.  “Đây là hình ảnh về một toà án của nhà vua, tại đó bị cáo cần có một người quan trọng hơn chính mình, một nhân vật mà nhà vua sẵn sàng lắng nghe, để biện hộ cho mình” ( A Commentary on the Johannine Epistles,  của J. L. Houlden, Black, 1973, trang  64).  Cách dùng từ ngữ này cho thấy các tội nhân đang lâm vào tình trạng chẳng tốt đẹp gì  họ đang sai trật với Đức Chúa Cha và cần được giải cứu.  Đấng giải cứu của họ là  Đức Chúa Giê-xu Christ, Đấng Công Bình.   Có lẽ chúng ta trông mong một “Đấng Nhân từ Thương xót” hay một Đấng tương tự như thế, nhưng Kinh Thánh Tân Ước vẫn luôn truyền dạy rằng Đức Chúa Trời tha tội theo cách công bằng.  Không phải sự tha tội né tránh luật đạo đức, mà làm cho luật ấy được trọn vẹn.

2  Chúa Cứu Thế cũng là “Đấng làm nguôi cơn giận của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi chúng ta” (theo bản AV/KJV).  Phần lớn các bản dịch hiện đại đều làm tối nghĩa câu này vì đã chọn những từ ngữ chỉ về sự cất bỏ điều lầm lỗi hay sự trừng phạt, trong khi từ ngữ này(tiếng Hi-lạp là  hilasmos) có nghĩa là cất bỏ cơn thịnh nộ (đối chiếu phần ghi chú bên lề bản NIV).  Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi vẫn luôn tồn tại (đối chiếu  Ro 1:18 ) và sự tha tội không có nghĩa là bỏ qua điều này.  Làm nguôi giận, là làm chấm dứt cơn giận, không phải là toàn bộ câu chuyện về công tác cứu rỗi của Chúa Cứu Thế, nhưng nó là một phần có thật và quan trọng của công tác này, một chân lý mà nhiều nền thần học hiện đại bỏ qua.  Và Chúa Cứu Thế đã chu cấp cách rời rộng  sự làm nguôi giận của Ngài có giúp ích việc tha thứ  tội lỗi cả thế gian.

Có những người chống lại ý niệm về sự làm nguôi giận trên cơ sở cho rằng điều này có nghĩa là đặt Chúa Giê-xu ở vị trí đối địch với Đức Chúa Cha.  Nhưng dĩ nhiên, sự việc không phải như thế.  Trong cách thức cứu rỗi được thực hiện cũng như trong mọi vấn đề khác, Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con luôn thống nhất với nhau. Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đối với tất cả những xấu xa gian ác vẫn tồn tại, và nếu muốn cho tội nhân được tha thứ phải có một việc gì đó được thực hiện (để đền bù) để thay thế cho điều này.  Ơ một phương diện, sự tha tội của Đức Chúa Trời đã tác động đến cơn giận của Ngài đối với tội lỗi ( Thi 78:38 ), và ở một khía cạnh khác, công tác chuộc tội của Chúa Cứu Thế đã tác động đến cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời chống lại điều xấu xa gian ác.  Cả Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con đều hiểu rõ tội lỗi là nghiêm trọng, và trong công tác chuộc tội của mình, Chúa Giê-xu đã làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời ( He 10:7)

(IGi 2:3-6) Sự vâng lời  3  Bây giờ là một trắc nghiệm nhờ đó chúng ta có thể biết, dù đã có những thất bại, chúng ta có còn được ở trong mối quan hệ phải lẽ với Đức Chúa Trời hay không, và xem thử  chúng ta giữ các điều răn Ngài  hay không (được nhắc lại trong c.4  IGi 3:22,24  5:3  đối chiếu  5:2 ).  Nếu chúng ta thật sự  biết  Đức Chúa Trời, điều này sẽ tác dụng mạnh mẽ đến đời sống hằng ngày của chúng ta.  Sự hiểu biết là một chủ đề quan trọng trong bức thư này, động từ “biết” (tiếng Hi lạp là  ginơskơ ) xuất hiện hai mươi lăm lần (và  oida  là một động từ khác cũng có nghĩa là “biết”, được xuất hiện mười lăm lần).  Sự hiểu biết về Đức Chúa Trời không phải là một khải tượng thần bí nào đó hay là một sự hiểu thấu sự vật bằng trí khôn  mà nó được thể hiện khi  chúng ta giữ các điều răn của Ngài.   Sự vâng lời thì không có gì ngoạn mục, nhưng nó là cơ sở cho mọi việc làm đúng đắn của Cơ Đốc nhân nhằm phục vụ Đức Chúa Trời.   4  Giăng nói thẳng rằng ai tự xưng mình có sự hiểu biết này   không giữ điều răn Ngài người nói dối.   Để nhấn mạnh điều này, ông nói thêm rằng  lẽ thật quyết không trong người.

5  Trái lại,  nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì lòng kính mến Đức Chúa Trời thật trọn vẹn trong người ấy.   Nói như thế không có nghĩa là Cơ Đốc giáo là một hình thức của luật pháp chủ nghĩa.  Nó có nghĩa là Đức Chúa Trời đã tự bày tỏ mình ra (mặc khải) trong Chúa Cứu Thế, là Ngôi Lời của Ngài (1:1  Gi 1:1), và có nghĩa là sự đến của Chúa Cứu Thế là một thách thức cho toàn bộ cách sống của chúng ta.  Chúng ta được thách thức phải từ bỏ mọi sự mưu cầu theo ý riêng (bản ngã) và vác lấy thập tự giá của mình  chúng ta không thể làm ít hơn thế.  Chúng ta cho rằng Giăng sẽ đề cập một điều gì đó về việc người vâng lời thì có lẽ thật của Đức Chúa Trời trong mình.  Nhưng thay vào đó, chúng ta nhận ra rằng  tình yêu của Đức Chúa Trời  ở trong người ấy, nhưng không chỉ ở trong người ấy, mà còn được “nên trọn vẹn” trong người ấy nữa.   Lòng kính mến  hay tình yêu (tiếng Hi-lạp là  agape) được nhấn mạnh xuyên suốt bức thư này.  Nó xuất hiện mười tám lần, nhiều hơn bất cứ sách nào khác của Tân Ước (kế đến là ICô-rinh-tô, mười bốn lần).  Trong một sách ngắn như thế, điều này thật rất ý nghĩa.  Tình yêu được thể hiện chính trong sự phó mình của Đấng Christ theo ý muốn Đức Chúa Trời ( IGi 4:10 ), nhưng từ ngữ này còn có nghĩa là cách đáp ứng của con người với những gì Đức Chúa Trời đã làm, có lẽ cả hai nghĩa đều được đề cập ở đây.  Tình yêu được thể hiện qua sự vâng lời, vì tình yêu khiến chúng ta muốn làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời.

Ở phần cuối của câu này, Giăng giới thiệu một ý niệm mới: chúng ta biết mình   trong Ngài  (trong Đức Chúa Trời? hay trong Chúa Cứu Thế? Có lẽ ở điểm này, Giăng không nêu ra sự khác biệt lớn nào giữa hai Ngôi).  Ông từng đề cập về việc được thông công với Ngài (1:3), bước đi trong sự sáng (1:7), và nhận biết Ngài (2:3), nhưng chúng ta không nên xem đây như những ý niệm quá nhiều khác biệt và không liên hệ gì với nhau.  Nếu chúng ta   trong Ngài,  thì chúng ta được thông công với Ngài, chúng ta biết Ngài và chúng ta bước đi trong sự sáng.   6  Nếu chúng ta “làm theo như chính Chúa Giê-xu đã làm”, thì có thể tin chắc rằng mình đã có tất cả những điều này.  Bản Hi-lạp dùng là “ chính Ngài đã làm , nhưng có lẽ bản NIV đã dùng đúng khi viết “chính Chúa Giê-xu đã làm”.

3. ĐIỀU RĂN MỚI (IGi 2:7-17)

(IGi 2:7-11)   Yêu thương ghen ghét    7-8   Hỡi kẻ rất yêu dấu  (tiếng Hi-lạp là  agapetoi,  có nghĩa là “được yêu”), một thành ngữ xuất hiện 6 lần trong bức thư này, rất thích hợp với cách tác giả nhấn mạnh đến tình yêu.  Giăng không nói rõ  điều răn  mà ông muốn nói ở đây là gì, nhưng chúng ta có thể quả quyết rằng ông đang nói đến điều răn về sự yêu thương (đối chiếu  4:21    Gi 15:12 ).  Đây không phải là điều hoang đường, nhưng là  lời anh em đã nghe.   Vì là nền tảng của nếp sống Cơ đốc, nên điều răn này đã được ban truyền từ lúc ban đầu.  Tuy nhiên, điều răn này vẫn luôn mới mẻ, và vì thế nó là  điều răn mới  (đối chiếu  13:34 ).  Bây giờ điều răn cũ đã mang lại sự thúc bách mới cho những người mà Chúa Cứu Thế đã chết thay.

Chúa Cứu Thế đã làm trọn điều răn này trước hết (điều chân thật trong Chúa), và Ngài đặt để một tình yêu giống như vậy trong lòng những người theo Ngài ( trong anh em ).  Vì thế, thái độ của chúng ta đối với người khác sẽ chứng tỏ chúng ta đang ở trong  sự tối tăm   vốn  đã tan rồi,  hay chúng ta đang ở trong  sự sáng thật  vốn  đã soi sáng.   Sống yêu thương đồng nghĩa với việc bước đi trong sự sáng, bước đi cách vững vàng, vì tình yêu sẽ giúp tấm lòng chúng ta thoát khỏi tất cả những điều có thể làm cho chúng ta vấp ngã.  Tình yêu và sự sáng đi đôi với nhau.   9-11  Nếu ai  ghét anh em mình,  người đó đang đi sai đường (dù người đó nói mình ở trong sự sáng đi chăng nữa), là con đường dẫn đến sự hư mất vì sự ghen ghét làm mù mắt người ấy. Sự lặp lại của cụm từ  sự tối tăm  là có lý do  chúng ta không nên xem nhẹ mối liên hệ giữa lòng ghen ghét và sự tối tăm.

(Gi 2:12-14) Gia đình đức tin Bây giờ là hai chuỗi câu phối hợp, mỗi chuỗi câu có một lời ngỏ cho cả ba hạng người, đó là  các con cái mọn, các phụ lão,  và  kẻ trẻ tuổi.   Người ta đã đầu tư khá nhiều công sức vào việc nên hiểu các thuật ngữ  này như thế nào và vào việc thay đổi thì của cụm từ “ta viết” thành “ta đã viết” (c.13c và 14 của bản Hi-văn).  Có thể lý luận rằng sự hiểu biết phù hợp với các phụ lão (những người đã cao niên trong đạo), còn sự mạnh mẽ thì phù hợp với những người trẻ tuổi.  Nhưng vì tất cả các đức tính này đều phải được hiển lộ trong mỗi tín hữu, nên tốt nhất chúng ta nên xem sự phân chia này như là một thủ pháp văn chương, nhằm để nhấn mạnh.  “Toàn thể Cơ Đốc nhân (nhờ ân điển chứ không phải do bản chất) đều là con cái đã được tha thứ tội lỗi và sống phụ thuộc vào Cha trên trời, người trẻ tuổi được mạnh mẽ về sức lực, những phụ lão thì có những từng trải về Đức Chúa Trời” (The Johannine Epistles  - Hodder, 1946, của C. H. Dodd, trang 38-39).  Độc giả của Giăng đã nhận được sự tha tội, có sự hiểu biết về Đức Chúa Trời, có Lời Đức Chúa Trời trong lòng, và chiến thắng ma quỉ.

(Gi 2:15-17) Lòng yêu thế gian  15  Giăng nhấn mạnh từ  thế gian  bằng cách dùng nó ba lần trong câu này và thêm ba lần nữa trong hai câu tiếp theo.  Đây là một ý niệm quan trọng (trong bức thư này, ông dùng từ ngữ này đến hai mươi ba lần).  Ông nói  chớ yêu thế gian  và ở đây có một số người cho rằng điều này mâu thuẫn với câu “Đức Chúa Trời quá yêu thế gian” (Gi 3:16).  Nhưng phân đoạn Kinh Thánh đó nói về tình yêu Đức Chúa Trời dành cho tất cả mọi người, trong khi câu này liên quan đến việc một người để lòng hướng về những điều thuộc về thế gian.  Giăng nêu ra hai điểm: thứ nhất, lòng yêu thế gian trong câu này hoàn toàn trái ngược tình yêu dành cho Đức Chúa Cha (đối chiếu  Gia 4:4 ), và thứ hai là dù sao thì thế gian và mọi vật ở trong đó đều là tạm thời.

16  “Những dục vọng của con người tội lỗi” (nguyên văn là “ sự tham của xác thịt ) chỉ về sự thoả mãn các tham muốn xác thịt của chúng ta.   Sự tham của mắt  là sự ham muốn mãnh liệt những gì mình thấy, đối với hình thức bên ngoài của sự vật  đó là lòng tham do sự cạn cợt nông nổi sinh ra.  Sự kiêu ngạo về những gì mình có và làm ra (nguyên văn  sự kiêu ngạo của đời ) là sự  kiêu ngạo rỗng tuếch theo tinh thần thế gian (đối chiếu ba điều này với ba điều đã đưa Ê-va đến chỗ không vâng theo Đức Chúa Trời  Sa 3:6 ).  Không điều nào trong số này bắt nguồn từ Đức Chúa Trời ( chẳng từ Cha đến ).  Chúng đều  từ thế gian ra,  cái thế gian mà không khác gì một màn trình diễn ngắn ngủi đang đi đến chỗ huỷ diệt.   Mọi sự  chỉ về tính toàn bộ: điều xấu xa gian ác hiện diện khắp nơi trên thế gian.   17  Trái lại,  ai làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời.   Vâng lời là một phần quan trọng của sự sống đời đời.

4. CƠ ĐỐC NHÂN VÀ KẺ CHỐNG CHÚA CỨU THẾ (IGi 2:18-27)

(IGi 2:18-19) nhiều kẻ địch lại đấng Christ  18  Từ  giơ  không có mạo từ đi kèm.  Giăng nói “ giờ cuối cùng đây rồi , có thể qua điều này ông muốn nói rằng, “đây là thì giờ cuối cùng”.  Lịch sử loài người diễn tiến qua sự hé mở dần dần của các giai đoạn cho đến khi nó đạt đến đỉnh điểm, một kỷ nguyên kết thúc và một kỷ nguyên mới bắt đầu, và chúng ta nói, “mọi sự sẽ không bao giờ lặp lại như cũ”.  Giăng đang khẳng định rằng một thời điểm cuối cùng như thế đã đến.  Ông nhìn thấy chứng cứ không chỉ qua sự xuất hiện của  kẻ Chống Chúa Cứu Thế  (Antichrist), mà là của nhiều  kẻ Chống Chúa Cứu Thế   .Rõ ràng Hội Thánh đầu tiên đã nghĩ rằng nhân vật có uy quyền đại diện cho điều ác, là  kẻ Chống Chúa Cứu Thế  sẽ xuất hiện vào thời kỳ cuối cùng (đối chiếu “kẻ tội ác”,  IITe 2:3 ).  Giăng dùng từ ngữ này bốn lần (và một lần trong II Giăng), nhưng ông không quan tâm gì đến cá nhân con người tội ác sẽ xuất hiện này.  Điều ông quan tâm là độc giả của mình, và ông nhấn mạnh với họ rằng tinh thần của Antichrist hiện đã lan tràn ở khắp mọi nơi.  Tình hình ngày nay cũng tương tự như thế.

19  Những  kẻ Chống Chúa Cứu Thế  này từng là các thành viên của Hội Thánh.  Họ đã từng thuộc về tổ chức hữu hình này, nhưng Giăng nói ngay rằng  chúng vốn chẳng phải thuộc về chúng ta.   Họ hoàn toàn không phải là những thành viên của Hội Thánh.  Chắc chắn điều này hàm ý về giáo lý về “Hội Thánh vô hình”, tuy thuật ngữ đó nhiều thế kỷ sau mới xuất hiện.

(IGi 2:20-21) Sự hiểu biết lẽ thật  20 Các con đã chịu xức dầu từ nơi Đấng Thánh  là một cách khác để nói rằng tất cả đều đã nhận lãnh ân tứ của Đức Thánh Linh.   Đấng Thánh  là một thành ngữ ít thông dụng, nhưng rõ ràng là nó không dùng để chỉ gì khác ngoài Đức Thánh Linh.  Kết quả là “tất cả các con đều có sự hiểu biết”(bản NRSV  bản Hi-văn không thêm từ lẽ thật (the truth) như bản NIV  phần ghi chú bên lề “các con biết mọi điều” ít được ủng hộ).  Được Đức Thánh Linh soi sáng có nghĩa rằng trong Cơ Đốc giáo, không tồn tại nhân vật ưu tú được soi sáng để bởi đó mà mọi người có thể nương cậy vào.  Mỗi tín hữu đều có sự hiểu biết. 21  Giăng đã hoàn toàn thừa nhận lẽ thật này trước khi trình bày giáo lý trọng yếu của tà giáo mà ông chống lại.  Mặc dù chúng ta không biết chính xác các giáo sư giả đã dạy gì, nhưng rõ ràng là họ đã phủ nhận thực tế về sự nhập thể của Chúa Giê-xu.  Vào các thời kỳ đầu, có một số giáo sư giả đã chủ trương rằng Chúa Cứu Thế từ trời đã giáng xuống trên nhân vật Giê-xu lúc người chịu phép báp-tem, nhưng rồi đã lìa khỏi con người này trước khi người bị đóng đinh vào thập tự giá.  Có lẽ Giăng không bị chính những người có niềm tin này chống đối, nhưng họ đã có chủ trương tương tự như thế.

(IGi 2:22-23) Lời dối trá  22  Họ phủ nhận  Đức Chúa Giê-xu Đấng Christ,  và đây mới là điều căn bản.  Người đã mắc sai lầm tại đây, thì không còn được tin cậy ở bất cứ chỗ nào khác, người đó chính là kẻ Chống Chúa Cứu Thế –  tức kẻ  “ chối Đức Chúa Cha Đức Chúa Con .  Bằng chứng về sự hiệp một bất khả phân ly của thần tánh và nhân tánh trong Chúa Giê-xu người Na-xa-rét quá rõ ràng đến nỗi bất cứ ai không chấp nhận điều này thì về căn bản người ấy đã bị lầm lạc và phạm phải lời nói dối cơ bản.  23 Nếu không có một quan điểm đúng về Đức Chúa Con, thì chúng ta không thể có được một quan điểm đúng đắn về Đức Chúa Cha.  Nếu Chúa Giê-xu không thực sự là Con Đức Chúa Trời và là một với Đức Chúa Cha, thì tình yêu mà chúng ta thấy được bày tỏ qua đời sống và sự chết của Ngài sẽ không phải là tình yêu của Đức Chúa Trời  trong trường hợp đó điều được bày tỏ chỉ là tình yêu của một người tốt.  Chỉ khi tin nhận Chúa Cứu Thế chúng ta mới trở thành con cái Đức Chúa Trời ( Gi 1:12), vì vậy nếu chúng ta chối bỏ Ngài, chúng ta không phải là thành viên thuộc gia đình Đức Chúa Trời.  Khi đó, chúng ta không có quyền gọi Đức Chúa Trời là Cha chúng ta.

(IGi 2:24-27) trong Đức Chúa Trời  24 Điều các con đã nghe từ lúc ban đầu  hướng chúng ta trở lại với sứ điệp đơn giản của Phúc Âm.  Nếu độc giả của Giăng cứ để cho điều đó   trong  mình (động từ tiếng Hi-lạp này xuất hiện hai mươi bốn lần trong bức thư này), thì họ sẽ   trong Con trong Cha. 25 Bởi cách này, lời hứa của Đức Chúa Trời về  sự sống đời đời  được hoàn thành. 26 Những điều các giáo sư giả rao giảng có thể khiến tân tín hữu xa rời chân lý.  Đó chính là lý do mà Giăng viết bức thư này  ông không cho phép các giáo sư giả làm hư hoại đời sống của các tân tín hữu, là những người rất có ý nghĩa với ông.   27  Giăng đã từng nói về  sự xức dầu  (c.20).  Ấy là nhờ Đức Thánh Linh soi sáng trong lòng mà các tín hữu có được sự hiểu biết về các vấn đề như vậy, và họ vẫn ở trong Đức Chúa Trời.

5. CON CÁI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (IGi 2:28-3:10)

(IGi 2:28-29) Lòng tin quyết Giăng đã dùng cụm từ “các con cái bé mọn” để nhắc đến mối quan hệ gia đình (tiếng Hi-lạp là  teknia ) và khuyến giục những người đọc thư ông nên ăn ở cư xử cách nào cho xứng hợp với sự tái lâm của Chúa Cứu Thế, và để chứng tỏ rằng họ vốn  bởi Ngài sanh ra. Tín hữu không chỉ đơn giản là những người đang cố gắng sống tốt hơn.  Họ đã được đổi mới tận gốc rễ, đã được hoàn toàn tái sinh.  Thói quen làm điều lành là bằng chứng về những gì Đức Chúa Trời đã làm trong họ.

(IGi 3:1-3) Chúng ta sẽ trở nên người như thế nào  1 Sự kỳ diệu của điều đó đã khiến Giăng vô cùng kinh ngạc.  Ông nói: “Hãy xem Đức Chúa Cha đã tỏ cho chúng ta sự yêu thương dường nào, đến nỗi chúng ta được xưng là con cái Đức Chúa Trời!” Và chẳng những chúng ta được danh hiệu như thế  Giăng nói tiếp “chúng ta thật là con cái Ngài”.  Ông khiến cho chúng ta hoàn toàn không nghi ngờ gì nữa tiếng gọi của Đức Chúa Trời là một tiếng gọi có hiệu lực.  Chúng ta trở nên như điều Đức Chúa Trời đã gọi chúng ta.  Việc này tạo ra một hậu quả:  Thế gian chẳng nhận biết chúng ta.  Trong các văn phẩm của Giăng, sự không thể dung hợp giữa đường lối của thế gian và của Cơ Đốc giáo được lặp lại nhiều lần (15:18-16:4).  Không có gì đáng ngạc nhiên khi thế gian không nhận biết những người theo Chúa Cứu Thế vì  họ chẳng từng biết Ngài.   Về ngữ pháp thì từ  Ngài  đề cập Đức Chúa Cha, nhưng rõ ràng là Giăng đang đề cập đến Chúa Cứu Thế.  2 Việc Giăng nhìn nhận địa vị làm con của chúng ta hoàn toàn không làm ông mù quáng trước một thực tế là điều tốt nhất vẫn chưa đến.   Khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, sẽ thấy Ngài như vốn thật vậy.   Về ngữ pháp thì cả hai đại danh từ Ngài đều đề cập lại về Đức Chúa Trời, nhưng thông thường thì câu này nói về sự trông thấy Chúa Cứu Thế.  Tuy nhiên, có lẽ không cần quá bận tâm đến điều này, vì ai nhìn thấy Đức Chúa Con, tức là cũng nhìn thấy Đức Chúa Cha (12:45  14:9).

3  Nhận biết Đức Chúa Trời đồng nghĩa với việc được biến đổi.   Ai sự trông cậy đó nơi Ngài, thì tự mình làm nên thánh sạch.   Trong các thư tín của Giăng, đây là chỗ duy nhất mà từ  trông cậy  (hope) xuất hiện  trong bức thư này, điều quan tâm chủ yếu của ông là tình trạng hiện tại của người tín hữu hơn là niềm hy vọng tương lai của người ấy.  Nhưng phân đoạn này cho thấy Giăng ý thức rất rõ tầm quan trọng của niềm hy vọng.  Ông nói về niềm hy vọng ở “nơi”  Ngài,  (chứ không phải là “trong”  Ngài )  niềm hy vọng của người tín hữu có một nền tảng chắc chắn.  Một lần nữa, chúng ta không biết chắc chữ  Ngài  chỉ Đức Chúa Trời hay Chúa Cứu Thế  nhưng có lẽ ở đây Giăng không phân biệt rõ ràng về hai Ngôi này.  Trong trường hợp này, cả hai ngôi này được xem là một.  Ông đang trình bày cách chắc chắn luận điểm của mình rằng hy vọng của người tín hữu được đặt trên một nền tảng vững chắc, và điều này sẽ tác động đến đời sống Cơ Đốc nhân.  Nhận biết Đức Chúa Trời không đưa người ta đến chỗ tự mãn thuộc linh, mà mang lại sự thánh sạch trong đời sống.  Chính người có lòng trong sạch sẽ được nhìn thấy Đức Chúa Trời ( Mat 5:8).

(IGi 3:4) Cần phải cách ăn ngay lành  Dường như các giáo sư giả đã chủ trương rằng kiến thức (sự hiểu biết) là quan trọng hơn cả còn cách ăn ở cư xử chỉ là một vấn đề nhỏ nhặt.  Nhưng Giăng nhấn mạnh rằng tội lỗi là bằng chứng của việc không có mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời.  Ông nói  sự tội lỗi  tức là  sự trái luật pháp,  trong tiếng Hi-lạp cấu trúc này hàm ý rằng hai từ ngữ này có thể thế chỗ nhau.  Dĩ nhiên là luật pháp được nói đến ở đây là luật pháp của Đức Chúa Trời và bản chất của tội lỗi là bất chấp luật pháp của Đức Chúa Trời.  Đó chính là sự khẳng định bản thân chống lại đạo mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ, là sự ưu tiên tính ích kỷ thay vì sự phục vụ Đức Chúa Trời.  Có lẽ không phải Giăng đang đề cập đến luật pháp trong Kinh Thánh Cựu Ước, luật Torah, vì không có chỗ nào ông nhắc đến bộ luật này, và dường như ông đang viết cho dân ngoại, là những người không dễ gì hiểu được cách ám chỉ như thế.  Đúng hơn ông muốn đề cập về sự vi phạm một cách trắng trợn của Đức Chúa Trời.  Tội lỗi đặt tội nhân ở vị trí đối lập với Đức Chúa Trời.

(IGi 3:5-7)  Chúa Cứu Thế với tội lỗi không thể sự tương hợp  5 Chúa Cứu Thế đã đến để  cất tội lỗi  của chúng ta.  Ngài hoàn toàn gớm ghiếc điều ác, và  trong Ngài không tội lỗi.    6  Điều này có ảnh hưởng đến đời sống của Cơ Đốc nhân vì “ ai trong Ngài thì không phạm tội nữa ”.  Chúng ta không nên “dội nước lạnh” vào những câu như thế này  Cơ Đốc nhân không còn dính dáng gì với tội lỗi, và không bao giờ được phép tự mãn về nó, thậm chí cả những tội lỗi phạm phải do vô tình.  Nhưng chúng ta cũng phải lưu ý rằng trong Hi-văn thì hiện tại thường mang ý nghĩa tiếp diễn, và dường như điều này đã được thể hiện ở đây: “Ai cứ sống trong Ngài thì không có thói quen phạm tội” và lặp lại, còn ai cứ tiếp tục phạm tội thì chẳng từng thấy Ngài hay biết Ngài .  Giăng không đang viết về những hành động phạm tội đơn lẻ, mà viết về những thái độ đã trở thành thói quen.  Cách chúng ta sống bày tỏ nguồn mạch mà từ đó chúng ta nhận lãnh sự sống của mình. 7 Chủ trương khác đi đồng nghĩa với việc bị lừa dối.  Vấn đề không phải ở chỗ phải có tư duy đúng hay kiến thức rộng hoặc chủ trương rằng thân thể không quan trọng nên thân thể hành động thể nào cũng được miễn là tâm hồn vẫn trong sạch.  Giăng kiên quyết loại bỏ tất cả những lập luận chỉ có lý ở bên ngoài như thế.   Kẻ làm sự công bình người công bình.  Và Chúa Cứu Thế chính là chuẩn mực:  như chính mình Chúa công bình.

(IGi 3:8-10) Con cái của ma quỉ   8 Mặt còn lại của vấn đề này là  kẻ nào phạm tội thuộc về ma quỉ. Cả tình trạng “thường phạm tội” lẫn vẫn còn phạm tội” đều chỉ về việc làm của thói quen.  Giăng đang viết về xu hướng sống theo thói quen.  Ông tiếp tục nói rằng “lý do” Chúa Cứu Thế đến thế gian là  để huỷ phá công việc của ma quỉ.   Từ  huỷ phá  này không cụ thể  nó cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-xu đã đến là để tiêu diệt ma quỉ, nhưng không cho biết cách thực hiện như thế nào.  Nhưng rõ ràng là người tín hữu không được làm những công việc của ma quỉ.  Người theo Chúa Giê-xu phải sát cánh với Đấng tiêu diệt ma quỉ.

9   Sanh bởi Đức Chúa Trời  chỉ về hành động của Đức Chúa Trời.  Đời sống của người tín hữu tồn tại điều gì đó mang tính siêu nhiên.  Họ đã được tái sinh chính bằng quyền năng của Đức Chúa Trời.  Một lần nữa, chúng ta phải để cho ý nghĩa của các thì hiện tại được thể hiện một cách trọn vẹn:   Ai sanh bởi Đức Chúa Trời chẳng  (tiếp tục)  phạm tội.   Thật vậy, người ấy  không thể cứ tiếp tục phạm tội.   Giăng từng bác bỏ giáo lý về sự hoàn toàn không phạm tội ( IGi 1:8,10 ) nên chúng ta không thể giải nghĩa những từ ngữ này theo cách mâu thuẫn với giáo lý đó.  Mà chúng ta phải thấy rõ rằng tội lỗi và Cơ Đốc nhân đối lập nhau tận gốc rễ.  “Giăng đang lý luận về sự không xứng hợp của tội lỗi hơn là sự không phạm tội trong đời sống Cơ Đốc nhân” (The Letters of John, của J. R. W. Stott, TNTC - IVP, 1988, trang 131  cũng xem phần phụ chú của ông, các trang 134-140).  Nếu như một Cơ Đốc nhân phạm tội, thì đó hoàn toàn không phải là hành động thuộc tính cách của người ấy.  Nhân cơ hội này, Giăng đưa ra một lý do khiến người tín hữu không thể phạm tội:  hột giống của Đức Chúa Trời trong người.   Cách dùng hình ảnh ẩn dụ để nhấn mạnh theo cách này rất hiếm gặp (trong thư này, đây là lần xuất hiện duy nhất của từ  hột giống,  nhưng động từ được dịch ra là  sanh  thì xuất hiện đến mười lần).  Nó nhấn mạnh một thực tế rằng quyền năng của Đức Chúa Trời đang vận hành trong người tín hữu.  Từ   trong  (remains: ở lại, tồn tại) cho thấy đây không phải là chuyện ngẫu nhiên.  Đó chính là ân tứ mà Đức Chúa Trời liên tục ban cho người thuộc về Ngài.  Chúng ta có thể hiểu cụm từ  hột giống của Đức Chúa Trời  là “con cái Đức Chúa Trời”, và  trong Ngài  là “trong Đức Chúa Trời” (như cách hiểu của Moffatt).  Nhưng quan điểm này ít thích hợp, và bị Marshall, Stott và nhiều người khác chống đối.   10  Giăng đúc kết phân đoạn này bằng cách so sánh  con cái Đức Chúa Trời  với các  con cái ma quỉ.   Cách để trắc nghiệm là chúng ta có làm điều tốt và yêu thương anh em mình hay không.

6. YÊU THƯƠNG LẪN NHAU (IGi 3:11-18)

(IGi 3:11-15) Điều đối lập với tình yêu  11  Một lần nữa Giăng nhấn mạnh rằng yêu thương là điều răn thứ nhất ( từ lúc ban đầu ).  Nó chính là điều trọng yếu của sứ điệp Cơ Đốc giáo.   12  Hãy xem những gì mà sự thiếu tình yêu thương gây ra:  Ca-in kẻ thuộc về ma quỉ, đã giết em mình,  là hậu quả hợp lý của việc ông không yêu thương (Mat 5:21-22 ).  Câu trả lời của Giăng về câu hỏi   sao người giết  (em mình)  đi?  là một lời chỉ trích sắc bén về bản tính của con người sa ngã.  Đó không phải do A-bên đã làm gì xúc phạm đến Ca-in mà là cách sống  công bình  của ông đối lập với cách sống xấu xa gian ác của Ca-in.  (Đây là lần cuối cùng từ “công bình” được sử dụng trong bức thư này, từ điểm này trở đi, từ “yêu thương” xuất hiện nhiều).  Kẻ ác không thích đối diện với sự cao thượng.  Điều này thường lên án họ và họ đóng đính điều đó tại thập tự giá.  13 Do đó Giăng trình bày tiếp tục: Hỡi anh em, nếu thế gian ghen ghét anh em, thì chớ lấy làm lạ. Cơ Đốc nhân thường thấy cảm thấy khó có thể hiểu được điều này.  Khi họ hành động với những động cơ tốt đẹp nhất, với tình yêu chân thành của mình dành cho đồng bào mình, khi họ không trông mong gì cho bản thân, mà chỉ ban dâng tặng món quà vô giá là Phúc Âm, vậy mà thế gian đã không đáp lại bằng lòng tri ân, mà còn thù ghét tín hữu nữa.

14  Sự tương phản giữa tình yêu và sự ghen ghét vẫn tiếp diễn  sự sống và tình yêu đi đôi với nhau.  Giăng nói:  Chúng ta biết   việc tất cả Cơ Đốc nhân đều hiểu biết là một thực tế rất quan trọng và ông trình bày điều này nhiều lần.  Câu  chúng tađã vượt khỏi sự chết qua sự sống  (đối chiếu  Gi 5:24 ) rất ấn tượng và khác thường.  Những người không tin Chúa đang sống trong một tình trạng chỉ có thể gọi là  chết  mà thôi.  Các tín hữu thì không như vậy.  Các tín hữu đã vượt hẳn khỏi sự chết, và họ đang sống một cuộc sống đúng nghĩa.  Có một trắc nghiệm mà nhờ đó chúng ta có thể biết việc này đã xảy ra chưa, đó là  chúng ta yêu anh em mình.   Giăng tiếp tục trở lại với ý tưởng này.  Ở đây ông đã củng cố lại ý tưởng này bằng thể phủ định tương ứng:  Ai chẳng yêu thì trong sự chết  (động từ   trong  chỉ một tình trạng đang diễn tiến).  15  Điều này được giải thích rõ ràng bằng một lời tuyên bố nhấn mạnh về sự ghen ghét:  Ai ghét anh em mình kẻ giết người.   Chúa Giê-xu từng phán rằng cái nhìn đầy tham dục là phạm tội tà dâm, còn lời nói giận dữ thì vi phạm điều răn “Chớ giết người” ( Mat 5:21-22 ).  Giăng dựa theo tiêu chuẩn này để đề cập gốc rễ sâu xa của những hành động của chúng ta.  Ghen ghét là bản chất của kẻ sát nhân, và  chẳng một kẻ nào giết người sự sống đời đời trong mình  (“cất lấy mạng sống đồng nghĩa với đánh mất mạng sống”,  The Letters of John,  TNTC - IVP, 1988, của J. R. W. Stott, trang 146).  Điều này không có nghĩa là kẻ sát nhân thì không thể ăn năn và nhận được tha tội.  Điều này có nghĩa là người nào mà trong lòng họ có tư tưởng giết người, thì không sở hữu được sự sống đời đời.  Hai tình trạng này tự loại trừ lẫn nhau.

(IGi 3:16-18) Tình yêu thương điều thực tế  16  Chúng ta chỉ có thể  nhận biết lòng yêu thương  (theo nghĩa đặc biệt của Cơ Đốc giáo) là gì duy bởi những gì chúng ta nhìn thấy tại đồi Gô-gô-tha, nơi  Chúa đã chúng ta bỏ sự sống.   Vì Chúa Cứu Thế là Đấng mà nhờ Ngài các Cơ Đốc nhân được nguồn cảm hứng (sự linh cảm) đã chịu chết thay chúng ta như thế, nên đến lượt mình, chúng ta  cũng nên bỏ sự sống anh em mình vậy.   Cơ Đốc nhân cũng phải có một tình yêu thương với những phẩm chất tương tự như vậy.

17  Trên thực tế, việc từ bỏ mạng sống rất ít được đòi hỏi (ngay từ thế kỷ thứ nhất, đa số các Cơ Đốc nhân đều không được kêu gọi phải chịu chết vì đức tin của mình).  Nhưng tình yêu thì có nhiều “cách thể hiện” khác, và là điều luôn cần thiết trong đời sống hằng ngày.  Từ ngữ được dịch là  của cải đời này  (tiếng Hi Lạp là  bion   chỉ gặp ở đây và trong  IGi 2:16  của bức thư này) không thường được sử dụng theo nghĩa này, nó thường có nghĩa là “cuộc sống” hơn.  Nhưng ở đây ý nghĩa của từ này đã rõ ràng.  Từ  thấy  (tiếng Hi-lạp là  theơre ) có nghĩa mạnh hơn “một cái nhìn thoáng qua”.  Một người nhìn người anh em mình lâu đủ để xác định được hoàn cảnh của người ấy.  Nhưng anh ta  lại chặt dạ,  cụ thể hơn là thắt chặt lòng mình trước người ấy.  Người Hi-lạp quan niệm rằng bộ phận này của thân thể là nơi cư trú đặc biệt của cảm xúc, nên cách dùng từ ngữ này cho thấy đây là vấn đề liên quan đến tình cảm của người ấy.  Với người Hi-lạp nói chung, thì câu này có nghĩa là người này đang tức giận (tuy cũng có khi họ có những cảm xúc khác).  Tuy nhiên, đối với Cơ Đốc nhân, chính nhóm từ ấy chứa đựng ý niệm về sự động lòng thương xót.  Nếu có ai “tỏ ra” chẳng chút động lòng thương xót, thì điều này chứng tỏ rằng  lòng yêu mến Đức Chúa Trời  (có thể có nghĩa là tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta hoặc tình yêu của chúng ta đối với Đức Chúa Trời) không   trong người ấy.    18  Một lần nữa, chúng ta gặp cách gọi  Hỡi các con cái mọn,  khi Giăng khuyến giục họ hãy tỏ lòng yêu thương chân thành.  Tình yêu không đơn giản ở trong những gì chúng ta nói.   Việc làm  và  lẽ thật  có giá trị hơn  lời nói lưỡi  nhiều.

7. LÒNG TIN QUYẾT (IGi 3:19-24)

Giăng trấn an những người có lương tâm nhạy cảm.  Người tín hữu sống trước mặt Đức Chúa Trời không phải bằng một thái độ lo lắng run rẩy, nhưng bằng thái độ tin quyết chắc chắn.

(IGi 3:19)   Một trắc nghiệm khác: đây là cách để chúng ta biết rõ  mình thuộc về lẽ thật  (tiếng Hi-lạp: “chúng ta là của lẽ thật”), đây là chỗ duy nhất trong thư mà thành ngữ này được áp dụng cho con người (tuy trong  2:21  nó đã được dùng để chỉ lời lẽ).  Điều này ám chỉ về sự chân thật trọn vẹn và tuyệt đối, và chỉ về lẽ thật của Phúc Âm.  Biết mình thuộc về lẽ thật tức là nhận được sự bảo đảm.   20   Nếu lòng mình cáo trách mình,  đây không phải là điều quan trọng.  Sự lên án hay chấp thuận của Đức Chúa Trời điều quan trọng, vì Ngài  biết cả mọi sự.   Ngài biết rõ động cơ của chúng ta và cả những việc làm yêu thương vì thế có lẽ chúng ta sẽ không dám kể công (Mat 25:37-40 ).  Ngài biết là chúng ta thuộc về Ngài, và đó chính là điều quan trọng, chứ không phải là những ray rứt của chúng ta.  (Một cách lý giải ít có khả năng xảy ra hơn, đó là Đức Chúa Trời, Đấng Thẩm Phán, biết rõ mọi hành vi sai trái của chúng ta và sẽ trừng phạt chúng ta).   21  Chúng ta không có lý do gì để cho rằng những lời hứa của Đức Chúa Trời là không chắc chắn. Chúng ta có thể nương cậy nơi Đức Chúa Trời và “bày tỏ lòng tin quyết” ( lòng rất dạn ) trước mặt Ngài.  Vì đã thuộc về Ngài nên chúng ta không có gì phải sợ hãi.  22  Thoạt nhìn, không phải việc chúng ta được nhậm lời cầu nguyện xảy ra khi lòng chúng ta không bị cáo trách.  Nhưng “lòng tin chắc” là điều thông thường cho cả hai, và lời cầu nguyện được nhậm dĩ nhiên sẽ làm tăng thêm lòng tin quyết của chúng ta.  Cả  vâng giữ  lẫn  làm  đều được dùng ở thì mang tính tiếp diễn.  Năng quyền trong lời cầu nguyện không đến từ những lần nổ lực vâng lời cách ngẫu hứng, mà là từ thói quen sống vâng lời.  Hơn nữa, người tin Chúa thường làm  những điều đẹp ý Ngài.   Điều này vượt ra ngoài việc vâng giữ điều răn.  Như trong Bài Giảng Trên Núi, việc làm theo tinh thần của điều răn là điều đáng phải lưu tâm  chỉ giữ luật pháp theo văn tự thôi thì chưa đủ.

23   Điều răn của Ngài  được định rõ bằng đức tin và tình yêu.  Có lẽ số ít ở đây chỉ ra rằng “chỉ có một điều cần mà thôi”  chứ không phải là một danh sách gồm rất nhiều yêu cầu nặng nề.  Hơn nữa, đức tin và tình yêu được gộp chung trong một điều răn  chúng đều thuộc về nhau.  Đức tin là  tin đến danh Con Ngài, tức Đức Chúa Giê-xu Christ,  ở đây chữ  danh  thay thế cho cả thân vị Ngài  đó chính là đức tin nơi tất cả những gì về Chúa Giê-xu, và tất cả những gì Ngài đã làm.  Phần thứ hai của điều răn này là  phải yêu mến lẫn nhau.   Tình yêu và trách nhiệm hỗ tương của các tín hữu là hai trong số các chủ đề lớn của bức thư này.   Như Ngài đã truyền dạy  củng cố thêm cho  điều răn của Ngài  và nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời không dửng dưng với cách sống của chúng ta.  Thì của động từ  tin  (thời bất định) chỉ về hành động dứt khoát của đức tin, trong khi động từ  yêu  lại ở thì hiện tại, thể hiện một thái độ đang tiếp diễn.   24  Sau danh từ số ít ở câu 23, chúng ta gặp lại với danh từ số nhiều:  các điều răn Ngài.   Tất cả những ai vâng giữ chúng thì   trong Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời trong người ấy.   Sự ở trong song phương này là một chủ đề đặc trưng khác của bức thư này.  Làm thế nào để chúng ta biết đều này đã xảy ra?  Nhờ Đức Thánh Linh Ngài đã ban cho chúng ta.   Thánh Linh đã được ban cho (không phải do nổ lực mà được), và Đức Thánh Linh ấn chứng cho chúng ta.

8. THẦN LINH CỦA CHÂN LÝ VÀ LINH CỦA SỰ GIẢ MẠO (IGi 4:1-6)

Làm thế nào để các tín hữu có thể phân biệt được những thần được linh cảm thật sự với các thần tuyên bố cách giả mạo rằng Thánh Linh đang ở trong họ? Đây không phải là vấn đề mới, vì các tiên tri giả đã có từ thời Cựu Ước, và một lần nữa, Phao-lô đã phải đưa ra một nguyên tắc cho biết lúc nào về một người đang nói bởi “Thánh Linh của Đức Chúa Trời” (ICo 12:3).

(Gi 1:1)  Nhiều tiên tri giả đã hiện ra trong thiên hạ  (Mat 7:15  24:11,24  Cong 13:6 ).  Các tôn giáo thời cổ đại thường tuyên bố rằng mình có nhiều người được thần linh chiếm hữu (spirit-possessed), nhưng Giăng khuyến cáo rằng không phải tất cả những người tuyên bố nói theo sự linh cảm đều được xem là đã thật sự được linh cảm.  Các tín hữu không nên chấp nhận mọi lời tuyên bố về sự linh cảm, mà phải  thử cho biết các thần.   Câu  nhiều tiên tri giả đã hiện ra  (bản tiếng Anh dịch là go out: đi ra) có thể cho thấy rõ rằng họ đã từng là các thành viên của Hội Thánh nhưng đã rời bỏ Hội Thánh (IGi 2:19).   2   Thái độ đối với Chúa Cứu Thế Giê-xu là cách để trắc nghiệm.  Nếu quả thật  Linh của Đức Chúa Trời  ở trong người tự xưng là được linh cảm, thì người ấy sẽ khẳng định rằng  Đức Chúa Giê-xu Christ lấy xác thịt ra đời.   Chính xác hơn, người ấy “thừa nhận Chúa Giê-xu chính là Đấng Cứu Thế đã lấy xác thịt ra đời”  con người Giê-xu cũng chính là Chúa Cứu Thế từ chính Đức Chúa Trời đến .   Lấy xác thịt  nhấn mạnh về sự thật của sự nhập thể  Chúa Giê-xu chẳng những mặc lấy nhân tánh mà còn cả  xác thịt  (thân xác con người) nữa (đối chiếu  Gi 1:14  IIGi 1:7 ).  Linh nào xưng nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu như thế thì đến từ   Đức Chúa Trời.   Đây không phải là một khám phá của loài người, nhưng là một sự mặc khải của Đức Chúa Trời.   3   Nhưng còn có một thần (linh)  không xưng Đức Chúa Giê-xu,  tức không thừa nhận “Chúa Giê-xu lấy xác thịt mà ra đời” (c.2)  phủ nhận sự nhập thể cũng cũng chính là phủ nhận Chúa Giê-xu.  Thần Linh mà không xưng nhận điều này thì  chẳng phải bởi Đức Chúa Trời.   Thật ra, đó là  thần của kẻ Chống Lại Đấng Christ  (Antichrist).  Giăng đã từng cho biết là có nhiều antichrist đang tồn tại ( IGi 2:18 ) và đã phần nào định nghĩa: “đó là kẻ chối Đức Chúa Trời và Đức Chúa Con” (2:22 ).  Ở đây cũng có tư tưởng tương tự: điểm cơ bản của  kẻ Chống Lại Đấng Christ  là không thừa nhận Chúa Giê-xu là Chúa Cứu Thế “lấy xác thịt mà ra đời” (c.2).  Dường như độc giả của Giăng cho rằng trong tương lai sẽ có Antichrist xuất hiện, nhưng Giăng cho biết đó là thực tế đang xảy ra  cụm từ  ngay hiện nay  , đã và cụm từ   trong thế gian rồi  của ông đã kết hợp nhằm nhấn mạnh thời hiện tại. 

(Gi 4:4)  Nhưng các Đốc nhân không cần phải sợ hãi.  Từ  các con  được nhấn mạnh, các tín hữu được đặt ở vị trí tương phản rõ rệt với những kẻ Chống Lại Đấng Christ.  Các tín hữu  thuộc về Đức Chúa Trời  và họ đã  thắng.   Bức thư ngắn ngủi này đã dùng động từ “thắng” đến sáu lần, nhiều hơn bất kỳ sách nào khác của Kinh Thánh Tân Ước ngoại trừ sách Khải Huyền (mười bảy lần)  âm hiệu chiến thắng nổi bật một cách bất thường.  Ở đây động từ đựơc dùng ở thể hoàn thành, chứng tỏ chiến thắng vượt này không phải xảy ra trong một giai đoạn ngắn ngủi mà nó mang tính quyết định và vẫn đang tiếp diễn.  Sở dĩ được như thế là vì  Đấng trong các con lớn hơn kẻ trong thế gian.   Từ  Đấng  ở phần đầu chỉ về một trong ba ngôi của Đức Chúa Trời  chúng ta chỉ có thể nói được đó là một Ngôi của Đức Chúa Trời.  Còn từ  kẻ  ở phần sau không thể là ai khác ngoài ma quỉ.  Giăng đang trình bày rằng quyền năng của Đức Chúa Trời vĩ đại hơn của ma quỉ rất nhiều và những ai có Đức Chúa Trời ngự trong lòng chắc chắn sẽ thắng được điều ác.  5   Một lần nữa, Giăng dùng cách lặp lại từ ngữ để nhấn mạnh   thế gian  là từ cuối cùng trong câu 4 và nó đã xuất hiện ba lần trong câu này.  Những kẻ chống lại Ngài đã liên kết với chính  thế gian  này: họ  thuộc về thế gian, nói  theo “quan điểm” của thế gian, và thế gian nhóm nhau lại để  nghe họ nói

(Gi 4:6) Các Cơ Đốc nhân không nên ngạc nhiên nếu những kẻ như thế không chịu  lắng nghe  mình.  Họ vốn thuộc về phía sai lầm.  Nhưng thật sự các Cơ Đốc nhân cũng có những người nghe mình.  Từ  chúng ta  được dùng để nhấn mạnh, và tạo ra một sự tương phản rõ rệt giữa người  thuộc về Đức Chúa Trời  và những người còn lại. Giữa những người nghe cũng có sự tương phản  người  thuộc về Đức Chúa Trời  thì đối lập với những kẻ  chẳng hề thuộc về Đức Chúa Trời.   Vì đây là cách để nhận biết  thần của lẽ thật  và  thần của sự giả dối  (Brown dịch là “linh của sự lừa dối”), nên kết luận rằng các thần linh này đang sống trong những người đã được đề cập trước đó là hoàn toàn hợp lý.

9. ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ SỰ YÊU THƯƠNG (IGi 4:7-21)

Theo Giăng, tình yêu rất quan trọng nên ông nhấn mạnh về nó xuyên suốt bức thư này.  Ở đây, ông thể hiện điều này bằng cách tập trung vào sự kiện tình yêu bắt nguồn từ Đức Chúa Trời, Đấng vốn là tình yêu.

(IGi 4:7-12)   Yêu mến lẫn nhau  7  Giăng nhấn mạnh ý  chúng ta hãy yêu mến lẫn nhau  bằng một lời nhắc nhở rằng  sự yêu thương đến từ Đức Chúa Trời.   Theo cách hiểu của Cơ Đốc nhân, tình yêu vốn không phải là một thành quả do con người tạo ra  nó bắt nguồn từ Đức Chúa Trời, là một món quà mà Đức Chúa Trời ban cho.  Nếu ai yêu theo ý nghĩa này, thì điều đó chứng tỏ rằng người ấy  sanh từ Đức Chúa Trời nhìn biết Đức Chúa Trời.    8  Thể phủ định của động từ đã nhấn mạnh luận điểm:  Ai chẳng yêu thì không nhìn biết Đức Chúa Trời.   Lý do của điều này nằm ở một trong những câu tuyên bố quan trọng nhất trong cả Kinh Thánh:  Đức Chúa Trời sự yêu thương.   Ý nghĩa của câu này mạnh hơn nhiều so với câu “Đức Chúa Trời đang bày tỏ lòng yêu thương” hay đôi khi Đức Chúa Trời bày tỏ lòng yêu thương.  Điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời yêu, không phải vì Ngài tìm được những đối tượng xứng đáng với tình yêu của Ngài, mà là vì bản chất của Ngài chính là yêu thương.  Tình yêu Ngài dành cho chúng ta không tuỳ thuộc vào việc chúng ta là ai, mà là vào Ngài là Đấng nào.  Ngài yêu chúng ta bởi lẽ Ngài là vốn là Đấng như thế, vì Ngài là tình yêu.   9  Loại tình yêu này không phải có thể tìm được ở khắp nơi, hay ở một nơi nào đó như một thành tựu của con người.  Chúng ta biết được tình yêu này là nhờ Đức Chúa Trời  đã bày tỏ  nó ra khi Ngài  sai Con một Ngài đến thế gian.   Chủ đích của Ngài khi làm việc này là để ban sự sống cho chúng ta.  Duy chỉ qua Ngài, chúng ta mới kinh nghiệm được sự sống đầy đủ ý nghĩa.

10  Người ta chỉ có thể nhận biết được ý nghĩa thật sự của tình yêu và nguồn mạch thật sự của sự sống ở tại thập tự giá.   Ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời.   Chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được tình yêu này là gì nếu chúng ta bắt đầu từ phía loài người (từ  chúng ta  được dùng với nghĩa nhấn mạnh, chứ không phải nghĩa  chúng ta  đã yêu).  Chúng ta nhìn biết tình yêu này qua việc Đức Chúa Trời  đã yêu chúng ta sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta.   Muốn hiểu được yêu có nghĩa gì, chúng ta phải nhận biết chính mình là tội nhân, và do đó là đối tượng của cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta lại là những người mà Chúa Cứu Thế đã chết thế cho.  “Không tìm được một loại tương phản nào giữa tình yêu và sự chuộc tội, vị sứ đồ này không có cách nào khác để truyền đạt ý niệm tình yêu ngoại trừ cach trình bày thẳng vào sự chuộc tội” ( The Death of Christ  của J. Denney, - Hodder and Stoughton, 1905, trang 276).  Một trong những nghịch lý lừng lẫy của Kinh Thánh Tân Ước đó chính là bởi chính tình yêu của Đức Chúa Trời đã làm nguôi cơn thịnh nộ của Ngài trên chúng ta, và thật chính qua việc Ngài nguôi giáng cơn thịnh nộ mà chúng ta hiểu được tình yêu thật sự là gì.   11  Việc này đưa đến nhiều kết quả.  Khi chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời yêu chúng ta như vậy,  chúng ta  (từ ngữ này được nhấn mạnh)  cũng phải yêu nhau.   Nguồn mạch chính của tình yêu chúng ta dành cho người khác chính là tình yêu mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ ra cho chúng ta qua công tác chuộc tội của Chúa Cứu Thế.  Cơ Đốc nhân phải bày tỏ lòng yêu thương không phải vì tất cả những người họ gặp đều hấp dẫn, đáng yêu, nhưng vì tình yêu của Đức Chúa Trời đã biến đổi họ và khiến họ yêu thương người khác.  Lúc bấy giờ, họ phải yêu thương không phải vì sự hấp dẫn của người khác thúc đẩy tình yêu của họ, nhưng vì là Cơ Đốc nhân, bản chất của họ là yêu thương.   12  Việc yêu thương người khác là hết sức quan trọng vì rõ ràng không phải tình yêu đối với Đức Chúa Trời mà là chính tình yêu này mới chứng tỏ được rằng  Ngài trong chúng ta.   Việc  chưa hề ai thấy Đức Chúa Trời  (đối chiếu  Gi 1:18 ) không phủ nhận được những khải tượng trong Kinh Thánh Cựu Ước (Xu 24:11 ).  Nhưng những khải tượng đó chỉ mang tính phiến diện và chưa trọn vẹn.  Chính trong Chúa Cứu Thế chúng ta nhìn thấy Đức Chúa Trời.  Và khi chúng ta yêu thương, thì Đức Chúa Trời sống trong chúng ta.  Thật vậy,  sự yêu mến Ngài được trọn vẹn  (tức là đạt được mục đích của nó)  trong chúng ta,  là một lời tuyên bố làm chúng ta sửng sốt.

(IGi 4:13-16)  Sống trong sự yêu thương  13  Giăng đã từng nói với chúng ta rằng “chính bởi Thánh Linh” mà chúng ta biết “Ngài ở trong chúng ta” (IGi 3:24 ).  Bây giờ ông trình bày thêm ý tưởng  chúng ta sống trong Ngài. Trong bức thư này cả hai vấn đề này đều quan trọng và đều được nhấn mạnh. 14 Như trong  1:2  tác giả nhắc đến những điều  chúng tôi đã thấy.   Tư tưởng làm chứng hiện ra rõ ràng hơn khi chúng ta tiến đến phần kết thúc bức thư.  Động từ “làm chứng” xuấn hiện ở  1:2,  ở đây, và bốn lần nữa trong chương 5, trong khi danh từ “làm chứng” có sáu lần xuất hiện trong chương 5.  Nội dung của lời chứng chính là Đức Chúa Trời  đã sai Đức Chúa Con đặng làm Cứu Chúa thế gian  (một thành ngữ chỉ tìm thấy ở đây và trong  Gi 4:42  của Kinh Thánh Tân Ước).  Từ  Cứu Chúa  bao hàm mọi phương diện của công việc mà Chúa Cứu Thế đã làm cho tội nhân và từ  thế gian  chỉ về toàn thể nhân loại.  Đây là một sự cứu rỗi vĩ đại.   15  Nhưng không phải tất cả mọi người đều được cứu.  Hành động chuộc tội của Chúa Cứu Thế dành cho cả thế gian, nhưng một người muốn kinh nghiệm sự cứu rỗi đó thì phải xưng nhận  Đức Chúa Giê-xu Con Đức Chúa Trời.   Theo sau đó là Đức Chúa Trời ở trong người tin Ngài và người ấy ở trong Ngài.

16  Chúng ta không thấy chỗ nào khác viết về việc “nhận biết” và “tin tưởng” tình yêu (bản NIV đã dịch từ  pepisteukamen  là  nương cậy,  nhưng nghĩa của nó là “chúng ta tin”).  Chúng ta hoàn toàn có thể nói rằng tư tưởng “nhận biết” tình yêu đã được trình bày, như trong câu 10, nhưng “tin sự yêu thương của Đức Chúa Trời đối với chúng ta”, lại là một thành ngữ hết sức khác thường.  Tình yêu của Đức Chúa Trời chẳng bao giờ bày tỏ ra theo cách mà những người có tư tưởng thế gian phải nhận ra nó.  Chính những người có đức tin và chỉ những người có đức tin mới nhận biết được nó mà thôi.  Giăng nhắc lại tư tưởng lớn của câu 8,  Đức Chúa Trời tức sự yêu thương,  rồi ông rút ra câu kết luận rằng sống trong sự yêu thương tức là sống trong Đức Chúa Trời.  Yêu tội nhân không bao giờ là một thành quả của loài người và hễ nơi nào có tình yêu này thì sự chứng tỏ nơi đó Đức Chúa Trời đang hiện diện.

(IGi 4:17-21)   Sự hoàn thiện của tình yêu  17  Sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong chúng ta là cách giúp cho tình yêu thương được nên trọn vẹn trong chúng ta”(bản NRSV).  Điều này đi kèm với quan niệm về  lòng mạnh bạo  (tin quyết)  trong ngày xét đoán  và sự vững tâm trong ngày ấy là sự vững tâm tối hậu.   Chúa thể nào thì chúng ta cũng thể ấy trong thế gian này:  chúng ta là con cái Đức Chúa Cha, và Chúa Giê-xu là kiểu mẫu của chúng ta.  Thế gian không hoan nghênh Chúa Cứu Thế nên họ cũng chẳng hoan nghênh những người thuộc về Chúa Cứu Thế.  Nhưng đến ngày phán xét, Đấng Phán Xét sẽ tỏ tường mọi sự.

18  Tư tưởng về sự vững lòng được khai triển đồng thời với việc loại trừ  sự sợ hãi.   Từ ngữ này xuất hiện ba lần trong câu này và động từ tương ứng của nó xuất hiện một lần, nhưng không thấy xuất hiện ở những chỗ khác của bức thư này  ở đây “sự sợ hãi” được nhấn mạnh.  Người tín hữu không cần phải sợ hãi, vì  sự yêu thương trọn vẹn cắt bỏ sự sợ hãi.    Sợ hãi  và  yêu thương  không thể dung hợp với nhau.  Rồi Giăng luận tiếp:  sự sợ hãi  liên quan đến  hình phạt  nhưng tình yêu trọn vẹn của Đức Chúa Trời làm chúng ta yên lòng.  Tình yêu của Ngài bảo đảm rằng chúng ta được cứu rỗi, không bị hình phạt.  Nếu chúng ta sợ thì tự điều đó cho thấy rằng chúng ta chưa được  trọn vẹn trong sự yêu thương  (tình yêu trọn vẹn, đem đến cho chúng ta lòng tin quyết cả trong ngày phán xét, c.17).

19  Theo ý nghĩa đặc thù của tình yêu trong Cơ Đốc giáo, tình yêu dành cho người không xứng đáng xuất phát từ bản chất của người bày tỏ tình yêu chứ không phải từ giá trị của người được yêu,  chúng ta yêu  chỉ   Chúa đã yêu chúng ta trước.   Một số thủ bản chép rằng, “chúng ta yêu Ngài (hay Đức Chúa Trời)”, tuy nói như vậy đúng, nhưng đó không phải là ý của phân đoạn Kinh Thánh này.  Tất cả điều Giăng đang đề cập là làm sao để chúng ta có thể yêu thương, chứ không phải làm cách nào để chúng ta yêu Đức Chúa Trời.  20  Việc nói  Tôi yêu Đức Chúa Trời,  trong khi đó lại thù ghét  anh em mình  (là một anh em Cơ Đốc nhân) chứng tỏ rằng mình là  kẻ nói dối.   Tình yêu đối với Đức Chúa Trời được bày tỏ qua tình yêu dành cho con người  nếu thiếu mất điều sau thì cũng không thể có điều trước.  Giăng đã đi đến kết luận rằng kẻ nào chẳng yêu  anh em mình  thì cũng  không thể yêu Đức Chúa Trời.   Ông đã trình bày sự khác biệt giữa một anh em là người thấy được với Đức Chúa Trời là Đấng không thấy được.  Khẳng định mình có thể yêu điều không thấy được nhưng lại không yêu được điều hữu hình tương đương với việc bước vào thế giới ảo tưởng.

21  Giăng kết thúc phần này bằng cách nhắc lại cho các độc giả  điều răn  mà  chúng ta đã nhận nơi Ngài,  trong đó từ  Ngài  đề cập đến Đức Chúa Trời hoặc Chúa Cứu Thế.  Như thường lệ, Giăng đã không phân biệt rạch ròi điều này.  Ông vừa nói về điều răn yêu thương (IGi 3:23), và giờ đây nhắc lại cho chúng ta rằng yêu thương không phải điều chúng ta có quyền chọn hoặc không.  Nó là một mệnh lệnh tích cực.

10. CHIẾN THẮNG CỦA ĐỨC TIN (IGi 5:1-5)

Ý tưởng về tình yêu thương dẫn đến ý tưởng về mối liên hệ với Đức Chúa Trời, và bây giờ là ý tưởng về chiến thắng.  Tình yêu với đức tin có mối liên hệ chặt chẽ với nhau (đối chiếu  4:16), và nhờ đó người tín hữu thắng hơn thế gian.

1 Đức tin  tin Đức Chúa Giê-xu Chúa Cứu Thế,  một chân lý được nhấn mạnh xuyên suốt bức thư này, và tín hữu nào tin như vậy thì  sanh bởi Đức Chúa Trời.   Lời xưng nhận Chúa Giê-xu là Chúa Cứu Thế không phải là do sự sáng suốt của con người mang lại, mà là do một công việc mà Đức Chúa Trời đã làm trong lòng người xưng nhận điều đó (đối chiếu  ICo 12:3).  Và công tác này của Đức Chúa Trời làm sản sinh trong người tín hữu tình yêu thương dành cho những tín hữu khác, vì ai yêu kính  Cha  thì cũng có nghĩa  yêu cả con cái của người ấy nữa.    2   Giăng tiếp tục nhấn mạnh rằng tình yêu dành cho Đức Chúa Trời và tình yêu dành cho người khác có liên quan mật thiết với nhau.  Thường thì ông nói rằng tình yêu đối với Đức Chúa Trời được bày tỏ qua tình yêu đối với người khác, nhưng ở đây, ông đảo ngược tiến trình này: chúng ta biết  mình yêu con cái Đức Chúa Trời  khi chúng ta yêu Đức Chúa Trời. Lòng yêu Đức Chúa Trời và lòng yêu người đi đôi với nhau và hoà lại với nhau.  Sự chuyển biến ý tưởng mang tính thực tế của Giăng không chỉ dừng lại ở tư tưởng yêu mến Đức Chúa Trời mà còn bao gồm cả việc  giữ vẹn các điều răn Ngài.   Tình yêu chân chính được thể hiện qua sự quan tâm làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời.   3   Thật vậy Giăng có thể nói rằng  yêu mến Đức Chúa Trời  tức là  vâng giữ các điều răn Ngài.   Giăng không phải là người theo chủ nghĩa hợp pháp, nhưng ông nhìn nhận rằng tình yêu rất bận rộn, nó thể hiện ước muốn tự nhiên của mình trong việc làm những điều đẹp lòng người mình yêu, và chúng ta có thể tìm thấy những điều này ở đâu rõ hơn trong  các điều răn Ngài?  Khi Giăng nói thêm rằng  điều răn Ngài chẳng phải nặng nề  (đối chiếu  Mat 11:30 ), thì ý tưởng này không có nghĩa là việc thực hiện những bổn phận của chúng ta đối với Đức Chúa Trời là điều quá dễ dàng.  Trái lại, ý ông muốn nói rằng các điều răn của Đức Chúa Trời vốn không phải là một gánh nặng tẻ nhạt.  Có thể chúng là những điều khó thực hiện nhưng lại là một nguồn vui.

4   Điều này dẫn đến  chiến thắng.   Từ trung tính  sự  (bản NIV dùng từ “tất cả những ai”) làm câu này trở nên khá tổng quát (đối chiếu  IGi 1:1 ).  Từ  đức tin của chúng ta  (danh từ này chỉ xuất hiện ở phần này của I Giăng, không thấy xuất hiện trong sách Phúc Âm Giăng hay trong II Giăng hay III Giăng) được đặt ở cuối câu để nhấn mạnh.  (Đã)  thắng hơn  có nghĩa là chiến thắng mang tính quyết định đã xảy ra trong quá khứ, lúc Chúa Giê-xu chịu chết để chiến thắng điều ác, và điều này sẽ được thể hiện trong cá nhân người tín hữu khi người tín hữu đó tin cậy nơi Ngài.   5   Câu hỏi tu từ này được dùng nhằm để nhấn mạnh vai trò của đức tin.  Chiến thắng thuộc về người  tin Đức Chúa Giê-xu Con Đức Chúa Trời.   Một lần nữa, quan điểm đúng đắn về thân vị của Ngài được nhấn mạnh.  Ở đây, chúng ta gặp lại thói quen của Giăng trong việc nhấn mạnh bằng cách nhắc lại  trong hai câu này, việc thắng hơn thế gian ông đề cập ba lần.  Chúng ta không thể nào bỏ sót điều này vì đây là điều quan trọng.

11. LỜI CHỨNG CHO ĐỨC CHÚA TRỜI (IGi 5:6-12)

Có một quan điểm đúng đắn về Chúa Giê-xu là điều hết sức quan trọng, nên việc chứng thực điều này cũng có tầm quan trọng không kém.  Giăng trích dẫn một số lời chứng để xác minh Chúa Giê-xu là ai.

6   Chúa Giê-xu đã  lấy nước đến  chắc chắn ám chỉ việc chịu phép báp-tem của Ngài, và tương tự như thế,  huyết  ám chỉ sự chết của Ngài.  Lúc chịu phép báp-tem, Ngài nghe được tiếng phán từ trời và đã chính thức bước vào chức vụ của đời mình.  Rõ ràng một số người theo tà giáo đã chủ trương rằng thần tánh của Chúa Cứu Thế chỉ giáng xuống trên Chúa Giê-xu lúc Ngài chịu phép báp-tem nhưng đã lìa khỏi Ngài trước lúc Ngài chết.  Giăng đã chống lại thuyết này bằng sự nhấn mạnh về huyết:  chẳng những lấy nước thôi, bèn lấy nước huyết.   Đây mới thực sự là trọng tâm của Phúc Âm.  Rõ ràng  nước  thì không có gì để gây thắc mắc, nhưng  huyết  thì dường như lại là một tảng đá gây vấp phạm  rõ ràng những người theo tà giáo không thể có thể thừa nhận rằng Chúa Cứu Thế Thiên thương lại có thể chết được.  Giăng đưa ra một thực tế rằng  nước  đã không tồn tại một mình,  nước  và  huyết  cùng đi đôi với nhau.  Hơn nữa, ấy là  Đức Thánh Linh đã làm chứng  ( it is the Spirit who testify  - thì hiện tại chỉ một hoạt động vẫn đang tiếp diễn).  Ngài có phẩm cách tuyệt hảo để làm công việc này vì  Đức thánh Linh tức lẽ thật.

7   bàn KJV có cả phần thêm vào mà bản NIV chỉ đề cập ở phần bên lề.  Không có trong nguyên bản, chỉ có trong các thủ bản sau đó bằng tiếng La-tinh mà thôi.   8   Thật chất có  ba nhân chứng.    Đức Thánh Linh  được liệt kê đầu tiên, có lẽ vì Ngài mới vừa được đề cập, cũng có lẽ vì Ngài là một thân vị nên là một nhân chứng rõ ràng hơn  nước  hoặc  huyết.   Nhưng dù là ở trường hợp nào thì lời chứng cũng hoà hợp với nhau.  Lời chứng trong nội tâm của Thánh Linh, và tất cả những điều đã dự phần vào phép báp-tem và sự chết của Chúa Cứu Thế vốn không phải là ba vấn đề không có mối liên quan với nhau.  Cả ba đều này nhằm chỉ về một hành động vĩ đại của Đức Chúa Trời được thực hiện qua Chúa Cứu Thế để cứu rỗi chúng ta. 

9   Giăng nói đến một thực tế phổ biến về lòng tin của con người.  Chúng ta chấp nhận lời chứng của người khác, thì càng nên chấp nhận lời chứng Giăng vừa trình bày, vì đó là  lời chứng của Đức Chúa Trời,  mà  lời chứng của Đức Chúa Trời thì trọng hơn.   Lời chứng đang được đề cập là lời chứng  về Con Ngài.   Bây giờ lời chứng đã được ủy thác, điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính Ngài qua Chúa Cứu Thế  Ngài đã làm chứng rằng Ngài chính là Đấng như thế.   10   Ai tin Con Đức Chúa Trời thì   chứng ấy trong mình,  dường như điều này cho thấy rằng sự chứng thực của Đức Thánh Linh (c.6-7) là một bằng chứng cho chính tâm linh người tín hữu.   Ai tin đến Con Đức Chúa Trời  và  ai không tin Đức Chúa Trời  có vẻ là hai vấn đề trái ngược, điều này có nghĩa là Giăng không xem giữa việc tin đến (believing to) và tin (believing) có sự khác biệt nào lớn, hay giữa đức tin đặt nơi Con Đức Chúa Trời và đức tin đặt nơi Đức Chúa Trời cũng vậy.  Với ông thì Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đức Chúa Trời nhập thể, nên tin Chúa Cứu Thế tức là tin Đức Chúa Trời.  Nhưng không tin đồng nghĩa với việc cho Ngài là  kẻ nói dối  (đối chiếu  IGi 1:10 ).  Thì hoàn thành trong câu  thì cho Ngài  cho thấy điều này tồn tại lâu dài.  Những kẻ vô tín chọn lập trường mà vĩnh viễn có một quan điểm sai lầm về Đức Chúa Trời.   11   Có lẽ nội dung của  lời chứng  có phần gây bất ngờ, vì đó chính là điều Đức Chúa Trời đã thực hiện, chứ không phải là lời tuyên bố suông: Ngài  đã ban sự sống đời đời cho chúng ta.   Sự sống đời đời là việc làm và là món quà của chính Đức Chúa Trời.  Khi chiêm ngưỡng nó, chúng ta nhận ra được sự mặc khải của Đức Chúa Trời.  Câu thêm vào  Sự sống ấy trong Con Ngài  là câu rất quan trọng.  Chúng ta không thể suy nghĩ về sự sống đời đời mà không nghĩ đến Đức Chúa Con, cũng như không thể nghĩ về  lời chứng  mà thiếu Ngài (đối chiếu c.9).  Sự sống đời đời là sự sống với Chúa Cứu thế và trong Chúa Cứu Thế.   12   Điều này được nhấn mạnh trong một cặp câu mang tính quả

12. BIẾT VỀ SỰ SỐNG VĨNH HẰNG (IGi 5:13-21)

Sách Phúc Âm Giăng đã được viết ra để những người đọc nó tin và nhận được sự sống ( Gi 20:31).  Trái lại, bức thư này được viết cho các độc giả đã tin có được sự xác quyết, sự tin chắc rằng họ đã có sự sống đời đời.  Giăng trình bày rọ điều này khi bức thư của ông đang tiến dần đến phần kết thúc.

(IGi 5:13-15) Lòng tin quyết 13 Bức thư này được viết cho  các con  là những  kẻ tin   đó không phải là một tờ truyền đạo đơn, nhưng là một bức thư gởi cho Cơ Đốc nhân.  Có nhiều sự hiểu biết đã được đề cập, và giờ đây, chúng ta nhận ra rằng tất cả được viết ra  để các con biết mình sự sống đời đời.   Sự xác quyết về sự cứu rỗi là điều rất quan trọng, đủ để bức thư này được viết ra.  Đây là chỗ duy nhất trong thư mà người viết đề cập đến việc tin vào  danh  Chúa Giê-xu, tức là vào cả thân vị của Ngài, vào tất cả những gì mà danh ấy đại diện cho (những lời tương tự của  IGi 3:23  tiếng Hi Lạp có nghĩa “tin danh”).

14  Giăng chuyển sang vấn đề về lòng tin quyết trong sự cầu nguyện.  Ông cho rằng cầu nguyện có một phạm vi rất rộng vì ông đã nói đến việc cầu xin  bất cứ việc ,  nhưng ông cũng nói ngay rằng những điều cầu xin đó phải  theo ý muốn Ngài.   Cầu nguyện không phải là một phương cách để xui Đức Chúa Trời thay đổi ý định và làm theo điều chúng ta muốn.  Để được linh nghiệm, thì lời cầu nguyện được dâng lên phải phù hợp với ý muốn Ngài.  Khi lời cầu nguyện được dâng lên theo cách này thì Đức Chúa Trời  nghe chúng ta.   Ở những chỗ khác, chúng ta cũng học biết được rằng lời cầu nguyện phải bởi đức tin (Mac 11:24 ), phải nhân danh Chúa Giê-xu (Gi 14:14 ), được dâng trình bởi những người sống trong mối liên hệ với Chúa Cứu Thế (15:7 ), những người đã tha thứ cho kẻ xúc phạm mình (Mac 11:25 )  phải có sự vâng lời kèm theo (IGi 3:22 ) và không nhằm để thoả mãn tư dục (Gia 4:3 ).  Trong lời cầu nguyện theo ý muốn Đức Chúa Trời phải bao gồm những điểm này.   15  Từ tưởng Đức Chúa Trời nghe chúng ta, chúng ta sẽ nhận được kết quả, tức là Ngài nhậm lời cầu xin của chúng ta.

(IGi 5:16-17) Cầu nguyện cho kẻ tội  16  Một sự chuyển đổi đột ngột sang vấn đề tha thứ tội mà lời cầu thay có thể sự cầu thay có thể mang lại.  Giăng phân biệt  tội đến nỗi chết  và  tội không đến nỗi chết  (dù ông không nói sự khác nhau của chúng là gì).  Ông bắt đầu với lời chỉ dẫn rằng khi chúng ta thấy  anh em mình phạm tội tội không đến nỗi chết,  thì chúng ta nên cầu nguyện cho người ấy.  Đức Chúa Trời sẽ nhậm lời cầu nguyện và  ban sự sống cho  người ấy.  Nếu người ấy được ban  sự sống  cho, thì trước lúc đó, người ấy vẫn chưa phải là Cơ Đốc nhân.  Người ấy không sống mà đang ở trong tình trạng chết “vì lầm lỗi và tội ác mình” (Eph 2:1) và bời sự nhậm lời cầu nguyện, Đức Chúa Trời ban sự sống cho người ấy.  Chúng ta nên xem  tội đến nỗi chết  là một tình trạng hơn là một hành động  trong Kinh Thánh không đề cập đến có một hành động cụ thể nào mà khi người ta sẽ mang đến sự chết,  nhưng có một tình trạng tội lỗi, đó là tình trạng phản loạn chống lại Đức Chúa Trời, mà ở chỗ khác Giăng gọi là ở trong sự chết (Gi 3:14).  Đức Chúa Giê-xu từng khuyến cáo rằng hễ ai nói lộng ngôn phạm đến Đức Thánh Linh “sẽ không được tha” (Lu 12:10), và đó chính là điều mà Giăng đang muốn đề cập ở đây.  Giăng nói thêm rằng ông không đang bảo các tín hữu hãy  cầu nguyện cho  những tội đến nỗi chết (tuy ông không nói rõ rằng họ  đừng  cầu nguyện cho điều đó).  Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phải cố tính xem khi nào thì nên cầu nguyện, khi nào thì không nên cầu nguyện cho người khác.  Đây là một lời cảnh cáo nghiêm khắc rằng tội lỗi hành hại con người.   17   Mọi sự không công bình đều tội.   Chúng ta không được phép xem nhẹ tội lỗi.  Nhưng người tín hữu có lẽ vẫn phạm phải tội lỗi không khiến cho người ấy bị loại khỏi hàng ngũ những người đã được cứu.

(IGi 5:18-21) Sự hiểu biết của người tín hữu  18  Bây giờ là ba câu kế tiếp nhau được giới thiệu bằng cụm từ  chúng ta biết.   Câu thứ nhất là  ai sanh bởi Đức Chúa Trời thì hẳn chẳng  (tiếp tục)  phạm tội.   Một lần nữa, đây là một thái độ theo thói quen.  Lý do là vì  ai sanh bởi Đức Chúa Trời  thì được Đấng sanh bởi Đức Chúa Trời tức là Chúa Cứu Thế Giê-xu bảo vệ an toàn. Vì thế  ma qủi chẳng làm hại người được.    19  Câu thứ hai đề cập nguồn gốc của các tín hữu  họ là con cái  của Đức Chúa Trời.   Trái lại,  cả thế gian đều phục dưới quyền ma quỉ,  nguyên văn là “nằm trong tay ma qủi”.  Đây là một động từ ít được dùng trong một mạch văn như thế, và có lẽ chỉ ra rằng cả thế gian đang bất lực phục dưới quyền điều khiển của Sa-tan  có lẽ, điều này cũng hàm ý tính trì trệ của của thế gian, sự từ chối việc chống lại người cai trị mình .

20  Câu thứ ba trong bộ ba câu này hướng chúng ta đến sự nhập thể:  Con Đức Chúa Trời đã đến.   Điều này phần nào nhấn mạnh đến tính thực hữu của sự kiện đến (từ  hekei  tiếng Hi Lạp thể hiện “cái ý niệm của việc đã đến trong quá khứ và hiện tại vẫn còn hiện diện”, theo  The Epistles of John,  của R. E. Brown, Doubleday, 1982, trang 623).  Đức Chúa Con  đã ban trí khôn cho chúng ta.   Đức tin của Cơ Đốc nhân không phải là một chướng ngại vật ngăn trở hoạt động trí tuệ, mà là một tác nhân kích thích việc tư duy đúng đắn.  Chủ đích của điều này là giúp  chúng ta biết Đấng chân thật,  và chẳng những chỉ biết Ngài, mà còn   trong Ngài Đấng chân thật  nữa, được giải thích rõ hơn là   trong Đức Chúa Giê-xu Christ, Con của Ngài.   Điều vẫn thường thấy trong bức thư này là Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con luôn ở trong mối liên hệ được xem là gần gũi nhất.  “Ở trong” Đức Chúa Cha tức là “ở trong” Đức Chúa Con.  Giăng viết tiếp  ấy chính Ngài Đức Chúa Trời chân thật sự sống đời đời.   Một lần nữa, thật là không dễ dàng để biết được ý ở đây muốn nói về Đức Chúa Cha hay Đức Chúa Con, nhưng cả hai Ngôi vốn quá gần gũi đến nỗi hầu như không thấy có sự khác biệt.  Người sống vào thời cổ đại cho rằng có rất nhiều vị thần tồn tại.  Nhưng Giăng xem tất cả những vị thần này đều là tà thần.  Chỉ có một  Đức Chúa Trời chân thật  duy nhất, và trong Ngài chúng ta có sự sống đời đời.

21  Để kết luận, Giăng dùng lại cách gọi ngắn gọn thể hiện sự trìu mến,  Hỡi các con cái mọn  (nghĩa đen là “nhỏ”).  Căn cứ vào tất cả những phần đã thảo luận ở trên, thì chúng ta không nên hiểu  hình tượng  theo nghĩa “các ảnh tượng” được dùng trong việc thờ phượng.  Từ ngữ này có nghĩa là “tà thần”.  Độc giả của Giăng từng được Đức Chúa Trời ban cho nhiều ân tứ, có cả “sự hiểu biết” (c.20).  Thế thì họ phải biết giữ mình khỏi mọi tà thần.

Lên đầu trang