2 PHI-E-RƠ

MỤC LỤC

IIPHI-E-RƠ

1. TRƯỚC GIẢ CHÀO THĂM ĐỘC GIẢ (IIPhi 1:1-2)

Cũng như trong bức thư trước, Phi-e-rơ mở đầu thư bằng cách giới thiệu bản thân và uỷ nhiệm thư của của mình theo cách những người viết thư thời bấy giờ vẫn thực hiện.  Sau đó ông trình bày rõ danh tánh của những người mà ông sẽ viết thư này cho, và gởi họ những lời chào thăm Cơ Đốc.  Lần này, ông còn nhắc nhở thêm về nơi để tìm thấy được ân điển và sự bình an thật chỉ trong sự nhận biết Đức Chúa Trời Đức Chúa Giê-xu chúng ta

(IIPhi 1:1)  Si-môn (Hi văn là Symeon) là cách chuyển tự trực tiếp tên gọi Hi-bá-lai như đã được dùng trong Cong 15:14.  Cách dùng tên gọi Si-mônPhi-e- chung với nhau (cũng như trong thí dụ Mat 16:16) nhắc nhở chúng ta về sự thay đổi mà ân điển đã đem đến cho cuộc đời của vị sứ đồ này.  Ông xưng mình là một tôi tớ sứ đồ (I Phi-e-rơ chỉ dùng danh hiệu thứ hai, còn thư Giu-đe dùng danh hiệu thứ nhất) và điều này nhấn mạnh quyền hạn của ông chỉ là một người nô lệ mà thôi, thế nhưng đã được Chủ uỷ thác trọn vẹn để làm công tác của Ngài.

Nhận lãnh là một từ ngữ mang nghĩa là “có được nhờ rút thăm” và ngụ ý rằng nguồn gốc của sự ban cho này là bởi ân điển, chớ không phải bởi công đức riêng.  Đức tin được đề cập ở đây là khả năng được Đức Chúa Trời ban cho để đáp lại ân điển Ngài bằng sự phó thác và tin cậy của cá nhân (đối chiếu Eph 2:8-9).  Đồng quý báu như của chúng tôi được dịch từ một từ mà chỉ được dùng ở chỗ này của Kinh Thánh Tân Ước.  Các tác giả đương thời đã dùng từ ấy để nói về “địa vị ngang nhau”, ám chỉ những người cùng được hưởng các quyền và đặc quyền công dân như nhau.  Trong trường hợp đó, có thể nó phản ảnh Cong 10:34-35 và nhận thức của Phi-e-rơ rằng dân Do Thái lẫn người ngoại quốc đều bình đẳng trong các chủ đích của Đức Chúa Trời.  Không chắc rằng bức thư này chỉ được viết cho người ngoại quốc mà thôi (xem phần Dẫn Nhập cho bài này và cho IPhi-e-rơ).  Đây có thể là một thái độ khiêm hạ hơn của Phi-e-rơ, điều này nhắc chúng ta rằng tuy là một sứ đồ, ông vẫn là một tội nhân cần đến sự công bình... của Cứu Chúa Đức Chúa Giê-xu Christ, cũng tương tự như những người vừa mới quy đạo mà ông đang viết bức thư này cho.  Tuy nhiên, nhóm từ cậy sự công bình có thể chỉ đơn giản đề cập sự công bình tuyệt đối của Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Trời chúng taCứu Chúa Giê-xu Christ có vẻ chỉ đề cập duy nhất về Chúa Giê-xu mà thôi, và như vậy nó là một bằng chứng quan trọng để chứng tỏ rằng niềm tin vào thần tánh của Chúa Cứu Thế vốn đã có từ ban đầu (IIPhi 1:11  2:20  3:18  Tit 2:13).  Cứu Chúa là một danh hiệu dành cho Chúa Giê-xu, xuất hiện chủ yếu trong các văn phẩm sau này của Kinh Thánh Tân Ước, nhưng đã được nhấn mạnh thường xuyên trong các bài giảng đầu tiên của Phi-e-rơ (Cong 4:12  5:31).  Điều thú vị là trong khi I Phi-e-rơ có nhiều chỗ đề cập về sự cứu rỗi (IPhi 1:5,9-102:2) và tình trạng được cứu (3:20 4:18) thì trong bức thư này Phi-e-rơ tập trung vào Cứu Chúa.

(IIPhi 1:2)  Nguyền xin ân điển sự bình an được gia thêm cho anh em lặp lại 1:2 (xem phần chú thích cho câu đó).  Bởi sự nhận biết ở đây nhấn mạnh đến cách thức mà nhờ đó ân điển và sự bình an có thể được gia thêm cho đời sống người tín hữu.  Trong Hội Thánh đầu tiên có những giáo sư giả, là những người xem trọng tri thức hơn đức tin, vì vậy họ được gọi là những người theo Trí huệ phái (bắt nguồn từ chữ gnơsis của tiếng Hi Lạp, nghĩa là “sự hiểu biết”).  Để đáp lại, các tác giả chính thống đã nhấn mạnh điều quan trọng của Cơ Đốc nhân là phải thu thập epignơsis (“kiến thức hoàn thiện”, là từ ngữ được dùng ở đây) để chống lại tà giáo này.  Một nguồn tri thức chân chính như thế không bao giờ chỉ là một sự suy lý, như tri thức của những người theo Trí huệ phái.  Nó bắt nguồn từ mối liên hệ và sự từng trải cá nhân về Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Giê-xu, Chúa chúng ta (Gi 17:3  Phi 3:10).

2. LỜI KÊU GỌI VỀ SỰ TĂNG TRƯỞNG THUỘC LINH (IIPhi 1:3-11)

Phi-e-rơ nói rằng câu trả lời hay nhất dành cho tà giáo là Cơ Đốc nhân phải tăng trưởng không những trong sự thông hiểu đạo mà còn cả trong việc sống đạo nữa.  Điều này cũng quan trọng vì Đức Chúa Trời đã ban cho tín hữu mọi điều cần thiết để có được sự tăng trưởng như thế, và một sự tăng trưởng như thế là một phương tiện để bảo đảm cho Cơ Đốc nhân về địa vị của họ trước mặt Đức Chúa Trời.

(IIPhi 1:3-4) Đức Chúa Trời đã cung cấp mọi phương tiện. Phi-e-rơ quá hăng say với chủ đề mình đang đề cập đến nỗi Hi văn tuy không được trau chuốt đầy đủ, nhưng ý nghĩa thì rõ ràng.  Sự tiến bộ trong đời sống Cơ Đốc trở nên khả thi và thực tế nhờ hai yếu tố: quyền năng của Đức Chúa Trời và lời hứa của Ngài.  Đức Chúa Trời bày tỏ sự kêu gọi của Ngài cho người đáp ứng Chúa Cứu Thế Giê-xu.  Khi đã nhận biết Ngài người tín hữu được ban cho mọi điều cần thiết để giúp cho họ thực hiện quá trình nên thánh – trở nên giống Chúa Giê-xu.  Chính lời hứa của Đức Chúa Trời đảm bảo rằng những điều cần thiết này sẽ được ban cho chúng ta.

Đấng lấy vinh hiển nhân đức ám chỉ thần tánh và phẩm chất đạo đức cao trọng trong đời sống và con người Chúa Giê-xu, đây chính là điều đã lôi cuốn Phi-e-rơ theo Ngài và làm nên nền tảng để rao giảng cho những người chưa từng nhìn thấy Đức Chúa Giê-xu trong xác thịt.  Một số bản dịch ghi “vì vinh hiển của chính Ngài” xem đây như chủ đích mà bởi đó chúng ta được kêu gọi, nhưng điều này không mấy chắc chắn.  Có lẽ Phi-e-rơ đang liên tưởng đến quang cảnh Chúa hoá hình khi ông đề cập sự vinh hiển của Chúa Giê-xu, và liên tưởng lại sự kêu gọi dành cho chính ông (Lu 5:1-11) khi ông nhắc đến sự nhơn đức của Ngài, nhưng đúng hơn có lẽ là ông đang nghĩ đến ảnh hưởng toàn diện của Chúa Giê-xu trên bất cứ người nào đến tin nhận Ngài (Gi 1:14).  Cũng từ ngữ này và ý nghĩa của nó được dùng trong IPhi 2:9, được dịch ra là “rao giảng nhân đức”.

4 Bởi vinh hiển nhơn đức ấy chỉ về vinh hiểnnhân đức của Chúa Cứu Thế.  Nhờ có phẩm chất này trong đời sống mình, người tín hữu nhận được lời hứa dự phần vào chính bản tính của Đức Chúa Trời.  Sự dạy dỗ này phù hợp với Rô-ma 6, ấy là nhờ chính Chúa Cứu Thế và qua sự hợp nhất đức tin với Ngài, Cơ Đốc nhân hưởng được một cuộc đời sống tự do đối với tội lỗi và những ô uế của nó ngay trong hiện tại, một đời sống ngày càng giống Chúa Giê-xu hơn.  Sự nát là quá trình tan rã dần dần của tất cả những điều thuộc về sự chết.  Nó đã xâm nhập thế gian này với tư cách là hậu quả trực tiếp của sự sa ngã (Sáng Thế Ký 3), cứ lần lượt xảy ra từ việc con người nhường đường cho những dục xấu xa.  Cụm từ đó có thể được hiểu như vậy, hoặc cũng có thể là nó ám chỉ các hậu quả của tội lỗi mà mọi thế hệ không tránh khỏi được.  Dù là trường hợp nào, thì phương cách của Đức Chúa Trời để lánh khỏi là nắm chặt lấy những lời hứa của Ngài (như Chúa Giê-xu đã phán trong Gi 15:1-18 và 16:1-32, và Phi-e-rơ trích dẫn trong IPhi 2:9) và nhờ đó mà được dự phần vào bản tánh Ngài.  (Bởi vinh hiển nhân đức ấy có nghĩa là bạn phải áp dụng chúng cho đời sống mình).  Chúng ta có thể tìm thấy những ý tưởng ẩn sau cụm này trong những câu như Gi 1:12 và  IGi 3:2-3.

Chú thích.  3 Đấng có lẽ đã xuất hiện từ câu , được dùng để chỉ Chúa Giê-xu.  Đã ban là một từ ngữ không thường xuất hiện (chỉ được dùng ở đây, trong câu tiếp theo và trong Mac 15:45), nhấn mạnh đến một sự ban cho miễn phí.  Sự sống là sự sống vĩnh hằng sung mãn mà Chúa Giê-xu ban cho (Gi 10:10).  Tin kính là phẩm chất giống như của Chúa Cứu Thế mà cuộc đời như thế phải sản sinh ra.

(IIPhi 1:5-9) Mục tiêu trở thành những môn đệ kết quả Vì Cơ Đốc nhân đã được ban cho những điều cần thiết (quyền năng và lời hứa) nên Phi-e-rơ nhấn mạnh về tầm quan trọng (phải gắng hết sức) của mục tiêu (tăng trưởng để giống Chúa Giê-xu) và kể ra các bước để hướng về điều đó: yêu thương tình yêu thương anh emsự tin kínhsự nhịn nhục sự tiết độ sự học thức sự nhơn đức đức tin.

Đức tin phải tự bày tỏ qua việc làm (nhân đức) và từng trải này sẽ giúp chúng ta hiểu biết (sự học thức) nhiều hơn về Đức Chúa Trời.  Sự hiểu biết Ngài sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản thân mình và về những lãnh vực ta cần tiết độ  Kế đến, sự tiết độ này đòi hỏi sự nhịn nhục, là điều được phát triển nhờ chăm chú vào mục tiêu đáng hướng đến được nêu ở câu 4 – sự tin kính.  Thái độ này đối với Đức Chúa Trời tạo điều kiện thuận lợi cho một thái độ cởi mở tươi mới đối với các Cơ Đốc nhân khác (tình yêu thương anh em), và đức tính này nảy nở thành một tình yêu thương (lòng yêu mến) không ích kỷ và không hạn chế – là viên đá đầu tường của cả toà nhà lớn (Col 3:14).  Như thế, Cơ Đốc nhân phải đối diện với hai khả năng tối quan trọng.  Một mặt, chúng ta có thể rèn luyện để phát triển ngày càng hơn những phẩm chất này trong đời sống mình, và nhờ đó có được một từng trải ngày càng sâu nhiệm về Chúa, dẫn đến một đời sống Cơ Đốc kết quả.  Mặt khác, chúng ta có thể bỏ qua sự cung cấp này, nhưng đây là một cách đáp ứng thiển cận (người cận thị), thậm chí là mù quáng (người ), bởi vì đó là một hành động xem nhẹ điều kỳ diệu trong sự kiện cứu rỗi mà chúng ta nhận được.

Chú thích.  5 Thêm hàm ý một sự chu cấp dồi dào, và là một động từ được văn học cổ điển dùng để mô tả việc các công dân giàu có tài trợ cho một buổi trình diễn kịch nghệ hay trang bị một tàu chiến cho đất nước mà họ tự hào được làm công dân.  Việc dự phần vào sự sống của Đức Chúa Trời phải dẫn đến sự thay đổi vào trở thành một người có tính cách đẹp đẽ và hấp dẫn nhất cho Ngài.  Nhân đức có lẽ chỉ về tiến trình đồng hoá đã được gợi ý ở câu 3.  Mối liên hệ giữa đời sống Cơ Đốc trong thực tế và sự hiểu biết Chúa ngày càng nhiều được đề cập lại trong câu 8 (Gi 7:17  Col 1:10).  6 Sự nhịn nhục là khả năng bám chắt lấy mục tiêu của mình cho dù có bị chống đối hay thậm chí bắt bớ bách hại (tham khảo cách dùng của gốc từ này trong He 12:1-3, ở đây nó được dịch là “nhịn nhục và chịu đựng”).  7 Tình yêu thương anh em được nhấn mạnh như một bông trái của đời sống được tái sinh trong IPhi 1:22 3:8 và là điều mà Chúa Giê-xu đòi hỏi (Gi 13:34-35).  9 Người cận thị, người có vẻ như một cách ẩn dụ được pha trộn cách khác thường.  Có lẽ Phi-e-rơ muốn nói rằng những người như thế là cận thị vì họ không thể quay lại nhìn xa đủ để nhớ được những tội lỗi mà họ đã được giải thoát.  Họ cũng đang bị trước những khả năng quý báu để phát triển thuộc linh vốn tồn tại trong Chúa Cứu Thế.

(IIPhi 1:10-11) Mục tiêu tối hậu được sự cứu rỗi trọn vẹn nơi ngày sau rốt  Điều này đưa Phi-e-rơ đến chỗ khuyến giục những người anh em Cơ Đốc phải chứng tỏ được một cách thực sự về địa vị của chính họ trong Đức Chúa Trời (bằng cách noi theo con đường cơ bản đã được vạch ra ở trên). Bằng cách đó, họ sẽ không bị vấp ngã trong cuộc đời này và được nồng nhiệt tiếp đón vào trong Nước đời đời của Chúa (Mat 25:21-23). Ở đây, Phi-e-rơ không dạy rằng chúng ta phải trả giá cho sự cứu rỗi của mình bằng việc thiện, cũng không dạy rằng chúng ta có thể đánh mất mối liên hệ của mình với Chúa Cứu Thế dù đã thật lòng đáp lại tiếng gọi của Ngài. Đúng hơn ông nhắc nhở chúng ta rằng việc trau dồi một tính cách ngày càng giống như Chúa Cứu Thế là bằng chứng duy nhất (với bản thân chúng ta cũng như với người khác) để chứng tỏ địa vị Cơ Đốc của chúng ta cho dù có đôi lần chúng ta bị vấp ngã cách đáng buồn.  Điều này phù hợp với lời truyền dạy của Chúa Giê-xu (7:16-21), Gia-cơ (Gia 3:2), Giăng (IGi 1:7-10  3:10) và Phao-lô (Ga 5:16-25).

Chú thích.  10 Chú ý có cùng gốc từ với gắng hết sức trong câu 5 và có lẽ được dùng để nhắc lại.  (Làm) cho chắc chắn về sự Chúa kêu gọi chọn lựa mình là điều được nhắc đến xuyên suốt bức thư thứ nhất (IPhi 1:2,17  Phil 2:12-13).  Ở đây cũng vậy, Phi-e-rơ nhấn mạnh rằng chúng ta là những người đã lãnh phần đức tin đồng quý báu (IIPhi 1:1) thì đừng để trở nên không kết quả và vô ích trong sự hầu việc Chúa Cứu Thế.  Hơn nữa, ông gợi ý rằng người ta có thể vấp ngã bởi ân điển (Giu 1:24 dùng động từ đồng nghĩa như thế).  Ở đây không đề cập đến việc phạm tội (Gia 3:2) vì thế cũng không có ý dạy dỗ về sự hoàn toàn tránh khỏi tội lỗi ở đây.  11 Thay vì viễn cảnh tăm tối này, Cơ Đốc nhân phải trông đợi một sự đón tiếp vào trong nước đời đời của Chúa Cứu Thế.  Nhóm từ cuối cùng này chắc chắn ngụ ý cho sự mở đầu trọn vẹn của nó khi Chúa Giê-xu trở lại.  Được cho vào cách rộng rãi được dịch từ động từ được dùng để chỉ việc “thêm” trong câu 5 ở trên (xem phần chú thích ở đó).  Phần thưởng dư dật của Đức Chúa Trời là một động lực thúc đẩy chúng ta sống hết lòng cho Ngài.

3. CÁC LÝ DO ĐỂ PHẢI NHẤN MẠNH ĐIỀU NÀY (IIPhi 1:12-2:22)

Phi-e-rơ giải thích chi tiết tại sao ông phải viết như vậy.  Các tín hữu cần được nhắc nhở thường xuyên về tầm quan trọng của việc tiến bộ thuộc linh.  Phi-e-rơ biết rằng ông không còn sống được bao lâu nữa, và với tư cách một nhân chứng, ông muốn nhấn mạnh rằng đức tin mà chúng ta đang có được đặt nền tảng trên các sự kiện lịch sử.  Hơn nữa, các biến cố này trong đời sống của Chúa Giê-xu đã làm ứng nghiệm những điều các nhà tiên tri đã dự ngôn.  Việc đề cập đến những sự kiện này đã đưa tác giả đến chỗ đưa ra một lời cảnh cáo dài về việc các tiên tri giả là những người sẽ dấy lên quấy rối trong Hội Thánh như họ đã làm giữa vòng dân sự Đức Chúa Trời vào thời Cựu Ước.  Những nguy hiểm trong lời truyền dạy của họ và sai lầm trong đường lối của họ rồi sẽ bị phơi bày hoàn toàn.

1. Lời kêu gọi của cá nhân Phi-e-rơ (IIPhi 1:12-15)

Phi-e-rơ ý thức được nhiệm mạng của đời ông là phải khuyến giục anh em mình tăng trưởng thuộc linh.  Ông tin chắc rằng bức thư ông đang viết họ sẽ được nhắc nhở hơn nữa sau khi ông đã qua đời.  Tuy Cơ Đốc nhân biết chân lý, nhưng nhiệm vụ thường trực của người rao giảng và người dạy đạo là nhắc nhở họ về chân lý ấy.

Chú thích.  12 Biết ràng chắc chắn là cùng một động từ như trong IPhi 5:10 (làm chovững vàng).  13 Nhà tạm này chỉ tính tạm thời của thì giờ chúng ta sống trên đất (đối chiếu IICo 5:1-8).  14 Từ ngữ được dịch là lìa mô tả việc cởi bỏ y phục, và một lần nữa phản ảnh IICo 5:1-8.  Đã bảo cho tôi có lẽ ám chỉ về Gi 21:18-19, hoặc một sự mặc khải gần hơn.  15 Đi trong tiếng Hi lạp là exodos, được dùng trong Lu 9:31 để chỉ về cái chết gần kề của Chúa Giê-xu.  Việc nó được dùng ở đây cho thấy có lẽ Phi-e-rơ đang nghĩ đến từng trải về sự hoá hình.  Chết là thoát khỏi dạng sống hiện tại, đưa người tín hữu đến chỗ được tiếp đón vào trong nước đời đời của Chúa Cứu Thế (c.11).  thể hằng nhớ có lẽ ám chỉ về bức thư này, hoặc về mong ước của Phi-e-rơ trong việc cung cấp cho Mác thông tin để Mác dùng làm cơ sở cho sách Phúc Âm của mình.

2.  Đức tin được đặt nền tảng trên các sự kiện (IIPhi 1:16-18)

Lòng tin quyết của Phi-e-rơ về tương lai của chính mình, và lý do ông khích lệ độc giả mình tăng trưởng thuộc linh, căn cứ trên từng trải cá nhân về quyền năng và sự hiện diện của Chúa Giê-xu, chớ không phải trên những câu chuyện huyễn do sự khôn ngoan của loài người tưởng tượng ra.  Chúa Giê-xu đã được bày tỏ đúng về thời gian lẫn không gian, và Phi-e-rơ có thể chứng thực đã từng nghe tiếng của Đức Chúa Cha xác nhận về Chúa Giê-xu khi Ngài hoá hình.

Chú thích.  16 Chuyện khéo đặt để (Hi văn là “myths”, nghĩa là thần thoại) là một đặc trưng của hệ thống thần học của các giáo sư giả (ITi 4:7  IITi 4:4  Tit 1:14).  Quyền phép sự đến đều là những từ ngữ có thể ám chỉ về cuộc đời trên đất của Chúa Giê-xu.  Vì từ “sự đến” được Kinh Thánh Tân Ước dùng để chỉ về sự tái lâm của Chúa Giê-xu (IIPhi 3:12  Mat 24:3,27  ITe 3:13), nên một số người cho rằng cả cụm từ này chắc chắn chỉ về quang lâm trong đại quyền đại vinh của Ngài (Mac 13:26  14:62).  Nhưng quyền phép có thể ám chỉ đến biến cố Chúa hoá hình và sự đến ám chỉ sự tái lâm của Ngài (9:1-13 có mối liên hệ tương tự về tư tưởng).  Rõ ràng, biến cố Chúa hoá hình đã hé mở trước về sự vinh quang trọn vẹn của Chúa Cứu Thế lúc Ngài tái lâm.  Những lời tuyên bố tương tự mình là “nhân chứng” được thực hiện ở IPhi 5:1  Lu 1:2  Gi 1:14  IGi 1:1-3.  Trong Kinh Thánh Tân ước, sự oai nghiêm được dùng duy nhất để mô tả về vinh quang của Đức Chúa Trời (Lu 9:43  Cong 19:27).  17 Tiếng phán từ trời, được phát ra cả vào lúc Chúa Giê-xu chịu báp-tem lẫn lúc Ngài hóa hình (Mac 1:11  9:7) kết hợp với lời tiên tri trong Thi 2:7 (lễ đăng quang của Con Đức Chúa Trời) và trong Es 42:1 (lễ tấn phong cho Người Đầy Tớ Chịu Khổ).  Phi-e-rơ bỏ sót mệnh đề cuối, đó là kêu gọi mọi người hãy lắng nghe Chúa Cứu Thế Giê-xu.  18 Núi ở đây được thánh hóa vì nó là quang cảnh nơi diễn ra sự mặc khải của Đức Chúa Trời (Xu 3:5  19:23).  Lời lẽ ở đây không hẳn đã gợi ý cho một truyền thuyết đã được phát triển về sau này.

3. Các sự kiện này xác nhận lời của các đấng tiên tri (IIPhi 1:19-21)

Các sự kiện Phi-e-rơ vừa đề cập được các sứ đồ xem như một sự ứng nghiệm đáng chú ý của Kinh Thánh Cựu Ước (thí dụ Mat 1:22  2:5-6).  Chính Chúa Giê-xu đã vạch rõ cho họ thấy điều này (Lu 22:37  24:26-27,44  Gi 5:39), còn Phi-e-rơ thì đã từng nhấn mạnh điều này trong các bài giảng của ông (Cong 2:25-36  3:22-24).  Vì đã có quá nhiều lời tiên tri được ứng nghiệm trong lần giáng lâm đầu tiên của Chúa Giê-xu, nên Cơ Đốc nhân phải chú ý càng hơn vào những gì còn lại vì chúng sẽ được ứng nghiệm khi Ngài giáng lâm lần thứ hai.  Điều này đặc biệt như vậy, vì các lời tiên tri này không phải là kết quả suy tưởng của con người (như những chuyện tưởng tượng của c.16) nhưng là kết quả những sự mặc khải của Đức Chúa Trời bởi Thánh Linh Ngài.

19 Người ta đưa ra nhiều cách lý giải khác nhau về cụm từ chắc chắn hơn.  Một số người cho rằng lý lẽ của cụm từ này chính là lời tiên tri thì chắc chắn hơn tiếng phán từ trời.  Nhiều người khác cũng hiểu như trên, ấy là sự ứng nghiệm những lời tiên tri về lần giáng lâm thứ nhất giúp người ta dễ dàng hơn trong việc tin vào những lời tiên tri vẫn chưa ứng nghiệm vào ngày Chúa tái lâm.  Đèn là một hình ảnh quen thuộc của Kinh Thánh (Thi 119:105,130), còn thế gian này là nơi tối tăm, không có sự hiện diện của ánh sáng thật (Gi 8:12).  Ban ngày chỉ ngày Chúa Cứu Thế tái lâm (IIPhi 3:10  Ro 13:12).  Sao mai (Hi văn là phosphoros) là ngôi sao xuất hiện lúc bình minh như trong thời cổ đại người ta dùng nó để chỉ về Kim tinh.  Cách dùng của nó ở đây cho thấy ngôi sao là hình ảnh tượng trưng được dùng để chỉ Chúa Giê-xu (Dan 24:17  Lu 1:78  Kh 22:16 đối chiếu Ma 4:2).  Trong lòng anh em là một cụm từ khó hiểu vì sự tái lâm của Chúa Giê-xu sẽ là một sự kiện khách quan và mọi người đều thấy.  Điều tác giả muốn trình bày là sự tái lâm của Chúa Cứu Thế sẽ đem đến ánh sáng và niềm vui cho tấm lòng những người thuộc về Ngài.  Có thể nhóm từ này đi chung với phần kế tiếp: trước hết, (“trong lòng anh em”) phải biết rằng…, nhưng điều này không mấy chắc chắn.

20-21 Hai câu này rất quan trọng trong việc giúp chúng ta hiểu được Kinh Thánh đã đến với chúng ta như thế nào.  Mặc dù Đức Chúa Trời đã dùng con người, với tất cả những sự khác nhau về bối cảnh, về mối quan tâm cũng như về tính khí (Gie 1:6-7  Am 7:14-15  Lu 1:1-4) để truyền đạt Lời Ngài, nhưng đồng thời Ngài cũng đã hướng dẫn họ trong việc nói và viết ra lời ấy cho chúng ta (Gie 1:7  Am 7:14-16  Mac 12:36).

Trước hết, phải biết rằng sẽ được nhắc lại trong IIPhi 3:3.  Lời tiên tri nào trong Kinh Thánh khác hẳn với những lời tiên tri giả đã được ám chỉ trong 2:1.  Giải nghĩa là một danh từ không được dùng ở chỗ nào khác của Kinh Thánh Tân Ước, tuy động từ của nó được dùng trong Mac 4:34 chỉ về việc giải nghĩa các câu chuyện ngụ ngôn.  Đôi khi người ta dùng câu này để khẳng định rằng một người chỉ hiểu được lời tiên tri khi người ấy được sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh (có người nói là một Hội Thánh đầy dẫy Đức Thánh Linh), là Đấng đã hướng dẫn các trước giả.  Điều này khiến cho ý nghĩa động từ “mà ra” (came about) không còn tự nhiên và có lẽ tốt hơn câu này nên được hiểu là chỉ về nguồn gốc hơn là về việc thông hiểu Kinh Thánh.  Ý tưởng này được sự ủng hộ của bản dịch NIV: không lời tiên tri nào của Kinh Thánh bắt nguồn từ cách lý giải của chính nhà tiên tri về các biến cố trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai.  Được cảm động giống như một chiếc thuyền được gió đưa đi, đây là một hình ảnh sinh động mô tả Thánh Linh đang hành động.

4. Chúng ta phải đề phòng các tiên tri giả (IIPhi 2:1-22)

Sau khi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trông đợi sự ứng nghiệm của lời tiên tri do Thánh Linh ban, Phi-e-rơ đưa ra lời cảnh cáo về các lời tiên tri giả sẽ xuất hiện.  Đây cũng là một đặc trưng trong lời dạy dỗ của Chúa Giê-xu (13:22-23).  Chương này cần được đối chiếu thật kỹ với Giu 1:4-18.

(IIPhi 2:1-3) Sự nguy hiểm của họ  Các tiên tri giả nguy hiểm ở ba phương diện: hành động của họ mang tính lén lút, và tạo ra những cách sống gây hổ thẹn, làm cho đạo thật bị mang tiếng, giáo lý của họ hoàn toàn phủ nhận chân lý và sự hủy diệt sẽ là số phận của bản thân họ lẫn những người theo họ.

1 Trong văn cảnh, dân chúng dường như ám chỉ dân sự của Đức Chúa Trời trong thời Cựu Ước.  Hoạt động của các tiên tri giả được đề cập trong Phu 13:1-5  IVua 13:18  22:5-23  Gie 5:13,31  6:13.  Sự giả dối của các giáo sư ấy có thể nằm ở nội dung những sự dạy dỗ của họ, hay ở việc họ xưng nhận mình là giáo sư.  Rất có thể nó ám chỉ cả hai ý này.  mật (secretly, chữ này không có trong bản tiếng Việt) là ẩn ý của động từ, gợi ý cách cư xử lén lút.  Những đạo dối (những giáo) được dịch từ chữ haireseis của Hi văn, đơn giản có nghĩa là “những niềm tin chọn lọc” (chosen beliefs).  Theo cách dùng của Cơ Đốc giáo, nó ám chỉ một niềm tin sai lạc được chọn một cách chủ ý (thay vì một niềm tin đúng do Đức Chúa Trời mặc khải).  Làm hại huỷ họai) là một nhóm từ Hi Bá Lai, nhấn mạnh đến những hậu quả sẽ xảy đến cả cho kẻ đưa ra những quan điểm như thế và cho bất kỳ niềm tin chính thống nào mà họ đã từng có.  Chúa chỉ được dùng cho Chúa Cứu thế ở đây và trong Giu 1:4, còn được dùng chỉ Đức Chúa Trời trong Lu 2:29  Cong 4:24  Kh 6:10.  Đã chuộc đề cập khía cạnh chuộc tội trong công tác Chúa Cứu Thế (đối chiếu Mac 10:45 và IPhi 1:18).

2 Những sự buông tuồng phản ảnh hình thức số nhiều trong Hi văn (xem 4:3 và chú thích ở đó).  Các giáo sư giả này rêu rao rằng sự hiểu biết quan trọng hơn việc thực hành, vì thế họ lý luận rằng Cơ Đốc nhân ăn ở cư xử thế nào cũng không quan trọng, vì ân điển có thể tha thứ mọi tội lỗi, dù chúng có nặng nề đến đâu.  Các trước giả Tân Ước đều đồng lòng lên án quan điểm này.  Đạo thật vốn là tên gọi ban đầu dùng để chỉ đức tin Cơ Đốc (Cong 9:2).  Trong IPhi 3:16 và 4:3-5 Phi-e-rơ đã phải đối phó với việc các Cơ Đốc nhân chính thống sẽ bị chỉ trích vì cách cư xử tốt của họ.  Giờ đây, ông lại phải buồn rầu vì sự đồi bại của các giáo phái giả danh Cơ Đốc sẽ khiến cho đạo thật bị gièm pha.  3 Khoét (bóc lột ) chứa đựng ý nghĩa thương mại.  Dối trá (Hi văn là plastoi, vì thế mà có chữ plastic, nghĩa là được tạo ra) có nghĩa là được tạo ra để làm êm tai người nghe (ITe 2:5).  Chẳng ngủ là một cách ẩn dụ sinh động (tham khảo cách dịch của bản NEB, “chờ đợi họ bởi những con mắt không ngủ”).  Sự trừng phạt dành cho người dẫn người khác đi theo con đường sai lạc có thể sẽ không xảy ra tức thì, nhưng rồi điều đó sẽ được thực thi.

(IIPhi 2:4-10a)  Bản án dành cho họ  Phi-e-rơ khai triển chủ đề của câu 3 cách đầy đủ hơn, dựa trên những biến cố xảy ra từ xa xưa trong lịch sử của dân Đức Chúa Trời để cho thấy thế nào các chủ đích của Ngài cả về sự cứu rỗi lẫn về sự đoán phạt đều chắc chắn và sẽ được hoàn tất.  Nô-ê và Lót được nêu ra như những thí dụ cho thấy cách nào Đức Chúa Trời có thể giải cứu kẻ thuộc về Ngài trong khi những kẻ bất kính cùng thời với họ bị huỷ diệt.  Số phận của các thiên sứ sa ngã chỉ ra thực tế của một cuộc phán xét sau cùng khi sự chống nghịch của loài người, mà đỉnh điểm của nó là sự buông thả không kiềm chế của bản thân và sự chối bỏ uy quyền của Đức Chúa Trời, sẽ bị trừng phạt thích đáng.  Cả ba thí dụ cùng cho thấy sự trừng phạt của Đức Chúa Trời dành cho sự kiêu ngạo, sự bất tuân và sự đồi bại.

Chú thích.  4 Xem Sa 6:1-4 và Giu 1:6, nơi trước giả lưu ý rằng tội kiêu ngạo là nguyên nhân sa ngã của các thiên sứVực sâu (Anh văn hell: hoả ngục) theo thần thoại Hi Lạp là Tartarus, phần thấp nhất và kinh khiếp nhất của hoả ngục, đặc biệt dành cho các hữu thể siêu nhân đã chống nghịch lại vị thần tối cao.  Những cách lý giải về từ vực sâu tối tăm trong cổ bản thay đổi giữa một từ ngữ có nghĩa là “hố” hay “hang” và một từ khác (siros thay vì seiros trong Hi văn) có nghĩa là “dây thừng” hay xiềng xích (xem phần ghi chú bên lề bản NIV).  Nghĩa sau phù hợp với 1:6.  Hình ảnh này được rút ra từ các văn phẩm ngoại kinh.  5 Về -ê xin xem 6:8-9:28 và IPhi 3:20 chỗ cũng đề cập về chuyện tám người được cứu.  Thầy giảng đạo (Hi văn là keryx, nghĩa là ‘một người đưa tin’ xem chú thích về IPhi 3:19) gợi ý rằng Nô-ê vốn được Đức Chúa Trời ủy thách nhiệm vụ kêu gọi những người đồng thời với ông ăn năn.  Một tác phẩm ngoại kinh khác (sách Jubilees) đã mô tả về công tác rao giảng của Nô-ê.  6 Chúa Giê-xu ám chỉ về gương của Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Sa 18:16-19:28) trong Mat 10:1  Lu 17:29.  7 Ăn luông tuồng (vô luân) là hậu quả của việc không kính sợ Đức Chúa Trời, và vì vậy cảm thấy hoàn toàn tự do để sống vô nguyên tắc, dung dưỡng những dục vọng tội lỗi của mình.  8 Cảm biết đau xót (NEB: bị giày vò): nguyên có nghĩa là bị thử thách do chân thành.  Những người tin kính sống trong một thế giới bất kính phải chuẩn bị để chứng tỏ sự thực hữu của đức tin mình.  9 Thì là một cách kết luận tự nhiên rằng Đức Chúa Trời biết phải đối phó thể nào với những kẻ bất chính (gồm cả các giáo sư giả trong c.1-3) trong ngày phán xét.  Trước khi đưa ra điểm này, Phi-e-rơ rút ra khía cạnh tích cực từ các thí dụ này, đó là lòng thương xót của Đức Chúa Trời, và khả năng của Ngài trong việc giải cứu những kẻ thuộc về Ngài.  Điểm nhấn mạnh này không có trong Giu-đe.  Cứu chữa (giải cứu) khỏicơn cám dỗ (IPhi 1:6-7  5:10).  10 lòng dục ô uế mình ham sự sung sướng của xác thịt nghĩa đen là “kẻ chạy theo dục vọng hư hoại của xác thịt’.  Một nhóm từ tương tự trong Giu-đe 7 đã kế nối điều này với sự đoán phạt thành phố Sô-đôm.  Quyền phép rất cao trong Hi văn là kyriotes (nghĩa là ‘uy quyền’) và được hiểu một cách tự nhiên nhất là ám chỉ về uy quyền của Chúa Cứu Thế (IPhi 3:15).  Mặc khác, nếu từ này đề cập uy quyền của các các bậc tôn trọng (“hữu thể trên không trung”) được nhắc đến ở phần sau của câu 10, thì đó có thể là uy quyền của một cấp thiên sứ mà Giu 1:8  Eph 1:21 và Col 1:16 có lẽ cũng đã đề cập.

(IIPhi 2:10b-22) Tính cách của họ  Bây giờ, vị sứ đồ nhấn mạnh đến ảnh hưởng nguy hiểm của đám người này bằng cách mô tả bản chất đích thực của họ đầy đủ hơn.  Họ xấc láo (c.10-12), dâm loạn (c.13), đồi bại (c.14) và tham lam (c.14b-16).  Sau đó ông buộc tội họ dựa trên ba phương diện: những điều họ đưa ra nghe có vẻ hấp dẫn, nhưng không có giá trị (c.17), phương pháp tiếp cận của họ là lợi dụng lạc thú nhục dục làm đòn bẫy quyến dụ những Cơ Đốc nhân mới tin đạo quay trở lại với đường lối của thế gian (c.18) và điều đó hoàn toàn mang tính lừa dối, vì “sự tự do” mà nó đem lại chỉ đưa người ta đến chỗ nô lệ cho tội lỗi (c.19).  Phân đoạn này có ngôn từ phức tạp và đặt biệt vì trước giả chồng chất các từ ngữ lên nhau làm nổi rõ mức độ tội ác trong cách cư xử của họ.  Trong thế giới hiện đại, kiểu dạy dỗ này ngày càng trở nên quen thuộc dưới danh nghĩa của ‘Thời Đại Mới’.

Chú thích.  10b  Cả gan (nghĩa đen là ‘liều lĩnh’) là tinh thần bất chấp những hậu quả xảy ra cho bản thân hay cho người khác.  Tự đắc (nghĩa đen là ‘tự lấy làm thỏa mãn’) mô tả thái độ bị những mong ước của mình ám ảnh đến nỗi không thể quan tâm được điều gì khác.  Các bậc tôn trọng có lẽ ám chỉ các thiên sứ (xem chú thích ở trên về câu 10a), có lẽ trong trường hợp lúc bấy giờ các tiên tri giả cũng gièm pha họ như cách dân thành Sô-đôm đã phỉ báng các thiên sứ vào nhà Lót vậy (Sa 19:1-26).  Cũng có thể là họ đã lợi dụng những hành vi của các thiên sứ sa ngã trong 6:1-4 để bào chữa cho những hành vi đồi bại của họ, và phỉ báng cả những thiên sứ không sa ngã bằng cách cho rằng đó là những hành vi điển hình của toàn thể các thiên sứ.  Cách dịch là “các bậc tôn trọng” cho thấy từ ngữ này cũng có thể áp dụng cho các cấp lãnh đạo Hội Thánh.  11 Các thiên sứ, trái lại, vốn có quyền than phiền với Đức Chúa Trời về cách cư xử của những kẻ ngạo mạn này, nhưng đã không làm như vậy.  Đây có thể là một câu có liên quan đến loại biến cố được mô tả trong Giu-đe 9.  12 Vì cách ăn ở cử xử như thế là không có lý trí (nghĩa đen của từ súc vật), như các hành vi của con vật, nên số phận của những kẻ người này sẽ giống với số phận của loài thú, bị săn bắt hủy diệt (Giu 1:10).  Phi-e-rơ nhấn mạnh sự ngu dốt của những kẻ chỉ trích nếp sống Cơ Đốc.  Rồi chết đi (nghĩa đen là’ sẽ bị tiêu diệt bởi sự bại hoại của mình) có thể được dịch như trên, hay cũng có thể nó mô tả về những hậu quả sau cùng của sự băng hoại mà họ đã đưa vào đời sống chính mình (tham khảo J.  B.  Phillips, “chắc chắn sẽ bị tiêu diệt bởi sự bại hoại của chính mình”).  Chúng lãnh lấy là một hình thức chơi chữ.  Green đã gợi ý một ẩn dụ thích hợp với “bị lừa gạt là tiền công của sự gian lận”.  Tội lỗi thu hút người ta bằng những lời mời gọi của nó về lạc thú, nhưng cuối cùng những kẻ đắm chìm trong đó chẳng tìm được chút lạc thú nào cả.  13 Chơi bời giữa ban ngày là đặc trưng của thói truỵ lạc tột cùng.  Với Cơ Đốc nhân, ban ngày là thời gian để làm việc (Gi 9:4  Ro 13:13  ITe 5:7-8).  Xấu xa ô uế (bản dịch tiếng Anh là ‘có tì vết’) là những điều gây đau khổ và làm biến dạng con người.  Từ này và từ “tì vết”, xuất hiện trong Kinh Thánh Tân Ước cùng với một tiếp đầu ngữ phủ định để mô tả tính cách của Chúa Cứu Thế và điều mà Hội Thánh Ngài phải đạt được (Eph 5:27).  Sung sướng (Hi văn là apatais) là một từ ngữ hàm ý về những lạc thú lừa dối người ta sa vào tội lỗi.  Vài cổ bản chép là agapais (những bữa ăn thân ái xem phần chú giải bên lề của bản NIV), từ này đã được dùng trong Giu 1:12.  ICo 11:1-34 cho chúng ta biết là ngay từ thời kỳ đầu, bữa ăn thân ái đã trở thành một vấn đề bị người ta lạm dụng.

14 Cặp mắt chúng đầy sự gian dâm là một nhóm từ cô đọng chỉ về việc “luôn tìm một phụ nữ để cùng người ấy phạm tội tà dâm”.  Phillips dịch “mắt họ không thể nhìn một phụ nữ mà không động lòng tham dục”.  Vì họ không vừa lòng với việc chỉ phạm tội một mình, họ phải dỗ dành nhiều người khác nữa tức là dẫn họ đi sai lạc (đối chiếu Ro 1:32).  Những con cái đáng rủa sả (nghĩa đen là ‘con cái của sự rủa sả’) là một cụm từ tiếng Hi Bá Lai (đối chiếu IPhi 1:14).  Họ đã chối bỏ Chúa Cứu Thế, Đấng duy nhất có thể cứu chuộc họ khỏi sự rủa sả.  15-16 Ba-la-am là thí dụ kinh điển về giáo sư giả vì tư lợi đã dẫn dắt dân sự đi sai lạc.  Dan 22:1-24:25 cho thấy thế nào Ba-la-am vì phần thưởng của Ba-lác mà đã cố nhiều lần lặp lại việc nói tiên tri chống lại dân Y-sơ-ra-ên.  Cuối cùng, khi không thể dùng lời nói để tiêu diệt dânY-sơ-ra-ên, ông ta thực hiện điều đó bằng đạo đức (31:16 đối chiếu 25:1-9  Kh 2:14).  Ba-la-am là nguyên mẫu của tiên tri giả, là kẻ tìm cầu lợi lộc hoặc danh vọng bằng cách thuyết phục người ta rằng những chuẩn mực của Đức Chúa Trời có thể hạ thấp được.  Ở đây, Phi-e-rơ khai triển một thí dụ đã được trích dẫn ở Giu-đe 11.  Hành vi của Ba-la-am bị gọi là điên cuồng, vì nó trái với lương tri.

17 Những suối không nước không đem lại được sự thoả mãn như chúng phô bày.  Đám mây (mist: sương mù, hơi nước) có lẽ ám chỉ tính bất ổn của các giáo sư giả: lời dạy của họ thay đổi theo chiều gió (Eph 4:14).  Cũng có thể cụm từ này ám chỉ họ không mang lại được “cơn mưa mát mẻ” như điều họ hứa, hay ám chỉ một điều gì đó chẳng đem lại được sự tốt lành, mà chỉ làm che khuất sự sáng.  Sự tối tăm mờ mịt là một từ ngữ được sử dụng từ thời xa xưa để chỉ về cảnh tối tăm trong của những khu vực thuộc hoả ngục (c.4).  18 Lời văn hoa (khoe khoang) hàm chứa ý nghĩ một điều gì đó lớn hơn thực chất của nó.  Dỗ dành cũng là từ ngữ được dùng ở câu 14 (xem chú thích ở đó).  Các giáo sư giả thường nhắm vào những người mới quy đạo, những người vừa mới tránh khỏi và người chưa bắt rễ sâu trong đạo.  19 Các giáo sư này đưa ra sự tự do, đó là không phải hầu việc Chúa Cứu Thế và tăng trưởng trong Ngài (IIPhi 1:3-11).  Khi làm như vậy họ đã bỏ qua một thực tế là kiểu phóng túng này chỉ khiến họ gánh lấy ách nô lệ cũ cho tội lỗi một lần nữa (Ro 6:1-23  Gi 8:31-36).  20 Chúng có thể ám chỉ các giáo sư giả hoặc là các nạn nhân của họ, cũng có thể là cả hai.  Xem phần chú thích về sự nhận biết trong IIPhi 1:2.  Xấu hơn có lẽ liên quan đến những lời của Chúa Giê-xu trong Mat 12:45 và Lu 11:26, mặc dù có người thấy rằng nó có liên hệ với 12:47-48.  21 Thà rằng không biết hơn vì nếu họ đã chối bỏ đường lối của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế, thì sẽ chẳng còn con đường cứu rỗi nào khác nữa (đối chiếu He 6:4-8  10:26-31).  Đường xem ở câu 2.  Biết đường công bình nhấn mạnh đến những kết quả về phương diện đạo đức khi noi theo Chúa Cứu Thế.  22 Câu châm ngôn thứ nhất là được tìm thấy trong Ch 26:11, còn câu thứ hai dường như được lấy từ một nguồn khác ngoài Kinh Thánh, đó là bộ sách cổ History of Ahikar.  Có lẽ Phi-e-rơ cũng nghĩ đến Mat 7:6.

4. LỜI NHẮC NHỞ VỀ SỰ TÁI LÂM CỦA CHÚA (IIPhi 3:1-16)

Phi-e-rơ mở đầu bức thư của mình bằng cách khuyến khích độc giả hãy tăng trưởng về sự tin kính.  Ở IIPhi 2:1 ông đã đi ra ngoài đề do ông quá bận tâm đến thiệt hại mà các giáo sư giả có thể gây ra hầu ngăn trở sự tăng trưởng đó.  Giờ đây, ông quay lại với chủ đề về nếp sống tin kính, trình bày sự tái lâm của Chúa như một động cơ khác nữa thúc đẩy nếp sống này.  Trước khi làm như thế, ông nhấn mạnh tính chắc chắn của sự tái lâm ấy, và trình bày lý do tại sao Đức Chúa Trời lại trì hoãn việc đó.

(IIPhi 3:1-2) Lời kêu gọi hãy nhớ lại lời hứa  Phi-e-rơ chỉ ra sự thống nhất của bức thư này với bức thư trước, và tính nhất quán giữa lời truyền dạy của ông với lời truyền dạy của các nhà tiên tri và các sứ đồ.  Từ đầu đến cuối, mục đích của ông là giúp độc giả trau dồi một tâm tình Cơ đốc (tư tưởng lành mạnh hay lòng lành).  Lòng ông cảm thấy ấm áp khi ông xây lưng lại với các giáo sư giả để nuôi dưỡng bầy chiên của Đức Chúa Trời, là anh chị em rất yêu dấu của ông.

Chú thích.  1 Thơ thứ hai có thể ám chỉ thư I Phi-e-rơ hoặc II Phi-e-rơ chương 1 và 2 (nếu được viết riêng rẽ, xin xem phần dẫn nhập I Phi-e-rơ) hoặc một bức thư được viết trước đó, giờ đây đã bị thất lạc.  Bằng những lời lẽ bao quát, có thể những câu này mô tả I Phi-e-rơ.  Giục (khơi dậy) cũng chính là từ đã được dịch ra là tỉnh thức ở IIPhi 1:13.  Lòng lành trái ngược với những tư tưởng đã được mô tả ở chương 2.  Cụm từ này vừa mang một ý nghĩa về mặt đạo đức (“thánh khiết”) vừa có nghĩa là “không bị ô nhiễm bởi thành kiến”.  2 Phi-e-rơ cũng nhấn mạnh tính thống nhất giữa Kinh Thánh Cựu Ước và các văn phẩm của các sứ đồ trong 1:19-21 và IPhi 1:10-12.  Mạng lịnh có lẽ ám chỉ toàn bộ sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu đã được các sứ đồ bày tỏ (Gi 14:26).  Chúa Cứu Chúa chúng ta là uy quyền tối hậu ẩn sau các nhà tiên tri lẫn các sứ đồ (đối chiếu Eph 2:20).  Các sứ đồ của anh em được một số người hiểu là cách đề cập về “những người đã mang sứ điệp đến cho anh em”.  Có lẽ điều này nhấn mạnh tính đáng tin cậy của họ hơn là vai trò của họ “những người mà anh em đã tin cậy, từng dạy cho anh em đạo chính thống’ tương phản với các giáo sư giả(đối chiếu Giu-đe 17).

(IIPhi 3:3-4) Khuyến cáo hãy bất chấp những kẻ gièm pha  Phi-e-rơ biết sự nản lòng có thể nhanh chóng lây lan trong một nhóm thông công ra sao,  vì thế ông khuyên các độc giả đừng để mình bị rối trí trước những kẻ lý luận sai trật rằng tình trạng có vẻ như không hoạt động của Đức Chúa Trời có nghĩa là Ngài sẽ không hành động.  Giu-đe 18 cho biết lời cảnh cáo này là của chính các sứ đồ.

Chú thích.  3 Trước hết phải biết (hiểu) rằng cũng chính là cụm từ “trước hết .  .  .” ở IIPhi 1:20.  Mấy kẻ hay gièm chê cùng với việc nhắc đến tình dục riêng của họ, cho thấy rằng các giáo sư giả trong chương 2 vẫn được lưu ý.  Những kẻ buông mình theo các tham dục riêng luôn chế nhạo bất cứ điều gì khích lệ nếp sống cao đẹp.  4 Tổ phụ chúng ta có thể áp dụng cho các lãnh đạo Cơ Đốc đầu tiên như Ê-tiên, Gia-cơ con trai Xê-bê-đê, v.v..  hay cho các thành viên cao tuổi hơn thuộc thế hệ Cơ đốc nhân đầu tiên đã qua đời giữa những năm từ 30 đến 60 S.C.  Phao-lô cũng đã viết vấn đề tương tự ở ITe 4:13-18, cho nên đây không phải là lý lẽ để chứng minh rằng tác phẩm có một niên đại muộn.  Việc đề cập đến cơn nước lụt ở câu 5-7 cho thấy rất có thể là ông đang nói đến các vị tộc trưởng.

(IIPhi 3:5-7) Một do cho thấy không nên bỏ qua lời này. Thực tế cho thấy lý luận ở câu 4 của những kẻ gièm pha là sai.  Họ đã cố ý quên rằng Đức Chúa Trời thật đã can thiệp bằng sự phán xét vào thời nước lụt.  Điều này chứng tỏ tính bình ổn của thiên nhiên không phải là lý lẽ để cho rằng Đức Chúa Trời sẽ không làm gián đoạn nhịp điệu đều đặn của nó, và cho rằng Ngài có thể lại thực hiện những lời hứa khác nữa của chính Ngài theo thời điểm của Ngài.

Chú thích.  5 Bởi Lời Đức Chúa Trời (đối chiếu Sa 1:3  Thi 33:6  Gi 1:3  He 11:3).  Nước là một trong những yếu tố được tạo ra đầu tiên mà từ đó Đức Chúa Trời hình thành trái đất (Sa 1:2).  Nó là một trong những phương tiện Ngài vẫn dùng để duy trì trái đất.  6  Bởi nước lụt rõ ràng là ám chỉ nạn lụt (6:1-9:29).  7 Trời đất thời bây giơ  tương phản với trời mới đất mới trong tương lai (Kh 20:1).  Còn lại (IIPhi 2:9).

(IIPhi 3:8-9) Những do khiến Đức Chúa Trời trì hoãn  không thể phủ nhận lời hứa của Đức Chúa Trời về một lần can thiệp khác nữa, Phi-e-rơ đưa ra hai yếu tố giải thích tại sao Ngài vẫn đang trì hoãn việc can thiệp đó bao lâu tuỳ ý:  vì thời gian chẳng có gì quan trọng với Ngài và Ngài dành cho mọi người thời gian để ăn năn.

Chú thích.  8 Chớ nên quên tương phản với sự cố ý quên của các giáo sư giả ở câu 5-6.  trước mặt Chúa được trích dẫn từ Thi 90:4, cho thấy thực tế là Đức Chúa Trời không bị giới hạn bởi thời gian, nên Ngài không buộc phải hành động vội vàng (đối chiếu Ha 2:3).  Được một số người trích dẫn như một lý lẽ rút ra từ thuyết Cứu rỗi phổ quát (Universalism), câu này thật sự dạy về điều ngược lại.  Nó cho thấy rằng sau Chúa tái lâm, mở đầu bằng sự phán xét của Đức Chúa Trời, thì sẽ chẳng còn cơ hội nào để ăn năn nữa.

(IIPhi 3:10-13) Tái khẳng định sự kiện Chúa tái lâm những hậu quả của   Lý lẽ đề cập về tính chắc chắn của sự kiện Chúa Cứu Thế tái lâm được kết lại bằng một sự nhắc nhở thêm về sự kiện này và tính bất ngờ của nó.  Sau đó Phi-e-rơ luận về các hậu quả mà sự kiện này sẽ gây ra cho cái thế giới vật chất như chúng ta đã biết và những kết quả mà sự thông hiểu về điều này làm nảy sinh trong đời sống người tín hữu.  Vì trời mới đất mới sẽ là nơi ở của sự công chính, chúng ta phải tập tành để ‘mình quen thuộc với điều đó’ngay từ bây giờ.

Chú thích.  10 Cụm từ Như kẻ trộm được rút ra từ lời dạy dỗ của Chúa Giê-xu trong Mat 24:42-43.  Các từng trời sẽ... qua đi cũng đã được Chúa Giê-xu đề cập (Mac 13:31).  Các thể chất cũng có thể áp dụng cho các nguyên tố cấu tạo nên vũ trụ này, hoặc cho các thiên thể khác.  Mọi công trình có thể ám chỉ các công trình xây dựng và những thành tựu vật chất khác, hoặc những “công việc” theo ý nghĩa đạo đức điều này tuỳ thuộc vào cách lý giải động từ đã được dùng.  Bị đốt cháy (có cách lý giải khác là “bị lột trần”).  Vì thế mọi công trình có thể là tất cả những việc làm của loài người.  11 Chúa Giê-xu (Lu 12:35-40), Phao-lô (Ro 13:11-14  ITe 5:3-11), Phi-e-rơ (IPhi 1:13  4:7-11) đều dùng sự phán xét sau cùng như một động cơ để thúc đẩy nếp sống tin kính.  12 Trông mong... mau đến thích hợp hơn là “khi anh em nóng lòng chờ đợi”, nhấn mạnh tầm quan trọng của con người trong hoạt động truyền bá Phúc Âm, v.v..  (Cong 3:19-21  17:30-31) trong suốt giai đoạn Đức Chúa Trời nhịn nhục.  13 Các thí dụ về lời hứa của Chúa là Es 65:17-25 và 66:22-23.

(IIPhi 3:14-16) Lời kêu gọi phải cách ăn ngay lành, được hỗ trợ bằng việc đề cập các văn phẩm của Phao-  Điều này đưa đến việc lặp lại lời kêu gọi về sự thánh khiết, trong sự trông đợi Chúa tái lâm và biết ơn về sự nhịn nhục của Ngài.  Đây cũng là những chủ đề mà Phao-lô đã viết về, và sự đề cập về ông dẫn tới một lời cảnh cáo rằng có một số người (có lẽ là các giáo sư giả của chương 2) đang cố ý làm người khác hiểu sai về những lời giảng dạy của ông.

Chú thích.  14 Phải làm hết sức mình được rút ra từ lời khuyên ở IIPhi 1:10.  Hầu cho Chúa thấy có lẽ đề cập về việc bị đốt cháy cả (bị lột trần)ở câu 10.  Không dấu vít, chẳng chỗ trách được tương phản với các giáo sư của 2:13 (Giu-đe 24).  Bình an là sự thoả mãn của một tấm lòng hoà thuận với Đức Chúa Trời.  15 Chúng ta phải nhìn biết sự nhịn nhục của Đức Chúa Trời vì Ngài đang dành thì giờ để những kẻ vô tín được cứu và để các tín hữu làm nên sự cứu rỗi cho mình (Phil 2:12-13).  Cũng như viết thơ có lẽ ám chỉ đến lời giáo huấn tổng quát về sự tái lâm.  Tuy nhiên, có lẽ nó nhấn mạnh điểm sau cùng về sự trì hoãn của Đức Chúa Trời là vì sự nhịn nhục của Ngài, chớ không phải vì sự xao lãng.  Sự khôn ngoan được ban cho là lời nhắc nhở khéo léo rằng các bức thư của Phao-lô có nguồn gốc từ Đức Chúa Trời (ICo 2:13  3:10).  16 Mọi bức thơ không nhất thiết gợi ý rằng việc sưu tập các thư tín của Phao-lô đã được hoàn tất, mà ngụ ý rằng cho đến thời điểm đó, các cộng đồng Cơ Đốc nhân đã bắt đầu tập hợp chúng lại.  Khó hiểu có thể có nghĩa là “mơ hồ”, “không rõ nghĩa” (bản NEB) hay dễ bị diễn giải sai.  Phao-lô từng mắc phải sự xuyên tạc của những kẻ đã dạy rằng Cơ Đốc nhân không cần giữ luật pháp (Ro 3:8).  Vì những kẻ dốt nát tin không quyết đã xử sự như thế, nên điều quan trọng hơn cả là Cơ Đốc nhân phải tấn tới trong sự hiểu biết Chúa và trong việc xây dựng một nền tảng vững chắc cho đời sống Cơ Đốc (IIPhi 1:3-11).  Cụm từ các phần Kinh Thánh khác có thể được dùng để lý luận rằng các văn phẩm của Phao-lô có thể được liệt vào hoặc bị loại khỏi Kinh Thánh.  Lời dạy của Phi-e-rơ (IPhi 1:10-12  IIPhi 1:19-21  3:2) cho thấy các bức thư của Phao-lô chứa được những phẩm cách để được thừa nhận là Kinh Thánh (quyền sứ đồ của trước giả và sự hướng dẫn của Thánh Linh khi ông viết các,  ICo 2:13  4:17  IICo 13:3-10  ITe 2:13).

5. LỜI KÊU GỌI HÃY VỮNG VÀNG VÀ TĂNG TRƯỞNG – PHI-E-RƠ QUY VINH HIỂN CHO ĐỨC CHÚA TRỜI (IIPhi 3:17-18)

Bây giờ Phi-e-rơ kết thúc thư bằng cách nhắc lại đại chủ đề mà ông đã bắt đầu (IIPhi 1:3-11).  Ông kêu gọi độc giả, về phương diện tiêu cực, phải đề phòng những kẻ vô luật pháp là những kẻ sẽ tìm cách để lôi kéo độc giả vào sự lầm lạc cùng với họ, còn về phương diện tích cực, phải tiến bộ về thuộc linh.  Chỉ một mình Chúa Cứu Thế đã làm mọi việc để điều này trở thành khả thi, vì thế bây giờ chúng ta phải dâng mọi vinh hiển cho Ngài, như chúng ta cũng sẽ làm như thế suốt cả cõi vĩnh hằng khi Ngài trở lại.  Nguyền xin ý Ngài được nên!

Chú thích.  17 anh em đã được biết trước có thể mang nghĩa là lời khuyên này đã được đưa ra trước khi các giáo sư giả dấy lên (đối chiếu thì tương lai của IIPhi 2:1), hoặc đúng hơn nó đề cập thực tế là Phi-e-rơ đang báo động cho các độc giả của ông trước khi lời truyền dạy này thật sự đến được với họ.  Việc chối bỏ một bộ luật đạo đức đối vớ Cơ Đốc nhân chắc chắn vốn là một vấn đề sinh tử khi các thư Rô-ma và I Cô-rinh-tô được viết ra.  Hãy giữ (vị trí) có chung gốc từ mà Phi-e-rơ đã dùng trong IPhi 5:10 (đối chiếu Lu 22:32).  18 Ân điểnsự thông biết đều là những ân tứ Đức Chúa Trời ban, giúp cho người nhận có thể tăng trưởng về bình diện đạo đức và tinh thần.  Bức thư này cho thấy Cơ Đốc nhân phải tăng trưởng song song cả hai phương diện này.  Đức Chúa Giê-xu Christ có thể giúp người theo Ngài thực hiện sự tăng trưởng này, vì Ngài vừa là Chúa vừa là Cứu Chúa của chúng ta.  Về nơi Ngài ám chỉ Chúa Cứu Thế và là lời khẳng định rõ ràng về thần tánh của Ngài.  Đời đời nguyên văn là cho đến “ngày của thời đại”, tức là khi Chúa Cứu Thế đến để mở đầu cõi vĩnh hằng.  A-men có thể là một chữ được thêm vào văn bản sau này.  “Như ý sở cầu” chắc chắn là sự đáp ứng của một tấm lòng tin kính sau khi đã đọc hết bức thư này.

Lên đầu trang