1 PHI-E-RƠ

MỤC LỤC

I PHI-E-RƠ

Dẫn Nhập

Ai viết thư I Phi-e-rơ?

Trước giả tự xưng là “Phi-e-rơ, một sứ đồ của Đức Chúa Giê-xu Christ” (1:1) và là “một người chứng kiến sự đau đớn của Đấng Christ” (5:1). Ông viết thư này với sự trợ giúp của Si-la (Sin-vanh) từ một nơi ông gọi là “Ba-by-lôn”, nơi Mác “con (trai)” ông ở cùng với ông (5:12-13). Cùng với chứng cứ trực tiếp này cho thấy sứ đồ Phi-e-rơ chính là trước giả, bức thư còn thường đề cập cuộc đời và sự dạy dỗ Chúa Giê-xu (xem phần dưới). F. H. Chase từng nhận định: “Chẳng hề có Thư tín nào chứa đựng nhiều tinh thần của Chúa Giê-xu như thế” (Dictionary of the Bible, J. Hastines biên soạn, vol. III, trang 780).

Nhiều tác giả thời kỳ đầu đã đề cập đến bức thư này và dùng nó để trích dẫn, nhưng vào những năm gần đây, người ta đã đưa ra năm lý do chính để cho thấy rằng thật ra Phi-e-rơ không phải là trước giả.

Thứ nhất, trong Cong 4:13 Phi-e-rơ được mô tả là “kém học thức”, và văn phong Hi văn được dùng trong bức thư này được xem là quá tuyệt vời nên không thể nào do một ngư dân Ga-li-lê viết ra. Những lời trích dẫn cũng được lấy từ bộ Bảy Mươi (LXX) bằng Hi văn, chớ không phải từ một bản sao Kinh Thánh Cựu Ước bằng tiếng Hi Bá Lai.

Tuy nhiên, văn phong của bức thư này, vốn không phải là quá “trí thức” như một số người đã vạch ra, và có những chỗ nó chỉ là phong ngôn của tầng lớp bình dân. Có chứng cứ hiển nhiên cho thấy rằng vào thời Phi-e-rơ, Hi văn cũng giống như tiếng A-ram, được dùng để giao tiếp tại Ga-li-lê, và với tư cách một ngư dân sinh sống tại Ca-bê-na-um, một thành nằm trên một trong những con đường giao thương huyết mạch, chắc hẳn ông đã dùng tiếng Hi Lạp thường xuyên. Sự việc chính tên gọi của anh ông, Anh-rê, là một tên gọi Hi Lạp gợi ý rằng Phi-e-rơ đã cùng lớn lên với ngôn ngữ này ngay từ nhỏ. Khoảng ba mươi năm làm công tác truyền giảng Phúc Âm và giảng dạy trong một Hội Thánh có số người ngoại quốc ngày càng tăng chắc hẳn đã khiến ông ngày càng thông thạo Hi văn hơn và sẵn sàng trích dẫn bộ LXX như một ‘Phiên bản Thông dụng’ (Authorized Version) của mình vậy. Không chắc chắn, nhưng có lẽ Sin-vanh (5:12) đã hành động như một thư ký của Phi-e-rơ (tức là người viết ra bức thư theo những ý tưởng mà Phi-e-rơ đã truyền đạt cho ông). Nếu quả thật như thế, việc ông được trưởng dưỡng như một công dân La Mã (Cong 16:37) chắc hẳn đã ảnh hưởng đến văn phong và ngôn ngữ của bức thư.

Thứ hai, căn cứ vào ngôn từ của 4:14-16 một số người đã dựng nên một trường hợp để ám chỉ rằng bức thư này đã được viết vào một thời điểm mà chính việc trở thành Cơ Đốc nhân bị xem là phạm tội, và điều này được biết là vẫn không xảy ra mãi cho đến một thời gian lâu sau khi Phi-e-rơ qua đời.

Tuy nhiên, theo lý luận của Phi-e-rơ trong cách chương 2-4 thì Cơ Đốc nhân phải chuyên tâm sống một cuộc đời lương thiện, để nếu có bị cáo gian, thì những lời cáo buộc như thế sẽ vô căn cứ. Sách Công Vụ Các Sứ Đồ (thí dụ 13:50; 14:5, 19; 16:19-24; 17:5, 13; 18:12-13; 19:23-29) cho thấy từ sự hiểu lầm vào những ngày đầu tiên đó, những sự thành kiến và chống đối Phúc Âm đều có thể dẫn tới sự bắt bớ “vì cớ danh Đấng Christ”. 4:14-16 không cần thêm những ngụ ý hợp pháp nào khác hơn những cụm từ tương tự trong Mat 10:22 và Cong 5:41. Thật vậy, điều Phi-e-rơ nói về vai trò của chính quyền ở 2:13-14 gợi ý rằng ông không hề trông chờ sự bắt bớ về phương diện ấy. Mối liên hệ giữa Hội Thánh và các nhà cầm quyền được chỉ ra trong thư về cơ bản cũng tương tự như trong sách Công Vụ.

Thứ ba, một số người phản bác vì bức thư chứa đựng một số ý tưởng được tìm thấy trong các văn phẩm của Phao-lô đặc biệt là trong bức thư của ông gửi người Ê-phê-sô.

Lý luận này chỉ có giá trị nếu người ta chấp nhận giả thuyết chủ trương rằng hai vị sứ đồ này đã bất đồng ý kiến với nhau và cuối cùng vẫn không hoà giải được. Sự dạy dỗ căn bản trong Hội Thánh đầu tiên rõ ràng là rất chuẩn mực, nên chắc hẳn sẽ rất lạ nếu chúng không có những điểm giống nhau. Nếu chúng ta chấp nhận rằng hai sứ đồ Phi-e-rơ và Phao-lô đã ở chung với nhau tại Rô-ma (xem phần luận bên dưới về thời gian bức thư này được viết ra) ngay trước khi bức thư này được viết ra, thì rõ là hai vị này đã bàn về nhiều vấn đề được nói đến trong thư (cũng xem Ga 1:18).

Thứ tư, theo Ga 2:9 hai sứ đồ Phi-e-rơ và Phao-lô đã nhất trí là sẽ làm việc trong những lãnh vực khác nhau, nhưng người ta cho rằng nơi đến của thư I Phi-e-rơ sẽ là một khu vực mà Phao-lô từng truyền giảng Phúc Âm.

Sự sắp xếp được đề cập trong thư Ga-la-ti đã được thực hiện ít nhất là mười năm trước khi bức thư này được viết ra, và trong khoảng thời gian đó điểm khác biệt giữa Hội Thánh người Do Thái và ngoại quốc chắc hẳn cũng ít rõ rệt hơn. 1:12 gợi ý rằng trước đây Phi-e-rơ chưa từng đem Phúc Âm đến cho các độc giả của ông, nhưng Cong 16:6-7 cho thấy rằng cả Phao-lô cũng chưa từng viếng thăm tất cả các Hội Thánh ấy.

Cuối cùng, một số người nói rằng bức thư này không chứa đựng loại thông tin của một cá nhân về Chúa Giê-xu, điều người ta vẫn trông đợi nơi một tác giả biết Ngài như Phi-e-rơ vậy.

Tuy nhiên, hãy xem chẳng hạn 1:8, 13; 2:21-25; 3:14; 4:14; 5:12 và nhiều câu khác nữa trong phần bình giải dưới đây. Xin quý độc giả tự nhận định khi đọc bức thư này cho chính mình.

Nhìn chung, không phản bác nào kể trên mang tính quyết định cả. Phần lớn các chứng cứ, cả ngoại lẫn nội chứng, đều có vẻ hậu thuẫn cho quan điểm truyền thống chủ trương rằng sứ đồ Phi-e-rơ đã viết bức thư này.

Bức thư này được viết tại đâu và bao giờ?

Trong 5:13 tác giả gởi lời chào thăm của “những người cùng được chọn với anh chị em ở tại Ba-by-lôn”. Dường như câu này ám chỉ về Hội Thánh địa phương tại Ba-by-lôn, nhưng không thể nào có chuyện Phi-e-rơ đã từng đến cựu kinh đô của vương quốc do Nê-bu-cát-nết-sa cai trị. Vào thời Phi-e-rơ, nó là một nơi đổ nát với dân cư thưa thớt (làm ứng nghiệm Es 14:23). Trong Kh 16:19, 17:5 “Ba-by-lôn” được dùng như một địa danh bí ẩn để chỉ thành phố Rô-ma; Co 4:10 cùng Phi-lê-môn 24 (rất có thể đã được viết tại Rô-ma), cho thấy Mác đã từng ở đó với Phao-lô.

Theo IITi 4:11 Mác ở tại Tiểu Á, và Phao-lô yêu cầu ông đến, rất có thể là đến Rô-ma. Việc cả Phi-e-rơ lẫn Phao-lô đều không đề cập về nhau trong danh sách những người từ Rô-ma gởi lời chào thăm chỉ cho thấy rằng hai vị này đã không ở cùng nhau vào thời điểm các bức thư của họ được viết ra. Toàn bộ điều này vạch ra giả thuyết rằng lúc bấy giờ Phi-e-rơ đang viết bức thư này tại Rô-ma, điều này được chứng cứ của Tertullian hậu thuẫn (Against Heresies, 36) và Eusebius (Ecclesiastical History, 2.25.8, 2.15.2 và 3.1.2-3).

Khi xem xét những điều đã được đề cập ở trên về việc các Cơ Đốc nhân bị bắt bớ bách hại, có lẽ niên đại của thư thuộc vào giai đoạn trị vì của Nero (54-68 S.C.) được xem là gợi ý tốt nhất. Vì Phi-e-rơ không đề cập gì đến việc tử đạo của Phao-lô, mà đựơc cho là đã xảy ra trong lúc cuộc bắt bớ bách hại tại Rô-ma bùng nổ năm 64, vì thế có lẽ bức thư này đã được viết trước đó (cũng xem 2:13). Người ta cho rằng những kết nối với các văn phẩm khác gợi ý rằng nó có niên đại sau năm 60. Vì thế chúng ta có thể rút ra một kết luận nào đó từ chứng cứ này, có thể là bức thư này được viết vào khoảng 63-64.

Bức thư này được viết cho ai?

Phao-lô đã trả lời câu hỏi này trong IPhi 1:1. Vùng được mô tả nằm trong khu vực các tỉnh của La mã tại vùng Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay), về phía Bắc của các rặng Taurus. Thật khó định vị chính xác vì các địa danh có thể chỉ về các vương quốc thời cổ đại mà cũng có thể là chỉ về các tỉnh của La Mã đương đại, và cả hai lại không luôn tồn tại những đường biên giới giống nhau. Sơ đồ dưới đây minh hoạ cho thuyết của Colin Hemer (Exp T 89 [1978], pp. 239-243, The Address of 1 Peter) về con đường khả năng nhất mà một vị sứ giả đã đi để mang bức thư này đến các Hội Thánh chính trong những khu vực ấy, nơi có lẽ bức thư này đã được sao chép để phân phát cho các tiểu khu làm công tác chứng đạo Cơ Đốc (xem Co 4:16).

Description: Description: C:\Users\Dinh Phuc\Desktop\Hinh Scan\New folder\232_Tap7.jpg

Tình trạng xã hội của những người nhận bức thư có thể đã phản ảnh địa vị của hầu hết các Hội Thánh đương thời, như một bộ phận tiên biểu cho cả cộng đồng. Có những người chồng và những người vợ (3:1, 7), người nô lệ (2:18 – nhưng không đề cập đến người làm chủ như trong Eph 6:5-9; Co 3:22-4:1), có thanh niên (5:5) và các trưởng lão làm công tác mục vụ (5:1-4). Một số phụ nữ dường như có đủ điều kiện đề tận hưởngmột cuộc sống khá giả (3:3). Cách mô tả về cách sống của các độc giả trước khi trở thành Cơ Đốc nhân (4:3-4) cho thấy rằng một số những người này đã tham gia các nghiệp đoàn của người ngoại tại địa phương. Phi-e-rơ gọi họ là “những người khách trọ trong thế gian” (1:1; đối chiếu 1:17; 2:11) và thuật ngữ này đã đưa John H. Elliott đến chỗ phát triển một thuyết cho rằng họ là những “ngoại kiều tạm trú” trong quyển A Home for the Homeless (SCM, 1982). Nhưng trường hợp này không được chứng minh, và cách dùng từ ngữ đó có lẽ được dùng theo nghĩa bóng để phản ảnh cách thức mà qua đó nếp sống Cơ Đốc của họ đã khiến họ khác với những dân tộc láng giềng ngoại đạo của họ. Nó cũng giống với ngôn ngữ trong Kinh Thánh Cựu Ước của Đa-vít và Sa-lô-môn khi họ nhìn xem cuộc đời trên đất của mình trong ánh sáng của cõi vĩnh hằng (xem Thi 39:12 và ISu 29:15).

Môi trường tôn giáo của các độc giả đầu tiên dường như bao gồm cả người Do Thái lẫn ngoại quốc. Căn cứ theo Cong 2:9, chúng ta biết có những người Do Thái đã từ vùng Tiểu Á đến Giê-ru-sa-lem để dự lễ Ngũ Tuần, và những người đã ăn năn quy đạo vào thời điểm ấy trong số họ chắc hẳn đã mang sứ điệp Phúc Âm về theo mình. Những người quy đạo tại thành An-ti-ốt và Y-cô-ni thuộc xứ Bi-si-đi vốn xuất thân từ nhà hội (Cong 13:43; 14:1), và Lu-ca đặt biệt đề cập trong Cong 14:1 rằng Hội Thánh được hình thành gồm cả người Do Thái lẫn người ngoại quốc. Cho nên văn phẩm này của Phi-e-rơ phản ảnh về một tập hợp Cơ Đốc nhân lẫn lộn như trên. Ông dùng Kinh Thánh Cựu Ước để chứng minh cho những vấn đề mình đưa ra (1:24-25; 2:6, 7-8, 22-24; 3:10-12; 4:18; 5:5) và đưa ra những ngụ ý khác đầy ý nghĩa với các độc giả Do Thái (thí dụ trong 1:1 “kiều ngụ rải rác” [Hi văn diaspora] là thuật ngữ chỉ cộng đồng người Do Thái ở ngoài xứ Y-sơ-ra-ên; cũng xem 2:4-10 và 3:20). Những lời bình luận khác của ông có lẽ liên quan hơn đến các độc giả người ngoại quốc (thí dụ 1:18, “sự ăn ở không ra chi của tổ tiên truyền lại cho mình”; 2:10, “Anh em ngày trước không phải là một dân, mà bây giờ là dân Đức Chúa Trời”; 4:3, “Ngày trước cũng đã đủ làm theo ý muốn người ngoại đạo rồi”).

Cho dù độc giả của ông là Cơ Đốc nhân người Do Thái hay ngoại quốc, Phi-e-rơ đều khéo léo khích lệ họ tin rằng họ là “dân Y-sơ-ra-ên mới”. Trong Hội Thánh Cơ Đốc họ được thừa kế tất cả những điều mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho tuyển dân của Ngài trong Kinh Thánh Cựu Ước (xem 1:1; 2:5, 9-10).

Đây có phải là một bức thư thống nhất?

Những người cho rằng bức thư này không phải là thể thống nhất thường theo ba lập luận chính sau:

a. Một số người bảo rằng 1:1 và 5:12-14 được thêm vào sau khi bức thư đã được viết xong. Không có cổ bản nào minh chứng cho lý luận này, và vẫn còn câu để đối chứng là 5:1.

b. Nhiều người khác nói rằng bức thư ban đầu đã được kết thúc ở 4:11 và phần còn lại của thư đã được thêm vào sau. Họ lý luận rằng khả năng phải chịu khổ đã được trình bày tách biệt trong 3:17, nhưng rồi được trải nghiệm ở 4:12. Tuy nhiên, 1:6 chỉ ra một tình trạng tương tự với 4:12. Dường như nó sẽ hữu lý hơn khi cho rằng Phi-e-rơ đang trình bày ý nghĩ của mình về từng trải của Hội Thánh lúc thì với tư cách là một tổ chức tập thể và lúc thì là những thành viên cá thể. 3:17 không thể nào ứng dụng cho từng độc giả một. Tất cả các Hội Thánh đều có thể gặp bắt bớ bách hại trong một tương lai gần, vì thế mọi thành viên của Hội Thánh sẽ phải cùng nhau chịu khổ (ICo 12:26), nhưng trong mỗi đợt bắt bớ bách hại chỉ một số ít cá nhân được gọi để chịu khổ. Không nhất thiết phần ca tụng ở 4:11 phải là một lời kết luận. Ro 11:33-36; 15:33 và Eph 3:20-21 là những thí dụ khác về việc tác giả quá xúc động về các chân lý mình đang trình bày đến nỗi ông buột phải thốt lên những lời tán tụng.

c. Những người khác cho rằng bức thư này là một loại nghi thức được viết để dùng vào dịp cử hành phép báp-tem, nó là một bộ sưu tập gồm các bài giảng, những lời giáo huấn dành cho các tín hữu mới quy đạo hay những trích đoạn của những bài thánh ca đầu tiên. Có thể Phi-e-rơ đã trích dẫn từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau để đáp ứng chủ đích của ông (hoặc cũng có thể là chính các nguồn ấy đã trích dẫn của từ tài liệu của ông!), nhưng người ta không có lý do gì để chối bỏ lời khẳng định của chính ông ở 5:12.

Bức thư được đọc như một khối thống nhất được viết nhằm khích lệ các Cơ Đốc nhân, đặc biệt là những người mới tin đạo, và nhằm công bố cho họ về chân lý và sự thực hữu của ân điển Đức Chúa Trời, hầu cho họ có thể đứng vững với lòng tin quyết trọn vẹn.

Tại sao bức thư này được viết ra?

Căn cứ vào những gì đã được trình bày ở phần cuối ở trên, người ta sẽ đưa ra rất nhiều thuyết liên quan đến chủ đích của bức thư này. Những chi tiết đầy đủ hơn của các thuyết này có thể được trình bày ở những sách bình giải khác về I Phi-e-rơ. Với những mục đích muốn hướng đến của mình, chúng tôi thiết tưởng rằng chỉ cần đón nhận những lời lẽ mà chính Phi-e-rơ trình bày trong 5:12 theo giá trị bề ngoài là đủ.

Phi-e-rơ nhận thấy các Cơ Đốc nhân có nguy cơ bị bắt bớ bách hại (1:6) và họ chưa được chuẩn bị sẵn sàng cho điều đó (4:12). Do vậy, ông muốn làm hai điều: khích lệ họ và chứng thực cho họ về ân điển chân thật của Đức Chúa Trời (5:12) mà ông khuyên giục độc giả của mình hãy đứng vững trong đó. Hai chủ đích đó được đan xen vào nhau vì Phi-e-rơ đưa ra lời khích lệ bằng cách công bố những hành động đầy ân điển của Đức Chúa Trời qua Chúa Cứu Thế, được bày tỏ và sắp đặt bởi Thánh Linh của Ngài. Chúng ta có thể liệt kê một số lời khích lệ như sau:

Phạm vi và mục tiêu của các chủ đích của Đức Chúa Trời (1:3-9).

Sự phấn khởi của các nhà tiên tri và sự nôn nả của các thiên sứ hầu lãnh hội kế hoạch tuyệt vời này (1:10-12).

Cái giá phải trả để cứu chuộc chúng ta (1:18-21).

Tính bền vững của lời hứa Đức Chúa Trời (1:22-25).

Đặc ân của việc thuộc về dân của Đức Chúa Trời (2:4-10).

Gương của Chúa Giê-xu (2:22-25).

Điều Chúa Giê-xu đã làm cho chúng ta (3:18-22).

Niềm tin quyết mà chúng ta có được nơi Đấng Tạo Hoá và sự thành tín của Ngài (4:17-19).

Sự tin chắc cuối cùng Đức Chúa Trời sẽ chiến thắng khải hoàn và những người thuộc về Ngài sẽ cùng dự phần trong chiến thắng ấy (5:10-11; tham khảo 1:7).

Những sự khích lệ như thế cùng một lời khẳng định như thế về ân điển của Đức Chúa Trời, thường mang lại cho các tín hữu Cơ Đốc một vị trí chắc chắn để đương đầu với bất kỳ điều gì thế kỷ thứ hai mươi mốt sau Chúa Cứu Thế có thể đưa đến.

Thư I Phi-e-rơ có giống với các văn phẩm Tân Ước khác không?

Trước giả giống như một người biết rất rõ vốn Kinh Thánh Cựu Ước của mình, và sẵn sàng hậu thuẫn cho những gì mình truyền dạy bằng cách trích dẫn Kinh Thánh Cựu ước, nhất là sách Ê-sai và Thi Thiên (xem ở 1:18-20, 24-25; 2:6-8, 22 và tt; 3:10-12; 4:17-18). Tuy Phi-e-rơ không trực tiếp trích dẫn từ các sách Phúc Âm, nhưng ông vẫn thường dùng những từ ngữ và cụm từ để nhắc nhở chúng ta về những sự kiện và lời dạy dỗ trong đó. Chúng ta sẽ lưu ý đến những điểm này trong phần bình giải.

Sách Công vụ cũng có những điểm giống với lời giảng của Phi-e-rơ, thí dụ Cong 2:23 / IPhi 1:20; Cong 2:31 / IPhi 1:11; Cong 2:34-35 / IPhi 3:22; Cong 4:11 / IPhi 2:7; Cong 4:12 / IPhi 3:21; Cong 10:34 / IPhi 1:17; Cong 10:39 / IPhi 2:24. Đây là những phân đoạn chính có ý niệm trùng lắp nhau, và khi được nghiên cứu chi tiết sẽ cho thấy thêm nhiều từ ngữ và cụm từ giống nhau.

Phi-e-rơ cũng thường dùng nhiều từ ngữ then chốt mà cũng được tìm thấy trong thư Rô-ma và Hê-bơ-rơ. Có thể nói các trước giả của cả ba bức thư này cùng “hít thở trong một bầu không khí thuộc linh”. Cho đến thời điểm Phi-e-rơ viết bức thư này thì chắc hẳn có một số từ ngữ hoặc cụm từ đã trở thành ngôn từ về từng trải thuộc linh được mọi người chấp nhận. Về chủ đề nó cũng có những điểm rất giống với chủ đề của thư Ê-phê-sô và Gia-cơ. Những điểm này thật lý thú, và chi tiết sẽ được tìm thấy ở một bài bình giải đầy đủ hơn, nhưng thật thiếu sáng suốt nếu các lý luận được xây dựng dựa vào những điều này.

I Phi-e-rơ hàm chứa quan điểm thần học gì?

Như chúng ta đã biết, Phi-e-rơ viết bức thư này với một chủ đích thực tiễn, và chắc ông sẽ rất ngạc nhiên nếu được hỏi về nội dung thần học của bức thư. Ông không viết để trình bày một quan điểm thần học (như Phao-lô đã thực hiện ở thư Rô-ma hay Cô-lô-se), mà với tư cách mục sư, ông đưa ra những lời khuyên dạy dựa trên những hiểu biết của ông về bản cách của Đức Chúa Trời. Vì thế những giáo lý được trình bày trong thư là những giáo lý thúc đẩy cách sống Cơ Đốc nhân.

Giáo lý về Đức Chúa Trời

Trong 1:1-2 Phi-e-rơ trình bày rõ mối liên hệ thực tiễn giữa Ba Ngôi của Đức Chúa Trời Ba Ngôi. Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng, vì thế con người có thể tin tưởng nơi Ngài (4:19). Ngài vốn thánh khiết, do đó con người phải thánh khiết (1:15-16). Ngài là Cha, vì thế con cái Ngài phải sống xứng đáng với tư các người con trong gia đình Ngài(1:17), và việc Ngài đã cứu chuộc những người thuộc về mình là một nguyên cớ cho sự tin quyết (1:18-21).

Giáo lý về Chúa Cứu Thế

Chúa Cứu Thế là Đấng vô tội, vâng phục và sẵn sàng chịu khổ đến cùng cực. Đây là một gương mẫu cho chúng ta (2:21-24). Ngài đã chết và sống lại, vì thế chúng ta cũng phải chết đối với tội lỗi và sống lại bởi quyền năng phục sinh của Ngài (2:24; 4:1). Công tác của Ngài đã được mô tả dưới dạng sự cứu chuộc (1:18-19), sự hoà giải và là của lễ chuộc tội và vật thay thế (3:18), và Ngài đã được định trước cho chính chủ đích này bởi tình yêu của Đức Chúa Cha (1:20-21). Ngài cũng là nền tảng Hội Thánh của Đức Chúa Trời, làm nền móng cho đức tin và hy vọng, và cảm thúc con người đạt đến sự thánh khiết và tình yêu (2:16; 1:21-22).

Giáo lý về Đức Thánh Linh

Đức Thánh Linh được xem là tác nhân của sự thánh hoá (1:2) là tác giả của Kinh Thánh (1:11), là Đấng giúp cho chức vụ Cơ Đốc (1:12) và Đấng khích lệ các Cơ Đốc nhân bị bắt bớ (4:14).

Giáo lý về Kinh Thánh

Tác quyền của lời Kinh Thánh được nhấn mạnh qua việc Phi-e-rơ dùng Kinh Thánh Cựu Ước để hậu thuẫn cho lời giảng dạy của ông (thí dụ: 1:24-25; 2:6-8; 3:10-12; 4:18). Nguồn gốc của nó được xem là bởi Đức Thánh Linh hướng dẫn các trước giả (1:11; tham khảo IIPhi 1:21) và tính trường tồn của nó được nhấn mạnh bằng một phân đoạn được trích dẫn từ Es 40:6-8 (1:23-25). Kinh Thánh cũng được mô tả như một hạt giống, mà bởi đó sự tái sinh được hữu hiệu trong đời sống một người khi người ấy nghe và đáp ứng với những sự rao giảng của Phúc Âm (đối chiếu 1:23 với câu 25), và được mô tả như phương tiện giúp cho Cơ Đốc nhân tăng trưởng (2:2 được dịch “sữa của Đạo”).

Giáo lý về Hội Thánh

Phi-e-rơ rất coi trọng tính đoàn thể của dân sự Đức Chúa Trời, do cá nhân các tín hữu gia nhập vào khi họ vừa được tái sinh (2:2-5; đối chiếu 1:22-23). Hội Thánh là nhà Đức Chúa Trời xây, trên nền tảng của chính Chúa Cứu Thế (2:4-8), và vì thế Hội Thánh được thừa hưởng những phước hạnh đã được hứa ban cho dân Y-sơ-ra-ên (2:9-10). Chức năng song phương của Hội Thánh là thờ phượng Đức Chúa Trời và làm chứng cho thiên hạ (2:5, 9). Ngay trong thời Phi-e-rơ, Hội Thánh đã có một chức vụ trưởng lão cho cả đoàn thể, được xem như một chức vụ đầy trọng trách và thiêng liêng (5:1-4), nhưng nó cũng nhằm khuyến khích sự phát triển và sử dụng ân tứ thuộc linh của từng thành viên (4:10-11).

Giáo lý về những ngày sau rốt

Phi-e-rơ viết như một người đang trông mong sự mặc khải quan trọng vào những ngày sau rốt, và ông đã dùng gốc từ Hi văn apocalyp­_ (sự mặc khải) để mô tả sự trở lại của Chúa Cứu Thế. Vì thế ông nhắc các độc giả rằng tuy chúng ta không thây Chúa Cứu Thế nhưng Ngài chẳng bao giờ ở xa, và chỉ cho họ thấy sự vinh hiển mà họ sẽ cùng chia sẻ khi Đấng Christ hiện đến. Chừng đó sự cứu rỗi của họ sẽ được bày tỏ cách trọn vẹn và họ sẽ được thừa hưởng tất cả gia tài đã dành sẵn cho mình (1:5). Cuối cùng thì đức tin của họ sẽ được tôn cao (1:7; 4:13), và phạm vi đầy đủ của ân điển Đức Chúa Trời đã được khám phá (1:13). Mọi người sẽ được chia sẻ sự vinh hiển của Chúa Cứu Thế (5:1) và nhận được phần thưởng về sự hầu việc trung tín của mình (5:4). Trông đợi Chúa Cứu Thế tái lâm là một lý lẽ thúc giục mọi người sống cách thánh khiết và thực hiện chu đáo vai trò quản gia của mình trong hiện tại (4:7-11, 17-18).

Phi-e-rơ nói gì với các độc giả của mình?

Những người đầu tiên được nhận bức thư này là các Cơ Đốc nhân đang đối diện với nguy cơ mất phương hướng. Đức tin mà họ vừa tiếp nhận đã cắt đứt những mối liên hệ đã từng trói chặt họ với bà con và láng giềng phi Cơ Đốc của họ, và đức tin của họ cũng đang bị thử thách vì họ đang đối diện với hoạn nạn. Có thể đây không phải là tính huống mà họ trông đợi khi mơi nghe Phúc Âm lần đầu tiên, và nó là một từng trải mà mọi thế hệ đều phải đối diện kể từ thời điểm đó.

Phi-e-rơ đã đáp ứng những nhu cầu của họ bằng cách khẳng định với họ về Phúc Âm. Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con Đức Thánh Linh đồng công để đem đến cho chúng ta một đời sống mới (1:3-5; 2:2; 4:1-6), trong đời sống đó quá khứ được tha thứ (2:24; 3:18), hiện tại được bảo vệ (1:5) và thôi thúc (4:2), và tương lai được bảo đảm (1:4, 7). Đây là một cách sống phải được thể hiện trong những những lãnh vực thực tiễn (1:13-16) và trong các mối quan hệ hằng ngày (2:16; 3:1,7). Nó trang bị cho những người theo Chúa Giê-xu sống được ở thế gian này ngay trong hiện tại (4:1-4) và trong thế giới vinh hiển đời đời mà Chúa Giê-xu hiện đang sắm sẵn cho chúng ta (5:10).

Vì thế Phi-e-rơ trả lời rằng chịu khổ là một phần hành trình của đức tin. Nó thử nghiệm giá trị thật việc chúng ta làm môn đồ (1:7), làm chúng ta gắn bó với những anh em Cơ Đốc nhân khác (5:9) và sẽ được bênh vực trong ngày phán xét (4:16-19). Tuy những người tin Chúa là “khách lạ” và “bị tan lạc” trong thế gian này (1:1), nhưng họ là một phần của dân sự Đức Chúa Trời đang hành hương (2:5, 9) hướng về nhà Cha mình (1:4). Họ trông đợi ngày mà Chúa Giê-xu trở lại vì những kẻ thuộc về Ngài (1:7; 2:12; 5:4). Đây là những lẽ thật khiến các Cơ Đốc nhân ngày nay được thôi thúc để sống vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, như chúng đã từng khích lệ các độc giả ban đầu của Phi-e-rơ vậy.

Phi-e-rơ đã viết lá thư như một người trong lòng không hề đánh mất ngọn lửa tình yêu mà chính Chúa đã nhen nhóm tại bờ biển Ti-bê-ri-át (đối chiếu Gi 21:1, 15-19 với IPhi 1:8). Bức thư này chứa đựng tất cả sự sống động trong hồi ức cá nhân của một người theo Chúa Cứu Thế Giê-xu.

Xin cũng xem bài viết về Cách Đọc Các Thư Tín.

Đọc Thêm, I và II Phi-e-rơ

E. P. Clowney, The Message of 1 Peter, BST (IVP, 1988).

I. H. Marshall, 1 Peter, IVPNTC (IVP, 1991).

W. Grudem, 1 Peter, TNTC (IVP/UK/Eerdmans, 1988).

P. H. Davids, The First Epistle of Peter, NICNT (Eerdmans, 1990).

J. N. D. Kelly, The Epistle of Peter & Jude, BNTC (A. and C. Black, 1969).

J. R. Michaels, 1 Peter, WBC (Word, 1988).

C. E. B. Cranfield, 1 and 2 Peter and Jude, TBC (SCM, 1960).

E. M. B. Green, 2 Peter and Jude, TNTC (IVP/UK/Eerdmans, 1968).

R. Bauckham, Jude and 2 Peter, WBC (Word, 1983).

Bố Cục

1:1-2     Tác giả chào thăm độc giả

1:3-9     Kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời đáp ứng mọi nhu cầu của chúng ta

1:10-12 Sự cứu rỗi đã được bày tỏ cho chúng ta như thế nào

1:13-5:7              Sự cứu rỗi mà chúng ta nhận được có quan hệ thế nào đến cách sống mỗi ngày của chúng ta

             1:13-21  Sống giống như Chúa Giê-xu

             1:22-25  Yêu thương các Cơ Đốc nhân khác

             2:1-3      Mong muốn được tăng trưởng

             2:4-10    Thuộc về dân sự của Đức Chúa Trời

             2:11-3:12        Bày tỏ cho người khác gương mẫu của Chúa Giê-xu

             3:13-4:6 Sống vì Chúa Cứu Thế khi gặp sự chống đối

             4:7-11    Phục vụ lẫn nhau

             4:12-19  Chịu khổ vì Chúa Cứu Thế

             5:1-4      Thực thi vai trò lãnh đạo

             5:5-7      Trở nên những môn đệ tốt

5:8-11   Sự cứu rỗi như thế thu hút sự chống đối, nhưng đức tin bảo đảm chiến thắng

5:12-14 Những lời chào thăm cá nhân

1. TÁC GIẢ CHÀO THĂM ĐỘC GIẢ (IPhi 1:1-2)

Theo cách thức quen thuộc vào thời ông, Phi-e-rơ bắt đầu bức thư bằng cách cho biết ông là ai và căn cứ vào đâu để viết thư này.  Rồi ông cho biết danh tánh những người ông viết thư này cho.  Đây là những Cơ Đốc nhân đang kiều ngụ rải rác khắp các tỉnh của đế quốc La Mã tại vùng Tiểu Á.  Đức tin của họ liên hệ với từng ngôi của Đức Chúa Trời Ba Ngôi.  Đức Chúa Cha đã chọn họ và biệt riêng họ (được nên thánh) bởi Đức Thánh Linh để họ có thể sống một đời sống vâng phục Chúa Cứu Thế Giê-xu, họ đã được tẩy sạch để sống đời sống ấy là nhờ sự rải huyết của Ngài.  Một đặc quyền như thế đã đưa tác  giả đến chỗ mở rộng lời chào thăm thông thường thành một sự mong ước họ có thể kinh nghiệm cách dật ân điển sự bình an mà Đức Chúa Trời ban cho.  Ở đây có một hình thức chơi chữ.  Lời chào thăm thông thường bằng tiếng Hi Lạp (chaire_ chúc sức khỏe!) được thay thế bằng lời cầu xin sâu sắc của Cơ Đốc nhân hầu nhận được phước hạnh bởi ân điển (charis) Đức Chúa Trời.  Ngoài ra, lời chào thăm thông thường của người Do Thái là shalom (bình an) cũng được thêm vào để cho thấy rằng trong Chúa Cứu Thế, chúng ta được thừa hưởng những phước hạnh đã được hứa ban dưới cả giao ước cũ lẫn giao ước mới. 

Chú thích.  1  Sứ đồ là từ ngữ Hi văn chỉ “người được sai đi” (xem phần Dẫn nhập để biết thêm chi tiết về tác giả và người nhận thư).  2 phần trong sự rải huyết hàm chứa ngụ ý được hưởng các quyền lợi mà sự chết của Chúa Cứu Thế đã mang lại (He 9:13-14), được chia sẻ những phước hạnh của giao ước mới (đối chiếu Xu 24:3-8 với Mac 14:24), và sự thanh tẩy đều đặn mỗi ngày mà tất cả chúng ta đều cần trong suốt hành trình trải qua đời này của mình (IGi 1:7-9).  Lúc Đức Chúa Trời lập giao ước cũ với Môi-se, lời hứa vâng lời Đức Chúa Trời của dân sự đã được ấn chứng bằng việc rải huyết sinh tế giao ước lên bàn thờ và lên dân sự (Xu 24:1-11).

2. KẾ HOẠCH CỨU RỖI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI ĐÁP ỨNG MỌI NHU CẦU CỦA CHÚNG TA (IPhi 1:3-9)

Một khi Phi-e-rơ đã đề cập đến địa vị của chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời, ông theo khuôn mẫu một số bức thư của Phao-lô và dốc lòng cảm tạ Đức Chúa Trời đã ban cho những phước hạnh này.  Chúng lớn lao đến nỗi khiến chúng ta vui lòng trải qua những lần thử thách bằng cách đặt đức tin nơi một Đấng Cứu Thế mà chúng ta chưa từng nhìn thấy.  Một đức tin như thế chính là con đường dẫn đến sự cứu rỗi viên mãn nơi ngày sau rốt.

Phi-e-rơ nêu ra mười một lý do để ngợi khen Đức Chúa Trời: Ngài là Cha của Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta (c.3)  Ngài đã làm cho chúng ta được tái sinh (điều mà Chúa Giê-xu đề cập trong Gi 3:1-8)  động cơ thúc đẩy điều này là lòng nhân từ thương xót lớn lao của Ngài (c.3)  kết quả là một niềm hy vọng sống –đời sống mới là một đời sống đầy hy vọng (c.3)  phương tiện đem đến niềm hy vọng này chính là sự phục sinh của Chúa Cứu Thế Giê-xu (câu 3) mục tiêu của niềm hy vọng ấy là một cơ nghiệp (c.4) đây là cơ nghiệp mà các thế lực thù địch không tiêu huỷ được, những sự ô nhiễm không làm ô uế bên ngoài được và những sự phá hại không làm suy tàn bên trong được (c.4) cơ nghiệp này được dành sẵn cho chúng ta trên thiên đàng (c.4)  chúng ta đang được chính quyền năng của Đức Chúa Trời bảo vệ cho điều đó (c.5)  chính đức tin là phương tiện mà bởi đó chúng ta được che chở (đối chiếu Eph 6:16) –bởi đó chúng ta nắm giữ được những lời hứa của Đức Chúa Trời (c.5) và mục tiêu cuối cùng là sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ trong kỳ sau rốt, khi Chúa Giê-xu hiện ra (c.5,7).

(IPhi 1:3-5)  Khi giải thích sự cứu rỗi mà các tín hữu được hưởng phong phú ra sao, Phi-e-rơ cũng đồng thời cho chúng ta biết rằng nó vốn bắt nguồn sự thương xót lớn lao của Đức Chúa Trời, bao gồm sự tái sinh để có một đời sống và hy vọng mới, đem đến sự phục sinh, chỉ Chúa Giê-xu mới thực hiện được, và sẽ dẫn đến việc thừa hưởng cơ nghiệp.  Sự cứu rỗi được mô tả bằng cách liên hệ đến quá khứ (Cơ Đốc nhân đã được ban cho một cuộc đời mới bởi lòng thương xót của Đức Chúa Trời), hiện tại (Cơ Đốc nhân được bảo vệ bởi quyền năng của Đức Chúa Trời) và tương lai (đến kỳ sau rốt, sự giải cứu sau cùng khỏi kẻ ác sẽ được thực hiện).

(IPhi 1:6-7)  Những phước hạnh này từ Đức Chúa Trời có thể khiến cho người ta vui mừng khi phải đối diện với những khó khăn.  Mục tiêu của những sự thử thách trong thế gian này là chắt lọc được những điều đích thực trong đức tin chúng ta.  Điều này lần lượt sẽ đem đến sự ngợi khen, tôn trọng vinh hiển, cả cho Chúa Giê-xu lẫn người đã chịu khổ, trong ngày Đức Chúa Giê-xu Christ hiện ra.

(IPhi 1:8-9)  Đức tin đắc thắng này nơi Chúa Cứu Thế mà chúng ta không thấy sẽ mang lại hai kết quả.  Trong hiện tại, các Cơ Đốc nhân có được sự vui mừng khôn tả ngay trong những khó khăn, còn tương lai là viễn cảnh họ được vui hưởng sự cứu rỗi ấy cách trọn vẹn trong sự hiện diện của Chúa Giê-xu.  Ngôn từ của câu 8 gợi nhớ cách mạnh mẽ những lời của Chúa Giê-xu trong Gi 20:29.  Vui mừng lắm một cách không xiết kể giống với những lời lẽ mà Ma-thi-ơ đã dùng (Mat 5:12) để truyền lại lời Chúa Giê-xu dạy về thái độ khi gặp bắt bớ bách hại.

Chú thích.  6 Từ Hi Lạp được dịch là về điều này không chỉ về sự cứu rỗi, vì thế một là nó chỉ về chính Đức Chúa Trời hai là các sự kiện đã được trình bày ở ba câu trước đó.  Hãy vui mừng có lẽ là một mệnh lệnh (bỏ từ anh em), nhưng có lẽ hiểu như một tuyên bố về sự kiện thì đúng hơn.  Dầu cũng có thể được dịch là “bởi vì”, vì điều này làm ứng nghiệm 5:11-12.  Từ thử thách có nguồn gốc từ một căn từ đã được dùng để chỉ việc Chúa Giê-xu chịu cám dỗ và đã được dùng trong Bài Cầu Nguyện Chung (4:1 6:13).  Trăm bề nhấn mạnh tính đa dạng của những sự thử thách, và từ ngữ Hi văn này được dùng một lần nữa trong bức thư này đề mô tả rằng ân điển của Đức Chúa Trời vốn cũng có nhiều phương diện như thế để đối phó với những thử thách ấy (IPhi 4:10).  Phi-e-rơ nhấn mạnh rằng những thử thách ấy sẽ chóng qua (ít lâu) và Đức Chúa Trời cho phép chúng xảy ra.  Điều này được ngụ ý trong từ “buộc” tiếng Hy-lạp.  Phi-e-rơ sẽ quay lại với chủ đề về sự chịu khổ ở phần sau của thư tín này (2:19-23  3:14-17 1-6,12-19  5:9-10).

3. SỰ CỨU RỖI ĐÃ ĐƯỢC BÀY TỎ CHO CHÚNG TA NHƯ THẾ NÀO (IPhi 1:10-12)

Đây là công việc của Đức Thánh Linh (c.12), là Linh của Chúa Cứu Thế (c.11).  Ngài hướng dẫn các nhà tiên tri tiên báo về ân điển định sẵn cho anh em (c.10), thậm chí thấy trước cả sự đau đớn của Đấng Christ sự vinh hiển theo sau (c.11 chẳng hạn xem Thi 22:7-8,17-18  Es 53:1-12  Ca 1:12).  Nhưng dù có cố gắng đến đâu, các nhà tiên tri vẫn không thể biết được sự việc ấy sẽ xảy ra khi nào và bằng cách nào.  Thánh Linh cũng hướng dẫn những người đã hiểu được Phúc Âm về sự chết và sống lại của Chúa Giê-xu để họ giải thích cho độc giả của Phi-e-rơ những điều này đã được ứng nghiệm cho họ ra sao.

Theo lẽ tự nhiên, cụm từ các đấng tiên tri thường ám chỉ các trước giả viết Kinh Thánh Cựu Ước chớ không phải các nhà tiên tri Cơ Đốc của thời Tân Ước.  Chủ đề song phương của họ là ân điển đã được định cho dân sự Đức Chúa Trời, còn những sự đau đớn cùng sự vinh hiển sẽ theo sau được định cho Chúa Cứu Thế.  Trong nguyên văn cũng tồn tại một trường hợp song đối sinh động.  Câu 11 là một lời khẳng định quan trọng về việc các trước giả Cựu Ước nhận được linh cảm (Mat 5:17  Lu 24:25-27,44-47  Gi 5:39,45-47).  Những câu này cũng nhấn mạnh vai trò của Ngôi Hai và Ngôi Ba của Ba ngôi Đức Chúa Trời trong kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Con thực hiện điều này và Đức Thánh Linh bày tỏ cho mọi người biết điều này.  Sự hăm hở của các thiên sứ để xem thấy điều đó được thể hiện bằng cách dùng lại dộng từ đã xuất hiện trong Gi 20:5 nói về việc Giăng nhìn chăm chú vào phần mộ trống.

4. SỰ CỨU RỖI CHÚNG TA NHẬN ĐƯỢC CÓ QUA HỆ THẾ NÀO ĐẾN CÁCH SỐNG MỖI NGÀY CỦA CHÚNG TA (IPhi 1:13-5:7)

Tất cả những phần tiếp theo của bức thư này cho thấy những chân lý quan trọng về đời sống Cơ Đốc phải được bày tỏ qua cách sống của những người tin chúng thể nào.  Vì Phi-e-rơ đưa ra lời khuyên thực tiễn nên Phi-e-rơ luôn kéo chúng ta trở lại với những căn bản của Phúc Âm Cơ Đốc để hiểu được lý do ẩn sau cách cư xử như thế.  Sự cứu rỗi được mô tả quá tuyệt diệu ở đoạn sách trước phải được kết quả trong đời sống của những con người theo Chúa Giê-xu, cho dù hoàn cảnh của họ có khó khăn đến đâu.

1. Sống giống như Chúa Giê-xu (IPhi 1:13-21)

Sự cứu rỗi cùng tin tức tốt lành như thế đòi hỏi các Cơ Đốc nhân phải rèn luyện sự chuyên tâm và tính kỷ luật về đạo đức.  Điều này phải thực hiện bằng hành động trông đợi với thái độ vui vẻ và tin chắc rằng ân điển sẽ được ban cho khi Đức Chúa Giê-xu Christ hiện ra (câu này không hàm chứa ngụ ý về sự trở lại của Đấng đang vắng mặt cho bằng sự bày tỏ của Đấng ấy vẫn luôn ở cùng chúng ta).

Sống trong ánh sáng của việc Chúa Cứu Thế tái lâm đòi hỏi một đời sống biết vâng phục (đối chiếu Lu 12:35-48).  Chúng ta phải bày tỏ sự vâng lời này bằng học tập cách cư xử theo sự thánh khiết của Đức Chúa Trời Đấng đã kêu gọi chúng ta cho Ngài (Mat 5:48).  Trước đây, sự mê muội thuộc linh đã khiến độc giả của Phi-e-rơ nhượng bộ những tham muốn vô độ, nhưng mẫu mực cư xử mà Đức Chúa Trời muốn người theo Ngài bày tỏ được căn cứ theo bản tính đã được mặc khải của Ngài.

Dân sự Đức Chúa Trời được kêu gọi phải nên thánh, giống như Đấng Christ vì hai lý do.  Điều đó là gương mẫu của chúng ta (là con cái Ngài, chúng ta phải phản ảnh mình giống Ngài) và vì đó là mục tiêu của chúng ta (khi Chúa Giê-xu hiện ra, chúng ta sẽ trở nên giống như Ngài cách trọn vẹn, đối chiếu IGi 3:2).  Ở câu 17-19 nêu ra ba lý do phải có cách ăn ở như vậy: Đức Chúa Trời là Cha chúng ta sẽ phán xét cách sống của con cái Ngài theo những chuẩn mực của gia đình chúng ta đã được tự do (chuộc) khỏi lối sống vô nghĩa trước kia và được bước vào gia đình của Đức Chúa Trời là một đặc ân, vì việc ấy đã được trả một giá rất cao mới có được.

Việc nói về Chúa Cứu Thế đã đưa ngay Phi-e-rơ đến chỗ khai triển chủ đề về sự vĩ đại của công việc Ngài đã thực hiện và những kết quả của nó.  Đức Chúa Trời đã chọn Chúa Cứu Thế từ trước buổi sáng thế nhưng chỉ để Ngài hiện ra trong thời kỳ cuối cùng này (c.20).  Cơ Đốc nhân có cơ sở để đặt lòng tin trọn vẹn nơi một Đức Chúa Trời như thế, xem Ngài là đối tượng của đức tin trong hiện tại và hy vọng trong tương lai.  Sở dĩ như vậy là do Chúa Cứu Thế đã chuộc chúng ta bằng chính huyết Ngài, và sau đó Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lạiban sự vinh hiển cho Ngài (c.21).

Chú thích.  13 Được ban cho (trong Hi văn có nghĩa là ‘được giao cho’) hàm ý sự chắc chắn.  Câu 7 kết hợp với câu này để bày tỏ rằng khi Đức Chúa Giê-xu Christ hiện ra thì đức tin đã được thử thách sẽ nhận được phần thưởng mình, và ân điển đã hứa sẽ được ban ra.  14 Con cái hay vâng lời phản ảnh một nhóm từ Hi Bá Lai ngụ ý rằng sự vâng lời giống như một người mẹ, mà những đặc điểm của người ấy con cái đáng noi theo.  Làm theo cũng chính là từ ngữ đã được dùng trong Ro 12:2.  16 Về từ Nên thánh, xem Le 11:44-45 19:2 và đối chiếu với Xu 19:5-6.  Cách sống như vậy đã được thể hiện rõ qua đời sống Chúa Giê-xu (Gi 1:18).  17 Không tây vị hàm ý rằng không chờ xem người khác có tán thành hay không.  Phi-e-rơ đã dùng ý tưởng của Cong 10:34-35.  18-19 Ngôn từ được dùng ở đây gợi lại Mac 10:45 và Gi 1:29.  Không lỗi đề cập về khía cạnh đạo đức và không vít đề cập sự hoàn hảo về mặt thuộc thể của con sinh (Xu 12:5  Le 22:17-25  Dan 6:14 19:2).  21 Đến nỗi đức tin sự trông cậy anh em được nương nhờ Đức Chúa Trời trình bày rõ kết quả của sự chết và sự sống lại của Chúa Cứu Thế.  Những bản dịch khác đã biến nó thành mục đích, “hầu cho đức tin và hy vọng của anh em có thể được đặt nơi Đức Chúa Trời”.  Trong nguyên văn Hi Lạp câu này có thể mang cả hai nghĩa trên, và cả hai nghĩa đều đúng.

2. Yêu thương các Cơ Đốc nhân khác (IPhi 1:22-25)

Ở hai câu 2 và 14, Phi-e-rơ đã đề cập vai trò của sự vâng lời trong đời sống của Cơ Đốc nhân.  Như một cách đáp ứng lại việc công bố và việc nghe chân lý, nó mang lại hiệu quả ở cả hai phương diện: thanh tẩy linh hồn khỏi những tội lỗi của quá khứ, và nuôi dưỡng tình yêu chân thật với các tín hữu khác, chứ không phải là một sự giả vờ.  Sự thực hữu của tình yêu này phải được thể hiện cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.  Tình yêu như thế được thôi thúc bởi sự kiện các Cơ Đốc nhân đều cùng dự phần vào một sự tái sinh mà đã được thực hiện bởi lời hằng sống bền vững của Đức Chúa Trời.  Lời mang đến sự tái sinh này được công bố khi Phúc Âm được truyền giảng.

Ghi chú.  22 Cụm từ sốt sắng hết lòng đã được dùng ở đây và trong IPhi 4:8 đề cập về tình yêu thương, và trong Lu 22:44 (“càng khẩn thiết”) và Cong 12:5 (“luôn”) đề cập về sự cầu nguyện.  Nó nói lên sự cố gắng tối đa, nghĩa đen “với sức căng tối đa của bắp thịt”.  Chú thích bên lề của bản dịch NIV cho thấy một số cổ bản còn gắn thêm chữ trong sạch vào từ tấm lòng.  Đây là cách viết có thể xảy ra vì hai từ ngữ Hi văn “trong sạch” và “tấm lòng” đều bắt đầu bằng hai mẫu tự giống nhau, nên có lẽ những người sao chép dễ dàng bỏ đi một từ.  23 Bản Hi văn không thể hiện rõ rằng Đức Chúa Trời hay Lời Ngài là hằng sống bền vững.  Theo một ý nghĩa nào đó thì cả hai đều đúng, vì Lời ấy vốn bởi Đức Chúa Trời mà có.  24-25 Câu trích dẫn Es 40:6-8 nhấn mạnh tính bền vững và năng động của Lời Đức Chúa Trời.

3. Mong muốn được tăng trưởng (IPhi 2:1-3)

Cơ Đốc nhân mới tiếp nhận Chúa cần tăng trưởng về mặt thuộc linh giống như một em bé sơ sinh cần tăng trưởng về thuộc thể vậy.  Điều này đòi hỏi người ấy phải được bảo vệ khỏi tất cả những gì có thể gây hại, và được nuôi dưỡng bằng tất cả những điều tốt lành.  Đời sống mới này được ban cho hầu giúp cho chúng ta có thể đạt mục tiêu được cứu rỗi trọn vẹn nơi ngày sau rốt.

Chú thích.  2 Từ thiêng liêng có từ ngữ Hi văn là logikon, là từ cũng có thể mang nghĩa là “thuộc về lời Đức Chúa Trời” (như bản AV).  He 5:12 cũng có ý tương tự, và Kinh Thánh Cựu Ước thường có nhiều câu Kinh Thánh ngụ ý luật pháp hay Lời Đức Chúa Trời như chất bổ thuộc linh.  3 Thi 34:8 được trích dẫn ở đây như một động lực để thúc đẩy sự khao khát ở câu 2, hoặc có thể để bày tỏ rằng sự khao khát là bằng chứng của việc người ta đã nếm biết Chúa tốt lành.

4. Thuộc về dân sự của Đức Chúa Trời (IPhi 2:4-10)

Các Cơ Đốc nhân phải tăng trưởng cùng nhau cũng như một cách cá nhân, và giờ đây Phi-e-rơ phải đề cập đến chủ đề này.  Ý tưởng này làm ông xúc động đến nỗi ông trộn lẫn các ẩn dụ của mình, nhưng cách lý luận thì dễ hiểu.  Bởi sự tương giao thường xuyên với Chúa Cứu Thế, là Tảng Đá sống, Cơ Đốc nhân sẽ trở nên giống như Ngài, là những viên đá sống.  Một viên đá tự nó có rất ít công dụng, nhưng khi được gắn kết với những viên đá khác nó trở thành một phần của một ngôi nhà lớn.  Mục đích đựơc đặt ra cho một viên đá “sống” là phải trở thành một phần của cái toàn thể.  Rồi ý tưởng của Phi-e-rơ chuyển từ phần kết cấu (có lẽ là đền thờ) sang những người đang hoạt động trong ngôi nhà ấy.  Trách nhiệm của họ với tư cách là thành viên trong ngôi nhà thuộc linh của Đức Chúa Trời bao gồm hai phương diện: thờ phượng, dâng của tế lễ thiêng liêng (c.5) và làm chứng rao giảng nhơn đức (c.9).

Phi-e-rơ chọn ra những câu Kinh Thánh Cựu Ước đề cập về Tảng Đá sống, và cho thấy chúng đã được ứng nghiệm trong Chúa Cứu Thế thể nào: câu thứ nhất được ứng nghiệm bởi các tín hữu còn hai câu sau là bởi những kẻ không tin.  Cho dù người ta có lấy đức tin đến với Tảng Đá sống hay chối bỏ Ngài, thì các chủ đích của Đức Chúa Trời vẫn là quan trọng nhất.  Trong Mac 12:10 Chúa Giê-xu ứng dụng phần Kinh Thánh này cho các nhà cầm quyền Do Thái với tư cách là những nhà xây dựng.  Chúa Cứu Thế đã trở thành phần chính của góc nhà, là tảng đá đầu của ngôi nhà, còn những ai không vâng phục Đạo thì chỉ có thể vấp ngã vì cớ Ngài, như Đức Chúa Trời đã định cho họ phải như thế.

Tương phản với những kẻ không tin đã được đề cập, Phi-e-rơ cho thấy thế nào Hội Thánh của Chúa Cứu Thế được thừa hưởng những đặc quyền mà trong Cựu Ước Đức Chúa Trời đã hứa ban dân sự Ngài.  Anh em hầu cho nhấn mạnh nguyên tắc của Thánh Kinh là đặc quyền phải đi đôi với trách nhiệm.  Những người được thừa hưởng phước hạnh của dân Y-sơ-ra-ên cũng phải làm việc như dân Y-sơ-ra-ên, và phải rao giảng nhơn đức của Đức Chúa Trời Đấng đã làm cho họ rất nhiều.

Hai vế của lời tiên tri cùng được nêu ra ở câu 4 và 6–8 : viên đá nền quý giá là trong Es 28:16 (c.6 được trích từ bộ LXX như Phao-lô đã trích cho Ro 9:33) và tảng đá đầu của ngôi nhà bị loại ra là trong Thi 118:22.  Chúa Giê-xu ứng dụng vế sau cho chính Ngài trong Mac 12:10 và Phi-e-rơ đã trích câu nói đó của Ngài trước Toà Công Luận trong Cong 4:11.  Chúa Giê-xu vừa là đá góc nhà của cái nền Hội Thánh được xây dựng trên đó, mà cũng là tảng đá đầu mà theo đó Hội Thánh tăng truởng (ICo 3:11  Eph 2:19-22).  Phần ghi chú bên lề bản NIV cho biết từ ngữ này có thể mang cả hai nghĩa ấy.  Bằng việc ghép chung hai ẩn dụ, Phi-e-rơ nhấn mạnh rằng Chúa Cứu Thế chỉ quý giá đối với những người tin Ngài (như văn cảnh nguyên thuỷ đã cho thấy), còn những kẻ từ chối tin Ngài lại xem Ngài là một tảng đá gây vấp váp cho họ.  Ở đây, ông trích dẫn thêm Es 8:14.

Được xây nên (c.5) là một câu chuyển tải được đầy đủ ý nghĩa của bản Hi văn hơn là câu mệnh lệnh “phải được xây dựng”  theo cách dịch của một số bản dịch khác.  Những lời tiếp theo đây và trong câu 9 (xem phía dưới) vốn rất ý nghĩa với dân sự Đức Chúa Trời trong thời Cựu Ước.  Cách dùng của chúng cho thấy tính liên tục về mặt thuộc linh giữa những người đã đáp ứng Đức Chúa Trời dưới giao ước cũ và các tín hữu Cơ Đốc.  Cách dùng từ nhà và việc nhấn mạnh sự thuộc về dân Đức Chúa Trời ở hai câu 9-10 chắc hẳn đã mang lại sự khích lệ lớn lao cho những người cảm nhận được địa vị của mình là “người ở trọ, khách đi đường” (IPhi 2:11).  Có lẽ ở đây Phi-e-rơ đã liên tưởng đến việc đền thờ bị phá hủy (đã được Chúa Giê-xu tiên báo trong ).  Cơ Đốc nhân nói riêng () và Hội Thánh nói chung () đều được xem là đền thờ mới của Đức Chúa Trời, một ngôi nhà thiêng liêng (c.5) vì nó được Đức Thánh Linh Ngài ngự vào.  Chính dựa vào cơ sở của câu này và câu 9 dưới đây mà các Cơ Đốc nhân đã khẳng định rằng vì Chúa Giê-xu đã dâng lên sinh tế chuộc tội một lần đủ cả, nên hiện nay những của lễ duy nhất phải được dâng lên là những của lễ thuộc linh. Tất cả tín hữu phải dâng những của lễ này.  Chức vụ duy nhất mà dường như được Kinh Thánh Tân Ước biệt riêng ra theo một khía cạnh nào đó chính là chức vụ trưởng lão được bổ nhiệm để làm công tác lãnh đạo, dạy dỗ và chăm sóc về vấn đề mục vụ (xem  phía dưới).  Nhờ Đức Chúa Giê-xu Christ có thể dược dùng để nói các sinh tế được dâng lên cách nào hoặc tại sao chúng được chấp nhận.

Lời Đức Chúa Trời, dù là đã thành văn (Kinh Thánh) hay là lời sống (Chúa Cứu Thế Giê-xu) là nền để từ đó xây lên.  Những kẻ không vâng lời Chúa Cứu Thế sẽ nhận thấy rằng Ngài làm họ bối rối về cách sống của họ và chẳng chóng thì chầy sẽ khiến họ vấp ngã (c.8).  (Muốn thảo luận thêm về giáo lý được ngụ ý ở đây, xin xem “Vấn đề tiền định”, IBD trang 1262–1264).  Câu 9 tuyên bố với tín đồ Cơ Đốc những lời hứa của  và  mà Phao-lô đã lý luận trong Rô-ma 9.  Dân hàm ý hậu duệ về mặt thuộc thể và có lẽ đề cập đến mối liên hệ do sự tái sinh mang lại.  Ngữ căn của danh từ chức tế lễ không bao giờ được Kinh Thánh Tân Ước dùng để mô tả chức vụ Cơ Đốc, mà nó được dùng để mô tả nhiệm vụ của toàn thể tín hữu Cơ Đốc (đối chiếu ).  Xuyên suốt Kinh Thánh Cựu Ước, vua và thầy tế lễ là những những cá nhân riêng biệt.  Chỉ có Mên-chi-xê-đéc và Đấng Mết-si-a là đã kiêm nhiệm cả hai chức vụ ấy.  Sau-lơ đã phạm tội khi cố ý đảm trách cả hai chức năng này (......).  Trong Chúa Cứu Thế các Cơ Đốc nhân có thể kiêm nhiệm cả hai.  Dân thánh là một dân đã được kêu gọi để phản chiếu bản tánh của Đức Chúa Trời Đấng đã gọi họ.  Cụm từ Dân thuộc về Đức Chúa Trời (tức là đặc biệt) đã sử dụng hình ảnh một vị vua phương Đông, người có một kho báu đặc biệt bên cạnh ngân quỹ nhà nước.  Kho báu này thuộc quyền sử dụng riêng của nhà vua, và ý niệm này được tìm thấy đầu tiên ở  và được Phao-lô nêu lên ở .  Nhân đức (praises) là một từ khó dịch và có lẽ cách dịch là ‘những công việc lạ lùng’ của bản RV sát với nguyên văn nhất.  Cơ Đốc nhân sẽ tự nguyện đáp ứng điều này với Đức Chúa Trời và tha nhân một khi họ hiểu được rằng tất cả những phước hạnh này đều lưu xuất từ ân điển và sự nhân từ thương xót vô điều kiện của Đức Chúa Trời (c.10).  Phi-e-rơ trích   để kết thúc luận điểm này.

5. Bày tỏ cho người khác gương mẫu của Chúa Giê-xu (IPhi 2:11-3:12)

(IPhi 2:11-24). Vì Cơ Đốc nhân là dân sự của Đức Chúa Trời theo chính cách đặc biệt này, nên quê hương đích thực của họ là ở với Ngài.  Vì thế khi trải qua đời này, họ phải bày tỏ bằng cách cư xử và qua những mối quan hệ của họ rằng họ là công dân của một đất nước tốt lành hơn.

Thật ý nghĩa, ba đoạn đầu trong số bốn đoạn sách tiếp theo đây sẽ đưa ra những thí dụ về cách cư xử này, dùng cùng một từ phục (c.13,18, ).  Từ ngữ này có nghĩa đen là tự đặt mình ở dưới một người khác, và xem người khác là quan trọng hơn mình (như trong ).  Cả Chúa Giê-xu lẫn Phao-lô đều cho chúng ta thấy rằng điều này hoàn toàn không có nghĩa là Cơ Đốc nhân phải làm những tấm thảm chùi chân  họ vẫn có thể đấu tranh cho những quyền lợi hợp pháp của mình.

(IPhi 2:11-12) Các nguyên tắc tổng quát cho thái độ trong các mối quan hệ loài người với nhau đời này  Từ  Phi-e-rơ đã xét đến phương diện tích cực của sự thánh khiết, đó là sống cho Đức Chúa Trời.  Ở đây ông trình bày vắn tắt về phương diện tiêu cực, đó là sự kiêng cữ, mà ông sẽ đề cập lại ở .  Cách cư xử như vậy khiến cho những kẻ đang vu cáo Cơ Đốc nhân phải nín lặng.  Những Lời lẽ ở đây mang âm hưởng những lời chỉ dạy của Chúa Giê-xu trong . 

Chú thích.  11 Bức tranh người trọ, kẻ đi đường được tìm thấy ở  và , vốn bắt nguồn từ .  Phải khước từ những điều xác thịt ưa thích, vì chúng phá hoại phần bất tử của con người chúng ta 12 Dân ngoại mô tả những người ở ngoài mối liên hệ với Đức Chúa Trời mà Hội Thánh là dân Y-sơ-ra-ên thật được hưởng (xem c.9-10 ở phần trên). Ngày Chúa thăm viếng, tức là để phán xét.

(IPhi 2:13-17) Thái độ đối với bậc cầm quyền của nhà nước  Cách ăn ở tốt lành phải được bộc lộ qua sự thuận phục các yêu cầu của mọi phép tắc do loài người lập lên.  Điều ngạc nhiên là Phi-e-rơ có lẽ đang viết bức thư này trong thời Nero, vẫn nhìn nhận nhà nước vốn do Đức Chúa Trời lập lên để duy trì các giá trị đạo đức. Cách ăn ở ngay lành của Cơ Đốc nhân sẽ làm cho người ấy được trổi hơn những những lời gièm pha hay nghi ngờ của những kẻ dốt nát (c.15).  Cơ Đốc nhân phải trả cho Sê-sa những điều thuộc về Sê-sa () và ở đây Phi-e-rơ không ám chỉ một ngoại lệ nào cả, dầu ông biết phải khước từ các nhà cầm quyền ra sao khi họ đòi cho mình những điều thuộc về Đức Chúa Trời

Điều lạ là quyền tự do của Cơ Đốc nhân là tự do để làm tôi mọi Đức Chúa Trời, hoàn thành ý chỉ Ngài (c.16).  Do đó, nó không phải là sự phóng túng hầu làm hài lòng mình, viện cớ rằng đó là “điều được cho phép”.  Bốn mệnh lệnh ngắn gọn đã đúc kết những đòi hỏi thực tiễn này: mọi người phải được tôn trọng, như những người đã được Chúa Cứu Thế chịu chết thay cho và trong họ bản tính giống như Đức Chúa Trời có thể được phục hồi Tình anh em giữa các tín hữu phải được yêu quý phải đến gần Đức Chúa Trời với thái độ thờ phượng (tức là kính sợ) và vua phải được đối xử  bằng sự kính trọng.

Chú thích.  13 cớ Chúa nhắc nhở chúng ta về tấm gương lẫn sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu.  Đấng rất cao nghĩa là cao trên những thể chế của loài người.  17 Phi-e-rơ trích dẫn , tác giả của câu này đã dùng cùng một từ ngữ để mô tả thái độ đối với Đức Chúa Trời và đối với nhà vua.  Phi-e-rơ không làm như vậy ở đây.

(IPhi 2:18-25) Thái độ đối với chủ  Phi-e-rơ đưa ra lời chỉ giáo chi tiết cho hai nhóm người tôi tớ (nô lệ) và người làm vợ, là những người mà địa vị của họ trong thế giới cổ đại hẳn đã làm cho đời sống trở nên khó khăn hơn với họ, đặc biệt là với tư cách tín đồ.  Số phận của các lệ sẽ không quá tồi tệ nếu họ có một ông chủ tốt, nhưng họ vốn rất thường bị đối xử bất công.  Trong lúc Phi-e-rơ ngỏ lời với họ trong hoàn cảnh họ là những người làm công, thì Phao-lô dạy cho thấy rằng các ông chủ cũng phải tôn trọng và quan tâm những người đang làm việc cho mình

Nhịn nhục khi chịu một hình phạt mà mình đáng phải nhận thì chẳng ích lợi gì, nhưng Cơ Đốc nhân được kêu gọi để chấp nhận cả sự đối xử bất công của một ông chủ không tử tế.  Đức Chúa Trời sẽ khen ngợi về điều này.  Kiên trì làm điều lành và nhẫn nhục chịu khổ, thậm chí có thể được xem là một kêu gọi đối với Cơ Đốc nhân, vì nó vốn là một phần của những sự thương khó mà Chúa Cứu Thế đã chịu.  Đó cũng là gương mẫu Chúa Giê-xu để lại.  Phi-e-rơ nhắc lại cách sống động Ngài cư xử thế nào trong lúc chịu thương khó.  Rồi ông nhắc độc giả về những lợi ích mà họ được hưởng như kết quả của sự chịu khổ đó.

Chú thích.  18 Tôi tớ là những đầy tớ giúp việc nhà thường được tìm thấy trong các gia đình Hi Lạp và La Mã (đối chiếu Thư Phi-lê-môn).  19 Lương tâm đối với Đức Chúa Trời có thể chỉ về lý do mà người chủ thực hiện sự trừng phạt bất công (vì người biết được đức tin của kẻ tôi tớ mình) hoặc chỉ về động cơ thúc đẩy kẻ tôi tớ chấp nhận hình phạt đó (vì người đầy tớ ấy ý thức rằng Đức Chúa Trời biết và cùng chia sẻ những hoạn nạn của mình xem.... ).  Có lẽ Phi-e-rơ đang nghĩ đến những lời dạy của Chúa Giê-xu trong   và .  21 Gương chỉ được dùng ở chỗ này của Kinh Thánh Tân Ước và mô tả về một đường thẳng kẻ trước hay những mẫu tự trong vở tập viết mà người học trò phải đồ lại.  22-23a Phi-e-rơ trích dẫn  và 7 (đối chiếu...).  23b-24  Phần mô tả này sinh động đến nỗi nó rất có thể là phần mô tả của một người đã chứng kiến tận mắt.  Gánh nghĩa đen là “mang” và là ngôn ngữ này nhằm chỉ về sự hy sinh có chủ ý (đối chiếu , trong đó từ dâng là động từ tương đương trong tiếng Hi Lạp).  Việc đề cập về mục đích Chúa Giê-xu chịu khổ (trích dẫn... và 5) cung cấp động cơ thúc đẩy sự chịu khổ của chúng ta.  Để đáp ứng Đấng đã gánh lấy tội lỗi, chúng ta  phải trở lại với Ngài Đấng Chăn Dắt chúng ta hầu cho chết về tội lỗisống cho sự công bình.  Hình ảnh này phản ảnh  và .  Giám mục là từ ngữ thường được dùng để mô tả vai trò của người chăn chiên, và cũng là vai trò của một người cố vấn thuộc linh.  Từ tiếng Anh ‘bishop’ được bắt nguồn từ gốc từ này.

(IPhi 3:1-7) Thái độ đối với gia đình  Ở đây, người làm vợ được lệnh phải phục theo cách tương tự, vì vào thời cổ đại phụ nữ và tôi tớ cùng được xếp vào hạng “người hạ cấp”.  Cơ Đốc giáo đã nâng cao phẩm giá của cả hai lớp người này, và Phi-e-rơ đã nhấn mạnh tính bình đẳng về thuộc linh của người chồng và người vợ với tư cách là những người đồng “kế tự”.  Phao-lô tích cực khuyên các đôi vợ chồng phải thuận phục lẫn nhau, trong đó sự phục tùng của người vợ phải được đáp lại cách xứng đáng bằng tình yêu tự nguyện của người chồng ().  Kinh Thánh dạy rằng trong quan hệ hôn nhân, người nam và người nữ có vai trò bổ sung cho nhau.  Vì người chồng thường mạnh mẽ hơn vợ về mặt thể chất, nên họ phải nhận thức được thực tế này để mà quan tâm yêu mến vợ mình.  Trong một thế giới mà kinh tế gia đình phụ thuộc vào việc người chồng phải kiếm sống để nuôi gia đình, thì lẽ tự nhiên người vợ phải vâng phục chồng mình trong những quyết định liên quan đến việc họ phải sống ở đâu v.v…  Bà Sa-ra đã sẵn sàng cùng đi với Áp-ra-ham chồng mình để vâng theo tiếng gọi của Đức Chúa Trời là một thí dụ về một mối liên hệ này.  Ngày nay nhiệm vụ của chúng ta là diễn giải những nguyên tắc được trình bày trong Kinh Thánh cho thời đại mình đang sống.  Các nữ Cơ Đốc nhân xưa thường lập gia đình với những người chồng không tin Chúa, nên Phi-e-rơ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cư xử giống như Chúa Cứu Thế hầu chinh phục họ trở lại với Chúa.  Tiếp theo hôn nhân được nâng lên mức độ cao nhất của nó qua việc người chồng được kêu gọi phải đối xử với vợ mình bằng sự quan tâm và thái độ tôn trọng.  Điều này có được là do họ có chung một niềm tin và họ là một đôi cầu nguyện và không có sự hiểu lầm hay cách cư xử sai trật nào làm cho hiệu quả của cuộc hôn nhân đó bị ngăn trở.  Dĩ nhiên lời giáo huấn này được áp dụng cho những đôi vợ chồng Cơ Đốc, ở đây được mô tả cách sinh động là cùng thừa hưởng sự sống vĩnh hằng do Đức Chúa Trời ban cho.

Chú thích.  3 Việc đề cập Sự trang sức bề ngoài không có ý nói rằng phụ nữ không nên ăn mặc đẹp hay sử dụng những phương tiện làm đẹp.  Những danh từ kế tiếp của câu này tương phản rõ rệt với thái độ trong câu 2 vì chúng đều mang tính chủ động và nhấn mạnh đến thời gian và công sức bị tiêu tốn cho việc trang điểm cá nhân như thế.  Đức Chúa Trời thích nhìn thấy vẻ đẹp vốn chẳng tàn phai của tính cách hơn.  4 Tâm thần dịu dàng im lặng là tinh thần thuận phục theo những yêu cầu của người khác mà không đòi hỏi gì cho chính mình.  Giữa vòng dân sự của Đức Chúa Trời đã tồn tại những gương tính cách như thế – Sa-ra , Rê-bê-ca, Ru-tơ, An-ne – và những phụ nữ sống giống như vậy là những con gái thật của Sa-ra, bởi dòng dõi thuộc linh và sự giống nhau về tính cách.  6 Gọi người chúa mình có lẽ chỉ về , chỗ từ “chồng” cũng có thể mang nghĩa là “chúa” hay “chủ”.  7 Cũng vậy (bản dịch Anh văn có hai từ “cũng thế” ở đầu câu) có thể đề cập lại  và lời chỉ giáo tổng quát “hãy kính mọi người”, hoặc nó có thể ám chỉ về cách cư xử của người vợ và khuyên người chồng đáp ứng lại bằng tình yêu và sự hiểu biết lẫn nhau (bản Phillips dịch động từ “hãy quan tâm” là “cố gắng hiểu”).  Về phái yếu hơn, xin xem  .

(IPhi 3:8-12) Thái độ đối với anh em  Bây giờ Phi-e-rơ tách khỏi việc đề cập đến các mối quan hệ đặc biệt và kết thúc phần này bằng cách đúc kết những thái độ mà Cơ Đốc nhân cần phải thể hiện với nhau, cả trong hành động lẫn trong phản ứng của mình.  Điều này gồm chỉ gồm tóm trong một từ phước lành (c.9), tức là cầu xin Đức Chúa Trời bởi ân điển Ngài ban quyền năng và tình yêu thương trên tất cả mọi người, cả trên những người muốn tìm cách hay đang làm hại chúng ta nữa.  Chính sự hiểu biết Cơ Đốc nhân cuối cùng sẽ hưởng phước lành của Đức Chúa Trời đã khích lệ Cơ Đốc Nhân có cách cư xử như vậy.  Điều này đã được hứa trong , nó cũng là câu được trích dẫn ở đây.  Cơ Đốc nhân được kêu gọi phải sống cách không chỗ chê trách và ngay lành, tích cực theo đuổi cách sống hoà thuận với mọi người, giống như những con người tin kính trong Cựu Ước.  Họ có cùng một động cơ thúc đẩy vì Đức Chúa Trời đoái xem và ban phước cho những người có cách cư xử như thế, và trừng phạt những kẻ làm ác.

Chú thích.  8 Đồng lòng nguyên văn là “cùng một ý hướng”.  Việc này sẽ có được khi chúng ta có cùng một tâm tình như Chúa Cứu Thế (xem  ).  Khi ấy chúng ta có thể thông cảm với người khác (sympathetic – bắt nguồn từ một từ ngữ Hi văn mang nghĩa là “cùng cảm nhận với “) và chia sẻ tình yêu của Đức Chúa Trời cho họ.  Đức tính yêu thương anh chị em này đã được đề cập ở  và sẽ được nhấn mạnh một lần nữa trong , nó chính là dấu hiệu để xác nhận mối thông công Cơ Đốc.  Từ Nhân từ đã đem lại cho một từ ngữ Hi Lạp cổ mang nghĩa “can đảm” một ý nghĩa mới mang tính Cơ Đốc.  Đức khiêm nhượng  cho thấy bí quyết của tính cách này là biết đánh giá đúng về bản thân và có sự quan tâm sâu sắc đến người khác.  Câu 9 đã chọn lấy hình ảnh của  (xem ở đó những phần trình bày về gương của Chúa Giê-xu, cùng với  ).  Điều đó có thể ám chỉ việc được hưởng phước, hoặc ám chỉ cuộc đời lấy sự chúc phước đáp lại lời nguyền rủa.  Những từ ngữ được dùng ở đây, nhắc chúng ta nhớ lại , cũng như câu trích dẫn từ  cho thấy rằng Phi-e-rơ đang nhấn mạnh đến các lý do mà ông cho rằng cần phải bày tỏ nếp sống tin kính khi đối diện với sự chống đối.  Nếu Cơ Đốc nhân vâng lời, họ sẽ được thừa hưởng phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn (đối chiếu ).  Trong đời hầu đến người ta sẽ được thừa hưởng trọn vẹn phước hạnh này, nhưng rõ ràng là trước giả Cựu Ước muốn đề cập đến các phước hạnh của việc được đồng đi với Đức Chúa Trời trong đời này.  Mắt Đức Chúa Trời dõi theo con cái Ngài để giữ họ được an toàn, còn tai Ngài thì hướng lắng nghe và nhậm lời cầu nguyện của họ.  10-12 Phần trích dẫn  đã được sửa đổi về mặt ngữ pháp để phù hợp với mạch văn ở đây.  Sự sống có thể vốn được tác giả Thi Thiên dùng để ngụ ý về sự tồn tại trên đất này.  Rất có thể Phi-e-rơ muốn dùng danh từ này (c.7) để chỉ về sự sống vĩnh hằng, nhất là khi ông đổi câu nguyên văn “yêu sự sống và muốn thấy nhiều ngày tốt lành” thành câu “ai muốn yêu sự sống và thấy ngày tốt lành”.

6. Sống vì Chúa Cứu Thế khi đối diện với sự chống đối (IPhi 3:13-4:6)

(IPhi 3:13-22). Do chủ nghĩa vô thần sụp đổ ở khắp nơi, nên hiện nay trên thế giới số quốc gia mà ở đó các Cơ Đốc nhân bị bách hại hay cầm tù vì đức tin cũng ít hơn.  Thế nhưng chỉ cần có một chính phủ độc tài (dù khuynh tả hay khuynh hữu) gợi lại những nỗ lực mà các quốc gia đã thực hiện nhằm đàn áp những người xưng danh Chúa Cứu Thế.  Trong xã hội phương Tây ngày nay, các Cơ Đốc nhân có khả năng bị bắt bớ bách hại nhiều hơn vì đã đứng ra chống lại những giá trị và chuẩn mực giả dối (trong quyển Thiên Lộ Lịch Trình, Bunyan mô tả rằng việc này xảy ra cho Cơ Đốc nhân và những người Trung tín trong Hư Hoa Thành.)

(IPhi 3:13-16)  Lòng tin quyết của Phi-e-rơ vào quyền tể trị của Đức Chúa Trời cũng như vào đức công bằng của Ngài đã đưa ông đến chỗ đặt ra một câu hỏi mang tính hùng biện: bằng anh em sốt sắng làm lành, thì ai làm dữ lại cho anh em? Nhận định tiếp theo đó gợi ý rằng nhiệt tâm của Cơ Đốc nhân trong việc làm điều công chính không thể dẫn đến việc bị bắt bớ. Điều này có vẻ khác lạ và không phù hợp với lời cảnh cáo của Chúa Giê-xu, lời truyền dạy và từng trải của Phao-lô (thí dụ trong... ) và những lời lẽ của chính Phi-e-rơ ở chương tiếp theo (), hay ngay cả với hai câu 16.17 ở đây. Do đó chúng ta có thể đúng khi cho rằng điểm được nhấn mạnh trong câu hỏi này là động từ làm dữ (c.13). Rất có thể sự bắt bớ sẽ xảy đến trên Cơ Đốc nhân, nhưng rút cục, nó không thể làm hại họ. Trên thực tế, từng trải này có thể dẫn đến phước hạnh (c.14 đối chiếu ) và kết cuộc có thể được đặt trong tay Đức Chúa Trời () vì Ngài quan sát những người thuộc về Ngài và những kẻ bắt bớ bách hại họ. Cho nên các tín hữu được khuyên là đừng rối trí (đừng sợ hãi).  Chúng ta sẽ tìm được phương dược linh nghiệm cho sự sợ hãi khi chúng ta dành cho Chúa Cứu Thế vị trí trung tâm mà Ngài đáng phải có trong đời sống chúng ta.  Tại đó, Ngài sẽ ngự trị với tư cách Chủ.  Một thái độ kính sợ Chúa đích thực như thế, được thể hiện cả trong cách ăn ở cư xử ngay lành cùng với cách lời tuyên xưng đức tin đã được suy nghĩ cẩn thận, sẽ xua tan mọi sự sợ hãi ít hơn và cuối cùng sẽ khiến cho những kẻ hay gièm pha phải xấu hổ.

(IPhi 3:17-22)  Những câu này chứa đựng dòng tưởng phức tạp nhất trong cả bức thư.  Ý chính ràng buộc chúng lại với nhau chính là ý niệm về việc chịu khổ, Phi-e-rơ vẫn đang giúp độc giả của ông chuẩn bị tinh thần để đối diện với sự chịu khổ trong tương lai, và đoán rằng họ có thể sẽ phản ứng theo cách thông thường của loài người khi đối diện với sự đau khổ thật là uổng phí! Vì thế ông đã chỉ cho chúng ta thấy sự chịu khổ của Chúa Giê-xu và nó đã giúp Ngài đạt được điều gì: Ngài đã đưa chúng ta đến với Đức Chúa Trời Ngài đã được khiến sống lại từ cõi chết Ngài đi giảng cho những linh bị cầm tù (xem bên dưới) Ngài thực hiện được việc thanh tẩy và cứu rỗi mà phép báp-tem là ảnh tượng của điều đó và Ngài đã được tôn lên địa vị tột cùng của uy quyền và vinh hiển.

Sự chịu khổ như thế rõ ràng không hề vô nghĩa và thật ra đó là ý chỉ của Đức Chúa Trời đối với Chúa Cứu Thế và cũng có thể là ý chỉ của Đức Chúa Trời cho người theo Ngài.  Nói như thế không có nghĩa là họ hẳn phải chết để đưa người khác đến với Đức Chúa Trời, nhưng là mẫu mực của sự chịu khổ mang lại vinh hiển chính là mẫu mực mà Chúa Giê-xu từng kêu gọi những người theo Ngài phải noi theo. Việc đề cập này đã đưa Phi-e-rơ đến chỗ nhắc chúng ta sự chịu khổ mà Đức Chúa Trời đã định cho Chúa Cứu Thế vô tội có bảy đặc điểm như thế nào: được thực hiện một lần là đủ cả (c.18) đó là phương cách để đối phó với tội lỗi ( tội lỗi xem phần bên lề của bản NIV) đó là hành động của Đấng công chính thay cho kẻ không công chính nhằm mục đích mang chúng ta đến với Đức Chúa Trời (động từ Hi văn prosagơ được dùng ở đây là thuật ngữ chỉ về việc giới thiệu một ai đó trước mặt một thượng cấp) đó là một sự chết thuộc thể để có được sự sống thuộc linh đó là cơ hội để truyền giảng cho các linh hồn bị (xem phần dưới đây) đưa đến việc Đức Chúa Trời báo đáp Chúa Giê-xu bằng cách khiến Ngài sống lại và tôn cao Ngài (c.22).

Câu 18 là một trong những câu ngắn gọn nhất nhưng lại rất sâu nhiệm trong Kinh Thánh Tân Ước về giáo lý chuộc tội.  Nó cho thấy rằng Chúa Giê-xu đã giải quyết sự đỗ vỡ trong mối liên hệ của loài người với Đức Chúa Trời bằng ba cách:

1.  Ngài đã làm của lễ chuộc tội trọn vẹn (đối chiếu  ), vì thế đã làm trọn mọi đòi hỏi của luật pháp.

2.  Ngài đã chịu chết cho sự không công chính, như hình phạt mà luật pháp áp đặt trên tội nhân.

3.  Bởi đó, Ngài đã cất đi rào cản do tội lỗi tạo ra và mở ra con đường để người ta có thể trở lại với Đức Chúa Trời .

Sau khi đã nhấn mạnh quá nhiều rằng giá trị những sự chịu khổ của Chúa Cứu Thế là gương mẫu cho chúng ta (thí dụ ), Phi-e-rơ lập lại quân bình bằng cách cũng trình bày chúng là độc nhất và có hiệu quả ra sao.  Đấng công bình hàm ý rằng sự thương khó của Ngài nhằm làm nguôi (làm thoả mãn tất cả những đòi hỏi của chính Đức Chúa Trời), còn thay cho (nguyên văn “nhân danh”) cho thấy rằng nó cũng mang tính thay thế.  Đấng công chính trọn vẹn có nghĩa là Đấng hoàn toàn không đáng phải chết đã gánh chịu những đau đớn của sự chết thay cho toàn thể những kẻ đáng phải chết.  Bằng cách này Chúa Giê-xu đã thế chỗ chúng ta và chịu lấy án phạt của chúng ta.  Ngôn ngữ ở đây phản ảnh mạnh mẽ ngôn ngữ của .

Ấy bởi đồng một linh hồn (Linh) đó chỉ về công tác của Đức Thánh Linh trong việc phục hồi sự sống cho Chúa Giê-xu.  Ngài đã chết về phần thuộc thể trên thập tự giá ở chỗ mọi chức năng của thân xác Ngài (hô hấp và sự tuần hoàn máu, v.v..) đã ngừng hoạt động.  Ngài cũng chết về phần thuộc linh vì đã phải chịu phân cách với Đức Chúa Trời do gánh lấy tội lỗi của thế gian.  Điều này được thể hiện bằng tiếng kêu lớn do bị lìa bỏ (......).  Nhưng sự chết thuộc linh không phải là sự tận diệt, và khi Chúa Giê-xu đã nhận chịu trọn vẹn sự phán xét mà Đức Chúa Trời dành cho tội lỗi, thì linh hồn của Ngài đã được giải phóng khỏi thân xác.   trong bản Hi-văn và những đoạn tương đương đã dùng cách nói ẩn dụ thông thường nhưng rất sinh động đó là “trút” linh hồn.  Đến ngày thứ ba thì linh hồn (hay tâm linh: Spirit) ấy đã trở lại để hồi phục thân thể Ngài lúc phục sinh.  Phần chú thích bên lề bản NIV cho thấy chúng ta cũng có thể hiểu phần linh hồn thì được sống đề cập đến hoạt động của linh hồn Chúa Giê-xu trong suốt giai đoạn từ lúc Ngài chết cho đến khi Ngài sống lại.

Việc đề cập về các linh hồn bị (c.19) đưa tác giả quay trở về thời kỳ của -ê, người có kinh nghiệm cứu rỗi ấn tượng tương đương phép báp-tem.

Đức tin mà là sự đáp ứng của người tín hữu đối với Đức Chúa Trời trong phép báp-tem được trở nên hữu hiệu bởi sự sống lại của Chúa Giê-xu từ cõi chết.  Giờ đây Phi-e-rơ kết hợp hai hướng của tư tưởng ấy lại.  Ông nhận thấy rằng sự vinh hiển của Chúa Giê-xu không chỉ là kết quả thiêng liêng của sự chết của Ngài, mà nó còn là lý do thúc đẩy nhân loại đáp ứng Ngài bằng đức tin (xem thêm những bình luận ở những chú thích dưới đây).

(IPhi 4:1-6)  Chịu khổ trong xác thịt là điều phải chấp nhận bởi lẽ: điều đó đúng với gương mẫu của Chúa Giê-xu nó làm cho người tín hữu hòa hợp với ý muốn Ngài và nó giúp cho người chịu khổ sống theo ý muốn Đức Chúa Trời.  Điều quan trọng là chúng ta cần xem xét cẩn thận những phân đoạn Kinh Thánh như thế với một số lời dạy dỗ đương đại về “sức khoẻ và sự giàu có”.  Không chỗ nào trong Thánh Kinh dạy chúng ta rằng Cơ Đốc nhân sẽ luôn thịnh vượng và không phải chịu khổ trái lại, Chúa Giê-xu cho thấy rằng có lẽ điều ngược lại thường đúng.

Việc đề cập phép báp-tem ở  có lẽ đã thúc giục Phi-e-rơ noi theo cách lý luận mà Phao-lô đã sử dụng ở Rô-ma 6.  Phép báp-tem tượng trưng việc người tín hữu nhận có những quyền lợi mà sự thương khó và sự chết của Chúa Cứu Thế đã mang lại.  Khi trải qua điều này, người chịu báp-tem được xem như đã dự phần cách mầu nhiệm vào những thương khó và sự chết đó.  Kết quả của sự chết như thế được  trình bày là “coi mình như chết về tội lỗi và như sống cho Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Giê-xu Christ”.  Đây chính là điều Phi-e-rơ trình bày ở đây, cùng với một lưu ý về tính cấp bách bằng cách đối chiếu thời gian mà một người đã tiêu phí trong quá khứ vào việc dung dưỡng chính mình với cơ hội để phục vụ Đức Chúa Trời trong tương lai.

Những người có cách cư xử và những thói quen được thay đổi như thế đều trở thành mục tiêu của sự bắt bớ. Tuy nhiên, Cơ Đốc nhân phải ghi nhớ rằng tất cả mọi người đều phải khai trình cách ăn ở cư xử của mình với Đức Chúa Trời. Tính bao quát của sự phán xét này (c.5) đưa Phi-e-rơ đến chỗ đưa ra một nhận định khác nữa rằng sự chết của Cơ Đốc nhân làm sáng tỏ giá trị của việc truyền giảng Phúc Âm đối với con người khi họ còn sống. Tuy hiện tại qua cái chết, họ phải nhận lấy hình phạt của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi trên thân thể họ, nhưng tâm linh họ vẫn được sống với Ngài (về những cách lý giải khác cho câu này, xin xem phần chú thích dưới đây).

Do vậy, trong phần này Phi-e-rơ khích lệ các Cơ Đốc nhân đang đối diện với hoạn nạn (và có thể là việc tử đạo nữa) bằng cách qua gương mẫu của Chúa Giê-xu cho họ thấy rằng kế hoạch của Đức Chúa Trời có thể được thực hiện qua sự hoạn nạn như thế và cuối cùng nó sẽ đưa đến chiến thắng.

Chú thích.  Phần bên lề của bản NIV cho thấy phần trích dẫn từ  có thể được hiểu theo một trong hai cách: “chớ sợ điều họ sợ” hay “đừng sợ điều họ doạ”.  Một khả năng thứ ba nữa chính là lệnh truyền ở đây và trong Ê-sai là một lời cảnh cáo chống lại sự bội đạo – “đừng dự phần thờ phượng những đối tượng mà họ tôn thờ” (động từ Hi văn mang ý nghĩa thờ cúng này được dùng  trong thí dụ như   ).  17 Tiếng Hi Lạp của câu nếu ý muốn Đức Chúa Trời dường ấy là “giá như sự việc như thế”.  Câu này gợi ý rằng khả năng phải chịu khổlàm điều thiện là rất hiếm hoi, như ở câu 14.  Có lẽ Phi-e-rơ nói điều này nhằm xoa dịu nỗi sợ hãi của độc giả mình.

19 Câu này làm nảy sinh hai câu hỏi khó giải đáp nhất trong bức thư này.  Chúa Giê-xu đã đi giảng cho các linh hồn bị vào lúc nào, và họ là ai?  Một số người cho rằng câu này đề cập đến khoảng thời gian ngay sau khi Chúa Giê-xu chết, lúc tâm linh Ngài đi vào thế giới của những người đã qua đời.  Bởi đó, cùng với  và , câu này đã tạo ra một mệnh đề trong Bài Tín Điều Các Sứ Đồ, đó là Chúa Giê-xu đã xuống Am phủ.  Trong trường hợp đó, chắc hẳn Ngài đã giảng cho tất cả những người chết bằng một trong ba cách: cho họ thêm một cơ hội để được cứu rỗi công bố chiến thắng của Ngài trên sự chết và trên quyền lực của điều ác và bởi đó khẳng định bản án dành cho những kẻ vô tín và tuyên bố sự giải cứu cho những kẻ tin Ngài tuyên bố việc được giải thoát khỏi ngục luyện tội cho những kẻ đã ăn năn ngay trước khi bị cơn hồng thủy tiêu diệt (một cách lý giải phổ biến của các tác giả Công giáo La Mã).

Cả cách giải thích thứ nhất lẫn giải thích cuối đều không nhận được sự hậu thuẫn của Kinh Thánh, nhưng cách thứ hai được nhiều nhà giải kinh cho là phù hợp với chứng cứ trên đây của Kinh Thánh Tân Ước.  E.  G.  Selwyn (The First Epistle of Peter Macmillan, 1949) và nhiều người khác cho rằng các linh hồn bị tù là những thiên sứ sa ngã của  được đề cập đến ở  và Giu-đe 6 cũng như trong sách Ngụy kinh 1 Enoch.  Mục đích của Phi-e-rơ trong phần Kinh Thánh này là chứng tỏ rằng chủ đích của Đức Chúa Trời vẫn được thực hiện ngay cả trong thời điểm hoạn nạn.  Vì thế, có lẽ tốt hơn hết chúng ta nên hiểu việc truyền giảng ở đây như một sự công bố về chiến thắng khải hoàn của Chúa Cứu Thế, để khẳng định (c.22) rằng toàn thể các thiên sứ, các vương hầu, các quyền thế thảy đều phục Ngài.  Trong một phần phụ lục Grudem (TNTC) đã tóm tắt các quan điểm và tuyên bố rằng các linh hồn này là những người đồng thời với Nô-ê đã chối bỏ công tác truyền giảng của Thánh Linh Chúa Cứu Thế qua Nô-ê (xem ) và hiện đang bị giam cầm trong nơi ở dành cho người chết.  Cách lý giải rằng cụm từ nhờ Thánh Linh được sống (c.18) đề cập về sự phục sinh, và các linh hồn bị đề cập đến các thiên sứ sa ngã đã được R.  T.  France bảo vệ một cách thuyết phục trong quyển New Testament Interpretation, ed.  I.  H.  Marshall (Paternoster Press, 1979), trang 264-281.  Ông tuyên bố rằng cách dùng của Kinh Thánh Tân Ước và cách dùng của người thời ấy ủng hộ cho cách hiểu này về từ ngữ linh hồn (spirits) khi chính nó được sử dụng, chớ không được dùng để chỉ về những người nam người nữ đã chết trước khi Chúa Giê-xu đến để rao giảng Phúc Âm.

Không có quan điểm nào là không gặp vấn đề, nhưng cách dùng một động từ hàm ý về một tiến trình chắc chắc và có chủ đích (đi câu19 và đã được lên câu 22 đều có chung một từ ngữ Hi văn là poreutheis) gợi ý rằng Phi-e-rơ đang kể lại điều Chúa Giê-xu đã hoàn tất trong thời gian Ngài chịu chết và được tôn cao.

20 Theo những cách lý giải trước đây, Bội nghịch thuở trước đề cập về các biến cố trong  hoặc đề cập việc người ta chối bỏ sự rao báo của Nô-ê. Việc đề cập rằng Đức Chúa Trời đã nhịn nhục chờ đợi trong khi Nô-ê đóng tàu, cũng phù hợp với các khả năng này.  ít người là điều Thánh Kinh muốn nhấn mạnh  Trong Kinh Thánh Cựu Ước, tương đương với ý niệm này là ý niệm về “kẻ còn sót lại”.  Dù vậy, Phao-lô vẫn nói về  “nhiều người” là những người sẽ được trở nên công bình bởi sự chết của Chúa Giê-xu , và đây phải là một động cơ cho việc truyền bá Phúc Âm.  Bởi nước có hai nghĩa.  Về mặt địa điểm, chiếc tàu này đã mang Nô-ê và gia đình ông an toàn thoát khỏi cơn nước lụt mà Đức Chúa Trời đã dùng để giáng sự trừng phạt trên những người còn lại.  Giới từ bởi (bằng cách, bằng phương tiện) cũng gợi ý về tính công cụ, tức là nước vừa là phương tiện huỷ diệt những người đương thời vừa là phương tiện giải cứu để mang lại một khởi đầu mới cho Nô-ê và gia đình ông.

21 Từ ngữ Hi văn ảnh tượng (“antitypon”) nguyên mô tả về dấu vết lưu lại của con dấu (typos) trên một bề mặt và vì thế được dùng để chỉ về một kiểu tương ứng mà một con dấu tạo ra theo khuôn mẫu của nó.  Phi-e-rơ cho rằng hình ảnh này cũng giống với phép báp-tem, vì ở đây nước tượng trưng cho sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi, và sự giải cứu để bước vào một sự sống mới.  Phương cách duy nhất để chuyển từ tình trạng phạm tội chống nghịch Đức Chúa Trời sang sự sống mới là bởi cơn nước lụt phán xét.  Nô-ê và gia đình ông đã thực hiện điều đó trong chiếc tàu một cách tượng trưng.  Chúa Giê-xu nói về sự chết sắp đến của Ngài là một phép báp-têm, khi Ngài chịu sự phán xét Đức Chúa Trời thay chúng ta.  Trong  Phao-lô cho rằng phép báp-tem mô tả việc Cơ Đốc nhân bước vào từng trải về sự chết và phục sinh của Chúa Cứu Thế.  Đối với Chúa Giê-xu, sự chết của Ngài là việc gánh chịu hình phạt của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi và là khởi đầu của sự phục sinh với tín hữu, sự chết của Chúa Giê-xu là phương tiện để được thanh tẩy khỏi tội lỗi và bước vào sự sống mới.  Phi-e-rơ loại bỏ những ý niệm hoang đường của độc giả ông về phép báp-tem bằng cách giải thích rõ rằng sự linh nghiệm của phép báp-tem không tùy thuộc vào tính tượng trưng bên ngoài của việc làm sạch ô uế của thân thể mà là ở sự đáp ứng bên trong của đức tin đối với Đức Chúa Trời.  Lời ước nguyện (pledge) là một từ ngữ được người sống ở thế kỷ thứ nhất dùng để đề cập về sự cam kết chính thức của bất kỳ bên nào thực hiện giao kèo và vì thế bản AV dịch là nó là “lời đáp lại” (xem phần bên lề của bản NIV).  Sự phục sinh của Chúa Cứu Thế Giê-xu là một sự kiện vĩ đại làm cho tất cả những gì phép báp-tem tượng trưng trở nên thực tế và khả thi, và chỉ duy nhất nhờ phương tiện này mà chúng ta được cứu.  22 Do liên quan đến điều này nên Phi-e-rơ lặp lại từ ngữ poreutheis của câu 19 (xem ở trên).  Từ này mô tả tiến trình khải hoàn của Chúa Giê-xu, dẫn đến việc Ngài ngự ở thiên đàng (bởi đó làm ứng nghiệm ) và có uy quyền tối cao.

Cụm từ “thái độ như thế” (nghĩa đen là ‘ý định’) trong văn cảnh này dường như ám chỉ về kinh nghiệm chịu khổ của Chúa Giê-xu.  Những sự thương khó của Ngài đã đưa đến sự chết của Ngài về phần xác và giúp linh hồn Ngài có thể bước vào một dạng tồn tại mới.  Đây cũng là điều cần được thể hiện trong đời sống người tín hữu.  Người nào đã chịu khổ không hẳn chỉ cập đến những người từng chịu khổ về phần xác, mà bao hàm tất cả những người đã dự phần vào những sự thương khó của Chúa Cứu Thế, qua sự hiệp nhất mầu nhiệm được tượng trưng bởi phép báp-tem.  Sự hiệp nhất này phải được làm cho hữu hiệu bằng cách rao sự giải cứu khỏi tội lỗi và một đời sống mới hầu việc Đức Chúa Trời.  2 Từ ưa thích được dùng ở số nhiều gợi ý rằng tính đa dạng của những lạc thú lôi kéo con người vào nhiều phương diện khác nhau (c.3 đưa ra một bảng danh mục những phương diện này).  Trái lại ý muốn Đức Chúa Trời ở số ít cho thấy rằng chỉ bằng cách vâng lời Đức Chúa Trời thì nhân cách con người mới được hiệp nhất cách thật sự và phải lẽ.  3 Một số người cho rằng Làm theo ý muốn người ngoại đạo chỉ ra một bối cảnh ngoại đạo mà độc giả thư Phi-e-rơ phải đối diện, có lẽ nó đã khiến cho họ dính líu vào các nghi lễ ngoại giáo hay những hoạt động của các nghiệp đoàn.  tịch (trụy lạc) và tất cả các danh từ theo sau đều ở số nhiều và được dùng để mô tả một loạt những hoạt động bày tỏ cách ăn ở cư xử như thế.  5 Câu này nhấn mạnh tính chất chung của sự phán xét.  Loài người phải đối diện với điều đó sau khi chết, hoặc nếm trải trước nó trên đất này qua việc đáp ứng lại Chúa Cứu Thế.   từng cho biết rằng trong sự đáp ứng đó tội lỗi của họ được giải quyết qua sự hợp nhất của họ với Chúa Cứu Thế.  Khi ấy sự chết là cánh cổng dẫn họ vào một sự sống tâm linh trọn vẹn và tự do hơn, và họ không còn phải chịu sự phán xét nào nữa.  Một số các nhà giải kinh lý giải kẻ chết là những người chết về thuộc linh.  Những người khác thường dùng câu này để suy luận rằng sau khi chết con người sẽ được ban cho một cơ hội nữa để đáp ứng Phúc Âm.  Họ liên kết lời giảng này với lời tuyên bố ở , nhưng điều này không hợp với văn cảnh, và không được chỗ nào khác trong Kinh Thánh ủng hộ.  6 Tin lành cũng đã được giảng ra cho kẻ chết cho thấy trước rằng những kẻ chống đối Cơ Đốc nhân có thể sẽ bày tỏ sự phản bác của mình đối với Phúc Âm – “Nếu  các ông nói về sự tái lâm của Chúa Cứu Thế, và việc thừa hưởng sự sống đời đời tại đây và ngay bây giờ, thì tại sao người của các ông cũng chết như tất cả chúng tôi? Chắc chắn là các ông cũng đang chịu phán xét y như chúng tôi phải chịu, vì các ông thường nói rằng sự chết là tiền công của tội lỗi.”  Câu trả lời của Phi-e-rơ là những người chết hiện đã chịu xét đoán “theo loài người về phần xác” bằng cách chịu lấy sự chết về thể xác, nhưng Tin Lành cũng đã giảng ra cho họ rồi (trong lúc họ còn sống, và họ đã đáp ứng lại), nên giờ đây họ đang sống theo Đức Chúa Trời về phần hồn. Theo loài người... theo Đức Chúa Trời có thể ám chỉ sự phán xét về phần xác là số phận chung của nhân loại, còn sự sống về phần hồn là đặc điểm riêng biệt của Đức Chúa Trời. Giới từ theo có thể mang nghĩa là “trong cách nhìn của...”. Cả hai cách dịch đều không làm thay đổi nghĩa câu.  Còn có một cách dịch khác nữa là “bởi loài người” nhưng điều này không chắc đúng và không dễ dàng phù hợp với cụm từ song hành là theo Đức Chúa Trời.

7. Phục vụ lẫn nhau (IPhi 4:7-11)

Sự phán xét sau cùng không phải là điều ngẫu nhiên xa vời.  Trong mọi thời đại Cơ Đốc nhân phải luôn sẵn sàng để đối diện việc Chúa Cứu Thế trở lại để chấm dứt trật tự hiện tại của mọi vật.  Vì thế, điều cấp thiết đối với chúng ta là phải tỉnh thức và cầu nguyện (đối chiếu ), bày tỏ sự tự chủ, tình yêu thương lẫn nhau và chuyên tâm trong việc quản lý các ân tứ mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta.  Đây chính là cách sống làm vinh hiển Đức Chúa Trời.

Chú thích.  7 Sự cuối cùng (Hi văn là telos, cũng có nghĩa là “mục tiêu”) của hệ thống hiện tại không chỉ là đỉnh điểm của nó, mà còn là chủ đích mà Đức Chúa Trời đã và đang hành động để hướng tới.  Tỉnh thức ( tâm trí sáng suốt) có nghĩa là “có tâm trí vững vàng”.  Giữa những nỗi lo sợ và tình trạng không biết chắc, Cơ Đốc nhân phải giữ liên lạc với Đức Chúa Trời.  Cách dịch của J.  B.  Phillips rất hữu  ích ở đây: “hãy là những con người cầu nguyện bình tĩnh, tự chủ.  8 Về sốt sắng xin xem .  Sự yêu thương che đậy số tội lỗi có thể là một câu có ý của .  Câu này đã được dùng để lý luận rằng tình yêu có thể mang đến sự tha tội, chẳng những cho người bày tỏ nó, mà cả cho người tiếp nhận nó nữa.  Điều này không phù hợp với lời truyền dạy khác trong Thánh Kinh.  Ý nghĩa đúng nhất chính là tình yêu đích thực sẽ giúp một người bỏ qua lỗi lầm của người lân cận mình (xem   ).  Nó cũng có thể được dùng để ám chỉ tình yêu của Đức Chúa Trời che phủ tội lỗi của chúng ta, là động cơ thúc đẩy chúng ta yêu thương lẫn nhau.  9 Tiếp đãi nhau là điều quan trọng trong thời của các nhà truyền đạo lưu động và không có nhà thờ 10 Mỗi người hàm ý rằng mỗi tín hữu đều có một ân tứ nào đó để vận dụng.  Các nhận xét của Phi-e-rơ về chức quản gia đều rất ý nghĩa bởi vì Chúa Giê-xu đã giảng về chủ đề này đặc biệt cho Phi-e-rơ trong .  Về các thứ ơn của Đức Chúa Trời xin xem ở  nơi cũng có từ ngữ này được dùng.  11 Giảnglàm (phục vụ) là hai nhóm chức vụ chính trong Hội Thánh Cơ Đốc giáo: giảng Lời Chúa và “phục vụ bàn ăn” bằng nhiều cách.  Cả hai chức vụ này đều do Đức Chúa Trời giao phó và người thực hiện có thể nương cậy Đức Chúa Trời hỗ trợ những điều cần thiết để làm trọn chúng.  Lời sấm truyền (Hi văn là logia) được dùng vào thời của văn học cổ điển đề cập các thần ngôn (lời của các vị thần), còn trong  và  thì được dùng để ám chỉ lời Thánh Kinh.  (Về ý nghĩa của lời suy tôn Đấng được.  .  .  ở đây xin xem phần Dẫn Nhập, ở tiêu đề “Đây có phải là một bức thư thống nhất không?”.)

8. Chịu khổ vì Chúa Cứu Thế (IPhi 4:12-19)

Bây giờ Phi-e-rơ trở lại với chủ đề về sự chịu khổ và đưa ra thêm bảy lý do nữa nhằm khuyến khích Cơ Đốc nhân không phải chỉ chịu đựng, nhưng thật sự vui mừng trong điều đó. Việc chịu khổ là (i) một thử thách (c.12 đối chiếu) để chứng tỏ tình trạng thực của đức tin chúng ta, và chúng ta cầu xin Đức Chúa Trời hành động để làm cho nó vững mạnh (ii) không có gì khác thường (c.12), mà đó chính là một sự dự phần vào từng trải của Chúa Cứu Thế (iii) một con đường đem chúng ta đến sự vinh hiển, như nó đã từng diễn ra cho Đấng Christ vậy (c.13 cũng xem  và ) (iv) một cơ hội để nhận được phước, trong một từng trải sâu hơn về Đức Thánh Linh (c.14) (v) một cơ hội để tôn vinh Đức Chúa Trời (c.14) (vi) một thách thức để chứng minh rằng tính xác đáng của Phúc Âm khi sự phán xét được bắt đầu với những người nhà của Đức Chúa Trời (c.17) (vii) một cơ hội để phó thác chính mình cho Đức Chúa Trời và chứng tỏ sự thành tín của Ngài (c.19). Người thuộc về Đức Chúa Trời có thể trao phó các vấn đề của đời sống cho Đấng đã ban sự sống cho họ với một thái độ tin cậy trọn vẹn. Trái lại, tội nhân không chịu ăn năn sẽ chẳng có gì để trông đợi trong đời này hay đời sau một khi Đức Chúa Trời khởi sự phán xét.

Chú thích.  12 lửa thử thách (Hi văn: thử lửa) nhìn lui về luận cứ ở .  Khác thường là một túnh từ có nguồn gốc từ một động từ đã được dùng cho cụm từ “chớ lấy làm ngạc nhiên” ở phần trước của câu này.  Do vậy, có lẽ sẽ tốt hơn nếu chỗ này dùng cụm từ “ đáng ngạc nhiên” hoặc dịch là “khác thường” ở cả hai chỗ như bản AV và RV đã làm.  14 cớ danh Đấng Christ không nhất thiết phải có nghĩa làm Cơ Đốc nhân thì chắc chắn phải chịu xỉ nhục, bởi vì chính Chúa Giê-xu từng gợi ý về khả năng chịu khổ vì danh Ngài. Muốn có thêm chi tiết, xin xem phần Dẫn Nhập về tác quyền.  Kể từ thời Chúa Giê-xu Cơ Đốc nhân nào học tập sống như Ngài đều trở thành mục tiêu gièm chê hoặc thù ghét của những kẻ bị thách thức hoặc lên án vì cách cư xử của mình.  Một số người cho rằng -Thánh Linh của - vinh hiển (“Thánh Linh của” không có trong nguyên văn) đề cập đến Shekinah, là ánh hào quang hiện rõ tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa vòng dân sự Ngài.  Có thể là như vậy, nhưng theo mạch văn và cấu trúc của câu này thì có lẽ tốt nhất chúng ta nên hiểu từ này chỉ về Thánh Linh của Đức Chúa Trời (như bản NIV).  Đây là Thánh Linh vinh hiển vì Ngài đã bày tỏ vinh hiển của Đức Chúa Trời cho dân sự Ngài bằng cách khiến Chúa Cứu Thế trở nên thực hữu với họ và biến đổi họ nên giống như hình tượng Ngài.  Có lẽ cụm từ này đã bắt nguồn từ  của bộ LXX, tuy ở đó không đề cập gì đến sự vinh quang hay quyền năng (một cách giải thích khác).  15 Kẻ thày lay việc người khác có vẻ như không thích hợp với danh sách về các hành vi tội lỗi được đề cập ở đây, nhưng đây là điều dường như thường làm ảnh hưởng đến Phúc Âm.

16 Từ Tín đồ Đấng Christ (Christian) chỉ xuất hiện ở hai chỗ nữa của Kinh Thánh Tân Ước.  Ở cả hai trường hợp, người ta cho rằng nó đã được những kẻ gièm pha dùng như một từ thể hiện sự khinh miệt.  Tuy nhiên, người thời bấy giờ dùng hậu tố La văn -ianus (tương đương trong Anh văn là -ian) theo hai cách, và điều đó có thể soi sáng cho cách dùng ở đây.  Những kẻ theo đảng Hê-rốt được gọi là “Herodians” (), cho nên “Christians” chắc hẳn chỉ về “những người ủng hộ Chúa Cứu Thế”.  Theo phong tục của người La Mã, khi một người gia nhập vào một gia đình quý tộc thì sẽ dùng tên gọi của chính gia đình ấy và thêm vào hậu tố -ianus.  Như vậy một người được nhận vào gia đình DomI Tius có thể tự xưng mình là DomI Tianus.  An-ti-ốt (nơi bắt nguồn tập tục này) là một thành phố thuộc La Mã, nên rất có thể các Cơ Đốc nhân (Christians) ở đó đã dùng tên gọi này để chứng tỏ rằng họ đã được nhận vào gia đình của Chúa Cứu Thế (Christ).

17 Về ý tưởng Sự phán xét sẽ bắt đầu với nhà Đức Chúa Trời xin xem   .  18 Câu trích dẫn   từ bộ LXX nhấn mạnh luận điểm của câu trước, và là một lời nhắc nhở về lời của Chúa Giê-xu trong .  19 Nếu sự chịu khổ như thế được chấp nhận căn cứ theo câu 17-18, thì thay vì buông xuôi khi đối diện với nó Cơ Đốc nhân sẽ kiên trì làm lành.  Chúng ta noi theo gương Chúa Cứu Thế, phó thác kết quả cho Đức Chúa Trời.  Phócho là từ ngữ đã được Chúa Giê-xu sử dụng trong  (trích dẫn ).  Tất cả những người Do Thái trung tín đều đã dùng câu Kinh Thánh này như lời cầu nguyện cuối của buổi tối, và rất có thể đó chính là tư tưởng ở đây.  Phao-lô từng dùng danh từ được bắt nguồn từ gốc từ này trong  để diễn tả lòng tin quyết của ông vào sự gìn giữ an toàn của Đức Chúa Trời.  Đấng Tạo Hoá được dùng ở đây có lẽ để nhắc nhở độc giả về quyền năng của Đức Chúa Trời (đối chiếu  và tư tưởng của Phao-lô trong ).

9. Thực thi vai trò lãnh đạo (IPhi 5:1-4)

Những người đang trải qua những sự thử nghiệm và đã từng đối diện với các thách thức của chương 4 sẽ cần đến sự chăn dắt khôn ngoan và khéo léo.  Trong nguyên bản Hi văn có từ ngữ “Do đó”mang tính nhấn mạnh, là từ được dùng để liên kết những câu này với những câu ở phần trước.  Với địa vị và từng trải độc nhất vô nhị của mình Phi-e-rơ khuyến giục các vị lãnh đạo Hội Thánh địa phương phải thực hiện trách nhiệm của mình một cách sẵn lòng, nhiệt thành và gương mẫu.  Họ phải ghi nhớ rằng mình đang làm công tác chăn dắt cho ai và phần thưởng mà Đấng ấy đã hứa cho kẻ trung tín phục vụ.

Phi-e-rơ đã đưa ra ba cách thức để thực hiện vai trò của người mục sư.  Một là, chớ làm miễn cưỡng như thực hiện bổn phận nhưng phải sẵn lòng như làm một việc do mình tự do chọn lựa hai là, đừng tham nghĩ đến lợi lộc nhưng phải hết lòng với Chúa và với những người mà mình phục vụ và ba là, không khoe khoang về địa vị của mình, nhưng phải tận dụng mọi cơ hội để làm gương tốt cho cả bầy.

Chú thích.  1 Các Trưởng lão (Hi văn là presbyteroi) vốn được bổ nhiệm từ những thời kỳ đầu tiên để nhận những nhiệm vụ thuộc linh của các Hội Thánh non trẻ, được thành lập khi Phúc Âm được truyền bá. Cho thấy Hội Thánh Giê-ru-sa-lem đã có các vị trưởng lão từ giai đoạn mới thành lập.  Có lẽ vai trò này bắt nguồn từ một tiền lệ của Do Thái giáo.  Nhiệm vụ của họ chủ yếu là mục vụ.  Vào những ngày đầu của Hội Thánh họ đã được gọi là trưởng lão, để chỉ về cấp bậc của họ, và cũng được gọi là episkopoi (có nghĩa là ‘giám mục, giám sát’) để mô tả về chức năng của họ.  Bức tranh này đã được tìm thấy ở câu 2, và  đã dùng thay đổi hai từ ngữ này.  Cụm từ Trưởng lão trong anh em không thấy xuất hiện ở những chỗ khác của Kinh Thánh Tân Ước, nhưng đây không phải là một từ ngữ lạ trong mạch văn này, chỗ Phi-e-rơ đã khéo léo nhấn mạnh sự đồng nhất giữa ông với những người mà ông đang khích lệ.  Tác giả xưng mình vốn là người chứng kiến sự đau đớn của Đấng Christ.  Việc những danh sách ghi lại những người có mặt lúc Chúa Giê-xu bị đóng đinh vào thập tự giá chỉ đề cập đến những tín đồ phụ nữ có thể cho thấy rằng Phi-e-rơ không có mặt.  Cả Giăng cũng không được nhắc đến, nhưng chúng ta biết rằng lúc đó ông có hiện diện.  Rất có thể Phi-e-rơ cũng đã có mặt nhưng không được đề cập cụ thể mà thôi.  Dù sao đi nữa, ông chắc hẳn đã thấy nhiều về sự đau đớn của Chúa Giê-xu.  Về sự vinh hiển xin xem .

2 Hãy chăn bầy sử dụng từ ngữ Chúa Giê-xu đã dùng khi phán với Phi-e-rơ sau khi Ngài phục sinh ().  Đây cũng là nhiệm vụ mà Phao-lô giao phó cho các trưởng lão tại Ê-phê-sô.  Đã giao phó cho anh em cũng có thể mang nghĩa là “bằng tất cả khả năng của anh em”.  Cả hai cách dịch trên đây đều phù hợp với văn cảnh.  “Hầu việc như những người giám mục” (bản tiếng Việt là làm việc đó) có cùng một gốc từ với từ giám mục trong .  Chẳng phải bởi ép tình (gượng ép) gợi ý về một ý thức sai lầm cho rằng mình không xứng đáng, một thái độ miễn cưỡng đối với trách nhiệm, hay một ước chỉ làm những điều tuyệt đối cần thiết mà thôi.  Bất kỳ một thái độ nào trên đây đều có thể đưa đến chỗ không sẵn sàng để nhận nhiệm vụ hay thực hiện nhiệm vụ ấy một cách thỏa đáng.  Như Đức Chúa Trời muốn anh em làm là một cách dịch hợp lý.  Câu này trong Hi văn cũng có thể mang nghĩa là “như Đức Chúa Trời cũng sẽ làm như thế”, làm gợi lại thái độ của “Đấng Giám mục của linh hồn” trong   và .  Tham tiền (lợi bẩn) không hàm ý việc các trưởng lão nhận lương bổng, nhưng ngụ ý việc những người vô lương tâm đã tận dụng những cơ hội có được trong chức vụ để làm lợi cho cá nhân.  Tinh thần này cũng có thể áp dụng cho trường hợp hám danh tiếng hay địa vị.

3 Làm chủ (quản trị) thường là thái độ của người cấp trên của đời này (cùng một từ ngữ được dùng trong ).  Thay vì khống chế và điều động người khác để đạt mục đích riêng, những người lãnh đạo Cơ Đốc phải nêu gương tốt, ban phát những điều họ có thể thâu góp cho mình để khuyên răn và gây dựng.  Những kẻ được giao cho (phần trách nhiệm chia cho anh em) (Hi văn là klçroi, nghĩa là “những phần đã được giao cho anh em”): là klçroi, mà bởi đó ta có từ “giáo sĩ”, ban đầu có nghĩa là một mảnh đất được phân phối sau đó nó chỉ về một chức vụ được bổ nhiệm bằng cách rút thăm, và ở đây, nó chỉ về bầy chiên đã được giao cho một mục sư riêng biệt.  Gương tốt trong Hy văn là từ typoi, chỉ về một khuôn mẫu, hay kiểu mẫu để noi theo (xem , từ antityphon bắt nguồn từ gốc từ này).  Trước đây, Phi-e-rơ từng mô tả sự tái lâm dưới dạng một “sự tiết lộ” hay “sự mặc khải” của Chúa Cứu Thế Giê-xu.  4 Hiện ra (Hi văn là planeroơ) nói lên kết quả của sự mặc khải đó, đó là Chúa Giê-xu sẽ xuất hiện trong vinh quang trước sự chứng kiến của mọi người .  Vinh hiển ám chỉ việc người đội mão triều thiên được dự phần vào sự vinh hiển, như “mão triều thiên của sự sống” trong  và  ám chỉ người đội nó sẽ được hưởng sự sống vĩnh hằng.  Chẳng hề tàn héoamarantinon, nghĩa là “thuộc hoa không tàn”, một loài hoa có tên gọi bắt nguồn từ chữ “amaranton” (đã được dùng ở ) vì nó được cho là không tàn héo.  Điều này tương phản với những chiếc vương miện sẽ tàn héo làm bằng lá nguyệt quế được ban thưởng cho những người chiến thắng trong các cuộc chơi đang được đề cập bóng gió ở đây.

10. Trở nên những môn đệ tốt (IPhi 5:5-7)

Những vị trưởng lão có phẩm chất như vừa được mô tả xứng đáng được sự ủng hộ trung thành của những thành viên trẻ tuổi hơn trong tình anh em.  Sự vâng phục của họ đối với sự hướng dẫn tin kính phải đưa đến thái độ khiêm nhường tôn trọng lẫn nhau trong anh em – một thái độ mà Kinh Thánh thường truyền dạy.  Chủ đề về thái độ khiêm nhường đã mở đầu cho một số lời khuyên tổng quát sau cùng.  Thái độ khiêm nhường trong tay Đức Chúa Trời của chúng ta sẽ giúp Ngài có thể sử dụng chúng ta theo cách làm cho tiềm năng của chúng ta được phát triển trọn vẹn.  Đây là phương cách để có được một đời sống thảnh thơi thật sự, tái bảo đảm sự quan tâm của Ngài dành cho chúng ta.

Chú thích.  5 Cũng...  có thể ngụ ý rằng mọi người còn lại cũng phải cư xử theo những lời truyền dạy đã được trình bày ở những câu trước, hay cũng có thể theo những tư tưởng của  ....  Các trưởng lão cũng chính là từ các trưởng lão đã được dùng ở câu 1 và chắc hẳn đề cập về họ.  Phải trang sức chính mình có nghĩa đen là “buộc chặt bằng một cái gút” hay “tự trói buộc mình” và rất có thể là Phi-e-rơ đã liên tưởng đến biến cố được ghi lại ở  và 15-16.  Câu Kinh Thánh được dùng để trích dẫn ở đây là  từ bộ LXX (cũng đã được trích dẫn trong ).  Chúa Giê-xu nói về nguyên tắc này ở .  6 Tay quyền phép của Đức Chúa Trời là một cụm từ quen thuộc trong bộ LXX, thường có sự liên kết về mặt ý tưởng với việc giải cứu khỏi Ai Cập (như trong ).  Ở đây điều này nhắc nhở chúng ta rằng Đức Chúa Trời có thể can thiệp vào những nan đề của loài người và khiến phước hạnh nảy sinh qua thái độ đón nhận một cuộc sống thấp hèn, thậm chí qua sự chịu khổ cách phải lẽ.  7 Trao là động từ sinh động, có nghĩa là “ném, quăng đi”.  Lý do không còn sự âu lo là lý do mà Chúa Giê-xu đã nêu trong.

5. SỰ CỨU RỖI NHƯ THẾ THU HÚT SỰ CHỐNG ĐỐI, NHƯNG ĐỨC TIN BẢO CHO CHIẾN THẮNG (IPhi 5:8-11)

Một đời sống không âu lo không phải là một đời sống vô tâm, và Cơ Đốc nhân phải thận trọng vì chúng ta đang tham gia vào một cuộc chiến thuộc linh không ngưng nghỉ.  Những thực tế của cuộc chiến này: kẻ thù chính là ma quỉ (c.8) nó luôn tìm cơ hội để tiêu diệt Cơ Đốc nhân (c.8) phương cách để thắng nó là chống cự nó (c.9) việc chống cự đó phải dựa vàao lòng tin quyết nơi Đức Chúa Trời (c.9) nó cũng phải được hậu thuẫn bằng sự nhận thức rằng chúng ta không đơn độc trong cuộc chiến này (c.9) kết quả của nó tùy thuộc vào Đức Chúa Trời, Đấng mà chính vì số phận của chúng ta vào ngày sau rốt, sẽ đáp ứng mọi điều cần thiết để chiến thắng (c.10) Đức Chúa Trời này có quyền năng cho đến đời đời (c.11).

Chú thích.  8 Về Hãy tiết độ (tự chủ) xin xem  và .  Tỉnh thức là một lời nhắc nhở đáng chú ý về những lời mà Chúa Giê-xu đã phán với Phi-e-rơ.  Kẻ thù nghịch (Hi văn antidikos) là một thuật ngữ mang tính pháp lý, được dịch từ chữ satan của Hi Bá Lai văn, được dùng để chỉ về kẻ thù của linh hồn (như trong ).  Tại đây, cũng như trong câu đó, ta có thể thấy Sa-tan là kẻ gây ra sự đau khổ và bắt bớ bách hại nhằm thử thách và, nếu có thể được, hủy phá đức tin của con cái Đức Chúa Trời.  Phi-e-rơ vốn rất quen thuộc với hành vi này.  Ma quỉ là từ ngữ Hi văn mang nghĩa là “kẻ gièm pha”.  Với vai trò phá hoại đức tin, ma quỉ nói xấu Đức Chúa Trời với loài người và nói xấu loài người với Đức Chúa Trời.  Về Rình chung quanh, xin xem  .  9 Chống cự là phương pháp được đưa ra để đối phó với ma quỉ, như trong  (đối chiếu ).  Còn ước muốn của xác thịt chính là phải trốn chạy ( ).  Từ vững mô tả tính cách vững chắc của các sự vật.  Đức tin nông cạn sẽ không thể đứng vững được ở đây, vì kẻ thù muốn qua bắt bớ bách hại để làm nảy sinh sự bội đạo.   cung cấp thêm lời khuyên để có thể chiến thắng trong những cơn thử thách như thế.  rải khắp thế gian tương phản với cụm các Hội Thánh tại vùng Tiểu Á mà bức thư này được viết để gởi đến.  10 Lời kêu gọi hãy kiên trì thích hợp với giáo lý về sự bảo toàn.  Vì Đức Chúa Trời đã gọi chúng ta để dự phần vinh hiển đời đời của Ngài trong Chúa Cứu Thế, thì sau cùng chúng ta có thể nương cậy Ngài đưa chúng ta vượt qua điều đó một cách an toàn (xem thêm   ).  Cách dịch “sẽ phục hồi” của bản NIV (will restore) có lẽ chính xác hơn cách dịch “khiến anh em trọn vẹn” của bản AV: đây là một lời hứa chớ không phải một lời cầu nguyện.  Phục hồi mô tả hình ảnh những chiếc thuyền đang được tu sửa lại sau một cuộc chiến hay một trận bão.  Vững mạnh (.....) được dùng cho các đồ vật và có thể chỉ về sự cố định về vị trí, vững vàng chỉ về sự vững chắc về chủ đích, trong khi thêm sức hàm ý củng cố thêm phần nền móng.  11 Quyền năng (Hi văn là kratos, tính từ quyền phép trong câu 6 được hình thành từ chữ này) không phải là từ ngữ thông dụng nhưng có nghĩa là quyền năng tể trị trọn vẹn của Đức Chúa Trời, điều bảo đảm giúp Cơ Đốc nhân vượt qua mọi khó khăn.

6. NHỮNG LỜI CHÀO THĂM CÁ NHÂN (IPhi 5:12-14)

Bây giờ, Phi-e-rơ tóm tắt lại bằng cách trình bày rõ chủ đích song phương của ông là khuyến khích và trấn an và bày tỏ lòng tri ân người đã giúp đỡ ông, là Si-la.  Sự cứu rỗi mà ông vừa công bố đích thực là ân điển đang hành động của Đức Chúa Trời, vì thế chẳng những chúng ta có mọi lý do để đứng vững trong đó, mà còn có thể hoàn toàn tin quyết rằng chúng ta sẽ làm được như thế.  Bức thư kết thúc bằng những lời chào thăm cuối thư cùng với lời chúc bình an theo cách của người Hi Bá Lai cho toàn thể các độc giả và thính giả Cơ Đốc.

Chú thích.  12 Si-la (Hi văn là Sin-vanh, như phần bên lề của bản NIV) có thể là Si-la của  (đối chiếu   ).  Cậy (nghĩa đen là ‘nhờ’) có thể mang nghĩa là Sin-vanh đã giúp cho Phi-e-rơ viết xuống bức thư này, hoặc ông đã chuyển bức thư này đi, hoặc là cả hai.  Một người anh em trung tín trong nguyên bản là “người” anh em trung tín, cho thấy rằng Si-la rất quen thuộc với các độc giả của thư.  Nếu không, có lẽ điều đó chỉ nhấn mạnh đến mối liên hệ của ông với Phi-e-rơ.  Này có thể được hiểu như một cách đề cập đến các lời hứa trong câu 10, nhưng có thể là đề cập đến toàn bộ bức thư thì đúng hơn.  Trong là từ “vào trong” mang tính sinh động hơn, hàm ý việc thực hiện mục tiêu một cách tích cực của bản thân.

13 Ba-by-lôn đã được đồng nhất với cố đô của vương quốc Ba-by-lôn, một thành phố ở Ai Cập có quân đội La Mã đồn trú (nay là Cairo), hay Rô-ma.  Trường hợp sau cùng có vẻ là đúng nhất – xin xem phần Dẫn Nhập.  Hội Thánh của các người được chọn (She... chosen together ) thường được cho là ám chỉ Hội Thánh địa phương (với danh từ Hi văn giống cái ekklçsia bị lượt bỏ).  Việc nhắc  đến con tôi tiếp sau đó đã gợi cho người ta ý nghĩ rằng “bà” (trong bản tiếng Việt là Hội Thánh) là vợ của Phi-e-rơ (xem  ), nhưng điều này không chắc đúng.  Mác có lẽ chỉ về tác giả sách Phúc Âm thứ hai, người mà Phi-e-rơ đã đến nhà khi được giải thoát khỏi tù ().  Mác từng đi truyền giáo cùng Phao-lô (.....), nhưng sau đó đã rời bỏ ông.  Việc ấy làm vị sứ đồ phật lòng, và để thay thế ông đã chọn Si-la làm bạn đồng hành ( .....).  Tuy nhiên, sau một thời gian Mác lại được Phao-lô quý mến trở lại (.....) và đã đến ở với ông, có lẽ là tại Rô-ma, vào giai đoạn cuối của cuộc đời ông ( ...).  Sử gia Eusebius trích dẫn lời của Papias rằng Mác đã biên soạn những điều Phi-e-rơ nhớ lại về việc làm cũng như lời dạy của Chúa thành một văn bản và ngay từ thời kỳ đầu tiên Phúc Âm Mác đã gắn liền với Hội Thánh tại Rô-ma.  Con ở đây được dùng theo nghĩa thuộc linh (đối chiếu ).

14 Cái hôn yêu thương hay “cái hôn thánh” được Tân Ước đề cập nhiều lần (  ).  Dường như nó thường được sử dụng khi các Cơ Đốc nhân nhóm nhau thông công.  Có lẽ nó cũng là điều thường được thể hiện giữa vòng Chúa Giê-xu và các môn đệ Ngài (xem ), và có lẽ đã bị những kẻ gièm pha đức tin Cơ Đốc nhân xuyên tạc.  Sự bình an là lời cầu chúc thường được dùng để kết thúc cũng như mở đầu một bức thư (.....).  Tuy nhiên, vì lời chúc bình an được xuất hiện giữa hai câu này, nên độc giả đã hiểu thể nào sự bình an này vẫn có thể tồn tại được ngay cả giữa lúc chịu khốn khó, các mối liên hệ cá nhân gặp rắc rối, và đối diện với thách thức không ngưng nghỉ của xã hội ngoại đạo.  Nguồn bình an như thế chỉ có thể tìm được trong Chúa Cứu Thế mà thôi. Dù hoàn cảnh có thế nào, người ở trong Chúa Cứu Thế (tham khảo ) vẫn luôn biết được sự bình an của Đức Chúa Trời, vì nó luôn sẵn sàng cho hết thảy anh em trong Đấng Christ cách vô điều kiện.

Lên đầu trang