IITÊ-SA-LÔ-NI-CA
1. LỜI CHÀO THĂM MỞ ĐẦU (IITe 1:1-2)
Như được mong đợi, lời chào thăm này rất giống với lời chào thăm trong I Tê-sa-lô-ni-ca, nhưng ở đây Phao-lô đề cập Đức Chúa Trời với tư cách là Cha chúng ta, và công khai nêu danh Đức Chúa Cha và Chúa Giê-xu như nguồn ân điển và bình an (cũng xem bài viết về Cách Đọc Các Thư Tín).
2. LỜI CẢM TẠ MỞ ĐẦU (IITe 1:3-12)
(IITe 1:3-4) Phao-lô bắt đầu bức thư khích lệ một Hội Thánh đang đương đầu với áp lực thù địch từ những người bên ngoài bằng cách thuật lại lời cầu nguyện của ông cho họ. Nó mở đầu bằng những lời làm chúng ta nhớ lại ITe 1:2-3 và cho thấy Hội Thánh đang tăng trưởng trong các đức tính Cơ Đốc căn bản, khiến cho lời cảm tạ của ông không mang tính hình thức rỗng tuếch. Trái lại, nó tạo nền tảng để ông đề cao họ giữa những Hội Thánh khác về sự vững vàng của họ trong việc ứng phó với sự bắt bớ và bách hại. Như vậy, Phao-lô đã dùng họ để khích lệ các Hội Thánh cũng đang ở trong hoàn cảnh tương tự.
(IITe 1:5) Rồi Phao-lô dần chuyển sang bình luận về ý nghĩa của hoàn cảnh này. Sự phán xét công chính của Đức Chúa Trời hiện nay được nhìn thấy trong kết quả với hai phương diện của sự bắt bớ và bách hại. Hai kết quả này được đan xen vào nhau trong câu 5-10.
Một mặt, sự phán xét của Đức Chúa Trời được nhìn thấy trong số phận của những kẻ bắt bớ dân Ngài (6,8,9). Khi Chúa Giê-xu đến, họ sẽ bị báo trả theo như cách họ đã đối xử với người khác. Bằng cách này, Đức Chúa Trời bênh vực cho người thuộc về Ngài chống lại những kẻ áp bức họ và cũng nói rõ rằng những kẻ không vâng phục Phúc Âm sẽ phải chịu phán xét. Cần lưu ý rằng những người thuộc về Đức Chúa Trời không nên tự mình báo thù những kẻ tấn công mình (Ro 12:17-21), và hành động của Đức Chúa Trời không phải là hành động báo thù, nhưng là hành động đề cao sự công bình. Đức Chúa Trời không thể bị cáo buộc vì đã hành động bất công hay thiếu khoan dung đối với họ. Những kẻ bị phán xét chính là những kẻ đã chối bỏ Phúc Âm với nội dung : “Khi chúng ta còn là thù nghịch cùng Đức Chúa Trời, mà đã được hoà thuận với Ngài bởi sự chết của Con Ngài” (5:10) họ đã từ chối lời mời đầy tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Cách nói truyền thống ngọn lửa hừng (Xu 3:2 Es 66:15) diễn tả một cách tượng hình sự giáng lâm của Đức Chúa Trời để phán xét cả những người ngoại bang (cố ý) chẳng hề nhận biết Đức Chúa Trời lẫn những người Do Thái (cũng cố ý) không vâng phục Tin Lành. Sự hư mất đời đời có liên hệ với sự trục xuất khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời và không được dự phần vinh hiển Ngài (2:10. Cũng như ở chỗ khác, Phao-lô gán ghép một văn bản trong Cựu Ước đề cập Yahweh (Đức Giê-hô-va) cho Chúa Giê-xu.
Mặt khác, những người thuộc về Đức Chúa Trời sẽ được xác nhận (5,7,10). Nếu họ đứng vững trước những sự bắt bớ, Ngài sẽ xem họ là xứng đáng được vào Nước Ngài (trong tương lai, như trong ITe 2:12), và Ngài cho rằng chỉ công bằng khi giải thoát họ khỏi những hoàn cảnh khốn khổ của họ, cùng với các nhà truyền giáo đã bị bắt bớ bách hại (IITe 3:2), khi Chúa Giê-xu sẽ hiện đến. Như thế, các ơn phước của Đức Chúa Trời được kết hợp với Chúa Giê-xu khi Ngài đến cùng với các thiên sứ Ngài (ITe 3:13). Ngài sẽ được dân thánh Ngài vây quanh và tôn vinh (về sau sẽ có phần chứng minh rằng họ được dự phần trong sự vinh hiển với Ngài, xem c.12, IITe 2:14). Họ sẽ đầy dẫy sự ngạc nhiên ngưỡng mộ, và dự phần trong thời điểm ấy chính vì họ đã nhận và tin lời chứng Phúc Âm do các nhà truyền giáo rao giảng.
(IITe 1:11-12) Sự lạc đề này nhằm cho thấy động cơ thúc đẩy Phao-lô nài xin Đức Chúa Trời cho các độc giả của mình. Vì sự vững vàng trong đời sống Cơ Đốc tuỳ thuộc vào hành động ân điển liên tục của Đức Chúa Trời và đức tin của dân Ngài, cho nên Phao-lô tiếp tục cầu xin Đức Chúa Trời giúp cho dân Ngài chứng minh được họ thật sự có đức tin trong mỗi hành động, do đó họ xứng đáng với sự kêu gọi của Ngài. Cách cư xử như vậy sẽ khiến họ ca ngợi Chúa Giê-xu, và người thuộc về Ngài sẽ được dự phần trong sự vinh hiển và tôn trọng được dành cho Ngài. Có thể ở đây Phao-lô mô tả Chúa Giê-xu vừa là Đức Chúa Trời vừa là Chúa (nhưng xin chú ý là bản NIV chuyển cách lý giải này ra phần chú thích bên lề, (Ro 9:5 Tit 2:13 IIPhi 1:11).
3. LỜI DẠY VỀ NGÀY CỦA CHÚA (IITe 2:1-17)
Đoạn dạy dỗ chính của bức thư này rất khó hiểu vì hai lý do. Thứ nhất là, nó là câu giải đáp của Phao-lô cho các vấn đề đã nảy sinh trong Hội Thánh do những hiểu lầm về lời truyền dạy của ông, và lý do thứ hai là, lời lẽ mà ông dùng có vẻ khó hiểu đối với những người không biết những gì mà chính miêng ông đã nói với các độc giả (5).
(IITe 2:1-2) Vấn đề được tập trung vào sự tái lâm của Chúa Giê-xu, vốn đã là trọng tâm của I Tê-sa-lô-ni-ca. Phao-lô đã dạy rằng sự tái lâm đã gần kề, có thể nó xảy đến ngay trong thời của chính ông, và rằng nó có liên quan đến sự tập trung dân của Đức Chúa Trời từ khắp nơi trên thế gian lại, để từ đó trở đi họ sẽ được cùng ở với Ngài (ITe 4:17 Mac 13:27). Hiện nay có một số người bảo rằng ngày của Chúa gần đến. Đối với họ, “ngày” là một giai đoạn được kéo dài mà đỉnh điểm là sự tái lâm của Chúa, và có lẽ họ cho rằng sư bắt bớ và bách hại mà hiện tại họ đang chịu (IITe 1:4-5) là những giai đoạn cuối cùng của sự chống đối Nước Trời. Lời truyền dạy của họ gây hoang mang cho mọi người, gây nên sự phấn khởi cũng như sự phân vân, và chắc đã khiến cho người ta chểnh mảng trong nếp sống thường ngày. Để hậu thuẫn cho lời rêu rao của mình, họ bảo rằng chính Phao-lô đã dạy như thế, dù ông không biết chắc họ đã trích dẫn một lời tiên tri, một lời dạy trực tiếp, hay một bức thư. Nhóm từ tựa như chúng tôi đã gởi thường được hiểu với ý là đã có một bức thư mạo danh Phao-lô đang được chuyền tay cho nhau. Tuy nhiên, không thể đoan chắc rằng có người đã lấy danh Phao-lô để viết thư trong thời đó, và rất có thể nhóm từ đó ngụ ý vài câu nói nào đó của Phao lô đã bị người ta hiểu sai
(IITe 2:3-4) Câu trả lời của Phao-lô chủ yếu lặp lại những lời mà chính miệng ông dạy dỗ họ (5), rằng ngày của Chúa không thể đến trước khi một số biến cố khác xảy ra. Phần lớn những gì ông nói đều lặp lại sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu trong bài giảng đã được chép lại trong Mac 13:1-37, và cũng như Chúa Giê-xu, ông nghiêm khắc cảnh báo sự lầm lạc bởi tà giáo (13:5). Có lẽ người ta đã bị gạt về thời điểm Chúa hiện đến, hoặc họ nhận lầm một kẻ nào đó đã mạo danh Chúa (13:6,21-22). Phải có nhiều việc khác xảy đến trước, đặc biệt là sự bỏ đạo và có người tội ác, con của sự hư mất hiện ra. Hai việc này có lẽ chỉ là một điều mà người tội ác làm góp phần vào sự bỏ đạo. Trong văn học Do Thái từ bỏ đạo đặc biệt ám chỉ việc chống lại Đức Chúa Trời (1 Macc. 2:15) và tư tưởng cho rằng cái ác nổi loạn chống nghịch Đức Chúa Trời trên thế giới nói chung, vốn là một chủ đề quen thuộc. Một Hội Thánh bội đạo không phải là tư tưởng chính ở đây. Người tội ác là từ ngữ Hi Bá Lai có nghĩa “kẻ nghịch cùng luật pháp” (8) và một lần nữa gợi ý kẻ chống đối Đức Chúa Trời. Có lẽ Phao-lô đang nghĩ đến một người (có lẽ là “hiện thân” Sa-tan) và kẻ đó có thể chính là “antichrist” (IGi 2:18). Nói nó sẽ hiện ra gợi ý đến sự giả mạo xấu xa về sự đến hay sự mặc khải của Chúa. Đến điểm này thì Phao-lô quả quyết với các độc giả của ông rằng con người này đã bị định trước cho sự huỷ diệt trước khi ông mô tả những việc nó sẽ làm. Về cơ bản, nó sẽ chống lại tất cả các tôn giáo và chính Đức Chúa Trời, rồi tự đặt mình làm đối tượng của sự thờ phượng (Da 11:36 về ngôn từ, đây không nhất thiết là một lời tiên tri về cùng một nhân vật). Việc nó sẽ (hay cố tìm cách) ngồi trong đền Đức Chúa Trời được lý giải theo nhiều cách khác nhau. Có thể có nghĩa là nó sẽ ngồi trong đền thờ Do Thái giáo (đã bị phá huỷ năm 70 S.C.) hoặc trong đền thờ sẽ được xây dựng lại trong tương lai. Cũng có thể đền thờ là một ẩn dụ về Hội Thánh. Tuy nhiên, rất có thể hình ảnh này được rút ra từ Exe 28:2 và phản ảnh những câu chuyện về Antiochus và Pompey, hai nhân vật đã vào đền thờ Do Thái, và phải được hiểu theo nghĩa bóng là những yêu sách cực quyền của những kẻ nổi loạn.
(IITe 2:5-7) Theo lời dạy trước của Phao-lô, các độc giả lúc bấy giờ có thể nhớ lại tại sao kẻ phản loạn vẫn chưa xuất hiện. Nó sẽ hiện ra đúng kỳ của nó mà thôi, nhưng hiện nay vẫn còn một điều gì đó (trung tính trong c.5, nhưng lại là giống đực trong c.7) làm ngăn trở nó (hay có thể đang kiểm soát nó). Hiện nay, sự chống nghịch Đức Chúa Trời chắc chắn đang hoạt động nhưng vẫn còn âm thầm, và tình trạng này chỉ tồn tại cho đến khi nào cái trở lực kia bị cất đi. Lúc đó kẻ phản loạn sẽ hành động công khai – và Chúa sẽ đến để đánh bại nó. Nhưng cái trở lực đó là gì? Một số người hiểu nó ám chỉ vị hoàng đế La Mã (hoặc các lực lượng của luật pháp và trật tự mà ông ta là điển hình). Nhiều người khác nghĩ rằng nó ám chỉ Sa-tan hay một thế lực gian ác nào đó hiện đang cầm quyền, nhưng sẽ nhường bước khi kẻ phản loạn đến. Một cách lý giải khác cho rằng nó có nghĩa là chính Đức Chúa Trời, thông qua một tác nhân nào đó của thiên đàng, hoặc Phúc Âm hay Hội Thánh Cơ Đốc, đang hạn chế quyền năng của cái ác (văn học Do Thái có đề cập việc một hữu thể của thiên đàng cầm giữ Sa-tan và các thế lực gian ác cho đến ngày tận thế, Kh 7:1-3 20:1-3). Tuy không có giải pháp nào là không gặp khó khăn, nhưng giải pháp cuối cùng phát sinh ít vấn đề nhất. Đấng còn ngăn trở cần phải cất đi rõ ràng không có ý nói rằng Đức Chúa Trời sẽ bị đẩy khỏi hiện trường, nhưng Ngài cất đi điều đang ngăn trở thế lực gian ác cho đến cuộc thử thách cuối cùng.
(IITe 2:8) Khi Chúa hiện đến thì kẻ phản loạn sẽ bị tiêu diệt. Hình ảnh trong Cựu Ước được dùng để diễn tả quyền năng của Chúa (Es 11:4). Calvin gợi ý rằng hơi miệng Ngài đơn giản là Lời Ngài. Trong mọi trường hợp, một cuộc chiến theo nghĩa đen đều không được mô tả. Sự chói sáng (Hi văn epiphaneia) là một từ ngữ dùng chỉ sự giáng lâm đầy quyền năng của Đức Chúa Trời trong sự phán xét (IISa 7:23).
(IITe 2:9-12) Tuy nhiên luận điểm cuối cùng của Phao-lô đưa chúng ta trở lại với kẻ phản loạn và là một lời cảnh cáo quan trọng. Sự hiện đến (Hi văn parousia) của kẻ phản loạn sẽ là một sự giả mạo của Sa-tan với đủ thứ việc làm gây ấn tượng kèm theo (Kh 13:13) nó bắt chước quyền năng của Chúa Cứu Thế và những người theo Ngài (Ro 15:18-19) – nhưng tất cả đều là giả mạo và lừa dối. Những việc xảy ra đó sẽ đưa những kẻ đang ở trên con đường dẫn đến chỗ huỷ diệt tiếp tục lầm lạc, vì họ đã đóng chặt tâm trí họ đối với lẽ thật của Phúc Âm là điều duy nhất có thể cứu họ cho nên họ mở lòng mình ra để tiếp nhận điều vô nghĩa. Số phận đáng buồn của kẻ hư mất, cuối cùng, là do chính họ tự chọn. Điều Đức Chúa Trời làm là để họ lún sâu vào con đường gian ác của họ bằng cách khiến họ trơ trơ với chân lý mà họ đã chối bỏ và họ bị điều dối trá thuyết phục. Chung kết của mọi sự là sự phán xét, và một lần nữa, tác giả nhấn mạnh rằng điều ấy sẽ đến khi người ta chọn sự gian ác mà chối bỏ chân lý. Sẽ đến lúc những người đã chối bỏ Phúc Âm không còn cơ hội thoát khỏi con đường dẫn đến sự huỷ diệt để quay đầu trở lại nữa.
(IITe 2:13-14) Ở đây, có một lời cảnh cáo đối với các tín hữu Cơ Đốc: đừng khởi hành trên con đường dẫn tới thảm hoạ. Tuy nhiên, điều đó đã bị che lấp bởi một khẳng định hùng hồn về niềm tin quyết của Phao-lô rằng sự huỷ diệt sẽ không xảy đến cho các độc giả. Nhớ lại địa vị Cơ Đốc Nhân của mình, họ sẽ không còn nghi ngờ về sự cứu rỗi của chính họ. Phao-lô sắp xếp những nhận xét của ông trong một đoạn thuật lại lời cầu nguyện khác của ông (13-14). Ông nghĩ các độc giả của mình như những người yêu dấu của Chúa, tức Chúa Giê-xu, Đấng sẽ đến để phán xét những kẻ vô tín. Ngài đã cùng với Đức Chúa Cha chọn anh em đặng ban sự cứu rỗi cho. Vừa lúc ban đầu cho thấy hành động này đã thuộc về một quá khứ xa xôi (Eph 1:4) và gợi ý đến một kế hoạch đã được thiết lập từ rất lâu và sẽ không hề thay đổi cho đến bây giờ. Kế hoạch này được thực hiện bởi hành động của Đức Chúa Trời, mà ở đây gọi là sự nên thánh (nghĩa là Đức Chúa Trời biệt riêng các độc giả để làm dân sự Ngài và làm thay đổi đời sống họ bằng quyền năng của Thánh Linh Ngài) và đức tin nơi Phúc Âm của các độc giả (đối chiếu với c.12). Để hai tiến trình bổ sung cho nhau này có thể bắt đầu, Đức Chúa Trời đã kêu gọi các độc giả trong và qua sự truyền giảng Phúc Âm (ITe 1:4-5 Ga 1:6-7). Mục đích cuối cùng của sự kêu gọi là để các tín hữu được dự phần trong sự vinh hiển của Chúa Cứu Thế (Ro 8:17,30).
(IITe 2:15) Trên cơ sở của lập trường Cơ Đốc của họ, Phao-lô khuyến khích các độc giả của ông hãy đứng vững trong đức tin – không chỉ đương đầu với bắt bớ bách hại (ITe 3:8) mà còn với tà giáo. Họ phải nắm chắc những gì đã được Phao-lô dạy dỗ, cả trong lần ông đến thăm Tê-sa-lô-ni-ca và trong các bức thư của ông. Ở đây, có lẽ Phao-lô đã đưa ra một nét tương phản giữa cách giải thích đúng lời dạy của ông và những suy diễn sai lầm đã được rút ra từ đó (IITe 2:2). Những điều Phao-lô dạy theo nghĩa đen là “những truyền thống”, một từ ngữ nói lên sự thật rằng Phao-lô đang dạy theo những gì chính ông đã được dạy dỗ, tức đức tin phổ biến của các Cơ Đốc nhân đầu tiên (ICo 15:3).
(IITe 2:16-17) Tương lai của các Cơ Đốc nhân tại Tê-sa-lô-ni-ca không những lệ thuộc vào công việc của Đức Chúa Trời và sự đáp ứng của riêng họ, mà còn lệ thuộc vào lời cầu nguyện của bạn bè họ nữa. Phao-lô hỗ trợ cho lời khích lệ của ông bằng một bài cầu nguyện, được trình bày với hình thức ngôi thứ ba (ITe 3:11-13). Nó vô tình cho thấy rằng Chúa Giê-xu (được gọi tên trước) và Đức Chúa Cha đều là nguồn mạch chung của các phước hạnh thuộc linh. Nó nhắc nhở các độc giả rằng Đức Chúa Trời yêu mến họ nên đã ban cho họ sự yên ủi và niềm hy vọng về tương lai – bất chấp các biến cố đáng sợ đã được đề cập ở phần đầu của đoạn này. Nó cầu xin Đức Chúa Trời tiếp tục khích lệ trong lòng họ và khiến họ quyết tâm qua lời nói và việc làm của mình có thể chứng minh được sự thực hữu của đức tin trong họ.
Lời dạy của Phao-lô trong đoạn này nhằm cảnh báo các độc giả của ông rằng ngày tận thế không gần như họ tưởng, và khích lệ họ hãy đứng vững trước những biến cố đáng sợ ở phía trước. Sứ điệp của nó đối với các Cơ Đốc nhân ngày nay đó là họ không nên lo lắng nhận diện các “dấu hiệu báo trước ngày tận thế”, nhưng phải cảnh giác đối với các vấn đề đạo đức và thuộc linh nảy sinh trong các thời kỳ bắt bớ, bách hại và sự cám dỗ để rồi từ bỏ đức tin nơi Chúa và sự tái lâm của Ngài.
4. NHỮNG LỜI DẠY VỀ NẾP SINH HOẠT TRONG HỘI THÁNH (IITe 3:1-16)
Một loạt những lời chỉ dẫn tổng quát dành cho Hội Thánh trong sứ mạng truyền giáo và nếp sinh hoạt được đưa ra tiếp theo đây. Có hai chủ đề chính, là cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo của Phao-lô (1-5) và mối nguy hiểm của tình trạng ăn không ngồi rồi (6-16).
(IITe 3:1-5) Từ vả lại không nhất thiết là dấu hiệu báo trước rằng thư sẽ kết thúc ngay, nhưng là cột mốc để chuyển sang một chủ đề mới. Phao-lô nhắc lại lời yêu cầu của ông về sự cầu nguyện (ITe 5:25). Phải thúc đẩy sự cầu nguyện bởi vì công cuộc truyền bá Phúc Âm luôn cần phát triển một cách nhanh chóng và có kết quả như một vận động viên đang trên đường đua vậy. Hình ảnh này đã được ứng dụng cho lời phán của Đức Chúa Trời trong Thi 147:15. Lời Chúa được sáng danh khi người ta lấy đức tin và lời cảm tạ để tiếp nhận nó. Một vấn đề khác cần phải cầu nguyện, đó là cầu xin cho chính Phao-lô được giải thoát khỏi sự chống đối của những kẻ ngoan cố và độc ác (Ro 15:31) có lẽ ông đang nghĩ đến là sự chống đối của người Do Thái trước tiên (ITe 2:16). Một câu bình luận khá rõ ràng chẳng phải hết thảy đều có đức tin, cho thấy lý do tại sao Phúc Âm bị chống đối, mở đường cho câu nói của Phao-lô rằng chính các độc giả rất cần, và sẽ nhận được, sức lực để đối phó với các vấn đề riêng của họ. Đằng sau nhiều hình thức chống đối khác nhau đối với các độc giả, Phao-lô thấy có bộ mặt của Sa-tan là Ác gia. Với lời khẳng định về sự thành tín của Đức Chúa Trời, Phao-lô có thể bày tỏ sự tin tưởng của mình rằng các độc giả sẽ làm theo những điều ông răn dạy. Những việc chúng tôi dặn biểu có lẽ là những lời giáo huấn nói chung của Phao-lô, hoặc có thể là những lời yêu cầu cụ thể của ông, như yêu cầu họ cầu nguyện cho ông. Rồi tiếp theo lại là một lời cầu nguyện theo ngôi thứ ba, lời cầu nguyện cho các độc giả để họ thể hiện được tình yêu thương và sự vững vàng trong đời sống mình, giống như chính Chúa Cứu Thế thể hiện.
(IITe 3:6-10) Phân đoạn thứ hai chuyển sang một chủ đề đã phát sinh từ trước trong ITe 4:11-12 5:14. Nó cho thấy rõ rằng vấn đề về một số người nào đó trong Hội Thánh chuyên sống bám vào người khác vốn có từ thời Hội Thánh mới được thành lập (10). Rõ ràng có nhiều người đang sống trong cảnh nghèo túng và trông cậy vào sự bố thí của những người giàu có hơn. Có lẽ do họ tin rằng ngày của Chúa đã đến nên họ có thái độ như vậy. Lối sống đó đã khiến Hội Thánh bị mang tiếng xấu, vì vậy Phao-lô đã nặng lời lên án nó. Câu 6 bắt đầu bằng một mang lệnh rõ ràng (ITe 4:11) và được hậu thuẫn bởi uy quyền của Chúa, rằng các thành viên Hội Thánh phải xa lánh những kẻ có cách cư xử không xứng đáng. Những người đó vẫn được ở trong Hội Thánh, nhưng những thành viên khác nên giữ một khoảng cách nào đó với họ để họ nhận thức được rằng cách cư xử của mình không thể chấp nhập được hoặc không phù hợp với sự dạy dỗ của Phao lô về nếp sống trong Hội Thánh (4:1-2). Lời dạy ấy đã được minh hoạ cụ thể bằng lối sống của Phao-lô và các giáo sĩ đồng sự của ông, cách cư xử của những người đó được nêu ra đây như một tấm gương để noi theo. Các nhà truyền giáo đã không hề “ăn ở sai bậy” hay “vô công rỗi nghề” (tham khảo chú thích ở IITe 5:14), do đó, họ không cần những người trong Hội Thánh chu cấp đồ ăn cho họ (bản NIV dịch câu 8 là chưa hề ăn của ai mà không trả tiền, gợi ý rằng họ đã trả tiền cho những gì họ nhận. Có lẽ Phao-lô muốn nói rằng họ đã không đòi hỏi hay nhận không vật thực từ Hội Thánh mà đã đến các cửa hiệu để mua những gì họ cần). Dĩ nhiên điều này không có nghĩa là họ khắt khe khước từ lòng mến khách mà những người trong Hội Thánh dành cho họ. Đúng hơn, họ đã phải lao động khổ nhọc để tránh làm phiền đến người khác (ITe 2:9). Họ làm như vậy dù Phao-lô đã tin chắc và dạy rằng Hội Thánh phải có bổn phận tiếp trợ cho những giáo sư của họ (2:6 ICo 9:4-6,14 Ga 6:6). Do tình hình tại Tê-sa-lô-ni-ca, Phao-lô đã từ bỏ đặc quyền này. Do đo, có nhiều lý do khiến Phao-lô phải tự tay mình làm việc kiếm sống trong khi vẫn đang truyền giáo. Gương tốt của ông phù hợp với những lời dạy của ông (thì của động từ gợi ý việc “lặp đi lặp lại”). Tuy mạng lệnh này giống như một lời dạy rằng người giàu đừng nên bố thí cho những kẻ đói ngèo vì ăn không ngồi rồi, nhưng trước hết, nó là lời cảnh cáo đối với những kẻ ăn dưng. Cũng cần nói lại rằng mạng lệnh này áp dụng cho những kẻ lười biếng, không phải cho những người không có cơ hội làm việc, và vì vậy, nó không phải là một lý lẽ chống lại việc trợ cấp cho người thất nghiệp .
(IITe 3:11-12) Hình thức lạ kỳ của câu 11 chúng tôi nghe thật ra là cách nói thẳng với bất cứ người nào thuộc loại người ấy mà không cần nêu đích danh (có lẽ Phao-lô đã biết những người đó là ai). Bản NIV ghi rõ phép chơi chữ có chủ ý chẳng hề làm lụng… chăm vào việc của người khác. Thay vì chính mình phải làm việc, họ lại cản trở công việc của người khác. Một lần nữa trong uy quyền của Chúa, họ được răn bảo thật rõ rằng phải tránh làm phiền người khác (ITe 4:11) và phải làm việc siêng năng để có thể tự mình mua những gì cần dùng. Câu này đã được tóm tắt rất hay là “Hãy thôi làm ồn, hãy thôi ở dưng, hãy thôi ăn bám” (William Neil).
(IITe 3:13) Rồi với phép tương phản, Phao-lô ngỏ lời với những người còn lại trong Hội Thánh và, bất chấp nguy cơ họ đang bị những kẻ vô công rỗi nghề lợi dụng, ông bảo họ chớ nên chán mệt làm sự lành (Ga 6:9). Trong văn cảnh này, chắc nó có nghĩa là họ không nên từ bỏ việc chăm sóc cho những người nghèo khó, dù thỉnh thoảng có người vẫn lợi dụng họ.
(IITe 3:14-16) Nhưng, dù cho Phao-lô nhắc đi nhắc lại những lời dạy của mình trong bức thư này, có thể một số người vẫn tiếp tục lối sống chẳng phù hợp với Phúc Âm. Trong trường hợp đó, kỷ luật phải được sử dụng như một biện pháp cuối cùng. Kẻ vi phạm phải bị răn bảo, có phần mơ hồ, nhưng không đến nỗi phải xoá tên người ấy khỏi danh sách Hội Thánh (có lẽ việc này rất giống với việc trọng tài ghi tên một cầu thủ pham lỗi trong một trận đấu bóng đá). Không nên có mối liên hệ với một người như vậy. Căn cứ vào ICo 5:9-11 thì điều này có thể ngụ ý nhiều nhất đến việc không ngồi cùng bàn với những người như vậy, tức không cho những người đó dự phần trong sinh hoạt của Hội Thánh. Tuy nhiên, việc loại trừ như thế nhằm để sửa chữa, để người ta cảm thấy xấu hổ rồi ăn năn. Chú ý, trong cách sửa trị này không nên có thái độ khinh dể hay thù địch, người bị sửa trị vốn là những anh (chị) em nên mục đích phải là “khuyên răn” (thay vì “cảnh cáo”). Như vậy, cách sửa trị này phải được thực hiện trong tinh thần yêu thương, vì lợi ích của người vi phạm, nhưng đồng thời không làm tổn hại đến nếp sống đạo đức trong Hội Thánh.
Thật ấn tượng khi Phao-lô kết thúc một phân đoạn đề cập nguyên nhân đầu tiên gây nên sư căng thẳng trong Hội Thánh bằng một lời chúc phước hay một lời cầu nguyện xin Đức Chúa Trời ban phước cho các độc giả. Lời lẽ trong câu này nhắc chúng ta nhớ ITe 5:23 nhưng ở đây cũng như chỗ khác trong bức thư này, Phao-lô thay chữ “Đức Chúa Trời” bằng Chúa (nghĩa là Chúa Giê-xu). Sự bình an là mong ước rất thích hợp ở đây nó kể đến, nhưng không bị giới hạn, một tình trạng không có sự tranh cạnh và vô trật tự.
5. LỜI CHÀO THĂM KẾT THÚC (IITe 3:17-18)
Theo thói quen thông thường, Phao-lô cầm bút của người thư ký để tự viết lời chào thăm này. Những chữ này chính là lời chào thăm thật sự: “Chính tay tôi, là Phao-lô, viết lời chào thăm này”. Lời chào thăm do chính tay Phao-lô viết là một dấu hiệu đặc trưng cho biết bức thư này là của ông, do đó sự dạy dỗ và những lời chỉ dạy trong đó đều có uy quyền của ông (5:27 ICo 16:21-23 Ga 6:11 về những lời giải nghĩa tương tự). Không thể nào nó có ý phân biệt thư này với những bức thư giả mạo, vì ai giả mạo các bức thư của Phao-lô trong thời kỳ đầu tiên này?
(IITe 3:18) Lời chúc phước kết thúc giống y như trong ITe 5:28 với chữ hết thảy được thêm vào, tác giả có ý nói rằng cả những người nghe theo lời truyền dạy sai lầm và những kẻ ăn dưng đều không bị loại trừ khỏi ân điển của Chúa.