RÔ-MA
1. PHẦN MỞ ĐẦU THƯ (Ro 1:1-17)
Phần mở đầu thư này cũng có những yếu tố quen thuộc như ở phần mở đầu các bức thư khác của Phao-lô: một lời đạt, lời mở đầu, hay địa chỉ (Ro 1:1-7), một lời tạ ơn (1:8-15) và phần chuyển tiếp giữa phần mở đầu và phần chính của bức thư (1:16-17). Từ ngữ then chốt trong tất cả các phần này là từ “Phúc Am”, giới thiệu chủ đề của toàn bộ bức thư.
1. Lời mở đầu (Ro 1:1-7)
Các bức thư cổ thường bắt đầu bằng phần giới thiệu bản thân của người viết và người nhận, và Phao-lô cũng thường mở đầu các thư tín của mình theo cách này. Tuy nhiên, lời mở đầu thư Rô-ma nổi bật bởi độ dài và chi tiết thần học của nó. Không bằng lòng với việc giới thiệu sơ sài về chính mình, Phao-lô mô tả ông là ai về mặt ông được Đức Chúa Trời kêu gọi để trở thành một sứ đồ (c.1), Phúc Âm mà ông rao giảng (c.2-4) và chức vụ đặc biệt mà Đức Chúa Trời giao phó cho ông (c.5-6). Cuối cùng, ông mới hoàn tất lời mở đầu của mình bằng cách nêu danh tánh của người nhận thư (c.7). Phao-lô trình bày chi tiết như thế bởi lẽ ông cần phải thiết lập một “uỷ nhiệm thư” (thẩm quyền) của mình trước một Hội Thánh mà trước đó ông chưa bao giờ viếng thăm.
Uỷ nhiệm thư (thẩm quyền) này đặc biệt tập trung vào sự kêu gọi của Đức Chúa Trời dành cho ông. Phao-lô là một tôi tớ của Đức Chúa Giê-xu Christ lại là một tôi tớ đặc biệt vì ông đã được gọi làm sứ đồ, để riêng ra đặng giảng Tin Lành Đức Chúa Trời. Những lời này đề cập đến kinh nghiệm trên đường Đa-mách khi Chúa Cứu Thế phục sinh hiện ra cho Phao-lô, một kẻ bắt bớ các tín hữu Cơ Đốc, và gọi ông đảm nhận vai trò chính trong kế hoạch của Đức Chúa Trời nhằm đem Phúc Âm đến cho dân ngoại. Trong hầu hết Kinh Thánh Tân Ước, từ “sứ đồ” được dùng để chỉ về một người đã thấy Chúa Cứu Thế và đã được Ngài uỷ nhiệm một cách đặc biệt để thực hiện vai trò như một phần của “nền” Hội Thánh (Eph 2:20 Cong 1:12-26). Do đó, Phao-lô có được thẩm quyền của một sứ đồ không phải nhờ vào sự bổ nhiệm hay các khả năng của một con người nào mà là bởi sự kêu gọi và các ân tứ của Chúa phục sinh (Ga 1:1). Tương tự, điều này cũng đúng với sứ điệp Phao-lô rao giảng, là Phúc Âm (1:11-12). Phao-lô đã lấy từ ngữ này từ trong Cựu Ước, đôi khi từ này chỉ về “tin tức tốt lành” về chiến thắng sau cùng của Đức Chúa Trời trong lịch sử (Es 40:9 52:7 61:1 Gio 2:32). Phao-lô rất thích từ ngữ này, và thường sử dụng nó để chỉ các sự kiện có thật về sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu đã làm nên tin mừng, cả việc trình bày tin mừng ấy cho những người khác (“rao giảng”). Ở đây Phúc Âm bao gồm cả hai ý này.
Sau khi đã tự giới thiệu chính mình ở câu 1, trong câu 2-4 Phao-lô mô tả một cách ngắn gọn đặc điểm của Phúc Âm này. Thứ nhất, nó có nguồn gốc từ Cựu Ước: Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri Ngài mà hứa trong Kinh Thánh. Ở đây, Phao-lô đề cập đến một chủ đề mà sẽ trở thành trọng tâm của thư Rô-ma: tính liên tục giữa chương trình của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước và đỉnh điểm của chương trình ấy trong Tân Ước. Thứ hai, tại trung tâm điểm của Phúc Âm này là một người: Con Đức Chúa Trời (c.3), là Giê-xu Christ Chúa chúng ta (c.4). Trong một câu thông báo được cân đối một cách cẩn thận để có thể phản ánh về sự dạy dỗ tổng quát của các Cơ Đốc Nhân đầu tiên về Chúa Giê-xu, Phao-lô so sánh tình trạng thuộc về đất và tình trạng thuộc về trời của Ngài. Câu 3 cho thấy Chúa Giê-xu hiện hữu trên trần gian với tư cách là Đấng Mết-si-a đã được hứa là sẽ ra từ dòng vua Đa-vít (IISa 7:12-16 Es 11:1,10 Exe 34:23-24). Cụm từ theo xác thịt (tiếng Hi Lạp là kata sarka, nghĩa đen là “theo con người xác thịt”) nên hiểu là “theo quan điểm của con người”. Khi đó, những từ ngữ này tương phản với cụm từ theo tiếng Hy-lạp kata, có nghĩa là “theo”) Thần Linh của thánh đức trong câu 4. Sự tương phản giữa câu 3 và câu 4 không phải là tương phản giữa thần tính và nhân tính của Ngài mà là giữa tình trạng thuộc về đất của Ngài và tình trạng thuộc về trời của Ngài, Đấng phục sinh và được tôn cao. Do đó, điều xảy ra vào sự sống lại của Christ không đơn giản chỉ là một sự tuyên bố mạnh mẽ Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời (như bản NIV đề cập), mà còn là một sự bổ nhiệm cho Ngài một địa vị mới là “Con Đức Chúa Trời trong năng quyền”. Từ trước vô cùng đã tồn tại với tư cách là Con Đức Chúa Trời, qua sự sống lại từ kẻ chết, Chúa Giê-xu đã nhận quyền phép và sự vinh hiển mới, bây giờ quyền phép này được dùng vào việc “cứu mọi kẻ tin” (Ro 1:16 Phi 2:9-11 He 7:25).
Chính là qua Con Đức Chúa Trời quyền năng, là Đức Chúa Giê-xu Christ (c.4), và vì danh Ngài mà Phao-lô đã nhận được ơn tứ đặc biệt là làm sứ đồ (c.5). Như đã được nhấn mạnh nhiều lần trong Tân Ước, chức vụ sứ đồ của Phao-lô đặc biệt dành cho dân ngoại (Cong 9:15 22:21 26:17-18 Ga 1:16 2:1-11 Eph 3:1,6,8 ITe 2:16). Ở đây Phao-lô chỉ ra rằng mục đích cụ thể của ông là kêu gọi người ngoại quốc đến sự vâng phục của đức tin. Cách dịch này cho thấy rằng Phao-lô đang tập trung vào việc dạy khuyên Cơ Đốc Nhân cần phải sống một cuộc đời tin kính ngay sau khi đã trở lại đạo. Có lẽ chúng ta phải xem trọng từ “đức tin” như từ “vâng phục” và hiểu là Phao-lô đang trình bày mục đích toàn diện của mình nhằm kêu gọi dân ngoại trước hết hãy chấp nhận Phúc Âm và tiếp tục vâng phục những yêu cầu của Phúc Âm (tiếng Hi Lạp đơn giản là hypakoçn pisteơs, có nghĩa là “sự vâng phục của đức tin”). Tin và vâng phục là hai hành động khác nhau, nhưng với Phao-lô, chúng luôn là hai mặt không tách rời nhau: người ta không thể thực sự vâng phục Đức Chúa Trời mà trước nhất không quì trước mặt Đức Chúa Giê-xu bằng đức tin và người ta không thể thực sự tin Chúa Giê-xu mà lại không vâng theo tất cả những gì Ngài truyền dạy (Mat 28:20).
Vì sứ mạng đặc biệt của Phao-lô là đi đến với dân ngoại, nên Hội Thánh Rô-ma, một Hội Thánh lúc bấy giờ đa số là người ngoại quốc (xem phần Giới thiệu), nằm trong phạm vi thẩm quyền sứ đồ của Phao-lô (c.6). Vì lý do đó mà Phao-lô giới thiệu chính mình với các tín hữu Cơ Đốc tại Rô-ma, những người (được) yêu dấu của Đức Chúa Trời và được gọi làm thánh đồ (c.7). Lời lẽ này, vốn được trích từ những thuật ngữ của Kinh Thánh Cựu Ước để mô tả dân Y-sơ-ra-ên, nhắc độc giả nhớ rằng họ là dân sự của Đức Chúa Trời. Phao-lô kết thúc bằng lời chào thăm truyền thống của mình, áp dụng công thức chào thăm phổ biến của người Hi Lạp nhưng với nội dung thần học mới mẻ: Nguyền cho anh em được ân điển và sự bình an từ nơi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta và từ nơi Đức Chúa Giê-xu Christ.
2. Sự tạ ơn và dịp tiện (Ro 1:8-15)
Trong đoạn này, Phao-lô bày tỏ một cách ngắn gọn sự cảm tạ của mình vì tiếng tốt về đức tin các tín hữu Cơ Đốc người Rô-ma lan truyền khắp nơi (c.8), và sau đó nói về lòng mong mỏi được đến thăm và giảng dạy cho Hội Thánh tại Rô-ma (c.9-15). Sự mạnh mẽ trong lời quả quyết của Phao-lô về ước ao đến thăm Hội Thánh của ông cho thấy rằng có lẽ một số tín hữu Cơ Đốc người Rô-ma cảm thấy dường như đã coi nhẹ việc vị “sứ đồ vĩ đại của dân ngoại” hẳn sẽ chưa đến thăm thủ đô của thế giới ngoại giáo này. Phao-lô bảo đảm với họ rằng việc ông chưa đến thăm không phải là do ông không ao ước được đến mà là do ông chưa có cơ hội: ông bị ngăn trơ không đến thăm họ được (c.13), sự ngăn trở đó có thể là những trách nhiệm của ông đối với các Hội Thánh ở phía Đông Địa Trung Hải (đối chiếu Ro 15:19-23). Phao-lô cũng bày tỏ mục đích của mình là muốn đến thăm Hội Thánh Rô-ma. Thứ nhất, ông muốn thông đồng (chia sẻ) sự ban cho thiêng liêng (c.11) với họ. Cách dịch này cho thấy hi vọng của Phao-lô chính là muốn mang đến cho các tín hữu tại Rô-ma một ân tứ thuộc linh đặc biệt (charisma). Tuy nhiên, có lẽ chúng ta nên dịch những lời này của ông là “chia sẻ với anh em một ân tứ thuộc linh cụ thể nào đó.” Điều này liên quan đến một ân tứ của chính Phao-lô mà ông dự định sẽ dùng để làm vững mạnh Hội Thánh. Thứ hai, Phao-lô bày tỏ sự mong muốn được hái trái trong anh em (c.13), là trái mà ông rõ ràng có ý định thu hoạch bằng “việc rao giảng Phúc Âm” giữa vòng họ (c.15). Có lẽ chúng ta phải diễn giải mục đích thứ nhất là tổng quát hơn, nhờ vào mục đích thứ hai là mục đích cụ thể hơn và kết luận Phao-lô muốn đến Rô-ma, dùng ân tứ truyền giảng của mình để giúp hội thánh có nhiều người quy đạo và nhờ đó làm vững mạnh Hội Thánh. Một ước muốn như thế hoàn toàn mang ý nghĩa bao quát cho việc Phao-lô mắc nợ cả người Gờ-réc lẫn người không phải người Gờ-réc, người thông thái lẫn người ngu dốt (c.14). Ứơc mong được phục vụ tại Rô-ma của Phao-lô không xuất phát từ ao ước vị kỷ, mà từ sự nhận thức Đức Chúa Trời đã gọi ông và trang bị ông cho một mục đích (ICo 9:16b “không rao truyền Tin Lành thì khốn khó cho tôi thay!”).
3. Chủ đề của bức thư (Ro 1:16-17)
Lòng nôn nả được giảng Phúc Âm tại Rô-ma của Phao-lô (c.15) trực tiếp đưa đến việc ông mô tả Phúc Âm này trong câu 16-17. Những câu này diễn đạt chủ đề chính của thư Rô-ma và tạo ra một sự chuyển tiếp giữa phần mở đầu (Ro 1:1-15) và phần nội dung của bức thư (1:18-15:13). Từ ngữ then chốt trong câu chủ đề này cũng là chủ đề chính xuyên suốt bức thư, chính là Phúc Âm (xem nghĩa của từ này ở câu 1). Khi nói rằng mình không hổ thẹn về Tin Lành, có lẽ đơn giản Phao-lô muốn nói rằng ông “rất tự hào” về điều này. Nhưng thực tế về những tin đồn sai trật về Phao-lô mà các tín hữu tại Rô-ma đã nghe được (3:8) có thể cho thấy rằng ông thật sự đã tự bảo vệ cho mình trước những lời cáo buộc cho rằng ông đáng phải “hổ thẹn” về những gì mình rao giảng. Dù là trường hợp nào đi nữa, chúng ta phải chú ý đến sự tự hào mãnh liệt và đầy thách thức của Phao-lô về điều mà người Giu-đa lấy làm “gương xấu” còn dân ngoại cho là “sự rồ dại (ICo 1:23).
Vì sao lại có sự tự hào này đối với Phúc Âm? Bởi vì Phao-lô biết, và nhận biết bằng kinh nghiệm rằng Phúc Âm là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin. “Sự cứu rỗi” là một từ ngữ chỉ về sự giải cứu khỏi những điều ác, và trong Kinh Thánh Cựu Ước, từ này được dùng để mô tả sự giải thoát tối hậu của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài. Đặc biệt Es 52:7 có sử dụng hai từ ngữ trong phần này của thư Rô-ma: “Những kẻ đem tin tốt, rao sự bình an, đem tin tốt về phước lành, rao sự cứu chuộc, bảo Si-ôn rằng: Đức Chúa Trời ngươi trị vì, chơn của những kẻ ấy trên các núi xinh đẹp là dường nào!” Trong câu 16, cũng chính là quan niệm của Phao-lô, sự cứu rỗi đề cập đến hành động của Đức Chúa Trời trong việc cứu tội nhân khỏi hình phạt của tội lỗi. Việc Phao-lô khẳng định rằng sự cứu rỗi này dành cho mọi kẻ tin làm phát ra một âm điệu vang vọng xuyên suốt bức thư Rô-ma này. Phần thêm vào trước là (cho) người Giu-đa, sau là (cho) người Gờ-réc cũng có đặt trưng tương tự. Quyền năng sẵn có của Phúc Âm dành cho mọi người không loại trừ quyền ưu tiên của người Do Thái. Với tư cách là những người tiếp nhận lời phán dạy và giao ước của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước, dân tộc Do Thái vẫn được xem là đối tượng đầu tiên được kêu gọi để lắng nghe Phúc Âm của Đức Chúa Trời, nói về sự hoàn tất chương trình và những lời hứa trong Cựu Ước của Ngài (Ro 3:1-2 11:1-2,29).
Phúc Âm chính là nguồn của quyền năng giải cứu của Đức Chúa Trời bởi vì trong Phúc Âm sự công bình của Đức Chúa Trời được bày tỏ. Chúng ta phải tìm hiểu nhiều hơn nữa để làm rõ cụm từ “sự công bình của Đức Chúa Trời” vì Phao-lô đang đề cập đến một khái niệm cụ thể, một lần nữa bắt nguồn từ những lời hứa trong Cựu Ước. “Ngày cuối cùng”, khi Đức Chúa Trời can thiệp để cứu dân Ngài, đã được các tiên tri như Ê-sai định nghĩa là một thời điểm mà Ngài bày tỏ “sự công bình” của mình (Es 46:13 51:5-6,8). “Sự công bình này của Đức Chúa Trời” là một chủ đề chính xuyên suốt thư Rô-ma( đối chiếu Ro 3:5,21-22,25-26 10:3 ngoài thư Rô-ma, Phao-lô chỉ sử dụng cụm từ này trong IICo 5:21). Một vài học giả đã lấy sự công bình này để nói về đặc ân về “địa vị công chính” mà Đức Chúa Trời ban cho những kẻ tin, và một số khác xem đó là hoạt động mà qua đó Đức Chúa Trời cứu dân Ngài. Nhưng không cần thiết phải chọn lựa một trong các cách nghĩ khác nhau này. Theo quan niệm của Cựu Ước lẫn của Phao-lô, “sự công bình của Đức Chúa Trời” là một khái niệm rộng, bao gồm cả hành động ban cho (về phần Đức Chúa Trời) và tình trạng của người nhận, đặc ân này (về phần chúng ta). Do đó, sự công bình của Đức Chúa Trời được bày tỏ khi Phúc Âm được rao giảng và còn đáp ứng lại sứ điệp ấy bằng đức tin. Trong chính thời điểm ấy, Đức Chúa Trời hành động để đem tội nhân vào một mối quan hệ mới với chính Ngài. Cũng cần lưu ý rằng cụm từ này đề cập đến một mối quan hệ mới, chứ không phải một năng lực đạo đức mới. Phao-lô (và Kinh Thánh Cựu Ước) lấy loại ngôn ngữ dùng trong lãnh vực toà án vàmô tả một hành động mà bởi đó vị quan án tuyên bố một người là “vô tội”.
Một trong những đặc trưng tiêu biểu của Phao-lô trong phần luận về sự công bình của Đức Chúa Trời là sự khẳng định mối liên hệ của sự công bình với đức tin. Mối liên hệ này được nhấn mạnh ở phần cuối của câu 17. Bởi đức tin từ đầu đến cuối là một sự diễn giải tương đương của cụm từ ek pisteos eis pistin, có nghĩa là “bởi đức tin lại dẫn đến đức tin”. Cụm từ này nhấn mạnh rằng người ta kinh nghiệm sự công bình của Đức Chúa Trời qua đức tin và chỉ bởi đức tin. Ha 2:4 làm vững chắc thêm mối liên kết giữa “sự công bình” và “đức tin”. Thật vậy, có thể rằng Phao-lô muốn các thuật ngữ này có một mối liên kết thậm chí chặt chẽ hơn là theo cách dịch của bản NIV đã trình bày, vì chúng ta cũng có thể dịch cụm từ này là “người được xưng công bình bởi đức tin sẽ sống”(xem bản AV và RSV). Trong văn cảnh của thư Rô-ma, từ “sẽ sống” đề cập đến sự sống thuộc linh vĩnh cữu.
Chú thích. Câu 17 Trong 2:4, Đức Chúa Trời nhắc nhở nhà tiên tri rằng người thuộc về dân sự giao ước của Đức Chúa Trời (“công bình”) sẽ kinh nghiệm phước hạnh của Đức Chúa Trời và chỉ hiểu được đường lối Ngài qua lòng trung thành với Đức Chúa Trời và với giao ước Ngài. Trong cách Phao-lô dùng câu này (Ga 3:11), căn cứ vào sự đến của Đấng Christ thì mỗi từ ngữ then chốt “công bình”, “sống”, “đức tin” đều mang một ý nghĩa sâu sắc, nhưng ý nghĩa tổng quát của từ gốc vẫn được duy trì. Cả Ha-ba-cúc và Phao-lô đều khẳng định sự sống trước mặt Đức Chúa Trời đòi hỏi một sự cam kết hết lòng của mỗi cá nhân.
2. PHÚC ÂM VÀ SỰ CÔNG BÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI BỞI ĐỨC TIN (Ro 1:18-4:25)
Ha 2:4 được trích trong câu 17 giới thiệu chủ đề của phần quan trọng đầu tiên trong phần chính của thư Rô-ma: sự mặc khải về sự công bình cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Giê-xu Christ đã được phán hứa từ lâu, và đức tin là phương tiện duy nhất để con người có thể kinh nghiệm được sự công bình ấy. Đặc biệt, chính chủ đề này là điều chủ yếu trong lý luận của Phao-lô trong Ro 1:18-4:25. (Có thể lưu ý rằng “sự công bình” và những từ liên quan như “được xưng công bình” và “công bình” xuất hiện hai mươi bốn lần trong phần này những từ ngữ “đức tin” và “tin” xuất hiện hai mươi bảy lần). Hoạt động của Đức Chúa Trời trong việc xưng nhận sự công bình, dựa vào thập tự giá của Đấng Christ và được bày tỏ qua việc rao giảng Phúc Âm, là hoàn toàn miễn phí – một vấn đề của ân điển (3:24 4:4-5,16) và vì vậy chỉ có thể kinh nghiệm được bằng đức tin. Vì đức tin không phải là “việc làm”, mà là một hành động nhận lãnh và vâng phục với lòng biết ơn (4:4-8). Ân điển của Đức Chúa Trời với tư cách là phương tiện để bày tỏ và đức tin của con người với tư cách là phương tiện để tiếp nhận đã đưa đến một chân lý khác mà Phao-lô muốn nhấn mạnh qua phần này: sự công bình của Đức Chúa Trời là dành cho mọi kẻ tin, dù đó là người ngoại quốc hay người Do Thái. Phao-lô xác định, cả hai đều như nhau là “dưới quyền tội lỗi” (3:9), cả hai đều chỉ có thể được xưng công bình nhờ đức tin (3:28-30). Phao-lô phát triển lời xác quyết đầu tiên trong 1:18-3:20 và lời xác quyết thứ hai trong 3:21-4:25.
Phao-lô chuẩn bị cho phần trình bày của mình về “sự công bình của Đức Chúa Trời bởi đức tin” (3:21-4:25) bằng cách trước hết chứng minh chiều sâu và chiều rộng của “vấn đề tội lỗi”(1:18-3:20). Ông tìm cách trả lời hai câu hỏi cụ thể. Tại sao Đức Chúa Trời phải bày tỏ sự công bình cứu rỗi của Ngài qua Chứa Cứu Thế? Và tại sao con người chỉ có thể kinh nghiệm được điều này bằng đức tin? Câu trả lời cho cả hai câu hỏi được tìm thấy trong luận điểm của Phao-lô rằng “tất cả đều ở dưới quyền của tội lỗi” (3:9) là những tù nhân vô vọng đối với luật huỷ diệt của tội lỗi. Khi Phao-lô phát triển lập luận để đưa đến kết luận này, rõ ràng mục đích cụ thể của ông là chứng tỏ rằng người Do Thái cũng chẳng khác gì người ngoại, đều ở dưới luật của tội lỗi và cần đến Phúc Âm về sự công bình của Đức Chúa Trời. Vì thế, sau khi phơi bày tội lỗi và nhu cầu của người ngoại quốc trong 1:18-32, Phao-lô dành một khoảng thời gian đáng kể để chứng tỏ rằng tình trạng của người Do Thái cũng không khá hơn gì (2:1-3:8).
3:21-26 là phân đoạn chính của phần này. Đây là phân đoạn mà Luther đã nói là “điểm chính yếu và chiếm vị trí trung tâm của bức thư và của toàn bộ Kinh Thánh (ở phần lề của The Luther Bible, về 3:23-26). Phần còn lại (3:27-4:25) trình bày thêm về một yếu tố quan trọng của phân đoạn này: đức tin là phương tiện duy nhất của sự xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời. Phao-lô phát triển những điểm căn bản của mình về đức tin trong các câu 27-31 và sau đó lần lượt nói rõ thêm về những điều này trong chương 4 với phần nói về Áp-ra-ham.
1. Cơn giận của Đức Chúa Trời đối với dân ngoại (Ro 1:18-32)
Câu 18-19 có vai trò là “tiêu đề” cho toàn bộ 1:18-3:20 cơn giận của Đức Chúa Trời giáng trên tất cả những con người không vâng theo lẽ thật vì Đức Chúa Trời đã bày tỏ điều đó cho họ. Một số nhà thần học nhận thấy đã gặp khó khăn khi phải dung hoà ý tưởng về sự thạnh nộ với một Đức Chúa Trời của Kinh Thánh. Nhưng thực sự là Kinh Thánh luôn mô tả Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời luôn hành động để phán xét tội lỗi. Cựu Ước đề cập nhiều trường hợp cơn giận của Đức Chúa Trời giáng trên con người vì tội lỗi họ (Xu 15:7 32:10-12 Dan 11:1), và Tân Ước tiên báo về một thời kỳ khi sự biểu hiện cuối cùng của cơn giận Đức Chúa Trời sẽ giáng trên loài người bội nghịch (Ro 2:5 5:9 Eph 5:6 Co 3:6 ITe 1:10 5:9). Dĩ nhiên, cơn giận của Đức Chúa Trời không phải là cơn giận theo cảm xúc mà là một sự chống đối kiên định và triệt để đối với tất cả những điều ác. Điều cần thiết đối với đặc tính của Đức Chúa Trời: “Chừng nào Đức Chúa Trời còn là Đức Chúa Trời, thì Ngài không thể dửng dưng nhìn loài thọ tạo của Ngài bị huỷ diệt và ý chỉ thánh của Ngài bị chà đạp dưới chân. Vì thế Ngài xử lý tội lỗi bằng những phản ứng mạnh mẽ và tiêu diệt (A. Nygren, Commentary on Romans, Fortress 1949).
Đầu tiên, Phao-lô chứng tỏ cơn giận của Đức Chúa Trời giáng trên dân ngoại xứng đáng ra sao (c.20-32). Toàn bộ đoạn này có nhiều phần giống với các văn bản của người Do Thái, trong đó dân ngoại bị lên án về tội lỗi họ (đặc biệt xem Sách khôn ngoan của Sa-lô-môn đoạn 13-15). Rõ ràng cũng có hàm ý chỉ về câu cuyện sáng thế và sự sa ngã của A-đam và Ê-va tại vườn Ê-đen (đối chiếu c.23 với Sa 1:20,24). Một số học giả cho rằng ở phần này Phao-lô đang mô tả sự sa ngã từ ban đầu của loài người (c.20-23) và những hậu quả kéo theo trong lịch sử loài người (c.24-32). Nhưng rất có thể không phải thế, bởi vì Phao-lô nói rõ rằng những người đã xây lưng lại với Đức Chúa Trời cũng chính là những người đã phạm những tội lỗi mà ông mô tả trong những câu này. Do đó, chúng ta phải quan niệm phần này giống như một bức tranh của Phao-lô, nó mô tả mỗi người là một “A-đam của riêng mình”, lặp lại tội lỗi căn bản tương tự mà tổ phụ nguyên thuỷ của chúng ta đã phạm. Các câu 20-23 mô tả quyết định căn bản mà dân ngoại đã đưa ra và các câu 24-32 mô tả phản ứng của Đức Chúa Trời trước quyết định ấy.
Mặc dù các dân ngoại không nhận được “sự mặc khải đặc biệt” như người Do Thái đã nhận được qua lời Kinh Thánh, họ vẫn được ban cho sự hiểu biết chân lý về Đức Chúa Trời qua công cuộc sáng tạo xung quanh họ. Những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì... vẫn sờ sờ như mắt xem thấy (c.20). Phao-lô cho biết rõ rằng dân ngoại quốc trong thời của ông, và những người trong thời đại chúng ta chưa bao giờ được nghe Phúc Âm hay đọc Kinh Thánh, thực sự cũng đã “thấy” một điều gì đó thuộc về Đức Chúa Trời và biết Ngài là ai. Nhưng một số người đã nhận chân lý lại không có sự đáp ứng thích hợp với chân lý ấy: thay vì tôn vinh Đức Chúa Trời hay cảm tạ Ngài, họ lại quay lưng lại với chân lý để đi theo thần tượng (c.21-23).
Đây là một trong những phân đoạn quan trọng nhất trong Kinh Thánh nói về khái niệm “mặc khải qua thiên nhiên,” theo đó ngoài việc Đức Chúa Trời mặc khải chính Ngài qua Chúa Cứu Thế và qua Kinh Thánh, Ngài còn mặc khải chính mình cho mọi người qua thiên nhiên và qua lịch sử. Như Phao-lô sẽ ngụ ý sau này (Ro 1:32 2:14-16), tất cả mọi người đều có khả năng nhận được sự bày tỏ như thế vì họ vẫn tiếp tục mang hình ảnh của Đức Chúa Trời. Đoạn trích không chỉ khẳng định khái niệm này, mà quan trọng nhất còn dạy về kết quả tối hậu của sự bày tỏ thiên nhiên không có bất kỳ phương tiện ân điển nào khác đi kèm, đó là sự khước từ của Đức Chúa Trời. Phao-lô trình bày rõ ở đây rằng không ai có thể được cứu nếu chỉ dựa trên cơ sở của chân lý được bày tỏ qua trong thiên nhiên. Vì thế, Phao-lô kết luận, vì tất cả mọi người đã được tiếp cận với sự hiểu biết chân thật về Đức Chúa Trời, nên họ không thể chữa mình được (20) khi họ quay lưng lại với điều đó (c.20).
Đoạn Kinh Thánh này cung cấp một trong những cơ sở thần học quan trọng nhất cho công tác truyền giáo: tình trạng hư mất của tất cả những người chưa từng dành cơ hội đáp ứng với Phúc Âm thuộc ân điển của Đức Chúa Trời. Vì đoạn này cho thấy rõ rằng người ta sẽ không nhận được sự cứu rỗi nếu khước từ Phúc Âm của Chúa Cứu Thế. Vì vậy, những người chưa từng nghe Phúc Âm ấy bị ràng buộc trong tội lỗi họ và không có hy vọng. Quả thật, Đức Chúa Trời là Đấng tể trị trong việc bày tỏ ân điển Ngài cũng như trong việc áp dụng ân điển ấy, và bất cứ lúc nào Ngài cũng có thể tỏ cho một người sự hiểu biết về Phúc Âm theo những cách khá bất ngờ và thậm chí không thể nhận thức được. Nhưng Kinh Thánh nói rõ rằng Đức Chúa Trời đã chọn giới thiệu Phúc Âm về Chúa Cứu Thế Giê-xu qua sự làm chứng của dân Ngài (Mat 28:16-20 Ro 10:14-15). Đây là một trong những lý do chính cho biết vì sao Phao-lô và các nhà truyền giáo và Cơ Đốc đầu tiên nhiệt thành như thế trong việc rao truyền Phúc Âm.
Việc con người khước từ Đức Chúa Trời đã đưa đến những hình phạt của Đức Chúa Trời đối với con người. Ba lần trong đoạn này Phao-lô nói với chúng ta rằng dân ngoại đã làm một cuộc “trao đổi”: quay lưng với chân lý của Đức Chúa Trời và những yêu cầu đạo đức của Ngài để thờ lạy các vị thần và theo những con đường tội lỗi của chính mình (c.23,25,27). Cũng ba lần Phao-lô đã chỉ ra phản ứng của Đức Chúa Trời đối với sự “trao đổi”này với câu Đức Chúa Trời đã phó họ (c.24,26,28). Đối diện với tội lỗi và sự phản loạn của con người, Đức Chúa Trời phó con người cho tội lỗi mà họ đã chọn và những hậu quả của nó. Ngôn ngữ mà Phao-lô sử dụng (tiếng Hi Lạp là paradidomi, có nghĩa là “chuyển giao”) đề cập nói đến việc về phần mình, Đức Chúa Trời đã làm một việc còn hơn cả việc khước từ một cách tiêu cực ân điển của Đức Chúa Trời. Rõ ràng, Phao-lô nghĩ về một hành động xử án mà trong đó Đức Chúa Trời làm cho con người dấn sâu vào trong những quyết định của họ và phó họ cho các hậu quả của những quyết định đó. Nổi bật trong các tội lỗi mà Đức Chúa Trời đã phó con người vào là tội thờ hình tượng (c.25, đối chiếu câu 23) và các tội về tình dục, đặc biệt là tội đồng tính luyến ái (c.24,26-27). Ở đây Phao-lô đồng ý với truyền thống của người Do Thái và của Cựu Ước khi xem việc thực hành đồng tính luyến ái là một ví dụ rất rõ ràng về việc dân ngoại khước từ Đức Chúa Trời. Được dùng để ám chỉ việc thực hành đồng tính luyến ái trong câu 26, nghịch với tánh tự nhiên, trong ngữ cảnh này chỉ về một hành động đi ngược lại với quy luật tự nhiên mà Đức Chúa Trời đặt cho mọi người.
Câu 29-31 cho thấy thể nào việc con người không cho Đức Chúa Trời quyền mà Ngài đáng phải có đã gây ra cho nhân loại đủ loại tội ác mang tính huỷ diệt, từ tội ngồi lê đôi mách đến tội giết người. Có thể Phao-lô ám chỉ một hệ quả trong các tội này, và thờ thần tượng là tội căn bản đặt một vật hay sự việc vào vị trí của Đức Chúa Trời đã dẫn đến tất cả các tội khác. Câu 32 gợi ý rằng sự hiểu biết của con người về những điều thuộc về Đức Chúa Trời không hoàn toàn mất đi do sự “sa” vào tội lỗi của họ. Mặc dù tâm trí con người có thể không còn làm đúng chức năng như nó phải làm (c.28), con người vẫn còn có thể hiểu rằng những điều họ làm xứng đáng với hình phạt phải hư mất mà Đức Chúa Trời đặt ra. Thế nhưng họ không những chỉ làm những điều đó, mà còn ưng thuận cho kẻ khác phạm những điều ấy nữa. Theo một ý nghĩa tuyệt đối, điều Phao-lô muốn nói ở đây không phải là việc chấp nhận tội mà người khác phạm thì xấu hơn việc chính mình phạm tội, mà là việc khuyến khích người khác phạm tội bày tỏ mức độ rõ ràng của việc con người đã trở thành những kẻ phản nghịch, chống lại luật công bình của Đức Chúa Trời.
2. Cơn giận của Đức Chúa Trời trên người Do Thái (Ro 2:1-3:8)
(Ro 2:1-29) Trong 1:18-32 Phao-lô đã dùng ngôi thứ ba khi mô tả tội lỗi và sự phán xét dân ngoại: “họ” xây bỏ Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời “phó” họ. Tuy nhiên, xuyên suốt hầu hết chương 2, Phao-lô lại sử dụng ngôi thứ hai số ít, như trong câu 1: Vậy… ngươi... không thể chữa mình được. Sự thay đổi về đại từ chỉ ngôi này không mang ý nghĩa là Phao-lô đang trực tiếp nói với độc giả sống tại Rô-ma. Phao-lô đang sử dụng một dụng pháp văn chương phổ biến trong thế giới cổ đại, qua đó tác giả nói với một kẻ chống đối hay tranh luận mà mình hình dung ra như là một phương tiện sinh động để chuyển tải những quan điểm của họ cho độc giả. Thể loại này được đặt tên là bài công kích kịch liệt. Ai là người “chống đối” hay đối tượng tranh luận của Phao-lô trong những câu này? Câu 17 làm sáng tỏ rằng ít nhất trong câu 17-29, Phao-lô đang nói với một người Do Thái. Nhiều học giả (như Barrett) cho rằng trong câu 1-16 Phao-lô đang nói một cách tổng quát hơn với những người nào tự xưng là người “đạo đức”. Nhưng cũng rất có thể là ngay cả ở phần này “mục tiêu” thật của Phao-lô vẫn là người Do Thái. Ban đầu ông bỏ qua phần trình bày cụ thể về nhân dạng để ông có thể thu hút của người Do Thái sự chú ý vào phần lập luận của mình trước khi sức thuyết phục trong lời buộc tội của ông trở nên rõ ràng. Có thể phương pháp mà Phao-lô dùng ở đây phản ánh cách giảng đạo của ông. Chúng ta có thể hình dung được cảnh những người Do Thái trong số thính giả của Phao-lô bày tỏ sự đồng tình của họ với bản cáo trạng mà Phao-lô nói về các tội nhân ngoại quốc được trình bày ở chương 1, để rồi nhận ra rằng họ cũng tự lên án chính mình vì đã làm những việc tương tự (c.3).
Từ 2:1-3:8, Phao-lô tập trung vào người Do Thái. Ông chứng minh rằng về sự đoán phạt thì trước mặt Đức Chúa Trời tình trạng của họ không khác gì so với tình trạng của người ngoại quốc (2:1-16), mặc dù thực tế là được sở hữu những đặc ân chính từ Đức Chúa trời như luật pháp và phép cắt bì (2:17-29). Trong 3:1-8, Phao-lô tách khỏi hướng lý luận chính này để giải quyết một vài vấn đề nảy sinh từ những điều ông đã nói trong chương 2.
(Ro 2:1-16) Sự đoán phạt không thiên vị của Đức Chúa Trời Mục đích của Phao-lô trong phần này là xếp người Do Thái vào chung hạng với người ngoại phạm tội trong chương 1. Ông tiến hành theo ba giai đoạn. Những câu từ 1-5 chứa đựng trọng tâm bản cáo trạng của Phao-lô: người Do Thái (là đối tượng mà Phao-lô dùng từ “ngươi” để ám chỉ ) làm “những điều tương tự” như người ngoại quốc và vì vậy phải chịu xử đoán tương tự. Phao-lô tiếp tục vấn đề này bằng hai phân đoạn, trong đó ông tách khỏi hình thức “cáo trạng” để giải thích và nói thêm chi tiết về lời buộc tội mà ông đã trình bày trong câu 1-5. Phao-lô bảo vệ bản cáo trạng của mình về người Do Thái bằng cách chứng tỏ rằng tính không thiên vị của Đức Chúa Trời, như Kinh Thánh Cựu Ước và Do Thái giáo đã dạy, buộc Ngài không có sự ưu ái nhưng phải đối xử với mọi người, dù là người ngoại quốc hay người Do Thái, theo cùng một cách (6-11). Việc dân tộc Do Thái sở hữu được luật pháp Môi-se cũng không thể làm cho tình trạng của người Do Thái có khác biệt gì đáng kể so với tình trạng của dân ngoại quốc vì trước mặt Đức Chúa Trời, điều quan trọng không phải là có luật pháp mà là làm theo luật pháp ấy, và dù sao đi nữa, theo một nghĩa nào đó thì người ngoại quốc cũng có luật pháp của Đức Chúa Trời (c.12-16).
Mới đọc qua, thật khó có thể hiểu được chữ vậy trong câu 1. Làm thế nào sự kết án của Phao-lô đối với người ngoại (1:18-32) có thể dẫn đến kết luận rằng người Do Thái cũng phải chịu kết án? Một số người gợi ý rằng chữ “vậy”này là một từ chuyển tiếp đơn giản, không có hiệu quả lô-gic, nhưng những người khác (như Cranfield) thì cho rằng 1:18-32 thực sự không nói về người ngoại mà là về tất cả mọi người. Có lẽ phần bổ sung của gợi ý thứ hai này là khả quan hơn cả. Trong khi lời lẽ của Phao-lô trong câu 20-32 cho thấy ông chỉ đang nghĩ đến người ngoại quốc, thì câu 18-19 bao gồm tất cả mọi người. Như đã được nêu ra ở trên, những câu này có vai trò như tựa đề cho toàn bộ phần Kinh Thánh 1:18-3:20, và bây giờ Phao-lô trở lại với những câu này qua 2:1. Vì cơn giận của Đức Chúa Trời được bày tỏ ra từ trời trên “tất cả” những ai gạt bỏ chân lý của Đức Chúa Trời, Vậy,… ngươi… không thể chữa mình được. Vì hễ ai đoán xét những tội nhân ngoại quốc mà Phao-lô đã mô tả trong 1:20-32 là đang xét đoán chính mình vậy. Sở dĩ có điều này là do những kẻ đứng ra đoán xét cũng đã làm những điều tương tự. Dù không phải ai cũng phạm vào tội thờ hình tượng và tội tình dục lang chạ, thì không có ai không phạm vào các tội được liệt kê trong những câu 29-31 như tham lam, thù ghét Đức Chúa Trời, kiêu ngạo. Và có lẽ, theo một nghĩa rộng hơn, ngay cả người Do Thái, là những người xem luật pháp, hay sự cắt bì hoặc nghi lễ tôn giáo quan trọng hơn việc dâng mình cho Đức Chúa Trời, cũng phạm vào tội thờ hình tượng. Bởi lẽ sự phán xét của Đức Chúa Trời căn cứ trên lẽ thật, nghĩa là luôn luôn đúng với thực tế (c.2), nên Ngài không thể đơn giản bỏ qua tội lỗi như thế (c.3). Vì vậy, lập luận của Phao-lô trong ba câu đầu này có thể được tóm tắt trong ba lời tuyên bố: sự phán xét của Đức Chúa Trời dành cho những kẻ phạm “những điều đó”, ngay cả những tự cho mình là người xét đoán công bình mà cũng phạm “những điều đó” vậy nên, ngay cả những kẻ xét đoán tự cho mình là công bình cũng phải chịu sự phán xét của Đức Chúa Trời.
Cách đặt câu hỏi trong câu 4 phơi bày vẻ ngoài đạo đức giả mà kẻ xét đoán người khác mà tự cho mình là công bình này đang sử dụng. Việc Phao-lô đang nói với một người Do Thái, và việc phản ánh một tình trạng thật cho thấy rõ rằng tinh thần và ngay cả hầu hết lời lẽ của câu hỏi này được lấy từ cuốn sách của người Do Thái là Sách Khôn Ngoan của Sa-lô-môn. Sau khi quở trách các dân ngoại về tội thờ thần tượng và tội lỗi của họ trong chương 13-14 (phần Kinh Thánh tương tự với những điều Phao-lô viết trong 1:18-32), tác giả sách này nói trong 15:1-2 “Nhưng Ngài, Đức Chúa Trời chúng tôi, là thiện -chrestos và chân thật, kiên nhẫn -makrothymos, và cai quản mọi vật bằng lòng nhân từ. Vì ngay cả nếu chúng tôi phạm tội, chúng tôi cũng thuộc về Ngài, nhận biết quyền năng Ngài”. Rõ ràng chính sự đạo đức giả của hành động tự tách mình ra khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời này là điều mà Phao-lô đang luận bàn. Những người Do Thái mà ăn năn thật lòng sẽ không được miễn trừ sự phán xét của Đức Chúa Trời chỉ vì họ là một phần của dân sự giao ước của Đức Chúa Trời. Thật vậy, một người như thế chỉ đang chất chứa sự giận cho ngày phán xét công bình của Đức Chúa Trời (c.5).
Câu 6 có liên quan chặt chẽ với câu 5 (và vì thế trong bảng NIV chúng nằm chung một phân đoạn), nhưng rõ ràng nó đã giới thiệu một phần mới. Chủ đề của phần này được diễn tả trong cả câu mở đầu lẫn câu kết thúc: Đức Chúa Trời chẳng vị nể ai đâu (c.11) Ngài là Đấng sẽ trả lại cho mỗi người tuỳ theo công việc họ làm (c.6). Phao-lô sử dụng cách thức tương tự (đôi khi gọi là sự giao thoa) để trình bày chi tiết về hai kết quả của sự phán xét không thiên vị của Đức Chúa Trời có thể xảy ra: sự sống đời đời cho người làm lành (c.7,10) và cơn thịnh nộ cho người phạm tội (c.8 9). Bố cục sau đây thể hiện cấu trúc này:
A. Sự phán xét theo lẽ công bằng của Đức Chúa Trời (c.6)
B. Sự sống dành cho người làm lành (c.7)
C. Cơn thạnh nộ dành cho kẻ làm ác (c.8)
C. Cơn thạnh nộ cho kẻ làm ác (c.9)
B. Vinh hiển dành cho người làm lành (c.10)
A. Sự công bằng, không thiên vị của Đức Chúa Trời (c.11)
Phao-lô áp dụng giáo lý về sự phán xét không thiên vị của Đức Chúa Trời một cách rõ ràng đối với người Do Thái và người ngoại quốc (c.9-10), và bày tỏ mục đích toàn diện của mình qua việc chứng tỏ rằng tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời sử dụng để đoán xét người Do Thái sẽ không khác gì so với những tiêu chuẩn mà Ngài dùng để đoán xét người ngoại quốc. Với cả hai, việc làm sẽ là điều mang tính quyết định. Làm ác phải chịu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời là dĩ nhiên, và điều này thể hiện giáo lý nhất quán của Kinh Thánh. Nhưng Phao-lô muốn nói gì khi khẳng định rằng người làm lành sẽ được sự sống đời đời (câu 7, đối chiếu câu 10)? Vì ở những chỗ khác, Phao-lô nói rõ rằng con người chỉ hưởng được sự sống đời đời qua đức tin mà thôi (1:17 3:20,21-22), nên không thể nào ông ngụ ý rằng chỉ cần làm những việc thiện con người sẽ được cứu. Một số học giả (như Cranfield) cho rằng Phao-lô đang mô tả Cơ Đốc nhân mà những công việc thiện lành của họ chứng minh thực tế về đời sống mới của họ. Nhưng Phao-lô nói rằng chính bản thân hành động thiện lành đem lại sự sống. Vậy thì, tốt hơn chúng ta nên xem những câu nói này như là những lời khẳng định tổng quát cho nguyên tắc: Nếu một người cứ làm điều thiện luôn luôn (c.7), người ấy chắc hẳn sẽ hưởng được sự sống đời đời. Nhưng điều Phao-lô sẽ giải thích rõ ở chỗ khác chính là vì sự sa ngã của A-đam, trong thực tế không một con người nào có thể làm điều thiện đó luôn luôn (3:9-18,23). Ở điểm này, mục đích của Phao-lô không phải là chứng minh con người có thể được cứu bằng cách nào, mà là nêu ra các tiêu chuẩn thẩm định của Đức Chúa Trời, bên cạnh Phúc Âm. Các tiêu chuẩn này như nhau đối với mọi người – dù họ là người Do Thái hay người ngoại quốc, dù là người da đen hay da trắng.
Một người Do Thái khi nghe lập luận của Phao-lô về điểm này chắc hẳn sẽ phản đối quyết liệt: Lẽ nào việc người Do Thái được Đức Chúa Trời chọn làm dân Ngài và được Ngài ban luật pháp như là dấu hiệu của giao ước Ngài lại không khiến họ được đặt ở một vị địa vị khác với địa vị của người ngoại quốc trước mặt Đức Chúa Trời sao? Phao-lô đoán trước sự chống đối này nên đã nêu ra phần trả lời sơ bộ trong câu 12-16. Như trong câu 6-11, mục đích của Phao-lô là giải quyết bất kỳ một sự phân biệt nào giữa người Do Thái và người ngoại quốc về vấn đề phán xét tối hậu của Đức Chúa Trời. Ông thực hiện việc này bằng cách nêu ra hai điểm. Thứ nhất, không đơn giản việc sở hữu luật pháp sẽ giúp dân Do Thái được miễn trừ khỏi sự phán xét chỉ khi nào họ thực sự tuân theo luật pháp ấy thì nó mới mang lại hiệu quả (c.12-13). Nói một cách tương ứng, những người không có luật pháp mà phạm tội và những người có luật pháp mà phạm tội (c.12) rõ ràng là người ngoại quốc và người Do Thái. Rõ ràng, ở đây Phao-lô dùng từ “luật pháp” (tiếng Hi Lạp là nomos) như ông vẫn thường dùng, để đề cập đến luật pháp Môi-se. Cả người Do Thái lẫn người ngoại quốc đều sẽ bị định tội theo luật pháp (c.12) bởi vì chỉ có người nào vâng theo luật pháp mới được kể là công bình trước mặt Đức Chúa Trời (c.13). Lập luận của những câu này xác nhận rằng không người nào có thể vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời một cách đầy đủ để có thể trở nên người công bình trước mặt Ngài.
Điều thứ hai mà Phao-lô nêu ra ở đây là bản thân người ngoại quốc cũng có luật pháp của Đức Chúa Trời, và vì thế thực ra giữa người Do Thái và người ngoại quốc không có nhiều sự khác biệt như người Do Thái thường nghĩ (c.14-15). Người ngoại quốc không có luật Môi-se, nhưng bởi việc tự nhiên làm những việc luật pháp dạy biểu, tức là tuân theo một số tiêu chuẩn luật pháp của Đức Chúa Trời không phạm tội giết người, trộm cắp, tà dâm biết hiếu kính cha mẹ họ tỏ ra rằng mình tự nên luật pháp cho mình. Điều Phao-lô muốn nói ở đây được diễn giải trong câu 15: Những điều luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ. Bởi có tuân theo những yêu cầu của luật pháp Đức Chúa Trời, những người ngoại quốc này chứng tỏ rằng họ có tiếp cận với những yêu cầu của Đức Chúa Trời về đạo đức. Mặc dù không sở hữu luật pháp bằng văn bản, nhưng trong lòng họ có một số hiểu biết về những điều Đức Chúa Trời đòi hỏi, nên ở một phạm vi nào đó, lương tâm họ có thể giám sát một cách đúng đắn việc họ tuân theo ý muốn của Đức Chúa Trời (c.15b). Ở đây Phao-lô bổ sung giáo lý của ông về sự “mặc khải tự nhiên” ở chương 1 bằng cách nhắc chúng ta rằng mỗi người đều có một sự hiểu biết nào đó về ý muốn của Đức Chúa Trời về vấn đề đạo đức. Tuy nhiên, cũng như với sự mặc khải một cách tổng quát qua tự nhiên, sự hiểu biết này không thể dẫn đến cứu rỗi, câu 15b không có nghĩa là một số người ngoại quốc sẽ thực sự được cứu trong ngày phán xét, mà là trong mỗi một người ngoại quốc sẽ có một số ý tưởng “cáo trách” họ và một số ý tưởng khác thì “binh vực” họ.
Những dấu gạch nối mà bảng NIV đặt ở đầu và cuối những câu 14-15 cho thấy rằng chúng ta nên xem câu 16 như phần tiếp nối của câu 13: Việc Đức Chúa Trời tuyên bố về tư cách công bình của một người sẽ diễn ra vào ngày Đức Chúa Trời bởi Đức Chúa Giê-xu Christ mà xét đoán những việc kín nhiệm của loài người. Nhưng câu 14-15 là một phần rong toàn bộ lý lẽ của Phao-lô. Vì thế, có thể câu 16 phải được liên kết với câu 15b: các “ý tưởng” đối lập của con người sẽ được Đức Chúa Trời phơi bày và dùng chúng làm bằng chứng trong ngày phán xét, vì Ngài là Đấng hiểu biết mọi điều về tấm lòng chúng ta (ISa 16:7 Thi 139:1-2 Gie 17:10).
Chú thích. 14 Một số học giả cho rằng ở câu 14-15 Phao-lô đang mô tả các tín hữu Cơ Đốc người ngoại quốc, nhưng điều này không chắc chắn. Tín hữu Cơ Đốc người ngoại quốc không tự nhiên làm những việc của luật pháp, và toàn bộ lý luận của Phao-lô mang nhiều điểm tương đồng với một tư tưởng phổ biến của người Hi Lạp về “luật tự nhiên” mà mọi người đều biết.
(Ro 2:17-29) Luật pháp và phép cắt bì Trong những câu này, Phao-lô trở lại với phong cách chỉ trích kịch liệt của 2:1-5, vì ông lại sử dụng ngôi thứ hai số ít để xưng hô với “người đối thoại” với mình. Lần đầu tiên người đối thoại này được nhận dạng rõ ràng là một người Do Thái (c.17). Điều Phao-lô lý luận trong phần này là người Do Thái không thể cậy vào luật pháp hay phép cắt bì của mình để bảo vệ mình khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời. Người Do Thái xem những điều này như những dấu hiệu chứng tỏ địa vị mang tính giao ước đặc biệt của họ trước mặt Đức Chúa Trời và tin rằng địa vị này sẽ bảo đảm sự cứu rỗi cho tất cả những người Do Thái nào không cố ý từ chối địa vị này: Phao-lô không phủ nhận giá trị của luật pháp và phép cắt bì hay địa vị đặc biệt của người Do Thái ông chỉ phủ nhận rằng mối quan hệ đặc biệt này cho phép người Do Thái mặc nhiên miễn trừ khỏi sự phán xét xông bình của Đức Chúa Trời. Lời mà Đức Chúa Trời ban cho Y-sơ-ra-ên và giao ước mà Ngài đã lập với dân tộc này là những đặc quyền lớn lao nhưng bản thân những điều này không thể mang lại sự công nghĩa hay cứu rỗi. Như ông đã lặp lại nhiều lần trong Ro 2:1-16, Phao-lô khẳng định lần nữa rằng luật pháp và phép cắt bì có thể bảo vệ người Do Thái khỏi sự phán xét chỉ khi họ làm trọn luật pháp. Như Phao-lô gợi ý trong câu 17-24 và khẳng định rõ trong 3:9-18, người Do Thái không thể hết lòng vâng theo luật pháp.
Phân đoạn đầu tiên, từ 17-24, được hình thành từ một câu điều kiện dài (c.17-23) và một câu trích dẫn từ Kinh Thánh mang tính kết luận (c.24). Trong một loạt các mệnh đề “nếu”, Phao-lô kể ra những đặc quyền mà người Do Thái tự tuyên bố là mình có (c.17-20). Họ tuyên bố tên gọi người Giu-đa là một danh hiệu tôn kính mà họ được thừa hưởng từ Giu-đa tổ phụ của họ, ông trở thành trung tâm của tuyển dân Đức Chúa Trời. Họ yên nghỉ trên luật pháp, điều mà trong câu 20 Phao-lô gọi là mẫu mực của sự thông biết và của lẽ thật. Người ngoại có một vốn hiểu biết giới hạn nào đó về Đức Chúa Trời qua “sự mạc khải tự nhiên” (1:18-19,25,28,32) nhưng người Do Thái lại có một sự mạc khải trọn vẹn và rõ ràng hơn nhiều qua luật pháp Môi-se. Bởi vì được luật pháp này hướng dẫn nên người Do Thái hiểu biết ý muốn Ngài và biết phân biệt phải trái (câu 18). Và, cũng với lý do này, người Do Thái có thể tuyên bố một cách hợp pháp rằng mình có quyền chỉ dẫn cho các dân tộc mà không được ban phước với sự mạc khải rõ ràng như thế về ý muốn của Đức Chúa Trời (c.19-20). Vai trò “dạy dỗ” của dân Y-sơ-ra-ên đối với các dân tộc còn lại được xác nhận trong Kinh Thánh Cựu Ước dân này, “tôi tớ của Đức Giê-hô-va”, sẽ làm “sự sáng cho các dân ngoại”, và “để mở mắt kẻ mù” (Es 42:6-7 49:6.) (Dân tộc này đã không thể hoàn tất nhiệm vụ này, nên cuối cùng nhiệm vụ này đã được hoàn thành qua tôi tớ của Đức Chúa Trời, là Chúa Giê-xu Christ).
Ở mệnh đề “thì” trong câu điều kiện của mình, Phao-lô sử dụng một loạt các câu hỏi để nhắc người Do Thái về sự thất bại của họ trong vấn đề này (c.21-23). Điều đáng ngạc nhiên là Phao-lô đã chọn những tội lỗi rành rành như thế ăn cắp, tà dâm và cướp đồ vật của hình tượng (có lẽ ám chỉ việc dùng những kim loại lấy từ các đồ vật thờ cúng hình tượng, đối chiếu Phu 7:26) để làm những ví dụ cho sự thất bại của người Do Thái trong việc giữ luật pháp. Trong thực tế, chẳng phải hầu hết mọi người Do Thái đều trả lời rằng họ không phải là không vâng giữ những điều răn này hay sao? Có lẽ câu trả lời chính là Phao-lô đang thừa nhận sự mở rộng luật pháp một cách căn bản mà Chúa Giê-xu đã làm: “Khi ăn cắp, tà dâm, và cướp đồ thờ cúng được hiểu một cách nghiêm khắc và tận căn nguyên, thì không ai không phạm ba tội này cả” (A Commentary on the Epistle to the Romans, Harper & Row, của C. K. Barrette, 1957). Nhưng không có điều gì trong ngữ cảnh này cho thấy Phao-lô đang thừa nhận quan điểm như thế. Đúng hơn có lẽ là Phao-lô đã chọn những tội cụ thể này bởi vì chúng nổi bật trong luật Môi-se (phạm tội cướp đền thơ là một hình thức thờ lạy hình tượng). Không phải Phao-lô đang cố gắng chứng minh rằng tất cả mọi người Do Thái đều phạm những tội này, mà rằng những biểu hiện đặt biệt cụ thể về sự mâu thuẫn giữa lời nói và việc làm vốn rất phổ biến trong Do Thái giáo. Phao-lô đã bày tỏ mâu thuẫn này một cách sắc bén ở phần cuối những câu hỏi tu từ của mình (c.23): Ngươi khoe mình về luật pháp mà bởi phạm luật pháp làm nhục đến Đức Chúa Trời! Những hậu quả của sự mâu thuẫn giữa lời nói và việc làm được làm nổi rõ trong phần trích dẫn Es 52:5 ở câu 24. Có lẽ sự mỉa mai được bày tỏ qua việc Phao-lô chuyển trách nhiệm của việc làm cho Danh Đức Chúa Trời bị hổ thẹn từ dân ngoại (như trong ngữ cảnh của Cựu Ước) cho chính dân Y-sơ-ra-ên.
Phép cắt bì, cũng như luật Môi-se, là một dấu hiệu đặc biệt nổi bật cho biết về địa vị đặc biệt của dân Do Thái (một số ra-bi tuyên bố rằng “không một người nào đã làm phép cắt bì mà phải xuống địa ngục -Gehenna”). Tuy nhiên, Phao-lô nhấn mạnh rằng phép cắt bì chỉ có giá trị khi người Do Thái vâng giữ luật pháp. Trái lại, người Do Thái nào vi phạm luật pháp sẽ đánh mất giá trị của việc mình chịu cắt bì. Việc chỉ thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, được tượng trưng qua phép cắt bì, không thể cứu một người khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời. Vì sự phán xét của Đức Chúa Trời trên một người là “tuỳ theo công việc họ đã làm” (Ro 2:6), và chỉ khi “vâng giữ luật pháp” thì phép cắt bì mới có giá trị. Không rõ tại đây Phao-lô muốn nói rằng phép cắt bì sẽ có được giá trị cứu rỗi nếu điều này đi kèm với việc thực hành luật pháp cách hết lòng và bởi sự thúc đẩy của đức tin (như giải thích của Murray, Cranfield) hay ông muốn nói rằng phép cắt bì không bao giờ có năng quyền cứu rỗi bởi vì không ai có thể đáp ứng được hoàn toàn điều kiện vâng giữ luật pháp (theo Calvin, Bruce). Nhưng giả thiết thứ hai này có vẻ như thích hợp hơn, vì mục đích của Phao-lô trong phần này của bức thư dường như là để phủ nhận giá trị cứu rỗi của phép cắt bì và của luật pháp.
Nếu là người Do Thái mà không thực hiện luật pháp thì đánh mất giá trị của phép cắt bì của mình, vậy có thể nào người ngoại không được xem như đã chịu phép cắt bì khi họ giữ các điều răn của luật pháp? (c.26). Câu này nối tiếp sau câu 25 một cách lô-gíc. Phao-lô trình bày thêm trong câu 27: một người chưa chịu cắt bì mà vâng giữ luật pháp như thế sẽ đoán xét ngươi, là kẻ dẫu có chữ của luật pháp và phép cắt bì, lại phạm luật pháp. Chữ của luật pháp (luật thành văn) được dịch từ chữ gramma của tiếng Hi Lạp, có nghĩa là “con chữ”, đây là từ mà Phao-lô đã dùng ở chỗ khác để chỉ về luật Môi-se (c.29 7:6 IICo 3:6-7). Luật này đòi hỏi ở người nhận một sự tuân thủ mà bản thân nó cũng không thể bảo đảm. Đôi lúc những câu này được diễn giải với ý nghĩa là những người chưa từng nghe về Phúc Âm cũng có thể nhận được sự cứu rỗi nếu họ làm theo tiếng phán bảo của lương tâm mình. Nhưng cách hiểu này rõ ràng là trái ngược với những gì Phao-lô khẳng định ở một chỗ khác (Ro 3:20). Phổ biến hơn nữa là một quan điểm cho rằng những người chưa chịu cắt bì mà vâng giữ luật pháp này là tín hữu Cơ Đốc người ngoại quốc (Murray, Cranfield, Godet). Nhưng có bao giờ Phao-lô xem việc vâng giữ luật pháp là một phương cách để nhận được sự cứu rỗi chưa? Có thể là có, vì vậy, như trong 2:7,10, kết quả tất yếu mà Phao-lô đưa ra chỉ như một khả năng mang tính lý thuyết suông: giá như một người ngoại quốc thật sự tuân giữ được các qui định của luật pháp (mà Phao-lô bác bỏ ở chỗ khác), thì người ấy chắc sẽ được cứu rỗi (đối chiếu Ksemann, Wilckens).
Các câu 28-29 giải thích tại sao phép cắt bì không bảo đảm sự cứu rỗi và tại sao việc không chịu phép cắt bì không ảnh hưởng gì đến việc nhận được sự cứu rỗi. Vì phép cắt bì có giá trị hơn cả trước mặt Đức Chúa Trời là phép cắt bì bởi tấm lòng, được làm trọn bởi Đức Thánh Linh (theo cách thiêng liêng). Dĩ nhiên, những gì mà Phao-lô nói đến ở đây không mới Kinh Thánh Cựu Ước đã sử dụng cách diễn đạt này để yêu cầu một sự biến đổi từ tấm lòng (Phu 10:16 Gie 4:4) và như Phao-lô, Kinh Thánh Cựu Ước cũng đã nhấn mạnh rằng chính Thánh Linh của Đức Chúa Trời là Đấng duy nhất có thể làm một sự biến đổi như thế có hiệu lực (31:31-34 Exe 36:26-27). Nhưng điều mà các tiên tri Cựu Ước mong đợi đã trở thành hiện thực trong giao ước mới và được hoàn thành qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Cách diễn đạt mà Phao-lô dùng ở đây đã đưa chương 2 đến một cao điểm qua cách nói bóng gió về một lẽ thật: trở thành một thành viên của đại gia đình Đức Chúa Trời không phải vấn đề của địa vị mang tính giao ước của dân Do Thái hay việc vâng giữ luật pháp mà là vấn đề của sự tái sanh qua Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
(Ro 3:1-8). Sự thành tín của Đức Chúa Trời và người Do Thái Với sự công kích của mình nhắm vào tính kiêu căng của người Do Thái trong chương 2, bây giờ Phao-lô viết như thể không có gì khác biệt giữa người Do Thái và người ngoại quốc nữa (c.9-10,26-29). Nhưng có lẽ điều này sẽ khiến người ta hiểu lầm lập luận của ông. Mục đích của Phao-lô là chứng tỏ rằng người Do Thái không có gì thuận lợi hơn người ngoại quốc khi đối diện với sự đoán xét của Đức Chúa Trời nếu chỉ dựa vào việc họ là người Do Thái. Là một người thuyết giảng có kinh nghiệm, Phao-lô biết rằng lý luận của mình có thể bị người ta hiểu sai, vì thế ông đã bàn luận thêm một cách chi tiết phần cuối của việc ông phơi bày tội lỗi của người Do Thái mà qua đó ông vừa khẳng định những đặc quyền của người Do Thái vừa mô tả bản chất và giới hạn của các đặc quyền ấy. Dĩ nhiên, đây là một vấn đề mà người Do Thái lẫn các tín hữu Cơ Đốc người Do Thái đặt biệt quan tâm tới nhưng nó làm nảy sinh những thắc mắc về tính bất biến và mức độ đáng tin cậy của chính Đức Chúa Trời vì phải nhớ rằng phép cắt bì và luật pháp là do Đức Chúa Trời ban cho dân tộc Y-sơ-ra-ên, vấn đề này cũng là đề tài mà các tín hữu Cơ Đốc người ngoại quốc quan tâm.
C. H. Dodd cho rằng cách trả lời hợp lý cho câu hỏi mà Phao-lô nêu ra ở câu 1 là “Không” là một người Do Thái hoặc đã làm phép cắt bì cũng không có được điều gì thuận lợi hơn. Ông cho rằng câu trả lời trái ngược của Phao-lô – ích lớn đủ mọi đàng! – xuất phát từ mối liên hệ tình cảm của ông đối với bà con về phần xác của mình. Nhưng điều này sẽ khiến người ta hiểu sai về qua điểm thần học về dân Y-sơ-ra-ên mà Phao-lô đã cân nhắc kỹ lưỡng. Người Do Thái không có mối quan hệ cứu rỗi với Đức Chúa Trời như quyền thừa kế nhưng họ thật sự sở hữu được những thuận lợi không thể phủ nhận được, mà quan trọng nhất là họ được lời phán của Đức Chúa Trời đã phó cho. Từ trước hết ở đầu câu 2 cho thấy rằng Phao-lô đang tiếp tục liệt kê những đặc quyền khác, nhưng như vậy sẽ lạc đề nên không hoàn thành bản liệt kê đó (tuy nhiên, đối chiếu Ro 9:3-5). Món quà vĩ đại nhất mà người người Y-sơ-ra-ên nhận được là lời Kinh Thánh, Lời phán của Đức Chúa Trời (tiếng Hi Lạp là talogia, có nghĩa là “những lời sấm truyền”, được sử dụng hai mươi bốn lần trong Thi Thiên 119 để chỉ về lời Đức Chúa Trời). Thật vậy, một vài người Do Thái đã không chứng tỏ được sự thành tín của mình với lời này: họ không vâng giữ luật pháp cũng không tin theo Chúa Giê-xu bằng đức tin. Nhưng sự không thành tín của con người không bao giờ có thể làm mất giá trị sự thành tín của Đức Chúa Trời (c.3). Ngay cả khi con người là giả dối thì Đức Chúa Trời vẫn thật (c.4a). Đa số các học giả nhận thấy trong những câu này có một sự khẳng định tích cực về việc Đức Chúa Trời vẫn thành tín với dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, như Phao-lô trình bày rõ trong Rô-ma 11, là dân chưa bao giờ bị Đức Chúa Trời khước từ (11:1-2) và là dân mà một ngày nào đó sẽ được cứu (11:25-26). Tuy nhiên, trong khi khía cạnh tích cực của sự thành tín Đức Chúa Trời đã rõ ràng, thì câu 4b cho thấy rằng sự thành tín này cũng có khía cạnh tiêu cực của nó. Ở đây Phao-lô trích dẫn lời xác nhận của Đa-vít trong Thi 51:4 rằng Đức Chúa Trời công bình trong việc hình phạt Ngài ông, vì ông thật sự đã phạm tội (trong quan hệ với Bát-sê-ba). Điều cốt yếu ở đây là Đức Chúa Trời công bình khi Ngài xét đoán. Căn cứ vào điều này, chúng ta cần hiểu rằng Phao-lô đang khẳng định trong câu 3-4 rằng Đức Chúa Trời thành tín trong mọi khía cạnh của Lời Ngài đối với dân Y-sơ-ra-ên. Và Lời đó vừa hứa ban phước cho người vâng lời vừa đe doạ xét xử những kẻ không vâng phục Phu 28:1-68 30:11-20). Vậy sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với Lời Ngài không loại trừ sự phán xét dân Do Thái về tội lỗi của họ (xem những câu nhấn mạnh tương tự trong Ne 9:32-33 Ca 1:18 Những Thi Thiên Của Sa-lô-môn Thi 2:18 3:5 4:8 8:7).
Nhưng sự khẳng định này làm nảy sinh một thắc mắc khác: Nếu sự công bình của Đức Chúa Trời càng trở nên rõ ràng hơn qua sự không công bình của con người, thì làm thế nào Đức Chúa Trời đoán xét công bằng sự không công bình ấy (c.5)? Một số người (như Murray) cho rằng Phao-lô đang nêu câu hỏi này như một câu hỏi về cách giải quyết của Đức Chúa Trời đối với loài người nói chung. Nhưng ngữ cảnh của cuộc tranh luận về vấn đề Do Thái rất có thể cho thấy rằng ông vẫn đặc biệt nghĩ về sự không công bình của người Do Thái. Sự công bình của Đức Chúa Trời mà ở đây muốn nói không có nghĩa như trong Ro 1:17 - sự công bình cứu rỗi của Đức Chúa Trờivới những từ tương đương như sự thành tín (c.3), thật (c.4) và lẽ thật (c.7) gợi ý, điều này đề cập đến thành tín của Ngài. Kinh Thánh Cựu Ước thường dùng từ “sự công bình” (tiếng Hi Bá Lai là sedeq hay sedaqa được dịch trong bản Bảy Mươi với từ ngữ Hi Lạp tương tự với từ Phao-lô sử dụng ở đây, là dikaiosyne) để nói đến sự thành tín của Đức Chúa Trời (Thi 31:1 36:5-6 Es 38:19 63:7). Nhiều học giả thường tuyên bố rằng sự thành tín này đề cập đến cam kết của Đức Chúa Trời để thực hiện các bổn phận tích cực trong giao ước của Ngài với Y-sơ-ra-ên. Nhưng nhiều đoạn Kinh Thánh gợi ý một khái niệm căn bản hơn, trong đó sự thành tín của Đức Chúa Trời chỉ về chính thân vị và lời của Ngài và trong một vài đoạn Kinh Thánh này “sự công bình” của Đức Chúa Trời được thể hiện qua sự phán xét công bằng và phải lẽ đối với tội lỗi của dân Ngài (Thi 67:4 94:15 Es 5:16 10:22). Vì câu 4 đã cho thấy Đức Chúa Trời là “công bình” (dikaiothes) trong việc Ngài trừng phạt tội lỗi, nên ý tưởng căn bản hơn về sự công bình của Đức Chúa Trời phải được thể hiện trong câu 5. Việc người Do Thái không vâng giữ Lời của Đức Chúa Trời đã khiến họ bị phán xét, vì thế điều này đã làm nổi bật sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với lời Ngài đe doạ sẽ xét đoán tội lỗi. Nhưng dù kết quả tích cực của tội lỗi là gì đi nữa, thì Đức Chúa Trời vẫn không bao giờ thiếu công bình trong việc hình phạt nó. Ngài sẽ đoán xét thế gian và phán xét nó bằng thái độ công bằng, nghiêm minh (Sa 18:25 Giop 8:3 32:10-12). Câu 7-8 lặp sự chống đối của câu 5 bằng những từ ngữ khác, nhưng câu 8 mang đến một luồng sáng mới cho bản chất của vấn đề này đối với Phao-lô. Như ông gợi ý ở đây, chính ông đã bị tố cáo là đã rao giảng một giáo lý mà dẫn đến kết luận “Sao chúng ta không làm sự dữ cho được sự lành”. Sự khẳng định của Phao-lô rằng Đức Chúa Trời là “công bình”, ngay cả khi Ngài đoán xét tội lỗi của người Do Thái, đã bị một số người Do Thái lợi dụng để ngụ ý rằng vì thế tội lỗi đã được tha thứ. Ở đây Phao-lô không tham dự vào việc bảo vệ vị trí của mình, mà chỉ lên án đối với những kẻ đưa ra một kết luận có tính báng bổ gièm pha như thế (c.8b).
3. Tội lỗi của toàn nhân loại (Ro 3:9-20)
Mặc dù những câu hỏi ngắn gọn mở đầu cho câu 9 đã liên kết câu 9 với các câu từ 1-8, nhưng rõ ràng là ở đây Phao-lô bắt đầu tóm tắt và áp dụng lý luận mà ông đã bắt đầu ở Ro 1:18. Ông đã chứng minh rằng cơn giận của Đức Chúa Trời giáng trên người ngoại quốc (1:18-32) lẫn người Do Thái (2:1-3:8) một cách công bằng. Do đó, Phao-lô kết luận rằng tất cả mọi người đều “phục dưới quyền tội lỗi”. Phao-lô đã lấy một bằng chứng của Cựu Ước để hỗ trợ cho kết luận này (c.10-18) và sau đó áp dụng nguyên tắc này cho người Do Thái (câu 19-20).
Việc Phao-lô khẳng định sự tiếp tục đặc quyền của người Do Thái trong 3:1-8 (đặc biệt là c.1-3) đã làm kích thích câu hỏi của ông Chúng ta (người Do Thái) có điều gì hơn chăng? Chẳng có, câu trả lời này của ông không có ý rút lại những gì ông đã nói ở câu 1-3, mà có ý chống lại kết luận cho rằng những đặc ân mà Đức Chúa Trời ban cho người Do Thái khiến họ được thuận lợi hơn trong sự xét đoán của Đức Chúa Trời. Phao-lô nêu ra điểm này bằng cách nhắc độc giả của mình rằng ông đã tỏ ra là người Giu-đa (Do Thái) và người Gờ-réc (dân ngoại) thảy đều phục dưới quyền tội lỗi. “Phục dưới quyền tội lỗi” không chỉ có nghĩa là “tội nhân”, mà còn mang ý nghĩa là một nô lệ vô vọng dưới quyền lực tội lỗi (đối chiếu 6:15-23).
Phao-lô nhấn mạnh kết luận của mình về tình trạng tội lỗi của toàn nhân loại bằng một loạt những lời trích dẫn từ Kinh Thánh Cựu Ước. Những câu trích dẫn được chọn lọc liên kết về mặt chủ đề như thế rất quen thuộc với các ra-bi, và một số người đã nghĩ rằng có lẽ Phao-lô đang trích dẫn một bộ sưu tập có trước khi Cơ Đốc giáo ra đời. Đặc biệt, mục đích của loạt câu trích dẫn này là minh hoạ cho chữ “thảy” (tất cả) của câu 9: hãy chú ý những chữ chẳng có một người nào được lặp lại (10,11,12) và trong câu 19-20 chủ đề bao quát được nhắc lại: miệng nào cũng…, cả thiên hạ,… chẳng có một người nào. Mới nhìn qua có vẻ như các đoạn trích này được sắp xếp một cách ngẫu nhiên, nhưng thật ra có bằng chứng cho thấy sự tồn tại của một sự chủ ý nào đó trong việc sự sắp xếp cấu trúc và trình tự. Dòng đầu tiên, chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không, là câu đầu đề, và từ chẳng có trong câu 18 quay trở lại giống với câu đầu để kết thúc vòng tròn của loạt câu trích dẫn này. Câu 11-12 mở rộng dòng đầu tiên bằng năm lần lặp lại tương đối đồng nghĩa với nhau về chủ đề “chẳng có một người nào công bình”. Tất cả những câu trích này đều có nguồn gốc từ Thi 143:1-3. Phao-lô tiếp tục đào sâu Thi Thiên (5:9 140:4 10:7) trong bốn dòng kế tiếp (c.13-14), mỗi một dòng nêu đặc tính tội lỗi của lời nói. Mặc khác, câu 15-17 sử dụng các trích dẫn từ Es 59:7-8 để miêu tả tội bạo lực đối với người khác. Điều đáng chú ý là trong khi một số phân đoạn Cựu Ước mà Phao-lô trích dẫn mô tả kẻ thù của dân Y-sơ-ra-ên, thì một số phân đoạn khác (59:7-8) lại đề cập đến tội lỗi của Y-sơ-ra-ên. Vì thế, một lần nữa Phao-lô đã khéo léo nhấn mạnh rằng người Do Thái cũng phải bị kể vào hàng “kẻ ác”.
Việc Phao-lô áp dụng lời dạy của câu 9-18 (và một cách gián tiếp toàn bộ Ro 1:18-3:18) vào câu 19-20 một lần nữa bày tỏ mối bận tâm của ông về tình trạng của người Do Thái. Ông nhắc độc giả của mình rằng những câu ông trích dẫn được lấy ra từ luật pháp (nomos), ở đây từ này đề cập đến Kinh Thánh nói chung (đối chiếu ICo 9:8-9 14:21,34 Ga 4:21b). Nhưng luật pháp này đặc biệt dành cho mọi kẻ ở dưới luật pháp, đó chính là người Do Thái (Ro 2:12 3:2). Từ điều này Phao-lô kết luận rằng miệng nào nay cũng phải ngậm lại không ai có được điều gì để biện minh trước mặt Đức Chúa Trời (Giop 5:16 Thi 63:11 107:42) và cả thiên hạ đều nhận tội trước mặt Đức Chúa Trời, chờ đợi bản án của mình. Phao-lô có thể hiển nhiên rút ra một kết luận phổ quát như thế từ bằng chứng của Kinh Thánh về tình trạng tội lỗi của người Do Thái, bởi vì để chứng minh tình trạng phạm tội của dân giao ước của chính Đức Chúa Trời, ông đã chứng minh phần việc khó nhất trong trường hợp của ông. Nếu ngay cả người Do Thái cũng bị định tội, thì không ai có thể tránh khỏi án phạt tương tự.
Đến lượt, điều này có nghĩa là “chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài” (c.20a). Việc tất cả mọi người đều ở “dưới quyền tội lỗi”( Ro 3:9) có nghĩa là không ai có thể vâng giữ luật Đức Chúa Trời một cách trọn vẹn hầu có thể được ban cho một chỗ đứng công bình trước mặt Ngài. Khi bàn đến việc vâng giữ luật pháp, một lần nữa Phao-lô suy nghĩ đến tình trạng của người Do Thái. Nhưng sự vâng giữ luật pháp của người Do Thái là một thí dụ về sự vâng phục của con người đối với những nguyên tắc đạo đức của Đức Chúa Trời. Khi xem “công việc luật pháp” của người Do Thái là không đủ tiêu chuẩn để nhận được sự cứu rỗi, Phao-lô ngầm lên án mọi “công việc của con người cũng kém thiếu tương tự như thế. Quyền lực của tội lỗi trói buộc mọi người trong vòng vây không thương xót của nó, và không có điều gì “chúng ta” làm có thể giúp chúng ta thoát khỏi đó. Thế thì, mục đích của luật pháp Môi-se là gì? Vai trò của nó là giúp cho con người ta biết (ý thức về) tội lỗi. Bằng cách đưa ra ý chỉ của Đức Chúa Trời một cách chi tiết, luật Môi-se trình bày hết sức rõ ràng rằng khi chúng ta phạm tội, thì chính Đức Chúa Trời hằng sống là Đấng chúng ta xúc phạm. Vì thế, nó giúp cho loài người nhận thức được trách nhiệm nhận tội của mình (c.19) trước mặt Đức Chúa Trời.
Chú thích. 20 Bản NIV dịch là vâng giữ luật pháp. Cụm từ ergov nomou, nghĩa là “các công việc của luật pháp” (Ro 3:28 Ga 2:16 3:2,5,10). Theo truyền thống, cụm từ này được hiểu là bất cứ công việc gì mà một người làm để vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời. Đây là cách hiểu rút ra từ phần bình giải ở trên, và chúng tôi nghĩ rằng có lý do chính đáng để chấp nhận cách diễn giải này. Mặc dù không thấy cụm từ này xuất hiện ở chỗ nào khác trong bản văn Hi Lạp, cụm từ tương đương tiếng Hi Bá Lai lại được tìm thấy trong những Cuộn Biển Chết (Dead Sea Scrolls), và làm gợi lại những từ ngữ mà các ra-bi thường dùng như “việc làm” và “điều răn”- tất cả những từ này đều đề cập đến việc thực hiện những điều luật pháp đòi hỏi cách tổng quát. Tuy nhiên, trong những năm gần đây các học giả đã đưa ra nhiều cách diễn giải khác. Cách của James Dunn có lẽ là phổ biến và đáng kể nhất. Ông cho rằng “các công việc của luật pháp” đề cập đến những lĩnh vực trong đời sống của người Do Thái mà chỉ ra họ là dân Đức Chúa Trời, đặc biệt là phép cắt bì, luật kiêng ăn và việc giữ các kỳ lễ. Vì thế, trong câu 20, có lẽ Phao-lô phủ nhận việc người Do Thái dự vào giao ước có thể mang lại sự công chính cho họ. Mặc dù Phao-lô thật sự đã giảng điều này, nhưng có vẻ như câu này đang nói đến một điều gì hơn thế nữa. Xuyên suốt Ro 1:18-3:20, Phao-lô tập trung vào cụm từ “những việc làm” theo ý nghĩa tổng quát (đối chiếu với người Do Thái, xem 2:2-3,6-10,21-23,25-27) và vì thế, không có lý do nào chính đáng dù là trong việc sử dụng nhóm từ này chung chung hoặc trong ngữ cảnh, hầu làm hạn chế ý nghĩa của nó chỉ về những việc làm cụ thể, hoặc những việc làm được thực hiện với một thái độ rõ ràng.
4. Sự công bình của Đức Chúa Trời Ro 3:21-26)
“Sự công bình” của Đức Chúa Trời (dikaiosyne) là trung tâm của đoạn Kinh Thánh vĩ đại này. Nó được đề cập đến bốn lần (c.21,22,25,26) trong khi sự xuất hiện của hai từ cùng gốc “xưng công bình” (dikaioo c.24,26) và “công bình” (dikaios c.26) củng cố thêm cho tính trung tâm của nó. Phao-lô khai triển phần trình bày của mình về sự công bình của Đức Chúa Trời qua bốn bước.
Thứ nhất, ông tuyên bố “sự công bình của Đức Chúa Trời” (c.21). Cụm từ này cũng có nghĩa là sự công bình từ Đức Chúa Trời (theo bản Kinh Thánh Anh ngữ NIV), nhưng chắc chắn đó không phải là cách dịch đúng, bởi vì Phao-lô đang nói đến một hoạt động của Đức Chúa Trời (như trong 1:17) chứ không phải là một đặc ân hay một địa vị từ Đức Chúa Trời. Cách diễn đạt của Phao-lô phản hồi 1:17 có chủ ý vì ông trở lại với chủ đề của 1:18-4:25 sau bối cảnh cần có của 1:18-3:20. Tuy nhiên, ở đây Phao-lô ít tập trung vào cách thức mà Đức Chúa Trời hành động để “làm sự công chính” hay “xưng công bình” được tỏ ra trong việc rao giảng Phúc Âm, mà lại tập trung nhiều hơn vào nền tảng lịch sử mà qua đó việc xưng công bình được thực hiện qua thập tự giá của Chúa Cứu Thế (thể hoàn thành của cụm từ đã bày to cho thấy điều này). Hơn nữa, để xác nhận tích cực cho những gì đã nói trong 3:20, Phao-lô trình bày rõ rằng sự công bình này của Đức Chúa Trời này đã được bày tỏ ra ngoài luật pháp. Bản dịch NIV gợi ý rằng có thể cụm từ này bổ nghĩa cho vế câu đứng trước nó: “ra ngoài luật pháp công bình của Đức Chúa Trời”, nhưng cũng có thể nó bổ nghĩa cho động từ chính trong câu. Quan điểm của Phao-lô chính là một thời đại mới trong kế hoạch của Đức Chúa Trời hiện nay đã đến và cách thức Ngài đem con người vào mối quan hệ với chính Ngài xảy ra ngoài ranh giới của thời đại cũ, là thời đại mà luật Môi-se là tâm điểm . Nhưng đồng thời Phao-lô cũng cẩn thận nhấn mạnh tính liên tục trong kế hoạch của Đức Chúa Trời. Có thể sự công bình của Đức Chúa Trời không xảy ra trong thời đại cũ hay trong giao ước cũ nhưng luật pháp và những lời tiên tri của giao ước đó đã làm chứng cho sự công bình này.
Trong bước thứ hai của phần trình bày này, Phao-lô nêu bật đặc tính phổ quát của sự công bình của Đức Chúa Trời. Người ta chỉ có thể kinh nghiệm được hành động xưng công bình của Đức Chúa Trời bởi sự tin đến Đức Chúa Giê-xu Christ và kinh nghiệm ấy chỉ dành cho mọi người nào tin vì mọi người đều cần nhận sự công bình của Đức Chúa Trời như nhau, vì mọi người đều đã phạm tội thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (c.22-23). Câu dịch bởi sự tin đến Đức Chúa Giê-xu Christ của bản NIV thừa nhận rằng cụm từ sở hữu Iesou christou có tính chất khách quan, nhưng nhiều học giả tin rằng đây là một cụm từ mang tính chủ quan và dịch ra là “Đức tin (hay sự thành tín) của Đức Chúa Giê-xu Christ”. Vì thế có lẽ Phao-lô đã trình bày hai điều riêng biệt trong câu 22b: đó là sự công bình của Đức Chúa Trời đặt nền tảng trên sự thành tín của Đấng Christ, và điều này dành sẵn cho mọi người tin. Chắc chắn đây là một cách giải thích hợp lý, nhưng về điểm này có lẽ tốt nhất là trung thành với bản dịch NIV. Quan điểm về “sự thành tín” của Đấng Christ (được diễn tả bằng từ pistis) không được chứng nhận rõ ràng ở những chỗ khác trong bức thư này của Phao-lô, mặc dù toàn bộ phần này của thư Rô-ma lại tập trung nhiều lần vào tính trung tâm của đức tin nơi Chúa Cứu Thế của con người để được xưng công bình (đặc biệt xem c.26 ở cuối phân đoạn này). Vì thế, Phao-lô lặp lại khái niệm về đức tin của con người trong câu 22 vì ông muốn nói cả hai điều đó là sự công bình của Đức Chúa Trời chỉ đến bởi đức tin nơi Chúa Cứu Thế, và điều này chỉ đến với mọi người có đức tin ấy. Câu 23 là một lời tóm tắt cô đọng về 1:18-3:20.
Phần thứ ba của đoạn này (c.24-25a) tập trung vào nguồn gốc sự công bình của Đức Chúa Trời. Cụm từ “được xưng công bình” ở đầu câu 24 quay trở lại với vấn đề công bình của Đức Chúa Trời trong câu 21-22. Hành động Đức Chúa Trời đặt con người vào một mối quan hệ mới và phải lẽ với chính Ngài là một hành động ân điển hoàn toàn: Ngài hành động không phải vì ép buộc và không vì lý do nào khác ngoài ý muốn của chính Ngài (4:4-5,13-16 11:6). Đây là lý do tại sao đức tin, một hành động của sự chấp nhận và đầu phục, lại cần thiết để kinh nghiệm được sự công bình này. Hơn nữa, sự xưng công bình của chúng ta bắt nguồn từ sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Giê-xu Christ. Sự chuộc tội (apolytroseos) là một thuật ngữ thần học quan trọng khác trong phân đoạn này. Nó mô tả một hành động “chuộc khỏi tình trạng nô lệ” và cho thấy rằng qua Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đức Chúa Trời đã “thanh toán” đầy đủ cho tội lỗi của chúng ta hầu chúng ta được giải thoát khỏi sự ràng buộc của nó (3:9) để phục vụ một người chủ mới.
Câu 25 tiếp tục ý tưởng này bằng việc mô tả chi tiết hơn về bản chất của công việc Đấng Christ đã làm trên thập tự giá vì chúng ta. Từ ngữ theo chốt là hilasterion, được dịch là “của lễ chuộc tội”. Căn cứ vào cách sử dụng từ này trong ngôn ngữ Hi Lạp đời thường, nhiều người nghĩ rằng ở đây từ này có nghĩa là “sự làm nguôi”, tức là một hành động mà bởi đó cơn giận của Đức Chúa Trời được nguôi đi. Những người khác (như Dodd) vẫn giữ quan điểm cho rằng từ này có nghĩa là “sự đền tội” (xem bản RSV), một hành động mà bởi đó tội lỗi được tha thứ và “bôi xoá”. Nhưng bằng chứng về cách dùng từ này trong bản Bảy Mươi chỉ ra một chiều hướng có phần khác hơn và bao quát hơn. Trong bản dịch Bảy Mươi, từ này thường đề cập đến “nắp thi ân”, một bộ phận của bàn thờ tại nơi thánh. Từ này đặc biệt nổi bật trong Lê-vi Ký 16, đoạn mô tả nghi thức của Đại lễ chuộc tội. Chính trên “nắp thi ân”này mà huyết của sinh tế được rảy ra, “để chuộc tội” cho dân sự. Vì ở lần xuất hiện duy nhất khác trong Kinh Thánh Tân Ước (He 9:5), từ hilasterion đề cập đến “chỗ chuộc tội” này, nên rất có thể ở đây Phao-lô cũng sử dụng từ này với cùng ý nghĩa. Khi đó, điểm Phao-lô muốn nói đến có thể là Chúa Cứu Thế Giê-xu là bản sao trong Tân Ước của “nắp thi ân” trong Cựu Ước. Vì “nắp thi ân” này là nơi Đức Chúa Trời đoái đến tội lỗi của dân sự, vì thế hiện nay Chúa Cứu Thế Giê-xu đã được bày tỏ (giới thiệu công khai cho mọi người biết) là “nơi” mà Đức Chúa Trời giải quyết tội lỗi của con người, sau cùng và mãi mãi. Nay Ngài đã thực hiện việc đền tội và cũng như trong Cựu Ước, việc đền tội này bao gồm cả sự tha tội chấm dứt và làm xoá đi cơn giận của Đức Chúa Trời – nguôi đi. Dĩ nhiên, sự nguôi đi này toàn toàn khác với kiểu “mua chuộc “của các vị thần thất thường và tự phục vụ được mô tả trong một vài tôn giáo cổ. Sự nguôi đi diễn ra ngay tại thập tự giá là món quà tặng của chính Đức Chúa Trời và bao gồm cả sự thoả mãn cơn giận công chính và thánh khiết của Ngài đối với tội lỗi.
Bước thứ tư trong phần trình bày của Phao-lô về sự công bình của Đức Chúa Trời khẳng định rằng cách thức Đức Chúa Trời xưng công bình cho tội nhân làm duy trì tính công chính và thánh khiết của Ngài (c.25b-26). Mấu chốt để hiểu những câu này chính là việc nhận thức được “sự công bình của Đức Chúa Trời” được đề cập ở đây có một ý nghĩa khác với ý nghĩa của nó trong câu 21-22. Vì trong Ro 3:5 (xem chú thích ở đó), đề cập đến sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với chính thân vị và lời của Ngài theo nghĩa tổng quát. Vì thế bản NIV dịch chữ dikaiosyne là “công bình” ở cả hai chỗ xuất hiện của nó trong những câu này. Trong quá khứ, Đức Chúa Trời đã “bỏ qua”, không trừng phạt nghiêm khắc tối đa (paresis) tội lỗi của dân Ngài. Ngài đã xưng công bình cho những con người như Áp-ra-ham và Đa-vít mà không đưa ra hình phạt đầy đủ đối với tội lỗi của họ. Nay sự hình phạt ấy đã được Chúa Cứu Thế trả trên thập tự giá, bày tỏ Đức Chúa Trời là Đấng công bình cả trong việc Ngài bỏ qua các tội phạm trước kia (c.25b) và cả trong việc Ngài xưng công bình cho những kẻ có tội trong thời hiện tại (c.26a). Vì thế, trong một câu tóm tắt toàn bộ phân đoạn Kinh Thánh, Đức Chúa Trời vừa được xem là Đấng công bình vừa là Đấng xưng công bình kẻ nào tin đến Đức Chúa Giê-xu (c.26b). James Denney đã trình bày phần tóm tắt rất hay của mình về phân đoạn Kinh Thánh này: “Sẽ không có Phúc Âm nếu như không có một sự công bình của Đức Chúa Trời dành cho người vô tín (the ungodly). Nhưng cũng khó có được Phúc Âm nếu sự chính trực của bản tính Đức Chúa Trời không được duy trì. Vấn đề của thế giới tội lỗi này, vấn đề của mọi tôn giáo, vấn đề của Đức Chúa Trời trong việc giải quyết một dòng giống tội lỗi, là làm sao để hiệp hai điều này làm một. Câu trả lời của Cơ Đốc giáo cho vấn đề này được Phao-lô trình bày qua những lời: “Giê-xu Christ Đấng Đức Chúa Trời đã lập ra để giải hoà (hay, trong quyền năng làm nguôi giận) qua huyết Ngài” (The Death of Christ, của J. Denney, -Tyndale, 1951, p.98).
5. Chỉ nhờ đức tin (Ro 3:27-4:25)
(Ro 3:27-31) Phân đoạn Kinh Thánh này bàn kỹ về một yếu tố chủ chốt trong phần tóm tắt thần học quan trọng của phân đoạn 3:21-26 đức tin là phương tiện duy nhất của việc xưng công bình. Phao-lô khai triển luận điểm này thành hai giai đoạn, thứ nhất là phần phát biểu tổng quát (3:27-31) và thứ hai (4:1-25) là phần xem xét kỹ về một ví dụ cụ thể – Áp-ra-ham. Hai phần này không những tập trung vào cùng một chủ đề, mà còn khai triển nó theo cùng một cách:
3:27a Sự khoe mình được loại trừ Áp-ra-ham không thể 4:1-2
khoe mình
3:27b-28 Vì một người được xưng Áp-ra-ham được xưng 4:3-8
công bình bởi đức tin, công bình bởi đức tin,
không phải bởi việc làm không phải bởi việc làm
của luật pháp
3:29-30 Qua đức tin, người cắt bì Người cắt bì và người 4:9-17
và người không cắt bì không cắt bì trở nên một
trở nên một trong Đức với tư cách là con cháu
Chúa Trời Áp-ra-ham theo đức tin
“Chỉ nhờ đức tin”: Bản tuyên ngôn mở đầu Bằng phong cách thảo luận thường dùng trong thư Rô-ma, Phao-lô tiếp tục phần lý luận của mình bằng một câu hỏi khác: Vậy thì sự khoe mình ở đâu? Có lẽ Phao-lô đặt câu hỏi này với người Do Thái cụ thể ở trong trí. Như Phao-lô đã lưu ý ở những chỗ khác, người Do Thái có khuynh hướng xem việc làm của mình như là cơ sở cho mối quan hệ của họ với Đức Chúa Trời (9:30-10:3 đối chiếu Phi 3:2-9). Sự công bình của Đức Chúa Trời được ban cho “không bởi luật pháp” và qua đức tin trong Chúa Cứu Thế Giê-xu (c.21-22) cho thấy sự ngu xuẩn hoàn toàn của sự tự hào đó. Phao-lô tuyên bố tội lỗi đã bị trừ bỏ rồi qua luật pháp (nguyên tắc) của đức tin. Chữ luật pháp được dịch từ chữ nomos tiếng Hi Lạp, và nhiều học giả cho rằng nomos đề cập đến luật Môi-se, như thường được đề cập trong thư Phao-lô. Vì vậy, điều chính yếu mà Phao-lô muốn nói là sự khoe khoang phải bị loại bỏ vì người ta không chỉ thấy trong luật pháp Môi-se những đòi hỏi về việc làm (làm theo luật pháp) mà còn ẩn chứa cả lời kêu gọi về đức tin nữa. Nhưng câu 28, có lẽ là một phần bàn luận tỉ mỉ của Phao-lô về câu 27, trình bày sự tương phản giữa “việc làm theo luật pháp” và “đức tin” đã khiến cho cách giải thích này không còn chắc chắn nữa. Từ nomos có thể dịch ra là “nguyên tắc,” cách này khiến cho mạch văn ở đây có ý nghĩa rõ ràng hơn: sự khoe mình của người Do -thái là kết quả của việc họ có sự chú trọng đến luật pháp Môi-se cùng những yêu cầu tuân thủ luật pháp của nó, và điều này sẽ phải bị loại bỏ khi người ta nhận ra được chân lý người ta được xưng công bình bởi đức tin, chớ không phải bởi việc làm theo luật pháp (c.28) (làm theo luật pháp một lần nữa được dịch từ chữ ergôn nomou, nghĩa là “công việc của luật pháp” xem chú giải về Ro 3:20).
Ở những câu 29-30, Phao-lô trích dẫn phần giáo lý chủ yếu của người Do Thái về tính duy nhất của Đức Chúa Trời (Phu 6:4) như một lập luận khác ủng hộ cho đặc tính cá biệt của đức tin. Vì nếu Đức Chúa Trời thật là Đức Chúa Trời của mọi người, thì khi đến gần Đức Chúa Trời, tất cả mọi người đều có giá trị như nhau và theo cùng một phương cách. Luật Môi-se, kinh Torah không còn là một “bức tường ngăn cách” giữa người Do Thái và người ngoại nữa (Eph 2:11-22). Đức Chúa Trời xưng công bình cho người chịu cắt bì (người Do Thái) lẫn người không chịu cắt bì (người ngoại quốc) bởi đức tin. (Bản văn tiếng Hi Lạp nói về việc Đức Chúa Trời xưng công bình cho người Do Thái “vì “ –ek- đức tin và người ngoại quốc “qua” –dia- đức tin, nhưng có lẽ nghĩa của chúng không có gì khác nhau).
Câu cuối cùng của phân đoạn này (c.31) một lần nữa tiết lộ ước muốn của Phao-lô trong việc ngăn ngừa độc giả của ông rút ra từ lập luận của ông lời kết luận quá cực đoan chống lại luật pháp. Sự bác bỏ thẳng thắn của Phao-lô rằng luật pháp không có vai trò gì trong việc xưng công bình bởi đức tin (c.20-21,27-28) không có nghĩa là ông tìm cách để bỏ luật pháp. Trái lại, Phao-lô nhấn mạnh rằng chúng ta làm vững bền luật pháp. Tiếc thay, ở phần này Phao-lô không giải thích lời giảng của mình làm vững bền (hay “thiết lập”, tiếng Hi Lạp là histemi) luật pháp ra sao. Có thể ông muốn nói rằng giáo lý của ông về việc được xưng công bình bởi đức tin hoàn toàn phù hợp với sự dạy dỗ của Ngũ Kinh (“luật pháp”), như ông đã trình bày rõ trong chương 4. Tuy nhiên, đúng hơn có thể do ở các câu 27-28, điều ông chú trọng là những yêu cầu của luật pháp, nên ông giảng rằng chính đức tin giúp cho việc hoàn thành những đòi hỏi của luật pháp được trọn vẹn. Giống như điều Phao-lô sẽ trình bày trong Ro 8:4, sự công bình mà luật pháp đòi hỏi sẽ được làm trọn trong những người đầy dẫy Đức Thánh Linh.
(Ro 4:1-25). Chỉ nhờ đức tin: đức tin của Áp-ra-ham Bây giờ Phao-lô trình bày chi tiết về những điều ông đã nêu ngắn gọn trong 3:27-31 bằng cách đề cập đến lịch sử của Áp-ra-ham. Đối với Phao-lô, việc trích dẫn Áp-ra-ham ở phần nối kết này là rất quan trọng vì hai lý do. Thứ nhất, Do Thái giáo coi trọng Áp-ra-ham nhưng có khuynh hướng xem ông là một người tiên phong vĩ đại trong việc giữ lòng “trung thành với luật pháp (torah)”, một người làm hài lòng Đức Chúa Trời hơn cả do việc làm theo luật pháp của ông. Thứ hai Áp-ra-ham, người có được những lời hứa của Đức Chúa Trời và là tổ phụ của dân Do Thái, giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử cứu rỗi của Cựu Ước. Đặc biệt là Phao-lô cũng quan niệm như vậy, vì ông thấy rằng một trong những sai lầm chủ yếu của những người Do Thái cùng thời ông là nhấn mạnh giao ước Môi-se theo những điều mà Đức Chúa Trời đã hứa trước đây với Áp-ra-ham (Ga 3:15-18). Vì vậy, Phao-lô cần phải trích dẫn Áp-ra-ham để chứng minh rằng việc ông nhấn mạnh sự xưng công bình bởi đức tin không phải là một giáo thuyết mới mẻ, có tính cách mạng, mà là sự dạy dỗ của Kinh Thánh từ buổi ban đầu. Hơn nữa, Phao-lô trích dẫn Áp-ra-ham để giải thích rõ ràng đức tin là gì. Ông đã thực hiện điều này bằng một loạt những sự tương phản làm thúc đẩy nguyên tắc mang tính cách mạng vĩ đại là sola fide (“chỉ nhờ đức tin”).
1-8 Trong phần này Phao-lô bàn đến sự đối kháng của đức tin và việc làm. Câu hỏi mở đầu chương này giống với câu hỏi mở đầu Ro 3:27-31 Vậy, chúng ta sẽ nói Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, theo xác thịt đã được lợi ích gì? nghĩa là trong vấn đề khoe mình và xưng công bình? Vì nếu Áp-ra-ham được xưng công bình bởi việc làm như một số người Do Thái nghĩ thì chắc hẳn ông thật sự có lý do chính đáng để khoe mình, và kết luận của Phao-lô rằng sự khoe mình phải bị loại bỏ (3:27) đang bị đe dọa. Nhưng trước mặt Đức Chúa Trời không có như vậy (c.2b) là câu trả lời của Phao-lô cho giả thuyết này. Điều này có lẽ mang ý nghĩa là Áp-ra-ham có một cơ sở để khoe mình trước mặt người khác, “nhưng không phải trước mặt Đức Chúa Trời” hay, cũng có thể điều kiện mà Phao-lô đã nêu ra – nếu Áp-ra-ham đã được xưng công bình bởi việc làm – phải bị loại bỏ khi chúng ta đặt vấn đề “trước” sự phán quyết của Đức Chúa Trời. Phán quyết này đã được chính lời Kinh Thánh đưa ra: Áp-ra-ham tin Đức Giê-hô-va, thì Ngài kể sự đó là công bình cho người (Sa 15:6). Khúc Kinh Thánh này trở thành nền tảng cho phần lý giải còn lại của Phao-lô. Ông bày tỏ rằng “việc xưng công bình” này là hoàn toàn đúng vì nó được căn cứ trên đức tin, chứ không phải “việc làm” (c.4-8), phép cắt bì (c.9-12) và luật pháp (c.13-17). Ông trình bày tỉ mỉ chính sức mạnh và bản chất của đức tin này nơi Áp-ra-ham đã khiến ông nhận được sự công bình (c.18-21) trước khi trích dẫn lại khúc Kinh Thánh này (c.22), và sau đó giải thích rõ phần ứng dụng của nó cho độc giả của mình (c.23-25).
Mục đích của Phao-lô trong câu 4-5 là trình bày sự tương phản giữa đức tin và việc làm. Ở một khía cạnh, việc làm ám chỉ một tình huống của bổn phận. Một người “làm việc” thì sẽ nhận lương mà người chủ có nghĩa vụ phải trả. Ở một khía cạnh khác, đức tin ngụ ý tình huống ban cho miễn phí. Như một hành động nhận lãnh với thái độ khiêm nhường, đức tin không đòi hỏi gì ở người cho mà người cho cũng không có “bổn phận” phải trả. Những điểm tương phản này cho thấy rõ rằng việc xưng công bình phải cậy vào đức tin. Theo định nghĩa, điều này do Đức Chúa Trời, là một Đức Chúa Trời của ân điển, một Đức Chúa Trời xưng người có tội là công bình (c.5). Con người không được phép bước vào mối quan hệ với Đức Chúa Trời vì họ đã tìm kiếm điều này bằng sự công bình riêng của mình. Chính “kẻ ác”, là người không có sự công bình riêng để bào chữa cho tình trạng của mình, được Đức Chúa Trời chấp nhận. Ở đây Phao-lô nhắc chúng ta về một trong những chân lý vĩ đại của Thánh Kinh: con người không thể tác động đến sự chú ý của Đức Chúa Trời. Thiết lập được một mối quan hệ với Ngài là một vấn đề của sự ban cho miễn phí của Ngài, sẽ được nhận lãnh bằng đức tin khiêm nhường.
Để nhấn mạnh điểm ông đã rút ra từ Ngũ kinh (15:6), Phao-lô đã thêm vào một đoạn Kinh Thánh từ quyển “Writings” theo cách của người Do Thái. Trong Thi 32:1-2, Đa-vít cũng nói rõ rằng Đức Chúa Trời xưng công bình cho con người chẳng bởi việc làm. Đa-vít nói rõ, sự phước hạnh là một vấn đề không phải tuỳ thuộc vào thành tích của một con người mà là vào sự tha thứ mà Đức Chúa Trời dành cho một người. Phao-lô trình bày rõ rằng nhóm từ “kể sự đó là công bình” trong Sa 15:6 có nghĩa là Đức Chúa Trời xem một người nào đã có được tư cách “công bình”, mà với tư cách này tội lỗi của người ấy không còn bị “kể đến”.
9-12 Phước về một tư cách công bình không đến từ phép cắt bì. Vì việc Đức Chúa Trời tuyên bố Áp-ra-ham công bình (Sáng Thế Ký 15) xảy ra trước khi ông chịu phép cắt bì (18:1-33 theo các thầy giáo luật thì hai sự kiện này diễn ra cách nhau hai mươi chín năm). Vì vậy, phép cắt bì không phải là cơ sở cho sự công bình của Áp-ra-ham, mà là một dấu hay một ấn của sự công bình mà Áp-ra-ham đã nhận lãnh được bởi đức tin. Chính cách này mà Ap-ra-ham được xem là cha của mọi kẻ tin. Vì, cũng như các tín hữu Cơ Đốc ngoại quốc, Áp-ra-ham được xưng công bình mà không phải chịu phép cắt bì (c.11b) và cũng như tín hữu người Do Thái, ông chịu phép cắt bì và được xưng công bình bởi đức tin. Cách đọc Sáng Thế Ký của Phao-lô, căn cứ vào sự hoàn tất chương trình của Đức Chúa Trời trong Christ khiến ông xem Áp-ra-ham không chỉ là tổ phụ của dân Do Thái (c.1 “tổ phụ theo phần xác”), mà còn là tổ phụ của tất cả Cơ Đốc Nhân.
Chú thích. 12 Trật tự từ trong câu này có thể cho phép chúng ta nghĩ rằng Phao-lô có hai nhóm độc giả riêng biệt trong đầu: người Do Thái – “những kẻ chịu cắt bì” – và tín hữu Cơ Đốc người Do Thái – “những kẻ không những chịu cắt bì mà thôi, lại cũng noi theo dấu đức tin mà Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta đã có…” Nhưng cách diễn giải được thể hiện trong cách dịch của bản NIV có thể thích hợp hơn. Trong bản này chỉ đề cập đến một nhóm người – các Cơ Đốc nhân người Do Thái.
13-17 Trong Ga 3:1-29, Phao-lô lập luận rằng luật Môi-se đã không ảnh hưởng gì đến tình trạng của Áp-ra-ham trước mặt Đức Chúa Trời vì luật này ra đời sau Áp-ra-ham nhiều thế kỷ. Trong chương 4, những lý luận của Phao-lô có nguồn gốc thiên về “nguyên tắc” hơn là về “lịch sử”. Để chứng minh việc làm theo luật pháp không ảnh hưởng gì đến việc Áp-ra-ham được “kể là công bình” (c.13), Phao-lô trích dẫn về điều yếu kém yếu của luật pháp (c.14-15), về ân điển (c.16), và quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời (c.17b) và “cương vị làm cha”chung của Áp-ra-ham (c.16b-17a).
Đức tin ra vô ích và lời hứa cũng bỏ rồi nếu việc hưởng phước của Áp-ra-ham phụ thuộc vào sự làm theo luật pháp. Bởi vì, như Phao-lô đã chỉ ra trước đây (Ro 3:9-20), không ai có thể làm theo luật pháp trọn vẹn đủ để hưởng được sự công bình trước mặt Đức Chúa Trời. Vì vậy, luật pháp không đem lại phước lành, mà đem lại sự giận (c.15). Bằng cách nêu ra một cách hết sức chi tiết yêu cầu của Đức Chúa Trời, luật pháp làm gia tăng trách nhiệm của tội nhân trước mặt Đức Chúa Trời. Điều không tránh khỏi là khi luật pháp bị vi phạm, tội lỗi của tội nhân còn nặng hơn khi không có luật pháp định tội. Đây chính là điều mà Phao-lô ám chỉ trong câu 15b khi ông tuyên bố rằng đâu không có luật pháp, thì không có sự phạm luật pháp. Ông không có ý nói “tội lỗi” sẽ không tồn tại nếu không có luật pháp, mà biểu hiện cụ thể của tội được gọi là “sự phạm luật pháp” (tiếng Hi Lạp là parabasis) chỉ có thể tồn tại bất chấp những điều răn cụ thể và rõ ràng của Đức Chúa Trời mà người ta phải có trách nhiệm. (Đây là ý nghĩa của từ parabasis luôn có trong thư tín của Phao-lô, 2:23 5:14 Ga 3:19 ITi 2:14.)
Phao-lô đề cập một cách ngắn gọn lý do thứ hai tại sao sự công bình không thể đến từ luật pháp: sự công bình được đặt trên luật pháp có thể mang nghĩa là nó được đặt nền tảng trên “việc làm” và vì thế khiến cho ân điển của Đức Chúa Trời ra vô ích (đối chiếu Ro 4:4-5). Điểm này có liên quan đến điều mà Phao-lô trình bày ở cuối câu 17, rằng Đức Chúa Trời mà Áp-ra-ham tin là Đấng ban sự sống cho kẻ chết và gọi những sự không có như có rồi. Điều này hướng đến việc mô tả đức tin của Áp-ra-ham trong câu 18-21, nhưng đồng thời nó củng cố ý tưởng về sự tự do và quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời. Với ý nghĩa đó, nó tương đương với việc trước đây Phao-lô mô tả về Đức Chúa Trời là Đấng xưng người có tội là công bình (c.5). Lý do thứ ba tại sao sự công bình không căn cứ trên luật pháp nhắc chúng ta về lập luận Phao-lô đã dùng trong 3:29-30. Ý định của Đức Chúa Trời ban phát cơ nghiệp Ngài hứa với Áp-ra-ham cho tất cả mọi người, như chính kinh thánh Cựu Ước cho biết: “Ta đã lập ngươi làm cha nhiều dân tộc “(Sa 17:5). Điều này chỉ có thể xảy ra khi việc hưởng cơ nghiệp không còn dựa trên một định chế đặc biệt – luật Môi-se – của người Y-sơ-ra-ên.
18-21 Trong phân đoạn ngắn này, Phao-lô tạm dừng lại để mô tả ngắn gọn về bản chất đức tin của Áp-ra-ham trước khi ông kết thúc phần giải thích của mình. Phao-lô chứng minh rằng Áp-ra-ham có một đức tin mạnh mẽ và kiên định bất chấp những bằng chứng cho thấy rằng điều Đức Chúa Trời đã hứa không thể xảy ra. Ông thấy tuổi tác của mình và sự son sẻ của Sa-ra theo phương diện con người thì không thể khiến cho lời hứa rằng ông sẽ có nhiều con cháu sẽ được ứng nghiệm. Thế nhưng khi chẳng còn lẽ trông cậy – loại hy vọng căn cứ trên những tiềm năng bình thường của con người – Áp-ra-ham cứ tin – loại hy vọng vượt lên trên hoàn cảnh để nương vào lời hứa và khả năng của Đức Chúa Trời. Hãy lưu ý ứng dụng đầy khích lệ của Calvin về phân đoạn Kinh Thánh này: “Chúng ta cũng hãy nhớ rằng tình cảnh của chúng ta cũng hoàn toàn giống với tình cảnh của Áp-ra-ham. Tất cả những điều chung quanh chúng ta đều trái ngược với lời hứa của Đức Chúa Trời: Ngài hứa sự sống đời đời, nhưng chúng ta bị vây hãm bởi sự hay chết và hư hoại Ngài tuyên bố rằng Ngài kể chúng ta là công bình, nhưng chúng ta ngập tràn tội lỗi Ngài xác nhận rằng Ngài là tốt lành và nhân từ với chúng ta những sự xét đoán bên ngoài cảnh báo về cơn giận của Ngài. Vậy chúng ta phải làm gì bây giờ? Chúng ta phải nhắm mắt lại để vượt qua chính mình và mọi điều gắn liền với chúng ta, đến nỗi không gì có thể ngăn chúng ta khỏi sự tin tưởng rằng Đức Chúa Trời là thật”.
Chú thích. 20 Việc Phao-lô khẳng định rằng Áp-ra-ham chẳng có lưỡng lự hoặc hồ nghi dường như mâu thuẫn với sự không tin và nụ cười xem thường của Áp-ra-ham trước lời hứa của Đức Chúa Trời trong Sa 17:17. Tuy nhiên, điều Phao-lô nhấn mạnh không phải Áp-ra-ham là một con người trọn vẹn, hay không có bất cứ sự ngờ vực nào, mà là thái độ kiên định của đức tin và hy vọng của ông vào lời hứa của Đức Chúa Trời.
22-25 Phao-lô kết thúc phần giải thích của ông về đức tin của Áp-ra-ham bằng cách trích dẫn lại câu Kinh Thánh then chốt 15:6 và làm rõ điều được hàm ý trong đó, rằng câu này và ý nghĩa của nó được ứng dụng trực tiếp cho tín hữu Cơ Đốc. Cũng như Áp-ra-ham, chúng ta tin nơi Đức Chúa Trời, Đấng ban sự sống cho kẻ chết cụ thể là tin nơi Đức Chúa Trời Đấng đã làm cho Đức Chúa Giê-xu, Chúa chúng ta, sống lại từ trong kẻ chết.
Câu 25 mô tả công việc của Chúa Giê-xu bằng hai lời tuyên xưng tương đương nhau (có thể là Phao-lô đang trích dẫn một lời tuyên xưng của Cơ Đốc nhân đầu tiên). Lời đầu đề cập đến Es 53:12 của bản Bảy Mươi, là phần nói về tôi tớ của Chúa đã bị “nộp vì cớ tội lỗi họ”. Chữ vì (tiếng Hy-lạp là dia) trong dòng thứ nhất có thể mang nghĩa là “bởi vì”: Chúa Giê-xu bị nộp cho đến chết vì điều đó cần thiết để giải quyết vấn đề tội lỗi của chúng ta. Tuy nhiên chữ vì trong dòng thứ hai có lẽ có nghĩa là “vì lợi ích của, với mục đích”: Chúa Giê-xu từ kẻ chết sống lại với mục đích mang lại cho chúng ta sự công bình. Mặc dù Phao-lô thường liên kết sự xưng công bình của chúng ta với sự chết của Đấng Cứu Thế, câu này cho thấy rằng sự sống lại của Ngài cũng có vai trò trong việc chúng ta được xưng công bình với Đức Chúa Trời.
3. PHÚC ÂM VÀ QUYỀN NĂNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI ĐỂ CỨU RỖI (Ro 5:1-8:39)
Nếu như “sự công bình là bởi đức tin từ đầu đến cuối” tóm tắt chủ đề của Ro 1:18-4:25 thì “quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu rỗi” là ý chính của 5:1-8:39. Qua việc bày tỏ quyền năng này, Phúc Âm không chỉ bảo đảm sự chấp nhận từ ban đầu của Đức Chúa Trời đối với tội nhân mà còn bảo đảm họ được giải cứu trong ngày phán xét. “Nếu được xưng công bình, sự cứu rỗi vào ngày sau rốt là điều chắc chắn” là chủ đề bao quát của Phao-lô, một chủ đề được giải thích đặc biệt ở đầu (chương 5) và cuối (chương 8) của phần này. Giữa các chương này, Phao-lô đề cập đến hai “thế lực” có thể làm ảnh hưởng đến sự giải thoát cuối cùng này của người tín hữu đã được xưng công bình, đó là tội lỗi (chương 6) và luật pháp (chương 7), cho thấy rằng trong mỗi trường hợp Cơ Đốc nhân đã được giải cứu khỏi sự trói buộc của các thế lực này. Vì thế, cấu trúc của các chương 5-8 được một số người gọi là “cách viết vòng tròn” và một số khác gọi là “giao thoa”, trong đó có một sự tương xứng giữa các thành phần đầu và cuối, thành phần thứ nhì và thành tố thứ nhì từ cuối tính lên và . v.v..
5:12-21 Cơ sở cho sự bảo đảm này trong công tác của Christ
6:1-23 Được giải phóng khỏi quyền lực của tội lỗi
7:1-25 Được giải phóng khỏi quyền lực của luật pháp
8:1-17 Cơ sở cho sự bảo đảm trong công tác của Christ, được Đức Thánh Linh gián tiếp thực hiện
8:18-39 Bảo đảm sự vinh hiển trong tương lai
1. Bảo đảm sự vinh hiển trong tương lai (Ro 5:1-11)
Phao-lô bắt đầu một phần mới của bức thư mình ở 5:1 (chứ không phải tại 6:1 chẳng hạn). Điều này được thể hiện qua phần chuyển tiếp “vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin” ở câu 1 tại điểm này, với một sự chuyển đổi từ việc nhấn mạnh vào “đức tin” (ba mươi ba lần trong 1:18-4:25 so với ba lần trong các chương 5 - 8) sang nhấn mạnh vào “sự sống” (hai mươi bốn lần trong các chương 5-8 so với hai lần trong 1:18-4:25) và qua sự rõ ràng của chủ đề và cấu trúc được phát họa ở trên.
Xuyên suốt các chương 5-8 là câu hỏi được tạo ra bởi sự căng thẳng giữa giáo lý của Phao-lô cho rằng một người được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời ngay từ giây phút họ tin nhận Chúa và lẽ thật Thánh kinh cho rằng mọi người còn phải đối diện với ngày phán xét của Đức Chúa Trời. Hai lẽ thật này liên quan với nhau như thế nào? Tôi có thể chắc rằng việc bây giờ tôi được xưng công bình sẽ có ích lợi nào đó cho tôi trong ngày phán xét? Về câu hỏi này, Phao-lô trả lời trong phân đoạn Kinh Thánh này cách nhấn mạnh rằng: “Có!”. Chúng ta khoe mình (vui mừng) trong sự trông cậy về vinh hiển Đức Chúa Trời (c.2b) và sự trông cậy không làm cho hổ thẹn (c.5a). Từ những sự bảo đảm trên đây, chúng ta nhận ra trọng tâm của phân đoạn này.
Câu 1-2a hướng tới những sự bảo đảm này bằng một lời nhắc nhở về những gì mà Cơ Đốc nhân đã được xưng công bình bởi đức tin đang tận hưởng: hoà thuận với Đức Chúa Trời, một mối quan hệ mà trong đó chúng ta không còn bị đe doạ bởi cơn giận của Đức Chúa Trời và vào trong ơn này là ơn chúng ta hiện đang đứng vững, liên tục được dự phần vào các phước lành được bảo đảm bởi ân điển của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế. Tuy nhiên, Phao-lô nhận thấy những tranh chiến mà Cơ Đốc nhân vẫn phải đối diện trong thế gian. Nhưng những tranh chiến này không thể đe doạ sự bình an và sự bảo đảm của chúng ta, mà thực sự mang lại cho chúng ta sự bảo đảm chắc chắn hơn về những điều này (c.3b-4). Vì hoạn nạn được Đức Chúa Trời dùng để tạo ra trong chúng ta sự nhịn nhục, là khả năng chịu đựng. Sự nhịn nhục sinh ra sự rèn tập (nghị lực) (dokimç), là sức mạnh có được từ những cuộc thử nghiệm khắc nghiệt, và sự rèn tập lại sinh ra sự trông cậy (hy vọng). Vì Đức Chúa Trời làm công việc ấy trong đời sống chúng ta, và vì chúng ta quá ao ước có được loại nghị lực và hy vọng này, vậy chúng ta nên vui mừng trong sự hoạn nạn (c.3a). Ở đây Phao-lô phản ánh một quan điểm thường gặp nơi các Cơ Đốc nhân đầu tiên, đó là các phẩm chất thiên thượng giá trị hơn nhiều so với những hoạn nạn đời này (8:18 Gia 1:2-4 IPhi 1:6-7) – một quan niệm mà có quá nhiều tín hữu Cơ Đốc ngày nay đánh mất.
Câu 5b-8 đặt hy vọng Cơ Đốc (c.5a) trên một nền tảng không lay chuyển là tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta trong Chúa Cứu Thế. Đức Thánh Linh có thể làm cho người tin Chúa cảm nhận từ trong lòng rằng Đức Chúa Trời đã tuôn đổ tình yêu thương của Đức Chúa Trời khắp - ekcheơ trong lòng chúng ta. Thêm vào sự nhận thức sâu sắc từ bên trong này là sự bày tỏ cách khách quan , mang tính lịch sử về tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta qua thập tự giá của Chúa Cứu Thế. Trên thập tự giá, tình yêu của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ cho thế gian, đó là tình yêu vượt xa tình yêu tiêu biểu của con người, loại tình yêu mà một người chỉ có thể chịu chết vì người lành (c.7). Chính do bản chất tình yêu của Đức Chúa Trời mà Ngài đã hy sinh chính Con Ngài vì kẻ có tội (6,8) –vì những người đã khước từ việc tôn vinh và thờ phượng Ngài (đối chiếu Ro 1:21-22). Đây chính là y tưởng được chuyển tải trong cụm từ vào đúng thời điểm (6a): chính thời điểm khi chúng ta còn yếu đuối thì Chúa Cứu Thế đã chết vì chúng ta. Đức Chúa Trời không chờ chúng ta trở lại với Ngài trước nhưng Ngài đã can thiệp bằng một hành động ân điển hoàn toàn để ban cho chúng ta một con đường trở lại Ngài.
Hai câu 9 và 10 cùng tập trung những phần chính từ câu 1 đến câu 8 để nhắc lại tính chắc chắn về niềm hy vọng của Cơ Đốc Nhân (c.2,5a). Rõ ràng những phần này tương tự nhau. Phao-lô xác nhận mối liên kết không thể phá vỡ giữa đia vị hiện tại của tín hữu trước mặt Đức Chúa Trời (nhờ huyết Ngài được xưng công bình, được hoà thuận lại với Ngài) và địa vị của họ trong tương lai (được cứu khỏi cơn thạnh nộ, được cứu). Lập luận của ông đi từ “điều lớn lao” đến “điều nhỏ nhặt”. Đức Chúa Trời đã làm “điều lớn lao” khi đem chúng ta vào mối quan hệ với Ngài bằng một giá đắt là huyết của Con Ngài và khi chúng ta còn là thù nghịch cùng Đức Chúa Trời. Chúng ta đã ở trong một tình trạng thù nghịch hai chiều mà trong đó cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên chúng ta (1:18) còn chúng ta là kẻ ghét Đức Chúa Trời (1:30). Vì thế, chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ làm điều mà lập luận này cho là việc nhỏ: giải cứu chúng ta là những kẻ Ngài đã từng đồng ý giáng cơn giận của Ngài trong ngày phán xét. Câu 11 tóm tắt phân đoạn này bằng cách nhắc lại một số ý chính: “vui mừng” (c.2-3), hiện tại được hoà thuận lại với Đức Chúa Trời (c.1b,10), và trên hết, sự vui mừng và hoà thuận này chỉ có được qua Đức Chúa Giê-xu Christ chúng ta.
Chú thích 1 Có một dạng biến thể có sự chứng thực chắc chắn đã được dùng, đó là động từ thuộc thể cầu khẩn “chúng ta hãy” (echômen) đã được dùng thay cho động từ thuộc thể trình bày “chúng ta được” (echomen). Điều này có tác dụng khiến câu 1 trở thành một lời kêu gọi hãy làm hoà với Đức Chúa Trời hơn là một lời tuyên bố chúng ta đang tận hưởng điều đó. Tuy nhiên, dù có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ thủ bản của nó (hai bản sao quan trọng nhất về các thư tín của Phao-lô dùng động từ thuộc thể cầu khẩn) và được nhiều học giả chấp nhận (chẳng hạn như Sanday-Headlam, Murray), lối diễn đạt theo thể trình bày vẫn làm mạch văn rõ nghĩa hơn và được chứng thực rộng rãi và chắc chắn.
2. Quyền cai trị của ân điển và sự sống (Ro 5:12-21)
Quyền năng vâng phục của Đấng Christ thắng hơn hành động không vâng lời của Áp-ra-ham là chủ đề lớn của phân đoạn này. Phao-lô giới thiệu cả A-đam và Đấng Christ là “những nhân vật đại diện” mà hành vi của họ quyết định số phận của tất cả những người thuộc về họ. Như bởi A-đam phạm tội, và qua tội lỗi của người, tất cả những kẻ thuộc về người phải gánh lấy tội lỗi và sự chết (c.12a,18a,19a), thì Đấng Christ đã vâng phục, và qua sự vâng phục của Ngài, tất cả những ai thuộc về Ngài đã đựơc công bình và sự sống (c.18b,19b). Phần nhấn mạnh được đặt ở vế “thì” của phép so sánh. Phao-lô thừa nhận lẽ thật về tội lỗi của A-đam và quyền cai trị của sự chết mà nó tạo ra, một giáo lý được tìm thấy trong văn chương Do Thái với những đặc điểm nhấn mạnh khác nhau. Điều Phao-lô muốn dạy dỗ chúng ta ở đây là sự phó mình của Chúa Cứu Thế trên thập tự giá đã thiết lập vương triều– vương triều của sự sống hơn là của sự chết, của ân điển (c.15-17,21) hơn là của công giá. Người tin Chúa có thể bảo đảm chắc chắn về sự sống đời đời vì chúng ta đã được chuyển vào vương quốc mới này, nơi mà ân điển và sự sống cai trị (c.21). Giáo lý về sự chắc chắc được sự sống trong Chúa Cứu Thế hỗ trợ cho những điều Phao-lô đã dạy trong Ro 5:1-11. Chúng ta có thể tin chắn rằng mình sẽ được cứu vào ngày sau rốt (c.9-10) vì mối quan hệ của chúng ta với Chúa Cứu Thế bảo đảm chúng ta sẽ “ngự trị trong sự sống” (c.17).
Phao-lô bắt đầu trình bày ý chính của mình về sự tương đồng giữa A-đam và Đấng Christ trong câu 12, nhưng ông tự làm gián đoạn nó trước khi phần trình bày này hoàn tất. Vì vậy, chúng ta có phần như bởi mà không có phần “cũng một lẽ ấy” tương ứng (hầu hết các bản dịch Anh ngữ đều đánh dấu cho một sự ngắt quãng về ý tưởng này bằng một dấu gạch ngang ở cuối câu). Chỉ trong những câu 18-19, Phao-lô mới trở lại so sánh đầy đủ. Mệnh đề như bởi này thể hiện những ảnh hưởng rộng khắp của tội lỗi một người là A-đam: nó đã đem sự chết đến cho thế gian và bằng cách này (nghĩa là qua sự phạm tội) sự chết đã rải khắp trên tất cả mọi người. Nhiều học giả cho rằng “sự chết” mà Phao-lô đề cập ở đây chỉ là sự chết thuộc thể (Sanday-Headlam, Godet, Murray) một số khác lại cho rằng nó chỉ đề cập đến sự chết “tâm linh” mà thôi. Nhưng có lẽ điều này bao gồm cả hai ý nghĩa đó, sự phân cách khỏi mối thông công với Đức Chúa Trời và sự chết thuộc thể là sự phán xét của Đức Chúa Trời dành cho tội lỗi.
Mệnh đề cuối của câu này giải thích lý do tại sao sự chết lại xảy ra cho hết thảy mọi người, vì mọi người đều đã phạm tội. (Như đã được thừa nhận rộng rãi, từ eph hơ tiếng Hi Lạp phải được dịch là “vì”). Có lẽ điều này có nghĩa mỗi người đều phải chết bởi vì mỗi người đều đã phạm tội, trong máu thịt của mình. Nhưng việc Phao-lô nhấn mạnh về cách trong đó một tội, sự không vâng phục của một người đã đưa đến phạm tội và chịu đoán phạt của tất cả mọi người (ý này được lặp lại trong câu 10a và câu 19a) cho thấy rằng cũng trong câu 12 ông đang nghĩ về sự phạm tội của tất cả mọi người xảy ra trong mối liên hệ với A-đam. Có lẽ điều ông định nói chính là tất cả mọi người đều phạm tội (c.12) vì họ thừa hưởng “bản chất tội lỗi” hư hoại từ A-đam (c.18-19). Nhưng hai câu 18-19 cho thấy mối quan hệ gần gũi giữa tội lỗi của A-đam và tội lỗi của chúng ta rõ hơn câu này. Vì vậy, tốt hơn chúng ta nên nghĩ rằng sự phạm tội của tất cả mọi người mà câu 12 đề cập thực chất là sự phạm tội xảy ra “trong” A-đam. Có thể Phao-lô nghĩ về điều này theo nghĩa “sinh vật học”: cả loài người đều phạm tội trong A-đam, bởi vì xét về mặt dòng dõi thì tất cả chúng ta đều “hiện diện” trong người (ý tương tự với ý này, He 7:10). Hoặc có thể ông nghĩ đến sự đoàn kết theo nghĩa “pháp lý”: với tư cách là đại diện cho con người được Đức Chúa Trời chỉ định, tội lỗi của A-đam được Đức Chúa Trời kể chính là tội lỗi của tất cả mọi người, và chính vì tội lỗi mà mọi người đều phải chết. Dù ở trường hợp nào đi nữa, thì điểm quan trọng đối với Phao-lô và đối với chúng ta là tất cả mọi người vì có mối quan hệ với A-đam nên đều là tội nhân chịu án phạt của sự chết.
Phao-lô cắt đứt phần so sánh mà ông đã bắt đầu ở câu 12 để chèn vào hai phần bên lề, gồm các câu 13-14 và 15-17. Phần thứ nhất bảo vệ lời dạy của Phao-lô ở câu 12 về tính phổ quát của sự chết trước sự phản kháng có thể xảy ra, đó là một người sẽ không phải chịu trách nhiệm về tội lỗi của họ nếu họ không “phạm” luật pháp Môi-se (đối chiếu Ro 3:20 và 4:15). Phao-lô đáp lại cách đơn giản bằng cách xác nhận thực tế là sự chết đã lan tràn suốt quảng thời gian trước khi có luật Môi-se. Phần thứ hai (c.15-17) nhấn mạnh hai điểm tương phản giữa A-đam và Đấng Christ. Trước hết, sự tương phản về ảnh hưởng của hành động của họ: tội của A-đam đưa đến sự đoán phạt (c.16) và sự chết (c.17) Đấng Christ đã đem đến sự xưng công bình (c.16) và sự công bình (c.17). Thứ hai, có một sự tương phản về quyền năng của những hành động này. Hành động của A-đam chắc chắn là có đủ quyền lực, mang tội lỗi, sự chết và đau khổ đến cho toàn thế gian như nó vẫn đang làm. Nhưng Phao-lô xác nhận, huống chi hành động của Đấng Christ và những ảnh hưởng của nó mạnh mẽ là dường nào (c.15,17). Đó là vì ân điển của Đức Chúa Trời hành động qua Đấng Christ, và ân điển của Đức Chúa Trời có quyền năng hơn hẳn để chế ngự mọi hành động của A-đam.
Cuối cùng trong c.18-19, Phao-lô đã hoàn tất phần so sánh giữa A-đam và Đấng Christ. Những câu này tương tự nhau, mỗi câu so sánh cách mà qua đó tội/sự không vâng phục của A-đam đã đem lại sự đoán phạt và sự phạm tội với cách mà qua đó một hành động công bình/vâng phục của Đấng Christ đem đến sự xưng công bình và sự công bình. Nhưng có phải sự tương đồng giữa những câu này kéo theo những tác động rộng khắp của những kết quả? Có lẽ là đúng như vậy, vì Phao-lô đã xác nhận trong câu 18 rằng tác động của hành động của A-đam lẫn của Đấng Christ rải khắp mọi người. Thế nhưng có chỗ Phao-lô rõ ràng đã bác bỏ quan niệm cho rằng tất cả mọi người đều sẽ được cứu rỗi (Ro 2:12 IITe 1:8-9) và c.17 cũng cho thấy rõ rằng chỉ những kẻ nhận ân điển và sự ban cho của sự công bình cách dư dật sẽ cai trị trong sự sống. Vì vậy, chúng ta phải hiểu tính chất phổ quát của câu 18 về ý nghĩa tượng trưng của mỗi cá nhân: những ảnh hưởng của hành động của Đấng Christ dành cho tất cả những người thuộc về Ngài, cũng như những ảnh hưởng của hành động của A-đam dành cho tất cả những ai thuộc về người. ất cả mọi người, không loại trừ một ai cả, đều thuộc về A-đam (c.12) nhưng chỉ những người đến với đức tin, là những người “nhận lãnh sự ban cho”, mới thuộc về Đấng Christ (ICo 15:22-23).
Phân đoạn Kinh Thánh này kết thúc bằng một ghi chú bổ sung về luật pháp (c.20) và một lời tóm tắt cuối cùng. Việc Phao-lô một lần nữa đề cập đến luật pháp (đối chiếu c.13-14) cho thấy mức độ Phao-lô bận tâm với những vấn đề “Do Thái” trong thư Rô-ma. Điều ông muốn nói ở đây là luật Môi-se không thể làm thay đổi tình trạng tội lỗi và sự chết mà A-đam gây ra cho nhân loại. Thật vậy, luật pháp đã khiến cho sự việc càng tồi tệ hơn, nó làm tăng thêm tội lỗi bằng cách biến tội chống lại Đức Chúa Trời thành một sự phản loạn nghiêm trọng chống lại những điều răn rõ ràng của Ngài (xem bình giải về Ro 4:15). Thế nhưng, nơi có tội lỗi “gia thêm”, thì ân điển của Đức Chúa Trời càng dư dật hơn nữa. Phao-lô kết luận, kết quả là quyền cai trị của sự chết đã được thay thế bằng quyền cai trị của ân điển dành cho những người ở trong Christ, mang đến cho chúng ta một địa vị công bình mới (đối chiếu 3:21-4:25) và tất yếu dẫn đến sự sống đời đời bởi Đức Chúa Giê-xu Christ, là Chúa chúng ta.
Chú thích. 12 Chữ cho nên được bản NIV dịch từ chữ dia touto, nghĩa là “vì lý do này”. Trong mạch văn này, có thể từ dia có nghĩa “cuối cùng” – “vì lợi ích của, với mục đích” – và có lẽ toute nói đến tính chất nhìn lại những gì đã qua, đề cập lại về tính chắc chắn của chủ đề cứu rỗi trong c.9-10. Vì vậy, toàn bộ cụm từ này có nghĩa là “vì mục đích bảo đảm cho sự cứu rỗi sau cùng này”.
3. Thoát khỏi sự ràng buộc của tội lỗi (Ro 6:1-23)
Lời khẳng định của Phao-lô rằng Cơ Đốc nhân, những người đã được xưng công bình sẽ hoàn toàn được cứu khỏi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (5:9-10) bởi vì nhờ sự hiệp làm một với Đấng Christ mà họ được dời vào vương quốc của ân điển và sự sống (5:12-21). Điều này đã làm nảy sinh thắc mắc về tội lỗi trong đời sống Cơ Đốc nhân. Phải chăng tội lỗi không có thể làm gián đoạn quá trình này, nghĩa là ngăn cản các tín hữu đã được xưng công bình không thể đạt được sự cứu rỗi và vinh quang vào ngày sau rốt? Trong chương 6 Phao-lô giải quyết thắc mắc này, trả lời nó bằng cách xác nhận rằng trong Đấng Christ người tín hữu không những được giải cứu khỏi hình phạt của tội lỗi – được xưng công bình – mà còn được giải cứu khỏi quyền lực của tội lỗi, được nên thánh. Không hạn chế mối đe doạ liên tục mà tội lỗi thường đặt ra trong đời sống Cơ Đốc, Phao-lô khẳng định rằng Cơ Đốc nhân đã được đưa vào một mối quan hệ hoàn toàn mới với tội lỗi, một mối quan hệ mà trong đó tội lỗi không còn quyền lực để “làm chủ” hay trói buộc chúng ta (c.6,14,18,22). Xuyên suốt chương này (và, như chúng ta sẽ thấy trong chương kế tiếp), Phao-lô mô tả từng trải Cơ Đốc ở khía cạnh dời từ “hệ thống cai trị” hay “vương quốc” này sang một từ “hệ thống cai trị” hay “vương quốc” khác. Phao-lô khẳng định, trở thành một Cơ Đốc nhân có nghĩa là được giải phóng khỏi từ hệ thống cai trị cũ, do bởi A-đam (5:12-21), tội lỗi (chương 6), luật pháp (chương 7) và sự chết (chương 8) chi phối và đưa vào một hệ thống cai trị mới do Đấng Christ (5:12-21 7:1-6), sự công bình (chương 6), Đức Thánh Linh (7:6 8:1-39), ân điển (6:14-15) và sự sống (5:12-21 6:4 8:1-13) cai trị.
(Ro 6:1-14) “Chết về tội lỗi” qua sự hiệp một với Christ Lý do trực tiếp đưa đến phần bàn luận của Phao-lô về Cơ Đốc nhân và tội lỗi là lời xác nhận của ông trong 5:20 “Nhưng nơi nào tội lỗi đã gia thêm thì ân điển lại càng dư dật hơn nữa”. Chính Phao-lô đặt ra câu hỏi mà rõ ràng ông đã nhiều lần trả lời như một kết quả của sự khẳng định của ông về quyền năng của ân điển Đức Chúa Trời: Chúng ta Cơ Đốc nhân) phải cứ ở trong tội lỗi, hầu cho ân điển được dư dật chăng? (c.1) Phao-lô phản đối mạnh mẽ bất kỳ cách hiểu nào như thế – chẳng hề như vậy! – ông giải thích tại sao mình trả lời như thế bằng ý chính của chương này: Chúng ta đã chết về tội lỗi (c.2). Điều Phao-lô muốn nói ở đây trở nên rõ ràng khi ông bày tỏ khái niệm này trong phần còn lại của chương: chúng ta không còn là nô lệ của tội lỗi nữa (c.6,17-18,22) tội lỗi không còn cai trị trên chúng ta nữa (c.14a). Vì thế, “chết về tội lỗi” không có nghĩa là không còn nhạy bén với sự cám dỗ của nó, vì Phao-lô trình bày rõ rằng tội lỗi vẫn là còn sức lôi cuốn mà Cơ Đốc nhân phải chiến đấu hàng ngày (c.13). Trái lại, điều này có nghĩa là được giải cứu khỏi sự chuyên chế hoàn toàn của tội lỗi, khỏi tình trạng mà tội lỗi luôn giữ quyền cai trị, tình trạng mà tất cả chúng ta đã sống trước khi trở lại đạo (3:9). Kết quả của sự chết về tội lỗi này là chúng ta không còn sống trong tội lỗi nữa (c.2b) – vì sự phạm tội theo thói quen bày tỏ quyền thống trị của tội lỗi, mà tín hữu đã được tự do khỏi quyền thống trị đó.
Câu 3-5 bày tỏ một phương cách mà bởi đó chúng ta đã “chết về tội lỗi”: thông qua sự hiệp một với Chúa Cứu Thế Giê-xu trong sự chết Ngài. Nghi lễ đầu tiên của Cơ Đốc nhân là phép báp-tem bằng nước, đưa chúng ta vào trong mối quan hệ với Chúa Cứu Thế Giê-xu, cụ thể là với sự chết của Chúa Cứu Thế (c.3). Sự “hiệp một” này với Chúa Cứu Thế không phải là một sự sát nhập bí ẩn của chính con người chúng ta và Chúa Cứu Thế, mà đó là một mối quan hệ “pháp lý”, trong đó Đức Chúa Trời nhìn biết chúng ta trong sự liên hiệp với Con Ngài và bởi đó ban cho chúng ta những quyền lợi mà Con Ngài đã dành được. Do đó, có thể nói rằng chúng ta đã được chôn với Ngài bởi phép báp-tem trong sự chết Ngài. Điều Phao-lô muốn nói không phải là phép báp-tem của chúng ta chỉ tượng trưng cho sự chết và sự chôn của Chúa Cứu Thế qua việc dìm mình xuống nước, vì Phao-lô đã trình bày rõ rằng chúng ta được chôn “với” Ngài, chứ không chỉ là “như” Ngài. Trái lại, ông đang nói rằng đức tin, được thể hiện qua phép báp-tem, đem chúng ta vào mối quan hệ với chính sự chôn của Chúa Cứu Thế. Tại sao lại đề cập đến sự chôn của Chúa Cứu Thế? Ở chỗ khác, Phao-lô xem cả sự chôn của Chúa Cứu Thế như là một yếu tố quan trọng trong Phúc Âm mà ông rao giảng: “Tôi đã dạy dỗ anh em điều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo Lời Kinh Thánh. Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại theo lời Kinh Thánh” (ICo 15:3-4 đối chiếu Co 2:12). Trong chương 6 này, Phao-lô khẳng định rằng tín hữu đã được liên hiệp với Chúa Cứu Thế theo cách mà tự họ kinh nghiệm chính từng sự kiện này: chúng ta đã cùng “chết với Đấng Christ” (c.8 đối chiếu c.3-6), chúng ta “đã được chôn với Đấng Christ”(c.4), chúng ta sẽ “cùng sống với Ngài” (c.8, đối chiếu c.4-5). Chính sự thực này cùng với các sự kiện quan trọng mang tính chuộc tội đã giúp cho Cơ Đốc nhân có một mối quan hệ mới đối với quyền lực của tội lỗi. Trọng tâm căn bản trong lập luận của Phao-lô thật rõ ràng: chính vì sự chết của Chúa Cứu Thế là sự chết cho tội lỗi” (c.10), nên việc chúng ta dự phần trong sự chết Ngài (c.3-6) có nghĩa là chúng ta cũng “đã chết về tội lỗi” mình (3).
Như câu 4 đã nêu rõ, phép báp-tem là một phương cách (từ Hi Lạp là dia) mà qua đó chúng ta được đặt vào mối quan hệ với những sự kiện này. Một số nhà giải nghĩa cho rằng có thể Phao-lô đang đề cập đến phép báp-tem bằng “Thánh Linh”, nhưng điều này không chắc đúng. Tốt hơn chúng ta nên hiểu rằng Phao-lô đang dùng phép báp-tem bằng nước như một cách nói vắn tắt về kinh nghiệm đầu tiên của Cơ Đốc nhân khi trở lại đạo. Trước sau như một, Tân Ước mô tả phép báp-tem bằng nước là một yếu tố thiết yếu của việc trở lại đạo (Cong 2:38 IPhi 3:21). Điều này không có nghĩa là tự bản thân phép báp-tem có quyền năng để cải đạo hay đem chúng ta vào mối liên hệ với Chúa Cứu Thế. Chỉ khi liên kết với đức tin chân thật thì nó mới có ý nghĩa, điều Phao-lô đã viết trong các chương 1-5 cho thấy rõ chính đức tin mới là yếu tố quan trọng trong quá trình này (về phép báp-tem trong Tân Ước và trong phân đoạn Kinh Thánh này, xin xem Baptism in the New Tesament, của G. R. Beasley – Murray, -Eerdmans, 1962).
Sự hiệp một của chúng ta với Chúa Cứu Thế trong sự chết và sự chôn có nghĩa là chúng ta cũng sống trong đời mới (c.4b). Không những chúng ta đã được giải phóng khỏi sự cầm quyền của tội lỗi mà chúng ta còn được ban cho năng lực mới để vâng phục, vì chúng ta dự phần trong quyền năng của sự sống lại của Chúa Cứu Thế. Đây là điều mà Phao-lô trình bày trong câu 5: dự phần trong sự chết của Chúa Cứu Thế cũng có nghĩa là dự phần trong sự sống lại của Ngài. Một số người cho rằng cũng giống với Eph 2:6 Co 2:12 3:1, ở đây Phao-lô trình bày sự sống lại của chúng ta với Chúa Cứu Thế là một kinh nghiệm của quá khứ. Nhưng thì tương lai trong câu 5 (sẽ làm một) lẫn trong c.8 (mình cũng sẽ cùng sống) cho thấy rằng có thể Phao-lô nói về sự sống lại thật sự với Chúa Cứu Thế là trong tương lai, còn hiện tại thì chính quyền năng sự sống lại của Chúa Cứu Thế đang làm việc trong chúng ta (đối chiếu câu 11: sống cho Đức Chúa Trời).
Một cách tương ứng, c.6-7 và c.8-10 trình bày chi tiết về các khía cạnh “sự chết” và “sự sống” của việc chúng ta hiệp một với Chúa Cứu Thế. Người cũ của chúng ta (c.6) gợi lên hình ảnh về đặc tính chung của con người đã được đề cập từ chương 5. Nó đề cập đến sự giống nhau của chúng ta với “con người cũ” là A-đam, và chỉ rõ “không phải một phần của tôi bị gọi là bản chất cũ, mà là toàn bộ con người của trước khi tôi trở lại đạo” (Men Made New -IVP, 1966 của John Scott, p. 45). Kết quả của việc chúng ta bị đóng đinh với Chúa Cứu Thế, thân thể tội lỗi này, toàn bộ con người bị quyền lực tội lỗi thống trị, đã được xem là bị tiêu diệt. Kết quả là chúng ta không cần phải phục dưới tội lỗi nữa. Để hỗ trợ thêm cho kết luận này, Phao-lô trích dẫn một câu cách ngôn của ra-bi để nhấn mạnh rằng sự chết sẽ chấm dứt quyền lực của tội lỗi trên một con người. Câu 8-10 cũng cố mối liên hệ giữa việc cùng chết với Chúa Cứu Thế và cùng sống lại với Ngài được khẳng định trong câu 5, và cung cấp một sự liên kết quan trọng trong lập luận của Phao-lô qua việc mô tả sự chết của Chúa Cứu Thế là sự chết “ cho tội lỗi”. Mặc dù chính Ngài là vô tội, Chúa Cứu Thế phải chịu phục dưới quyền lực của tội lỗi vì sự nhập thể của Ngài, và sự chết đã vĩnh viễn cất Ngài khỏi quyền lực ấy.
Đoạn này kết thúc bằng một phần tóm tắt và ứng dụng. Phải nắm bắt và hành động theo sự đồng nhất của chúng ta với Chúa Cứu Thế trong sự chết Ngài nếu điều này trở nên có hiệu lực trong việc thắng hơn quyền lực của tội lỗi trong đời sống chúng ta. Vì thế, Phao-lô thúc đẩy chúng ta phải nhận ra hiện nay chúng ta là ai trong Chúa Cứu Thế (c.11) và làm cho địa vị trở nên có hiệu lực bằng cách từ bỏ tội lỗi trong đời sống hằng ngày của chúng ta (c.12-13). Chiến thắng tội lỗi là điều khả dĩ, Phao-lô nhắc nhở chúng ta trong một phần tóm tắt của phân đoạn từ c.1-10, vì tội lỗi (sẽ) không (còn) cai trị trên anh em đâu (thì tương lai được dùng để nhấn mạnh rằng tội lỗi sẽ không bao giờ thống trị trên chúng ta một lần nữa). Vì chúng ta không còn thuộc dưới luật pháp – nghĩa là dưới hệ thống cai trị của luật Môi-se mà qua đó tội lỗi “gia thêm” (Ro 5:20) và đem đến sự giận (4:15) – nhưng thuộc dưới ân điển – một hệ thống cai trị mới do Đấng Christ thi hành mà trong đó ân điển cai trị qua sự công bình để đem lại sự sống đời đời (Gi 1:17 để thấy sự tương phản cùng loại giữa “luật pháp” và “ân điển”).
(Ro 6:15-23) Được giải phóng khỏi quyền lực của tội lỗi để phục vụ sự công bình Cũng giống như trường hợp trong Ro 6:1-14, phân đoạn này được gợi ý bằng một câu hỏi liên quan đến điều mà Phao-lô vừa trình bày. Ông khẳng định Cơ Đốc nhân “không thuộc dưới luật pháp, mà thuộc dưới ân điển” (c.14b) có thể ngụ ý rằng Cơ Đốc nhân không còn những điều luật cần phải vâng giữ nữa và không còn có án phạt đối với tội lỗi mà họ sai phạm. Câu trả lời của Phao-lô tương tự như lời dạy của ông trong câu 3-10: việc phạm tội theo thói quen có thể chứng tỏ tình trạng nô lệ cho tội lỗi (c.16), một tình trạng mà mọi Cơ Đốc nhân đều đã được giải thoát (c.17-18). Phao-lô chắc chắn rằng chính các tín hữu người Rô-ma đã kinh nghiệm sự giải phóng khỏi tội lỗi này, vì họ đã từ lòng vâng phục đạo lý là sự đã ban làm mực thước cho mình (c.17b). Đồng thời, Phao-lô cũng ngụ ý rằng Cơ Đốc nhân, là những người đã thoát khỏi luật Môi-se, vẫn bị ràng buộc bởi một luật có uy quyền, một “hình thức dạy dỗ” phần nào đó tương tự với loại hình thức của luật Môi-se (2:20). Cơ Đốc nhân có một nghĩa vụ mới. Những câu 17-23 giải thích nghĩa vụ ấy là một phần khai triển của điều Phao-lô đã nói ở phần đầu chương. Phao-lô khẳng định, được giải phóng khỏi tội lỗi không có nghĩa là Cơ Đốc nhân được tự trị, sống không có chủ hay không có nghĩa vụ nào. Đúng hơn, điều này muốn nói đến một tình trạng nô lệ mới: nô lệ của sự công bình (c.18-19) và của Đức Chúa Trời (c.22). Cũng như Chúa Giê-xu, Phao-lô khẳng định rằng “tự do” thật chỉ có thể tìm thấy trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời là Đấng đã tạo dựng nên chúng ta (Gi 8:31-36). Chỉ khi quì gối xuống trước mặt Đức Chúa Trời thì một người mới thật sự trở nên điều mà ban đầu Đức Chúa Trời đã dự định về họ: “công bình” (phù hợp với tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời về hành vi cách ăn ở) và “thánh khiết” (sống theo một lối sống mà Đức Chúa Trời là trung tâm và từ bỏ thế gian). Kết quả của những điều này là sự sống đời đời trong Đức Chúa Giê-xu Christ, Chúa chúng ta (c.23 đối chiếu c.22).
4. Thoát khỏi sự ràng buộc của luật pháp (Ro 7:1-25)
Điểm chính của chương này rất giống với ý chính của chương trước. Nếu như trong chương 6, qua sự hiệp một với Chúa Cứu Thế, các Cơ Đốc nhân đã “chết về tội lỗi” và trở thành “tôi mọi của Đức Chúa Trời” nhận lãnh sự thánh khiết như một quyền lợi, thì cũng vậy trong chương 7, Cơ Đốc nhân, bởi thân thể của Đấng Christ, đã chết về luật pháp và trở nên có được mối liên hệ với Chúa Cứu Thế Giê-xu để có thể kết quả cho Đức Chúa Trời (c,4). Phao-lô gợi ý rằng xét về mặt nào đó, luật Môi-se, cũng như tội lỗi, là một loại “quyền lực” của chế độ cai trị cũ của lịch sử cứu rỗi mà Cơ Đốc nhân phải được giải phóng nếu họ muốn hưởng được sự sống trong chế độ cai trị mới của sự công bình và sự sống đã được Chúa Cứu Thế Giê-xu mở đầu. Sứ đồ Phao-lô cũng đã ngụ ý điều này trong Ro 6:14-15. Những câu này đã tạo cơ hội trực tiếp cho phần bàn luận của ông trong chương 7.
Phân đoạn thứ nhất (c.1-6) chuyển tải ý chính của cả chương. Nhưng quan điểm tiêu cực của Phao-lô về luật pháp Môi-se trong những câu này đã khiến ông đưa vào một phần ngoài lề. Trong phần này, ông khẳng định nguồn gốc thiên thượng và sự tốt lành của luật pháp và nói thêm về cách thức mà qua đó luật pháp Môi-se đã mang lại một kết quả quá tiêu cực trong lịch sử cứu rỗi (c.7-25).
(Ro 7:1-6) Được giải thoát khỏi luật pháp liên hiệp với Chúa Cứu Thế Sự chuyển dời của tín hữu từ phạm vi của luật pháp sang phạm vi của Chúa Cứu Thế là điểm chính của phân đoạn này (c.4). Phao-lô hướng đến điểm này bằng cách nhắc lại về bản chất của luật pháp: rằng luật pháp chỉ có quyền trên con người khi họ còn sống. “Luật pháp” mà Phao-lô đề cập ở đây có thể là luật La-mã (Ksemann) hay luật pháp nói chung (Sanday-Headlam) nhưng cũng có thể là luật Môi-se (theo đa số các học giả. Câu 2-3 minh hoạ cho lẽ thật của nguyên tắc này bằng cách so sánh tương tự với hôn nhân. Mặc dù trong cách minh họa này, thỉnh thoảng người ta cũng tìm thấy nhiều sự so sánh khác nhau mang tính chi tiết, Phao-lô chỉ có ý nói đến hai điểm: sự chết cắt đứt mối quan hệ của con người với luật pháp, và việc giải phóng khỏi luật pháp giúp một người được liên hiệp với một điều khác.
Đây chính là những điểm mà Phao-lô đang áp dụng theo nghĩa thần học trong câu 4. Thông qua mối quan hệ của chúng ta với Chúa Cứu Thế trong sự chết Ngài trên thập tự giá – bởi thân thể của Đấng Christ – những tín hữu chúng ta đã chết về luật pháp, tức là chúng ta đã được giải thoát khỏi sự ràng buộc của luật pháp (6:2). Luật Môi-se từng có quyền trên người Do Thái, và rộng hơn, là trên tất cả mọi người (đối chiếu 2:14) trong chế độ cai trị cũ của lịch sử cứu rỗi. Nó qui định mối quan hệ giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài, và vì nó đòi hỏi nơi con người sự vâng phục mà không ban cho họ năng lực để vâng phục, nên hậu quả là nó đã trói chặt con người dưới quyền lực của tội lỗi và sự chết (4:15 5:20 6:14-15 Ga 3:21-25). Chỉ khi được giải thoát khỏi chế độ cai trị của luật pháp thì chúng ta mới có thể được giải thoát khỏi tội lỗi và được liên hiệp với Chúa Cứu Thế trong chế độ cai trị mới, nơi chúng ta có thể kết quả cho Đức Chúa Trời.
Mối liên kết giữa tội lỗi và luật pháp được trình bày thêm ở câu 5. Cụm từ khi chúng ta còn bị bản chất tội lỗi điều khiển trong bản NIV đã được dịch tốt hơn, cụ thể hơn, đó là “khi chúng ta còn sống theo xác thịt” (en te sarki xem phần ghi chú về cách dịch của bản NIV. Trong những câu văn như vậy, Phao-lô dùng chữ “xác thịt” không phải để chỉ về xu hướng tội lỗi trong một con người (như bản dịch NIV đã gợi ý ), mà nói về “thế giới quyền lực” mà một người đang sống trong đó. Vì ý tưởng thần học căn bản của nó chính là điều tiêu biểu của thế gian này để phân biệt với thế giới thuộc linh, nên có thể “xác thịt” được sử dụng cách vắn tắt để chỉ về chế độ cai trị cũ. “Khi chúng ta còn sống trong xác thịt” về căn bản có nghĩa là “khi chúng ta còn sống trong chế độ cai trị cũ, một chế độ phi Cơ Đốc”. Trong chế độ cai trị này, luật pháp là phương tiện làm nảy sinh tình dục xấu xa vì nó kích thích sự phản loạn bẩm sinh của chúng ta trong việc chống lại Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta đã chết về luật pháp ấy và có thể hầu việc Đức Chúa Trời theo cách mới của Thánh Linh, chứ không theo cách cũ của văn tự. Cũng như trong Ro 2:29, sự tương phản giữa “văn tự” (gramma) và “Thánh Linh” là sự tương phản giữa luật Môi-se, một quyền lực quyết định của thời đại cũ và Thánh Linh, tác nhân chi phối của thời đại mới.
(Ro 7:7-25) Lịch sử và kinh nghiệm của người Do Thái khi ở dưới luật pháp Phao-lô đã nói một vài điều tiêu cực về luật pháp trong 7:1-6 ông đã liên kết luật pháp với tội lỗi như một thứ “quyền lực” của chế độ cai trị cũ, chế độ của sự chết và tuyên bố rằng điều này thật sự đã làm tội lỗi phát sinh (c.5), nhưng những câu này chỉ đưa đến cao điểm một loạt các câu tiêu cực nói về luật pháp trong thư Rô-ma. Phao-lô đã chứng minh rằng luật pháp không có khả năng “xưng công bình” (3:20a), “cho người ta biết tội” (3:20b) và thật sự, nó đã kích thích tội lỗi (5:20) và đem đến sự thạnh nộ (4:15). Thế thì, chúng ta có thể hình dung sẽ có một số người nghĩ rằng Phao-lô quan niệm luật pháp là ác. Phao-lô đã có đủ kinh nghiệm để nhận thức rằng một sự hiểu lầm như thế về quan điểm thần học của ông đối với luật pháp là điều luôn có khả năng xảy ra. Vì thế, ông trình bày một vấn đề bên lề về luật Môi-se mà trong đó ông đề phòng cách hiểu sai lầm này. Ông bảo vệ điều tốt đẹp của luật pháp bằng cách chứng minh rằng các tác động tiêu cực mà luật pháp mang lại không phải do bản thân luật pháp mà là do quyền lực của tội lỗi và sự yếu đuối của con người. Phao-lô tóm tắt cô đọng ý chính của 7:7-25 trong 8:3: “Điều chi luật pháp không làm nổi, tại xác thịt làm cho luật pháp ra yếu đuối”. Phao-lô trình bày những điểm này trong mạch văn của một phần tóm tắt về ảnh hưởng của luật pháp trên dân Do Thái.
7-12 Phân đoạn này nói về sự đến của luật pháp đã hoàn tất được hai mục đích: duy trì và chống lại một cách hiểu sai lầm có thể có (c.7a), rằng luật pháp Môi-se là thánh khiết, công bình và tốt lành (c.12), và giải thích được mối quan hệ giữa tội lỗi và luật pháp (c.7b-11). Khi bàn đến điểm thứ hai, Phao-lô khẳng định rằng luật pháp là phương tiện mà qua đó ông “biết” tội (c.7b). Điều Phao-lô muốn nói ở đây không phải chỉ là luật pháp cho Phao-lô biết tội là gì mà là luật pháp, cùng với công việc của mình, nêu ra rõ ràng những điều răn của Đức Chúa Trời, đã tạo cơ hội cho tội lỗi khơi dậy thái độ chống nghịch lại Đức Chúa Trời và phơi bày rõ ràng sự phạm tội và sự chết của ông (c.8-11). Chính việc chúng ta phạm tội chống lại luật thánh của Đức Chúa Trời đã đưa chúng ta đến chỗ vi phạm luật ấy và chính bằng cách này mà luật pháp “kích thích việc phạm tội” (5:20 7:5) và đem đến sự thạnh nộ (4:15).
Việc Phao-lô sử dụng ngôi thứ nhất số ít (“tôi”) theo thể văn tường thuật khiến điểm này làm nảy sinh câu hỏi rằng ông đang mô tả kinh nghiệm gì ở đây. Nhiều người cho rằng ông đang nghĩ về thời kỳ khi ông là một người trai trẻ Do Thái, khi tội lỗi bắt đầu sống trong kinh nghiệm của ông và cho ông thấy rõ rằng ông là một tội nhân (tôi thì chết). Những người khác thì nghĩ rằng Phao-lô đang mô tả về thời điểm ngay trước khi khi ông trở lại đạo, lúc Đức Thánh Linh bắt đầu khiến ông nhận biết về tội lỗi mình. Nhưng thực tế kinh nghiệm này xảy ra khi điều răn đến đã gợi ý một khả năng khác. Như mạch văn đã trình bày rõ, điều răn ở đây chắc hẳn là luật Môi-se (c.7,12) và luật Môi-se “đến” khi Đức Chúa Trời ban nó cho dân Y-sơ-ra-ên tại núi Si-na-i. Người Do Thái ở thế kỷ thứ nhất được dạy phải xem chính mình như những người đã dự phần vào những kinh nghiệm lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên (như trong sách dạy về Lễ Vượt Qua). Vì thế, có lẽ trong những câu này Phao-lô không phải mô tả về những kinh nghiệm của cá nhân mình mà là kinh nghiệm của dân tộc Do Thái nói chung. Nên có lẽ điều Phao-lô muốn nói chính là việc luật pháp Môi-se được ban cho người Y-sơ-ra-ên có ý nghĩa với họ không phải sự sống (như một số thầy giáo luật đã dạy) mà là sự chết vì luật pháp Môi-se, do kích thích tội lỗi, đã “đem đến sự giận” và làm cho khoảng cách giữa người Do Thái và Đức Chúa Trời trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.
13-25 Phần thứ hai trong vấn đề bên lề của Phao-lô về luật Môi-se cung cấp một “sự kết nối bị đánh mất” trong lập luận ở 7:7-12 của ông: sự yếu đuối của loài người là lý do tại sao tội lỗi có thể dùng luật pháp để đem đến sự chết. Luật pháp dù thiêng liêng cũng không thể giải phóng con người khỏi sự ràng buộc của họ với tội lỗi và sự chết (c.21-25) bởi vì họ là xác thịt (c.14), không thể vâng giữ luật pháp mà họ xưng là tốt lành (c.16). Do đó, chính luật Môi-se là vấn đề mà Phao-lô chú trọng đề cập trong những câu Kinh Thánh này.
Lời dạy của Phao-lô về luật pháp được thể hiện trong một phần dài trình bày về “lời xưng nhận cá nhân”. Ở đây Phao-lô đang mô tả kinh nghiệm của ai? Lưu ý việc Phao-lô đang dùng thì hiện tại (tương phản với cách dùng thì quá khứ trong c.7-11) và tuyên bố rằng tôi vẫn lấy luật pháp Đức Chúa Trời làm đẹp lòng, nhiều người lý luận rằng chắc hẳn ông đang mô tả tình trạng hiện tại của mình là một tín hữu trưởng thành. Nhưng sau đó phân đoạn Kinh Thánh cho thấy rõ rằng luật pháp không thể đem lại khả năng chiến thắng quyền lực của tội lỗi trong Cơ Đốc nhân, là những người mặc dù đã được phục hồi và giải phóng khỏi quyền đoán định của tội lỗi, vẫn không thể thoát khỏi vòng vây của tội lỗi (đối chiếu c.14,23,25). Tro. 15-20, nhưng cách giải quyết khách quan của Phao-lô đối với tình huống ông đang nói đến khiến chúng ta khó mà nghĩ rằng ông đang mô tả một Cơ Đốc nhân. Phao-lô tuyên bố rằng ông bị bán (để làm nô lệ) cho tội lỗi (c.14b đối chiếu c.25) và là phu tù cho luật của tội lỗi (c.23). Cách mô tả đầu hoàn toàn trái ngược với cách mô tả về Cơ Đốc nhân trong chương 6 – “buông tha khỏi tội lỗi” (c.22) – và cách mô tả sau mâu thuẫn với điều Phao-lô khẳng định trong 8:2 rằng Cơ Đốc Nhân đã được buông tha “khỏi luật pháp của tội lỗi và sự chết”. Dường như trong những câu này Phao-lô đang mô tả kinh nghiệm của mình với tư cách là một người Do Thái chưa được tái sinh, nhận thấy lòng yêu mến và ước muốn vâng theo luật pháp Đức Chúa Trời luôn bị vô hiệu hóa vì ông không thể vâng giữ nó. Chắc chắn, chúng ta không thể biết rõ mức độ mà Phao-lô thật sự ý thức về sự tranh chiến này trong thời kỳ ông chưa phải là Cơ Đốc nhân. (Lời tuyên bố của ông trong Phi 3:6 rằng ông “không chỗ trách được” về “sự công bình của luật pháp” đề cập đến vị trí của ông xét về luật pháp theo tiêu chuẩn của người Pha-ri-si, chứ không phải tình trạng thực của ông). Chắc chắn chỉ khi có được sự hiểu biết về
Chúa Cứu Thế Phao-lô mới có thể nhận thức được chiều sâu của sự phạm tội mà ông mô tả ở đây. Vì thế, trong những câu 7-11 Phao-lô mô tả ảnh hưởng của việc ban luật pháp đối với chính ông và tất cả những người Do Thái khác, trong khi ở c.13-25, ông mô tả sự tồn tại tiếp tục của một người Do Thái dưới sự cai trị của luật pháp, như ông đã từng như vậy. Thì hiện tại mà ông bắt đầu sử dụng trong câu 14, rất thích hợp cho phần mô tả này nói về tình trạng thường xảy ra vấn đề.
Câu 13 là một câu chuyển tiếp, tóm tắt phần lập luận của c.7-12-luật pháp là tốt lành, nhưng đã bị tội lỗi dùng để đem lại sự chết và vì thế làm phơi bày tội lỗi bằng “màu sắc thực” của nó (cực ác) – như điểm mở đầu cho câu 14-25. Việc luật pháp là thiêng liêng nhưng tôi là xác thịt (sarkinos, có nghĩa là “trần tục, xác thịt”) đã tạo ra bối cảnh cho cuộc tranh chiến được mô tả trong câu 15-20. Sự thừa nhận tính tốt lành của luật pháp Đức Chúa Trời và ước muốn vâng theo luật pháp ấy được đáp lại bằng sự bất lực trong việc thực hiện luật pháp ấy trong thực tế. “Mong muốn” và “thực hiện” luôn ở trong trạng thái đối lập nhau. Phao-lô kết luận, điều này bày tỏ rằng điều lành chẳng ở trong tôi đâu, nghĩa là trong xác thịt tôi (c.18) và tội lỗi ở trong tôi phải chịu trách nhiệm về những việc làm của tôi (c.17,20). Những người chủ trương cách giải thích đoạn này nói về “Cơ Đốc nhân trưởng thành” thì cho rằng Phao-lô đang đề cập đến quyền lực vẫn tiếp diễn của tội lỗi và về bản tính xác thịt trong đời sống của người tín đồ. Tuy nhiên, dường như điều này đề cập đến tình trạng mà trong đó người chưa tin Chúa bị ngăn cản không thể làm theo luật pháp của Đức Chúa Trời do quyền cai trị của tội lỗi.
Trong câu 21, Phao-lô tóm tắt về luật (đúng hơn ở đây nên dịch là “nguyên tắc” đối chiếu với bản RSV) rằng ông tìm thấy trong cuộc tranh chiến mà ông đã mô tả trong câu 15-20: ước muốn làm điều thiện bị khuynh hướng làm điều ác bám theo, và thắng hơn. Niềm vui thích về luật pháp của Đức Chúa Trời – như một đặt điểm tiêu biểu của dân Do Thái – phải chịu sự chi phối của một luật khác. Trong khi một số người cho rằng “luật khác” này là một chức năng khác của chính luật Môi-se, thì từ “khác” (heteros) gợi ý rằng Phao-lô đang nghĩ về một “luật” khác với luật Môi-se. “Luật” này là “sức mạnh” hay “quyền lực” của tội lỗi, mà Phao-lô đặt ở vị trí tương phản với luật pháp Đức Chúa Trời (Ro 3:27 8:2). Phao-lô xưng chính mình là một tù nhân của luật tội lỗi này, một cách thể hiện mạnh mẽ rằng ông đang mô tả kinh nghiệm quá khứ của mình là một người Do Thái ở dưới sự cai trị của luật pháp (tương phản với 8:2).
Phản ứng của Phao-lô trước sự cầm tù này là than khóc: Khốn nạn cho tôi! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết này? Cảm xúc của sự than khóc này có lẽ cho thấy rằng thật sự Phao-lô đang ở trong tình trạng “khốn nạn” như ông đã viết và điều ông khẩn thiết cầu xin là được giải cứu khỏi sự hay chết thể chất như một Cơ Đốc nhân. Nhưng Cơ Đốc nhân Phao-lô không cần phải đặt câu hỏi người giải cứu mình là ai, và “sự chết” trong phân đoạn này đề cập cách tổng quát về sự chết toàn diện của nó với như hình phạt của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi (c.5,9-11, 13). Vì vậy, tốt hơn chúng ta nên xem tiếng kêu than này là của một người Do Thái chân thành và nhiệt tâm, bối rối vì mình không có khả năng làm theo luật pháp Đức Chúa Trời và mong mỏi được giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết. Có thể Phao-lô viết điều này quá thực và quá chân thành vì đây là một tình trạng mà chính ông đã từng trải, và vì nó là một thực trạng vẫn còn ảnh hưởng bi thảm đến hầu hết “anh em bà con theo phần xác” của ông (9:1-3). Đầu câu 25, Cơ Đốc Nhân Phao-lô ngưng phần mô tả của mình về đời sống của người Do Thái dưới sự cai trị của luật pháp để tuyên bố về Đấng mà trong Ngài người ta tìm được sự giải cứu khỏi sự chết: đó là Chúa Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta. Sau đó, ở phần cuối của câu này Phao-lô trở lại tóm tắt tình trạng của người Do Thái ở dưới luật pháp: lấy trí khôn phục luật pháp của Đức Chúa Trời, thừa nhận rằng luật pháp Đức Chúa Trời là tốt lành và tìm cách để thực hiện luật pháp ấy, nhưng lấy xác thịt phục luật pháp của tội lỗi bị xác thịt ngăn trở việc thực hiện luật pháp ấy.
5. Bảo đảm sự sống đời đời trong Thánh Linh (Ro 8:1-30)
Chương 8 sách Rô-ma nổi tiếng về sự tập trung vào Đức Thánh Linh. Từ “linh” (tiếng Hi Lạp là pneuma) xuất hiện hai mươi mốt lần trong chương này, và tất cả đều chỉ về Đức Thánh Linh ngoại trừ hai lần (đối chiếu c.15a và 16b). Tuy nhiên, dù Thánh Linh hết sức nổi bật trong chương này, nhưng đây không phải là chủ đề thực sự của chương. Chủ đề mà Phao-lô muốn nói đến không phải là chính Thánh Linh, mà là sự bảo đảm về sự sống đời đời mà Thánh Linh giúp để bảo vệ. Từ chỗ “chẳng có sự đoán phạt nào” ở đầu chương cho đến “chẳng có thể phân rẽ” ở cuối chương, chương này đã ôn lại những hành động cùng những sự ban cho của Đức Chúa Trời mà đã cùng mang đến cho mỗi Cơ Đốc nhân một sự chắc chắn rằng mối quan hệ của họ với Đức Chúa Trời được bảo đảm và được giải quyết. Phao-lô cho biết Đức Thánh Linh hành động trên đời sống của người tín hữu ra sao (c.1-13), việc nhận các tín hữu làm con cái trong gia đình Đức Chúa Trời (c.14-17) và sự hy vọng chắc chắn về sự vinh hiển (c.18-30).
(Ro 8:1-13) Đức Thánh Linh của sự sống Chương này có một mối liên hệ chính yếu và hai mối liên hệ phụ với phần trước của thư. Từ cho nên mà Phao-lô dùng để mở đầu chương gợi ý rằng ông đang rút ra một kết luận từ những điều ông đã nói ở phần trước. Cả từ ngữ lẫn nội dung của câu 1 chỉ ngược về phần cuối của chương 5 như một cơ sở cho kết luận này. Trong phần đó lập luận của Phao-lô là Cơ Đốc nhân được buông tha khỏi sự đoán phạt (katakrima c.16 và 18) do A-đam gây ra, vì họ đã liên hiệp với Chúa Cứu Thế Giê-xu. Đây chính là điều mà Phao-lô hiện đang đề cập lại sau phần bên lề được trình bày ở chương 6 và 7: hiện nay chẳng còn sự đoán phạt - katakrima nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Giê-xu Christ. Nhưng hai điểm tiếp xúc khác có thể được phân biệt rõ qua sự tương phản có chủ ý mà Phao-lô đã tạo ra giữa tình trạng “ở dưới luật pháp” trong 7:7-25 và tình trạng “ở dưới Thánh Linh” (đối chiếu 8:2-4,7), và qua sự trình bày tỉ mỉ của chương 8 về phần đề cập ngắn gọn “cách mới của Thánh Linh” trong 7:6b.
Sự giải phóng Cơ Đốc nhân khỏi sự đoán phạt, án chết vì cớ tội lỗi mà con người phải gánh chịu diễn ra do chúng ta đã liên hiệp với Chúa Cứu Thế (5:12-21). C.2-4 giải thích thêm rằng sự giải phóng này đã được hoàn tất bởi Đức Chúa Trời Ba Ngôi: Đức Chúa Cha sai Đức Chúa Con đến với tư cách là một của lễ chuộc tội cho chúng ta (c.3), trên cơ sở đó, Đức Thánh Linh giải thoát chúng ta ra khỏi quyền lực của tội lỗi và sự chết (2) và bảo đảm việc làm trọn luật pháp thay cho chúng ta (c.4). Có lẽ “luật pháp” tương phản trong câu 2 đề cập đến hai tác dụng riêng biệt của luật Môi-se, một mặt thì có chức năng cầm tù con người khi luật này được hiểu một cách hạn hẹp như một đòi hỏi về việc làm, nhưng mặt khác nó có tác dụng giải phóng con người khi họ hiểu nó một cách đúng đắn như một yêu cầu để “sự vâng phục trọn vẹn”. Tuy nhiên, chúng ta chưa hề thấy Phao-lô gán cho luật pháp quyền năng giải phóng khỏi tội lỗi và sự chết, và vì vậy luật pháp của Thánh Linh phải có nghĩa là “quyền phép (hay thẩm quyền) được thực hiện bởi Thánh Linh”. Tương tự như thế, luật pháp của sự tội và sự chết (c.2) cũng sẽ không chỉ về luật Môi-se, mà là về “quyền phép (hay thẩm quyền) của tội lỗi và sự chết” (7:23).
Nhờ Đức Chúa Giê-xu Christ, Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã giải phóng chúng ta khỏi tình trạng rằng buộc với tội lỗi và sự chết được ngụ ý trong 5:12-21 và 6:1-23 và được mô tả trong 7:7-25. Thánh Linh phải hành động như thế vì quyền lực mạnh mẽ của “chế độ cai trị cũ”, tức luật Môi-se, không thể phá vỡ sự ràng buộc của tội lỗi do sự yếu đuối của con người, (c.3a, đối chiếu 7:14-25). Điều gì luật pháp không thể làm, thì Đức Chúa Trời đã làm: Ngài bẻ gãy quyền lực tội lỗi – đã đoán phạt tội lỗi – bằng cách sai Con Ngài xuống thế gian để trở nên như chúng ta và để phó chính Ngài làm của lễ chuộc tội (bản NIV cũng dịch đúng cụm từ peri humartias, theo cách dùng cụm từ này trong bản LXX). Việc sai Con Ngài xuống thế gian giúp cho những người sống theo Thánh Linh có thể thật sự làm trọn luật pháp. Phao-lô không có ý nói rằng Cơ Đốc nhân có thể vâng giữ luật pháp (tuy điều này có thể xảy ra) mà là Cơ Đốc nhân được Đức Chúa Trời xem là đã đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của luật pháp vì Chúa Cứu Thế đã vâng giữ luật pháp thay cho chúng ta (xem Calvin). Điều này được thể hiện qua từ dikaiơma ở số ít (nghĩa là “đòi hỏi công bình” bản NIV đã dịch từ này không rõ ràng thành những đòi hỏi ) và nghĩa bị động của cụm từ được trọn trong chúng ta (c.4). Với tư cách là những tín hữu “trong Chúa Cứu Thế”, chúng ta được buông tha khỏi sự đoán phạt vì Chúa Cứu Thế Giê-xu đã làm trọn luật pháp thay cho chúng ta. Ngài đã trở nên như chúng ta, yếu đuối, mang tình cảm của con người và chịu sự thống trị của quyền lực của tội lỗi để chúng ta trở nên như Ngài: công bình và thánh khiết.
Sự tương phản giữa xác thịt (bản NIV dịch là “bản chất tội lỗi” xem 7:5) và Thánh Linh trong câu 4b dẫn đến một loạt những sự tương phản giữa hai “thế lực” này trong c.5-8. Qua các tương phản này Phao-lô giải thích tại sao chính Thánh Linh, chứ không phải xác thịt, đem đến sự sống. Người “noi theo xác thịt” nghĩa là người sống trong “chế độ cai trị cũ”, nơi có tội lỗi và sự chết thống trị, có tâm trí chăm về xác thịt (c.5) họ không thể phục dưới luật pháp Đức Chúa Trời (c.7) hay làm đẹp lòng Đức Chúa Trời (c.8) mà phải chịu án phạt của sự chết (c.6). Trái lại, Cơ Đốc nhân, “noi theo Thánh Linh”, là người đã được chuyển sang chế độ cai trị mới, nơi ân điển và sự công bình ngự trị và vì vậy đã được ban cho một tâm trí mới chăm về Thánh Linh, hưởng được sự sống và bình an (c.6). Câu 9 cho thấy rõ rằng người nào thuộc về Chúa Cứu Thế đã được đưa vào một thế giới mới trong đó Thánh Linh cai trị chứ không phải xác thịt. Vì thế, trong c.10-11 Phao-lô trình bày thể nào việc có được một đời sống “thiêng liêng” trong hiện tại sẽ dẫn đến việc tận hưởng được đời sống “thuộc thể” qua sự sống lại của thân thể. Và điều này cũng sẽ được hoàn tất bởi quyền năng của Đức Thánh Linh, Đấng đang ngự trong chúng ta.
Câu 12-13 kết thúc phần đầu này của chương 8 bằng một lời nhắc nhở thiết thực: công tác của Thánh Linh trong việc bảo đảm cho chúng ta sự sống không có nghĩa là chúng ta có thể bị động với bổn phận của mình trong việc bày tỏ sự sống của Thánh Linh trong cuộc sống hằng ngày. Chỉ khi chúng ta đầu phục sự điều khiển và dẫn dắt của Thánh Linh, từ bỏ lối sống “xác thịt”, chúng ta sẽ được sống (c.13). Phao-lô đề cập rõ về tính chất thuộc linh, đời đời, sự sống và vì thế Phao-lô muốn nói rằng về một ý nghĩa nào đó việc hưởng sự sống đó tuỳ thuộc vào sự vâng phục của Cơ Đốc nhân. Ở đây sự trung thành với lời Thánh Kinh kêu gọi chúng ta phải giữ đúng hai chân lý này: đó là việc Thánh Linh ngự vào lòng chúng ta như bằng chứng cho đức tin của chúng ta sẽ luôn luôn bảo đảm sự sống đời đời, và để hưởng được sự sống đời đời thì cần phải có lối sống theo điều Thánh Linh Đức chúa Trời chỉ dạy. Sự căng thẳng này có thể được làm dịu lại phần nào khi chúng ta ghi nhớ rằng chính Thánh Linh mà chúng ta được ban cho khi trở lại với Chúa sẽ chủ động giúp chúng ta vâng phục. Nhưng điều đó không loại bỏ được sự căng thẳng, vì chúng ta vẫn được kêu gọi để đầu phục công tác này của Thánh Linh.
(Ro 8:14-17) Thánh Linh của việc nhận làm con Nếu “sự sống” là ý chủ đạo của 1-13, thì chức phận làm con là ý chính của câu 14-17. Bên cạnh việc đóng góp vào chủ đề của chương này bằng cách kể lại chi tiết lẽ thật kỳ diệu và đáng khích lệ rằng Cơ Đốc Nhân đã được nhận vào làm con của đại gia đình Đức Chúa Trời, phân đoạn Kinh Thánh ngắn này còn là phần chuyển tiếp giữa câu 1-13 và 18-30. Việc được làm con của Đức Chúa Trời giải thích cả lý do Thánh Linh Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sự sống (c.13-14) lẫn tại sao có thể nói rằng chúng ta là những kẻ kế tự với một viễn cảnh vinh hiển trong tương lai (c.17-18).
Được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn (câu 14) không có nghĩa là được Đức Thánh Linh dẫn trong việc đưa ra quyết định, mà là chịu ảnh hưởng tể trị của Ngài (Ga 5:18). Mệnh đề này đúc kết những phần mô tả khác nhau về sự sống trong Đức Thánh Linh ở câu 5-9. Phao-lô có thể tuyên bố rằng những kẻ được hướng dẫn bởi Đức Thánh Linh như thế là con của Đức Chúa Trời và được định sẵn cho sự sống (c.13) bởi vì con của Đức Chúa Trời là một danh hiệu của Kinh Thánh dành chỉ về dân sự của Đức Chúa Trời (Phu 14:1 Es 43:6 đối chiếu Ro 9:26). Nhưng chắc chắn qua danh hiệu này chúng ta cũng nhận thấy có một sự ám chỉ đến chức phận làm con của chính Chúa Giê-xu (c.3 29). Như câu 15 xác nhận, A-ba là cách chính Chúa Giê-xu gọi Đức Chúa Trời (Mac 14:36), cách thể hiện một mối quan hệ thân thiết đặc biệt. Cách gọi tương tự này hiện là cách mà Cơ Đốc nhân tự “thốt lên” với Đức Chúa Trời khi đến gần Ngài. Một lần nữa, chính Đức Thánh Linh, Đấng ghi khắc trong lòng chúng ta về ý nghĩa của mối quan hệ thân thiết ấy (c.16) và vì vậy làm xoá bỏ hết mọi ràng buộc (đối với “luật pháp của tội lỗi và sự chết”, c.2) và mọi lý do để sợ hãi (c.15a). Vì vậy, Thánh Linh là thần trí của sự làm con. Phao-lô dùng từ “sự làm con” (cũng có thể dịch là “sự nhận làm con nuôi” - hyiothesia) có nguồn gốc từ thế giới La-Hi, nơi mà từ này chỉ một định chế hiến pháp mà qua đó một người được phép nhận một đứa trẻ làm con nuôi và cho đứa trẻ ấy mọi quyền và đặc quyền giống như con ruột. Nhưng khái niệm này xuất phát từ bức tranh của Kinh Thánh về Đức Chúa Trời là Đấng bởi ân điển mà chọn một dân tộc để làm một dân của chính Ngài (Ro 8:23 9:4 Ga 4:5 Eph 1:5).
Việc chúng ta đựơc nhận vào gia đình của Đức Chúa Trời dù là điều thật kỳ diệu và đáng khích lệ nhưng chưa phải tất cả chấm dứt ở đó. Vì làm con cũng có nghĩa là làm kẻ kế tự vẫn ở trong tình trạng chờ đợi “sự ban cho đầy đủ tất cả những quyền và đặc quyền dành cho chúng ta với tư cách là con cái Đức Chúa Trời (c.17 đặc biệt xem Ga 4:1-7, với một lập luận tương tự với lập luận được trình bày trong Ro 8:1-17). Vì, Con Đức Chúa Trời phải chịu khổ trước khi được vinh quang (IPhi 1:11) thì cũng vậy, chúng ta những con cái của Đức Chúa Trời qua việc được Ngài nhận làm con cũng phải đồng chịu khổ “với Ngài” trước khi dự phần trong sự vinh hiển của Ngài (Phi 1:29 3:20 IICo 1:5). Vì chúng ta được liên hiệp với Chúa Cứu Thế, tôi tớ của Chúa “bị người ta khinh dể và chán bỏ” (Es 53:3), nên chúng ta có thể hiểu rằng con đường đưa chúng ta đến việc thừa hưởng vinh quang được trải bằng khó khăn và nguy hiểm
(Ro 8:18-30) Thánh Linh của sự vinh hiển Trong phân đoạn này, Phao-lô trình bày kỹ lưỡng về sự chịu khổ và vinh quang mà ông đề cập trong câu 17, phát triển thêm chủ đề bao quát về sự bảo đảm của Cơ Đốc nhân và đem chúng ta trở lại một vòng trọn vẹn với phần đầu của phần chính này của bức thư (Ro 5:1-11 xem chú thích ở 5:1). Hy vọng của Cơ Đốc nhân về vinh quang là sườn của phân đoạn Kinh Thánh này, xuất hiện ở đầu đoạn (c.18) và cuối đoạn (c.30), và là chủ đề bao trùm của cả đoạn. Tuy việc đối diện với việc cần phải “chịu khổ với Chúa Cứu Thế” trong thế gian này điều đáng tin và chắc chắn, người tín hữu biết rằng Đức Chúa Trời đã quyết định sẽ giúp chúng ta vượt qua mọi sự để được thừa kế (c.18-22,29-30), rằng Ngài đang hành động thay cho chúng ta (c.28) và rằng Ngài đã ban Đức Thánh Linh Ngài cho chúng ta để bảo đảm cho sự cứu chuộc cuối cùng của chúng ta (c.23).
Phao-lô không bao giờ đánh giá thấp sự thật hay sự khắc nghiệt của sự hoạn nạn mà Cơ Đốc nhân phải chịu trong thế gian này. Nhưng điều này vẫn được xem là không đáng gì so với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta (c.18). Trong Kinh Thánh Cựu Uớc, “sự vinh hiển” chỉ về “mức độ ảnh hưởng” và sự uy nghi của sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Phao-lô áp dụng khái niệm này để chỉ tình trạng cuối cùng của tín hữu, khi chúng ta đã được biến hoá theo hình ảnh của con Đức Chúa Trời (c.29). Vì Chúa Cứu Thế đã bước vào sự vinh hiển ấy (Phi 3:21 Co 3:4), và mọi người sẽ nhận thấy sự biến hoá của thân thể chúng ta khi chúng ta dự phần vào sự vinh hiển Ngài trong ngày cuối cùng.
Câu 19-25, mà những chữ chìa khoá của chúng là ước ao nóng nảy (19,23,25) và sự trông cậy (20,24-25), cho thấy Cơ Đốc nhân, cùng với toàn thể công trình sáng tạo, phải chờ đợi công việc của Đức Chúa Trời hoàn tất. Phao-lô dùng những điều Cựu Ước đã chép (Thi 65:12-13 Es 24:4 Gie 4:28 12:4) trong việc nhân cách hoá toàn thể muôn vật: rên siết trong sự thất bại (câu 20, 22) và nóng lòng trông chờ ngày mà tư cách làm con Đức Chúa Trời của chúng ta được hoàn thành và được tỏ ra (c.19,21). Điều cho thấy rõ rằng Phao-lô không kể đến thiên sứ và con người trong tầm nhìn của ông đó là tình trạng băng hoại mà hiện nay muôn vật đang trải qua không phải đến “bởi ý mình”(c.20). Trái lại tình trạng này tồn tại bởi cớ Đấng bắt phục nó (c.20), tức là Đức Chúa Trời, Đấng đã khiến trái đất phải nhận sự nguyền rủa như hậu quả của tội lỗi A-đam (Sa 3:17-18 đối chiếu ICo 15:27). Nhưng bản án phải khuất phục này luôn đi kèm với một hy vọng rằng một ngày nào đó Đức Chúa Trời sẽ khôi phục lại cho tạo vật Ngài tình trạng mà Ngài đã định từ lúc ban đầu, một nơi mà “muông sói sẽ ở với chiên con” (Es 11:6). Cơ Đốc nhân chúng ta cũng chia xẻ sự rên siết và hy vọng của muôn vật (c.23), vì chúng ta như những trái đầu mùa có Đức Thánh Linh, sự thanh toán và sự thế chấp hầu chúng ta được sự chuộc tội nơi ngày sau rốt, và điều này khiến chúng ta càng trông mong hơn nữa sự hoàn tất của công việc Đức Chúa Trời trong chúng ta. Điều thường được gọi là sự căng thẳng “đã – chưa” của Kinh Thánh Tân Ước giữa những gì Đức Chúa Trời đã làm cho người tín hữu và những gì Ngài chưa thực hiện thể hiện rất rõ khi chúng ta so sánh c.23 với c.14-17. Vì “tư cách làm con” mà Ro 8:14-17 cho biết là chúng ta có được gắn liền với sự cứu chuộc thân thể chúng ta trong câu 23 này, và là mục tiêu của hy vọng và sự trông mong của chúng ta. Hy vọng ấy rất cần thiết cho sự cứu rỗi chúng ta. Vì vậy, chúng ta phải kiên nhẫn chờ đợi điều Đức Chúa Trời đã hứa (c.24-25).
Trong câu 26-30, Phao-lô nêu ra ba lý do tại sao chúng ta có thể chờ đợi với lòng kiên nhẫn và tin tưởng niềm hy vọng của chúng ta sẽ thành hiện thực. Thứ nhất, Đức Thánh Linh giúp chúng ta khi chúng ta không biết phải cầu xin điều gì (c.26-27). Trong cuộc sống này, chúng ta không biết chắc về sự mình phải xin là điều tất yếu. Nhưng chính Đức Thánh Linh sẽ cầu thay cho chúng ta, với những lời cầu nguyện luôn theo ý Đức Chúa Trời (c.27). Ở đây Phao-lô không mô tả ân tứ nói các thứ tiếng thậm chí cũng không có gì rõ ràng để nói rằng ông chỉ về một quá trình mà con ngừơi có thể nghe được, vì lời thở than của Đức Thánh Linh có lẽ là mang tính ẩn dụ (c.22). Trái lại, có lẽ ông đang mô tả về chức vụ cầu thay của Đức Thánh Linh trong lòng của người tín hữu mà thậm chí chúng ta cũng không ý thức được sự xảy ra của điều này.
Cơ sở thứ hai cho niềm hy vọng chắc chắn về tương lai của người tín hữu là trong mọi điều Đức Chúa Trời luôn làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời (c.28). Không có điều gì xảy ra cho chúng ta nằm ngoài sự chăm sóc, tiên liệu của Cha chúng ta: thật vậy, đây chính là lý do để vui mừng và là một nền tảng vững chắc cho niềm hy vọng chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta phải định nghĩa điều ích mà Đức Chúa Trời đang làm cho chúng ta theo cách của Ngài chứ không theo cách của chúng ta. Đức Chúa Trời biết rằng ích lợi lớn nhất đối với chúng ta là nhận biết Ngài và mãi mãi được ở trong sự hiện diện của Ngài. Vì thế để theo đuổi điều “ích lợi” hơn cả này, có thể Ngài sẽ cho phép những khó khăn như đói nghèo, đau khổ và tật bệnh xảy ra với chúng ta. Niềm vui đến không phải vì nhận biết rằng chúng ta sẽ không bao giờ đối mặt với khó khăn mà là vì chắc chắn chúng ta sẽ gặp khó khăn (c.17), nhưng dù có khó khăn đến đâu, Cha yêu thương của chúng ta vẫn đang hành động để khiến chúng ta trở thành những Cơ Đốc Nhân mạnh mẽ.
Phao-lô mô tả những người mà Đức Chúa Trời làm việc như vậy từ phương diện của con người (những kẻ yêu mến Đức Chúa Trời) và từ phương diện thiêng liêng (kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định, c.28). Sự “gọi”của Đức Chúa Trời không phải đơn giản chỉ là lời Ngài mời con người đến với Phúc Âm, mà là sự triệu tập có hiệu lực của Ngài kêu gọi con người bước vào mối quan hệ với chính Ngài (Ro 4:17 9:12,24). Lời kêu gọi này được thực hiện theo mục đích của Đức Chúa Trời, mục đích ấy tồn tại nhằm khiến chúng ta nên giống như hình bóng Con Ngài (c.29). Đức Chúa Trời đem mỗi người chúng ta đến với mục tiêu ấy qua một loạt những hành động Ngài làm thay cho chúng ta. Thứ nhất, Ngài “biết trước” chúng ta. Một số học giả cho rằng chữ proginơskơ (nghĩa là “biết trước”) ở đây mang nghĩa như vẫn thường gặp trong văn chương Hi Lạp đó là “biết trước một việc nào đó”. Nhưng Phao-lô nói rằng chính Cơ Đốc nhân chúng ta là những người Đức Chúa Trời biết, và điều này gợi lên ý tưởng riêng tư hơn của khái niệm “biết” mà đôi lúc được tìm thấy trong Kinh Thánh Cựu Ước: sự tuyển chọn vào một mối quan hệ cá nhân (Sa 18:19 Gie 1:5 Am 3:2). Rõ ràng đây hầu như cũng là ý nghĩa của từ “biết trước” ở những chỗ khác của Kinh Thánh Tân Ước (Ro 11:2 Cong 2:23 IPhi 1:2,20). Sự “biết trước” của Đức Chúa Trời, việc Ngài chọn cứu chúng ta từ “trước khi sáng thế” (Eph 1:4), đưa đến việc Ngài “định sẵn” cho chúng ta, định chúng ta một số phận cụ thể. Số phận này là chúng ta trở nên như Chúa Cứu Thế, là sự việc cuối cùng mà Đức Chúa Trời hoàn thành qua việc “gọi” chúng ta (.28b), “xưng công bình” cho chúng ta (Ro 3:21-4:25) và “làm vinh hiển” chúng ta. Điều quan trọng là động từ cuối này, cũng như các động từ khác trong câu 30, được dùng ở thì quá khứ, cho thấy rằng mặc dù việc có được vinh hiển còn ở tương lai, nhưng Đức Chúa Trời xác quyết rằng điều chúng ta sẽ nhận đã được hoàn tất.
6. Sự an ninh của người tín đồ (Ro 8:31-39)
Chúng ta có thể xem kỷ niệm đẹp đẽ, giống một bài ca này về sự an ninh của chúng ta trong Chúa Cứu Thế như một sự đáp ứng cho những điều Phao-lô vừa mới nói (c.28-30, hoặc 18-30 hoặc thậm chí 1-30), nhưng tốt hơn, chúng ta nên xem nó như một phản ảnh mang tính kết luận của toàn bộ các chương 5-8. Nó được chia thành hai phần. Ở phần đầu (c.31-34) Phao-lô nhắc chúng ta rằng Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta: trong việc ban Con mình, Ngài đồng thời bảo đảm cho chúng ta tất cả những gì chúng ta cần có để trải qua đời này và có được sự cứu rỗi nơi ngày sau rốt. Vì thế, không ai có thể thành công trong việc chống lại chúng ta, khiến cho chúng ta bị đoán phạt trong ngày phán xét. Vì chính Đức Chúa Trời là Đấng đã chọn chúng ta và xưng công bình cho chúng ta và chính Con Ngài là Đấng trả lời tất cả những lời cáo trạng chống lại chúng ta. Phần thứ hai của bài ca này (c.35-39) hát mừng tình yêu của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế dành với chúng ta. Không có điều gì có thể phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu ấy cũng như không có điều gì có thể buộc tội chúng ta. Không một nguy hiểm hay tai hoạ nào trên trần gian này có thể làm được điều đó (c.35b-36). Mặc dù chúng ta có thể gặp những hoạn nạn ấy, nhưng Phao-lô đã nhắc nhở chúng ta qua phần ông trích dẫn Thi 44:2 , trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần. Cũng không một thế lực thuộc linh nào có thể chia rẽ chúng ta khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời (các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, c.38). Thật vậy, không điều gì trong cả vũ trụ này có thể đem chúng ta khỏi chế độ cai trị mới mà trong đó tình yêu của Đức Chúa Trời qua Chúa Cứu Thế ngự trị trên chúng ta.
4. PHÚC ÂM VÀ DÂN Y-SƠ-RA-ÊN (Ro 9:1-11:36)
Các nhà giải nghĩa thường cho rằng ba chương này ít có liên hệ đến chủ đề thật sự của thư Rô-ma. Người ta xem phần này như một lời độc thoại xuất phát từ mối quan tâm mang tính cá nhân của Phao-lô về dân tộc mình, hay như một phần ngoài đề nói về sự lựa chọn của Đức Chúa Trời. Nhưng chủ đề của ba chương này chính là vị trí của người Y-sơ-ra-ên trong kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời, và đây là một chủ đề liên quan nhiều đến những điều quan tâm của Phao-trong thư Rô-ma. Từ đầu thư, (Ro 1:2 cũng đối chiếu 3:21,31 chương 4) Phao-lô đã quan tâm đến việc bày tỏ rằng Phúc Âm có một mối liên hệ liên tục với Cựu Ước. Ông giải thích rõ rằng sự đến của Chúa Cứu Thế Giê-xu và chế độ cai trị mới về lịch sử cứu rỗi mà Ngài đã thực hiện không phải là sự cách tân trong kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho lịch sử, mà là đỉnh điểm của điều đã được định trước. Tuy nhiên, thái độ vô tín của phần lớn người Do Thái trong thời Phao-lô cho thấy nan đề tiềm ẩn đối với nỗ lực của Phao-lô trong việc thiết lập tính liên tục như thế. Phải chăng lời hứa về sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời không dành cho dân Y-sơ-ra-ên? Làm sao Ngài vẫn giữ được tính chân thật của lời hứa ấy nếu như ngày nay nó được hoàn tất trong Hội Thánh thay vì trong dân Y-sơ-ra-ên?
Đây là những câu hỏi mà Phao-lô sẽ trả lời trong các chương 9-11, khi ông lập luận rằng ấy chẳng phải lời Đức Chúa Trời là vô ích (9:6a). Phao-lô khẳng định rằng sự vô tín của người Do thái trong hiện tại không có nghĩa là những điều Đức Chúa Trời hứa với dân Ngài đã vô ích vì (i) Đức Chúa Trời chưa bao giờ hứa sẽ cứu rỗi từng người Do Thái một (9:6b-29) (ii) chính người Do Thái phải chịu trách nhiệm về thái độ vô tín của họ (9:30-10:21) (iii) những điều mà Đức Chúa Trời hứa với dân Y-sơ-ra-ên thậm chí hiện nay vẫn đang được hoàn thành trong một bộ phận còn sót lại các Cơ Đốc nhân người Do Thái (11:1-10) và (iv) Đức Chúa Trời sẽ cứu cả dân Y-sơ-ra-ên (11:12-32). Xuyên suốt các đoạn Kinh Thánh này, Phao-lô quan tâm đến việc bày tỏ rằng lời hứa của Đức Chúa Trời cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, nếu được hiểu đúng vẫn không thay đổi. Thêm vào việc thiết lập tính mạch lạc của Phúc Am, “thần học này về dân Y-sơ-ra-ên” cũng là một vấn đề có tầm quan trọng thực tiễn. Như những lời kêu gọi trong 11:12-32 bày tỏ, Phao-lô ý thức rằng người ngoại quốc trong Hội Thánh Rô-ma đang lãng quên “nguồn gốc” Cựu Ước không thể thiếu của mình, xem thường người Do Thái và các tín hữu Do Thái.
1. Vấn đề: Sự đau đớn của Phao-lô về dân Y-sơ-ra-ên (Ro 9:1-6a)
Giữa chương 8 và chương 9 không có một từ hay nhóm từ liên kết cho thấy lập luận của Phao-lô tạm ngừng tại điểm này. Với sự nhắc lại tình yêu không đổi của Đức Chúa Trời dành cho Cơ Đốc Nhân (8:31-39), ông đã đạt đến cực điểm của lý lẽ mình về điểm này. Nhưng chính việc khẳng định về sự hoàn thành chắc chắn của những lời hứa mà Đức Chúa Trời đã dành cho Cơ Đốc nhân đã tạo cơ hội cho Phao-lô nêu ra câu hỏi về lời hứa của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên. Câu 1-3 cho thấy rằng đây là một câu hỏi mang nặng tình cảm đối với ông. Vì Phao-lô không bao giờ quên được sự gắn bó chặt chẽ giữa ông và đồng bào Do Thái khác của mình. Vì thế, ông từng trải sự buồn bực và hằng đau đớn về những người mà xét về mặc xác thịt (kata sarka) là bà con và anh em của ông (c.2-3). Mặc dù Phao-lô không cho chúng ta biết vì sao ông có cảm xúc đau đớn như thế về đồng bào Do Thái của mình, ý tưởng tương tự trong 10:1 cho thấy rõ rằng ấy là vì đa số người Do Thái không được cứu vì họ không tin Chúa Cứu Thế Giê-xu (đối chiếu 9:30-10:21). Do ý thức quá mạnh mẽ về điều này, nên cũng như Môi-se (Xu 32:31-34), Phao-lô sẵn sàng hy sinh sự cứu rỗi mình vì cớ sự cứu rỗi của đồng bào Do Thái của ông. Sự mạnh mẽ trong lời khẳng định của Phao-lô (c.1) gợi ý rằng có thể ông đã ý thức được rằng có một số người Do Thái đã nghi ngờ mối quan tâm ông dành cho “bà con về phần xác” của mình.
Tuy nhiên, tình cảm của Phao-lô dành cho những người Do Thái vô tín đặt trên cơ sở khác, và có lẽ là sâu sắc hơn: đó là sự không tương xứng giữa tình trạng hiện tại của người Do Thái và những đặc quyền lớn lao của họ (c.4-5). Chỉ có đặc quyền làm dân Y-sơ-ra-ên được kể ra trong số những đặc quyền này, vì từ “Y-sơ-ra-ên” (mà Phao-lô rất hay dùng suốt những chương 9-11) cho thấy rằng tư cách theo giao ước được ban cho hậu tự của Gia-cốp (“Y-sơ-ra-ên”). Một cụm từ có ý nghĩa tương đương là sự làm con nuôi của người Do Thái, một cách mà ở những chỗ khác Phao-lô thường dùng để chỉ Cơ Đốc Nhân (Ro 8:15,23 Ga 4:5 Eph 1:5). Dân Do Thái có thể được sở hữu tư cách này trong ý nghĩa nào, Phao-lô sẽ giải thích điều này trong Ro 9:6b-13 và 11:1-32. Đỉnh cao của những đặc quyền mà người Do Thái có được chính là việc Chúa Cứu Thế là Đấng Mê-si-a theo lời hứa sẽ đến ra từ họ. Nhưng đây là điều diễn ra xét từ phía con người còn từ phía Đức Chúa Trời, Chúa Cứu Thế chính là Đức Chúa Trời. Ít ra, đây cũng là cách giải thích theo sự gợi ý của bản NIV (xem thêm bản NASB), có một dấu phẩy được đặt giữa từ Christ (Đấng Christ) và cụm từ Đấng là Đức Chúa Trời trên hết mọi sự. Tuy nhiên, những bản dịch khác lại dùng một dấu chấm sau từ Christ, và xem phần cuối câu này là một lời tán tụng riêng lẻ về Đức Chúa Trời (Đức Chúa Cha) (xem phần lề của bản NIV và bản RSV). Tuy nhiên, cách giải thích được áp dụng trong bản NIV có thể đúng và nếu vậy thì câu này là một trong số ít những chỗ trong Kinh Thánh Tân Ước mà Chúa Giê-xu Christ được gọi chính xác là “Đức Chúa Trời”.
Tất cả những đặc quyền mà Phao-lô đã kể ra đều bắt nguồn từ chính Đức Chúa Trời và có thể đã được nắm lấy để bảo đảm thật vậy, đã được nhiều người Do Thái nắm lấy để bảo đảm cho sự cứu rỗi của người Do Thái nói chung. Đó chính là sự cứu rỗi mà Phúc Âm đặt vấn đề nghi vấn một cách cụ thể (chương 2) và bằng cách đó, đã làm nảy sinh vấn đề trọng tâm của chương này: phải chăng Đức Chúa Trời đã huỷ bỏ lời hứa của Ngài với dân Y-sơ-ra-ên (c.6a)?
2. Quá khứ của dân Y-sơ-ra-ên: Sự tuyển chọn tối thượng của Đức Chúa Trời (Ro 9:6b-29)
Lời phản hồi đầu tiên của Phao-lô là lý luận rằng lời Đức Chúa Trời hứa ban sự cứu rỗi chỉ dành cho những người Ngài đã chọn lựa. Phao-lô trích dẫn một cách bao quát từ lịch sử của Y-sơ-ra-ên để trình bày lý luận này, chứng minh rằng việc làm tuyển dân của Đức Chúa Trời không tuỳ thuộc vào dòng dõi hay vào bất kỳ những gì người đó làm, mà tuỳ thuộc vào sự kêu gọi của Đức Chúa Trời (đây là từ quan trọng của phần này: đối chiếu c.7,12,24-26). Vì Đức Chúa Trời chỉ chọn một vài người trong vòng con cháu của Áp-ra-ham làm dân Ngài (c.6b-13), cho nên hiện nay Ngài cũng chọn các dân ngoại (c.24-26) và chỉ một phần sót lại của dân Do Thái (câu 27-29) làm dân Ngài. Trọng tâm phần lập luận của Phao-lô nằm ở những câu 6b-13 và 24-29, còn câu 14-23 là phần trả lời riêng rẽ về những thắc mắc nảy sinh do Phao-lô nhấn mạnh đến quyền tể trị của Đức Chúa Trời.
(Ro 9:6b-13) Người Y-sơ-ra-ên trong Y-sơ-ra-ên Chủ đề của đoạn này được trình bày ở câu 6b: Những kẻ bởi Y-sơ-ra-ên sanh hạ, chẳng phải vì đó mà hết thảy đều là người Y-sơ-ra-ên (không phải tất cả những ai sinh ra từ Y-sơ-ra-ên đều là người Y-sơ-ra-ên). Liên hệ với ý nghĩa thần học của Kinh Thánh Cựu Ước về “dân còn sót lại”, Phao-lô gợi ý rằng có một Y-sơ-ra-ên thuộc linh tồn tại giữa vòng một dân tộc Y-sơ-ra-ên to lớn. Có thể ở chỗ khác Phao-lô dùng từ “Y-sơ-ra-ên” để ám chỉ toàn thể dân sự của Đức Chúa Trời, cả người Do Thái lẫn người ngoại quốc (Ga 6:6). Tuy nhiên ở đây, như đoạn tiếp theo cho thấy rõ, ông đang nghĩ đến người Do Thái mà thôi. Phao-lô chứng minh quan điểm của ông về người Y-sơ-ra-ên trong Y-sơ-ra-ên qua hai lập luận khá tương đương với nhau được rút ra từ lịch sử Cựu Ước (c.7-10,11-13). Ở lập luận thứ nhất, Phao-lô chứng minh rằng hậu tự thuộc thể ra từ Áp-ra-ham không đủ để bảo đảm một chỗ trong dân sự của Đức Chúa Trời. Ích-ma-ên và Y-sác đều là con cháu của Áp-ra-ham thế nhưng chỉ qua Y-sác thì Đức Chúa Trời mới “kể” là hậu tự thuộc linh của Áp-ra-ham (Sa 21:12). Vì thế, hậu tự thuộc linh từ Áp-ra-ham không căn cứ vào dòng dõi mà căn cứ vào lời hứa của Đức Chúa Trời. Chính Y-sác, chứ không phải Ích-ma-ên, là người nhận được lời hứa ấy (c.10, trích 18:10,14).
Như thế điểm này là chưa đủ rõ ràng, nên bây giờ Phao-lô khiến nó được nhấn mạnh hơn bằng cách chọn ra một hình ảnh minh hoạ từ thế hệ kế tiếp của Y-sơ-ra-ên (câu 10-13). Vì người ta có thể phản đối hình ảnh minh hoạ thứ nhất của Phao-lô rằng có một sự khác nhau quan trọng về dòng dõi tự nhiên đã làm cho Y-sác khác với Ích-ma-ên: Y-sác được Sa-ra “người nữ tự do” sinh ra, còn Ích-ma-ên là do A-ga “người nữ nô lệ” sinh ra (đối chiếu Ga 4:21-31). Nhưng Gia-cốp và Ê-sau thì không có sự khác biệt như thế. Là anh em sinh đôi, họ không chỉ được cùng một mẹ là Rê-bê-ca sinh ra, mà thậm chí còn được mang thai cùng một lúc (có lẽ koitçn tiếng Hi Lạp đề cập đến quan hệ tình dục). Nhưng ngay trước khi họ được sinh ra, Rê-bê-ca được báo trước rằng “đứa lớn phải phục đứa nhỏ” (Sa 25:23). Quyền ưu tiên này của Gia-cốp được xác nhận trong lời Kinh Thánh Cựu Ước thứ hai mà Phao-lô trích dẫn, Ma 1:2-3, “Ta yêu Gia-cốp, mà ghét Ê-sau”. Từ những lời chứng của Kinh Thánh Cựu Ước về quyền ưu tiên của Gia-cốp, Phao-lô rút ra kết luận bằng một phần chú thích được đặt giữa hai gạch nối (11b-12a) rằng phước lành mà Gia-cốp được hưởng không căn cứ vào những gì ông đã làm, mà là vào sự kêu gọi tự do, tối thượng của Đức Chúa Trời.
Phước lành này là gì? Vì những văn cảnh của Kinh Thánh Cựu Ước mà từ đó Phao-lô rút ra phần minh hoạ của mình chủ yếu đang trình bày về vai trò lịch sử của Gia-cốp và Ê-sau, hay các dân mà họ đại diện (là dân Y-sơ-ra-ên và dân Ê-đôm), kế hoạch của Đức Chúa Trời, (đối chiếu 1:2-3), có lẽ Phao-lô không có ý muốn nói điều gì khác hơn là Gia-cốp là người được hưởng đặc quyền làm một công cụ tích cực trong kế hoạch đó. Nhưng những từ mà Phao-lô đã dùng xuyên suốt phân đoạn này – gọi theo tên (c.7 đối chiếu Ro 4:2-21) sự kén chọn (c.11 đối chiếu 11:5,7,28 Cong 9:15 ITe 1:4 IIPhi 1:10) ý chỉ (c.11 đối chiếu Ro 8:28 Eph 1:11) việc làm (c.11 đối chiếu Ro 4:4-8) kêu gọi (c.11 đối chiếu 8:29) nói chung đều đề cập đến sự cứu rỗi đời đời. Và cũng chính vấn đề này, tức là còn quá nhiều người Do Thái chưa được cứu qua Phúc Âm, đã khuấy động toàn bộ phần bàn luận này. Vì thế, chúng ta kết luận rằng Phao-lô đang sử dụng những lời Cựu Ước này để minh hoạ nguyên tắc về quyền tối thượng của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi: việc làm con cái Đức Chúa Trời (đối chiếu c.7-9) phụ thuộc hoàn toàn vào sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời “yêu” Gia-cốp và “ghét” Ê-sau là cách để mô tả riêng lẽ những khái niệm tương phản rõ nét về việc Đức Chúa Trời chọn cứu rỗi và khước từ không cứu rỗi.
(Ro 9:14-23) Các ý kiến phản đối: Sự tự do của Đức Chúa Trời Việc Phao-lô nhấn mạnh đến quyền tối thượng của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi làm nảy sinh một số ý kiến phản đối, như ông đã nhận thấy rõ qua nhiều năm giảng dạy. Trong phần này, Phao-lô giải quyết hai trong số những ý kiến phản đối này. Há không phải Đức Chúa Trời bất công khi chọn một số người và từ chối một số người khác sao (c.14)? Làm sao có thể đổ lỗi cho con người là chối bỏ Đức Chúa Trời khi chính Ngài quyết định sự chối bỏ đó (c.19)? Những câu hỏi như thế là phản ứng tự nhiên của chúng ta khi đối diện với lời dạy của Kinh Thánh về quyền tể trị tối thượng của Đức Chúa Trời. Điều đáng nói là ở đây Phao-lô không đưa ra cách giải thích hợp lý cho sự tương hợp của quyền tối thượng của Đức Chúa Trời với giáo lý tương đương của Kinh Thánh rằng Đức Chúa Trời là công bình tuyệt đối và con người đáng phải bị lên án về hành động của mình. Tốt nhất chúng ta nên theo giải pháp của ông để khẳng định tính chân lý của các giáo lý Thánh Kinh vĩ đại này mà không loại trừ hay làm suy yếu bất kỳ một giáo lý nào qua việc khẳng định một cách giải thích thấu đáo toàn diện. Đây là một điểm mà cùng với Phao-lô (đối chiếu 11:33-36) chúng ta phải được chuẩn bị để đón nhận một huyền nhiệm vượt quá trí hiểu của mình.
Bằng văn phong chỉ trích kịch liệt vẫn thường được dùng trong thư Rô-ma, Phao-lô tự đặt câu hỏi mà ông biết sẽ được nêu ra khi ông khẳng định quyền tối thượng của Đức Chúa Trời trong việc chọn lựa: Có sự không công bình trong Đức Chúa Trời sao? Phao-lô bác bỏ dứt khoát suy luận này và một lần nữa trích dẫn Cựu Ước để bảo vệ quan điểm của mình (c.15). Nhưng câu Kinh Thánh mà Phao-lô trích dẫn - Xu 33:19 – dường như chỉ nói lại hành động mang tính tự do và tối thượng của Đức Chúa Trời hơn là giải thích vì sao hành động đó là công bình. Nhưng có lẽ đây là luận điểm của Phao-lô rằng không điều gì có thể “xét đoán” những hành động của Đức Chúa Trời ngoại trừ bản chất của chính Ngài như đã được tiết lộ trong Kinh Thánh. Phao-lô lại tuyên bố rằng điều bắt nguồn từ sự tự do của Đức Chúa Trời chính là điều (tức là sự chọn lựa của Đức Chúa Trời trong việc cứu rỗi đối chiếu c.11-12) không tuỳ thuộc vào ước muốn hay nỗ lực của con người.
Câu 17-18 hỗ trợ thêm việc phủ nhận hành động của Đức Chúa Trời căn cứ trên những quyết định hay hành động của con người, nhưng bây giờ bắt đầu từ hướng “tiêu cực” (đối chiếu “ghét Ê-sau” trong câu 13b). Vai trò của Pha-ra-ôn trong lịch sử cứu rỗi là vấn đề về sự quyết định của Đức Chúa Trời. Chính Đức Chúa Trời là Đấng đưa Pha-ra-ôn vào sân khấu lịch sử (Này là cớ vì sao ta đã dấy ngươi lên đối chiếu 9:16) và khiến ông ta cứng lòng. Dĩ nhiên, những điều về Pha-ra-ôn được trình bày trong Kinh Thánh Cựu Ước đề cập đến vai trò của ông trong lịch sử cứu rỗi chứ không phải đến số phận cá nhân của ông. Nhưng giống như trong câu 10-13, trong câu 18 Phao-lô gợi ý rằng điều Đức Chúa Trời hành động qua Pha-ra-ôn minh hoạ cách Ngài làm trong con người nói chung: vì Ngài sẽ thương xót kẻ Ngài muốn thương xót (c.15-16 đối chiếu Ta yêu Gia-cốp trong c.13a) hay muốn làm cứng lòng ai thì làm (c.18 đối chiếu “ghét Ê-sau”trong câu 13b). Việc Đức Chúa Trời bày tỏ lòng thương xót hay làm cho cứng lòng đều không căn cứ trên hành động của con người (mặc dù cần phải ghi nhớ rằng Đức Chúa Trời hành động trên những người đã hư mất trong tội lỗi và việc Ngài từ chối cứu một số người theo một khía cạnh nào đó đơn giản chỉ là sự khẳng định lại điều mà họ đã lựa chọn). Chúng ta cũng cần nhớ rằng những quyết định của Đức Chúa Trời đối với những vấn đề này không được tỏ bày cho chúng ta và chúng cũng không gây ra sự tuyệt vọng. Kinh Thánh giải thích rõ rằng Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ từ chối tiếp nhận, hay là từ bỏ những người chuyên tâm tìm kiếm Ngài.
Câu hỏi mà Phao-lô đang đặt ra cũng chính là câu hỏi mà chúng ta muốn nêu ra ở đây: làm sao Đức Chúa Trời lại buộc tội con người khước từ Ngài, nếu chính Ngài, theo một nghĩa nào đó đã gây ra sự khước từ ấy qua việc chọn lựa một số người và “bỏ qua” những người khác? Cách trả lời của Phao-lô cho thấy chính ông cũng không có câu trả lời thật sự thoả đáng cho câu hỏi này. Ở phần trước của thư ông giải thích rằng con người phải hoàn toàn chịu trách niệm về việc mình từ chối lẽ thật của Đức Chúa Trời (Ro 1:20-2:11), và ông sẽ trình bày điểm này một lần nữa đề cập về người Y-sơ-ra-ên (9:30-10:21). Nhưng Phao-lô không đề cập điều này như một cách để tránh né vấn đề ông đang nêu lên. Bằng cách đó, ông ngụ ý rằng quyền tể trị của Đức Chúa Trời trong việc khướt từ và trách nhiệm của con người về sự khướt từ ấy phải được duy trì như là hai lẽ thật bổ sung cho nhau, chứ không phải được dùng để làm giảm giá trị của nhau. Ở đây, đơn giản Phao-lô chỉ phủ nhận quyền phán xét của con người về những phương cách của Đức Chúa Trời. Ngài là thợ gốm, là Đấng có toàn quyền trên những chiếc bình mà Ngài tạo nên (Gie 18:1-24 Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn 12:3-22,15:7). Trong câu 22-23, Phao-lô liên hệ sự tự do này của Đức Chúa Trời với sự sẵn lòng kiên nhẫn chịu những chiếc bình đáng giận sẵn cho sự hư mất. “Những chiếc bình” mà Phao-lô đang nghĩ đến ở đây có thể là những người Do Thái vô tín, những người hiện nay đang giữ vai trò trong lịch sử cứu rỗi tương tự như vai trò của Pha-ra-ôn trong thời Xuất Ê-díp-tô (Ro 11:12-15). Tương tự trường hợp của Pha-ra-ôn, trọng tâm nằm ở vai trò lịch sử của họ trong thời điểm hiện tại (mặc dù số phận của họ thật rõ ràng: sự giận và hư mất). Nhưng mục đích tối hậu của Đức Chúa Trời không phải là thạnh nộ mà là lòng thương xót và sự vinh hiển. Vì điểm chính của câu 22-23 là cách Đức Chúa Trời bày tỏ sự quan tâm đối với những bình đáng thương xót mà Ngài đã định sẵn cho sự vinh hiển.
3. Đức Chúa Trời kêu gọi một dân mới (Ro 9:24-29)
Nếu như c.24 có quan hệ chặt chẽ với c.22-23 về mặt ngữ pháp, thì nó vẫn trở lại với chủ đề mà Phao-lô đã mở đầu cho phần này: sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Trong c.7-13 Phao-lô đã chứng minh thế nào Đức Chúa Trời đã kêu gọi từ trong dòng dõi Y-sơ-ra-ên một nhóm nhỏ những người Do Thái, lập thành một dân Y-sơ-ra-ên “thuộc linh”. Nay ông chứng minh rằng sự kêu gọi tối thượng này của Đức Chúa Trời trong hiện tại đã tạo nên một dân mới, gồm cả người ngoại quốc (c.25-26) lẫn những người Do Thái còn sót lại (c.27-29). Trong câu 25-26 Phao-lô áp dụng Os 2:23 Ro 1:10, vốn trong văn cảnh được áp dụng cho người Y-sơ-ra-ên, cho việc kêu gọi người ngoại quốc trở thành dân Ngài, Con của Đức Chúa Trời hằng sống (đối chiếu “con cái Đức Chúa Trời” trong câu 8). Phao-lô trích dẫn Ê-sai để minh hoạ hoàn cảnh của người Do Thái và qua đó, nêu ra ba điểm để tóm tắt toàn bộ phần này cũng như chuẩn bị cho chương 11: (i) sự vô tín của nhiều anh em, bà con người Do Thái của Phao-lô là không có gì đáng ngạc nhiên, vì chính Kinh Thánh đã nói trước rằng chỉ một phần sót lại sẽ trở lại (Es 10:22) (ii) người Do Thái sẽ được cứu và trở thành một phần trong dân mới của Đức Chúa Trời: “một phần sót lại sẽ được cứu” (đối chiếu Ro 11:3-7) (iii) Đức Chúa Trời là Đấng đem đến sự cứu rỗi cho dân Ngài: “ví bằng Đức Giê-hô-va vạn quân chẳng để chúng ta còn sót lại” (Es 1:9).
4. Y-sơ-ra-ên hiện tại: không vâng lời (Ro 9:30-10:21)
Ro 9:30-33. Lập luận thứ hai của Phao-lô để bảo vệ lời tuyên bố rằng lời hứa của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên đã không vô ích (Ro 9:6a) đó là chính dân Y-sơ-ra-ên, do không có sự đáp ứng đúng đắn với lời Đức Chúa Trời, phải chịu hậu quả của việc bị Đức Chúa Trời loại ra khỏi dân mới của Ngài. Trong 9:30-10:13, Phao-lô trách dân Y-sơ-ra-ên vì họ đã tìm kiếm sự công bình trước mặt Đức Chúa Trời dựa vào việc thực hiện luật pháp hơn là dựa vào đức tin nơi Chúa Cứu Thế. Sau đó, trong 10:14-21, ông chứng minh rằng dân Y-sơ-ra-ên không thể biện hộ cho sự thất bại của mình, vì Đức Chúa Trời đã trình bày kế hoạch và mục đích của Ngài cách rõ ràng cho Y-sơ-ra-ên qua Lời Kinh Thánh. Sự vô tín của đa số những người anh em Do Thái của Phao-lô vừa là do sự chọn lựa tối thượng của Đức Chúa Trời (9:6b-29) và sự khước từ không chịu tin đáng trách của họ. Sự chọn lựa vô điều kiện của Đức Chúa Trời và trách nhiệm của con người luôn đi đôi với nhau, và không bên nào có thể loại bỏ hay làm giảm bớt tầm quan trọng của nhau.
5. Sự công bình của Đức Chúa Trời và sự công bình của luật pháp (Ro 9:30-10:13)
Ro 9:30-33. Sự tương phản giữa hai loại công bình này đã chi phối phần này: sự công bình của Đức Chúa Trời (10:3), một sự công bình chỉ có thể có được nhờ đức tin (9:30 10:4,6,10) và “sự công bình” riêng của con người (10:3) là một sự công bình bị ràng buộc với luật pháp (9:31 10:5) và với việc làm (9:32). Phao-lô phát triển sự tương phản này qua ba phân đoạn gần như tương đương với nhau (9:30-33 10:1-4 10:5-13). Trong mỗi phân đoạn, ông lên án toàn thể dân Y-sơ-ra-ên đều thiếu sự công bình của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế, là sự công bình duy nhất có thể cứu rỗi (10:1,9-10), vì họ chỉ bận tâm đến việc làm và luật pháp Môi-se. Việc đến gần luật pháp cách đúng nghĩa hẳn đã đưa họ đến với Đấng Christ và sự công bình thật, vì bản thân luật pháp hướng đến Chúa Cứu Thế (10:4).
Câu hỏi của Phao-lô Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? (c.30) giới thiệu một giai đoạn mới trong lập luận của ông. Điều đó cho thấy rằng ông sẽ giải quyết một vấn đề nảy sinh trong phần bàn luận trước đó của ông. Vấn đề này là sự phát triển bất ngờ trong lịch sử cứu rỗi mà ông vừa mới đề cập (c.24-29): dân Do Thái, “tuyển dân”của Đức Chúa Trời, còn lại chỉ như một dân sót, trong khi dân ngoại, từng xa cách Đức Chúa Trời, thì nay được gọi là “con cái của Đức Chúa Trời hằng sống”. Phao-lô trình bày phần giải thích đầu tiên trong câu 30b-33 vì sao điều này lại xảy ra. Ông dùng hình ảnh trường đua ngựa để trình bày sự tương phản giữa dân ngoại với dân Y-sơ-ra-ên. Dân ngoại, mặc dù thậm chí không ở trong “cuộc đua” (chẳng tìm sự công bình), vậy mà đã đến được “đích”: họ có được chỗ đứng công bình trước mặt Đức Chúa Trời. Phao-lô giải thích rằng họ có được điều đó vì cớ đức tin của mình. Trái lại, Y-sơ-ra-ên mặc dù tích cực tham dự cuộc đua, lại không đến được đích của cuộc đua. Tuy nhiên, tại điểm này, dường như sự tương phản chi tiết mà Phao-lô trình bày bị chấm dứt, vì mục tiêu Y-sơ-ra-ên theo đuổi nhưng không đạt được không phải là sự công bình, mà là luật pháp của sự công bình. Một số học giả gợi ý rằng qua điều này Phao-lô chỉ muốn nói đến “nguyên tắc về sự công bình” hay chúng ta có thể đảo ngược thuật ngữ này và dịch là “sự công bình của luật pháp” (đối chiếu 10:5). Nhưng hầu như luật pháp là luật Môi-se, và chúng ta nên tôn trọng trật tự từ mà Phao-lô đã chọn. Phao-lô dùng nhóm từ này để nhấn mạnh rằng việc Y-sơ-ra-ên tìm kiếm một chỗ đứng công bình trước mặt Đức Chúa Trời hoàn toàn bị ràng buộc với luật pháp: họ tìm kiếm “một luật đưa ra lời hứa về sự công bình” (đối chiếu 2:13).
Mục tiêu này họ đã không đạt được, mà cũng không bao giờ đạt được. Vì luật pháp , như Phao-lô đã trình bày trước đó, không bao giờ có thể mang đến sự công bình (3:20,28 4:13-15 8:3). Vì vậy, Phao-lô phá vỡ tính tương đương giữa người ngoại quốc và người Y-sơ-ra-ên để trình bày một thực tế là dân Y-sơ-ra-ên phải bị chê trách cả vì điều họ đang tìm kiếm (luật pháp của sự công bình) lẫn vì cách họ tìm kiếm điều đó (chẳng bởi đức tin mà tìm, nhưng bởi việc làm). Thay vì họ phải hướng tầm nhìn đến Chúa Giê-xu Christ, mục tiêu đích thực của “cuộc đua”(10:4), mắt của họ chỉ tập trung quá thiển cận vào luật pháp đến nỗi họ vấp phải Ngài. Phao-lô mượn hình ảnh này của Es 8:14, là câu mà ông trích dẫn cùng với 28:16 trong c.33.
Trong Ro 10:1-4 Phao-lô nói thêm chi tiết về việc người Do Thái “vấp phải” Chúa Cứu Thế Giê-xu. Sau khi tái khẳng định lòng mong mỏi sâu xa của mình về việc anh chị em người Do Thái được cứu rỗi (9:1-3), Phao-lô trách người Do Thái đã không hiểu biết về những phương cách và mục đích của Đức Chúa Trời vốn thích hợp với lòng hăng hái chân thật của họ. Qua hình ảnh cuộc đua trong 9:30-33, dân Y-sơ-ra-ên đã chạy một cách hăm hở, nhưng họ không hướng đến vạch đến đích thực của cuộc đua. Vạch đến ấy là “sự công bình đến từ Đức Chúa Trời” (c.3). Nhóm từ này nên được dịch là sư công bình của Đức Chúa Trời (tiếng Hi Lạp là tèn tou theou dikaiosynèn) và, như trong 1:17 và 3:21-22 cụm từ này đề cập đến hành động của Đức Chúa Trời trong việc làm cho con người trở nên công chính trước mặt Ngài. Tập trung vào việc theo đuổi sự công bình riêng, sự công bình đến bởi việc làm (9:32) và luật pháp (10:5), người Do Thái đã không thuận phục, không sẵn lòng đón nhận bằng đức tin cách Đức Chúa Trời đưa con người vào trong mối quan hệ với chính Ngài.
Một lần nữa việc người Do Thái bận tâm đến luật pháp là một vấn đề nổi bật, như Phao-lô ngụ ý trong câu 4. Vì họ đã không hiểu rằng Chúa Cứu Thế chính là “đỉnh điểm” của luật pháp. Phao-lô thường dùng từ telos, mà một số bản dịch là “tận cùng” (end) hay “mục tiêu” (goal) (NIV, RSV). Tuy nhiên, để giữ hình ảnh cuộc đua của phân đoạn Kinh Thánh, từ này có lẽ bao gồm các yếu tố của cả hai cách dịch này. Chúa Cứu Thế, như Phao-lô đang nói, từ lâu đã là mục tiêu mà luật pháp nhắm đến, và vì mục tiêu ấy nay đã đạt được – Chúa Cứu Thế đã đến – nên việc tìm kiếm luật pháp nay phải ở điểm kết thúc. Câu này đi kèm với Mat 5:17 như là sự diễn giải chính của chủ đề bao trùm Tân Ước: tuyệt đỉnh hay sự hoàn thành luật pháp giao ước cũ và tất cả các thể chế của nó trong Chúa Giê-xu, Đấng Mê-si-a. Với tuyệt đỉnh ấy, là ý định của Đức Chúa Trời ban tặng sự công bình cho bất kỳ ai tin, người ngoại quốc cũng như người Do Thái (Ro 9:30 10:12-13).
Lời tuyên bố thứ ba của Phao-lô về sự tương phản giữa hai cách thức của sự công bình (10:5-13) có hai mục đích chính. Lời này sử dụng chính Cựu Ước để tái khẳng định rằng sự khác biệt chính yếu giữa hai cách thức này là sự khác biệt giữa “việc làm” (thực hiện luật pháp) và “lòng tin” (Phúc Âm) (5-10) và củng cố mức độ “phổ quát” của sự công bình của Đức Chúa Trời bởi đức tin (c.11-13, đối chiếu Ro 10:4 cho mọi kẻ tin). Việc Phao-lô trích dẫn Cựu Ước “chống lại chính nó” trong câu 5-8 đã từng là đề tài của cuộc tranh luận. Chúng ta không thể tránh né vấn đề bằng cách bỏ qua sự tương phản giữa c.5 và 6 (chẳng hạn, Cranfield đã dịch thành từ “và” ở phần đầu câu 6) hay bằng cách phủ nhận việc Phao-lô đang trích dẫn Cựu Ước ở c.6-8). Trái lại, chúng ta phải hiểu Phao-lô đang phân tích đầy đủ hơn ý nghĩa của phân đoạn Kinh Thánh này căn cứ vào sự đến của Chúa Cứu Thế. Có lẽ Le 18:5 được xem như một cách diễn đạt có giá trị cho sự công bình đến luật pháp vì nó tập trung vào đặc điểm của hệ thống luật pháp Môi-se: việc làm. Môi-se nhấn mạnh bằng cách lặp đi lặp lại rằng chỉ bởi vâng lời thì một người Do Thái mới có thể sống, nghĩa là hưởng được những phước hạnh từ giao ước của Đức Chúa Trời. Dựa vào chính những điều khoản và tách khỏi lời hứa của Đức Chúa Trời, luật Môi-se chỉ mang lại khả năng có được sự công bình và sự sống khi nó được thực hiện cách đúng đắn. Qua việc tập trung vào luật Môi-se cách quá thiển cận, người Do Thái đã tự đặt mình vào một tình thế mà chỉ có thể tìm được sự sống và sự cứu rỗi bằng cách vâng theo luật pháp một công việc bất khả thi, như Phao-lô đã trình bày (đối chiếu Ro 3:9-20).
Chính tính sẵn có của sự công bình đến bởi đức tin, tương phản với tính không thể đạt được của sự công bình đến bởi luật pháp, là tâm điểm của những phần trích từ Phu 30:12-14 mà Phao-lô đã chọn lọc để đưa vào câu 6-8. Phân đoạn Kinh Thánh Phục truyền này khuyến khích việc vâng giữ luật pháp Đức Chúa Trời bằng cách nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên rằng “lời” của luật pháp Đức Chúa Trời ở rất gần và không cần phải lên trời hay xuống vực sâu để tìm thấy nó (có lẽ ở đây Phao-lô đã phối hợp lời nói bóng của Thi 107:26 vào phần trích dẫn của mình). Phao-lô có thể áp dụng phân đoạn Kinh Thánh này cho sự chết và sự sống lại của Chúa Cứu Thế (c.6-7) và cho đạo đức tin, là Phúc Âm (c.8), vì ông nhận biết tuyệt đỉnh của luật pháp ở trong Chúa Cứu Thế (c.4). Điều Kinh Thánh Cựu Ước đã gán cho luật pháp thì nay Phao-lô hiểu là đã được “hoàn thành” trong Chúa Cứu Thế và sứ điệp của Phúc Âm: tính sẵn có của phương cách dẫn đến sự công bình. Việc tiếp tục phấn đấu để hoàn thành luật pháp Môi-se như một phương cách dẫn đến sự công bình – như người Do Thái vẫn làm – tương đương với việc đánh mất sự thật rằng hiện nay Đức Chúa Trời đã mang Lời Ngài đến gần con người qua sứ điệp của Phúc Âm về sự chết và sự sống lại của Chúa Cứu Thế.
Câu 9-13 trình bày chi tiết hai ngụ ý của việc Lời Đức Chúa Trời đã đến gần qua Phúc Âm. Thứ nhất, vì Đức Chúa Trời đã “làm” những gì cần thiết để bảo đảm sự công bình, do vậy tất cả những gì con người cần làm là tin. Thứ hai, Phúc Âm đã ở “gần” với tất cả mọi người, chứ không chỉ với người Do Thái. Việc đề cập đến cả miệng lẫn lòng trong Phu 30:14 dẫn Phao-lô đến chỗ phát triển từng phần một trong c.9-10. (Vì đây hình ảnh gốc, nên chúng ta không nên nhấn mạnh quá mức vào việc tuyên xưng bằng miệng, như thể Phao-lô đang nâng nó lên như một yếu tố cần thiết của sự cứu rỗi). Việc công nhận Giê-xu là Chúa là một thành phần của vấn đề mà rõ ràng Phao-lô muốn nhấn mạnh: tin bằng tấm lòng (Ro 2:28-29). Đức tin, chứ không phải việc thực hiện luật pháp, đem đến sự cứu rỗi, và mang nó đến cho mọi người, dù đó là người Do Thái hay người ngoại quốc. Phao-lô chứng minh những điểm này bằng cách trưng dẫn Es 28:16 (c.11 chú ý là Phao-lô đã dùng phần Kinh Thánh này trong Ro 9:33), Gio 2:32 (c.13). Việc biểu lộ cách nhìn nhận rất cao của Phao-lô về Chúa Cứu Thế Giê-xu được thể hiện ở chỗ ông đã áp dụng những phần Kinh Thánh nói về Giê-hô-va Đức Chúa Trời cho Chúa Giê-xu.
Chú thích. 33 Việc Phi-e-rơ Es 28:1 cùng với Ro 8:14 (IPhi 2:6,8) có lẽ đã chỉ ra rằng những câu này là một phần của một tuyển tập của các Cơ-Đốc nhân đầu tiên về “các trích dẫn bằng chứng về Đấng Mê-si-a”, nhấn mạnh Chúa Cứu Thế là “vầng đá”.
Ro 10:1-13 (xem giải nghĩa Ro 9:30-33)
6. Y-sơ-ra-ên không có lý do để bào chữa (Ro 10:14-21)
Trong 9:30-10:13, Phao-lô đã chứng tỏ rằng việc Y-sơ-ra-ên không nhận được sự cứu buộc phải qui trách nhiệm cho sự không tin của họ chứ không phải do lời Đức Chúa Trời là vô ích (9:6a). Bây giờ Phao-lô loại bỏ bất kỳ lý do bào chữa nào mà dân Y-sơ-ra-ên có thể đưa ra để biện minh cho sự không tin của mình bằng cách khẳng định rằng Phúc Âm thật sự đã được mang đến gần dân Y-sơ-ra-ên. Những điều kiện cần cho cho việc tin nhận Phúc Âm và tìm gặp được sự cứu rỗi đã được đáp ứng (c.14-15,17-18). Vì thế, sai lầm nằm ở dân Y-sơ-ra-ên vì họ đã từ chối vâng theo Phúc Âm (c.16) và vì không hiểu được chính Kinh Thánh Cựu Ước, vốn đã tiên tri về những điều mà Đức Chúa Trời hiện đã làm trong Phúc Âm (c.19-21).
Trong câu 14-15a, Phao-lô đã dùng một loạt các câu hỏi để đưa ra một loạt các điều kiện phải được đáp ứng nếu người ta muốn “kêu cầu danh Chúa” (c.13): sứ giả phải được sai đi, sứ điệp phải được giảng ra, người ta phải nghe sứ điệp và việc lắng nghe phải được đáp ứng bằng đức tin. Sau đó Phao-lô trích dẫn Es 52:7 Những bàn chơn kẻ rao truyền Tin Lành là tốt đẹp biết bao - để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sai người đi rao giảng và cũng để chuyển sang tập trung chi tiết vào Phúc Âm. Vì trong câu 16 Phao-lô trình bày rõ rằng điều kiện trong chuỗi này vẫn chưa được hoàn tất là trách nhiệm của những người nghe rao giảng Phúc Âm để đáp ứng lại bằng sự vâng phục và đức tin. Như bản dịch NIV đã cho thấy (tiếng Hi Lạp chỉ có từ ou pantes “không phải tất cả”), Phao-lô lại đang đặc biệt nghĩ về người Y-sơ-ra-ên. Một lần nữa Phao-lô trích dẫn Ê-sai (Es 53:1) để xác nhận lời tiên tri về việc người Y-sơ-ra-ên không đáp ứng với sứ điệp (cũng đối chiếu Gi 12:38).
Câu 17 bắt đầu một phân đoạn mới. Dùng từ ngữ trong Es 53:1, Phao-lô nói lại mối liên hệ giữa đức tin và việc nghe sứ điệp (c.14) và đồng nhất sứ điệp này với lời của Đấng Christ, tức là “lời tuyên bố về Chúa Cứu Thế”, Phúc Âm (đối chiếu c.15-16). Điểm mà Phao-lô nêu trong c.18-20 là để chứng tỏ rằng thực sự Y-sơ-ra-ên “đã nghe” lời về Chúa Cứu Thế và “đã biết” về kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời như ngày nay điều này đã được bày tỏ qua việc rao giảng Phúc Âm. Có thể Phao-lô không trích dẫn Thi 19:4 (c.18b) như một lời tiên tri về việc giảng Phúc Âm, mà chỉ đơn giản là dùng ngôn ngữ của nó để khẳng định Phúc Âm đã được công bố rộng rãi cho người Do Thái khắp vùng Địa Trung Hải. Có lẽ chính việc giới thiệu về cụm từ “đầu cùng đất” trong phần trích này đã dẫn đến ở c.19-20 Phao-lô phản ánh điều mà với người Do Thái vào thời ông là một “hòn đá vấp chơn” trên con đường tiếp nhận Phúc Âm: việc Hội Thánh bao gồm cả người ngoại quốc. Phao-lô chứng tỏ từ cả thời Môi-se (Phu 32:21) lẫn thời Ê-sai (Es 65:1) Đức Chúa Trời đã có kế hoạch bao gồm cả người ngoại quốc vào kế hoạch cứu rỗi tối hậu của Ngài và khiến họ trở nên dân Ngài (đối chiếu Ro 9:24-26). Tiếp tục trích dẫn Ê-sai (Es 65:2), Phao-lô kết thúc phần lý luận này của mình bằng cách nhắc nhở độc giả hai sự kiện quan trọng: Đức Chúa Trời vẫn luôn bày tỏ lời của ân điển Ngài, là Phúc Âm, cho người Do Thái nhưng về phần mình, họ đã bội nghịch và hay nói trái.
7. Y-sơ-ra-ên hiện tại: “một dân sót lại bởi ân điển” (Ro 11:1-10)
Như Phao-lô đã mô tả trong Ro 9:30-10:21, dường như tình trạng hiện tại của dân Y-sơ-ra-ên là chống nghịch dai dẳng với sự mặc khải về sự công bình của Đức Chúa Trời trong Phúc Âm. Như câu kết luận đã trình bày, dân Y-sơ-ra-ên “bội nghịch và hay nói trái”. Tuy nhiên, đây không phải là điểm chính mà Phao-lô nhắc nhở chúng ta ở đây. Trong 9:24,27-29 ông đã nhấn mạnh rằng dân Do Thái còn sót lại là một phần của dân Đức Chúa Trời. Nay ông trở lại với chủ đề này, và trình bày rõ rằng trong khi một phần dân Y-sơ-ra-ên đáng kể đã bị “cứng lòng” (c.7-10 đối chiếu 9:30-10:21) thì vẫn còn một phần còn sót lại theo sự lựa chọn của ân điển (c.5) là những người Do Thái đã tin Chúa Cứu Thế.
Một lần nữa Phao-lô chứng tỏ sự nhạy bén của mình đối với cách thức mà qua đó giáo lý của ông có thể bị hiểu lầm qua việc đặt ra câu hỏi Đức Chúa Trời có bỏ dân Ngài chăng? (c.1). Việc Đức Chúa Trời không nhận Y-sơ-ra-ên làm “dân Ngài” có thể là kết luận rút ra từ lập luận của Phao-lô, cho rằng việc làm dân Đức Chúa Trời hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự “kêu gọi” tối thượng của Đức Chúa Trời chứ không phải vào việc thuộc về dòng dõi Áp-ra-ham theo phần xác (9:6-29), và từ lời buộc tội của ông rằng Y-sơ-ra-ên đã không chịu phục sự công bình của Đức Chúa Trời (9:30-10:21 đối chiếu 10:3). Nhưng, như Phao-lô nêu ở đây, đây không phải là kết luận ông muốn chúng ta rút ra. Đức Chúa Trời chẳng từng bỏ dân Ngài đã biết trước (c.2a Thi 94:14). Phao-lô không chỉ khẳng định sự chọn cứu rỗi dân sót lại (đối chiếu Ro 9:6-9 11:3-6 Calvin cũng vậy) mà còn khẳng định một tiếp tục “sự chọn lựa” toàn bộ dân Y-sơ-ra-ên (11:28-29). Vì thế, sự khẳng định này có vai trò như tiêu đề của toàn chương, vì Phao-lô mô tả việc Đức Chúa Trời chọn lựa Y-sơ-ra-ên diễn ra như thế nào trong hiện tại qua việc cứu rỗi dân sót lại (c.3-10) và trong tương lai qua sự cứu rỗi “toàn thể Y-sơ-ra-ên” (c.11-27).
Phao-lô cho biết tình hình trong thời ông có thể so sánh với tình hình trong thời Ê-li. Trước sự ngã lòng của nhà tiên tri vì có quá nhiều người Y-sơ-ra-ên từ bỏ sự thờ phượng Đức Giê-hô-va, Đức Giê-hô-va đã bảo đảm với người rằng vẫn còn một bộ phận nòng cốt gồm 7000 “tín hữu thật” (IVua 19:10-18). Tương tự, dù đa số người Do Thái trong thời Phao-lô không tin, nhưng vẫn còn một phần còn sót lại theo sự lựa chọn của ân điển. Một con số đáng kể gồm những người Do Thái - như chính Phao-lô (đối chiếu c.1b) – đã vâng theo Phúc Âm của Chúa Cứu Thế và đã được cứu. Nhưng phần dân sót lại này tồn tại như là sản phẩm của ân điển Đức Chúa Trời, và vì vậy không thể được cứu bởi việc làm (c.6). Chính sự quá bận tâm đến việc làm này đã chứng minh cho sự thất bại của nhiều người anh em Do Thái của Phao-lô, và dẫn đến kết quả là họ không có được sự công bình mà họ siêng năng tìm kiếm (c.7 đối chiếu Ro 9:31-32 10:2-3). Nhưng, như chính sự can thiệp của Đức Chúa Trời đã đem đến sự cứu rỗi cho những người được chọn (đối chiếu ơn trong c.6), thì cũng chính hành động của Đức Chúa Trời mà những kẻ khác không thể có được sự cứu rỗi họ bị làm cho cứng lòng. Việc Đức Chúa Trời là nguyên nhân của sự cứng lòng này được trình bày rõ qua phần trích kết hợp Phu 29:4 và Es 29:10 trong câu 8, và qua phần Kinh Thánh tương tự đựơc trích dẫn trong Ro 9:18 -mặc dù từ Hy-lạp khác (sklèrynò) được dùng ở đó, nhưng khái niệm vẫn như nhau). Mặc dù dân Y-sơ-ra-ên vẫn phải chịu trách nhiệm hoàn toàn việc họ không đáp ứng lại với Phúc Âm, Phao-lô vẫn nêu rõ ở đây rằng bởi một lý do bí ẩn nào đó, Đức Chúa Trời vẫn là nguyên nhân của việc họ không chịu đáp ứng.
8. Tương lai của Y-sơ-ra-ên: Sự cứu rỗi (Ro 11:11-32)
Sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với lời hứa Y-sơ-ra-ên là một dân (9:6a) vẫn không thay đổi: Ngài sẽ không chối bỏ dân mà Ngài đã biết trước (c.1-2). Sự vô tín của đại đa số những người anh em Do Thái của Phao-lô không thể che mắt chúng ta khỏi thực tế sự cứng lòng của dân Y-sơ-ra-ên không mang tính toàn thể (“Ngày nay còn một phần dân sót lại theo sự lựa chọn của ân điển” c.5) cũng không có mang tính chấm hết (cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu câu 26). Sự tiên báo về việc trong tương lai dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu rỗi là trọng tâm của phần này và đình điểm của phần Phao-lô bàn luận về Y-sơ-ra-ên và Phúc Âm. Phao-lô hướng đến điều này bằng cách chứng tỏ Đức Chúa Trời đang dùng sự vô tín hiện tại của dân Y-sơ-ra-ên để hoàn thành kế hoạch cứu rỗi thế gian của Ngài ra sao (c.11-24). Việc ông trách các tín hữu người ngoại quốc vì đã “khoe mình” cách không phải lẽ so với người Do Thái chưa tin chứng tỏ rằng thần học mà Phao-lô khai triển trong phần này có một ứng dụng thực tiễn rất cụ thể.
(Ro 11:11-24) Người Do Thái và người ngoại quốc trong kế hoạch của Đức Chúa Trời Một lần nữa, Phao-lô dùng câu hỏi để giới thiệu bước lý luận tiếp theo: Có phải dân Y-sơ-ra-ên vấp chơn dường ấy hầu cho té xuống chăng? Câu trả lời nhanh gọn và mạnh mẽ của ông, Chẳng hề như vậy!, một lần nữa chứng minh rằng câu hỏi này để lộ một sự hiểu lầm về điều mà Phao-lô đã nói. Thật vậy, xét về toàn thể dân Y-sơ-ra-ên đã “vấp chơn”: họ đã không có đức tin trong Chúa Cứu Thế, vốn là phương cách ban sự công bình mà Đức Chúa Trời đã chỉ định (9:33 10:2-4). Nhưng sự vấp chân của dân Y-sơ-ra-ên không đưa đến sự hư nát không thể cứu vãn được. Vì tội lỗi của người Do Thái đã hoàn tất một quá trình mà bởi đó sẽ khiến họ giục lòng tranh đua và mang đến kết quả cuối cùng là sự cứu rỗi (c.11b đối chiếu 11:26). Việc này xảy ra qua một giai đoạn trung gian: sự cứu rỗi người ngoại quốc. Phao-lô muốn nói rằng việc người Do Thái từ chối đáp ứng lại Phúa Âm đã mở ra con đường để rao giảng Phúc Âm cho người ngoại quốc một hoàn cảnh mà Phao-lô đã chứng kiến nhiều lần trong công việc truyền giáo của chính mình (ví dụ Cong 13:45-47 18:6 19:8-10 28:24-28). Đồng thời, chúng ta phải nhấn mạnh rằng việc chuyển từ người Do Thái sang người ngoại quốc có lý do quan trọng hơn chứ không phải là do hoàn cảnh lịch sử: như Tân Ước nêu rõ ở đây cũng như ở những chỗ khác, đây là một phần kế hoạch cứu rỗi tối thượng của Đức Chúa Trời (xem phần trích Es 49:6 trong Cong 13:47 Am 9:11-12 trong Cong 15:16-18). Vì thế, khi người Do Thái thấy người ngoại quốc được hưởng phước của Đức Chúa Trời, họ cũng lần lượt giục lòng tranh đua, như lời Phu 32:21 tiên đoán mà Phao-lô đã trích dẫn lại trong Ro 10:19.
Trong đoạn này Phao-lô đặt sự vô tín của người Do Thái trong bối cảnh của một kế hoạch đang được bày tỏ của Đức Chúa Trời để cứu rỗi tất cả dân Ngài. Kế hoạch ấy bao gồm một sự tác động qua lại giữa người Do Thái và người ngoại quốc trong ba giai đoạn: (i) sự phạm tội của người Do Thái mở ra một con đường để (ii) cứu rỗi dân ngoại, là điều cuối cùng sẽ đưa đến (iii) sự cứu rỗi dân Do Thái. Tầm quan trọng của điểm này đối với lý luận của Phao-lô được bày tỏ qua việc ông nhấn mạnh điểm này không dưới sáu lần ở phần này (đối chiếu c.12,15,16,17-24,25-26,30-31). Trong câu 12 và một lần nữa trong câu 15 sự bao gồm người Do Thái sau cùng – sự thạnh vượng của họ/sự họ trở lại – đưa đến giai đoạn thứ tư: sự giàu có càng hơn/sự sống lại từ trong kẻ chết. Vì Phao-lô trình bày sự gồm tóm người Do Thái này như một biến cố của thời kỳ cuối cùng (11:26), rất có thể những nhóm từ này đề cập đến sự thành lập sau cùng của Nước Đức Chúa Trời qua sự đến của Chúa Cứu Thế, đem theo nó phước hạnh đặc biệt và sự sống lại cho kẻ chết.
Ngoài việc giải thích thể nào sự phạm tội của dân Y-sơ-ra-ên trong hiện tại đảo ngược, chương trình này còn làm thành hai mục đích khác nữa. Thứ nhất, Phao-lô muốn dùng điều này để giải thích vì sao việc làm sứ đồ cho dân ngoại của ông không xuất phát từ mong ước sâu xa của ông là cứu được càng nhiều người anh em Do Thái càng tốt (c.13-14). Bởi vì qua việc trở lại đạo của người ngoại quốc, Phao-lô đồng thời cũng nuôi dưỡng lòng ganh đua lớn hơn nữa giữa vòng người Do Thái và có lẽ làm cho ngày mà “số dân ngoại nhập vào được đầy đủ” (c.25) đến gần hơn.
Thứ hai, qua quá trình này Phao-lô tìm thấy lý do để khiển trách các Cơ Đốc nhân ngoại quốc tại Rô-ma về thái độ khoe khoang của họ đối với người Do Thái (c.17-24). Phao-lô trình bày rõ trong câu 13 rằng ông đang viết cho các tín hữu ngoại quốc này với tư cách là những cá nhân có trách nhiệm về c.17-24 (chữ “ngươi” trong những câu này đều ở số ít). Những câu này mô tả lối nói ẩn dụ quen thuộc của Phao-lô về cây ô-li-ve. Phao-lô so sánh “rễ” cây này với tổ phụ của dân Y-sơ-ra-ên (c.28), nhánh nguyên với người Do Thái, cây ô-li-ve hoang với dân ngoại và cây ô-li-ve là dân Đức Chúa Trời. Các học giả đã tranh luận có phải hình ảnh Phao-lô sử dụng bắt nguồn từ những công việc làm vườn thực tế vào thời đó không. Tuy nhiên, tranh luận của họ đã đi sai hướng, vì rất có thể Phao-lô đang sửa lại quá trình tự nhiên để nó phù hợp với ứng dụng thần học của mình. Sự khoe mình của các Cơ Đốc nhân người ngoại quốc về điều mà Phao-lô quan tâm ở đây dường như bắt nguồn từ việc các nhánh tự nhiên, là người Do Thái, đã bị cắt đi, nên những cây ô-li-ve hoang, là các dân ngoại, có thể được tháp vào (c.17,19). Phao-lô không phản bác vấn đề này, và thực sự, chính ông vừa mới khẳng định một điều rất giống với điều này (c.11-12,15) – nhưng ông chống lại việc Cơ Đốc nhân ngoại quốc có quyền khoe mình về sự kiện ấy. Họ không được quên rằng rễ của cây ô-li-ve mà họ đã được tháp vào chính là người Do Thái, vì dân của Đức Chúa Trời được lập dựa trên lời hứa và mối quan hệ của Ngài với các tộc trưởng (cũng đối chiếu 4:11-12,16-17 Ga 3:15-29). Hội Thánh mà các Cơ Đốc nhân người ngoại quốc tại Rô-ma là thành viên không gì khác hơn một sự tiếp nối của dân của Đức Chúa Trời từ thời Cựu Ước.
Phao-lô đưa ra lý do thứ hai tại sao các dân ngoại không nên khoe mình: điều này thật nguy hiểm cho tình trạng thuộc linh của một người. Vì sự khoe khoang là điều trái ngược với đức tin, vốn là một sự thái độ tiếp nhận khiêm nhường của chúng ta quà tặng cứu rỗi của Đức Chúa Trời (c.20-22). Người Do Thái vì sự vô tín mà đã để mất vị trí của mình trong hàng ngũ dân sự Đức Chúa Trời và các Cơ Đốc nhân ngoại quốc tại Rô-ma cần phải nhận ra mối nguy hiểm mà họ tự đặt ra cho mình nếu họ cũng phạm phải tội lỗi tương tự.
Ở cuối phần này (c.23-24), Phao-lô trở lại điểm mà ông bắt đầu (c.12-13), dùng hình ảnh cây ô-li-ve để đem đến hy vọng về sự cứu rỗi cuối cùng cho người Do Thái: Mặc dù hiện tại bị cắt đi (c.17,20), nhưng các nhánh cây tự nhiên này tiếp tục dự phần vào sự thánh khiết của rễ cây mà từ đó chúng sinh ra (c.16b). Vì thế sẵn sàng hơn nhiều so với dân ngoại, là những người được tháp vào một cách nghịch tánh, người Do Thái có thể được tháp trở lại một lần nữa vào cây ô-li-ve của Đức Chúa Trời. Nhưng điều này chỉ có thể xảy ra nếu người Do Thái không ghì mài trong sự chẳng tin. Mặc dù sự cứu rỗi dân Y-sơ-ra-ên rốt lại chắc chắn là công việc của Đức Chúa Trời, nhưng điều này không thể xảy ra nếu không có sự đáp ứng của đức tin vốn là điều Đức Chúa Trời luôn xem là điều kiện tiên quyết để hưởng được phước hạnh của Ngài.
(Ro 11:25-32) “Cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu” Hy vọng về sự phục hồi của Y-sơ-ra-ên trong tương lai mà Phao-lô đã gợi ý xuyên suốt từ câu 11-24 (đối chiếu c.12,15,23-24) nay lại được ông khẳng định dưới hình thức của sự bày tỏ một sự mầu nhiệm. Phao-lô sử dụng thuật ngữ này dựa trên Cựu Ước (Da 2:27-30,47 4:9) và khái niệm tiên tri của người Do Thái mà theo đó kế hoạch của Đức Chúa Trời về lịch sử được định liệu đầy đủ nhưng được giấu kín và chờ đợi đến thời điểm thích hợp mới được bày tỏ (đặc biệt xem thêm ICo 2:7 Eph 3:9 Co 1:26-27). Đối với Phao-lô, thành phần chính của sự mầu nhiệm mà nay đã được bày tỏ là phương cách mà Đức Chúa Trời đang thực hiện với người ngoại quốc (Eph 3:1-10). Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi Phao-lô nói rằng sự tác động qua lại giữa người Do Thái và người ngoại quốc trong kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời là một “sự mầu nhiệm”. Câu 25a nêu lại vắn tắt quá trình mà Phao-lô đã phác hoạ nhiều lần trong những câu 11-24: Một phần dân Y-sơ-ra-ên đã sa vào sự cứng lòng, cho đến chừng nào số dân ngoại nhập vào được đầy đủ. Việc Đức Chúa Trời làm cứng lòng người Do Thái, như Phao-lô đã bày tỏ trong câu 3-10 chỉ mang tính cục bộ, vì một số người Do Thái đang đến với Chúa Cứu Thế và được cứu. Và đã hơn một lần ông gợi ý về giới hạn thời gian của sự cứng lòng này, mà bây giờ ông giải thích rõ: nó chỉ kéo dài cho đến khi số dân ngoại đã được định theo ý Đức Chúa Trời đã vào nước Đức Chúa Trời (đối chiếu Lu 21:24).
Sự nhấn mạnh rõ ràng về thời gian ở câu 25 cho thấy rõ rằng sự cứu rỗi cả Y-sơ-ra-ên (c.26a) phải xảy ra sau khi số người ngoại quốc đã nhập vào đầy đủ. Để chắc chắn, từ ngữ mở đầu câu này (houtos) không tập trung vào thời gian của sự cứu rỗi, mà tập trung vào tính chất của nó, vậy thì hay “theo các này”. Nhưng, như Phao-lô đã chứng minh nhiều lần, cách thức Đức Chúa Trời đem Y-sơ-ra-ên đến với sự cứu rỗi sẽ là một giai đoạn cuối cùng trong tiến trình của lịch sử. Vì vậy, không thể nào qua câu này Phao-lô đang nói về sự cứu rỗi người Do Thái xuyên suốt lịch sử Hội Thánh. Tương đương quan điểm mà các nhà cải chánh đưa ra rằng Phao-lô đang đề cập đến sự cứu rỗi của toàn Hội Thánh, “dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời” (đối chiếu Ga 6:16) cũng không chắc chắn. Suốt chương 9-11, chữ dân Y-sơ-ra-ên chỉ về chủng tộc hơn là một tổ chức thuộc linh, và sự tương phản với dân ngoại trong câu 25 càng cho thấy nghĩa này phù hợp ở đây. Phao-lô đang mô tả một sự kiện sẽ xảy ra vào thời điểm cuối cùng của lịch sử, khi Chúa Cứu Thế trở lại trong vinh quang như Es 59:20-21 đã trình bày, khi “Đấng Giải Cứu sẽ đến từ Si-ôn” và tội lỗi của Y-sơ-ra-ên sẽ được cất đi (c.26b-27). Cụm từ Cả dân Y-sơ-ra-ên có ý nghĩa toàn thể: không có nghĩa là từng người Y-sơ-ra-ên một trong thế hệ cuối cùng, trái ngược với con số ít ỏi hiện tại, đó là một số lượng người đủ đông để đại diện cho toàn bộ dân tộc này. - đối chiếu cách ngôn Hê-bơ-rơ “Mọi người Y-sơ-ra-ên đều có phần trong đời sau”, và tiếp theo là một bản liệt kê những trường hợp ngoại lệ (m. Sanh. 10:1). Một số học giả lý luận rằng Đức Chúa Trời sẽ cứu Y-sơ-ra-ên theo một “cách đặc biệt”, không phải bởi đức tin rõ rằng đặt nơi Chúa Giê-xu, nhưng điều này không đúng. Sự cứu rỗi cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ diễn ra chỉ khi nào từng cá nhân người Y-sơ-ra-ên của thời đại đó đặt đức tin mình nơi Chúa Cứu Thế (c.23: “nếu họ không ghì mài trong sự chẳng tin”). Đức tin trong Chúa Cứu Thế là phương tiện cứu rỗi duy nhất, cho người Do Thái cũng như người ngoại (Ro 1:16-17 10:11-13).
Phao-lô tiếp tục phần tiên báo theo phép tăng dần của mình về sự cứu rỗi cho “cả dân Y-sơ-ra-ên” theo cơ sở của nó: sự chọn lựa mà Đức Chúa Trời không thể huỷ bỏ đối với dân Y-sơ-ra-ên của Ngài (c.28-29) và quyết tâm của Ngài trong việc bày tỏ lòng thương xót cho “hết thảy” (c.30-32). Cả hai điểm này đều trình bày lại các thành tố căn bản trong lý luận của Phao-lô ở các chương này. Như Phao-lô đã trình bày rõ, toàn bộ dân Do Thái hiện tại, do chối bỏ Phúc Âm, đều là nghịch thù của Đức Chúa Trời (9:30-10:21). Đồng thời ông cũng đã nói rõ rằng việc chọn lựa dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời vẫn còn hữu hiệu (11:1-2). Nhưng chúng ta không được quên điều mà Phao-lô đã lý luận trong 9:6b-29 việc chọn lựa Y-sơ-ra-ên căn cứ trên sự kêu gọi tự do và tối thượng của Đức Chúa Trời chứ không căn cứ trên dòng dõi. Vì vậy, tính hiệu lực tiếp tục của việc chọn lựa Y-sơ-ra-ên, trong phạm vi sự cứu rỗi chịu ảnh hưởng, phải được giới hạn trong những bối cảnh mà Phao-lô đã mô tả: việc đến với Chúa Cứu Thế của dân Do Thái xuyên suốt thời kỳ Hội Thánh (dân sót lại đối chiếu 9:27-29 11:3-7) và việc trở lại đầy kịch tính với Đấng Mê-si-a của số đông những người Do Thái vào thời điểm Chúa Cứu Thế trở lại (11:25-27). Câu 30-31 nhắc lại một lần cuối tiến trình không vâng phục của người Do Thái/sự cứu rỗi dân ngoại/sự cứu rỗi người Do Thái, vốn là tâm điểm phần lý luận này của Phao-lô. Chính khái niệm về sự tác động qua lại giữa dân Do Thái và dân ngoại mà câu 32 phải được giải thích. Ở đây Phao-lô không giảng dạy về một thuyết phổ độ mang tính cá nhân rằng mỗi một người sẽ kinh nghiệm sự thương xót của Đức Chúa Trời, và nhờ đó mà cứu rỗi (chẳng hạn, như Dod và Cranfield đã gợi ý). Trái lại, ông đang giảng dạy về một thuyết phổ độ mang tính dân tộc: Lòng thương xót của Đức Chúa Trời đến với cả người ngoại quốc lẫn người Y-sơ-ra-ên.
9. Mục đích và kế hoạch đáng kính sợ của Đức Chúa Trời (Ro 11:33-36)
Phao-lô đúc kết phần nhận định của mình về quá khứ, hiện tại và tương lai của Y-sơ-ra-ên bằng một bài ngợi khen Đức Chúa Trời, Đấng có những phương cách vượt trên sự hiểu biết và đoán định của chúng ta. Sự khôn ngoan và thông biết của Đức Chúa Trời (c.33) đề cập cụ thể đến sự bày tỏ những mục đích Ngài trong Chúa Cứu Thế (Eph 3:5,10 Co 2:3). Như Phao-lô đã chứng minh trong chương 9-11, những mục đích này đang được thực hiện trong bối cảnh của một quá trình lịch sử bao gồm cả dân Do Thái lẫn dân ngoại. Có thể chúng ta không thể hiểu hết mọi chi tiết của kế hoạch ấy, và thậm chí có lẽ chúng ta bị cám dỗ để không đồng ý với một vài chi tiết trong kế hoạch ấy, nhưng như Phao-lô nhắc chúng ta qua những lời trích trong Cựu Ước ở câu 34-35 (Es 40:13 Giop 41:11a), bất kỳ sự bình luận nào của chúng ta, là những kẻ hữu hạn, đều hoàn toàn không phù hợp. Vì Đức Chúa Trời là nguồn (từ Ngài), là Đấng nâng đỡ (bởi Ngài) và là mục tiêu (hướng về Ngài) của mọi vật. Đối diện với Đức Chúa Trời tối thượng và khôn ngoan, chúng ta chỉ có thể phản ứng như Phao-lô: Vinh hiển cho Ngài đời đời vô cùng!
5. PHÚC ÂM VÀ SỰ BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG (Ro 12:1-15:13)
Phao-lô đã chứng minh rằng Phúc Âm mà ông rao giảng có quyền năng biến đổi Cơ Đốc nhân từ lãnh địa của tội lỗi và sự chết sang thế giới của sự công bình và sự sống. Nhưng sự biến đổi này, như Phao-lô đã từng nhấn mạnh (Ro 6:11-23 8:12-13), không miễn trừ Cơ Đốc nhân khỏi trách nhiệm sống bày tỏ sự công bình đã được ban cho một cách nhưng không trong Phúc Âm. Đức Chúa Trời đang làm việc để biến đổi chúng ta theo hình ảnh Con Ngài (8:29), nhưng chúng ta phải tham gia vào quá trình này như chúng ta thực hiện để làm cho sự biến đổi này trở nên thực hữu trong đời sống hằng ngày của mình. Vì thế 12:1-15:13 liên quan một cách tự nhiên đến sự trình bày Phúc Âm của Phao-lô thật vậy, sự trình bày của ông chắc sẽ không đầy đủ nếu thiếu phần này. Một cách sống mới không phải là kết quả của Phúc Âm, mà là một phần của Phúc Âm mà mục đích của nó là đem lại “sự vâng phục của đức tin” (1:5).
Lời kêu gọi ở phần đầu của Phao-lô gồm tóm ý nghĩa chính của việc sống đời sống một Cơ Đốc nhân (12:1-2). Tiếp theo là những lời kêu gọi cụ thể liên quan đến sự hiệp một và các ân tứ (12:3-8), lòng yêu thương đối với anh em cùng niềm tin lẫn người chưa tin (12:9-21), thái độ đối với bậc cầm quyền (13:1-7) và một lần nữa, đề cập về tình yêu thương (13:8-10). Trong 13:11-14 Phao-lô trở lại điều ông đã bắt đầu trong 12:1-2 với lời nhắc nhở khác về bản chất của thời kỳ mà Cơ Đốc nhân hiện đang sống. Phao-lô kết thúc thư bằng một phần dài khiển trách người mạnh, kẻ yếu trong Hội Thánh tại Rô-ma (14:1-15:13). Rõ ràng trong phần cuối này Phao-lô đang viết về những điều có liên quan đến tình hình cụ thể của Hội Thánh Rô-ma. Lời kêu gọi trước (chương 12-13) không hướng cụ thể vào tình hình tại Rô-ma như thế. Tuy nhiên, mặc dù Phao-lô đang tóm tắt một cách tổng quát một số nền tảng của đời sống Cơ Đốc, ta vẫn thấy ông ám chỉ đến những nhu cầu và nan đề của Hội Thánh Rô-ma.
1. Trọng tâm của vấn đề: một tâm trí được đổi mới (Ro 12:1-2)
Lời Phao-lô kêu gọi chúng ta thay đổi đời sống mình không phải là vô nghĩa. Chính bởi sự thương xót của Đức Chúa Trời mà lời kêu gọi của ông mới trở nên thích hợp và sự vâng lời của chúng ta trước lời kêu gọi đó mới có thể xảy ra. Khi chúng ta nhận ra tất cả (trong tiếng Hi Lạp, từ “thương xót” ở số nhiều) những gì Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta trong Con Ngài, như Phao-lô đã nói về điều này trong chương 1-11, chúng ta nhận thấy rằng việc dâng thân thể mình cho Đức Chúa Trời làm của lễ sống thật sự là một hành động thờ phượng “phải lẽ”(logikçn). Từ sống nhắc chúng ta về những gì Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta: chúng ta là những người mà nay “sống cho Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Giê-xu Christ” (6:11). Phao-lô khích lệ chúng ta hãy xem cả đời sống Cơ Đốc nhân của mình như một hành động của sự thờ phượng. Không phải chỉ những gì được thực hiện vào ngày Chúa Nhật tại nhà thờ là “có giá trị” với Đức Chúa Trời, mà cả những gì Đức Chúa Trời và thế gian nhận thấy qua đời sống hàng ngày của chúng ta từng giây từng phút trong tuần lễ.
Mặc dù có quan hệ song song với câu 1 về ngữ pháp, câu 2 thực sự giải thích chi tiết hơn nữa việc dâng thân thể chúng ta làm của lễ sống sẽ được thực hiện như thế nào. Điều cần làm không gì khác hơn là một sự biến đổi hoàn toàn về quan niệm thế gian. Chúng ta không được nhìn cuộc sống theo cách của đời này, vốn là lãnh địa của tội lỗi và sự chết mà chúng ta được ra khỏi bởi quyền năng của Đức Chúa Trời (5:12-21), mà phải theo cách của thế giới mới mà chúng ta được bước vào, một thế giới được sự cai trị của sự công bình, sự sống và Đức Thánh Linh. Vì vậy, dù sống trong thế gian nhưng chúng ta không còn “thuộc về thế gian” nữa (Gi 17:15-16). Căn bản của đời sống Cơ Đốc thành công là sự biến hoá (đổi mới) của tâm trí chúng ta để chúng ta có thể biết ý muốn của Đức Chúa Trời nghĩa là nhận ra và thực hiện ý muốn Đức Chúa Trời trong mọi tình huống mà chúng ta đối diện. Đức Chúa Trời đã không ban cho chúng ta một loạt những điều răn chi tiết để hướng dẫn chúng ta nhưng Ngài ban cho chúng ta Thánh Linh Ngài, Đấng đang làm việc để biến đổi tấm lòng, tâm trí chúng ta từ bên trong, ngõ hầu chúng ta vâng phục Đức Chúa Trời một cách tự nhiên và không gượng ép (Ro 7:6 8:5-9 Gie 31:31-34 IICo 3:6-7 Eph 4:22-24).
2. Sự khiêm nhường và các ân tứ (Ro 12:3-8)
Mục đích của Phao-lô trong phân đoạn này là nuôi dưỡng sự hiệp một trong vòng các Cơ Đốc nhân bằng cách khuyến khích thái độ khiêm nhường và tôn trọng lẫn nhau, cụ thể là trong sự nhận lãnh và sử dụng các ân tứ thuộc linh. Phao-lô khuyên nhủ chúng ta đừng tự đề cao mình, mà phải nhìn nhận mình một cách chân thực và khách quan. Chúng ta phải tự đo lường chính mình, không phải bởi người khác, mà bởi lượng đức tin (metron pisteơs.) Một số người lấy những cụm từ này để chỉ về lượng đức tin khác nhau mà Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi người (đối chiếu bản NIV và RSV). Tuy nhiên mạch văn ở đây cho thấy rằng Phao-lô đang nói về đức tin Cơ Đốc nói chung mà qua đó mỗi người trong chúng ta tự đo lường mình (JB:”đức tin tiêu chuẩn”). Khi chúng ta làm điều này, sự so sánh giữa chúng ta với các tín hữu khác sẽ không còn quan trọng nữa, cụ thể là vì Đức Chúa Trời đã ban các ân tứ khác nhau cho các thành viên của Hội Thánh, là thân thể của Chúa Cứu Thế (c.4-5). Điều cần thiết là nhận thức được sự đa dạng đẹp đẽ của điều Đức Chúa Trời ban cho và Thánh Linh hướng dẫn và sự bổ sung cho nhau trong Hội Thánh (ICo 12:4-31 để thấy sự nhấn mạnh tương tự).
Mặc dù đoạn này không đề cập rõ ràng vai trò của Đức Thánh Linh, nhưng sự liên quan của Ngài được ngụ ý qua việc đề cập đến các “ân tứ” (charismata đối chiếu Ro 1:11 ICo 12:7-11). Phao-lô còn đề cập đến các ân tứ cụ thể ở hai chỗ khác nữa (12:7-11,28 Eph 4:11). Việc so sánh hai phần Kinh Thánh này cho thấy rằng ông không tìm cách dựa vào những phần này để nêu ra một bản liệt kê đầy đủ. Trái lại, ở mỗi chỗ, Phao-lô chọn ra một số ví dụ thích hợp với mục đích của ông. Ở điểm này, mục tiêu của Phao-lô là khuyến khích mỗi Cơ Đốc nhân dùng những ân tứ của mình một cách mạnh mẽ và đúng đắn cũng như không nên lo lắng về ân tứ mà người khác có thể có, hay cách mà họ sử dụng những ân tứ ấy. Nói tiên tri (6b) là ân tứ truyền đạt cho những tín hữu khác lẽ thật mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho người nói tiên tri (ICo 14:1-32). Người nói tiên tri phải thực hành ân tứ của mình theo lượng đức tin (có lẽ là thực hiện vai trò của mình trong toàn bộ công tác của Hội Thánh). Làm chức vụ (phục vụ c.7a) có lẽ chỉ về một chức vụ cụ thể như giảng dạy hay hướng dẫn thờ phượng, nhưng cũng có thể dùng để chỉ chung về nhiều chức vụ khác nhau (12:5). Dạy dỗ (c.7b) là việc truyền dạy các giáo lý Cơ Đốc (IITi 2:2) khuyên bảo (khích lệ c.8) đề cập đến phạm vi rộng hơn về các chức vụ truyền đạt. Chúng ta được nhắc nhở về nhiều cách thức khác nhau mà Đức Chúa Trời dùng để hướng mọi người đến sự phục vụ Ngài và cộng đồng bằng cách đề cập cả về ân tứ giúp đỡ cho nhu cầu của người khác (bố thí) (c.8b).
3. Tình yêu thương (Ro 12:9-21)
Những câu Kinh Thánh này không chỉ nói về một chủ đề đơn lẻ, vì Phao-lô đề cập đến các yếu tố khác nhau của “ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời mà Cơ Đốc nhân có tâm trí đã được đổi mới phải bày tỏ (c.2b). Nhưng chúng có một chủ đề chính: phải có lòng yêu thương người khác, được tuyên bố trong câu 9, và vì vậy nó có vai trò như là tiêu đề cho cả phần. Mặc dù không thể phân định rõ ràng, chúng ta cũng có thể chia đoạn này thành hai phần chính, c.9-16 và c.17-21. Phần đầu tập trung nhiều hơn vào trách nhiệm của Cơ Đốc nhân đối với các Cơ Đốc nhân khác, trong khi phần sau (được nói trước trong c.14) tập trung vào các mối quan hệ với người ngoài Hội Thánh. Số lượng những câu giống với lời dạy của Chúa Giê-xu (đặc biệt so sánh c.14 với Mat 5:44 và c.21 với 5:39) cho thấy rằng có lẽ Phao-lô đang phản ánh một loạt những lời giáo huấn đạo đức phổ biến của Cơ Đốc nhân đầu tiên.
Tình yêu thành thật là tình yêu chân chính, không có sự lừa dối (IICo 6:6 ITi 1:5 IPhi 1:22), loại tình yêu xuất phát từ tấm lòng và tâm trí đã được đổi mới. Gớm (ghét) sự dữ, mà mến sự lành (c.9) có lẽ để giải thích tình yêu thành thật là gì, nhưng cũng có thể đây là những mệnh lệnh riêng biệt. Bắt đầu ở câu 10, Phao-lô khuyến khích các tín hữu phải tìm kiếm tình yêu thương thành thật và cư xử tốt đẹp trong những mối quan hệ của họ với các tín hữu khác. Hãy lấy lẽ kính nhường nhau cũng có thể dịch là “hãy xem người khác như tôn trọng hơn mình” như Phao-lô nêu trong Phi 2:3b. Sự giống nhau giữa lời kêu gọi này và câu 3 cho thấy Phao-lô đang quan tâm đến những vấn đề về sự thiếu hiệp một trong Hội Thánh Rô-ma (Ro 14:1-15:13). Siêng năng (c.11) cho Đức Chúa Trời và công việc của Ngài phải luôn là đặc điểm của Cơ Đốc nhân, bởi đó là đặc điểm của Chúa chúng ta (Gi 2:17). Cách để giữ sự siêng năng được trình bày trong mệnh lệnh kế tiếp, mà tốt nhất nên dịch là “hãy để cho chính mình được Đức Thánh Linh nung đốt”(Cranfield bản NIV thì khác, không dùng từ pneuma để chỉ Đức Thánh Linh). Lòng sốt sắng đã được chính Đức Thánh Linh nung đốt như thế, sẽ đưa đến sự hầu việc Chúa chân thật. Trong phần trước của thư Rô-ma, Phao-lô đã nói về sự trông cậy (Ro 5:2-10 8:18-30), hoạn nạn (5:3-4) và sự cầu nguyện (8:26-27) bây giờ ông chỉ nhắc nhở các tín hữu cách ngắn gọn (câu 12) về thái độ đúng đắn đối với từng vấn đề này. Tình yêu chân thành cũng được bày tỏ qua những việc làm thực tiễn để giúp những anh em tín hữu thiếu thốn (c.13 IGi 3:17-18).
Câu 14 cắt ngang lời kêu gọi Cơ Đốc nhân phải yêu thương và làm điều tốt cho nhau và gợi mở trước cho c.17-21. Có mối quan hệ rất rõ ràng giữa mệnh lệnh của Phao-lô, phải chúc phước cho kẻ bắt bớ anh em và lời dạy của Chúa Giê-xu trong Bài Giảng Trên Núi (Mat 5:44). Có thể mệnh lệnh của Chúa Giê-xu đã trở thành nền tảng cho những lời giáo huấn của các Cơ Đốc nhân đầu tiên (IPhi 3:9). Trong c.15, Phao-lô đề cập trở lại về các mối quan hệ giữa các Cơ Đốc nhân với nhau. Đồng cảm với niềm vui nỗi buồn của anh chị em cùng đức tin là một dấu hiệu chứng tỏ tình yêu chân thành đối với những người anh em ấy (c.10). Vấn đề là các Cơ Đốc nhân nghĩ về mình quá nhiều. Một lần nữa, Phao-lô cảnh báo các tín hữu Rô-ma về vấn đề này (cũng đói chiếu với c.3,10b) và khuyến khích họ mở rộng sự quan tâm cảm thông của mình với cả “những người ở vị trí thấp kém” (bản dịch tiếng Việt: Phải ưa thích sự khiêm nhường). Từ ngữ Phao-lô dùng ở đây (tapeinos) đề cập đến nhiều Cơ Đốc nhân trong thế kỷ đầu tiên, những người có thể đãkhoe mình ít nhiều về những của cải trần gian hay địa vị xã hội (Lu 1:52 Gia 1:10).
Ở phần cuối của đoạn này (c.17-21), Phao-lô kêu gọi các tín hữu hãy bày tỏ tình yêu chân thành (c.9) với những người chống đối họ. Một lần nữa Phao-lô lặp lại lời dạy của Chúa Giê-xu (Mat 5:38-42 đối chiếu ITe 5:15 IPhi 3:9), ông cấm sự trả thù (17a đối chiếu c.19a). Thay vào đó, Phao-lô khuyên nài họ có những phản ứng tích cực: chăm tìm điều thiện (đối chiếu Ro 12:2b) trước mặt mọi người. Cụ thể là Cơ Đốc nhân phải tìm cách duy trì những mối quan hệ thuận hoà với mọi người, những Cơ Đốc nhân khác cũng như với người chưa tin (đối chiếu Ch 3:4 IICo 8:21). Tuy vậy, Phao-lô nhận thức rõ rằng quyền tự do làm điều đó của chúng ta sẽ bị giới hạn bởi thái độ của người khác và bởi nhu cần không làm tổn hại đến đặc tính Cơ Đốc trọn vẹn của chúng ta. Sự hoà thuận với người khác không bao giờ nên đánh đổi bằng giá trị của những điều mà chúng ta xưng nhận và làm chứng. Vì vậy ông bổ sung điều kiện nếu có thể được.
Phao-lô thêm vào lời răn cấm thứ hai của mình (c.19a) lời giải thích tại sao sự trả thù như thế là không cần thiết. Chúng ta phải nhớ rằng chúng ta hầu việc một Đức Chúa Trời tối thượng và công bằng, một Đức Chúa Trời hứa sẽ báo trả những điều sai trái mà những kẻ bị đối xử tệ trong thế gian này phải chịu (Phu 32:35). Vì vậy, chúng ta không nên cảm thấy cần phải trả thù trái lại, hãy nhường cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (bản Hi Lạp không nói rõ cơn thạnh nộ là của Đức Chúa Trời, nhưng chắc chắn đây là điều Phao-lô ngụ ý). Phao-lô trích dẫn Ch 25:21-22 để củng cố lời kêu gọi không nên trả thù của ông. Một lần nữa, như trong câu 17, điều chính yếu là Cơ Đốc nhân phải thay thế sự báo thù bằng việc làm điều thiện cho kẻ thù. Qua cách cư xử tốt đẹp đối với kẻ thù, chúng ta khác nào mình lấy than lửa đỏ mà chất trên đầu người. Đây có thể là một cách đề cập đến sự trừng phạt trong tương lai của Đức Chúa Trời: nếu kẻ thù không đi đến chỗ ăn năn bởi việc thiện của chúng ta, thì hành động tử tế của chúng ta sẽ được thay thế bằng cơn thạnh nộ kinh khiếp nhất của Đức Chúa Trời. Nhưng thực chất chính chúng ta, bởi việc thiện mình làm, là đem than lửa đỏ đến cho kẻ thù. Đúng hơn là Phao-lô đang đem đến cho chúng ta niềm hy vọng rằng sự tử tế của chúng ta sẽ khiến kẻ thù xấu hổ và ăn năn. câu.21 – Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện mà thắng điều ác – là một kết luận thích hợp cho phần này (c.17-21) và gián tiếp là cho những câu từ 3-20.
Chú thích. Những mệnh lệnh trong những c.9-13 và 16-19 có sự hiện diện của các động tính từ tiếng Hi Lạp, một dạng của động từ thường không chỉ mệnh lệnh. Cách sử dụng này của Phao-lô có lẽ phản ánh khuynh hướng của nhiều thầy giáo luật, họ vẫn thường dùng các động tính từ tiếng Hi Bá Lai để đưa ra một mệnh lệnh. 11 Thay vì hầu việc Chúa (kuriơ), một số bản chép tay dùng từ ngữ “phục vụ thời gian”(kairơ..) Rõ ràng Kairo có cách đọc khó hơn, thường là một dấu hiệu thể hiện tính xác thực, nhưng không nhận được sự hỗ trợ đầy đủ từ bên ngoài. 20 Việc sử dụng than lửa đỏ để tượng trưng sự xấu hổ và ăn năn trong 25:22 có lẽ xuất phát từ một nghi lễ của người Ai Cập trong đó một người có thể gột rửa tội mình bằng cách đội trên đầu một cái đĩa có chứa than lửa đang cháy.
4. Trách nhiệm của Cơ Đốc nhân đối với chính quyền (Ro 13:1-7)
Phao-lô không liên kết một cách rõ ràng đoạn này với những điều đã được trình bày trước đó, và điều này khiến một số học giả nghĩ rằng đây là một phần mới được bổ sung vào thư Rô-ma sau này, có lẽ là hậu Phao-lô. Nhưng không có bằng chứng nào trong nguyên bản chứng minh cho cách giải thích táo bạo như thế. Khúc Kinh Thánh phù hợp cách hoàn hảo về văn cảnh: sự phục tùng nhà cầm quyền là một phần của “ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn” (Ro 12:2b) mà Phao-lô đã nêu ra và đó cũng là một ví dụ cụ thể của việc “chăm điều thiện trước mặt mọi người” (12:17b). Có lẽ Phao-lô đã từng nhận ra rằng các Cơ Đốc nhân người Rô-ma đặc biệt cần lời khuyên như thế, vì có bằng chứng cho thấy rằng các nhóm dân khác nhau tại thủ đô, có cả người Do Thái, đang khích động chống lại việc đóng thuế vào thời điểm đó. (Tacitus, Ann. 15.50ff.). Vì vậy, Phao-lô khuyên rằng việc đóng thuế của tín hữu tại Rô-ma (c.6-7) là một phần của nghĩa vụ chung của họ trong việc thể hiện sự phục tùng các nhà cầm quyền của chính phủ (c.1a, 5a). Phao-lô lý luận rằng cần phải nêu cao sự đầu phục ấy vì các quan chức của nhà nước do Đức Chúa Trời lập nên để phục vụ các mục đích của Ngài trong việc ban thưởng người tốt và sửa phạt kẻ xấu (c.1b-4,5b).
Các đấng cầm quyền (tiếng Hi Lạp là exousiai) chỉ về những người giữ vai trò lãnh đạo của chính quyền trong đời này dĩ nhiên trong thời Phao-lô, đặc biệt là các quan chức thuộc đế chế La Mã và các tỉnh của La Mã. Vâng phục các nhà cầm quyền có nghĩa là thừa nhận vị trí của họ “trên” người tín hữu về “thứ bậc” tồn tại trong đời này.” Thứ bậc này bao gồm cả những định chế đời này không được sự phê chuẩn của Đức Chúa Trời (như chế độ nô lệ, Tit 2:9 IPhi 2:18) lẫn các định chế được Đức Chúa Trời quy định vì lợi ích của dân Ngài (như hôn nhân, Eph 5:22 Co 3:18 Tit 2:5 IPhi 3:1,5 gia đình, Lu 2:51 chức lãnh đạo Hội Thánh, ICo 16:16 IPhi 5:5 Eph 5:21 có thể bao gồm cả hôn nhân, gia đình và chế độ nô lệ). Như Phao-lô trình bày trong c.1b-4, chính quyền của con người rõ ràng thuộc về loại thứ hai này. Lặp lại đúng lời Kinh Thánh Cựu Ước (Ch 8:15-16 Es 40:15,23-24 Da 2:21 4:17,25,32 5:21) và lời giáo huấn của người Do Thái (sách Sự Khôn Ngoan Của Sa-lô-môn 6:3, Huấn ca 10:4 17:17), Phao-lô nhắc nhở chúng ta rằng mọi kẻ cai trị đều do Đức Chúa Trời lập nên (tetagmenai) và vì vậy họ là tôi tớ của Đức Chúa Trời, dù theo cách gián tiếp hay không ý thức (c.4,6). Những người cai trị phục vụ Đức Chúa Trời bằng cách khen thưởng cho người làm lành (c.3b-4a) và phạt những kẻ làm ác (c.3a,4b). Vì vậy, Cơ Đốc nhân cũng như mọi người khác (đối chiếu c.1) phải thực hiện những gì nhà cầm quyền yêu cầu không phải vì chúng ta sợ hình phạt, mà còn vì chúng ta thừa nhận Đức Chúa Trời đứng đằng sau chính quyền và chúng ta muốn tránh làm điều trái với lương tâm mình (c.5b).
Lời dạy của Phao-lô trong đoạn này dường như rất thẳng thắn và tương đồng với các sách khác trong Tân Ước (IPhi 2:13-17). Tuy vậy, mệnh lệnh phải hoàn toàn làm những gì nhà cầm quyền yêu cầu đã tạo ra những nan đề cho hầu hết các tín hữu Cơ Đốc. Các nan đề này không chỉ từ kinh nghiệm của chúng ta, nhiều tín hữu phải sống dưới những chính quyền độc tài và chống Cơ Đốc giáo, mà trong Kinh Thánh Tân Ước, có những chỗ cho thấy một số tình huống không vâng phục bậc cầm quyền là điều đáng khen ngợi (Cong 4:19-20 sách Khải Thị). Vì thế vấn đề do Ro 13:1-7 tạo ra đã được giải quyết theo nhiều cách. Một số người lý luận rằng Phao-lô đang kêu gọi sự vâng phục nhà cầm quyền chỉ khi nào họ làm đúng theo chức năng được Đức Chúa Trời giao phó là thưởng thiện phạt ác. Mặc dù cách giải thích này có thể đúng một phần nào đó nhưng Phao-lô không bảo rằng sự vâng phục Cơ Đốc tuỳ thuộc vào cách xử trí của chính quyền. Một số người khác cho rằng có lẽ Phao-lô đang tự giới hạn ở hoàn cảnh tức thời trong cộng đồng người Rô-ma nhưng ngôn ngữ phổ quát của bản văn (mọi người, chẳng có quyền nào trong câu 1) cho thấy không phải như vậy. Có một cách giải thích khác hấp dẫn hơn đó là yêu cầu của Phao-lô muốn Cơ Đốc nhân phải “vâng phục” chính quyền đơn giản có nghĩa là họ thừa nhận vị trí hợp pháp của chính quyền trong hệ thống cấp bậc của các mối quan hệ do Đức Chúa Trời thiết lập, mà trong hệ thống đó, cấp cao nhất là Đức Chúa Trời. Vì thế, khi nhà cầm quyền vượt quá vị trí của mình và đòi hỏi Cơ Đốc nhân làm điều trái với ý chỉ của Đức Chúa Trời tối thượng thì Cơ đốc nhân không thể nghe theo. Tuy nhiên, có lẽ quan điểm này làm giảm thiểu quá mức ý nghĩa của từ “vâng phục”. Có lẽ giải pháp hay nhất là xem 13:1-7 như là lời tuyên bố tổng quát về cách Cơ Đốc nhân phải quan hệ với nhà cầm quyền cùng với những ngoại lệ (của lời khuyên này) không được nêu ra ở đây.
5. Tình yêu thương và luật pháp (Ro 13:8-10)
Phần đầu của câu 8 là phần chuyển tiếp. Đừng mắc nợ ai chi hết lặp lại một ngụ ý quan trọng được rút ra từ yêu cầu Cơ Đốc nhân phải vâng phục các nhà cầm quyền đời này (đối chiếu c.7a) và là cơ sở cho lời nhắc nhở của Phao-lô rằng Cơ Đốc nhân có một món nợ mà họ không bao giờ trả hết: nợ về sự yêu thương nhau. Phao-lô quay trở lại với chủ đề về tình yêu thương (12:9-21), nhấn mạnh tầm quan trọng của nó bằng cách trình bày nó như sự làm trọn luật pháp (câu 8b và 10) hay sự gồm tóm của luật pháp Môi-se (c.9). Trọng tâm của Le 19:18, mệnh lệnh yêu thương”, được chính Chúa Giê-xu nhấn mạnh (Mat 5:43 19:19 22:39 Mac 12:31 đối chiếu Gi 13:34-35), và được nhắc xuyên suốt Tân Ước (đối chiếu Ga 5:14 Gia 2:8 4:11-12 IGi 4:11, passim). Điều Phao-lô muốn nói khi ông khẳng định rằng sự vâng theo điều răn này là “làm trọn” hay “tóm tắt” tất cả các điều răn khác không phải là quan niệm cho rằng tất cả những gì chúng ta cần làm để được đẹp lòng Đức Chúa Trời là “yêu thương”- mà hàm ý rằng chừng nào chúng ta còn có cảm giác “yêu thương” thì chúng ta có thể làm bất cứ điều gì khác chúng ta mong ước. Ông cũng không có ý nói rằng yêu thương người khác là điều răn quan trọng nhất trong luật pháp, hay là tinh thần mà mọi người khác phải tuân theo. Trái lại, ông nói rằng hiện nay Cơ Đốc nhân đang làm trọn tất cả các đòi hỏi của luật Môi-se (ít nhất cũng là cac đòi hỏi liên quan đến nghĩa vụ của chúng ta đối với người khác) bằng sự yêu thương. Vì tình yêu thương là trọng tâm của “luật pháp Đấng Christ” (Ga 6:2 đối chiếu ICo 9:20-21), là luật pháp mà Chúa Giê-xu qui định cho cuộc sống trong thế giới mới mà chúng ta sống. Và chính bản thân luật pháp này “làm trọn vẹn” luật pháp Môi-se (Mat 5:17).
6. Nhận biết các thời kỳ (Ro 13:11-14)
Vì Phao-lô mở đầu bằng những nguyên tắc đạo đức tổng quát của Cơ Đốc cùng với lời nhắc nhở về hoàn cảnh mới mà các tín hữu hiện đang sống không còn thuộc về “đời này” nữa (Ro 12:2) rồi ông kết luận. Người tín hữu phải hiểu thời kỳ đương lúc chúng ta đây là thời kỳ mà chúng ta trông đợi ngày gần đến trong tương lai (12), đó là “ngày của Chúa Giê-xu” đem đến sự cứu rỗi cuối cùng cho chúng ta. Như Phao-lô đã trình bày rõ (5:9-10), sự cứu là một quá trình chỉ hoàn tất khi chúng ta được giải thoát khỏi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đổ xuống trong ngày cuối cùng (Phi 1:19 2:12 ITe 5:9). Ngày ấy càng đến gần hơn lúc thời kỳ hiện tại đang diễn ra, và phản chiếu ánh sáng của nó vào thời kỳ chúng ta đang sống đây. Vì lý do đó, ông kêu gọi phải hành động như người sống giữa ban ngày (c.12b-13) và tránh những hành động thuộc về sự tối tăm, trái ngược với Đức Chúa Trời. Câu 14 cũng trình bày điểm tương tự bằng cách diễn đạt khác: chúng ta phải mặc lấy Đức Chúa Giê-xu Christ theo cách là tất cả những gì chúng ta làm phải được làm qua Ngài và vì Ngài, thậm chí chúng ta không được suy nghĩ về những ước muốn tội lỗi xuất phát từ thế gian sa ngã và tội lỗi này (tiếng Hi Lạp là sarx, có nghĩa là “xác thịt”, bản chất tội lỗi, xem chú thích ở Ro 7:5).
7. Lời kêu gọi hiệp một (Ro 14:1-15:13)
Trong 12:3-13:14, Phao-lô đã đề cập nhiều yếu tố khá tổng quát về “ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn” của Đức Chúa Trời đáng là những đặc điểm của Cơ Đốc nhân, những người có tâm trí được đổi mới nhờ quyền năng của Phúc Âm (đối chiếu 12:1-2). Nay Phao-lô nêu ra một vấn đề cụ thể trong Hội Thánh Rô-ma: sự chia rẽ giữa những người mà ông gọi là kẻ yếu đuối (đức tin) (14:1-2 15:1) và kẻ mạnh (15:1). Hai nhóm người này đang cãi lẽ nhau về việc tín hữu có nên ăn thịt (14:2,6,21) giữ những ngày lễ tôn giáo đặc biệt (14:5-6) và có thể uống rượu hay không (14:21 đối chiếu c.17 chúng ta không biết rõ đây có phải là vấn đề thật trong Hội Thánh hay chỉ là vấn đề Phao-lô nêu ra như một ví dụ).
Chúng ta không thể nhận dạng chắc chắn hai nhóm người này. Những điều rõ ràng tương tự với phần bàn luận này của Phao-lô trong I Cô-rinh-tô 8-10 khiến một vài học giả cho rằng Phao-lô đang nêu ra vấn đề Cơ Đốc nhân có nên ăn thịt đã được dâng cho thần tượng hay không. Một số khác cho rằng cuộc tranh cãi này bàn về tính thích hợp của những cách thực hành khổ tu đã được du nhập từ các tôn giáo ngoại bang. Nhưng sự nhấn mạnh của Phao-lô trong 15:8-13 về tầm quan trọng của sự hiệp một giữa người Do Thái và người ngoại quốc – một chủ đề dai dẳng xuyên suốt bức thư – cho thấy rằng sự chia rẽ bắt nguồn từ việc người Do Thái khăng khăng đòi giữ một số “điều cấm kỵ” mang tính truyền thống của họ. Như những người Do Thái ngoan đạo khác sống giữa môi trường dân ngoại (Da 1:8-16 Judith 12:1-4), nhiều tín hữu Cơ Đốc người Do Thái tại Rô-ma rõ ràng đã quyết định kiêng ăn thịt (và có lẽ cả rượu) vì sợ có liên hệ với thần tượng. (Có lẽ quyết định này cần phải có bởi vì họ đã bị tách ra khỏi cộng đồng Do Thái lớn hơn, nơi có lẽ là thực phẩm “chính hiệu” dể dàng được tìm thấy hơn.)
Vì thế, chúng ta phải thừa nhận một tình trạng trong đó Cơ Đốc nhân người Do Thái đang tự hào về sự kiêng ăn nghiêm khắc của mình và “lên án”( Ro 14:3) những người không thực hiện theo tiêu chuẩn tương tự, trong khi nhiều Cơ Đốc nhân người ngoại quốc, không nhận thấy giá trị của các hình thức như vậy, lại đang khoe khoang về sự “tự do”của mình trước những vấn đề như vậy (c.15-22) và “đoán xét” (14:1) hay “khinh dể” (14:3) những người mà họ xem là “yếu đuối” một cách ngu xuẩn về việc khẳng định sự tự do của mình trong Chúa Cứu Thế. Quan điểm riêng của Phao-lô về những vấn đề này rất rõ ràng: ông kể mình thuộc về “kẻ mạnh” (15:1) và khẳng định rằng chẳng có vật gì vốn là dơ dáy (14:14). Điều quan trọng là Phao-lô không cố thuyết phục kẻ yếu rằng họ sai. Trái lại ông khuyên nài kẻ mạnh nên chấp nhận anh chị em yếu hơn (14:1 15:7) và từ bỏ bớt việc thực hiện sự tự do của họ trong những vấn đề hay gây tranh cãi này để nuôi dưỡng sự hiệp một và tránh làm tổn thương đức tin của kẻ yếu (14:13-22). Kẻ yếu cũng phải chấm dứt việc lên án kẻ mạnh và chấp nhận họ như những người anh em cùng niềm tin (14:3,13 15:7). Rõ ràng Phao-lô cảm thấy rằng các vấn đề làm chia rẽ tín hữu tại Rô-ma thuộc vào loại adiaphora, nghĩa là những “điều không quan trọng” (đối chiếu c.1, những vấn đề không chắc chắn), những vấn đề vốn không phải là căn bản đối với đức tin mà các tín hữu tận hiến và chân thành có thể bất đồng về chúng. Mục đích của ông là nuôi dưỡng sự hiệp một trong Hội Thánh bằng cách kêu gọi sự khoan dung lẫn nhau trong những vấn đề như vậy. Mặc dù có những vấn đề khác hơn, nhưng thật đáng tiếc là Hội Thánh ngày nay vẫn thường xuyên bị chia rẽ theo cách tương tự chỉ vì những vấn đề không quan trọng. Để không làm ảnh hưởng đến các lẽ đạo căn bản của Phúc Âm, chúng ta cần phải chú ý đến lời kêu gọi của Phao-lô để chấp nhận tất cả những người mà Đức Chúa Trời chấp nhận (đối chiếu 15:1 và 14:3b).
(Ro 14:1-12) Khiển trách những thái độ đoán xét Phao-lô khiển trách người mạnh lẫn kẻ yếu vì thái độ đoán xét của họ (c.1-3), nhắc nhở rằng họ không có quyền đứng ra xét đoán những người mà Đức Chúa Trời đã chấp nhận (c.4-12).
Người được mô tả trong mạch văn này có đức tin yếu (c.1-2) không nhất thiết là người chưa trưởng thành hay thiếu đức tin trong Chúa Cứu Thế theo nghĩa tuyệt đối. Trái lại, họ là người không tin rằng đức tin Cơ Đốc của họ cho phép họ tham dự vào một số hành động cụ thể nào đó đó là những người thận trọng hay “thanh cao” quá mức. Tuy vậy, chữ “yếu” chỉ về một cái gì đó mang nghĩa xấu, và hiển nhiên đây là tên gọi mà những kẻ mạnh đã áp đặt cho nhóm người này. Kết hợp với sự kiện Phao-lô đã đề cập đến “kẻ mạnh” trước tiên, điều này cho thấy rằng “kẻ mạnh” là bên chiếm đa số, và là nhóm người mà Phao-lô nghĩ đến nhiều nhất khi viết thư (đối chiếu 15:1). Các tín hữu này tin rằng đức tin của họ cho phép họ ăn được cả mọi thư, trong khi đó người có đức tin yếu chỉ ăn rau (c.2). Như c.6 cho biết, kẻ yếu tránh ăn thịt, có lẽ là vì, giống các tín hữu người Do Thái, họ sợ nó có liên quan đến thần tượng. Mỗi bên phải chấm dứt việc phê bình bên còn lại và phải nhận ra rằng tất cả đều là những tôi tớ của cùng một chủ, Đấng duy nhất có quyền đoán xét họ (c.4). Chính “trước mặt” chủ mình, là Chúa, thì mỗi người mới đứng hay ngã, nghĩa là đứng vững hay ngã trong đức tin (đối chiếu 11:20,22). Và Phao-lô tin rằng những người Đức Chúa Trời đã chấp nhận (c.3) sẽ đứng vững, vì chính Chúa là Đấng khiến họ đứng (c.4).
Một vấn đề khác làm chia rẽ kẻ yếu khỏi kẻ mạnh là sự tuân giữ các kỳ lễ tôn giáo đặc biệt (c.5). Vì nguồn gốc Do Thái của mình, kẻ yếu rõ ràng vẫn đang tiếp tục giữ các kỳ lễ của người Do Thái, có thể là cả ngày Sa-bát. Trái lại người mạnh thấy rằng không có cơ sở để cho rằng ngày này khác với ngày kia. Đối với Phao-lô, đây rõ ràng là một vấn đề gây tranh cãi khác (c.1), và vì thế ông khuyên cần có sự khoan dung. Mỗi tín hữu phải có quyết định riêng của mình về những vấn đề gây tranh cãi này, có nên tham dự các kỳ lễ hay không, và hãy làm “vì cớ Chúa” (c.7-8) và với tạ ơn Chúa (c.6). Như Phao-lô nhắc nhở cả hai nhóm, Cơ Đốc nhân không sống tự mình: sự tự do của họ phải được dùng để phục vụ Đấng đã chết và sống lại vì cớ họ (câu 7-9). Đức Chúa Trời – không phải các Cơ Đốc nhân khác – là Đấng mà mọi Cơ Đốc nhân nhận lãnh trách nhiệm của mình và trả lời về cách sống của mình . Vì thế, chúng ta sẽ sai lầm khi xét đoán anh em cùng đức tin khác, mà cách thực hiện của họ về những vấn đề đang được tranh cãi có lẽ không giống với cách của chúng ta (c.10-12).
Chú thích. 11 Phao-lô cũng trích dẫn Es 45:23 trong Phil 2:10-11. Tuy nhiên, chính là trước mặt Đức Chúa Giê-xu mọi đầu gối đều quì xuống, còn ở đây “Chúa” mà mọi người suy phục có thể là Đức Chúa Trời.
(Ro 14:13-23) Giới hạn của sự tự do Sau khi kêu gọi thêm hai nhóm chớ xét đoán nhau, Phao-lô trở lại với nhóm có đức tin mạnh, khuyên họ đừng để hòn đá vấp chơn (c.13) cho những người anh em yếu đuối hơn. Đây là điểm chính của phần này, c.14-21 trình bày chi tiết và giải thích mệnh lệnh này. Kế đến, c.22-23 lần nữa giải quyết cách tổng quát hơn hai nhóm này.
Kẻ mạnh đang tạo cho kẻ yếu cái cớ để phạm tội (đá vấp chơn, đối chiếu Ro 9:33 Es 8:16) vì cứ tiếp tục ăn những thức ăn mà kẻ yếu cho là “dơ dáy”. Phao-lô khẳng định mạnh mẽ niềm tin của ông rằng chẳng có vật gì vốn là dơ dáy, bởi đó ông tự gắn mình với lời dạy của Chúa Giê-xu (Mac 7:17-19 đối chiếu Cong 10:9-15).Chữ Dơ dáy (koinos) đề cập đến sự không thanh sạch về nghi lễ (tiếng Hê-bơ-rơ là tmç ví dụ Le 11:4-8). Phao-lô hiểu và mong muốn rằng tất cả các tín hữu ở Rô-ma sẽ hiểu được sự đến của Chúa Cứu Thế, mang ý nghĩa là luật pháp Do Thái về sự thánh sạch theo lễ nghi, không còn áp dụng nữa. Nhưng ông nhận ra rằng các tín hữu người Do Thái có thể gặp khó khăn trong việc loại bỏ cuộc đời của sự dạy dỗ và thói quen, vì thế ông nhắc nhở kẻ mạnh rằng chỉ có ai tưởng vật nào là dơ dáy, thì nó là dơ dáy cho người ấy mà thôi (c.14). Mặc dù Phao-lô không sử dụng từ “lương tâm”, nhưng rõ ràng là ông lo ngại rằng “lương tâm” của các tín hữu có đức tin yếu sẽ bị thương tổn (ICo 8:7,10) nếu họ chịu nhượng bộ để ăn thức ăn mà họ nghĩ là “không sạch”.
Việc “ăn uống trái với lương tâm” là điều mà Phao-lô muốn đề cập bên cạnh “sự lo buồn” của người tín hữu yếu đức tin trong câu 15. Yêu cầu cá nhân một tín hữu mạnh (ngươi trong câu 15 là số ít) hãy thực hiện quan điểm của mình ở nhà, Phao-lô nhắc nhở rằng việc anh ta ăn uống mà không quan tâm đến ảnh hưởng của nó trên các tín hữu yếu là sự vi phạm nguyên tắc yêu thương chủ yếu của Cơ Đốc nhân (Ro 12:9-10 13:8-10). Hơn nữa, bởi sự ngầm khuyến khích các tín hữu yếu cứ ăn uống trái với lương tâm mình, các tín hữu mạnh có thể làm hư mất người mà Chúa Cứu Thế đã chịu chết cho. Từ làm hư mất (apollymi) là một từ ngữ mạnh mẽ, thường chỉ về sự huỷ diệt đời đời (2:12 ICo 1:18 15:18 IICo 2:15 IITe 2:10). Nghĩa này có thể được dùng ở đây, nhưng nếu vậy thì Phao-lô có lẽ không đang nghĩ đến tính đời đời theo nghĩa đen. Hoặc cũng có thể từ “làm hư mất” ở đây được dùng theo nghĩa nhẹ hơn: “gây ra sự thiệt hại thuộc linh”.
Lý do thứ hai để kẻ mạnh phải kìm bớt việc phô trương sự tự do của mình chính là cách cư xử như thế gây ra sự buồn phiền và thiếu hiệp một trong cộng đồng, đã khiến cho Phúc Âm mang tiếng xấu trước mặt những người ngoài Hội thánh (c.16-18). Người chưa tin, nhìn thấy trong Hội thánh có những tranh chấp về việc ăn uống hơn là sự công bình, bình an, vui vẻ bởi Đức Thánh Linh (c.17), sẽ không xem Phúc Âm là một điều tốt đẹp. Vì vậy người mạnh phải phục vụ Chúa Cứu Thế bằng cách tìm kiếm sự công bình, bình an và niềm vui (theo cách ấy trong c.18), cũng như tránh lối cư xử có thể làm giảm đi những phẩm chất cao đẹp trong Hội Thánh. Như vậy, họ sẽ vừa làm đẹp lòng Đức Chúa Trời vừa được người ta khen (c.18).
Câu 19-21 tóm tắt lại những điểm mà Phao-lô đã nêu trong phần đầu của đoạn này. Người mạnh (là người mà Phao-lô có lẽ vẫn đang nói tới) phải theo đuổi sự hoà thuận và làm gương sáng cho nhau (c.17 ICo 10:23). Họ phải nhận thức rõ rằng việc họ kiên quyết ăn những thức ăn người khác xem là “không sạch” có thể sẽ dẫn đến sự huỷ phá việc Đức Chúa Trời, qua đó, có lẽ điều Phao-lô muốn ám chỉ là người anh em yếu (c.15,21b) chứ không phải là cộng đồng ấy. Ai là người tự hào về “sức mạnh” của lương tâm mình và sự tự do của mình trong Chúa Cứu Thế thì nên là người đi đầu trong việc từ bỏ những cách hành xử có thể khiến người tín hữu anh em bị tổn thương. Sự tự do Cơ Đốc là thật và có giá trị, và không ai có thể khẳng quyết về điều này mạnh mẽ hơn Phao-lô (Ga 5:1 Co 2:16-23). Nhưng việc thực hành sự tự do Cơ Đốc, như Phao-lô đã nhấn mạnh (Ga 5:13 ICo 6:12), phải luôn tuỳ thuộc vào nhu cầu của kẻ khác. Câu châm ngôn nổi tiếng của Luther đã từng đề cập: “Cơ Đốc nhân là người chủ tự do nhất, không tùy thuộc vào ai cả, nhưng Cơ Đốc nhân cũng là người đầy tớ tận tuỵ nhất, phục tùng tất cả mọi người”.
Phao-lô kết thúc lời kêu gọi của mình dành cho kẻ mạnh bằng cách đề nghị họ hãy tự giữ những gì họ tin tưởng về thức ăn, những ngày đặc biệt và thức uống. Ho không nhất thiết phải ăn thịt trước mặt những người có thể bị thương tổn về mặt thuộc linh bởi việc ăn uống đó của họ, cũng không cần phải cố nhịn việc ăn uống với một thái độ khăng khăng kiêu ngạo rằng những điều họ đang làm không có gì sai lầm cả. Người tín hữu mạnh mẽ phải hài lòng thừa nhận rằng quả là một phước hạnh thật sự khi biết những gì mình chấp nhận về các vấn đề này không phải là điều mà vì đó họ phải lên án chính mình. Tuy vậy, cũng có những người không thể chấp nhận cách xử sự tự do về những vấn đề này. Có lẽ sẽ là tội lỗi nếu họ làm điều mà lương tâm họ bảo đừng làm. Mặc dù có thể trong cách nhìn của Đức Chúa Trời, ăn thịt không phải là tội (c.14), nhưng việc gì không làm bởi đức tin (c.23) là tội trước mặt Ngài.
(Ro 15:1-13) Lời kêu gọi cuối cùng cho sự hiệp một Lời đúc kết cho phần kêu gọi của Phao-lô về việc các tín hữu trong Hội thánh Rô-ma phải dung chịu nhau được chia thành bốn phần: lời kêu gọi cuối cùng đối với kẻ mạnh (c.1-4) lời cầu nguyện cho sự hiệp một của tất cả các tín hữu tại Rô-ma (c.5-6) lời kêu gọi cuối cùng (có dẫn lời Kinh Thánh để hỗ trợ) dành cho kẻ yếu lẫn kẻ mạnh (c7-12) và lời cầu nguyện kết thúc (c13).
Câu 1-4 có liên quan mật thiết với Ro 14:13-23, vì lần đầu tiên Phao-lô dùng những chữ này khuyên kẻ mạnh (dynatoi) phải gánh vác sự yếu đuối cho những kẻ kém sức. Việc sử dụng ngôi thứ nhất số nhiều (chúng ta) cho thấy rằng Phao-lô kể mình vào hàng những kẻ mạnh (14:14). Chữ “gánh vác” (bastazein) có ý nghĩa là người mạnh phải làm nhiều hơn chớ không chỉ là chấp nhận kẻ yếu họ phải giúp đỡ kẻ yếu bằng thái độ yêu thuơng (Ga 6:2). Điều này được khẳng định lại trong câu 2-3, những câu khai triển thêm lời khuyến cáo của Phao-lô chớ làm cho đẹp lòng mình ở cuối câu 1. Lời khích lệ phải làm đẹp lòng kẻ lân cận nhắc nhở chúng ta về mệnh lệnh yêu thương (Ro 13:9 Le 19:18), và ngụ ý đến việc Chúa Cứu Thế đã phó mình làm của lễ vì lợi ích của người khác. Phần trích trong câu 3b bắt nguồn từ Thi Thiên (đoạn 69) mà các tác giả Tân Ước thường dùng chỉ về sự chịu khổ của Chúa Giê-xu (Mac 15:23,36 và các phần Kinh Thánh song song Gi 2:17 15:25 19:28-29 Cong 1:20). Lời nhắc nhở của Phao-lô trong câu 4 về tính tương quan liên tục của mọi sự đã chép từ xưa nhằm mục đích trực tiếp nhằm chứng minh tính chính xác của phần trích trong câu 3, nhưng đó thật sự cũng là nguyên tắc tổng quát.
Phao-lô cầu xin Đức Chúa Trời cung cấp một ví dụ điển hình về sự đồng công của Đức Chúa Trời và con người liên quan đến đời sống Cơ Đốc nhân trong những điều ông đang kêu gọi Cơ Đốc nhân thực hiện. Phao-lô cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời, Đấng nhịn nhục và yên ủi (c.5) mà ông vừa đề cập, là mục đích của sự dạy dỗ của lời Kinh Thánh. Không rõ đồng lòng ở với nhau (c.5) (nghĩa đen là “có cùng cách nghĩ với nhau”) có nghĩa là sự thoả thuận giữa người mạnh và kẻ yếu về những vấn đề vốn gây chia rẽ cho họ, hay có nghĩa là sự chấp nhận và tôn trọng lẫn nhau mặc dù có những quan điểm trái ngược nhau. Bản NIV dùng cụm từ kata Christon lesoun (có nghĩa là “theo Chúa Giê-xu Christ”) để nói về việc Cơ Đốc nhân bắt chước theo gương Chúa Cứu Thế nhưng cụm từ này còn có nghĩa là “theo ý muốn của Chúa Cứu Thế Giê-xu” (IICo 11:17). Dù ở trường hợp nào thì mục đích của sự hiệp một này cũng rõ ràng: tất cả các tín hữu tại Rô-ma đều phải hòa một lòng và đồng một tiếng nói trong sự nhiệt thành thờ phượng Đức Chúa Trời. Sự thiếu hiệp một trong vòng các Cơ Đốc nhân không chỉ làm ảnh hưởng xấu đến việc theo Chúa của chính chúng ta và suy nghĩ của người ngọai đối với mình mà nó còn hủy phá khả năng của chúng ta trong việc dâng lên Đức Chúa Trời sự vinh hiển mà Ngài đáng phải được.
Câu 7 là đỉnh điểm của Ro 14:1-15:13. Ở đây chúng ta nhận ra lời kêu gọi căn bản của Phao-lô dành cho Hội Thánh Rô-ma (hãy tiếp lấy nhau), cơ sở quan trọng nhất cho lời kêu gọi ấy (Đấng Christ đã tiếp anh em), và mục đích cao nhất của lời kêu gọi ấy (để Đức Chúa Trời được vinh hiển). Phao-lô nêu thêm một lý do nữa cho sự chấp nhận lẫn nhau này: chức vụ của Chúa Cứu Thế là chức vụ dành cho người Do Thái (câu 8) lẫn người ngoại quốc (c.9-12). Phao-lô muốn nói việc Chúa Giê-xu phục vụ người chịu cắt bì (bản NIV chính đã dịch một cách hợp lý là “người Do Thái”) là một chức vụ bắt nguồn từ quá khứ nhưng chắc chắn vẫn chưa kết thúc (được gợi ý bởi thì hoàn thành của động từ gegenesthai). Vì thế, Phao-lô nhắc nhở người ngoại quốc rằng Chúa Cứu Thế tiếp tục quan tâm và hướng về người Do Thái (11:1-2,28-29). Tuy nhiên, chức vụ của Chúa Cứu Thế đối với người Do Thái có một mục đích lớn hơn: vì cớ sự thành tín của Đức Chúa Trời với lời hứa của Ngài (bản NIV dịch là vì cớ sự chân thật của Đức Chúa Trời ở đây aletheia ở đây có nghĩa là sự thành tín 3:4,7). Những lời này hứa này, đã được lập cùng các tổ phụ, bao gồm sự chúc phước cho “tất cả các dân tộc” (4:16-17). Vì vậy, khi các lời hứa này được khẳng định lại, kết quả (c.9) là các dân ngoại có thể dự phần cùng với dân Do Thái trong việc tôn vinh Đức Chúa Trời vì lòng nhân từ Ngài. Điều này có nghĩa là Cơ Đốc nhân Do Thái phải nhận ra rằng sự dự phần của người ngoại quốc trong việc trở nên con dân Đức Chúa Trời là một phần trong kế hoạch của Đức Chúa Trời và vì vậy, họ phải cố gắng sống hoà hợp với các anh em Cơ Đốc nhân ngoại quốc của mình.
Phần trích trong câu 9b-12 nhấn mạnh kết luận của Phao-lô về người ngoại quốc trong dân sự của Đức Chúa Trời. Lời của Thi 18:49 (được trích từ IISa 22:50), được trích dẫn ở câu 9b, có thể được Phao-lô hiểu như là lời của Đấng Mê-si-a: lời này tiên báo rằng dân ngoại sẽ vây quanh Đấng Mê-si-a khi Ngài ngợi khen Đức Chúa Trời. Sự hiện diện của các dân ngoại trong cộng đồng của Đấng Mê-si-a cũng được lời Kinh Thánh tiên đoán khi nói về việc họ vui vẻ trong Đức Chúa Trời cùng với dân Y-sơ-ra-ên (c.10 Phu 32:43), hát ngợi khen Chúa (c.11 Thi 117:1), và đặt hy vọng mình nơi Đấng Mê-si-a, cội rễ Gie-sê (c.12 Es 11:10).
Câu 13 dường như hoàn toàn tách rời khỏi mạch văn trước đó, nhưng lời cầu nguyện mong ước của Phao-lô, có lẽ được gọi là lời cầu nguyện của người thứ ba, rằng các tín hữu tại Rô-ma có thể được đầy sự vui vẻ và bình an là hoàn toàn thích hợp sau những gì ông mới vừa trình bày (Ro 14:17,19). Cũng vậy, sự nhấn mạnh về sự trông cậy (c.4) có ý nghĩa như một lời kết cho phần bàn luận về tình trạng hiện tại của Hội Thánh cũng như khuyên nài các tín hữu phải trải qua khó khăn để cải thiện tình trạng ấy.
6. PHẦN KẾT THÚC THƯ (Ro 15:14-16:27)
Thư Rô-ma kết thúc bằng những đặc trưng điển hình của các phần kết thường gặp trong các thư tín của Phao-lô: dự tính về một kế hoạch đi đường (15:22-29), lời cầu xin (15:30-32), lời chúc bình an (15:33) gởi gắm và chào thăm (16:1-15,16b) cái hôn thánh (16:16a) những lời chào thăm sau cùng của những người đồng công với lời chúc ân điển và lời chúc phước sau cùng (16:20-27). Điểm phân biệt phần kết thư Rô-ma với các bức thư khác của Phao-lô là trong thư Rô-ma, Phao-lô dành một phần dài hơn cho nhiều vấn đề và bổ sung một phần giải thích trong đó giải thích những lý do ông viết bức thư này (15:14-21). Cả hai điểm khác biệt này là do trước đây Phao-lô chưa liên hệ với Hội Thánh Rô-ma. Mặc dù đã có sự tuyên bố công nhận thẩm quyền rõ ràng của mình trên Hội Thánh tại Rô-ma với lý do được kêu gọi để làm chức sứ đồ cho dân ngoại (1:1,5-7 15:16), nhưng Phao-lô tránh không để người khác xem ông là một người can thiệp quá mức.
1. Chức vụ và kế hoạch của Phao-lô (Ro 15:14-33)
Phân đoạn này có thể chia thành bốn phần: giải thích về mục đích và hoàn cảnh viết thư (c.14-21) dự tính về kế hoạch cho chuyến đi sắp đến của Phao-lô (c.22-29) lời đề nghị cầu nguyện cho vấn đề liên quan đến việc quyên góp cho các tín hữu tại Giê-ru-sa-lem (c.30-32) và lời chúc bình an (c.33). Có nhiều điểm tương tự với 1:8-15, chứng minh rằng Phao-lô có chủ ý làm cho bức thư mình trọn vẹn bằng cách chấm dứt thư tại điểm ông đã từng bắt đầu.
Với ước muốn thiết lập được mối quan hệ tốt với các tín hữu tại Rô-ma, Phao-lô nêu rõ rằng ông viết thư này không phải vì ông nhận thấy có vấn đề đáng buồn nào đó trong Hội Thánh tại đó. Ông khen các tín hữu Rô-ma về lòng nhơn từ và điều thông biết của họ (câu 14) (ví dụ như hiểu về đức tin trong Chúa Cứu Thế), ghi nhận rằng chính họ có khả năng để khuyên bảo nhau (c.14) (đối chiếu 1:8b). Hầu như Phao-lô xin lỗi về cách mình đã viết thư (thật dạn dĩ) và nhấn mạnh rằng những điều ông nói không gì khác hơn là một sự nhắc nhở. Sự khen ngợi này đơn giản không phải là một sự nịnh bợ chắc hẳn Phao-lô đã không nói những gì ông trình bày trong những câu này trừ phi ông tin rằng về căn bản Hội Thánh Rô-ma là Hội Thánh vững vàng và ổn định. Tuy nhiên, Phao-lô biết rằng ngay cả Hội Thánh trưởng thành nhất cũng cần những lời nhắc nhở từ lẽ thật của Phúc Âm. Và những lời yêu cầu trong 12:1-15:13 (và đặc biệt là 11:12-27 14:1-15:13) chứng minh rằng Hội Thánh này cũng có những vấn đề của nó. Mặc dù muốn tránh mọi biểu hiệu của sự can thiệp hay chủ nghĩa độc đoán, Phao-lô vẫn phải nhấn mạnh rằng thẩm quyền của ông là một người hầu việc của Đức Chúa Giê-xu Christ giữa dân ngoại (c.16) kể cả người Rô-ma (1:5-6). Phao-lô mô tả chức vụ của mình qua sự trợ giúp của ngôn ngữ thờ phượng. Chức việc được dịch từ một chữ thường đề cập đến thầy tế lễ (leitourgos, đối chiếu Ne 10:39 Es 61:6 He 8:2), và ý nghĩa tế lễ ở đây được khẳng định bằng những điều được trình bày sau đó, Phao-lô mô tả việc công bố Phúc Âm của ông như việc làm chức tế lễ và những tín hữu ngoại bang của ông là một của lễ. Cũng như các tác giả Tân Ước khác (đặc biệt IPhi 2:4-10), Phao-lô hàm ý rằng việc dâng tế lễ trong thời Cựu Ước, với thầy tề lễ, sinh tế và bàn thờ hay đền thờ, được hoàn tất cách trọn vẹn qua chức vụ của Phúc Âm (chú thích Ro 12:1).
Vì vậy, thật đúng khi Phao-lô “vinh hiển” (“khoe mình”) trong chức việc này, vì chức việc này bắt nguồn từ ân điển của Đức Chúa Trời (c.15b) và là điều mà Chúa Cứu Thế làm qua vị sứ đồ này (c.18). Việc làm của Chúa Cứu Thế được thực hiện qua Phao-lô có mục đích đem dân ngoại đến sự vâng phục Đức Chúa Trời (đối chiếu 1:5) và điều Phao-lô nói và làm đều có quyền phép đi kèm: quyền năng của các dấu lạ (“dấu kỳ phép lạ”, đối chiếu Cong 2:22,43 5:12 15:12 IICo 12:12 He 2:4) và quyền phép của chính Đức Thánh Linh (Ro 1:16a). Phần cuối câu 19 nêu ra kết quả của chức vụ sứ đồ và tế lễ quyền năng của Phao-lô: từ thành Giê-ru-sa-lem và các miền xung quanh cho đến xứ I-ly-ri, tôi đã đem đạo Tin lành của Đấng Christ đi khắp chốn. I-ly-ri là một tỉnh của La-mã, chiếm xấp xỉ cả vùng đất mà ngày nay là Nam Tư và An-ba-ni. Giê-ru-sa-lem là điểm khởi hành của sứ mạng truyền giáo trong khi I-ly-ri là nơi xa nhất của hành trình truyền giáo mà Phao-lô đã xác định. Nếu vẽ một đường qua tất cả các điểm ta sẽ được một đường vòng cung, vì thế mà Phao-lô mới nói là xung quanh (nghĩa đen là “một vòng tròn”). Phao-lô nói rằng ông đã thành lập những Hội Thánh mạnh mẽ, toạ lạc ở những nơi trung tâm khắp phía Đông Bắc này của vùng lòng chảo Địa Trung Hải. Vì vậy ông đã hoàn thành (plçroơ ) bản NIV dùng từ “đã tuyên bố khắp”) sứ mạng truyền giảng Phúc Âm của mình ở các khu vực ấy, vì nhiệm vụ của ông là rao Tin lành ở nơi nào danh Đấng Christ chưa được truyền ra (c.20). Phần trích dẫn Cựu Ước mà Phao-lô dùng để khẳng định sứ mạng của mình (c.21) là từ các bài ca của Ê-sai (Es 52:15), nhưng không chắc là Phao-lô tự xem mình trong vai trò của người đầy tớ.
Phao-lô chuyển từ quá khứ sang hiện tại và đến tương lai. Trách nhiệm phải hoàn thành sứ mạng ở phía Đông đã ngăn trở việc đến Rô-ma của ông trong thời gian trước (c.22). Nhưng sứ mạng ấy đã hoàn tất, bây giờ Phao-lô có thể đạt được nguyện vọng từ lâu của mình là đến thăm Rô-ma (đối chiếu Ro 1:10-15). Thế nhưng Rô-ma chỉ là một chặng dừng chân trong một cuộc hành trình đến Tây Ban Nha (c.24,28). Rõ ràng Phao-lô đã quyết định rằng bán đảo “Y-pha-nho” đông dân cư là một địa điểm lý tưởng để ông tiếp tục tiên phong trong công việc rao giảng Phúc Âm của mình. Một trong những lý do Phao-lô dừng lại Rô-ma là để các tín hữu Rô-ma có thể hỗ trợ cho ông trong chuyến viếng thăm này. Cụm từ “giúp tôi trong cuộc hành trình của tôi” trong bản NIV được dịch từ một động từ mà hầu như đã trở thành một “thuật ngữ chuyên môn chỉ về sứ mạng truyền giáo của Cơ Đốc nhân” của Kinh Thánh Tân Ước (Cranfield, đối chiếu Cong 15:3 20:38 21:5 ICo 16:6,11 IICo 1:16 Tit 3:13 IIIGi 1:6). Nó nói đến sự hỗ trợ về vật chất và hậu cần cho các nhà truyền giáo Cơ Đốc. Một trong những lý do chính của Phao-lô khi viết bức thư này cho hội thánh Rô-ma là để dọn đường cho sự hỗ trợ này.
Tuy nhiên, trước khi có thể thực hiện kế hoạch này, Phao-lô có một nhiệm vụ cấp bách hơn là “giúp việc” (diakonơn) các tín hữu tại Giê-ru-sa-lem (c.25). Nhiệm vụ này, như câu 26-27 cho biết, là giao cho các tín hữu Do Thái tại Giê-ru-sa-lem món tiền quyên góp được từ nhiều Hội Thánh, chủ yếu là những người ngoại quốc mà Phao-lô đã gây dựng. Các Cơ Đốc nhân, do việc tuyên xưng đức tin của mình, đã bị cô lập khỏi những anh em Do Thái khác, và không nghi ngờ gì nữa, điều này đã khiến cho điều kiện kinh tế nói chung bị suy giảm và đưa đến sự nghèo thiếu của những người tín hữu tại Giê-ru-sa-lem và các vùng lân cận. Phao-lô cảm thấy rằng điều các tín hữu người ngoại quốc đáng làm là lấy của cải thuộc về phần đời (c.27) để trả cho các phước lành thiêng liêng mà họ thừa hưởng từ người Do Thái (Ro 11:17-18). Việc quyên góp tiền cho nỗ lực cứu tế này là mối quan tâm chính của Phao-lô trong hành trình truyền giáo lần thứ ba này (ICo 16:1-4 IICo 8:1-9:15). Một số học giả cho rằng Phao-lô đặc biệt quan tâm đến việc quyên góp này vì ông quan niệm rằng điều ấy làm ứng nghiệm lời tiên báo của Kinh Thánh Cựu Ước rằng ngay trước ngày của Chúa, sự giàu có các dân ngoại sẽ chảy vào Giê-ru-sa-lem. Nhưng hầu như không có bằng chứng nào chứng minh đây là lý do. Tuy nhiên, Phao-lô đã cho rằng nỗ lực cứu tế này như một phương tiện thực tiễn giúp cho những mối quan hệ giữa các tín hữu ngoại quốc và Do Thái ngày càng mật thiết hơn.
Có lẽ dựa vào mục đích này mà Phao-lô đã kêu gọi tín hữu tại Rô-ma cầu nguyện cho sự thành công của việc quyên góp (c.30-32). Phao-lô cho thấy sự cần thiết của việc cầu xin cách sốt sắng tha thiết cho vấn đề này bằng cách yêu cầu họ “phải cùng tôi chiến đấu trong những lời cầu nguyện”. Phao-lô yêu cầu họ đặc biệt cầu nguyện cho hai điều: đó là ông được thoát khỏi những người chẳng tin trong xứ Giu-đê và số tiền quyên góp sẽ được các thánh đồ vui lòng nhận lấy. Phao-lô biết rằng người Do Thái chống đối với lập trường cứng rắn và công khai của ông vì đã đón nhận người ngoại quốc vào làm dân Đức Chúa Trời mà không buộc họ phải chịu phép cắt bì hay giữ luật Môi-se. Nhiều người Do Thái cấp tiến hơn trong thời ông (và vào thời điểm đó họ vẫn đang phát triển về số lượng) chắc hẳn đã xem quan điểm của Phao-lô không khác gì một sự phản bội. Những sự lo sợ của Phao-lô về lý do này đã được chứng minh, đó là lần đi về Giê-ru-sa-lem này đã khiến ông bị các quan chức La Mã bắt giam dưới sự xúi giục của người Do Thái (Cong 21:27-36).
Chúng ta không biết rõ về việc thực hiện lời đề nghị cầu nguyện thứ hai của Phao-lô. Chắc chắn Phao-lô cũng có lý do chính đáng để lo sợ rằng một số tín hữu người Do Thái có thể vẫn nghi ngờ ông và quá bận tâm đến việc duy trì mối quan hệ với những người Do Thái khác của họ đến nỗi họ sẽ từ chối những nỗ lực của ông qua việc không nhận số tiền từ ông và các tín hữu ngoại quốc. Phao-lô yêu cầu các tín hữu Rô-ma hãy cùng ông cầu nguyện để việc này không xảy ra, ngõ hầu ông có thể tiếp tục đến Rô-ma một cách vui mừng và tiếp tục giữ được cảm giác hoàn thành công việc một cách tích cực (c.32).
Lời cầu nguyện của Phao-lô rằng Đức Chúa Trời bình an ở với các tín hữu Rô-ma (c.33) tương tự những lời cầu xin ở nhiều bức thư khác của ông (IICo 13:11 Phi 4:9 ITe 5:23 IITe 3:16 cũng đối chiếu Ro 16:20).
Chú thích. 19 Không rõ Phao-lô muốn nói ông đã giảng “cho đến và vào trong” xứ I-ly-ri hay “cho đến” xứ I-ly-ri. Mặc dù sách Công Vụ hoàn toàn không nói đến hành trình truyền giáo của Phao-lô trong tỉnh này, nhưng một số học giả cho rằng có lẽ ông đã giảng ở đó ngay trước lúc đến Cô-rinh-tô vào cuối cuộc hành trình truyên giáo thứ ba (nơi ông đang viết thư gởi cho người Rô-ma đối chiếu Cong 20:2). 24 Chúng ta không biết Phao-lô có đạt được mục tiêu đi truyền giáo ở Tây Ban Nha của mình hay không. Iclement, một tài liệu được viết tại Rô-ma vào cuối thế kỷ thứ nhất, tuyên bố rằng Phao-lô “đã đến được giới hạn -terma của phía Tây” (Ro 5:1-7). Câu này không rõ là đề cập đến Tây Ban Nha hay Rô-ma.
2. Lời khen ngợi và chào thăm (Ro 16:1-16)
Sự khen ngợi một người tín hữu anh em và những lời chào thăm là những thành phần tiêu biểu của cho các phần kết thúc thư của Phao-lô. Điều không tiêu biểu của phần này là số lượng người Phao-lô chào thăm chưa từng có trước đây: hai mươi bảy cá nhân được nhắc đến. Một điều như thế lại xuất hiện trong bức thư gởi cho một Hội Thánh mà Phao-lô chưa từng đến thăm đã khiến cho nhiều học giả nghĩ rằng chương này không có trong bức thư gốc của Phao-lô gởi cho người Rô-ma, mà đây là một bức thư riêng bày tỏ sự khen ngợi, hoặc là một phần được thêm vào khi nó được gởi đến Ê-phê-sô. Nhưng cách nghĩ này không chắc đúng (xem phần Giới thiệu). Thật vậy, do Phao-lô không thành lập Hội Thánh tại Rô-ma, nên có lẽ ông chỉ có thể kể tên tất cả những tín hữu trong Hội Thánh mà ông biết, như Bê-rít-sin và A-qui-la (c.3) là những người ông đã gặp trong những cuộc hành trình của mình ở vùng Đông Địa Trung Hải.
Với cách Phao-lô gọi Phê-bê là một diakonos của Hội Thánh tại Xen-cơ-rê (một thành phố cách Cô-rinh-tô năm dặm về phía Đông), có lẽ ông chỉ muốn nói rằng bà là một tín hữu cũng như mọi tín hữu khác, được kêu gọi để làm một tôi tớ (c.1) của Đấng Christ và của Hội Thánh (IPhi 4:10). Nhưng với phần bổ sung của Hội Thánh Xen-cơ-rê nghe rất trịnh trọng, có thể Phao-lô xác nhận Phê-bê đang giữ chức vụ “chấp sự” (Phi 1:1 ITi 3:8,12 nhiều người hiểu ITi 3:11 là một phần đề cập về nữ chấp sự). Chúng ta không có bằng chứng chắc chắn của thế kỷ thứ nhất về bản chất của chức vụ này, nhưng theo những gì xảy ra sau này thì có lẽ chức vụ này tập trung đặc biệt vào việc chăm sóc người nghèo yếu của Hội Thánh. Cóthể là địa vị về đời này của Phê-bê cũng có liên quan đến việc bổ nhiệm bà vào chức vụ này, vì trong câu 2b Phao-lô gọi bà là một prostatis, từ thường chỉ về những người giàu có trở thành “người bảo trợ” và người đỡ đầu cho nhiều người và những phong trào nào đó (bản Kinh Thánh tiếng Việt diễn giải bà là người đã giúp nhiều kẻ). Phao-lô đề cập đến Phê-bê vì bà sẽ đến Rô-ma, và có lẽ đem theo bức thư của Phao-lô gởi cho Hội Thánh (c.2a).
Lời chào thăm của Phao-lô không đi theo một trình tự rõ ràng, mà đi từ những người Phao-lô biết rõ nhất và những người ông từng làm việc chung (c.3-7) rồi đến những người khác ông biết ít rõ hơn (c.8-15). Bê-rít-sin và A-qui-la chắc chắn thuộc về nhóm thứ nhất. Vì lần đầu tiên Phao-lô gặp họ tại Cô-rinh-tô, lý do họ đến đó là vì Hoàng đế Claudius buộc họ phải rời bỏ quê hương mình ở Rô-ma (Cong 18:2). Họ trở thành kẻ cùng làm việc với Phao-lô, dành hầu hết thời gian cho Hội Thánh tại Ê-phê-sô (18:18,26). Có lẽ chính tại đây, trong thời gian thành phố này có sự rối loạn (19:23-41), mà họ đã liều chết để cứu sống Phao-lô (c.4). Nay khi trở lại sinh sống tại Rô-ma, họ tiếp tục chức vụ, với một trong những “hội thánh tư gia” nhóm lại tại nhà họ (c.5a). Ê-bai-nết (c.5b), là tín hữu đầu tiên tại tỉnh A-si của La Mã (ở phía Tây vùng Tiểu Á), không chỗ nào khác trong Kinh Thánh Tân Ước nhắc đến cũng vậy, chúng ta không biết gì về Ma-ri (c.6).
Chữ Junias trong câu 7 có lẽ được dịch là “Giu-ni-a” (theo bản ASV, NRSV). Trong tiếng Hy-lạp, tên Iounian có thể là một dạng rút ngắn của tên gọi Junianis dành cho nam giới, nhưng dạng này ít được chứng thực. Vì vậy rất có thể nó là một dạng của tên Giu-ni-a dành cho nữ giới, một tên gọi rất phổ biến. Rất có thể Giu-ni-a trong câu 7 là vợ của An-trô-ni-cơ (đối chiếu câu 3). Hai vợ chồng này, vốn là những người Do Thái -có lẽ syngeneis mang nghĩa là “những người Do Thái anh em” (như trong Ro 9:3) hơn là “bà con họ hàng”), đã tiếp nhận Chúa Cứu Thế trước Phao-lô và đã bị tù cùng với ông – có lẽ vì họ cùng gánh vác công việc “sứ đồ”. Vì chúng ta không biết gì về họ từ những nguồn tư liệu khác, nên rất có thể An-trô-ni-cơ và Giu-nia không phải là sứ đồ, chẳng hạn, theo cách Phao-lô và Phi-e-rơ đã có – được Đức Chúa Trời chọn lựa để đại diện cho Chúa Cứu Thế phục sinh với một uy quyền có một không hai (Cong 1:12-26 Eph 2:20 ICo 15:7-9). Trái lại, sứ đồ ở đây có nghĩa là “nhà truyền giáo” hoặc “sứ giả” (IICo 8:23 Phi 2:25).
Không thấy được chỗ nào khác của Kinh Thánh Tân Ước đề cập đến A-mi-la (c.8) nhưng có thể là người được tìm thấy trong khu hầm mộ ở Domitila, một người phụ nữ giàu có và thuộc gia đình quyền quí, và rõ ràng bà đã là một Cơ Đốc nhân. Chúng ta không biết gì thêm về U-rơ-banh, Êch-ta-chy (c.9) và A-be-lơ (c.10). Tuy nhiên, A-rích-tô-bu, người có người nhà mình là các tín hữu (c.10b), có lẽ là anh em của Ạc-ríp-ba I, vua Giu-đê cai trị năm 41-33 T.C. (Công Vụ 12). Hê-rô-đi-ôn là người Do Thái, anh em của Phao-lô (syngenes là một nô lệ hay một người tự do của gia đình Hê-rốt, những người cai trị cha truyền con nối của xứ Giu-đê. Nhân vật Nạt-xít có người nhà được Phao-lô chào thăm trong câu 11b có lẽ cũng là Nạt-xít nổi danh là một tôi tớ của Hoàng đế Claudius. Try-phe-nơ, Try-phô-sơ và Bẹt-si-đơ, là ba người phụ nữ đã góp phần trong công việc Chúa, cũng là những người không có thông tin gì khác. Trong phân đoạn Kinh Thánh này, Phao-lô chào thăm chín người phụ nữ, sáu trong số họ được mô tả là những người làm việc cho Chúa hoặc là những người làm việc nhiều cho Chúa (c.12). Không có điều gì trong những lời lẽ Phao-lô dùng có thể cho phép chúng ta biết được tính chất chức vụ của họ, nhưng chúng ta phải thừa nhận vai trò quan trọng của phụ nữ trong các nhiệm vụ khác nhau của Hội Thánh đầu tiên – cũng như trong các nhiệm vụ hiện nay. Vì sách Phúc Âm Mác có thể được viết tại Rô-ma, và có lẽ cùng thời điểm như thư Rô-ma, nên người ta có khuynh hướng đồng nhất Ru-phu của câu 13 với Ru-phu, con của người vác cây thập tự của Chúa Giê-xu đến đồi Gô-gô-tha (Mac 15:21). Những tên người được nêu ở câu 14-15 không thấy xuất hiện ở chỗ nào khác trong Kinh Thánh Tân Ước hay lịch sử của Hội Thánh đầu tiên.
Cái hôn (c.16a) như một hình thức chào thăm, chào mừng hay chia tay rất phổ biến trong thế giới cổ đại đã được Hội Thánh đầu tiên áp dụng (ICo 16:20 IICo 13:12 ITe 5:26 IPhi 5:14). Tuy nhiên, đó phải là cái hôn thánh, hoàn toàn khác với bất kỳ ý nghĩa nào mang tính tình dục hay ngoại giáo.
3. Cảnh báo về các giáo sư giả (Ro 16:17-20)
Sự cảnh báo đột ngột của Phao-lô về giáo sư giả khiến một số học giả nghĩ rằng phân đoạn này hoàn toàn không thuộc về bức thư này. Nhưng mặc dù sự cảnh báo theo loại này không đựơc sử dụng rộng rãi trong các phần kết thư của Phao-lô, chúng không phải là không được biết đến (ICo 16:22 Ga 6:12-13 Phi 3:2-21).
Không rõ Phao-lô đang cảnh báo các tín hữu Rô-ma về ai. Ông mô tả họ như những kẻ gây nên bè đảng và tạo ra những trở ngại (skandala, đối chiếu Ro 9:33 11:9 14:13) trong hàng lối của các tín hữu (c.17). Họ là những người “dùng lời lẽ ngọt ngào” và dua nịnh để cố lừa dối những kẻ thật thà và thiếu cảnh giác (câu 18). Họ bận tâm với những sự ham muốn của chính mình (nghĩa đen là “cái bụng họ), nhưng ngay cả chi tiết có phần cụ thể hơn này cũng không giúp được gì cho chúng ta trong việc nhận dạng những người này là ai. Một số người cho rằng điều này đề cập đến sự khăng khăng của người Do Thái trong việc giữ các luật lệ về thức ăn (Phao-lô trách mắng họ vì đã quá chú trọng đến những thứ sẽ đi vào bụng họ), Những người khác lại cho rằng nó đề cập đến sự quan tâm về những thú tiêu khiển mang tính xác thịt của một người. Chúng ta đành phải đồng ý rằng không thể xác định được những giáo sư giả này là ai.
Dù họ là ai, Phao-lô khuyên các tín hữu Rô-ma phải coi chừng họ và tránh xa họ (c.17). “Tránh xa họ” không có nghĩa là Hội Thánh phải dứt phép thông công họ (đối chiếu ICo 5:1-5) nhưng nói chung là họ phải tránh xa phường hội của những người này. Phao-lô tái xác nhận lòng tin tưởng của ông dành cho các Cơ Đốc nhân tại Rô-ma (c.19a đối chiếu Ro 15:14-15 1:8), nhưng không muốn họ thiếu cảnh giác về những mối nguy hiểm với đức tin họ (c.18b). Bắt chước lời khuyên của Chúa Giê-xu dành cho mười hai sứ đồ, Phao-lô khích lệ các tín hữu phải khôn ngoan về điều lành, và thanh sạch đối với điều dư (c.19b đối chiếu với Mat 10:16). Để làm việc đó, họ phải tin chắc rằng chính Đức Chúa Trời sẽ hành động chống lại những kẻ đang tìm cách lừa dối họ: Đức Chúa Trời bình an sẽ kíp giày đạp quỉ Sa-tan dưới chơn anh em (. câu này có liên hệ mật thiết với câu 17-19, xem bản RSV). Có thể Phao-lô đang ám chỉ về một “cuộc tấn công” chớp nhoáng của các giáo sư giả này, được nhận biết như những tay sai đắc lực của Sa-tan. Nhưng rất có thể là ông nghĩ về tuyệt điểm lớn của thời kỳ cuối cùng, để được ứng nghiệm lời Sa 3:15, Đức Chúa Trời sẽ dành được chiến thắng tuyệt đối trên Sa-tan. Sự bình an (c.20) mà Đức Chúa Trời tạo ra sau cùng là kết quả của cả sự giải thoát dân Ngài lẫn sự phán xét kẻ thù Ngài.
4. Lời chào thăm và lời tạ ơn (Ro 16:21-27)
Bức thư của Phao-lô kết thúc bằng những lời chào thăm của ba người bạn đồng lao của Phao-lô (c.21-23) và một lời tạ ơn (c.25-27).
Ti-mô-thê (21) là một người bạn đồng hành thân thuộc của Phao-lô từ đầu hành trình truyền giáo lần thứ hai (Cong 16:3) và nay đang ở với Phao-lô tại Cô-rinh-tô. Lu-si-út thỉnh thoảng được đồng nhất với Lu-ca, “người thầy thuốc yêu dấu” hay với Lu-si-út người Sy-ren (13:1), nhưng cả hai đều không chắc chắn. Tuy nhiên, Gia-sôn rất có thể là Gia-sôn người đón tiếp Phao-lô trong chuyến đi đầu tiên của Phao-lô đến Tê-sa-lô-ni-ca (17:5-9 – có lẽ ông đã lánh sang thành phố Cô-rinh-tô do bị bắt bớ), trong khi Sô-xi-ba-tê có lẽ chính là Sô-ba-tê của 20:4. Chữ bà con một lần nữa được dịch từ chữ syngeneis, chỉ về người Do Thái đồng hương của Phao-lô chớ không phải bà con theo huyết thống. Tẹt-tiu (c.22), không thấy chỗ nào khác trong Tân Ước nhắc đến, là thư ký hay người biên chép ghi lại những điều Phao-lô đọc cho ông. Gai-út (c.23) người đã dùng nhà mình cho các tín hữu Cơ Đốc nhân nhóm họp, hầu như chính là Gai-út được đề cập trong ICo 1:4, và có lẽ được đồng nhất với Ti-tiu Giút-tu (Cong 18:7). Phao-lô xác nhận Ê-rát là quan kho bạc thành phố (tiếng Hi Lạp là oikonomos tçs poleơs), nên đã nảy sinh thắc mắc có phải ông cũng chính là Ê-rát được ghi chú là một “quan thị chính” hay “uỷ viên giải quyết những việc chung”, hình khắc trên một bia ký của thành Cô-rinh-tô thế kỷ thứ nhất. Nhưng từ ngữ Phao-lô sử dụng không tương đồng cách tự nhiên với từ “quan thị chính” (aedile) của tiếng La-tinh, nên sự đồng nhất là không chắc chắn. Và cũng không rõ Ê-rát ở đây có phải là người 19:22 và IITi 4:20 đề cập hay không, vì đây là tên gọi phổ biến.
Lời tạ ơn của Phao-lô, góp thêm cho việc kết thúc thư một sự lưu ý về việc quy sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời, đồng thời cũng đúc kết cách hiệu quả một số chủ đề của bức thư. Như chúng tôi đã gợi ý, sự bảo vệ và giải thích của Phao-lô cho Phúc Âm mà ông đang rao giảng chính là chủ đề chính của bức thư. Nay Phao-lô nhắc nhở chúng ta rằng chính nhờ “Phúc Âm” mà Đức Chúa Trời “làm vững lập” chúng ta trong đức tin mình (c.25). Phúc Âm này, Phúc Âm tuyên bố Đức Chúa Giê-xu Christ (lời giảng Đức Chúa Giê-xu Christ có lẽ là một lời giải thích về nội dung của Phúc Âm), là một lẽ mầu nhiệm chỉ được bày tỏ mới đây (c.25b-26a). Chúng ta được nhắc nhớ về việc Phao-lô nhấn mạnh về phương cách mà sự công bình cứu rỗi của Đức Chúa Trời được bày tỏ trên thập tự giá và qua việc rao giảng Phúc Âm (Ro 1:17 3:21). Được bày ra theo các sách tiên tri (c.26) có lẽ tương tự với ý nghĩa “bày tỏ ra” hơn là phụ thuộc vào nó (như bản NIV dùng) mô tả thêm về Phúc Âm được trình bày trong câu 25, cũng là câu nêu bật chủ đề chính của bức thư (1:2 3:21 4:1-25 10:14-21). Sự bày tỏ và giới thiệu Phúc Âm là mạng lệnh của Đức Chúa Trời và có mục đích là cho muôn dân (bản NIV đã dùng đúng từ ethne ở đây để chỉ về “các dân tộc” chứ không chỉ là “dân ngoại quốc”(xin đối chiếu với Mat 28:19) đều biết, đặng đem họ đến sự vâng phục Ngài (nghĩa đen là “sự vâng phục đức tin” đối chiếu Ro 1:5 và phần chú giải về cụm từ này). Vì chúng ta tiếp tục theo đuổi việc hoàn thành mục đích này bằng sự rao giảng Phúc Âm, nên chúng ta được nhắc nhở rằng rốt lại là vì sự vinh quang của Đức Chúa Trời khôn ngoan có một.
Chú thích. 24 Các bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh không in câu 24, vì nội dung của nó hầu như là một phần bổ sung sau này cho bản văn thư Rô-ma. 25-27 Các nhà bình giải hiện đại nhất xem phần lời tạ ơn trong c.25-27 là một phần bổ sung cho bức thư. Nhưng về từ ngữ và ý tưởng thì hoàn toàn không có gì khác với cách của Phao-lô, nó có thêm sự hỗ trợ mạnh mẽ từ những bản chép tay đầu tiên và sự sắp xếp đặc biệt (ở cuối chương 14 hay chương 15) có lẽ đã nảy sinh từ sự chuyển đổi phần kết luận nguyên bản của Phao-lô khi bức thư đã bị rút ngắn.