LU-CA

MỤC LỤC

LU-CA

1. LỜI NÓI ĐẦU (Lu 1:1-4)

Không giống như Ma-thi-ơ, Mác và Giăng, Lu-ca mở đầu Phúc Âm của mình bằng một lời nói đầu ngắn gọn được viết bằng thứ tiếng Hy Lạp chuẩn, giống như thứ ngôn ngữ vẫn được dùng trong các tác phẩm của các nhà sử học và của các tác giả uyên thâm khác vào thời của ông.  Ông đang nói với cả thế giới nói chung và đặt Cơ Đốc giáo trên diễn đàn của lịch sử thế giới, và vì thế ông đã viết theo phong cách đương thời.

Những sự đã làm nên trong chúng ta bao gồm tất cả những gì có liên quan trong Lu-ca - Công Vụ.  Việc Lu-ca thấy cần thiết phải có một cách xử lý mới mẻ hơn đối với nền tảng của Cơ Đốc giáo một phần là do ông tin rằng câu chuyện về Chúa Giê-xu phải được bổ sung bởi những gì sẽ xảy ra tiếp theo đó.

Lu-ca đã biện hộ cho công việc của mình với tư cách là một tác giả Phúc Âm qua việc cho biết rằng đã có nhiều người cũng viết về Phúc Âm, sau đó ông cho biết về khả năng của chính mình khi thực hiện công việc này: sau khi đã thực hiện các cuộc nghiên cứu một cách kỹ lưỡng thì ông có thể viết thành một câu chuyện thật rõ ràng và theo một thứ tự niên đại chung.  Như các tác giả trước đó, ông cũng thu thập thông tin từ các sứ đồ và những người đồng công, mà theo ông họ là những nhân chứng đáng tin cậy về những sự việc đã xảy ra.

Mục đích của ông là viết về một câu chuyện có tính lịch sử nhằm bày tỏ cho Thê-ô-phi- biết rằng những gì ông ta biết được về Cơ Đốc giáo là có cơ sở rõ ràng.  Tuy nhiên, chúng ta lại không được biết Thê-ô-phi-lơ là ai quí nhân có lẽ chỉ là một cách nói lịch sự hoặc có thể có liên hệ đến vị thế của ông ta.  Cụm từ những điều mình đã học có thể cho thấy rằng ông đã nhận được sự dạy dỗ như một người mới tiếp nhận Chúa hơn là người chỉ tình cờ được nghe về Cơ Đốc giáo.

2. SỰ GIÁNG SINH VÀ THỜI THƠ ẤU CỦA CHÚA GIÊ-XU (Lu 1:5-2:52)

Lu-ca đã bắt đầu câu chuyện về chức vụ của Chúa Giê-xu với phần mở đầu kể về sự giáng sinh của Ngài và cho biết Chúa Giê-xu đã được sinh ra với tư cách là Đấng Mết-si-a và là Con Đức Chúa Trời như thế nào (Lu 1:35).  Chuyện kể của Ma-thi-ơ có khuynh hướng tập trung vào Giô-sép còn câu chuyện của Lu-ca tập trung nhiều hơn đến Ma-ri.

Cùng tồn tại song song và có liên hệ mật thiết với câu chuyện này là câu chuyện về sự ra đời của Giăng Báp-tít, người có nhiệm vụ phải chuẩn bị tấm lòng của dân sự cho ngày Chúa đến (1:16-17,76-77).  Việc sắp xếp và đan xen các câu chuyện với nhau một cách cẩn thận cho thấy Giăng là một người có vai trò quan trọng và sự ra đời của ông là nằm trong toàn bộ kế hoạch của Đức Chúa Trời, đồng thời cũng bày tỏ rằng Chúa Giê-xu là một Đấng còn quan trọng hơn nhiều so với người dọn đường của Ngài.  Câu chuyện đề cập đến nhiều chi tiết trong Cựu Ước cho thấy được những việc làm sau này của Đức Chúa Trời luôn hòa hợp với những việc làm đầy quyền năng trước đây của Ngài cho dân sự Ngài, và chúng cũng ứng nghiệm với các lời tiên tri.  Nhiều sự việc siêu nhiên khác được ghi chép lại cũng đã phân định một cách rõ ràng về hai đứa trẻ, một là tôi tớ Đức Chúa Trời và một là Con Ngài.

Chúng ta không rõ làm thế nào Lu-ca biết được những sự việc này.  Có lẽ những câu chuyện này đã được lưu truyền giữa vòng các thành viên trong gia tộc chớ không được công bố rộng rãi.  Chúng đều có chất thơ và kịch, mặc dù các sự kiện chính yếu ở đây đều là những sự kiện lịch sử và đã được chứng thực bởi một câu chuyện riêng biệt khác trong Ma-thi-ơ.

1. Lời tiên tri về sự ra đời của Giăng (Lu 1:5-25)

Lu-ca giới thiệu câu chuyện về Giăng cũng với những lời lẽ trang trọng như đã giới thiệu về Chúa Giê-xu, vì Giăng là người vĩ đại nhất trong thời của ông (7:28).  Cha mẹ ông là những tín hữu Do Thái giáo sùng kính vào thời ấy (sự mô tả về họ lặp lại ý tưởng đã được ghi trong Sa 17:1  IVua 9:4).  Khi cha của Giăng là thầy tế lễ Xa-cha-ri đang làm phận sự trong đền thờ thì có sự hiện thấy về một thiên sứ đến báo với ông rằng lời cầu nguyện của ông đã được nghe và ông sẽ được ban cho một con trai.  Tên con trai ấy sẽ là “Giăng”, nghĩa là “Đức Chúa Trời là nhân từ”, người phải dọn đường cho lần đến sau cuối của Đức Chúa Trời với dân sự Ngài, và đây cũng chính là niềm hi vọng của dân Do Thái.  Người sẽ được biệt riêng để hầu việc Đức Chúa Trời như Sa-mu-ên (ISa 1:11), và người sẽ được Đức Thánh Linh ban quyền năng để làm tròn sứ mạng của mình.  Việc người đến sẽ đem sự vui mừng đến cho dân sự, vì người sẽ thực hiện vai trò của tiên tri Ê-li là đấng được mong đợi sẽ trở lại, và người cũng là người dọn đường cho Đức Chúa Trời (Ma 4:5).

Giống như Áp-ra-ham (Sa 15:8), Xa-cha-ri không thể tin được những điều Đức Chúa Trời đã phán và ông cầu xin sự xác nhận cho điều này.  Thiên sứ đáp lời bằng cách cho biết về “sự ủy nhiệm” từ Đức Chúa Trời bao gồm tên và sứ mạng của mình và phán thêm rằng Xa-cha-ri sẽ bị câm (và điếc) cho đến khi đứa bé ra đời.  Khi Xa-cha-ri từ đền thờ bước ra, dân sự lấy làm ngạc nhiên vì ông không thể nói được lời nào và họ cho rằng ắt hẳn ông đã có một sự hiện thấy từ nơi Đức Chúa Trời và điều này đã khiến ông trở nên câm lặng.  Khi đến kỳ, lời hứa của Đức Chúa Trời được ứng nghiệm và đứa bé đã được thai nghén.

Chú thích.   5  -rốt Đại đế cai trị trên xứ Giu-đê cho đến năm 4 T.C. (Lu 2:1).   6-7  Đối với người Do Thái, nếu một người vợ bị son sẻ thì điều này được xem như là một sự hổ thẹn vô cùng cho cô ấy (1:25 so sánh Sa 30:23) và đôi lúc người ta cho rằng đó là do tội lỗi của cô.  Rõ ràng đây không phải là trường hợp của Ê-li-sa-bét (Lu 1:6).  Việc một người trước đây bị son sẻ lại sinh con có thể là một dấu hiệu về các phước lớn sẽ đến cho dân tộc đó qua đứa trẻ (ví dụ: Y-sác, Ghi-đê-ôn, và Sa-mu-ên).   8-12  Chi phái Lê-vi là chi phái của các thầy tế lễ phục vụ trong đền thờ.  Vì có rất nhiều thầy tế lễ dự phần hầu việc nên chi phái này đã được chia thành hai mươi bốn ban, theo thứ tự thì ban A-bi-a (5) là ban thứ tám trong số hai mươi bốn ban (ISu 24:10).  Mỗi ban làm phận sự của mình mỗi năm hai tuần, thời gian còn lại trong năm các thầy tế lễ ra bên ngoài thành Giê-ru-sa-lem để làm các công việc đời thường (đối chiếu c.23).  Việc dâng hương được thực hiện hai lần trong ngày, và việc chọn ra người để dâng hương trong nơi thánh sẽ được ấn định bằng việc bắt thăm.  Không một thầy tế lễ nào có vinh dự được chọn hai lần trong đời, và nhiều người không bao giờ có may mắn được chọn lần nào cả.  Thầy tế lễ tự mình đi vào nơi thánh dâng của lễ trong khi dân chúng sẽ chờ đợi ở bên ngoài và khẩn nguyện cho đến khi thầy tế lễ trở ra và cho mọi người ra về sau khi đã chúc phước cho họ.   13  Đặt tên cho con trẻ là trách nhiệm của người cha.  Với Đức Chúa Trời, việc Ngài đã đặt tên cho đứa trẻ là một dấu hiệu cho thấy rằng Ngài sẽ nhận lãnh trách nhiệm đối với nó.  24 Ê-li-sa-bét phải ẩn mình đi trong thời gian đầu bà chịu thai, và trong thời gian đó có lẽ bà vẫn bị mọi người gièm chê về sự son sẻ của mình.  Ma-ri là người đầu tiên được tiết lộ cho biết tin này, và tính chất kỳ lạ của sự việc đã xảy ra vẫn còn là một bí mật đối với nhiều người.

2. Lời tiên tri về sự giáng sinh của Chúa Giê-xu (Lu 1:26-38)

Việc loan báo về sự ra đời của Chúa Giê-xu được thuật lại theo cách thức rất giống với câu chuyện trước đó để người đọc có thể thấy được những điểm tương đồng giữa hai câu chuyện.  Tuy nhiên, lần này sự chú ý tập trung vào người mẹ (hơn là người cha) của đứa trẻ.  Ma-ri đã được hứa gả cho Giô-sép, nhưng hai người chưa làm lễ cưới với nhau.  Đến tháng thứ sáu kể từ khi Ê-li-sa-bét mang thai (c.36), Ma-ri có một sự hiện thấy cùng thiên sứ.  Như một phản ứng tự nhiên giống Xa-cha-ri, Ma-ri cũng cảm thấy rất sợ hãi và bối rối khi được xưng là người được ơn.  Lời này ngụ ý rằng bởi ân điển của Đức Chúa Trời, Ngài đã chọn nàng để hạ sinh một con trai (Es 7:14) và con trai này sẽ được đặt tên là Giê-xu, tương tự như tên “Giô-suê” trong tiếng Hê-bơ-rơ, có nghĩa là “Đấng Cứu Thế”.  Ngài sẽ là một vua ra từ dòng dõi Đa-vít, và sẽ được gọi là Con Đức Chúa Trời giống như Sa-lô-môn đã được gọi, và Ngài sẽ trị vì trên vương quốc của Đa-vít nhưng cho đến đời đời.  Những lời này cho thấy rằng đứa trẻ phải là Đấng Mết-si-a, mặc dù tác giả không ghi rõ từ này ra. 

Câu hỏi của Ma-ri với thiên sứ (34) đã gây bối rối ít nhiều.  Nếu như nàng đã đính hôn với một hậu duệ của Đa-vít như Giô-sép được mô tả rất rõ ràng (27), thì tại sao nàng lại hỏi làm sao việc này có thể xảy ra, và rằng tôi chưa hề nhận biết người nam nào (theo nghĩa là có quan hệ tình dục với người đó)? Phải chăng đứa trẻ không phải là kết quả của cuộc hôn nhân sắp tới của nàng? Một số người đã cho rằng có lẽ Ma-ri đã thề nguyện không quan hệ với người nam nào, nhưng điều này hẳn không thể xảy ra cho một thiếu nữ Do Thái đã hứa hôn.  Có thể Ma-ri đã nghĩ rằng thiên sứ đang nói đến việc có thai ngay lập tức là điều không thể có trước hôn nhân.  Dù giải nghĩa theo cách nào đi chăng nữa thì câu hỏi của Ma-ri đã giúp vị thiên sứ đưa ra một lời giải thích đầy đủ hơn rằng con trai của Ma-ri sẽ không phải là một con người bình thường và được Đức Chúa Trời nhận là Con Ngài (giống như trường hợp con trai của vua Đa-vít trong IISa 7:12-14), nhưng con này thật sự là Con Đức Chúa Trời và được sinh ra bởi quyền năng của Thánh Linh Đức Chúa Trời.  Sự mô tả này gợi cho chúng ta nhớ lại vinh quang của Đức Chúa Trời đã đến ngự trên đền tạm trong thời Cựu Ước (Xu 40:35).  Che phủ không phải là cách nói bóng bẩy cho nhóm từ “là cha của”: ngôn ngữ không hề cho thấy bất kỳ sự quan hệ tình dục nào giữa Đức Chúa Trời và Ma-ri.

Con của Ma-ri sẽ là Con Thánh.  Vì từ “thánh” có nghĩa căn bản là “được biệt riêng ra cho Đức Chúa Trời” hơn là “công bình đạo đức”, nên có thể hiểu từ này một cách đơn giản là “thiên thượng”, hay “có cùng bản tính với Đức Chúa Trời” (Thi 89:5,7).

Để xác nhận tin này, thiên sứ nói về những phép lạ đã xảy ra cho Ê-li-sa-bét, và Ma-ri yên lặng nhận lấy lời hứa mà không có chút nghi ngờ là điều vốn đã làm cho Xa-cha-ri lo lắng.

Câu chuyện không chú trọng quá nhiều đến sự đồng trinh của Ma-ri, ngược lại nó nhấn mạnh đến việc con trẻ sẽ được đầu thai bởi quyền năng của Đức Chúa Trời chớ không phải bởi sự giao hợp của con người.  Tuy vậy Chúa Giê-xu vẫn là một hậu duệ của Đa-vít bởi việc được nhận là con về mặt pháp lý của chồng Ma-ri.

Chú Thích.  Tính xác thực của sự sinh nở đồng trinh.  Sự ra đời của Chúa Giê-xu được trình bày như là một sự kiện lạ thường và siêu nhiên.  Những người chối bỏ về khả năng xảy ra của các sự kiện siêu nhiên thì về nguyên tắc rõ ràng là sẽ không thể chấp nhận nó sự nghi ngờ của họ xuất phát từ một quan điểm thế gian mà chúng ta không thể bàn luận đến ở đây.  Nhưng có những nguyên nhân khác mà ngay cả những người chấp nhận về khả năng xảy ra của các sự kiện siêu nhiên cũng có thể nghi ngờ về tính xác thực của câu chuyện đặc biệt này và tìm kiếm một lời giải thích khác cho cách thức mà Chúa Giê-xu đã được sinh ra.

a.  Sự im lặng của đa số các tác giả Tân Ước.  Việc câu chuyện này ít khi được nhắc đến tại một nơi nào khác trong Tân Ước (ngoại trừ trong Ma-thi-ơ) thì không hẳn là một sự phản đối đối với tính xác thực của nó.  Nếu có thực, thì trước nhất câu chuyện hẳn chỉ được biết đến trong vòng gia tộc của Chúa Giê-xu, và nó không thể được thuật lại cho mọi người cùng biết.  Sự gièm chê về gốc gác của Chúa Giê-xu cho thấy mọi người đã biết hoặc nghi ngờ rằng nguồn gốc ấy là không bình thường.

b.  Những câu chuyện tương tự của người ngoại đạo.  Có những câu chuyện cổ xưa kể về những vị anh hùng vĩ đại là con của các vị thần hoặc của những người đàn bà được các thần linh đến cùng và có quan hệ với họ.  Người ta có thể lập luận rằng câu chuyện về Chúa Giê-xu đã bị ảnh hưởng bởi các câu chuyện như thế.  Nhưng có một sự khác biệt rất lớn giữa bầu không khí của các câu chuyện thế tục và câu chuyện được ghi lại trong Lu 1:1-2:52 người ta chỉ có thể tìm được một câu chuyện tương tự một câu chuyện Cơ đốc như thế chỉ bởi việc dựng lại những nguồn tư liệu cổ theo hướng suy đoán và rất phức tạp.  Những câu chuyện tương đương không phải là các nguồn tư liệu cần thiết!

c.  Các chi tiết trong câu chuyện kể.  Một số phần trong câu chuyện, đặc biệt là thời điểm của cuộc điều tra dân số của Quirinius, đã làm nảy sinh những khó khăn về tính xác thực của câu chuyện (xem bên dưới), tuy nhiên chúng không thể gây ảnh hưởng đến vấn đề về tính xác thực đang được tranh cãi.

d.  Những trở ngại về thần học.  Người ta lý luận rằng, nếu Chúa Giê-xu không được đầu thai một cách tự nhiên, thì về mọi mặt Ngài không phải là một con người bình thường.  Nhưng trên quan điểm chính thống về bản chất của Ngài thì Chúa Giê-xu là một “con người - cộng”, và sự đầu thai không bình thường của Ngài không làm cho Ngài trở thành một “con người - trừ”.  Vấn đề quan trọng là có phải Chúa Giê-xu đơn giản chỉ là một con người có những thiên tứ đặc biệt (khác với chúng ta về cấp độ hơn là về chủng loại) hay Ngài là Con Đức Chúa Trời đã trở thành một con người.  (Xin xem thêm D. F. Wright (ed.), Choosen by God -Được Chọn Bởi Chúa, Marshall Pickering, 1989).

3. Ma-ri đến thăm Ê-li-sa-bét (Lu 1:39-56)

Ma-ri đáp ứng với thông điệp của thiên sứ bằng cách đến thăm và ở lại với Ê-li-sa-bét cho đến ngay trước khi bà sinh con.  Chuyến viếng thăm của Ma-ri càng xác nhận hơn nữa sứ điệp ấy qua cách mà nàng được Ê-li-sa-bét đón chào cùng với một lời chúc phước.  Bà nhận ra rằng Ma-ri sẽ là mẹ của Đấng Mết-si-a, và bà quá đỗi vui mừng vì nàng đã đến thăm bà.  Bà khen ngợi Ma-ri vì đã tiếp nhận lời của thiên sứ.  Thậm chí sự nhảy nhót của cái thai trong bụng bà cũng được xem như là sự đáp lại với cuộc viếng thăm của Ma-ri.

Bài ca đáp lời của Ma-ri được biết đến như là một bài “Tôn vinh” (Magnificat - là từ La-tinh của động từ “tôn vinh” trong tiếng Anh).  Nó sử dụng hình thức và ngôn ngữ của một bài Thi Thiên Do Thái và thấm nhuần âm hưởng của những bài ngợi khen trong Cựu Ước để ngợi khen Đức Chúa Trời.  Cảm hứng cho những lời này đến từ ISa 2:1-10 là bài ca của An-ne sau khi Đức Chúa Trời đã ban cho bà một đứa con.

Hình thức của bài ca này là một tiếng reo mừng hân hoan dâng lên Đức Chúa Trời được tiếp nối bởi một loạt các mệnh đề cho biết lý do Ngài phải được ngợi khen.  Sau phần liên hệ thật ngắn gọn về lý do cảm tạ của Ma-ri, bài ca thuật lại những việc Đức Chúa Trời đã làm cho dân Ngài, nó nói rõ về sự phán xét của Ngài trên kẻ mạnh và những phước hạnh dành cho kẻ khiêm nhường tất cả đều ứng nghiệm với những lời hứa của Ngài cho dân sự từ rất lâu trước đây.  Thì quá khứ trong câu 51-54 có lẽ diễn tả những điều Đức Chúa Trời sẽ làm trong tương lai qua Đấng Mết-si-a đó là những hành động đã bắt đầu xảy ra qua việc Đấng Mê-si-a đã được đầu thai, và những hành động tương tự như những việc làm mà Đức Chúa Trời đã thực hiện trong lịch sử của Y-sơ-ra-ên.  Vì thế đây là một sự mô tả có tính cách ẩn dụ về công tác của Chúa Giê-xu.

Chú Thích.   41  Người ta không nói gì về việc hai đứa trẻ chưa được sinh ra mà lại có mối liên lạc với nhau.  Trong cuộc đời sau này của mình, Giăng rõ ràng cũng không biết nhiều về Chúa Giê-xu (Gi 1:31  Lu 7:19), và phần ghi chép lại sau đó cũng không ngụ ý rằng họ có quan hệ họ hàng với nhau.   46  Một số bản (chép tay) cho rằng Ê-li-sa-bét chớ không phải Ma-ri là tác giả của bài ca, và người ta lập luận rằng tình cảm được thể hiện trong bài ca thích hợp với Ê-li-sa-bét hơn.  Nhưng bằng chứng thuyết phục hơn là xem Ma-ri là người hát bài ca này, và đáp ứng của Ma-ri đối cùng lời của Ê-li-sa-bét trong câu 42-45 là một lời kết luận thích hợp và cần thiết cho khung cảnh ấy (c.38).   48  Trạng thái hèn ha là cảm giác của Ma-ri về sự không xứng đáng của mình đối với vinh dự của Đức Chúa Trời và chính trạng thái này đã đặt nàng vào trong số những con người tin kính trong Y-sơ-ra-ên.  Hèn hạđói (53) là những thuật ngữ có thể đơn giản là đề cập đến những người tin kính trong Y-sơ-ra-ên, nhưng cũng có thể là nói đến sự thiếu thốn về kinh tế và sự áp bức về chính trị.  Đấng Mết-si-a đã hành động thay cho họ bằng cách đem vào Nước Trời các phước hạnh đi kèm và bằng cách loan báo sự phán xét của Đức Chúa Trời trên kẻ kiêu ngạo (51) và kẻ giàu (53) là những kẻ bị xem là có được địa vị bởi sự bất công.   49  Đức Chúa Trời bày tỏ rằng Ngài là thánh bởi hành động cứu rỗi của Ngài cho dân sự Ngài (như trong Thi 111:9).

4. Sự ra đời của Giăng (Lu 1:57-80)

Những người lân cận của Ê-li-sa-bét hẳn đã rất vui mừng đơn giản vì dù cho trước đây bà son sẻ nhưng nay bà đã có một đứa con.  Ngày thứ tám là ngày được ấn định của người Do Thái để làm lễ cắt bì (Le 12:3).  Việc kết hợp để đặt tên cho con vào ngày này là chuyện lạ vì theo phong tục thì tên đứa trẻ phải được đặt vào lúc mới sinh, nhưng sự kết hợp này lại là một dịp để mọi người có mặt tại buổi lễ phải ngạc nhiên vì đứa trẻ đã không được đặt tên theo cha nhưng đặt tên là Giăng.  Ngạc nhiên tiếp theo ngạc nhiên khi người cha bị câm thừa nhận cho việc chọn tên ấy.  (Đây không hẳn là một sự đồng ý kỳ diệu mà có lẽ đúng hơn là trước đó ông đã có sự trao đổi với bà Ê-li-sa-bét bằng cách ra dấu hoặc là viết xuống).  Sau đó ông nói lại được và ngợi khen Đức Chúa Trời.

Bài ca tiên tri của Xa-cha-ri, được biết đến như là bài “Ngợi khen” (Benedictus – là từ La-tinh của từ “Ngợi khen” trong tiếng Anh), rất giống bài ca ngợi khen của Ma-ri về những tình cảm nói chung và về tính cách Do Thái của nó.  Giống như bài ngợi khen của Ma-ri, bài ca này sử dụng ngôn ngữ Do Thái căn cứ trên Cựu Ước để bày tỏ rằng Đức Chúa Trời thật đáng được ngợi khen vì nay Ngài đã hành động theo lời hứa của Ngài để giải phóng dân sự Ngài qua sự đến của một người hậu duệ của Đa-vít.  Vì vậy Xa-cha-ri được cho là có biết về sự giáng sinh sắp xảy ra của Đấng Mết-si-a.  Ông nhắc lại những lời hứa đã được lập cùng Áp-ra-ham (Sa 22:16-18 26:3).  Thi 105:9-11 được hiểu là Đức Chúa Trời sẽ giúp cho dân Ngài có thể hầu việc Ngài qua việc họ sống những đời sống thánh khiết và công bình.

Sau đó trong câu 76-79, bài ca thay đổi hình thức và chuyển sang xưng hô với đứa trẻ mới ra đời, đứa trẻ này sẽ hành động như một tiên tri và sẽ là người dọn đường cho Chúa (Es 40:3  Ma 3:1) bởi việc bảo đảm cho dân sự rằng họ sẽ được tha thứ tội lỗi (77).  Chữ Chúa ở đây không rõ vì có thể nó liên hệ đến chính Đức Chúa Trời (Lu 1:46,68), hoặc đến Chúa Giê-xu (1:43).  Đức Chúa Trời động lòng thương xót (78) phải đi cùng với việc biết sự cứu rỗi trong câu 77.  Sự cứu rỗi này là sự cứu rỗi thuộc linh, mặc dù câu 71 và 74 tỏ ra rằng cuối cùng thì sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời sẽ bao gồm sự lật đổ các kẻ thù của dân sự Ngài.

Mặt trời mọc (78) là sự ám chỉ về Ma 4:2 (Dan 24:17), nhưng nhóm từ này (tiếng Hi Lạp là anatolç) có thể được dịch từ tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa là “chồi” hay “nhánh” (vốn là một danh hiệu của Đấng Mết-si-a trong Xa 3:8  6:12).  Dù là cách nào đi nữa thì nó cũng liên hệ đến Đấng Mết-si-a chớ không phải đến Giăng.  Chúng ta không rõ là câu 79 nên được nối với câu 77 (chỉ ra công tác mà Giăng phải thực hiện), hay với câu 78 (cho biết công việc mà Đấng Mết-si-a sẽ làm).

Câu chuyện về sự ra đời của Giăng hoàn tất với một lời ghi chú ngắn gọn về sự lớn lên của ông (đối chiếu Lu 2:40,52) và khoảng thời gian ông ở trong đồng vắng.  Ông cứ ở trong hậu trường cho đến khi câu chuyện về sự giáng sinh của Chúa Giê-xu được hoàn tất.  Có một số điểm tương đồng thú vị khi so sánh cuộc đời và sự dạy dỗ của Giăng với nhóm người Do Thái trong đồng vắng tại Qumran hoặc gần nơi đó.  Họ sống một đời sống khắc khổ, tắm mình thường xuyên như là một nghi lễ tôn giáo, và trông chờ sự cứu rỗi hầu đến của Đức Chúa Trời.

5. Sự ra đời của Chúa Giê-xu (Lu 2:1-20)

Trong suốt thời trị vì của Au-gút- (31 T.C. - 14 S.C.) người La Mã tổ chức lại việc quản lý hành chính của mình tại nhiều nơi trong đế quốc và thực hiện nhiều cuộc điều tra dân số nhằm mục đích để thu thuế.  Sự thực hiện một chiếu chỉ như thế tại Si-ri (bao gồm khu vực Giu-đê) đã đưa Giô-sép và Ma-ri đến Bết-lê-hem, vốn từ rất lâu đã được tiên tri sẽ là nơi ra đời của Đấng Mết-si-a.  Việc Ma-ri đi cùng với Giô-sép cho thấy hai người nay đã kết hôn với nhau, nhưng sự mô tả Ma-ri là người đã hứa gả thể hiện rằng họ chưa ăn ở với nhau (Mat 1:25).  Mặc dù một truyền thống của Hội Thánh đầu tiên gợi ý rằng con trẻ đã được sinh ra trong hang đá, nhưng Lu-ca có ý nói là tại một nơi trong nhà quán (hoặc trong một ngôi nhà) nơi nuôi súc vật.  Hình ảnh truyền thống về một người chủ quán cáu kỉnh từ chối đôi vợ chồng đang cần nơi trọ phần nào không thuyết phục. 

Một thiên sứ hiện ra loan báo sự giáng sinh và ý nghĩa của sự giáng sinh ấy cho một nhóm người không ngờ tới và thậm chí bị mọi người coi khinh các gã chăn chiên.  Cụm từ muôn dân đề cập đến những người Do Thái, là dân Y-sơ-ra-ên.  Mãi đến câu 32 chúng ta mới biết được ý nghĩa phổ biến của sự giáng sinh của Chúa Giê-xu.  Cách diễn đạt cổ của lời loan báo “ân ban cho loài người” trong các bản chép tay thứ cấp, và bản dịch truyền thống “cho người thành tâm” là dịch nhầm ý.  Trái lại, ý nghĩa ở đây là qua sự giáng sinh của Đấng Mết-si-a, Đức Chúa Trời sẽ gia thêm ơn của Ngài cho những người đã không làm gì xứng đáng để nhận ơn ấy, và Ngài ban sự bình an cho họ theo sự nhân từ Ngài.  Sự bình an cho thấy bản chất của sự cứu rỗi là sự phục hồi các mối quan hệ tốt đẹp giữa Đức Chúa Trời với những con người tội lỗi và việc nhận được các ơn phước Ngài như là một hệ quả.  Khăn là tấm bọc bình thường của một đứa trẻ sơ sinh, và nó có thể chỉ ra (ít nhất là đối với một vài độc giả của Lu-ca) rằng đó là một đứa bé thuộc dòng hoàng tộc.

Chú Thích.   2  Việc lập sổ dân của Au-gút-tơ đã tạo ra các vấn đề lịch sử.  Mặc dù có những sự khẳng định theo hướng ngược lại, nhưng có vẻ như một cuộc kê khai dân chúng để thu thuế, chẳng hạn như việc kê khai đã được tiến hành tại các khu vực do người La Mã trực tiếp cai trị, có thể đã xảy ra trong vương quốc của một ông vua bị trị như Hê-rốt.  Việc điều tra dân số sẽ căn cứ vào nơi mà một người cư trú hoặc có tài sản.  Vấn đề quan trọng là Quirinius không phải là tổng đốc xứ Si-ri mãi cho đến năm 6 S.C., trong khoảng thời gian này chắc chắn ông ta đã đặt ra một thứ thuế gây nên một cuộc phản đối gay gắt (Cong 5:37).  Tuy nhiên, Chúa Giê-xu đã được sinh ra trước khi Hê-rốt chết vào năm 4 T.C.

Các giải pháp được gợi ý cho vấn đề là:  a.  Các bản chép tay đã nhầm lẫn “Quirinius” với “Saturninus” (vốn là tổng đốc xứ Sy-ri từ 9-6 T.C).  b.  Quirinius trước đó đã giữ một chức vụ tại xứ này, có lẽ không phải là tổng đốc Sy-ri mà là một loại “đại sứ lưu động” nào đó tại vùng phía Đông của đế quốc.  c.  Gắn với giả thuyết này là quan điểm cho rằng cuộc điều tra dân số và sự áp đặt thuế sẽ diễn ra trong một thời gian dài nên có thể Lu-ca đang đề cập đến một quá trình bắt đầu dưới thời Hê-rốt và hoàn tất dưới thời Quirinius.  d.  Có thể chọn một cách dịch khác là việc kiểm tra dân số “xảy ra trước khi Quirinius làm tổng đốc xứ Sy-ri”.  Hiện nay trong các khả năng này, không có khả năng nào là chắc chắn cả.

6. Lễ dâng Chúa Giê-xu tại đền thờ (Lu 2:21-40)

Một lần nữa, song song với câu chuyện về Giăng, chúng ta đọc thấy thế nào Chúa Giê-xu đã được làm phép cắt bì và được đặt cho một cái tên có ý nghĩa (Lu 1:31).  Các lời tiên tri về tương lai của Giăng đã được cho biết khi ông chịu phép cắt bì, trong trường hợp của Chúa Giê-xu, các lời tiên tri này được nêu lên khi Ngài đang ở tại đền thờ.  Nhưng trước tiên, ba sự kiện quan trọng đã được đề cập đến:

a.  Luật Do Thái qui định rằng sau khi sinh một đứa con trai, người mẹ bị xem là “không tinh sạch” trong bảy ngày và phải ở nhà ba mươi ba ngày tiếp theo, sau đó vào ngày thứ bốn mươi, người ấy phải dâng lên một của lễ cho sự tinh sạch (Le 12:1-8).  Điều này chỉ có thể thực hiện tại Giê-ru-sa-lem và cần phải thực hiện một cuộc hành trình đi đến đó (24).  Mặc dù Lu-ca nói đến những ngày tinh sạch của họ, nhưng chỉ có Ma-ri là cần phải được làm cho tinh sạch, chớ không phải con trẻ của bà.  Lu-ca đã kết hợp lễ tẩy uế của người mẹ và “lễ chuộc tội” của con trẻ (xem dưới đây) với nhau.  Của lễ là một vật không đắt tiền mà người nghèo có thể dâng lên được đây là một sự liên hệ thật rõ đến tư cách “khiêm nhường” của Giô-sép và Ma-ri (Lu 1:46-55).

b.  Luật pháp qui định rằng đứa con đầu lòng phải được “chuộc”.  Tất cả các tạo vật đầu lòng phải được dâng lên cho Đức Chúa Trời.  Việc này được thực hiện bằng cách dâng lên các con đầu lòng đối với súc vật và phải trả năm đồng tiền thay thế cho con trẻ khi chúng được một tháng tuổi.  (Xu 13:13  Dan 18:15-16).  Luật pháp không đòi hỏi đứa trẻ phải có mặt tại đền thờ trong dịp này.

c.  Chúa Giê-xu đã có mặt là vì dường như Ma-ri cũng đã có sự hứa nguyện đặc biệt để dâng con mình lên cho Đức Chúa Trời để Ngài sử dụng, giống như An-ne đã dâng Sa-mu-ên cho Đức Chúa Trời tại đền tạm vậy (ISa 1:11,21-28). 

Theo những cách này thì mọi yêu cầu có thể được đưa ra của luật pháp đều đã được làm trọn (Ga 4:4).

Sau đó câu chuyện kể tập trung vào sự đáp ứng của Si-mê-ôn và An-ne khi trông thấy con trẻ.  Si--ôn là một người Y-sơ-ra-ên tin kính, ông trông mong nơi sự yên ủi của Đức Chúa Trời (nghĩa là sự giải cứu, Es 40:1  61:2) đối với dân tộc của ông và đã nhận được lời hứa của Đức Chúa Trời rằng ông sẽ không chết trước khi Đấng Mết-si-a đến.  Trong sự linh cảm từ Đức Chúa Trời rằng giờ phút ấy đã đến, ông đi đến đền thờ, bồng đứa trẻ trên tay và bày tỏ lòng biết ơn đối với Đức Chúa Trời và sự sẵn sàng để ra đi của mình đây là một dấu hiệu hay một lời chứng rằng lời hứa đã được hoàn thành.  Si-mê-ôn xem sự đến của đứa trẻ như là sự đến của một Đấng Cứu Thế cho muôn dân chớ không chỉ cho riêng người Do Thái đây là sự đề cập lần đầu tiên đến sự cứu chuộc phổ quát đã được hứa trong Cựu Ước (như Thi 98:1-9  Es 49:6).  Nhưng, Si-mê-ôn nói, sự đến của đứa trẻ sẽ dẫn đến sự phán xét cũng như sự cứu rỗi, vì lòng người ta thể nào sẽ được bày tỏ ra như thể ấy, và chính Ma-ri cũng phải nếm chịu sự đau đớn bởi cách hành xử của Chúa Giê-xu.

Lời của Si-mê-ôn đã được xác nhận bởi việc An-ne đến đền thờ, bà là người nói tiên tri rằng Đức Chúa Trời sẽ đem đến sự giải cứu cho dân Do Thái qua Chúa Giê-xu.  Sau đó gia đình của Chúa Giê-xu trở lại Na-xa-rét (nhưng đối chiếu Ma-thi-ơ 2 để biết thêm rằng có một thời gian họ ở tại Ai Cập mà Lu-ca không đề cập đến).  Tại nơi này Ngài đã lớn lên với ơn phước của Đức Chúa Trời thật rõ ràng trên Ngài, và Ngài bắt đầu bày tỏ ra sự khôn ngoan, mà câu chuyện tiếp theo đây sẽ chứng minh cho điều này.

Chú Thích.   27  Lu-ca đề cập đến Giô-sép và Ma-ri như là cha mẹ của Chúa Giê-xu vì Giô-sép nhận Chúa Giê-xu là con mình và vì vậy được xem là cha Ngài.   33  Có vẻ hơi kỳ lạ khi Ma-ri và Giô-sép lấy làm la về những điều Si-mê-ôn nói về Chúa Giê-xu khi mà họ đã từng được nghe về vận mệnh của con trẻ.  Có lẽ cách diễn đạt này hơi kiểu cách.  Sự ngạc nhiên của cha mẹ Chúa Giê-xu có lẽ là về mặt tâm lý: làm thế nào mà Si-mê-ôn, một người xa lạ với họ, lại biết về Chúa Giê-xu?   34  Chúng ta không được rõ là Si-mê-ôn đang đề cập đến sự vấp ngã của một số người và sự dấy lên của một số người khác, hay là sự hư hoại và sự phục hồi của cùng một nhóm người.   36  A-se là một chi phái ở phía Bắc Y-sơ-ra-ên.   37  An-ne đã tám mươi bốn tuổi, nếu như câu ấy không có nghĩa là bà đã ở góa trong suốt khoảng thời gian đó.  Câu nói bà chẳng hề ra khỏi đền thờ không nên được hiểu một cách cứng nhắc theo nghĩa đen (đối chiếu Lu 24:53).   38  Giê-ru-sa-lem có cùng nghĩa như “Y-sơ-ra-ên” (đối chiếu câu 25).  Đó sẽ là nơi Đức Chúa Trời khởi đầu sự giải cứu cho dân Ngài (Cong 1:8).

7. Chúa Giê-xu đến đền thờ vào kỳ lễ Vượt Qua (Lu 2:41-52)

Mười hai là độ tuổi thông thường để có thể hướng dẫn một bé trai gia nhập cộng đồng tôn giáo của Do Thái giáo, và do đó việc thực hiện một chuyến viếng thăm có ý nghĩa đến Giê-ru-sa-lem cũng là một điều thông thường.  Luật pháp qui định những người nam Do Thái phải dự ba kỳ lễ hàng năm tại thành Giê-ru-sa-lem, nhưng chỉ có lễ Vượt Qua là được giữ nghiêm chỉnh.  Cả gia đình sẽ đi lên Giê-ru-sa-lem, ước tính có khoảng 60.000 – 100.000 người đổ xô đến một thành mà bình thường số dân chỉ không quá 25.000 người.  Người ta đi thành từng tốp đông người để có bạn có bè và để được an toàn trên đường đi, và không ngạc nhiên gì khi Ma-ri và Giô-sép không quá lo lắng về Chúa Giê-xu trong ngày đầu tiên trên đường trở về nhà.  Sau một ngày đường quay trở lại Giê-ru-sa-lem, họ tìm thấy Ngài trong đền thờ, nơi đây có nhiều sân nhỏ và các dãy nhà không chỉ được dùng để dâng của lễ mà còn để dạy dỗ và bàn luận về tôn giáo (đối chiếu Cong 5:25).  Sự luận bàn thông thái của Ngài với các thầy thông giáo biểu lộ sự khôn ngoan mà Ngài sẽ thể hiện ra sau này.  Câu chuyện không có ý cho rằng Chúa Giê-xu đang muốn giáo huấn các thầy thông giáo, nhưng đúng hơn là họ rất bất ngờ vì Ngài chỉ mới là một thiếu niên nhưng đã có một sự hứa hẹn đáng ngạc nhiên.

Lời đáp của Chúa Giê-xu với cha mẹ Ngài rất đáng phải suy nghĩ: “Cha mẹ phải biết tìm tôi tại đâu, ấy là tại nhà Cha tôi.  (Câu dịch “lo việc Cha tôi” không thích hợp lắm.) Điều này cho thấy rằng từ thuở niên thiếu, Chúa Giê-xu đã ý thức được mối quan hệ mật thiết với Đức Chúa Trời là Cha Ngài theo cách vượt quá ý thức tôn giáo thông thường của một người Do Thái sùng kính (Lu 10:21-22), và Ngài đặt mối quan hệ này lên trên hết trong đời sống mình – mặc dù Ngài vẫn tiếp tục cẩn thận vâng phục cha mẹ mình.  Nhưng sự việc này đã cho cha mẹ của Chúa Giê-xu thấy rằng con trai của họ có một tính cách và vai trò vượt quá sự hiểu biết của họ.  Sự trưởng thành hoàn hảo của Ngài khi còn là một đứa bé trai cứ tiếp tục qua suốt tuổi thiếu niên và thanh niên của Ngài (giống như Sa-mu-ên, ISa 2:26 và Giăng, Lu 1:80).

3. GIĂNG BÁP-TÍT VÀ CHÚA GIÊ-XU (Lu 3:1-4:13)

1. Sự giảng dạy của Giăng (Lu 3:1-38) (Mat 3:1-12  Mac 1:1-8)

(Lu 3:1-20). Cũng như các nhà truyền giảng Cơ Đốc đầu tiên, Lu-ca xem sự xuất hiện của Giăng Báp-tít (Cong 10:37) là khởi điểm thực sự của các sự kiện hình thành nên Phúc Âm.  Lời chứng của ông về Chúa Giê-xu đánh dấu sự kết thúc thời đại cũ của luật pháp và lời hứa, và mở đầu thời đại mới của sự ứng nghiệm Lu 16:16).  Vì vậy, ông đã đặt chính sự kiện quan trọng này trong bối cảnh lịch sử của thế giới và ghi niên hiệu một cách chính xác qua việc mô tả ngắn gọn tình hình chính trị vào thời ấy.  Ti--ri-út là hoàng đế La Mã trong khoảng năm 14-37 S.C., và năm thứ mười lăm của ông ta là vào khoảng 27-28 S.C. hoặc 28-29 S.C. (các phương pháp tính toán khái quát khác nhau về ngày tháng trong thời La Mã không hoàn toàn chắc chắn).  Phi-lát là một nhà cai trị xứ Giu-đê năm 26-36 S.C., một câu khắc tại Sê-sa-rê cho thấy ông ta là “quan toàn quyền” (hơn là “quan chưởng lý”).  Các nhà cai trị các miền khác trong vương quốc của Hê-rốt trước đây cũng được liệt kê danh sách, có cả A-by-len ở vùng Đông Bắc.  Mặc dù chỉ có một thầy tế lễ thượng phẩm đương chức, nhưng có hai người được nêu tên, Cai-phe (giữ chức vụ từ 18-37 S.C.), và ông gia của ông ta là An-ne (giữ chức vụ từ 6-15 S.C. và tiếp tục gây ảnh hưởng sau đó).

Giăng vừa là người làm ứng nghiệm lời tiên tri vừa là nhà tiên tri tiền Cơ Đốc cuối cùng.  Vì thế ông được mô tả như một nhà tiên tri thời Cựu Ước (c.1-2 và Gie 1:1-2).  Sự ra đời của ông đã làm ứng nghiệm (Es 40:3-5), và nhiệm vụ đặc biệt của ông là rao giảng một nghi lễ tôn giáo về sự tẩy rửa như một dấu cho sự tha tội.

Lời rao giảng của Giăng được khai triển trong ba phần ngắn.  Trong phần đầu (7-9) ông cảnh cáo người ta rằng sẽ không ích lợi gì nếu nhận phép báp-tem mà không thực lòng xây bỏ tội lỗi và thể hiện điều ấy ra bằng hành động.  Ngay cả đối với người Do Thái sự ăn năn cũng rất cần thiết, việc họ là dòng dõi Áp-ra-ham cũng không bào chữa cho họ tránh khỏi hình phạt sắp xảy ra.  Họ không hơn gì rắn lục là loài vốn có bản tính độc ác và tàn hại.  Phải chăng đã có ai bảo với họ rằng họ có thể thoát khỏi sự đoán phạt đơn giản chỉ bằng việc nhận phép báp-tem (tức là không có sự ăn năn)? Thực tế, cái búa đã để sẵn, sẵn sàng bổ xuống những cây không kết quả – nhưng vẫn còn có một cơ hội để ăn năn trước khi đã quá muộn.

Đoạn văn thứ hai (10-14) là điểm đặc trưng của Lu-ca, nó nêu ra rõ phương thức sống của từng nhóm người cụ thể.  Đoàn dân gồm những người bình thường (hiển nhiên đang nói đến những người nghèo) phải tỏ lòng rộng rãi với nhau trong các nhu cầu của mình – được gọi là “việc làm của tình thương”, là điều vốn vượt quá những qui định tối thiểu của luật pháp.  Người thâu thuếquân lính (những người giữ trật tự đất nước) phải hành động lương thiện và công bằng.  Giăng không ủng hộ cho một cuộc cách mạng xã hội triệt để, nhưng ông nhấn mạnh đến những nguyên tắc đạo đức mà từ đó sẽ dẫn đến sự biến đổi xã hội từ bên trong hơn là bởi cuộc cách mạng bạo lực.

Đoạn văn thứ ba (15-17  Gi 1:19-34) nêu lên vấn đề quan trọng.  Trong thời gian Giăng còn sống và cả sau này nhiều người đã hỏi có phải ông là Đấng Mết-si-a (Đấng Cứu Thế) hay không.  Dù những người theo ông nghĩ thế nào thì Giăng vẫn biết rõ vị trí của mình.  Một Đấng quyền phép hơn sẽ đến sau ông.  Điều này không thể là nói về chính Đức Chúa Trời, nhưng đây là cách mà Giăng liên hệ đến Đấng Mết-si-a một cách khó hiểu.  Giăng chỉ có thể làm sạch người ta bởi dấu về phép báp-tem bằng nước, nhưng Đấng hầu đến sẽ làm sạch lòng người ta bằng lửa.  Đây có thể là hình ảnh tượng trưng của cuộc phán xét sau cùng (c.17) hoặc của Đức Thánh Linh (Cong 1:5).  Khi ấy có lẽ Giăng muốn nói rằng sự đến của Đấng Mết-si-a có thể như là sự phán xét, hay như sự thanh tẩy và quyền phép.  Đấng Mết-si-a sẽ đem đến sự phân chia rạch ròi giữa vòng mọi người, giống như một người thu hoạch vụ mùa sẽ giữ lại lúa mì nhưng diệt bỏ cỏ lùng.  Vì thế, sự ăn năn là một nhu cầu cấp bách!

Sứ điệp này đã được tóm tắt một cách rõ ràng như là tin mừng (18).  Sứ điệp có liên hệ chặt chẽ với sự đến của Chúa Giê-xu là Đấng có nhiều quyền năng hơn.  Nhưng trước khi Ngài xuất hiện, câu chuyện của Giăng đã kết thúc bởi việc ông bị bắt vì sự giảng dạy thẳng thắn của mình (Mac 6:17-29) đây là một sự ám chỉ có chủ ý về những gì cũng sẽ xảy ra với Chúa Giê-xu.

Chú Thích.   28  Đácon cái có lẽ là một lối chơi chữ có dụng ý trong tiếng A-ram.   11  Một người có thể mặc hai áo (một loại áo thụng không tay hoặc tay ngắn khoác ngoài dài đến đầu gối) để giữ ấm khi đi đường hoặc khi ở ngoài trời vào ban đêm.  Điều này cũng có thể chỉ là sự đề cập đến việc sở hữu hai cái áo.

(Lu 3:21-22) Chúa Giê-xu chịu phép báp-tem (Mat 3:13-17  Mac 1:9-11  đối chiếu Gi 1:32-33) Lu-ca gần như chỉ đề cập đến việc Chúa Giê-xu chịu phép báp-tem một cách sơ lược.  Ông muốn độc giả chú ý rằng Chúa Giê-xu lúc ấy đang cầu nguyện và trên hết là Ngài đã nhận được sự bày tỏ của Đức Chúa Trời qua hai yếu tố.

Trước hết, Đức Thánh Linh đến trên Ngài để trang bị Ngài cho chức vụ với tư cách là một đấng tiên tri (Es 61:1, được trích dẫn trong Lu 4:18) và với tư cách là Đấng Mết-si-a (Es 11:1-5) và Tôi tớ của Chúa (42:1). 

Hai là, một tiếng từ trời khẳng định sự chuẩn nhận của Đức Chúa Trời đối với Ngài trong vai trò là Con Đức Chúa Trời (Sa 22:2  Thi 2:7 để biết được lời diễn đạt) và là tôi tớ Ngài (Es 42:1).  Điểm quan trọng của câu chuyện là việc ban thêm năng quyền cho Chúa Giê-xu để thực hiện những công việc đặt ra cho Ngài.  Chúng ta phải chuyển sang Lu 4:1 để thấy được kết quả tức thời.

(Lu 3:23-38) Gia phả của Chúa Giê-xu (Mat 1:1-17) Nhưng trước hết chúng ta có một phân đoạn Kinh Thánh mà trong một quyển sách hiện đại có lẽ sẽ được đặt ở phần chú thích cuối trang.  Gia phả của Chúa Giê-xu được lập nên để cho biết rằng Ngài là một hậu duệ “hợp pháp” của vua Đa-vít (Lu 1:27,32,69) qua mối liên hệ của Ngài với Giô-sép, và cũng để chứng minh Ngài là một thành viên của loài người.  Điều đó không có nghĩa là Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời bởi việc ra từ dòng dõi A-đam vì điều này là đúng cho mọi con cháu của A-đam.  Việc gia phả truy nguyên từ Giô-sép không phải là một lập luận chống lại sự sinh ra bởi người nữ đồng trinh (chú thích 2:27).

Gia phả ở đây khác với  gia phả trong Ma-thi-ơ.  Nó đảo ngược trật tự và truy ngược từ Áp-ra-ham đến A-đam, và vì thế đã đặt Chúa Giê-xu trong một bối cảnh rộng lớn hơn gia phả mà Ma-thi-ơ đã thực hiện.  Nhưng trên hết là từ Đa-vít đến Chúa Giê-xu,  gia phả ở đây còn có một bộ các tên người khác và dài hơn, chỉ có hai cái tên (--ba-bênSa-la-thi-ên) là giống nhau trong cả hai bản liệt kê.  Cả hai bản này đều nêu nguồn gốc của Chúa Giê-xu qua Giô-sép là người được cho là cha của Ngài (theo ý người ta tin, câu 23).  Giả thuyết cho rằng thực ra Lu-ca đã nêu ra gia phả của Ma-ri hơn là của Giô-sép là không thích hợp.  Giả thuyết ít gặp sự phản đối nhất là giả thuyết cho rằng Ma-thi-ơ đã nêu ra hậu duệ của Đa-vít theo dòng dõi hoàng tộc (tức là những người kế tự ngai vàng vào những thời điểm đã định), còn Lu-ca lại nêu ra dòng dõi cụ thể của Giô-sép.  Dù vậy vẫn còn có những điểm chưa thỏa đáng, và trong khi chưa có đầy đủ thông tin thì vẫn chưa giải quyết được các vấn đề trong việc giải thích và làm hòa hợp với bản ghi chép của Ma-thi-ơ.

Chú Thích.   23  Con (của) không nhất thiết là nói về một mối quan hệ cha con đích thực, không có một khoảng cách nào giữa các thế hệ mà Ma-thi-ơ gọi là “… sanh …” (là cha của) cả hai gia phả đều có thể có sự gián đoạn giữa các thế hệ vì trong Lu-ca là -li thì trong Ma-thi-ơ là “Gia-cốp”.   24  Chúng ta không chắc có phải Mát-tát là Na-than trong Mat 1:15 hay không.   27  --ba-bên là lãnh tụ của cộng đồng Do Thái sau khi bị lưu đày từ Ba-by-lôn trở về.  Về Sa-la-thi-ên (Ag 1:1) nhưng trong ISu 3:19 (bản Hê-bơ-rơ chớ không phải bản Bảy mươi) thì cha của Xô-rô-ba-bên là Phê-đa-gia.  Theo 3:17, Sa-la-thi-ên là con của Giê-chô-nia (Mat 1:12) chớ không phải của -ri, có lẽ có sự nhận làm con nuôi ở đây.   31  Na-than này không phải là tiên tri Na-than nổi tiếng mà là con của vua Đa-vít (IISa 5:14).   32  Từ câu này trở đi các tên gọi đã khớp với các tên trong bản Cựu Ước tiếng Hi Lạp ngoại trừ một số lỗi nhỏ về cách viết.  (Sa 5:1-32  11:10-26  Ru 4:18-22  ISu 1:1-34  2:1-15  3:5-19).   36  Cai-nam xuất hiện trong bản Bảy mươi, không thấy trong bản Cựu Ước tiếng Hê-bơ-rơ.

2. Chúa Giê-xu chịu cám dỗ (Lu 4:1-13) (Mat 4:1-11  Mac 1:12-13)

Kết quả tức thời của việc Chúa Giê-xu nhận được Đức Thánh Linh là Ngài được đưa vào đồng vắng để tự mình đối mặt với những cuộc tấn công của quỉ vương.  Các cám dỗ ấy là những nỗ lực nhằm lừa dối Chúa Giê-xu để Ngài làm những điều sai trái.  Ngài đã nhận biết và chống lại chúng nhờ quyền năng của Đức Thánh Linh và đã vượt lên trên một cách vô hại.

Lần cám dỗ đầu tiên (3-4) thúc giục Chúa Giê-xu phải dùng tư cách mới được xác nhận của Ngài (Lu 3:22) để làm phép nhằm thỏa mãn cơn đói.  Cơn cám dỗ này thực sự có ý hướng chống lại sự vâng lời của Chúa Giê-xu đối với Cha Ngài và nó gợi ý cho Ngài rằng sự thoả mãn nhu cầu về thân thể quan trọng hơn một kinh nghiệm thuộc linh, là điều sẽ dẫn đến một tính cách mạnh mẽ (Ro 5:3).  Chúa Giê-xu đã đáp lại qua việc trưng dẫn nguyên tắc Kinh Thánh rằng sự sống thật của một người không phụ thuộc vào sự thoả mãn cơn đói thuộc thể.  Điểm chính của phần trích dẫn là ma quỉ đã đưa ra một đề nghị hấp dẫn với Chúa Giê-xu, nhưng Ngài từ chối vì nó đi ngược lại lời Kinh Thánh.

Sau đó (5-8), Chúa Giê-xu được đem lên một nơi cao, từ đó có thể nhìn thấy toàn thế gian.  Với tư cách rõ ràng là kẻ thống trị thế gian ấy (Gi 12:31), quỉ vương đã đề nghị sẽ giao lại quyền thống trị cho Chúa Giê-xu nếu Ngài thừa nhận uy quyền cao hơn của nó.  Lần này sự cám dỗ ít tinh vi hơn.  Tuy nhiên, cuối cùng thì thế gian cũng không thuộc về ma quỉ lời hứa của nó không đáng tin cậy, và việc cúi mình trước nó là không thể dung hợp được với việc phục vụ duy một Đức Chúa Trời (Phu 6:13).

Cuối cùng (9-12), quỉ vương lúc này đã bị lời Kinh Thánh đánh bại, vẫn cố gắng trích dẫn lời Kinh Thánh theo ý riêng của mình.  Nó cho rằng Thi 91:11-12 là nói về Chúa Giê-xu khi nhảy từ hàng cột trên cao của đền thờ xuống thung lũng Kidon bên dưới.  Ma quỉ cho là hành động này sẽ thể hiện lòng tin cậy của Chúa Giê-xu nơi Cha Ngài với tư cách là Con.  Thực tế đây  là một hành động vô tín vì người ta sẽ không thử một người mà họ có sự tin cậy hoàn toàn, đặc biệt người ấy lại là Đức Chúa Trời (Phu 6:16).  Ngược lại, việc chấp nhận lời đề nghị ấy chính là nghi ngờ rằng Ngài thực sự là Con Đức Chúa Trời và Cha Ngài thật đáng tin cậy.  Vì vậy, mỗi lần như thế ma quỉ lại bị đánh bại và rút lui dần khỏi cuộc xung đột lúc ấy.  Mặc dù tên của nó không được nhắc đến trong câu chuyện mãi cho đến Lu 22:3 nhưng nó vẫn đang hành động trong suốt khoảng thời gian đó (như 13:16 2  2:31).

Những lần cám dỗ đều nhằm vào Chúa Giê-xu trong tư cách là Con Đức Chúa Trời.  Những cám dỗ ấy không có ý chống lại công tác của Ngài như là Đấng Mết-si-a, là tư cách khuyến khích Ngài thu phục mọi người bằng những phép lạ kỳ diệu, nhưng chúng chống lại mối quan hệ giữa Ngài với Đức Chúa Trời, là cơ sở cho tư cách Mết-si-a của Ngài.  Nơi nào trong đồng vắng dân Y-sơ-ra-ên đã không tin cậy và không vâng phục Đức Chúa Trời (Phu 6:1-8:20) thì nơi ấy Đấng Mết-si-a của nó đang tin cậy và vâng phục Ngài.

4. CÔNG TÁC CỦA CHÚA GIÊ-XU TẠI GA-LI-LÊ (Lu 4:14-9:50)

1. Phúc Âm về Nước Trời (Lu 4:14-5:11)

(Lu 4:14-15) Tóm tắt phần giới thiệu (đối chiếu Mat 4:12-17  Mac 1:14-15), Lu-ca mở đầu câu chuyện về chức vụ của Chúa Giê-xu giữa vòng mọi người bằng một phần tóm tắt ngắn gọn cho biết rằng Chúa Giê-xu đã hoạt động với tư cách như một người giảng dạy, rằng Ngài đã tạo nên một ấn tượng mạnh mẽ trên khắp mọi người gần xa, và phản ứng tức thời của họ rất thuận lợi.

(Lu 4:16-30) Chúa Giê-xu giảng dạy tại Na-xa-rét (đối chiếu Mat 13:53-58  Mac 6:1-6).  Có lẽ Lu-ca đưa sự kiện này lên trước vị thế lịch sử của nó (6:1-6) vì nó đã cung cấp một bản tóm tắt mở đầu lý tưởng về sứ điệp của Chúa Giê-xu.  Buổi thờ phượng tại nhà hội gồm có những lời cầu nguyện, những bài đọc trong các sách luật pháp và sách tiên tri cùng một bài giảng dạy.  Người chủ buổi lễ đứng lên để cầu nguyện và đọc Kinh thánh, nhưng khi giảng dạy thì ngồi xuống.  Bất kỳ người nào có khả năng giảng dạy cũng có thể được mời để tham dự (đối chiếu Cong 13:15).  Vào thời điểm này đã có sẵn một bản liệt kê những đoạn trích đọc từ luật pháp cho “bài học đầu tiên”, nhưng có lẽ trong “bài học thứ hai” có sự tự do chọn lựa từ các sách tiên tri.  Chúa Giê-xu đã đọc Es 61:1-2 và giảng luận (rõ ràng được ghi lại một cách vắn tắt ở đây) về sự ứng nghiệm của lời tiên tri này.  Ngài nhấn mạnh đến sự ứng nghiệm hôm nay: điều mà vị tiên tri đã nói từ nhiều thế kỷ trước thì nay đang trở thành sự thật.  Ngài giảng dạy rằng lời tiên tri có một sự ứng nghiệm “cá nhân”: đấng đã được xức dầu bằng Đức Thánh Linh chính là Chúa Giê-xu.  Ngài còn tỏ cho biết rằng đó là một sự ứng nghiệm “bởi ân điển”: kỷ nguyên về sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nay đã đến.  Có thể rất có ý nghĩa khi Chúa Giê-xu không hoàn tất lời trích dẫn đề cập đến “ngày báo thù của Đức Chúa Trời chúng ta”.  Bài đọc còn có một nhóm từ được trích trong 58:6, có lẽ do chính tác giả đưa vào vì nó rất thích hợp khi được dùng để mô tả chức vụ của Chúa Giê-xu.  Các hành động khác nhau được gán cho người nói trong lời tiên tri phải được hiểu về mặt thuộc linh hơn là theo nghĩa đen (đối chiếu Lu 1:46-55).  Năm lành của Chúa là thời gian được Ngài chọn theo ân điển Ngài để làm ơn cho dân Ngài nó phản ánh sự mô tả “năm hân hỉ” khi mọi khoản nợ được xóa bỏ.

Sự kinh ngạc ban đầu đã chuyển thành lòng thù địch vì đám đông người nghe không thể chấp nhận một người trong số họ (ở địa phương được biết đến như là con Giô-sép, nhưng (Mac 6:3) lại đưa ra những lời tuyên bố đầy ấn tượng như thế về mình.  Họ muốn có một chứng cớ hiển hiện nào đó về tính hiệu lực của những lời tuyên bố của Ngài trước mắt họ, giống như những việc làm quyền năng mà người ta đồn rằng Ngài đã thực hiện tại Ca-bê-na-um.  Dù trong bất kỳ trường hợp nào thì họ cũng không thể nhận ra Chúa Giê-xu là một tiên tri, và Ngài chỉ có thể cho họ biết rằng khi các đấng tiên tri của Y-sơ-ra-ên đối mặt với sự vô tín tương tự như thế thì họ đã làm các phép lạ tại bên ngoài Y-sơ-ra-ên (IVua 17:8-16  IIVua 5:1-14).  Vì thế, đây là một lời phán xét mà Chúa Giê-xu thực tế đã nói nghịch cùng họ.  Cũng có gợi ý rằng Phúc Âm cuối cùng sẽ đến với dân ngoại (mặc dù chính Chúa Giê-xu vẫn tiếp tục công tác của Ngài giữa vòng những người Do Thái).  Trong cơn giận dữ, đám đông đã tìm cách hành tội Ngài ngay lúc ấy.

Chú Thích.   22  Mặc dù thật khó hiểu sự thay đổi nhanh chóng của người ta từ chỗ khen ngợi đến chỗ không tin, nhưng không cần thiết để phải nhìn nhận rằng những ghi chép về hai hay nhiều sự việc (16-22,23-24,25-30) đã chồng chéo lên nhau một cách vụng về.  Có thể làm chứng thực sự có nghĩa là “làm chứng chống lại Ngài”, và lấy làm lạ có thể là biểu hiện sự bất bình hơn là chấp nhận.  Các lời đầy ơn lành là các lời nói về ơn của Đức Chúa Trời.   25  Ba năm sáu tháng: (Gia 5:17).   30  Ở đây có lẽ không có ý muốn nói là sự biến mất bằng phép lạ.

(Lu 4:31-44) Chúa Giê-xu tại thành Ca--na-um (Mat 8:14-17  Mac 1:21-39).  Từ vùng đồi cao Chúa Giê-xu đi xuống thành Ca-bê-na-um ở cạnh hồ.  Một trong những hoạt động chính của Ngài là giảng dạy trong nhà hội khi hội chúng nhóm lại vào ngày Sa-bát.  Một người bị quỉ ám là người mà ngày nay được xem là mắc bệnh tâm thần hoặc có bất lợi về mặt tâm thần.  Tuy nhiên, đây không phải là sự chẩn đoán đầy đủ về những người được mô tả trong các sách Phúc Âm.  Một số người trong bọn họ còn có khả năng nhận biết được những điều bí hiểm mà người bình thường không nhận biết được.  Sự hiện diện của cái ác, của các thế lực siêu nhiên không thể bị tiêu diệt một cách triệt để được, và như các nhà thần học đã nhận ra rằng Đức Thánh Linh làm việc qua đời sống của con người vì lợi ích của họ thì có lẽ chúng ta cũng nên thừa nhận một hoạt động tương tự như thế của các tà linh.  Người đàn ông này có sự nhận biết siêu nhiên về bản chất của Chúa Giê-xu và mục đích của công tác Ngài.  Đấng thánh của Đức Chúa Trời sẽ có nghĩa là Con Đức Chúa Trời hoặc Christ (41) và đặc biệt là điều này đã tạo nên sự đối lập giữa Chúa Giê-xu, có lẽ với tư cách là Đấng mang lấy Đức Thánh Linh, với tất cả mọi điều bất khiết.  Có lẽ người bị quỉ ám hi vọng mình có thể chế ngự Chúa Giê-xu bằng cách dùng danh xưng của Ngài – đây là một sự mê tín thường thấy trong thời cổ (xem chuyện thần thoại về Rumpelstiltskin) – nhưng Chúa Giê-xu đã ra lệnh cho con quỉ ra khỏi người đàn ông.  Sự chữa lành này xác nhận cho ấn tượng về uy quyền lớn lao mà sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu đã tạo nên.

Bệnh tật cũng được xem là phải khuất phục dưới quyền năng của Ngài.  Một cơn rét nặng (sốt cao) có thể là một thuật ngữ chuyên môn về y khoa.  Chúa Giê-xu đã truyền lệnh cho nó như thể nó là một con người.  Điểm quan trọng ở đây có thể là Ngài đã tấn công vào thế lực của tà linh vốn tự thể hiện nó qua bệnh tật của con người.

Khi một ngày mới của người Do Thái bắt đầu vào lúc mặt trời lặn thì các hạn chế về công việc và di chuyển trong ngày Sa-bát được xóa bỏ, và người ta có thể đem kẻ bệnh tật đến với Chúa Giê-xu.  Ngài khiến kẻ bị quỉ ám phải im lặng vì Ngài muốn mọi người phải tự biết được Ngài là ai.

Buổi sáng Ngài cố tình lánh khỏi đám đông.  Lu-ca không đề cập rằng Chúa Giê-xu lúc này đang cầu nguyện (như 1:35 đã đề cập, nhưng xem Lu 5:16).  Sứ mạng thiên thượng của Ngài là công bố tin mừng về sự cai trị của Đức Chúa Trời tại khắp mọi nơi (Mac 1:15), và Ngài không thể cứ ở lại một nơi để trở thành thần tượng của một đám đông đang ngưỡng mộ Ngài.  Vì thế Chúa Giê-xu đi đây đó trong khắp “xứ Giu-đê”, ở đây có nghĩa là toàn xứ Palestine, bao gồm cả Ga-li-lê, vì mãi cho đến sau này Ngài mới đi về hướng Nam để vào xứ Giu-đê là nơi thích hợp những công tác liên tục của Ngài.

(Lu 5:1-11). Kêu gọi các môn đồ (đối chiếu Mat 4:18-22  Mac 1:16-20).  Câu chuyện ngắn gọn của Mác về việc Chúa Giê-xu kêu gọi các môn đồ đầu tiên đã tập trung vào một sự kiện căn bản, đó là sự đáp ứng hợp lẽ với sứ điệp về Nước Đức Chúa Trời phải là sự vâng phục tức thời trước những lời kêu gọi để đi theo Chúa Giê-xu.  Lu-ca ghi lại chi tiết hơn và cho rằng sự kêu gọi chỉ xảy ra sau khi Chúa Giê-xu đã kết bạn với Si-môn và bày tỏ ra quyền năng của Ngài cho ông.  Si-môn, là một người đánh cá đầy kinh nghiệm, biết rằng rất ít có khả năng để lưới được một mẻ cá vì ban đêm tốt nhất là nên đánh cá ở vùng nước sâu (ban ngày họ đã đánh cá ở vùng nước cạn).  Tuy vậy, ông đã rất có ấn tượng với Chúa Giê-xu đủ để vâng theo mệnh lệnh Ngài.  Khi sự mặc khải trọn vẹn về quyền năng của Chúa Giê-xu đến trên ông thì ông bị chế ngự bởi một nỗi sợ hãi sâu sắc và sự không xứng đáng trước sự hiện diện của một người đang thể hiện quyền năng thiên thượng, và vì thế cho thấy đây là một người thánh.  Si-môn không nhất thiết là một người đặc biệt tội lỗi, nhưng ông cảm thấy một nỗi sợ hãi mà bất kỳ người nào ắt hẳn cũng phải có trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời (Cac 13:21-22).  Tuy nhiên, Chúa Giê-xu bảo ông đừng sợ (Lu 1:13,30) và kêu gọi ông vào chức vụ sứ đồ bằng cách diễn đạt được cho là theo đúng như nghề nghiệp hiện tại của Si-môn.  Mọi sự chú ý đều tập trung vào Si-môn như là người đứng đầu của nhóm Mười hai môn đồ: chúng ta chỉ có thể phỏng đoán sự có mặt của Anh-rê ở câu thứ 6.

Chú Thích.   1  Ghê---rết (trong Cựu Ước là Ki-nê-rết) là tên khác của Ga-li-lê, và đặc biệt là đề cập đến khu vực phía Nam Ca-bê-na-um (6:53).  3  Đối với Chúa Giê-xu, giảng dạy bên bờ biển và dùng một chiếc thuyền như là một bục giảng (Mac 4:1-2).  11  Các giả thuyết cho rằng việc bắt được nhiều cá là để cung cấp thực phẩm cho người nhà của các môn đồ, hoặc cho rằng nó tượng trưng cho việc họ sẽ bắt phục được nhiều người (đối chiếu Gi 21:1-14) chỉ là sự suy đoán.

2. Bắt đầu tranh luận với người Pha-ri-si (Lu 5:12-6:11)

Lu-ca thuật lại tất cả là năm sự việc, trong đó (ngoại trừ sự việc thứ nhất) thì các việc làm của Chúa Giê-xu và các môn đồ đã đưa đến sự chỉ trích của phe Pha-ri-si và cũng cho thấy đường lối mới của Nước Đức Chúa Trời tương phản như thế nào đối với việc tuân giữ nghiêm nhặt luật pháp của những người Pha-ri-si.

(Lu 5:12-16) Chữa lành một người phung (Mat 8:1-4  Mac 1:40-45).  Câu chuyện thứ nhất tương phản với những chuyện kể sau đó vì nó minh họa cho việc Chúa Giê-xu luôn thực hiện luật pháp như thế nào.  Chữ bệnh phung bao gồm nhiều căn bệnh ngoài da khác nhau, không phải loại nào cũng truyền nhiễm.  Nếu người nào trước đây có chứng nhận là bị phung nhưng nếu được cho là đã lành thì phải đi tỏ mình cùng thầy tế lễ để được xác nhận một cách chính thức trước khi được phép gia nhập lại xã hội (Le 14:1-32), và vì thế Chúa Giê-xu đã bảo người đàn ông này phải tuân giữ luật pháp.  Câu chuyện đã minh họa thế nào Chúa Giê-xu thực hiện việc chữa lành để đáp ứng lại với đức tin ý tưởng này rất rõ ràng tuy không được trình bày ra bằng câu chữ  – và nó cho thấy danh tiếng Ngài đang được đồn ra như thế nào, với tư cách cả như là người giảng dạy cũng như là người chữa lành.

(Lu 5:17-26) Quyền tha tội của Chúa Giê-xu (Mat 9:1-8  Mac 2:1-12).  Sự có mặt của người Pha-ri-si và các thầy dạy luật ở đầu câu chuyện chuẩn bị cho người đọc về một sự phản ứng thù địch đối với Chúa Giê-xu.  Pha-ri-si là một đảng phái tôn giáo đặt nặng vấn đề tuân giữ luật pháp một cách nghiêm nhặt và theo sau đó là những qui định chi li nhỏ nhặt được thêm vào luật pháp và được các thầy dạy luật dạy dỗ một cách đặc biệt.  Đây là một tầng lớp chuyên nghiệp gồm các luật sư và giáo sư là những người chủ yếu thuộc về phe đảng Pha-ri-si.  Lu-ca mô tả mái bằng của ngôi nhà được lợp bằng ngói (là một kiểu kiến trúc quen thuộc với các độc giả người Hy lạp của ông), trong khi đó Mác có ý nói rằng nó đã được dựng nên bởi bùn cứng và những cây cọc.  Chúa Giê-xu không chữa lành ngay cho người bại nhưng lại nói tội lỗi người ấy đã được tha (tại nơi đó và vào lúc đó).  Điều này có thể ngụ ý rằng người đàn ông đã từng nghĩ bệnh tật của mình là một sự trừng phạt đối với một tội lỗi đặc biệt nào đó chắc chắn điều này không có nghĩa là bệnh tật hoặc tai ương luôn là một sự trừng phạt đối với tội lỗi (Lu 13:1-5).  Một tiên tri hay một thầy tế lễ có thể nhân danh Đức Chúa Trời mà tha tội.  Vấn đề là có phải Chúa Giê-xu có quyền của một đấng tiên tri để làm như thế hay không nếu không, Ngài đang làm điều sai trật khi hành động nhân danh Đức Chúa Trời.  Thực tế là Chúa Giê-xu đã công bố một quyền còn cao hơn là quyền của Con Đức Chúa Trời, là Đấng sẽ đồng công với Đức Chúa Trời trong kỳ phán xét cuối cùng trên nhân loại (đối chiếu Da 7:9-22  Lu 9:26  12:8-9).  Phản ứng của Ngài là để nêu ra bằng chứng gián tiếp về quyền năng này bằng cách chứng tỏ rằng Ngài cũng có uy quyền của Đức Chúa Trời để chữa lành (17).  Việc thực hiện hành vi hữu hình hẳn đã thuyết phục được những người quan sát rằng Ngài cũng có quyền để thi hành những việc làm vô hình, và vì thế cũng có quyền ấy đối với những hành động không thể chứng minh được.

(Lu 5:27-32) Thái độ của Chúa Giê-xu đối với người tội (Mat 9:9-13  Mac 2:13-17).  Không giống như Lu 5:1-11, câu chuyện này chỉ kể lại một cách ngẫu nhiên những gì được ngụ ý trong tư cách làm môn đồ.  Mục đích chính của nó là để cho thấy những loại người mà Chúa Giê-xu đã kêu gọi và để biện hộ cho hành động của Ngài.  Ngài vui mừng khi đem Phúc Âm đến cho Lê-vi và những người bạn đồng hành trước đây của Ngài, và việc Ngài biện hộ cho hành động của mình nằm ngoài sự phê phán.  Cũng như một người thầy thuốc, Ngài không thể tránh né người bệnh.  Bổn phận của Ngài gắn liền với kẻ thiếu thốn mà Ngài kêu gọi ăn năn.  Những kẻ cho rằng mình là công bình không phải là mối quan tâm trước hết của Ngài.  Những người thâu thuế bị người Pha-ri-si xem là “ô uế” về mặt tôn giáo vì họ làm việc cho người La Mã và họ bị ghét bỏ vì đã bóc lột đồng bào Do Thái của mình để bỏ túi riêng một cách sung túc.  Kẻ tội được xếp chung với họ ở đây bao gồm gái mãi dâm, những kẻ tội phạm và những loại người mang tiếng xấu khác.

(Lu 5:33-39) Thái độ của Chúa Giê-xu đối với việc kiêng ăn (Mat 9:14-17  Mac 2:18-22). Cựu Ước qui định người ta kiêng ăn chỉ mỗi năm một lần, vào ngày Lễ Chuộc Tội.  Người Pha-ri-si qui định kiêng ăn hai lần một tuần, nhưng Chúa Giê-xu đã không để ý đến sự cải cách này. Ngài cho rằng việc các môn đồ Ngài kiêng ăn cũng giống như những người bạn của chàng rể phải kiêng ăn tại tiệc cưới thay vì phải tham dự vào những bữa tiệc mừng.  Kỷ nguyên mới của sự cứu rỗi đã đến, và những nghi thức khóc than buồn rầu của quá khứ không còn thích hợp nữa. Chỉ những ngày giữa sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu thì mới thích hợp cho sự buồn rầu mà thôi.

Hơn nữa, sẽ là vô ích nếu cố kết hợp tôn giáo mới với những luật lệ do con người đặt ra.  Tôn giáo mới sẽ bị hỏng, và trong bất kỳ trường hợp nào cũng không thể kết hợp hai đường lối ấy lại với nhau, cũng như một miếng vải không thun giãn sẽ kéo đứt quần áo cũ hoặc rượu mới đang lên men sẽ làm nứt bình chứa bằng da cũ đã mất tính đàn hồi.  Câu 39 có lẽ là một ý kiến mỉa mai đối với người Do Thái là những người đã khước từ rượu mới của Phúc Âm và cho rằng các đường lối xưa cũ là tốt hơn.

(Lu 6:1-11). Thái độ của Chúa Giê-xu đối với ngày Sa-bát (Mat 12:1-14  Mac 2:23-3:6).  Sự việc thứ nhất đề cập đến thái độ cứng nhắc về ngày Sa-bát trong việc đưa ra những qui định chi li phức tạp về những điều không được làm vào ngày ấy, ngay cả việc xát những bông lúa trong tay.  Không hề nghi ngờ gì về câu chuyện được kể lại, khi nghe rằng Chúa Giê-xu đang vi phạm luật pháp do con người đặt ra của họ, những người Pha-ri-si liền chỉ trích Ngài.  Ngài đã nhắc cho họ ví dụ về Đa-vít, người đã được thầy tế lễ cho phép phát bánh đã được dâng trong đền tạm cho người của mình ăn, mặc dù bánh này thường chỉ được dùng bởi các thầy tế lễ (ISa 21:1-6).  Vua Đa-vít thực tế đã không vi phạm luật nào cả, và Chúa Giê-xu cũng không trích dẫn hành động của Đa-vít ra như là một tiền lệ nhưng đúng hơn Ngài đang chứng minh rằng chính Cựu Ước không hề dạy về một thứ luật lệ nghiêm nhặt mà người Pha-ri-si đã đưa ra.  Ngày Sa-bát được lập nên là vì con người, vì thế Con Người phải là Chúa của ngày ấy.  Tuy nhiên, vì ngày Sa-bát là ngày của riêng Chúa (Đức Chúa Trời) nên câu phát biểu này của Chúa Giê-xu có lẽ hàm chứa một lời tuyên bố cho sự bình đẳng với Đức Chúa Trời.

Trong sự kiện thứ hai, những kẻ chống đối Chúa Giê-xu có thể đã “đặt” người bệnh trong nhà hội để xem thử Chúa Giê-xu sẽ làm gì.  Ngài chấp nhận sự thách thức ngầm và đưa ra câu hỏi dò xét: Nếu hành động chữa lành một người bệnh trong ngày Sa-bát được xem là có tội thì việc họ mưu giết anh ta là tội lỗi hơn biết bao? Hình phạt dành cho việc vi phạm luật về ngày Sa-bát là sự chết, và Mác cho chúng ta biết rằng từ lúc này trở đi người Pha-ri-si bắt đầu lập mưu giết Chúa Giê-xu.

3. Sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu cho các môn đồ (Lu 6:12-49)

Sau khi đã phác họa tính chất chung của công tác của Chúa Giê-xu và sự chống đối của một số nhà lãnh đạo tôn giáo Do Thái, nay Lu-ca cho chúng ta biết về việc Chúa Giê-xu lựa chọn các môn đồ thân cận và lời giảng dạy của Ngài dành cho tất cả những ai muốn theo Ngài.

(Lu 6:12-16) Sự kêu gọi Mười hai môn đồ (Mat 10:1-4  Mac 3:13-19).  Chỉ có Lu-ca tập trung sự chú ý vào cách mà Chúa Giê-xu đã cầu nguyện thâu đêm trước khi Ngài có một sự chọn lựa vô cùng quan trọng để chọn ra mười hai sứ đồ.  Từ trong đám đông người hưởng ứng lời dạy dỗ của Ngài, Chúa Giê-xu đã lựa chọn ra mười hai sứ đồ.  Hai từ sứ đồ gợi cho chúng ta nhớ về nhóm những người giữ vị trí lãnh đạo trong Hội Thánh sau khi Chúa Giê-xu sống lại, nhưng ở đây nó diễn tả cách thức mà Chúa Giê-xu nói về việc sai (tiếng Hi Lạp là apostellơ) những người theo Ngài đi ra trong một sứ mạng.  Lu-ca không cho chúng ta biết khi nào Si-môn nhận được tên mới là “Đá” (Mat 16:18  Gi 1:42).  Ba-thê--my có lẽ là Na-tha-na-ên (1:45-51).  Ma-thi-ơ và Lê-vi (Lu 5:27) là một người đối với người Do Thái, có hai tên không phải là điều bất thường.  -lốt là một người theo chủ nghĩa dân tộc Do Thái cực đoan.  Giu-đa (đối chiếu Gi 14:22) là Tha-đê trong bản liệt kê của Mác.  Ích ca-ri-ốt có thể có nghĩa là “người Kê-ri-ốt” hay “kẻ ám sát” hay là “kẻ phản trắc” (có lẽ là người đứng đầu của những người này).

(Lu 6:17-19) Việc tụ tập của đoàn dân (đối chiếu Mat 4:23-25  12:15-21  Mac 3:7-12). Từ vùng đồi cao Chúa Giê-xu trở về vùng đồng bằng, là nơi mọi người có thể dễ dàng gặp Ngài hơn khi họ tụ họp lại từ khắp các vùng xung quanh Ga-li-lê. Có thể họ đã bị thu hút một cách đặc biệt bởi quyền phép chữa lành của Ngài nhưng Chúa Giê-xu đã nhân cơ hội này mà dạy dỗ cho họ.

Qua việc kể lại câu chuyện theo thứ tự này (trái với Mác, sự kêu gọi mười hai môn đồ diễn ra sau đoạn văn này), Lu-ca cho thấy rằng có một đoàn dân đông đúc đã có mặt để nghe bài giảng tiếp theo đây (Lu 7:1) và bài giảng này không chỉ được giảng cho Mười hai môn đồ.

(Lu 6:20-26) Hai loại người (Mat 5:1-12).  “Bài giảng ở đồng bằng” là phần ghi chép của Lu-ca so với “Bài giảng trên núi” dài hơn trong Ma-thi-ơ 5-7.  Đa số mọi người đều đồng ý rằng Ma-thi-ơ đã khai triển một bài giảng được ghi lại trong Lu-ca bằng cách bổ sung thêm những lời dạy dỗ khác của Chúa Giê-xu về một chủ đề tương tự hay về những chủ đề có liên quan.

Bài giảng bắt đầu bằng cách nêu lên những điểm khác nhau giữa hai loại người.  Nhóm thứ nhất tuy bề ngoài tất cả đều đáng thương nhưng trong mắt của Chúa Giê-xu họ lại được phước hoặc hạnh phúc vì những điều đã được hứa cho họ.  Họ nghèo khổ và thiếu thốn, đói khát và buồn bã.  Mặc dù có một số người xem những câu này đơn thuần là đề cập đến tình trạng của họ theo nghĩa đen, nhưng có lẽ chúng ta nên hiểu một cách căn bản theo nghĩa thuộc linh (nhưng không có nghĩa là duy nhất) (đối chiếu Mat 5:3,6) đối với những người cảm thấy không thoả mãn với thế giới hiện tại và số phận của mình trong cái thế giới ấy, cũng như những người luôn mong những điều Đức Chúa Trời phải ban cho họ.  Họ được hứa rằng Ngài sẽ nghe họ và làm thành những điều họ trông đợi trong Nước hầu đến, là Nước đã được rao truyền trong các sứ điệp của Chúa Giê-xu.  Người ta có thể ghen ghét và nhục mạ họ vì đã đặt lòng tin cậy nơi vị đại sứ của Đức Chúa Trời, là Con Người, nhưng giống như các nhà tiên tri, họ sẽ nhận được phần thưởng từ Đức Chúa Trời.  “Phước lành” thứ tư cho thấy rằng những người mà Chúa Giê-xu đang nghĩ đến là các môn đồ, và điều mà Ngài đang nói đến là các đặc ân và những điều có liên quan đến việc làm môn đồ.

Nhóm người còn lại có tất cả những gì mà thời đại ngày nay có thể đáp ứng được sự thoả mãn những ham muốn về vật chất, hạnh phúc và danh tiếng tốt trong đời này và họ không muốn gì thêm nữa.  Họ không cần phải cầu xin Đức Chúa Trời, vì họ cho rằng mình đã có đầy đủ! Nhưng giờ sẽ đến, Chúa Giê-xu nói, là khi họ sẽ chẳng còn điều gì (đối chiếu Lu 2:34).

(Lu 6:27-38) Tình yêu thương lòng nhân từ (Mat 5:39-48  7:12).  Phần đầu của bài giảng đề cập đến mối quan hệ của các môn đồ với Đức Chúa Trời, phần thứ hai là về mối quan hệ của họ với những người khác.  Nó đi thẳng vào bổn phận phải yêu kẻ thù nghịch.  Nguyên tắc căn bản là ở trong câu 27-28, kẻ thù nghịch đang nói tới đặc biệt là những kẻ bắt bớ các môn đồ (đối chiếu câu 22).  Hai ví dụ ngắn gọn của tình yêu ấy được nêu ra: tránh bạo lực (hơn là trả thù) khi bị đánh, và sẵn sàng cho kẻ cướp mình nhiều hơn những gì mà hắn đòi hỏi.  Các môn đồ phải sẵn sàng từ bỏ mọi của cải tài sản, còn cách cư xử họ được tóm tắt trong câu 31 (“luật vàng”).

Chúa Giê-xu thừa nhận rằng ngay cả người tội lỗi cũng sẵn sàng làm điều tốt cho những ai đã giúp đỡ mình hoặc là cho những người mà họ mong sẽ làm lợi lại cho họ.  Nhưng các môn đồ phải tiến một bước xa hơn chớ không nên chỉ chăm vào việc làm điều lành để có thể được trả ơn lại hay như một cách cám ơn người đã làm điều tốt cho mình.  Người sống theo cách này sẽ không được trả trên đất này, nhưng họ sẽ được phần thưởng trên trời: Đức Chúa Trời sẽ xem họ như là những người con thật của Ngài, là những kẻ làm theo bản tính nhân từ của Cha họ đối với những người không xứng đáng.

Phần thưởng này là gì sẽ được chỉ ra trong câu 37-38.  Người biết yêu thương theo cách ấy sẽ nhận được tình yêu tương tự và hơn thế nữa từ Đức Chúa Trời.  Ai không đoán xét người khác sẽ không bị Đức Chúa Trời đoán xét như một bồ chứa đầy lúa đến nỗi phải tràn ra.

Một lần nữa cần chú ý rằng tất cả những điều này là được nói với các môn đồ.  Chúa Giê-xu không nói rằng tất cả những gì người ta phải làm để thừa hưởng một phần thưởng trên trời là phải yêu thương người khác.

Cách cư xử như thế có tính cách mạng.  Một câu hỏi hay là có phải Chúa Giê-xu muốn nói hoàn toàn theo nghĩa đen hay Ngài đang dùng những ví dụ đáng chú ý khiến người ta phải suy nghĩ.  Hiển nhiên không phải Chúa Giê-xu đang khuyến khích một sự hào phóng thiếu suy nghĩ đối với những kẻ trộm cắp lười biếng là điều chỉ khiến họ được chấp nhận trong cách sống của họ.  Sự việc ở đây được nêu ra trong những khái niệm tuyệt đối, và các nguyên tắc Cơ Đốc khác cũng cần phải được đưa ra xem xét.

Chú Thích.   32  Kẻ có tội ở đây là một khái niệm tổng quát để chỉ về những người trong thế gian vốn không bị ràng buộc bởi các nguyên tắc của Nước Đức Chúa Trời.

4. Những hình ảnh của việc làm môn đồ (Lu 6:39-49) (Mat 15:14  10:24  7:3-5  16:1-18:35  12:33-35  7:24-27 đối chiếu Gi 13:16  15:20).

Bài giảng kết thúc bằng một loạt những câu nói ngắn mang tính ngụ ngôn nêu ra những đặc tính mà các môn đồ cần phải có.

(Lu 6:39-42) Các câu đầu tiên nói về cái nhìn thuộc linh  Các môn đồ phải học trước khi trở nên thầy của những kẻ khác.  Vì một người học trò không thể hơn thầy, nếu chính các thầy mà sa ngã thì học trò của họ cũng sẽ ngã theo.  Các môn đồ phải thấy được chính mình một cách rõ ràng trước khi có thể chỉ ra lỗi lầm của những kẻ khác.  Chúa Giê-xu đã dùng sự hài hước và tính phóng đại để nêu bật lên các vấn đề.

(Lu 6:43-45) Cách xử tốt lành chỉ thể xuất phát từ tấm lòng nhân ái  Việc mong muốn cây xấu sinh ra trái tốt cũng dại dột như là mong một người xấu làm việc tốt.  Chỉ người nào trong lòng đầy dẫy thiện ý mới có thể đem đến sự dạy dỗ tốt lành.

(Lu 6:46-49) Cuối cùng, điều quan trọng hơn hết là phải thực sự vâng giữ những điều này (và những lời dạy khác) của Chúa Giê-xu. Người nào nghe những lời ấy mà sau đó không làm theo là vô cùng dại dột.  Người nào nghe và vâng theo sẽ được bảo đảm trong ngày phán xét giống như người cẩn thận xây nhà mình trên nền đá vững chắc.

5. Lòng thương xót của Đấng Mết-si-a (Lu 7:1-50)

Tiếp theo đó Lu-ca nêu ra thêm về đặc tính của Chúa Giê-xu với tư cách là Đấng Mết-si-a, và ông đặc biệt nhấn mạnh rằng điều này được thể hiện qua những hành động nhân từ, bày tỏ ra lòng thương xót của Đức Chúa Trời.  Sự đến của Nước Trời có nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ lòng thương xót của Ngài theo những phương cách năng quyền qua Chúa Giê-xu.

(Lu 7:1-10) Sự chữa lành cho người đầy tớ của một thầy đội (Mat 8:5-13  Gi 4:46-53).  Nhân vật chính trong câu chuyện này là một người ngoại, có lẽ đang phục vụ trong quân đội La Mã của Hê-rốt An-ti-pa (đối chiếu Lu 3:14).  Ông có tiền của dư dả để dâng hiến vào việc xây dựng một nhà hội ở Ca-bê-na-um.  (Ngay cả một người thật thà cũng có thể sẵn sàng kiếm lợi trong các lực lượng an ninh).  Ông được giới thiệu như là một người có tính cách cao thượng nhất, thể hiện qua sự quan tâm đối với người đầy tớ, qua thái độ đối với người Do Thái và qua ý thức không xứng đáng của ông trước sự hiện diện của Chúa Giê-xu.  Điều tỏa sáng hơn hết là phẩm chất đức tin của ông.  Là một người được quan chức cấp trên ban cho uy  quyền để buộc binh lính dưới quyền phải vâng lời nhưng ông đã nhận biết Chúa Giê-xu còn có một uy quyền cao hơn, là uy quyền của Đức Chúa Trời, để chế ngự bệnh tật, và ông đã sẵn sàng tin cậy Chúa Giê-xu có thể chữa lành ngay cả chỉ bằng một lời phán.  Chúa Giê-xu khen ngợi một đức tin như thế và Ngài nhận xét rằng một người ngoại đã hơn hẳn những người Do Thái trong việc bày tỏ đức tin ấy.

Câu chuyện của Lu-ca có một vài điểm hơi khác với bản tường thuật của Ma-thi-ơ.  Ở đây thầy đội sai hai nhóm sứ giả đến với Chúa Giê-xu.  Nhóm thứ nhất gồm có các trưởng lão Do Thái, đây là những người lãnh đạo trong một cộng đồng nhỏ và có sự liên hệ mật thiết với nhà hội.  Nhóm thứ hai gồm những người bạn, là những người đã lặp lại lời nhắn của ông từng từ từng chữ một như thể chính ông đang có mặt (đối chiếu IIVua 19:20-34).  Có thể là qua bản văn viết ngắn gọn, Ma-thi-ơ đã tạo nên một ấn tượng rất khác (đối chiếu để biết Mat 9:18-26 đã rút gọn câu chuyện trong Mac 5:22-43 như thế nào).  Cách xử lý của Lu-ca chú trọng nhiều hơn đến sự hạ mình và đức tin của thầy đội.

Có một câu chuyện tương tự như trên được ghi lại trong Gi 4:46-53 về một viên quan tại thành Ca-bê-na-um có đứa con trai đang bị ốm.  Điểm tương đồng sẽ càng gần hơn nếu từ “pais” (được dùng trong Lu 7:7 và Mat 8:6) được dịch là “con trai” hơn là “đầy tớ”, và nếu cho rằng việc Lu-ca dùng từ “doulos” (“đầy tớ”) trong câu 2 và câu 10 chỉ do sự lầm lẫn.  Nhưng cả trong Lu-ca hay Ma-thi-ơ đều không có ý muốn nói đến một đứa con trai, và các chi tiết của câu chuyện trong Giăng cũng rất khác biệt.

(Lu 7:11-17) Sự chữa lành cho con trai của một góa  Tiếp theo sau câu chuyện về việc chữa lành một người sắp chết (Lu 7:2) là câu chuyện về việc cứu sống một người đã chết tại Nain, một ngôi làng nằm về phía nam của Na-xa-rét.  Chúa Giê-xu đặc biệt cảm thông trong trường hợp này vì người mẹ là một bà góa chỉ có đứa con trai duy nhất để phụng dưỡng bà.  Người chết được khiêng trong một quan tài còn mở nắp.  Không quan tâm đến việc chạm vào xác chết sẽ khiến cho Ngài bị ô uế về mặt tôn giáo, Chúa Giê-xu  đã dừng đám tang lại và truyền cho người thanh niên ngồi dậy.  Lời phán đơn giản này là đủ để khiến anh ta trở về với cuộc sống, và mọi người đã vô cùng kinh khiếp pha lẫn vui sướng trong sự hiện diện của quyền phép siêu nhiên.  Họ nhớ lại rằng Ê-li và Ê-li-sê đã làm những điều tương tự (IVua 17:17-24  IIVua 4:18-37), và họ đã thấy được bàn tay của Đức Chúa Trời đang hành động (đối chiếu Lu 1:68).

Chú Thích.   13  Trong số các tác giả Phúc Âm, chỉ có Lu-ca là thường xuyên sử dụng từ Chúa để nói về Chúa Giê-xu.  Đây không phải là từ mà mọi người dùng để nói về Ngài trong thời đại của Ngài (ngoại trừ Mac 11:3).  Khi người ta xưng hô trực tiếp với Chúa Giê-xu là “Chúa” (Lu 5:8  7:6), thì thường có nghĩa là “thưa Ngài, thưa ông” như cách xưng hô bình thường để bày tỏ lòng tôn kính.

(Lu 7:18-35) Chúa Giê-xu Giăng Báp-tít (Mat 11:2-19).  Cho đến lúc này Giăng đã bị tù được ít lâu và bị bối rối bởi tin tức mà các môn đồ mình đem về.  Chúa Giê-xu dường như không có được ảnh hưởng sâu sắc như Giăng từng mong đợi - và có lẽ Giăng đang tự hỏi tại sao mình chưa được ra khỏi ngục.  Một số người nghĩ rằng Giăng đang bực bội vì trong sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu đã thiếu sự phán xét (mặc dù thực tế là có Lu 11:13-14,37-53).  Có phải Giê-xu là Đấng đã được hứa hay không?

Chúa Giê-xu nhấn mạnh đến công tác về sự thương xót mà Ngài đang thực hiện và sai sứ giả trở về với Giăng cùng với những lời nhắn nhủ trong Es 26:19  29:18-19  35:5-6  61:1.  Sự ứng nghiệm những lời tiên tri này sẽ chứng minh cho Giăng rằng các dấu hiệu của thời đại cứu rỗi được hứa đã xảy ra.  Chúng cho thấy rằng Chúa Giê-xu không chỉ là một đấng tiên tri rao báo về kỷ nguyên mới đang đến, mà đúng hơn Ngài chính là người thực sự đem kỷ nguyên ấy đến.  Vì thế, Giăng không nên để mất phương hướng và mất đức tin nơi Chúa Giê-xu.

Chúng ta không thấy tác giả nói đến việc lời nhắn này có củng cố đức tin của Giăng hay không, nhưng có thể có sự ám chỉ trong việc Chúa Giê-xu khen ngợi Giăng sau đó.  Ông không phải là một người dễ tính hay một kẻ cơ hội (dễ dàng cúi mình như là một cây sậy) để sống trong cảnh tiện nghi và bỏ qua các lối sống dễ dãi của những người đang lắng nghe ông.  Ông là nhà tiên tri vĩ đại nhất trong các tiên tri, và thực sự là một con người vĩ đại nhất từ trước đến nay vì ông chính là người dọn đường của Đấng Mết-si-a.  (Sự mô tả này căn cứ trên Xu 3:20 và Ma 3:1 đối chiếu Mac 1:2).  Dường như Chúa Giê-xu đã quá khen ngợi Giăng, nhưng sau đó chúng ta lại bị ngạc nhiên: ngay cả người hèn mọn nhất trong Nước Đức Chúa Trời còn lớn hơn cả Giăng, vì Giăng chỉ sống vào buổi giao thời của kỷ nguyên cứu rỗi, nhưng chính ông lại không kinh nghiệm được các phước hạnh của kỷ nguyên ấy.

Câu 29-30 cho chúng ta biết rằng những người ủng hộ Giăng trong đám đông dân chúng đã ngợi khen Đức Chúa Trời vì vị tiên tri của họ đã được Chúa Giê-xu công nhận, nhưng người Pha-ri-si và các thầy dạy luật đã kết hợp Giăng và Chúa Giê-xu lại với nhau và chối bỏ cả hai người.

Thái độ của các nhà lãnh đạo tôn giáo giải thích tại sao Chúa Giê-xu nói rằng họ giống như những con trẻ đang chơi trò chơi.  Khi một nhóm trẻ con đề nghị chơi trò đám cưới và chơi nhạc vui vẻ, thì nhóm kia lại từ chối nhảy múa.  Thế nhưng khi nhóm thứ nhất đề nghị chơi trò đám tang và hát bài hát buồn, thì chúng cũng vẫn từ chối.  Vì thế các nhà lãnh đạo Do Thái không thích Giăng với cách sống khắc khổ của ông, và họ đã cay đắng chỉ trích Chúa Giê-xu vì Ngài đứng về phía những người không xem vấn đề tôn giáo là quan trọng.  Dĩ nhiên là hình ảnh của Giăng và Chúa Giê-xu ở đây đều đã bị cường điệu hoá.  Nhưng Chúa Giê-xu không để ý đến thái độ của họ, Ngài phán rằng sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời sẽ được minh chứng bởi những người đáp ứng với Giăng và với chính Ngài.

Chú Thích.   19  Đấng phải đến có lẽ nói về Đấng Mết-si-a hơn là về một đấng tiên tri (như Gi 6:14  11:27 có thể gợi ý).  Xin xem He 10:37.   34  Con Người ở đây đề cập đến Chúa Giê-xu trong bản tính khiêm nhường của một  con người sống trên đất bị người thời mình khước từ.  Một số học giả cho rằng nhóm từ này trong nguyên bản tiếng Aram có lẽ đơn giản chỉ là một cách nói của chữ “Tôi” mà không nhất thiết phải là một danh hiệu theo như Da 7:13.  Xin xem thêm Lu 9:22.   35  Thay vì con trẻ, Mat 11:19 ghi là “việc làm”.  Sự khôn ngoan thực sự có nghĩa là “Đức Chúa Trời trong sự khôn ngoan của Ngài”.

(Lu 7:36-50) Người đàn tội lỗi (đối chiếu Mat 26:6-13  Mac 14:3-9  Gi 12:1-8).  Câu chuyện này minh họa cho lời buộc tội trong câu 34.  Chúa Giê-xu đã được mời đến nhà một người Pha-ri-si gọi là Si-môn, có lẽ để ăn bữa sau một buổi lễ tại nhà hội.  Việc một người khách không mời mà có mặt tại bữa ăn không phải là bất thường, và trong số họ có một người phụ nữ nổi tiếng là một gái mãi dâm.  Mọi người thường nằm nghiêng người dựa vào trường kỷ thay vì ngồi ghế khi dự một bữa ăn trang trọng nên người phụ nữ này có thể dễ dàng chạm đến Chúa Giê-xu.  Cô ta xức dầu thơm cho Chúa Giê-xu, rất có thể cô đã mua dầu ấy bằng đồng tiền trụy lạc của mình, nhưng cô ta đã không thể hoàn tất việc xức dầu cho Chúa vì lệ cô tuôn trào.  Hành động của cô dĩ nhiên là không thích hợp, nhưng cô đang có cảm xúc quá mạnh mẽ đến nỗi không còn bận tâm gì đến những điều người ta đang nghĩ.  Người Pha-ri-si tại bữa tiệc rất bất bình bởi cách mà Chúa Giê-xu chấp nhận sự tôn kính của một con người đáng khinh bỉ đến thế trong một tình huống gây khó xử như vậy.  Cảm giác của ông ta rằng Chúa Giê-xu có thể là một đấng tiên tri đang bị làm mâu thuẫn bởi việc Chúa Giê-xu dường như không biết kẻ đang rờ đụng đến Ngài là một tội nhân – và như thế có nghĩa là “ô uế”.  Nhưng Chúa Giê-xu biết điều gì đang xảy ra và nêu lên quan điểm của Ngài với Si-môn qua một câu chuyện ngụ ngôn với thông điệp rất rõ ràng: tình yêu là bằng chứng cho thấy một người đã nhận được sự tha thứ, và càng được tha thứ nhiều, người ta sẽ càng yêu mến nhiều hơn. 

Có lẽ không cần phải bôi nhọ bản tính của Si-môn bằng cách cho rằng câu trả lời của ông ta là hách dịch hay thờ ơ lãnh đạm (43), cũng không phải cách đối đãi của ông ta đối với khách là bất nhã.  Ông đã thi hành bổn phận cần thiết về sự tiếp đãi khách, nhưng ông đã không vượt ra khỏi khuôn cách của mình để có thể tiếp đón Chúa Giê-xu một cách đặc biệt.  Trái lại người đàn bà tội lỗi đã tận hiến cho Chúa Giê-xu.  Điều này chứng tỏ rằng cô ấy đã được tha thứ cho nhiều tội lỗi.  Sau đó Chúa Giê-xu nhấn mạnh rằng cô đã được tha thứ và Ngài khẳng định rằng chính đức tin của cô đã đem đến cho cô sự cứu rỗi.

Một số nhà bình luận đã lập luận rằng tình yêu của người phụ nữ này dành cho Chúa Giê-xu là “nguyên nhân”, chớ không phải là kết quả của sự tha thứ.  Họ giải thích câu 47 có nghĩa là “lý do để tội lỗi của cô được tha là vì cô yêu mến nhiều” và sau đó họ xem câu 48 như là lời công bố đầu tiên về sự tha thứ dành cho cô ta.  Quan điểm này sẽ khiến cho ngụ ngôn trong (Lu 7:41-42) trở nên vô nghĩa vì câu chuyện này dạy một cách rõ ràng rằng tình yêu phải “đi sau” sự tha thứ, và quan điểm này cũng bỏ qua sự chú trọng về đức tin trong câu 50.  Sự sai lầm là ở chỗ họ đã không nhận ra rằng “yêu mến” trong tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa là “bày tỏ sự biết ơn”.  Chúng ta phải thừa nhận rằng người đàn bà trước đó đã được nghe và đã tiếp nhận sứ điệp Phúc Âm.

Chú Thích.   41  Một đơ-ni-ê tương đương với một ngày công lao động ngoài đồng án.  46  Dầu ô-li-ve rẻ hơn rất nhiều so với dầu thơm.

Trong các Phúc Âm khác có một câu chuyện gần giống như câu chuyện này, nhưng có lẽ nó mô tả một sự việc khác.

6. Chúa Giê-xu giảng dạy bằng ngụ ngôn (Lu 8:1-21)

(Lu 8:1-3) Việc chuẩn bị cho những chuyến đi  Lu-ca đề cập đến một số người phụ nữ đã tham gia vào công tác của Chúa Giê-xu và giúp cho những sự cần dùng của Ngài và những người đàn ông đi theo Ngài (Mac 15:40-41).  Không có bằng chứng rõ ràng để có thể kết luận rằng Ma-ri người Ma-đơ-len (một ngôi làng ở vùng biển Ga-li-lê) là người phụ nữ tội lỗi trong Lu 7:36-50 - bị quỉ ám và phạm tội không phải là một!

Chú Thích.   2  Bảy là con số tròn chỉ về tình trạng băng hoại xấu nhất có thể xảy ra (11:26).   3  Về Gian-  (Xem chú thích  9:9).

(Lu 8:4-8) Ngụ ngôn về người gieo giống (Mat 13:1-9  Mac 4:1-9).  Trong Lu 6:20-8:3, Lu-ca nêu ra cho độc giả những câu chuyện và câu nói của Chúa Giê-xu mà trong Mác không có.  Bây giờ, ông trở lại với cốt truyện tổng quát trong Mác và theo khuôn mẫu đó cho đến 9:50.  Ông lượt bỏ không đề cập đến cảnh bên bờ hồ mà trong đó Mác có nêu ra các câu chuyện ngụ ngôn (Mac 4:1).

Từ “ngụ ngôn” được dùng trong Cựu Ước để mô tả bất cứ cách nói nào không được hiểu theo nghĩa đen, bao gồm những lời truyền, những sự so sánh, các câu chuyện ngụ ngôn, các câu chuyện kể và câu đố.  Các giáo sư Do Thái khác cũng sử dụng những câu chuyện kể, nhưng nhìn chung vẫn không hay và sâu sắc như những câu chuyện của Chúa Giê-xu.  Ngụ ngôn của Chúa Giê-xu gồm các ẩn dụ và so sánh ngắn (Lu 5:36-39), châm ngôn (4:23), những câu chuyện về các sự kiện tiêu biểu (như ở đây), và những câu chuyện về các sự kiện cụ thể (10:30-37).  Chúa Giê-xu sử dụng chúng để minh họa cho bản chất các việc làm của Đức Chúa Trời (13:18-21) và cho sự đáp ứng lại của con người trước các việc làm ấy (16:1-9).

Câu chuyện ở đây là sự mô tả đơn giản về những số phận khác nhau của các hạt giống rơi vãi trên một cánh đồng có các loại đất khác nhau, màu mỡ và không màu mỡ.  Nhưng chính câu chuyện không nêu lên ý nghĩa của nó, người nghe phải tự hỏi chính mình: “Tất cả những điều này có ý nghĩa gì?”

(Lu 8:9-15) Ý nghĩa của câu chuyện ngụ ngôn (Mat 13:10-23  Mac 4:10-20).  Sau này khi môn đồ hỏi Chúa Giê-xu câu chuyện ngụ ngôn này có nghĩa gì, Ngài đã bắt đầu bằng cách trình bày tổng quát về việc Ngài sử dụng các ngụ ngôn.  Ngài nói rằng những kẻ đáp ứng lại với lời dạy của Ngài đã được cho biết về mục đích của Đức Chúa Trời.  Những sự mầu nhiệm có nghĩa là kế hoạch của Đức Chúa Trời liên quan đến Nước Ngài, lâu nay đã bị giấu kín nhưng nay đang được mở ra cho những kẻ mà Ngài lựa chọn.  Những kẻ khác từ chối nhận  lấy thông điệp của Đức Chúa Trời, vì thế ngày nay nó được trình bày dưới một hình thức ẩn giấu, để cho nếu họ không cố gắng hiểu và chấp nhận nó thì họ cũng chẳng biết gì hơn trước.  Bằng cách này họ sẽ làm ứng nghiệm lời tiên tri trong Es 6:9-10 về những người không hiểu được ý nghĩa của những điều mà họ đã nghe.

Lời lẽ dùng để giải thích ngụ ngôn này hơi khác với trong Mác vì Lu-ca đã nhấn mạnh các yếu tố mà ông xem là quan trọng đối với độc giả của mình.  Lời Đức Chúa Trời phải được đáp ứng bởi đức tin và sự kiên nhẫn nếu người nghe giống như loại đất tốt sinh kết quả.  Trong lòng một số người, hạt giống có thể chẳng bao giờ có cơ hội để nảy mầm, trong một số người khác, sự phát triển của nó bị kìm hãm vì họ không thể chịu đựng nổi.

(Lu 8:16-18) Ngụ ngôn về cái đèn (Mac 4:21-25).  Vào lúc này có có lẽ Chúa Giê-xu đang nói với đám đông một lần nữa.  Ý nghĩa của việc thắp đèn là để cho mọi người thấy được ánh sáng của nó.  Tương tự như thế, các môn đồ phải bày tỏ ra cho người khác sự sáng mà họ đã nhận được.  Bằng cách này, lời dạy của Chúa Giê-xu vốn chỉ có một số ít người biết và hiểu được nhưng một ngày nào đó sẽ được tỏ bày ra một cách rõ ràng hơn.

Câu 18 đã nêu lên điểm trọng tâm của câu 10: người nào chấp nhận điều Chúa Giê-xu nói sẽ càng hiểu được nhiều hơn nữa, nhưng ai từ chối lắng nghe Ngài sẽ thấy rằng mình mất đi cả phần ít ỏi đã biết.

(Lu 8:19-21) Những người con thật của Chúa Giê-xu (Mat 12:46-50  Mac 3:31-35).  Mặc dù trong Mác câu chuyện này được đặt trước các câu chuyện ngụ ngôn, nhưng Lu-ca đã đặt nó ở sau để minh họa cho việc người ta đã đáp ứng lại với sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu như thế nào.  Những ai nhận sự dạy dỗ đó một cách vâng phục sẽ được xem như là bà con về phần xác của Ngài.  Điều này không có nghĩa là Chúa Giê-xu đang từ chối gia đình mình trái lại sự có mặt của họ cung cấp cho Ngài một ví dụ minh họa thích hợp về điều mà Ngài đang muốn nói.  Anh em là các con sau này của Ma-ri sinh ra bởi Giô-sép (Lu 2:7  Mat 1:25).  Giô-sép không hề được nhắc đến kể từ sau câu chuyện giáng sinh, và chúng ta có thể đi đến kết luận rằng ông ấy đã chết.

7. Một nhóm các công việc quyền năng (Lu 8:22-56)

(Lu 8:22-25) Đấng tể trị cơn bão (8:23-27  Mac 4:35-41).  Hồ Ga-li-lê được bao quanh bởi các vách núi dốc đứng với các thung lũng hẹp nằm ở giữa, tạo thành những khe rãnh mà gió có thể theo đó trở nên những cơn gió mạnh, thổi giựt từng cơn và làm khuấy động mặt nước hồ.  Câu trả lời của Chúa Giê-xu cùng các môn đồ gợi ý rằng họ phải nhận ra, dù khi Ngài đang ngủ, rằng không có sự tai hại nào có thể xảy đến cho họ.  Tuy vậy, Ngài đã đứng dậy và phán với gió biển như thể Ngài là chủ của nó.  “Câu chuyện ngụ ngôn sống động” này dẫn các môn đồ đến chỗ nêu ra một câu hỏi đúng đắn: “Người này là ai?” Câu trả lời chính là Đức Chúa Trời, Đấng cầm quyền cai trị trên biển, và quyền năng Ngài đang thực thi trong Chúa Giê-xu (Thi 89:8-9  93:3-4  106:8-9  107:23-32  Es 51:9-10).  Tuy nhiên, các môn đồ chỉ mới bắt đầu nhận ra điều đó.

(Lu 8:26-39) Người Giê-ra- bị quỉ ám (Mat 8:28-34  Mac 5:1-20).  Khi họ đến bờ phía Đông của hồ, có một người đàn ông với những dấu hiệu bị quỉ ám đến gặp Chúa Giê-xu vì anh ta có một hiểu biết siêu nhiên về việc Chúa Giê-xu là ai.  Nếu không thì tình trạng của anh ta cũng tương tự như ngày nay chúng ta mô tả là căn bệnh rối loạn thần kinh.  Ngành y lúc bấy giờ không có cách điều trị nào đối với người bệnh tâm thần khác hơn là kiểm soát họ thật chặt chẽ, nhưng người này đã thoát ra khỏi mọi nỗ lực hòng kiểm soát anh ta.  Anh ta cảm thấy rằng mình bị điều khiển bởi vô số các lực xung đột nhau và rằng mình bị ám bởi các quỉ đông như số lính trong một đạo quân La Mã (khoảng 5.000 người).

Chúa Giê-xu động lòng trắc ẩn đối vơi anh ta và giải phóng anh ta ra khỏi các quỉ.  Người đàn ông có thể chứng kiến bọn quỉ đã ra đi, vì một bầy heo gần đó ngay lập tức tỏ dấu hiệu cho thấy chúng đã bị bọn quỉ nhập vào.

Những người xung quanh hoảng sợ và kinh khiếp trước những gì đã xảy ra, và họ nài xin Chúa Giê-xu đi khỏi nơi đó.  Họ không thể nhận ra hành động nhân từ của Đức Chúa Trời trong việc giải phóng người đàn ông ra khỏi số phận của anh ta.  Đây chắc chắn là lý do tại sao Chúa Giê-xu khuyên người đàn ông ở lại nhà.  Nếu người ta sợ hãi Chúa Giê-xu, họ có thể lắng nghe một người mà họ biết và là người có thể nói cho họ về sự nhân từ của Đức Chúa Trời bày tỏ qua Giê-xu.

Các nhà bình luận đã lấy làm tiếc về việc tiêu diệt những con heo vì sinh kế của mọi người tại đó đều tùy thuộc vào đàn gia súc đông đúc này, nhưng chúng ta có thể đáp lại rằng một con người (khoẻ mạnh) thì đáng giá hơn cả bầy heo.  Nhiều người khác đã gợi ý rằng câu chuyện phải được giải thích một cách hợp lý: bầy heo quá hoảng sợ trước tiếng la hét của người bị quỉ ám đến nỗi chúng đã lao mình xuống hồ.  Nhưng khả năng bị quỉ nhập vào là có cơ sở (Lu 4:33), sẽ là thiếu khôn ngoan nếu từ chối cách giải thích của các tác giả Phúc Âm.

Chú Thích.   26  Người ta không biết rõ địa danh ấy.  “Giê-ra-sê” (trong Mác cũng vậy), là một thành ở khoảng 30 dặm (48 km) về phía đông nam của hồ, hồ này có phạm vi không trải dài.  Có lẽ một nhóm từ có nghĩa là “đất của những người lạ (tức là người ngoại)” đã được dùng làm địa danh của nơi ấy.  Một số bản chép tay ghi lại rằng Ga-đa-ra hoặc Gergesa (ngày nay là Khersa) ở bên bờ hồ (Ga-đa-ra là thành phố chính của vùng, cách hồ khoảng 10 km trong Ma-thi-ơ cũng ghi như thế), bờ hồ ở đây có lẽ là một địa điểm vốn thực có.  Mồ mả nơi  người đàn ông ở là những hang động.   31  Vực sâu là nơi ở hoặc chỗ giam cầm của ma quỉ (Kh 9:1-11).   32  Việc nuôi heo cho thấy sự việc này xảy ra trong lãnh thổ của dân ngoại.

(Lu 8:40-56) Con gái của Giai-ru người đàn bị bệnh băng huyết (Mat 9:18-26  Mac 5:21-43).  Đến bờ hồ phía Tây Do Thái, Chúa Giê-xu thấy một thầy cai nhà hội xin Ngài chữa lành cho đứa con gái mắc bệnh của ông.  Hành trình Chúa Giê-xu đến nhà ông bị gián đoạn bởi một sự kiện mà lẽ ra có thể giúp Giai-ru tin, nhưng có lẽ nó chỉ khiến ông lo lắng và sốt ruột vì sự trì hoãn này.  Bệnh mất huyết của người đàn bà này khiến bà bị ô uế về mặt tôn giáo, nên bà sợ đến gần Chúa Giê-xu cách công khai.  Nhưng bà có đủ đức tin để hi vọng rằng chỉ chạm đến Ngài thôi, bà sẽ được lành.  Chúng ta có thể có xu hướng xem niềm tin của bà là mê tín, nhưng Chúa Giê-xu không nghĩ như vậy. Quyền năng chữa bịnh của Ngài không tự động bắt nguồn từ lúc bà chạm đến, nhưng nó chịu sự điều khiển của Ngài.  Ngài đáp ứng đức tin mà Ngài biết đang có.  Rồi Ngài công khai gọi người đàn bà, để Ngài có thể hoàn tất việc chữa bệnh cho bà bằng cách phục hồi lòng tự trọng của bà và thiết lập một mối liên hệ cá nhân.  Bà không còn xem Ngài, một cách mê tín, như thầy pháp chữa bệnh.

Sự chậm trễ dường như thật tai hại vì những kẻ được sai đi nay lại đến báo tin rằng trong thời gian đó con gái của Giai-ru đã chết.  Nhưng Chúa Giê-xu bảo đảm với ông rằng sự việc chưa phải đã kết thúc.  Tại nhà Giai-ru Ngài lặng lẽ đi vào nơi cô gái đã chết, và chỉ với một lời phán đơn giản Ngài đã khiến cô sống lại.  Thật là khó để giữ bí mật việc cô gái đã được làm cho sống lại, nhưng Chúa Giê-xu muốn điều đã xảy ra phải được giữ thật kín đáo: không cần cho ai biết điều gì đã xảy ra trong phòng bệnh và có phải cô gái đã chết thật hay không.  Chúa Giê-xu lo ngại rằng mọi người có thể sợ hãi Ngài một cách mê tín và xem Ngài như là một người làm phép lạ thay vì tin Ngài là Cứu Chúa đang bày tỏ tình yêu thương của Đức Chúa Trời qua những việc làm đầy năng quyền.

Chú Thích.   41  Người cai nhà hội là người tổ chức những buổi lễ ở nhà hội và những việc khác có liên quan, công việc thực tế được thực hiện bởi người giúp việc trong nhà hội (Lu 4:20).   42  Những cố gắng nhằm phủ nhận rằng cô gái thực sự đã chết là đi ngược lại với điều mà câu chuyện muốn nhấn mạnh ở đây (c.49).   43  Lu-ca đã lượt bỏ các chi tiết (mà Mác có tường thuật) rằng người phụ nữ đã đi nhiều thầy thuốc nhưng vẫn không khỏi bệnh, điều này có lẽ bởi vì Lu-ca đang muốn rút ngắn câu chuyện, nhưng cũng có thể ông muốn tránh những lời chỉ trích có thể có của các vị thầy thuốc.   52  Ở phương Đông thời cổ các nghi lễ an táng được tổ chức càng sớm càng tốt (Cong 5:5-7), và những người khóc mướn hẳn đã bắt đầu ngay khi cô gái chết.   55  Lời truyền cho cô gái ăn có lẽ đơn giản là để chứng minh cô gái thực sự đã sống và khoẻ mạnh, nhưng nó còn cho thấy lòng thương người của Chúa Giê-xu.

8. Chúa Giê-xu và mười hai môn đồ (Lu 9:1-50)

(Lu 9:1-9) Sứ mạng của Mười hai môn đồ (Mat 10:5-15  14:1-12  Mac 6:7-29).  Chức vụ của Chúa Giê-xu ngày càng được mở rộng đã đặt ra cho Ngài nhu cầu cũng như cơ hội để hướng dẫn cho Mười hai môn đồ trong công tác truyền giáo.  Ngài chia sẻ với họ thẩm quyền từ Đức Chúa Trời để giảng Phúc Âm và chữa lành người bệnh.  Họ phải sống cho thật giản dị, có lẽ để tránh bị chỉ trích là kiếm tiền từ công tác của mình, và cũng để tránh bị nhầm lẫn với những người lữ hành khác là những kẻ kiếm tiền một cách vô lương tâm.  (Bản của Mác cho phép các môn đồ đem theo gậy: điều này dành cho những môn đồ sau này của Chúa Giê-xu phải đối mặt với những điều kiện khó khăn hơn các môn đồ tại Ga-li-lê).  Họ không phải đi quanh để tìm kiếm sự tiếp đãi (tử tế hơn).  Nếu thành nào không tiếp họ thì họ phải làm điều mà người Do Thái thường làm khi rời khỏi một thành ngoại bang phủi bụi nơi chân mình.  Điều này tượng trưng cho việc dân thành ấy đã tự cắt đứt mối quan hệ với Y-sơ-ra-ên thật.

Trong khoảng thời gian từ khi các nhà truyền giáo ra đi cho đến lúc họ trở về, Lu-ca đã ghi lại những ý kiến đồn đãi của mọi người về Chúa Giê-xu, và như thế ông đã chuẩn bị cho việc trả lời câu hỏi trong câu 18.  Hi vọng về việc Ê-li trở lại căn cứ trên Ma 4:5-6 (Lu 1:17).

Hê-rốt An-ti-pa có một lương tâm tội lỗi bởi vì ông ta đã giết hại Giăng.  Điều này khiến ông ta lo sợ rằng Giăng đã sống lại để quấy rầy ông ta.  Việc ông ta mong được tự mình thấy Chúa Giê-xu không xuất phát từ động cơ tốt lành (23:8).  Không giống với điều đã được ghi trong Mac 6:16, ở đây Hê-rốt không có ý định phân biệt Giăng và Chúa Giê-xu.  Lu-ca dường như biết nhiều chi tiết hơn về Hê-rốt, có lẽ là từ Gian-nơ (Lu 8:3).

(Lu 9:10-17) Việc cho năm ngàn người ăn (Mat 14:13-21  Mac 6:30-44  Gi 6:1-14).  Chúa Giê-xu rõ ràng có ý định đem Mười hai môn đồ ở riêng ra để nghỉ ngơi sau chuyến đi nhưng đã bị đám đông ngăn trở, tuy nhiên, Chúa Giê-xu đã nắm bắt cơ hội này để giảng dạy cho họ.  Vào cuối ngày, các môn đồ thấy lo lắng cho đoàn dân.  Chính họ có rất ít đồ ăn và chắc chắn là không có tiền để cung cấp cho nhu cầu của mỗi người.  Câu chuyện về việc thế nào Chúa Giê-xu sử dụng những thứ sẵn có để cung cấp cho đoàn dân đã được kể lại thật đơn giản như một sự thể hiện về quyền năng của Ngài.  Cả Mác và Giăng đều trình bày rõ hơn là câu chuyện này đã cho thấy Chúa Giê-xu chính là Đấng chu cấp cho các nhu cầu của con người, Ngài là Đấng ban bánh từ trời.

Chú Thích.   10  Bết-sai-đa nằm ở đầu nguồn của hồ Ga-li-lê, các môn đồ đã đến đây sau khi phát bánh cho đoàn dân (Mac 6:45 cũng ghi như thế).  Việc phân phát bánh hẳn đã diễn ra gần nơi đó.    12  Chỉ có Lu-ca đề cập đến nhu cầu trọ của người ta, có lẽ thông thường họ cắm trại ở ngoài trời hoặc đi đến các làng lân cận.  16  Chúa Giê-xu có thể đã dùng lời tạ ơn của người Do Thái “Chúc tạ ơn Ngài, hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, Vua của thế gian, là Đấng ban bánh ra trên đất”.

(Lu 9:18-27) Ngôi vị phẩm vị của Chúa Giê-xu (Mat 16:13-28  Mac 8:27-9:1).  Lu-ca lược bỏ những câu chuyện mà Ma-thi-ơ và Mác có ghi về Chúa Giê-xu xảy ra giữa các sự kiện cho năm ngàn người ăn và sự tuyên xưng của Phi-e-rơ.  Có thể ông cảm thấy độc giả nay đã biết nhiều hơn để thừa nhận tại sao Phi-e-rơ, thay mặt cho các môn đồ khác, nay tuyên xưng Chúa Giê-xu là Đấng Christ (hay Đấng Mết-si-a), mà không phải đơn giản chỉ là một đấng tiên tri, thậm chí là vị tiên tri đã sống lại.  Khi Chúa Giê-xu bảo họ đừng kể việc này cho bất cứ ai thì có nghĩa là Ngài nhận lời tuyên xưng của Phi-e-rơ là đúng.  Ngài muốn điều này phải được giữ kín vì chữ “Mết-si-a” có thể khiến người ta nghĩ rằng Ngài sẽ là một nhà lãnh đạo chính trị.

Tuy nhiên, nay mọi người phải biết đến một sự kiện mới có tính chất quyết định.  Với tư cách là Đấng Mết-si-a, Ngài phải chịu thương khó, chịu chết và sau đó Ngài sẽ được sống lại.  Các môn đồ giống như những người Do Thái vào thời ấy, họ không nghĩ rằng bất cứ việc gì giống như thế có thể xảy ra với Đấng Mết-si-a.  Chúa Giê-xu có lẽ đang so sánh chính Ngài với nhiều người công bình là những người đã chịu khổ vì vâng lời Đức Chúa Trời, và Ngài đồng nhất mình với người Đầy tớ Chịu khổ được tiên tri trong Es 53:1-12.  Nếu như các môn đồ không hiểu điều này, thì không có gì ngạc nhiên rằng họ cũng mất một thời gian dài để nhận ra rằng các môn đồ của Đấng Mết-si-a cũng phải sẵn sàng để chịu khổ.  Chúa Giê-xu dạy rằng nếu người ta cố gắng cứu mạng sống (trên đất) của mình, thì họ sẽ mất đi sự sống mới thực sự là quan trọng, nhưng nếu họ sẵn sàng hi sinh mạng sống mình cho Chúa Giê-xu thì họ sẽ biết được sự sống thật.  Vì trong ngày phán xét, kẻ nào quá yêu sự sống trên đất của mình mà khước từ Chúa Giê-xu thì sẽ thấy chính mình bị khước từ.

Chú Thích.   22  Chúa Giê-xu thường nói về Ngài là Con Người (Lu 5:24  6:5,22  7:34). Người Do Thái nghĩ về Đấng Mết-si-a là một con người, nhưng trong Da 7:9-22, Con Người là một hình ảnh thiên thượng, và cách giải thích này đã thể hiện đúng hơn về vai trò của Chúa Giê-xu. Ý nghĩ của Chúa Giê-xu về công tác của Ngài cũng rất khác với suy nghĩ của đa số những người Do Thái về Đấng Mết-si-a đến nỗi tốt hơn là tránh dùng một cách công khai danh hiệu này.

“Con Người” có vẻ như là một nhóm từ không rõ nghĩa.  Trong tiếng A-ram, đôi lúc đây có thể là cách nói gián tiếp để nói về một người nào đó như là một con người điển hình, và một số học giả nghĩ rằng đây là tất cả những gì Chúa Giê-xu muốn nói.  Nhưng nhóm từ này có thể cũng ám chỉ đến đoạn văn trong Đa-ni-ên, nói về “Con Người” như là một hình ảnh về sự uy quyền.  Trong các sách Phúc Âm, hình ảnh đầy uy quyền này xuất hiện trong sự khiêm nhường và uy quyền của Ngài không được thừa nhận hoặc là bị chối bỏ.  Chúa Giê-xu dường như đã liên kết lại vai trò của Người Đầy tớ Chịu khổ và của Con Người có quyền lực tối cao.   27  Có lẽ Chúa Giê-xu không xem việc thấy Nước Đức Chúa Trời cũng giống như việc chứng kiến ngày tận thế, nhưng đúng hơn có lẽ Ngài muốn nói rằng một số môn đồ Ngài sẽ không chết cho đến khi họ thấy được sự đến của Nước Đức Chúa Trời trong sứ mạng của Ngài hoặc qua sinh hoạt của Hội Thánh.  Sự hóa hình có lẽ được xem như là một sự ứng nghiệm của lời phán ấy.

(Lu 9:28-36) Sự hóa hình của Chúa Giê-xu (Mat 17:1-8  Mac 9:2-8).  Chỉ có Lu-ca ghi lại việc Chúa Giê-xu đã cầu nguyện như thế nào, và bởi đó Ngài đã tiếp xúc với thế giới thiên đàng.  Có lẽ câu chuyện này được kể lại để cho thấy việc các môn đồ đã được mở mắt để chứng kiến điều đang xảy ra khi Chúa Giê-xu giao thông cùng Cha Ngài (IIVua 6:17).  Dáng mạo Ngài và áo xống Ngài toát lên ánh sáng thiên thượng, và có hai người vốn đã chết từ lâu hiện lên với Ngài.  Môi-se và Ê-li, là hai vị đại diện cho luật pháp và các đấng tiên tri, đều đã qua đời một cách bất thường, và cả hai đều được mong đợi sẽ xuất hiện trở lại vào thời kỳ cuối cùng.  Họ nói với Chúa Giê-xu về sự qua đời của Ngài (tiếng Hi Lạp là exodos: sự ra đi), nghĩa là sự chết và sự sống lại của Ngài, và bằng cách này họ xác nhận điều Chúa Giê-xu đã tiên tri trong câu 22.  Phi-e-rơ cảm thấy rằng họ phải làm ba cái trại cho Chúa Giê-xu và hai vị khách, có thể là để tỏ lòng tôn kính hoặc là để cung cấp cho họ một nơi để ở.  Nhưng người kể chuyện khẳng định rằng Phi-e-rơ đã hiểu lầm sự kiện này.  Ý nghĩa thật sự của điều này được bày tỏ qua đám mây (tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời), và qua tiếng nói từ trời, lặp lại điều đã được phán ra khi Chúa Giê-xu chịu phép báp-tem (Lu 3:22), nhưng lần này là lời phán cùng các môn đồ.  Giê-xu mà Phi-e-rơ tuyên xưng là Đấng Mết-si-a thực sự là Con Đức Chúa Trời không phải cho Ngài sẽ chịu thương khó và chịu chết, nhưng là bởi Ngài sẽ gánh lấy những sự ấy.  Vì thế các môn đồ phải vâng lời Ngài và chỉ duy Ngài mà thôi.  Lu-ca đã lược bỏ cuộc nói chuyện giữa các môn đồ với nhau trên đường xuống núi.

(Lu 9:37-50). Những kinh nghiệm trong thung lũng (Mat 17:14-23  18:1-5  Mac 9:14-41). Các sự việc xảy ra trong phần cuối về công tác của Chúa Giê-xu tại Ga-li-lê đều cho thấy các môn đồ cần phải có quyền năng và sự hướng dẫn.

(Lu 9:37-43)  Trong câu chuyện thứ nhất một đứa trẻ bị bệnh phong và bị quỉ ám được đem đến cho các môn đồ, là những người đã không lên núi cùng với Chúa Giê-xu, nhưng họ không thể chữa được dù đã được ban cho quyền phép chữa bệnh (Lu 9:1).  Chúa Giê-xu bày tỏ sự thất vọng đối với lòng vô tín và sự bội nghịch của những người đòi hỏi phải có sự hiện diện trực tiếp của Ngài trước khi quyền năng của Đức Chúa Trời có thể hành động.  Việc chữa lành đã được người ta xem như là sự bày tỏ về quyền năng lớn lao của Đức Chúa Trời.

(Lu 9:43-45)  Ngay sau đó Chúa Giê-xu đã đưa ra một lời nhận xét đi ngược lại với sự bày tỏ này, một lần nữa Ngài phán cùng các môn đồ rằng Con Người phải chịu khổ hơn là sống đắc thắng trong thế gian này.  Cũng như Mác, Lu-ca nhấn mạnh đến sự chậm hiểu của các môn đồ, họ thấy sự dạy dỗ của Ngài vượt quá sự hiểu biết của họ, nhưng Ngài cho rằng họ đã bị che khuất là do ý định của Đức Chúa Trời.

(Lu 9:46-48)  Hai sự việc tiếp theo cho thấy rõ sự thiếu hiểu biết của họ.  Trong sự việc thứ nhất, các môn đồ tranh cãi nhau về vị trí và thứ bậc giữa vòng họ.  Chúa Giê-xu có thể thấy được những động cơ sâu kín trong lòng đã khiến họ tranh giành quyền lực lẫn nhau.  Đặt một đứa trẻ là một thành viên ít được coi trọng nhất trong xã hội Do Thái trước mặt các môn đồ, Chúa Giê-xu phán rằng một người khiêm nhường đủ để tiếp nhận một đứa trẻ sẽ tiếp nhận Ngài và Cha Ngài.  Khi người ta có được thái độ như thế thì những vấn đề về địa vị sẽ không thể phát sinh.

(Lu 9:49-50)  Liên quan đến điều này Giăng nhớ lại việc họ đã đối xử với một người đàn ông đang đuổi quỉ nhân danh Chúa Giê-xu nhưng chưa được ủy nhiệm để làm như thế với tư cách là một trong Mười hai môn đồ Ngài.  Nhưng Chúa Giê-xu đã phán rằng họ không được xem khinh người ấy vì ai không chống lại họ tức là đứng về phía họ.  Xin xem 11:23 để biết thêm phương diện khác của lẽ thật này.

5. CUỘC HÀNH TRÌNH ĐẾN GIÊ-RU-SA-LEM (Lu 9:51-19:10)

Lu-ca lướt qua các sự việc được ghi trong Mac 9:42-10:12.  Cho đến Lu 18:15 ông mới trở lại với bản phác thảo các sự kiện trong Mác.  Phần bổ sung này cung cấp cho chúng ta nhiều tài liệu không tìm thấy trong Mác.  Chúng ta dường như có ấn tượng về một cuộc hành trình đến Giê-ru-sa-lem đã kéo dài xuyên suốt phân đoạn này (Mác 10 ngắn gọn hơn nhiều), nhưng không chắc rằng tất cả những gì được ghi lại ở đây đã diễn ra trong một chuyến đi.  Môt số sự việc và câu nói ở đây có thể đã diễn ra tại Ga-li-lê hoặc Giê-ru-sa-lem (10:38).  Có lẽ Lu-ca đã tập hợp dữ kiện từ các giai đoạn khác nhau trong công tác của Chúa Giê-xu và xếp vào đây vì nó phù hợp với các chủ đề khác nhau (chúng ta có thể so sánh với việc làm tương tự của Ma-thi-ơ đối với “các bài giảng lớn” của Chúa Giê-xu mà ông đã ghi lại).  Qua Giăng chúng ta biết rằng Chúa Giê-xu đã đến Giê-ru-sa-lem nhiều lần, và có thể Lu-ca đã phản ánh chi tiết về một vài cuộc hành trình trong số này.

Chủ đề về “hành trình” nhắc chúng ta nhớ đến cuộc hành trình của dân Y-sơ-ra-ên qua đồng vắng với Môi-se, là lúc mà họ nhận được rất nhiều sự chỉ dẫn về cách sống của họ.  Chủ đề này cũng gợi ý đến cuộc hành trình của Chúa Giê-xu đi đến thập tự giá và cuộc hành trình tương tự của các môn đồ bước vào trong đời sống.  Các chủ đề chính của phân đoạn này là về chức vụ làm môn đồ và sự chống đối, và chúng ta không được phép quên rằng các môn đồ vẫn đang đi cùng Chúa Giê-xu trên đường đến thập tự giá.

1. Bổn phận và đặc ân của chức vụ làm môn đồ (Lu 9:51-10:24)

(Lu 9:51-56) Ngôi làng Sa-ma-ri  Người Do Thái và người Sa-ma-ri thù ghét nhau một cách sâu sắc, nhưng Chúa Giê-xu không muốn đương đầu với sự chống đối của con người như một người Do Thái đem đến sự trừng phạt (IIVua 1:10-11).  Lời thêm vào ở câu 55-56 trong bản dịch NIV là không đúng với nguyên bản của Lu-ca, nhưng nó diễn tả đúng ý nghĩ của Chúa Giê-xu: Ngài bị chống đối mà không trả thù bởi vì Ngài đã đến để cứu rỗi (Lu 19:10).

(Lu 9:57-62) Sẵn sàng cho chức vụ làm môn đồ (Mat 8:19-22).  Nhiều người sẵn lòng theo Chúa Giê-xu cho đến khi họ nhận ra những yêu cầu của chức vụ này.  Chúa Giê-xu nói về tình trạng không nhà của Con Người và vì vậy cũng là tình trạng của các môn đồ Ngài.  Vì Chúa Giê-xu được rất nhiều bạn hữu cung cấp cho nhu cầu vật chất của Ngài nên lời này chủ yếu đề cập đến việc Ngài thường bị con người khước từ.  Trong việc bước đi theo Chúa Giê-xu không thể có một lời bào chữa nào cho sự trì hoãn.  Việc chôn cất được xem là trách nhiệm đầu tiên trong mọi trách nhiệm.  Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết cũng có nghĩa là “Hãy để trách nhiệm đó tự nó sẽ được hoàn thành” hay “Hãy để nhiệm vụ đó lại cho kẻ chết thuộc linh”.  Không thể có sự trở lui trong sự hầu việc Chúa Giê-xu, việc ấy chẳng khác nào người cầm cày quay nhìn đàng sau lại có thể mong cày được một luống cày thẳng.  Câu trả lời của Chúa Giê-xu ở đây còn khắt khe hơn cả câu trả lời trong IVua 19:19-21.  Cả ba câu nói này đều thể hiện ý tưởng về một sự dấn thân trọn vẹn cho Chúa.

(Lu 10:1-16) Sứ mạng của bảy mươi hai môn đồ (Mat 9:37-38  10:7-16  11:21-23).  Chỉ có Lu-ca ghi lại rằng cùng với mười hai môn đồ Chúa Giê-xu còn sai đi một nhóm các môn đồ khác để làm công tác truyền giáo. Trong các bản chép tay số lượng ở đây và ở câu 17 khác nhau giữa bảy mươi hai và bảy mươi, dù sao thì những con số này chỉ mang tính tượng trưng và nhắc chúng ta về số các dân tộc trong Sa 10:1-32 hoặc số các trưởng lão đã trợ giúp Môi-se trong Xu 24:1. Cũng có thể con số này tượng trưng cho các dân ngoại sau này sẽ được rao báo sứ điệp của Chúa Giê-xu qua các môn đồ, tuy sứ mạng thực tế ở đây được giới hạn trong vòng những người Do Thái.

Những lời căn dặn nhóm môn đồ này cũng tương tự như những lời dành cho Mười hai môn đồ trong Lu 9:1-6.  Các môn đồ phải đi ra trong sự giản dị để ở giữa bầy muôn sói dữ tợn là những kẻ sẽ phá hoại công tác của họ.  Họ phải ra đi gọn nhẹ giống như Mười hai môn đồ, và không được lãng phí thời gian vào những nghi thức chào hỏi dông dài của người phương Đông.  Họ có thể tiếp nhận lòng hiếu khách như một sự đền đáp phải lẽ đối với công tác của họ, nhưng họ không được đi từ nhà này sang nhà khác để tìm kiếm những điều kiện sống tốt hơn cho bản thân mình.  Sau này Hội Thánh thực hiện nguyên tắc này bằng cách tiếp trợ cho những người giảng dạy và các nhà truyền giáo để họ không bị lệ thuộc vào những người mà họ rao báo sứ điệp (IIIGi 1:7-8).  Phao-lô tìm cách để không trở thành gánh nặng cho các Hội Thánh của mình, mặc dù ông hoàn toàn có quyền để làm điều đó, và câu 7 được trích dẫn ở đây có liên hệ đến quyền lợi của các trưởng lão (ICo 9:14  ITi 5:18).

Sứ điệp của họ sẽ là Nước Đức Chúa Trời đã đến.  Các dấu hiệu về sự hiện diện của Nước ấy chính là những công tác đầy năng quyền mà họ sẽ thi hành.  Khi Phúc Âm được công bố thì các phước hạnh về sự cai trị của Đức Chúa Trời sẽ rất gần hoặc ở trong tầm nắm bắt của tất cả những người tiếp nhận chúng (Mac 1:15).  Nếu sứ điệp ấy không được tiếp nhận thì người ta sẽ bị cảnh báo về sự trừng phạt của Đức Chúa Trời.  Những người rao truyền sứ điệp sẽ không gánh chịu bất cứ trách nhiệm nào sau khi họ đã trình bày rõ ràng sứ điệp ấy.

Một cách ngẫu nhiên, Chúa Giê-xu đã nói về số phận trong ngày phán xét của các thành đã khước từ sứ điệp của Ngài.  Người Do Thái luôn xem các thành cổ của người ngoại đạo là tuyệt đối vô thần.  Khi nói rằng các thành này có thể đáp ứng nồng nhiệt với Phúc Âm hơn là các thành của người Do Thái thì đây là một cách để nói rằng người Do Thái đã đui mù như thế nào đối với Phúc Âm, và sự kiêu ngạo của họ sẽ gánh lấy một sự sụp đổ mau chóng.  Cuối cùng, Chúa Giê-xu nhấn mạnh rằng các môn đồ phải là những sứ giả của Ngài, và vì thế họ cũng là những vị sứ giả của Đức Chúa Trời (Lu 9:48  Gi 15:23).

Chú Thích.  6  Người đáng được bình an là một người ưa thích sự hoà thuận, một người xứng đáng với món quà bình an của Đấng Mết-si-a.  Lời chào “bình an” được xem là có hiệu quả trên người được chào.   13  -ra-xin là một thành nằm về phía bắc Ca-bê-na-um.

(Lu 10:17-24) Bảy mươi hai môn đồ trở về (Mat 11:25-27  13:16-17).  Chúa Giê-xu nhìn thấy trong việc đuổi quỉ một dấu hiệu rằng ngai của Sa-tan đang nghiêng ngã.  Dường như Ngài đang dùng cách nói ẩn dụ ở đây.  Ngài có một khải tượng về sự thất bại thuộc linh của Sa-tan sẽ xảy ra tại thập tự giá, và sự đuổi quỉ, tức là việc đánh bại các thuộc hạ của Sa-tan, đã xác nhận một cách chắc chắn về chiến thắng của Ngài trên chủ nhân của chúng (Kh 12:7-10).

Thế nhưng sẽ rất sai lầm nếu quá vui mừng về việc này vì người ta có thể đuổi quỉ nhưng vẫn bị đuổi ra khỏi Nước Thiên Đàng (Mat 7:22-23).  Điều đáng phải vui mừng hơn là khi tên mình được ghi trong sách của Đức Chúa Trời (Phi 4:3).

Sau đó Chúa Giê-xu tạ ơn Đức Chúa Trời bởi sự bày tỏ của Ngài cho những kẻ bình thường và Ngài không chú trọng đến sự khôn ngoan của con người.  Lời cầu nguyện của Chúa Giê-xu kết thúc với lời xưng nhận rằng mọi điều đó đã được bày tỏ cho Ngài bởi Cha Ngài.  Có một sự hiểu biết thật riêng biệt và sâu sắc giữa Cha và Con, qua đó chỉ có Con mới có thể nói về Cha cho mọi người biết.  Các môn đồ đã nhận lấy sự hiểu biết này từ Con.  Những con người vào thời ấy hẳn phải rất vui mừng nhìn thấy sự đến của Nước Thiên Đàng, nhưng chỉ có các môn đồ mới được thấy và nghe Con Đức Chúa Trời.

Chú Thích.   19  Rắn cạp là những biểu tượng của sự nguy hại về mặt thuộc linh (Phu 8:15  Thi 91:13).   22  Tính xác thực của câu nói này đã bị công kích nhiều, nhưng ngôn ngữ rõ ràng là của người Do Thái và rất có thể là do Chúa Giê-xu nói ra.  Mọi sự có nghĩa là “mọi điều được mặc khải” hơn là “mọi quyền phép”.  Chữ biết được dùng trong tiếng Hê-bơ-rơ để diễn tả sự hiểu biết cá nhân (như trong Sa 4:1 về mối quan hệ hôn nhân), hoặc sự chọn lựa của một người (Am 3:2).  Việc sử dụng lại động từ này hai lần cho thấy mối giao thông mật thiết giữa Chúa Giê-xu và Cha Ngài, điều này đã được phản ánh qua lời cầu nguyện của Ngài (đối chiếu Mac 14:36).  Vì lẽ đó, chỉ có Chúa Giê-xu mới có đủ tư cách để bày tỏ Cha ra cho những người khác.  Câu nói này hoàn toàn phù hợp với sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu trong Giăng (Gi 10:15) và là một “cầu nối” giữa ba sách Phúc Âm đầu và Phúc Âm thứ tư.

2. Đặc tính của các môn đồ (Lu 10:25-11:13)

(Lu 10:25-37) Người Sa-ma-ri nhơn lành  Chúng ta không nên lầm lẫn phần giới thiệu của câu chuyện ngụ ngôn này với câu chuyện tương tự trong (Mac 12:28-31).  Ở đây Chúa Giê-xu được hỏi về việc làm thế nào để có thể được hưởng sự sống đời đời (đối chiếu Lu 18:18), và theo đúng cách nói của người Do Thái Ngài trả lời bằng cách hướng người đặt câu hỏi về vấn đề luật pháp.  Người ta đã tóm tắt bản chất và mục đích của luật pháp như thế nào? Thầy dạy luật này trả lời tương tự như câu trả lời mà Chúa Giê-xu đã đưa ra trong Mac 12:29-31.  Điều này không làm chúng ta ngạc nhiên vì từ trước thời của Chúa Giê-xu người ta đã nhận ra sự liên kết giữa Phu 6:5 và Le 19:18.  Khi so với Ga 3:12 thì câu trả lời của Chúa Giê-xu có vẻ như là ủng hộ luật pháp, nhưng nếu xét trong mối liên hệ với toàn bộ nội dung giảng dạy của Ngài thì không phải như thế.

Thầy dạy luật đã bị “mất mặt” bởi câu trả lời này, và ông ta cố gỡ gạc bằng cách căn vặn về định nghĩa chính xác của “người lân cận”.  Câu chuyện ngụ ngôn được đưa ra để trả lời lại rất đích đáng.  Có thể chúng ta đã mong đợi một câu chuyện ngụ ngôn về một người Do Thái phải bày tỏ lòng yêu thương với mọi người như thế nào, thậm chí với một người Sa-ma-ri, nhưng thực tế Chúa Giê-xu đã cho thấy một người Sa-ma-ri lại có thể gần với Nước Thiên Đàng hơn cả một người Do Thái là người tỏ ra ngoan đạo nhưng không nhân đạo.  Mặc dù thầy dạy luật hỏi “Ai là người lân cận tôi (nghĩa là người mà tôi phải giúp đỡ)?”  Nhưng Chúa Giê-xu cho rằng câu hỏi thực sự phải là “Tôi có cư xử như một người lân cận (nghĩa là một người giúp đỡ kẻ khác) hay không?”  Ở đây Chúa Giê-xu không cho biết một người cần phải giúp đỡ những ai tuy nhiên việc không tuân giữ được điều răn không xuất phát từ việc thiếu thông tin nhưng xuất phát từ việc không có lòng thương xót.  Điều mà thầy dạy luật cần đến không phải là một kiến thức mới mẻ là điều mà thầy dạy luật cần, mà là một tấm lòng mới là sự trở lại đạo.

Chú Thích.   30  Một con đường dài 27 km, có độ dốc gần 1000 mét, nối liền Giê-ru-sa-lem và Giê-ri-cô.  Giê-ri-cô là nơi ở của các thầy tế lễ sau khi họ đã làm xong phần việc tại đền thờ (đối chiếu Lu 1:23).   31-32  Trong câu chuyện này thầy tế lễ và người Lê-vi (là người hầu việc trong đền thờ) có lẽ đã sợ bị ô uế nếu chạm vào một xác chết, nhưng thực tế động cơ khiến họ hành động như vậy không được nêu ra.   33  Câu chuyện đã có hiệu quả nhờ vào sự kiện là người nghe có lẽ đang mong đợi nhân vật thứ ba sẽ là một thầy dạy luật Do Thái, như thế sẽ nêu lên được quan điểm chống lại các thầy thông giáo Do Thái.   37  Thầy dạy luật có lẽ không thể tự nộp mình để có thể trả lời rằng đó là “người Sa-ma-ri”!

(Lu 10:38-42) Phục vụ Chúa Giê-xu  Khi Ma-thê bực bội phàn nàn với khách về cô em lười biếng của mình, Chúa Giê-xu đã trả lời một cách từ tốn nhưng rất rõ ràng.  Có thể Ngài đang ngụ ý rằng Ma-thê đã bận rộn trong việc chuẩn bị một bữa ăn tối trịnh trọng phải mất nhiều thời gian trong khi chỉ cần một bữa ăn đơn giản là đủ.  Ma-ri đã chọn ngồi lắng nghe Chúa Giê-xu, và điều đó còn quan trọng hơn cả việc chuẩn bị một bữa ăn thịnh soạn.  Câu chuyện không có chủ ý dạy dỗ về giá trị của một cuộc sống trầm lặng so với một cuộc sống hành động mà để cho thấy rằng không nên để việc phục vụ Chúa Giê-xu lấp đầy cuộc sống của người ta đến mức họ không còn thì giờ để học hỏi với Ngài nữa.  Một người sẽ tôn vinh Chúa nhiều hơn bằng cách lắng nghe Ngài thay vì cung cấp quá dư thừa cho nhu cầu của Ngài (đối chiếu Gi 6:27).

Chú Thích.   38  Vì ngôi làng ở đây là Bê-tha-ni nằm ở vùng ngoài Giê-ru-sa-lem (Gi 11:1) nên sự việc này hoặc là xảy ra trước khi Chúa Giê-xu đi đến Giê-ru-sa-lem lần cuối hoặc là đã được ghi lại không theo thứ tự thời gian.   41  Chúng ta không biết rõ về những lời mà Chúa Giê-xu thực sự đã phán, có thể Ngài đang phân biệt nhiều món ăn với một món ăn, hoặc có thể đơn giản là Ngài đang so sánh nhiều thứ công việc với chỉ một công việc thực sự cần thiết mà thôi.

(Lu 11:1-13). Cách thức cầu nguyện (Mat 6:9-13  7:7-11).  Lời cầu nguyện của Cơ Đốc nhân phải trở lại với gương mẫu và mạng lệnh của chính Chúa Giê-xu.  Bài cầu nguyện chung (Bài cầu nguyện của Chúa) ở đây được trình bày dưới một hình thức khác và ngắn hơn so với bài cầu nguyện quen thuộc trong Ma-thi-ơ.  Người ta cho rằng Hội Thánh đầu tiên đã hiệu chỉnh lại lời của Chúa Giê-xu theo những cách khác nhau để đáp ứng cho nhu cầu của Hội Thánh mình.  Bài cầu nguyện trong Lu-ca được trình bày dưới hình thức bao gồm một lời xưng hô và hai loại cầu xin.

Từ Cha được dịch từ chữ Abba trong tiếng A-ram của Chúa Giê-xu (đối chiếu Lu 10:21  Mac 14:36).  Vì vậy ở đây Chúa Giê-xu khuyên bảo các môn đồ nên dùng từ ngữ thân mật tương tự để xưng hô với Đức Chúa Trời như Ngài vậy.

Danh Cha được thánh là lời cầu xin thứ nhất trong hai lời cầu xin có liên quan đến chính Đức Chúa Trời.  Nguyện danh Cha, nghĩa là thân vị Ngài được tôn kính trên khắp đất.  Sự tôn thánh như thế đã tạo cơ sở cho lời cầu xin thứ hai: Nước Cha được đến.  Nguyện sự cai trị công bằng và bình an của Đức Chúa Trời nhanh chóng diễn ra.  Đây là lời cầu xin Đức Chúa Trời hành động bằng cách thúc đẩy ngày của Chúa mau đến.  Chỉ sau những lời cầu xin này thì các nhu cầu của người cầu xin mới được đề cập đến.

Trước hết là lời cầu xin cho sự chu cấp đủ bánh mỗi ngày.  Đây có thể là lời cầu xin không chỉ về lương thực bình thường mà còn là bánh sự sống, là món quà của Đức Chúa Trời mà thiếu nó chúng ta không thể sống được.  Từ epiousios (hằng ngày) trong tiếng Hi Lạp là một từ có nghĩa không xác định: “cho ngày mai” hay “cần thiết” đều được cả.  Nghĩa thứ nhất nêu ra ý mà người cầu xin mong được nếm trước các phước hạnh của thiên đàng ngay trong thời điểm hiện tại.

Hai là, có một lời cầu xin cho sự tha thứ mỗi ngày, là sự tha thứ chỉ ban cho kẻ nào cũng tha thứ cho những người khác.

Cuối cùng, người cầu nguyện xin cho được gìn giữ khỏi sự cám dỗ và thử nghiệm, là những điều có thể làm suy yếu đức tin và dẫn đến việc không được vào Nước Trời.

Các câu chuyện ngụ ngôn sau đây đã khích lệ người ta trong sự cầu nguyện.

5-10  Mặc dù người bạn có bánh (c.3) sống trong ngôi nhà một gian (nơi mọi người phải ngủ gần nhau) không sẵn lòng ra khỏi giường, thế nhưng vì sự dai dẳng không biết thẹn của người gọi nên anh ta phải cho bánh.  Câu chuyện ngụ ngôn này gây tác dụng trong sự tương phản: Nếu ngay cả một người bạn của chúng ta đã phản ứng lại với sự kiên nhẫn, thì Đức Chúa Trời còn đáp lại cho chúng ta nhiều lần hơn mà không vì sự kiên nhẫn, cho dù đôi lúc có vẻ như Ngài chậm trễ trong việc đáp lại lời cầu xin của chúng ta (đối chiếu Lu 18:1-8).

11-13  Một cách tương tự, như những người cha trên đất không hề lừa gạt con mình để không cho chúng nó quà thì Đức Chúa Trời sẽ ban món quà tốt đẹp là Đức Thánh Linh cho tất cả những ai cầu xin Ngài.  Ở đây Chúa Giê-xu đang nói đến khái niệm bao quát về các ơn phước thuộc linh mà Cha ban cho con cái Ngài, Chúa không nói rằng người nào xin các ân tứ thiêng liêng riêng biệt đều nhất thiết sẽ nhận được.  Với những sự bảo đảm này thì những lời cầu xin dạn dĩ đều có thể trở thành hiện thực.  rắn, trứng cạp từng cặp có vẻ bề ngoài trông giống nhau.

3. Sự tranh luận với người Pha-ri-si (Lu 11:14-54)

(Lu 11:14-28) Sự kết hiệp với ma quỉ? (Mat 12:22-30,43-45  Mac 3:22-27).  14-23  Người Pha-ri-si nghĩ họ có thể giải thích việc đuổi quỉ bằng cách nói rằng Chúa Giê-xu đã được chúa quỉ ban cho quyền để trừ quỉ (15).  Những kẻ khác nghĩ rằng vấn đề có thể được giải quyết nếu Chúa Giê-xu cung cấp được một dấu hiệu nào đó rõ ràng hơn chứng tỏ là Ngài có sự trợ giúp của Đức Chúa Trời (16).

Chúa Giê-xu đáp lại lời cáo buộc trong câu 15 bằng cách nói rằng một nước hay một nhà nếu chia ra chống lại nhau thì chẳng bao lâu sẽ không thể tồn tại được: thế thì, làm thế nào mà Sa-tan, còn gọi là -ên--bun, lại có thể tạo ra cuộc nội chiến trong chính vương quốc của nó? Hơn nữa, lập luận ấy cũng có thể trở ngược lại chống những kẻ phản đối Chúa Giê-xu vì các môn đồ của họ cũng đuổi quỉ.  Thực tế, việc đuổi quỉ là một hành động của quyền năng Đức Chúa Trời và là một dấu hiệu chắc chắn rằng thời đại cứu rỗi của Đức Chúa Trời đã đến.  Đấng mạnh hơn Sa-tan đang hành động.  Trong bối cảnh này thì việc từ chối hỗ trợ cho Chúa Giê-xu không còn ở vị trí trung lập nữa mà là đã đứng về phía kẻ thù.

24-26  Các ý kiến đưa ra rất khác nhau trong việc xác định câu chuyện này chỉ cần hiểu theo nghĩa đen hay nó là một ngụ ngôn về sự sa sút thuộc linh.  Ý nghĩa của câu chuyện không phải để làm thỏa mãn tính tò mò về ma quỉ mà để cảnh báo về mối nguy của một sự ăn năn hoàn toàn tiêu cực.  Sự sa ngã trở lại có thể dẫn đến sự nguy hại kinh khiếp.  Điều cần thiết ở đây là điều mà Thomas Calmers đã gọi là “quyền trục xuất của một ảnh hưởng mới”.

27-28  Tại điểm này Mác kể lại một câu chuyện khác nói về những người bà con của Chúa Giê-xu (Mac 3:31-35).  Lu-ca đã dùng đến câu chuyện này trong (Lu 8:19-21) và nay ông nêu ra một sự việc khác hẳn nhưng vẫn có cùng quan điểm cơ bản.  Lời chúc phước khá xúc động của người phụ nữ đối với mẹ của Chúa Giê-xu đơn giản có nghĩa là “Nếu tôi cũng có một đứa con giống như người này”.  Nhưng có một việc khác quan trọng hơn, ấy là nghe và làm theo sứ điệp của Đức Chúa Trời được rao giảng qua Chúa Giê-xu (đối chiếu 6:46-49).

Vì thế Chúa Giê-xu khi ấy đang muốn nói rằng người ta lẽ ra phải nhận biết rằng Ngài đang rao giảng lời của Đức Chúa Trời mà không cần phải có các dấu lạ để xác nhận việc tiếp nhận lời này sẽ ngăn ngừa được sự sa ngã trở lại như đã được mô tả trong câu 26.

Chú Thích.  14  Đối chiếu Mat 9:32-34.  20  Ngón tay Đức Chúa Trời lấy ý từ Xu 8:19 (đối chiếu Thi 8:3) và mang ý nghĩa là “Thánh Linh của Đức Chúa Trời” (Mat 12:28).   24  Các nơi khô khan thường được xem là lãnh địa của ma quỉ, nhưng người ta nghĩ rằng chúng thích sống trong thân xác con người hơn.

(Lu 11:29-32) Dấu lạ về Giô-na (Mat 12:38-42).  Phân đoạn này thực ra là sự đáp lại lời yêu cầu trong câu 16.  Người ta muốn nhìn thấy phép lạ nào đó để chứng minh cho sứ điệp của Chúa Giê-xu, nhưng Ngài không muốn làm các phép lạ vì có thể sẽ khiến người ta khiếp sợ.  Trái lại, Ngài mong muốn được làm những công việc sẽ bày tỏ ra bản tính của Đức Chúa Trời, Cha Ngài, như là Đấng Phán Xét và Đấng Cứu Rỗi.  Vì thế Ngài đã từ chối mà không đưa ra một dấu lạ nào (đối chiếu Mac 8:11-12), ngoại trừ dấu lạ của Giô-na.  Giô-na đã là một dấu lạ cho dân thành Ni-ni-ve thể nào thì chính Ngài cũng sẽ là một dấu lạ cho người Do Thái thể ấy.

Trong câu nói cùng lúc ấy về Hoàng hậu Nam phương (đối chiếu IVua 10:1-10 ghi rằng bà từ Sê-ba ở Tây Nam Ả-rập đến) thì bà sẽ là một nhân chứng chống lại người Do Thái trong thời Chúa Giê-xu vì bà đã bỏ ra rất nhiều công sức để đến nghe Sa-lô-môn, trong khi đó người Do Thái lại không chú ý gì đến sự khôn ngoan của Đấng lớn hơn cả Sa-lô-môn.  Cũng như thế, người dân thành Ni-ni-ve đã đáp ứng với lời rao giảng của Giô-na thế mà người Do Thái lại không đáp ứng với lời giảng dạy của Chúa Giê-xu.  Vì thế “dấu lạ của Giô-na” chính là một sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu.  Tuy nhiên, ở đây có một ý nghĩa còn sâu sắc hơn.  Cách dùng của thì tương lai trong câu 30 (“sẽ là”) và cách thức mà trong đó Mat 12:39-40 đã đề cập đến sự sống lại của Chúa Giê-xu như là sự được cứu sống lại của Giô-na, đã gợi ý rằng dấu lạ chính là sự rao giảng về việc Chúa Giê-xu sống lại hoặc có thể là một sự liên hệ đến sự tái lâm của Ngài.

(Lu 11:33-36) Ánh sáng sự tối tăm (5:15  6:22-23).  Câu 33 (lặp lại Lu 8:16) có thể khuyên giục người nghe đừng giấu đi sự sáng mà họ đã nhận lãnh (Mat 5:15), hoặc có thể liên hệ đến việc dân Y-sơ-ra-ên đã che giấu sự sáng mà họ đã được ban cho bởi Đức Chúa Trời (đối chiếu c.52), hoặc (rất có thể) nó đề cập đến sự sáng chiếu ra từ Chúa Giê-xu mà người ta đã không sẵn lòng để đón nhận.  Trong câu 34 mắt là phương tiện để ánh sáng có thể thấu đến tâm trí bên trong của một người, một con mắt trong sáng sẽ để cho ánh sáng đi vào, nhưng một con mắt bệnh tật sẽ khiến cho một người ở trong sự tối tăm.  Những người nghe lời dạy dỗ của Chúa Giê-xu phải chắc chắn những điều mình đã nhận lãnh phải là ánh sáng chớ không phải là bóng tối (35).  Khi đó câu 36 có thể hiểu là người nào có tràn đầy sự sáng thật sẽ có thể chiếu sáng cho những người khác.  Toàn bộ đoạn văn là một lời cảnh báo đối với tình trạng thuộc linh mù lòa và tấm lòng cứng cỏi.

(Lu 11:37-54) Sự giả hình của người Pha-ri-si thầy thông giáo (23:4-7,13,23-26 so sánh Lu 20:46).  Chúa Giê-xu đến thăm nhà của một người Pha-ri-si (so sánh 7:36  14:1) để dự một trong hai bữa ăn hàng ngày của người Do Thái.  Những người Pha-ri-si thường rửa trước khi ăn, chủ yếu không phải để cho thân thể được sạch mà là để tẩy sạch sự ô uế có thể có do tội lỗi gây nên bởi sự tiếp xúc với dân ngoại và những kẻ tội lỗi khác (Mac 7:1-5).  Chúa Giê-xu đã mạnh mẽ chỉ trích những người Pha-ri-si và những gì mà họ bênh vực.  Bởi việc tắm rửa thân thể mình (39) họ giống như người chỉ lau chùi bên ngoài một cái mâm chén chứa đầy những thứ dơ bẩn bên trong.  Nếu Đức Chúa Trời làm nên cả bề trong lẫn bề ngoài của con người, thì chắc chắn con người bề trong cũng cần phải được tẩy sạch nữa.  Nếu người Pha-ri-si làm việc từ thiện thay vì tham lam và gian ác, thì việc này sẽ khiến cho họ thật sự được tinh sạch trong tấm lòng – và không thể đòi hỏi thêm điều gì ở họ nữa.  (Vì thế Chúa Giê-xu đã bác bỏ ý tưởng của sự ô uế về mặt nghi lễ, so sánh 7:15,19).

Ba nỗi khốn khổ nối tiếp nhau (42-44) được nêu lên đã làm phơi bày ra những sự thất bại của người Pha-ri-si.  Họ quá tập trung vào các chi tiết nhỏ nhặt của tôn giáo đến nỗi đã quên đi các nguyên tắc đạo đức lớn hơn.  Họ đã trở nên ưa thích sự tôn trọng của người khác trước vẻ mộ đạo của họ.  Hậu quả là họ như những kẻ giả hình dẫn người ta đi sai lạc, cũng giống như những nấm mồ bị che khuất khiến người ta có thể không biết mà giẫm lên và bị dơ bẩn.

Các thầy dạy luật (Lu 5:17) đã bị định tội qua những gì mà Chúa Giê-xu vừa nói, nhưng bây giờ Ngài lại tiếp tục lên án họ.  Họ đã tự đặt ra các qui định nhỏ nhặt về luật pháp, nhưng họ đã không làm gì cả để cất bớt gánh nặng cho người khác hoặc tự mình cũng không thể mang vác gánh nặng ấy.  Dù họ xây nên những ngôi mộ đẹp đẽ cho các đấng tiên tri nhưng thực ra họ lại đang ưng thuận với tổ phụ của họ là những người đã giết hại các đấng tiên tri bằng cách khẳng định rằng các đấng tiên tri đã chết bởi vì sứ điệp của họ đã bị xem thường! Đức Chúa Trời trong sự khôn ngoan của Ngài đã nhìn thấy trước điều họ sẽ làm.  Thái độ của các thầy dạy luật đối với các tiên tri và các sứ đồ của Hội Thánh chính là sự kiện cuối cùng và tệ hại nhất trong một lịch sử dài chống đối và giết hại các sứ giả của Đức Chúa Trời, và tiếp theo đó sẽ là sự hình phạt.  Cuối cùng, họ bị định tội vì đã che giấu sự bày tỏ của Đức Chúa Trời và ngăn trở không cho người ta vào được Nước Thiên Đàng của Ngài.

Chú Thích.   41  Bố thí (cho kẻ nghèo) có thể là cách diễn giải của Lu-ca về ý của Chúa Giê-xu khi Ngài nói “sạch sẽ” (Mat 23:26).   42  Các khoản nộp phần mười này nằm ngoài các qui định của luật pháp.   43  Câu nói này chắc hẳn đề cập đến người Pha-ri-si là “các thầy dạy luật” (so sánh Lu 20:46).   48  Xây mồ mả không thể đồng nghĩa với việc giết người: câu nói này có tính chất ẩn dụ và châm biếm.   51  Về Xa-cha-ri  (IISu 24:20-21  Mat 23:35).

4. Sẵn sàng cho sự khó khăn sắp đến (Lu 12:1-13:9)

Trong phần này và một số phân đoạn sau nữa (Lu 17:20-18:8  21:5-38), Lu-ca đã tập hợp lại sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu về sự khó khăn sắp đến trên người ta như là kết quả của chức vụ Ngài.  Phúc Âm về sự cứu rỗi có mặt tiêu cực cho những kẻ khước từ sứ điệp ấy.  Chúa Giê-xu đã cảnh báo người Do Thái về các hậu quả khốc hại của việc khước từ Ngài, cả về sự tàn hại lẫn sự chối bỏ bởi Đức Chúa Trời trong ngày phán xét.  Đồng thời, Ngài cũng cảnh báo các môn đồ phải đứng vững trong những ngày thử thách sắp đến, và phải sẵn sàng cho việc thầy của họ sẽ trở lại.  Sự tàn phá đã đến với xứ Giu-đê trong cuộc chiến tranh với La Mã (66-70 S.C.), nhưng sự trở lại của Chúa thì vẫn còn được mong đợi.  Một số vấn đề gây khó hiểu là do Chúa Giê-xu đã xem cả hai sự kiện này như một phần trong sự phán xét vĩ đại mà chính Ngài cũng không biết chính xác thời điểm mà Cha đã ấn định cho ngày phán xét ấy (Mac 13:32).

(Lu 12:1-12) Sự xưng nhận không sợ hãi (Mat 10:26-33  12:31-32  10:19-20 so sánh Mac 3:28-29).  Câu 1 liên kết với phần trước nói về người Pha-ri-si, sự dạy dỗ của họ đã thấm sâu vào xã hội, như men ngấm vào bột, và nó gây nên một ảnh hưởng đồi bại vì sự giả hình của họ.  Tuy nhiên, tất cả mọi người phải cảnh giác với sự giả hình, vì một ngày nào đó mọi ý nghĩ kín giấu của họ sẽ bị phơi bày ra hết thảy (so sánh Lu 8:17).

Tuy nhiên, các môn đồ có thể bị cám dỗ bởi một kiểu giả hình khác, đó là vì sợ hãi mà đánh mất đi lòng trung thành của họ đối với Chúa Giê-xu.  Chịu khổ bởi tay con người là một việc, nhưng trở nên giả hình và sau đó phải đối mặt với sự phán xét của Đức Chúa Trời, là Đấng có thể quăng người ta vào địa ngục, còn là việc tệ hại hơn.  Thật vậy, không có lý do gì để phải sợ con người vì thậm chí điều xấu nhất mà kẻ bắt bớ có thể tạo ra cũng không thể xảy ra mà Đức Chúa Trời lại không biết và không lo liệu được cho con cái Ngài.  Nhưng tùy thuộc vào việc người ta tuyên xưng hay khước từ Chúa Giê-xu mà Con Người sẽ làm chứng để ủng hộ hay chống lại họ trong ngày phán xét của Đức Chúa Trời (8-9).

Tuy nhiên, câu 10 có nói rằng việc chối Con Người thì có thể được tha thứ.  Có lẽ câu 9 được nói với các môn đồ, là những người sẽ không thể bào chữa cho sự thiếu hiểu biết về tầm quan trọng của Chúa Giê-xu, nhưng câu 10 được nói với đám đông mà đối với họ, “Con Người” là một nhóm từ không nhất thiết bày tỏ cho biết Chúa Giê-xu là ai.  Tuy nhiên, nếu người ta từ chối thừa nhận bằng chứng rõ ràng về sự hành động của Thánh Linh Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu (qua việc cho rằng quyền năng của Ngài là từ Sa-tan), thì họ phải chịu trách nhiệm cho sự phán xét.  Nhưng nếu người ta xưng nhận Chúa Giê-xu thì Đức Thánh Linh sẽ nâng đỡ họ khi họ bị xét xử bởi các quan án, còn ngược lại, họ sẽ cảm thấy sợ hãi.

Chú Thích.  1  Trước hết cho thấy điều diễn ra sau đó là đặc biệt dành cho các môn đồ.   6  Mat 10:29 có ghi “hai con chim sẻ bán một đồng tiền”, ở đây nhắc lại ý tương tự.   8-9  Chúa Giê-xu có vẻ như phân biệt giữa Con Người và chính Ngài.  Vì Ngài muốn ám chỉ đến Da 7:1-28 nên Ngài phải chuyển sang ngôi thứ ba.

(Lu 12:13-34) Của cải vật chất (Mat 6:25-33,19-21).  Chúa Giê-xu thường được xem là thầy và vì thế Ngài là một thành viên thuộc tầng lớp có thể giải quyết được các vấn đề về tôn giáo lẫn dân sự.  Vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi người ta đến hỏi xin ý kiến Ngài trong một cuộc tranh chấp pháp lý về tài sản.  Có lẽ một người em đang khiếu nại rằng mình bị thiệt trong phần chia gia sản.  Tuy nhiên, Chúa Giê-xu từ chối giải quyết vấn đề này.  Ngài không phải là một rabi được phong chức, và Ngài muốn giải quyết tận gốc của vấn đề bằng cách đưa ra một lời cảnh cáo nghiêm khắc đối với sự tham lam.  (Phải chăng Ngài có sự hiểu biết cá nhân về các chi tiết trong tình huống ấy?) Tham lam là sự ước muốn có được nhiều hơn điều mình thực sự có (không nhất thiết xuất phát từ sự thèm muốn tài sản của người khác).  Nó không chỉ đưa đến sự ganh tị mà còn cho thấy được một thái độ cơ bản là sai trật đối với cuộc đời khi cho rằng của cải mới là điều thực sự quan trọng.  Chỉ cần Đức Chúa Trời cất đi sự sống của một người, thì của cải ngay lập tức sẽ trở nên vô dụng một cách hiển nhiên.  Tiền bạc không thể mua được mọi thứ.  Người nhà giàu đã không có được sự giàu có đích thực là mối quan hệ phải lẽ với Đức Chúa Trời mà chắc chắn việc bố thí cho kẻ nghèo cũng là một bước quan trọng để hướng tới mối quan hệ ấy (33).  Vì thế, người nhà giàu này là một kẻ dại, một người vô thần, và vì vậy, cũng là một người sống không có ý nghĩa.

Vậy thì, của cải nên được xem như thế nào? Các môn đồ không nên lo lắng về đồ ăn và đồ mặc (là hai nhu cầu thiết yếu của thân thể) như thể đó là những thứ quan trọng nhất.  Con người mới là quan trọng hơn cả.  Nếu như Đức Chúa Trời nuôi cả những con chim không lo lắng và cho các loài hoa mặc áo, thì chắc chắn Ngài sẽ cung cấp muôn phần hơn cho những nhu cầu thiết yếu của con cái Ngài.  Trong mọi trường hợp, lo lắng không làm cho đời sống một người kéo dài hơn.  Trong một thế giới mà người ta bị đặt vào một cuộc tranh giành quyết liệt để tìm kiếm những điều kiện sống tốt hơn thì các môn đồ phải trước hết tìm kiếm ý muốn Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi của Ngài khi đó họ sẽ thấy rằng các nhu cầu cho thân thể của họ sẽ được lo liệu.  Họ cần phải bán của cải mà phân phát cho kẻ thiếu thốn, và đặt ước muốn của mình vào của báu trên trời là thứ sẽ không hề qua đi.

Lời dạy như thế có vẻ khuyến khích tính lười biếng và sự thờ ơ không quan tâm đến cuộc sống hằng ngày “Đức Chúa Trời sẽ chu cấp, vì thế tôi chẳng cần phải làm gì cả!” Tuy nhiên, Chúa Giê-xu không phải đang nói với kẻ lười biếng mà với người lo lắng, là những người bị cám dỗ để chạy theo cuộc tranh giành của thế gian.  Họ phải tin cậy Đức Chúa Trời và phải đặt thứ tự ưu tiên một cách đúng đắn.

Chú Thích.   25  Khắc, tiếng Hi Lạp là cubit, khoảng 45, 7 cm (là đơn vị đo lường, có thể được sử dụng theo lối ẩn dụ để nói về một khoảng thời gian).   31  Tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời là đặt mục tiêu cuộc sống mình nơi chính Đức Chúa Trời và sự làm thành mục đích của Ngài trong việc đem mọi vật vào trong sự tể trị của Ngài.

(Lu 12:35-48) Sự đến của Con Người (Mat 24:43-51).  Từ cách thức mà người ta phải đặt tâm trí mình nơi Nước Đức Chúa Trời, Chúa Giê-xu chuyển sang các thái độ của họ đối với tương lai.  Con Người sẽ trở lại vào giờ mà người ta không biết và không ngờ đến (40).  Con Người đến sẽ đem theo cả sự phán xét (8-9) lẫn sự hoàn tất về sự cai trị của Đức Chúa Trời.  Vì vậy, các môn đồ phải luôn sẵn sàng để Đức Chúa Trời sử dụng cho công việc Ngài như những người đầy tớ luôn sẵn sàng cho sự trở về của Chủ.  Hình ảnh về thời khắc ban đêm nhấn mạnh đến sự cần thiết phải cảnh giác và thức canh.  Câu chuyện ngụ ngôn thứ hai rất ngắn gọn kể về tình thế của người quản gia, ông ta đã bị bất ngờ bởi sự đột nhập của kẻ trộm.  Điều này cho thấy mặt còn lại của sự chờ đợi và nó cho thấy những tác hại nghiêm trọng đối với những kẻ không sẵn sàng khi Con Người đến.

Nhưng sự dạy dỗ này muốn nói về ai? Có phải nó đề cập đến tất cả các đầy tớ của chủ hay chỉ nói đến những người đứng đầu trong bọn họ? Chúa Giê-xu dường như đang tập trung vào những người đứng đầu khi Ngài nói đến điều này.  Đầy tớ nào được đặt làm quản gia mà thực hành bổn phận mình một cách trung tín thì sẽ được phần thưởng xứng đáng.  Nhưng nếu người đầy tớ ấy lợi dụng cơ hội chủ vắng mặt mà cư xử thiếu trách nhiệm thì người ấy sẽ bị bất ngờ khi chủ đột nhiên trở về và khi ấy mới thấy rằng mình sẽ bị chung phần với những kẻ chẳng tin.  Hình phạt dành cho người ấy tùy thuộc vào sự hiểu biết của anh ta và trách nhiệm của anh ta trong sự hiểu biết đó.  Điều này ám chỉ rằng sự phán xét của Đức Chúa Trời không phải đơn giản là có tội hay không có tội nhưng sẽ có các mức độ khác nhau về thưởng và phạt.

Thì tương lai được dùng trong câu 42-48 liên hệ đến tình hình của Hội Thánh sau khi Chúa Giê-xu ra đi.  Thực tế là tất cả các câu chuyện ngụ ngôn trong phân đoạn này, theo lối sắp đặt hiện tại, đã đề cập đến các môn đồ trong giai đoạn sau khi Chúa Giê-xu sống lại và trước khi Ngài tái lâm (chú ý đến sự thay đổi người nghe trong câu 54).

(Lu 12:49-59) Cơn kinh khiếp trên Y--ra-ên (so sánh 10:34-36  16:2-3  5:25-26).  Tuy nhiên sẽ có lúc là thời điểm có tính chất quyết định khi người ta phải quyết định để xưng Chúa Giê-xu là Chúa mình hay không.  Sự đến của Ngài đem lại sự phân rẽ trong thế gian.  Điều ấy có nghĩa là cả thế gian bị đặt lên trên lửa, và Ngài ước ao lửa ấy sẽ bùng lên và phát thành ngọn lửa lớn.  Việc này sẽ làm cho chính Chúa Giê-xu đau đớn và Ngài mong rằng nó sẽ sớm qua đi.  Ngài đến không phải để đem bình an và sự thoải mái, công tác của Ngài chắc chắn sẽ khuấy động sự chống đối nghịch cùng sự tấn tới của Phúc Âm ngay cả trong phạm vi gia đình.

Trong tình hình này thì thật là bi thảm khi người ta không nhận ra được mức độ nghiêm trọng của sự việc.  Họ có thể nói đến sự thay đổi về thời tiết căn cứ vào hướng gió, nhưng họ không thể đọc được các dấu lạ của các thời kỳ mà hành động cho thích hợp.  Họ không nhận ra được rằng họ giống như một người đang bị kẻ tố cáo lôi ra trước tòa.  Một người khôn ngoan sẽ tìm cách giải hòa ngay trước khi bị đem ra tòa và trước khi bị tống vào ngục.  Ngày nay chính là thời điểm để đáp ứng với Chúa Giê-xu, chẳng bao lâu nữa sẽ quá muộn.

Chú Thích.   49  Lửa tượng trưng cho sự lan truyền sứ điệp hay quyền năng của Đức Chúa Trời, và Chúa Giê-xu ước ao nó sẽ lan truyền mau chóng hơn nữa.   50  Bị dìm vào nước là một ngụ ý nói về việc phải chịu đau đớn và thương khó (so sánh Thi 69:1-3).  Vì vậy, phép báp-tem ở đây (nghĩa đen là được dìm xuống nước hoặc bị ngập tràn với nó) là một hình ảnh về sự chịu khổ của Chúa Giê-xu (so sánh Mac 10:38-39).  Về việc chịu đau đớn, (IICo 5:14  Phi 1:23).   56  Kẻ giả hình có ý nghĩa theo tiếng Hê-bơ-rơ là “vô thần” hơn là “hành động giả hình”.   59  Câu chuyện ngụ ngôn ở đây không phải để dạy lẽ đạo về ngục luyện tội.

(Lu 13:1-9). Sự cần thiết phải ăn năn  Hai bài giảng ngắn gọn nhấn mạnh đến nhu cầu phải đáp ứng lại với thời kỳ khốn khó sẽ xảy ra khi Chúa Giê-xu trở lại.  Một số người hành hương đến Giê-ru-sa-lem để dự lễ Vượt Qua đã bị quân lính La Mã tàn sát trong đền thờ trong khi họ đang giết các con sinh tế.  Lời tường thuật ở đây hoàn toàn phù hợp với tính cách của Phi-lát, mặc dù sự việc cụ thể này cũng không thực sự quan trọng để Josephus ghi lại trong quyển sách lịch sử của ông về giai đoạn này.  Sự đáp lời của Chúa Giê-xu đối với câu chuyện này đã đi ngược lại niềm tin của người Do Thái chính thống rằng sự đau đớn tột cùng mà những người này phải gánh chịu cho thấy họ là những tội nhân vô cùng gian ác.  Và cũng thật là dại dột khi cho rằng những người không may bị nhà sụp mà chết là những kẻ tội đồ kinh khiếp.  (Sự việc này cũng không thực sự quan trọng để đưa vào sử sách).  Ngược lại, trong cái nhìn của Đức Chúa Trời thì cả dân tộc Do Thái đều tội lỗi, và mỗi thành viên của dân tộc ấy phải chịu chung số phận với những kẻ có tội nếu họ không ăn năn.

Tình trạng của dân Do Thái giống như cây không sinh trái.  Nó chỉ đáng bị đốn bỏ đi mà dùng đất cho một cái cây tươi tốt.  Nhưng cũng như người chủ sẵn sàng chăm bón cây và cho nó một cơ hội khác thì Đức Chúa Trời cũng sẵn lòng cho Y-sơ-ra-ên một cơ hội để ăn năn.  Nếu người ta không đáp ứng thì số phận của họ sẽ thuộc về trách nhiệm của chính họ.  Người đầy tớ trong câu chuyện ngụ ngôn này có thể đại diện cho Chúa Giê-xu trong vai trò là người biện hộ cho dân tộc Y-sơ-ra-ên bất xứng.

Chú Thích.   6  Cây ăn trái các loại được trồng trong vườn nho.  Cây vả trong Os 9:10 là hình bóng chỉ về dân Y-sơ-ra-ên.   7  Ba năm đầu không thể hái trái (Le 19:23), nên cây này trồng có lẽ đã được sáu năm.

5. Mục đích cứu rỗi trong sự cai trị của Đức Chúa Trời (Lu 13:10-35)

(Lu 13:10-17) Người đàn bị đau liệt  Trong phân đoạn trước, chức vụ của Chúa Giê-xu đang ở trong một giai đoạn rất khó khăn, và một lần nữa, trọng tâm của phân đoạn này lại nói về sự cứu rỗi hầu đến.  Một người đàn bà bị bệnh biến dạng cột sống được Chúa Giê-xu cứu khỏi bệnh trong ngày Sa-bát tại nhà hội.  Chủ nhà hội lý luận rằng khi sự sống không bị lâm nguy thì việc chữa lành có thể chờ đến một ngày khác trong tuần.  Chúa Giê-xu trả lời rằng nếu như bò lừa được thả ra cho uống nước trong ngày Sa-bát (như mọi người dân Do Thái đều chấp nhận), thì một người phụ nữ càng phải được chữa lành bệnh tật.  Hãy chú ý rằng bệnh này được đề cập đến như là một tình trạng bị quỉ ám (11) và bị Sa-tan cầm buộc (16).  Vì thế, cũng như tội lỗi thì sự đau đớn mà con người phải gánh chịu là do sự rối loạn các chức năng trong cơ thể.  Phần cuối câu chuyện cho thấy dân chúng đã vui mừng thế nào bởi sự cứu rỗi được bày tỏ ra qua Chúa Giê-xu trong khi những kẻ chống đối Ngài không thể chối cãi gì được nữa.

(Lu 13:18-21) Hai câu chuyện ngụ ngôn về sự cai trị của Đức Chúa Trời (Mat 13:31-33  Mac 4:30-32).  Hai ngụ ngôn ở đây có liên hệ với sự cai trị cứu rỗi hầu đến của Đức Chúa Trời qua Chúa Giê-xu.  Có một lời hứa trong hai ngụ ngôn rằng công tác của Đức Chúa Trời sẽ được ứng nghiệm một cách vẻ vang mặc dù nó đã có một khởi đầu thật khiêm tốn.  Như một hạt cải lớn lên thành những nhánh cây to lớn và một ít men làm dậy đống bột thì điều gì bắt đầu với một ảnh hưởng nhỏ nhoi sẽ gia tăng dần lên và lan rộng khắp nơi.  Những cố gắng để tìm ra ý nghĩa riêng biệt trong hai ngụ ngôn này là không xác đáng, và quan điểm cho rằng men ở đây chỉ về điều ác (hơn là Nước Trời) chắc chắn là không thích hợp.

(Lu 13:22-30) Lối vào Nước Trời (so sánh Mat 7:13-14,22-23  8:11-12).  Việc đề cập đến Giê-ru-sa-lem nơi Chúa Giê-xu sẽ bị đóng đinh bỗng nhắc chúng ta nhớ đến ngữ cảnh trong lời giảng dạy của Chúa Giê-xu.  Liệu có nhiều người sẽ được cứu, nghĩa là được vào Nước Trời hay không? Câu trả lời được mọi người chấp nhận là mọi người Do Thái, ngoại trừ những kẻ có tội và những kẻ bội đạo, sẽ được vào Nước Trời.  Nhưng một số nhóm người Do Thái giới hạn con số này ở những người thật sự ngoan đạo theo những qui tắc của riêng họ.  Chúa Giê-xu không muốn biện giải cho vấn đề này.  Ngài cho biết điều quan trọng hơn là mỗi người phải tự bảo đảm rằng mình sẽ được vào Nước Thiên Đàng.  Nước Trời giống như một ngôi nhà có cửa hẹp hạn chế lối vào.  Nó sẽ bị đóng lại khi bữa tiệc bắt đầu (Mat 25:10), và khi đó đã là quá trễ để có thể vào được bên trong.  Sẽ không ích lợi gì khi xưng là biết Chúa Giê-xu mà trước đó lại không đáp ứng với sứ điệp của Ngài.  Và sẽ không có vấn đề tự động mà bước vào cho bất kỳ người nào.  Một số người Do Thái sẽ bị loại ra, thay thế vào chỗ của họ là nhiều người ngoại bang từ khắp nơi trên thế giới bên cạnh các thánh đồ trong thời Cựu Ước.  Những người nghĩ rằng mình phải là người đầu tiên sẽ nhận ra rằng mình đang bị đặt ở vị trí cuối cùng.  Một lần nữa bài học về sự cần thiết phải ăn năn (các chương 12 và 13) được nhấn mạnh ở đây: sự cứu rỗi và sự phán xét không thể tách rời nhau.

(Lu 13:31-35) Bài ca thương về Giê-ru-sa-lem (23:37-39).  Một số người Pha-ri-si cảnh báo Chúa Giê-xu nên trốn khỏi lãnh thổ của Hê-rốt (nghĩa là Ga-li-lê và Bê-rê).  Chúng ta không rõ họ là những người bạn đang cảnh báo Chúa Giê-xu về mối nguy hiểm có thể xảy ra hay họ là những kẻ thù thông đồng với Hê-rốt để làm Chúa Giê-xu phải sợ mà giữ im lặng.  Dù họ là ai thì Chúa Giê-xu cũng khinh bỉ kẻ đã ám sát Giăng Báp-tít và những sự đe dọa của hắn ta.  Chồn cáo tượng trưng cho tính thủ đoạn hay có thể là sự tầm thường, đáng khinh.  Hê-rốt không thể làm hại Chúa Giê-xu vì con đường Đức Chúa Trời đã chỉ định cho Ngài dẫn đến Giê-ru-sa-lem, và tại đó vào giờ Đức Chúa Trời đã định Ngài sẽ chịu khổ.  Trong lúc này, Ngài sẽ tiếp tục công tác của Ngài và sau đó sẽ hoàn tất chương trình của Ngài với tư cách là một đấng tiên tri tại thành Giê-ru-sa-lem.  Ý nghĩ này khiến Ngài cảm thấy vô cùng buồn  bực đối với cái thành đã khăng khăng chối bỏ các sứ giả của Đức Chúa Trời và đến chung cuộc sẽ bị đặt ra ngoài Nước Trời.  Thậm chí khi đối mặt với tình yêu và lòng thương xót của Chúa Giê-xu, Giê-ru-sa-lem vẫn cứ ngang ngạnh.  Vì vậy, đền thờ của nó sẽ không còn có sự hiện diện của Đức Chúa Trời, và nó sẽ không thể nhìn biết Chúa Giê-xu cho đến khi nào nó sẵn sàng để chào đón Ngài như là Đấng Mết-si-a, hay chính Ngài sẽ đến như một vị quan toà để xét xử nó.

Chú Thích.   32  Thành ngữ ngày nay, ngày mai được hiểu theo Xu 19:10-11 hoặc Os 6:2: “hai ngày” tượng trưng cho một khoảng thời gian ngắn trước một cuộc khủng hoảng (“ngày thứ ba”).  Chúa Giê-xu bày tỏ sự quyết tâm thực hiện công tác của Ngài cho đến khi công tác ấy được hoàn thành hoặc đến khi thời gian khổ nạn xảy đến (so sánh IITi 4:7).   33  Điểm này được lặp lại, nhưng ở đây sử dụng một thành ngữ khác về thời gian.   34  Ghe phen ám chỉ rằng Chúa Giê-xu đã đến Giê-ru-sa-lem nhiều hơn một lần.   35  Phước cho được lặp lại trong Lu 19:38, nhưng ở đây nó đề cập đến sự tái lâm.

6. Chúa Giê-xu tại bàn tiệc (Lu 14:1-24)

(Lu 14:1-6) Người đàn ông mắc bệnh thủy thũng  Một bữa ăn sau buổi lễ tại nhà hội trong ngày Sa-bát đã tạo cơ hội cho Chúa Giê-xu có một bài giảng mà trong đó Ngài đã tận dụng hình ảnh của một bữa tiệc.  Tuy nhiên, trước hết Ngài chữa lành một người mắc bệnh thủy thủng (các bộ phận cơ thể bị phồng lên do tích nước trong các mô tế bào).  Phép lạ này đã làm dấy lên sự giận dữ của một đám đông cử tọa đầy lòng nghi ngờ và thù địch vì nó được thực hiện trong ngày Sa-bát.  Chúa Giê-xu tuyên bố rằng hành động của Ngài về nguyên tắc là không khác gì việc cứu một con vật bị té xuống hố.  Câu chuyện này nêu ra điểm tương đồng với câu chuyện trước đây được ghi lại trong Lu 13:11-17, và rất có thể trong nguyên bản hai câu chuyện này được kể liền nhau (giống như hai ngụ ngôn trong 13:18-20).  Tuy nhiên, điểm chính ở đây có thể nói về cách thức mà Chúa Giê-xu bày tỏ lòng thương xót đối với một vị khách không mời (so sánh c.13,21).

Trong các bản chép tay tốt nhất thì câu 5 có ghi chữ “con trai”, nhưng những bản khác ghi “bò lừa”, là chữ thích hợp với ngữ cảnh này hơn.  Điều mà Chúa Giê-xu xem là có thể được cho phép bởi luật của người Do Thái chính thống thì đã bị cấm trong những qui định khắt khe hơn của Cộng đồng người Qumran: “Trong ngày Sa-bát một con vật sinh đẻ cũng đừng giúp, và nếu nó rơi vào hồ nước hay một cái hầm, thì cứ để nó đó mà đừng kéo nó lên” (luật Đa-mách 11:13-14).  Có lẽ Chúa Giê-xu muốn nói rằng, nếu người ta sẵn lòng giúp đỡ một con vật, thì họ càng phải giúp đỡ cho con trai của mình nhiều lần hơn.

(Lu 14:7-11) Những địa vị cao trọng  Lời dạy dỗ của Chúa Giê-xu cho những vị khách không đơn giản chỉ là một lời khuyên tốt lành xét trên bình diện xã hội, như trong Ch 25:6-7.  Là một ngụ ngôn nên nó có một ý nghĩa thuộc linh.  Tiệc cưới là một biểu tượng về Nước Đức Chúa Trời và về phước hạnh thiên đàng mà mọi người đều nhận ra (15).  Câu chuyện ngụ ngôn đặt cơ sở trên việc xếp đặt chỗ ngồi của khách tại bàn tiệc theo cấp bậc và danh phận của họ.  Khách càng quan trọng sẽ đến càng trễ, và người đến sớm mà không cẩn trọng có thể bị dời đến một chỗ thấp hơn nhưng thích hợp với người ấy.  Tốt hơn hết là chọn một chỗ ngồi khiêm tốn và chờ để được mời đến một chỗ khác tốt hơn.  Vì Đức Chúa Trời tôn người khiêm nhường lên nhưng sẽ hạ thấp kẻ kiêu ngạo (động từ ở thể bị động sẽ bị hạ xuống, được nhắc lên trong câu 11 được dùng khi Đức Chúa Trời làm chủ ngữ ở thể chủ động: “bị (Đức Chúa Trời) hạ xuống, “được (Đức Chúa Trời) nhắc lên”).  Dĩ nhiên Chúa Giê-xu không phải đang khen ngợi thái độ giả hình cố ý ngồi vào chỗ thấp để sau đó được mời lên chỗ cao trọng hơn.

(Lu 14:12-14) Sự chọn lựa khách mời  Lời khuyên thẳng thắn này phù hợp với những điều mà Chúa Giê-xu đã nói ở những chỗ khác về những việc làm sẽ nhận được phần thưởng trong đời này (Mat 6:1-2,5,16).  Người ta nên làm những công việc mà Đức Chúa Trời sẽ ban thưởng cho.  Nhưng điều này có thể bị hiểu sai lệch đi.

Một mặt, không phải Chúa Giê-xu đang chỉ trích việc tổ chức một bữa tiệc cho gia đình hoặc bạn hữu chính Ngài cũng đã đến dự các bữa tiệc như thế (Gi 2:1-11).  Cách diễn đạt “đừng làm việc này mà phải làm việc kia” đôi lúc được dùng (như trong trường hợp này) với ý nghĩa: “Đừng (chỉ) làm việc này mà (lẽ ra và cũng) phải làm việc kia”.  Chúa Giê-xu đang chỉ trích thái độ làm việc chủ yếu là để được phần thưởng về đời này.

Mặt khác, Ngài không nói rằng chúng ta làm điều thiện chỉ đơn thuần là để nhận được phần thưởng tốt hơn và bền vững hơn ở thiên đàng.  Đó cũng là một thái độ tự tư tự lợi! Chúng ta phải làm điều tốt cho người không thể trả lại cho chúng ta bất kỳ điều gì còn vấn đề về sự thừa nhận và phần thưởng sẽ thuộc về Đức Chúa Trời.

Kẻ công bình sống lại không có nghĩa là kẻ không công bình không sống lại để chịu sự phán xét (Cong 24:15).  Tuy nhiên, sự sống lại đối với người công bình mới có tính tích cực.

(Lu 14:15-24) Bữa yến tiệc trên Thiên Đàng (so sánh Mat 22:1-10).  Việc đề cập đến sự sống lại khiến một trong các vị khách đưa ra lời nhận xét về tình huống vui mừng của những người được tham dự bữa yến tiệc trên Thiên Đàng.  Để đáp lại, Chúa Giê-xu đã nêu lên vấn đề về những hạng người sẽ được mời đến dự tiệc.  Việc mời khách hai lần (16-17) là nét đặc trưng của tập tục thời cổ.  Những lời từ chối được đưa ra có vẻ như không thỏa đáng đối với người nghe, là những người có thể đã rất thích thú với tính hài hước của câu chuyện, cho đến khi họ nhận ra rằng trong cái nhìn của Chúa Giê-xu, đây chính là cách thức mà họ đang đối xử với lời mời gọi của Đức Chúa Trời dành cho họ.  Vì thế, việc đưa ra một lời nhận xét có tính ngoan đạo như trong câu 15 thì rất dễ nhưng điều quan trọng là người ta đã tiếp nhận lời mời của Đức Chúa Trời hay chưa.  Tuy nhiên, câu chuyện vẫn được tiếp tục để bày tỏ ra cách thức mà Đức Chúa Trời đã mời gọi những người không có địa vị trong xã hội như thế nào.  Chúa Giê-xu biện minh cho chính mình về việc Ngài đã đem Phúc Âm đến cho “các người thâu thuế và người có tội” (Lu 15:1-32).

Trong Mat 22:1-10 cũng có một câu chuyện tương tự ở đây, điều này đặt ra vấn đề là phải chăng ban đầu Chúa Giê-xu chỉ kể một câu chuyện ngụ ngôn và sau đó các môn đồ đã khai triển thành hai câu chuyện có hình thức khác nhau, hay là Ngài đã kể hai câu chuyện ngụ ngôn tương tự nhau.  Dù theo cách nào thì chúng ta cũng nên đặt câu hỏi là đặc điểm cụ thể của mỗi câu chuyện là gì.

Chú Thích.  Một câu chuyện của người Do Thái, xảy ra ít nhất là vào thế kỷ thứ 5 T.C., và có thể đã căn cứ trên truyền thống ban đầu, kể về một người thâu thuế đầy tham vọng muốn có được địa vị xã hội với những người quí tộc bằng cách mời họ vào ăn tối với mình nhưng đã bị từ chối thẳng thừng.  Cho nên để không lãng phí đồ ăn ông ta đã mời những người nghèo thay vào đó.  Nếu như câu chuyện này được biết đến trong thời của Chúa Giê-xu thì câu chuyện ngụ ngôn của Ngài thật là một điều thú vị.  16,17,23  Có thể có những ám chỉ có ngụ ý về những lời mời gọi của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước, rồi qua Chúa Giê-xu đến với người Do Thái, và cuối cùng đến với dân ngoại.

(Lu 14:25-35) Giá trả của việc làm môn đồ (so sánh 10:37-38  5:13  Mac 9:50).  Trước khi đi thẳng vào chủ đề “Phúc Âm cho người ngoại” đã được báo trước trong câu 21-24, Chúa Giê-xu đã chỉ ra những yêu cầu nghiêm ngặt đi kèm với lời mời của Ngài để đến dự bữa tiệc của Đức Chúa Trời.  Làm môn đồ có nghĩa là sẵn sàng đặt những tôn chỉ của mình lên trên những yêu cầu của gia đình và bản thân.  Các môn đồ phải sẵn sàng từ bỏ mình hoàn toàn dù vác thập tự giá mình có thể hiểu theo nghĩa đen là sẵn sàng tử vì đạo, hay theo nghĩa ẩn dụ là “chết” đi mọi ước muốn cá nhân mình.  Người ta phải trả giá bao gồm cả việc nói “Không” với bản thân mình trước khi bắt đầu một quá trình mà có thể họ không theo đến cùng được.  Thật là dại dột cho người xây nhà mà bỏ dở nửa chừng vì hết tiền do không tính toán chi phí trước.  Người chỉ huy quân đội nào không liệu trước sức mạnh của quân đội mình trước khi giao chiến với kẻ thù thì cũng dại dột như vậy.  Người môn đồ nào bỏ cuộc nửa chừng vì việc đi theo Chúa là quá nặng nhọc thì cũng giống như muối mất mặn và không còn thích hợp để làm gia vị cho thức ăn nữa, hay thậm chí sẽ trở nên vô dụng trên đất và người ta không thể sử dụng nó được nữa.

Chú Thích.   26  Ghét nghĩa là “yêu ít hơn”.   27  Đóng đinh là một sự kiện khá phổ biến tại xứ Giu-đê, do đó, người ta sẽ hiểu ngay điều Chúa Giê-xu muốn nói (so sánh Lu 9:23).   34  Hỗn hợp muối không tinh khiết có thể mất đi vị mặn và trở nên vô dụng.  Tuy nhiên, muối thường làm cho đất cằn cỗi nên chúng ta không hiểu Chúa Giê-xu có ý nói về điều gì, có lẽ Ngài muốn đề cập đến việc dùng muối để diệt cỏ dại hoặc làm chậm quá trình lên men của phân.

7. Phúc Âm cho những người bị xã hội ruồng bỏ (Lu 15:1-32)

(Lu 15:1-10) Con chiên lạc đồng bạc bị mất (so sánh Mat 18:12-14).  Việc Chúa Giê-xu giao du với những thành phần trong xã hội mà những người Pha-ri-si thường cho là tội lỗi và không biết ăn năn đã dẫn đến sự chỉ trích không dứt.  “Một người chớ nên giao du với kẻ ác, thậm chí không thể đem họ đến với Luật pháp” là câu nói sau này của các rabi và nó đã khái quát được thái độ của những người Pha-ri-si.  Chúa Giê-xu đã biện hộ cho Ngài qua việc nói về nhu cầu của những con người này (Lu 5:31-32).  Trong ngụ ngôn về bữa yến tiệc trên thiên đàng Ngài còn tuyên bố rằng Ngài sẽ chuyển lời mời của Đức Chúa Trời đến cho những con người ấy hơn là cho những người có đạo nhưng lại từ chối lời mời ấy.  Vấn đề này đã được luận bàn một cách thỏa đáng qua ba câu chuyện ngụ ngôn bởi chúng đã đưa ra một lý do quan trọng hơn hết tất cả các lý do.  Đức Chúa Trời sẽ vui mừng khi một người hư mất lại được phục hồi, và vì vậy ước muốn trên hết của Chúa Giê-xu là tìm và cứu kẻ bị hư mất (19:10).  Thái độ này của Đức Chúa Trời được minh họa bởi việc người chăn chiên sẵn lòng lên núi tìm kiếm, để không có thậm chí một con chiên bị lạc bầy mình.  Có thể có những người chăn chiên thực sự hỏi rằng: “Một con chiên lạc liệu có quan trọng gì so với chín mươi chín con được an toàn trong ràng?” và họ bỏ qua giá trị của mỗi cá nhân.  Nhưng Đức Chúa Trời thì không như thế.  Ngài càng vui mừng hơn (nếu điều đó là có thể) về sự trở lại của kẻ bị lạc mất hơn là về sự an toàn của những kẻ đã ở trong nhà.  Cũng vậy, một bà nội trợ sẽ mời bạn bè cùng vui mừng với mình khi bà ấy tìm được đồng bạc bị mất.  Điều này ám chỉ rằng, cũng theo cách thức đó, người Pha-ri-si phải cùng chia sẻ sự vui mừng của Đức Chúa Trời những người bị xã hội ruồng bỏ đã được cứu.

Chú Thích.   3-7  Trong Mat 18:12-14, câu chuyện ngụ ngôn về con chiên lạc là một bài học để qua đó các môn đồ phải biết quan tâm chăm sóc cho những thành viên yếu đuối trong bầy của Đức Chúa Trời.   7,10  Trên trời cũng sẽ vui mừngtrước mặt thiên sứ là những cách bày tỏ rằng chính Đức Chúa Trời vui mừng, nhưng đồng thời cũng cho thấy rằng dân sự của Đức Chúa Trời cũng dự phần trong niềm vui của Ngài.   8  Việc mô tả người đàn bà thắp đèn và quét nhà chứng tỏ rằng bà là người rất nghèo, phải sống trong một ngôi nhà ở vùng nông thôn có cửa ra vào thấp và không có cửa sổ.

(Lu 15:11-32) Đứa con trai hoang đàng  Ngụ ngôn thứ ba nêu ra vấn đề tương tự qua một câu chuyện dài hơn.  Nhân vật chính thực ra là người cha, ông ta đã minh họa một cách rõ nét đặc tính của Đức Chúa Trời (dù chính Đức Chúa Trời cũng xuất hiện trong câu chuyện này, so sánh câu 18).

Theo tình huống của câu chuyện thì tài sản ở đây có thể được để lại theo yêu cầu hoặc như một sự ban cho trong suốt cuộc đời của một người.  Người con trai thứ đã đòi hỏi ngay lập tức quyền được hưởng tài sản đối với phần chia của mình (khoảng một phần ba) số tài sản của cha, là phần mà anh ta sẽ được thừa hưởng sau khi cha qua đời.  Người con trai lớn vẫn ở lại nhà, còn người cha vẫn giữ quyền trên phần gia sản mình.  Tuy nhiên, người con trai thứ đã bán phần tài sản của mình lấy tiền, rồi bỏ nhà ra đi để hưởng thụ số tiền ấy và ở ngoài sự kiểm soát của người cha.  Lối sống xa hoa phóng đãng đã khiến anh ta phải lâm vào cảnh bần cùng cơ cực, và những người bạn giúp anh ta trong việc tiêu tiền nay đã biến mất.  Anh ta chỉ có thể tìm được một công việc vô cùng thấp hèn và cực nhọc, đặc biệt là đối với người Do Thái, heo được xem như là loài vật  dơ bẩn.  Anh ta hẳn phải chịu bù đắp cho số tiền công ít ỏi của mình bằng cách lấy cả vỏ đậu dành cho heo để ăn, nhưng (điều được ám chỉ) anh ta cũng rất kinh tởm khi làm điều đó.  Tình cảnh tuyệt vọng đã khiến anh ta ăn năn.  Anh ta không những nhận ra rằng đã phí phạm cuộc đời mình mà còn thấy rằng anh ta không đáng để được gọi là con của cha mình, anh ta chỉ có thể được làm một tên đầy tớ, và anh ta sẵn sàng hạ mình xuống để được phép vào lại nhà ở địa vị ấy. 

Tuy nhiên, trước khi anh ta về đến nhà thì cha của anh đã luôn mong chờ ngày anh trở về, và trước khi anh có thể thốt ra mọi lời xưng tội như dự định thì cha anh đã chào đón anh trở lại với gia đình, đối xử với anh một cách trang trọng, và ra lệnh làm tiệc mừng đón sự trở về của người con tưởng như đã chết.

Có một người, là người anh, đã từ chối tham dự vào bữa tiệc và giận dữ với sự chào đón nồng hậu ấy.  Anh ta buộc tội người cha là không đối xử với anh ta theo cách thức thoải mái và vui vẻ tương tự, chỉ để được nhắc lại rằng mọi thứ có trong nhà đều thuộc về anh ta.  Một người có thể bị lạc mất ngay khi anh ta đang ở tại nhà mình.

Một câu hỏi quan trọng vẫn còn chưa được trả lời: Liệu cuối cùng rồi người anh có dự phần vào sự đón tiếp đứa em trở về của mình hay không? Câu trả lời không được nêu ra chắc chắn là có chủ ý, vì người anh đại diện cho những người Pha-ri-si và tất cả những người giống như họ, và câu chuyện ngụ ngôn này là một lời kêu gọi họ phải thay đổi cách nghĩ đối với những người thấp kém bị ruồng bỏ trong xã hội.

Mặc dù cao điểm của ngụ ngôn dừng lại tại câu hỏi này, nhưng trọng tâm của sự chú ý chính là tình yêu mang tính tha thứ của Đức Chúa Trời mà lẽ ra đã phải làm những người Pha-ri-si cảm thấy hổ thẹn để rồi có sự đáp ứng tích cực.  Câu chuyện không nói gì về việc Ngài tìm kiếm những kẻ hư mất (Lu 15:3-10) hay về nhu cầu phải xưng nhận tội lỗi, nhưng đây là một câu chuyện ngụ ngôn, không phải một bài giảng chi tiết, và các phương diện khác nói về tình yêu tìm kiếm và hi sinh của Đức Chúa Trời đã được giảng dạy khá đầy đủ trong các phân đoạn khác.

Chú Thích.   18  Trời ở đây là Đức Chúa Trời.  Sự ăn năn của người con theo cách nào đi nữa cũng không phải là thiếu chân thành, dù chỉ bởi tuyệt vọng cay đắng mới đem anh ta đến sự xưng nhận này.   22  Những vật ban cho này là dấu hiệu của sự tôn trọng và uy quyền.  Giày tượng trưng cho đặc quyền của một người tự do, chớ không phải là người nô lệ.   29-30  Những lời phàn nàn của người anh được diễn tả trong ngôn ngữ cường điệu.  Anh ta không thể ép mình để nói “em tôi”, nhưng đã nói một cách cay đắng là đứa con của cha kia.

8. Lời cảnh báo về của cải (Lu 16:1-31)

Sau khi bày tỏ mối quan tâm đối với người nghèo và những người bị xã hội ruồng bỏ, Chúa Giê-xu nêu ra một vài lời cảnh báo về sự ham lợi và của cải (14,19) nhằm vào những người có nguy cơ không đáp ứng với Phúc Âm trước khi đã quá muộn.  Trong bất kỳ trường hợp nào, lẽ ra họ phải lắng nghe theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh Cựu Ước về đạo đức luật của Đức Chúa Trời, là đạo luật có hiệu lực bất biến.  Những câu nói về những người này và các chủ đề liên quan đã được tập hợp lại để cho chương sách này cũng đề cập đến thái độ của môn đồ đối với sự giàu có.

(Lu 16:1-9) Người quản gia khôn khéo  Người quản gia ở đây đã được một người giàu có thuê mướn để coi sóc nhà cửa và gia sản cho người ấy, nhưng anh ta bị nghi ngờ là đã quản lý công việc tồi và cũng có thể là do không thật thà.  Khi thấy mình có nguy cơ bị đuổi việc, anh ta đã gọi các con nợ của chủ đến và cho phép họ ghi vào giấy hẹn trả nợ những con số thấp hơn con số mà họ đã hứa trả.  Việc này sẽ khiến họ cảm thấy mang ơn anh ta và có lẽ sẽ giúp anh ta khi anh ta mất việc.  Anh ta đã hành động thật khôn khéo vì lợi ích riêng của mình.

Sứ điệp của ngụ ngôn này đã được đem ra bàn cãi.  Có thể đơn giản là nó có ý muốn khuyên người ta phải chuẩn bị cho sự khó khăn xảy đến bởi sự giảng dạy của Chúa Giê-xu, với sự nhiệt tình và thận trọng như người quản gia này.  Mặc khác, lời bình phẩm bổ sung của Chúa Giê-xu rằng người thế gian thể hiện nhiều sự khôn khéo hơn là những người thuộc về Đức Chúa Trời có thể cho thấy rằng ngụ ngôn này nhằm vào các môn đồ (8), hoặc những người Pha-ri-si là những người mà bởi lòng tham, họ sẽ bị loại ra khỏi tình bằng hữu với Đức Chúa Trời (14 so sánh Lu 11:39-41).  Khi đó, điều mà ngụ ngôn muốn nói là người ta phải học hỏi người quản gia này và phải dùng sự giàu có của mình để kết bạn với Đức Chúa Trời, để cho khi tiền bạc không còn giúp họ được nữa thì Đức Chúa Trời sẽ tiếp họ vào trong sự hiện diện của Ngài (9).  Khả năng thứ ba là thực ra, người quản gia trong câu chuyện này đã không hành động một cách bất lương.  Trái lại, có thể ông ta đang giải cho các con nợ khỏi những khoản lãi rất cao mà họ phải chịu (một cách hoàn toàn phi pháp) khi vay tiền.  Nếu như vậy thì sứ điệp của ngụ ngôn này cho biết rằng việc giữ luật pháp và thể hiện tính hào phóng là những cách mà người giàu có thể thực hiện để Đức Chúa Trời trở nên bạn hữu của họ.

Chúng ta không thể loại bỏ một cách giải thích nào trong những cách giải thích nêu trên.  Thực tế, câu chuyện ngụ ngôn này có thể có một vài điểm quan trọng khác nhau, và câu 8b-13 đã nêu rõ các vấn đề này.

Chú Thích.   6-7  Vì dầu rẻ hơn lúa nên sự giảm nợ gần như tương đương nhau.   8-9  Chủ có thể là chủ của người quản gia hoặc là chính Chúa Giê-xu (từ Hi Lạp là kyrios, nghĩa là ‘Chúa’).  Người quản gia được khen về tính khôn khéo chớ không nhất thiết là về tính đạo đức của anh ta.  Bất nghĩađời này tiêu biểu cho con người và tiền bạc (nghĩa đen là Ma-môn – thần tài) của thời đại xấu xa hiện tại.

(Lu 16:10-13) Người đầy tớ trung tín (Mat 6:24).  Tiếp theo sau đó là các nguyên tắc chung về cương vị của người quản gia, tức là việc coi sóc những gì mà người khác đã giao phó cho bạn để gìn giữ cẩn thận.

Trước hết, việc người ta giữ một số tiền nhỏ như thế nào sẽ cho biết họ trông coi số tiền lớn như thế nào (10).  Nếu là những người quản gia về tiền bạc tồi thì họ sẽ khó được giao cho của cải thuộc linh là thứ có giá trị và quan trọng hơn rất nhiều (11).

Hai là, nếu người ta không thể sử dụng hợp lý một khoản nào đó đã được tin cậy giao cho họ, là khoản mà họ còn cần phải báo cáo lại, thì họ sẽ không được ban cho của cải riêng  để sử dụng theo ý thích của họ (12).

Ba là, yêu cầu của Đức Chúa Trời về vấn đề của cải là rất rõ ràng (13).  Ý tưởng  về sự nô lệ trong thời cổ không thể chấp nhận được kiểu làm việc hoặc kiểu cống hiến của một người mà buổi sáng làm việc cho một người chủ và buổi chiều lại làm cho một người chủ khác.

(Lu 16:14-18) Người Pha-ri-si luật pháp (so sánh 11:12-13  5:18,32).  Những người muốn kết hợp việc làm giàu và việc tin kính lại với nhau không thích sự dạy dỗ như thế.  Chúa Giê-xu phải cảnh báo họ rằng trong khi có thể họ đang thành công trong việc thuyết phục con người rằng họ là những người tin kính, thì thực tế, lòng tham giấu kín của họ là rõ ràng đối với Đức Chúa Trời và nó thật là ghê tởm trước mặt của Ngài.

Câu 16-18 đáp lại sự phản đối cho rằng sứ điệp của Chúa Giê-xu và các môn đồ Ngài biến luật pháp trong Cựu Ước và các tiêu chuẩn đạo đức của nó thành ra lỗi lời.  Chúa Giê-xu bác bỏ lời chỉ trích ấy vì ý chỉ của Đức Chúa Trời vẫn được bày tỏ trong Cựu Ước (29).  Chắc chắn thời đại luật pháp và các tiên tri đã chấm dứt và nay thời đại mới của Nước Trời đã đến.  Nhưng điều này không có nghĩa là luật pháp đã không còn hiệu lực nữa.  Một ví dụ cụ thể được nêu ra: việc tái hôn sau khi ly dị là phạm tội tà dâm.  Ví dụ này thực sự khiến cho các qui định của luật pháp trở nên mạnh mẽ hơn.  Người Do Thái nghĩ về sự tà dâm như là một tội gây ra bởi người đàn bà đối với chồng mình hoặc bởi một người đàn ông đối với một người đàn ông khác, nhưng Chúa Giê-xu dạy rằng một người đàn ông có thể phạm tội tà dâm đối với một người đàn bà và vì thế đã phạm tội đối với cô ta.

Chú Thích.   16  Cách viết của Lu-ca về câu nói này có lẽ là một sự cố gắng của ông nhằm làm rõ cụm từ khó hiểu trong (11:12): “Nước thiên đàng bị hãm ép”.  Ai nấy dùng sức mạnh vào đó có lẽ đề cập đến việc những người bình thường muốn vào Nước Thiên đàng hơn là nói đến ma quỉ hoặc những người chống đối Thiên đàng một cách mạnh mẽ, hoặc đến Xê-lốt trong việc cố gắng thúc giục Đức Chúa Trời hành động nhanh chóng hơn.

(Lu 16:19-31) Người nhà giàu La-xa-  Câu chuyện ngụ ngôn ngụ ý rằng người nhà giàu hiếm khi làm điều gì để giảm bớt sự khổ sở và suy yếu cùng cực của người ăn mày.  Chó ở ngoài đường là những con vật không sạch và vì vậy sẽ đặc biệt gây khó chịu.  Chúng ta phải suy ra rằng La-xa- (“là kẻ Đức Chúa Trời giúp đỡ”) là một người ngoan đạo.

Người ăn mày tìm thấy một chỗ vinh dự bên cạnh Áp-ra-ham, tổ phụ của dân tộc Do Thái và là bạn của Đức Chúa Trời.  Người giàu bị ở nơi âm phủ (Hades) trong sự khốn khổ.  Ông ta gọi Áp-ra-ham là “tổ” và cầu xin lòng thương xót, nhưng dù Áp-ra-ham gọi ông ta là “con”, nhưng người cũng không cho ông ta niềm hi vọng nào.

Cho đến lúc này câu chuyện vẫn đang đi theo những chiều hướng truyền thống, nhưng nay đã có một yếu tố mới.  Liệu những người anh em giàu có của người đàn ông này, cũng là những người giàu có và không cẩn trọng, có được cảnh báo trước khi bị đày xuống âm phủ hay chưa? Câu trả lời được đưa ra là sự dạy dỗ mà họ đã có trong Cựu Ước là đủ.  Thậm chí người từ cõi chết sống lại cũng không thể làm ảnh hưởng  đến những người đã bịt tai lại với lời của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh.  Việc không có tình yêu thương và lòng thương xót theo mạng lệnh trong Cựu Ước sẽ dẫn đến sự hư mất trong đời sau.

Câu chuyện này là một ngụ ngôn, vì không nhất thiết phải đưa ra những thông tin theo nghĩa đen về những điều kiện sẽ xảy ra trong đời sau.  Theo niềm tin của người Do Thái thì “Hades” là nơi ở của những kẻ chết, và không rõ là Chúa Giê-xu đang đề cập đến thời điểm trước hay sau sự phán xét cuối cùng.  Thế nhưng, sự ám chỉ rõ ràng là số phận của người nhà giàu cuối cùng đã được ấn định.  Mặc dù rõ ràng là ngôn ngữ có tính chất tượng trưng khi nói về việc người nghèo ở bên cạnh Áp-ra-ham, nhưng nó đã nói đến số phận thật sự của con người.

9. Việc giảng dạy các môn đồ (Lu 17:1-19)

(Lu 17:1-4) Đá vấp chân (so sánh Mat 18:6-7,15,21-22  Mac 9:42).  Là sự dạy dỗ đầu tiên trong nhóm các lời dạy dành cho các môn đồ, phần này nói về những điều gây cho người ta phạm tội (các bản cũ ghi là “những hòn đá vấp chơn”).  Mặc dù đây là những điều không thể tránh khỏi trong thế giới hiện tại, tuy vậy, Chúa Giê-xu đã cảnh báo các môn đồ một cách nghiêm khắc về việc gây cho người khác phạm tội, chẳng hạn như cám dỗ hoặc nêu gương xấu cho họ.  Những người như thế tốt hơn là bị chìm xuống biển trước khi họ làm hành vi xấu còn hơn là chịu số phận dành cho kẻ cám dỗ.  Trái lại, các môn đồ phải giúp thành viên nào trong nhóm của mình nhưng đã phạm tội bằng cách chứng minh cho họ thấy rằng họ sai trật và bằng cách sẵn sàng tha thứ cho họ, dù cho có xảy ra bao nhiêu lần như thế cũng là điều cần thiết.

(Lu 17:5-6) Quyền năng của đức tin (so sánh Mat 17:20  Mac 11:22-23).  Chúa Giê-xu khen ngợi sự ước muốn cho được lượng đức tin cần thiết để giúp các môn đồ có thể vâng theo mạng lệnh Ngài, ngay cả một “lượng” nhỏ đức tin cũng có thể làm nên điều kỳ diệu.  Xin thêm đức tin cho chúng tôi có thể đơn giản là “xin cho chúng tôi đức tin”.  Chúng ta không nên hiểu câu nói về cây dâu theo nghĩa đen.

(Lu 17:7-10) Bổn phận  Những người đầy tớ sau khi đã làm xong bổn phận của mình không có quyền đòi hỏi thêm bất cứ điều gì ngoài số tiền công đã thỏa thuận, và (đầy tớ) ích được hiểu là họ không có gì để khoe khoang.  Ở một phân đoạn khác Chúa Giê-xu đã dạy dỗ và thực hiện một thái độ khác qua việc chính Ngài phục vụ cho các môn đồ (Gi 13:1-16 so sánh lời dạy trong Lu 12:35-38  22:27).  Điều này cho thấy ở đây Chúa Giê-xu không dạy rằng Đức Chúa Trời cư xử với chúng ta theo luật pháp và bổn phận hơn là theo ân điển và đức tin.  Trái lại, Ngài đang dạy một bài học cần thiết cho tất cả những ai bị cám dỗ để cảm thấy hãnh diện về đức tin hoặc về việc lành mà mình đã làm cho Đức Chúa Trời.

Việc Chúa Giê-xu dùng hình ảnh minh họa về sự nô lệ không chứng minh rằng Ngài ủng hộ thể chế nô lệ nhưng điều này cũng giống như việc Ngài khen ngợi sự bất nghĩa của người quản gia trong (Lu 16:8).

(Lu 17:11-19)  Người Sa-ma-ri lòng biết ơn  Khi một số người phung đến xin Chúa Giê-xu chữa lành, Ngài chỉ bảo họ hãy đi và tỏ mình ra cùng một thầy tế lễ (5:14).  Điều được ngụ ý ở đây là đức tin của họ sẽ được chứng minh bởi sự vâng lời và sẽ đưa dến sự lành bịnh của họ.  Tất cả những người đó đã thể hiện đức tin và đã được lành, nhưng chỉ có một người dừng lại để ngợi khen Đức Chúa Trời và cám ơn Chúa Giê-xu về đã chữa lành cho anh ta.  Chúa Giê-xu đưa ra lời nhận xét về sự vô ơn của những người kia (tất cả đều được xem là người Do Thái), và xác nhận rằng đức tin của người Sa-ma-ri đã làm cho anh ta mạnh khoẻ cả về thể xác lẫn linh hồn.  Câu chuyện vừa là một sự minh họa cho đức tin làm nên điều kỳ diệu (so sánh câu 6), vừa là một bài học về sự cần thiết phải có lòng biết ơn như là một yếu tố của đức tin.

Chú Thích.   11  Nơi xảy ra câu chuyện nằm ở vùng biên giới đã giải thích lý do mà nhóm những người này có nhiều chủng tộc.  Tuy nhiên, vùng địa lý thì không rõ là ở đâu.  Có thể là Ga-li- ở đây bao gồm cả Bê-rê là vùng phía Đông sông Giô-đanh cũng do vua Hê-rốt cai trị.

10. Sự đến của Con Người (Lu 17:20-18:8)

(Lu 17:20-37)  Nước Đức Chúa Trời Con Người (so sánh Mat 24:23-28,37-41).  Chúa Giê-xu đã nói về sự đến của Nước Trời và của Con Người (Lu 9:26  10:9,11  12:40).  Việc hỏi rằng khi nào những sự kiện này sẽ xảy ra là một điều tự nhiên.  Cần phải có những điềm báo trước khi nào sự cuối cùng sẽ xảy đến để người ta có thể chuẩn bị chính mình cho điều ấy hoặc để có hy vọng với suy nghĩ là nó không còn quá xa.

Chúa Giê-xu trả lời rằng sự đến của Nước Trời sẽ không đi kèm với những dấu hiệu có thể quan sát được.  Người ta sẽ không thể nói trước được rằng: “Nó ở đây”.  Phần tiếp theo trong câu nói của Chúa Giê-xu không phải là dễ hiểu.  Một số bản dịch là Nước Đức Chúa Trời trong các ngươi.  Cách dịch này không thích hợp không phải vì Nước Trời không ở trong những người Pha-ri-si đã đưa ra câu hỏi ấy nhưng đúng hơn là vì Chúa Giê-xu không nói về Nước Trời như là một kinh nghiệm thuộc linh bên trong ở một nơi nào khác trong Kinh Thánh.  “Giữa vòng các ngươi” là một cách dịch tốt hơn, nhóm từ này khi ấy có nghĩa là “trong sự hiểu biết của các ngươi”.  Mặc dù Chúa Giê-xu dùng từ với thì hiện tại nhưng một số người cho rằng thực ra Ngài đang nói về tương lai.  Điều này cũng không chắc chắn vì ở những chỗ khác Chúa Giê-xu nói về Nước Trời là ở trong hiện tại (11:20) cũng như trong tương lai.  Nước Đức Chúa Trời thực sự đang ở giữa vòng người những người nghe Chúa Giê-xu để họ có thể hiểu được.

Chúa Giê-xu sau đó nhìn về tương lai và nói về cách thức mà Đức Chúa Trời sẽ bất ngờ can thiệp vào lịch sử một lần nữa cũng không có những dấu hiệu báo trước.  Người ta sẽ mong mỏi được thấy thời điểm mà Con Người và kỷ nguyên mới sẽ đến mà không nghi ngờ gì điều này một phần là do sự đau khổ mà họ phải gánh chịu trong thế gian này.  Trong tình hình này họ có thể bị lừa dối bởi các dấu hiệu giả.  Khi Con Người đến thì sự đến vinh quang của Ngài là đủ rõ cho mọi người nhận ra điều gì đang xảy ra trong sự tương phản rõ nét với sự chịu khổ và khiêm nhường mà trước hết Ngài phải gánh chịu như là một bước cần thiết trên con đường đi đến chiến thắng vinh quang.  Điều này sẽ đến như là một điều đáng kinh ngạc và là một điều không dễ chịu cho thế giới nói chung, và vì thế người ta phải sẵn sàng cho điều ấy.  Giống như cơn nước lụt đã từng ập đến thế gian và lửa đổ xuống Sô-đôm một cách bất ngờ, dù đã được Nô-ê và Lót cho biết trước (IIPhi 2:5-8), thì sự việc cũng sẽ xảy ra như vậy khi Con Người đến trong sự phán xét.  Khi ấy sẽ quá trễ để người ta có thể trốn thoát được, vì vậy họ phải cẩn trọng về sự kết hiệp với thế gian và hãy nhớ lại kinh nghiệm khủng khiếp của vợ Lót.  Chỉ những người từ bỏ việc sống cho chính mình mới thoát  khỏi sự phán xét.  Sẽ có sự phân cách giữa các thành viên trong cùng một gia đình và giữa những người cùng làm việc với nhau.  Khi được hỏi việc ấy sẽ xảy ra ở đâu thì Chúa Giê-xu đã không nhượng bộ những người chỉ muốn có được một tấm bản đồ cũng như một thời biểu khi giờ ấy đến thì việc Con Người ở đâu sẽ rất rõ ràng, cũng giống như chỗ nào có xác chết trong sa mạc thì sẽ có chim quạ bu đậu lại trên đó.

Chú Thích.   20  Người ta cho rằng việc Chúa Giê-xu cảnh báo về việc muốn biết các dấu hiệu là không phù hợp với Lu 21:5-36.  Tuy nhiên điều này là do có sự hiểu sai về phân đoạn Kinh Thánh sau này (và các phần tương ứng trong Mat 24:1-51 và Mac 13:1-37).  Chúa Giê-xu phán dạy một cách rõ ràng là sẽ không có các dấu hiệu chắc chắn nào và người ta phải luôn luôn cảnh giác.   22  Ngày của Con Người có lẽ đề cập đến giai đoạn ngay trước khi Ngài đến.   36  Người ta đã bỏ qua câu này trong các bản chép tay tốt nhất, và nó đã được thêm vào bởi các nhà sao chép bản thảo là những người vốn quen thuộc với Mat 24:40.

(Lu 18:1-8). Vị quan án không công bình  Ngụ ngôn này thực sự là phần kết thúc của bài giảng về tương lai trong Lu 17:20-37.  Giống như câu chuyện ngụ ngôn tương tự trong 11:5-8, câu chuyện này nêu lên điểm trọng tâm của nó không phải bởi việc so sánh Đức Chúa Trời với vị quan án bất công nhưng bằng cách nêu lên sự tương phản.  Có lẽ người đàn bà đang thưa với vị quan án vụ kiện về tài chính và ông ta đã từ chối lắng nghe vì ông ta chờ được hối lộ tuy nhiên bà ta quá nghèo để có thể hối lộ cho ông ta, và sự dai dẳng là thứ vũ khí duy nhất của bà.  Nếu ngay cả một vị quan án không tôn trọng luật pháp của Đức Chúa Trời và con người mà lại có thể bị khiến phải hành động bởi những lời kêu nài không dứt của một bà góa thì Đức Chúa Trời sẽ hành động còn nhiều hơn nữa để nâng đỡ dân Ngài khi họ kêu cầu cùng Ngài.

Trong câu 7, những người đã được chọn của Đức Chúa Trời là những người đã nghe lời kêu gọi của Ngài và đã đáp ứng lại.  Ở đây họ ở trong một tình cảnh bị bắt bớ và đang mong chờ Đức Chúa Trời tỏ cho biết rằng họ thuộc về lẽ phải.  Họ cầu xin rằng: “Nguyện Nước Ngài được đến”.  Câu nói Ngài chậm chạp đến cứu họ sao? gợi ý rằng Đức Chúa Trời có thể dường như cứng rắn và không trả lời cho lời cầu nguyện của họ nhưng thực tế là Ngài chắc chắn sẽ đáp lời cầu nguyện của họ mà không cần phải thúc giục Ngài.  Ngài sẽ nhanh chóng nâng đỡ dân Ngài.  Câu hỏi thực sự quan trọng không phải là Đức Chúa Trời có đáp lời cầu xin hay không, mà là liệu sẽ có những người thành tín đã kiên trì cầu nguyện và không mất hi vọng khi Con Người đến hay không.  Câu chuyện ngụ ngôn thực sự là một lời khích lệ để tiếp tục trong sự cầu nguyện mà không mất đi lòng can đảm qua những lúc khó khăn chờ đợi trước khi Con Người đến.  Để biết thêm về sự tương ứng đáng chú ý, xin xem Ecclus. 35:14-19.

11. Phạm vi của sự cứu rỗi (Lu 18:9-19:10)

Chủ đề chung trong phần này của sách Phúc Âm là về sự cứu rỗi được ban cho những con người thường được xem là đã bị loại ra khỏi sự cứu rỗi ấy.

(Lu 18:9-14) Người Pha-ri-si người thu thuế  Cũng như câu chuyện ngụ ngôn trước, ngụ ngôn này cũng là về sự cầu nguyện, nhưng nó thực sự nói đến một chủ đề rộng hơn.  Hai người cầu nguyện ở đây phản ảnh hai loại nhân vật.  Người Pha-ri-si là một người ngoan đạo, sống lương thiện và ngay thẳng.  Ông ta làm nhiều hơn điều luật pháp qui định.  Ông ta kiêng ăn một tuần hai lần vào các ngày thứ Hai và thứ Năm mặc dù luật pháp chỉ yêu cầu người ta kiêng ăn mỗi năm một lần vào Ngày lễ Chuộc tội.  Ông ta nộp một phần mười về mọi khoản thu nhập của ông ta chớ không chỉ trên những phần thu nhập qui định.  Nhưng ông ta đã đứng tại một nơi dễ thấy mà cầu nguyện, ông ta tự khen ngợi mình về lòng sốt sắng (lời cầu nguyện của ông ta luôn luôn là về “tôi”), ông ta xem thường những người lân cận và gợi ý với Đức Chúa Trời rằng mình không cần đến bất cứ điều gì.  Trái lại, người thu thuế đứng xa nơi thánh trong đền thờ.  Ông không dám ngước mắt lên, tay càng không dám giơ lên với Đức Chúa Trời trong khi cầu nguyện, nhưng ông chỉ biết dốc lòng xưng nhận tội lỗi mình và kêu xin sự thương xót của Đức Chúa Trời.  Chúa Giê-xu cho biết rằng ông về nhà và được xưng công bình, nghĩa là được Đức Chúa Trời chấp nhận, còn người Pha-ri-si sẽ không được Ngài chấp nhận.  Cụm từ hơn người kia (14) là quá nhẹ mà phải là “và người kia không được” mới đúng.  Ngụ ngôn này vì thế là một sự bày tỏ nữa về mối quan tâm dành cho “những người bị xã hội ruồng bỏ”.  Đức Chúa Trời luôn sẵn sàng tiếp nhận người không công bình khi họ kêu cầu Ngài, nhưng Ngài sẽ bịt tai lại với những kẻ tự mãn về các lễ nghi tôn giáo và việc lành mà tự cảm thấy mình đã quá đầy đủ.

Chắc chắn là có nhiều người Pha-ri-si thực sự tốt lành, vì vậy sẽ là sai trật nếu chúng ta gộp chung họ lại với nhau và định tội tất cả.  Nhưng việc có những người giống như người Pha-ri-si được mô tả ở đây cũng là một thực tế, và những lời cầu nguyện tương tự như lời cầu nguyện này đã được lưu truyền lại qua các nguồn tài liệu của người Do Thái.

(Lu 18:15-17) Chúa Giê-xu con trẻ (Mat 19:13-15  Mac 10:13-16).  Chỉ có Lu-ca nói về các con trẻ như những em .   ngụ ý rằng Chúa Giê-xu sẽ đặt tay trên chúng và cầu nguyện Đức Chúa Trời để chúc phước cho chúng.  Trong Mác thì điểm chính yếu của câu chuyện là Nước Đức Chúa Trời sẽ thuộc về những kẻ giống như con trẻ, và điều này được nhấn mạnh qua việc Chúa Giê-xu bồng ẵm chúng trong tay Ngài.  Lu-ca lược bỏ chi tiết này, không phải vì ông cảm thấy rằng điều này không thích hợp để ghi lại, nhưng có lẽ đúng hơn là vì ông muốn tập trung sự chú ý vào bài học về việc Nước Đức Chúa Trời chỉ dành cho những người sẵn sàng nhận lấy nó như con trẻ qua lối suy nghĩ khiêm nhường và cởi mở tiếp nhận (so sánh Lu 18:14).

Chú Thích.   15  Sau một phân đoạn dài (9:51-18:14), là phân đoạn không có phần tương tự trong Mác, một lần nữa Lu-ca lại tiếp tục liên hệ đến sách Phúc Âm đầu tiên ấy.   16  Nước Thiên Đàng dành cho con trẻ và những người giống như con trẻ.

(Lu 18:18-34) Vị quan giàu (Mat 19:16-30  20:17-19  Mac 10:17-34).  Phân đoạn này tiếp tục chủ đề tương tự về các thái độ được Đức Chúa Trời chấp nhận .  Hưởng sự sống đời đời đồng nghĩa với việc được vào Nước Đức Chúa Trời (24) hay là được cứu (26).  Chúa Giê-xu hỏi có phải người đàn ông thực sự biết điều anh ta muốn nói khi xưng Ngài là nhơn lành hay không.  Từ này chỉ được dành riêng cho Đức Chúa Trời.  Chúa Giê-xu không từ chối địa vị của Ngài với tư cách là Con Đức Chúa Trời, là điều ắt hẳn người đàn ông vẫn chưa được biết rõ ràng Ngài đang cố tránh sự tâng bốc trống rỗng.  Chúa Giê-xu đã trả lời câu hỏi của anh ta theo cách truyền thống của người Do Thái qua việc nói về sự cần thiết phải giữ các điều răn, đặc biệt là những điều nằm trong phần hai của Mười Điều Răn, là những điều có thể được thử nghiệm (ít nhiều) bởi cách cư xử bên ngoài của một người.  Khi người đàn ông tuyên bố là mình đã giữ được các điều răn ấy thì Chúa Giê-xu bắt đầu dò xét sâu hơn.  Người đàn ông cần phải bán tài sản mình, bố thí cho kẻ nghèo rồi trở nên một môn đồ.  Việc anh ta từ chối làm điều đó cho thấy anh ta đã không thật sự yêu mến người lân cận như chính mình, và anh ta đã đặt chính bản thân và của cải mình, hơn cả Đức Chúa Trời, làm tâm điểm cho mọi sự yêu mến của anh ta (so sánh Lu 10:27).  Mặc dù bề ngoài giữ luật pháp, nhưng trong lòng anh ta không đúng đắn với Đức Chúa Trời.  Đây là bằng cớ rõ ràng cho việc người nào có lòng đặt nơi của cải thì việc vào Nước Thiên đàng là vô cùng khó khăn.  Thực tế là việc đó cũng khó giống như lạc đà chui qua lỗ một cây kim theo nghĩa đen vậy.  Thật vậy, việc con người tự cứu mình là điều không thể có được.

Nhưng mặc dù người ta không thể tự vượt thắng được tấm lòng tội lỗi của mình thì Đức Chúa Trời lại có thể can thiệp để cứu những ai đáp ứng với tiếng gọi của Ngài.  Khi ấy, Phi-e-rơ gợi ý rằng mười hai môn đồ đã đáp ứng lại tiếng gọi và đã từ bỏ mọi thứ vì Chúa Giê-xu.  Chúa Giê-xu hứa rằng người nào sẵn sàng hy sinh để làm môn đồ Ngài thì sẽ nhận được những phước hạnh lớn hơn nhiều trong hiện tại, qua mối thông công với anh em trong Chúa, và cả trong thế giới hầu đến.

Sự bắt bớ (Mac 10:30) không được đề cập ở đây nhưng chắc chắn được ám chỉ trong lời tiên tri mà Chúa Giê-xu đã tiếp tục trích ra đây về cách đối xử đáng hổ thẹn của dân ngoại đối với Ngài, là Con Người.  Nhưng mười hai môn đồ đã không thể hiểu được điều này (so sánh Lu 9:45).

Chú Thích.   20  Các điều răn được liệt kê theo một thứ tự khác thường mà trong bản dịch Cựu Ước bằng tiếng Hy Lạp cũng thấy có.  Điều răn chớ tham lam bị lượt bỏ – vì tội này bề ngoài không rõ ràng lắm so với các tội khác, hoặc thực ra là vì đây là điều răn mà người trai trẻ này không thể nói rằng mình đã giữ được.   25  Người Do Thái có một câu châm ngôn tương tự nói về một con voi.   31  (Es 49:7  50:5-6  52:13-53:12  Thi 22:1-31  69:1-36).  Một số phân đoạn Kinh Thánh này có thể không hẳn là những lời tiên tri trực tiếp mà đúng hơn là những câu nói về những điều sẽ xảy ra cho người công bình, là những người tin cậy nơi Đức Chúa Trời và bởi cớ đó mà chịu khổ.

(Lu 18:35-43) Sự chữa lành cho một người (Mat 20:29-34  Mac 10:46-52).  Hai câu chuyện cuối cùng trong phần này được Chúa Giê-xu nêu ra để nói về những người đáp ứng với sự kêu gọi của Đức Chúa Trời.  Con vua Đa-vít là một cách gọi tên Đấng Mết-si-a (Es 11:1-10  Gie 23:5-6  Exe 34:23-24  Lu 20:41-44).  Người mù tỏ ra kiên trì (so sánh 18:1) khi kêu xin sự giúp đỡ dù cho người ta cố gắng làm cho ông ta im lặng, và Chúa Giê-xu đã đáp lại đức tin ông ta.

(Lu 19:1-10) Xa-chê người thâu thuế  Không phải tất cả những người giàu đều bị tách khỏi Chúa Giê-xu một cách đáng buồn.  Xa-chê là một ví dụ về điều gì là có thể đối với Đức Chúa Trời (18:27).  Người La Mã giao lại công việc thu thuế tại một vùng đặc biệt nào đó cho người trả giá cao nhất.  Người được chỉ định không nhận khoản lương nào cho công việc mình, anh ta chỉ đơn giản là thu càng nhiều theo khả năng của mình, và giữ lại khoản tiền dôi ra sau khi nộp cho người La Mã số tiền như đã thoả thuận.  Nỗ lực của Xa-chê để gặp Chúa Giê-xu, đều được mọi người biết đến như là bạn của những người thu thuế (7:34), thể hiện mối quan tâm của ông dành cho Ngài và đoạn đường dài mà ông đã sẵn sàng để đi.  Dù Xa-chê có hy vọng giấu mình để không bị ai phát hiện hay không thì Chúa Giê-xu cũng đã gọi ông với lời đề nghị được ở trọ tại nhà ông.  Xa-chê bày tỏ cả sự ăn năn lẫn vui sướng khi ông được tiếp đón Chúa Giê-xu.  Chúa Giê-xu đã chứng minh rằng sự chọn lựa của Ngài để vào nhà Xa-chê là đúng: Ngài đã đem sự cứu rỗi đến cho một người có quyền được nghe Phúc Âm cũng như bất kỳ một người Do Thái nào khác.  Ở đây mục đích của sự đến của Chúa Giê-xu được tóm tắt một cách đầy đủ và dứt khoát: như một người chăn chiên đi ra tìm kiếm chiên lạc để đem chúng ra khỏi sự nguy hiểm (đối chiếu 15:3-7  Exe 34:16 - áp dụng cho chính Đức Chúa Trời và tôi tớ Ngài là Đấng Mết-si-a), Chúa Giê-xu với tư cách là Con Người phải tìm kiếm và đem đến sự cứu rỗi những người hư mất.

Chú Thích.   8  Bằng cách đưa vào cụm từ tại đây ngay bây giờ, bản dịch NIV giải thích các động từ  trong tôi lấytôi sẽ đền (cả hai đều ở thì hiện tại trong tiếng Hi Lạp) là đề cập đến những gì Xa-chê quyết định làm ngay lúc ấy chớ không phải liên hệ đến những việc làm trong quá khứ của ông ta.  Quyết định này tương ứng với sự ăn năn của người thu thuế trong Lu 18:13.   9  Câu nói không ngụ ý rằng Chúa Giê-xu không quan tâm đến dân ngoại, nhưng chỉ đơn giản nhấn mạnh rằng một người Do Thái là không hơn và cũng không kém bất kỳ người nào khác trong cái nhìn của Đức Chúa Trời.

6. SỰ GIẢNG DẠY CỦA CHÚA GIÊ-XU TẠI GIÊ-RU-SA-LEM (Lu 19:11-21:38)

1. Ngụ ngôn về mười nén bạc (Lu 19:11-27)

Khi công tác của Chúa Giê-xu đã đi đến thời điểm mà các môn đồ hy vọng sẽ là cao điểm tại Giê-ru-sa-lem thì họ nghĩ rằng một cuộc cách mạng thành công theo kiểu đời này sắp sửa xảy ra và đưa đến sự thiết lập Nước Đức Chúa Trời.  Họ cãi nhau về những vị trí mà họ sẽ đạt được trong trật tự mới (Lu 22:24-30  Mac 10:35-45).  Câu chuyện ngụ ngôn đã được kể nhằm làm thay đổi thái độ này của các môn đồ bằng cách cảnh báo rằng Đấng Mết-si-a sẽ bị từ chối và sẽ có một thời kỳ mà Ngài sẽ “vắng mặt” và các môn đồ Ngài phải phục vụ trung tín cho đến khi Ngài trở lại.

Giống như một câu chuyện “đời này”, ngụ ngôn nghe có vẻ như những câu chuyện về việc các thành viên trong gia đình của Hê-rốt lên Rô-ma để cầu xin hoặc để xác nhận quyền lực hoàng gia trên các vùng lãnh thổ của họ.  Archelaus, con trai Hê-rốt Đại đế, đi đến Rô-ma vào năm 4 T.C. để xin xác nhận ý muốn của cha mình, mà theo đó ông ta sẽ là người kế vị.  Nhưng một vị đại diện những người Do Thái đã theo sát ông ta để dâng lên hoàng đế lời phản đối: “Chúng tôi không muốn người này làm vua chúng tôi”, và kết quả là Au-gút-tơ đã hạn chế một cách khắt khe các quyền hạn của ông ta.  Chúa Giê-xu có lẽ đã dùng sự việc này làm nền tảng cho câu chuyện ngụ ngôn.  Số phận của những thần dân bất phục tùng đã phản ảnh đường lối chuyên quyền thời xưa.  Chúng ta không thấy ghi lại rằng bản thân Archelaus thực sự cư xử giống như vậy, và không thấy có ý gì nói rằng chính Chúa Giê-xu chấp thuận sự độc ác như thế.

Tuy nhiên, điểm trọng tâm của ngụ ngôn không phải là các thần dân nổi loạn mà là mười người đầy tớ (có lẽ là một số tròn), mỗi người được giao cho một nén bạc để làm sinh lợi ra.  Hai người đầy tớ đầu tiên quản lý rất tốt số tiền của mình và đã nhận được đặc quyền của chức vụ cao trọng.  Tuy nhiên, người đầy tớ thứ ba không quản lý tốt số tiền mình, thậm chí đã không đem cho vay lấy lãi.  Anh ta còn bình phẩm chủ mình là một người hà khắc, thường tước đoạt tiền thu nhập từ sức lao động của người khác một cách bất công.  Có lẽ anh ta sợ bị lỗ và gặp rắc rối (đối chiếu với lời cảnh cáo của người buôn bán chứng khoán: “Giá trị của vốn đầu tư của bạn có thể lên mà cũng có thể xuống!”) Viễn cảnh về sự thưởng phạt đã được đặt ra trước các môn đồ.

Chú Thích.  Ngụ ngôn này có những điểm tương tự với ngụ ngôn về các ta-lâng trong Mat 25:14-30.  Nó cũng có một số điểm kỳ lạ.  Một đầy tớ nữa được dùng trong câu 20 thật ra là “một đầy tớ khác”, như thể ban đầu chỉ có ba người đầy tớ, như trong Ma-thi-ơ.  Điều lạ ở đây là một nén bạc lại được dành để thưởng thêm cho người đã nhận mười thành và chính điều này đã đưa đến sự phản đối.  Cuối cùng thì câu chuyện về người cai trị và các thần dân nổi loạn của ông ta không có trong ngụ ngôn về các ta-lâng và có lẽ là hơi thừa trong một câu chuyện về buôn bán và thương mại.  Vì thế, nhiều học giả cho rằng hai câu chuyện riêng lẻ do Chúa Giê-xu kể đã được ghép lại thành một câu chuyện, và một số chi tiết đã được thay đổi chút ít trong việc kể lại các câu chuyện.  Có thể có một vài điểm tương tự trong câu chuyện được ghi lại ở 22:1-14, nó cũng như là một sự kết hợp giữa hai ngụ ngôn (nhưng xin xem chú thích ở đó).  Đương nhiên những điểm này không làm ảnh hưởng đến những lẽ thật căn bản được dạy dỗ trong các câu chuyện này.   13  Chúng ta không thể tính giá trị tương đương thời nay cho đồng tiền thời cổ, đặc biệt là trong thời kỳ lạm phát.  Bản dịch NIV cho rằng nén bạc ở đây tương đương với ba tháng tiền công của một người làm việc đồng án.  Điều này đã đưa ra một ý niệm tương đối về sức mua của “nén bạc”.   21  Việc mô tả về người chủ nghiêm nhặt và câu chuyện về cách cư xử của ông ta trong câu 27 không có ngụ ý cho rằng đây là hình bóng về bản chất của Đức Chúa Trời, mặc dù sự kiện về sự phán xét của Đức Chúa Trời là một điều chắc chắn phải được lưu ý một cách cẩn trọng.

2. Chúa Giê-xu đến thành Giê-ru-sa-lem (Lu 19:28-40) (Mat 21:1-9  Mac 11:1-10  Gi 12:12-19)

Cho đến thời điểm này các môn đồ đã được cảnh báo cho những sự trông mong sai lầm về những gì sẽ xảy ra với Chúa Giê-xu tại Giê-ru-sa-lem.  Tuy vậy, Ngài đã chuẩn bị để vào thành theo một cách thức bất thường.  Ngài cỡi trên một con lừa con từ -pha-giê -tha-ni, là hai ngôi làng phía Đông núi Ô-li-ve, xuống dốc đồi mà vào thành phố.  Việc trải áo trên đường là dấu hiệu để chào mừng một vị vua (đối chiếu IIVua 9:13).  Những người đến với Ngài từ miền Ga-li-lê đã tung hô Đức Chúa Trời về những công việc quyền năng mà họ đã được chứng kiến và ngợi khen Chúa Giê-xu là Vua đang đến, Ngài là Đấng có uy quyền của Đức Chúa Trời để cai trị.  Chỉ có Lu-ca kể lại việc những người Pha-ri-si, có lẽ là những người thân thiện với Chúa Giê-xu và sợ các hậu quả sẽ xảy ra, nên đã nhắc nhở Ngài khiến những kẻ nhiệt thành theo Ngài phải im lặng.  Nhưng Chúa Giê-xu không sẵn lòng để làm như thế.  Việc những người đang la hét nhận biết lời lẽ của họ là đúng có một ý nghĩa còn sâu sắc hơn, đó là: Vua đã đến.  Vì vậy, đám đông không thể không chào đón Ngài.

Chú Thích.   31  Chúng ta không rõ là Chúa đề cập đến chính Chúa Giê-xu hay nói đến chủ của con lừa.  Nếu là trường hợp thứ hai, thì những người chủ lừa trong câu 33 có lẽ là các đầy tớ của người chủ ấy, và Chúa Giê-xu có lẽ đã thu xếp trước với người chủ lừa để mượn nó.  Nếu là trường hợp thứ nhất, thì Chúa Giê-xu đề cập đến chính Ngài là “Chúa”.   38  Trong Mac 11:9-10, chính Nước Trời chứ không phải là vua đã được chào đón, nhưng sự phân biệt này không quan trọng.  Lời lẽ của Lu-ca ngụ ý rằng người ta đã biết là việc thiết lập Nước Trời bao gồm sự nhậm chức của một vị vua, và điều quan trọng là họ đã sẵn sàng để thừa nhận một con người, là Giê-xu, như là một vị Vua.  Đám đông có thể đang chờ đợi Chúa Giê-xu làm một hành động phi thường nào đó mà không để ý gì đến tất cả những điều ngược lại mà Ngài đã nói với các môn đồ.  Bình an trên trời là lời diễn giải của Lu-ca về chữ “Hô-sa-na…” trong Mác cho độc giả là người ngoại quốc của ông.  Có lẽ nó gợi ý rằng sự bình an là điều không thể có trên đất cho Giê-ru-sa-lem (đối chiếu Lu 2:14  19:42).

3. Số phận của Giê-ru-sa-lem (Lu 19:41-48) (Mat 21:12-13  Mac 11:15-18)

Đã có một sự thay đổi đột ngột về sắc thái khi Chúa Giê-xu thốt ra lời tiên tri buồn bã về thành phố đang trải rộng ra trước mắt Ngài.  Ngài ước ao rằng nó có thể ăn năn mà tìm kiếm điều tốt đẹp cho mình.  Thành bình an này (He 7:2) đã không xứng đáng với tên gọi của nó.  Sẽ đến lúc nó sẽ bị vây hãm theo kiểu điển hình của chiến trận thời xưa: chướng ngại vật sẽ được dựng lên xung quanh nó để ngăn không cho bất kỳ ai đến hoặc đi khiến cho dân trong thành sẽ bị đói mà đầu hàng.  Sau đó kẻ thù sẽ dùng vũ lực mà xông vào thành và chiếm lấy nó bằng sự tàn bạo và giết chóc kinh khiếp.  Tất cả những việc này sẽ xảy ra bởi vì dân thành không nhận biết rằng Đức Chúa Trời đã đến với nó và mong muốn cứu vớt nó.

Sau đó Chúa Giê-xu vào đền thờ và đuổi những kẻ đang buôn bán ở trong đó.  Họ cung cấp những thứ cần thiết cho những người đến thờ phượng và khách hành hương, giống như một cửa hàng bán đồ lưu niệm ngày nay bán những tấm bưu thiếp của một ngôi nhà thờ vậy.  Nhưng việc mua bán có vẻ đã thiếu trung thực và đã phát triển đến một qui mô rộng lớn.  Khu vực trong đền thờ dành riêng cho người ngoại đến thờ phượng Đức Chúa Trời đã trở thành hang trộm cướp hơn là một nơi để cầu nguyện.  Chúa Giê-xu sau đó đã đặt đền thờ trở lại với mục đích đúng đắn của nó, Ngài giảng dạy mỗi ngày giữa sự chống đối ngày càng tăng của các bậc có thẩm quyền và sự ủng hộ mạnh mẽ từ phía đám đông.

Đoạn sách này ngụ ý rằng đây không phải là chuyến viếng thăm đầu tiên của Chúa Giê-xu đến Giê-ru-sa-lem (Lu 13:34), nếu không thì thật khó mà hiểu được tại sao Ngài có vẻ như định tội thành này trước khi cho nó một cơ hội nào đó để đáp ứng lại với sứ điệp của Ngài.

4. Giảng dạy trong đền thờ (Lu 20:1-21:4)

Câu chuyện về chuyến viếng thăm cuối cùng của Chúa Giê-xu đến Giê-ru-sa-lem có rất nhiều những sự việc xảy ra mà những điểm khác biệt giữa Ngài và các nhà lãnh đạo Do Thái trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, và điều này thúc đẩy họ có hành động  để chống lại Ngài.

(Lu 20:1-8) Uy quyền của Chúa Giê-xu (Mat 21:23-27  Mac 11:27-33).  Tòa công luận (Tòa án tối cao Do Thái), về thực chất là “quốc hội” Do Thái, gồm những vị đại diện từ ba nhóm sau đây: các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, và các trưởng lão.  Tổng cộng có 71 thành viên dưới sự lãnh đạo của thầy tế lễ thượng phẩm.  Các thầy tế lễ cả là thành viên của các gia đình làm thầy tế lễ thượng phẩm và là những người giữ các chức vụ khác nhau (ví dụ: người cai quản đền thờ, những người lãnh đạo các nhóm thầy tế lễ hàng tuần và hàng ngày, các quản cơ và các thủ quĩ), trưởng lão là những người đại diện cho dân chúng.

Họ muốn biết bởi uy quyền nào mà Chúa Giê-xu tự đặt mình làm một giáo sư.  Có phải Ngài đã tuyên bố mình là một tiên tri có uy quyền của Đức Chúa Trời? Chúa Giê-xu trả lời bằng một câu hỏi vặn lại.  Trước hết họ hãy nói cho Ngài biết Giăng Báp-tít đã nhận quyền phép từ trời, nghĩa là từ Đức Chúa Trời (Lu 15:18), hay từ con người.  Nếu nhóm người này trả lời “Từ trời” thì chắc hẳn Chúa Giê-xu sẽ hỏi họ tại sao họ không tin nhận Giăng (Mat 21:32), và điều đó cũng hàm ý rằng chính Giăng cũng có quyền phép của Đức Chúa Trời.  Nhưng nếu họ chối bỏ thẩm quyền của Giăng thì chính họ sẽ chuốc lấy sự rắc rối với dân chúng vì họ vẫn luôn xem Giăng là một đấng tiên tri.  Câu trả lời của họ: Chúng tôi không biết yếu ớt một cách thảm hại, và Chúa Giê-xu đã thắng lý.  Thế nhưng câu chuyện không phải nói về việc Chúa Giê-xu khôn ngoan hơn người ta trong khi lý luận.  Trái lại, điều này cho thấy những người đưa ra câu hỏi đã không sẵn lòng thừa nhận quyền phép của Đức Chúa Trời khi họ chứng kiến quyền ấy, và họ đã không thể quyết định được phải làm gì trong tình huống ấy.

(Lu 20:9-19) Ngụ ngôn về những người làm thuê gian ác (21:33-46  Mac 12:1-12).  Lúc này, Chúa Giê-xu chuyển sang sự công kích bằng một câu chuyện ngụ ngôn dễ hiểu.  Người Do Thái là những người vốn biết rõ Kinh Thánh của mình, họ sẽ được nhắc nhở về những lời mở đầu trong Es 5:1-7 có ghi lại rằng vườn nho là hình ảnh tượng trưng cho Y-sơ-ra-ên.  Khi người chủ đi vắng, những người thuê vườn quyết định trước hết giữ lại phần quả không giao cho ông ta rồi sau đó bảo đảm là họ sẽ chiếm luôn cả vườn nho.  Trong những điều kiện nào đó, tài sản của một người ngoại hoặc một người mới gia nhập Do Thái giáo chết mà không để lại di chúc thì sẽ thuộc về người đầu tiên sở hữu tài sản ấy.  Những người làm thuê này có thể đã dựa vào phong tục như thế, hoặc đơn giản là hy vọng chủ vườn sẽ không biết hành động của họ.  Vì thế họ giết người thừa kế đi và giữ chặt lấy tài sản.  Câu chuyện phản ánh tình hình của thời bấy giờ khi những tài sản lớn ở Ga-li-lê là do những người chủ ở xa sở hữu.  Nó cũng mô tả một cách sinh động lịch sử Y-sơ-ra-ên và các nhà lãnh đạo của nó là những người đã liên tục chối bỏ các sứ giả của Đức Chúa Trời.  Đối với Cơ Đốc nhân, con của chủ tất nhiên phải là hình ảnh tượng trưng cho Chúa Giê-xu, nhưng chúng ta không chắc là người nghe thời bấy giờ có nhận ra điều này hay không.  Có thể họ đã thấy trong từ con trai có sự đề cập đến Đấng Mết-si-a, hoặc có thể họ biết rằng đôi lúc Chúa Giê-xu đã tuyên bố Đức Chúa Trời là Cha Ngài theo một cách đặc biệt.  Nhưng mặc dù chính Chúa Giê-xu biết rõ về con người và định mệnh của mình, Ngài đã không nói một cách công khai những điều đó ra với đám đông hoặc với những kẻ chống đối Ngài.

Người chủ sẽ làm gì với những kẻ thuê như thế là rất rõ ràng, và mọi người đều thừa nhận rằng ông ta có quyền để làm như thế.  Thế nhưng những người nghe lúc ấy lại nói rằng: Đức Chúa Trời nào nỡ vậy?.  Điều này cho thấy là họ hẳn đã nhận ra rằng Chúa Giê-xu đang ứng dụng câu chuyện này với “vườn nho của Đức Chúa Trời”, và họ khiếp sợ với suy nghĩ rằng những người khác sẽ chiếm lấy nó.  Tuy nhiên, Chúa Giê-xu đã dùng Kinh Thánh để hỗ trợ cho những gì Ngài nói.  Ngài đã hỏi họ rằng câu chuyện ngụ ngôn về hòn đá bị người thợ xây nhà bỏ ra lại trở nên một vị trí quan trọng trong tòa nhà còn có ý nghĩa ẩn dụ nào khác nữa không? Phải chăng nó không có ý muốn nói rằng Đấng có thẩm quyền mà họ đã từ chối (Lu 20:1-7) là người được Đức Chúa Trời lựa chọn hay sao? Vì thế bất kỳ ai khước từ Ngài sẽ chịu sự phán xét (Es 8:14-15  Da 2:34-5:31).

(Lu 20:20-26) Tiền nộp cho -sa (Mat 22:15-22  Mac 12:13-17).  Các nhà cầm quyền đã có thể bắt Chúa Giê-xu ngay lúc ấy, nhưng thời điểm chưa chín muồi vì Ngài đang được nhiều người yêu mến và ủng hộ.  Vì thế họ bằng lòng với việc thu thập nhiều hơn nữa chứng cứ chống lại Ngài.  Để làm cho Ngài mất đi lòng ái mộ của dân chúng hoặc bị người La Mã nghi ngờ, họ đã nêu ra một câu hỏi về thuế thân do người La Mã đánh trên người Do Thái.  Thuế này đã mở đầu cho sự oán giận và chống đối ghê gớm của người Do Thái (xem phần Lu 2:2) và nó còn tiếp tục không được lòng dân.  Nếu Chúa Giê-xu chống lại luật thuế này có lẽ Ngài sẽ bị bắt giữ như một kẻ phiến loạn? Hoặc nếu Ngài chấp nhận nó có lẽ Ngài sẽ mất đi sự ủng hộ của dân chúng? Chúa Giê-xu bảo những kẻ tra hỏi đưa cho Ngài một đồng tiền, không phải vì Ngài không có một đồng tiền, mà là để chứng minh rằng chính họ cũng đang dùng tiền của Sê-sa.  Đồng đơ-ni-ê bạc này một mặt có hình phần đầu của Sê-sa và mặt kia là hình nữ thần hòa bình, trên đồng bạc này có khắc một dòng chữ: “Au-gút-tơ Sê-sa Ti-bê-ri-út, con trai của Au-gút-tơ thần thánh, là thầy tế lễ cả”.  Nếu người ta dùng tiền của Sê-sa, họ có nghĩa vụ phải trả lại những gì họ nợ ông ta.  Nhưng sau đó Chúa Giê-xu đi xa hơn câu hỏi người ta đặt ra cho Ngài.  Tương tự như vậy người ta cũng có một món nợ với Đức Chúa Trời.  Có lẽ ở đây có ngụ ý rằng người ta là do Đức Chúa Trời tạo nên, vì họ mang ảnh tượng của Đức Chúa Trời.

Các lĩnh vực riêng biệt về quyền phép của Đức Chúa Trời và của Sê-sa không được định nghĩa ở đây.  Điều Chúa Giê-xu muốn đề cập chỉ là người nào được lợi từ Sê-sa thì phải trả cho ông ta về những quyền lợi ấy.

(Lu 20:27-40) Vấn đề về sự sống lại (Mat 22:23-33  Mac 12:18-27).  Người Sa-đu- là một nhóm người Do Thái, chủ yếu từ dòng các thầy tế lễ và giới quí tộc giàu có, là những người hoàn toàn thoải mái với tình trạng cai trị hiện tại của người La Mã.  Họ có một thứ tôn giáo truyền thống, bảo thủ căn cứ trên năm sách luật pháp của Môi-se, nhưng nó trống rỗng và mang tính hình thức.  Không như người Pha-ri-si, họ chỉ chấp nhận thế giới vật chất và phản đối sự sống lại, các thiên sứ và các thần linh (Cong 23:8).  Câu chuyện của họ đã được ghi lại để cho thấy điều vô lý của sự sống lại dựa vào ‘luật lệ tục huyền (lấy vợ khác sau khi vợ chết) theo luật pháp Môi-se’.  Luật này căn cứ trên nguyên tắc rằng nếu một người chồng chết, anh em của người ấy phải lấy người vợ góa để nối dòng dõi cho anh ta (Sa 38:8  Phu 25:5-6).  Về mặt lý thuyết thì một người phụ nữ có thể lần lượt có nhiều chồng, vì thế điều này đã không làm cho ý tưởng về sự sống lại trở nên vô nghĩa hay sao?

Trước hết, Chúa Giê-xu nhấn mạnh rằng tình trạng khi sống lại sẽ không giống với khi còn ở trên đất.  Vì không có sự chết và vì vậy không cần phải nối dõi dòng giống, không cần phải sinh sản.  Điều này có thể hiểu là những mối quan hệ trên đất như hôn nhân sẽ chấm dứt trên thiên đàng.  Mà đúng hơn, có lẽ trên thiên đàng mọi mối quan hệ của con người sẽ được nâng lên một tầm cao đến nỗi tính độc chiếm của hôn nhân sẽ không còn là một nhân tố như trên đất.  Sự tiếp diễn của các mối quan hệ thuộc về đất được hàm ý trong ITe 4:17-18.

Hai là, Chúa Giê-xu đã đưa ra lý lẽ ủng hộ cho sự sống lại căn cứ trên luật pháp Môi-se.  Tại bụi gai cháy, Đức Chúa Trời đã phán: ‘Ta – Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham’ (Xu 3:6).  Câu loại này trong tiếng Hi Bá Lai không có động từ, và Chúa Giê-xu đang ám chỉ rằng ở đây phải có thì hiện tại của động từ “Ta là” (như trong bản dịch Cựu Ước bằng tiếng Hi Lạp) để cho thấy rằng Đức Chúa Trời vẫn phán Ngài là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham nhiều thế kỷ sau khi người chết với hàm ý rằng Áp-ra-ham vẫn còn sống và có thể thờ phượng Ngài.  Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham trong suốt cuộc đời người, sẽ không để cho sự chết làm gián đoạn mối quan hệ này nhưng sẽ khiến người sống lại.

Chú Thích.   35  Về sự sống lại, xin xem chú thích Lu 14:14.

(Lu 20:41-44) Thân vị của Đấng Mết-si-a (Mat 22:41-46  23:6  Mac 12:35-40).  Cuối cùng, Chúa Giê-xu đã khởi xướng trong việc phê bình những quan điểm không thỏa đáng về Đấng Christ hay Đấng Mết-si-a.  Người Do Thái mong chờ sự đến của một người giải cứu thuộc về đất, là người sẽ là vua ra từ dòng dõi vua Đa-vít (Lu 18:38).  Nhưng trong Thi Thiên 110 có ghi lại là Đa-vít nói rằng ‘Chúa (tức là Đức Chúa Trời) phán cùng Chúa tôi (tức là Đấng Mết-si-a)…’ Tuy nhiên, nếu Đấng Mết-si-a là con vua Đa-vít thì làm thế nào Đa-vít gọi con mình là Chúa? (vì cha phải lớn hơn con mình.) Điều ngụ ý có thể là Đấng Mết-si-a không phải là hậu duệ ra từ Đa-vít, hoặc là theo một cách nào đó Đấng Mết-si-a còn hơn là một hậu duệ về đời này của Đa-vít.  Tuy nhiên Chúa Giê-xu đã được thừa nhận là con cháu của vua Đa-vít, vì thế khả năng thứ nhất bị loại trừ.  Khả năng thứ hai là một sự chọn lựa đúng đắn, nhưng chứng cớ cho thấy Chúa Giê-xu lớn hơn Đa-vít là không rõ ràng chỉ cho đến khi có sự sống lại.  Vào lúc ấy, Chúa Giê-xu đã để lại cho người nghe một điều thắc mắc khó hiểu.

Chú Thích.   42  Mặc dù hai từ được dịch là “chúa” chỉ là một trong tiếng Hy Lạp, nhưng trong Thi Thiên bằng tiếng Hê-bơ-rơ thì đây là hai từ khác nhau.

(Lu 20:46-47) Thói giả hình của các thầy thông giáo  Sau đó Chúa Giê-xu chuyển sang vạch trần những điều không xứng đáng về mặt tôn giáo của các thầy dạy luật.  Một số người trong bọn họ đã trở nên tự hào về chiếc áo của mình và họ ưa thích sự tôn trọng của những người khác.  Họ là những kẻ giả hình chuyên dối gạt người nghèo và phô trương về tôn giáo của mình một cách rỗng tuếch.  Trong tất cả mọi người, lẽ ra họ phải là những người biết rõ nhất về ý muốn của Đức Chúa Trời, vì lý do đó tội lỗi của họ càng lớn hơn.  Thế nhưng cũng có những cá nhân là ngoại lệ đối với lời tuyên án mạnh mẽ này: (Mac 12:28-34).

(Lu 21:1-4) Sự dâng hiến của người đàn góa (12:41-44).  Trong sự tương phản rõ rệt với thứ tôn giáo sai lạc của các thầy thông giáo thì ở đây có ghi lại một câu chuyện về người đàn bà góa nghèo khổ đã dâng hai đồng tiền đang lưu hành có giá trị thấp nhất cho đền thờ bên cạnh những món tiền bố thí của những kẻ giàu.  Trong cái nhìn của Đức Chúa Trời, phần tiền dâng của bà là lớn hơn hết vì Đức Chúa Trời không chú trọng xem món tiền dâng là nhiều hay ít nhưng phần mà người dâng còn lại sau khi dâng mới đáng trân trọng.  Thực tế bà góa này đã dâng hết phần mình có.

5. Sự tàn phá đền thờ và những sự cuối cùng (Lu 21:5-38)

(Lu 21:5-7) Số phận của đền thờ (Mat 24:1-3  Mac 13:1-4).   Chúa Giê-xu không dự phần vào sự nhiệt thành của các môn đồ trước kiến trúc hoành tráng của đền thờ mới của Hê-rốt, và Ngài đã tiếp tục nói tiên tri rằng nó sẽ bị tàn phá hoàn toàn.  Các môn đồ hỏi khi nào điều ấy sẽ xảy ra, và có phải sẽ có những dấu hiệu gì cho biết điều ấy sẽ xảy ra hay không.  Cách thức mà họ đưa ra câu hỏi và hẳn là cách mà Chúa Giê-xu trả lời câu hỏi ấy cho thấy rằng các môn đồ đã nghĩ rằng sự phá hủy đền thờ sẽ là một trong những sự kiện xảy ra trong ngày tận thế.

Câu trả lời rất dài của Chúa Giê-xu cũng được ghi lại trong Mác 13 với một vài sự khác biệt trong lời lẽ diễn đạt.  Các học giả tranh cãi rằng không rõ có phải Lu-ca đã ghi lại cuộc đàm luận này dưới hình thức khác khi ông đọc được nó ở trong Mác, để giúp cho một số bài học ở đây trở nên rõ ràng hơn đối với độc giả, hay là ông đã thu thập thông tin từ một số lời truyền khẩu khác nhau về những lời nói của Chúa Giê-xu.  Cả hai giả thuyết đều có thể đúng.  Cũng như bài giảng trên núi, chương này hẳn cũng có chứa những điều mà Chúa Giê-xu đã phán dạy trong nhiều dịp khác nhau.

(Lu 21:8-11) Các dấu hiệu của sự cuối cùng (Mat 24:4-7  Mac 13:5-8).  Những lời đầu tiên của Chúa Giê-xu đã có tác động mạnh mẽ đến toàn bộ cuộc đàm luận.  Các môn đồ không thể mong chờ sự cuối cùng sẽ xảy ra ngay lập tức, và họ không được nghĩ rằng có thể nói trước được khi nào sự cuối cùng sẽ đến.  Ngay cả khi đền thờ bị tàn phá cũng không có nghĩa là sự cuối cùng đã đến.  Vì thế các môn đồ không nên để bị lừa dối bởi những người tự mạo danh là Đấng Mết-si-a và bắt chước sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu mà nói rằng thời kỳ đã đến gần (đối chiếu 1:15).  Họ cũng không nên để bị cám dỗ mà tuyệt vọng trước sự xung đột khủng khiếp của con người và những thảm họa của vũ trụ, là những dấu hiệu báo trước ngày tận thế.

(Lu 21:12-19) Các môn đồ bị bắt bớ (đối chiếu Mat 10:17-22  24:9-14  Mac 13:9-13).  Sự thiếu trình tự về thời gian trong những câu phát biểu của Chúa Giê-xu đã làm thất vọng mọi nỗ lực muốn lập ra trước một thời biểu của các sự kiện.  Thậm chí trước khi các sự kiện trong câu 10-11 xảy ra thì các môn đồ đã bị cả người Do Thái lẫn người La Mã bắt bớ.  Nhưng tai họa được bày tỏ này sẽ cho họ một cơ hội để làm chứng.  Họ không cần phải lo lắng về việc phải chuẩn bị trước sẽ nói những gì, trong giờ phút khủng hoảng chính Chúa Giê-xu sẽ cảm động họ để nói ra những lời chứng mạnh mẽ và không thể chối cãi được.  Câu nói này rõ ràng được áp dụng với các tín hữu bị bắt thình lình rồi bị đưa ra tòa, nó không được áp dụng cho những người giảng dạy đi đến bục giảng một cách bình yên và đã có nhiều thời gian để chuẩn bị cho sứ điệp của mình.  Ở đây Chúa Giê-xu hứa chính Ngài sẽ giúp đỡ cho những người làm chứng về Ngài.  Nếu như ở chỗ nào khác trong Kinh Thánh có nói rằng Đức Thánh Linh là giáo sư của các môn đồ (Lu 12:11-12) thì phải nhớ rằng Đức Thánh Linh đã được Chúa Giê-xu sai đến (Gi 16:7).  Sự bắt bớ thậm chí sẽ đến từ phía gia đình và bạn bè và sẽ đưa đến việc tử vì đạo và bị ghen ghét một cách phổ quát.  Nhưng dù có việc gì xảy ra đi nữa thì các môn đồ cũng ở trong sự che chở của Đức Chúa Trời, và những người trung tín chịu đựng sẽ được sự sống đời đời.  Câu 18-19 không thể được hiểu là các môn đồ sẽ tránh được việc bị hại về thân thể và sự tử vì đạo (16), nhưng đúng hơn là có một lời hứa về sự tể trị của Đức Chúa Trời trên mọi điều xảy ra với họ và vì vậy ở đây có một lời kêu gọi hãy cứ giữ sự trung tín.

(Lu 21:20-24) Sự sụp đổ của Giê-ru-sa-lem (đối chiếu Mat 24:15-22  Mac 13:14-20).  Lúc này Chúa Jêsus mô tả về hai giai đoạn khác nhau xảy ra trong sự đến của thời kỳ cuối cùng.  Giai đoạn thứ nhất là Giê-ru-sa-lem sẽ bị vây hãm, bị hoang vu và bị nộp vào tay của dân ngoại trong một thời gian đã được ấn định.  Ai coi trọng mạng sống mình sẽ chạy trốn trước khi quá muộn, vì đó sẽ là thời kỳ đoán xét của Đức Chúa Trời trên thành này.  Khi nghĩ về sự đau khổ không thể tránh khỏi, đặc biệt là đối với phụ nữ, Chúa Giê-xu một lần nữa cảm thấy rất buồn bã (Lu 13:34-35  19:41-44  23:27-31).

Mặc dù ngôn ngữ ở đây mô tả về thời kỳ khó khăn của thành Giê-ru-sa-lem rõ ràng hơn nhiều so với phần tương ứng trong Mác thì không nhất thiết là Lu-ca đã viết sau khi biến cố ấy xảy ra.  Từ ngữ mà ông dùng để diễn đạt tương tự như các lời tiên tri trong Cựu Ước, đặc biệt là như các phân đoạn Kinh Thánh tiên báo về sự Ba-by-lôn sẽ tàn phá Giê-ru-sa-lem.  Tuy nhiên, việc Chúa Giê-xu có phán từng lời từng chữ như trong bản ghi chép của Mác hoặc của Lu-ca (hoặc cả hai) hay không, hay Lu-ca đã làm nổi bật ý nghĩa của những lời lẽ của Chúa Giê-xu, vì sự ứng nghiệm của những lời này đã trở nên rõ ràng hơn, thì khó mà xác định được.

Các kỳ của dân ngoại là thời kỳ dân ngoại thống trị trên Giê-ru-sa-lem.  Chúng ta không được rõ có phải đây là thời kỳ dân ngoại trở lại đạo hay không (Ro 11:25).  Chúa Giê-xu không nói gì về điều sẽ xảy đến cho Giê-ru-sa-lem vào cuối thời kỳ ấy.

(Lu 21:25-28) Sự đến của Con Người (Mat 24:29-31  Mac 13:24-27).  Giai đoạn thứ hai trong sự đến của thời kỳ cuối cùng là sự hỗn loạn của vũ trụ (đối chiếu c.11) được nói tiên tri trong Cựu Ước. Một số học giả cho rằng đây là sự mô tả mang tính ẩn dụ về sự lật đổ các quyền lực của dân ngoại. Sau đó Con Người sẽ đến, làm thành lời tiên tri trong Da 7:13-14 ghi lại rằng cùng với sự đến của Ngài là ngày phán xét và sự chung cuộc sự cai trị của Đức Chúa Trời được thiết lập cách hiển hiện. Vì các tai họa xảy ra trước là khởi đầu cho sự giải thoát này của Đức Chúa Trời nên các môn đồ phải đầy lòng hy vọng, tương phản với sự sợ hãi sẽ có nơi mọi người khác.

(Lu 21:29-33) Sự chắc chắn của thời kỳ cuối cùng (Mat 24:32-35  Mac 13:28-31).  Tại xứ Palestine, cây va là loại cây đầu tiên ra lá và nó báo cho biết rằng mùa hè đang đến, nhưng tại các quốc gia khác, tất cả các cây khác cùng tham gia vào việc thông báo mùa hè sắp đến.  Vì thế các biến cố kinh khiếp được Chúa Giê-xu nói tiên tri trong thực tế là một dấu của hy vọng rằng Nước Trời đang đến gần.

Mọi sự kia, là những sự sẽ xảy đến trong thế hệ này, biểu thị cho ‘tất cả các dấu hiệu cảnh báo’, kể cả sự sụp đổ của Giê-ru-sa-lem vào năm 70 S.C., hơn là sự đến của Con Người (đối chiếu câu 36 để thấy sự khác nhau này).  Sự ứng nghiệm của các dấu hiệu này sẽ là một dấu cho biết sự đến của Ngài đã gần.  Nhưng làm thế nào điều này là thật sau nhiều thế kỷ như thế đã trôi qua? Phải nhớ là Chúa Giê-xu nói rõ rằng Ngài không biết khi nào Con Người sẽ đến (13:32 đối chiếu Cong 1:7).  Sự đến lần thứ nhất của Chúa Giê-xu và sự đoán xét trên Giê-ru-sa-lem đã khiến cho Nước Trời đến gần hơn so với trước.  Cũng có một nghĩa mà theo đó sự cuối cùng vẫn luôn luôn ở gần (giống như một người đang bước đi dọc theo bờ của một vách núi có thể ngã xuống tại bất kỳ điểm nào, khác với một người từ xa đang tiến gần đến bờ của vách núi).  Hơn nữa, những lời tiên tri của Đức Chúa Trời là tùy thuộc vào sự ứng nghiệm của chúng, và việc Hội Thánh hoàn thành (hay không hoàn thành) mạng lệnh rao giảng Phúc Âm ra khắp thế giới có thể có mối liên hệ nào đó với mạng lệnh này.

(Lu 21:34-36) Sự chuẩn bị cho ngày cuối cùng  Trong bất kỳ trường hợp nào, điều quan trọng là đừng nghi ngờ hay nản lòng.  Vì ngày phán xét sẽ đồng nghĩa với tai họa xảy đến cho những kẻ đã sa vào sự cám dỗ và tội lỗi, các môn đồ phải cầu xin cho được sự bền bỉ để cứ trung tín cho đến cuối cùng.

(Lu 21:37-38) Tóm tắt về hoạt động của Chúa Giê-xu tại Giê-ru-sa-lem  Cũng như nhiều người khác đến Giê-ru-sa-lem vào kỳ lễ Vượt Qua nhận thấy rằng thành phố có quá đông người nên Chúa Giê-xu đã trọ lại bên ngoài thành Giê-ru-sa-lem.  Tuy nhiên, bữa ăn lễ Vượt Qua chỉ có thể được tổ chức tại bên trong Giê-ru-sa-lem.

7. SỰ CHẾT VÀ SỰ SỐNG LẠI CỦA CHÚA GIÊ-XU (Lu 22:1-24:53)

1. Bữa Tiệc Thánh (Lu 22:1-38)

(Lu 22:1-6) Sự phản bội của Giu-đa (Mat 26:1-5,14-16  Mac 14:1-2,10-11 đối chiếu Gi 11:45-53).  Khi các nhà lãnh đạo Do Thái quyết định trừ khử Chúa Giê-xu (xem Lu 23:2 để biết những lý cớ của họ) thì vấn đề của họ là làm sao thực hiện được việc đó mà không tạo ra sự nổi dậy từ phía những kẻ ủng hộ Ngài.  Chúa Giê-xu có rất nhiều người ủng hộ Ngài giữa vòng những người dân thường (đối chiếu chương 19-20), và người ta e sợ rằng nhiều người trong số họ sẽ sẵn sàng vì Ngài mà chiến đấu lại.  Việc Giu-đa làm sẽ tạo cơ hội để bắt giữ Chúa Giê-xu một cách lặng lẽ.  Có thể có khoảng 100.000 người bên trong và xung quanh Giê-ru-sa-lem vào mùa lễ Vượt Qua nên cơ hội để lần ra dấu vết của một người muốn ẩn tránh là rất nhỏ nếu không có những thông tin từ bên trong.

Những Bữa tiệc về Bánh Không Men và lễ Vượt Qua nguyên là những lễ hội được tổ chức riêng rẽ, nhưng thực tế đã được xem như là một.  Lễ Vượt Qua được kỷ niệm vào ngày 14 và 15 của tháng Nissan (khoảng Tháng 4-Tháng 5).  Trong suốt buổi chiều ngày 14, những chiên con dùng cho lễ Vượt Qua bị giết thịt tại đền thờ.  Vì ngày mới của người Do Thái bắt đầu vào lúc mặt trời lặn nên buổi tối cùng ngày (theo cách tính của chúng ta) là khởi đầu của ngày 15, và khi đó bữa ăn chính thức được tổ chức.  Những ngày ăn Bánh Không Men kéo dài từ ngày 15 đến ngày 21 của tháng.  Trong 22:7, ngày 14 được mô tả là ngày ăn Bánh Không Men có lẽ là vì các bữa tiệc đã được nối kết chặt chẽ với nhau hoặc có lẽ để thuận tiện cho những người sử dụng loại lịch có ngày bắt đầu từ lúc nửa đêm.

Lu-ca đồng ý với Mác trong việc cho rằng Chúa Giê-xu tổ chức lễ Vượt Qua vào khoảng thời gian đã được chỉ định.  Về thứ tự thời gian trong Giăng, vốn có vẻ như sắp xếp cho mọi việc diễn ra sớm hơn một ngày, (Mat 26:17  Gi 13:1).

(Lu 22:7-13) Việc chuẩn bị cho bữa Tiệc Thánh (Mat 26:17-19  Mac 14:12-16).  Để chuẩn bị cho bữa ăn lễ Vượt Qua, các môn đồ cần phải tìm được một căn phòng được trang bị đồ đạc phù hợp ở bên trong thành, cũng như phải chuẩn bị đầy đủ thức ăn – một con chiên, bánh, rau đắng và rượu là những yêu cầu tối thiểu.  Những lời chỉ dẫn gợi ý rằng Chúa Giê-xu đã bí mật sắp đặt với một người bạn tại Giê-ru-sa-lem là nơi mà Ngài có thể ẩn tránh để khỏi bị quấy rầy.  Căn phòng có thể đã được đề cập đến trong Cong 1:13, có lẽ là trong nhà của Ma-ri, mẹ của Giăng Mác (12:12).  Việc trông thấy một người đàn ông đang xách bình nước hẳn là khá bất thường, có vẻ như đó là một cách nhận diện đã được sắp đặt trước.

(Lu 22:14-23) Ý nghĩa của bữa ăn (Mat 26:20,26-29,23-24  Mac 14:17,22-25,20-21 đối chiếu Gi 13:21-30).  Thủ tục thường lệ tại bữa ăn lễ Vượt Qua là có một lời cầu nguyện mở đầu, tiếp theo đó là ly đầu tiên trong bốn ly rượu nho và một đĩa rau đắng và nước sốt.  Sau đó, câu chuyện về sự thiết lập lễ Vượt Qua được trích đọc, bài Thi 113:1-9 được hát lên và người ta uống ly rượu thứ hai.  Sau một lời tạ ơn người ta ăn món chính là chiên quay với bánh không men và rau đắng, sau một lời cầu nguyện nữa người ta uống ly rượu thứ ba.  Khi đó bài 114:1-118:29 được hát lên và người ta uống ly rượu thứ tư.

Chúa Giê-xu bắt đầu bữa ăn bằng cách nói rằng Ngài sẽ chịu khổ trong một thời gian ngắn và Ngài mong muốn dự bữa ăn cuối cùng này một cách lặng lẽ.  Đó sẽ là bữa ăn tối cuối cùng, vì cơ hội tiếp theo cho Ngài sẽ là sự ứng nghiệm của bữa tiệc trong Nước Đức Chúa Trời.  Ở đây có lẽ đề cập đến bữa tiệc lớn của Đấng Mết-si-a hơn là việc Hội Thánh giữ lễ Tiệc Thánh của Chúa.

Sau đó Chúa Giê-xu lấy một ly rượu (ly thứ nhất hoặc thứ hai trong các ly), và xác nhận lại rằng đây là dịp cuối cùng mà Ngài sẽ uống trước ngày hầu đến của Nước Trời bằng cách này rõ ràng Ngài đã liên kết sự chết của Ngài với sự đến của Nước Thiên Đàng.  Này thân thể ta rõ ràng có nghĩa là “bánh này tượng trưng cho thân thể ta”.  Chúa Giê-xu tỏ ra rằng thân thể Ngài sắp bị phó cho các môn đồ trong một sự chết vì cớ họ, và Ngài bảo họ phải lặp lại nghi lễ này để tưởng nhớ đến Ngài.  Ly rượu thứ ba tượng trưng cho huyết Ngài mà bởi đó giao ước mới được thực hiện với một của tế lễ (Xu 24:8  Gie 31:31-34).  Cuối cùng Ngài nói về sự Ngài sắp bị phản bội, và gói gọn trong một câu nói khó hiểu Ngài đưa ra các sự kiện của một tiến trình đã được Đức Chúa Trời sắp đặt mà Ngài phải tuân theo, trách nhiệm do tự ý lựa chọn và tội lỗi tất yếu của một kẻ phản Ngài.

Chú Thích.   15-18  Mác ghi lại lời tiên tri rằng sự phản bội đã xảy ra trước bữa ăn, còn Lu-ca ghi là sau bữa ăn ông đã đưa lời nguyện của Chúa Giê-xu lên trước.  Rõ ràng là Lu-ca đã tham khảo thêm các lời truyền khẩu khác nữa về bữa ăn bên cạnh câu chuyện xảy ra trong Mác.  Lời của Chúa Giê-xu có vẻ như hàm ý rằng Ngài đã không dùng bữa hoặc ít ra là đã không uống ly rượu thứ tư.   19-20  Phần thứ hai của câu 19 và 20 bị lượt bỏ trong một bản chép tay tiếng Hy Lạp (Colex Bezae –D-) và trong một số bản chép tay tiếng La Tinh và Syriac, một số bản dịch hiện đại cũng không có hai câu này.  Nếu việc lượt bỏ này là có thật thì Lu-ca đã kể cho chúng ta câu chuyện về một bữa ăn mà trong đó người ta đã cầm chén trước khi dùng bánh, và điều này không có ý nghĩa gì về sự hy sinh.  Nhưng không có bằng chứng nào về sự tồn tại của những việc làm này trong Hội Thánh, và chứng cớ bằng văn bản về sự lượt bỏ (một bản chép tay tiếng Hy Lạp bất thường so với 3.000 bản khác) là không thuyết phục.  Bản văn dài hơn đã được dịch trong NIV thường được ưa chuộng hơn nó có những mối liên hệ với truyền thống đã được Phao-lô biết đến (ICo 11:23-26).  Bản văn ngắn hơn có thể là do sự hiểu nhầm, có lẽ là do mong ước muốn “sửa” lại câu chuyện vốn đã nhắc đến hai ly rượu hơn là một ly.

(Lu 22:24-38) Những lời phán của Chúa Giê-xu tại bàn tiệc (đối chiếu Mat 26:31-35  Mac 14:27-31  Gi 13:36-38).  Lu-ca nêu ra đầy đủ những lời phán của Chúa Giê-xu sau bữa ăn tối hơn là những lời chúng ta có trong Ma-thi-ơ và Mác.

24-27  Trước tiên, những tranh cãi liên quan đến địa vị sẽ không thể diễn ra trong Nước Đức Chúa Trời, bất kể những điều gì có thể xảy ra trong thế gian này.  Trong xã hội loài người, người được phục vụ thường được xem là tôn trọng hơn, nhưng qua gương của Chúa Giê-xu phục vụ các môn đồ (đối chiếu Giăng 13), chúng ta được chứng minh rằng trong Nước Thiên Đàng thì sự việc không phải như thế (đối chiếu Mac 10:35-45 mà Lu-ca đã lượt bỏ).

28-30  Lời phán thứ hai của Chúa Giê-xu đã ban vinh dự cho Mười hai môn đồ.  Họ đã theo Chúa Giê-xu trong những thử thách, vì vậy họ sẽ được dự phần trong bữa tiệc của Đấng Mết-si-a và sẽ là những quan tòa cùng phán xét các chi tộc Y-sơ-ra-ên trong Nước của Chúa Giê-xu.  Thật lạ là khi lời phán này không nói đến việc Giu-đa đã tự tách mình ra khỏi địa vị của Mười hai môn đồ, cũng không nói gì về các dân ngoại, nhưng nó lại nhắc đến những địa vị cao trọng chỉ ngay sau khi Chúa Giê-xu vừa quở trách sự tìm kiếm tư lợi (đối chiếu 10:28-31).  Mat 19:28 có lẽ là bản ghi khác của cùng một lời phán và điều này có lẽ đã xuất hiện trong bản văn gốc.  Đây có thể là một cách diễn đạt để cho biết rằng các môn đồ sẽ dự phần trong sự cai trị với Chúa Giê-xu trong Nước Ngài còn những người Y-sơ-ra-ên không tin sẽ bị loại bỏ.

31-34  Trong phần thứ ba, Chúa Giê-xu nói đến việc thế nào Sa-tan đã tìm cách để có được các môn đồ (chữ ngươi trong câu 31 ở dạng số nhiều) để sàng sảy họ (đối chiếu Giop 1:1-2:13  Da 10:13) và đưa họ đến chỗ sa ngã, xa cách Chúa Giê-xu.  Chúa Giê-xu đã cho phép điều này xảy ra, nhưng Ngài cũng đã cầu nguyện cho Phi-e-rơ để ông sẽ không ngã trong đức tin, và vì thế ông có thể khích lệ cho những người khác.  Mặc dù chính Phi-e-rơ sẽ chối thầy mình nhưng ông sẽ không bị sa ngã hoàn toàn.

35-38  Cuối cùng, Chúa Giê-xu nói về hoàn cảnh mới.  Câu 36 có tính mỉa mai nặng nề.  Chúa Giê-xu biết rằng kể từ bây giờ Ngài và những người theo Ngài sẽ đối mặt với sự chống đối và thậm chí với sự chết.  Các môn đồ hiểu sai ý Ngài mà cầm lấy vũ khí.  Ấy đủ, Chúa Giê-xu nói để kết thúc cuộc nói chuyện mà họ đã không hiểu.  Cách thức của Chúa Giê-xu, như họ lẽ ra phải biết, không phải là cách dùng gươm giáo mà là cách thức của tình thương.

2. Lời cầu nguyện của Chúa Giê-xu và sự Ngài bị bắt (Lu 22:39-53) (Mat 26:36-56  Mac 14:32-50  Gi 18:1-11)

Vườn Ghết-sê-ma-nê nằm ở dưới chân núi Ô-li-ve.  Do ý thức được về những sự cám dỗ xung quanh mọi người nên Chúa Giê-xu đã giục các môn đồ mình phải cầu nguyện.  Sau đó Ngài lui ra một mình mà cầu nguyện rằng nếu có thể được xin cho chén đau khổ và thạnh nộ (đối chiếu Es 51:22  Mac 10:38) đã đặt trước cho Ngài được cất khỏi.  Tuy nhiên, là một người Con vâng phục, Ngài tự đặt mình trong sự quyết định của Cha Ngài.  Sau cơn căng thẳng tột độ Ngài chờ dậy và thấy các môn đồ đang ngủ, và một lần nữa Ngài thúc giục họ cầu nguyện.  Chỉ những người nào đã cầu nguyện mới được mạnh mẽ trong suốt vài giờ sắp tới.  Khi Ngài đang nói thì kẻ bội phản kẻ được gọi một cách khinh bỉ là tên Giu-đa đi đến cùng các thầy đội có nhiệm vụ giữ sự yên tĩnh trong đền thờ, và hắn hôn Ngài bằng một cái hôn phản nghịch.  Các môn đồ đã nhận ra điều gì sắp xảy ra và một trong hai thanh gươm (38) nhanh chóng được rút ra sử dụng.  Tuy nhiên, Chúa Giê-xu đã ngăn các môn đồ lại và sau đó quay sang đám đông: Có phải đây là cách để bắt giữ một người dạy dỗ ưa chuộng hòa bình chăng ? Quả thật, giờ của quyền lực tối tăm đã đến!

Chú Thích.   40  Vì đây là chỗ Chúa Giê-xu đến theo như thói quen (39) nên Giu-đa biết sẽ tìm Ngài ở đâu.   43-44  Những câu này bị lượt bỏ trong một số bản chép tay tốt nhất, và thường như thế đã đủ lý do để cho rằng đây là phần thêm vào văn bản, nhưng xét về ngôn ngữ thì đây là cách viết của Lu-ca và cũng có thể được xem là xác thực.  Mồ hôi của Chúa Giê-xu giống như kích cỡ của giọt máu hơn là về màu sắc.

3. Cuộc xét xử của người Do Thái (Lu 22:54-71) (Mat 26:57-75  Mac 14:53-72 đối chiếu Gi 18:12-27).

Trước hết Chúa Giê-xu bị đem đến nhà của thầy cả thượng phẩm là nơi được dùng cho việc xử án chính thức.  Xung quanh khoảng sân chính có những căn phòng như tại nhà của các gia đình giàu có trong thế giới La Mã.  Việc Phi-e-rơ xuất thân từ Ga-li-lê, như đã được thể hiện qua giọng nói của ông (Mat 26:73), được xem là bằng chứng cho việc ông là “người đồng bọn” với Chúa Giê-xu.  Trong nỗi sợ hãi chính đáng cho sinh mạng của mình, Phi-e-rơ đã đầu hàng sự cám dỗ.  Chỉ có Lu-ca ghi lại thế nào Chúa Giê-xu đã nhìn ông bằng một cái nhìn thấu suốt, và Phi-e-rơ với lòng đầy ăn năn thống hối đã hoàn toàn tan vỡ.

Trong khi đó, Chúa Giê-xu phải mang lấy gánh nặng của riêng mình.  Ngài được xem như là một đấng tiên tri, mà các tiên tri thường được cho là phải có khả năng tiên đoán và những khả năng tương tự.  Thế thì đây chính là thời điểm thích hợp, cứ để Ngài chứng minh điều đó qua trò chế nhạo độc ác về người đàn ông mù để làm trò cười cho những tên lính gác.

Vào lúc tảng sáng, Toà công luận (Toà án tối cao Do Thái) được vội vã triệu tập và Chúa Giê-xu bị đưa đến trước toà.  Việc thẩm vấn sơ bộ đã xong, và Lu-ca đi thẳng vào câu hỏi mang tính quyết định: Có phải Giê-xu tuyên bố mình là Đấng Mết-si-a? Đầu tiên Ngài do dự trong sự trả lời vì những người nghe hẳn sẽ không tin điều Ngài nói, và họ sẽ không trả lời nếu Ngài hỏi họ rằng họ nghĩ gì.  Tuy nhiên cuối cùng Ngài đã tuyên bố rằng kể từ nay Con Người sẽ được ngồi bên hữu Đức Chúa Trời.  Việc này khiến họ hỏi rằng có phải Ngài đang tuyên bố Ngài là Con Đức Chúa Trời hay không.  Chúa Giê-xu nói: “Chính các ngươi nói ta là Con Ngài”.  Câu trả lời được xem như là sự đồng ý của Ngài, và điều này đã bị xử là phạm thượng.

Mác mô tả lại một cuộc xét xử kéo dài hơn diễn ra vào buổi tối tại nhà của thầy cả thượng phẩm.  Tại đây diễn ra cuộc đối thoại tương tự như được ghi trong Lu-ca, và sau đó là một cuộc họp ngắn của Toà Công luận vào buổi sáng.  Lu-ca không nói gì về cuộc xử án vào buổi tối nhưng tập trung vào những gì xảy ra vào buổi sáng.  Có hai điều rõ ràng là - có một phiên xử không chính thức vào buổi tối tại nhà của thầy cả thượng phẩm (mà Lu-ca lượt bỏ hoàn toàn), và cuộc họp chính thức của Tòa Công luận (mà Mác lướt qua một cách vội vã) diễn ra vào buổi sáng để xác nhận lại những quyết định đã đưa ra trước đó.  Không rõ là cuộc đối thoại được tường thuật lại thực tế chỉ xảy ra vào buổi tối, hay là được lặp lại một cách ngắn gọn vào buổi sáng (Vì cả hai tác giả Phúc Âm đều đang rút ngắn lại câu chuyện nên họ đã ghi lại cuộc đối thoại khi nào cần thiết nhất).  Điều này giải thích tại sao trong Lu-ca việc Phi-e-rơ chối Chúa và lời chế nhạo của những đứa đầy tớ đã được ghi lại trước cuộc xử án buổi sáng nhưng trong Mác là sau cuộc xử án vào buổi tối.

Chú Thích.   60  Tiếng gà gáy ở đây có nghĩa đen chứ không phải là tiếng kèn binh của người La Mã vào lúc 3 giờ sáng (vốn được biết như là “gallicinium”, có nghĩa là “tiếng gà gáy”.   69-70  Mác có một câu hỏi được nêu ra cho Chúa Giê-xu và một câu trả lời, Lu-ca ghi lại hai câu hỏi và hai câu trả lời, vì vậy đã phân biệt ra những danh hiệu về Đấng Christ, Con Người và Con Đức Chúa Trời.  Trong Mác, Chúa Giê-xu nói rằng những kẻ xét xử Ngài sẽ thấy Con Người ngồi bên hữu Đức Chúa Trời và sẽ đến trong tư cách là Đấng phán xét, nhưng trong Lu-ca, Ngài nói về sự được tôn cao trong hiện tại của Con Người.  Tuy nhiên, hai sự ghi chép này đã bổ sung cho nhau.  Việc Con Người ngồi bên hữu Đức Chúa Trời với tư cách là Đấng phán xét hàm ý rằng Ngài đã được tôn lên địa vị ấy từ trước, là địa vị vốn được Lu-ca nhấn mạnh nhiều hơn.  Hãy chú ý cách Chúa Giê-xu thay thế danh hiệu “Con Người” cho danh hiệu “Christ” (Lu 9:20-22).   71  Lời buộc tội cho Chúa Giê-xu vì thế có lý do là vì Ngài đã tuyên bố mình là Đấng Mết-si-a hay là Con Đức Chúa Trời.  Có lẽ danh hiệu thứ hai được xem là một danh hiệu của Đấng Mết-si-a, nếu không thì một điều nào đó mà Chúa Giê-xu đã nói riêng với các môn đồ về tư cách Con Đức Chúa Trời của Ngài đã bị lộ ra ngoài (qua Giu-đa?).  Việc tuyên bố được ngồi bên hữu Đức Chúa Trời là một sự lộng ngôn (Mac 14:64).

4. Cuộc xử án của người La Mã (Lu 23:1-25)

(Lu 23:1-5) Chúa Giê-xu trước mặt Phi-lát (Mat 27:1-2,11-14  Mac 15:1-5 đối chiếu Gi 18:28-38).  Vì người Do Thái nói chung là không có quyền thi hành án tử hình (18:31) nên cần phải đưa vụ án này ra trước các nhà cầm quyền La Mã.  Một vị tổng đốc La Mã sẽ không lắng nghe những vấn đề về “đạo lý, danh hiệu hay là luật pháp riêng của các ngươi (tức là của người Do Thái)” (Cong 18:14-15), và vì vậy sự tố cáo chống lại Chúa Giê-xu phải được nói lại như là lời tố cáo về việc nổi loạn chống người La Mã.  Trong hai lời cáo buộc cụ thể được đưa ra, thì lời cáo buộc thứ nhất là sai (đối chiếu Lu 20:25), nhưng lời thứ hai là đúng, mặc dù không theo nghĩa mà người Do Thái muốn nói (đối chiếu Gi 18:36-37).  Vì thế, khi Phi-lát hỏi Chúa Giê-xu có phải Ngài tuyên bố mình là vua hay không thì Ngài đã trả lời mà không cam kết điều gì.  Phi-lát lẽ ra phải hỏi Chúa Giê-xu cặn kẽ hơn trước khi đưa ra phán quyết rằng không có cơ sở nào cho một lời cáo buộc chính trị chống lại Ngài.

Chú Thích.  Mặc dù thường thì Phi-lát ở trong thủ phủ của Sê-sa-rê (đối chiếu Cong 23:33 đừng nhầm lẫn với Sê-sa-rê Phi-líp, Mac 8:27) nhưng ông ta đã đến Giê-ru-sa-lem nhân mùa lễ Vượt Qua vua Hê-rốt cũng vậy.   2  Từ Vua giải thích cho ý nghĩa của Đấng Christ đối với người La Mã.

(Lu 23:6-12) Chúa Giê-xu trước mặt -rốt  Phi-lát đang cố tránh né giải quyết một vụ án khó xử.  Việc đề cập đến Ga-li-lê (5) đã cho ông ta một cơ hội.  Ông ta thừa biết rằng Chúa Giê-xu không hề phạm tội, và ông ta dường như đã cố tình đùa giỡn với người Do Thái khi tìm cách phá hỏng ý định của họ.  Nhưng khi tình hình có dấu hiệu không kiểm soát được thì ông ta sẵn sàng hi sinh một con người vô tội để có được sự bình yên.  Tuy nhiên, trong giờ phút ấy, ông ta đã có thể tranh thủ được thời gian, và có lẽ là cả sự hỗ trợ bằng cách chuyển Chúa Giê-xu sang vị vua của xứ Ga-li-lê là Hê-rốt An-ti-ba.  Hê-rốt được biết đến như là một người ưa chuyện tầm phào, thích xem những trò giải trí tiêu khiển của người mà có lẽ ông ta cho là cũng giống như một nhà thuật sĩ nào đó.  Với loại người ấy, Chúa Giê-xu không có gì để nói.

Chú Thíchng cũng có thể một đám lính dễ dàng bắt chước theo cách cư xử của những tên lính khác.   6-7  Không hẳn là Phi-lát đang tìm cách chuyển vụ việc này một cách chính thức sang cho vua Hê-rốt.  Có thể ông ta chỉ đơn giản là tìm kiếm sự hậu thuẫn cho ý kiến của riêng mình.  Một số học giả cho rằng sự việc này đã được viết ra căn cứ theo Cong 4:25-26, nhưng điều này không chắc chắn. (Lu 9:9).   10  Một số nhà lãnh đạo Do Thái hẳn đã đến tận nơi ở của Hê-rốt để bảo đảm rằng ông ta được nghe về vụ kiện này theo phe của họ.   11  Trò nhạo báng này tương tự như trò đã được thực hiện bởi những tên lính của Phi-lát (Mac 15:16-20), như.  Các câu chuyện tương tự có liên quan đến sự chế nhạo các tù nhân khác trong thế giới cổ đại.

(Lu 23:13-25) Bản án tử hình (Mat 27:15-26  Mac 15:6-15  Gi 18:38-19:16).  Phi-lát có lẽ mong rằng dân chúng (13) sẽ đứng về phía ông ta trong việc chống lại các nhà lãnh đạo Do Thái khi ông ta đưa ra lời phán quyết.  Việc người tù tạo nên sự rối loạn trong dân chúng là điều không còn nghi ngờ gì nữa, nhưng một trận đòn đã là hình phạt thích đáng cho việc này.  Tuy nhiên do bị các thầy tế lễ chi phối nên đám đông đã la hét để đòi thả Ba-ra-ba, một nhà cách mạng nổi tiếng, thay vì phải thả Chúa Giê-xu.  Phi-lát đương nhiên là không muốn tha cho một con người nguy hiểm (cũng như không muốn định tội một con người vô tội).  Nhưng ông ta nghĩ sẽ là khôn ngoan hơn nếu nhượng bộ đám đông đang la ó dữ dội.  Người ta cho rằng có một nhà cầm quyền người Do Thái sau này đã mô tả Phi-lát là “không uyển chuyển, không có lòng nhân từ và cố chấp”.  Điều này xuất phát từ cách cư xử của ông ta ở đây, vì quan điểm chung của ông ta khi bày tỏ ra sự do dự và yếu đuối đã là một sự phản ánh không đúng sự thật.  Vào cuối ngày hôm ấy, Phi-lát đã không tỏ ra lòng thương xót, và không kể gì đến công lý, đối với một người vô tội.

Chú Thích.   16  Hình phạt ở đây có nghĩa là đánh đòn.  Chính việc “đánh đòn” đã là một hình phạt hoặc là hình phạt sơ bộ trước khi bị đóng đinh (Mac 15:15).   18  Lu-ca không giải thích điều gì đã khiến dân chúng xin tha cho Ba-ba-ra.  Các Phúc Âm khác có giải thích về tục lệ phóng thích một tù nhân vào ngày lễ Vượt Qua, và điều này đã được các học giả sau này thêm vào trong câu 17 (bản NIV cũng như bản tiếng Việt 1926 đã lượt bỏ câu 17 trong văn bản).

5. Chúa Giê-xu bị đóng đinh (Lu 23:26-49) (Mat 27:32-56  Mac 15:21-41  Gi 19:17-30)

Thông thường người bị kết án phải tự mình vác cây thập tự đến nơi hành hình (đối chiếu 19:17).  Theo sau Ngài (26) có thể là sự phản ảnh có chủ ý Lu 9:23  14:27.  Một đám đông luôn đến xem những cuộc hành hình do tính hiếu kỳ hoặc vì lòng thương xót.  Những người phụ nữ trong số họ than khóc cho Chúa Giê-xu, nhưng Ngài lại thương hại mà than khóc cho Giê-ru-sa-lem và dân thành của nó như thể điều ấy sẽ xảy ra.  Hãy để họ than khóc cho chính mình thì hơn vì một ngày sẽ đến, là lúc họ phải hối tiếc vì đã sinh con để chúng phải chịu đựng cơn thống khổ kinh khiếp, và họ sẽ phải mong chờ một thiên tai nào đó xảy ra để làm chấm dứt cảnh khốn cùng của họ (đối chiếu Os 10:8  Kh 6:16).  Vì nếu đây là cách thức mà người La Mã đối xử với một người vô tội là Chúa Giê-xu thì số phận của Giê-ru-sa-lem tội lỗi sẽ càng tồi tệ đến thế nào.

Sau khi bị đóng đinh giữa hai tên tội phạm (đối chiếu Es 53:9,12), những lời đầu tiên của Chúa Giê-xu được ghi lại trong Phúc Âm này lại là một lời cầu xin sự tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh Ngài.  Việc những kẻ hành hình chia nhau áo xống của người đã chết là một thông lệ được thừa nhận, có lẽ thông lệ này được ghi chép lại một cách đặc biệt là vì các tín hữu Cơ Đốc đã thấy có một sự tương ứng trong Thi 22:18.  Trong khi ấy, những người coi việc đã nhạo cười Chúa Giê-xu một cách vô ý thức tuy nhiên, các độc giả Cơ Đốc biết là thật ra chính sự chết của Ngài đã khẳng định rằng Chúa Giê-xu là Đấng Christ và là Đấng Cứu Thế.  Những người lính cũng tham gia vào sự nhạo báng Ngài với những chữ ghi ở tấm gỗ đóng trên cây thập tự.  Ngay cả một tên tội phạm cũng lặp lại lời nhạo báng tương tự.  Chỉ có Lu-ca kể lại như thế nào tên tội phạm kia, có lẽ trước đó cũng nhạo báng Chúa Giê-xu, nhưng sau đó đã thốt ra lời xưng nhận tội lỗi của chính ông ta và tuyên xưng Chúa Giê-xu là vô tội.  Đức tin vào giờ phút cuối của anh ta đã được chấp nhận, và anh ta được hứa ban cho một chỗ trong Pa-ra-đi cùng với những người được xưng công bình thay vì phải ở trong Sheol (địa ngục) với những kẻ bị định tội.

Từ giờ trưa (giờ thứ 6, câu 44 theo cách tính giờ của người La Mã và người Do Thái), đã xảy ra một sự tối tăm kéo dài trong ba giờ.  Từ Hi Lạp được sử dụng không nhất thiết phải có nghĩa là nhật thực, và thực sự không thể có nghĩa là một cuộc nhật thực ở đây vì lúc này là vào kỳ lễ Vượt Qua nên trăng tròn (nhật thực chỉ xảy ra vào lúc trăng mới).  Nguyên nhân gây ra sự tối tăm có lẽ là do một cơn bão bụi (như một trận gió nóng thổi từ Châu Phi sang Châu Âu), và hẳn là phải rất mạnh mới có thể làm xé toang tấm màn tại đền thờ.  Điều này dường như mang một ý nghĩa tượng trưng, nhưng các nhà viết Phúc Âm đã không nêu ra ý nghĩa đó là gì.  Điều đó có thể được xem như là lời tiên tri về sự tàn phá sắp xảy đến cho đền thờ hoặc như sự ám chỉ rằng con đường để bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời nay đã được mở ra cho tất cả mọi người (He 9:8-14  10:19-20). 

Vào giờ thứ chín (tức ba giờ chiều), Chúa Giê-xu đã phó chính mình cho Đức Chúa Trời với những lời trong Thi 31:5.  Cách Ngài chết khiến cho viên đội trưởng phải ngợi khen Đức Chúa Trời.  Những lời nói của ông ta cho thấy ông ta tin rằng Chúa Giê-xu vô tội, và có lẽ những lời đó có ý nói rằng Chúa Giê-xu đang phải chịu cảnh ngộ vẫn thường xảy ra đối với những người công bình là sự chịu khổ mà họ không đáng phải gánh chịu (đối chiếu sách Khôn Ngoan 2:12-30).  Nhưng tại sao ông ta ca ngợi Đức Chúa Trời? Phải chăng đó là vì Đức Chúa Trời đã thêm sức cho Chúa Giê-xu để chết một cách cao thượng sau khi đã sống một cách cao thượng? Lời nhận xét cuối cùng nhấn mạnh rằng những người bạn của Chúa Giê-xu đã chứng kiến Ngài thực sự đã chết.

Chú Thích.   33  Một chỗ gọi chỗ Sọ (tiếng A-ram gọi là Gô-gô-tha) có lẽ nằm gần nhà thờ hiện nay của Holy Sepulchre ở về phía bắc của thành phố.  Ngọn đồi có hình dáng cái sọ được biết là Gordon’s Calvary nhưng không có bằng chứng xác thực để chứng minh cho điều này.   34a  Câu này bị lượt bỏ trong hầu hết các bản chép tay đầu tiên, nhưng nó cần phải được xem như là một phần trong bản ghi chép của Lu-ca (đối chiếu Cong 7:60), hoặc như là một lời truyền khẩu đáng tin cậy đã được đưa vào trong một số bản chép tay.  Có lẽ nó đã bị các nhà biên chép lượt bỏ vì họ cảm thấy rằng lời cầu nguyện ấy không chắc được trả lời hay đã không được trả lời.   36  Hành động này dường như khác với hành động tử tế trong Mac 15:36.  Giấm là thức uống rẻ tiền được những người lính dùng để uống.   39-40  Ở đây cũng như ở những chỗ khác, Lu-ca có được những lời truyền khẩu không thấy ghi lại trong Mác.  Không cần thiết để chúng ta giả sử rằng những lời của tên tội phạm là có tính chất mỉa mai, và cũng không cần phải xem cả sự kiện ấy chỉ như là truyền thuyết.   42  Khi Ngài đến trong Nước mình rồi có nghĩa là “khi Ngài trở lại với tư cách là vua”.   43  Pa-ra-đi là nơi yên nghỉ của những kẻ được chuộc trước khi sự phán xét cuối cùng xảy đến, và nó mở ra cho những người tin cậy nơi Chúa Giê-xu.   47  Người công bình trong Mác là “Con Đức Chúa Trời”.  Cách diễn dịch của Lu-ca có thể là do ý muốn tránh gây ra ấn tượng rằng thầy đội nghĩ về Chúa Giê-xu như một dạng ác thần nào đó theo cách nói của người ngoại đạo.

6. Sự chôn Chúa Giê-xu (Lu 23:50-56) (Mat 27:57-61  Mac 15:42-47  Gi 19:38-42).

Thi thể của những tên tội phạm bị đóng đinh thường bị treo lên và sau đó bị ném vào một ngôi mộ chung, nhưng một cuộc khai quật vào năm 1957 cho thấy hài cốt của một người đã bị đóng đinh và sau đó được chôn trong một ngôi mộ riêng.  Giô-sép bọc thi thể của Chúa Giê-xu, theo phong tục Do Thái, trong một tấm vải liệm và đặt trong một ngôi mộ mới.  Mộ của người Do Thái là những cái hang, tự nhiên hoặc nhân tạo, nằm trên những sườn đồi, đủ rộng cho một người có thể vào chăm sóc các thi thể, và được chắn lại bởi một hòn đá trượt ngang qua lối vào.  Tuy nhiên, Giô-sép đã không ướp xác, và những người phụ nữ từ Ga-li-lê quyết định sửa lại sự thiếu sót này ngay sau ngày Sa-bát là ngày mà họ vẫn thường tuân giữ.

Chú Thích.   51  A-ri-ma-thê nằm ở vị trí khoảng 32 km (20 dặm) về phía tây bắc Giê-ru-sa-lem, tại biên giới giữa Giu-đê và Sa-ma-ri.   51  Vì tất cả người Do Thái đều trông đợi Nước Đức Chúa Trời, nên nhóm từ này ở đây phải có nghĩa là Giô-sép đang trông đợi Nước ấy theo cách thức cụ thể như Chúa Giê-xu đã dạy dỗ và sống theo đó.   52  Sự chết do đóng đinh thường diễn ra chậm và kéo dài, Lu-ca không đề cập đến sự ngạc nhiên của Phi-lát khi cái chết của Chúa Giê-xu đến quá nhanh.   54  Ngày sắm sửa cho ngày Sa-bát hàng tuần kéo dài từ lúc mặt trời lặn vào ngày thứ Năm cho đến lúc mặt trời lặn ngày thứ Sáu.  Gần tới (nghĩa đen là “rạng sáng”) thường đề cập đến lúc mặt trời mọc, nhưng ở đây dường như đề cập đến lúc mặt trời lặn hay lúc lên đèn.

7. Sự sống lại của Chúa Giê-xu (Lu 24:1-53)

(Lu 24:1-12) Ngôi mộ trống (đối chiếu Mat 28:1-10  Mac 16:1-8  Gi 20:1-10).  Hai người nam mặc đồ sáng, liên hệ đến thiên sứ (đối chiếu Lu 9:29), nhẹ nhàng trách những người phụ nữ vì họ mong tìm được trong ngôi mộ của chính Đấng đã nói tiên tri rằng Ngài sẽ sống lại từ trong kẻ chết (9:22  18:33).  Việc kể tên những người phụ nữ (10) có lẽ để xác nhận rằng họ là những người làm chứng đáng tin cậy.

Chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi người ta thường đặt nghi vấn về tính lịch sử của câu chuyện.  Chẳng hạn, người ta đã gợi ý rằng, thật ra những người phụ nữ đã đến nhầm ngôi mộ khác, nhưng không thể tin được rằng cả họ lẫn những người khác sau này đến viếng mộ đã nhầm lẫn ở điểm này.  Hay người ta lý luận rằng, mặc dù các câu chuyện về ‘những lần hiện ra sau khi sống lại’ có thể mang tính lịch sử phổ quát, nhưng câu chuyện về ngôi mộ trống thì sau này mới được triển khai và chỉ mang tính truyền thuyết.  Nhưng lời truyền về ngôi mộ trống có lẽ đã được nhắc đến trong một bản ghi chép có từ rất sớm như ICo 15:3-7, và theo cách hiểu của Tân Ước về sự sống lại thì đây là sự sống lại của thân thể.  Nếu cho rằng hài cốt của Chúa Giê-xu vẫn còn được chôn tại Palestine có nghĩa là đã hiểu về sự sống lại khác với cách hiểu của Tân Ước và các sách còn lại.

Thế nhưng, ngay cả khi câu chuyện chủ yếu về ngôi mộ trống và về những sự hiện ra có được chấp nhận đi nữa thì việc làm cho các câu chuyện hài hòa với nhau vẫn còn khó khăn, giống như trường hợp về một sự kiện làm choáng người nào đó vào ngày nay đã được chứng kiến bởi các nhân chứng khác nhau.  Điều này tránh cho các nhân chứng khỏi bất kỳ lời cáo buộc nào về sự đồng mưu với nhau, nhưng nó lại có những kết luận còn bỏ ngỏ.  (Để cố gắng giải quyết vấn đề này, xin xem J.Wenham, Easter Enigma Pasternoster press, 1984).

Chú Thích.   1  Việc đề cập đến nhiều người đàn tương phản với việc Ma-ri Ma-đơ-len tự đi đến ngôi mộ được ghi lại trong Gi 20:1-10.  Có thể hai hay nhiều câu chuyện riêng rẽ đã được lồng vào nhau trong bản ghi chép của Lu-ca.   3  Ở đây và tại một số chỗ trong chương này (5,12,36,40,51,52), một số từ ngữ đã bị lược bỏ trong một số bản chép tay và vì thế trong các bản dịch tiếng Anh cũng vậy.  Bản NIV đã đúng khi giữ lại những từ ngữ này vì bằng chứng cho việc lượt bỏ là không thích hợp.   4  Mác chỉ đề cập đến một người nam trẻ tuổi và lời lẽ của người này cũng khác.  Cụ thể là Lu-ca không ghi lại mạng lệnh cho các môn đồ phải đi đến Ga-li-lê (Mac 16:7 đối chiếu 14:28).  Có lẽ ông đã lược bỏ điều này vì ông không mô tả bất kỳ sự xuất hiện nào của Chúa Giê-xu tại Ga-li-lê.   9  Lời tường thuật trong Mac 16:8 rằng những người phụ nữ không nói gì với ai cả vì quá sợ hãi là không có gì mâu thuẫn với điều được nói đến ở đây.  Có lẽ Mác muốn nói rằng họ không nói gì với ai ngay lúc đó ngoại trừ mười một môn đồ.   12  (Gi 20:1-10).

(Lu 24:13-35) Đoạn đường đi về Em-ma-út (đối chiếu Mac 16:12-13).  Câu 16 có nghĩa là Đức Chúa Trời ngăn không để hai môn đồ nhận ra Chúa Giê-xu không phải do Ngài có một hình thể khác (tuy vậy, xin xem 16:12).  Bằng cách vờ như không biết gì, Ngài được biết điều đã làm họ buồn bã và rằng mọi người đều đồn đãi về ngôi mộ trống của Ngài.  Họ chắc chắn rằng Chúa Giê-xu là một nhà tiên tri (là khả năng cao nhất mà những người không tin ở sự sống lại của Chúa Giê-xu nghĩ về Ngài).  Họ đã mong Ngài trở thành người cứu chuộc của Y-sơ-ra-ên, nhưng họ không thể hiểu được thế nào Ngài đã bị các nhà cầm quyền chối bỏ.  Họ nhớ lại rằng đã có lời tiên tri về sự sống lại của Ngài vào ngày thứ ba, nhưng họ không nghe nói đã có người nào trông thấy Ngài.  Chúa Giê-xu trả lời rằng sự thương khó là bước khởi đầu cần thiết cho việc Đấng Mết-si-a bước vào trong sự vinh quang của một vị vua, và Ngài chỉ ra cho họ những câu Kinh Thánh nói tiên tri về việc này (Lu 18:31).  Ngôn ngữ được sử dụng để mô tả cách Ngài lấy bánh, tạ ơn Đức Chúa Trời, bẻ ra phân phát cho họ chắc chắn đã gây sự hồi tưởng – ít nhất là đối với độc giả của Lu-ca về sự mô tả những hành động của Chúa Giê-xu khi Ngài làm phép lạ hóa bánh ra nhiều và về Bữa Tiệc Thánh (9:16  22:19  Mac 8:6).  Chúng ta không biết là hai môn đồ có được nhắc nhở về các sự kiện này hay không (họ đã được chứng kiến sự kiện nào trong số này hay không?), vì như thể có một cái vảy rơi ra khỏi mắt họ và họ nhận ra Chúa Giê-xu.  Họ đã nhận ra sự kiện ấy trước đó vì trong khi Chúa Giê-xu đang trò chuyện với họ trên đường đi thì họ đã cảm thấy có một sự hân hoan kỳ lạ.  Ngay lập tức họ trỗi dậy, đi suốt đoạn đường trở lại Giê-ru-sa-lem để báo cho những người khác.  Bảng tóm tắt sơ lược trong Mac 16:12 (vốn không phải là phần nguyên bản của bản văn Phúc Âm) nói rằng các môn đồ không tin họ, nhưng điều này liên hệ đến sự hồ nghi và sự vô tín của họ sau này trong câu chuyện (37,41).

Chú Thích.   13  Em-ma-út thường được xem là el-Qubeibeh, khoảng 11km (7 dặm) về phía tây bắc Giê-ru-sa-lem, nhưng có lẽ nơi đó là Amwas (ngày nay là Nicopolis), ở khoảng 31km (18 dặm) về phía bắc thì đúng hơn.  (Nếu như vậy, chúng ta phải theo các bản chép tay của Lu-ca, ghi lại quãng đường này là 160 ết-ta-đơ).   18  --ô-ba có lẽ là Cơ-lê-ô-ba trong Gi 19:25.  Người bạn cùng đi không được nêu tên có lẽ là vợ ông, nhưng chúng ta không được biết về điều này.   21  Các môn đồ biết rằng Chúa Giê-xu đã nói về một điều gì đó quan trọng sẽ xảy ra vào ngày thứ ba, và Ngài nói rằng ngôi mộ của Ngài sẽ trống không.  Nhưng đây không phải là chứng cớ đầy đủ cho sự sống lại của Ngài: chứng cớ xác thực duy nhất chỉ có thể là sự hiện ra của chính Chúa.   27  Kinh Thánh của người Do Thái gồm có ba phần: luật pháp Môi-se (Sáng Thế Ký, Phục Truyền Luật Lệ Ký) các sách tiên tri (Giô-suê, Các Quan Xét, ISa-mu-ên, IICác vua, và các sách tiên tri - trừ sách Đa-ni-ên-), và các sách văn thư (tất cả các sách còn lại trong Cựu Ước).  Sự lược bỏ nhóm thứ ba ở đây (tương phản với câu 44) là không quan trọng, các tác phẩm Cựu Ước ở đây đang được mô tả theo nội dung có tính tiên tri hơn là đang được liệt kê ra.   34  Về sự xuất hiện của Si-môn  (ICo 15:5).

(Lu 24:36-53) Chúa Giê-xu hiện ra một lần nữa với các môn đồ (đối chiếu Mat 28:16-20  Mac 16:14-20  Gi 20:19-23).  Các môn đồ cần được thuyết phục rằng họ đang thấy một con người thật và đó thật sự là Chúa Giê-xu, và họ không cần phải sợ hãi về sự bày tỏ siêu nhiên này.  Vì thế Chúa Giê-xu tỏ ra cho họ thấy thân thể bằng xương bằng thịt, và bàn tay bàn chân có dấu đinh của Ngài.  Để cung cấp thêm bằng chứng về sự thực hữu của mình, Ngài đã dùng một ít thức ăn trong khi Ngài ở với họ.

Có một sự lặp lại lời dạy bảo mà Ngài đã nói với hai môn đồ ở trên đường Em-ma-út, nhờ đó tất cả các môn đồ có thể hiểu được những lời tiên tri về sự đến của Chúa Giê-xu.  Ở đây, có hai yếu tố mới được giới thiệu.  Mạng lệnh rao giảng cho các dân các nước sự ăn năn để được tha tội được nêu ra và được chứng minh là căn cứ theo lời tiên tri trong Cựu Ước.  Những người đã làm chứng về những lần hiện ra của Ngài sau khi sống lại (nhóm người nhiều hơn số Mười một môn đồ) được hứa rằng quyền năng Đức Chúa Trời sẽ giúp cho họ có thể làm chứng về Chúa Giê-xu.

Cuối cùng, Chúa Giê-xu đem họ ra ngoài Giê-ru-sa-lem để đi đến làng Bê-tha-ni, tại nơi đó, Ngài chúc phước cho họ và được cất lên khỏi họ để về trời.  Họ trở về Giê-ru-sa-lem và chờ đợi ở đó với lòng trông mong hớn hở rằng lời hứa của Ngài sẽ được hoàn thành.

Chú Thích.   36-53  Câu chuyện này có những nét tương đồng không những với câu chuyện trong Gi 20:19-23 mà còn với câu chuyện trong Mat 28:16-20, ghi lại rằng Chúa Giê-xu đã hiện ra cùng các sứ đồ tại Ga-li-lê và ban cho họ những lời khuyên dạy cuối cùng.  Không có vấn đề gì nghiêm trọng trong việc Chúa Giê-xu hiện ra cùng các môn đồ ở Giê-ru-sa-lem (như trong Lu-ca, Công vụ và Gi 20:1-31) và cả ở tại Ga-li-lê (như trong Ma-thi-ơ và 21:1-25).  Sự hiện ra lần cuối cùng trong Mat 28:1-20 không phải là sự thăng thiên, và có lẽ Chúa Giê-xu đã lặp lại những mạng lệnh của Ngài với các môn đồ nhiều hơn một lần.

Câu chuyện có thể ám chỉ rằng cả sự sống lại lẫn sự thăng thiên đều xảy ra trong cùng một ngày, đó là ngày Chúa Nhật Phục Sinh.  Nhưng điều này có thể mâu thuẫn với một câu chuyện khác của Lu-ca trong Cong 1:1-26.  Điều được mô tả một cách ngắn gọn và vắn tắt ở đây hẳn phải xảy ra trong một thời gian dài hơn.   43  Sự mô tả về một Giê-xu sống lại theo những thuật ngữ vật lý chắc chắn đã làm bối rối một số độc giả, nhưng nếu sự hiện thân của Con Đức Chúa Trời phải xảy ra bằng xương bằng thịt thì thật khó hiểu tại sao thân thể sống lại của Ngài lại không thể hiện ra phẩm chất này.   47  Lời tiên tri về sự truyền giảng cho dân ngoại, (Es 2:3  42:6  49:6  51:4-5  Ro 15:9-12).   50  -tha-ni nằm tại chân núi Ôlive (đối chiếu Cong 1:12).   53  cứ luôn không nên hiểu theo nghĩa đen (đối chiếu Lu 2:37), như Cong 1:13-14 đã thể hiện.

Lên đầu trang