GIĂNG

MỤC LỤC

GIĂNG

1. PHẦN MỞ ĐẦU (Gi 1:1-18)

Không giống các Phúc Âm khác, Phúc Âm Giăng không mở đầu với Giê-xu lịch sử.  Trái lại, độc giả được giới thiệu liền lập tức về Ngôi Lời (tiếng Hi Lạp là Logos), một thuật ngữ mà mãi cho đến cuối phần mở đầu mới được nhận diện là Chúa Giê-xu.  Việc tìm hiểu ý nghĩa của Ngôi Lời là điều hết sức quan trọng vì đây là chìa khoá để hiểu toàn bộ Phúc Âm này.  Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi trong nền văn học Hi Lạp, và nhiều học giả đã cho rằng đối với Giăng ý nghĩa này chỉ có thể được hiểu dựa trên một nền tảng như thế.  Trong vòng những người theo chủ nghĩa khắc kỷ (Stoics) nó được dùng để mô tả nguyên lý về lý trí thiêng liêng là cái khiến cho công trình sáng tạo tự nhiên phát triển.  Ý tưởng này được phát triển đầy đủ hơn trong các tác phẩm của Philo thành Alexandria, người đã xem nó là phương tiện mà qua đó thế giới được tạo dựng.  Tuy có vẻ như có một vài điểm tương đồng trong cách Giăng và Philô thành Alexandria sử dụng thuật ngữ này, nhưng cũng có những khác biệt căn bản.  Philo không hề nghĩ về Ngôi Lời như là một ngôi vị, cũng như không cho rằng Ngôi Lời đã có từ trước khi thế giới được tạo dựng.  Tuy nhiên, điểm khác biệt nổi bật giữa hai cách nhìn của Giăng và Phi-lô đó là Phi-lô phủ nhận sự nhập thể của Ngôi Lời trong khi Giăng lại đặc biệt nhấn mạnh về việc Ngôi Lời trở nên con người.  Một số học giả đã tìm thấy những điểm tương đồng giữa cách sử dụng từ ngữ trong Phúc Âm Giăng và các tác phẩm triết học đương đại vào những thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Cơ đốc giáo là thời kỳ được biết đến với tên gọi Hermitica, nhưng lại hoàn toàn khác biệt về phương diện tư tưởng.  Giăng có lẽ đã sử dụng một số thuật ngữ vay mượn từ tiếng Hi Lạp nhưng lại chịu ảnh hưởng lối suy nghĩ từ những tài liệu khác. 

Có khá nhiều điều đáng nói về điểm tương đồng trong lối suy nghĩ Giăng chịu ảnh hưởng và một số quan điểm trong Cựu Ước.  Tư tưởng Do Thái giáo ảnh hưởng mạnh đến quan điểm về Ngôi Lời.  Qua những sách Thi ca trong Kinh Thánh, chúng ta có thể nhận thấy hoạt động sáng tạo của Đức Chúa Trời đặc biệt được nhấn mạnh qua sách Châm Ngôn (Ch 8:1-36).  Liên hệ mật thiết với nhận xét này là việc các thầy dạy luật thường giải thích thêm về một tác nhân của sự sáng tạo trong sách Luật pháp.  Việc phát hiện ra Các cuộn Biển chết càng hỗ trợ cho ý kiến cần phải vận dụng tư tưởng Do Thái giáo để hiểu được Phúc Âm Giăng.

Tuy nhiên, lời mở đầu phải được xem xét dựa trên chính nó.  Nó cần phải mang tính Cơ Đốc, được sắp xếp để mở đường cho sự ghi chép những hoạt động của một con người duy nhất.  Chính Phúc Âm phải cung cấp chìa khoá để hiểu Lời mở đầu này, chớ không phải ngược lại.  Một sự phân tích kỹ lưỡng về Phúc Âm sẽ cho thấy lời mở đầu cần thiết ra sao cho những chủ đề tái hiện của sách Phúc Âm.

1. Sự tiền hữu của Ngôi Lời (Gi 1:1-5)

Lời mở đầu của Phúc Âm này giống một cách đáng kinh ngạc với lời đầu của sách Sáng Thế Ký.  Giăng đã ghi rõ rằng Ngôi Lời tồn tại trứơc cả công cuộc sáng tạo.  Hàm ý này được diễn tả qua cụm từ Ban đầu Ngôi Lời.  Mặc dù động từ được chia ở thì quá khứ nhưng lại diễn tả ý tiếp diễn.  Ngôi Lời nay đang hiện hữu vốn đã tồn tại trước khi thế giới được tạo dựng nên.  Điều này ngay lập tức giới thiệu một chủ đề thật sâu sắc và được làm rõ hơn bằng hai câu kế tiếp.  Trong tiếng Hi Lạp, giới từ tương đương với chữ with (với) trong tiếng Anh hàm ý một ý tương giao.  Ý tưởng này hiểu theo nghĩa đen có nghĩa là “hướng về Đức Chúa Trời”, vốn diễn tả một sự phân biệt nhất định giữa Đức Chúa Trời và Ngôi Lời.  Thế nhưng câu tiếp theo lại bổ sung thêm một khía cạnh khác khi khẳng định Ngôi Lời Đức Chúa Trời.  Câu này không thể hiểu theo nghĩa tính từ (Ngôi Lời có thần tính) vì sẽ làm giảm bớt ý nghĩa của câu nói này.  Do trong tiếng Hi Lạp mạo từ không được sử dụng trước từ Đức Chúa Trời nên chắn hẳn từ ngữ này phải được dùng để chỉ về đặc điểm của Ngôi Lời.  Thêm vào đó, từ Đức Chúa Trời được dùng như danh từ nên Giăng chắc chắn muốn khẳng định thần tính của Ngôi Lời. 

Ngay sau đó, Giăng tiếp tục tuyên bố về hành động công cuộc sáng tạo của Ngôi Lời.  Bản Hi Lạp của Phúc Âm này chú ý đến hành động của Ngôi Lời.  Ý tưởng này tiếp tục được nhấn mạnh bằng cách loại trừ mọi khả năng tách biệt công cuộc sáng tạo và Ngôi Lời.  Mối liên hệ mật thiết giữa Đức Chúa Trời và Ngôi Lời trong câu 1 được làm rõ trong công cuộc sáng tạo.  Vai trò của Đấng Christ trong công cuộc sáng tạo là chủ đề được lặp lại nhiều lần trong Tân Ước.  Một sự nhấn mạnh như vậy nhằm để loại trừ những ý kiến thần bí về những người trung gian trong công cuộc sáng tạo vốn được thiết lập nhằm bảo vệ Đức Chúa Trời khỏi những ảnh hưởng của một thế gian độc ác.  Giăng tiếp tục tuyên bố trong Phúc Âm của mình rằng Ngôi Lời là sự sống cho thấy một hệ quả tất yếu của hành động trong công cuộc sáng tạo của Ngài.  Đây là nền tảng căn bản của sách Phúc Âm này và được nhấn mạnh trong Gi 20:30 rằng mọi độc giả đều có thể có sự sống trong Ngài. 

Mối liên hệ mật thiết giữa sự sống ánh sáng cũng không có gì là đáng ngạc nhiên.  Trong thế giới vật chất, sự sộng phụ thuộc vào ánh sáng và ý tưởng này cũng được áp dụng theo phương diện thuộc linh.  Câu 5 chỉ có thể hiểu được dựa vào chi tiết ánh sáng trong câu 4.  Ánh sáng được đề cập ở đây có thể đến với mọi người cách rộng rãi và dường như có liên quan đến sự sáng của nhận thức và lý trí.  Tuy nhiên, tiêu điểm trong câu 5 lại chính lại rơi vào bối cảnh được miêu tả là sự tối tăm.  Ánh sáng, vốn có liên hệ mật thiết với Ngôi Lời, phải được hiểu có mang nhân tính.  Điều này phải được hiểu là con người có thể nhận lãnh sự sáng thuộc linh thông qua sự nhập thể của Ngôi Lời.  Câu kế tiếp tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng có thể dịch là “(tối tăm) chẳng hề dập tắt ánh sáng” (Bản diễn ý).  Cả hai cách hiểu đều thể hiện chân lý và được minh họa trong phần sau của Phúc Âm.  Tuy nhiên, cách dịch thứ nhất phù hợp với ngữ cảnh hơn, đặc biệt nếu dựa theo câu 10-11.

2. Lời chứng của Giăng Báp-tít (Gi 1:6-8)

Ý chính của Phúc Âm này giờ đây lại càng tiến gần hơn đến những sự kiện lịch sử  xoay quanh việc hiện đến của ánh sáng qua cách đề cập đến chức vụ của Giăng Báp-tít.  Ngay lập tức, chúng ta tin chắc rằng chức vụ của Giăng được Đức Thánh Linh chỉ định (6).  Động từ sai đến là điểm nổi bật trong Phúc Âm này khi được dùng để chỉ về chức vụ của Chúa Giê-xu.  Động từ được sử dụng thích hợp đến nỗi từ ngữ này cũng được dùng cho người dọn đường cho Chúa Giê-xu là Giăng Báp-tít.  Hoặc cũng có thể là vì những độc giả đầu tiên của sách Phúc Âm này chú ý quá nhiều đến chức vụ của Giăng Báp-tít (Cong 19:3-4) và Giăng cũng cố xoá tan đi những nhận định sai lầm ngay từ ban đầu (15,26-27).  Động từ này được sử dụng không chỉ giúp phủ nhận ý kiến cho rằng Giăng chính là sự sáng, nhưng vai trò của Giăng cũng được đề cập đến những hai lần (7-8).  Ngữ danh từ chỉ mục đích hầu cho bởi người ai nấy đều tin cho thấy vai trò của những chứng nhân Cơ đốc thực thụ từ ngày đó đến nay.

3. Sự sáng đến thế gian (Gi 1:9-13)

Tác giả đã chuyển từ chứng nhân sang đối tượng được làm chứng và làm nổi bật được tầm quan trọng của đối tượng này.  Sự sáng thật (9) là Ngôi Lời, chưa được nhận biết là Chúa Giê-xu.  Từ đến  chỉ về sự nhập thể.  Điều này dễ hiểu hơn cách dịch khác, vốn liên kết sự đến này với tất cả mọi người (như trong bản dịch NIV) tạo ấn tượng rằng mọi người nhận được sự sáng ngay khi chào đời.  Trước khi Chúa Giê-xu đến, sự sáng chắc chắn cũng đã hiện hữu, nhưng đó là loại ánh sáng biến thể.  Đấng Christ là trung tâm nguồn sự sáng như chính Ngài đã tuyên bố (Gi 8:12). 

Cũng cần lưu ý rằng khi Giăng sử dụng từ ngữ thế gian (world), ông muốn bao hàm nhiều thứ hơn thế giới được tạo dựng trong công cuộc sáng tạo.  Từ ngữ này được sử dụng rộng rãi để chỉ về những người như những tạo vật chống nghịch lại với Đức Chúa Trời.  Thật vậy, trong Phúc Âm này có một sự phân biệt rõ ràng giữa những tín đồ và thế gian không tin kính.  Câu 10 “thế gian chẳng từng nhận biết Ngài” cho thấy hoàn toàn không có ý tưởng nước đôi trong suy nghĩ của Giăng và sẽ có những hậu quả tất yếu dành cho những kẻ chống nghịch sự sáng. 

Bản dịch câu 11 dẫn đến nhiều ý kiến khác nhau.  Một trong số đó cho rằng Ngôi Lời đã đến nơi vốn dĩ thuộc về Ngài.  Trong khi đó, một ý kiến khác lại cho rằng Ngôi Lời đã trở về nhà của Ngài, tức là trở về với dân Ngài.  Cả hai ý kiến đều chính xác, nhưng nếu dựa vào yếu tố từ ngữ được dùng ở đây là giống đực thì bản dịch thứ hai phù hợp hơn.  Bởi vì điều mà tác giả tin và nhận lãnh hoàn toàn giống hệt nhau. 

Có thể xem câu 12-13 đóng vai trò bổ nghĩa cho những câu trước đó.  Có một số người đã nhận lãnh Ngôi Lời, và Giăng đang chuyển hướng sang đề cập đến những người đó.  Những người tin nhận được nhận lãnh năng quyền trở thành con cái của Đức Chúa Trời theo nghĩa là dân theo giao ước của Đức Chúa Trời.  Ở đây, Giăng không có ý nói đến hậu tự theo nghĩa sinh học (13) mà ngụ ý đến sự tái sinh, là điều sẽ đựơc giải thích rõ hơn trong chương 3.  Vì sự tái sinh theo nghĩa thuộc linh hoàn toàn khác với sự sinh sản theo nghĩa đen, nên Giăng không có ý đề cập đến phương cách sinh sản thông thường (quyết định của con người, tức ý muốn của người chồng).

4. Sự nhập thể của Ngôi Lời (Gi 1:14-18)

Phần kết của lời mở đầu này dẫn đến cuộc đời lịch sử của Chúa Giê-xu, vì vậy, Giăng mới viết rằng Ngôi Lời đã trở nên xác thịt.  Điểm nổi bật của câu này chính là cách dùng từ ngữ xác thịt vốn là biểu tượng dùng để chỉ loài người.  Tuy nhiên cách viết như vậy thật sự sẽ gây ấn tượng hơn nếu Giăng viết là “Ngôi Lời đã mặc lấy hình hài loài người”.  Xác thịt gây sự chú ý rằng sự nhập thể của Ngôi Lời được thông qua mọi hoạt động của con người.  Ngôi Lời với thần tính đã trở nên Chúa Giê-xu với những đặc điểm con người.  Cụm từ giữa chúng ta đã sử dụng từ ngữ có nghĩa là “đóng trại” và gợi lại sự kiện Đức Chúa Trời đã ngự ở Trại giữa dân sự Ngài trong đồng vắng.  Hành động giữa chỉ được xem mang tính chất tạm thời.  Thế nhưng Giăng đã rất lo lắng và làm rõ rằng sự nhập thể kỳ diệu của Ngôi Lời vào cuộc đời con người đã được chứng kiến tận mắt.  Chính Giăng là nhân chứng cho sự vinh hiển của cuộc đời trên đất của Chúa Giê-xu (14b).  Điều này có vẻ hợp lý hơn giả định cho rằng từ ngữ chúng ta dùng để chỉ Cơ Đốc nhân nói chung và sự vinh hiển chính là sự vinh hiển của Chúa Giê-xu sau khi Phục sinh.  Dựa vào ngữ cảnh cho thấy chắc chắn phải có người nào đó nhìn thấy được sự vinh hiển của Ngôi Lời đã nhập thể.  Có thể có một ngụ ý về sự hoá hình, nhưng có lẽ đúng hơn là vinh hiển này chỉ về toàn bộ chức vụ của Chúa Giê-xu.  Đặc tính của vinh hiển này được nhìn thấy qua cách miêu tả về Con một, là Đấng nhận lãnh sự vinh hiển vốn chỉ được một Cha yêu thương ban cho một Con yêu dấu.  Do đó, nét độc đáo của Chúa Giê-xu được nhận biết ngay từ phần giới thiệu của Phúc Âm.  Nhưng đây không chỉ là sự đến của Ngài từ Cha, mà còn là sự kiện Ngài là nguồn ân điển lẽ thật, là điểm quan trọng nhất.  Giăng muốn cho chúng ta thấy nơi chức vụ của Chúa Giê-xu một sự bày tỏ ân điển của Đức Chúa Trời và một sự mặc khải về lẽ thật Ngài. 

Mặc dù ý tưởng của câu 16 tiếp nối thật tự nhiên với câu 14, câu 15 xen giữa chắc hẳn được dùng như một lời giải thích trong ngoặc đơn.  Những lời viết về Giăng Báp-tít chỉ giúp nhấn mạnh thêm về lời chứng của Giăng về Chúa Giê-xu mà thôi.  Ơ đây có một lời ngụ ý gián tiếp về sự tiền hữu của Chúa Giê-xu, vốn là chi tiết đã được khẳng định ngay từ câu 1.  Câu 16 trình bày thật rõ ràng sự mặc khải về ân điển mà mọi Cơ đốc nhân đều nhận lãnh (chúng ta thảy) Một lần nữa kinh nghiệm ban đầu lại được nhấn mạnh.  Bản dịch NIV đã có thể diễn đạt cụm từ khá khó hiểu ơn càng thêm ơn trong bản dịch khác (bản KJV) thành “hạnh phước dư dật”.  Sự đầy dẫy (ân điển) không phải là một kinh nghiệm tức thời nhưng là một quá trình nếm trãi phước hạnh lâu dài.  Cũng có thể nhận thấy sự tương phản trong cách đến với Đức Chúa Trời thông qua Môi-se và Chúa Giê-xu ở chỗ hành động tuân thủ luật pháp không thể sánh bằng với thái độ món quà ân điển.  Tuy nhiên, ngữ cảnh ở đây không cần đến sự tương phản.  Vì vậy, tốt hơn chỉ nên nhìn thấy sự khác biệt giữa cách Đức Chúa Trời ban truyền luật pháp qua Môi-se và ân điển qua Chúa Giê-xu. 

Cao điểm của phần giới thiệu này nằm ở câu 18 nhằm nhắc nhở đọc giả ý tưởng trong câu 1, chính là không có một khả năng nào khác để chúng ta có thể nhận biết Đức Chúa Trời ngoại trừ qua Chúa Giê-xu Christ, là Ngôi Lời.  Cả câu “chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời” chính là sự phản hồi từ Cựu Ước vì ngay cả chính Môi-se cũng không được phép nhìn thấy mặt Ngài.  Chính vì vậy, sự mặc khải về Chúa Giê-xu đặc biệt có ý nghĩa vì Ngài là Đấng duy nhất dạy cho loài người biết về Đức Chúa Trời.  Bản dịch NIV vẫn dùng theo cách hẳn nhiên làm nổi bật được ý nhấn mạnh “Con một”, vốn là cụm từ bày tỏ thần vị của Chúa Giê-xu.

2. NHỮNG SỰ KIỆN CHUẨN BỊ (Gi 1:19-2:11)

1. Lời chứng của Giăng Báp-tít về Chúa Giê-xu (Gi 1:19-34)

Việc đề cập đến Giăng Báp-tít trong phần giới thiệu nhằm dẫn tới chi tiết Giăng là bà con với Chúa Giê-xu.  Chủ đề của phần này được giới thiệu bằng câu hỏi của dân Do Thái tại thành Giê-ru-sa-lem.  Cụm từ “dân Do Thái” (hay “dân Giu-đa”) xuất hiện khá nhiều lần trong sách Phúc Âm này nhưng không phải lúc nào cũng mang cùng một ý nghĩa.  Cụm từ này được dùng để phân biệt người dân sống tại Giu-đa hay Ga-li-lê, nhưng đôi lúc lại có ý chỉ tới những người Giu-đa không tin vào Chúa Giê-xu.  Trong khá nhiều trường hợp, cụm từ này dùng để chỉ đến những lãnh đạo người Do Thái vốn chống đối lại Chúa Giê-xu.  Trong trường hợp này, những thầy tế lễ người -vi đại diện cho những nhà lãnh đạo người Do Thái.  Điểm chính của phân đoạn này là để phân biệt người dọn đường và Đấng được dọn đường.  Tác giả ghi lại những câu hỏi về đặc điểm con người Giăng Báp-tít vì điều này sẽ làm tăng thêm giá trị lời chứng của Giăng.  Câu hỏi về Ê-li là lời ngụ ý của câu Kinh Thánh Ma 4:5.  Một số ý kiến cho rằng đây là lời đính chính tóm tắt quan điểm truyền thống cho rằng Chúa Giê-xu đồng nhất Ê-li đang được mong đợi với Giăng Báp-tít (so sánh Mat 11:14  17:12).  Thế nhưng bản thân Giăng Báp-tít hoàn toàn không đưa ra lời tuyên bố này.  Câu hỏi liệu Giăng có phải là nhà tiên tri liên quan đến Phu 18:15-18, vốn được xem ngụ ý chỉ về một đấng trong thời kỳ sau rốt nhưng không phải là Đấng Mết-si-a (so sánh Gi 7:40-41).  Bản thân Giăng lại tự xưng mình là tiếng kêu được đề cập đến trong Es 40:3 (23).  Trong bản tóm tắt, những từ này được dùng chỉ đến Giăng Báp-tít nhưng không phải là lời Giăng tự xưng về mình.  Giăng cũng lấy làm vui mừng khi được là tiếng kêu dọn đường cho Đấng Christ. 

Lời phủ nhận của Giăng Báp-tít dẫn đến lời chất vấn tất yếu về phép báp-tem của Giăng (24-28), đồng thời cũng tạo điều kiện cho Giăng trình bày điểm khác biệt trong chức vụ của Giăng và của Đấng Christ.  Câu hỏi đưa ra cho thấy cách thức ban hành thánh lễ cũng được nhìn biết như một dấu hiệu của quyền lực.  Giăng đã không trả lời câu hỏi mà lại chỉ về Chúa Giê-xu theo cách sẽ được làm rõ trong phân đoạn sau đó.  Điểm tương phản trong phép báp-tem bằng nứơc của Giăng và phép báp-tem bằng Thánh Linh của Chúa Giê-xu cho thấy năng quyền trổi hơn của Chúa Giê-xu.  Thái độ hạ mình của Giăng liên quan đến Chúa Giê-xu được đặc biệt tập trung ở đây.  Nơi Giăng thực hiện phép báp-tem (thành Bê-tha-ni) được phân biệt rõ ràng với làng Bê-tha-ni trong Gi 11:1. 

Lưu ý rằng trong câu 29, tác giả đã giới thiệu một chuỗi thời gian 6 ngày vốn là chi tiết có thể đem so sánh với khoảng thời gian 6 ngày khác vào giai đoạn cuối chức vụ của Giăng cũng được ghi lại trong sách Phúc Âm này.  Lời đầu tiên Giăng Báp-tít giới thiệu về Chúa Giê-xu là Chiên con của Đức Chúa Trời hoàn toàn khiến độc giả bất ngờ bởi vì cụm từ chiên con khiến người đọc đương thời ngay lập tức nghĩ đến con sinh tế.  Ý nghĩ này về của lễ dâng trong đền thờ hoàn toàn ăn sâu trong suy nghĩ của độc giả Do Thái đến nỗi khó mà tách biệt hai ý niệm trong cùng một cụm từ này.  Thế nhưng điều thật sự khó khăn là làm thể nào để chuyển đổi ý niệm vật sinh tế từ một con chiên sang một con người.  Khả năng liệu độc giả có liên kết ý tưởng này với Es 53:1-12 hay không còn là điều không chắc chắn, tuy nhiên việc Giăng Báp-tít có liên tưởng như vậy là điều có thể xảy ra.  Mặc khác, cũng có thể Giăng đã không hiểu cụm từ Đấng cất tội lỗi thế gian đi theo nghĩa hi sinh, mà theo nghĩa đoán xét.  Không có lý do gì Chúa Giê-xu không hiểu điều này theo nghĩa của Xu 29:38-46 và Es 53:4-12 ngay cả khi Giăng Báp-tít không hoàn toàn nắm bắt được ý chính này.  Tuy vậy, Giăng chắc chắn hiểu câu này theo nghĩa hi sinh nhiều hơn.  Cũng có một vài cuộc tranh luận xoay quanh động từ được dịch là cất tội lỗi thế gian đi.  Nếu chúng ta dựa vào 53:1-12 để phân tích câu này, thì không thể tránh ý nghĩa về việc chịu hi sinh.  Những ý kiến phản đối cho rằng khái niệm mang lấy tội lỗi không thể phải ở hiện tại vì tại Lễ Vượt Qua con chiên không được dâng như của lễ chuộc tội.  Tuy nhiên, câu nói này của Giăng không nhất thiết phải được hiểu theo ý nghĩa của Lễ Vượt Qua miễn là tác giả vẫn quan tâm đến chi tiết Chúa Giê-xu được xem là Chiên con như điểm then chốt và là khởi đầu trong chức vụ của ông trong Phúc Âm này.  Lễ báp-tem của Chúa Giê-xu cũng đã diễn ra mặc dù Giăng không ghi lại sự kiện này (32).  Câu nói của Giăng Báp-tít thể hiện ý khái quát cho toàn bộ chức vụ của Chúa Giê-xu. 

Một số học giả nhận thấy thật khó tin chính Giăng Báp-tít đã nói những lời trong câu 29, vì sau đó Giăng đã tỏ ý hồ nghi về việc Chúa Giê-xu là Đấng Mết-si-a.  Có người cho rằng quan điểm xem Chúa Giê-xu là Chiên con của Đức Chúa Trời chỉ là ý kiến của tác giả sách Phúc Âm khi nhìn lại toàn bộ cuộc đời của Chúa Giê-xu.  Nhưng có nhiều chỗ trong Phúc Âm này chỉ ra công việc của Đấng Christ thay cho nhiều người khác.  Còn về thái độ do dự sau đó của Giăng Báp-tít về sự nhận biết Chúa Giê-xu thì không cần thiết phải cho rằng nhận định ban đầu của Giăng là rõ ràng.  Hình ảnh chiên con không cần tới điều này. 

Câu 30 lặp lại ý câu 15 nhằm nối phần này với phần giới thiệu và nhấn mạnh lần nữa về năng quyền trổi hơn của Chúa Giê-xu so với Giăng Báp-tít.  Khi Giăng nói không biết Chúa Giê-xu, Giăng có ý muốn nói rằng Giăng không biết Ngài là “Đấng đến sau”.  Có sự phân biệt rõ rệt giữa “người Do Thái” (hay dân Giu-đa) với dân Y--ra-ên vốn là cụm từ không bao giờ dùng với ý nghĩa phủ định trong sách Phúc Âm này.  Trong tiếng Hi Lạp, động từ có nghĩa là nhìn thấy (32) thường hàm ý một lời khẳng định.  Chi tiết Thánh Linh ngự xuống trên Chúa Giê-xu dưới hình ảnh chim bồ câu được tường thuật khác với những sách Phúc Âm Cộng Quan.  Ở đây Giăng là người nhìn thấy hình ảnh chim bồ câu trong khi trong các sách Phúc Âm Cộng Quan, chính Chúa Giê-xu nhìn thấy điều này.  Chim bồ câu có thể là biểu tượng cho bản tính nhân từ hoặc dùng để bày tỏ sự hiện diện của Đức Thánh Linh.  Sự trái ngược giữa phân đoạn này với sự hiện diện rõ rệt của Đức Thánh Linh trong ngày Lễ Ngũ Tuần khá rõ nét (Cong 2:2-3).  Hiển nhiên là cả hai sự kiện ngoại lệ này đều nhằm mục đích khẳng định chức vụ của Chúa Giê-xu.  Giăng cũng nhận được một sự mặc khải đặc biệt (33) để có thể xác định Chúa Giê-xu sẽ ban phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh vốn rõ ràng trái ngược và vượt hơn phép báp-tem bằng nước.  Chúng ta nhận thấy có sự lặp lại từ phần giới thiệu trong câu Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời cũng là cụm từ kết lại mục đích của Phúc Âm này trong câu Gi 20:31.

2. Sự kêu gọi những môn đồ đầu tiên (Gi 1:35-51)

Cụm từ Chiên con của Đức Chúa Trời (36) được lặp lại với ngụ ý rằng hai môn đồ theo Chúa Giê-xu đã hiểu được một điều gì đó rất quan trọng về Đấng mà Giăng Báp-tít đã chỉ cho họ.  Chuyện kể không có chỗ nào ám chỉ Giăng Báp-tít chờ đợi bất cứ ai trong những môn đồ của mình sẽ rời bỏ mình.  Đúng hơn, ngụ ý này cho rằng Giăng xem đây là một phần trong chức vụ dọn đường cho Chúa Giê-xu của ông.  Chỉ có một môn đồ được giới thiệu tên ở đây, người còn lại có lẽ là tác giả Giăng.  Ý tưởng đi theo trong câu 37 chắc hẳn có ý trung lập và chỉ mãi đến sau này mới có nghĩa là một kết ước trọn vẹn để trở thành môn đồ.  Câu trả lời của hai môn đồ và cách họ gọi Chúa Giê-xu “Ra-bi” (Thầy) cho thấy họ thật sự có ý định đi theo Chúa Giê-xu.  Danh hiệu Ra-bi là một danh xưng được kính trọng và không được dùng để chỉ những người được đào tạo trong các trường giáo sĩ (như cách danh hiệu này về sau được dùng).  Độc giả có lẽ tự hỏi vì sao câu 39 lại đề cập đến giờ thứ mười.  Nếu Giăng sử dụng cách tính thời gian của người Do Thái, thì lúc bấy giờ đã là cuối giờ chiều và ám chỉ một sự nán lại đến cuối ngày. 

Cách kể về chi tiết môn đồ Anh-rê trước hết tìm gặp anh mình là Phi-e-rơ cho thấy Anh-rê ngay lập tức đã nhìn thấy được ý nghĩa của việc gặp gỡ Chúa Giê-xu.  Giăng cũng đã điểm thêm hai nét nổi bật trong tính cách của Anh-rê qua Phúc Âm này (so sánh 6:8 12:22).  Giăng dịch từ Đấng Mết-si-a (41) để giúp ích cho các độc giả không phải người Do Thái.  Từ ngữ Đấng Mết-si-a trong tiếng Hê-bơ-rơ và Đấng Christ trong tiếng Hi Lạp đều có cùng một nghĩa gốc “Đấng được xức dầu”.  Mặc dù trong Cựu Ước, ý niệm về sự xức dầu chủ yếu chỉ được dùng cho các vị vua, nhưng trong Tân Ước, khái niệm này được dùng cho Chúa Giê-xu với nghĩa mở rộng bao gồm ý niệm về một tiên tri, thầy tế lễ và vua được xức dầu.  Một giả thiết cho rằng có sự tương phản giữa tuyên bố này và phần ký thuật trong các sách Phúc Âm Cộng Quan, gợi ý rằng Chúa Giê-xu không được xưng là Đấng Mết-si-a mãi cho đến khi Phi-e-rơ tuyên bố như vậy tại Sê-sa-rê Phi-líp.  Tuy nhiên, cũng không cần giả định rằng các môn đồ có một ý tưởng rất khái quát về ý nghĩa thật sự của danh xưng Đấng Mết-si-a.  Trong câu 42 có sự nhấn mạnh rõ ràng về mối quan hệ giữa Anh-rê, Si-môn và Chúa Giê-xu.  Một lần nữa, có một sự khác nhau giữa sách Giăng và các sách Phúc Âm Cộng Quan về thời điểm khi Si-môn được đổi tên thành Phi-e-rơ.  Ở đây, thời điểm đó được nêu lên vào thời kỳ đầu của chức vụ Chúa Giê-xu, trong khi Mat 16:18 lại khẳng định rằng sự việc này xảy ra sau lời xưng nhận của Phi-e-rơ.  Đáng chú ý rằng ở đây Chúa Giê-xu dùng thì tương lai chỉ về sự kiện 16:18.  Cả hai tên gọi Phi-e-rơ và Xê-pha đều có nghĩa là “đá”.  Điều này cho thấy Chúa Giê-xu nghĩ đến tính cách kiên định như thạch mà Ngài muốn Si-môn có được. 

Cho đến lúc này, có ít nhất ba môn đồ đi theo Chúa Giê-xu nhưng Giăng đề cập đến hai môn đồ trước khi bắt đầu ghi lại về chức vụ của Chúa Giê-xu trong chương 2.  Trong trường hợp của Phi-líp, Chúa Giê-xu đã bắt đầu kêu gọi ông đi theo Ngài.  Phi-líp cũng được đề cập nhiều lần trong Phúc Âm này (Gi 6:5  12:21  14:8).  Ông có vẻ là một người có đầu óc thực tế.  Mặc dù Phi-líp, Anh-rê, và Phi-e-rơ có quê quán ở Bết-sai-đa, nhưng cả ba đều đã chuyển đến sống tại Ca-bê-na-um (Mac 1:21,29).  Một lời làm chứng cá nhân đã đưa một người khác đến với Chúa Giê-xu được đề cập đến ở đây là trường hợp Phi-líp liên lạc với Na-tha-na-ên.  Do chủ đề làm chứng khá quan trọng trong Phúc Âm này, nên cách thức mà Phi-e-rơ và Na-tha-na-ên được đưa đến với Chúa Giê-xu là quan trọng.  Lời làm chứng cá nhân luôn là một trong những phương cách hiệu quả nhất để dẫn dắt người khác trở thành môn đồ của Chúa Giê-xu.  Có một sự khác biệt trong cách Phi-líp nói về Chúa Giê-xu so với cách thức của Anh-rê vì Phi-líp không đề cập đến Đấng Mết-si-a mà là Đấng Môi-se chép trong luật pháp các đấng tiên tri cũng nói đến.  Cả hai điều này chỉ là một.  Việc đề cập đến Chúa Giê-xu người Na-xa-rét làm loé lên một ý nghĩ hoài nghi trong Na-tha-na-ên (46).  Hiển nhiên Na-xa-rét có một tiếng tăm mờ nhạt, và cách mà nó từ chối Chúa Giê-xu (Lu 4:14-30) là phù hợp với tiếng tăm ấy.

Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-xu và Na-tha-na-ên là mang tính dạy dỗ nhất.  Thứ nhất, chúng ta chú ý sự đánh giá cao mà Chúa Giê-xu bày tỏ về ông (47).  Ý nghĩ về một người Y--ra-ên thật, trong người không điều chi dối trá có thể đã được gợi lên bởi câu chuyện về Gia-cốp, là người rõ ràng được hàm ý trong câu 51.  Thứ hai, chúng ta lưu ý lòng tìm hiểu của ông - Bởi đâu thầy biết tôi?  Ở đây có chứa một yếu tố về sự ngạc nhiên, gợi ý rằng Na-tha-na-ên trước đó chưa hề gặp Chúa Giê-xu.  Thứ ba, chúng ta lưu ý sự biết trước của Chúa Giê-xu hẳn đã gây ấn tượng lớn lao nơi Na-tha-na-ên.  Không có cách chắc chắn nào để biết được Na-tha-na-ên đang làm gì ở dưới cây vả, nhưng điểm chính ở đây còn hơn là một sự thấu hiểu bình thường của Chúa Giê-xu, vốn được Na-tha-na-ên nhận biết một cách rõ ràng.  Lời đáp của ông đã có ảnh hưởng sâu rộng.  Không những ông thừa nhận Chúa Giê-xu là Ra-bi, mà còn là Con Đức Chúa TrờiVua dân Y--ra-ên.  Một lần nữa, ngay cả tại giai đoạn đầu tiên này mà cũng có một sự hiểu biết về Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời, dù mới chỉ là sơ khai.  Giăng đưa ra những đề cập ban đầu về tư cách làm Con Đức Chúa Trời của Chúa Giê-xu trong phần mở đầu để đưa vào chính trọng tâm chức vụ nổi bật của Chúa Giê-xu.  Việc lớn hơn của câu 50 được giải thích bởi câu 51, nói về sự phát triển khải tượng thuộc linh.  Ý về việc thấy các thiên sứ lên xuống trên Con Người có vẻ như là phản hồi lại từ câu chuyện về Gia-cốp (Sa 28:12).  Ý nghĩa của sự bày tỏ này là trời từ nay được mở ra vì sự liên lạc thường xuyên với con người, mà đại diện của họ chính là Christ dưới danh hiệu Con Người.  Đáng chú ý là danh hiệu này đã được thay thế cho Con Đức Chúa Trời của Na-tha-na-ên, vì điều này chứng minh rằng yếu tố người của Chúa Giê-xu cũng quan trọng như yếu tố trời.

3. Sự bày tỏ qua một dấu lạ (Gi 2:1-11)

Trong Phúc Âm này, có một số dấu lạ, và việc biến nước thành rượu là dấu lạ thứ nhất.  Đa số các dấu lạ được Giăng đề cập đều dẫn đến một cuộc đàm luận về một chủ đề liên quan.  Các dấu lạ này rõ ràng là một phần gắn liền của cấu trúc Phúc Âm.  Như là một kết quả của dấu lạ thứ nhất, Giăng đặc biệt nêu ra rằng vinh quang của Christ được nhìn thấy, và điều này chỉ đường để hiểu được phần còn lại.  Cũng đáng để lưu ý rằng cả dấu lạ này và dấu lạ kế tiếp (Gi 4:54) được thực hiện tại Ca-na trong xứ Ga-li-.  Nơi này cách nơi Giăng làm phép báp-têm khoảng ba ngày đường.  Cách ba ngày sau được đề cập trong câu 1 là quan trọng vì có liên quan đến những lần đề cập khác về ngày trong chương 1.  Có thể xem phép lạ tại Ca-na là diễn ra vào cuối thời gian bảy ngày.  Có lẽ Giăng đang nghĩ về các sự kiện trong tuần lễ đầu tiên của chức vụ của Chúa Giê-xu.

Trong cuộc bàn luận giữa Chúa Giê-xu và mẹ Ngài (3-4), cần phải nhớ rằng Ma-ri xem việc hết rượu là một sự bối rối nghiêm trọng cho chủ tiệc, trong khi đó Chúa Giê-xu tập trung vào sứ mạng chính của Ngài, ở đây được thể hiện bởi từ giờ.  Chủ đề về “giờ” của Chúa Giê-xu xuyên suốt toàn bộ Phúc Âm, lên đến cao điểm trong câu chuyện về sự thương khó của Chúa (đối chiếu 7:30  8:20  12:23,27  13:1  17:1).  Cách Chúa Giê-xu nói với mẹ mình có vẻ lạ, nhưng ý định của Ngài rõ ràng là để sửa lại bất kỳ sự hiểu sai nào cho rằng có thể Ngài đã nhận lệnh từ người nào khác chớ không phải từ Cha (đối chiếu 5:30  8:29).  Mối liên kết giữa lời lưu ý của Ma-ri và lời phê bình của Chúa Giê-xu có lẽ được tìm thấy trong quan điểm rằng Chúa Giê-xu đang nhìn xa hơn tiệc cưới hiện tại để thấy bữa tiệc sẽ đến của Đấng Mết-si-a.  Chúa Giê-xu cũng phân biệt giữa cách nhìn của con người với cách nhìn của Đức Chúa Trời về thời gian.  Những từ ngữ này gợi lên một ý thức về sự khủng hoảng và cao điểm sắp xảy ra.  Điều được dự định là độc giả ngay từ đầu, phải có một cái nhìn thoáng qua về điều này, mặc dù họ phải đợi cho đến sau này mới nhận ra đầy đủ ý nghĩa. 

Sự mô tả sáu cái ché đá trong câu 6 là dùng cho sự rửa sạch về nghi thức, gợi ý một ý nghĩa hình bóng nào đó.  Một số người xem toàn bộ chuyện là có tính chất tượng trưng hơn là có tính thực tế để chứng minh Cơ Đốc giáo trổi hơn Do Thái giáo, trong đó nước tiêu biểu cho luật pháp (Torah) và rượu tiêu biểu cho Phúc Âm.  Nhưng tốt hơn là xem việc xảy ra là một chủ đề về đám cưới mang tính gia đình với những gợi ý về ý nghĩa tượng trưng.  Có thể có một ngụ ý nào đó về việc Chúa Giê-xu sẽ cung cấp dư dật trong bữa tiệc của Đấng Mết-si-a, trong khi đó Ngài không quên đáp ứng những nhu cầu trực tiếp của chàng rể.  Sức chứa của những cái ché là trên 450 lít.  Không thấy nêu ra rằng toàn bộ nước được biến thành rượu, hay chỉ có nước được rót ra cho bữa tiệc.  Kẻ coi tiệc có thể là một trong những vị khách mời được chỉ định để làm chủ tiệc, nhưng có lẽ chính chàng rể là người có trách nhiệm cung cấp rượu và thức ăn.  Điều này có thể giải thích lý do tại sao ông ta không biết nguồn cung cấp rượu (9).  Theo phong tục thông thường rượu ngon nhất được mời trước tiên.  Văn bản gợi ý rằng phong tục này là vì một số khách mời đã trở nên hơi chến choáng say và có lẽ đã không nhận ra rượu dở.  Nhưng trong câu chuyện này, ý chính dường như là về sự trội hơn của rượu mà Chúa Giê-xu cung cấp, một sự báo trước về sự chuẩn bị của Ngài cho bữa tiệc yến của Đấng Mết-si-a.  Chuyện xảy ra được đưa đến kết thúc bằng cách nhấn mạnh sự kiện rằng đây là phép lạ thứ nhất (11).  Lưu ý rằng Giăng sử dụng từ phép lạ, trong khi đó các Phúc Âm Cộng Quan thường nói về những điều lạ lùng và công việc quyền năng.  Phép lạ luôn luôn chỉ vào một lẽ thật nào đó sâu xa hơn bản thân nó.  Lời nhận xét rằng qua phép lạ này Chúa Giê-xu bày tỏ vinh hiển của mình, gợi ý các môn đồ của Chúa Giê-xu nhìn thấy được nhiều hơn trong các phép lạ so với những người đứng ngoài xem, và các tín hữu Cơ Đốc đã không chậm trong việc thấy được sự tương phản giữa nước nhạt nhẽo vô vị của đời sống cũ và sự phong phú dư dật của đời sống mới trong Christ.  Cần có đức tin để nhận thấy rõ sự vinh hiển ấy.

3. NHỮNG CUỘC TIẾP XÚC ĐẦU TIÊN TẠI GIÊ-RU-SA-LEM, SA-MA-RI VÀ GA-LI-LÊ (Gi 2:12-4:54)

1. Dọn sạch đền thờ (Gi 2:12-25)

(Gi 2:12-17) Chúa Giê-xu đuổi những kẻ buôn bán trong đền thờ  Câu 12 là một sự liên kết giữa sự việc này và sự việc xảy ra trước đó.  Ca-bê-na-um là nơi Chúa Giê-xu chọn để ở trong suốt thời gian chức vụ Ngài tại Ga-li-lê.  Việc Ngài lưu lại tại đó chỉ có vài ngày cho thấy kỳ lễ Vượt Qua đã gần đến như thế nào.  Một số người thấy trong sự đề cập lễ Vượt Qua của dân Giu-đa (13) một sự khác biệt với bữa tiệc Cơ Đốc nhân.  Nhưng có thể đúng hơn khi cho rằng sự diễn tả này là để cho thấy nơi ngày lễ Vượt Qua được tổ chức, nghĩa là tại Giu-đê, để giúp ích cho các độc giả là những người không biết tại sao Chúa Giê-xu đi lên Giê-ru-sa-lem.  Việc đuổi súc vật ra khỏi khu vực đền thờ (khu vực sân bên ngoài) được xem là một hành động mang nghĩa bóng.  Ngụ ý ở đây là súc vật lẽ ra không nên được để trong đền thờ, mà chính theo nghĩa này mà chúng ta phải hiểu sự lên án về bầu không khí như cái chợ.  Cái roi (15) là cần thiết để kiểm soát súc vật hơn là để đặt một hình phạt trên chúng.  Những người đổi tiền có ở đó để đổi các loại tiền ra đồng tiền Tyrian được qui định để đóng thuế đền thờ mà mọi người Do Thái đều phải đóng.  Lệ này bản thân nó không có gì sai nhưng nó đã bị lạm dụng khi có sự áp đặt tỷ giá cao quá đáng.

Người ta đã tranh luận nhiều về việc có một hay hai sự kiện dọn sạch đền thờ vì các Phúc Âm Cộng Quan đặt sự kiện này ở cuối chức vụ của Chúa Giê-xu.  Người ta giả sử rằng Giăng đưa nó ra trước vì những mục đích có tính cách tượng trưng.  Nhưng không phải là không thể xảy ra khả năng có một sự dọn sạch khác sau hai hoặc ba năm.  Những đề cập cụ thể về thời gian ở đây hẳn là để hỗ trợ cho điều đó.  Nhưng Giăng dường như quan tâm nhiều hơn vào những ý nghĩa sâu sắc trong các sự kiện của chức vụ Chúa Giê-xu và sắp đặt tư liệu để làm nổi bật các sự kiện ấy trong trường hợp này sứ mạng của Chúa Giê-xu để dẹp bỏ sự lạm dụng của Do Thái giáo.  Câu 17 cho thấy rằng chỉ sau này các môn đồ mới thấy được sự thích hợp của bản văn Cựu Ước trong Thi 69:9 với sự việc này.

(Gi 2:18-22) Một kiểu đền thờ mới  Phép lạ được đề nghị (18) là một loại khác với phép lạ nêu trong câu 11.  Dân Do Thái muốn xem một thứ phép lạ gây ấn tượng.  Không ngạc nhiên gì về điều họ hiểu sai lời tuyên bố trong câu 19, vì câu 22 gợi ý rằng chỉ sau này các môn đồ mới hiểu ra.  Rõ ràng, Chúa Giê-xu đang nói về chính Ngài là đền thờ, một kiểu đền thờ mới.  Mặc dù đền thờ hiện tại đã được xây dựng đến bốn mươi sáu năm, mãi đến 36 năm sau đó mới được hoàn tất.  Sự tương phản giữa khoảng thời gian  đó và ba ngày lẽ ra đã báo động cho người Do Thái rằng lời Chúa Giê-xu phán không nên hiểu theo nghĩa đen.

Việc đề cập đến thân thể của Chúa Giê-xu là một sự ám chỉ đến sự sống lại của Ngài, nếu như ở đây thân thể được hiểu là thân thể vật chất.  Điều này có ý nghĩa trong việc Chúa Giê-xu đã sống lại ba ngày sau khi chết.  Một số nhà giải kinh xem thân thể ở đây là Hội Thánh, nhưng điều này khiến cho việc thấy được ý nghĩa của ba ngày trở nên khó khăn hơn, và trong bất kỳ trường hợp nào Hội Thánh cũng không thể bị phá huỷ trước khi được khiến sống lại.  Lời tuyên bố này của Chúa Giê-xu đã bị bóp méo khi Ngài bị xử án (đối chiếu Mac 14:58).  Giăng thừa nhận (22) rằng chỉ sau này các môn đồ mới gẫm lại điều mà Chúa Giê-xu đã nói và sau đó đã tin.  Điều rất quan trọng là ở đây lời Chúa Giê-xu được đặt ngang tầm với lời Kinh Thánh.  Dường như không có phân đoạn cụ thể nào được nhớ đến, nhưng trái lại nó gợi lên nhiều hàm ý.

(Gi 2:23-25) Sự nhận biết của Chúa Giê-xu  Trong phần kết của chương này, trọng tâm rơi vào sự liên kết chặt chẽ giữa phép lạ và đức tin.  Trong lời tuyên bố về mục đích trong Gi 20:30-31, Giăng liên kết các phép lạ với đức tin.  Ở đây, đức tin chưa đầy đủ.  Chúa Giê-xu hiểu thấu và không tín nhiệm đức tin đó.  Câu 25 thu hút sự chú ý vào sự hiểu biết siêu nhiên của Chúa Giê-xu, Giăng đưa vào lời nhận xét này ở đây như một khúc dạo đầu cho sự kiện về Ni-cô-đem, là sự kiện minh hoạ lời nhận xét ấy.

2. Sự sanh lại (Gi 3:1-21)

Tầm quan trọng của cuộc phỏng vấn giữa Chúa Giê-xu và Ni-cô-đem được tăng thêm vì Ni-cô-đem là một thành viên Toà Công Luận (toà án tối cao)  Do Thái.  Một người như thế hẳn có sự hiểu biết nhiều với giáo lý Do Thái và hẳn đã hiểu điều Chúa Giê-xu muốn ám chỉ.  Mặc dù Giăng thường đề cập đến người Pha-ri-si một cách khinh thị, ở đây ông tập trung vào một người Pha-ri-si có mục đích nghiêm túc trong việc tìm kiếm Chúa Giê-xu.  Không biết tại sao ông đến với Chúa Giê-xu vào ban đêm.  Có thể là để tránh cho người ta đừng thấy.  Mặc khác, có thể đây là một sự tình cờ về thời gian hay có thể có tính cách tượng trưng liên quan đến tình trạng thuộc linh của Ni-cô-đem.  Cách thứ nhất là một sự giải thích đơn giản nhất.  Lời mở đầu của Ni-cô-đem trong câu 2 có liên hệ với lời nhận xét trong 2:23-25.   Đây là một người đã thấy phép lạ và sẵn sàng để hỏi thêm những câu hỏi khác.  Tuy nhiên, rõ ràng quan điểm của Ni-cô-đem về Chúa Giê-xu không vượt xa hơn việc xem Ngài là một giáo sư của Đức Chúa Trời.  Ít nhất đó là một sự khởi đầu, nhưng là bước khởi đầu còn lâu mới đạt đến sự hiểu biết đầy đủ.  Lời tuyên bố của Chúa Giê-xu trong câu 3 xa hơn câu hỏi mà Ni-cô-đem hàm ý muốn hỏi.  Sự cần thiết của sự sanh lại thách thức quyền của Ni-cô-đem để nhận xét Chúa Giê-xu trên một mức độ con người đơn thuần.  Nếu một người chẳng được sanh lại có thể hiểu theo nghĩa được sanh từ trên, hoặc thu hút sự chú ý vào tính cách thuộc linh của sự sanh.  Ni-cô-đem rõ ràng hiểu những lời này theo nghĩa thứ nhất và từ chối khả năng của một sự sinh ra lần thứ hai.  Nhưng Chúa Giê-xu muốn nói theo nghĩa thứ hai, nghĩa là một kiểu sinh hoàn toàn khác.  Nhiều người cha trần gian hiểu lời tuyên bố này là nói đến phép báp-tem căn cứ trên câu 5, nhưng cách hiểu tự nhiên nhất là về sự sanh lại thuộc linh.

Nước Đức Chúa Trời là một từ ngữ được tìm thấy trong các Phúc Âm Cộng Quan hơn là trong Giăng.  Về căn bản nó liên hệ đến quyền tối thượng mà Đức Chúa Trời thực hành.  Ở đây “thấy Nước Đức Chúa Trời” có vẻ như là tương đương với từ ngữ quen thuộc hơn trong Giăng về sự sống đời đời.  Nó được gọi là “vào Nước Đức Chúa Trời” trong câu 5.  Câu hỏi của Ni-cô-đem trong câu 4 là khá ngạc nhiên vì nó hiểu lời của Chúa Giê-xu rất theo nghĩa đen.  Việc Ni-cô-đem khước từ ý tưởng về sự trở vào bụng mẹ lần thứ hai phản ánh sự bối rối của ông.  Ông không thể nắm bắt được rằng Nước Trời đòi hỏi một hành động sanh lại.  Có một yếu tố hồ nghi về lời nhận xét của ông.  Việc lặp lại sự cần thiết phải được tái sanh trong câu 5 được làm mạnh thêm bởi sự tương phản giữa sự sinh ra bằng nước và bằng Thánh Linh.  Người ta đã bàn rất nhiều về ý nghĩa của câu này.  Một số xem sự đề cập đến nước là để chỉ về phép báp-tem và cho rằng Ni-cô-đem hẳn đã hiểu nó như là một minh hoạ cho phép báp-tem về sự ăn năn được Giăng Báp-tít thực hiện.  Nhưng trong khúc Kinh Thánh này không có ám chỉ nào về điều này.  Một số người khác đã giả sử về một sự đề cập đến phép báp-tem Cơ Đốc, trong trường hợp ấy không có khả năng rằng Ni-cô-đem hiểu nó và Giăng ắt đã áp đặt ý tưởng này vào câu chuyện cho người đồng thời của mình khi viết nó.  Tuy nhiên, nếu lời của Chúa Giê-xu có một ý nghĩa đối với Ni-cô-đem, chúng ta phải xem nước và Thánh Linh đi đôi với nhau và liên hệ điều này với một sự sinh ra như trong câu 3.  Cách dùng của Cựu Ước sẽ truyền nước và Thánh Linh với ý nghĩa rằng Đức Chúa Trời sẽ hành động vì sự rửa sạch dân Ngài (Exe 36:25-27).  Trong trường hợp này, Ni-cô-đem được nói cho biết rằng cần phải kinh nghiệm thuộc linh về sự sanh lại để có cái nhìn đúng hơn về nước Đức Chúa Trời.  Người ta tranh cãi về việc liệu chữ spirit có nên viết hoa (như trong NIV) hay nên hiểu rằng nó chủ yếu chỉ về một kinh nghiệm thuộc linh tương phản việc rửa sạch về mặt nghi lễ.  Về phần Ni-cô-đem, cách hiểu thứ hai là có khả năng nhất, nhưng dựa vào những lần đề cập đến Thánh Linh trong Phúc Âm này, có lẽ Giăng có ý định muốn cho độc giả hiểu về Đức Thánh Linh.  Thật sự trong câu 6, tương phản giữa xác thịtThánh Linh làm cho rõ hơn rằng Đức Thánh Linh được nhắc đến.  Xác thịt ở đây chỉ về bản tính con người, vốn chỉ sinh ra loài người chớ không sinh ra con cái Đức Chúa Trời.  Sanh bởi Thánh Linh đòi hỏi một sự thay đổi căn bản, một sự khởi đầu mới.  Thực chất của lời tuyên bố của Chúa Giê-xu là tính cách của người được sanh,  được quyết định bởi nguồn sanh ra họ.

Thật đáng thương khi sự “sanh lại” đã bị làm giảm giá trị trong lời nói bình thường như là một sự mô tả tỏ vẻ xem thường của một giáo phái quá khích hoặc thậm chí đề cập đến những ý tưởng cũ được làm mới lại, hoặc những đời mới của những chiếc xe hơi! Thật hết sức đáng buồn khi cho phép những lời chế nhạo cướp đi của chúng ta một khái niệm thật quan trọng và chủ yếu đối với đức tin Cơ Đốc.

Câu 7 nhấn mạnh tính cách cấp thiết của sự sanh lại.  Về việc này không có sự chọn lựa nào khác.  Sự minh hoạ về gió (8) trở nên dễ hiểu hơn khi nhận ra rằng trong tiếng Hi Lạp cùng một từ có thể dịch là gió hoặc linh.  Điều Chúa Giê-xu đang nói ở đây là mặc dù không biết về nguồn gốc của gió và Thánh Linh, nhưng những ảnh hưởng của chúng thì có thể thấy được.  Sự hiểu biết của chúng ta về sự chuyển động của gió đã được thêm nhiều ngày nay, nhưng vào thời bấy giờ người ta không thể nói trước điều gì về gió.  Những gì hiểu được, đó là hoạt động tối thượng của Thánh Linh Đức Chúa Trời.  Nó liên quan với lời tuyên bố trong Gi 1:13.

Rõ ràng, Chúa Giê-xu muốn một người như Ni-cô-đem hiểu sự minh hoạ của Ngài, và ông đã bị quở trách vì không hiểu minh hoạ ấy.  Câu hỏi của ông có pha chút hoài nghi, và điều này được Chúa Giê-xu nhận biết (như c.11 cho thấy).  Ni-cô-đem vẫn không nắm bắt được ý nghĩa của điều Chúa Giê-xu đang nói.  Chúng ta (11) trong câu trả lời của Chúa Giê-xu đã được hiểu khác nhau.  Có phải Chúa Giê-xu kể đến các môn đồ? Ở giai đoạn này họ biết rất ít.  Có phải Ngài kể đến Cha và Thánh Linh? Có thể lắm, mặc dù có sự nghi ngờ là liệu Ni-cô-đem có thừa nhận điều này hay không.  Hoặc có phải Ngài phản hồi lại chữ chúng tôi mà Ni-cô-đem đã dùng trong câu 2? Rõ ràng là chữ chúng ta tương phản với các ngươi, là chữ có vẻ như đề cập đến người Do Thái nói chung, là những người không tin sứ điệp của Chúa Giê-xu.

Những việc thuộc về đất trong câu 12 phải đề cập đến những điều đã nói, và vì vậy, phải bao gồm việc sinh lại.  Điều này xảy ra trên đất, trong khi đó những việc thuộc về trời liên hệ đến những mặc khải về tương lai khi Nước Trời đạt đến sự hoàn thành của nó.  Câu 13 có lẽ đề cập đến tình trạng mà từ đó Chúa Giê-xu giáng thế, và là tình trạng mà Ngài sẽ trở về khi Ngài thăng thiên.  Vì trời là quê hương Ngài, nên Ngài có một vị trí để nói về những việc thuộc về trời một cách có thẩm quyền.  Thoạt tiên, có vẻ như không có một mối liên hệ rõ ràng nào giữa câu 14 và câu trước đó.  Môi-se treo con rắn trong nơi đồng vắng là một biểu tượng được nhiều người biết đến về việc Đức Chúa Trời ban sự sống cho dân Ngài, nhưng mối liên hệ sâu sắc hơn là sự tượng trưng của việc treo trên thập tự giá, trọng tâm công tác của Con Người trên đất.  Những lời phải bị treo lên thể hiện tính chất không thể tránh khỏi của thập tự giá nếu sự sống đời đời phải được chia sẻ với người tin, một điểm được nêu ra mạnh mẽ trong câu 15.

Nói chung trong Phúc Âm này, tác giả phân biệt giữa lời của Chúa Giê-xu và lời của mình, nhưng trong trường hợp này ông đã không làm như thế.  Câu 31-36 rõ ràng là lời nhận xét của Giăng.  Lời phát biểu trong câu 16 bày tỏ ngắn gọn ba lẽ thật tính cách phổ quát của tình yêu của Đức Chúa Trời, bản tính hi sinh của nó và mục đích đời đời của nó.  Không lạ gì nó đã được mô tả là “Phúc Âm tóm lược.  Vì động từ được dùng (được) là ở thì hiện tại, điều này cho thấy sự sống đời đời được dự định là một sở hữu trong hiện tại.  Lời thông báo này hẳn đã thách thức người Do Thái là những người quen nghĩ về Đức Chúa Trời là chỉ yêu một mình dân Y-sơ-ra-ên, nhưng nó phù hợp với ý tưởng về tình yêu phổ quát được tìm thấy, đâu đó trong Cựu Ước.  Chữ thế gian được dùng với một nghĩa thường lệ trong Phúc Âm này, là một nơi cần ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Trời.  Điều này giải thích tại sao Chúa Giê-xu đến để cứu, không phải đến để định tội (17).  Sự thể là thế gian đã ở trong một tình trạng bị định tội, mặc dù tình trạng này trở nên nổi bật bởi sự không tin nơi Con Đức Chúa Trời.  Câu 18 trình bày rõ ràng rằng Chúa Giê-xu, Con Đức Chúa Trời, là một tiêu chuẩn tối hậu phân chia thế gian ra hai nhóm, những kẻ tin và những kẻ không tin.  Việc đề cập đến đức tin nơi Con Đức Chúa Trời ở đây liên hệ với lời tuyên bố về mục đích của tác giả khi viết Phúc Âm trong 20:30-31.

Câu 19-21 có một âm hưởng của phần mở đầu (1:5) trong sự tương phản giữa sự sángsự tối tăm.  Những người ở trong tối tăm thì ở đó việc làm của họ xấu xa.  Điều này ám chỉ một quyết định cố ý để làm những hành động xấu xa dưới mắt Đức Chúa Trời.  Điều này giải thích tại sao những người ấy ghét sự sáng, bởi vì điều đó có nghĩa rằng bản chất thật của việc làm của họ sẽ được thấy (20).  Có một sự tương phản mạnh mẽ với những người sống theo sự sáng, được mô tả ở đây là sống theo lẽ thật.  Mục đích của họ là hoàn toàn khác, vì họ muốn hành động của họ được thấy rõ ràng để cho công việc của Đức Chúa Trời trong họ có thể được hiển nhiên.  Câu 21 có thể hiểu bằng hai cách, hoặc nó diễn tả nội dung của điều được thấy hoặc nó là lý do tại sao người ta đến với sự sáng.  Cách thứ nhất phù hợp hơn trong ngữ cảnh.  Mục đích của phần này là để khích lệ đức tin nơi Chúa Giê-xu.

3. Chúa Giê-xu và Giăng Báp-tít (Gi 3:22-4:3)

(Gi 3:22-36). Đoạn này có thể chia làm ba phần: lời chứng của Giăng Báp-tít về Chúa Giê-xu (3:22-30) lời nhận xét của tác giả về chức vụ Chúa Giê-xu (3:31-36), và tường thuật về người Pha-ri-si và quyết định của Chúa Giê-xu rời khỏi xứ Giu-đê (4:1-3).

Ở đây Giăng chuyển sang mối liên hệ về mặt lịch sử giữa chức vụ của Giăng Báp-tít và chức vụ của Chúa Giê-xu.  Ông không đề cập chính xác đến khoảng thời gian phân chia phần này với phần trước, nhưng có một chú thích về địa điểm.  Mặc dù Chúa Giê-xu đã ở trong xứ Giu-đê, Ngài đi từ Giê-ru-sa-lem vào trong miền quê xung quanh.  Bối cảnh quan trọng này là cả Chúa Giê-xu và Giăng Báp-tít đều làm phép báp-tem trong cùng một vùng (23).  Sự tranh cãi giữa môn đồ của Giăng Báp-tít và một người Giu-đa cung cấp bối cảnh cho cuộc đối thoại giữa Giăng và môn đồ mình.  Người Do Thái vô danh ấy quan tâm đến các vấn đề về nghi lễ, và điều này gợi lên một sự phân biệt giữa phép báp-tem của Giăng và các nghi lễ của người Do Thái (25-26).  Yếu tố chính trong phép báp-tem của Giăng là yêu cầu ưu tiên về sự ăn năn, và các Phúc Âm Cộng Quan cho thấy rằng Chúa Giê-xu tiếp tục cùng một chủ đề.  Vì vậy, cả hai đều độc lập với nghi lễ Do Thái.  Nhưng điều gì làm bối rối các môn đồ của Giăng? Dường như rằng họ có ganh tị với sự thành công lớn hơn của chức vụ Chúa Giê-xu.

Điều này dẫn đến câu trả lời của Giăng trong câu 27-30.  Trước hết ông nhấn mạnh một nguyên tắc đó là người ta chỉ có thể nhận lấy lẽ thật, chớ không thể tạo ra lẽ thật.  Sau đó ông áp dụng nguyên tắc này cho chính mình bằng cách nhắc lại lời phủ nhận trước đây của ông rằng ông không phải là Đấng Christ.  Đó không phải vai trò mà trời (nghĩa là Đức Chúa Trời) đã giao cho ông.  Ông bằng lòng với một vai trò nhỏ hơn.  Sự minh hoạ về chàng rể nhấn mạnh điều này (29).  Bạn tương ứng với người tốt nhất, là người tổ chức sắp đặt các chi tiết của một đám cưới tại xứ Giu-đê.  Hình ảnh đám cưới được thấy trong lời dạy dỗ của Chúa Giê-xu (đối chiếu Mat 22:1-14  25:1-13).  Sau này nó được sử dụng trong sự dạy dỗ của các sứ đồ (IICo 11:2  Eph 5:22-24  Kh 21:2,9  22:17).  Giăng Báp-tít lặp lại sự trổi hơn của Chúa Giê-xu, như ông đã làm trong chương 1.  Không phải chỉ có Giăng là người phải hạ xuống, mà cả thứ bậc cũ mà ông đại diện cũng vậy.  Phần cuối của chương 3 này cung cấp một tóm tắt về ý nghĩa Chúa Giê-xu trở nên “lớn hơn” (dấy lên).  Có nhiều điểm chỉ về sự trổi hơn của Ngài:

a.  Ngài đến từ trên caotrên hết.  Ngài phải được phân biệt với những người xuất thân từ đất.  Ngài không thể bị đánh giá bởi những phương pháp đời này.  Vì vậy, Ngài khác với Giăng Báp-tít.

b.  Ngài nói bằng kinh nghiệm riêng (32).

c.  Mặc dù lời chứng của Ngài bị một số người chối bỏ, nhưng khi được chấp nhận nó làm chứng rằng Đức Chúa Trời là thật (33)

d.  Hiệu lực của vị sứ giả Đức Chúa Trời là quyền sở hữu Thánh Linh (34).  Bởi vì, đây là một nguyên tắc mà nó áp dụng một cách nổi bật cho Con, cụ thể là như lời không chừng mực cho thấy.  Các tiên tri Cựu Ước nhận được Thánh Linh theo chừng mực của nhiệm vụ được giao của họ, nhưng với Chúa Giê-xu thì không có giới hạn.

e.  Sự xác nhận sứ mạng của Chúa Giê-xu là Cha yêu Ngài và có sự tin cậy hoàn toàn nơi Ngài (35).  Như bằng chứng về điều mà Cha đã giao phó nơi Con, đối chiếu Gi 5:22,27  12:49  17:2,24.   Trong câu 36 Giăng tổng kết giáo lý của cả chương.  Sự thử nghiệm có tính cách quyết định là đức tin, vốn tương phản ở đây với sự từ khước.  Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời không nên được xem là mất cá tính con người, mà là một nguyên tắc tích cực của sự thánh khiết của Đức Chúa Trời.  Cách duy nhất tránh khỏi cơn thạnh nộ ấy là qua con đường đức tin.  Ý tưởng về việc “thấy sự sống” là một thành ngữ về sự kinh nghiệm sự sống.  Kết quả của cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời là thiếu mất sự sống thật.

Những câu mở đầu (1-3) chương 4 tạo thành một đoạn liên kết với cuộc luận đàm tiếp theo.  Sự đề cập trước đây đến Giăng Báp-tít dẫn tác giả đến chỗ ghi lại phản ứng của người Pha-ri-si về công tác làm phép báp-tem song song của Giăng và Chúa Giê-xu.  Họ đã chịu được phép báp-tem của Giăng, nhưng nếu Chúa Giê-xu làm báp-tem cho nhiều người hơn, họ có thể đã trở nên lo lắng.  Quyết định đi tiếp của Chúa Giê-xu là cơ hội chuyển chức vụ Ngài từ Giu-đê đến Ga-li-lê phần trong dấu ngoặc đơn rằng không phải Chúa Giê-xu làm báp-tem được thêm vào để đính chính lời tường thuật mà người Pha-ri-si đã nghe.

(Gi 4:1-3) xem giải nghĩa Gi 3:22-36

4. Chúa Giê-xu tại Sa-ma-ri (Gi 4:4-42)

(Gi 4:4-26) Chúa Giê-xu người đàn Sa-ma-ri  Có thể có hai tuyến đường từ Giu-đê đến Ga-li-lê.  Tuyến đường dài hơn là tuyến ngang qua miền đất của dân ngoại về phía Đông Giô-đanh tuyến đường ngắn hơn là tuyến ngang qua xứ Sa-ma-ri và được sử dụng nhiều nhất dù cho có sự hiềm khích giữa người Do Thái và người Sa-ma-ri.  Câu 4 gợi ý tuyến đường thứ hai này được chọn là vì nó cần thiết.  Có lẽ Giăng đang hàm ý rằng có lý do thiên thượng liên quan đến Chúa Giê-xu.  Nhìn chung người ta giả thiết rằng Si-kha mà hiện nay là Askar là gần thành Si-chem cổ.  Ở đó vẫn còn tồn tại một cái giếng sâu.  Trong câu 12 ta thấy được Gia-cốp có ý nghĩa đặc biệt đối với người Sa-ma-ri.  Chúa Giê-xu mệt (6), có vẻ như là một chú thích gây chú ý để nhấn mạnh nhân tính thật của Chúa Giê-xu và cũng sắp xếp cho sự mở đầu cuộc nói chuyện.  Giờ thứ sáu có lẽ là trưa, khoảng thời gian nóng nhất trong ngày.

Đối với một phụ nữ, đi ra giếng một mình là điều bất thường.  Có thể bà đã bị xem là một người bị xã hội bỏ.  Giăng ghi thêm rằng các môn đồ không có ở đó (8) để làm nổi bật cuộc đối thoại giữa người đàn bà và Chúa Giê-xu.  Hành động của Chúa Giê-xu Vượt Qua hai thành kiến của người Do Thái nói chuyện với một người Sa-ma-ri và nói chuyện với một người phụ nữ.  Thành kiến về chủng tộc được làm cho mạnh hơn bởi lời nhận xét của người đàn bà (9).  Chúa Giê-xu hẳn đã thấy trước sự ngỡ ngàng của bà vì Ngài đã dùng sự ngỡ ngàng ấy để làm sâu sắc cuộc nói chuyện.  Ý tưởng về nước uống cho nhu cầu thuộc thể một cách tự nhiên dẫn đến nhận xét về sự ban cho của Đức Chúa Trời (10), nó chuyển nước uống sang một vấn đề thuộc linh.  Người đàn bà nghĩ Chúa Giê-xu là một người Do Thái điển hình, nhưng Chúa Giê-xu nâng bà lên trên cách nghĩ này.  Nếu bà biết nhận dạng Ngài thì bà sẽ xin cho được nước sống.  Cách diễn tả này có hai ý, hoặc là nước chảy, nghĩa là nước nguồn, hoặc là nước thuộc linh, nghĩa là có liên hệ đến Thánh Linh.  Các ra-bi cho bộ luật pháp (Torah) là nước sống, vốn thể hiện cách dùng ẩn dụ của nó.  Tuy nhiên, không lạ gì khi người đàn bà chỉ nghĩ trong tầm mức con người, như được thể hiện trong câu 11.  Có vẻ như hơi ngốc khi bà nghĩ về một thứ nước ở trong một cái giếng sâu mà không có phương tiện để múc.  Cái nhìn của bà không thể khác hơn là phải có một gàu múc.  Việc so sánh với Gia-cốp là người đào giếng gợi lên trong bà rằng Chúa Giê-xu là nhỏ bé hơn.  Vì vậy trên hai điểm bà đã đoán xét sai lầm.  Bà không thể hiểu được rằng một người nào đó có thể lớn hơn Gia-cốp đáng kính (đối chiếu với việc tương tự mà người Do Thái không thể hiểu được rằng một người nào đó có thể lớn hơn Áp-ra-ham, 8:53).  Sự ưu việt thực sự của Chúa Giê-xu là ở trong tính chất sống của thứ nước được cung cấp.  Giếng Gia-cốp chỉ có thể tạm thời giải cơn khát (13).  Trong Cựu Ước có nhiều đoạn liên quan đến lời hứa của Đức Chúa Trời có sự minh hoạ bằng nước (đối chiếu Es 12:3  Exe 36:25-27).  Liên hệ giữa nước và Đức Thánh Linh cũng là một ý tưởng của Cựu Ước (đối chiếu Es 44:3).  Sự đề cập đến sự sống đời đời (14) rõ ràng có liên hệ với hoạt động của Thánh Linh, như được thấy trong Gi 6:63.

Có những điểm tương tự giữa câu chuyện này và câu chuyện Ni-cô-đem, trong cả hai câu chuyện sự hiểu sai đưa đến sự giải thích tiếp theo.  Người đàn bà trong câu 15 vẫn còn nghĩ theo nghĩa đen.  Bà tưởng tượng về một nguồn cung cấp nước thường trực mà sẽ cho phép bà không cần phải đi ra giếng nữa.  Bà chưa hiểu thấu khía cạnh thuộc linh.  Trong câu trả lời của Chúa Giê-xu cho người đàn bà (16), có nhiều ý nghĩa hơn là điều có vẻ như rõ ràng.  Thật vậy, có một rào cản đạo đức.  Bà đã không nắm bắt được bản chất của nhu cầu của mình.  Người đàn bà đã buộc phải đối mặt với thực tế trong việc thừa nhận rằng mình không chồng, mặc dù bà giấu một điều rằng bà đang sống với một người đàn ông.  Chúa Giê-xu đang bày tỏ một sự hiểu biết thâm sâu mà Giăng đã ghi trong 2:25, và bản thân người đàn bà bắt đầu thừa nhận (19).  Giáo huấn của người Do Thái không chấp thuận cho một người đàn bà có trên ba đời chồng, và ý tưởng về một người chồng theo luật phổ thông không có sự hỗ trợ của tôn giáo.  Người đàn bà có nhu cầu lớn về mặt đạo đức và tâm linh.  Chúng ta lưu ý cách thức dịu dàng mà Chúa Giê-xu vừa khen vừa trách bà (17-18).

Khi thừa nhận rằng Chúa Giê-xu là một Đấng tiên tri, có lẽ bà nghĩ về một con người được thần cảm.  Ít nhất đây cũng là một tiến bộ nào đó trong cách nhìn đầu tiên của bà về Ngài.  Mặc dù lời mở đầu của người đàn bà về vấn đề nơi thờ phượng có thể là một sự đổi hướng để tránh một chủ đề khó chịu, rất có thể bà đang thừa nhận rằng Chúa Giê-xu là một loại tiên tri Do Thái nào đó khuyên dụ bà bày tỏ sự hiểu biết của mình với những khác biệt giữa người Sa-ma-ri và người Do Thái về nơi thờ phượng chính (20).  Sự thờ phượng liên quan mật thiết đến một nơi thánh.  Trong quá khứ, có một đền thờ được xây trên núi Ga-ri-xim để đối địch với đền thờ tại Giê-ru-sa-lem.  Ngay cả sau khi đền thờ tại Ghê-ri-xim bị John Hyrcanus phá huỷ, thì người Sa-ma-ri vẫn tiếp tục thờ phượng trên núi.  Không rõ người đàn bà quan tâm như thế nào đến những khác biệt này, nhưng bà tóm lấy nó như là một vấn đề đáng để bàn đến.  Chúa Giê-xu dùng câu trả lời của bà để đưa ra một lời tuyên bố sâu sắc mà đã đi quá giới hạn lý luận về địa điểm.  Chúa Giê-xu trước hết chuyển cuộc thảo luận từ nơi thờ phượng sang đối tượng của sự thờ phượng (22).  Mặc dù Giê-ru-sa-lem lẫn Ghê-ri-xim đều không thích hợp trong vấn đề này, nhưng người Do Thái vì vậy là trội hơn trong sự hiểu biết về Đức Chúa Trời.  Vì người Sa-ma-ri bị giới hạn ở phạm vi Ngũ kinh Môi-se, họ không có được sự phong phú thần học về sự bày tỏ của Đức Chúa Trời trong phần còn lại của Cựu Ước.  Khi Chúa Giê-xu nói sự cứu rỗi bởi người Giu-đa (Do Thái) đến (22) không phải Ngài đang nói tất cả mọi người Do Thái đều sẽ được cứu, mà là qua người Do Thái sẽ có sự hiểu biết về sự cứu rỗi ấy trong Kinh Thánh.  Vì chữ sự trung tính được dùng trong cả hai trường hợp, điều này thu hút sự chú ý vào bản chất của sự thờ phượng hơn là vào Đấng được thờ phượng.  Sự đề cập giờ hầu đến (23), được bổ nghĩa là đã đến rồi, cho thấy rõ ràng rằng chính chức vụ của Chúa Giê-xu sẽ làm thay đổi tận gốc sự thờ phượng.  Cách thức của sự thờ phượng này là bằng tâm thần lẽ thật, vượt trên mọi quan tâm về chủng tộc và địa phương.

Trọng tâm chính ở đây là nằm ở tinh thần như được thể hiện trong câu 24.  Đức Chúa Trời thần có thể so sánh với “Đức Chúa Trời là sự sáng”, và “Đức Chúa Trời là sự yêu thương”.  Đây là những cách mà người ta có thể hiểu Ngài.  Tính cách thiêng liêng của Đức Chúa Trời không phải là một ý tưởng xa lạ đối với người Do Thái, nhưng họ đã không nhận biết nhu cầu của bất cứ mối liên lạc nào giữa Đấng được thờ phượng và người thờ phượng.  Chúa Giê-xu dạy rằng người thờ phượng phải dự phần bản tính của Đấng được thờ phượng.  Mối liên hệ của thầnlẽ thật ở đây nêu ra sự cần thiết của sự thờ phượng chân chính.  Đức Chúa Trời ưa thích những người thờ phượng hoà hợp với Ngài (23).  Toàn bộ việc này có lẽ khiến cho người đàn bà một chút trầm ngâm.  Bà cảm thấy những mối liên hệ nào đó về Đấng Mết-si-a, tuy không rõ bà muốn nói gì với từ Đấng Mết-si-a (25).  Trong chừng mực chúng ta biết, người Sa-ma-ri không sử dụng từ này.  Có thể người đàn bà đã dùng từ này vì bà ta đang nói chuyện với một người Do Thái.  Chắc chắn người Sa-ma-ri đang tìm kiếm một Đấng tiên tri (Phu 18:15-19) người sẽ bày tỏ lẽ thật, và điều này gieo ánh sáng trên những lời nói của người đàn bà.  Nó tạo cho Chúa Giê-xu một khởi điểm để Ngài tuyên bố mình là Đấng Mết-si-a mà người ta mong đợi.  Ngài sẵn sàng làm như thế với một người Sa-ma-ri mà không phải với người Do Thái, là những người có niềm hi vọng về Đấng Mết-si-a không phù hợp với sứ mạng của Chúa Giê-xu.

(Gi 4:27-38) Các môn đồ trở lại với Chúa Giê-xu  Các môn đồ trở lại với Chúa Giê-xu sau khi đi rảo quanh đây đó để mua thức ăn, vì lẽ đó người đàn bà rời đó để trở về thành mình (28).  Giăng luận về sự ngạc nhiên của các môn đồ khi Chúa Giê-xu nói chuyện với một phụ nữ, là điều phản ảnh thành kiến chung của người Do Thái (27).  Các ra-bi Do Thái không dược phép nói chuyện với phụ nữ ngoài đường phố và việc nói chuyện với phụ nữ bị xem là một trở ngại cho việc nghiên cứu kinh Torah.  Việc các môn đồ chần chừ không dám hỏi cho thấy họ bối rối như thế nào về hành động của Chúa Giê-xu.  Người đàn bà, trái lại có vẻ như không thể kìm hãm khi vội vã chạy đi nói với người khác về Chúa Giê-xu.  Sự nắm bắt của bà là có giới hạn và có tính chất thăm dò.  Đây chẳng phải Đấng Christ sao? (29) gợi ý rằng bà chưa hoàn toàn nhận lời tuyên bố của Chúa Giê-xu trong câu 26, vì nó có thể được hiểu theo nghĩa “Quả thật đây không thể là Đấng Christ sao?” Thế nhưng, trong bà trổi dậy một mối quan tâm đáng kể, cụ thể là vì Chúa Giê-xu thấu hiểu quá khứ của bà.

Câu 31-34 là một trường hợp cổ điển về sự hiểu sai chân lý thuộc linh bởi những người chỉ có thể suy nghĩ theo nghĩa đen.  Các môn đồ quan tâm thức ăn vật chất, nhưng Chúa Giê-xu chuyển cuộc nói chuyện sang giá trị thuọc linh.  Kết luận của họ là một người nào đó hẳn đã cung cấp thức ăn nếu như Chúa Giê-xu không quan tâm đến việc ăn (33).  Thực chất của câu trả lời của Chúa Giê-xu trong câu 34 là việc làm theo ý muốn Đức Chúa Trời là ưu tiên hơn thức ăn thuộc thể.  Nhưng những lời này không thể có ý nói rằng Chúa Giê-xu biện hộ cho sự thờ ơ về thức ăn thuộc thể.  Đúng hơn, như thường thấy trong Phúc Âm Giăng, Chúa Giê-xu ở đây đang tập trung vào nhiệm vụ chính này, nghĩa là hoàn tất công tác mà Cha đã sai Ngài đến để làm.  Sự minh hoạ về mùa gặt là nhằm để liên kết ngay với sự hoàn thành sứ mạng ấy (34-35).  Nhưng điểm đề cập bốn tháng là gì? Có thể rằng, khi nói đến mùa gặt thiên nhiên vẫn còn bốn tháng nữa, Chúa Giê-xu dự định một sự tương phản với mùa gặt thuộc linh, vốn đang cận kề.  Khi Ngài giục giã các môn đồ hãy nhướng mắt lên hãy xem, có thể Ngài đang nghĩ về những người dân chạy đến với Ngài như là kết quả của hạt giống được gieo trong tâm trí người đàn bà.  Mùa gặt thuộc linh có liên quan đến sự sống đời đời, một chủ đề ưa thích trong Phúc Âm Giăng (36).  Mặc dù không có khoảng gián đoạn nào được ám chỉ trong câu 35, nhưng trong câu 36-37 có giới thiệu một sự phân biệt giữa gieo và gặt.  Trong mùa gặt thuộc linh khoảng gián đoạn giữa gieo và gặt là không xác định (đối chiếu ẩn dụ dùng trong Am 9:13).  Nguyên tắc có liên quan được tóm tắt trong câu 38.  Điều các môn đồ đã gặt là do công tác của những người khác trước họ.  Không một cá nhân nào có thể tuyên bố là có công đối với thành công của bất kỳ sứ mạng thuộc linh nào.  Mùa gặt thuộc về người gieo cũng nhiều như thuộc về người gặt.  Có thể rằng kẻ khác đề cập đến một hàng dài các nhà tiên tri đã chuẩn bị con đường mà trong số đó Giăng Báp-tít là người cuối cùng.

Kết luận về sứ mạng của Chúa Giê-xu tại Sa-ma-ri được thấy trong một ví dụ cụ thể về vụ gặt thuộc linh.  Vụ gặt này xảy ra trong hai giai đoạn.  Nhiều người tin bởi những gì mà người đàn bà đã nói, nhưng nhiều người hơn nữa tin qua lời chứng của chính Chúa Giê-xu.  Chúng ta phải thừa nhận rằng đức tin của những người đã tin qua lời của người đàn bà nhất thiết bị giới hạn bởi kinh nghiệm của người đàn bà.  Lời làm chứng của bà liên quan đến sự hiểu biết phi thường của Chúa Giê-xu, nhưng sự tiếp xúc cá nhân với chính Chúa Giê-xu ắt đã làm cho đức tin của họ trở nên sâu sắc, như hiệu lực của câu 42.  Việc người Sa-ma-ri muốn Chúa Giê-xu lưu lại với họ là điều bất thường, vì Ngài là một người Do Thái, nhưng việc này cho thấy nhận thức gây tỉnh ngộ của họ rằng Ngài là một Cứu Chúa, không phải chỉ là Cứu Chúa của người Do Thái mà là của thế gian.  Chúng ta không thể biết được khái niệm này đi với nội dung nào.  Có lẽ nó không thể hiện đầy đủ ý tưởng của Cơ Đốc nhân sau này về sự cứu rỗi, nhưng có thể Chúa Giê-xu đã chia sẻ với họ về mục đích cứu rỗi trong sứ mạng của Ngài.  Danh hiệu đầy đủ được dùng ở đây xuất hiện lần nữa trong Tân Ước, chỉ ở IGi 4:14.  Tuy nhiên, danh hiệu này được sử dụng trong thế giới đương thời để nói về các thần khác nhau kể cả thần Zeus và thậm chí hoàng đế La Mã Hadrian.  Nhưng ở đây Giăng hiểu khái niệm này theo nghĩa liên chủng tộc.

5. Phép lạ thứ hai tại Ga-li-lê (Gi 4:43-54)

Đa số những ghi chép của Giăng đều tập trung tại Giê-ru-sa-lem, nhưng một vài câu chuyện xảy ra tại Ga-li-lê mà ông bao gồm là quan trọng.  Hai phép lạ đầu tiên đã xảy ra tại Ga-li-lê, như phép lạ hoá bánh ra nhiều trong chương 6.  Nhưng đa số các phép lạ mà Giăng ghi lại xảy ra tại Giu-đê.  Giăng lưu ý rằng chính Chúa Giê-xu đã thừa nhận rằng một tiên tri không được quê hương mình tôn trọng (44).  Người ta tranh cãi về việc quê hương mình ở đây có nghĩa gì.  Trong các Phúc Âm Cộng Quan, câu nói này đề cập đến Na-xa-rét, nhưng ở đây rất có thể theo Giăng đó là quê hương thuộc Do Thái để phân biệt với Sa-ma-ri.  Ở đây có một điểm đặc biệt trong việc so sánh sự tiếp đón sẵn sàng mà người Sa-ma-ri dành cho Chúa Giê-xu vì con người của Ngài với sự đón tiếp của người Ga-li-lê vì các phép lạ Ngài làm.  Mặt khác, có thể quê hương được xem là nói đến Giê-ru-sa-lem, nơi mà trong Phúc Âm này Chúa Giê-xu không được tiếp đón tốt cho lắm.  Trong trường hợp này, sự tiếp đón tại Ga-li-lê có lẽ là theo cách tương phản.

Cách lý giải trước có thể đúng hơn.  Người Ga-li-lê rõ ràng chịu ấn tượng mạnh mẽ bởi các lời kể lại về phép lạ được làm tại Giê-ru-sa-lem vào kỳ lễ Vượt Qua (đối chiếu Gi 2:23)

Tuy nhiên, phép lạ quan trọng thứ hai mà Chúa Giê-xu làm được thực hiện ở Ga-li- tại thành Ca-na, cũng là nơi chứng kiến phép lạ thứ nhất.  Quan thị vệ được nêu ra trong câu 46 hẳn là một sĩ quan trong ngành phục vụ của Hê-rốt Antiba.  Hê-rốt có danh hiệu Tetrarch, và mặc dù ông chưa bao giờ thực sự là vua, ông ta được quần chúng xem là vua.  Ở đây có những điểm tương tự với câu chuyện về việc chữa lành người đầy tớ của thầy đội (Mat 8:5-10  Lu 7:2-10), nhưng có những khác biệt đủ để thấy khó mà đồng nhất hai sự việc này.  Điểm khác biệt lớn nhất là khác biệt về tư cách của người cha và cấp bậc khác nhau của người được chữa lành (con trai thay vì đầy tớ).  Câu 47 cho thấy mức độ của sự thất vọng trong tâm trí của người cha về con trai mình.  Nhưng phản ứng của Chúa Giê-xu thì thật bất ngờ.  Những lời trong câu 48 được nói với toàn thể người Ga-li-lê.  Sự chào đón của họ dành cho Chúa Giê-xu là trên cơ sở các phép lạ, mà không nhắm vào đức tin.  Có lẽ không phải đến khi Chúa Giê-xu bảo đảm với người đàn ông rằng con ông ta sẽ sống (50) ông ta mới tin.  Nếu để đến khi ấy, thì có lẽ đó không khác gì một kiểu niềm tin có tính phép thuật.  Khi đức tin đến, nó hành động một cách nhanh chóng.  Kết luận cho câu chuyện này là rất có ý nghĩa bởi vì Giăng nêu chính xác thời gian của việc chữa lành là thời gian Chúa Giê-xu tuyên bố (52).  Điều này dẫn đến một đức tin sâu sắc hơn, không những cho người đàn ông, mà còn cho nhà ông ta.  Có thể so sánh với sự đề cập đến việc cả nhà trở lại đạo tương tự trong Công Vụ (đối chiếu Cong 10:2  11:14  16:15,31  18:8).  Giờ thứ bảy nêu trong câu 52 có lẽ là một giờ chiều.

4. SỰ CHỮA LÀNH VÀ BÀI GIẢNG TẠI GIÊ-RU-SA-LEM (Gi 5:1-47)

1. Chữa lành một người mù (Gi 5:1-18)

Ngày lễ của dân Giu-đa trong câu 1 không được nêu tên.  Nếu đó là lễ Vượt Qua, thì điều này có thể biểu thị thời gian chức vụ là quá ba năm.  Dường như lý do ngày lễ được nêu ra là để giải thích cho sự hiện diện của Chúa Giê-xu tại Giê-ru-sa-lem, mặc dù Giăng nhấn mạnh nhiều kỳ lễ trong chức vụ của Chúa Giê-xu.  Người ta đã thực hiện những cuộc đào bới một cái hồ đôi ở khu vực một phần tư phía Đông Bắc thành phố, vốn được cho là cái hồ, được mô tả ở đây là gần cửa Chiên.  Có nhiều biến thể của cái tên, nhưng Bết-sai-đa là cái tên được chứng minh nhiều nhất.  Chi tiết quan trọng nhất là con số năm cái vòm cửa, mà sự tồn tại của chúng đã được khảo cổ học xác nhận, những khu vực này có lẽ rất nhiều người chờ đợi dể tận dụng nước chữa bệnh.  Phần văn bản bổ sung trong câu 3-4 không được chứng minh và bị lượt bỏ một cách chính đáng trong bản NIV.  Tuy vậy, câu 7 xác nhận rằng có sự xao động của mặt nước, có lẽ là do những dòng suối.  Việc Giăng đề cập rằng người què đã ở đó đã ba mươi tám năm gợi ý rằng việc này được mọi người biết.  Có lẽ ông ta nổi tiếng trong thời gian ông ta ăn xin ở đó.  Chữ biết (6) ám chỉ rằng Chúa Giê-xu đã được những người đứng gần báo cho biết.  Câu hỏi ngươi muốn lành chăng? có thể là nhằm để đánh thức người đàn ông ra khỏi sự lãnh đạm của ông ta, nhưng câu trả lời không bày tỏ chút đức tin nào của người đàn ông.  Rõ ràng ông ta suy nghĩ bằng những từ ngữ mang tính phép thuật, như câu 7 cho thấy, vì ông ta tin theo cách tin thông thường rằng chỉ có người nào xuống nước trước tiên mới có cơ may được chữa lành.  Có vẻ như ông ta đã nghĩ câu hỏi của Chúa Giê-xu là không đáng trả lời.  Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng việc ông ta đáp ứng ngay tức khắc với mệnh lệnh hãy bước đi của Chúa Giê-xu là một sự đáp ứng nhanh chóng đáng ngạc nhiên.

Vấn đề đối với dân Do Thái trước hết không phải là việc chữa lành, mà là việc chữa lành đã diễn ra vào ngày Sa-bát.  Việc vác giường được xem là một hành động làm việc.  Theo Mishnah, người ta chỉ có thể khiên một cái giường nếu có một người nằm trên đó.  Với quan điểm này chính người đàn ông là người vi phạm, nhưng trong câu 16-18 thì người vi phạm lại là Chúa Giê-xu.  Sự trao đổi giữa người được chữa lành và người Do Thái toả ánh sáng trên sự vô tội của người đàn ông, là người không biết gì về nhân dạng của người đã chữa lành cho mình (13), và trên sự ương ngạnh của các nhà chức trách, những người có mối quan tâm chính, đã phớt lờ các qui tắc của mình.  Ở đây có một sự tương phản được ngầm hiểu giữa lòng thương xót của Chúa Giê-xu đối với người đàn ông đáng thương và sự thiếu lòng quan tâm đến ông ta của dân Do Thái.  Sự rút lui của Chúa Giê-xu (13) là chính sách không thay đổi của Ngài trong Phúc Âm này nhằm tránh sự tôn vinh của quần chúng.

Phải chăng lời Chúa Giê-xu (14) gợi ý rằng bệnh tật của người đàn ông là kết quả của một tội cụ thể nào đó? Cho dù câu trả lời là “phải” đi nữa thì điều này cũng không ám chỉ rằng mọi thứ tật bệnh của thân thể đều do một nguyên nhân đạo đức cụ thể nào đó.  Tuy nhiên, có thể Chúa Giê-xu đang cảnh báo về một sự què quặt đạo đức vốn còn tệ hại hơn sự què quặt thể xác mà người đàn ông vừa mới được cứu ra khỏi.  Câu mệnh lệnh là ở thì hiện tại, với ý nghĩa “Đừng phạm tội nữa”.  Tại sao người đàn ông lập tức đi báo cho người Do Thái biết, trong khi ông ta biết sự thù hiềm của họ? Điều đó không thể hiện lòng cảm kích đối với lợi ích mà Chúa Giê-xu đã đem đến cho ông mà đúng hơn phản ánh một ý thức phục tùng đối với nhiệm vụ.

Sự việc đã đưa đến chỗ Chúa Giê-xu tuyên bố về mối quan hệ của Ngài với Cha.  Thái độ của người Do Thái càng tăng thêm quyết tâm bắt bớ (16).  Nhưng Chúa Giê-xu dùng những tình huống ấy để làm chứng về công việc của Cha.  Sự chữa lành là một hành động của Đức Chúa Trời và vì vậy không tuỳ thuộc vào các qui tắc loài người.  Trong Phúc Âm này, có sự liên hệ mật thiết nhất giữa công việc của Chúa Giê-xu với công việc của Đức Chúa Trời.  Câu 17 tóm tắt một cách chính xác sứ mạng của  Chúa Giê-xu.  Trong tâm trí của dân Do Thái, ý niệm về một người nào đó làm cho mình bằng Đức Chúa Trời có lẽ là một tội còn nghiêm trọng hơn là phạm ngày Sa-bát (18), vì có lẽ nó thách thức niềm tin căn bản trong tôn giáo độc thần.

Ngày nay những cuộc bàn cãi phổ biến có khuynh hướng tập trung vào bằng chứng, hoặc tập trung vào việc chữa lành thân thể, hơn là vào nguồn gốc của nó.  Vì vậy, người Do Thái vào thời Chúa Giê-xu và phương tiện truyền thông ngày nay tránh những câu hỏi tập trung bằng cách bận rộn với các chi tiết ít quan trọng.

2. Những bày tỏ về Cha và Con (Gi 5:19-47)

Câu 19-23 là câu trả lời của Chúa Giê-xu cho lời tuyên bố của người Do Thái rằng Ngài đang làm cho mình bằng với Đức Chúa Trời.  Những lời Quả thật, quả thật ta nói cùng các ngươi nêu ra tầm quan trọng đặc biệt của những lời tiếp theo (cũng như trong câu 24).  Cách mà Chúa Giê-xu sử dụng danh hiệu Con do việc Ngài  có thói quen gọi Đức Chúa Trời là Cha.  Nó cho thấy một mối quan hệ đặc biệt thân mật.  Chúa Giê-xu nêu ra bốn lý do để hỗ trợ cho lời tuyên bố của Ngài: Con hành động giống hệt như Cha (19) Cha tỏ cho Con biết những kế hoạch của mình (20) Con cũng như Cha có quyền ban sự sống (21) Con đã được Cha ban cho quyền đoán xét (23).  Hệ quả của những lý do hỗ trợ cho địa vị của Con có hai mục đích chính.  Thứ nhất, người nghe có thể lấy làm ngạc nhiên (20) và thứ hai, họ có thể tôn vinh Con như đã tôn vinh Cha.  Hệ quả thứ nhất xét về bản thân nó sẽ dẫn đến việc tôn vinh một người làm điều lạ mà thôi, nhưng hệ quả thứ hai sửa lại điều này và chỉ vào tư cách thật của Con.  Trong bốn lý do nêu trên, lý do tập trung vào tình yêu của Cha dành cho Con (20) là lý do quan trọng nhất.  Nó nêu ra căn bản cho việc Cha bày tỏ mọi điều qua Con.

Lòng tin rằng Cha khiến những kẻ chết sống lại (21) được hỗ trợ bởi cả Cựu Ước lẫn tác phẩm của các ra-bi.  Trong khi sự đề cập chủ yếu có thể là về sự sống lại của thân thể, cũng phải có ý niệm về sự sống lại thuộc linh.  Câu 25 gợi ý rằng kẻ chết, là những kẻ nghe đến Con Đức Chúa Trời, là những kẻ đáp ứng về mặt thuộc linh ngày nay, tuy câu 28-29 đề cập đến kỳ cuối cùng.  Điểm thực sự ở đây là Con có quyền ban sự sống tương tự như Cha vậy.  Không có mâu thuẫn giữa câu 22 và Gi 3:17.  Từ ngữ trong 3:17 không xem sự phán xét như là lý do chính đối với sứ mạng của Chúa Giê-xu, trong khi đó lời tuyên bố ở đây nêu ra quyền của Con để phán xét khi điều đó là thích hợp.

Lời tuyên bố quan trọng thứ hai trong câu 24-29 dược giới thiệu bởi một nhận xét liên hệ đến việc nghe và tin.  Sự liên hệ này là cần thiết để nhận được sự sống đời đời.  Cũng có một sự liên hệ mật thiết giữa điều Chúa Giê-xu dạy và điều mà Đức Chúa Trời đã sai Ngài đến để thực hiện.  Sự sống đời đời ở đây được định nghĩa là một sự chuyển dịch từ sự chết sang sự sống.  Ý tưởng về sự sống ở đây là ở trong một bối cảnh khác với bối cảnh nơi mà sự chết hoạt động.  Chỉ có khả năng là câu 25 có thể bao gồm những kẻ sống lại bằng thân thể trong chức vụ của Chúa Giê-xu, nhưng những lời đã đến rồi có vẻ như là đi ngược lại cách giải thích ấy.  Cần phải lưu ý rằng khi nói về sự sống lại (25), Chúa Giê-xu dùng danh hiệu Con Đức Chúa Trời nhưng khi nói về sự phán xét (27), Ngài nói với tư cách là Con Người.  Danh hiệu thứ hai, không giống như danh hiệu thứ nhất, không có mạo từ (article) trong tiếng Hi Lạp và phải được hiểu một cách tổng quát về tính cách của Ngài như là một con người thật sự.  Sự phán xét sẽ được thực hiện bởi Đấng thực sự biết về loài người.  Giờ trong câu 28 là khác với giơ trong câu 25, vì ở đây đang nói đến sự sống lại cuối cùng.  Sự tương phản giữa sự sống lại của kẻ làm lành và sự sống lại của kẻ làm dữ có nghĩa là mặc dù những kẻ tin đã chịu phán xét, họ có thể mong về sự hoàn tất của sự sống lại thuộc thể, trong khi đó những kẻ đã làm dữ (và có thể đúng là những kẻ không tin) không mong gì hơn ngoài sự định tội.  Trong câu 30 Chúa Giê-xu khẳng định công lý của sự phán xét của Ngài trên những cơ sở hoà hợp với Đấng đã sai Ngài.  Mặc dù quyền phán xét được ban cho Con, nhưng nó hoàn toàn phù hợp với ý muốn của Cha.  Phần tiếp theo (31-47) liên quan đến sự làm chứng về Chúa Giê-xu.

Chúa Giê-xu không cần phải làm chứng về mình vì ý muốn Ngài đồng nhất với ý muốn Cha (31-32).  Nếu Ngài tự làm chứng, thì sự làm chứng ấy là sai vì nó sẽ hàm ý rằng Ngài cần phải phân biệt giữa Ngài và Cha.  Điều này không mâu thuẫn với 8:14, khi Chúa Giê-xu không xét đến sự giả định không thể có về việc sự làm chứng của Ngài mâu thuẫn với sự làm chứng của Cha.  Người khác làm chứng ở đây là Cha, là Đấng có lời chứng luôn luôn thật.

Lời chứng của Giăng Báp-tít là có giá trị nhưng chưa đủ (33-35).  Lời chứng của Giăng chắc chắn đưa một số người đến với Đấng Christ, nhưng không nên nghĩ rằng Chúa Giê-xu cần phải nhờ cậy vào lời chứng ấy.  Lời chứng của Giăng được so sánh với một ngọn đèn, nhưng chính ông không phải là ánh sáng, mặc dù ông chỉ hướng về sự sáng ấy.  Mục đích của mọi lời chứng được nói ra để người ta có thể được cứu, vốn chỉ có thể bởi đức tin nơi Chúa Giê-xu (24).

Kế đến Chúa Giê-xu nêu lời chứng về các công việc (ngôn ngữ ở đây là số nhiều) của Ngài.  Đây là những công việc có tính chất đặc biệt vì được Cha đã uỷ nhiệm.  Chính vì lý do này mà lời chứng về các công việc của Chúa Giê-xu là lớn hơn lời chứng của Giăng.  Thế nhưng lời chứng ấy đã rơi vào đất không sinh sản được.  Mặc dù Cha đã làm chứng cho Chúa Giê-xu, người nghe đã không nghe tiếng Ngài hay nhận ra sự hiện diện của Ngài (37).  Việc rõ ràng là qua sự không tin, “lời” của Đức Chúa Trời (nguyên thuỷ là lời Kinh Thánh) không ở trong họ, và sự xem xét này đưa đến phần tiếp theo.

Những kẻ không tin Chúa Giê-xu đã không thờ ơ với Kinh Thánh.  Thật vậy, câu 39 nêu lên sự siêng năng chăm chỉ nổi tiếng trong vòng người Do Thái trong việc nghiên cứu kinh Torah.  Rắc rối ở trong niềm tin của họ chính là bản thân nó đã đủ cho sự cứu rỗi.  Nhưng họ bỏ kế hoạch ấy khi từ chối chấp nhận lời chứng của Kinh Thánh về Chúa Giê-xu, vốn là mục đính chính của nó.  Câu 40 diễn tả vấn đề một cách mạnh mẽ - đó là sự cố tình chối bỏ Chúa Giê-xu, nguồn của sự sống.  Điều đó tương đương với việc nói rằng họ đã chết về mặt thuộc linh.  Chúa Giê-xu không nhận lời chứng của con người hay lời khen ngợi của con người (41).  Ngài không được sự xác nhận chính thức cho sứ mạng của mình.  Người Do Thái hoàn toàn không hiểu sự xác nhận của chính Đức Chúa Trời trong sứ mạng của Chúa Giê-xu (43).

Sự yêu mến Đức Chúa Trời đề cập trong câu 42 có thể là tình yêu của con người đối với Đức Chúa Trời hoặc tình yêu của Đức Chúa Trời đối với con người, hoặc có lẽ là cả hai.  Rất có thể là việc họ thiếu tình yêu đối với Đức Chúa Trời được nghĩ đến trong ngữ cảnh ấy.  Họ quan tâm đến sự khen ngợi của con người nhiều hơn là quan tâm đến sự khen ngợi của Đức Chúa Trời (44).  Họ ở trong sự tương phản với những người Do Thái thật mà Phao-lô đề cập trong Ro 2:29.  Khi Chúa Giê-xu nhắc đến Môi-se, Ngài đang đụng đến một điểm nhức nhối đối với những người Do Thái yêu mến giáo luật Torah.  Vào kỳ phán xét lớn cuối cùng, chính Môi-se sẽ định tội họ.  Mặc dù trong kinh Torah có một vài chỗ đề cập một cách cụ thể đến Đấng Mết-si-a, khuynh hướng chung của nó là dọn đường cho Đấng giải cứu sắp đến (46).  Trong toàn bộ việc nghiên cứu của họ về Kinh Thánh họ đã quên mất điểm quan trọng này.  Chúa Giê-xu trực tiếp nói họ (47) rằng họ không tin những gì Môi-se chép.  Bằng cả lòng tận tâm cho việc nghiên cứu Kinh Thánh, nhưng họ không thực sự tin những gì Kinh Thánh nói.  Đối với những người Do Thái mộ đạo, có lẽ khó để hiểu được sự phân biệt này, nhưng nếu không có sự phân biệt này, họ sẽ không có cơ hội để tin lẽ thật về điều Chúa Giê-xu đang nói.

5. CÁC PHÉP LẠ VÀ NHỮNG CUỘC ĐÀM LUẬN TẠI GA-LI-LÊ (Gi 6:1-71)

1. Cho đoàn dân đông ăn (Gi 6:1-15)

Phép lạ này là phép lạ duy nhất được ghi trong cả bốn sách Phúc Âm.  Vì lý do này chỉ những nét đặc trưng của câu chuyện của Giăng mới được nêu ở đây.  Giăng ở đây đề cập đến biển Ti--ri-át (1), một địa danh có lẽ không được dùng để mô tả biển Ga-li-lê vào thời Chúa Giê-xu nhưng quen thuộc vào thời điểm viết sách.  Đoàn dân đông đáp ứng với bằng chứng về các phép lạ, ở đây được nói rõ là phép lạ chữa lành bệnh tật (2).  Giăng gọi đó là các phép lạ vì chúng dẫn người ta đến chỗ tìm kiếm Chúa Giê-xu.  Vì Chúa Giê-xu đã đi qua bờ đông của hồ nên núi được đề cập (3) có lẽ là nơi mà ngày nay người ta gọi là cao nguyên Golan.  Giăng lưu ý rằng lễ Vượt Qua gần đến bởi vì ông liên hệ phần bàn luận về bánh từ trời với kỳ lễ này (đối chiếu câu 51), vốn trở nên dễ hiểu hơn trong một bối cảnh về lễ Vượt Qua).  So sánh với những câu chuyện của các Phúc Âm Cộng Quan ta thấy rằng trong khi các Phúc Âm Cộng Quan mô tả các môn đồ chủ động trong câu chuyện thì Giăng đổi sự chủ động sang chính Chúa Giê-xu (5).  Giăng cũng nêu tên Phi-lípAnh-, trong khi các Phúc Âm Cộng Quan nêu chung chung là “các môn đồ”.  Trong câu 6 Giăng thêm một lời bình được sắp đặt để xoá mọi nghi ngờ trong suy nghĩ của người đọc rằng Chúa Giê-xu không biết Ngài sẽ làm gì.  Phản ứng của Phi-líp đối với lời đề nghị của Chúa Giê-xu  thể hiện một ý thức tự nhiên nhưng hoàn toàn con người trong tình huống này.  Ông hết sức thực tế trong những tính toán của mình (7).  Anh-rê thì có khá hơn một chút khi thông báo với Chúa Giê-xu về số lượng thực phẩm sẵn có không đủ vào đâu.  Ông cũng giải quyết vấn đề theo nghĩa đen.  Nhưng không ai trong các môn đồ biết được Chúa Giê-xu đang nghĩ gì.

Tất cả các bản ghi đều kể lại rằng Chúa Giê-xu tạ ơn trước khi phân phát bánh (11).  Động từ mà Giăng sử dụng ở đây là tương tự với cách dùng cùa các Phúc Âm Cộng Quan trong câu chuyện về Bữa ăn tối của Chúa.  Đây là điều đáng chú ý vì lý do rằng Giăng không kể ra bữa ăn tối cuối cùng trong Phúc Âm của mình.  Giăng nhấn mạnh rằng mọi người đều được thoả mãn (12), ý nói rằng đó là một bữa ăn đầy đủ chớ không phải là một hành động tượng trưng đơn thuần.  Điều còn nghi ngờ là có phải mười hai giỏ bánh thừa là một cách tượng trưng để nói về sự cung cấp của Đức Chúa Trời cho các chi phái Y-sơ-ra-ên.  Càng phù hợp hơn với ngữ cảnh để xem đó như một bằng chứng về sự rộng rãi dồi dào của Đức Chúa Trời.  Giăng mô tả phép lạ này là một dấu (phép lạ, c.14) và liên kết nó với việc dân chúng đề cập đến một Đấng tiên tri, một sự hàm ý đến lời báo trước của Phu 18:15.  Đoạn sách này đôi khi được hiểu là đoạn sách mang tính Mết-si-a.  Dựa trên câu 15 dường như rằng những người trong câu chuyện này đã hiểu như vậy.  Chỉ trong Phúc Âm này mà kế hoạch lập Chúa Giê-xu làm Vua mới được nói đến.  Điều này giải thích tại sao trong Ma-thi-ơ và Mác, Chúa Giê-xu giục các môn đồ vào trong thuyền.  Rất có thể rằng mục đích chính của đám đông là để nhờ Chúa Giê-xu bảo đảm một nguồn cung cấp thực phẩm miễn phí thường xuyên, hơn là xem xét lại cẩn thận tiềm năng của Ngài với tư cách Đấng Mết-si-a.

2. Chúa Giê-xu đi bộ trên mặt nước (Gi 6:16-24)

Giăng không miêu tả sự kiện này như một phép lạ.  Có lẽ chúng ta cũng tự hỏi rằng vì sao Giăng lại miêu tả sự kiện này mà không hề có một lời giải thích nào về ảnh hưởng do câu chuyện này tạo ra.  Do sự kiện này có liên kết với việc hóa bánh cho đòan dân như được ghi lại trong hai sách Mác và Ma-thi-ơ, việc cho rằng sự kiện này cũng có liên hệ đến truyền thống Cơ đốc là điều hợp lý.  Tuy nhiên, ngụ ý của Giăng có lẽ là muốn sử dụng câu chuyện này để miêu tả sự phụ thuộc của các môn đồ vào Chúa Giê-xu.  Phần bàn luận theo sau phép lạ hoá bánh được đặt ở Ca-bê-na-um (24), vốn giải thích cuộc hành trình bằng thuyền của các môn đồ từ bờ đông sang bờ tây.  Việc đề cập đến một quãng đường trong câu 19 gợi ý một sự tường thuật của người chứng kiến tận mắt.  Có thể không nghi ngờ gì về việc Giăng muốn độc giả của mình hiểu một phép lạ khi Chúa Giê-xu bước đi trên mặt nước, phải bác bỏ sự gợi ý rằng các môn đồ thực tế thấy Chúa Giê-xu đi bộ trên bờ hồ và nghĩ rằng Ngài ở trên mặt nước, vì có sẽ nêu lý do để họ khiếp sợ.  Những lời Ấy ta đây, đừng sợ chi! (20) không nên xem là có hơi hướng như được chuyển tải trong những câu nói “Ta là” khác trong Giăng.  Thông điệp ở đây là sự sợ hãi bị xua tan đi trong sự hiện diện của Chúa Giê-xu.  Cách giải thích hợp lý nhất cho câu 21 là thuyền gần bờ nhiều hơn là các môn đồ tưởng tượng.  Câu 23-24 giải thích thế nào nhiều người trong những người chứng kiến việc cho đoàn dân ăn đã có mặt tại Ca-bê-na-um để nghe những cuộc bàn luận.  Giăng muốn độc giả liên hệ phần bàn luận này với phép lạ phân phát bánh.

3. Những lời bàn luận về bánh sự sống (Gi 6:25-59)

Mọi người bối rối là làm thế nào Chúa Giê-xu đã đến bờ hồ bên kia (25), và câu hỏi của họ cho thấy mức độ thuần tuý con người trong ý nghĩ của họ.  Câu trả lời của Chúa Giê-xu cho câu hỏi của họ mang ý nghĩa sâu sắc hơn .  Ngài chỉ ra sự thất bại của họ trong việc không nhận ra ý nghĩa của các phép lạ.  Họ chỉ thấy đồ ăn, chớ không thấy ý nghĩa thực trong hành động của Chúa Giê-xu.  Họ tin vào khả năng của mình để thoả mãn những điều được đòi hỏi, nhưng Chúa Giê-xu phải nhắc nhở họ rằng sự sống đời đời là một quà tặng.  Ấn tín là dấu của Đức Chúa Trời về sự chấp nhận.  Người nào giữ ấn tín sẽ hành động thay mặt Đức Chúa Trời.  Vì thế tầm quan trọng của Chúa Giê-xu được xem như là người đại diện của Đức Chúa Trời, mà ở đây được gọi là Con Người, một danh hiệu thu hút sự chú ý vào nhân tính của Ngài.  Lời phát biểu trong câu 27 hẳn có vẻ lạ lùng, vì người ta đang tìm cách tránh né lao động, nhưng trong những lời này, Chúa Giê-xu khéo léo tránh né câu hỏi thuần túy về đồ ăn thuộc thể của họ.  Rõ ràng câu 28 hàm ý rằng họ suy nghĩ theo kiểu làm việc để được phần thưởng, nhưng Chúa Giê-xu lập tức nhắc họ về sự cần thiết của đức tin, chớ không phải việc làm.

Câu hỏi trong câu 30 cho thấy suy nghĩ nông cạn của họ, vì họ còn mong muốn một phép lạ nào khác hơn là việc phát bánh cho đoàn dân đông từ một phần ăn ít ỏi cơ chứ? Việc đề cập đến ma-na trong đồng vắng (31) cung cấp một manh mối giúp tâm trí họ làm việc.  Có lẽ họ đang nghĩ sự cung cấp này là trội hơn sự cung cấp mà Chúa Giê-xu đã ban vì số lượng tuyệt đối của nó.  Quan niệm của họ về phép lạ dường như đã bị giới hạn ở chỗ họ cố tạo lại kinh nghiệm trong đồng vắng của dân Y-sơ-ra-ên.  Điều này chẳng khác gì việc mong rằng Đấng Mết-si-a phải tài giỏi hơn Môi-se để gây ấn tượng trên họ.  Sự đề cập đến bánh từ trên trời có thể là trích dẫn từ Thi 78:24 tuy cũng có những điểm tương tự ở những chỗ khác.  Chúa Giê-xu sử dụng chủ đề ấy (32) để trước hết phủ nhận việc Môi-se cung cấp bánh từ trời, và sau đó đồng hoá bánh ấy với chính Ngài.  Được so sánh với ma-na, là thứ bị giới hạn chỉ đối với người Y-sơ-ra-ên trong một thời gian ấn định, Chúa Giê-xu với tư cách là bánh từ trời liên tiếp ban sự sống cho thế gian (33).  Nhưng câu 34 cho thấy rằng người nghe không thể vượt lên trên mức độ về sự cung cấp vật chất.  Trong phần kế tiếp Chúa Giê-xu khẳng định tuyên bố của mình rằng Ngài là bánh thật.

Câu 35 ghi lại lần đầu tiên câu nói có chữ “Ta là” nổi tiếng của Chúa Giê-xu, và những câu tiếp theo (35-51) là sự bình giải thêm về nó.  Đó là một câu trả lời trực tiếp đối với nhu cầu về bánh của người ta, vì họ cần hiểu rằng Chúa Giê-xu đang nói về đồ ăn thuộc linh, chứ không phải đồ ăn thuộc thể.  Ý nghĩa của nhóm từ bánh sự sống là bánh có thể ban sự sống, nhưng bánh ấy chỉ sẵn dùng cho những kẻ tin theo Chúa Giê-xu, một điều kiện mà những người nghe chưa đáp ứng (36).  Nếu sứ mạng của Chúa Giê-xu phụ thuộc vào đức tin của người ta, thì liệu chi tiết này có phải cho thấy trước một sự thất bại hay không? Câu 37 nêu ra câu trả lời, đó là kết quả cuối cùng nằm trong tay Cha.  Phàm những kẻđến cho thấy sự nhấn mạnh vào sự đáp ứng cá nhân.  Câu tuyên bố nhấn mạnh dưới hình thức phủ định Ta không bỏ ra ngoài đâu phải được hiểu như một sự bảo đảm rằng Chúa Giê-xu sẽ giữ gìn họ.  Không có khả năng về bất kỳ sự không thống nhất nào giữa Cha và Con, như được thể hiện trong câu 38-39.  Điều gì Cha ban cho thì Con sẽ nhận lãnh Ta chớ làm mất.  Lưu ý rằng cụm từ Hễ sự trong câu 39 mang nghĩa trung lập (cũng như phàm những kẻ trong câu 37) và nó bao gồm mọi điều được Cha ban cho Con.  Việc hai lần đề cập đến ngày sau rốt (40) cho thấy rằng Chúa Giê-xu đang nghĩ đến lúc cuối cùng của thời đại, khi mà tất cả sẽ được hoàn thành.

Lúc này trong buổi bàn luận, sự khó chịu của người Do Thái đã bắt đầu.  Điểm đụng chạm là bánh từ trên trời xuống (41) vì họ không thể dung hòa được điều này với nguồn gốc xuất thân khiêm nhường của Chúa Giê-xu (42).  Chúa Giê-xu đã quở trách sự lằm bằm của họ hơn là đáp lại sự khó chịu của họ (43), mặc dù Ngài cũng nêu ra trước sự cần thiết để Cha chủ động, nhưng cuối cùng Ngài bảo họ rằng họ đã đi sai nhịp với Cha (44).  Họ cần một sự bày tỏ thuộc linh để hiểu được lời của Chúa Giê-xu.  Điều này được nhấn mạnh thêm qua việc nhắc đến các tiên tri (45).  Đoạn trích là từ Es 54:13 vốn mô tả sự chiến thắng của Tôi Tớ trong vương quốc của Ngài.  Câu Kinh Thánh xác nhận quan điểm cho rằng quyền chủ động là với Đức Chúa Trời.  Thế nhưng sự bày tỏ của Đức Chúa Trời chỉ được thực hiện qua Chúa Giê-xu, vì chỉ có mình Ngài được nhìn thấy Đức Chúa Trời (46).  Một lần nữa sự cần thiết phải có đức tin được nhấn mạnh trong câu 47, là câu lập lại ý của Gi 3:15.

Chủ đề về bánh một lần nữa được giới thiệu, và lời tuyên bố của Chúa Giê-xu được lặp lại (48).  Sự ưu việt của bánh từ trời so với ma-na là ở chỗ bánh từ trời đưa đến sự sống trong khi ma-na không thể ngăn chận sự chết (49-50).  Trong câu 51, Chúa Giê-xu đưa ra một tuyên bố quan trọng rằng Ngài là bánh hằng sống, vốn đồng nghĩa với bánh của sự sống, giúp sự tương phản với ma-na trở nên sinh động hơn.  Tuy nhiên, ý tưởng lại được mở rộng thêm khi trong sự nhận dạng bánh với thịt.  Ngoài ra còn có một sự khác biệt khác nữa.  Trong câu tuyên bố này, chính Chúa Giê-xu là Đấng ban cho sự sống đời đời trong khi trước đó sự sống đời đời được hiểu là sự ban cho của Đức Chúa Trời.  Chữ thịt đề cập đến sự sống con người của Chúa Giê-xu nhưng người Do Thái đã hoàn toàn hiểu sai điều đó (52).  Nó khác với chữ được dùng tại Bữa Ăn Tối Cuối Cùng (“thân thể” thay vì “thịt”), là chữ cho thấy rằng lời tuyên bố này không nên hiểu dựa vào bữa ăn tối cuối cùng, hay ngược lại.  Từ thế gian trong câu 51 nên hiểu là thế giới con người.

Chính vì người Do Thái đã hiểu lời Chúa Giê-xu theo nghĩa đen nên Ngài đã phải giải thích thêm trong câu 53-58.  Thật khó tin rằng người Do Thái không hiểu được lời dạy của Chúa Giê-xu qua các ẩn dụ.  Sự khó chịu của họ có vẻ hơi khá hơn sự chế giễu một chút.  Vì vậy, không có gì là ngạc nhiên khi người Do Thái không hiểu thấu được ý nghĩa thuộc linh của lời Chúa Giê-xu, vốn chỉ có thể hiểu qua đức tin, là điều họ không có.  Việc ăn thịt và uống huyết của Chúa Giê-xu rõ ràng là một hành động của đức tin (53).  Ngôn ngữ tượng trưng chỉ có thể hiểu được khi xét đến sự hy sinh sẽ đến của Chúa Giê-xu.  Vì vậy, sự phụ thuộc vào những gì Chúa Giê-xu đã làm được mô tả một cách sinh động trong khái niệm ăn và uống.  Kết quả của sự phụ thuộc ấy được thấy trong câu 56-57, trong một sự ở trong.  Chúa Giê-xu ở trong những người tin có nghĩa là ngoài đồng nhất chính Ngài với họ nhưng việc họ ở trong Ngài có nghĩa là họ tiếp tục phụ thuộc vào Ngài.  Toàn bộ phần bàn luận này kết thúc với một sự so sánh khác giữa ma-na và bánh từ trời.  Câu 58 vì vậy là một lời lặp lại của câu 49.  Giăng để mãi cho đến cuối phần bàn luận mới đề cập đến địa điểm của cuộc bàn luận.  Vì cuộc bàn luận nảy sinh từ phép lạ phát bánh cho đoàn dân đông, chúng ta không thể nói phần nào xảy ra trước khi đi vào nhà hội.  Giăng không thấy thích hợp để giải thích, nhưng cũng không loại bỏ khả năng rằng toàn bộ cuộc luận đàm đã diễn ra bên trong nhà hội vì một số buổi lễ tại nhà hội có lẽ cho phép điều ấy.

4. Phản ứng của các môn đồ về sự dạy dỗ và công tác của Chúa Giê-xu (Gi 6:60-71)

Sự lằm bằm của nhiều người trong các môn đồ (60-61) cho thấy rằng chữ “môn đồ” ở đây được dùng theo nghĩa rộng- bao gồm những người theo Chúa Giê-xu ở bên ngoài.  Họ không phải là những tín hữu thật vì họ thấy khó có thể chấp nhận sự dạy dỗ của Ngài (60).  Thậm chí họ không thể tưởng tượng được ai có thể chấp nhận sự dạy dỗ ấy.  Chúa Giê-xu biết vị trí thật của họ  nên Ngài tiếp tục đưa ra lời khuyên bảo.  Ngài biết xác thịt đã ngăn trở họ.  Câu phát biểu trong câu 62 về việc Con Người lên ám chỉ rằng sẽ có một nguyên nhân lớn hơn cho sự vấp phạm theo cách mà trong đó Con Người sẽ lên trời, vì nó sẽ được báo trước bởi sự đau đớn và sự chết của Ngài.  Lời tuyên bố thêm rằng xác thịt chẳng ích chi nhằm kéo ý nghĩ của họ ra khỏi cách nghĩ vật chất sang cách nghĩ thuộc linh.  Lời tuyên bố ở đây  chỉ mang tính tương đối.  Giăng tuyên bố rằng Ngôi Lời đã trở nên xác thịt (Gi 1:14).  Chúa Giê-xu không xem thường tầm quan trọng của sự sống trên đất của mình nhưng Ngài đang nêu ra sự cần thiết phải nắm bắt được ý nghĩa thuộc linh trong lời dạy của Ngài.  Câu 64 là một ví dụ khác trong Giăng mà Chúa Giê-xu bày tỏ Ngài biết ý tưởng con người.  Ngài biết rằng đức tin sẽ bị mất trong một số người trong họ và một lần nữa sự chủ động của Cha được nhấn mạnh trong câu 65.

Sự tương phản giữa phản ứng của Mười hai môn đồ và của những kẻ bỏ đi được nêu trong câu 66-71.  Mười hai môn đồ, với Si-môn Phi-e-rơ với tư cách là người phát ngôn của họ, khẳng định một đức tin sâu sắc.  Việc thường xuyên đề cập đến sự sống đời đời trong sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu đã đưa họ đến chỗ mô tả lời dạy của Ngài theo cách này (68).  Lòng tin của họ tập trung vào một điều rằng Giê-xu là một người đặc biệt, ở đây được mô tả là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời.  Có một vài cách hiểu khác nhau, nhưng cách hiểu tiếp theo đây được ưa thích hơn do tính cách khác thường của nó.  Trong Mac 1:24 và Lu 4:34 nhóm từ này được ma quỉ dùng để xưng danh Chúa Giê-xu.  Sự tuyên xưng của Phi-e-rơ ở đây không vượt xa hẳn như sự xưng nhận của ông trong Mat 16:16.  Rõ ràng là chữ “chúng tôi” trong lời tuyên xưng của Phi-e-rơ cần giới hạn trong sự đối chiếu với kẻ phản bội trong câu 64.  Hệ quả không vui của tin tức về việc một người trong số họ là quỉ (70) không được nói tới.  Khi viết về nó sau này Giăng chỉ đơn thuần nhận dạng hắn là Giu-đa.

6. CHÚA GIÊ-XU TRONG NGÀY LỄ LỀU TẠM (Gi 7:1-8:59)

1. Chúa Giê-xu từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem (Gi 7:1-9)

Đây là phần giải thích các mối quan hệ của Chúa Giê-xu với gia đình Ngài và với người Do Thái nói chung tại thời điểm này trong chức vụ Ngài.  Chúa Giê-xu ý thức được lòng thù địch và âm mưu chống lại Ngài (1), và Giăng đề cập việc này để giải thích cho việc Ngài chậm trễ trong việc lên dự lễ.  Lễ Lều Tạm là một kỳ lễ phổ thông và bất cứ ai muốn tiếp xúc với nhiều người thì không gì bằng lên Giê-ru-sa-lem trong dịp này.  Đó là lý lẽ của anh em Chúa Giê-xu (3).  Có thể họ đã nghe rằng nhiều người trong số các môn đồ của Chúa Giê-xu gần đây đã lìa bỏ Ngài (Gi 6:66).  Nhưng câu 4 cho thấy rằng họ đã không nắm được tính chất của sứ mạng Chúa Giê-xu.  Mục đích của Ngài không phải là để ra mắt công khai.  Đối với Ngài không thể có khả năng thế gian hay anh em Ngài tin Ngài.  Câu trả lời Chúa Giê-xu nêu ra trong câu 6 cho thấy Ngài ý thức sự di chuyển của Ngài được chi phối bởi một thời biểu mà người khác không có thể hiểu được.  Đối với anh em Ngài, thì thì giờ được tiện luôn luôn.  Chữ giơ ở đây thay cho thời gian thích hợp và phải phân biệt với “giờ” đã được đề cập trong câu 2:4 mặc dù cả hai chữ có liên hệ gần gũi.  Chúa Giê-xu có vẻ như đã nhận xét cách mà anh em Ngài dùng chữ thế gian (7), vì họ đã không nắm được rằng từ ngữ này đối nghịch với Chúa Giê-xu (theo nghĩa nó được dùng trong Phúc Âm này).  Ở đây từ ngữ này được sử dụng một cách đặc biệt với một nghĩa đạo đức (công việc họ ác).  Một số bản văn trong câu 8 có chữ “không” một số khác có chữ chưa.  Cách ghi chữ “chưa” có thể là một nỗ lực để tránh một sự khó giải thích với việc Chúa Giê-xu không đi lên thành Giê-ru-sa-lem.  Tuy nhiên, cách ghi chữ “không” có lẽ là cách ghi đúng hơn.  Trong trường hợp đó, Chúa Giê-xu không phải đang từ chối rằng mình sẽ đi dự lễ, mà đang từ chối rằng Ngài sẽ hành động theo đề nghị giảng dạy công khai của các anh em.  Lời tuyên bố trong câu 10 hỗ trợ cho lý luận này.

2. Chúa Giê-xu giảng dạy tại kỳ lễ (Gi 7:10-52)

(Gi 7:10-25) Uy quyền đằng sau sự giảng dạy của Chúa Giê-xu  Khi Chúa Giê-xu quyết định đi dự lễ, Ngài đi trong bầu không khí suy đoán của người Do Thái (10-11).  Điều này đưa đến một tranh luận giữa vòng người ta về việc Ngài ở đâu (11) và về tính cách của Ngài (12).  Tính thiện lành và sự lừa phỉnh là hai tính cách mà mọi người dùng để nhận xét về Ngài.  Vào giai đoạn này cả Chúa Giê-xu lẫn quần chúng nói chung đều không thể công khai tỏ tường (10,13) mặc dù các lý do của họ hoàn toàn khác nhau.  Chúa Giê-xu đang đi theo kế hoạch của Cha, còn quần chúng thì đang hành động vì sợ hãi.  Điều này giải thích vì sao Chúa Giê-xu không ngần ngại đi lên đền thờ vào giữa kỳ lễ (14).  Rõ ràng Ngài đi với một mục đích cụ thể.  Điều làm dân Do Thái lúng túng là tính chất uy quyền của sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu dù Ngài không được đào tạo chính thức (15).  Để đáp lại, Chúa Giê-xu nêu ra bản chất thật của sự dạy dỗ của Ngài.  Đó không phải là sự dạy dỗ của riêng Ngài, mà là của Đức Chúa Trời (16).  Sự dạy dỗ đó có thể được chứng thực bởi bất kỳ ai ưa thích làm theo ý muốn Đức Chúa Trời (17) không dựa trên sự tìm kiếm lợi riêng (18) nhưng dựa trên sự tìm kiếm vinh hiển của Đức Chúa Trời và vì vậy sự dạy dỗ đó là chân thật (18).  Phần kết luận trong câu trả lời của Chúa Giê-xu khá đột ngột.  Ngài nhắc đến Môi-se và luật pháp (19).  Khi Ngài nói rằng không ai trong họ giữ luật pháp, thì có nghĩa là họ không nắm được mục đích thật của luật pháp, vì họ chắc chắn đã không phớt lờ luật pháp.  Đó là trung tâm đối với tư tưởng tôn giáo hiện thời của họ.  Chúa Giê-xu rõ ràng nhìn Vượt Quá sự tuyên xưng của họ về việc tôn trọng luật pháp, và thách thức họ trên nền tảng của việc họ âm mưu giết Ngài, trong khi luật pháp định tội kẻ giết người (Xu 20:13).  Để tự bào chữa, dân Do Thái đã tố cáo Chúa Giê-xu là bị quỉ ám (20).  Họ đã không nhận ra ý định giết người của họ đối với Chúa Giê-xu.  Để đáp lại, Chúa Giê-xu nêu ra sự mâu thuẫn của họ trong việc hiểu luật pháp bằng cách cho phép cắt bì trong ngày Sa-bát trong khi không cho phép chữa bịnh trong ngày đó (21-23).  Sự liên kết ý tưởng trong câu 23 là ở chỗ cách hiểu của người Do Thái cho phép cắt bì trong ngày Sa-bát, dù luật pháp cấm làm việc, bởi vì nó làm hoàn thiện đứa trẻ, và Chúa Giê-xu tuyên bố rằng làm như một người trọn vẹn, lành mạnh cũng có mục tiêu tương tự.  Trong câu 24, Chúa Giê-xu phê phán các tiêu chuẩn đang được áp dụng.  Đức tin thật không có phần trong sự đánh giá của các tiêu chuẩn ấy.

(Gi 7:25-36) Nhận dạng của Chúa Giê-xu  Phần bàn luận về Đấng Christ tiếp theo đây nảy sinh trực tiếp từ những lời phê phán ở phần trước.  Một số người hoang mang bối rối vì các giới chức không có hành động gì.  Hậu quả là họ thắc mắc không biết các giới chức có kết luận rằng Giê-xu là Đấng Christ (26) hay không.  Nhưng điều này lại nêu ra một khó khăn khác, vì người ta thường giả sử rằng Đấng Mết-si-a sẽ đến trong sự bí mật.  Trong khi đó, Chúa Giê-xu lại đưa ra câu trả lời hoàn toàn công khai trong đền thờ.  Ngài thách thức sự tự tôn của họ vì cho rằng họ biết nguồn gốc thật của Ngài.  Những gì họ biết về Ngài chỉ là một phần.  Phần quan trọng nhất là điều Ngài đã được sai đến thì họ đã hoàn toàn không hiểu.  Chúa Giê-xu quả quyết rằng họ không biết Đấng sai Ngài đến (28).  Họ đã không liên hệ sứ mạng của Chúa Giê-xu với Đức Chúa Trời.  Giăng nhấn mạnh trong chuyện kể của mình sự bất lực của bất kỳ thế lực nào trong việc ngăn trở các mục đích của Đức Chúa Trời được thực hiện đúng lúc ông lưu ý giơ chưa đến.  Câu 30-31 trình bày sự chia rẽ giữa những người chống Chúa Giê-xu và những người tin Ngài.  Câu hỏi được đặt ra trong câu 31 không cần phải giả sử rằng người nào tin đều nhất thiết đã hiểu được ý nghĩa sâu hơn của phép lạ.  Tuy các phép lạ nói chung không đi kèm với Đấng Mết-si-a mong đợi, nhưng cách nghĩ phổ biến dường như ở đây đã cho là như thế.

Hành động của người Pha-ri-si và các thầy tế lễ cả cho thấy rõ hơn ý muốn bắt Chúa Giê-xu vốn được thể hiện trong câu 30.  Lời bình của Giăng trong câu 32 gợi ý rằng Tòa Công Luận đã tổ chức một cuộc họp không chính thức.  Nhưng mãi đến câu 45, ông mới cho chúng ta biết kết quả của những nỗ lực bắt Chúa Giê-xu của những người trông coi đền thờ.  Trái lại ông tập trung vào phản ứng khó hiểu của Chúa Giê-xu trước tình hình này (33-34).  Tâm trí của Chúa Giê-xu đặt ở thập tự giá và sứ mạng thiên thượng của Ngài, một kinh nghiệm mà qua đó người nghe Ngài không thể theo đuổi tìm kiếm Ngài.  Một điều xảy ra rất thường trong Phúc Âm này là lời của Chúa Giê-xu bị người nghe hiểu sai theo nghĩa đen.  Do vậy, thái độ bối rối của người Do Thái là điều có thể hiểu được (35-36), nhưng điều đó cũng cho thấy họ không có khả năng suy nghĩ theo cách thuộc linh.  Tâm trí họ lan man, đó là người Do Thái lưu lạc trong dân Gờ-réc.  Điều trớ trêu của tình huống này là Giăng sau này ghi lại (Gi 12:20-22) rằng một số người Gờ-réc (Hi Lạp) tìm ra Chúa Giê-xu, và độc giả hẳn sẽ biết thể nào Phúc Âm đã lan truyền qua thế giới các dân ngoại.

(Gi 7:37-44) Lời hứa về Đức Thánh Linh  Vào ngày cuối cùng của kỳ lễ Lều Tạm, có một nghi lễ nước và rõ ràng nghi lễ này đã là nền tảng cho lời phán của Chúa Giê-xu về Đức Thánh Linh.  Nghi lễ này liên hệ với nhu cầu về mưa trong suốt năm sau đó.  Khi Chúa Giê-xu phán Nếu người nào khát (37), có thể Ngài đang nghĩ tới Es 55:1 nhưng có thể đúng hơn là Ngài đang ngầm gợi ý một cách chọn tốt hơn đối với nghi lễ nước.  Sự khát ở đây có khuynh hướng nói về một nghĩa thuộc linh, như thường thấy trong sự dạy dỗ của Ngài.  Câu 38 làm rõ rằng nước uống thuộc linh này chỉ dành sẵn cho người tin.  Việc đối chiếu Kinh Thánh ở đây là điều thật khó khăn vì không có đoạn Kinh Thánh cụ thể nào phù hợp với ngữ cảnh dù nói chung vẫn có thể tạm đối chiếu những đoạn như Es 58:11  Exe 47:1  Xa 14:8.

Cụm từ từ trong lòng mình nghĩa đen là “từ trong bụng mình”.  Một thắc mắc nảy sinh ở đây là liệu điều này đề cập đến Đấng Christ hay là những người tin theo Ngài.  Vì sông nước hằng sống được nhận dạng là Thánh Linh, vậy thì theo nghĩa nào có thể nói rằng một người tin tương giao được với Thánh Linh? Đây khó có thể là nghĩa ấy và vì vậy, tốt nhất nên hiểu theo ý được nhấn mạnh trong câu 39b rằng Đấng Christ tương giao với Thánh Linh.  Một ý tưởng tương tự được tìm thấy trong ICo 10:4 qua hình ảnh hòn đá (nghĩa là Đấng Christ).  Câu 39 liên kết sự đến của Đức Thánh Linh với thời kỳ tiếp theo sau sự chết, sống lại và thăng thiên của Chúa Giê-xu (được Giăng mô tả là sự vinh hiển).  Dù cho của lễ dâng bằng nước có chuyển tải đến tâm trí thông minh điều gì đi nữa, thì người nghe cũng không cách nào biết đươc ý nghĩa của lời Chúa Giê-xu phán cho đến khi Đức Thánh Linh đem đến sự giải thích của chính Ngài.

Kết quả tức thì của những lời này của Chúa Giê-xu là những cuộc bàn cãi thêm về nhân dạng của Ngài với ba quan điểm khác nhau – là tiên tri, là Đấng Christ, và không phải là Đấng Christ.  Quan điểm thứ hai có sự hậu thuẫn của Kinh Thánh, mặc dù người Do Thái tỏ ra không biết gì về sự giáng sinh của Chúa Giê-xu tại Bết-lê-hem (đối chiếu Mi 5:2).  Đây là lần thứ ba ý muốn bắt Chúa Giê-xu vẫn đi đến chỗ kết thúc được ghi lại trong chương này.

(Gi 7:45-52) Sự không tin của các nhà lãnh đạo Do Thái  Giăng ký thuật về sự trở lại của những người lính trông coi đền thờ.  Chữ vậy trong câu 45 không thể hiện hết ý nghĩa của nguyên bản Hi Lạp, vốn đơn thuần chỉ về một hệ quả của câu đi trước.  Một lệnh truy nã đã được ban hành.  Những người lính là những người Lê-vi được huấn luyện và điều này sẽ giải thích phản ứng của họ đối với sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu.  Rõ ràng họ là những người có suy nghĩ.  Lời của những người lính trong câu 46 có lẽ là một sự che đậy cho sự e ngại của họ rằng nếu bắt bớ Chúa Giê-xu có thể đưa đến việc quần chúng sẽ nổi dậy.  Nói cách khác, không thể không thấy rằng chính sự dạy dỗ đã tạo nên một ấn tượng sâu sắc như vậy.  Câu 47-49 bày tỏ sự bất chấp đối với phe Pha-ri-si, không những của đám đông mà còn của chính những người lính trông coi đền thờ.  Sự phản đối của Ni-cô-đem cho thấy rằng cuộc trò chuyện trước đây (chương 3) đã không vô ích (50-51).  Ông mạo hiểm chỉ ra sự mâu thuẫn của cách xử lý vấn đề của các đồng nghiệp của ông với luật pháp.  Thái độ của họ không phù hợp với tinh thần thực của luật pháp.  Sự khinh miệt về Ga-li-lê hướng vào Ni-cô-đem bày tỏ sự khinh miệt của các giới chức Giê-ru-sa-lem đối với dân tỉnh lẻ (52).

3. Người đàn bà bị bắt gặp phạm tội tà dâm (Gi 7:53-8:11)

Gi 7:53; xem giải nghĩa Gi 8:1-11

(Gi 8:1-11). Đa số các học giả đều đồng ý rằng phần này không thích hợp tại vị trí này trong Giăng.  Đa số các bản chép tay đầu tiên hoặc lược bỏ phần này hoặc đánh dấu hoa thị để đặt nghi ngờ.  Một vài bản chép tay đặt phần này ở cuối Phúc Âm, và một vài bản khác đặt nó sau Lu 21:38.  Đồng thời nó được sự chứng thực từ thời cổ, cũng như không có lý do gì để cho rằng nó không thể hiện truyền thống thật.

Sự việc xảy ra khi Chúa Giê-xu đang giảng dạy trong đền thờ (2).  Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si tìm ra Chúa Giê-xu khi Ngài bị một đám đông người vây quanh.  Ý định của họ là gài bẫy Chúa Giê-xu để Ngài phải đụng chạm với các quan quyền (6).  Điểm then chốt thực sự là thái độ của Chúa Giê-xu đối với luật Môi-se.  Các nhà lãnh đạo tôn giáo không mất nhiều thì giờ trong việc thu hút sự chú ý vào mệnh lệnh của Môi-se trong trường hợp về một vụ phạm tội tà dâm rõ rành rành.  Liệu Chúa Giê-xu có định tội người đàn bà và tán thành luật Môi-se? Nếu Ngài làm như thế, các thầy thông giáo và người Pha-ri-si biết rằng các quan chức hành chính dân sự sẽ không cho phép án phạt ấy được thi hành.  Hay liệu Ngài sẽ lảng tránh vấn đề và với việc làm như thế bằng cách bỏ qua tội lỗi của người đàn bà? Ngài không làm theo cách nào cả (7) mà chuyển sang thách thức những kẻ tố cáo.  Khi bảo rằng nếu ai không phạm tội thì người đó trước hết hãy ném đá người đàn bà đó, Chúa Giê-xu đã đưa vấn đề trở lại cho chính mình lương tâm họ.  Ngài chuyển một trò mang tính pháp lý sang một vấn đề đạo đức.  Việc những người tố cáo rút lui (9) từ người cao tuổi trở xuống đã làm nổi bật điểm chính của câu chuyện.  Không cần phải tranh luận điều gì Chúa Giê-xu lấy ngón tay viết trên đất.  Sự hiện diện của Ngài là đủ để khiến cho tất cả những kẻ tố cáo phải khó chịu, cho đến khi chỉ còn lại Chúa Giê-xu và người đàn bà.

Lời cuối cùng Chúa Giê-xu nói với người đàn bà (11) cho thấy lòng thương xót của Ngài đi đôi với một mệnh lệnh mạnh mẽ.  Rõ ràng từ thái độ của Chúa Giê-xu đối với người đàn bà là Ngài không bỏ qua tội tà dâm.  Sự kết hợp giữa công lý và lòng thương xót này không dễ có thể đạt được, nhưng đó là một gương tốt về cách Hội Thánh phải đối xử với con người.

4. Chúa Giê-xu với tư cách là sự sáng của thế gian (Gi 8:12-59)

(Gi 8:12-30) Những thách thức đối với lời chứng của Chúa Giê-xu   Đây là phần tiếp theo chương 7, tuy nhiên, câu 12 tiếp nối trực tiếp từ câu Gi 7:52 và cần phải nhận thấy phép ẩn dụ ở đây lấy từ hình ảnh kỳ lễ Lều Tạm.  Lưu ý rằng sự sáng ở đây được liên kết với sự sống như trong phần mở đầu (đối chiếu 1:4-5,9-10) .  Đây là một trong những lời phán “Ta là” được biết rõ, vốn nêu lên đặc tính riêng của sự sáng thật.  Cơ hội trực tiếp có lẽ là ánh đèn của chiếc đèn bạch lạp trong sân của những người phụ nữ để biểu thị cái cột lửa.  Hình ảnh này càng nổi bật khi đối chiếu với một con đường tối mà người ta đang đi với sự trợ giúp của một ánh đèn sáng.  Bất cứ ai đi ra khỏi sự sáng sẽ thấy mình ở trong sự tối tăm.  Cách dùng hình ảnh về sự bước đi này là một đặc trưng của các bản ghi chép của Giăng.

Người Pha-ri-si phản đối giọng điệu uy quyền trong lời nói của Chúa Giê-xu (13), nhưng Chúa Giê-xu chỉ ra rằng lời tự chứng không nhất thiết là không thật.  Chúa Giê-xu trước đó đã khẳng định hiệu lực của sự làm chứng của Ngài (đối chiếu chương 5) và nay Ngài nhắc lại chủ đề tương tự.  Mọi lời chứng phải được đoán xét theo nền tảng của nó, và ở đây Chúa Giê-xu tuyên bố Ngài biết sứ mạng Ngài, là sứ mạng mà người đang nghe Ngài không biết (14).  Điều này ngụ ý rằng sự đoán xét của họ thật nông cạn, hời hợt (15).  Khi Chúa Giê-xu nói Ta thì không xét đoán người nào hết có thể Ngài có ý nói rằng mục đích của sứ mạng Ngài không phải là để xét đoán, hoặc Ngài không đoán xét theo kiểu của những người chỉ trích Ngài.  Ý nghĩa thứ hai phù hợp với ngữ cảnh này hơn, như được thể hiện qua câu 16 .  Sự đoán xét của Chúa Giê-xu không phải là sự đoán xét tách biệt, mà là một quá trình trong mục đích trọn đời của Ngài và vì vậy nó có giá trị.  Luật pháp thừa nhận hai người làm chứng là đáng tin hơn một (17).  Khi Chúa Giê-xu đề cập đến luật pháp của các ngươi thì không phải Ngài đang tách mình ra khỏi những người Do Thái chống đối trong quan hệ với luật pháp.  Trái lại Ngài đang nói đến một nguyên tắc mà những người chỉ trích Ngài sẽ chấp nhận.  Việc Chúa Giê-xu nói đến lời chứng hỗ trợ của Cha một lần nữa chứng minh mối liên hệ gần gũi giữa Đấng được sai và Đấng sai đến.  Câu hỏi trong câu 19 rõ ràng cho thấy một sự hiểu sai bởi việc nhầm lẫn sự đề cập của Chúa Giê-xu về Cha thiên thượng với cha tự nhiên.  Họ không có khái niệm gì về sứ mạng thiên thượng của Chúa Giê-xu, và vì thế không ngạc nhiên gì họ không tin lời tuyên bố của Chúa Giê-xu rằng lời chứng của Ngài được Cha làm chứng cho.  Dưới cái nhìn của họ, sự làm chứng vắng mặt là không có hiệu lực.

 Câu hỏi của họ dưới dạng đâu? hơn là “Ai?” nhưng Chúa Giê-xu đã trả lời cho dạng câu hỏi thứ hai.  Trong câu trả lời đó, cụm từ Nếu các ngươi biết ta cho thấy rằng những kẻ chỉ trích Chúa đã hoàn toàn không hiểu Ngài cũng như thiếu hiểu biết thật sự về chính Đức Chúa Trời.  Trong một cách không rõ ràng, Chúa Giê-xu đã tỏ ra rằng chính Ngài là phương tiện để đạt được sự hiểu biết thật sự về Đức Chúa Trời.

Câu 20 làm rõ bối cảnh của phần đối thoại này.  Nơi Kho (nơi để của báu) có lẽ là trong Sân của Phụ Nữ, một nơi hội họp công khai.  Nhưng quan tâm chính của Giăng là lý do thần học tại sao Chúa Giê-xu không bị bắt giờ Ngài chưa đến.  Nhiều lần Giăng nêu ra rằng các thế lực con người bị ngăn trở khi ra sức nỗ lực nhằm chấm dứt chức vụ của Chúa Giê-xu vì những kế hoạch của họ không hợp với chương trình của Đức Chúa Trời cho Ngài (đối chiếu Gi 7:44).  Chúa Giê-xu đã nói về việc đi khỏi (7:34), và một lần nữa Ngài làm bối rối những người nghe Ngài.  Những lời các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình (21) có vẻ như có ít nhiều liên hệ với lời tuyên bố trước đó, nhưng nếu chúng ta hoàn toàn nhấn mạnh vào chữ tội lỗi ở số ít thì câu này sẽ đề cập đến tội chối bỏ Đấng Mết-si-a.  Vì lẽ đó họ sẽ không được hưởng gì từ công tác chuộc tội của Ngài.  Nếu đây đúng là cách hiểu khúc Kinh Thánh này, thì việc tìm kiếm phải hiểu theo nghĩa thuộc linh.  Vì thế lời tuyên bố của Chúa Giê-xu là họ không thể đi đến nơi Ngài sẽ đi.  Trong 13:33 cũng có một lời phán tương tự, nhưng trong trường hợp đó nó có một nghĩa khác vì nó nói với các môn đồ.  Ở đây tất cả những người Do Thái đang nghe có thể nghĩ về sự tự tử (22).  Hố sâu giữa họ và Chúa Giê-xu được nêu bật trong câu 23-24.  Đó là sự khác biệt giữa quan điểm thuộc về đất và quan điểm thuộc về trời về mọi sự việc.

Những lời nếu các ngươi chẳng tin ta Đấng đó cho thấy tầm quan trọng của đức tin trong sự bày tỏ trọn vẹn của Chúa Giê-xu.  Bản văn Hi Lạp đơn giản có chữ “Ta là” một dạng tương tự như sự xác nhận bằng chữ “Ta là” vĩ đại trong Cựu Ước (đối chiếu Xu 3:14).  Điều này ám chỉ sự tự hữu của Đấng Mết-si-a, và thể hiện mệnh lệnh của Chúa Giê-xu về một quan điểm toàn diện về ngôi vị của Ngài (thậm chí trở nên rõ ràng hơn trong câu 58).  Không ngạc nhiên gì lời nói “Ta là” nằm ngoài tầm hiểu biết của người nghe, như được thấy bởi câu hỏi thêm của họ Vậy thầy ai?.  Sự hiểu biết về ngôi vị của Christ là một yếu tố có tính cách quyết định của đức tin Cơ Đốc.  Câu trả lời của Chúa Giê-xu cho câu hỏi của họ là rất khó hiểu (25).  Bản NIV dịch tiếng Hi Lạp là như Ta đã nói rồi trong khi bản RSV thì có “từ ban đầu”.  Một cách hiểu khác là cho những lời ấy có ý nói “Tại sao Ta lại nói với các ngươi chớ?” (RSV), nhưng cách hiểu này không hợp với ngữ cảnh.  Tuy nhiên, một khả năng khác là xem những lời ấy là có ý nói rằng: “Ngay từ trước Ta là Đấng mà Ta đang nói với các ngươi” vốn phù hợp với ngữ cảnh và thêm sự nhấn mạnh vào lời phán “Ta là”.

Chúa Giê-xu không trả lời câu hỏi để trở lại với chủ đề về sự đoán xét (26).  Ngài đã hai lần nhắc nhở họ rằng họ sẽ chết trong tội lỗi mình, thế nhưng Ngài có nhiều điều hơn nữa để nói.  Một lần nữa Ngài nhấn mạnh sự thật của lời chứng của Ngài trên nền tảng rằng Đấng sai Ngài đến là thật.  Điều Ngài tuyên bố với thế gian là điều Ngài đã nghe từ Cha.  Câu 27 một lần nữa nêu ra một ví dụ về sự hiểu lầm đáng thương.  Câu trả lời của Chúa Giê-xu trước sự bối rối của họ thật đáng ngạc nhiên.  Khi các ngươi treo Con Người lên (28) có vẻ như đề cập đến thập tự giá nhưng điều này có liên quan như thế nào đến ngữ cảnh? Trong mọi khả năng có thể có, Chúa Giê-xu đều có trong trí sự bày tỏ của Cha vốn sẽ đến qua thập tự giá, mà trong Phúc Âm này được xem là một tiến trình của sự vinh hiển (đối chiếu Gi 12:23).  Kết quả là, những người có mắt để thấy sẽ nhận ra rằng sứ mạng của Chúa Giê-xu được đóng ấn với quyền của Cha.  Sự hiểu biết về ngôi vị của Chúa Giê-xu đến như là kết quả của sự sống lại là điều mà dù không được đề cập ở đây, chúng ta vẫn phải hiểu.  Một lần nữa Chúa Giê-xu nêu ra mối quan hệ mật thiết giữa Cha và Con.  Lời tuyên bố hiện tại có thể tương phản với tiếng kêu vì bị bỏ rơi (Mat 27:46  Mac 15:34).  Điều này không mâu thuẫn chút nào, vì ở đây trọng tâm nhằm vào một mối quan hệ đời đời, còn ở chỗ kia trọng tâm nhằm vào một kinh nghiệm tạm thời.  Khi nói rằng Ngài luôn luôn làm vừa lòng Cha (29), Chúa Giê-xu một lần nữa đang chứng minh phạm vi của sự nên một giữa Ngài và Cha.  Khi lưu ý đức tin của nhiều người trong sự đáp ứng với lời dạy của Chúa Giê-xu, Giăng đang nêu ra một minh họa về điều mà ông hy vọng sẽ là kết quả của Phúc Âm mình (đối chiếu Gi 20:31).

(Gi 8:31-41) Bản chất của sự tự do  Những kẻ đã tin cần tiến đến một sự tập trung hoàn toàn vào sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu để đến với lẽ thật (31-32).  Có thể là “người tin” đã đạt đến giai đoạn bày tỏ đức tin, nhưng cuộc đàm luận sau đó cho thấy họ chưa trở nên những tín đồ trọn vẹn.  Mối liên hệ giữa lẽ thật và sự tự do ở đây rất quan trọng.  Lẽ thật không bao giờ đưa đến tình trạng nô lệ.  Toàn bộ ý tưởng thật khó hiểu đối với người Pha-ri-si vì họ không tin về nhu cầu cần được tự do của họ (33).  Những người khác cảm thấy nặng nề qua sự dạy dỗ của họ, nhưng chính họ không hề nhận ra rằng việc tuân phục hệ thống các qui định phức tạp của họ dẫn đến tình trạng nô lệ.  Khi nói tới việc họ là dòng dõi ra từ Áp-ra-ham (33), những người này cho thấy rằng ý tưởng làm con cái Áp-ra-ham của họ là thiếu mất nội dung đạo đức.  Trong câu trả lời của mình, Chúa Giê-xu nêu ra một tuyên bố quan trọng (Quả thật, quả thật ta nói cùng các ngươi), trong đó Ngài nêu ra bản chất thật của tình trạng nô lệ về đạo đức để nhấn mạnh bản chất thật của sự tự do (34).  Vì không ai được miễn trừ khỏi tội lỗi, nên mọi người đều bị nô lệ cho tội lỗi.  Điều này áp dụng cho những kẻ thuộc về hậu duệ của Áp-ra-ham.  Có một sự tương phản rõ ràng giữa một nô lệ và một người con trong những quyền mà mỗi bên sở hữu (35), và điều này nêu bật hố sâu ngăn cách giữa tình trạng nô lệ và sự tự do.  Những lời các ngươi sẽ thật được tự do (36) cho thấy rằng sự tự do thật chỉ có thể đến qua Con.  Chúa Giê-xu sau đó đi ngược lại về với tuyên bố của Áp-ra-ham và nêu ra điểm lạ lùng rằng những kẻ xưng mình là con cháu Áp-ra-ham lại tìm cách giết Đấng nói lời Đức Chúa Trời (37).  Sức tấn công của đoạn này là ở chỗ nguồn gốc thuộc thể, vốn rất có ý nghĩa đối với người Do Thái, lại không dẫn đến mối quan hệ thật về đạo đức và thuộc linh.  Câu nói đạo ta không được chỗ nào trong lòng các ngươi cho thấy rằng tâm trí của người nghe Ngài đã đóng lại.  Điều này hàm ý rằng con cháu thật của Áp-ra-ham sẽ nhận lấy lời Chúa Giê-xu.  Sự tương phản giữa ChaCha các ngươi trở nên rõ hơn dựa vào câu 44.

Người Do Thái không thể đi khỏi tầm quan trọng của việc gọi Áp-ra-ham là cha họ (39).  Nó phản ánh niềm tin rộng rãi rằng giá trị của Áp-ra-ham là có sẵn cho hậu duệ của ông.  Câu trả lời của Chúa Giê-xu sửa lại căn bản của niềm tin này và cho biết nguồn gốc thật là dựa trên cơ sở đạo đức, chớ không phải trên cơ sở nguồn gốc chủng tộc.  Con cái thật của Áp-ra-ham phải ăn ở phù hợp với những gì Áp-ra-ham đã làm, và chắc chắn không thể là ý muốn giết hại Chúa Giê-xu của dân Do Thái (40).  Lần thứ hai đề cập đến Cha các ngươi (42) là nhằm thách thức họ thêm nữa và khiến họ phản đối đầy phẫn nộ.  Bởi vì nguồn gốc của họ ra từ Áp-ra-ham đã bị đặt nghi vấn, họ áp dụng tới việc tuyên bố Đức Chúa Trời là Cha họ.  Một số người cho rằng những lời chúng tôi chẳng phải con ngoại tình có thể là một sự đề cập gián tiếp đến thái độ gièm pha về sự ra đời của Chúa Giê-xu.  Nhưng có thể đúng hơn là nó ám chỉ rằng họ đang phản đối việc Chúa Giê-xu từ chối cho phép họ tuyên bố họ là hậu duệ của Áp-ra-ham, là điều sẽ khiến họ trở nên những người con hoang về mặt thuộc linh.

(Gi 8:42-47) Con cái của ma quỉ Chúa Giê-xu tiếp đến đưa ra một kết quả khác từ nguồn gốc thuộc linh thật ra từ Áp-ra-ham thì các ngươi sẽ yêu ta (42).  Con cái thật của Đức Chúa Trời không thể không yêu Con Đức Chúa Trời.  Chúa Giê-xu một lần nữa khẳng định rằng sứ mạng Ngài là từ Đức Chúa Trời.  Ngài sẽ không cho phép kẻ nghe có thể quên điều này.  Tâm trí họ đầy thành kiến đến nỗi họ không thể nghe ra được điều này (43).  Ý tưởng về điều không thể xảy ra về mặt đạo đức này được nhấn mạnh thêm trong lời buộc tội rằng ma quỉ là cha họ.  Điều ám chỉ ở đây có tác dụng rất lớn.  Có ba mục tiêu trong ý tưởng ở đây: ma quỉ là một kẻ giết người, các ông tìm cách giết tôi, vì vậy các ông là con cái của nó.  Đặc điểm nổi bật của ma quỉ được nhấn mạnh ở đây là nó ghét lẽ thật.  Lưu ý những cụm từ chẳng bền giữ được lẽ thật, không lẽ thật trong đâu, kẻ nói dối cha sự nói dối (44).  Lời nói sau cùng có thể có ý nói “nó là cha của kẻ nói dối”, vì thế khiến cho sự việc tính cách cá nhân hơn.  Hậu quả trong câu 45 gợi ý rằng việc người nghe chối bỏ lẽ thật cho thấy họ nghiêng về sự giả dối.  Chúa Giê-xu khiến thái độ của họ đối với Ngài trở thành sự thử nghiệm có tính quyết định – Sao các ngươi không tin ta? Vì Ngài nói sự thật nên mọi việc trái với Ngài đều là giả dối.  Thái độ không tin của những kẻ chống đối Ngài không chỉ ám chỉ rằng Ngài không nói thật mà còn cho rằng Ngài phạm tội (46).  Hậu quả của cách nghĩ trong câu 47 là như sau: ai nghe lời Đức Chúa Trời là thuộc về Đức Chúa Trời, các ông không nghe lời Đức Chúa Trời, vì vậy các ông không thuộc về Đức Chúa Trời.  Chính bước thứ hai của lập luận này là cái mà người nghe bị thách thức, vì sự thẩm định của Chúa Giê-xu về điều kiện thuộc linh của họ  khác hẳn với sự thẩm định của họ.

(Gi 8:48-59) Lời tự xưng của Chúa Giê-xu  Đoạn cuối cùng trong chương này tập trung vào lời tự xưng của Chúa Giê-xu và sức mạnh của sự chống nghịch đối với lời tuyên xưng ấy.  Lời tố cáo mạnh mẽ trong câu 48 rằng Chúa Giê-xu vừa là một người Sa-ma-ri vừa là người bị quỉ ám bày tỏ sự xem thường mạnh mẽ của những kẻ tố cáo Ngài.  Lời tố cáo trước có lẽ chỉ bày tỏ mối hiềm khích của họ đối với Chúa Giê-xu tương tự như họ đối với người Sa-ma-ri.  Lời tố cáo sau ám chỉ nặng hơn và xuất phát từ lời Chúa Giê-xu trong câu 44.  Để trả lời, Chúa Giê-xu đã chỉ ra sự vô lý liệu một người bị quỉ ám lại làm bất cứ điều gì để tôn vinh Cha, và Ngài chỉ ra thêm rằng chính Đức Chúa Trời là Đấng phán xử vấn đề (50).  Điều này chấm dứt cuộc tranh luận thoát khỏi bầu không khí thành kiến của họ đối với ý kiến của Chúa Giê-xu.  Mặt khác, quan điểm của Chúa Giê-xu được hậu thuẫn bởi Đức Chúa Trời.

Những lời trong câu 51 sẽ chẳng thấy sự chết bao giờ, phải được hiểu theo nghĩa sẽ không phải kinh nghiệm sự kinh khiếp của sự chết.  Điều này liên hệ sự chết với lời hứa của Chúa Giê-xu sẽ ban sự sống đời đời cho người tin.  Một lần nữa, những kẻ chống đối Chúa Giê-xu không hiểu được lời Ngài, nên họ hiểu sự chết theo nghĩa đen (52).  Việc Áp-ra-ham và các đấng tiên tri chết khiến cho lời tuyên bố của Chúa Giê-xu trở nên vô nghĩa theo quan điểm này.  Điều rất có ý nghĩa là họ đổi lời Chúa Giê-xu từ thấy sang nếm trải, vốn cho thấy họ hiểu Chúa Giê-xu muốn nói đến sự chết thuộc thể.  Câu hỏi trực tiếp thầy lại trọng hơn cha chúng tôi Áp-ra-ham sao? (53) ám chỉ rằng người Do Thái xem đây là điều không thể có.  Họ sẵn lòng tôn kính các tiên tri hơn là tôn kính Chúa Giê-xu.  Câu hỏi tiếp theo Thầy mạo xưng mình ai? là càng có nghĩa đen hơn.  Câu trả lời cho câu hỏi này là Chúa Giê-xu không tự tôn vinh mình (54) mà đó là công việc của Cha.  Một lần nữa Chúa Giê-xu tuyên bố một mối quan hệ đặc biệt với Cha và tuyên bố mình biết Cha (55) khác hẳn với những người đang nghe.

Trong câu 56 chúng ta nhận thấy có câu tuyên bố rất đáng chú ý Cha các ngươi Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta, vốn nêu lên thắc mắc là khi nào điều này có thể đã xảy ra.  Một loại khải tượng nào đó phải ở trong trí.  Một truyền thuyết Do Thái cho rằng Áp-ra-ham đã thấy những bí mật của thời kỳ sẽ đến.  Một số xem việc đề cập đến Áp-ra-ham vui mừng về sự ra đời của Y-sác (Sa 17:17).  Đây có thể đúng, đặc biệt là nếu sự ra đời của Y-sác được xem như là lời hứa về phước lành cho mọi dân (đối chiếu cách giải thích của Phao-lô về lời hứa này trong Ro 4:1-25  Ga 3:1-29).  Đỉnh cao của lời hứa này được hoàn thành trong Christ.  Người đã thấy rồi mừng rỡ có vẻ như chỉ về sự thấy trước của Áp-ra-ham, vốn là kết quả của đức tin ông, mặc dù một số người đã liên hệ nó với sự liên kết của Y-sác.  Người Do Thái xuyên tạc lời của Chúa Giê-xu bằng cách hỏi Thầy chưa đầy năm mươi tuổi, đã thấy Áp-ra-ham! (57), nhưng Chúa Giê-xu đã tuyên bố nhấn mạnh khi trả lời.  Trước khi chưa Áp-ra-ham, đã ta hẳn phải chỉ về sự tiền hữu.  Chữ đã ta ở đây phải được hiểu như là một tuyên bố thiên thượng và cần được người Do Thái hiểu theo cách này (59).  Trong một cách thức không còn có thể gây ấn tượng hơn Chúa Giê-xu đã tuyên bố sự trổi hơn của Ngài đối với Áp-ra-ham.  Người Do Thái không thể nghĩ đến cách xử nào khác hơn là ném đá bất kỳ kẻ nào tuyên bố rõ ràng rằng mình có trước Áp-ra-ham như thế.  Chúa Giê-xu đi lén (Giăng không cho chúng ta biết như thế nào) nhấn mạnh chủ đề thường trực trong Phúc Âm này rằng giờ của Ngài hoàn toàn ở trong tay Đức Chúa Trời.

7. SỰ CHỮA LÀNH VÀ SỰ GIẢNG DẠY KHÁC (Gi 9:1-10:42)

1. Chúa Giê-xu chữa lành một người mù từ lúc mới sinh (Gi 9:1-41)

(Gi 9:1-12) Gặp người Có một sự liên hệ rõ ràng giữa chương này và chương 8, vì trong cả Gi 8:12 lẫn 9:5 Chúa Giê-xu tuyên bố Ngài là sự sáng của thế gian.  Nay Giăng nêu ra một ví dụ cụ thể trong đó Chúa Giê-xu được xem là sự sáng, đem lại ánh sáng cho một người mù.  Các Phúc Âm khác ghi các ví dụ Chúa Giê-xu chữa lành những người mù, nhưng trong Giăng điểm đặc trưng là sự tranh luận mà việc chữa lành gây nên vốn tập trung thân vị của Chúa Giê-xu.

 Phúc Âm này không ghi rõ sự việc này xảy ra khi nào, nhưng có lẽ đó là khoảng thời gian giữa kỳ lễ Lều Tạm và lễ Khánh Thành Đền Thờ (10:22).  Mắt người đàn ông chưa hề thấy được gì cả (1).  Việc anh ta được sinh ra trong tình trạng này làm nổi bật cuộc tranh luận mang tính thần học tiếp theo sau.  Việc nhận biết một sự liên hệ nào đó giữa tội lỗi và sự đau khổ như  một nguyên tắc chung là điều dễ hơn việc áp dụng nguyên tắc ấy cho các trường hợp cụ thể (2).  Việc các môn đồ cho rằng hoặc chính người đàn ông hoặc cha mẹ anh ta đã phạm tội hoàn toàn phù hợp với giáo lý của người đương thời.  Một số các ra-bi dạy rằng việc phạm tội trước khi sinh ra là điều có thể nhưng Chúa Giê-xu đã từ chối trả lời câu hỏi ai đã phạm tội? mà trái lại tập trung sự chú ý vào sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.  Sự đau khổ ấy có thể được sử dụng vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, đó là một khái niệm khó tin, mặc dù đó là điều vốn có trong cách Cơ Đốc nhân giải quyết nan đề.  Nó có thể cho thấy quyền năng làm sáng mắt của Đấng Christ, không chỉ trên phương diện thuộc thể mà còn trên phương diện thuộc linh.  Trong câu 4, Chúa Giê-xu đang tính đến các môn đồ Ngài trong việc thực hiện sứ mạng Ngài, tuy Ngài không kể đến họ trong phép lạ chữa lành trực tiếp.  Hình ảnh tương phản giữa đêmngày chỉ mang tính tượng trưng.  Ở đây là sự đề cập đến chức vụ của Chúa Giê-xu trong khi hình ảnh “đêm” chỉ đến sự kết thúc chức vụ ấy.  Lòng tị hiềm và thái độ hoài nghi ngày càng tăng của người Do Thái có thể được tượng trưng bởi sự tối tăm của đêm, nhưng quan điểm trước có vẻ như dễ chấp nhận hơn.

Lời nhận xét của Chúa Giê-xu trong câu 5 cho thấy rằng Ngài nghĩ đến sự sống trên đất của Ngài.  Sự sử dụng nước miếng trong việc chữa lành bệnh mù cũng thấy có trong Mac 7:33  8:23.  Mặc dù trong những trường hợp này nước miếng được dùng trực tiếp, trong khi ở đây nước miếng được trộn với đất.  Hồi đó người ta thường tin rằng nước miếng là có ích cho mắt bị bệnh.  Nhưng trong khi Ngài sử dụng phương tiện thường được hiểu, Ngài không gắn bất kỳ ý nghĩa mê tín nào vào việc ấy.  Thật vậy sự chữa lành xảy ra chỉ khi người đàn ông rửa tại ao Si--ê như Chúa Giê-xu bảo.  Không rõ tại sao Giăng giải nghĩa tên Si-lô-ê là chịu sai đi nhưng có lẽ ông thấy có mối liên hệ nào đó với Chúa Giê-xu là Đấng được sai đến.  Dĩ nhiên, có thể đó chỉ là để giúp các độc giả người Hi Lạp, như trong các ví dụ khác với những cái tên bằng tiếng Hê-bơ-rơ (1:42).  Câu 7 ám chỉ có sự chậm trễ trong việc chữa lành, có lẽ để thử đức tin người đàn ông.  Câu chuyện xảy ra do kết quả của cuộc nói chuyện giữa người đàn ông và những người lân cận của anh ta được kể lại với giọng văn sinh động đặc biệt (8-12).  Lý luận về nhân dạng của người đàn ông, thái độ mơ hồ của ông trong việc nhận biết Chúa Giê-xu và sự chắc chắn của việc chữa lành, tất cả đều được nêu ra rõ ràng.

(Gi 9:13-34) Cái nhìn của người Pha-ri-si về việc chữa lành  Trong câu 13 không rõ ai đem người đàn ông đến với người Pha-ri-si.  Có thể đó là những người hàng xóm trong câu 8 hay những kẻ tị hiềm Chúa Giê-xu.  Lời nhận xét của Giăng rằng đó là ngày Sa-bát, là ngày diễn ra việc chữa lành, cho thấy đầu mối của hành động này.  Những người phản đối hiển nhiên là những người trung thành triệt để với luật pháp Do Thái.  Việc làm bùn vào ngày Sa-bát là đủ để khiến họ bực tức, mặc dù động cơ của hành động đó là lòng nhân từ.  Không nghi ngờ gì nữa, người Pha-ri-si quan tâm về phương pháp chữa bệnh (15) là vì họ thấy có cơ hội để chỉ trích Chúa Giê-xu về việc chữa lành ấy.  Tuy nhiên, trong vòng người Pha-ri-si cũng có sự chia rẽ ý kiến tương tự như những người hàng xóm (16).  Sự tranh cãi trong trường hợp của họ là giữa những người theo chủ nghĩa luật pháp nghiêm nhặt có quan tâm chính là những qui định về ngày Sa-bát và những người khác chịu ấn tượng với những phép lạ mà họ không thể tưởng tượng được một người có tội lại có thể làm được như vậy.  Vì vậy, họ kết luận rằng những người theo chủ nghĩa luật pháp đang đoán xét sai lầm.  Lời tuyên bố của người mù rằng Chúa Giê-xu là Đấng tiên tri (17) là sự tiếp nối câu 11 khi anh ta nói đến một người tên gọi Giê-xu.

Phần tiếp theo (18-23) chứng minh sự ương ngạnh cứng cỏi của thái độ hoài nghi.  Người Do Thái không tin lời người đàn ông và sẽ không chấp nhận rằng anh ta đã bị mù bẩm sinh.  Lời yêu cầu rằng cha mẹ của người đàn ông phải xác nhận lời chứng của anh ta không phải xuất phát từ ý muốn nghiên cứu kỹ bằng chứng.  Thành kiến đối với ý tưởng cho rằng người đàn ông bị mù bẩm sinh đã được sáng mắt là rất rõ ràng.  Chỉ có cha mẹ mới có thể xác nhận rằng anh ta đã bị mù bẩm sinh, nhưng chính họ trong địa vị mình cũng khó có thể đưa ra một lời giải thích cho phép lạ.  Câu chuyện nêu ra rằng câu trả lời của họ bị ngăn trở do họ sợ người Pha-ri-si.  Sự đe doạ dứt phép thông công (đuổi ra khỏi nhà hội) là một thứ vũ khí mạnh mẽ.  Đồng thời, việc cha mẹ chuyển câu hỏi sang cho con mình như thế là việc làm có thể bào chữa được.  Có một số tranh luận đối với câu 22 vì một số học giả cho rằng có lẽ trong suốt cuộc đời Chúa Giê-xu, nhà hội chắc đã đưa ra lệnh cấm người ta xưng Chúa Giê-xu là Đấng Christ.  Tuy nhiên, việc những lời ký thuật lại thường xuyên tuyên bố rằng Giê-xu là Đấng Mết-si-a đang được mong đợi là điều hoàn toàn tự nhiên, mặc dù mãi về sau này lẽ thật đầy đủ về điều này mới được hé lộ ra cho các Cơ Đốc nhân.

Những lời trong câu 24, Hãy ngợi khen Đức Chúa Trời, không thể có ý nói rằng những kẻ chống Chúa Giê-xu đang khuyên người đàn ông ngợi khen Đức Chúa Trời về sự chữa lành.  Đó là một lời rủa sả của người Do Thái vốn thúc giục người đàn ông nói sự thật.  Người Do Thái được thuyết phục rằng Chúa Giê-xu là một người phạm tội vì Ngài đã phạm luật ngày Sa-bát.  Sự nhận biết của người đàn ông về Chúa Giê-xu được dựa trên kinh nghiệm cá nhân (25).  Anh ta không bình luận gì về cốt lõi của vấn đề, nhưng rất chắc chắn trong việc thừa nhận mình được sáng mắt.  Những kẻ chống đối rất bối rối về việc chữa lành nên chuyển sang hỏi về phương pháp đã được sử dụng (26).  Sự thật là điều không thể gò theo lý thuyết được nhưng cốt lõi của vấn đề thì có thể linh hoạt.  Câu trả lời của người đàn ông chứa đựng một thái độ tức giận lẫn mỉa mai (27).  Anh ta ngụ ý rằng việc họ hăm hở muốn nghe lặp lại cái bằng chứng ấy có thể xuất phát từ việc họ muốn làm môn đồ Chúa Giê-xu.  Đáp lại sự mỉa mai của anh ta, những kẻ chống đối đã bày tỏ thái độ khinh bỉ.  Việc anh ta đề cập đến việc làm môn đồ đã thúc giục họ tuyên bố rằng mình là môn đồ của Môi-se.  Đây rõ ràng là một sự mô tả hiếm khi được dùng, nhưng nó làm nổi bật vị trí trổi hơn mà họ dành cho Môi-se hơn là dành cho Chúa Giê-xu trong suy nghĩ của họ.  Sự tương phản tóm tắt lại xung đột đã tồn tại từ lâu giữa Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo.  Ẩn ý ở đây là một thái độ từ chối xem xét về nguồn gốc thật của Chúa Giê-xu.  Không chỉ thế, họ đang từ chối tin tưởng vào lời chứng của một người mà họ không biết nguồn gốc (29).  Đối với họ, không có kinh nghiệm cá nhân nào, dù là đáng kể, là có giá trị.

Rõ ràng chẳng có gì để suy nghĩ ở đây liên quan đến mọi tranh cãi về sự chữa lành siêu nhiên.  Người Pha-ri-si thời Chúa Giê-xu sử dụng những lý lẽ rất giống với các quan chức y tế ngày nay.

Không ngạc nhiên gì, người đàn ông trở nên ngày càng chua cay hơn trong những nhận xét của mình (30-33).  Sự tranh cãi về nguồn gốc Chúa Giê-xu không tìm được chỗ đứng trong cách của ông dựa trên kinh nghiệm.  Tuy vậy, người đàn ông lý luận vấn đề theo một loạt các bước: thị giác của anh ta đã được phục hồi, Đức Chúa Trời chỉ nghe những kẻ nào làm theo ý muốn Ngài, chớ không phải nghe kẻ có tội vì thế, anh ta tin rằng sự chữa lành đến từ Đức Chúa Trời, nên người chữa lành không thể là một kẻ có tội được trước đây không hề có ai mở mắt cho một người mù từ thuở mới sinh vì vậy, người chữa lành hẳn phải đến từ Đức Chúa Trời.  Những người Do Thái suy nghĩ theo thần học ít nhất cũng thấy rằng họ không thể nói gì hơn khi một người có thể lý luận theo cách ấy.  Vì thế họ đuổi anh ta đi (34), có lẽ là bằng việc dứt phép thông công, nhưng chỉ sau khi đã phê bình công kích để đuổi anh ta đi.  Họ tố cáo anh ta sinh ra trong tội lỗi, một thái độ thừa nhận ngấm ngầm về sự mù loà từ khi sinh của anh mà trước đây họ đã thắc mắc.  Họ quan tâm đến việc thể hiện thái độ khinh rẻ đối với tình trạng trước đây của anh hơn là sự vui mừng đối với sự chữa lành hiện tại của anh.

(Gi 9:35-41) Chúa Giê-xu nhận xét về sự đui thuộc linh  Phần kết luận của câu chuyện này thuật lại cuộc nói chuyện giữa người đàn ông với Chúa Giê-xu cũng như đỉnh cao của cuộc nói chuyện với việc anh ta tuyên xưng đức tin.  Chúa Giê-xu bắt đầu bằng việc gặp người đàn ông.  Ngài lập tức đặt ra một sự thử thách đức tin, một sự liên hệ đến các phép lạ được thấy trong Phúc Âm Giăng.  Tuy nhiên, điều có ý nghĩa nhất về vấn đề này là việc sử dụng danh hiệu Con Người.  Một chỗ khác trong Phúc Âm này cũng ghi lại ý tưởng về đức tin nơi Con Người (Gi 3:14-15).  Dù cho Giăng có ngụ ý nói gì khi sử dụng danh hiệu này đi nữa, thì sự thiếu hiểu biết của người đàn ông hoàn toàn rõ ràng.  Câu hỏi của ông (36) có lẽ là vì trước đó ông chưa từng gặp Chúa Giê-xu.  Ngay khi Chúa Giê-xu giải thích rằng Ngài là Con Người thì người đàn ông được chữa lành liền tin theo Ngài.  Điều này ngụ ý rằng anh ta đã có hạt giống đức tin trong mình.  Thật vậy, toàn bộ câu chuyện cho thấy một sự phát triển liên tục của sự nhận biết dẫn đến đức tin.  Những lời Lạy Chúa, tôi tin có thể không đạt đến cho đến khi có sự thừa nhận uy quyền làm Chúa của Đấng Christ.  Chữ Chúa có thể là một hình thức xưng hô lịch sự, nhưng khi đi với đức tin có lẽ nó chỉ về một sự cảm kích sâu sắc về tính cách của Chúa Giê-xu.  Đầu này đặc biệt rõ ràng trong hành động thờ lạy của ông, Thoạt nhìn câu 39 mâu thuẫn với 3:17.  Thế nhưng, vì 3:18 nói về sự đoán xét, nên phải hiểu nó như là hệ quả không tránh khỏi chứ không phải là mục đích chính của sự đến của Chúa Giê-xu.  Sứ mạng của Chúa Giê-xu đem người ta đến điểm khó khăn.  Sự khó khăn của người được chữa lành chính là việc anh ta bị rút phép thông công, vốn một lần nữa được khẳng định qua hành động thờ lạy Chúa Giê-xu của anh ta.

Phép đối nghĩa không thấy sẽ thấy, thấy nhưng trở nên mù là một trong các đặc điểm của Phúc Âm Giăng.  Khái niệm về sự sáng mắt được sử dụng theo những cách khác nhau.  Người mù đã được sáng cả về thuộc thể cũng như thuộc linh.  Người Pha-ri-si có sự sáng tự nhiên và họ nghĩ rằng mình cũng có sự sáng thuộc linh, nhưng phản ứng của họ đối với Chúa Giê-xu cho thấy họ thực sự mù loà.  Chính là trong nghĩa này mà sự đến của Ngài đã đem đến sự xét đoán.  Giăng ghi lại việc hoàn toàn thiếu hiểu biết giữa vòng người Pha-ri-si (40-41).  Câu hỏi còn chúng ta cũng kẻ chăng? nhấn mạnh sự thiếu tin tưởng của họ.  Câu trả lời của Chúa Giê-xu nếu các ngươi kẻ , có thể hiểu theo hai cách.  Nó có thể ngụ ý nói rằng “Nếu các ngươi thật sự ý thức về sự mù loà của mình”, theo nghĩa thuộc linh, vì nếu họ ý thức, họ sẽ ưa thích sự sáng mà họ rõ ràng không có.  Theo nghĩa này, những lời tiếp theo thì không tội lỗi chi hết sẽ có nghĩa là khi đó họ đã tiếp đón sứ mạng chuộc tội của Chúa Giê-xu.  Cách hiểu này đúng hơn là giả sử rằng Chúa Giê-xu muốn nói “Nếu các ngươi thực sự mù, các ngươi sẽ phạm tội vì các ngươi không thể thấy”.  Chúa Giê-xu đang tuyên bố rằng sự mù cố ý là đồng nghĩa với tội lỗi trong trường hợp này đó là chối bỏ Đấng được Đức Chúa Trời sai đến của Đức Chúa Trời.  Giăng xem đây là một lời thách thức quan trọng có thể áp dụng cho độc giả của mình, và dĩ nhiên kể cả chúng ta.

2. Chúa Giê-xu là người chăn chiên (Gi 10:1-18)

Hình ảnh minh hoạ về người chăn chiên trong phần này có hình thức của một phép ẩn dụ trong đó các yếu tố khác nhau được áp dụng trong lĩnh vực thuộc linh.  Nó gần giống với các thí dụ (chuyện ngụ ngôn) trong các Phúc Âm Cộng Quan nhưng dưới một hình thức phát triển hơn và không nhấn mạnh các chi tiết.

(Gi 10:1-6) Điểm chính của phần này các đặc điểm dựa vào đó thể phân biệt những kẻ chăn giả.  Hình ảnh người chăn tương tự với hình ảnh trong Cựu Ước (Gie 23:1-40  Exe 34:1-31  Xa 9:1-17).  Ý tưởng của phần này chịu ảnh hưởng nhiều nhất của Exe 34:1-31 là đoạn phê phán những người chăn của Y-sơ-ra-ên.  Chắc hẳn có một sự liên hệ nào đó giữa chủ đề của chương 9 và hình ảnh minh hoạ về người chăn, vốn được nhấn mạnh bởi những lời Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi (lặp lại hai lần chữ “quả thật”) trong câu 1.  Sự tương phản ở đây là giữa kẻ chăn xấu tức người Pha-ri-si (như được thể hiện trong thái độ đối với người mù) và người chăn tốt.  Các chuồng chiên ở phương Đông chỉ có một cửa, được canh giữ bởi chính người chăn chiên khi chỉ có một bầy chiên, hoặc bởi một người gác cửa khi có nhiều bầy chiên.  Trong trường hợp sau, người gác cửa phải biết người chăn.  Kẻ trộm buộc phải vào bằng các ngõ khác.  Có lẽ ở đây không phân biệt sự khác nhau giữa kẻ trộm và kẻ cướp (bản tiếng Việt dịch là “kẻ trộm cướp”).  Không cần phải giải thích riêng gì về người gác cửa (người canh cửa câu 3).  Anh ta đơn thuần chỉ là một chi tiết của minh hoạ để bảo đảm sự ra vào cho người chăn chiên.  Điều quan trọng là mối quan hệ giữa chiên và người chăn chiên.  Đặc điểm của một người chăn thật là anh ta không chỉ nhận ra chiên mình mà còn gọi tên chúng và dẫn chúng vào đồng cỏ (4).  Rõ ràng mối quan hệ cá nhân như thế không tồn tại giữa người lạ và chiên (5).  Người nghe đã không thể hiểu được lẽ thật đàng sau phép tu từ được sử dụng ở đây.

(Gi 10:7-10) Hình ảnh này thay đổi, khi Chúa Giê-xu xem mình cái cửa.  Ngài tuyên bố Ngài có quyền duy nhất cho phép người ta vào bên trong cửa.  Câu 8 đã nêu ra những khó khăn nếu giả sử rằng tất cả những ai đến trước Chúa Giê-xu đều là trộm cướp, vốn khiến Cựu Ước trở nên vô nghĩa.  Một số bản chép tay lượt bỏ chữ trước ta, nhưng đúng ra trong nguyên bản có các lời ấy.  Có lẽ ý nghĩa đúng nhất là tất cả những ai đến trước Chúa Giê-xu và tuyên bố mình là đường đi duy nhất đều là giả mạo một sự đề cập đến nhiều Đấng Mết-si-a giả là những kẻ đang tồn tại đầy dẫy trong lịch sử của thời kỳ này.  Thật vậy, chương trước cho thấy các tuyên bố của người Pha-ri-si thật tai hại đến dường nào.  Trong câu 9 lời tuyên bố của Chúa Giê-xu được lặp lại dưới một hình thức mở rộng hơn.  Nay Ngài hứa cả về sự cứu rỗi lẫn sự giúp đỡ.

Hai ân huệ này sau đó được tóm tắt lại là sự sống dư dật (10).  Sự tương phản giữa giả và thật ở đây được nêu ra đặc biệt rõ ràng.  Chúa Giê-xu đem đến sự sống còn những kẻ chăn giả đem đến sự chết.  Sự dư dật của đời sống mà Chúa Giê-xu ban cho là một chủ đề đặc trưng của Giăng.

(Gi 10:11-18) Một hình ảnh tương phản khác nay được giới thiệu giữa người chăn hiền kẻ chăn thuê. Phẩm chất đầu tiên của người chăn sẵn sàng hy sinh chính mình chiên.  Sau khi vừa hứa ban sự sống dư dật cho kẻ khác, Chúa Giê-xu nói về sự hy sinh của chính Ngài.  Xét trên bề mặt, điều này có vẻ như đặt chiên vào ngay sự hiểm nguy, nhưng Chúa Giê-xu đi xa hơn ẩn dụ này để chỉ về một chân lý thuộc linh.  Ngài thu hút sự chú ý vào một hành động hy sinh tự nguyện vì lợi ích của chiên (11).  Cái chết của người chăn được xem là một hành động chết thay cho kẻ khác.  Sự tương phản giữa hành động này và hành động bỏ chạy trốn của người chăn thuê (12) nêu lên một cách sinh động bản chất của sự hy vinh của Chúa Giê-xu.  Sự thiếu quan tâm được đặc biệt chú ý (13).  Câu 14-18 tạo nên một kiểu dẫn giải về lời tuyên bố trong câu 11.  Nó bắt đầu bằng cách nhấn mạnh vào sự hiểu biết giữa người chăn và chiên, một sự hiểu biết giống như sự hiểu biết chung giữa Cha và Con (14-15).  Có thể không có sự thân mật gần gũi nào giống như mối quan hệ này.  Nó đặt kẻ chăn thuê hoàn toàn ra khỏi bức tranh.  Sự thân mật gần gũi như thế giữa người chăn và chiên đã được nói bóng gió trong câu 3-5.

Câu 16 nêu ra một hướng suy nghĩ khác, lần này được đặt trên cơ sở ý tưởng về những chuồng chiên khác nhau (chuồng này).  Chiên khác mà Chúa Giê-xu đề cập ở đây phải là dân ngoại.  Tuy nhiên, mặc dù có những chuồng chiên khác nhau, thì chỉ có một bầy duy nhất, cũng như chỉ có một người chăn duy nhất.  Câu này nói lên hình ảnh muôn màu muôn vẻ của cộng đồng dân Đức Chúa Trời, nhưng sự thống nhất về bản chất là trong chính Đấng Christ.  Tại sao (17) có thể đề cập đến câu đi trước với nghĩa, “Cha yêu ta bởi vì ta là người chăn tốt” hay với câu đi sau, là trường hợp mà tình yêu của Cha căn cứ vào sự hy sinh của Con.  Tuy nhiên, chúng ta không thể giả sử rằng tình yêu của Cha tuỳ thuộc vào hành động của Con, mà trái lại phải cho rằng tình yêu của Cha được chứng minh qua hành động của Con.  Mệnh đề kết luận trong câu 17 cho thấy rằng sự hy sinh bản thân nó không được xem là điểm kết thúc.  Sự sống lại đang được nghĩ đến với tư cách là một kết cuộc chiến thắng.  Tính cách tự nguyện hoàn toàn của sự dâng mình và quyền phép ban cho Chúa Giê-xu ở đây được nhấn mạnh.

3. Hệ quả của lời giảng dạy (Gi 10:19-21)

Đúng nhất là chữ người Giu-đa ở đây mang ý nghĩa nói chung, bao gồm cả đám đông lẫn các nhà lãnh đạo.  Có thể thấy những ví dụ về các phản ứng chia rẽ tương tự trong Gi 7:43 và 9:16.  Một lần nữa chúng ta nghe lời tố cáo về bị quỉ ám, tương tự như lời tố cáo trong 7:20 và 8:48.  Người ta thừa nhận rằng có một mối liên hệ mật thiết giữa việc bị quỉ ám với sự điên loạn.  Đối với một số người, việc chữa lành người mù trong chương 9, cũng như sự khôn ngoan trong lời giảng dạy của Chúa Giê-xu, bác bỏ một giả thuyết như thế.

4. Cuộc đối thoại tại kỳ lễ Khánh Thành Đền Thờ (Gi 10:22-42)

Giăng liên kết các sự kiện với các kỳ lễ khi thích hợp.  Kỳ lễ này lần đầu tiên được thiết lập bởi Antiochus Epiphanes vào năm 164 T.C..  Việc đề cập trong câu 22 rằng bấy giờ mùa đông giải thích cho sự kiện rằng Chúa Giê-xu đang đi dạo trên hiên cửa Sa--môn.  Câu hỏi trong câu 24, được dịch là Thầy để chúng tôi nghĩ vẩn mãi cho đến khi nào? gợi ý rằng người Do Thái ở đây không phải hoàn toàn có thái độ thù địch, mặc dù họ rõ ràng đang bị hoang mang, bối rối.  Chúa Giê-xu nói Ngài đã trả lời họ rồi trong nghĩa lời chứng nói chung về lời nói và việc làm của Ngài.  Chính là do họ thiếu lòng tin thậm chí ở các phép lạ của Ngài, mà Ngài đặc biệt phê phán ở đây.  Chúa Giê-xu một lần nữa đề cập đến ẩn dụ về người chăn chiên để nhắc nhở người Do Thái rằng họ hẳn đã nghe tiếng Ngài nếu họ là chiên thật của Ngài.  Sau đó Ngài làm rõ mối quan hệ của Ngài với những chiên ấy (28).  Sức mạnh của lời nói cho thấy rằng họ đã vào trong sự sống đời đời rồi (sử dụng thì hiện tại).  Chúa Giê-xu cũng đưa ra lời hứa rõ ràng liên quan đến sự an toàn của họ.  Ai biết về các kẻ thù khác nhau của sự an toàn ấy.  Nó được làm mạnh mẽ bởi hành động của Cha (29).  Điều này đưa đến câu phát biểu quan trọng trong câu 30, Ta với Cha một.  Cha và Con đồng nhất một cách gần gũi trong sứ mạng Chúa Giê-xu đến nỗi nó bao gồm ý tưởng về một sự hiệp một trong bản chất, tuy với sự riêng biệt về nhân dạng.  Một lối diễn giải như thế về những lời này là hoàn toàn phù hợp với câu phát biểu trong 1:1.

Các đối thủ quyết định tránh nói thêm với một phương cách thực tế hơn (nghĩa là ném đá, câu 31).  Tuy nhiên, Chúa Giê-xu tiếp tục với những câu hỏi khác về động cơ của họ (32-33) và họ đáp lại bằng những lời tố cáo về tội lộng ngôn.  Nhưng, định nghĩa của họ về tội lộng ngôn căn cứ trên điều thừa nhận rằng Chúa Giê-xu chỉ là người.  Nhưng những hành động của Ngài cho thấy rằng Ngài hơn cả một con người và sự vu cáo của họ đã rõ ràng.  Lời tố cáo tương tự cũng được các đối thủ của Chúa Giê-xu đưa ra trong 5:18.  Luật Lê-vi (Le 24:16) qui định án chết bằng cách ném đá như là hình phạt cho tội lộng ngôn.  Khi Chúa Giê-xu nói đến luật pháp trong câu 34, Ngài đang dùng khái niệm này để bao gồm cả ba phần của Kinh Thánh Do Thái, vì phần trích dẫn là từ Thi 82:6.  Có nhiều quan điểm về người mà Đức Chúa Trời đang nói với trong Thi Thiên này: các quan án của Y-sơ-ra-ên, là những người không thực hiện bổn phận, các thiên sứ, là những kẻ lạm dụng quyền phép mình trên các dân hay toàn thể Y-sơ-ra-ên khi ban bố luật pháp.  Dù là cách hiểu nào đi chăng nữa thì ở đây cũng ám chỉ rằng những kẻ gọi là “thần” đều thấp kém hơn Đấng mà Cha đã sai đến, là Con Đức Chúa Trời.  Làm thế nào mà Giê-xu là Con ấy lại có thể bị buộc tội lộng ngôn? Khi Chúa Giê-xu tuyên bố rằng Kinh Thánh không thể bị bỏ (35), thì từ ngữ này được dùng ở số ít và chủ yếu là đề cập đến đoạn riêng biệt đang được trích dẫn, nhưng nguyên tắc này áp dụng cho toàn bộ Kinh Thánh.  Những chữ biệt ra trong câu 36 thường được sử dụng trong Cựu Ước để nói về việc biệt riêng một người cho một nhiệm kỳ đặc biệt (xem cách dùng tương tự trong Gi 17:19).

Phần bàn luận kết thúc bằng một câu thông báo về việc làm và đức tin (37-38).  Các việc làm của Chúa Giê-xu liên hệ mật thiết với công việc của Cha đến nỗi Ngài không thể viện đến đức tin trong chuyện này.  Việc làm của Chúa Giê-xu là phương tiện giúp con người có thể đến để hiểu mối quan hệ giữa Chúa Giê-xu và Cha.  Đức tin căn cứ trên việc làm là thấp kém hơn đức tin căn cứ trên những điều Chúa Giê-xu phán.  Các việc làm (hay phép lạ) là vì mục đích dạy dỗ để đạt đến sự hiểu biết về mối quan hệ giữa Chúa Giê-xu và Cha.  Bất kỳ người nào đã hiểu mối quan hệ gần gũi này sẽ không vấp bởi câu thông báo trong câu 30, như những người nghe Chúa Giê-xu rõ ràng đã vấp.  Chúa Giê-xu đang khẳng định rằng không thể phân biệt sự khác nhau giữa Con và Cha trong việc làm.

Việc Chúa Giê-xu trở lại địa điểm của Giăng Báp-tít có thể chỉ mang tính cách tượng trưng.  Chức vụ công khai của Ngài đang đi gần đến chỗ kết thúc.  Câu 41-42 lặp lại lời chứng của Giăng về Chúa Giê-xu và sự trổi hơn về chức vụ của Ngài.  Một sự tương phản mạnh mẽ được thấy giữa việc tại Giê-ru-sa-lem không có ai đáp ứng và tại bên kia sông Giô-đanh có nhiều người tin.

8. SỰ CHẾT VÀ SỐNG LẠI CỦA LA-XA-RƠ (Gi 11:1-57)

1. Chúa Giê-xu chiến thắng sự chết (Gi 11:1-44)

Câu chuyện về việc khiến La-xa-rơ sống lại này đã bị bác bỏ dựa trên hai cơ sở: tính chất bất thường của nó và không được các Phúc Âm khác nhắc đến.  Tính chất bất thường của nó là một trở ngại chỉ khi cho rằng phép lạ không xảy ra.  Hơn nữa, khi đối diện với thực tế về sự sống lại của Chúa Giê-xu Christ thì không thể nói rằng sự sống lại của La-xa-rơ là không đáng tin.  Mặc dù các Phúc Âm Cộng Quan không ghi lại phép lạ này, nhưng Lu-ca có ghi lại câu chuyện về việc khiến con trai của bà góa sống lại (Lu 11:25).  Một số người đã gợi ý rằng câu chuyện này được phát triển từ câu chuyện của Lu-ca về người giàu có và La-xa-rơ, nhưng cũng có một vài câu chuyện tương đương ngoại trừ tên gọi tương tự.  Không có lý do rõ ràng để tranh cãi về tính lịch sử của câu chuyện này.

Giăng làm rõ nhân dạng của La-xa-rơ, đặc biệt là mối liên hệ của ông với Ma-ri là người xức dầu cho Chúa Giê-xu, tuy ông không kể câu chuyện này mãi cho đến phần sau của Phúc Âm (chương 12).  Giăng hoặc là thừa nhận rằng độc giả sẽ quen thuộc với câu chuyện này, nếu không thì họ cũng đã đọc sách Phúc Âm này nhiều lần.  Khi Giăng ghi lại lời đề nghị của người chị, ông dùng chữ phileô cho chữ yêu, nhưng lại dùng chữ agapaô trong câu 5.  Một số học giả đã suy luận từ chữ này và từ một bằng chứng tương tự khác rằng La-xa-rơ là “môn đồ được yêu” và là người viết Phúc Âm này.  Điều này cũng ngụ ý rằng La-xa-rơ đã có mặt tại phòng cao với các sứ đồ, nhưng điều này khó có thể là sự thật.  Lời Chúa Giê-xu Bệnh này không đến chết đâu (4) có ý nói rằng mục đích của bệnh ấy không phải là dẫn đến cái chết mà là để tôn vinh con Đức Chúa Trời.  Phép lạ này có thể so sánh với các phép lạ khác trong Phúc Âm này (Gi 2:11  9:3).  Vinh quang của Đức Chúa Trời quan trọng hơn bệnh tật.

Lời tường thuật đến tai Chúa Giê-xu và cuộc bàn luận giữa Chúa Giê-xu với các môn đồ nêu lên một vấn đề lớn mang tính thần học.  Câu 6 nhấn mạnh rằng Chúa Giê-xu đã chủ ý chậm trễ trong hai ngày.  Tại sao vậy? Trong ngữ cảnh này có một mối liên hệ rõ ràng giữa sự chậm trễ ấy và tình yêu của Chúa Giê-xu đối với gia đình Bê-tha-ni.  Vì vậy, sự chậm trễ ấy không thể bị xem là một thái độ thiếu quan tâm.  Đoạn tiếp nêu ra câu trả lời, vì Chúa Giê-xu có ý định rằng kinh nghiệm của La-xa-rơ sẽ nhằm để tôn vinh Đức Chúa Trời (4) và sẽ là cách để đưa các môn đồ đến với đức tin (15).  Các môn đồ trước hết lo sợ cho sự an toàn của Chúa Giê-xu nếu Ngài trở về xứ Giu-đê (7-8).  Câu 8 liên kết với 10:31 cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa chương 10 và 11.  Dựa vào 10:39 sự lo sợ của các môn đồ là điều có thể hiểu được vì khu vực mà họ đang ở vào lúc đó có ít thái độ thù địch hơn xứ Giu-đê.  Chắc chắn rằng các môn đồ đều cảm thấy nhẹ lòng khi Chúa Giê-xu trì hoãn cuộc hành trình và họ hy vọng Ngài sẽ hủy bỏ hoàn toàn cuộc hành trình ấy.  Việc Chúa Giê-xu đề cập đến mười hai giờ một ngày thoạt tiên không có vẻ gì là để đáp lại sự phản đối trong câu 8 nhưng ý tưởng liên hệ ở đây là các giờ trong ngày không bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh bên ngoài.  Các giờ trong ngày có sẵn đó để người ta sử dụng.  Giờ của Chúa Giê-xu chưa đến (nghĩa là giờ thứ mười hai) và chỉ khi theo ý muốn Đức Chúa Trời thì giờ ấy mới đến, cách duy nhất phải theo là tiếp tục sứ mạng của mình.

Cả người Do Thái lẫn người La Mã đều chia những giờ có ánh sáng ban ngày thành mười hai giờ.  Vì vậy, không phải tất cả các giờ này đều dài sáu mươi phút mà dài ngắn khác nhau tuỳ theo thời điểm trong năm.  Các ẩn dụ về sự sáng và sự tối cũng như những ý tưởng về việc đi và vấp là nhằm làm tương phản sự tiến hành chắc chắn của Chúa Giê-xu với những nỗ lực vụng về của người Do Thái để ngăn trở nó (9-10).

Ở câu 11 chúng ta gặp một trường hợp bị hiểu sai khác, rất quen thuộc trong Phúc Âm này do hiểu sai lệch một câu phát biểu có tính cách ẩn dụ theo nghĩa đen.  Ý tưởng so sánh sự chết như là sự ngủ (12-13) cũng được thấy trong các tác phẩm văn hoá Hi Lạp và trong Cựu Ước.  Việc các môn đồ hiểu lời của Chúa Giê-xu theo nghĩa đen không phải là lạ vì lẽ thông tin về La-xa-rơ liên quan đến bệnh tật chớ không phải đến cái chết của ông.  Ngủ có lẽ là một dấu hiệu hy vọng trong một thứ bệnh.  Khi Chúa Giê-xu tuyên bố ông sẽ bình phục thì dường như không nhất thiết họ phải nghĩ đến một sự sống lại từ sự chết.  Tiếp theo lời giải thích của Giăng về việc thái độ bối rối đã nảy sinh như thế nào (13), Chúa Giê-xu tuyên bố rõ ràng rằng La-xa-rơ đã chết, và thì của động từ cũng nhấn mạnh tính dứt khoát của lời tuyên bố ấy.  Thoạt nhìn lời tuyên bố rằng Chúa Giê-xu vui mừng vì mình không có mặt ở đó (14) ắt hẳn đã khiến các môn đồ khó hiểu.  Thế nhưng Chúa Giê-xu có một lý do khác để vui mừng nhiều hơn, đó là vì La-xa-rơ sẽ bình phục.  Hợp với mục đích của sách Phúc Âm, Giăng nêu lên khả năng về sự phát triển đức tin trong các môn đồ.  Chúa Giê-xu dường như đặc biệt tập trung vào việc huấn luyện mười hai môn đồ hơn là chú ý đến nhu cầu của hai người em gái La-xa-rơ vì sứ mạng của Ngài cũng bao gồm cả việc đem các môn đồ đến với đức tin.  Chắc hẳn phải cho rằng Chúa Giê-xu đang hướng đến một loại đức tin cao hơn dạng đức tin mà môn đồ hiện đang có.  Mặc dù sau này sự chú ý được dồn về thái độ nghi ngờ của Thô-ma, phản ứng của ông ở đây không xuất phát từ lòng nghi ngờ mà từ sự phục tùng (16).

Câu 17-27 tập trung vào cuộc đối thoại giữa Chúa Giê-xu và Ma-thê và cũng mang tính thần học nhiều nhất trong toàn bộ câu chuyện.  Hiển nhiên Chúa Giê-xu được gặp tại vùng lân cận làng Bê-tha-ni (xem câu 30) và người ta báo với Ngài rằng La-xa-rơ đã chết bốn hôm rồi (17).  Điều này không mâu thuẫn với sự kiện Chúa Giê-xu đã biết La-xa-rơ chết rồi (như được thể hiện trong c.14).  Chi tiết làng Bê-tha-ni ở gần Giê-ru-sa-lem được nêu ra ở đây để giải thích cho sự có mặt của nhiều người Do Thái, là những người đã đến để an ủi những người em gái của La-xa-rơ (18-19).  Hành động của Ma-thê trong việc đi ra ngoài để gặp Chúa Giê-xu là hoàn toàn phù hợp với hình ảnh của cô với tư cách là một con người hành động trong Lu 10:38-42.  Trái lại Ma-ri còn ngồi trong nhà phản ảnh một người ít hành động được ghi trong câu chuyện của Lu-ca.  Lời của Ma-thê trong câu 21 đồng nghĩa với lời của Ma-ri trong câu 32, vốn gợi ý rằng các cô đã đi đến kết luận này sau khi bàn đến mọi khả năng có thể xảy ra.  Rõ ràng là có một đức tin mạnh mẽ trong quyền năng của Chúa Giê-xu để chữa lành bệnh tật.  Tuy nhiên, đức tin của Ma-thê đi xa hơn đức tin được thể hiện trong câu 22. Ma-thê có vẻ như đã và đang với tới một tia hy vọng trong việc khẳng định sự tin tưởng của cô rằng Đức Chúa Trời sẽ đáp lại mọi lời cầu xin của Chúa Giê-xu. Anh ngươi sẽ sống lại (23) có hai nghĩa.  Ma-thê hiểu đó là một sự bảo đảm bằng lời về sự sống lại trong ngày cuối cùng, nhưng Chúa Giê-xu cũng có một ý định khác. Khó có thể nghi ngờ rằng Ma-thê đã không hiểu được sự ám chỉ về một sự sống lại ngay lập tức từ kẻ chết.

Điểm nổi bật của câu chuyện là lời phán “Ta là” trong câu 25.  Chúa Giê-xu nhận dạng mình là cả sự sống lại lẫn sự sống, vốn là các yếu tố bổ khuyết của cùng một sự việc.  Tuy vậy, đó là mục đích của sứ mạng của Đấng Christ phục sinh để khiến cho sự sống có ý nghĩa trọn vẹn.  Sự sống lại đi trước sự sống vì sự sống mới là sản phẩm của sự sống lại.  Con đường đi đến sự sống này là bởi đức tin, và Chúa Giê-xu thách thức Ma-thê trên cơ sở này.  Chúa Giê-xu không đòi hỏi một sự tuyên xưng đức tin nơi Ngài mà nơi lời tuyên bố của Ngài sự nhấn mạnh ở đây rơi vào nội dung của đức tin.  Sự đáp ứng của Ma-thê (27) tương tự rất giống với lời phát biểu và mục đích của Giăng (Gi 20:31) như thể sự tuyên xưng của cô hình thành một kiểu mẫu cho toàn bộ Phúc Âm .  Không thể nói được rằng Ma-thê đã hiểu được bao nhiêu về tư cách Đấng Mết-si-a hoặc tư cách làm Con của Chúa Giê-xu nhưng chắc chắn rằng đối với Giăng nội dung của lời tuyên bố của cô quan trọng vô cùng.  Đức tin mà thiếu một quan niệm cao quí như thế, thì hoàn toàn chưa đủ.

Câu 28-37 trước tiên mô tả phản ứng của Ma-ri và sau đó là phản ứng của những người Do Thái đã đến để than khóc với hai chị em.  Phần của Ma-ri trong câu chuyện có thể được tóm tắt như sau: Chúa Giê-xu bảo Ma-thê đi tìm Ma-ri (28), cô liền đáp ứng (29), cô sấp mình xuống chân Chúa Giê-xu và lặp lại những lời như Ma-thê đã nói nước mắt của cô đã khiến Chúa Giê-xu mủi lòng, và Ngài cũng đã khóc (33-35).  Ma-ri ở đây được thể hiện là người tình cảm hơn Ma-thê.  Những kẻ than khóc ở đó làm cho cảnh bi thương càng thêm.  Họ đang an ủi Ma-ri, cùng đi theo cô đến mộ (31) họ cũng rất cảm động khi thấy Chúa Giê-xu khóc (36) và suy nghĩ tại sao Chúa Giê-xu đã không ngăn chuyện đau lòng này để đừng xảy ra.  Đỉnh cao đã được đạt đến với cụm từ  “Ngài bèn đau lòng cảm động (33).  Ý nghĩa của những chữ được dịch là đau lòng hàm ý một tức giận và phẫn uất, thậm chí giận dữ.  Một vấn đề nảy sinh từ nguyên nhân của sự bộc phát này.  Một số người đã gợi ý đây là một thái độ giận dữ đạo đức đối với tội lỗi vốn gây ra sự chết và đối với sự đau buồn đi theo sự chết.  Tuy nhiên, sự giận dữ như thế hẳn đã luôn có trong tâm trí của Chúa Giê-xu, trong khi đó đây dường như là một cơ hội đặc biệt để thể hiện thái độ đó ra.  Phải chăng cơn bộc phát này đến từ lòng thương cảm của Chúa Giê-xu dành cho hai chị em? Hiệu lực của động từ có vẻ như quá mạnh nếu hiểu theo nghĩa này .  Phải chăng đó là vì cách diễn tả không thật nỗi buồn của người Do Thái.  Ít nhất đây là một khả năng vì bất kỳ sự thể hiện giả hình nào cũng có thể khơi dậy cơn giận của Ngài.  Rất có thể rằng một điều gì đó có tính cách bi thương về đau khổ của con người đang ảnh hưởng đến Chúa Giê-xu vì Ngài biết rằng chén đau khổ của Ngài đang rất gần.  Sự bối rối của tâm thần Ngài tiếp tục từ một lý do bên trong.  Có lẽ đó là do Ngài biết được sức mạnh của lòng vô tín của một số người trong bọn họ, là những người sẽ chống nghịch Ngài ngay cả sau khi chứng kiến sự sống lại của La-xa-rơ.  Câu hỏi trong câu 37 liên kết phép lạ này với phép lạ về người mù trong chương 9.  Họ chấp nhận khả năng về việc không để một người bị chết, nhưng họ không thể hình dung được việc khiến một người chết được sống lại.

Chuyện về phép lạ này tương đối ngắn và được đánh dấu bởi thái độ lạnh nhạt, nhưng mọi chi tiết đều mang trong mình hơi hướng lẽ thật.  Ngôn từ Ta chẳng từng nói với ngươi (40) liên quan đến điều Chúa Giê-xu đã nói với các môn đồ, không phải với Ma-thê.  Tuy nhiên, lời Ngài nói với Ma-thê ám chỉ một ý định tương tự, nếu không thì những lời ấy cũng có thể xem là nói với các môn đồ hơn là đáp lại với Ma-thê.  Lời cầu nguyện của Chúa Giê-xu (41-42) rất quan trọng vì nó nhấn mạnh đến đức tin trong chức vụ của Ngài.  Sự thận trọng của câu chuyện đặc biệt được nhận thấy qua sự mô tả đơn giản về việc La-xa-rơ bước ra khỏi mộ.

2. Kết quả của phép lạ (Gi 11:45-57)

Giăng nêu ra nhiều phản ứng khác nhau đối với phép lạ này.  Một số người tin (45) một số đi kể lại sự việc với các quan chức (46) người Pha-ri-si bàn luận vấn đề tại Toà công luận và quyết định âm mưu giết Chúa Giê-xu (47-53), trong khi chính Chúa Giê-xu rút lui vào trong đồng vắng.  Thậm chí một phép lạ đáng chú ý như phép lạ này cũng không thuyết phục được những người đã quyết tâm không tin.  Cuộc bàn luận của Toà Công luận tập trung vào các phép lạ.  Họ không nghi vấn rằng Chúa Giê-xu làm phép lạ, họ chỉ sợ rằng thiên hạ (nghĩa là trừ họ ra) sẽ tin Chúa Giê-xu.  Câu hỏi chúng ta tính thế nào? (47) là một câu hỏi ẩn dụ mà câu trả lời là “chẳng tính thế nào cả”.  Thế nhưng trong lòng họ lại sợ người La Mã (48).  Quan niệm của họ về việc người ta tin Chúa Giê-xu bị khống chế bởi việc xem xét về mặt chính trị.  Nơi này là đền thờ hoặc là thành phố, và nước được thêm vào để đề cập đến việc quản lý hành chính, mà một số cấp vẫn còn nằm trong tay người Do Thái.  Giăng nhấn mạnh tầm quan trong to lớn của việc Cai-phe làm thầy cả thượng phẩm vào năm đó vì ông đề cập việc này hai lần (49,51).  Đây là vì tầm quan trọng của lời phát biểu của ông ta trong câu 50.  Lời khuyên rằng thà để một người bị chết còn hơn là cả nước phải hư hoại có vẻ như là một lời khuyên thận trọng, nhưng Giăng xem nó như là đang thiết lập một nguyên tắc rằng một người có thể thay cho dân sự, là nguyên tác rất căn bản đối với giáo lý về sự chuộc tội trong Tân Ước.  Điều này rất đáng để chú ý vì đây là lời của một người đại diện tôn giáo, là người sẽ tạo điều kiện để lời nói đó có hiệu lực.  Lời nhận xét của Giăng (51) cho thấy rằng ông hiểu lời tuyên bố này mang một hàm ý sâu xa hơn cách hiểu giới hạn của Cai-phe, vì nguyên tắc này phải có những hệ quả phổ quát.  Giăng xem mục đích của sự chết của Đấng Christ chính là để tập trung lại con cái Đức Chúa Trời, một khái niệm được sử dụng cho tất cả những kẻ nào đến tin nhận Chúa Giê-xu (52). 

Việc đặt ra âm mưu của người Do Thái là hành động trước lễ Vượt Qua, vốn gồm có các nghi lễ tẩy sạch.  Những lời tường thuật về phép lạ của Chúa Giê-xu và âm mưu của người Pha-ri-si đã được loan truyền.  Chắc chắn người ta sẽ ước đoán về việc Chúa Giê-xu đi đâu.  Giăng đề cập đến âm mưu rõ rệt nhằm giết Chúa Giê-xu để dựng cảnh cho việc xức dầu và cho sự kiện vào thành Giê-ru-sa-lem. 

9. PHẦN CUỐI CỦA CHỨC VỤ CÔNG KHAI TẠI GIÊ-RU-SA-LEM (Gi 12:1-50)

1. Sự dâng hiến của Ma-ri (Gi 12:1-8)

Việc xức dầu tại làng Bê-tha-ni là một chi tiết quan trọng vì nó liên hệ với phép lạ khiến La-xa-rơ sống lại.  Việc nêu ra thời gian cụ thể (sáu ngày trước lễ Vượt Qua câu 1) có một ý nghĩa đối với Giăng và có thể được so sánh với sáu ngày được ghi lại lúc bắt đầu chức vụ.  Cân dầu cam tùng hương thật hẳn là một lượng dầu rất đắt tiền, như được thấy rõ trong sự ước tính của Giu-đa rằng nó bằng một năm tiền công.  Có lẽ dầu ấy là một thứ nước hoa.  Mặc dù thủ tục xức dầu trên đầu là thủ tục bình thường (như được ghi trong Mat 26:7  Mac 14:3), có thể đây là điều có ý nghĩa khi Giăng ghi lại là xức dầu dưới chân.  Việc xức dầu dưới chân được kể lại trong chương kế tiếp.  Phần tương tự về việc xức dầu trong Lu 7:38 cũng là xức dầu dưới chân.  Tuy nhiên, dù hai câu chuyện có một số điểm tương tự, cũng có những khác biệt đủ để kết luận rằng hai sự việc không phải là một.  Trong Lu-ca, người đàn bà được mô tả là một kẻ có tội biết ăn năn một cách sâu xa, trong khi đó Ma-ri tại làng Bê-tha-ni được xem là một người phụ nữ dâng hiến tận tâm cho Chúa Giê-xu, và bức tranh của Giăng về Ma-ri hoàn toàn phù hợp với chân dung của Lu-ca về cùng một nhân vật.  Trong cả hai trường hợp, người phụ nữ này lấy tóc mình lau chân cho Chúa Giê-xu.  Đối với một người phụ nữ Do Thái, xuất hiện trước đàn ông mà để tóc xoã hẳn là điều đi ngược lại luật lệ Do Thái, nhưng trong trường hợp của Ma-ri, tình yêu mạnh hơn luật lệ.  Việc Giăng đề cập đến mùi thơm tràn ngập ngôi nhà là một chi tiết sinh động được chứng kiến tận mắt.

Lời phàn nàn của Giu-đa đối với việc lãng phí này (5) hoàn toàn đúng với tính chất của chuyện về ông trong các sách Phúc Âm Cộng Quan.  Giu-đa bị chế ngự không những bởi lòng tham mãnh liệt mà còn bởi tính thiếu thật thà.  Ở đây Giăng bóng gió nêu ra trước về sự phản bội để ủng hộ cho ý kiến của mình.  Cách giải thích một năm tiền công (trong bản NIV) (5) được hiểu theo nghĩa đen là 300 đơ-ni-ê (một đơ-ni-ê bằng tiền công một ngày).  Câu trả lời của Chúa Giê-xu: Hãy để mặc người, người đã để dành dầu thơm này cho ngày chôn xác ta (7) không có ngĩa là Ma-ri còn để lại một ít dầu thơm, mà có nghĩa là điều mà nàng đã làm được Chúa Giê-xu xem là làm cho việc chôn xác Ngài.  Giu-đa quan tâm không phải đến dầu thơm còn lại mà đến dầu thơm đã được dùng.  Lời tuyên bố rằng các ngươi không ta luôn luôn (8) chỉ có thể được nói ra bởi một người có một không hai, một người không có ý kiêu ngạo nào.

2. Các phản ứng đối với sự hiện diện của Chúa Giê-xu tại làng Bê-tha-ni (Gi 12:9-11)

Sự tò mò của đám đông tương phản rõ nét với lòng thù hiềm của giới chức quyền.  Đối với đám đông, La-xa-rơ là một sự hấp dẫn, trong khi đối với các nhà chức quyền, ông ta là một mối đe doạ.  Chính là việc nhiều người quay về với đức tin, (số lượng người trở lại với đức tin không được đề cập đến) là lý do đã khiến các thầy tế lễ thượng phẩm quyết tâm giết La-xa-rơ cũng như Chúa Giê-xu (11).

3. Sự vào thành Giê-ru-sa-lem (Gi 12:12-19)

Tại thời điểm này của lễ Vượt Qua, đám đông có lẽ là rất lớn.  Việc đám đông ao ước được chào đón Chúa Giê-xu một lần nữa hoàn toàn trái ngược với thái độ của giới chức quyền.  Việc sử dụng bắt nguồn từ ngày lễ Lều Tạm, nhưng nó đã được kèm với các kỳ lễ khác cho đến lúc đó (13).  Việc vẫy những nhành lá này là một dấu hiệu tôn vinh một người chiến thắng.  Bài hát -sa-na là từ Thi 118:25-26 là một trong những bài Thi Thiên được hát khi đi lên thành Giê-ru-sa-lem.  Danh hiệu Vua của Y--ra-ên trình bày rõ ràng tầm quan trọng của Đấng Mết-si-a trong bài hát.  Trong câu 14-15, Giăng trích dẫn Xa 9:9 để minh họa chi tiết Chúa Giê-xu vào thành Giê-ru-sa-lem trên lưng lừa hơn là trên một con ngựa chiến.  Một lần nữa Giăng đề cập đến sự thiếu hiểu biết của các môn đồ.  Chỉ sau khi Chúa Gê-xu sống lại, họ mới hiểu được những sự kiện xảy ra ở đây chính là sự vinh hiển của Chúa Giê-xu.

Có vẻ như có hai đám đông khác nhau được đề cập trong câu 17-18.  Một nhóm đã chứng kiến phép lạ khiến La-xa-rơ sống lại, và nhóm kia chỉ nghe về phép lạ ấy.  Các sự kiện này đã khiến người Pha-ri-si rất thất vọng vì họ không thể thực hiện kế hoạch của mình một cách dễ dàng.  Họ cường điệu trong nỗi  thất vọng khi tuyên bố Kìa, cả thiên hạ đều chạy theo người!” (c.42-43).  Xin xem Gi 11:48 để thấy lối nói cường điệu  tương tự.

4. Những người Hi Lạp (Gờ-réc) tìm Chúa Giê-xu (Gi 12:20-26)

Những người Gờ-réc này có thể là những người Hi Lạp mới gia nhập Do Thái giáo nếu vậy họ hẳn đã có thể cùng với người Do Thái tham gia vào sự thờ phượng tại đền thờ.  Tuy nhiên, không chắc rằng họ đã tận hiến như thế.  Ít ra họ cũng là những kẻ mộ đạo có lòng tìm kiếm vì họ đã đến để thờ lạy.  Nhiều người ngoại quốc đã bị các tư tưởng Do Thái giáo thu hút vì sự nhấn mạnh nhiều hơn về đạo đức của nó so với các tôn giáo khác.  Những người này có lẽ đã đến từ xứ Đê-ca-bô-lơ và thậm chí có thể đã biết Phi-líp người đến từ miền gần thành Bết-sai-đa.  Có thể thừa nhận rằng việc họ tìm gặp Chúa Giê-xu là do lòng ước ao muốn học tập từ Ngài hơn là do tính tò mò đơn thuần.  Có lẽ Giăng xem họ là những tấm gương của “thế gian” đi theo Chúa Giê-xu.

Thật khó có thể tưởng tượng làm thế nào họ đã hiểu được lời mở đầu của Chúa Giê-xu.  Họ khó lòng được thông tin đầy đủ với tư cách là những độc giả của Giăng về ý nghĩa của giơ (23).  Những người Hi Lạp này có thể đã suy nghĩ trong ý nghĩa của sự vào thành một cách khải hoàn.  Nhưng dựa vào ngữ cảnh, có thể xem rằng đối với Chúa Giê-xu, “giờ” Ngài là sự thương khó và sự chết đang tới gần.  Điều này được thấy rõ từ chủ đề về sự vinh hiển và từ hình ảnh minh hoạ về hột giống lúa .  Công thức Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi (24) nêu ra tầm quan trọng của lời tuyên bố.  Nguyên tắc trong tự nhiên rằng sự chết là cần thiết cho một sự sống khác tiếp tục được Chúa Giê-xu áp dụng cho chính Ngài bằng sự suy luận.  Hạt lúa mì sinh ra lúa mì, và Chúa Giê-xu xem sự thương khó và sự chết của Ngài theo cách tương tự.  Sự chết của Ngài sẽ sinh ra sự sống cho nhiều người.  Sự tương phản giữa yêu và ghét (25) nêu ra sự chọn lựa và hậu quả liên quan đến phản ứng riêng tư đối với Chúa Giê-xu.  Yêu và ghét ở đây là những khái niệm tương đối, đại diện cho hai phía đối lập nhau.

5. Lời chứng và sự rút lui (Gi 12:27-36)

Chính tại đây Giăng ghi lại rằng Chúa Giê-xu biết giờ Ngài đã đến, cũng là phần mà Phúc Âm của ông đang hướng tới.  Có một mối liên hệ rõ ràng giữa tâm trạng bối rối của Chúa Giê-xu ở đây (27) và nỗi thống khổ trong vườn Ghết-sê-ma-nê như được thể hiện trong những sách Phúc Âm Cộng Quan (Mat 26:38  Mac 14:34).  Trong câu trả lời của câu hỏi Ta sẽ nói ? có hai khả năng được nêu ra một lời cầu xin được thoát khỏi giờ ấy, vốn là điều tự nhiên nhưng không thể nghĩ ra nếu dựa trên toàn bộ sứ mạng của Chúa Giê-xu, hoặc một lời cầu nguyện xin Danh Cha được vinh hiển.  Việc nhấn mạnh vào khả năng thứ hai là điều hoàn toàn phù hợp với cách Giăng sử dụng chủ đề về sự tôn vinh để mô tả kết cuộc chiến thắng của sứ mạng Chúa Giê-xu trên thập tự giá.  Điều này là quan trọng đến nỗi nó được xác nhận bởi môt tiếng phán từ trên trời.  Nội dung của thông điệp thông thường là cho cả quá khứ lẫn hiện tại sự tôn vinh được nêu ra như là cốt lõi của chương trình của Đức Chúa Trời cho Chúa Giê-xu (28).  Có ba phản ứng đối với tiếng phán từ trời.  Một số chỉ nghe thấy một tiếng ồn giống như tiếng sấm (29).  Những người này không ở trong vị trí để có thể nhận được bất kỳ sự bày tỏ nào.  Những người khác phân biệt được một loại liên lạc siêu nhiên nào đó nhưng không khác gì tiếng của một thiên sứ nào đó.  Chỉ có Chúa Giê-xu mới nhận ra rằng tiếng ấy là vì cớ những người khác.  Thế nhưng vì họ không nghe được thông điệp, nên Chúa Giê-xu giải thích ý nghĩa của nó cho họ (31-32).

Chữ hiện bây giờ trong câu 31 nêu ra một cách chính xác hơn về sự bắt đầu của “giờ”.  Nó lập tức được định nghĩa là sự phán xét.  Dường như sự phán xét đang nói tới là một sự định tội nói chung đối với trật tự thế giới hiện tại qua thập tự giá.  Đối với những ai đến với đức tin qua thập tự giá, thì sự phán xét đã xảy ra tại thập tự giá rồi nơi mà họ sẽ được giải thoát.  Kết quả hai lần này được chứng kiến rõ ràng trong việc xua đuổi vua chúa của thế gian này và trong quyền năng có sức lôi cuốn của Chúa Giê-xu để kéo mọi người đến với Ngài.  Phương tiện mà Sa-tan dùng để đánh bại Chúa Giê-xu trở thành phương tiện để lật đổ quyền lực của chính nó.  Lưu ý rằng chữ Còn ta (Nhưng, trong bản NIV c.32) có khuynh hướng phân biệt việc treo lên với việc xua đuổi, tuy hai kết quả này xảy ra từ cùng một hành động.  Chúng ta cần phải hỏi rằng chữ “kéo” ở đây là theo nghĩa nào? Chữ tương tự cũng được thấy trong Gi 6:44 về việc Cha kéo người ta đến với Đấng Christ.  Thế nhưng ở đây chính Đấng Christ, Đấng sẽ bị đóng đinh, là Đấng thu hút người ta.  Tuyên bố này để ngỏ kết quả của việc kéo.  Mặc dù có thể việc kéo đến với sự phán xét cũng được ngụ ý ở đây nhưng ý nổi bật hơn chính là một sự kéo đến với chính Đấng Christ.

Phản ứng của đám đông (34) cho thấy rằng điều họ hiểu về việc treo lên hoàn toàn không đúng với tính cách đời đời của Đấng Mết-si-a.  Câu hỏi Con Người đó ai? đã dày vò tâm trí không những của người nghe trong thời Chúa Giê-xu, mà còn của người đọc trong thời Giăng và đã là một vấn đề tranh luận từ đó đến nay.  Khi trả lời, Chúa Giê-xu sử dụng hình ảnh tương tự như hình ảnh được sử dụng để nói về Ngài trong phần mở đầu, nghĩa là Ngài là sự sáng (35, 36).  Một lần nữa, chúng ta có sự tương phản về đặc điểm giữa sự sángsự tối tăm.  Sự tối tăm đại diện cho thế gian không có Đức Chúa Trời.  Bước đi trong sự sáng có nghĩa là bước đi theo sự sáng.  Chúa Giê-xu nói về những người theo Ngài trở nên con cái của sự sáng, nhưng điều này chỉ đến qua sự tin cậy.  Sự tin cậy ấy sẽ cần thiết sau thập tự giá cũng như trước thập tự giá.  Việc Chúa Giê-xu đi ẩn mình cách xa họ (36) gợi ý rằng Ngài tỏa sáng nhiều hơn khi giảng dạy so với lúc Ngài chỉ hiện diện không thôi.

6. Tiếp tục không tin (Gi 12:37-50)

Trong đoạn tiếp theo, Giăng tóm tắt các ảnh hưởng của chức vụ của Chúa Giê-xu trên mọi người.  Các phép lạ mà Ngài đã làm nói chung vẫn chưa dẫn đến đức tin, và lời tiên tri Cựu Ước Es 53:1 được trích dẫn để minh hoạ.  Chúa Giê-xu đang kinh nghiệm sự chối bỏ như Ê-sai đã báo trước.  Trọng tâm là nhằm vào tính chủ động của Đức Chúa Trời, mặc dù trong bản Bảy Mươi lời tuyên bố được ghi là “Họ nhắm mắt lại”.  Giăng hiểu lời Ê-sai theo nghĩa rằng không phải sứ điệp của Đức Chúa Trời cũng như không phải hành động của Đức Chúa Trời (cánh tay Chúa) đem đến đức tin trong một số người.  Tiếp theo phần trích dẫn từ 53:1-12, Giăng đề cập đến 6:10, khi Ê-sai thấy khải tượng về sự vinh quang trong đền thờ.  Kết quả khó hiểu của sự cứng lòng nơi sứ điệp của nhà tiên tri (40) trở nên sinh động nhất trong sự hoàn thành lời tiên tri ấy trong chức vụ Chúa Giê-xu, mặc dù lời Ê-sai ở đây không áp dụng một cách đặc biệt cho Chúa Giê-xu.

Nhận xét của Giăng trong câu 41 cũng thật khó hiểu.  Khi nói Ê-sai thấy sự vinh quang của Chúa Giê-xu, hay vinh quang của Đức Chúa Trời ông muốn nói theo nghĩa nào? Về chữ trong câu văn của mình, dường như rằng Giăng thấy có một mối liên hệ trực tiếp giữa sứ điệp của Ê-sai và sứ mạng của Đấng Christ.  Có lẽ Giăng đang nghĩ đến Tôi tớ chịu khổ của Ê-sai khi nói về Đấng Christ.  Điều ông thấy là sự vinh quang của Đấng phải đến.  Mặc khác, nếu Ê-sai thực sự đã thấy trước vinh quang của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu, thì có thể khẳng định rằng Chúa Giê-xu có một vai trò tích cực trong các sứ điệp của các nhà tiên tri Cựu Ước.  Tuy nhiên, cách giải thích trước được xem là đúng hơn.

Giăng đáp lại lời tuyên bố trong câu 37 về sự cứng lòng của người Do Thái bằng một vài trường hợp của đức tin, thậm chí trong vòng những người lãnh đạo.  Thế nhưng ông thừa nhận rằng động cơ về lợi ích riêng là các yếu tố cản trở đức tin họ.  Thường thường đức tin đã bị ngăn trở bởi nỗi sợ hãi về các phản ứng của người khác.  Bị đuổi ra khỏi nhà hội (42) có nghĩa là bị dứt phép thông công.  Vào thời Giăng, có thể đã có những người tìm cách theo Chúa một cách kín đáo và đây là những lời quở trách đối với họ.

Phân đoạn 44-50 có một tuyên bố của Chúa Giê-xu về tầm quan trọng của việc đáp ứng với sứ mạng Ngài một cách riêng tư.  Như thế rằng Chúa Giê-xu, sau khi đã rút lui (36), đã trở lại để tuyên bố công khai lần cuối cùng trước khi đặc biệt biệt riêng chính mình cho các môn đồ (chương 13-17).  Theo tuần tự, có thể xem Đức Chúa Giê-xu cất tiếng phán (44) là một lời tóm tắt chung của giáo huấn Ngài vào giai đoạn cuối của chức vụ.  Ở đây có những chủ đề tương tự.  Sự cần thiết phải có đức tin, mối liên hệ mật thiết giữa Chúa Giê-xu và Đấng sai Ngài đến (ở đây được lặp lại ba lần), ý tưởng về Chúa Giê-xu là sự sáng, và sự tương phản giữa sự sáng và sự tối tăm (44-46).  Chủ đề chính thứ hai là sự phán xét (47-48).  Tuy sự phán xét được quyết định bởi lời Chúa Giê-xu nhưng sứ mạng Ngài về căn bản không phải là vì mục đích này.  Mục tiêu của sứ mạng ấy là sự cứu rỗi còn sự phán xét chỉ là hậu quả.  Tác nhân của sự phán xét được cho là lời ta đã rao giảng (48) vốn ràng buộc với sự nhận dạng Chúa Giê-xu trong lời mở đầu rằng Ngài là Ngôi Lời (Gi 1:1).  Rõ ràng là cơ sở của uy quyền có một tầm quan trọng to lớn trong vấn đề phán xét, và ở đây nó được ban cho trong một sự đồng ý hoàn hảo của cả Cha lẫn Con.  Chủ đề về sự sống đời đời được nêu trong câu 50 lặp lại điều đã được nói trước đây trong Phúc Âm này.  Giăng kết luận chức vụ công khai của Chúa Giê-xu bằng một câu nhấn mạnh tầm quan trọng của sự dạy dỗ của Ngài.  Câu này có tác dụng là một câu liên kết với phần tiếp theo, vốn tập trung vào sự dạy dỗ dành cho các môn đồ.

10. CHÚA GIÊ-XU VỚI CÁC MÔN ĐỒ (Gi 13:1-17:26)

1. Hành động rửa chân mang ý nghĩa tượng trưng của Chúa Giê-xu và ảnh hưởng của nó (Gi 13:1-38)

Những lời mở đầu không nhất thiết có ý nói rằng sự việc được ghi đã diễn ra vào ngày trước ngày lễ Vượt Qua, mặc dù mọi người thường nghĩ như vậy.  Có nhiều điều để thảo luận về mối quan hệ giữa chuyện kể của Giăng và chuyện kể của các sách Phúc Âm Cộng Quan về ngày tháng của Bữa Ăn Tối Cuối Cùng.  Dường như Giăng ghi ngày của bữa ăn lễ Vượt Qua sớm hơn một ngày so với các Phúc Âm Cộng Quan.  Sự khác nhau này có thể là do việc sử dụng hai lịch khác nhau, giả sử rằng lễ Vượt Qua diễn ra vào ngày 15 tháng Nisan và cứ cho rằng có thể hiểu câu chuyện của Giăng theo cách này.

Phần mở đầu chuẩn bị cho việc hiểu được ý nghĩa thật của hành động rửa chân cho các môn đồ.  Lưu ý rằng Chúa Giê-xu ý thức sâu sắc về sự đến của giờ (1) sự bày tỏ tình yêu của Ngài đối với mọi người  hành động của ma quỉ nghịch cùng Ngài qua Giu-đa (2) và việc Chúa Giê-xu biết chắc về nguồn gốc và số phận thiên thượng của công tác Ngài.  Đây là một bản tóm tắt súc tích rõ ràng về sự tiến tới của sứ mạng Ngài.  Qua chức vụ Chúa Giê-xu đã có sự đối nghịch giữa Ngài và ma quỉ, và sự đối nghịch ấy sắp đi đến hồi tuyệt đỉnh.  Ở đây có một sự tương phản mạnh mẽ giữa tình yêu của Cha và những ý định độc ác của ma quỉ.  Lời nhận xét của Giăng rằng (3) Chúa Giê-xu biết giờ đau buồn đang ở trong tay Cha mình, hoàn toàn phù hợp với tuyên bố thường được lặp đi lặp lại của Chúa Giê-xu rằng Ngài đang thực hiện ý muốn của Cha.  Hành động rửa chân cho các môn đồ tiếp theo cũng được thúc đẩy bởi nhận thức này (4-5).  Nó rõ ràng có ngụ ý là một hành động có ý nghĩa tượng trưng, tượng trưng cho cả sự rửa sạch lẫn sự phục vụ khiêm nhường.  Ý nghĩa của hành động hoàn toàn bất ngờ về sự hạ mình này được nêu trong câu 12-17.  Hành động cởi áo ra và lấy khăn quấn ngang lưng, đó là việc làm của tôi tớ đã bị cả người Do Thái lẫn người Hi Lạp coi khinh.

Không cần phải giả sử rằng Chúa Giê-xu bắt đầu từ Phi-e-rơ (6).  Phản ứng của Phi-e-rơ ở đây  hoàn toàn phù hợp với những gì chúng ta biết về ông trong các câu chuyện khác của Tân Ước.  Câu hỏi của ông, sự từ chối mạnh mẽ và sự thay đổi thái độ một cách bồng bột và quá mức của ông, tất cả là đặc điểm của ông.  Xuyên suốt câu chuyện là sự bối rối của các môn đồ, vốn chỉ đến về sau mới được xua tan đi (7).  Tất cả những điều này cũng giống với những trường hợp thiếu hiểu biết trước đây.  Câu trả lời của Chúa Giê-xu trong câu 8 không có nghĩa gì cả trừ phi hành động ấy mang tính tượng trưng.  Nếu Chúa Giê-xu không rửa sạch người ta, thì họ sẽ không có khả năng được sạch.  Ít ra Phi-e-rơ cũng hiểu điều này (9).

Những lời của câu 10 gợi ý rằng việc rửa chân không chỉ là một tấm gương.  Đó là một cách mà nhờ đó các môn đồ có thể chia sẻ trong sự hạ mình của Chúa.  Ứng dụng đầu tiên của việc rửa chân vào việc rửa sạch thuộc linh nay được liên kết với một gương phục vụ khiêm nhường.  Hành động chuộc tội không phải là một hành động cần lặp đi lặp lại.  Câu 11 cho thấy rằng tuy Chúa Giê-xu đã rửa chân cho cả Giu-đa, nhưng việc phản bội Chúa Giê-xu sau này của ông sẽ làm cho ông ta không sạch.

Trong đoạn văn kế tiếp (12-17) Chúa Giê-xu thách thức môn đồ Ngài trên cơ sở những điều Ngài vừa làm.  Ngài biết  sự hiểu biết giới hạn của họ.  Khi trả lời câu hỏi của mình, Chúa Giê-xu trước hết nói đến mối quan hệ của chính Ngài với họ (Thầy, Chúa) và sau đó nói đến gương của Ngài (Các ngươi cũng nên rửa chân lẫn cho nhau).  Bản chất uy quyền của phương pháp Ngài hoàn toàn không thể lầm lẫn, nhưng mệnh lệnh này trở nên càng nổi bật hơn khi  biết rằng trong thế giới cổ đại sự hạ mình bị coi khinh là dấu hiệu của sự yếu đuối.  Mệnh lệnh của Chúa Giê-xu vì vậy mang tính cách mạng trong phạm vi các mối quan hệ con người.  Một số Cơ Đốc nhân đã thực hiện việc rửa chân như là một hành động nghi lễ, nhưng đúng hơn là mệnh lệnh Chúa Giê-xu được qui định trong ngữ cảnh ấy.  Nếu việc rửa chân không cần phải lặp lại, thì không có sự bộc lộ cho sự hạ mình đi kèm, Chúa Giê-xu xem sự phục vụ hạ mình vì người khác là một hành động đáng tôn vinh.  Chữ đầy tớ trong câu 16 được dịch từ tiếng Hi Lạp là nô lệ, là kẻ không có một chút quyền nào trong nhà chủ.  Vì chữ sứ giả trong tiếng Hi Lạp là sứ đồ, nên đó là một lời nhắc nhở về các nghĩa vụ giao cho các vị sứ đồ những người mà Chúa Giê-xu đã chọn lựa để công bố sứ điệp của Ngài.  Những lời này, trong ngữ cảnh về sự cần thiết phải hạ mình, sau này ắt đã cất đi ý tưởng về quyền lợi trong chức vụ sứ đồ. 

Trong giáo huấn của Chúa Giê-xu, không thấy chỗ nào chấp thuận cho việc biết mà không làm (17).

Chúa Giê-xu trở lại chủ đề về sự phản bội (11).  Giu-đa dường như là một minh hoạ điển hình về việc không làm điều mình biết là đúng.  Tuy sự bội phản chưa được kể ra, nhưng Giăng cho thấy rằng Chúa Giê-xu hoàn toàn biết rằng gót chân của kẻ phản bội sẽ giơ lên chống lại Ngài vốn là điều đã được nói trước trong Kinh Thánh (Thi 41:9).  Nếu các môn đồ có thể hiểu được điều này, họ sẽ đến với đức tin trong thân vị của Chúa Giê-xu.  Ta Đấng đó trong câu 19 rất có thể ám chỉ đến Danh lớn của Đức Chúa Trời trong Xu 3:14.  Câu nói kết thúc phần này cũng được thấy trong Mat 10:40 khi sai mười hai môn đồ ra đi.  ở đây câu nói đó ngụ ý rằng không cần phải nói quá nhiều về hành động của một người không nhận biết Ngài.  Trái lại cần phải nhấn mạnh với các môn đồ còn lại cần phải có một thái độ tích cực đối với Chúa Giê-xu.

(Gi 13:21-30) Tuy nhiên, một lần nữa chiều hướng của sự phản bội lại lộ diện.  Việc Chúa Giê-xu tâm thần bối rối (21) thể hiện lại phản ứng của Ngài trong Gi 11:33  12:27 là đoạn miêu tả sự thất vọng nặng nề tương tự.  Những điều này phản ảnh mối căng thẳng gia tăng khi sự thương khó đến gần.  Việc đề cập đến sự phản bội trong câu 21 lúc này cụ thể hơn so với những lời ngụ ý trước đây (một trong số các ngươi sẽ phản ta).  Ảnh hưởng của câu nói này trên các môn đồ còn rõ nét hơn.  Trong các sách Phúc Âm Cộng Quan chi tiết này được kể lại thậm chí còn sinh động hơn nữa (Mat 26:22  Mac 14:19  Lu 22:23).  Các chi tiết khác nhau như các môn đồ nhìn nhau, môn đồ được yêu nghiêng mình vào Chúa Giê-xu, hành động bồng bột của Phi-e-rơ, cuộc nói chuyện thì thầm và câu trả lời cố ý và có tính chất tượng trưng của Chúa Giê-xu được kể một cách sinh động đến nỗi câu chuyện hẳn phải bắt nguồn trực tiếp từ một nhân chứng có mặt trực tiếp.

Ai là môn đồ Ngài yêu (23)? Dựa vào những chi tiết sinh động này nên rất có thể ở đây tác giả đang nói đến chính mình.  Ông cảm biết sâu sắc tình yêu mà Chúa Giê-xu thể hiện cùng các môn đồ.  Không cần phải nghi ngờ gì rằng ông đang ám chỉ Chúa Giê-xu yêu ông hơn bất kỳ người nào khác.  Một số người đã nghĩ rằng có thể là một người nào khác hơn là Giăng, hoặc căn cứ trên Gi 11:3,5 những lời này là mô tả La-xa-rơ.  Tuy nhiên, giả thuyết này cũng không chắc đúng.

Việc nhúng miếng bánh và đưa cho Giu-đa (26) vốn là một cử chỉ tôn trọng phải được xem là một lời kêu gọi cuối cùng dành cho kẻ phản bội.  Giăng nói rằng ngay khi Giu-đa cầm lấy bánh thì quỉ Sa-tan vào lòng người (27) phải là hệ quả tất yếu của hành động đó.  Bất kỳ ai nếu hành động giống như Giu-đa hẳn phải ở dưới ảnh hưởng của Sa-tan.  Một lần nữa Giăng thuật lại một sự việc mà các môn đồ đã không hiểu khi sự việc đó đang xảy ra.  Họ có thể chỉ nghĩ theo kiểu mua thức ăn hoặc cho của bố thí, như là cách giải thích lời Chúa Giê-xu nói với Giu-đa (29), vì Giu-đa là người giữ túi bạc (thủ quĩ).  Giăng thấy một ý nghĩa tượng trưng trong sự kiện này, đó là khi ấy đã tối khi Giu-đa ra đi.  Điều đó cũng có nghĩa rằng trong tâm hồn của người đàn ông này đã có một bóng tối thuộc linh.

Câu 31-38 là khúc dạo đầu của điều đã được biết đến - những cuộc từ giã (chương 14-16).  Phân đoạn này gồm có hai chủ đề mối quan hệ của Chúa Giê-xu với các môn đồ và lời tiên báo cụ thể về Phi-e-rơ.  Một lần nữa, Chúa Giê-xu nói về sự vinh quang đang đến của Ngài (31-32).  Đó như thể là vinh quang trái ngược với sự tối tăm xung quanh việc ra đi của Giu-đa.  Những câu này cho thấy con đường chiến thắng mà trên đó Chúa Giê-xu phải đối mặt với sự thương khó và chết.  Ngài không nghi ngờ gì rằng có bàn tay của Đức Chúa Trời trong đó.  Câu 33 đột nhiên lui mạch văn trở lại và gợi nhớ đến những lời của Chúa Giê-xu nói với dân Do Thái trong 7:33.  Chúa Giê-xu nêu rõ lời Ngài là vì lợi ích của các môn đồ.  Sự vinh quang sẽ bao gồm cả việc phân ly.  Mệnh lệnh mới trong câu 34 được lặp lại trong bài giảng trong 15:12.  Các mệnh lệnh phải yêu thương đã được biết đến theo nghĩa dâng hiến cao nhất cho Đức Chúa Trời, nhưng mệnh lệnh của Chúa Giê-xu rằng các môn đồ phải yêu nhau là một mệnh lệnh hoàn toàn mới cả về phạm vi lẫn động cơ của nó, vốn bắt nguồn từ tình yêu mà Chúa Giê-xu dành cho họ.

2. Những lời hứa và mệnh lệnh cho các môn đồ (Gi 14:1-31)

Lời Chúa Giê-xu trong câu 14 được nói ra trong bối cảnh của sự báo trước mà đã thu hút các môn đồ hiểu rõ sự phơi bày về sự phản bội.  Những lời an ủi có một giá trị cụ thể trong hoàn cảnh này, nhưng chúng cũng đã được dùng an ủi trong nhiều tình huống khác nhau.  Có một vài thắc mắc về việc làm thế nào hiểu được các động từ trong phần hai của câu này: “Hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa” (cả hai đều ở dạng mệnh lệnh) “các ngươi tin Đức Chúa Trời” (câu thông báo), “cũng hãy tin ta nữa” (câu mệnh lệnh) “các ngươi tin Đức Chúa Trời, các ngươi cũng tin ta nữa (cả hai là câu thông báo).  Cách hiểu đầu tiên (như bản dịch tiếng Việt) phù hợp với ngữ cảnh hiện đại nhất.  Việc đề cập đến nhiều chỗ trong nhà cha (2) rõ ràng là nhằm để khích lệ.  Đây là một cách nói sinh động để nói rằng có đầy đủ chỗ trên thiên đàng cho môn đồ của Chúa Giê-xu.

Việc chuẩn bị chỗ ở được thực hiện qua sự thương khó sự chết và sống lại của Chúa Giê-xu.  Ta sẽ trở lại (3) dường như đề cập rõ ràng đến việc trở lại của Chúa Giê-xu, mặc dù một số người đã giải thích đó là lễ Ngũ Tuần hoặc thậm chí là sự thăm viếng của Chúa Giê-xu khi người tin chết đi.  Mặc dù những thắc mắc sau đó của các môn đồ không gây ra ấn tượng nào về sự hiểu biết nhiều về mặt thuộc linh, tuy vậy lời Chúa Giê-xu trong câu 4 cho thấy rằng họ lẽ ra phải biết con đường đến với Cha.  Thô-ma đã hiểu quá nông cạn khi hỏi như vậy (5).  Ông không ngờ rằng đường đi phải đồng nghĩa với Chúa Giê-xu.  Chúa Giê-xu là đường đi bởi vì Ngài cũng là lẽ thật và là sự sống.  Nghĩa là hai chữ sau làm rõ cho chữ đầu.  Đường đi, như được nhân cách hoá trong Chúa Giê-xu, là một cách chịu khổ và chiến thắng qua sự hạ mình.

Bản dịch Nếu các ngươi (thật sự) biết ta gợi ý rằng các môn đồ đã không biết rõ về Chúa Giê-xu.  Tốt hơn nên hiểu những lời này là “các ngươi biết ta các ngươi cũng sẽ biết Cha ta”.  Ở đây có một đức tin sâu sắc từ việc biết Chúa Giê-xu đưa đến việc nhận biết Cha.  Việc Phi-líp thiếu sự hiểu biết là điều dễ hiểu.  Ông xem một sự bày tỏ trực tiếp của Đức Chúa Trời như một cách thoả mãn duy nhất (8), nhưng ông nhận được một lời quở trách từ Chúa Giê-xu.  Không ai trong các môn đồ đã hiểu được lẽ thật sâu sắc rằng Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính Ngài ra trong Chúa Giê-xu.  Chúa Giê-xu kêu gọi Phi-líp dựa trên hai cơ sở: những điều Ngài nói những việc Ngài làm.  Ít nhất lẽ ra các môn đồ cũng đã phải nhận ra được “các phép lạ” của Chúa Giê-xu chứng minh rằng đó chỉ có thể là công việc của Đức Chúa Trời (10-11).

Lời tuyên bố của Chúa Giê-xu trong câu 12 thật đáng ngạc nhiên.  Người tin Ngài sẽ làm những việc lớn hơn nữa.  Chúa Giê-xu đã nêu rõ rằng những ai tin Ngài sẽ tiếp tục những việc Ngài đã làm.  Tuy nhiên, những việc lớn hơn những việc ấy chỉ có thể hiểu được vào thời kỳ sau khi Chúa Giê-xu sống lại, và đó cũng chính là lúc Phúc Âm sẽ được rao giảng.  Rõ ràng là những việc lớn hơn này chỉ có thể được thực hiện bởi vì Chúa Giê-xu sẽ đi về cùng Cha.  Sách Công Vụ là bằng chứng về sự hoàn thành lời báo trước này, và sự phát triển khắp nơi của Cơ Đốc giáo ngày nay là một dấu hiệu khác của “những việc lớn hơn”.  Mối liên hệ mật thiết giữa lời hứa và thái độ cầu nguyện cần cho lời hứa ấy được ứng nghiệm trong câu 13-14.

Mối liên hệ giữa tình yêu và sự vâng phục được nhấn mạnh hai lần trong phần này (15, 21).  Sự vâng phục vì vậy không phải là một thái độ nô lệ mà là một sự sẵn lòng tuân phục.  Đó thực sự là một bước tiến bộ mang tính cách mạng hơn cách tuân phục của người Do Thái đối với luật Môi-se.  Chúa Giê-xu biết rằng họ sẽ cần được giúp đỡ để hoàn thành nhiệm vụ của mình, và lời hứa về Đấng Yên Ủi phải được xem trong ngữ cảnh này.  Từ này trong tiếng Hi Lạp là Paraklete hiểu theo nghĩa đen là Đấng được gọi đến bên cạnh để giúp đỡ, và được dùng như là một luật sư biện hộ. Danh hiệu này chứa đựng ý nghĩa về sự khích lệ mạnh mẽ. Việc Đấng Yên Ủi khác được hứa ban gợi ý rằng Thánh Linh sẽ làm những điều mà chính Chúa Giê-xu đã làm trong suốt thời gian Ngài thi hành chức vụ của mình, bằng việc đem lời của Chúa Giê-xu đến cho tâm trí họ (c.26).

Định nghĩa chữ Paraklete là Thần Lẽ Thật bắt nguồn từ tuyên bố của Chúa Giê-xu rằng Ngài là lẽ thật (6).  Sự tương phản giữa thế gian và môn đệ được tóm tắt trong câu 17 và được phát triển thêm trong đoạn kế tiếp.  Các môn đồ được bảo đảm về sự hiện diện của Chúa Giê-xu ngay cả khi thế gian không còn nhìn thấy Ngài nữa (18-19).  Chữ mồ côi gợi ý đến những người không được ai chăm sóc giúp đỡ.  Một lần nữa như trong câu 3, đề cập mơ hồ về sự hiện đến (Ta sẽ đến cùng các ngươi).  Mặc dù có thể xem chi tiết này là sự đề cập đến lễ Ngũ Tuần (vì có nói đến Thánh Linh) nhưng sẽ hợp lý hơn nếu hiểu đây là sự hiện đến của Chúa phục sinh.  Vì Thánh Linh được ban cho khi Chúa Giê-xu được vinh hiển, rõ ràng là có một mối quan hệ gần gũi giữa hai cách hiểu.  Điều này được hỗ trợ thêm qua việc đề cập đến sự sống trong câu 19.  Một hệ quả khác nữa là sự được đề cập trong câu 20, vốn chỉ có thể đến qua công tác của Đức Thánh Linh.  Về mối liên hệ giữa tình yêu và sự vâng phục, (c.15).  Sự bày tỏ của Cha được dẫn truyền qua tình yêu của Đấng Christ dành cho chúng ta (21).

Tại thời điểm này Giu-đe (không phải là Ích-ca-ri-ốt) nhận ra một vấn đề.  Tại sao tình yêu của Chúa Giê-xu không mở rộng ra cho thế gian? Để trả lời, Chúa Giê-xu một lần nữa thu hút sự chú ý vào động cơ của tình yêu (23-24), như thể Ngài từ chối không để bị câu hỏi của Giu-đe làm sai lệch.  Tuy nhiên, đó lại là một câu trả lời đúng, bởi vì hễ nơi nào có người tin thì nơi đó có Cha và Con ở với họ, trong khi việc này không xảy ra với những kẻ từ chối vâng theo sự dạy dỗ (24).  Câu phát biểu kế tiếp về Đức Thánh Linh (26) giải thích cách nào sau này các môn đồ sẽ nhớ lại sự dạy dỗ ấy.  Họ đã nghe sự dạy dỗ trong khi Chúa Giê-xu còn ở với họ họ cũng sẽ được giúp đỡ để nhớ lại sự dạy dỗ ấy khi Chúa Giê-xu đã rời khỏi họ.  Lời nói này rất quan trọng trong việc giữ gìn truyền thống sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu.  Bất kỳ quan điểm nào về nguồn gốc Phúc Âm mà không quan tâm đến sự giúp đỡ của Đức Thánh Linh trong việc giữ gìn và soi rọi vào tâm trí của tác giả điều mà Đức Thánh Linh muốn ghi lại phải được xem là không phù hợp.  Lời hứa ban bình an (27) hoàn toàn phù hợp với câu mở đầu của Giăng 14 nhưng ở đây nó phải được xem là một lời chào từ biệt vốn sẽ tạo nên một ý nghĩa mới sẽ đến sau sự sống lại (Gi 20:19,21,26).  Một yếu tố sở hữu được thể hiện mạnh mẽ trong ngữ cảnh này Chúa Giê-xu nói về “sự bình an của ta” (27).  Đó là một sự bình an đã được đặt vào thử nghiệm.  Sự bình an này khác một cách căn bản so với sự bình an mà thế gian cho.  Phao-lô đã đề cập đến khái niệm này khi ông nói đến “sự bình an của Đức Chúa Trời Vượt Quá mọi sự hiểu biết” (Phi 4:7).

Đoạn kết (28-31) chứa đựng một lời quở trách nhẹ nhàng.  Nếu các môn đồ thật sự yêu mến Chúa Giê-xu, họ sẽ phải vui mừng rằng chức vụ của Ngài đang ở vào lúc sắp được hoàn thành.  Những lời ta đi đến cùng Cha cung cấp một lời giải.  Nếu họ nhận ra điều này họ đã không bị bối rối, vì việc trở về cùng Cha có nghĩa là hoàn tất sứ mạng của Chúa Giê-xu.  Nhưng tại sao trong bối cảnh này Chúa Giê-xu lại nói Cha tôn trọng hơn ta? Chúng ta không được tách ý này ra khỏi ngữ cảnh, mà phải xem nó dựa vào việc Chúa Giê-xu trở về cùng Cha.  Địa vị hiện tại trên đất của Ngài  kém hơn địa vị vinh quang trên trời của Đức Chúa Trời Chấp nhận một địa vị thấp kém hơn chính là một phần của sứ mạng Chúa Giê-xu.  Nhưng những lời này cũng phải được hiểu qua những lời khẳng định lặp đi lặp lại của Chúa Giê-xu rằng Ngài làm theo ý muốn của Cha.  Câu này phải được so sánh với Gi 10:30.  Câu 29 tương đương với 13:19 chỗ mà một lần nữa mục đích là để khích lệ các môn đồ về đức tin.

Vua chúa thế gian (30) được xem là tác nhân tích cực trong sự đau đớn và sự chết đang đến (tuy vậy, xem 12:31 về sự thất bại được báo trước của nó).  Chúa Giê-xu ý thức sâu sắc các thế lực hùng mạnh dàn trận chống lại Ngài.  Thế nhưng Ngài biết ma quỉ chẳng chi hết nơi Ngài, nó không thể thay đổi kế hoạch của Đức Chúa Trời.  Một phần mục tiêu của sứ mạng Chúa Giê-xu là dạy thế gian biết về tình yêu Ngài đối với Cha (31).  Thật khó cho các môn đồ có thể hiểu rằng điều này chỉ có thể được hoàn thành qua thập tự giá.  Câu kết (31) có phần khó hiểu, vì nó có vẻ như là phần kết của bài nói chuyện tại phòng cao.  Có thể xem phần còn lại của bài nói chuyện  diễn ra ở ngoài trời, mặc dù trong 18:1 Chúa Giê-xu được nói là đã đi cùng các môn đồ.  Cũng cần thiết phải giả sử rằng chương 15-17 được giảng dạy trên đường đi đến thung lũng Kít-rôn.  Một số người đã giả sử rằng chương 14 phải đi tiếp theo chương 17, nhưng không có bằng chứng cụ thể cho sự sắp xếp như thế.  Một cách khác nữa cho rằng 14:31 ám chỉ đến một ý định đã được hoàn thành vào một thời gian nào đó sau này.  Nhìn chung, gợi ý thứ nhất ít gặp phải những phản bác nhất. 

3. Ẩn dụ về cây nho (Gi 15:1-17)

Trong chuyện kể, không rõ Chúa Giê-xu giảng dạy những điều này tại đâu và vào lúc nào.  Nếu như 14:31 cho biết thời điểm Chúa Giê-xu và các môn đồ rời khỏi phòng cao, thì có thể rằng Chúa Giê-xu và các môn đồ đang đi qua một cây nho, mà sau đó được dùng như một hình ảnh minh hoạ thuộc linh.  Ta gốc nho (1) là câu cuối cùng của những câu nói “Ta là” trong Phúc Âm Giăng.  Ý nghĩa của nó có thể được thừa nhận trên nền tảng của ý tưởng về Y-sơ-ra-ên là một cây nho hoặc vườn nho trong Cựu Ước (Thi 80:8-16  Es 5:1-7  Exe 15:1-6  19:10-14).  Chúa Giê-xu là gốc nho thật theo ý nghĩa chân chính khi so sánh với Y-sơ-ra-ên là dân đã không hành động đúng với danh xưng của nó.  Người trồng nho, được định nghĩa là Cha, có trách nhiệm chăm sóc cây nho.  Hình ảnh thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa Chúa Giê-xu và Cha.  Vì mục đích của cây nho là sinh trái, nên sự chăm sóc chủ yếu chú trọng vào các nhánh và những gì cần làm để bảo đảm cây nho sẽ sinh nhiều trái (2).  Tỉa cành là việc làm quan trọng nhất để duy trì sự sai trái của cây nho.  Nhánh nào hoàn toàn không sinh trái thì không xứng đáng có một chỗ trong cây nho và phải bị chặt đi, trong khi đó những nhánh yếu có thể được làm cho mạnh lên nhờ chịu sự tỉa sửa.  Trong các môn đồ, Giu-đa bị bỏ đi trong khi những người khác phải chịu “tỉa sửa” trước khi có thể sinh trái sau ngày lễ Ngũ Tuần.  Vì Chúa Giê-xu nói về lời Ngài là một phương tiện tỉa sửa, Ngài có thể đã nói như thể các môn đồ đã bị tỉa sửa rồi (3), dù quá trình này còn khá lâu mới được hoàn tất.

Vì các nhánh nếu không dính vào gốc thì không có cơ hội sinh trái, nên đó là mệnh lệnh cho các môn đồ phải cứ trong ta (4).  Mục đích chính của ẩn dụ về cây nho là để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc họ phụ thuộc vào Ngài.  Câu 5 nhấn mạnh rằng nếu các môn đồ ra khỏi Chúa Giê-xu, họ sẽ không có được sự giúp đỡ nào cả.  Hành động “ném ra ngoài” trong câu 6 là phần phụ của hành động tỉa sử trong câu 2.  Ở đây không cần phải xem lửa là một cái gì khác hơn là một chi tiết sinh động của ngụ ngôn.  Các nhánh này, vốn cần được cắt tỉa, được định cho lửa.  Ứng dụng của minh hoạ này được thể hiện trong câu 7, là câu thể hiện rõ nét mối liên hệ mật thiết giữa việc cứ ở trong gốc nho và sự cầu nguyện.  Những ai dính liền với gốc nho sẽ không muốn cầu xin điều gì không phù hợp với bản thân gốc nho.  Đoạn văn này kết thúc (8) bằng một sự nhấn mạnh thêm vào sự cần thiết phải sinh trái.  Bản thân hành động này không phải là điểm kết thúc mà có nghĩa là đem vinh quang về cho Cha.

Đoạn văn thứ hai của phần này phát triển một số chủ đề của đoạn văn đầu, đặc biệt là mối quan hệ gần gũi giữa Chúa Giê-xu và môn đồ Ngài.  Trước tiên, tình yêu của Cha đối với Con là kiểu mẫu cho tình yêu của Con đối với các môn đồ mình (9).  Kế đến, sự vâng phục của Con đối với Cha là kiểu mẫu cho sự vâng phục của môn đồ đối với Con (10).  Thứ ba, sự cần thiết phải trong sự yêu thương ta được lặp lại ba lần trong câu 9-10.  Thứ tư, sự vui mừng của Con là cơ sở cho sự vui mừng của các môn đồ (11).  Đồng thời ở đây cũng bày tỏ một sự cảm động thấm thía đặc biệt vì sự đau đớn và sự chết đang đến gần (He 12:2).

Kế đến Chúa Giê-xu tập trung vào sức mạnh của tình yêu.  Đây hẳn là mối quan hệ hỗ tương (12) và một lần nữa, kiểu mẫu cũng chính là tình yêu của Chúa Giê-xu dành cho các môn đồ.Việc chính Chúa Giê-xu đang nghĩ đến sự đau đớn và sự chết đang đến của Ngài được thấy trong câu nói tình yêu lớn hơn trong câu 13-14, vì Ngài sắp hy sinh mạng sống mình cho bạn mình, một hành động hy sinh mà các môn đồ chưa thể hiểu được.  Sự thay đổi trong mối quan hệ từ đầy tớ sang bạn hữu là điều có ý nghĩa.  Sự khác nhau không phải ở việc thay đổi thái độ vì cả hai mối quan hệ đều có sự vâng phục (14) mà chính trong sự tương giao.  Trong khi tôi tớ vâng phục một cách mù quáng, thì bạn hữu lại cần đến một sự tin tưởng (15).  Mặc dù câu phát biểu “ ta từng tỏ cho các ngươi biết mọi điều ta đã nghe nơi Cha ta” có vẻ như là một hành động đã được hoàn tất, thế nhưng sự bày tỏ sẽ không được hiểu đầy đủ mãi cho đến khi Chúa Giê-xu chết và sống lại (Gi 16:12).  Thánh Linh sẽ là Đấng giải thích.  Ít ra các môn đồ cũng phải nhận ra họ đã được ân huệ đặc biệt, và Chúa Giê-xu nhắc họ rằng Ngài đã chọn họ, chứ không phải họ chọn Ngài.  Tuy nhiên, mục đích của việc chọn lựa này là để sinh ra bông trái, và có lẽ trong ngữ cảnh này là việc đem người khác về với Đấng Christ.  Lời hứa rằng Cha sẽ đáp lời cầu nguyện là kết quả của việc chọn lựa chứ không phải của việc sinh trái.  Câu 17 nhấn mạnh câu 12.  Có thể rất lạ nếu nghĩ rằng tình yêu là một mệnh lệnh nhưng ý tưởng này hoàn toàn nổi bật trong đoạn Kinh Thánh này.

4. Các lời dạy khác cho môn đồ (Gi 15:18-16:33)

(Gi 15:18-16:3) Lòng ghen ghét của thế gian  Chúa Giê-xu nói về sức mạnh của tình yêu.  Sau đó, Ngài chuyển ý sang sức mạnh của lòng ghen ghét, và cảnh báo các môn đồ về sự chống nghịch đang đến từ phía thế gian.  Thế gian ở đây, như xuyên suốt Phúc Âm này, là trật tự đạo đức nằm ngoài Đức Chúa Trời.  Có một vực sâu giữa tình yêu của thế gian đối với những gì thuộc về nó và lòng ghen ghét của nó đối với những gì thuộc về Chúa Giê-xu (18-19).  Nguyên tắc áp dụng ở đây là cái gì cùng loại với nhau thì thích nhau và đẩy ra những gì ngược lại với nó.  Chúa Giê-xu nêu ra một lý do thuộc linh cho lòng ghen ghét của thế gian.  Vì Ngài đã chọn các môn đồ nên họ đã trở nên khả nghi trong con mắt của thế gian.  Trong câu 20 Chúa Giê-xu nhắc các môn đồ về một lời phán của Ngài trước đây (Gi 13:16).  Đầy tớ không thể mong một sự đối xử tốt hơn chủ mình.  Trước đây lời dạy này liên hệ đến sự cần thiết phải hạ mình, nhưng ở đây lại liên quan đến cách mà thế gian sẽ đối xử với các môn đồ.  Mệnh đề “nếu” thứ hai (bằng họ đã giữ lời ta) nêu ra một điều kiện không được hoàn thành vì vậy các môn đồ không thể mong thế gian vâng lời họ.  Thế nhưng nếu lời phán dạy vẫn có nghĩa là vì một số người sẽ vâng theo lời dạy của Chúa Giê-xu, họ cũng sẽ vâng lời các môn đồ, nên tránh kết luận rằng sẽ không có một người nào trong thế gian đáp lại các môn đồ. 

Sự bắt bớ bắt nguồn từ việc không biết (21), không nhận ra rằng Chúa Giê-xu đang thực hiện công việc của Cha.  Thế nhưng không có sự chữa chối nào cho thái độ này cả (22).  Sự đến của Chúa Giê-xu đã ném trên người nghe Ngài một trách nhiệm đạo đức.  Dĩ nhiên, tội lỗi tồn tại trước khi Chúa Giê-xu đến, nhưng tội không nhận ra mục đích của Cha trong sứ mạng của Con đã gây nên tội lỗi.  Nhiều người từ chối thừa nhận sự bày tỏ đầy đủ về Đức Chúa Trời.  Câu 24 trở lại với chủ đề về sự ghen ghét và sau đó nêu ra tội xem thường tính có một không hai của các “phép lạ” của Chúa Giê-xu.  Thật vậy, Chúa Giê-xu bày tỏ một cách mạnh mẽ sự chối bỏ của họ trong khía cạnh ghen ghét (24).  Kinh Thánh (Thi 25:19 69:4) được trích dẫn để hỗ trợ cho cách hiểu này.

Có một mối liên hệ mật thiết giữa việc đề cập đến Đức Thánh Linh và mạch văn trước đó.  Chúa Giê-xu muốn tái khẳng định với các môn đồ rằng Đức Thánh Linh sẽ làm chứng cho họ khi họ làm chứng cho Chúa Giê-xu (26-27).  Yếu tố quan trọng nhất của lời tuyên bố ở đây là Đức Thánh Linh ra từ Cha.  Phải hiểu điều này trong bối cảnh của sứ mạng của Chúa Giê-xu hơn là hiểu nó như một sự xuất phát bề ngoài theo cách các giáo phụ Hi Lạp đã hiểu.  Dựa vào câu 27 rõ ràng ta thấy vai trò được hứa này của Đức Thánh Linh là trước hết và trên hết đối với các môn đồ.  Họ đã ở với Chúa Giê-xu và có trách nhiệm làm nhân chứng trực tiếp cho các sự kiện lịch sử.  Nhưng lời hứa ấy có một phạm vi áp dụng rộng hơn ở bất cứ nơi nào lời chứng của Cơ Đốc nhân được rao truyền.

Sự bắt bớ sắp đến (Gi 16:1-4) được đề cập cụ thể hơn ở đây và lời cảnh báo được đưa ra để chuẩn bị các sứ đồ cho những sự kiện sắp đến.  Động từ được dịch vấp phạm (1) hiểu theo nghĩa đen có nghĩa là “đối mặt với một sự ngăn trở”, chính là sự chống đối của người Do Thái.  Đuổi ra khỏi nhà hội (2) nói đến sự dứt phép thông công, một điều mà tất cả mọi người Do Thái ngoan đạo đều kinh khiếp vì nó có nghĩa là bị dứt bỏ khỏi quyền thừa kế được mong ước.  Đây là một mối đe doạ mà tất cả các tín hữu Cơ Đốc đầu tiên người Do Thái đều đến lúc phải gặp.  Lòng tin rằng sự bắt bớ của Cơ Đốc nhân được xem là hầu việc Đức Chúa Trời được minh hoạ một cách sinh động trong trường hợp của Phao-lô (Cong 9:1-2  26:9-11).  Hành động mâu thuẫn của một thái độ như thế căn bản là do không biết Cha cũng không biết Con (3).  Thật sự trong suy nghĩ họ có một sai lầm nghiêm trọng và họ đã tự lừa dối mình.  Điểm khác biệt trong câu 4 giữa sự bày tỏ trước đây và sau này của Chúa Giê-xu về sự bắt bớ đang đến gần được liên kết với sự đến của Đức Thánh Linh.  Đó là giờ được đề cập ở đây.

(Gi 16:1-3) xem giải nghĩa Gi 15:18-16:3

(Gi 16:4-15) Công tác của Đức Thánh Linh  Có vẻ như có một sự mâu thuẫn giữa câu 5 và 13:36  14:5, vì trong trường hợp thứ hai Phi-e-rơ và Thô-ma đã hỏi Chúa Giê-xu sẽ đi đâu.  Tuy nhiên, chúng ta hãy xem xét các tình huống khác nhau.  Ở đây Chúa Giê-xu quan tâm đến việc hoàn thành sứ mạng của Ngài và các môn đồ cũng chưa có sự hiểu biết thấu đáo để hỏi về điều này.  Cả Phi-e-rơ lẫn Thô-ma trước đây đều không hiểu được ý nghĩa câu hỏi của mình, bây giờ các môn đồ lại càng ngỡ ngàng hơn trước sự bày tỏ thêm nữa của Chúa Giê-xu.  Chúa Giê-xu nhận xét rằng họ chứa chan sự phiền não (6).  Để làm dịu bớt sự phiền não này Chúa Giê-xu bảo đảm với họ rằng việc Ngài đi sẽ là điều ích lợi cho họ.  Một lần nữa câu trả lời nằm trong sự hiện đến đã hứa của Đức Thánh Linh: đây là câu nói thứ tư về Đấng An Ủi và ở đây có một mối quan hệ mật thiết giữa Chúa Giê-xu và Đức Thánh Linh (7).  Điều ám chỉ trước hết là về sự hiện đến của Đức Thánh Linh trong ngày lễ Ngũ Tuần vốn là hệ quả đến sau của sự thương khó, sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu.  Hành động của Đức Thánh Linh sẽ là khiến thế gian tự cáo.  Vì từ ngữ Hi Lạp có một giới từ theo sau, nên nghĩa “đối với” theo sau cả ba chủ đề khác nhau cũng như hành động khiến cho (thế gian) tự cáo cũng liên quan đến cả ba (8).  Chủ đề thứ nhất, tội lỗi, không khó bằng hai chủ đề kia.  Ý nghĩa phải là Đức Thánh Linh khiến thế gian tự cáo về tội lỗi, sự công bình và sự phán xét của nó.  Thế gian không có sự hiểu biết thật nào về bản chất tội lỗi, nhưng Đức Thánh Linh sẽ chứng minh cho mọi người thấy rằng họ là những kẻ có tội vì họ không tin Đấng Christ (9).  Đức Thánh Linh cũng khiến thế gian tự cáo về sự công bình (10), một ý tưởng bất ngờ cho đến khi người ta nhận ra rằng ý tưởng của thế gian về sự công bình thật sự rất khác với ý tưởng của Đức Chúa Trời.  Chỉ khi nào thế gian được cáo trách về sự giả dối của sự công bình của nó thì nó mới thừa nhận sự công bình của Đấng Christ, là sự công bình đã được bào chữa bởi sự tôn cao của Ngài.  Hành động thứ ba của Đức Thánh Linh là khiến thế gian tự cáo về sự phán xét (11).  Một lần nữa sự phán xét của thế gian hoàn toàn sai, và được căn cứ trên những nguyên tắc của vua chúa thế gian này, nhưng vì vua chúa thế gian bị định tội nên việc này phơi bày cách thức đoán xét của thế gian.  Thế gian cũng bị định tội ngang bằng với vua chúa của nó.

Lời nói thứ năm về Đấng An Ủi, vốn trực tiếp đi theo sau lời nói thứ ba tập trung vào chức năng bày tỏ của Đức Thánh Linh.  Mọi lẽ thật trong câu 13 là sự bày tỏ hoàn toàn qua Chúa Giê-xu.  Đức Thánh Linh chỉ hướng dẫn phù hợp với bản tính Ngài, nghĩa là lẽ thật.  Đại từ giống đực ở đây được dùng để nêu ra nhân cách của Đức Thánh Linh là Đấng hướng dẫn.  Hơn nữa Ngài không nói bằng quyền năng của mình mà chỉ nói những điều Ngài đã nghe, một ngụ ý rõ ràng đến sự liên hệ gần gũi giữa Đức Thánh Linh và Đấng sai Ngài đến.  Những sự sẽ đến là những sự gì? Không chắc rằng Chúa Giê-xu đang nghĩ đến các sự việc tương lai xa.  Có thể xem đây là một lời bóng gió về sự bày tỏ đầy đủ hơn sẽ được ban cho sau khi Đức Thánh Linh được đổ xuống.  Công việc của Đức Thánh Linh là làm vinh hiển Đấng Christ (14) một sự hiểu biết quan trọng về công tác của Ngài vốn loại bỏ bất kỳ sự tôn vinh nào dành cho Đức Thánh Linh.  Điều này được nhấn mạnh trong câu 15 và được minh hoạ đầy đủ trong Phúc Âm này. 

(Gi 16:16-24) Sự buồn rầu biến thành sự vui mừng  Câu 16 ẩn chứa lời nói bóng gió đã được nêu trong 13:33 rằng còn ít lâu vốn sẽ có một kết cục căn bản.  Vì ở đây có đến hai lần đề cập đến cụm từ còn ít lâu, nên tốt nhất chúng ta phải nghĩ về sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu.  Sự bối rối ngỡ ngàng của các môn dồ trong câu 17-18 là điều có thể hiểu được, mặc dù không rõ tại sao họ không trực tiếp đặt câu hỏi với Chúa Giê-xu.  Khi Chúa Giê-xu đáp lại sự bối rối không thể tỏ bày của các môn đồ (19), một lần nữa Ngài cũng sử dụng cụm từ còn ít lâu.  Nhận xét của Giăng về sự thiếu hiểu biết của các môn đồ cho thấy ông hiểu rất rõ cách nghĩ của họ vào lúc ấy.  Khi đáp lại sự bối rối của các môn đồ, Chúa Giê-xu một lần nữa nhắc họ về sự buồn rầu sắp đến (20), nhưng chỉ là để thêm lời hứa về sự vui mừng sẽ theo sau.  Có một sự tương phản sinh động giữa sự vui mừng của thế gian và sự vui mừng của các môn đồ.  Sự chuyển biến từ buồn rầu sang vui mừng được minh hoạ bằng ẩn dụ về sự sinh con.  Một điểm chung ở đây là những nỗi đau đớn sẽ được quên đi một khi thấy đứa con sinh ra (21).  Nguyên tắc tương tự của việc chuyển sự đau đớn thành niềm vui được áp dụng cho các môn đồ (22).  Đặc điểm chính của niềm vui ấy sẽ là sự bảo đảm của nó.  Niềm vui ấy sẽ lâu bền đến nỗi không có sự chống nghịch nào có thể tiêu diệt được.  Trong ngày đó (23) đề cập đến thời gian khi mà những lời ám chỉ về sự sống lại đã được trở nên rõ ràng trong họ, trong trường hợp đó những thắc mắc, chẳng hạn như ý nghĩa của những lời tuyên bố khó hiểu của Chúa Giê-xu về sự ra đi của Ngài sẽ không còn cần thiết nữa.  Một quá trình khác cũng có sự thay đổi đó là họ sẽ được gắn vào Cha (23).  Tầm quan trọng của việc đề cập đến sự cầu nguyện này được nhận thấy qua cách dùng công thức quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi.  Lời cầu nguyện trở nên sinh động hơn sau khi Chúa Giê-xu ra đi và cũng được xem là một cách bảo đảm sự vui mừng trọn vẹn thường xuyên (24).  Ở đây điều này cũng cho thấy là cho đến lúc này các môn đồ vẫn chưa nói với Cha trong danh Chúa Giê-xu như họ sẽ học biết sau khi Chúa Giê-xu sống lại.

(Gi 16:25-33) Sự hoang mang bối rối biến thành đức tin  Chữ được dịch dùng dụ nói trong câu 25 đã được sử dụng trong 10:6 để mô tả minh họa  về chuồng chiên.  Có một sự liên hệ hơn là mâu thuẫn giữa việc Chúa Giê-xu giảng bằng các câu chuyện ngụ ngôn (thí dụ) với đám đông Ga-li-lê, việc Ngài giảng bằng ngôn ngữ thông thường với các môn đồ (Mac 4:33-34) với việc Ngài sử dụng ngôn ngữ khó hiểu trước khi chịu đau đớn, chịu chết và sống lại cũng như sự mặc khải rõ ràng hơn sau đó.  Ngôn ngữ phải được pha trộn theo khả năng của người nghe.  Giờ đến đề cập đến ngày lễ Ngũ Tuần, mà sau đó Đức Thánh Linh sẽ nói rõ ràng với các môn đồ.  Ngôn từ trong câu 26-27 gợi ý rằng Chúa Giê-xu muốn các môn đồ biết rằng lời cầu nguyện nhân danh Ngài sẽ được đáp lời vì cớ tình yêu của Cha dành cho họ.  Với tình yêu ấy họ sẽ có thể đến trực tiếp với Cha.  Một điều rất đáng chú ý rằng tình yêu của các môn đồ đối với Chúa Giê-xu được nói là cơ sở của tình yêu của Cha.  Sự thật là tình yêu của họ đối với Đấng Christ và đức tin của họ nơi Ngài là một bằng chứng nổi bật của tình yêu của Đức Chúa Trời đối với họ.  Câu phát biểu ở đây bổ sung cho đoạn Kinh Thánh trong Gi 15:9-16.  Sứ mạng của Chúa Giê-xu và việc hoàn tất sứ mạng đó được diễn tả thật súc tích trong câu 28.

Phần kết luận trong chương này bày tỏ một trường hợp khác về sự hiểu biết không đầy đủ của các môn đồ.  Họ nghĩ rằng họ hiểu (29), nhưng Chúa Giê-xu một lần nữa khiến họ ý thức được rằng sắp tới họ sẽ không thể hỗ trợ cho Ngài.  Đức tin của các môn đồ chỉ dựa trên suy nghĩ của họ rằng những điều Chúa Giê-xu luôn luôn rõ ràng và Ngài không cần ai chất vấn Ngài cả.  Cơ sở này hoàn toàn không đủ, nhưng họ cũng đã có thể đi đến một kết luận đúng đắn, đó là Chúa Giê-xu đến từ Đức Chúa Trời (30).  Lời Chúa Giê-xu trong câu 31 Bây giờ các ngươi tin chăng? nên hiểu là “bây giờ các ngươi đã tin” nhưng giờ thử thách đang đến.  Câu 32 ắt hẳn là một cú sốc sau khi họ khẳng định thật tự tin đức tin của mình: họ sẽ lìa bỏ Chúa Giê-xu.  Thế nhưng Cha sẽ không lìa bỏ Ngài.  Bằng cách này Chúa Giê-xu dịu dàng khích lệ việc tuyên xưng đức tin của họ.  Tuy nhiên, Ngài nhìn xa hơn việc họ lìa bỏ Ngài để thấy được sự quay lại của họ, thấy được lúc họ sẽ tìm được sự bình an trong một thế gian thù địch qua sự chiến thắng của Đấng Christ trên thế gian ấy (33).

5. Lời cầu nguyện của Chúa Giê-xu (Gi 17:1-26)

(Gi 17:1-5) Chúa Giê-xu cầu nguyện cho chính Ngài  Những lời mở đầu trong câu 1 làm rõ rằng có một mối liên hệ mật thiết giữa lời cầu nguyện này và cuộc đàm luận trước đó.  Chủ đề chính của phần này trong bài cầu nguyện là sự vinh hiểnGiơ là thời gian chịu đau đớn, chết và sống lại, vốn là đường đi đến vinh quang.  Tiến trình của sự tôn vinh không được nói rõ.  Nhiều lần trong Phúc Âm này, thập tự giá được liên hệ với sự vinh quang.  Thế nhưng ở đây, sức đẩy chính là sự vinh hiển chung cả Cha và Con.  Ở phần trước trong Phúc Âm này đã đề cập đến quyền hành được Cha ban cho trong Con và quyền ấy được lặp lại ở đây (2).  Mục đích được nói là để ban sự sống đời đời cho những ai được ban cho Con.  Ở đây có một nghĩa rằng kết cục của sứ mạng này không thể thất bại vì nó ở trong tay Cha.  Ngụ ý của sự sống đời đời chính là Đức Chúa Trời và Đấng Christ có lẽ sẽ được biết đến (3).  Danh xưng Đức Chúa Trời một thật không thấy được ghi tại nơi khác trong Giăng và ở đây danh hiệu này là nhằm để đối chiếu với các thần tượng giả dối đương thời.  Đây là lần duy nhất mà Chúa Giê-xu được đề cập đến với danh xưng là Giê-xu Christ.  Câu 4-5 nói về chủ đề sự vinh hiển.  Một câu hỏi được đưa ra là có phải Chúa Giê-xu đang nghĩ đến sự vinh quang sẽ đến qua thập tự giá hay không, dù việc này chưa xảy ra khi Ngài nói Con đã tôn vinh Cha.  Vì Ngài đang nghĩ nhiều đến giờ thích hợp, nên tất cả những gì liên quan ắt phải được bao gồm trong lời phát biểu hiện tại.  Sứ mạng chỉ được hoàn tất sau khi sự thương khó và sự chết đã xảy ra.  Những lời sự vinh hiển Con vốn nơi Cha trước khi chưa thế gian (5) ắt phải nêu ra sự tồn tại từ trước của Con và thực tế về sự nhập thể.  Chúa Giê-xu sẽ trở về với Cha, vì Ngài thuộc về nơi đó.

(Gi 17:6-19) Chúa Giê-xu cầu nguyện cho các môn đồ  Chủ đề đầu tiên của phần này trong bài cầu nguyện là sự bày tỏ của Chúa Giê-xu cho các môn đồ.  Những lời Con đã tỏ tóm tắt toàn bộ chức vụ của Chúa Giê-xu, và đối tượng của sự bày tỏ trong tiếng Hi Lạp là “Danh Cha”.  Về sự lặp lại của “Danh Cha” trong câu 12, tốt hơn là nên giữ khái niệm tên, tuy thừa nhận rằng tên cũng bao gồm cả bản tính.  Ở đây có lẽ đúng nhất nên nghĩ rằng tên chính là danh của Cha.  Câu 6 gợi ý rằng các môn đồ đã thuộc về Cha trước khi Chúa Giê-xu chọn họ.  Lưu ý rằng sự vâng phục ở đây là một đặc trưng của những người được chọn.  Câu 7 là một cách diễn đạt khá lạ (mọi sự Cha đã giao cho Con đều từ Cha đến) nhưng nó nhấn mạnh mục đích tối thượng của Đức Chúa Trời.  Câu 8 triển khai thêm ý tưởng này cũng như nói về sự nhận biết đưa đến đức tin.  Dĩ nhiên, đức tin ấy cho đến bây giờ là đức tin non trẻ nhưng Chúa Giê-xu nhìn thấy xa hơn sự phát triển của đức tin đó.  Khi Chúa Giê-xu nói rõ Con chẳng phải thế gian cầu nguyện (9), Ngài đặt điều này trên việc Cha đã không ban thế gian cho Ngài.  Sự tương phản đối lập giữa dân Ngài và thế gian là một chủ đề nổi bật trong Phúc Âm này.  Ý tưởng về sự ban cho và sự sở hữu được nhấn mạnh thêm trong câu 10, cũng như là chủ đề về sự vinh quang được chuyển tải từ phần mở đầu của lời cầu nguyện.  Phải thừa nhận rằng Chúa Giê-xu đã nhận được rất ít vinh quang từ các môn đồ cho đến bây giờ, nhưng một lần nữa dường như Ngài đang dự liệu suy nghĩ của mình về tương lai.

Phần tiếp là lời cầu nguyện cụ thể cho sự bảo vệ các môn đồ (11-12).  Lời Chúa Giê-xu xưng Đức Chúa Trời là Cha thánh, là điều có một không hai trong bối cảnh này.  Lời cầu nguyện xin bảo vệ trong danh Cha là một cố gắng diễn tả hiệu lực trong tiếng Hi Lạp (en, trong).  Trong sự vay mượn này là chính đáng, cách hiểu tự nhiên hơn của en ở đây là “trong”, theo nghĩa của các môn đồ là “trong Cha”, nghĩa là theo tính cách của Đức Chúa Trời.

Lời cầu nguyện xin sự hiệp một đặt ra một tiêu chuẩn cao, không khác gì sự hiệp một giữa Đức Chúa Trời và Chúa Giê-xu.  Việc phải chú ý đến sự hiệp một thật sự chỉ có thể có trong danh ấy, nghĩa là phù hợp với mục đích của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ là điều rất quan trọng.  Sau khi cầu nguyện với Cha xin bảo vệ các môn đồ, Chúa Giê-xu tuyên bố rằng Ngài đã bảo vệ họ (12).  Lời cầu nguyện của Chúa Giê-xu ở đây có vẻ như Ngài đang giao lại công việc này cho Đức Chúa Trời.  Ngoại trừ Giu-đa ở đây bị gọi là đứa con của sự mất.  Từ ngữ này một lần nữa được ghi trong IITe 2:3 về “con của sự hư mất”.  Trong tiếng Hi Lạp có sự chơi chữ với chữ “hư mất” là apơleto (lầm lạc, hư mất) và apơleias (diệt vong), nêu ra sự tương phản giữa Giu-đa và các môn đồ khác.  Sự đề cập đến Kinh Thánh trong câu 12 có lẽ là ám chỉ đến Thi 41:9. 

Trong từ ngữ đầy dẫy sự vui mừng của con, từ sở hữu “của con” được nhấn mạnh.  Không thể tưởng tượng được cảnh tượng nào lớn hơn.  Trong những câu này (13-18), có một sự tương phản mạnh mẽ khác giữa các môn đồ của thế gian.  Ngoài ra còn một sự tương phản khác giữa không thuộc về thế gian (14, 16) và khỏi thế gian (15).  Gánh nặng của lời cầu nguyện là để bảo vệ họ khỏi điều ác.  Hai lần Chúa Giê-xu đề cập đến lời Cha (14, 17) như một sức mạnh quyền năng.  Thứ nhất, như là phương tiện làm dấy lên sự ghen ghét của thế gian thứ hai, như là phương tiện của sự thánh hoá.  Lời ở đây tóm tắt toàn bộ thông điệp của Đức Chúa Trời trong sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu, mà các môn đồ phải rao truyền cho thế gian.  Câu 19 nói về sự dâng hiến của Chúa Giê-xu cho sứ mạng này để đạt được sự thánh hoá các môn đồ.  Họ sẽ nhận được sức mạnh qua gương của Ngài.

(Gi 17:20-26) Chúa Giê-xu cầu nguyện cho Hội Thánh  Cho đến nay Chúa Giê-xu đã tập trung vào những kẻ Ngài dạy dỗ, nhưng rồi Ngài chuyển sang những kẻ sẽ tin qua lời chứng của các môn đồ (20).  Ngài không phân biệt những kẻ đã nghe Ngài trực tiếp giảng dạy với những kẻ sẽ nghe Ngài qua người khác.  Đối với cả hai đối tượng, lời cầu nguyện dành cho sự hiệp một.  Một lần nữa kiểu mẫu cho sự hiệp một là mối quan hệ giữa Cha và Con (21), với nền tảng là luôn ở trong Cha và Con, và mục đích là để truyền giáo (21,23).  Chu trình ở đây là đức tin dẫn đến sự hiệp một, và sự hiệp một lại dẫn người khác đến đức tin.  Một yếu tố khác về chủ đề hiệp một là sự vinh hiển một chủ đề được phản ảnh từ những lời đầu tiên của bài cầu nguyện này.  Điều gợi ý là sự vinh quang của Đấng Christ đưa đến đức tin, không những sự hiệp một phải trọn vẹn, mà nó còn phải được tỏ ra cho thế gian.  Nếu chúng ta tạm dừng đôi chút để suy nghĩ đến lịch sử về sự thiếu hiệp một của Hội Thánh, chúng ta có thể dễ dàng thấy chúng ta đã thiếu sót như thế nào đối với những tiêu chuẩn của Chúa Giê-xu.

Chúa Giê-xu phát triển chủ đề về sự vinh hiển (24), liên hệ nó với tình yêu của Cha đối với Ngài trước khi sáng thế, một sự phản ánh chủ đề về sự tiền hữu đã gặp trong câu 5.  Những câu kết (24-26) tiếp tục từ câu 24 nhưng cũng hình thành một tuyệt điểm thích hợp cho toàn bộ bài cầu nguyện.  Việc xưng Đức Chúa Trời là Cha công bình nhấn mạnh sự công bình trong quan điểm của Ngài về thế gian.  Một lần nữa chúng ta nhận thấy một sự tương phản mạnh mẽ giữa thế gian và các môn đồ.  Tình yêu thương của Cha dùng yêu thương Con trong họ có nghĩa là họ có thể phản chiếu tình yêu của Cha bằng tình yêu của họ đối với Chúa Giê-xu và đối với kẻ khác.  Bài cầu nguyện như thế được kết thúc với lời cầu xin Đấng Christ ở trong họ.

11. NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ SỰ ĐAU ĐỚN, SỰ CHẾT VÀ SỰ SỐNG LẠI (Gi 18:1-21:25)

1. Sự phản bội (Gi 18:1-11)

Tuy có những điểm chắc chắn về sự giống nhau giữa chuyện kể của Giăng và các Phúc Âm cộng quan, nhưng ghi chép này về sự phản bội hoàn toàn đặc biệt riêng đối với Giăng.  Chỉ có Giăng nêu tên thung lũng nơi mà khu vườn tọa  lạc, trong khi các Phúc Âm Cộng Quan chỉ cho chúng ta biết khu vườn được gọi là Ghết-sê-ma-nê.  Mặc dù Giăng không ghi lại cơn thống khổ trong vườn, nhưng ông biết về nó (c.11).  Lời nhận xét của ông rằng Giu-đa biết khu vườn ấy vì các môn đồ thường gặp Chúa Giê-xu tại đó có vẻ là một sự chứng kiến tận mắt.  Mục tiêu của nhóm lính (3) hẳn là để duy trì trật tự, để hỗ trợ cho toán lính canh đền thờ.  Chúa Giê-xu không chờ Giu-đa chỉ ra Ngài, nhưng Ngài bước tới và xưng mình cùng những người lính (4).  “Ta là” trong câu 5 không mang ý nghĩa như các lời tuyên bố “Ta là” trước đây, mặc dù việc những kẻ hỏi thối lui và té xuống (6) gợi ý rằng họ trở nên sợ hãi không chỉ bởi một sự tự xưng đơn thuần.  Tuy nhiên, sự choáng váng của họ chỉ là tạm thời, và không có sự nhận biết về tính cách bất thường của Chúa Giê-xu trong sự kiện đang xảy ra.  Lời đề nghị của Chúa Giê-xu  hãy để cho các môn đồ đi (8) chỉ được thấy có ghi trong Giăng.  Câu 9 được xem là một sự hoàn thành lời tuyên bố của Chúa Giê-xu trong Gi 17:12.  Thật ngạc nhiên là Phi-e-rơ đang mang theo một thanh gươm (10).  Có thể đó chỉ là một loại dao găm.  Hành động chém đứt vành tai người đầy tớ rõ ràng là một sự liều lĩnh, can đảm đó nhưng vô nghĩa.  Chỉ có Giăng là nêu tên của đứa đầy tớ.  Việc đề cập đến chén (11) có vẻ như là một lời ám chỉ rõ ràng đến kinh nghiệm tại Ghết-sê-ma-nê được các Phúc Âm Cộng Quan  ghi lại (Mat 26:39-40).  Phi-e-rơ đã không hiểu quyết tâm đi hết sứ mạng của mình của Chúa.

2. Cuộc xét xử (Gi 18:12-19:16)

(Gi 18:12-27) Cuộc xét xử của người Do Thái  Điều chính trong câu chuyện về sự bắt bớ này nằm trong việc đề cập đến Cai-phe là thầy cả thượng phẩm đương niên (13) và việc Giăng nhắc về một sự việc trước đây có liên quan đến Cai-phe (Gi 11:49-51).  An-ne, ông gia của Cai-phe, trước đây đã tổ chức cuộc họp các thầy tế lễ thượng phẩm và vẫn còn có một ảnh hưởng đáng kể.  Chỉ có phản ứng của hai môn đồ được nêu tên đó là Si-môn Phi-e- với một môn đồ khác (15).  Môn đồ khác ở đây rất có thể là Giăng, mặc dù sự quen biết của ông với thầy cả thượng phẩm là điều khó giải thích.  Chính là qua môn đồ này mà Phi-e-rơ có thể vào được toà án.  Trong chuyện kể của Giăng, việc Phi-e-rơ chối Chúa ba lần bị những câu thầy cả thượng phẩm hỏi Chúa Giê-xu chen vào (19-24).  Ngoài sự đề cập đến đống lửa ở đây, dù chỉ có trong Lu-ca là có đề cập đến lửa (Lu 22:56), chỉ có Giăng nêu ra lý do trời lạnh (18).

 Câu trả lời của Chúa Giê-xu (20) đối với cuộc chất vấn gợi ý rằng thầy cả thượng phẩm đang thăm dò một điều bí mật nào đó mà Chúa Giê-xu đã giảng dạy cho các môn đồ.  Câu 20 thể hiện sự tương phản rõ ràng đối với một gợi ý như thế.  Nếu thầy cả thượng phẩm muốn có bằng chứng, thì ông ta có đủ cơ hội để tìm trong các nhân chứng.  Đây  là thủ tục bình thường tại một cuộc xét xử được tổ chức một cách thích hợp.  Thật vậy, các nhân chứng cho bên bị lẽ ra phải được gọi trước tiên.  Có thể rằng An-ne không xem cuộc thẩm vấn của mình là chính thức, và vì thế không bị ràng buộc bởi các qui tắc luật pháp.  Cái vả từ tay một nhân viên là một chi tiết bất thường khác.  Lời nhận xét của Chúa Giê-xu trong câu 23 là một thái độ bình tĩnh yêu cầu một cuộc xét xử công bằng.  Thế nhưng âm mưu của những kẻ chống Ngài đang được thực hiện để chống lại điều ấy.  Một số người thấy khó hiểu khi so sánh chi tiết đề cập đến thầy cả thượng phẩm (An-ne) trong câu 22 và một sự đề cập khác trong câu 24 cũng là thầy cả thượng phẩm (Cai-phe).  Rất có thể rằng An-ne vẫn giữ danh hiệu này mặc dù đã hết nhiệm kỳ.

Nhân vật thứ ba thách thức Phi-e-rơ (25-27) là một người bà con của người bị chém đứt vành tai.  Các sách Phúc Âm Cộng Quan không đề cập đến người này.  Mặc khác, Giăng lượt bỏ lời thề và lời nguyền rủa trước khi có sự khóc lóc đắng cay.

(Gi 18:28-40) Cuộc xét xử trước mặt Phi-lát  Câu chuyện của Giăng về cuộc xét xử Chúa Giê-xu trước mặt Phi-lát chi tiết hơn câu chuyện trong các Phúc Âm Cộng Quan.  Ông nêu ra sự tương phản khá mỉa mai giữa sự tỉ mỉ chu đáo quá mức của dân Do Thái trong việc giữ ngày Sa-bát và việc họ thiếu chu đáo trong việc vận dụng hệ thống ấy để đạt được mục đích của riêng mình.  Sự việc thứ nhất diễn ra bên ngoài toà pháp quan (nơi ở của quan tổng đốc).  Phi-lát thẩm vấn cả bên bị cáo lẫn nguyên cáo.  Bằng việc cứ ở bên ngoài trong những dãy cột, dân Do Thái tránh sự ô uế về nghi lễ (28).   Nhưng lòng họ đã bị ô uế qua âm mưu giết Chúa Giê-xu.  Yêu cầu của Phi-lát được biết những lời buộc tội là điều hoàn toàn hợp lý (29), nhưng câu trả lời của những kẻ tố cáo không những là những lời tránh né mà còn có thái độ xấc xượt (30).  Mặc dù Toà công luận có quyền để tuyên án tử hình một người, nhưng họ được yêu cầu phải được sự chấp thuận của quan tổng đốc (31).  Nhận xét của Giăng trong câu 32 ám chỉ rằng vì Chúa Giê-xu đã nói trước về sự chết bằng cách đóng đinh, nên các sự kiện được điều khiển theo hướng để hoàn thành lời nói trước ấy.

Sự việc thứ hai cuộc xét xử, một cuộc đối thoại giữa Phi-lát và Chúa Giê-xu, diễn ra bên trong trường án (toà pháp quan).  Câu hỏi của Phi-lát trong câu 33 nên được hiểu theo là “Có phải ngươi tự xưng là vua của dân Do Thái không?” .  Khái niệm làm vua có lẽ nằm trong lời cáo tội của Toà công luận nhằm khiến vụ việc có liên quan đến quan tổng đốc.  Thế nhưng Chúa Giê-xu đã làm rõ rằng khái niệm làm vua của Ngài khác với khái niệm của Phi-lát.  Nếu như nước Ngài thực sự là một đe doạ cho đế quốc thì Ngài hẳn đã tổ chức một cuộc dấy loạn.  Nước Ngài chẳng thuộc về hạ giới (36) nghĩa là “chẳng thuộc về nơi này”.  Ý nghĩa hoàn toàn rõ ràng, và việc làm vua của Chúa Giê-xu thuộc về một thứ tự khác với các nước thế gian.  Một vương quốc thuộc linh không cần đến sự hỗ trợ của thế lực vật chất.

Có một chút khinh bỉ trong câu hỏi của Phi-lát (37) nhưng ông ta đã không chuẩn bị để nghe câu trả lời của Chúa Giê-xu, giới thiệu lẽ thật.  Đây là lần duy nhất đề cập trực tiếp đến sự giáng sinh của Chúa Giê-xu trong Phúc Âm này.  Vì vương quyền của thế gian này nói chung không liên hệ đến ý tưởng về lẽ thật, nên câu hỏi lẽ thật cái ? của Phi-lát là điều có thể hiểu được, mặc dù rõ rằng ông ta không hỏi xuất phát từ lòng ước ao thật sự muốn biết câu trả lời.  Tuy nhiên, ông ta cũng thừa nhận không có cơ sở nào cho lời buộc tội nghiêm trọng do những kẻ tố cáo chống lại Chúa Giê-xu đưa ra.  Chúng ta nhận thấy sự yếu đuối trong tính cách của Phi-lát thể hiện qua mâu thuẫn giữa nhận xét của ông ta về sự vô tội của Chúa Giê-xu và lời đề nghị của ông ta với người Do Thái trong câu 39.  Trong câu hỏi vậy các ngươi muốn ta tha Vua dân Giu-đa cho các ngươi chăng?, Phi-lát đã sử dụng danh hiệu Vua với một mục đích rõ rệt, và không nghi ngờ gì nữa mục đích đó là để thể hiện sự xem thường của ông đối với dân Do Thái.  Từ dùng mô tả Ba-ra-ba nghĩa đen là kẻ cướp, nhưng từ này đã dần chỉ về kẻ khủng bố chính trị, do đó bản tiếng Anh NIV đề cập đến “cuộc nổi loạn”.  Một con người bạo lực lại được ưa thích hơn một vị vua của lẽ thật.

(Gi 19:1-16). Phi-lát tuyên án Chúa Giê-xu  Phi-lát nhượng bộ những kẻ thưa kiện và cho phép đánh đòn cũng như nhục mạ Chúa Giê-xu (1-3).  Tuy có thể ông ta đã nghĩ rằng việc đánh roi Chúa Giê-xu sẽ làm sỉ nhục những kẻ thưa kiện để họ thôi không yêu cầu thêm nữa, nhưng hành động ấy hoàn toàn bất công.  Nhưng từ khi ông ta một lần nữa khẳng định sự vô tội của Chúa Giê-xu sau khi đánh roi Ngài (4), dường như rằng ông ta xem đây là một cách chọn đóng đinh trên thập tự giá.  Thì quá khứ chưa hoàn thành của các động từ trong câu 3 gợi ý về sự liên tiếp của hành động tôn kính giả vờ.  Hành động muộn màng kêu gọi lòng thương hại từ phía quần chúng của Phi-lát (5) là một bằng chứng xác thực về thái độ mâu thuẫn và bản tính yếu đuối của ông ta.  Không biết được khi Phi-lát nói Kìa, xem người này! (5) ông ta muốn ngụ ý điều gì, nhưng những lời ấy mang một ý nghĩa nhiều hơn cả sự hiểu biết của ông ta, vì trong sự nhục nhã mình, Chua Giê-xu là một người đại diện đứng trong vị trí của người khác.  Trong tất cả các ghi chép, tiếng kêu Hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự! (6) nổi lên sau lời kêu gọi tha Chúa Giê-xu.  Lời ông ta giao Chúa Giê-xu cho dân Do Thái để họ đóng đinh là một lời mỉa mai, vì ông ta biết người Do Thái không có quyền thực hiện điều này.  Những kẻ thực hiện sau đó đưa ra lời buộc tội về tôn giáo căn cứ trên luật của mình.  Phi-lát lo ngại việc đề cập đến luật vì chính sách của La mã là duy trì luật lệ địa phương.  Tuy nhiên, lời tuyên bố khó hiểu mình là Con Đức Chúa Trời hẳn đã khiến Phi-lát bối rối và đưa ông ta đến chỗ hỏi Ngươi từ đâu? (9) một câu hỏi mà Chúa Giê-xu im lặng không trả lời.  Câu hỏi này không thích hợp với sự buộc tội.  Thế nhưng sự từ chối trả lời của Chúa Giê-xu thúc đẩy Phi-lát nhắc Ngài về quyền lực của ông ta (10).  Tuy nhiên, Chúa Giê-xu đã sửa lại ý kiến của Phi-lát về quyền lực.  Có thể Phi-lát đã có quyền lực của đế quốc, nhưng quyền này không với tới các ý định tối thượng (11).  Chúa Giê-xu biết rằng toàn bộ công tác cứu chuộc không nằm trong hành động chuyên chế của quan tổng đốc La Mã.  Tội lớn hơn thuộc về Cai-phe.

Nỗ lực lần nữa của Phi-lát để tha Chúa Giê-xu và sự việc ông cố thoả hiệp vốn cũng đồng nghĩa với việc bất phục Sê-sa đã đem câu chuyện về sự xét xử đến chỗ kết thúc.  Việc đề cập đến -sa kết thúc mọi vấn đề về phía Phi-lát.  Thành tích của ông ta là ông ta không đủ liều lĩnh để cho bản báo cáo thuộc loại này đến tai hoàng đế (Lu 13:1).  Ông ta quan tâm đến địa vị của mình hơn là công lý.  Ba- (13) là khu vực được lát đá phía trước toà pháp quan.  Hành động kết tội Chúa Giê-xu là một việc làm chính thức có thể được nhận biết qua sự đề cập đến chiếc ghế thẩm phán (bản dịch tiếng Việt là “toà án”).  Trong câu 14, Giăng đề cập đến ngày sắm sửa về lễ Vượt Qua và thời gian (giờ thứ sáu) bởi vì đối với ông, mối liên hệ giữa sự chết của Chúa Giê-xu với lễ Vượt Qua của người Do Thái là điều quan trọng.  Chúa Giê-xu sau này được xem là chiên con thật của lễ Vượt Qua.  Câu hỏi của Phi-lát Ta sẽ đóng đinh vua các ngươi lên thập tự giá hay sao? (15), là câu cố ý chọc tức.  Lời tuyên bố trung thành với Sê-sa từ miệng các thầy tế lễ cả là điều Phi-lát không thể bỏ qua.  Ở đây có một sự mỉa mai sâu sắc họ đang tuyên bố trung thành hơn cả chính ông quan tổng đốc.  Thế nhưng lời tuyên bố của họ tiêu biểu cho sự hàng phục cuối cùng đối với La Mã của các đại diện của Y-sơ-ra-ên, một dân không thừa nhận chúa nào khác ngoài chính Đức Chúa Trời.

3. Sự đóng đinh (Gi 19:17-37)

Việc Chúa Giê-xu phải vác cây thập tự của mình cho thấy rằng Ngài bị đóng đinh như một tội phạm bình thường (17).  Giăng không đề cập đến việc Si-môn giúp vác cây thập tự (Mat 27:32  Mac 15:21  Lu 23:26), nhưng việc chuyển cây thập tự ắt hẳn đã diễn ra trên đường đi đến Gô-gô-tha.  Mặc dù Giăng đề cập đến hai người khác cùng bị đóng đinh với Chúa Giê-xu (19), nhưng ông không nêu chi tiết nào về án phạt của họ.  Trái lại, chỉ có Giăng kể lại rằng chính Phi-lát là người có trách nhiệm về tấm bảng gắn trên thập tự giá.  Có một chút khác biệt trong các bản ghi về dòng chữ trên tấm bảng, nhưng tất cả đều thống nhất ở chỗ những chữ này gồm có VUA DÂN GIU-ĐA.  Dòng chữ này gây ra sự phản đối trong vòng các thầy tế lễ cả, và cũng cho thấy sự cố chấp của Phi-lát (21-22).  Khi Giăng đề cập đến các thầy tế lễ của của dân Giu-đa, hình thức của những từ này tương phản mạnh mẽ với danh hiệu được dùng cho Chúa Giê-xu.

Áo xống của người bị kết tội thuộc về những người lính làm nhiệm vụ, do đó mà có hành động trong câu 23.  Giăng xem thấy một sự ứng nghiệm Thi 22:18 nhưng các Phúc Âm Cộng Quan không nêu lên việc này.  Có một số thắc mắc là có ba hay bốn người đàn bà đứng gần thập tự giá (25).  Việc giả sử rằng có bốn người và chị mẹ Ngài là Sa-lô-mê dường như là điều hợp lý.  Một so sánh với Mac 15:40 có thể gợi ý rằng mẹ của Gia-cơ và Giô-sê được đề cập ở đó là vợ của Lê-ô-ba nêu ở đây.  Lời Chúa Giê-xu nói với mẹ Ngài và lời giao phó bà cho môn đồ yêu dấu (26-27) cho thấy sự quan tâm dịu dàng của Ngài dành cho bà vào giờ thử thách tột cùng.

Nhưng giây phút cuối cùng của cuộc đời trên đất của Chúa Giê-xu được đánh dấu bởi hai tiếng kêu nữa, một liên hệ đến nhu cầu thân xác của Ngài (Ta khát, c.28), và một liên hệ đến việc hoàn tất sứ mạng Ngài (Mọi việc đã được trọn, c.30).  Một lần nữa Giăng ghi chú ở đây một sự hoàn thành lời Kinh Thánh, có lẽ muốn nói đến Thi 69:21.  Đã có nhiều cuộc thảo luận về tính không thực của một cây ngưu tất, vốn có thể đã được một miếng bông đá tẩm đầy giấm (29).  Một gợi ý cho rằng từ gốc có thể là hysso (cây lao), nhưng gợi ý này không chắc đúng, vì trong văn bản không có bằng chứng nào, và những người lính xung quanh thập tự giá không chắc là đã có cây lao.  Mac 15:36 đề cập đến một “cây sậy” là cái có thể đỡ được miếng bông đá.  Giấm có lẽ tăng thêm một chút sức lực nào đó cho tiếng kêu cuối cùng.

Ước muốn làm trọn các qui định về mặt nghi lễ của người Do Thái (31) trở nên quan trọng gấp hai lần bởi vì đó là một ngày Sa-bát trúng nhằm kỳ lễ Vượt Qua.  Thủ tục chôn cất đánh gãy chân không phải là một phần của hình phạt đóng đinh trên thập tự giá, mà là cách để làm cho cái chết mau đến (32-33).  Không có hành động này, cái chết có thể đến rất chậm thậm chí kéo dài nhiều ngày.  Việc đâm thấu qua hông Chúa Giê-xu cũng như  việc máu và nước chảy ra (34) có một ý nghĩa lớn đối với Giăng (35).  Có nhiều giải thích khác nhau được đưa ra về máu nước, nhưng ý định của Giăng ở đây là khẳng định thực tế về cái chết thân thể của Chúa Giê-xu, trái với quan điểm của những người theo thuyết giả hiện, cho rằng Ngài chỉ có vẻ như chết mà thôi.  Những lời kẻ đã thấy (35) đã được hiểu là cách đề cập đến chính tác giả hoặc đến một người thứ ba.  Đối với một tác giả, người đã cẩn thận giữ kín danh tánh mình, sử dụng đại từ ngôi thứ ba khi đề cập đến việc mình biết sự kiện ấy, là một hành động không có gì lạ.  Ước muốn của tác giả khi nhấn mạnh sự thật của vấn đề là để đưa người khác đến với đức tin.  Tính từ được sử dụng ở đây của từ thật cũng tương tự như được sử dụng để nói về câu nói trong Gi 15:1.  Hai đoạn Kinh Thánh mà Giăng trích dẫn ở đây để chứng minh sự hoàn thành lời Kinh Thánh rất có thể là Xu 12:46 và Xa 12:10, mặc dù có vài người tìm thấy sự ứng nghiệm của Dan 9:12 và Thi 34:20 khi đối chiếu với đoạn Kinh Thánh thứ nhất.

4. Sự chôn cất Chúa (Gi 19:38-42)

Câu chuyện của Giăng về việc chôn cất có ý nghĩa quan trọng chủ yếu là vì nó ghi lại những việc do Ni-cô-đem thực hiện.  Cả ông ta và Giô-sép người A-ri-ma-thê đều rất có thể là thành viên toà công luận.  Vì như thế Giô-sép mới có thể sử dụng cấp bậc mình để đến xin phép quan tổng đốc.  Giăng ghi rằng Giô-sép là một môn đồ kín đáo, nhưng những gì ông làm là không kín dấu chút nào.  Ông trở nên dạn dĩ đủ để đến xin Phi-lát được lấy xác Chúa Giê-xu.  Thông thường những kẻ bị kết tội dấy loạn hẳn đã bị quăng vào một ngôi mộ thường, nhưng vì Phi-lát chấp thuận đề nghị này nên có thể gợi ý rằng ông không thật sự chấp nhận lời tố cáo về tội dấy loạn.  Như đề cập đến Ni-cô-đem (39) lần thứ hai, Giăng gợi nhớ lại cuộc đàm luận giữa người này và Chúa Giê-xu (Gi 3:1-15  7:50).  Trong sự đề cập này, Giăng lưu ý rằng lúc ấy là ban đêm, như thể để thu hút sự chú ý đến việc Ni-cô-đem bấy giờ xuất hiện từ trong “đêm” trong mối quan hệ với Chúa Giê-xu.  Số lượng hương liệu được đem đến  rất đáng kể và nó nói lên sự tận tâm sùng kính của Ni-cô-đem đối với Chúa Giê-xu.  Việc đề cập đến không những cái huyệt mới mà còn khu vườn phản ánh sự giàu có của Giô-sép.  Ý nghĩa của những chữ chưa chôn ai là để chứng minh rằng thân thể Chúa Giê-xu không tiếp xúc với sự hư nát (có thể để hoàn thành Thi 16:10?).

5. Sự sống lại (Gi 20:1-29)

(Gi 20:1-10) Ngôi mộ trống  Giăng rõ ràng có chọn lọc trong các sự việc về sự sống lại mà ông kể.  Ông có ý định minh hoạ một số bài học thuộc linh rút ra từ sự kiện này.  Thật không dễ mà phối hợp những sự việc xảy ra khác nhau được bốn tác giả Phúc Âm thuật lại, vì Giăng thuật lại rằng Ma-ri Ma-đơ-len đang ở tại ngôi mộ một mình (1), trong khi Ma-thi-ơ và Mác ghi lại là có những người khác nữa.  Tuy nhiên, tất cả đều thống nhất rằng Ma-ri Ma-đơ-len có mặt ở đó.  Có thể rằng những người khác đã để Ma-ri lại tại ngôi mộ.  Điều Giăng quan tâm là sự gặp gỡ giữa bà với Phi-e-rơ và môn đồ được yêu cũng như những kết luận của họ về ngôi mộ trống.  Việc này sau đó dọn đường cho việc Chúa Giê-xu hiện ra cùng Ma-ri.  Bằng việc dùng đại từ số nhiều (chúng tôi, câu 2, không có trong bản tiếng Việt), Ma-ri ngụ ý chỉ đến cả những người đàn bà khác đã cùng đi với bà.  Tất cả họ đã đi đến kết luận giống nhau:rằng kẻ nào đó đã lấy cắp xác Ngài.  Theo tuần tự, có thể bà đã phát biểu điều mà bà tin là suy nghĩ của Phi-e-rơ và Giăng.  Tác giả nêu lên một tiếp xúc sinh động cho câu chuyện khi ông gợi nhớ về môn đồ khác chạy trước Phi-e-rơ nhưng không bước vào ngôi mộ (3-5).  Nếu môn đồ ấy là Giăng, chúng ta có ở đây một chi tiết được chứng kiến tận mắt.  Có thể thừa nhận rằng Giăng chạy nhanh hơn Phi-e-rơ vì ông trẻ hơn.  Cả hai môn đồ đều “thấy” vải bỏ dưới đất, nhưng mỗi trường hợp lại dùng một động từ khác nhau trong tiếng Hi Lạp .  Động từ mạnh hơn, ám chỉ thái độ sự kiên quyết nhìn vào ngôi mộ, được gán cho Phi-e-rơ, tuy chỉ có trong trường hợp của Giăng mới nói là sau khi nhìn thì tin (8).

Giăng đặc biệt chú ý vị trí chính xác của tấm vải trong ngôi mộ.  Tấm khăn liệm để trùm đầu để riêng ra gợi ý rằng Chúa Giê-xu đã bỏ lại những tấm vải mà không bận tâm tới chúng.  Có thể Giăng đang nghĩ đến sự tương phản với việc La-xa-rơ bước ra khỏi mộ cùng với vải liệm vẫn còn quấn quanh người.

Câu nói rằng môn đồ khác thấy và tin (8) phải được hiểu trên nền tảng về một đức tin lớn nảy sinh sau khi Chúa Giê-xu hiện ra cùng các môn đồ.  Đó là bước đầu của một đức tin phải được tăng trưởng.  Lời nhận xét trong câu 9 là câu đặc trưng trong Phúc Âm này.  Có thể nó đề cập đến toàn bộ Cựu Ước hoặc đến một đoạn Kinh Thánh cụ thể (Thi 16:10  Os 6:2).  Mãi sau này các Cơ Đốc nhân mới hiểu được tầm quan trọng của việc hoàn thành lời Kinh Thánh trong sứ mạng Chúa Giê-xu.

(Gi 20:11-18) Chúa Giê-xu hiện ra cùng Ma-ri  Đối với Ma-ri, đức tin chưa bắt đầu.  Bà vẫn còn tin rằng xác Chúa đã bị lấy cắp (13).  Thiên sứ không nói lời nào để an ủi mà chỉ có những lời trách móc nhẹ nhàng.  Lẽ ra bà không nên khóc khi đối mặt với ngôi mộ trống, mà phải nghĩ xa hơn điều cho rằng có những kẻ cắp.  Trong tâm trí mình, bà trước tiên nghĩ đến người làm vườn như là người có lỗi (15).  Thật dễ thấy bà nhầm lẫn Chúa Giê-xu là người làm vườn như thế nào qua những dòng nước mắt.  Khi Chúa Giê-xu đặt ra câu hỏi giống như các thiên sứ, nàng buột miệng thốt ra câu hỏi tìm kiếm xác Chúa Giê-xu.  Lúc này nàng không nhìn Chúa Giê-xu, nhưng nàng quay sang nhìn Ngài ngay tức thì khi nhận ra tiếng Ngài.  Cách Chúa Giê-xu sử dụng tên bà cho thấy một sự cảm động dịu dàng.  Từ Ra-bu-ni (16) mà Giăng dịch cho độc giả ngoại quốc của mình, không phải là một lời tuyên xưng cao nhất, mà nó chứng minh một mối quan hệ được phục hồi.

Rất có thể rằng động từ được dịch (17) không nên hiểu theo nghĩa “đừng tiếp tục rờ đến ta nữa”.  Từ này không mâu thuẫn đến việc Chúa Giê-xu bảo Thô-ma sờ đến Ngài trong câu 27.  Chúa Giê-xu ám chỉ rằng một mối quan hệ khác sẽ có sau sự thăng thiên của Ngài, nhưng Ngài không ám chỉ rằng sau sự việc ấy thì việc rờ vào Ngài là điều có thể làm được, vì rõ ràng điều đó không thể hiểu được bằng trí óc.  Thực tế là sự “rờ” ấy không phải là cơ sở của đức tin đang tiếp tục.  Trong trường hợp Thô-ma, ông ta đang nghi ngờ tính thực tế của các lời kể về sự sống lại.  Chúa Giê-xu bảo Ma-ri hãy đi báo rằng “Ta lên cùng Cha ta” (không phải là “trở lại”) trong nghĩa của một tiến trình đang tiếp tục vốn chưa đạt đến cực đi lên.  Sự phân biệt giữa Cha taCha các ngươi trong câu này hoàn toàn có ý nghĩa vì nó thiết lập tư cách làm con của Chúa Giê-xu dưới một mức độ khác với tư cách con cái của các môn đồ.  Khi Ma-ri báo lại điều mình đã kinh nghiệm (18), bà quan tâm đến việc mình gặp Chúa hơn là sứ điệp về sự thăng thiên.

(Gi 20:19-23) Chúa Giê-xu hiện ra cùng các môn đồ  Trong phần này, có một sự chuyển biến nhanh trong cảm xúc từ sợ hãi (19) sang vui mừng (20).  Lý do là lời chúc bình an từ Chúa phục sinh.  Bình an cho các ngươi có hình thức là một lời chào bình thường, nhưng vì được nói ra từ miệng Chúa Giê-xu chúng chuyển tải một lời ban bình an của chính Ngài cho các môn đồ như đã được hứa từ trước (Gi 14:27  16:33).  Việc đưa tay và hông cho các môn đồ là một hành động có ý nghĩa vì khi đó có thể đã không còn nghi ngờ gì nữa về nhân dạng của Chúa Giê-xu.  Ngay cả thân thể phục sinh của Ngài cũng mang những chứng cớ ấy.  Việc lặp lại sự ban bình an đã nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của nó, đặc biệt là khi nó được liên kết với một mạng lệnh cụ thể (21).  Hàm ý của những từ này là việc sai đi phải được hoàn thành không khác là sự uỷ nhiệm mà Chúa Giê-xu đã nhận được từ Cha.

Giữa câu 22 và việc Đức Thánh Linh giáng xuống sau này trong ngày lễ Ngũ Tuần có mối quan hệ gì với nhau? Một số người thấy đây là hai sự ban Thánh Linh riêng biệt nhưng chưa chắc đúng là như thế.  Tốt nhất là nên xem lời tuyên bố này là một sự nói trước về ngày lễ Ngũ Tuần, mặc dù ngữ cảnh có ám chỉ đến một sự ban cho sơ khởi nào đó (động từ được sử dụng là một từ thường có nghĩa là “được hà hơi”).  Rõ ràng các môn đồ vào lúc này không nhận được sự ban cho trọn vẹn, vì họ vẫn còn thiếu ơn tha tội (23).  Lời hứa được đưa ra ở đây cho toàn thể nhóm các môn đồ (động từ là ở số nhiều).  Mặc dù sự tha tội không những bằng quyền của con người, nhưng việc rao giảng Phúc Âm sẽ tuyên bố sự tha tội như thế.  Động từ ở dạng bị động gợi ý rằng chính Đức Chúa Trời là Đấng sẽ hành động.  Ai không đáp ứng lại với sự rao giảng Phúc Âm thì cứ còn ở trong tội lỗi mình (trong Hi văn là “bị cầm lại”, bản tiếng Việt dịch đúng bản Hi văn).  Về lời hứa này, (Mat 16:18-19  18:18-19).

(Gi 20:24-29) Chúa Giê-xu hiện ra cùng Thô-ma  Ở đây Giăng nêu tên Thô-ma cả bằng tiếng A-ram lẫn tiếng Hi Lạp, mặc dù trước đây ông đã đề cập đến môn đồ này.  Sự việc này đánh dấu cao trào của câu chuyện, vì nó ghi lại thái độ nghi ngờ của Thô-ma và việc ông đã đến với đức tin bằng một phương thức minh hoạ mục đích chính của Phúc Âm này (c.30-31).  Không thấy nêu ra lý do vì sao Thô-ma không có mặt (24).  Việc ông nhấn mạnh thái độ nghi ngờ của mình đối với lời chứng của các môn đồ khác đã làm tăng thêm sự nhận thức đến sau của ông về bản tính của Chúa Giê-xu (25).  Ông muốn có bằng chứng về thân thể để có thể tin rằng Đấng Christ sống lại chính là Giê-xu mà ông đã biết.  Cách tám ngày nghĩa là Chúa nhật sau lễ phục sinh.  Những cánh cửa đóng cho thấy các môn đồ vẫn còn sợ và lời bảo đảm bình an của Chúa Giê-xu một lần nữa được xem là một liều thuốc chữa lành sự sợ hãi đó.

Việc Chúa Giê-xu lặp lại đúng những lời của Thô-ma hẳn đã gây nên một ấn tượng sâu sắc nơi ông.  Chúa phục sinh đang bày tỏ sự thông cảm với sự hồ nghi của Thô-ma, nhưng không có gì cho thấy thật sự Thô-ma có chạm vào những vết thương (27).  Lời tuyên xưng lạy Chúa tôi Đức Chúa Trời tôi (28) có ý nghĩa rất đặc biệt vì sự am hiểu mang tính thần học của nó.  Dù Thô-ma có hiểu hay không hiểu đầy đủ những lời mình nói đi nữa thì khái niệm không thể sai lầm này về bản tính của Đức Chúa Trời đã cung cấp một kết luận phù hợp cho ghi chép của Giăng về con đường của đức tin.  Tuy nhiên, điều tất yếu của lời tuyên xưng của Thô-ma là nó căn cứ vào những điều đã thấy.  Chúa Giê-xu cần phải sửa ở đây bằng cách nói đến phước lớn hơn cho những kẻ không thấy mà tin, vốn áp dụng cho mọi tín hữu Cơ Đốc kể từ thời Chúa Giê-xu trở đi.  Chúng ta căn cứ trên bằng chứng bảo đảm (Kinh Thánh lời chứng của Hội Thánh suốt mọi thời đại, kinh nghiệm cá nhân của mình) chớ không căn cứ trên việc phải thật sự thấy Chúa Giê-xu.

6. Phần kết (Gi 20:30-21:25)

(Gi 20:30-31) Lời tuyên bố về mục đích  Rõ ràng ghi chép trong Phúc Âm này có tính chọn lọc và sẽ dẫn đến một đức tin cụ thể nơi Chúa Giê-xu.  Sự kết hợp giữa tư cách Mết-si-a và tư cách làm con Đức Chúa Trời tóm tắt cái nhìn về Chúa Giê-xu được trình bày trong Phúc Âm này.  Sự liên hệ giữa đức tin và sự sống là một tóm tắt cô đọng về việc áp dụng Phúc Âm này.

Gi 21:1-25; xem giải nghĩa Gi 20:30-31

(Gi 21:1-14)  Chúa Giê-xu hiện ra cùng các môn đồ gần biển Một số học giả đã đặt giả thiết rằng chương này được viết bởi một tác giả khác, nhưng không có bằng chứng chép tay nào về sự lưu truyền sách Phúc Âm mà thiếu chương này.  Tuy có vẻ như đây là phần suy nghĩ đến sau, nhưng đây có thể là để tương xứng với phần mở đầu.  Không thể có tác giả khác đã viết phần này được, vì trong đó có nhiều điểm giống với phong cách và ngôn ngữ của các chương trước.

Các môn đồ đã rời Giê-ru-sa-lem và đến Ga-li-lê.  Chỉ có Giăng đề cập đến tên hồ là Biển Ti--ri-át.  Chúng ta không cần tìm kiếm ý nghĩa tượng trưng nào trong việc bảy môn đồ được đề cập trong câu 2.  Điều đáng chú ý là các con của Xê-bê-đê không được nêu tên, và điều này phù hợp với lập luận cho rằng một trong số họ, Giăng, là tác giả.  Có những phần song hành lý thú giữa câu chuyện về sự đánh cá này và câu chuyện ấy trong Lu 5:1-11.  Ở đây việc Giăng quan sát rằng họ đã đánh cá suốt đêm mà chẳng được gì có thể có một ý nghĩa tượng trưng nào đó (đó là một đêm tĩnh lặng theo nghĩa thuộc linh), nhưng đúng hơn, đây là một sự hồi tưởng được chứng kiến trực tiếp.  Tuy nhiên, có một nguyên tắc thuộc linh rõ rệt, vì tình huống này được biến chuyển bởi sự hiện diện của Chúa Giê-xu.

Việc các môn đồ không nhận ra Chúa Giê-xu cho đến khi vâng theo mệnh lệnh Ngài thả lưới bên phải thuyền là điều đáng ngạc nhiên (4-6).  Nếu họ không biết gì về nhân dạng Ngài, thì tại sao họ lại đáp ứng mệnh lệnh Ngài? Có lẽ họ đang quá thất vọng sau một đêm không đánh được chút cá nào nên sẵn sàng thử làm bất cứ việc gì nhưng mẻ cá đánh thật đáng kể.  Chính môn đồ được Chúa yêu là người nhìn ra Chúa Giê-xu nhưng đã không làm gì hơn ngoài việc nói với Phi-e-rơ, là người đã hối hả chạy về phía Chúa Giê-xu giống như bản tính của ông vậy. 

Có rất nhiều người chứng kiến sự việc này, đặc biệt là mẻ cá rất lớn, khoảng cách của thuyền đến bờ biển (8), lửa than với cá và lời yêu cầu mang thêm cá của Chúa Giê-xu (9-10).  Cũng cùng một lý do rằng phải có người nào đó có mặt khi đếm cá (11) giải thích cho việc đề cập đến số lượng cá chính xác được đếm.  Tuy nhiên, một số học giả lại tìm một lý do chính đáng hơn cho việc lồng vào những con số này.  Một con số toán học được đưa ra tranh luận vì 153 = 1+2+3…17 hay một số ý nghĩa tượng trưng khác được tìm thấy có liên quan đến sự việc nuôi bánh cho 5000 người ăn (năm ổ bánh cộng với 12 giỏ bằng 17).  Thế nhưng những giả thiết như thuyết hoàn toàn không thuyết phục bằng ý kiến cho rằng con số được đề cập đến trong phân đoạn này đơn giản chỉ là số lượng cá chính xác bắt được mà thôi.  Chi tiết về việc đây chỉ là một bữa ăn bình thường được thể hiện qua việc Chúa Giê-xu gọi các môn đồ cùng dùng bữa sáng với Ngài (12).  Lần thứ ba (14) đề cập đến những lần Chúa Giê-xu hiện ra với một nhóm các môn đồ, những lần khác cũng được nói đến trong đoạn 20. 

(Gi 21:15-25) Chúa Giê-xu trò chuyện với Phi-e- Giăng  Câu hỏi Chúa Giê-xu đặt ra ba lần với Phi-e-rơ có vẻ như tương tự với thái độ chối Chúa ba lần của Phi-e-rơ (15-19).  Chúa Giê-xu đã dùng những từ ngữ khác nhau trong 3 câu hỏi này.  Trong câu hỏi lần thứ ba, Chúa Giê-xu dùng động từ phileô cho chữ yêu.  Đây cũng là chữ mà Phi-e-rơ dùng lại trong câu trả lời của mình, dù chữ được sử dụng trong hai câu hỏi đầu là agapaô.  Tuy nhiên, trong Tân Ước hai chữ này vẫn thường dùng lẫn lộn, vì vậy, dường như không có một ý nghĩa đặc biệt nào trong cách sử dụng những động từ này.  Thế nhưng có thể nhận biết sự khác nhau trong ba nhiệm vụ của Phi-e-rơ.  Nhiệm vụ đầu tiên và thứ ba của Phi-e-rơ là nuôi dưỡng trong khi nhiệm vụ thứ nhì là chăm sóc.  Đây vốn là những trách nhiệm của người chăn chiên.  Nhiệm vụ thứ nhất chỉ về những chiên con, trong khi nhiệm vụ thứ hai và thứ ba lại dành cho những chiên nói chung.  Những khác biệt này không mang một ý nghĩa thần học nào cả.  Câu trả lời lần thứ ba của Phi-e-rơ (17) mạnh hơn hai câu trả lời đầu, chắc chắn là do ông buồn rầu khi bị hỏi đến ba lần. 

Việc Chúa Giê-xu hoàn toàn tha thứ cho Phi-e-rơ và giao cho ông những trách nhiệm mới ngay cả việc trở thành tông đồ Ngài mặc dù trước đó ông đã chối Chúa đã đem lại một niềm hi vọng thật sự cho những Cơ đốc nhân ngày nay.  Họ có thể nhận thấy rằng họ đã chối Chúa và đây là điều không thể tha thứ được nhưng Chúa chỉ cần đến lòng ăn năn và tình yêu thật của chúng ta dành cho Ngài.

Theo tương truyền, lời tiên đoán trong câu 18 rằng Phi-e-rơ sẽ bị treo ngược trên cây thập tự được xem là đã ứng nghiệm.  Thế nhưng bản thân lời tương truyền cũng không được kiểm chứng rõ rệt và có thể chỉ là sự suy đóan từ phân đoạn Kinh Thánh này.  Khi nói rằng Phi-e-rơ sẽ làm vinh hiển Đức Chúa Trời qua cái chết của mình, Giăng đã xem Phi-e-rơ là người noi theo gương của Chúa Giê-xu (19).  Một số người cho rằng Phi-e-rơ đã đi dọc bờ biển cùng với Chúa Giê-xu nhưng từ ngữ “theo” ở đây ngụ ý một điều gì đó đơn giản hơn thế và không có liên quan gì đến lời hứa nguyện cho sự hầu việc của Phi-e-rơ cả.  Sự quan tâm của Phi-e-rơ đối với Giăng và câu trả lời của Chúa Giê-xu chỉ nên quan tâm tới việc của chính ông dường như có liên quan đến việc làm rõ một sự hiểu lầm vốn xuất hiện khi Tin Lành được phổ biến.  Nếu như Giăng, sau một thời gian dài vẫn còn sống khi sách Phúc Âm này đựơc viết (dựa vào giả thiết rằng Giăng là tác giả của sách Phúc Âm này) thì việc đính chính lời đồn đại rằng ông sẽ không phải chết (23) là điều cần thiết. 

Câu 24 có thể được xem là ý tiếp nối cho những câu trước đó.  Vì vậy, việc xem câu Kinh Thánh ngụ ý rằng Giăng là tác giả của sách Phúc Âm này là điều hoàn toàn hợp lý.  Trong trường hợp này, cả câu chúng ta biết lời chứng của người thật muốn đề cập đến việc một số người đã được chuẩn bị cho việc xác định ai là người đựơc nhắc đến dưới tên gọi môn đồ được Chúa yêu.  Câu kết luận có ý nhấn mạnh đặc điểm chọn lọc của cả sách Phúc Âm này, đồng thời cũng chỉ ra rằng Chúa Giê-xu thật sự còn vĩ đại hơn mọi điều ghi lại về Ngài trong sách này. 

Lên đầu trang