MA-LA-CHI
1. TỰA ĐỀ (Ma 1:1)
Tương tự như các tiên tri khác, ông Ma-la-chi nhấn mạnh uy quyền của lời của Đức Giê-hô-va. Trong tựa đề tóm gọn này, ông xác nhận vai trò của chính ông là người trung gian và công khai xem tác phẩm của mình là lời của Đức Chúa Trời. Trong tinh thần đó, trong số năm mươi bốn câu còn lại của tập sách ngắn gọn nhưng sâu sắc này, non phân nửa có thêm cụm từ “Đức Giê-hô-va phán vậy”, hoặc “Đức Giê-hô-va toàn năng phán ra”...
Tương tự như những tựa đề trong Xa 9:1 và 12:1 (so sánh Ha 1:1), chương Ma 1:1 mô tả tác phẩm này là Một lời sấm truyền hoặc sát hơn là “ một gánh nặng” với hàm ý là một nhiệm vụ cấp bách và đáng sợ (so sánh Gie 23:33-40). Trong khi ông Ma-la-chi rao truyền sứ điệp của mình cho xứ Giu-đa bé tí sinh sau đẻ muộn vào thời hậu lưu đày, ông mạnh dạn gọi dân xứ này tên riêng Y-sơ-ra-ên. Với tên riêng này, ông nhằm đề cao họ là những người có nhiệm vụ đối với mọi yêu cầu của luật pháp và là người thừa kế mọi lời hứa của Đức Giê-hô-va trong giao ước.
2. NGƯỜI TỐT VÀ NGƯỜI GIAN ÁC NGẠO MẠN: TÌNH YÊU THƯƠNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI ĐƯỢC MINH CHỨNG TRONG SỰ NGẠO MẠN (Ma 1:2-5)
Khi thấy người công bình chịu khổ đau và người gian ác được hưng thịnh là người ta liền thắc mắc về tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Đáp lời họ ông Ma-la-chi nói về tình yêu thương đặc tuyển và vô điều kiện mà Ngài dành cho Gia-cốp, còn đối với Ê-sau thì Ngài dành cho một tình cảm hoàn toàn trái ngược. Sau này ông Phao-lô trích dẫn câu nói nổi tiếng này trong Ro 9:13. Ở đây từ “yêu thương” được dùng để bày tỏ một sự chọn tuyển, còn “ghét” bày tỏ sự loại bỏ, chớ không phải nói về cảm xúc riêng tư đầy oán giận thù địch (trong Phu 23:7 rõ ràng không cho phép ai ôm ấp cảm xúc này đối với người Ê-đôm là hậu duệ của ông Ê-sau). Xem Lu 14:26 16:13 là hai câu Kinh Thánh cũng dùng từ này trong một ý tương tự.
Ông Gia-cốp và ông Ê-sau là hai nhân vật trong lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên thời các tổ phụ. Dù họ là hai anh em ruột nhưng ông Gia-cốp được hưởng ân huệ tối cao của Đức Chúa Trời, cho phép ông giữ một vai trò trong chương trình cứu rỗi, tức là làm người tiếp nhận và thọ hưởng lời hứa về Đấng Cứu Thế, trong khi đó ông Ê-sau nhận được sự loại bỏ của Đức Chúa Trời và cũng phải giữ một vai trò tương xứng. Tuy nhiên, vấn đề đặt nặng của ông Ma-la-chi là hai dân tộc Y-sơ-ra-ên và Ê-đôm với Gia-cốp và Ê-sau là đại diện và là hai ông tổ (so sánh Sa 25:21-23). Trong tinh thần đó, không thể nào kết luận rằng mỗi một người Ê-đôm đều bị loại bỏ hoặc bị dành cho sự hư mất, cũng không thể nào kết luận rằng mỗi một người Y-sơ-ra-ên đều được cứu rỗi.
Đối với người Y-sơ-ra-ên đương thời thì coi như ông Ma-la-chi sai lầm tồi tệ khi đem so sánh số phận của Y-sơ-ra-ên với Ê-đôm để chứng minh Y-sơ-ra-ên được Đức Chúa Trời ưu ái. Nếu Đức Chúa Trời đã chọn Gia-cốp/ Y-sơ-ra-ên thay vì Ê-sau/ Ê-đôm, thì sao Ngài lại bỏ mặc cho dân sự của Ngài chịu khổ khi Nê-bu-cát-nết-sa triệt phá đất nước của họ năm 587 T.C., rồi bị lưu đày trong suốt bảy mươi năm ở Ba-by-lôn, trong khi đó Ê-đôm không hề hấn gì, mà dường như còn được lợi trên nỗi mất mát của Y-sơ-ra-ên? Chẳng những dân Ê-đôm hí hửng trước cảnh tan nát hoang tàn của dân Y-sơ-ra-ên anh em, mà họ còn tích cực tiếp tay với quân xâm lăng Ba-by-lôn, làm chỉ điểm và chận cắt đường thoát của người Y-sơ-ra-ên (Thi 137:7 Exe 25:12-14 35:15 Ap 1:8-16).
Tuy nhiên, ông Ma-la-chi xác định lý lẽ của mình bằng cách trưng dẫn Gie 9:11. Hai trăm năm trước ông Giê-rê-mi đã loan báo tin tức về một sự hình phạt cận kề đe doạ sẽ đổ xuống Giu-đa: “Ta sẽ khiến Giê-ru-sa-lem trở nên một đống phế tích, một nơi ở của chó rừng và ta sẽ khiến cho các thành của Giu-đa trở nên hoang tàn đến nỗi không ai có thể trú tại đó được”. Ông Ma-la-chi cũng áp dụng lời đe doạ này cho Ê-đôm nhằm tỏ rõ rằng Ê-đôm cũng như Giu-đa sẽ không thoát khỏi sự hình phạt công bằng của Đức Chúa Trời. Coi như dân Ê-đôm gánh chịu sự hình phạt này qua sự lấn chiếm của dân Ả-rập Nabatean. Người Ê-đôm dần dà bị họ đẩy ra khỏi đất đai trong thời gian giữa khoảng 550-400 T.C., buộc họ phải tái định cư trong một vùng phía nam xứ Pa-lét-tin sau này gọi là Y-đu-mê. Vì người Ả-rập Nabatean vốn là dân bán du mục nên các thành ấp của người Ê-đôm bị bỏ phế đến nỗi đổ nát trong khi đó họ cho bầy súc vật gặm rụi cây cỏ, phá hoại đất đai vốn là phì nhiêu xưa kia. Trong khi đó Giu-đa được phục hồi bởi lòng thương xót, phản ánh tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho họ. Nhưng Ê-đôm bị hình phạt luôn, vĩnh viễn không được phục hồi. Người Ê-đôm còn tồn tại cách riêng lẻ (như 1:4 hàm ý so sánh Mac 3:8 người Y-đu-mê đến với Chúa Giê-xu), nhưng họ vĩnh viễn không còn là một dân tộc.
Bài tranh luận thứ nhất kết thúc với lời xưng nhận Đức Giê-hô-va là Đấng toàn quyền tối cao. Người ta lầm tưởng là lời xưng nhận này hàm ý một tôn giáo bao đồng, tức là họ tưởng Đức Chúa Trời sẵn sàng dung nạp tất cả các tôn giáo khác của các dân tộc. Thật ra, tầm nhìn toàn cầu là một vấn đề phụ trong sách, ông Ma-la-chi sẽ bàn trở lại trong Ma 1:11,14 3:12.
3. Y-SƠ-RA-ÊN BỊ LÊN ÁN VÌ DÂNG CỦA LỄ TRONG TINH THẦN MIỄN CƯỠNG, LẰM BẰM (Ma 1:6-14) (Ma 1:6-2:9)
(Ma 1:6-14) Chúng ta có thật sự yêu mến Đức Chúa Trời trên hết không? Chúng ta có biểu thị lòng yêu mến Chúa qua phẩm chất của sự thờ phượng và phục vụ Ngài không? Trong bài tranh luận thứ hai ông Ma-la-chi “lật ngược thế cờ” đối với những lời thắc mắc mà ông đã giải đáp trong bài thứ nhất. Nếu phải thắc mắc thì nên thắc mắc về lòng yêu thương của Y-sơ-ra-ên đối với Đức Chúa Trời chớ không phải về tình yêu thương của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên. Trong khi nhận định rằng tất cả dân sự đều can tội không tôn vinh danh của Đức Chúa Trời lộ rõ qua tinh thần miễn cưỡng lằm bằm khi họ dâng của lễ (Ma 1:14), ông Ma-la-chi tập trung tấn công giới thầy tế lễ Y-sơ-ra-ên vì họ chịu trách nhiệm bảo vệ cho đền thờ khỏi mọi điều ô uế và thẩm tra mọi của lễ dâng của dân chúng để ngăn không cho người ta dâng những con sinh mù loà, tật nguyền hoặc ốm yếu (Le 22:17-25 Phu 15:21 17:1).
Áp dụng phương pháp gây chấn động sửng sốt để chữa trị, ông Ma-la-chi đánh thức tâm tư của các thầy tế lễ bằng cách đối chiếu sự kiện họ sẵn sàng bảo vệ danh dự cho những người mà họ tôn trọng với hành động bất kính nghiêm trọng của họ dành cho Đức Chúa Trời. Ông Ma-la-chi thách họ kiểm nghiệm phẩm chất của các của dâng đó bằng cách đem dâng cho nhà cầm quyền Ba-tư thay vì dâng cho Đức Chúa Trời thử xem. Ai nấy đều cứng họng trước lập luận của ông Ma-la-chi. Một vị quan tổng trấn, một ông chủ hoặc một người cha dù chỉ là con người nhưng đáng được tôn trọng và sự tôn trọng mà họ nhận được xem ra lớn lao gấp bội so với sự tôn trọng mà người Y-sơ-ra-ên dành cho Đức Chúa Trời là Cha tối cao, là chủ và là vua vĩ đại của họ (Ma 1:6,14 trong ngôn từ thông thường danh hiệu “vua vĩ đại” đặc biệt chỉ một hoàng đế hoặc vua của một nước bá chủ, như trong IIVua 18:19,28).
Nghe ông Ma-la-chi thách thức như vậy, các thầy tế lễ hoàn toàn sững sờ kinh ngạc. Dường như xưa nay họ tự dối mình trong lối nghĩ rằng khi thờ phượng hoặc dâng của lễ thì có dâng chút ít gì còn hơn là không, lòng còn âm ấm yêu mến Chúa còn hơn là lạnh tanh. Thật ra, đối với Đức Chúa Trời thì thà rằng chấm dứt hết mọi cuộc thờ phượng nhếch nhác, bất kính giả hình đó đi (10 so sánh Es 1:11-15 29:13 Kh 3:15-16).
Vì các thầy tế lễ đã không làm tròn trách nhiệm bảo vệ sự thánh khiết cho đền thờ, Đức Chúa Trời đe doạ là sẽ hình phạt họ xứng đáng với tội phạm. Vì cớ họ đã “tỏ ý khinh bỉ” (Ma 1:6) và không tôn trọng danh của Đức Chúa Trời (2:2), họ sẽ bị khinh bỉ và bị hạ nhục trước mặt toàn dân (2:9). Vì họ làm ô nhục Đức Chúa Trời (1:7) nên Ngài sẽ gây ô nhục cho họ một cách hình bóng và không cho phép họ phục vụ tại bàn thờ bằng cách ném vào mặt họ bộ lòng móc từ những con sinh không được nhậm. Vì theo luật pháp thì người ta phải đem bộ lòng của con sinh ra ngoài đền thờ và thiêu huỷ đi (Le 4:11-12) nên giờ đây họ cũng bị loại ra khỏi đền thờ (Ma 2:3). Vì họ dám liều mạng chúc phước cho dân sự như thể lễ vật đã được nhậm và dân sự đã được tha tội, nên giờ đây Đức Chúa Trời sẽ rủa sả lời chúc phước của họ (2:2). Như ông Mathew Henry có viết: “Không có gì làm ô danh Đức Chúa Trời bằng hành vi sai quấy của những người có trách nhiệm tôn vinh danh Ngài”.
Ma 1:11 là một câu gây nhiều tranh cãi nhất trong sách này. Rối nhất là chi tiết ông Ma-la-chi viết về sự dâng hương và của lễ thanh sạch trong mọi nơi, thay vì chỉ dâng tại đền thờ ở Giê-ru-sa-lem, như luật lệ trong Phu 12:1-32 đòi hỏi và vẫn được áp dụng trong thời của ông Ma-la-chi (so sánh Ma 3:3-4 4:4). Có một cách thông giải 1:1 là hiểu cụm từ nơi mặt trời mọc cho đến nơi mặt trời lặn theo lối văn tận thế học (so sánh Thi 50:1 113:3 Es 45:6 59:19). Hai câu Kinh Thánh trong sách Ê-sai trên đây có đề cập đến sự kiện các dân tộc trong thời kỳ chung cuộc sẽ gia nhập hàng ngũ dân sự của Đức Chúa Trời, điều này khiến chúng ta hiểu ông Ma-la-chi cũng nói đến một sự việc tương tự. Có những câu Kinh Thánh khác trong sách Ê-sai cũng triển khai thêm niềm hi vọng này (Es 19:19-25 và 66:19-21). Những câu đó cho thấy các dân tộc trở nên “người Lê-vi” và sẽ đem những của lễ xứng hợp dâng trên những bàn thờ được lập nên đúng theo luật lệ phép tắc cho Đức Chúa Trời chân thần (cũng so sánh Thi 47:1-11 Gie 4:1-2 So 2:11 Xa 2:11 8:23).
Có lẽ ông Ma-la-chi cho rằng những lời hứa này khởi sự được thành tựu trong thời của mình qua việc người ngoại bang gia nhập Do Thái giáo. Dầu vậy, so với thực tế là chỉ có một số ít ỏi người quy đạo vào thời đó thì lời lẽ hùng hồn trong Ma 1:11 gợi ý là ông Ma-la-chi cũng nói về một thời kỳ còn trong tương lai khi mà sự thành tựu được đầy đủ hơn.
Mục đích của Đức Chúa Trời đối với việc các dân tộc sẽ trở lại thờ phượng Ngài, trong chương trình đó có việc dân Y-sơ-ra-ên được kêu gọi để trở nên nguồn phước cho các dân (so sánh Ma 3:12 Sa 12:2-3) được nhắc lại bằng bức tranh này, một bức tranh có đền thờ làm chủ thể (thí dụ Es 2:1-5). Đây là phương cách đặc trưng của ông Ma-la-chi nhằm biểu thị mối quan tâm sâu sắc đối với thời chung cuộc và nhằm củng cố việc ông lên án sự thờ phượng và dâng của lễ vô hồn vô cảm của đồng bào đương thời. Sau khi vạch trần sự giả hình của các thầy tế lễ bằng cách đối chiếu sự kiện họ tôn trọng những con người làm lãnh đạo với cách thức họ làm ô danh Đức Chúa Trời, ông Ma-la-chi lại lên án sự giả hình đó trong Ma 1:11 bằng cách đối chiếu sự ô nhục mà họ phải chịu với lòng tôn kính Đức Chúa Trời của những người thật sự được cứu và những của lễ xứng đáng mà họ sẽ dâng lên cho Ngài trong tương lai (so sánh Mat 8:10-12, trong chỗ này Chúa Giê-xu cũng đưa ra một lập luận tương tự khi quở trách dân chúng đương thời.
Ma 2:1-9; xem giải nghĩa Ma 1:6-14
4. ĐỨC CHÚA TRỜI LÀM CHỨNG CHỐNG LẠI NHỮNG VỤ HÔN NHÂN VỚI NGƯỜI NGOẠI BANG VÀ NHỮNG VỤ LY DỊ (Ma 2:10-16)
Vì sao Đức Chúa Trời đòi hỏi người ta phải hàn gắn êm đẹp một cuộc hôn nhân rồi Ngài mới lắng nghe lời cầu nguyện của người chồng? (IPhi 3:7 so sánh Mat 5:23-24). Ông Ma-la-chi đưa ra câu trả lời: Một cuộc hôn nhân không phải đơn thuần là một sự kết ước, không phải chỉ có mối tương quan hai chiều giữa vợ và chồng mà còn là một giao ước, là mối tương quan ba chiều về trách nhiệm và đặc ân, trong giao ước đó có Đức Chúa Trời là Đấng chứng giám, hai vợ chồng mãi mãi phải chịu trách nhiệm trước mặt Ngài.
Trong câu 10 ông Ma-la-chi chuyển nhập vào bài tranh luận thứ ba với nét tả vẽ đại lược về sự bất trung của người Y-sơ-ra-ên đối với nhau, và như thế làm ô uế, làm mất giá trị bản giao ước giữa họ với Đức Chúa Trời là Cha, là Đấng Sáng Tạo của Y-sơ-ra-ên (Phu 32:6 so sánh Es 27:11 43:15 Gie 31:9). Ông Ma-la-chi lên án hai điều sai phạm trong lãnh vực hôn nhân dù hai điều đó không nhất thiết có liên quan đến nhau. Điều sai phạm thứ nhất là hôn nhân với người ngoại bang (11-12 so sánh Ne 13:29, trong câu này các thầy tế lễ lấy vợ ngoại bang làm ô uế bản giao ước dành cho giới tư tế. Điều sai phạm thứ hai là những vụ ly dị với lý do đơn giản là xung khắc hoặc ghen ghét (13-16).
Ông Ma-la-chi chủ trương một quan điểm nghiêm chỉnh triệt để về hôn nhân (xem hôn nhân là một giao ước giữa người chồng và người vợ). Hôn nhân theo chủ trương của ông đòi hỏi nơi người chồng những điều tương tự như những điều Chúa Cứu Thế và các sứ đồ đã nêu ra trong Kinh Thánh Cựu Ước. Dĩ nhiên, tôn vinh hôn nhân đến mức đó cũng khiến cho nhiều nhà giải kinh phân vân không rõ ông Ma-la-chi có ý nói về hôn nhân theo nghĩa đen trong thực tế hay không. Có người cho rằng ông dùng hôn nhân để nói hình bóng về mối tương quan giữa Đức Chúa Trời với Y-sơ-ra-ên. Tuy nhiên, lý lẽ bác bỏ ý kiến này là hễ hôn nhân làm hình bóng như vậy ở tất cả những chỗ khác trong Kinh Thánh thì Đức Chúa Trời luôn luôn ở vị thế người chồng, chớ không phải người vợ như trong Ma-la-chi đây. Có người cho rằng cụm từ vợ giao ước của ngươi (14) đơn giản là một người vợ trong dân Do Thái, tức là một người vợ có cùng một tín ngưỡng trong giao ước với Đức Chúa Trời như người chồng. Quan điểm truyền thống, như bản NIV phản ánh cho rằng ông Ma-la-chi nhằm nói về giao ước trong hôn nhân, xem ra có sức thuyết phục hơn.
Đồng bào đương thời của ông Ma-la-chi bối rối lo lắng vì Đức Chúa Trời khước từ lễ vật của họ (13). Có lẽ họ nhận biết như vậy qua sự kiện Ngài không ban phước cho họ. Ông Ma-la-chi lý giải rằng Đức Chúa Trời đang giữ vai trò một người làm chứng chống lại những người chồng đã tỏ ra bất trung đối với vợ của mình. Vì hôn nhân là một giao ước, nên chung thuỷ với vợ cũng đồng hội đồng thuyền với lòng trung thành đối với Đức Chúa Trời trong mối tương quan với Ngài.
Có thể câu 15a nhắc đến Sa 2:24 như bản dịch NIV biểu thị rõ. Nếu vậy, có lẽ ông Ma-la-chi căn cứ vào hôn nhân của ông A-đam và bà Ê-va mà chủ trương quan điểm hôn nhân là một giao ước, rồi cũng căn cứ vào đó mà ông nhấn mạnh trách nhiệm phần lớn là về phía người chồng. Ý nghĩa của câu này không rõ cho lắm, do đó bản chuyển ngữ cũng không rành mạch được, dầu vậy hướng chuyển ngữ trong bản NIV nhìn chung có bao hàm lý do khiến tiên tri đưa ra những lời cảnh báo nghiêm khắc trong 15b và 16b. Những lời cảnh báo đó cho thấy người phối ngẫu ly dị vì thiếu lòng chung thuỷ là đang phạm tội chống lại chính sanh mạng của mình (Vậy ngươi khá cẩn thận trong tâm thần mình có thể nói nôm na là: “Vậy hãy lo canh chừng mạng sống của mình đi”). Nói cách khác, quan tâm bảo vệ mạng sống của mình gần như tương đương với giữ một lòng chung thuỷ với bạn đời hợp pháp của mình (so sánh Eph 5:28). Điều này lý giải sự thông công đồng cảm chặt chẽ mà Đức Chúa Trời đã đặt để giữa người nam và người nữ trong cuộc sống lứa đôi, như chúng ta thấy Ngài đã thiết lập trong Sa 2:24. Hiểu theo ý nghĩa này chúng ta nhận thấy lập luận của Ma 2:15 rất tương tự với lập luận trong lời giáo huấn của Chúa Giê-xu trong Mat 19:5-9.
Ngoài ra, câu này xác nhận là Đức Chúa Trời định liệu là hôn nhân sản sinh ra dòng dõi thánh (“dòng dõi của Đức Chúa Trời”). Theo quan điểm của ông Ma-la-chi thì ly dị có khả năng phá hỏng mục đích này y như các cuộc hôn nhân với người ngoại giáo (so sánh Ne 13:23-27 Exo 10:3,44). Cụm từ (“dòng dõi của Đức Chúa Trời”) phản ánh hình ảnh được dùng trong câu 10 (và Ma 1:6) về Đức Chúa Trời là cha chung của chúng ta nghĩa là Đức Chúa Trời là cha của dân sự của Ngài thông qua những công tác cứu chuộc và giao ước. Tác giả cũng cố ý dùng cụm từ này để tạo một hình ảnh trái ngược với cụm từ “con gái của thần ngoại bang” trong câu 11.
Các dịch giả Kinh Thánh đã nỗ lực hết sức và phải chấp nhận đôi chút thay đổi trong bản văn mới có thể chuyển đạt được ý chính trong câu 16 của nguyên ngữ Hi Bá Lai là Ta ghét ly dị... Lời lên án tổng quát nhưng rõ ràng có vẻ mâu thuẫn với chủ trương bao dung hơn về vụ ly dị trong Phu 24:1-4. Cũng vậy, dường như Phu 22:19,29 gợi ý một cách chung chung về quyền được ly dị. Chuyện hình bóng về vụ Đức Chúa Trời ly dị Y-sơ-ra-ên trong Giê-rê-mi 3 và một vài chỗ trong Kinh Thánh Cựu Ước (Mat 1:19 5:32 19:8-9 ICo 7:15) đều bao hàm ý chung chung về luật ly dị. Do đó nên hiểu câu 16 như sau: “Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán rằng: Nếu ai ghét rồi ly dị (tức là đòi ly dị chỉ vì bất hợp bất hoà chớ không phải vì người phối ngẫu phạm tội ngoại tình) thì người đó làm bẩn xiêm y của mình bằng bạo lực (tức là làm ô uế chính mình bằng bạo lực về từ xiêm y dùng trong ý hình bóng xin so sánh với Thi 73:6 109:18 Gie 2:34). Do đó, các ngươi phải giữ mình đừng ăn ở bất trung đối với vợ mình). Một khi chấp nhận câu 16 theo hướng này chúng ta vừa khỏi hiệu đính nguyên bản Hi Bá Lai vừa có chủ từ cho động từ “ghét” là “người chồng” (muốn ly dị) chớ không phải Đức Chúa Trời. Động từ “ghét” cũng thường xuyên xuất hiện trong những đoạn văn về hôn nhân và luôn luôn chỉ về thái độ của người chồng đối với vợ (Sa 29:31 Phu 22:13,16 Cac 15:2).
5. ĐỨC CHÚA TRỜI LÀM CHỨNG CHỐNG LẠI TỘI NGOẠI TÌNH VÀ CÁC TỘI KHÁC (Ma 2:17) (Ma 2:17-3:5)
(Ma 2:17). Tiên tri mở đầu với lời cáo buộc dân sự vì họ đã làm phiền Đức Chúa Trời bằng những câu trách móc đầy mỉa mai (so sánh Ma 3:13-15). Nay dân sự đã trở về đất hứa và đền thờ đã được tái thiết còn lời hứa hẹn về sự phục hồi kinh tế, của cải và vị trí hàng đầu đối với thế giới thì sao (thí dụ so sánh Ag 2:1-23 Xa 1:16-17 2:1-17 8:1-23 9:1-17)? Trong thực tế dân Y-sơ-ra-ên liên tục phải chịu áp bức về mặt xã hội cùng chính trị và triền miên lặn hụp trong cảnh thiếu thốn về mặt kinh tế (Ne 1:3 9:36-37). Nghiêm trọng hơn nữa là lời hứa của Đức Chúa Trời về vấn đề Ngài sẽ quay về Giê-ru-sa-lem và ngự tại đền thờ trong vinh quang (Xa 1:16-17 2:4-5,10-13 8:3-13). Lời hứa đó nay ở đâu? Vì dân sự đã từng chứng kiến vinh quang của Đức Chúa Trời ngự vào đền tạm do ông Môi-se dựng và vào đền thờ do vua Sa-lô-môn xây ngay sau khi công trình được hoàn tất. Vì vậy, đương nhiên là họ cũng trông đợi (dù vậy, so sánh Mi 5:3) rằng việc tương tự cũng sẽ diễn ra đối với đền thờ vừa tái thiết xong (so sánh Xu 40:34-35 IVua 8:10-11 Exe 43:1-12). Thật vậy, Ag 2:9 đã từng hứa hẹn rằng sự vinh quang của Đức Chúa Trời sẽ ngự vào đền thờ thứ hai này cách lạ lùng hơn khi ngự vào đền thờ do vua Sa-lô-môn xây. Còn sự vinh quang nào lạ lùng hơn sự vinh quang được mô tả trong Exe 1:1-9 và 10:1-22. Theo sự khải thị về thời kỳ thành tựu thì chỉ có sự vinh quang của Đức Chúa Trời trong thân vị của Chúa Giê-xu Cứu Thế mới là sự vinh quang vượt trội hơn cả (Gi 1:14). Tuy nhiên, Đức Chúa Trời chẳng hiển thị tại đền thờ thời ông Ma-la-chi nên chẳng có sự vinh quang nào đầy dẫy trong đền thờ cả. Dầu vậy, tình hình này không kéo dài mãi: “... Chúa mà các ngươi tìm kiếm sẽ thình lình vào trong đền thờ của Ngài Vị sứ giả của giao ước, Đấng mà các ngươi mong mỏi, sẽ đến”, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy (Ma 3:1). Chúng ta thấy rằng lời tiên tri này được thành tựu một phần khi cụ Si-mê-ôn gặp em bé Giê-xu trong đền thờ và cụ đã mô tả Ngài là “ánh sáng soi khắp thiên hạ, và làm vinh hiển cho Y-sơ-ra-ên là dân của Ngài (Lu 2:32).
Thông qua từ mong mỏi trong Ma 3:1 dường như Y-sơ-ra-ên rơi đúng vào lầm lạc cũ của tổ tiên mình trong thời của tiên tri A-mốt (Am 5:18) vì họ cũng tin tưởng rằng sự hiển thị của Đức Chúa Trời đương nhiên là tin mừng. Họ thắc mắc rằng: Đức Chúa Trời của sự chánh trực ở đâu?. Câu trả lời là: Ngài đang ngự đến! Tuy nhiên, khi Ngài đến không phải Ngài chỉ đem đến phước hạnh mà thôi như họ vẫn tin tưởng, mà Ngài còn đem đến sự hình phạt nữa. Ngài sẽ đến để “làm chứng” (cùng một từ được dùng trong Ma 2:14 và 3:5 bản NIV chuyển ngữ là “làm chứng”) chống lại tất cả những người làm điều xấu xa gian ác, kể cả những người vô tín ăn nói phạm thượng mỉa mai này! Để chuẩn bị cho cuộc viếng thăm đáng sợ này, Đức Chúa Trời hứa rằng Ta sẽ sai sứ giả của ta, người sẽ dọn đường trước mặt ta (3:1).
Tên riêng Ma-la-chi trong 1:1 có nghĩa là “sứ giả/ thiên sứ của ta”. Từ này xuất hiện trong 3:1, được chuyển ngữ là sứ giả của ta, lại được dùng lần thứ hai trong 3:1 thông qua cụm từ sứ giả của giao ước. Thế là có rắc rối: Như vậy là có hai hoặc ba vị sứ giả khác nhau hoặc chỉ có một người?
Hai vế thơ song hành trong 3:1 cho thấy sứ giả của giao ước là nhân vật mà người ta mong đợi, là nhân vật sẽ ngự đến lại chẳng phải ai khác ngoài ra Chúa là Đấng mà người ta mong đợi và là Đấng sẽ ngự đến. Câu 2-3 mô tả chức vụ của vị sứ giả này, xác chứng thần tánh của Chúa, là sứ giả của giao ước.
Mặt khác, câu 1 phân biệt sứ giả của ta với Đức Giê-hô-va Vạn quân, là Đấng truyền phán, là chủ thể của đại danh từ ta, của ta. Xét thượng hạ văn giữa câu này với 4:5-6 chúng ta thấy hàm ý là sứ giả của ta không thể nào là ông Ma-la-chi (xem bình giải 4:4-6).
Theo các tác giả Kinh Thánh Cựu Ước thì ông Giăng Báp-tít là vị sứ giả của lời hứa, là người dọn đường cho Chúa (Mat 11:10-14 Mac 1:2 Lu 1:76 7:27 cũng so sánh Es 40:3). Dầu vậy, rõ ràng thông qua lối chơi chữ với tên riêng Ma-la-chi, chúng ta thấy rằng chức vụ chuẩn bị lòng người, dọn lòng người của chính ông là bóng báo trước về công tác của vị sứ giả sắp đến.
Khi Chúa đến, Ngài sẽ thi hành hai công tác bổ sung: Ngài sẽ thanh tẩy một số tội nhân (2-4) và xét đoán một số tội nhân khác (5). Lửa của thợ bạc và tro (xà bông) của thợ giặt là hai hình ảnh được dùng để nhấn mạnh rằng công tác của Ngài có tính cách triệt để và nghiêm trọng. Lửa trong lò luyện của thợ bạc đạt độ nóng rất cao nhằm làm chảy kim loại để tách cặn bã (xỉ) khỏi kim loại tinh ròng (Es 48:10 Exe 22:18-22 IPhi 1:7 cũng so sánh Mat 3:11). Cũng vậy, người xưa thường dùng loại xà bông có chứa nước tro lọc ở mức rất đậm để giặt áo quần, họ còn đặt quần áo lên tảng đá và đập bằng vồ. Nếu tội nhân thời nay muốn được thanh tẩy thay vì bị hình phạt, thì cũng có một giá phải trả (so sánh He 12:7-11).
Ma 3:1-5; xem giải nghĩa Ma 2:17
6. LÊN ÁN THÁI ĐỘ MIỄN CƯỠNG CỦA Y-SƠ-RA-ÊN KHI DÂNG CỦA LỄ (Ma 3:6-12)
Tiên tri bàn lại vấn đề dân Y-sơ-ra-ên dâng của lễ một cách miễn cưỡng (so sánh 1:6-2:9). Dầu vậy, tác giả nhấn mạnh vào sự thất bại của các thầy tế lễ rồi mở rộng phạm vi can tội ra bao trùm toàn thể nhân dân (9).
Mặc dù, câu 6 trong các bản dịch chưa đủ rành mạch xác đáng, nhưng có thể hiểu là ông Ma-la-chi nêu ra gương của ông Gia-cốp để vạch rõ tội lỗi của dân sự. Sau một thời gian lánh nạn ở Pha-đan A-ram, ông Gia-cốp trở về xứ thánh và về với Đức Chúa Trời, ông lập bàn thờ tại Bê-tên, rồi ông dâng một phần mười cho Chúa đúng theo lời ông đã hứa nguyện trong Sa 28:20-22 (cũng so sánh 35:1-7). Tương tự, hậu duệ của ông Gia-cốp cũng tái lập bàn thờ tại Giê-ru-sa-lem sau khi hồi hương nhưng họ lại hết sức lơi là trong việc dâng phần mười (cũng so sánh Ne 13:10-13). Có vẻ như đằng sau thái độ bê trễ lơi là này có một lý do chính đáng (10-11), đó là mùa màng thất bát và nạn dịch hoành hành. Tuy vậy, Đức Chúa Trời tiết lộ rằng các thiên tai đó là hậu quả của thái độ bất vâng phục của dân sự (8 so sánh Ag 1:6,9-11 2:16-19) chớ không phải nguyên nhân.
Dù rằng Đức Chúa Trời không giảm yêu cầu về mức độ thánh khiết (so sánh Ma 2:13 3:3-4) Ngài đã hứa trong câu 10-12 rằng vừa khi dân sự biết trung tín dâng phần mười thì đợt mưa mà họ mỏi mòn trông ngóng sẽ đến ngay (10), nạn dịch sẽ dứt liền và họ sẽ được mùa (11), rồi lời hứa mà Đức Chúa Trời đã hứa với ông Áp-ra-ham là các dân tộc sẽ nhờ ngươi mà được phước (12, Sa 12:2-3 cũng so sánh Thi 72:17 Es 61:9 Xa 8:13) sẽ thành tựu. Tóm lại, Đức Chúa Trời hứa là sẽ chu cấp mọi nhu cầu chớ không phải là thoả mãn lòng tham của họ. Bản NIV diễn ý câu 10 là “... và đổ phước dồi dào đến nỗi các ngươi không có đủ chỗ chứa”. Chuyển ngữ sát ý từng chữ là: “... và đổ cho ngươi đến chừng không còn có nhu cầu nữa”.
7. NGƯỜI TỐT VÀ NGƯỜI GIAN ÁC NGẠO MẠN: LÒNG YÊU THƯƠNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI ĐƯỢC CHỨNG MINH THÔNG QUA SỰ HÌNH PHẠT (Ma 3:13-18) (Ma 3:13-4:3)
(Ma 3:13-18). Bài tranh luận thứ sáu mở đầu với việc dân Y-sơ-ra-ên dám cả gan nhận định cách phạm thượng rằng phục vụ Đức Chúa Trời tính ra chẳng ích lợi gì. Chúng ta nào có lợi gì khi thực thi những điều luật của Ngài và lộ vẻ buồn rầu như người chịu tang trước mặt Đức Chúa Trời? (14) So với các tội lỗi mà ông Ma-la-chi đã liệt kê thì không rõ họ đang nói đến những điều luật nào đây. Hai vế thực thi những điều luật của Ngài và lộ vẻ buồn rầu như người chịu tang chứng tỏ là họ chỉ nhằm nói về nghi thức tôn giáo bề ngoài, có lẽ chính là nghi thức than khóc người chết mà dân Y-sơ-ra-ên vẫn tự hào trong Xa 7:1-6, một nghi thức xem ra đúng là chỉ nặng phần biểu diễn bề ngoài (so sánh Ma 2:13 Es 58:3-9).
Không phải tất cả dân cùng thời với ông Ma-la-chi đều ngang nghịch và dám cả gan gán ghép cho Đức Chúa Trời những việc sai quấy như vậy. Câu 16 đề cập đến một thành phần gồm những người kính sợ Đức Giê-hô-va và tôn vinh danh của Ngài. Y như khi Ngài nhắc lại những lời phạm thượng đầy khiêu khích của thành phần thứ nhất, thì Ngài cũng nghe những thành phần thứ hai chuyện trò trao đổi trong tinh thần trung tín tận tụy. Vua Xét-xe có một bảng ghi công. Bảng liệt kê đó cho thấy thời gian qua lâu rồi mà người ta vẫn chưa khen thưởng ông Mạc-đô-chê là người đã lập công trạng lớn (Et 6:1-3). Tương tự, như vậy một bảng ghi nhớ được ghi chép trước mặt Đức Chúa Trời về người tin theo Ngài (cũng so sánh Thi 139:16 Da 12:1).
Đám dân bất kính bất bình phao rằng bọn gian ác vẫn phát đạt, và ngay cả những người dám đứng ra thách thức Đức Chúa Trời cũng vẫn thoát nạn. Đức Giê-hô-va Vạn quân hứa rằng rồi đây đến ngày họ sẽ thấy rằng họ sai lầm trầm trọng đến thế nào (so sánh câu 2). Còn đối với những người có tên trong bảng ghi nhớ thì sẽ đến ngày họ thuộc về Đức Chúa Trời và được Ngài quý trọng (17, Xu 19:5). Sẽ đến ngày Ngài giải cứu những người trung tín phục vụ Ngài và tỏ lòng thương xót đối với họ. Sẽ đến ngày mặt trời công bình mọc lên mang theo trong cánh của mình sự chữa bệnh đến với những người tôn kính danh của Đức Chúa Trời (Ma 4:2 so sánh Es 60:1-3 mặc dù có lẽ ông Ma-la-chi xây dựng hình bóng của mình trên quan niệm của người Trung Đông cổ cho rằng mặt trời là một đĩa tròn có cánh, cũng so sánh Lu 1:78), rồi họ sẽ khắc phục thành phần gian ác (Ma 4:3). Đối với mọi người thì rồi đây sẽ đến ngày người ngạo mạn và người gian ác sẽ bị đốt như rơm cỏ (4:1).
Ma 4:1-3; xem giải nghĩa Ma 3:13-18
8. KẾT LUẬN (Ma 3:4-6)
Với lời kêu gọi trong phần kết (4:4-6) ông Ma-la-chi tóm tắt những điểm chính của lời tiên tri: Nhớ lại luật pháp của Môi-se, lời hứa về tiên tri Ê-li và ngày sắp đến của Đức Giê-hô-va. Ông Ma-la-chi hoàn toàn lệ thuộc vào luật pháp của Môi-se, rải rác trong suốt sách tiên tri của ông cũng đề cập rõ ràng hoặc ngầm ý đến nhiều câu trong Ngũ kinh. Hai điều này chuẩn bị tinh thần độc giả về lời lên án thứ nhất. Còn trong phần lên án thứ hai chúng ta không rõ vì sao vị tiên tri sắp đến lại được xem là Ê-li. Có lẽ nạn hạn hán dai dẳng trong 3:10 nên cần có một vị tiên tri cỡ ông Ê-li xuất hiện (IVua 17:1 so sánh Gia 5:17). Cũng có thể ông Ma-la-chi nặng lòng trước ảnh hưởng tai hại của những cuộc hôn nhân với người ngoại giáo (Ma 2:10-12). Sự kiện này khiến ông nhớ đến cuộc hôn nhân tai tiếng của vua A-háp với bà Giê-sa-bên gây bao sóng gió cho ông Ê-li và làm cho Y-sơ-ra-ên điêu đứng (IVua 16:31 18:4,19 19:2). Chắc hẳn ông Ma-la-chi sẵn sàng đón nhận một lời thách thức kiểu Ê-li đối với tình trạng hoà hoãn trong tín ngưỡng và thái độ tự mãn của dân sự đương thời. Tuy vậy, lý do xác đáng hơn hết có lẽ là ông Ma-la-chi nhận thấy rằng trong tất cả các vị tiên tri thời Cựu Ước, không một ông nào khớp với hình ảnh tiên-tri-cứu-tinh-kiểu-Môi-se, như Phu 18:15 đã báo trước, bằng tiên tri Ê-li (so sánh 34:10-12). Chính vì thế mà trong 4:4-6 ông Ê-li đứng bên cạnh ông Môi-se trong vai trò đại diện cho hàng ngũ các tiên tri trong Cựu Ước, như ông cũng sẽ làm đại diện khi xuất hiện trên núi Hoá Hình (Mat 17:3 Mac 9:4 Lu 9:30 cũng so sánh Kh 11:3 là câu mô tả hai vị chứng nhân theo hình ảnh của ông Môi-se và ông Ê-li).
Ở đây có lời hứa là Đức Chúa Trời sẽ phái Ê-li đến trước ngày của Đức Giê-hô-va. Lời này củng cố cho hướng giải nghĩa Ma 3:1 ở trên là vị sứ giả trong lời hứa không phải là ông Ma-la-chi mà là một vị tiên tri khác trong tương lai (nhân vật được đề cập trong cả hai câu Kinh Thánh đều do Đức Chúa Trời sai phái và sẽ đến trước ngày của Đức Giê-hô-va). Có lẽ vị tiên tri tương lai này được nhận dạng là Ê-li không phải vì cớ ông Ê-li ngày xưa không trải qua sự chết, không phải vì sự kiện ông được cất lên trong thời xa xưa đó mà ông sẽ được đưa về địa cầu bằng xương bằng thịt, nhưng lý do thoả đáng hơn là vị tiên tri tương lai này được sai phái thi hành một chức vụ tương tự như chức vụ của tiên tri Ê-li trong lịch sử. Nhân tiện chúng ta cũng có thể ứng dụng hướng giải nghĩa này vào cách hiểu những câu Kinh Thánh báo trước sự xuất hiện của “Đa-vít” trong tương lai. Không nhất thiết phải hiểu theo nghĩa đen tức là không phải một vua Đa-vít thứ hai bằng xương bằng thịt (Gie 30:9 Exe 34:23-25 37:24).
Kinh Thánh Tân Ước cho rằng lời tiên tri này được thành tựu qua ông Giăng Báp-tít (Mat 11:10-14 17:10-13 Mac 9:11-13 Lu 1:17 nhưng so sánh Gi 1:21,25). Dù bốn trăm năm sau ông Giăng Báp-tít mới xuất hiện, nhưng ông là vị tiên tri kế tiếp Ma-la-chi theo kinh điển trong dòng lịch sử cứu chuộc. Như ông Ê-li, ông Giăng Báp-tít vận y phục khác lạ tức là áo bằng da lạc đà và thắt một dây lưng bằng da (IIVua 1:8 Mat 3:4 Mac 1:6). Ông Giăng Báp-tít thi hành chức vụ trong tinh thần can trường, khẳng khái vạch trần tội lỗi như ông Ê-li. Chức vụ đưa đẩy ông vào thế bất hoà với vua và hoàng hậu gian ác (IVua 19:1-21 Mac 6:17-18) nhưng ông vẫn “đi trước mặt Chúa, trong tinh thần và năng lực của Ê-li, để đem lòng cha trở về với con cái, kẻ loạn nghịch đến sự khôn ngoan của người công bình, để sửa soạn cho Chúa một dân sẵn lòng” (Lu 1:17).