XA-CHA-RI

MỤC LỤC

XA-CHA-RI

1. DẪN NHẬP CHO CÁC CHƯƠNG (Xa 1:1-6)

Xa 1:1-6. Phân đoạn ngắn này trình bày bối cảnh chính trong thời tiên tri Xa-cha-ri:  Thính giả của ông là hậu duệ của những người trước kia không vâng theo sự cảnh báo cấp bách của Đức Chúa Trời và do đó họ bị hình phạt.

Mọi diễn biến xảy ra ở năm thứ hai thời trị vì của vua Đa-ri-út I (tức là tháng 10-11 năm 520 T.C.), mười tám năm sau những đợt hồi hương phát xuất từ Ba-by-lôn, những lời tiên tri này nằm giữa khoảng thời gian của Ag 2:1-9 và 2:10-23.

Câu 2 gồm có năm từ trong tiếng Hi Bá Lai nhưng có ảnh hưởng rất mạnh.  Câu này có nghĩa đen là: “Đức Chúa Trời nổi giận với tổ tiên của các ngươi trong một cơn giận”.  Rõ ràng tác giả nhấn mạnh từ “cơn giận”.  Tác giả lặp lại ý này trong câu 15, cũng nhấn mạnh từ cơn giận (nghĩa đen) “và trong cơn giận dữ dội ta nổi giận”, nhưng trong câu 15 cơn giận này chuyển từ dân Giu-đa qua các dân tộc.  Thường thường khi Kinh Thánh nói về cơn giận của Đức Chúa Trời thì không phải là một ý xấu nhưng đây là cơn giận công bình đối với tội lỗi, chúng ta nhớ lại Chúa Giê-xu nổi giận trong đền thờ (Mac 11:15-17 so sánh 3:5).

Lời của Đức Chúa Trời đã phán trong quá khứ không bị đảo ngược lại những lời đó vẫn tồn tại trong khi thế hệ tổ tiên và ngay cả các tiên tri đã nói những lời đó đều qua đi rồi (5).  Sự hình phạt báo trước cho dân của Đức Chúa Trời đã xảy ra cho họ (6).  Có thể câu 6 mô tả cảnh tiếp diễn trong quá khứ, hoặc chúng ta có thể đánh dấu hỏi ngay cuối câu 6a.  Như thế chúng ta phải hiểu rằng thính giả của ông Xa-cha-ri đã ăn năn và công nhận Đức Chúa Trời hình phạt là chính đáng.

Ghi nhận là tác giả dùng thủ thuật lặp lại để nhấn mạnh sứ điệp của mình:  nội trong câu 3 ông lặp lại ba lần từ Đức Chúa Trời Vạn quân (tức là Đấng bách chiến bách thắng trên mọi thành phần chống đối) trong nguyên ngữ Hi Bá Lai hai từ trở lại (được dùng ba lần trong câu 2 đến 3) và từ ăn năn trong câu 6 có cùng một dạng.  Ông Xa-cha-ri là một nhà văn điêu luyện.  Khi nghiên cứu kỹ văn của ông chúng ta lãnh hội được nhiều điều.

Ghi chú.  Bản NIV chuyển ngữ từ “Đức Giê-hô-va Vạn Quân” thành ra Đức Chúa Trời Toàn Năng, bản NIV cũng dùng từ “Toàn năng” để chuyển ngữ từ Shaddai trong tiếng Hi Bá Lai.  Bài bình giải này dùng từ “Đức Giê-hô-va Vạn Quân” vì như thế là chính xác hơn và rõ nghĩa hơn.  Từ ngữ này rất phù hợp với sách Xa-cha-ri vì các bài tiên tri trong sách này nói nhiều về các đạo quân.  Danh hiệu này cũng ngụ ý rằng Đức Chúa Trời nắm giữ mọi quyền lực vô tận.

2. MỘT LOẠT NHỮNG KHẢI TƯỢNG TRONG BAN ĐÊM KÈM THEO LÀ NHỮNG BÀI GIẢNG (Xa 1:7-6:15)

Ba tháng sau khi ông nói tiên tri lần đầu tiên (đầu năm 519 T.C.) ông Xa-cha-ri nhận được một loạt tám khải tượng, có lẽ là trong tám đêm, mỗi đêm một khải tượng.  Nhiều học giả nhận thấy có sự phân biệt giữa khải tượng thứ tư và những khải tượng khác nên họ cho rằng khải tượng này không phải của Xa-cha-ri.  Đồng ý là có những điểm khác biệt nhưng lý do đó không đủ vững để buộc chúng ta phải kết luận rằng ông Xa-cha-ri không thấy khải tượng này.  Dầu sao, trong kinh điển của chúng ta khải tượng thứ tư này vẫn là một phần trong chuỗi tám khải tượng của ông Xa-cha-ri.  Các khải tượng đầu tiên khác với các khải tượng thấy về sau vì trong những khải tượng này tiên tri thấy mình là một nhân vật trong khải tượng cho nên đã có thể nêu những câu hỏi trực tiếp với thiên sứ, thắc mắc về những điều ông trông thấy.

Trước khi phân tích từng khải tượng chúng ta nên có một cái nhìn tổng quan về tám khải tượng này.  Như đã đề cập trong phần dẫn nhập tác giả/ biên tập của sách Xa-cha-ri đặt nặng cấu trúc.  Vì vậy hiểu cấu trúc giúp chúng ta hiểu được sứ điệp của sách.

Tám khải tượng này được sắp xếp theo thứ tự đảo chéo như sau (ABCD/ DCBA, xem Dẫn nhập):

1. Đoàn ngựa đi tuần tra địa cầu, các dân tộc đang sống yên ổn (Xa 1:7-17)

2. Các sừng đã phân tán dân cư Giê-ru-sa-lem sẽ bị hình phạt

3. Giê-ru-sa-lem có dân cư nhưng không có tường thành

4. Thầy tế lễ thượng phẩm Giê-sua được phục hồi (từ “nhánh” được đề cập đến)

5. Hai nhân vật được xức dầu (ông Giê-sua và ông Xô-rô-ba-bên)

6. Cuốn sách/ Lời rủa sả được loan ra chống lại kẻ trộm cắp...

7. Cái rổ và người phụ nữ:  Sự gian ác bị dẹp bỏ và đưa đi xa

8. Đoàn ngựa và xe ngựa tuần tra địa cầu:  Thần của Đức Chúa Trời yên nghỉ (6:1-8)

Rõ ràng khải tượng 1 và 8 tương tự với nhau nhưng hoàn cảnh thay đổi từ sự kiện Đức Chúa Trời đang nổi giận với dân của Ngài nay hài lòng với họ.  Căn cứ vào nội dung của tư liệu về khoảng thời gian này và căn cứ vào tình hình trái ngược chúng ta tin rằng các dân tộc đã bị xử lý, còn Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đã được thanh tẩy và bảo vệ.

Cặp khải tượng 2-3 và 6-7 đi đôi với nhau, chú ý là ở mỗi cặp (kể cả khải tượng 8) đều mở đầu bằng câu tôi nhìn lên.  Khải tượng 2-3 đi đôi với nhau vì có hình thức tương tự và đều tập trung báo trước về Giê-ru-sa-lem.  Bài giảng trong 2:6-13 càng nhấn mạnh tính cách hợp nhất và nối kết cả hai với khải tượng 1 bằng câu lại chọn Giê-ru-sa-lem nữa.  Bài giảng này cũng có những yếu tố mới và quan trọng đối với toàn bộ chương 1-8:  “Các ngươi sẽ biết rằng Đức Chúa Trời Vạn Quân đã sai phái ta đến...” (so sánh 4:9  6:15), nhiều dân tộc sẽ theo Đức Chúa Trời (8:20-23 so sánh 6:15a), và Đức Chúa Trời sẽ ở giữa dân sự của Ngài và làm Đức Chúa Trời của họ (8:3,8).

Có cơ sở cho chúng ta nối kết khải tượng 2 với 7.  Cả hai có cấu trúc tương tự vì cả hai đều gồm có hai phần:  sừng và các tay thợ/phụ nữ trong cái thúng và phụ nữ có cánh.  Cả hai đều dùng những từ ngữ tương tự.  Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai yếu tố này lộ rõ hơn là trong bản dịch.  Kèm theo hai khải tượng đó có một bài giảng của vị tiên tri (2:4-5  5:3-4).  Khải tượng 3 và 7 cũng dùng một số từ giống nhau.

Khải tượng 4 và 5 giữ vị trí trọng tâm và ít nhất là trong hình thức hiện tại trình bày về quyền đồng lãnh đạo mà Đức Chúa Trời giao cho ông Giê-hô-sua là thầy tế lễ thượng phẩm và ông Xô-rô-ba-bên (“Nhánh”) là người tái thiết đền thờ và theo 6:13 là người được đội vương miện vinh hiển.  Hai ông đứng trước mặt Đức Chúa Trời của toàn thế gian.

Khải tượng 6 và 7 đi đôi với nhau: cả hai đều dùng cùng một từ “đi ra” và bàn về sự kiện xấu xa gian ác bị tiêu diệt khỏi đất.  “Đi ra” cũng nối kết hai khải tượng này với khải tượng cuối.

Khải tượng 8 đúc kết toàn bộ, là đỉnh điểm cho cả loạt khải tượng vì khải tượng này trình bày các mục tiêu của Đức Chúa Trời đã thành tựu:  Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của toàn thế gian.

6:9-15 tường thuật lời tiên tri và hành động.  Cũng nhắc lại một số những chủ đề quan trọng nhất đã đề cập trong các khải tượng trước:  Hai nhân vật lãnh đạo đền thờ, dân chúng tập hợp lại để tái thiết đền thờ và câu “Các ngươi sẽ biết rằng Đức Giê-hô-va Vạn Quân đã sai phái ta đến với các ngươi”.  Câu 15b nhắc lại chương 1:2-6 (đặc biệt là câu 4).

1. Khải tượng thứ nhất:  Đoàn ngựa tuần tra địa cầu (Xa 1:7-17)

Khải tượng này mô tả ba nhân vật: một kỵ sĩ... (8,10), một thiên sứ (9,13-14) và vị thiên sứ của Đức Giê-hô-va (11-12).  Có lẽ nhân vật thứ 1 và thứ 3 là một người (đặc biệt xem câu 11).  Trong hầu hết các khải tượng đều dùng câu: Vị thiên sứ nói cùng ta.

Ông Xa-cha-ri kể lại rằng ông có một khải tượng (nghĩa đen là “thấy”) một người đàn ông cỡi ngựa đỏ đứng giữa lùm cây sim (không rõ ý nghĩa và vai trò của lùm cây này).  Đằng sau kỵ sĩ này có ba con ngựa nữa với ba màu khác nhau.  Đỏ, nâu và trắng, nhiều người tìm cách gán cho ba màu này một ý nghĩa nào đó (thí dụ: máu, hỗn độn, hoà bình) nhưng xem ra đây chỉ là những chi tiết về bối cảnh.  Con ngựa trong 6:2 có bốn màu khác (cũng so sánh với Kh 6:2,4-5,8).

Đoàn ngựa này đã tuần tra địa cầu và thấy rằng địa cầu này đang bình yên: Chi tiết này có nghĩa là dường như các dân tộc đã từng áp bức Giu-đa nay vẫn không hề hấn gì.  Thiên sứ của Đức Giê-hô-va kêu xin Đức Chúa Trời hành động (12) và Ngài bảo đảm rằng nay cơn giận của Ngài hướng về các dân tộc.  Trước kia Ngài nổi giận với dân sự của Ngài nhưng các dân tộc đã hành động quá đà và Ngài đã trở về Giê-ru-sa-lem.  Điểm cuối cùng này sẽ được bày tỏ trong việc xây dựng đền thờ (bốn năm về sau thì hoàn tất) và tái thiết thành phố Giê-ru-sa-lem (dây đo biểu thị về việc để xác định khu vực tái thiết, nhà cửa dân cư.

Ghi nhận đến ý nhấn mạnh là ghen tương (tức là “trung thành mãnh liệt”) vì Giê-ru-sa-lem và cơn giận đối với các dân tộc trong câu 14b-15a.  Tác giả thực hiện việc này qua lối văn lặp lại và cách sắp xếp từ ngữ (so sánh c.2):  “Ta vì Giê-ru-sa-lem và Si-ôn động lòng ghen quá lắm - Vì ta rất không đẹp lòng các dân tộc đương yên vui”.  Từ “yên vui” có ý nói rằng họ không bị hình phạt mà còn tự thị tự mãn như trong IIVua 19:28  Thi 123:4.

Câu 17 kết thúc khải tượng thứ nhất một cách mạnh mẽ.  Từ còn được lặp lại để nhấn mạnh tính cách liên tục của tuyển dân trong dòng lịch sử.  Họ là hậu duệ của ông Áp-ra-ham, là người được Đức Chúa Trời chiếu cố lập giao ước.  Ngài đã sửa trị họ nhưng không bao giờ bỏ rơi họ luôn.  Câu còn... chọn Giê-ru-sa-lem cũng được dùng trong Xa 2:12  3:2.  Câu này chuẩn bị nền tảng cho những lời tiên tri về hai nhân vật lãnh đạo do Đức Chúa Trời chỉ định trong hai khải tượng trọng tâm (chương 3-4).

2. Khải tượng thứ hai:  Bốn cái sừng và bốn tay thợ (Xa 1:18-21)

Tác giả chuyển từ khải tượng thứ nhất qua khải tượng thứ hai như thể không có một khoảng thời gian nào chen giữa:  Rồi ta nhìn lên.  Ông thấy bốn cái sừng.  Sừng tiêu biểu cho sức mạnh (Phu 33:17) thường có ý chỉ về sự hùng hổ tấn công/ hoặc kiêu ngạo (Thi 75:4-5,10  Da 8:3-9).  Bốn cái sừng tiêu biểu cho các dân tộc đã phân tán dân Giu-đa, dân Y-sơ-ra-ên và phá huỷ Giê-ru-sa-lem.  Rồi bốn tay thợ xuất hiện làm họ hoảng sợ (hoặc “làm cho họ thất trận”) rồi quẳng họ xuống.  Kinh Thánh không xác định việc này diễn ra như thế nào.  Thật vậy, tác giả không đặt nặng vấn đề bốn tay thợ mà tập trung nhấn mạnh vấn đề mấy cái sừng.  Chú ý đến sự kiện tác giả lặp lại từ cái sừng (19,21) và phân tán (21) cách không cần thiết.  Vị tiên tri không tìm hiểu xem họ là ai mà tìm hiểu xem họ sắp làm gì.  Không nhất thiết là bốn cái sừng tiêu biểu cho bốn quốc gia riêng rẽ.  Nhưng số 4 biểu thị cho sự đầy đủ, như khi bốn con ngựa phi về bốn hướng (Xa 1:10  6:5-7 so sánh những câu nói về “bốn hướng gió” 2:6  6:5).

Rõ ràng, tiên tri muốn độc giả mường tượng được hình ảnh nổi bật về sức mạnh của các quốc gia đó, và nhớ lại mức độ tàn phá mà họ đã gây ra cho Giu-đa.  Đức Chúa Trời không muốn dân sự của Ngài quên hoặc không nhận thức đúng mức sự giải cứu vĩ đại của Ngài.  Các quốc gia đó giương sừng lên chống nghịch Giu-đa và dân của Đức Chúa Trời bị bắt phục hoàn toàn, chẳng một ai có thể ngóc đầu lên được (21).  Nhưng thảm thương cho các quốc gia đó, họ sắp bị xử lý rồi.

3. Khải tượng thứ ba: Giê-ru-sa-lem có dân cư nhưng không có tường thành (Xa 2:1-13)

Câu 1-5 trình bày khải tượng thứ ba của ông Xa-cha-ri.  Kèm theo khải tượng này là một bài giảng có liên quan mật thiết với khải tượng.  Câu cuối chương 2 là một câu riêng rẽ nói thẳng với toàn thể thế giới một cách đầy năng lực.

(Xa 2:1-5) Khải tượng  Tiên tri Xa-cha-ri nhìn thấy một người đàn ông tay cầm dây đo đạc (cụm từ này khác cụm từ trong Xa 1:16 nhưng diễn tả cùng một ý).  Ông này đi đo chiều dài và chiều rộng của Giê-ru-sa-lem.  Theo lịnh Đức Chúa Trời truyền cho ông trong câu 4-5, chúng ta hiểu rằng cuộc đo đạc này góp phần chuẩn bị cho việc tái thiết tường thành.

Thật khó lần theo dấu vết và phân biệt các thiên sứ trong khải tượng này.  Bản NIV nắm được ý của nguyên bản Hi Bá Lai và phân biệt ba thiên sứ:  Thiên sứ thứ nhất (A1) là người đàn ông cầm cái thước dây và lo đo đạc Giê-ru-sa-lem thiên sứ thứ hai (A2) là thiên sứ nói chuyện với tiên tri Xa-cha-ri rồi bỏ đi (nghĩa đen “đi ra”).  Thiên sứ thứ ba (A3) là thiên sứ khác là thiên sứ đến (nghĩa đen “đi ra”) gặp A2 để nhờ A2 chuyển lại cho A1 một thông điệp.  Có thể lắm A3 là “thiên sứ của Đức Giê-hô-va” (trong 1:11-12).  Nói cách khác A3 bảo A2 chuyển lại cho A1 một điều.  Sao phải lòng vòng như thế?  Có lẽ để nhấn mạnh tính cách quan trọng của sứ điệp bất ngờ này.  Lẽ ra xây dựng lại tường thành và củng cố đồn luỹ phải là việc đương nhiên và cũng có thể là nằm trong ý muốn của Đức Chúa Trời đối với Giê-ru-sa-lem.  Nhưng với thông tin này thì việc đó không cần thiết nữa, vì hai lý do:  thành sẽ quá rộng lớn và chính Đức Chúa Trời sẽ là tường thành, một tường thành bằng lửa.

Phải hiểu như thế nào đây?  Trong thực tế, tường thành Giê-ru-sa-lem được tái thiết năm 445 T.C. dưới sự lãnh đạo của ông Nê-hê-mi.  Mặt khác, dân cư sống tràn ra xa ngoài tường thành.  Điều quan trọng cần chú ý là khi “Đức Chúa Trời ngự giữa thành, thành sẽ không thất bại nữa” dù là có hoặc không có tường thành (Thi 46:4 so sánh 48:1-3,8  32:7  Giop 1:10).

Sự kiện Đức Chúa Trời ở giữa dân của Ngài được nhấn mạnh qua nhiều cách trong chương 1-8: tuyên bố một cách quả quyết (Xa 2:10-12  8:3,8  13:9   14:4), công cuộc tái thiết đền thờ được hoàn tất trong chương trình của Đức Chúa Trời (4:8-9 so sánh 9:8) qua việc thanh tẩy và tái bổ nhiệm thầy tế lễ thượng phẩm, là người đại diện cho dân sự (3:1-7), qua lời hứa là nhiều dân tộc sẽ đến “tìm kiếm (ân huệ của) Đức Chúa Trời” tại Giê-ru-sa-lem (8:20-23 so sánh 2:11  14:16-19).

(Xa 2:6-12) Bài giảng tiên tri  Từ ba khải tượng đầu, ông Xa-cha-ri chuyển qua một cách nhẹ nhàng bài giảng có tính cách tiên tri này.  Nội dung bài giảng bàn về số phận đảo ngược của Giu-đa và của các dân tộc.  Bước đầu là dân sự được phục hồi.  Họ được ân xá giải phóng khỏi cảnh lưu đày tại Ba-by-lôn.  Dĩ nhiên đã có nhiều người trở về vào 520 T.C. Tuy nhiên, nhiều người vẫn còn ở lại Ba-by-lôn nên bài giảng này thúc giục họ hãy chạy thoát khỏi Ba-by-lôn và lo trở về nơi Đức Chúa Trời đã ngự về.

Trong phần thứ nhất (6-9) tiên tri thúc giục dân lưu đày rời khỏi Ba-by-lôn lập tức vì quốc gia đó sắp sửa bị hình phạt (người lùng sục của cướp sẽ trở nên của cướp).  Khi sự thể này diễn ra họ sẽ nhận biết rằng Đức Giê-hô-va Vạn Quân đã sai phái ông.  Trong phần thứ hai (10-11) ông báo cho dân sự biết rằng Đức Chúa Trời sẽ ngự giữa vòng họ tại Giê-ru-sa-lem, nhiều dân tộc sẽ nhập bọn với họ tại đó.  Sự kiện này cũng là một dấu hiệu chứng tỏ tiên tri đã nhận được sứ điệp này từ Đức Chúa Trời (“rồi các ngươi sẽ biết rằng Đức Giê-hô-va Vạn Quân đã sai phái ta đến với các ngươi”).  Trong câu 12 có một lời hứa là Đức Giê-hô-va sẽ thừa hưởng Giu-đa ... và Ngài sẽ lại chọn Giê-ru-sa-lem.

Lời hứa ở câu 11a được đóng khung trong câu “Ta sẽ ngự giữa các ngươi”, tạo nên một cấu trúc đảo chéo.  Điệp khúc trong câu 9b và 11b (rồi các ngươi sẽ biết...) làm nổi bật mối quan tâm về sự vinh hiển quy về cho Đức Chúa Trời qua những việc làm của Ngài.  Trong Xa 4:9  6:15 cũng có câu này.  Còn câu sẽ còn chọn Giê-ru-sa-lem cho thấy mối liên hệ giữa bài giảng này với khải tượng thứ nhất (xem 1:17) và chuẩn bị một mối nối kết với khải tượng thứ tư (3:2).

“Hãy đến!” (6-7) là một từ đơn giản nhằm thu hút sự chú ý của th1nh giả.  “Sau khi Ngài tỏ ra quý trọng ta và sai phái ta tiên tri chống lại các dân tộc..”. (8) là một nỗ lực chuyển ngữ một câu rất hóc búa trong nguyên ngữ: “ Sau sự vinh hiển sai phái ta (hoặc Ngài sai phái ta) đến các dân tộc...”.  Có người đề nghị từ “vinh hiển” là danh hiệu Đức Chúa Trời (so sánh 5b), hoặc đây là từ dùng để nói về khải tượng.  Đại danh từ “ta” có thể chỉ về ông Xa-cha-ri (thực ra ông Xa-cha-ri chẳng bao giờ được sai đi đến các dân tộc, ngoại trừ tiên tri cho họ một cách hết sức gián tiếp), hoặc một trong các thiên sứ.  Dù sao đi nữa thì mối quan tâm chính ở đây là xác định rằng những điều Đức Chúa Trời phán về việc này (qua thiên sứ, qua ông Xa-cha-ri) là thật sự từ Đức Chúa Trời.

(Xa 2:13) Lời kêu gọi toàn thể thế giới  Lời kêu gọi vang lên vào lúc này rất thích hợp.  Vì sau một thời gian chờ đợi lâu dài, Đức Giê-hô-va sẽ ra tay hành động chống lại những dân tộc đã áp bức dân sự của Ngài.  Toàn cầu hãy lặng yên trước mặt Ngài trong bầu không khí kinh ngạc (so sánh Ha 2:20) thiếu điều không dám thở.

4. Khải tượng thứ tư:  Thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-sua (Xa 3:1-10)

Chương 3 và 4 gồm hai khải tượng chính trong loạt tám khải tượng này.  Cả hai đều xoay quanh hai nhân vật lãnh đạo:  thầy tế lễ thượng phẩm và quan tổng trấn (người lãnh đạo trong lãnh vực dân sự).  Cả hai gương mặt này hợp lại tượng trưng quyền cai trị của Đức Chúa Trời trên dân sự của Ngài.  Chương 3 tập trung quanh thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-sua nhưng cũng có nhắc đến tôi tớ  ta, Nhánh (8 so sánh Xa 6:12 nói rằng ông sẽ xây dựng đền thờ của Đức Giê-hô-va).

Chương 4 trình bày hình ảnh hai cây ô-li-ve tiêu biểu cho “hai người được xức dầu để phục vụ (nghĩa đen “đứng bên cạnh”) Đức Chúa Trời của toàn thế gian.  Bản NIV được chuyển ngữ là “được xức dầu để phục vụ” xem ra không dúng cho lắm và như thế là bỏ qua mấu nối giữa câu này với phần khác trong chương qua từ “đứng” (so sánh 3:1,3,4,5,7) (chú ý là từ toàn thế gian (“đất”) cũng xuất hiện trong 4:14  5:3,6  6:5.  Cách dùng này góp phần tạo tính cách nhất quán cho bốn khải tượng cuối).  Cả hai câu 3:1 và 4:14 cùng xác nhận ông Giê-hô-sua là một trong hai nhân vật được xức dầu. 

(Xa 3:1-5) Tháo gỡ lời cáo buộc của Sa-tan  Phân đoạn này mô tả sự kiện “Sa-tan” cáo buộc thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-sua.  Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai từ “Sa-tan” có nghĩa là “đối thủ” và chỉ có ISu 21:1 mới ghi từ này dưới dạng tên riêng.  Còn chỉ có trong Giop 1:1-2:13 từ này mới có nghĩa là một đối thủ siêu nhiên.  Kỳ dư, trong những trường hợp khác từ này chỉ về con người chống nghịch một nhân vật “đối thủ” của toàn dân hoặc cá nhân riêng lẻ.  Trong sách này cũng như trong sách Gióp, kẻ”đối thủ” lo cáo buộc một trong những người tôi tớ của Đức Chúa Trời.

Trong cương vị thầy tế lễ thượng phẩm lẽ ra ông Giê-hô-sua chỉ được ra mắt Đức Giê-hô-va trong trang phục ấn định trong Xu 28:1-43.  Trang phục này tượng trưng cho sự thánh sạch là điều kiện phải hội đủ nếu muốn yết kiến Đức Chúa Trời thánh khiết.  Khi ông Giê-hô-sua bị cáo buộc là ăn mặc dơ nhớp khi đứng trước mặt Đức Giê-hô-va, thì có nghĩa là ông bị cáo buộc về tình trạng bất khiết (4b), rồi vì ông đại diện cho dân sự trước mặt Đức Chúa Trời, điều này cũng có nghĩa là dân sự cũng bất khiết.

Kẻ “đối nghịch” cáo buộc điều có thật.  Tuy nhiên, kết quả bị cáo không bị hình phạt mà được thanh tẩy.  Khải tượng thứ sáu và thứ bảy nhấn mạnh sự phục hồi của Đức Chúa Trời dành cho dân sự trong lãnh vực này:  kẻ trộm cắp và người thề dối trá sẽ bị trừ bỏ (Xa 5:3).  Còn chính sự gian ác thì bị trục xuất và đẩy đi xa khỏi xứ (5:7,10-11).

Thầy tế lễ thượng phẩm cũng phải đội mũ bằng vải (Xu 28:4,37-39), không rõ lúc đầu ông Giê-hô-sua có đội loại mũ nào không nhưng nay ông được đội một cái mũ sạch tinh tươm.  Ở đây dùng một từ có dạng hơi khác với từ mũ trong Xuất Ê-díp-tô Ký nhưng phát xuất từ cùng một gốc (tsaniph/ mitsnepheth).

Kể cũng lạ tai khi nghe Đức Chúa Trời phán rằng “Đức Giê-hô-va quở trách ngươi” (2) nhưng thật ra câu này có nghĩa là “Ta, là Đức Giê-hô-va, quở trách ngươi” và câu này có sức thuyết phục độc giả rằng những lời cáo buộc của Sa-tan hoàn toàn bị gạt bỏ (so sánh Thi 9:5  Es 17:13).  Cây củi cháy dở được rút khỏi lửa (2) nhắc chúng ta nhớ lại Am 4:11, và ngụ ý rằng ông Giê-hô-sua (và dĩ nhiên là toàn dân Giu-đa) được xá miễn khỏi một cuộc sửa trị đích đáng.  Trong khi thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng bên cạnh (5) có lẽ hàm ý là hành động này được Đức Chúa Trời chấp thuận.

(Xa 3:6-7) Ông Giê--sua nhận lệnh  Sau khi được thanh tẩy ông Giê-hô-sua có thể đứng trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời.  Ông được lệnh là phải đi trong đường lối của Đức Chúa Trời và tuân thủ mọi yêu cầu của Ngài cả hai từ này đều có nghĩa là sống và hành động theo ý muốn của Đức Chúa Trời.  Đặc biệt từ thứ hai được dùng khi nói về nhiệm vụ của thầy tế lễ hoặc về công tác bảo trì  chăm nom đền thánh (thí dụ Dan 3:7-8,25-38).  Những kẻ đứng chầu đây tức là các thiên sứ đứng trước mặt Đức Chúa Trời như trong  câu 4.

(Xa 3:8-9) Ông Giê--sua nhận thêm một lệnh nữa  Có vẻ như phần này bổ sung cho khải tượng đầu tiên (có động từ ở thì truyền lệnh như người ta thường thấy ở phần mở đầu một bài nói có những chi tiết mà phần trước chưa hề đề cập đến: Nhánh, hòn đá, bảy con mắt.  Dầu vậy, đỉnh điểm: “Ta sẽ cất bỏ tội lỗi của xứ này chỉ nội trong một ngày thôi” (nghĩa là nhanh chóng và triệt để) lại hoàn toàn phù hợp với khải tượng này, vì thầy tế lễ thượng phẩm đại diện cho toàn thể dân sự.

Các bạn hoặc đồng lao của ông Giê-hô-sua có lẽ là các thầy tế lễ cùng phục vụ tại đền thờ.  Họ tượng trưng cho những điều sẽ đến (nghĩa đen: “người làm dấu”).  Có lẽ điều này có ý nói là Nhánh sẽ xuất hiện trong tương lai để giữ vai trò thầy tế lễ.

Nhánh là một danh hiệu của Đấng Mê-si (Gie 23:5-6 so sánh Es 4:2  11:1 cũng xem phần dẫn nhập).  Nhánh có liên quan tới ông Xô-rô-ba-bên, dù tên của ông không được nhắc đến trong phần chính của các khải tượng.  Không rõ vì lý do gì.  Có lẽ vì ông Xô-rô-ba-bên không được lòng chính quyền Ba-tư nên cần giữ kín tên của ông.  Nhưng có lẽ vì tác giả muốn độc giả liên hệ nhân vật lãnh đạo Giu-đa và Giê-ru-sa-lem hiện nay với lời hứa về Đấng Mê-si trong Es 9:1-7 và 11:1-9.  Không ai nghĩ rằng ông Xô-rô-ba-bên là Đấng Mê-si mà nghĩ rằng ông là biểu tượng về Đấng Mê-si.  Ông góp phần giúp chúng ta hiểu ít nhiều về quyền cai trị của Đấng Mê-si.  Điều này được tỏ rõ trong chương 4 và Xa 6:9-15.

Không rõ hòn đá đặt trước mắt ông Giê-hô-sua có nghĩa gì.  Bản văn góp phần giúp chúng ta nắm bắt được vài khái niệm.  Hòn đá được chạm trổ để ghi lại một kỷ niệm nào đó, có lẽ để bổ nhiệm ông Giê-hô-sua.  Mấy con mắt có lẽ liên quan với 4:10, trong câu này bảy ngọn đèn được giải nghĩa là “bảy con mắt của Đức Giê-hô-va, xem xét toàn thế gian”, tức là Ngài biết tất cả mọi việc xảy ra trên trái đất này.  Thật ra từ này cũng có đơn giản nghĩa là “con suối”, như thế rất phù hợp với phần cuối của câu Kinh Thánh: tẩy trừ tội lỗi của xứ.

(Xa 3:10) Một lời hứa kết thúc  Cây nho và cây vải trồng lâu năm mới cho trái, tiêu biểu cho hoà bình và thịnh vượng.  Trong IVua 4:25 cũng dùng hình ảnh này để mô tả cảnh thái bình trong thời cai trị của vua Sa-lô-môn.  Trong IIVua 18:31 vua A-si-ri cũng dùng hình ảnh hứa hẹn này để dụ dỗ dân chúng nhưng chỉ là một lời hứa hảo huyền không thể tin cậy được.  Trong Mi 4:4 từ này được dùng để mô tả phước hạnh trong “thời kỳ cuối cùng” (4:1).

5. Khải tượng thứ năm:  Hai nhân vật được xức dầu (Xa 4:1-14)

Chương này có một cấu trúc khá lạ lẫm vì mãi đến câu 10b mới có câu trả lời cho câu hỏi trong câu 5 và vì các phần đầu, cuối và khải tượng ở giữa được nối kết một cách gượng gạo.  Sự kiện này khiến cho nhiều nhà bình giải xem câu 6-10a là được thêm vào sau này bằng không thì họ dời khúc văn đó đến chỗ khác.  Tuy nhiên, có thể tác giả đã cố tình vận dụng cấu trúc này.  Chương này diễn tiến như sau:

1-3 Mô tả khải tượng đặc biệt là bảy ngọn đèn và hai cây ô-li-ve.  4 Tiếp theo là một câu thắc mắc “những điều này là gì?”, điều này hàm ý chỉ về “bảy”.  Thiên sứ đáp lại bằng một câu hỏi (câu 5):  “Ngươi không biết những điều này là gì sao?” mãi đến sau khải tượng về Xô-rô-ba-bên (6-10a) mới có câu trả lời.  Rốt cuộc, tiên tri Xa-cha-ri nhận được câu trảlời trong 10b về vấn đề “bảy”.  11-14 Tiên tri lại thắc mắc về hai cây ô-li-ve và hai ống dẫn bằng vàng cũng như lần trước thiên sứ trả lời bằng một câu hỏi “Ngươi không biết điều này là gì sao?”.  Trong câu 14 tiên tri Xa-cha-ri nghe thiên sứ trả lời về hai cây ô-li-ve và hai ống dẫn bằng vàng.

Có lẽ ông Xa-cha-ri dùng thủ thuật hoãn trả lời câu hỏi để tăng tính cách quan trọng của sứ điệp.  Trong chương 7-8 cũng vậy, câu hỏi được nêu ra trong Xa 7:3 chỉ được trả lời trong 8:18-19!  Ở đây cũng vậy ông tạm hoãn trả lời bằng những câu hỏi đánh ngược và kéo dài thời gian hoãn trả lời bằng cách kể một khải tượng từ câu 6-10. 

Khải tượng này đóng một vai trò khác nữa là bày tỏ mối liên quan giữa Xô-rô-ba-bên và nhân vật được xức dầu vì trong tất cả mấy khải tượng này ông Xô-rô-ba-bên không được nêu đích danh.

(Xa 4:1,5,10,14) Khải tượng thứ năm  Ông Xô-rô-ba-bên thấy một chân đèn ở giữa với bảy ngọn đèn, ở mỗi bên là một cây ô-li-ve.  Căn cứ vào nội dung tiếp theo trong câu 11-12 thường thường người ta cho rằng hai cây ô-li-ve đứng hai bên hàm ý rằng cây ô-li-ve châm dầu cho đèn.

Bản văn trong nguyên ngữ Hi Bá Lai ngầm ý là bảy ngọn đèn có bảy tim đèn (như trong bản RSV).  Bản văn trong tiếng Hi Lạp gợi ý là có bảy ống dẫn từ bình dầu ở giữa đến bảy ngọn đèn (như bản NIV).  Dù hiểu theo hình ảnh nào thì đây là một ngọn đèn rất sáng.  Bảy ngọn đèn này (10b) tiêu biểu cho mắt của Đức Giê-hô-va trải đi qua lại khắp đất (chú ý là câu 14 cũng dùng cụm từ này nhưng bản NIV đã bỏ qua cũng xem bình giải Xa 3:1-10).  Hình ảnh này gợi ý việc chiếu sáng cho những nơi tối tăm để không có điều gì thoát khỏi tầm nhìn của Đức Giê-hô-va.  Xem ra không thể cho rằng bảy ngọn đèn này chỉ về 3:9, vì nó nằm quá xa câu trả lời và bị một câu hỏi về “bảy” khác làm cho không còn rõ ý nữa.

Hai câu ô-li-ve tiêu biểu cho hai nhân vật được xức dầu bởi Đức Giê-hô-va đứng trước mặt thế gian.  Trên một bình diện nào đó hai người này là thầy tế lễ và quan tổng trấn đương thời ông Giê-hô-sua và ông Xô-rô-ba-bên.  Dầu vậy, cho rằng hai ông này có thể cung cấp dầu cho Đức Giê-hô-va để đốt đèn của Ngài là chuyện khó hiểu!  Nhưng có lẽ chúng ta không nhất thiết phải áp dụng mọi chi tiết của hình ảnh tiêu biểu như thế này vì hình ảnh tiêu biểu chỉ đúng trong một giới hạn nào đó.  Tuy nhiên có lẽ những ống dẫn bằng vàng không đi từ cây ô-li-ve đến chân đèn vì thật sự bản văn không có xác định rõ là như vậy.  Có người cho rằng bầu đựng dầu cung cấp dầu cho câu ô-li-ve.  Chủ trương này có phần hợp lý vì Đức Chúa Trời là Đấng khởi xướng và xức dầu cho người được xức dầu của Ngài.  Nhưng về phương diện khác thì chủ trương này lại không phù hợp với thực tế trong cuộc sống:  cây ô-li-ve cho dầu rồi dầu chuyển tới đèn. 

Câu 12 thật là tối ý, nhất là vì ở trên không có nói đến cành cây hoặc ống dẫn.  Có người đề nghị một hướng giải quyết là bầu đựng dầu ở chính giữa tượng trưng cho Đức Chúa Trời, và bầu đựng dầu này cung cấp cho cả cây đèn lẫn cây ô-li-ve.

(Xa 4:6-10) Bài giảng về ông --ba-bên  Bài giảng này vừa giúp thiên sứ hoãn đáp lại câu hỏi của vị tiên tri (4) vừa góp phần xác định nhân thân của ông Xô-rô-ba-bên.  Ông là một trong hai cây ô-li-ve hoặc một trong hai nhân vật được xức dầu.  Bài giảng gồm có hai phần:

Nội dung câu 6-7 bảo đảm với ông Xô-rô-ba-bên rằng ông không cần đến thế lực hoặc năng lực, nhưng ông cần Thần của Đức Chúa Trời.  Nếu đòi hỏi năng lực thì không thể diễn ra cuộc đối đầu giữa ông Xô-rô-ba-bên và một ngọn núi hùng vĩ.  Nhưng trong trường hợp có thần của Đức Chúa Trời thì ngọn núi hùng vĩ sẽ bị san bằng trước mặt ông, tức là những lực lượng chống lại nhiệm vụ công tác của ông Xô-rô-ba-bên sẽ tiêu tan.  Tiếng hô “Cầu Chúa ban phước cho đền thờ!” có nghĩa đen là “cầu cho đền thờ được thương xót!”.  Như vậy có ý nói về sự lộng lẫy của đền thờ lẫn sự thương xót của Đức Chúa Trời để họ có đủ sức xây dựng trong đền thờ.  Viên đá góc nhà, nghĩa đen là “viên đá đầu nhà”, chỉ được dùng ở đây mà thôi.  Rõ ràng đây là một viên đá quan trọng trong đền thờ, chuyển đạt ý tưởng là đền thờ đã được hoàn tất (so sánh câu 9) và có lẽ chỉ về “viên đá ở đầu góc” (Thi 118:22) tức là viên đá được đặt ở góc nhà nơi hai bức tường đâu nhau nhằm ghép hai bức tường lại với nhau cho thẳng và vững chãi.

Phần thứ hai (8-10) có câu mở đầu phù hợp, hứa hẹn rằng ông Xô-rô-ba-bên sẽ có năng lực hoàn tất công cuộc tái thiết đền thờ.  Sẽ không xảy ra trường hợp bị cản trở xây dựng như xưa khi đám dân mới hồi hương từ Ba-by-lôn (Exo 4:4-5,24).  “Ai dám khinh dể ngày thực hiện những việc nhỏ” (10).  Câu này ứng dụng cho những người nản chí khi đối diện với sự chống đối và tình trạng bất lực của đám dân hồi hương.  Họ tưởng là họ không thể thành công, nhưng họ sẽ hoan hỉ khi thấy ông Xô-rô-ba-bên thành công.  Tiên tri Xa-cha-ri nhẹ nhàng khiển trách họ pha lẫn ý khích lệ họ (như một y tá trách yêu bệnh nhân vậy).  Nguyên từ được chuyển ngữ là dây dọi trong bản NIV có nghĩa đen là “cục đá chì” hoặc có lẽ là “cục đá riêng biệt”.  Không mấy khi người ta dùng chì treo ở đầu dây dọi, cho nên có lẽ câu này chỉ về viên đá cuối cùng hoàn thành đền thờ mới (7), cho thấy dân Giu-đa được tách khỏi các dân khác, được chọn để làm dân riêng của Đức Chúa Trời.  Sự kiện đền thờ được hoàn tất cũng có nghĩa là sứ điệp mà Đức Chúa Trời phán qua ông Xa-cha-ri là chân thật, được thành tựu (xem bình giải c.9,12).

6. Khải tượng thứ sáu (Xa 5:1-4)

Hai sứ điệp kế tiếp đi đôi với nhau, như thể khải tượng thứ hai và thứ ba vậy.  Cả hai đều bàn về vấn đề thanh tẩy đền thờ.  Cuốn sách bay biểu tượng cho sự rủa sả đã tung ra khắp nơi trên đất (so sánh Xa 4:10b,14  5:3,6  6:5) để hình phạt kẻ gian ác.  Trong khải tượng kế tiếp (5:5-11) một phụ nữ biểu tượng cho “sự gian ác” bị đẩy đi xa tít tắp tận xứ Ba-by-lôn (Hi Bá Lai, Si-na là Su-me-ri ở  Mê-sô-bô-ta-mi).

Cuộn sách bay có lẽ đang bay trong tình trạng mở dài ra, không cuộn lại để cho ai nấy đều có thể đọc nội dung của sách.  Xét kích cỡ của cuốn sách 20x10 thước (cubit, khoảng 10mx5m) thì có lẽ người ta đọc được chữ viết trong sách.  Kích cỡ to lớn của sách nhấn mạnh tính cách quan trọng của sứ điệp.

Có lẽ sách ghi những lời rủa sả dành cho kẻ gian ác, nghĩa là “lời thề thốt” và đặc biệt liên quan tới chuyện không làm trọn một yêu cầu, một bổn phận nào đó, như trong Phu 29:20-21.

Hai hạng tội nhân có đề cập ở đây đại diện cho những kẻ gian ác, chớ không phải chỉ đại diện cho những người sẽ bị hình phạt.  Người ăn cắp ăn trộm đại diện cho toàn thể những người gây chuyện càn quấy đối với người lân cận của mình còn người thề dối có liên quan đến danh của Đức Chúa Trời (so sánh Le 19:11-12) là sỉ nhục chính Đức Chúa Trời.  Bị truất xuất phát từ một gốc có nghĩa là “hãy tinh sạch, hãy được thanh tẩy”.  Bị truất có nghĩa là bị loại bỏ khỏi dân sự của giao ước và như thế là lọt ra ngoài sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.  Trong thời đại mà người ta coi chuyện nói dối là không trầm trọng, không đáng kể, thì giải pháp là hãy nhớ lại lời tiên tri này và nhớ những khúc Kinh Thánh tương đương như Gie 28:15-17 và Công-vụ các Cong 5:1-11.

Sự rủa sả là một lời phán của Đức Chúa Trời được nhân cách hoá trong câu 4.  Sự rủa sả sẽ vào trong nhà ... ở tại đó... và phá huỷ nhà hoàn toàn: Cả phần làm bằng gỗ lẫn phần xây bằng đá.

7. Khải tượng thứ bảy (Xa 5:5-11)

Cả hai khải tượng thứ sáu và thứ bảy đều bàn ít nhiều về cách Đức Chúa Trời xử lý tội lỗi.  Khải tượng thứ sáu tập trung bàn về sự thanh tẩy xứ bằng cách loại trừ tội lỗi.

Ông Xa-cha-ri nhìn thấy một cái ê-pha (tức là một cái đấu để lường) là đơn vị lường.  Chúng ta không rõ kích thước của ê-pha, nhưng có lẽ là một ê-pha chứa khoảng mười ga-lông tức là khoảng ba mươi lít.  Có lẽ trong kích thước phóng lớn như trường hợp cuốn sách (Xa 5:2).  Đây là sự gian ác có ý nghĩa hơn là nguyên bản Hi Bá Lai:  “Đây là mắt của chúng”.  Các bản dịch trong tiếng Hi Lạp cổ và Sy-ri cổ ủng hộ cho cách chuyển ngữ này.  Có lẽ tác giả chọn ê-pha vì cớ đã có những câu Kinh Thánh như Am 8:5 chẳng hạn: “thu nhỏ đồ đo lường, tăng giá hàng (nghĩa đen) “làm cái ê-pha nhỏ lại, và đồng shê-ken lớn”.  Đây là bằng cớ của sự gian lận, là thiếu quan tâm đến người khác.

Cái nắp đậy (nặng nề) mở ra, trong ê-pha có một phụ nữ, tiêu biểu cho sự gian ác.  Điều này không có ý nói rằng phụ nữ tiêu biểu cho tội lỗi là hay ho hơn đàn ông nhưng có lẽ đơn giản chỉ vì từ phụ nữ thuộc giống cái.  Chú ý là những người loại trừ tội lỗi, loại trừ sự gian ác khỏi xứ cũng là phụ nữ (9-11).  Gió thổi trong cánh của chúng (9) cũng có thể chuyển ngữ là “thần” (so sánh Xa 6:5).  Câu này cho việc thanh tẩy là hành động của Thần của Đức Chúa Trời.  Trong nguyên bản Hi Bá Lai từ cò có cùng gốc với từ “nhân từ” và có lẽ đó là lý do khiến tác giả đề cập đến chim cò ở đây: sự thanh tẩy là một dấu chứng về ân sủng.

Ba-by-lôn (11), (nghĩa đen “Si-na” là Mê-sô-bô-ta-mi, ông Áp-ra-ham rời bỏ nơi đó khi Đức Chúa Trời lập giao ước với ông tháp Ba-bên cũng được xây ở đó và bị Đức Chúa Trời phá huỷ (Sa 11:2,9.  Cũng ghi nhận thêm mối liên hệ với câu chuyện này qua câu “Khắp mặt đất.khắp xứ” 11:4,9 so sánh Xa 5:3).  Nhà cho nó có lẽ là một ngôi đền (so sánh cụm từ “nhà của Đức Giê-hô-va”).  Dầu sao cụm từ này có nghĩa là sự gian ác không có chỗ đứng giữa vòng dân sự của Đức Chúa Trời.

8. Khải tượng thứ tám và là khải tượng cuối cùng (Xa 6:1-8)

Trong nhiều phương diện khải tượng cuối cùng tương tự như khải tượng thứ nhất.  Cả hai giữ vai trò liên kết loạt khải tượng này: Coi như hai mặt bao bì gói trọn các khải tượng kia vào bên trong.  Ngoài ra, người ta chú ý là khải tượng này tạo đỉnh điểm cho toàn thể tám khải tượng:  Trong chương 1 các dân tộc ở yên ổn thanh bình còn Đức Chúa Trời nổi giận đối với họ và nổi ghen vì Giê-ru-sa-lem và Giu-đa.  Trong chương 6 Thần của Chúa nghỉ ngơi yên ổn (còn các dân tộc đã bị hình phạt).

Giữa hai khải tượng cũng có những điểm dị biệt đáng ngạc nhiên.  Thí dụ:  Chương 6 đề cập đến cả xe ngựa lẫn ngựa.  Ngựa có màu sắc khác.  Trong chương 1 có hai con ngựa đỏ, một con nâu và một con trắng.  Trong chương 6 bốn đám ngựa có màu đỏ, đen, trắng và xám.  Không rõ vì sao lại có những điểm khác nhau như vậy, nhưng Xa 6:10,14 cũng cho thấy sự khác biệt tương tự.

Đám ngựa kéo xe phóng đi bốn hướng (bốn hướng trên la bàn).  Chúng ta suy ra đám ngựa đỏ phóng về hướng đông vì tác giả không ghi chi tiết này.  Việc này bày tỏ rằng ảnh hưởng của Đức Chúa Trời bao trùm toàn thế giới (so sánh Chúa của toàn thế giới, 6:5  4:14).  Ở đây tác giả dùng thủ thuật chơi chữ, nhưng khi chuyển ngữ chúng ta không diễn tả được điều đó:  Từ “thần” đồng dạng với từ “gió” (so sánh Gi 3:8).  Đến phần phúc trình thì tác giả chỉ ghi sự phúc trình của đám ngựa phóng về hướng bắc (8).  Có lẽ là vì có nhiều mối liên quan đến phương bắc: phương bắc được xem là tổng hành dinh của các thần (so sánh Thi 48:2).  Ở phương trời đó có Si-na hoặc Ba-by-lôn (Xa 2:7  5:11 so sánh Gie 23:8), và cũng là từ phương bắc mà quân thù tấn công đại quy mô vào Giu-đa và Y-sơ-ra-ên (Es 41:25  Gie 1:13-15  16:15), kể cả quân thù trong thời kỳ cuối cùng (Exe 38:6,15).  Chắc chắn tác giả muốn chúng ta hiểu rằng cuối cùng Đức Chúa Trời hài lòng với tình trạng của toàn thế giới.

Hai ngọn núi (1) dường như tiêu biểu cho cổng của thiên đàng (so sánh câu 5) bằng đồng có lẽ chỉ về mặt trời mọc (hừng đông của một ngày mới chú ý là khải tượng thứ nhất xảy ra vào ban đêm (Xa 1:8) nên có thể chi tiết này có ý nghĩa) hoặc chỉ về hai cây trụ nơi cổng của đền thờ.  Đồng được sử dụng để biểu thị sức mạnh (thí dụ Gie 1:18) để đối phó với những cuộc tấn công:  Đền thờ thiên thượng của Đức Chúa Trời là bất khả xâm phạm.

Có lẽ màu lông của các con ngựa không nhằm chuyển đạt một ý nghĩa gì (2-3,6-7, xem bình giải Xa 1:8).  Ngựa xám là một từ trong bản dịch nhằm chuyển ngữ hai từ rất tối nghĩa.  Có thể hai từ này có nghĩa là “những con ngựa xám, những con ngựa đầy sức mạnh”: từ thứ hai chỉ về toàn bộ các đám ngựa đó.

Tác giả cố ý không xác định rõ từ bốn thần linh (hoặc “ngọn gió”) (5).  Gió không có hình dạng và ở đâu cũng có gió, tương tự như sự hiện diện của Đức Chúa Trời vậy.  Căn cứ vào câu 8 thì có lẽ “gió” là ý tiên khởi của từ được dùng ở đây.  Dầu vậy, trong văn thơ đầy những hình ảnh ví von thi vị chúng ta không nên yêu cầu tính cách đồng nhất giữa các từ được dùng (so sánh “bảy thần linh” trong Kh 1:4  3:1  4:5  5:6).

9. Một bài giảng (Xa 6:9-15)

Bài giảng này giữ vị trí đỉnh điểm quan trọng nhất của chùm tám khải tượng này, và là mối thắt gom những ý chính trong các chương trước lại với nhau.  Tác giả vận dụng thủ thuật đảo chéo trong cấu trúc căn bản của bài giảng này.  Mở đầu và kết thúc bài giảng được phân định rõ ràng bởi một loạt  tên riêng của những người hồi hương mới đến từ Ba-by-lôn (cũng so sánh với chương 7-8).  Có thể trình bày bài giảng này dưới hình thức như sau:

9    Dẫn nhập vào bài giảng

10  Hãy nhận từ... Hiên-đai Tô-bi-gia và Giê-đa-gia... và đi đến nhà của Giô-si-a con trai của Sô-phô-ni.

11  Dùng bạc và vàng làm thành vương miện (nghĩa đen mũ miện) và đội (nó/ chúng nó) lên đầu Giê-hô-sua.

12  Và nói với người như sau:  Một người tên là Chồi Nhánh mọc ra từ chỗ mình... và xây dựng đền thờ của Chúa Giê-hô-va.

13  Người sẽ ngồi trên ngôi và cai trị, và người/ sẽ có một thầy tế lễ trên/  bên ngai của người và sẽ có sự hoà hảo giữa hai người.

14  Mũ miện sẽ là (thuộc về) Hiên-đai (Hi Bá Lai, Hê-lem), Tô-bi-gia, Giê-đa-gia và Hen con trai của Xê-pha-nia làm kỷ niệm trong đền thờ của Đức Giê-hô-va.

Dưới đây xin liệt kê ra những chi tiết khác lạ trong khúc văn:

(i)  Câu 14 đổi tên của hai người đã nêu trong câu 10.  Hiên-đai nghĩa là chuột chũi, điệp viên, con đê chắn sóng!) trở thành Hê-lem có nghĩa là “sức mạnh”  (lề bản NIV), còn Giô-si-a trở thành Hen (nghĩa là “ân sủng”.  Trong Xa 4:7 dùng cùng một từ này hai lần khi nói về việc tái thiết đền thờ).

(ii)  Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai từ được chuyển ngữ là mũ miện thật ra ở dạng số nhiều nhưng lại đi với một động từ số ít (14).  Có lẽ tác giả muốn hàm ý là hai nhân vật ở vị trí lãnh đạo Giu-đa (xem dưới đây).

(iii)  Nếu chỉ căn cứ vào văn phạm mà thôi thì khó lòng xác định là có một hoặc hai nhân vật.  Chương 4 viết rằng ông Xô-rô-ba-bên xây dựng lại đền thờ.  Trong chương 3 “chồi nhánh” không phải là ông Giê-hô-sua.  Sự hoà hợp giữa hai nhân vật (13) đương nhiên chẳng ai khác ngoài thầy tế lễ và vị lãnh đạo về mặt dân sự, nhưng vẫn có thể có nghĩa là “hai phương diện lãnh đạo chính trị và tư tế.

(iv)  Ở đây không nêu đích danh ông Xô-rô-ba-bên và sự kiện mũ miện (số ít hoặc số nhiều) được đặt trong đền thờ để kỷ niệm, gợi ý là bài giảng này nói về những diễn biến sau khi ông này qua đời rồi.

Nếu chúng ta nhớ lại rằng “chồi nhánh” là một từ dùng để chỉ về Đấng Mê-si và nếu ứng dụng lời tiên tri này cho Chúa Giê-xu thì nhiều chi tiết hoá ra xứng hợp:  Ngài vừa là vua vừa là thầy tế lễ Ngài thực sự mới là nhân vật mà ông Giê-hô-sua và ông Xô-rô-ba-bên là hình bóng dù không hoàn hảo cho lắm.  Ngài là Đấng xây dựng đền thờ của Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh.

Câu cuối cùng tương tự như đỉnh điểm của chương 7 và 8.  Nhiều người từ mọi nơi mọi chốn xa xăm sẽ đến, không phải chỉ có một ít người như trong phần đầu khúc văn này.  Đây sẽ là dấu hiệu chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời thật sự có phán qua các sứ giả của Ngài (15 xem bình giải Xa 2:9-11).

Chú giải 11 “Mão miện” (số nhiều).  Từ này ở dạng số nhiều nên đã có nhiều hướng giải thích: mão miện này là loại có nhiều vòng tròn, để có thể đội một vòng làm mão đơn hoặc đội nhiều vòng chồng lên nhau cách cầu kỳ (Kh 19:12), hoặc dạng số nhiều ở đây là nhằm tỏ ý “tôn quí” nghĩa là một cái mão miện tuyệt vời hoặc bản văn sai hoặc đó là một từ số ít theo quy tắc.  Dầu sao có nhiều khả năng là tác giả dùng từ này với dụng ý nào đó.  14  Rất khó hiểu và rất khó chuyển ngữ câu này.  Ông J. A. Motyer gợi ý rằng “và mão miện sẽ là kỷ niệm của Hê-lem...” có nghĩa là: “Khi Đấng Mê-si ngự trên ngôi vừa làm vua vừa là thầy tế lễ thì thiên hạ sẽ đến từ nơi xa xôi để tỏ lòng quy phục Ngài”.  Có lẽ tác giả dùng thuật chơi chữ ở đây: mão miện nhắc đến sức mạnh, sự nhân từ (Tô-bi-gia có nghĩa là Đức Chúa Trời là tốt cho tôi”), hiểu biết (Giê-đa-gia có nghĩa là “Đức Chúa Trời hiểu biết”) và ân sủng - một sự tuyên dương về hành động của thành phần hồi hương (10) là những người đã về từ nơi rất xa mang theo bạc và vàng, với vàng bạc đó người ta chế tạo được mũ miện và là một lời hứa là họ sẽ được ban phước.

3. VẤN ĐỀ KIÊNG ĂN (Xa 7:1-8:23)

Tác giả xây dựng chương 7-8 theo một cấu trúc đảo chéo cỡ lớn, với một lời hứa đặt ở chính giữa (Xa 8:8).  Hai chương này bàn về những vấn đề đã nêu ra trong 1:1-6, khuyên giục tinh thần vâng phục, một lời hứa cho Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, một lời hứa mở rộng (căn cứ vào việc thiên hạ từ Bê-tên đến “cầu xin ơn huệ của Đức Giê-hô-va”) cho nhiều dân tộc.

Tác giả dùng những từ then chốt và những cụm từ nối kết các khúc văn lại với nhau giúp cho độc giả hoặc thính giả dễ nắm bắt nội dung tổng quát.  Mặc dù, khó lòng biết chắc ý nghĩa của một vài khúc văn xét từng chi tiết nhưng nhìn chung hai chương này dễ chịu và có tính cách nhất quán.  Với hai chương này chúng ta bước vào một phần mới trong sách Xa-cha-ri.  Sứ điệp củng cố và bổ sung cho những điều đã nói trong những phần trước.  Đức Giê-hô-va hình phạt dân sự vì họ bất vâng phục.  Ngài ngưng không bảo vệ họ và thu hồi dấu hiệu về sự hiện diện của Ngài, đền thờ.  Nhưng nay Ngài sẽ lại “ngự giữa họ” tại Giê-ru-sa-lem được phục hồi.  Ngài khuyến khích họ tuân thủ những mạng lệnh mà trước kia họ đã từng phế bỏ.

Mở đầu là một câu hỏi về vấn đề kiêng ăn: dân cư ở Bê-tên phái một phái đoàn đến với các thầy tế lễ và các tiên tri (đương nhiên ông Xa-cha-ri là một) để hỏi xem họ có nên kiêng ăn trong tháng năm như truyền thống không.  Tiên tri Xa-cha-ri đối chất họ về động cơ đằng sau sự kiêng ăn và nhắc lại sự bất vâng phục của dân sự trước kia khiến cho họ bị lưu đày.  Ông nói tiếp sang phần lời hứa lớn lao dành cho Giê-ru-sa-lem trong tương lai.  Đây là cốt lõi của phần sách này.  Ông ôn lại những mạng lệnh mà Đức Chúa Trời yêu cầu tổ tiên họ tuân thủ, và cuối cùng ông trả lời về vấn đề kiêng ăn.  Nội dung câu trả lời không như họ tưởng: Kiêng ăn không phải chỉ trong tháng thứ 5 rồi thôi mà còn kiêng ăn trong tháng 4, tháng 7 và tháng thứ 10 nữa.  Đây sẽ là những mùa kiêng ăn trong sự vui mừng.  Những câu này cho thấy ân sủng của Đức Chúa Trời, tức là Đức Chúa Trời vui thích ban cho họ dự dật, vượt quá mức tưởng tượng của họ.  Chưa hết, Ngài còn rộng lòng ban ân sủng cho các dân tộc chung quanh, nên họ sẽ đến Giê-ru-sa-lem để cầu xin ơn huệ của Ngài.

Cấu trúc của hai chương này như sau:

7:1*

A (2)  Phái đoàn từ Bê-tên đến cầu hỏi Đức Giê-hô-va.

B (3)  Câu hỏi về sự kiêng ăn.

C (9-10)  Các tiên tri thuở xưa dạy rằng “Đừng mưu tính sự gian ác trong lòng mình”.

D (12b-14) Cơn thạnh nộ dữ dội nổ ra nên xứ bọ tan hoang.

8:1*          

Đ (3-8a) Lời hứa về phước hạnh dành cho tàn dân.

E (8b) Họ sẽ là dân của ta và Ta ... Đức Chúa Trời của họ.

Đ1 (9-13) Lời hứa về phước hạnh dành cho tàn dân.

D1 (14-15) Nhưng nay Đức Chúa Trời có những quyết định tốt đẹp cho Giê-ru-sa-lem.

C1 (16-17) Đừng mưu tính điều gian ác trong lòng mình.

8:18*

B1 (19)  Sự kiêng ăn trở nên lễ hội.

A1 (20-23) Nhiều người sẽ cầu xin ơn huệ nơi Đức Giê-hô-va

Trong phần Dẫn nhập có mô tả cấu trúc đảo chéo này.  Trọng tâm ở phân đoạn (E) .

Câu có dấu hoa thị (*) là câu giáo đầu, tăng tính cách quan trọng cho nội dung sẽ được bàn đến kế tiếp.

Chú ý là những phân đoạn được xác định bởi cùng một chữ cái đều có nội dung liên quan đến nhau.  Tất cả những phân đoạn với nội dung liên quan đến nhau đều có những từ hoặc những cụm từ đầy ý nghĩa khiến chúng ta phải chú ý đến sự liên quan giữa hai khúc văn.  Phân tích cấu trúc như thế này cho phép chúng ta nhận ra những điểm quan trọng hàng đầu trong toàn phần.

Phát khởi từ một câu hỏi có vẻ như tầm thường, do một nhóm người tầm thường đến từ một thôn trong xứ Y-sơ-ra-ên, hai chương này triển khai thành một lời xác nhận quan trọng hàng đầu về sự tuyển chọn của Đức Chúa Trời đối với dân sự của Ngài và về những mục đích trường cửu của Ngài (Xa 8:8 cách chuyển ngữ của bản NIV đánh mất tính cách liên tục giữa câu này với hàng loạt những lời hứa có liên hệ đến Xu 6:7 thí dụ Sa 17:8  Gie 31:33 ... nghĩa đen trong mỗi trường hợp là:  “Ta sẽ là đối với họ/ ngươi Đức Chúa Trời” so sánh Xa 2:11 “...  sẽ là đối với ta một dân”).  Câu này nằm ở chính giữa phần sách này, thường thường là điểm mấu chốt trong một khúc văn có cấu trúc đảo.  Phần thứ nhất của lời hứa trong 2:11 giữ vai trò quan trọng đáng chú ý và câu đó xuất hiện trở lại trong 13:9 ở đỉnh điểm quan trọng.

1. Một phái đoàn (Xa 7:1-3)

Năm thứ tư đời vua Đa-ri-út (I) là năm 518 T.C., hai năm sau bài giảng đầu tiên của ông Xa-cha-ri, và hai năm trước khi xây dựng xong đền thờ (Exo 6:15).  Bê-tên nằm tại vương quốc phía bắc của Y-sơ-ra-ên là nơi vua Giê-rô-bô-am I lập ra sự thờ lạy hai pho tượng bò con bằng vàng.  Một lời hứa dành cho người đến từ Bê-tên chúng tỏ còn ân sủng!  Sự kiện Giê-ru-sa-lem là trung tâm thờ phượng đúng theo lệnh của Đức Chúa Trời được nêu lên và nhấn mạnh là chuyện dễ hiểu thôi.  Không rõ Sa-rết-se và Rê-ghem Mê-léc là ai.  Có thể chuyển ngữ như sau:  “Bê-tên Sa-rết-se sai phái Rê-ghem Mê-léc (có lẽ là một tước danh của “phát ngôn nhân của hoàng gia”)  và những người theo ông ta”.

Trong sách Xa-cha-ri cụm từ nài xin ơn của Đức Giê-hô-va chỉ xuất hiện trong câu này, trong Xa 8:21,22.  Như thế cụm từ này hợp với câu hỏi về vấn đề kiêng ăn làm thành một khung nhất quán chung quanh chương 7 và 8.  Những kỳ kiêng ăn được nêu ra trong 7:3,5 và 8:19 có lẽ là nhằm kỷ niệm những biến cố sau đây:  Tháng thứ năm, đền thờ bị phá huỷ (IIVua 25:8-9), tháng thứ tư, tường thành Giê-ru-sa-lem bị vỡ (Gie 39:2), tháng thứ bảy quan tổng trấn Giu-đa là Giê-đa-lia bị ám sát (IIVua 25:25  Gie 41:1-2), tháng thứ mười vua Nê-bu-cát-nết-sa bắt đầu bao vây Giê-ru-sa-lem (IIVua 25:1-2  Gie 39:1).

2. Một lời thách thức về hiện tại (Xa 7:4-14)

(Xa 7:4-7) Một câu hỏi đáp lại câu thắc mắc về vấn đề kiêng ăn  Ông Xa-cha-ri không cần phải lý luận để đưa ra một câu trả lời căn cứ vào luật pháp, nhưng ông nhận được một sứ điệp trực tiếp từ Đức Chúa Trời về vấn đề đó.  Ông hỏi họ về động lực: Họ kiêng ăn vì Đức Chúa Trời hoặc vì động lực riêng tư?  Ông cũng nói rõ rằng các tiên tri trước kia cũng đã rao truyền những sứ điệp tương tự.

(Xa 7:8-10) Những lời đã truyền dạy trước kia  Bản NIV sơ sót ở chỗ này, vì trong ngôn ngữ Hi Bá Lai không có từ lại, một lần nữa, vả lại câu 8-14 viết về sứ điệp đã được rao truyền trước kia và sự hững hờ (không đáp ứng) của dân sự (xem câu 14).  Lẽ ra nên chuyển ngữ câu 8-9 như sau:  “Và Lời của Đức Chúa Trời truyền cho ông Xa-cha-ri như sau: “Đức Giê-hô-va phán như vầy: ...”.  Câu 8 hàm ý là (thông thường khi thấy cụm từ mở đầu này thì hiểu như vậy là đúng).  Ông Xa-cha-ri tiếp tục nói những lời của Đức Chúa Trời.  Hãy làm điều gì thật công bình, câu Xa 8:16 cũng nói về điều này rộng hơn,  hãy làm sự chân thật và sự phán xét bình an trong cửa thành các ngươi.  Ai nấy chớ mưu sự dữ nào trong lòng nghịch cùng anh em mình, c.8:17 cũng là một câu tương tự nhưng được chuyển ngữ sát ý hơn:  Chớ toan sự dữ trong lòng nghịch cùng kẻ lân cận mình (so sánh Sa 50:20  Gie 48:2...).  Những câu tương tự này khiến chúng ta phải chú ý đến sự kiện là trong hoàn cảnh mới này, Đức Chúa Trời vẫn duy trì những yêu cầu tương tự như khi xưa.

(Xa 7:11-14) Hưởng ứng của tổ phụ kết quả  Mấy câu này bàn về sự hưởng ứng của các bậc tiền bối đối với các tiên tri (như trong Xa 1:4).  Họ làm cho lòng mình cứng như đá kim cương, trơ trơ đối với lời của Đức Chúa Trời.  Hậu quả là “cơn thạnh nộ lớn lắm đến từ Đức Giê-hô-va” (12) , nghĩa đen là thế, mô tả hành động của cơn thạnh nộ thay vì cảm xúc.  Vì cớ họ đã không chịu nghe theo lời phán của Ngài nên Ngài cũng không chịu nghe lời cầu xin của họ: Họ bị tản lạc giữa vòng các dân tộc còn đất nước thì bị hoang phế.  Bản án đối với thái độ của họ như vậy là đích đáng.  Tuy nhiên, Đức Chúa Trời chuyển từ tình trạng này sang một việc họ hoàn toàn không xứng đáng.

3. Hứa hẹn về sự phục hồi Giê-ru-sa-lem (Xa 8:1-23)

(Xa 8:1-3)  Ghen tức Giê-ru-sa-lem  Chủ đề Đức Chúa Trời ghen vì Giê-ru-sa-lem/ Si-ôn và Đức Chúa Trời trở về ngự trong thành là hai chủ đề nổi bật trong những chương trước (Xa 1:14,16  2:10-12).  Rồi khi Đức Chúa Trời đã ngự trong thành, thành phải là một nơi chân thật và thánh khiết.  Núi của Đức Giê-hô-va Vạn Quân là gò đất cao trong thành Giê-ru-sa-lem nơi đền thờ toạ lạc

(Xa 8:4-6)  Thành được bình yên  Thành sẽ được an ổn và an toàn đối với mọi đợt tấn công.  Dân cư không còn phải lao từ chỗ này đến chỗ khác để sửa chữa hoặc để xây tường nữa (xem bình giải Na 2:4-5), chẳng còn phải sợ ai bắn qua tường thành.  Ngay cả những cư dân dễ bị hại nhất trong thành vẫn có thể ngồi chơi thoải mái ngoài đường phố.  Đối với thính giả của ông thì chuyện này nghe như trong mơ, vì lâu nay họ thường xuyên bị dân chung quanh quấy nhiễu.  Lạ lùng được dùng với ý nghĩa “khác thường” hoặc “khó khăn”: Đối với Đức Chúa Trời chẳng có gì là quá khó (đặc biệt xem Sa 18:14  Gie 32:17,27.  Mấy câu này dùng từ có cùng một gốc so sánh Mac 10:27).  Từ tàn dân cũng xuất hiện trong câu 11 và câu 12.  Đây là một từ rất có ý nghĩa, bao hàm cả sự hình phạt (chỉ còn sót lại một đám tàn dân) và ân sủng của Đức Chúa Trời (một đám tàn dân sẽ được cứu)

(Xa 8:7-8)  Lập lại lời hứa giao ước  Khi Giu-đa bị đưa đi lưu đày ở Ba-by-lôn, nhiều người chạy trốn qua các nước lân cận.  Họ cũng được phép trở về Giê-ru-sa-lem.  Chúng ta khó có thể hiểu thấu tầm quan trọng của Giê-ru-sa-lem đối với dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, vì chúng ta tin là mình có thể thờ phượng Đức Chúa Trời bất cứ nơi nào trên thế giới.  Ngay cả những người đặt La-mã Canterbury hoặc Geneva vào hàng tối quan trọng thì họ cũng không gán cho các thành phố đó một tầm quan trọng như cách người Do Thái dành cho Giê-ru-sa-lem.  Đây là nơi họ có thể dâng của lễ, là đền thờ duy nhất được phép xây dựng làm nơi ngự của Đức Chúa Trời, là một dấu chứng rằng Đức Chúa Trời ở giữa dân sự của mình.  Vì vậy, khi đền thờ ở Giê-ru-sa-lem được phục hồi có nghĩa là Đức Chúa Trời xác quyết về những lời hứa của giao ước (xem bình giải Xa 2:10-12).

(Xa 8:9-13) Xác lập lời hứa  Phân đoạn này mở đầu và kết thúc với cùng một câu:  Hãy làm cho tay mình nên mạnh.  Câu này cũng xác định luôn tinh thần của phân đoạn:  Một sự thách thức với giọng khích lệ.  Khi chưa đặt nền móng cho đền thờ , dân chúng chưa nhận được phước hạnh.  Lúc đó họ còn đặt mình ở hàng đầu nên chưa thịnh vượng được.  Vì vậy, giờ đây họ cần bắt tay lo xây dựng đền thờ, họ sẽ được sung mãn (so sánh ICo 15:58).

(Xa 8:14-17) Một sự thách thức phát xuất từ quá khứ Phân đoạn này lặp lại sứ điệp của ông Xa-cha-ri về sự kiện Đức Chúa Trời không còn giận dân sự nữa.  Ngài định làm những điều tốt đẹp cho họ.  Ông khuyến giục họ lo tuân thủ những mạng lệnh mà tổ phụ của họ đã bỏ qua (so sánh Xa 7:9-10).

(Xa 8:18-23) Kiêng ăn ăn tiệc  “Đáp án” cho câu hỏi về vấn đề kiêng ăn (7:3) là những kỳ kiêng ăn sẽ trở nên những kỳ ăn mừng.  Những biến cố liên quan đến sự thất thủ của thành Giê-ru-sa-lem sẽ hoàn toàn biến thành những dịp khơi dậy nơi lòng người sự kinh ngạc khi chiêm ngưỡng sự tha thứ và ân sủng của Đức Chúa Trời.  Rồi vượt quá sự mong đợi của mọi người, ông Xa-cha-ri tiếp tục loan báo một lời hứa lớn lao hơn: mọi dân tộc (23) sẽ tìm đến Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem.  Họ nhận biết rằng Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho người Do Thái là dân sự của Ngài (tức là người dân tại Giu-đa).  Giờ đây số người thuộc về Đức Chúa Trời đông gấp mười (23).  Với câu này phân đoạn đạt đỉnh điểm khi chúng ta chú ý đến sự trái ngược giữa phái đoàn ít người trong 7:2 với khải tượng cuối cùng này.

4. CHIẾN TRẬN, LÃNH ĐẠO VÀ MỤC TIÊU CỦA LỊCH SỬ (Xa 9:1-14:21)

Người ta tranh luận sôi nổi chung quanh sáu chương cuối cùng của sách này.  Có người kết luận rằng nên tách thành sách riêng những chương có tiểu đề “một bài giảng” (9:1  12:1 so sánh Ma 1:1).  Có lẽ nên gộp những phần đó vào sách Ma-la-chi thay vì sách Xa-cha-ri.  Họ cho rằng những phân đoạn này có vẻ phản ánh bối cảnh của thời sau nhưng họ không xác định được một thời điểm nào trong tương lai.  Các phân đoạn này khác hẳn Xa-cha-ri 1-8 về mặt ngôn từ và hình bóng nhưng lại có cùng những mối quan tâm chính cho nên có lẽ lắm là do ngòi bút của một môn sinh nào đó của ông Xa-cha-ri.  Hầu hết các nhà giải kinh bảo thủ ủng hộ quan điểm tin là chính ông Xa-cha-ri chớ không phải ai khác đã bổ sung và đã biên tập bản thảo đầu tiên của ông.  Không có lý do  gạt bỏ chủ trương này.  Cũng xem dẫn nhập.

Suốt chương 9-14 các chủ đề chính được nhắc đi nhắc lại theo một trật tự xen kẻ: những câu nhắc đến Giu-đa cùng Giê-ru-sa-lem và kẻ thù/ các dân tộc, xen kẻ với những câu nhắc đến  lãnh đạo.  Sơ lược nội dung như sau:

Xa 9:1-8 Hình phạt kẻ thù của Giu-đa (với ngầm ý về sự cứu chuộc).

9:9-10        Người công bình trong dân Giu-đa được cứu, vị vua khiêm nhu ngự đến, hoà bình được thiết lập.

9:11-17      Sự hình phạt dành cho kẻ thù, sự cứu chuộc dành cho Giu-đa/ Ép-ra-im.

10:1-5        Lại bàn thêm về tình trạng lãnh đạo:  Hình phạt những tay lãnh đạo tham những, cung ứng lãnh đạo chân chính.

10:6-12      Củng cố Giu-đa/ Giô-sép/ Ép-ra-im (cũng đề cập đến sự hình phạt dành cho kẻ thù).

11:1-3        Sự kiêu ngạo/ những kẻ chăn bầy/ các dân tộc bị hình phạt.

11:4-14      Lãnh đạo tội lỗi gian ác và người ngang bướng lì lợm bị hình phạt.

11:15-17    Lãnh đạo bị hình phạt.

12:1-9        Kẻ thù của Giu-đa/ Giê-ru-sa-lem bị hình phạt: chiến thắng tại mặt trận.

12:10-14    Đấng bị đâm - Thần của sự thương xót gieo rắc sự thở than, khóc lóc.

13:1           Thanh tẩy “vào ngày đó”.

13:2-6        Dẹp bỏ hình tượng và loại trừ tiên tri giả.

13:7-9        “Người chăn của ta” bị hình phạt sự thanh tẩy diễn ra và lời hứa được thành tựu: Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của họ...

14:1-15      Kẻ thù của Giu-đa/ Giê-ru-sa-lem bị hình phạt: Bởi sự can thiệp của Đức Chúa Trời họ bị tiêu diệt ở trận mạc.  Những hiện tượng trong thời cuối rốt kẻ thù của Đức Giê-hô-va bị tai vạ.

14:16-21    Các dân tộc được phước: họ đến Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ lều tạm (bằng không họ sẽ bị tai vạ) Giê-ru-sa-lem được thanh tẩy (“Thánh cho Đức Giê-hô-va”).

Khó lòng cô đọng phần sơ lược này thành một biểu đồ mà vẫn trung thành với nội dung.  Rõ ràng là toàn bộ phần sách này có tính cách nhất quán, mặc dù tác giả đã tổng hợp từ mớ tư liệu phong phú và đa dạng.

Bản sơ lược này cho thấy một cấu trúc tựa như bánh mì kẹp thịt nhiều lớp.  Ở vị trí những lát bánh là những câu nói về kẻ thù của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem: Bao gồm một số những hình phạt/ hoặc cứu chuộc dành cho kẻ thù và cho Giu-đa/ Giê-ru-sa-lem.  Đỉnh điểm là sự kiện các dân tộc có cùng một cơ hội như Giu-đa để thờ phượng Đức Giê-hô-va.  Còn ở vị trí các lớp “nhân thịt” là mối quan tâm về vấn đề lãnh đạo.  Về nội dung cũng có một số biến tấu: Người lãnh đạo tốt được đưa vào chức vụ, còn người lãnh đạo tồi tệ bị loại bỏ sự thanh tẩy sẽ được thực hiện nhờ mối liên hệ với đại diện của Đức Chúa Trời cũng xem Dẫn nhập về Biên soạn ở phần trước và phần Bình giải.

1. Đức Chúa Trời ra tay hành động (Xa 9:1-8)

Trong phần sách này có nhiều từ và nhiều câu tối nghĩa.  Cần kiểm lại ý nghĩa chung bằng cách coi lại toàn bộ bản văn.  Ngay cả khi không thể đạt mức chính xác ý chính vẫn sáng sủa.

Bài giảng phát xuất từ chữ gốc có nghĩa là “nâng lên, giở lên” và có thể chuyển ngữ là “gánh nặng” tức là gán buộc một người một điều gì đó (chú ý thuật chơi chữ trong Gie 23:33).  Mô tả một sứ điệp tiên tri như thế là phù hợp nhất (20:9).  Có khi “gánh nặng” nằm ở tiêu đề cho chương 9-11.  Có khi nằm ở trong câu mở đầu cho phân đoạn:  “Gánh nặng của lời của Đức Chúa Trời là ...”

Hầu như toàn bộ chương 1-8 chìm trong bầu không khí hình phạt.  Chỉ trong câu 7 là có một lời hứa cho Éc-rôn, một thành của người Phi-li-tin.  Thành này sẽ được sát nhập vào Giu-đa, như người Giê-bu-sít trong thời kỳ Đa-vít trước khi vua Đa-vít chiếm được thành (IISa 5:6-10).  Việc này diễn ra sau khi bị hình phạt (5) và thanh tẩy (7).  Tiên tri nhắc đến bốn trong số năm thành phố chính của người Phi-li-tin (5-6) (ông không nhắc đến Gát vì có lẽ vào thời đó Gát đã hoàn toàn bị triệt phá).  Dĩ nhiên, người Phi-li-tin vốn là kẻ thù muôn thuở, là cây gai đâm vào hông Giê-ru-sa-lem từ thời các quan xét (Cac 13:1-16:31  ISa 13:1-14:51  31:1-13).  Sau thời lưu đày tự thân họ chẳng phải là một dân tộc quan trọng nữa.  Còn Phi-li-tin được nhắc đến ở đây không phải chỉ về một đất nước mà chỉ là một biểu tượng về kẻ thù của Đức Chúa Trời và của dân sự Ngài (so sánh cách dùng từ Ê-đôm trong Es 11:1-16  34:1-17).

Chiều hướng chung của câu 1-8 cho thấy câu 1-3 cũng là một sứ điệp chống nghịch Ha-đơ-rát (một điạ danh nằm về phía cực bắc xứ Pa-lét-tin), Đa-mách (thủ đô của Sy-ri hoặc A-ram), Ha-mát (khoảng 120 dặm nữa về phía bắc) và Ty-rơ cùng Si-đôn là hai hải cảng của xứ Phê-nê-xi.  Ty-rơ rất phồn thịnh nhờ thương mại và đặc biệt khó chiếm cứ bằng quân sự vì Ty-rơ được nối với đất liền bằng một độc đạo trên một gioi đất.  Dầu vậy, Ty-rơ sẽ bị phá huỷ, và sự kiêu hãnh về của cải và thế lực của Ty-rơ sẽ hoá ra vô nghĩa rỗng không.

Câu 8 cũng là một câu khó chuyển ngữ, nhưng bản NIV chuyển ý rất chỉnh.  Xưa kia Đức Chúa Trời phó mặc cho dân Y-sơ-ra-ên bị bắt qua Ba-by-lôn và xứ bị tàn phá, đền thờ bị triệt hạ nhưng Ngài sẽ không để cho nhà của Ngài (tức là đền thờ hoặc xứ Giu-đa) bị tàn phá nữa đâu.

2. Vị vua nhu mì (Xa 9:9-10)

Trong sách Xa-cha-ri có lẽ chúng ta biết đến câu 9 nhiều nhất.  Tất cả bốn sách Phúc Âm đều ghi lại sự kiện Chúa Giê-xu làm ứng nghiệm lời tiên tri này khi Ngài ngự vào thành Giê-ru-sa-lem trên lưng một con lừa.  Có nên coi lời tiên tri này nhằm nói về Đấng Mê-si mà thôi chớ không nhắm đến thời kỳ của ông Xa-cha-ri gì cả hay không?  Kể từ thời lưu đày trở đi xứ Giu-đa chẳng có vua cai trị.  Hoàng đế của các cường quốc Mê-đi Phe-rơ-sơ, Hi Lạp và cuối cùng là La-mã đều rất chột dạ trước vấn đề này (Gi 19:12-15).  Cho nên mặc dù có một thời gian ngắn ngủi dân Giu-đa được độc lập sau khi anh em nhà Maccabean khởi nghĩa năm 167 T.C., vẫn không thấy bóng dáng một vị vua nào tương tự như vị vua này xuất hiện.  Lời tiên tri vẫn có giá trị cho dân chúng ở thời điểm năm trăm năm trước Chúa, vì lời tiên tri nói về ý định của Đức Chúa Trời, và như vậy là nói về mối liên quan giữa họ với Ngài.  Họ vẫn là dân sự của Ngài và vua của họ sẽ xuất hiện.

Vị vua tương lai là một người công bằng và cứu giúp (nghĩa đen “cứu”).  Lời lẽ trong bản RSV khiến chúng ta có cảm tưởng lệch lạc về từ “chiến thắng khải hoàn”.  Vị vua này được tuyên bố là công nghĩa và được giải cứu bởi Đức Chúa Trời.  Như vậy hàm ý là vua bị kẻ thù tấn công và cáo buộc, nhưng Đức Chúa Trời can thiệp minh oan và giải cứu.  Rõ ràng hình ảnh này phù hợp với Chúa Giê-xu (so sánh Thi Thiên 118 nhất là câu 22-23 cũng ứng dụng cho Chúa Giê-xu).

Thời xưa con lừa hoặc con la không phải là gia súc thuộc hạng thấp kém, nhưng giới quyền quý thường cỡi lừa hoặc la (Cac 10:4  12:14).  Ngay cả vua của dân Y-sơ-ra-ên cũng chỉ cỡi la (IVua 1:33 so sánh IISa 13:29  18:9).  Dĩ nhiên ngựa là phương tiện di chuyển thích hợp cho vua chúa trong một cuộc diễu hành mừng chiến thắng.  Ở đây vua cỡi la nhằm làm nổi bật tính cách khiêm nhu và hoà bình.  Ngài sẽ cai trị từ bờ biển này giáp đến bờ biển kia (tức là Địa Trung Hải ở phía tây và một biển nào đó mơ hồ nằm ở phía đông (Biển Chết - lề bản NIV) như trong Xa 14:8).  Và từ sông Ơ-phơ-rát ở Mê-sô-bô-ta-mi đến tận cùng biên cương của địa cầu.  Nói cách khác, vua đó sẽ cai trị trên toàn thế giới.

Tính cách ưu việt này quá đỗi lạ lùng đến nỗi những người nóng lòng trông đợi Đấng Mê-si chẳng mấy để tâm đến lời tiên tri này (xem bình giải Thi 22:1-31  69:1-36  110:1-7).

Chú giải.  Chùm từ lừa cái và lừa con, lừa con của lừa cái đều tương đương như nhau đó là hai cách mô tả về cùng một con vật.  Trong Mat 21:1-7 ông Ma-thi-ơ ghi cả hai lừa cái và lừa con, và “Ngài ngồi lên chúng”.  Nên hiểu là Ngài “ngồi lên áo choàng”.  Ép-ra-im là chi phái đông dân nhất từ vương quốc phía bắc, và thường được dùng để chỉ chung về toàn bộ dân Y-sơ-ra-ên.

3. Tiên tri về sự hình phạt và niềm hi vọng (Xa 9:11-11:17)

Mới nhìn qua, mấy chương này có vẻ như một cái bao đựng các lời tiên tri không ăn nhập gì với nhau cả và liên quan đến một thời sau ông ta rất lâu(Xa 9:13 đề cập đến Hi Lạp, thế nhưng mãi đến sau năm  333 T.C. đế quốc Hi Lạp mới ra đời).  Tuy nhiên, giữa các phân đoạn có nhiều điểm liên quan đến nhau và cũng liên quan đến 9:1-8 (thí dụ một nửa số từ trong 10:11 đều đã được dùng trong phần mở đầu của phần sách này).  Các chủ đề được bàn đến suốt phần sách là kẻ thù của Giu-đa và Y-sơ-ra-ên thất trận và thành phần lãnh đạo đã thanh tẩy được lập lên (10:3-4).

(Xa 9:11-12) Một lời hứa dành cho người  Lời hứa của Đức Chúa Trời đặt căn bản trên giao ước của Ngài đã lập với họ, một giao ước được đóng ấn bằng huyết của sinh tế (Xu 24:5-8).  Ta sẽ giải phóng tù nhân của các ngươi khỏi hố có nước gợi nhớ lại Sa 37:24  Gie 38:6 vì trong ngôn ngữ Hi Bá Lai mấy cụm từ này hầu như giống hệt nhau “hố/ hồ/ giếng... không có nước”.  Cụm từ này nhắc chúng ta nhớ lại chuyện ông Giô-sép và tiên tri Giê-rê-mi lâm nạn, cả hai đều được giải cứu khỏi tình cảnh tuyệt vọng đó vì Đức Chúa Trời ở với họ.  Như vậy, người đương thời của tiên tri Xa-cha-ri giờ đây là những tù nhân có hi vọng, được phép trở về nơi đồn luỹ của họ kèm với lời hứa là Đức Chúa Trời sẽ phục hồi cho họ gấp đôi số họ đã từng mất mát.

(Xa 9:13-17) Chiến thắng dành cho Giu-đa Ép-ra-im  Tiếp theo lời hứa về hoà bình (9-12) tiên tri Xa-cha-ri trình bày tiến trình lời hứa này được ứng nghiệm.  Họ sẽ chiến thắng về mặt quân sự trên “Hi Lạp”, là kẻ thù của Giu-đa và Ép-ra-im (Y-sơ-ra-ên).  Mãi đến năm 333 T.C. Hi Lạp mới trở nên cường quốc, nên nhiều người tin rằng hoặc về sau có ai đó đã chen thêm câu này vào đây hoặc sự hiện diện của câu này chứng tỏ mấy chương 9-14 là phần tiên tri được viết về sau.  Danh từ riêng Gia-van có xuất hiện trong Sa 10:2,4 và trong Es 66:19 để chỉ về những dân tộc cư trú ở vùng ngoại biên của thế giới thời đó.  Từ này tỏ ra rất ăn ý với câu này (so sánh câu 10b).

Những hình ảnh này nhấn mạnh sự kiện chính Đức Chúa Trời là Đấng ban cho họ thắng lợi, cho phép họ chiến thắng ở trận tiền.  Tiếng kèn ngoài trận địa là tín hiệu rõ ràng tăng nhuệ khí cho quân sĩ và gây kinh hoảng cho quân thù.  Hình ảnh này cũng gợi nhớ lại thắng lợi của ông Giô-suê tại Giê-ri-cô và của ông Ghê-đê-ôn trên quân Ma-đi-an (Gios 6:3-5  Cac 7:16-22).  Trong hai trận này phần can thiệp của Đức Chúa Trời biểu thị rất rõ.  Bão (hoặc gió lốc) ở miền nam có sức tàn phá mạnh (14).  Câu 15 tả cảnh tưng bừng náo nhiệt ăn mừng chiến thắng!  Một cái chén dùng để rảy... hàm ý là niềm hân hoan vui sướng của họ tập trung vào Đức Chúa Trời.

Câu 16-17 tóm gọn kết quả của cuộc chiến thắng:  Dân sự được Đức Chúa Trời giải cứu.  Ngài coi họ như bầy của Ngài, và quý họ như châu ngọc.  Họ có lúa và rượu mới (thanh niên nam nữ được nêu ra làm ví dụ điển hình không phải các cô uống hết chỗ rượu mới!) là dấu chứng về sự phồn thịnh.  Những khúc Kinh Thánh khác cũng thường dùng hình ảnh này để mô tả xứ Ca-na-an là đất nước dành cho họ (Phu 7:13  11:14  Os 2:8,22).

(Xa 10:1-5) Phước hạnh, giới lãnh đạo trận mạc  Phần chuyển tiếp từ một phân đoạn qua phân đoạn kế tiếp không mạch lạc gì cả.  Ở đây chúng ta thấy đủ ba chủ đề chính trong phần trước:  Lời kêu gọi cầu xin mưa để cây trồng có thể mọc (1 so sánh Xa 9:17), người lãnh đạo tốt được đưa lên (4, so sánh 9:9) thay thế người lãnh đạo thối nát (3) và tiếp nối hình bóng về chiến trận (3b-5, so sánh 9:10,13-15).  Phần tiên tri này có vẻ rời rạc nhưng có hướng triển khai hợp lý.

1 Cầu xin Đức Chúa Trời cho mưa chớ không phải cầu xin thần tượng và những người thờ phượng hình tượng. 2 Thần tượng chỉ lừa gạt (hoặc gian ác) và khi tin cậy những đối tượng khác ngoài Đức Chúa Trời thì hậu quả là dân sự lang thang như chiên bị áp bức chèn ép vì không có người chăn. 3 Vì vậy Đức Chúa Trời sẽ hành động:  Cơn giận của Ta... cháy lên chống lại những người chăn... lãnh đạo. 3b Người kể chuyện nhận định và triển khai, hoặc Đức Chúa Trời tiếp tục nói về chính mình Ngài nhưng dùng ngôi thứ ba.  Đức Chúa Trời quan tâm chăm sóc dân sự của Ngài, nên Ngài sẽ khiến cho họ giành được chiến thắng ở trận mạc và Ngài sẽ cung ứng cho họ một vị lãnh đạo tốt. 4 Vị lãnh đạo được mô tả qua hình ảnh (a) một viên đá góc:  ở đây dùng từ khác với từ viên đá chết ở Xa 4:7 với hàm ý là viên đá này chịu toàn bộ sức nặng của toà nhà.  (b) một cọc trụ của lều trại:  nhờ cọc trụ này mà người ta căng lều lên. 4b Hoặc có nghĩa là Giu-đa sẽ cung ứng (một cách hiệu quả) vũ khí và người lãnh đạo, hoặc cây cung dùng để chiến đấu và tất cả những người cai trị (áp bức) sẽ rời khỏi xứ Giu-đa để xứ được hoà bình an ổn. 5 Tiếp tục mô tả về cuộc chiến.  Hình ảnh này dẫn một cách tự nhiên vào phân đoạn kế sau

(Xa 10:6-12) Ta sẽ tăng lực cho họ  Phân đoạn này ghi lời hứa của Đức Chúa Trời.  Nội dung nằm gọn trong khung giới hạn tạo nên bởi hai cụm từ:  “ta sẽ củng cố...” (đầu c.6,12).

Câu này xác nhận về những hình phạt trong quá khứ:  Đức Chúa Trời đã phân tán họ giữa vòng các dân tộc (6b,9 - ở đây nên chuyển ngữ là phân tán thì hơn, 10-11).  Nhưng bởi lòng thương xót của mình Ngài sẽ đem họ trở về, và cho họ đông đảo như xưa (6,8).

Ở đây đặt nặng cả Ép-ra-im lẫn Giu-đa hàm ý thống nhất dân tộc.  Vương quốc phía bắc bị tiêu tan trong năm 721 T.C., ít nhất là hai trăm năm về trước.  Vào thời đó A-si-ri áp dụng chính sách phân hoá dân Y-sơ-ra-ên giữa những dân tộc khác nhằm xoá bỏ dân tộc tính ở họ nhưng Đức Chúa Trời không bỏ rơi họ.  Vẫn có những người còn nhớ rằng họ là một phần tử của Y-sơ-ra-ên và Ngài đã ra hiệu bảo họ hồi hương.  Ngay cả thời nay, người Do Thái ở khắp thế giới vẫn nặng lòng hướng về Giê-ru-sa-lem.

Một số người Do Thái trốn thoát khỏi quân lính Ba-by-lôn chạy qua Ai Cập (Giê-rê-mi 43-44) nên không phải mọi người hồi hương đều xuất phát từ A-si-ri.  Thật vậy, người Do Thái có mặt trên khắp thế giới được biết vào thời đó.  Nhưng Ai Cập và A-si-ri cũng biểu tượng cho sự áp bức đàn áp và nô lệ dưới mọi hình thức.  Tác giả đề cập đến sông Ni-lơ và vụ vượt qua biển gợi nhớ lại cuộc xuất hành từ Ai Cập đi qua Biển Đỏ (Xu 14:21-28) và sự hình phạt của Đức Chúa Trời khi Ngài biến nước sông Ni-lơ thành máu (7:17-21).  A-si-ri và Ai Cập vốn tự hào và được công nhận là những cường quốc cầm quyền cai trị, nhưng rồi đây tình thế sẽ thay đổi.

Thời nay nên thận trọng khi ứng dụng những lời hứa này cho hai quốc gia đương thời cùng mang tên Ai Cập và Y-sơ-ra-ên (Es 19:19-25!).  Chúng ta cần thấu triệt mối quan tâm sâu xa và cơ bản của tiên tri và cần nhận biết sâu xa và căn bản của tiên tri và nhận biết Đức Chúa Trời là Đấng giải cứu dân sự của Ngài (thành phần biết ăn năn) khỏi những hoàn cảnh mà tự thân thì họ hoàn toàn bất lực.

(Xa 11:1-3) Kêu gọi khóc lóc than thở  Chương Xa 10:10 đề cập đến Li-ban coi như trạm đến của người hồi hương.  Vì vậy, biết đâu chúng ta lại hiểu cụm từ mở rộng cửa các ngươi có nghĩa là hãy cho họ vào.  Không phải vậy.  Ở đây có nghĩa là cho lửa vào và đốt rụi cây bá hương hùng vĩ của Li-ban.  Thường thường cây bá hương dùng để biểu tượng về sự kiêu ngạo.  Cây dẻ ở Ba-san, trong vùng cực bắc của dải đất phía đông sông Giô-đanh cũng biểu tượng cho sự kiêu ngạo.  Es 2:13 (so sánh Exe 27:5-6) có chép về cả hai.  Có thêm hai vùng Li-ban và Ba-san làm điều sai quấy sao đó đối với người Y-sơ-ra-ên nhưng mục đích chính của họ trong những việc đó là đứng ra ngạo nghễ chống lại mục đích của Đức Chúa Trời. 

Những bài tiên tri về sự hình phạt khác cũng thường dùng loại hình “kêu gọi khóc lóc than thở” này để mô tả cách sống động tại hoạ sắp ập đến (Es 13:6  14:31  Gie 25:34  So 1:11).  Người chăn và sư tử chỉ về giới lãnh đạo sẽ bị xét xử:  Địa bàn hoạt động của họ đã bị tiêu huỷ nên họ không còn làm sao có thể hoạt động được nữa.

Phân đoạn này có nhiều mối liên quan với những câu trước (nhất là Xa 9:4 bị lửa thiêu đốt, 10:2-3 những người chăn, 10:10 Li-ban, 10:11 sự kiêu ngạo (của A-si-ri) được chuyển ngữ là rừng rậm trong 11:3).  Như vậy phân đoạn này đóng vai trò chuyển tiếp, dọn đường cho chuyện ẩn dụ về những người chăn chiên ở phần sau.

(Xa 11:4-17) Người chăn chiên bầy chiên  Phân đoạn này mô tả người tiên tri là người chăn của bầy mang dấu ấn dành cho lò thịt.  Người tiên tri nỗ lực hoạt động vì chiên một thời gian nhưng sau đó bỏ mặc chiên, chặt gãy cây gậy chăn chiên (4-14).  Ông ta điển hình cho người chăn dại dột không chăm sóc bầy và bị rủa sả (15-17).

Đây là một trong những khúc Kinh Thánh khó giải nghĩa nhất.  Câu 13 được biết đến nhiều nhất vì ông Ma-thi-ơ có trưng dẫn trong Mat 27:9-10, để nói về số tiền mà người ta trả cho ông Giu-đa Ích-ca-ri-ốt qua vụ ông phản bội Chúa Giê-xu.  Trong khúc Kinh Thánh này đó cũng là cái giá trả cho người chăn do Đức Chúa Trời chỉ định, dù ở đây số tiền được trả cho chính người chăn chớ không phải cho người phản bội.

Khúc Kinh Thánh này không kể lại những biến cố xảy ra trong thực tế, vì có nhiều chi tiết có thể hiểu theo nghĩa đen, thí dụ: rút lại lời giao ước mà Ta đã lập với mọi dân tộc (10) và trong một tháng Ta diệt những người chăn (8) (so sánh với cách dùng cùng một động từ này trong những câu Kinh Thánh khác: chết trong câu 9, Xu 23:23 “xóa sạch”, IVua 13:34 “huỷ diệt”), chuyện ẩn dụ này mô tả sống động cách Đức Chúa Trời xử sự với bầy của Ngài.

(Xa 11:4-6) Người chăn của bầy dành cho tai hoạ   Tiên tri kể rằng Đức Chúa Trời giao cho ông nhiệm vụ chăn một bầy chiên đã định cho làm thịt.  Họ hoàn toàn nằm dưới quyền chi phối của đám lái buôn vô lương tâm lẫn đám chăn chiên vụ lợi (5).  Câu 6 nêu thêm một yếu tố giải thích tình trạng này:  Lòng thương xót của Đức Chúa Trời không còn dành cho họ nữa, và họ sẽ bị hình phạt.  Láng giềng và giới lãnh đạo sẽ áp bức họ (một tín hiệu về nội tình bất an).  Mãi đến thế kỷ thứ II TC. Giu-đa mới có vua cai trị trở lại cho nên đương nhiên từ vua chúa ở đây được dùng theo ý hình bóng.  Thái độ của vua chúa ở đây trái ngược với “vị vua khiêm nhu” trong Xa 9:9 và Đức Giê-hô-va là Đấng sẽ “làm vua trên toàn thế gian” (14:9).  Đức Giê-hô-va sẽ không tiếp cứu dân sự trong một thời gian

(Xa 11:7-14) Số phận của hai cây gậy   Sự kiện tiên tri chăn bầy “đã bị định cho chết” với cây gậy hàm ý là ông đã làm tốt nhiệm vụ.  Thương xót là một bản tính của Đức Chúa Trời cũng có đề cập trong Thi 27:4 (vinh quang, vẻ đẹp) và trong 90:17 (ân huệ), có nghĩa là Đức Chúa Trời bảo vệ dân sự khỏi sự tấn công của các dân tộc (10).  Liên hiệp nghĩa đen là “băng dây” tức là những điều nối kết với nhau (Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, 14)

Trong vòng một tháng... ba người chăn.  Nhiều người thử tìm kiếm xem ai là ba vị lãnh đạo trong lịch sử, thường thường là vua hoặc thầy tế lễ, bị giết trong vòng một tháng, tức là một thời gian ngắn.  Nhưng kết quả không có gì đáng tin tưởng cho lắm.  Dầu sao câu này có ý nói về sự kiện Đức Chúa Trời đại diện cho dân sự hành động chống lại những người lãnh đạo xấu, nhưng trong khi đó dân sự lại thờ ơ, hững hờ (9).  Vì vậy người chăn bỏ mặc họ cho số phận, bẻ gãy cây gậy thương xót (ân huệ) và cho phép các dân tộc lại áp bức chèn ép họ nữa.

Hoặc những con chiên rất khốn khổ trong bầy hoặc những kẻ buôn trong bầy chiên (như nội dung bản Kinh Thánh trong tiếng Hi Lạp), quan sát thấy việc này và nhận biết ấy là lời của Đức Giê-hô-va tức là công nhận rằng Đức Chúa Trời đã phán bảo với họ qua hành động của người chăn chiên (cũng so sánh với Xa 2:9,11  4:9  6:15).

Trong câu 12-13 vị tiên tri yêu cầu họ trả tiền công làm việc cho mình nếu họ có ý muốn đó.  Họ trả... ba mươi miếng bạc (tức là họ cân ba mươi shekel).  Tiên tri nói một cách mỉa mai về ba mươi miếng bạc đó là công giá tốt mà chúng nó định cho ta!  Đó cũng là mức đền bù về sinh mạng của một người nô lệ (Xu 21:32).  Một shêken có trọng lượng khoảng từ mười đến hai mươi grams, tính theo trọng lượng của bạc thì kể là cao giá (Ne 5:15).  Quăng cho thợ gốm trong nhà Đức Giê-hô-va.  Có lẽ là có một người thợ gốm tại đền thờ để chế tạo những vật dụng dùng trong cuộc thờ phượng.  Có thể từ này có nghĩa là “thợ sắt”.  Thay đổi một nét nhỏ trong nguyên từ Hi Bá Lai thì từ này có nghĩa là “vào trong kho bạc”, và đây là hướng chuyển ngữ của bản Syriac, một bản Kinh Thánh cổ.  Biết đâu bản này lại có lý.

Cây gậy thứ hai liên hiệp bị bẻ gãy (14) hàm ý là Y-sơ-ra-ên và Giu-đa bị phân rẽ dù lẽ ra họ phải được liên hiệp với Đức Chúa Trời trong tư cách dân sự của Ngài.

(Xa 11:15-17) Người chăn dại dột, dụng   Lại cầm lấy... của một người chăn dại dột, thật là một câu lạ lẫm vì lúc đầu tiên tri đã tỏ ra là một người chăn tốt.  Có lẽ là khi ông bẻ gãy mầy cây gậy thì ông bị xem là người chăn dại dột hoặc có lẽ lắm câu nàyhàm ý rằng “Lại cầm lấy vật dụng của một người chăn chiên, lần này là một người chăn chiên dại dột”.  Trong Kinh Thánh Cựu Ước từ dại dột chỉ về “xấu xa có cố ý” chớ không phải vì cớ kém thông minh.

Lạ một điều là người phục vụ Đức Chúa Trời lại được lệnh làm một việc xấu xa thật sự.  Thỉnh thoảng Đức Chúa Trời cũng dùng những công cụ gian ác (Es 10:5-11  Ha 1:5-6) nhưng ở đây là chuyện khác.  So sánh bài nói đầy giọng mỉa mai của ông Mi-chê (IVua 22:19-28 so sánh Exe 20:25-26).

Ở đây cho thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ sử dụng một người cai trị độc ác chuyên chế để hình phạt dân sự (16).  Vì người chăn đã bỏ mặc bầy chiên nên ông bị rủa sả (17):  Khốn thay, cho người chăn vô dụng (hoặc “của ta”).  Khó lòng biết thính giả hiểu lời giảng dạy của vị tiên tri đến mức nào hoặc như thế nào.  Vì trong bài giảng vị tiên tri mô tả những tình huống mâu thuẫn về người chăn.  Người chăn này được lệnh biểu thị những hành động không tốt, nhưng sau đó ông lại bị hình phạt vì cớ những hành động đó.  Cơ đốc nhân chúng ta cũng thấy một cảnh mâu thuẫn tương tự tại thập tự giá:  Đức Chúa Trời làm cho Đấng vốn không biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta (IICo 5:21).

Hình ảnh về người chăn còn tiếp nối trong Xa 13:7-9  nhưng từ đây đến đó chúng ta còn phải xem xét một phân đoạn nặng tính mâu thuẫn nữa.

Chú giải.  7,11  Những con chiên rất khốn nạn trong bầy là kết quả của một nỗ lực chuyển ý của một câu tối nghĩa trong nguyên ngữ Hi Bá Lai.  Nếu được chấp thuận thì câu này đem lại ý nghĩa cho phân đoạn.  Nhưng nhiều người không chấp thuận hình thức chuyển ý như vậy và chúng ta phải chấp nhận cách chuyển ý của một bản Hi Lạp cổ là: “Vì những tay lái buôn trong bầy chiên”, muốn chuyển ý như thế này thì chỉ cần chỉnh lý một nét nhỏ trong nguyên từ.  Nguyên từ “lái buôn” trong 14:21 cũng tương tự như từ “người Ca-na-an” vậy.

4. Trận chiến, chiến thắng và thanh tẩy (Xa 12:1-13:9)

Chúng ta khó lòng quả quyết rằng các phân đoạn này đi liền với nhau thành một khối, vì nội dung bao gồm nhiều tư liệu.  Dầu vậy, xuyên suốt phần sách này chúng ta vẫn thấy bàng bạc yếu tố nhất quán.  Chúng ta có thể thấy một phân đoạn chuyển dẫn qua phân đoạn kế tiếp ra làm sao.  Đại cương phần sách này được xây dựng như sau:

12:1-9        Các dân tộc tấn công Giê-ru-sa-lem (và Giu-đa(?) xem bình giải c.2 dưới đây).  Tình trạng căng thẳng giữa Giê-ru-sa-lem và Giu-đa được xử lý.

12:10-14    Những người đã đâm đại diện của Đức Giê-hô-va (nhà Đa-vít và cư dân Giê-ru-sa-lem) sẽ buồn rầu và than khóc về Ngài.

13:1           Vào ngày đó cũng chính những người này được thanh tẩy.

13:2-6        Vào ngày đó hình tượng và tiên tri (giả) sẽ bị loại bỏ.

13:7-9        Người chăn chiên của Đức Giê-hô-va sẽ bị đánh, chiên bị tan lạc, diễn ra cuộc thanh tẩy nghiêm túc và lời hứa của giao ước được xác quyết trở lại.

(Xa 12:1-9) Chiến thắng trên mọi dân tộc  Trong phân đoạn này có một số chi tiết bất thường:  (a) Bảy lần nhắc đến Đa-vít trong khi sách Xa-cha-ri không một chỗ nào nhắc đến Đa-vít và phân biệt nhà Đa-vít với những cư dân khác tại Giê-ru-sa-lem.  (b) Giu-đa và Giê-ru-sa-lem có vẻ chia rẽ (7) cũng trong câu 5 dân Giu-đa nói về cư dân Giê-ru-sa-lem như thể nói về một dân tộc khác (Đức Chúa Trời của họ) và có lẽ câu 2b nghĩa là nó (tức là chén của cơn thạnh nộ) sẽ chống nghịch lại Giu-đa (cũng như nghịch lại các dân tộc) trong cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem.

Tiên tri Xa-cha-ri mở đầu với lời nhắc nhở về sự vĩ đại của Đức Chúa Trời:  Ngài đã tạo dựng nên vũ trụ, và Ngài ban sự sống cho từng con người vì chính là nhờ linh sống ở bên trong mà mỗi người trở nên một con người có sự sống.  Điều này xác định luôn vị trí của các dân tộc:  Họ chẳng là gì cả so với Đức Chúa Trời.  Đức Giê-hô-va chỉ thị rằng Giê-ru-sa-lem sẽ chẳng khác gì  một cái chén đựng rượu hoặc đựng một thức uống tương tự.  Các dân tộc sẽ uống chén đó và phát say!  Đức Giê-hô-va sẽ khiến cho Giê-ru-sa-lem hoá ra như một tảng đá.  Hễ ai cố di dời tảng đá thì sẽ tự gây thương tích cho mình, nghĩa là “tự cắt thịt mình” như trong Le 21:5.  Tình trạng hoảng loạn và mù quáng nhắc nhở những vụ hình phạt khác (Sa 19:10-11  Cac 7:19-22  IIVua 6:18-22) (cũng xem Xa 14:12-13 và so sánh Cong 9:3-9).

Người Giu-đa nhận biết rằng chính Đức Giê-hô-va ban cho sức lực và sự đắc thắng (5).  Trong câu 6 hình ảnh ví von đảo ngược: Các dân tộc lo tấn công Giê-ru-sa-lem thì chẳng khác gì những bó rơm tấn công lửa, họ sẽ bị tiêu diệt, còn Giê-ru-sa-lem chẳng hề hấn chi.

Giu-đa sẽ chiến thắng trước tiên (7-9).  Việc này vừa tháo gỡ luôn sự ghen tị của Giu-đa đối với Giê-ru-sa-lem vừa dẹp luôn thái độ tự tôn mặc cảm của Giê-ru-sa-lem đối với Giu-đa, rồi đem lại sự hoà hợp cho Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.  Ngay cả những người yếu đuối nhất cũng sẽ hùng dũng mạnh bạo như Đa-vít và nhà Đa-vít sẽ như thiên sứ của Đức Giê-hô-va (tức là như Đức Giê-hô-va khi Ngài ngự đến viếng thăm dân sự).  Xem lối nói ví khác trong Xu 7:1, trong đó ông Môi-se được ví như “Đức Chúa Trời đối với Pha-ra-ôn” và A-rôn là tiên tri của ông.

Phải chăng những biến cố này nhằm diễn tả theo nghĩa đen việc sẽ xảy ra?  Hoặc phải chăng đây chỉ là cách diễn tả hình bóng về sự bảo vệ của Đức Chúa Trời dành cho dân sự của Ngài đối với những nỗi khó khăn lớn lao quá sức?  Khó có thể chứng minh sự ứng nghiệm của từng chi tiết trong dòng lịch sử, dù là sự ứng nghiệm có thể đã xảy ra vào một trong những thời kỳ đen tối của lịch sử.  Nhưng chủ trương có vẻ thoả đáng hơn là những biến cố này cho chúng ta thấy một hình thức về hoạt động của Đức Chúa Trời mà chúng ta có thể bắt gặp trong dạng tổng quát hoặc tỉ mỉ vào các thời kỳ khác nhau của dòng lịch sử.  Điều này cũng ứng dụng cho chương 14, trong đó còn có nhiều biến cố lạ lùng hơn nữa, liên quan đến mục đích tận cùng của Đức Chúa Trời đối với lịch sử.

(Xa 12:10-14) Đại diện của Đức Chúa Trời bị đâmăn năn  Tiếp theo là phần mô tả sự việc xảy ra cho nhà Đa-vít... và cư dân Giê-ru-sa-lem (7, 10).  Chuyện rõ ràng là họ đã “đâm” một người, nhưng Kinh Thánh không nói rõ người đó là ai.  Bản văn ghi rằng: Họ sẽ nhìn xem Ta là Đấng họ đã đâm, và họ sẽ thương khóc người đó...  Có lẽ do lỗi sao chép mà đại danh từ ngôi thứ nhất thình lình đổi thành ngôi thứ ba.  Dầu vậy trong số các bản Kinh Thánh Cựu Ước cổ, chỉ có bản Theodotion ghi là:  “Nhìn xem người...”.  Điều lạ lùng nữa là sao Đức Chúa Trời lại nói người ta đâm Ngài.  Có lẽ đây là lối nói bóng gió, vì Kinh Thánh cũng thường viết về Đức Chúa Trời có cảm xúc như con người (thí dụ Os 11:8-9 cũng so sánh câu nói bóng gió “bị đâm vì đói” trong Ca 4:9).  Từ “đâm” ít được dùng trong Kinh Thánh thường chỉ về “giết”.  Có hai trường hợp dùng từ này với nghĩa nhát gươm ân huệ (Cac 9:54  ISa 31:4 so sánh Gi 19:34-37).

Có lẽ tốt hơn hết nên hiểu khúc Kinh Thánh này là dân sự đã giết một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử, đại diện cho Đức Chúa Trời, và như thế là họ đâm chính mình Ngài.  Dĩ nhiên, đây là chuyện xảy ra theo nghĩa đen trong thực tế khi người lính đâm Chúa Giê-xu, Con Đức Chúa Trời, cũng là con đầu lòng.  Cũng có thể cụm từ này chỉ về một nhân vật trong dòng lịch sử trước nữa.

Sau khi hành động như vậy, dân sự mới vỡ lẽ nên buồn rầu than khóc người bị hại.  Buồn rầu than khóc bao hàm ý ăn năn về việc họ đã gây ra.  Xa 13:1 củng cố cho ý nội hàm này.  Ha-đát và Rim-môn là tên của hai vị thần của ngoại giáo.  Riêng Rim-môn cũng là một địa danh nữa (14:10  Gios 15:32  19:7).  Do đó, có thể Ha-đát Rim-môn là một địa danh hoặc là tên của một vị thần.  Theo chuyện huyền thoại Ca-na-an thì thần của sự chết (là Mot) giết con trai của Ha-đát.  Vì vậy, có lẽ hằng năm người ta giữ lễ kỷ niệm những biến cố đó.  Vì vậy, khúc Kinh Thánh này có đề cập đến một nghi thức trong lễ hội (của ngoại giáo) diễn ra tại Ha-đát Rim-môn hoặc được tổ chức để kỷ niệm Ha-đát Rim-môn.  Không phải tiên tri Xa-cha-ri chấp nhận nghi thức này nhưng ông nhằm mô tả cảnh dân chúng khóc dữ dội.

Toàn dân trong xứ đều khóc than, nỗi lo riêng phần mình,... vợ của họ khóc than riêng có lẽ biểu thị một sự ăn năn chân thật thành khẩn

 không phải khóc than vì thấy người ta khóc than.  Ngay cả vợ chồng cũng khóc than trong nhóm riêng ở chỗ riêng.  Na-than và Si-mê-i vốn là tên riêng của con trai của vua Đa-vít và của ông Lê-vi.  Ở đây đề cập đích danh họ có lẽ vì vai trò lãnh đạo chính trị và tôn giáo của họ trong tội ác này.

(Xa 13:1-6) Cuộc thanh tẩy tiếp diễnLoại bỏ hình tượng lẫn tiên tri giả  Tác giả dùng cụm từ vào ngày đó trong cả ba câu 1, 2 và 4 nhằm kết chùm những câu này với nhau.  Có người cho rằng mẫu câu đó là chứng tỏ có người đã ghi thêm mấy câu đó vào sách về sau.  Nhưng thật ra, cụm từ  này bổ sung ý cho toàn bộ khung cảnh.  Sau khi thành tâm khẩn thiết ăn năn, chính dân sự (so sánh Xa 12:7,10) được thanh tẩy khỏi tội lỗi và những điều ô uế.  Như vậy họ trở nên xứng đáng với sự hiện diện của Đức Chúa Trời.

Câu 2-6 triển khai thêm chủ đề thanh tẩy:  Hình tượng và các tiên tri nương cậy vào những thần linh bất khiết sẽ bị loại trừ khỏi xứ.  Khi một người tiên tri giả rao ra một lời tiên tri, ngay cả cha mẹ của đương sự cũng không chấp nhận đương sự: họ sẽ đâm “đương sự” (cùng một từ như trong 12:10).  Tự thân các tiên tri giả sẽ xấu hổ về những lời tiên tri dối trá của mình:  Họ sẽ không dám mặc áo da, trang phục của giới tiên tri (làm bằng một tấm da thú so sánh ông Ê-li trong IIVua 1:8 và ông Giăng Báp-tít trong Mac 1:6), họ sẽ chối là không dính dáng tới lãnh vực tiên tri (5).  Rồi nếu lễ tấn phong tiên tri hoặc thời gian hành chức tiên tri có lưu lại trên thân thể họ một dấu ấn, một vết sẹo nào từ những vết thương do chính họ tự đâm mình (so sánh IVua 18:28) thì nay họ gạt phăng nói là do bị thương trong một vụ choảng nhau ở nhà bạn bè.  Có lẽ ở đây hàm ý chế giễu mỉa mai về sự thật của lời nói của họ , vì từ bạn bè cũng có thể dùng chỉ về “người yêu”, tức là các bạn đồng sự trong cuộc thờ phượng hình tượng (Os 2:7-13  Exe 23:5,9).  Ông không đề cập đến tên của các thần tượng như trong câu 2.

(Xa 13:7-9) Người chăn của Đức Chúa Trời bị đánh bầy chiên tan tácthanh tẩy phục hồi  Có lẽ phân đoạn này mô tả vụ “đâm” trong Xa 12:10 dưới một khía cạnh khác.  Người bị đâm là kẻ chăn của ta và người làm bạn hữu ta.  Ấy thế mà chính Đức Chúa Trời ra lệnh đâm đương sự.  Hậu quả là những người theo đương sự bị tản lạc và chịu một cuộc thanh tẩy nghiêm trọng: trước tiên số lượng suy giảm, chỉ còn một phần ba, dầu vậy số người này còn bị thử nghiệm nữa.  Mục đích là hễ trong sạch và chân thật thì được cứu.  Đỉnh điểm của phân đoạn này nằm trong câu 9b câu này xác quyết lại lời hứa của giao ước (xem bình giải 2:10-12  8:8 cũng so sánh Os 2:23).

5. Sự hình phạt và cứu rỗi dành cho các dân tộc (Xa 14:1-21)

Chương 14 tương tự như chương 12 ở điểm mô tả trận đánh của các nước chống lại Giê-ru-sa-lem.  Dầu vậy chương này đặt nặng trên sự thành tựu của các mục đích của Đức Chúa Trời nhiều hơn (đặc biệt là câu 9).  Phần thứ nhất (1-15) có cấu trúc đảo chéo theo trình tự ABCBA:

A (1-3)  Sự hình phạt và sự can thiệp của Đức Giê-hô-va.

B (4-5)  Địa hình bị chấn động và đảo lộn.

C (6-9) Hoàn cảnh lý tưởng:  Đức Giê-hô-va là vua.

B1 (10-11) Địa hình bị chấn động và đảo lộn.

A1 (12-15) Sự hình phạt và sự can thiệp của Đức Giê-hô-va.

Cấu trúc này dẫn vào câu 16-19 là phân đoạn tiên tri về việc các dân tộc sẽ đi đến Giê-ru-sa-lem để thờ phượng Đức Chúa Trời vào dịp Lễ Lều Tạm.  Như vậy là có một sự thay đổi lớn lao từ cảnh hình phạt sang cảnh phước hạnh dành cho các dân tộc.

Phần cuối cùng (20-21) viết về tình trạng thánh khiết của Giê-ru-sa-lem vào thời đó ngay cả chuông đeo nơi cổ ngựa, cùng nồi niêu soong chảo cũng là THÁNH CHO ĐứC GIÊ-HÔ-VA và sẽ không có một người Ca-na-an nào hoặc “người lái buôn” nào trong đền thờ.

(Xa 14:1-15) Trận đánh tại Giê-ru-sa-lem:  Đức Giê-hô-va trở thành vua của toàn thế gian  Chúng ta có thể sơ lược nội dung và trình bày trong phần sau đây để chứng tỏ khúc văn có trình tự hợp lý và suông sẻ.  Có hiệu đính vài chỗ trong bản NIV để chúng ta có thể thấy có những từ đặc biệt làm nổi bật ý tưởng chính trong mỗi câu.

1 Xem kìa, ngày của Đức Giê-hô-va sắp đến... của cướp sẽ bị chia giữa các ngươi.

2 Ta sẽ gom mọi nước lại tại Giê-ru-sa-lem trong một trận đánh.  Phân nửa cư dân sẽ đi lưu đày...

3 Đức Giê-hô-va sẽ tiến lên và chiến đấu chống lại các nước đó như Ngài đấu trong ngày chiến trận.

4 Trong ngày đó, chân Ngài sẽ đứng trên núi ô-li-ve... về phía đông...  Núi ô-li-ve sẽ bị chẻ đôi, một nửa nằm về hướng đông, một nửa nằm về hướng tây đến nỗi thành ra một trũng rất lớn và phân nửa núi dời qua phương bắc, phân nửa dời qua phương nam.

5 Các ngươi sẽ chạy trốn bởi cái trũng núi của ta vì trũng núi ấy sẽ chạy dài đến Át-san và các ngươi sẽ chạy trốn như trốn trận động đất trong thời vua Ô-xia cai trị trên Giu-đa, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Ta sẽ đến, tất cả các thánh sẽ ở cùng Ngài.

6 Trong ngày đó, sẽ không có sự sáng nữa, không có tiết lạnh (những của quí?), không có băng giá.

7 Rồi sẽ có một ngày mà Đức Giê-hô-va biết, chẳng có ban ngày và chẳng có ban đêm, nhưng khi đêm tối sẽ có ánh sáng.

8 Trong ngày đó nước sống sẽ ra từ Giê-ru-sa-lem phân nửa chảy ra biển đông và phân nửa ra biển tây, vào mùa hạ và mùa đông.

9 Rồi Đức Giê-hô-va sẽ làm vua khắp đất trong ngày đó Đức Giê-hô-va sẽ là một và danh Ngài sẽ là một. 

10 Toàn bộ xứ/ đất, từ Giê-ba đến Kim-môn, về phía nam Giê-ru-sa-lem, sẽ trở nên như A-ra-ba.  Nhưng Giê-ru-sa-lem sẽ được nâng lên và cứ ở tại vị trí của mình, từ cổng Bên-gia-min đến vị trí cổng thứ nhất, đến cổng Góc và từ tháp Ha-na-nê-en cho đến những nơi ép rượu của vua.

11 Và người ta sẽ ở đó, sẽ chẳng có sự tàn phá nữa và Giê-ru-sa-lem sẽ ở yên ổn/ vững lòng tin cậy.

12 Và nầy, tai vạ... mọi dân tộc... nghịch cùng Giê-ru-sa-lem... thịt sẽ mục nát trong khi chân đang đứng, mắt rữa ra trong hốc mắt, lưỡi mục trong miệng.

13 Trong ngày đó,... sự rối loạn dữ dội từ Đức Giê-hô-va.  Ai nấy chụp lấy tay người lân cận mình, và tay người nầy sẽ giơ lên nghịch cùng người kia.

14 Giu-đa cũng sẽ tranh chiến với/ chống lại Giê-ru-sa-lem và của cải của mọi nước chung quanh sẽ được gom lại, vàng bạc và áo quần nhiều vô kể.

15 Cũng có ôn dịch trên ngựa... trong các dinh trại đó tương tự như ôn dịch này.

Dường như Đức Giê-hô-va chủ động khởi xướng cuộc tấn công Giê-ru-sa-lem (1-3), nhưng không nhằm huỷ diệt dân sự của Ngài.  Ngài cho phép các dân tộc gây thương tổn cho dân sự, nhưng không tuyệt diệt họ, ở Giê-ru-sa-lem còn lại được phân nửa số dân.  Rồi Đức Giê-hô-va sẽ can thiệp.

Trong câu 4-5 có hình ảnh Đức Giê-hô-va đứng trên núi ô-li-ve, một rặng núi dài khoảng 4,5 cây số chạy từ bắc xuống nam nằm về phía đông Giê-ru-sa-lem.  Núi này bị chẻ bởi một cái trũng chạy từ đông qua tây khi phân nửa rặng núi chuyển động về phía bắc và phân nửa kia chuyển động về phía nam.  Việc này chưa diễn ra: Có người tin rằng sự việc sẽ diễn ra đúng theo nghĩa đen có người cho rằng đây là một cách nói hình bóng về sự can thiệp của Đức Chúa Trời (xem chú giải về ý nghĩa của chương 9-14).  Am 1:1 có đề cập đến trận động đất trong thời vua Ô-xia và có lẽ Es 6:1-5 phản ánh trận động đất này (chú ý sự trái ngược giữa vua Ô-xia và vua là Đức Giê-hô-va trong cả hai sách A-mốt lẫn Xa-cha-ri).

Câu 6-9 là phân đoạn trọng tâm và là trụ xoay của câu 1-15.  Đây là một bản văn khó hiểu, nhưng chúng ta nắm rõ ý tổng quát:  Có ánh sáng ban ngày liên tục (một dấu hiệu chứng tỏ bóng tối của tội lỗi bị loại trừ hẳn) và từ Giê-ru-sa-lem (nơi Đức Giê-hô-va ngự) nước sống tuôn ra chảy đến biển đông và biển tây (đem sự sống đến cho toàn cõi địa cầu rộng lớn) Đức Giê-hô-va sẽ là vua: trái ngược với tình trạng đất nước phân chia làm hai hàm ý trong từ “phân nửa” ở phần trên.  Sẽ chỉ có một Chúa và dân tộc sẽ chỉ công nhận một Chúa (Danh Ngài chỉ có một).

Thêm những chi tiết về địa lý (10) làm khung chung quanh câu 6-9, lần này nhằm tôn vinh Giê-ru-sa-lem vì đã được Đức Chúa Trời giải cứu và ngự giữa.  Giê-ru-sa-lem toạ lạc tại một vị trí cao hơn các vùng đất khác trong xứ vì các nơi đó đã biến thành bình địa.  Giê-ru-sa-lem nay có cư dân và là nơi an toàn yên ổn.

Câu 12-15 cùng với câu 1-3 mô tả cuộc tấn công Giê-ru-sa-lem do các dân tộc.  Mấy câu này mô tả cách Đức Chúa Trời chiến thắng họ.  Sau khi thưởng thức cảnh tượng lạ lùng trong câu 6-9, kể ra chúng ta chẳng thích thú gì khi quay lại với những cảnh hình phạt và tai vạ, nhưng tác giả xây dựng khúc văn này theo cấu trúc đảo nên đỉnh điểm nằm ở khoảng giữa khúc văn.

(Xa 14:16-19) Các dân tộc đến dự Lễ Lều Tạm   Ở đây tác giả đề cập đến Ai Cập vì thuở ban đầu lúc mới khai sinh, dân Y-sơ-ra-ên được giải phóng khỏi Ai Cập.  Ai Cập thường được nhắc đến để làm thí dụ điển hình về thành phần chống nghịch lại Đức Chúa Trời.  Nhưng ở đây nhấn mạnh rằng sẽ có thời họ đến thờ lạy Đức Giê-hô-va.  Có những dân tộc xưa kia không được đến gần để thờ phượng Đức Giê-hô-va nay trở nên phần tử trong dân sự của giao ước (so sánh Es 19:18-25).  Sơ lược phân đoạn này như sau:

16 Rồi đây những người sống sót giữa vòng các dân đã từng đến đánh Giê-ru-sa-lem hằng năm sẽ đến đó để thờ phượng Đức Giê-hô-va vạn quân là vua và để giữ Lễ Lều Tạm.

17 Rồi đây hễ dân tộc nào trên đất không đi đến Giê-ru-sa-lem để thờ phượng Đức Giê-hô-va vạn quân là vua, thì sẽ không có mưa trên họ.

18 Nếu dân Ai Cập không đến và tham dự, Đức Giê-hô-va sẽ giáng trên họ tai vạ mà Ngài sẽ giáng trên các dân tộc không đến giữ Lễ Lều Tạm.

19 Đây sẽ là hình phạt dành cho Ai Cập và hình phạt dành cho các dân tộc không đến giữ Lễ Lều Tạm.

Phân đoạn này rõ ràng là một lời tiên tri có tính cách tích cực (16) kèm theo là những câu ngoại lệ (17-19).  Những câu lặp lại nhằm nhấn mạnh việc đi Giê-ru-sa-lem để thờ phượng vua, Đức Giê-hô-va vạn quân và để “giữ Lễ Lều Tạm”.  Những ai bỏ lỡ cơ hội cùng với dân sự của Gia-vê để thờ phượng Ngài và để giữ lễ sẽ bị nghiêm trị.  Ai Cập là một dân tộc tiêu biểu.  Nếu Ai Cập cứ có thái độ thù nghịch như trong thời kỳ dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ ở Ai Cập thì tai vạ giáng trên họ là đáng lắm và họ sẽ chịu khổ vì tai hoạ (như thuở xưa vậy (so sánh He 2:3).

(Xa 14:20-21) Giê-ru-sa-lem được thanh tẩy trở nên thánh   Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai phân đoạn cuối mở đầu và kết thúc với cụm từ trong ngày đó, làm khung đóng và mở cho nội dung của phân đoạn.  Cụm từ THÁNH CHO ĐỨC GIÊ-HÔ-VA được khắc trên một tấm bảng bằng vàng ròng đính trên mũ của thầy tế lễ thượng phẩm (Xu 28:36).  Ở đây ngay cả chuông ngựa cũng có khắc như vậy:  Ngựa cũng thánh như thầy tế lễ thượng phẩm.  Không có phân biệt giữa giới trần tục và giới thánh thiện,ngay cả những đồ gốm bỏ đi cũng vậy:  tất cả đều là thánh trong sự hiện diện của Đức Giê-hô-va.  Từ người Ca-na-an cũng có nghĩa là “người lái buôn”.  Có lẽ từ ngữ này đặc biệt được dùng để chỉ về nghề buôn bán (không có động lực thánh) lẫn tôn giáo bất khiết mà lẽ ra xưa kia người Y-sơ-ra-ên phải loại trừ khi họ thừa hưởng xứ Ca-na-an (Phu 7:1-6 v.v...)

Lên đầu trang