A-GHÊ

MỤC LỤC

A-ghê

Dẫn nhập

Bản văn

Người ta thường nói rằng Kinh Thánh giải nghĩa là tốt nhất. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp sách A-ghê. Những biến cố trong sách diễn ra trong năm thứ II thời trị vì của vua Đa-ri-út (1:1). Năm này cũng là bối cảnh của mấy chương đầu trong sách Xa-cha-ri và một phần trong sách E-xơ-ra (Xa 1:1, 7; Exo 4:24-6:15). Do đó, chúng ta nên đọc cả ba khúc sách này chung với nhau để nắm được một cái nhìn bao quát đầy đủ hơn. Ngoài ra, cũng nên đọc về thái độ của Đức Chúa Trời đối với tinh thần bất vâng phục nơi dân sự của Ngài trong Phục Truyền 28 và A-mốt 4.

Không rõ ai là người cầm bút viết ra sách này. Có thể đích thân ông A-ghê. Thời đại tân tiến này hay quan tâm đến tác quyền, còn chẳng mấy khi các sách trong Cựu ước tiết lộ người cầm bút viết sách. Trái lại bất cứ ai nói tiên tri thì hầu như Cựu ước luôn luôn có ghi lại danh tánh của đương sự. Toàn bộ những lời tiên tri trong sách này được xem là của tiên tri A-ghê (1:1, 13; 2:1, 10, 20).

Lời lẽ trong sách xem ra khá trau chuốt. Có người gợi ý rằng câu “ngày thứ 24” được lặp lại nhiều lần trong sách (1:15; 2:10). Như vậy chứng tỏ sách có bị hiệu đính. Nhưng cần gì phải dựng lên những chuyện rắc rối như vậy. Hiện trạng bản văn như thế là ổn rồi.

Những biến cố

Có thể tìm thấy bối cảnh của sách A-ghê khi đọc Exo 1-4. Đám dân lưu đày hồi hương khởi công xây dựng đền thờ trong năm 536 T.C. (Exo 3:8) nhưng phải ngưng ngang vì cớ sự chống đối của dân địa phương (Exo 4:1-5, 24). Trong năm thứ hai thời trị vì của vua Đa-ri-út (520 T.C.). Nhờ lời của Đức Chúa Trời qua tiên tri A-ghê thôi thúc họ tiếp tục công trình lở dở (1:14-15) được hoàn thành năm 516 T.C. (Exo 6:15), khoảng 70 năm khi đền thờ cũ bị hủy phá khi Giê-ru-sa-lem thất thủ năm 587 T.C. (xem Gie 25:11; 29:10; Da 9:2).

Sách cũng nói rõ những biến cố trong tương lai nữa. Đức Chúa Trời hứa rằng những biến động chính trị và môi trường sống sẽ khiến cho đền thờ của Ngài được đầy dẫy tràn ngập, và Ngài cũng hứa rằng vị lãnh đạo dân sự của Ngài sẽ được bảo vệ an toàn trong biến động sắp tới (2:6-7, 22-23).

Những nhân vật được sách đề cập đến

Ông A-ghê được xưng tụng cách đơn giản là “’’Tiên tri”, không có một chi tiết nào về lai lịch gia phả, ngay cả bản liệt kê những người hồi hương cũng không có ghi tên của ông. Đứng trước sự khiếm khuyết này, mọi nỗ lực ức đoán về lai lịch của ông xem ra vô bổ mà thôi. Căn cứ vào mấy câu hỏi mà ông xoáy vào các thầy tế lễ trong 2:11-13, có ý kiến cho rằng ông chẳng biết tí gì về giới tế lễ và chức vụ của họ. Nhưng ý kiến đó không có sức thuyết phục. Căn cứ và sự kiện người ta chịu nghe lời giảng dạy của ông và lập tức làm theo chúng ta có thể kết luận rằng ai nấy đều công nhận ông là một vị tiên tri chân chính.

Vua Đa-ri-út (1:1) là vua Đa-ri-út I, con của vua Hystaspes là vua cai trị trên Ba-by-lôn từ 522-486 T.C.. Vua cai trị trước vua Hystaspes là vua Cambyses (530-522 T.C.), còn trước vua Cambyses là vua Si-ru (539-530 T.C.; xem Exo 1).

Xô-rô-ba-bên, quan tổng trấn của Giu-đa, xuất thân từ hoàng tộc, hậu duệ của vua Giê-hô-gia-kin là vị vua bị bắt đi lưu đày năm 597 T.C. (IIVua 24:15; so sánh Mat 1:11-13). Theo 1:1 thân phụ của ông là Sê-anh-thi-ên. Kể ra không ổn lắm khi liên hệ chi tiết này với ISu 3:18-19 vì trong sử ký ghi ông là con của Phê-đa-gia. Phải chăng ông là con nuôi, hoặc con đời chồng sau mà Kinh Thánh không có ghi lại (Phu 25:5-6). Cũng có thể người được chỉ định thừa kế ngai vàng không nhất thiết phải là con cháu đích tôn, như đã xảy ra ở vương quốc Anh trong thế kỷ XVIII.

Giê-hô-sua, thầy tế lễ thượng phẩm (trong sách E-xơ-ra và sách Nê-hê-mi gọi ông là Giê-sua), là con của thầy tế lễ Giê-hô-xa-đác là người bị bắt đi lưu đày năm 587 T.C. (ISu 6:15). Kể từ năm 537 T.C. trở đi ông là thầy tế lễ đứng đầu trong giới lãnh đạo , nếu ông chưa phải là thầy tế lễ thượng phẩm (Exo 2:2, 36, 40; 3:2). Đức Chúa Trời có sứ điệp riêng về ông trong Xa 3 và 6:11-13. Tên riêng của ông gợi ý là “Đức Chúa Trời giải cứu”. Nguyên ngữ Hi Bá Lai của từ này cũng là căn bản cho tên riêng “Giê-xu” trong tiếng Hi Lạp.

“Dân sự được đề cập trong sách là đám tàn dân, là hậu duệ của những người xưa kia bị lưu đày qua Ba-by-lôn và nay được phép hồi hương (1:14; Exo 4:1). Khi họ lo tái thiết đền thờ thì dân địa phương sinh sống tại Sa-ma-ri đứng ra chống đối (Exo 4:17-24). Đó là nỗ lực tái thiết đền thờ trong đợt đầu.

Trong sách không có chỗ nào nói hẳn về việc xuất hiện của Đấng Mết-si-a, nhưng lâu nay ai nấy đều cho rằng những lời hứa dành cho ông Xô-rô-ba-bên (2:23) và cho ông Giê-hô-sua (Xa 6:11-13) rồi đây khi được thành tựu sẽ thành tựu trong Đấng Mết-si-a. Xem bình giải 2:7.

Có thể ghi nhận rằng ngoài mấy tiếng trả lời “phải” hoặc “không” của các thầy tế lễ, thì trong suốt sách này không có ai khác lên tiếng phát biểu hoặc nói năng gì ngoài ông A-ghê. Họ chỉ lo hưởng ứng làm theo lời của Đức Chúa Trời phán qua ông A-ghê. Việc này tăng phần ý nghĩa cho sự kiện lời của Đức Chúa Trời khi được phán ra sẽ hoàn thành mục đích của Ngài (so sánh Es 55:10-11).

Các bài tiên tri

Có năm bài tiên tri được giảng ra vào ba ngày trong vòng bốn tháng trong năm 520 T.C.. Cả ba đều do chính ông A-ghê rao giảng, và mỗi bài nhắm vào một thành phần cụ thể trong dân chúng. Qua những lời tiên tri này Đức Chúa Trời muốn mở mắt dân sự, khích lệ họ ăn năn rồi vâng phục, và Ngài cũng hứa rằng kết quả họ sẽ nhận được phước hạnh.

Lời của Đức Chúa Trời có sắc thái đặc thù là đối với các thế hệ con người nối tiếp nhau, lời của Đức Chúa Trời vẫn có giá trị xác đáng cho họ. Không nhất thiết phải giới hạn sự ứng nghiệm của lời tiên tri trong một thế hệ duy nhất. Có thể ví việc này với kỹ thuật ném một phiến sỏi bằng phẳng lướt trên mặt nước trong hồ. Thay vì chìm ngay khi chạm mặt nước trong lần đầu tiên (theo luật hấp lực của địa cầu) phiến sỏi lại lượn lên rồi chạm mặt nước, tái diễn nhiều lần như thế trên mặt nước nhờ lực xoáy khi phiến sỏi vụt bay đi (so sánh ISa 3:19-20).

Một thí dụ điển hình trong Kinh Thánh về việc một chủ đề được dựng lại nhiều lần là sự giải cứu khỏi nước. Ông Nô-ê được cứu sống khỏi chết đuối trong con tàu (Sa 7:1); sau này ông Môi-se khi còn là bé sơ sinh được cứu sống trong cái rương mây (nguyên ngữ Hi Bá Lai dùng cùng một từ “con tàu”; Xu 2:3); rồi đến dân Y-sơ-ra-ên được cứu khỏi chết đuối trong Biển Đỏ (Xu 14:21-29). Chủ đề này lại được đề cập đến một vài lần nữa trong Kinh Thánh ở những phần khác rồi trở thành một biểu tượng về lễ Báp-têm của người tin Chúa (thí dụ Cac 5:21; Es 43:2; 51:10; ICo 10:1-2).

Như vậy, với sách A-ghê chúng ta có thể thấy lời Đức Chúa Trời được ứng dụng cho nhiều thời kỳ chớ không phải chỉ một thời kỳ. Song song với thái độ trông đợi tìm tòi sự ứng nghiệm trong tương lai vài tháng hoặc vài năm, chúng ta cần phóng tầm nhìn vào những thời kỳ xa hơn về sau, nhất là vào đời sống của Chúa Giê-xu và vào thời kỳ của Hội Thánh, thật vậy, cho đến cả thời của chúng ta hiện nay nữa.

Những điều này đưa chúng ta đến câu nói “ít lâu nữa” (2:6). Dù câu này khiến cho chúng ta cảm tưởng như nói đến một quãng thời gian ngắn ngủi thôi, nhưng khi nhìn theo tầm nhìn của con người thì hoá ra dài. Còn theo tầm nhìn của Đức Chúa Trời thì rất là ngắn vì một nghìn ngày chỉ như một ngày (IIPhi 3:8). Nếu theo cách này thì tìm tòi sự ứng nghiệm xa hơn của các lời tiên tri của ông A-ghê trong một trăm năm xem ra chẳng có gì là khó.

Việc này đưa chúng ta đến chỗ có thể áp dụng những lời tiên tri của ông A-ghê cho chúng ta ngày nay. Với lời tiên tri của ông A-ghê có người cho là có hy vọng cho đền thờ toạ lạc trên núi taị Giê-ru-sa-lem, và nước Y-sơ-ra-ên hiện nay có hy vọng được bảo vệ (2:9, 21-23). Còn qua những lời hứa về Hội Thánh, có người áp dụng về phần thuộc linh vì họ lý luận rằng vương quốc của Chúa Giê-xu không ở tại thế gian này (Gi 18:36; xem ICo 3:26; 6:19; Kh 21:22). Còn những người khác lại trông đợi sự ứng nghiệm trong cả hai lãnh vực. Thật trọng vẫn hơn; không mấy người nghĩ là Chúa Giê-xu làm ứng nghiệm lời tiên tri như Ngài đã làm. Sau khi viêc đã xảy ra chúng ta dễ xác định sự ứng nghiệm của lời tiên tri hơn là khi việc chưa xảy ra.

Lời rủa sả

Dù sách A-ghê không có từ “rủa sả” nào cả nhưng sách mô tả những điều xảy đến cho dân sự rất phù hợp với những lời “rủa sả” trong Ngũ kinh, rất phù hợp với những điều Đức Chúa Trời đã quả quyết là sẽ xảy đến cho họ nếu họ không vâng phục Ngài hoặc làm theo Lời Ngài (Phục Truyền 28). Trong thời gian bị lưu đày dân sự đã gánh chịu sự rủa sả của Đức Chúa Trời (Xa 8:13), và rõ ràng họ vẫn còn bị rủa sả mặc dù họ đã được hồi hương (1:6, 11).

Đối với chúng ta lời lẽ này có vẻ khác lạ, nhưng chúng ta cần nhớ rằng trong Kinh Thánh, Đức Chúa Trời chẳng những chỉ ban phước mà Ngài còn rủa sả nữa. Khi Chúa Giê-xu đến trần gian sự rủa sả chưa bị hủy bỏ, bằng cớ là Chúa Giê-xu vẫn rủa sả cây vả. Chuyện rủa sả cây vả diễn ra trước và sau khi Ngài viếng thăm đền thờ (Mac 11:12-21). Có thể hiểu rằng hành động này là một cách nhận định về những điều sẽ xảy ra cho cộng đồng đền thờ của dân sự Đức Chúa Trời. Đền thờ được xây lại từ thời ông A-ghê (Gi 2:20) bị hủy phá năm 70 S.C. và dân cư bị tản lạc đến các nước khác (Mac 13:1-2; Lu 21:24).

Ngày nay, sự rủa sả vẫn còn được Đức Chúa Trời sử dụng. Vì cho đến chung cuộc trong thời kỳ của Trời Mới Đất Mới sự rủa sả mới bị hủy bỏ (Kh 22:3). Người tin Chúa cần tìm hiểu thấu đáo tác hại liên tục và lâu dài của tội lỗi trên đời sống của chúng ta. Ngay bây giờ chúng ta có thể được giải thoát khỏi mọi lời rủa sả nếu chúng ta hoàn toàn thành tâm ăn năn từ bỏ những điều đã tạo điều kiện cho sự rủa sả được thi hành và khẩn nài Đức Chúa Trời cho phép thập tự giá tác động mạnh mẽ trên đời sống của chúng ta (Ch 26:2; Ga 3:12-14).

Sự lặp lại

Thông thường cũng nên lưu ý đến những điều Kinh Thánh Cựu ước lặp lại. Trong sách A-ghê, những lời của Đức Chúa Trời phán thường được lặp lại. Bốn lần Ngài truyền dạy dân sự phải cẩn thận xem xét lại cuộc sống của họ (1:5, 7; 2:15, 18). Hai lần Ngài bảo họ so sánh tình trạng nhà của Đức Chúa Trời với nhà của họ (1:4, 9); Hai lần Ngài phán rằng “Ta ở với các ngươi” (1:13; 2:4); và ba lần Ngài truyền cho họ phải can đảm lên (2:4). Bảng liệt kê những tai hoạ đã đổ xuống trên đất nước cũng được lặp lại (1:6, 10-11; 2:16-17, 19). Lời tiên tri về việc các quốc gia dân tộc sẽ bị rung chuyển đảo lộn cũng được lặp lại (2:6, 21-22).

Chúng ta buộc phải thắc mắc về mục đích của tác giả khi lặp lại như thế mặc dù sách xem ra ngắn ngủi. Có lẽ ông muốn nhấn mạnh; thính giả cần nghe đi nghe lại nhiều lần thì sứ điệp mới thâm nhập vào họ (IIPhi 1:12-13). Cũng có thể hiểu như ông Giô-sép đã nói khi giải nghĩa những điềm chiêm bao cho Pha-ra-ôn. Vấn đề được lặp lại qua hai điềm chiêm bao nhằm chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời đã dứt khoát chắc chắn và Ngài sẽ “sớm” thực hiện điều Ngài đã quyết định (Sa 41:32) xem phân đoạn “các lời tiên tri” ở trên về quãng thời gian của từ “sớm”.

Cấu trúc và chủ đề

Dò theo sơ đồ chúng ta thấy nửa phần sách thứ hai lặp lại nội dung của phần sách thứ nhất. Một chủ đề nổi cộm là hễ dân sự ăn năn trở về với Đức Chúa Trời và thoả mãn những yêu cầu của Ngài, thì chẳng những Ngài đáp ứng bằng cách ban phước cho họ, mà còn khiến xảy ra những biến chuyển sôi động dữ dội trong xã hội và ở những nơi xa xôi hơn nữa.

Sơ lược nội dung

1:1-11         Sứ điệp của Đức Chúa Trời cho thành phần lãnh đạo của Giu-đa: Nhà ta và cuộc sống của các ngươi đang điêu tàn

1:12-15       Dân sự đáp ứng: Khởi công cuộc tái thiết đền thờ

2:1-9           Sứ điệp của Đức Chúa Trời về đền thờ mới: “Ta sẽ thay đổi cuộc sống của các ngươi”

2:10-19       Đức Chúa Trời phán về sự rủa sả: “Ta sẽ thay thế bằng phước lành”

2:20-23       Đức Chúa Trời hứa với ông Xô-rô-ba-bên: “Ta sẽ bảo đảm an toàn cho người lãnh đạo.

1. SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CHO THÀNH PHẦN LÃNH ĐẠO CỦA GIU-ĐA: NHÀ TA VÀ CUỘC SỐNG CỦA CÁC NGƯƠI ĐANG ĐIÊU TÀN (Ag 1:1-15)

1. Nhà của ai ở thế ưu tiên hàng đầu? (Ag 1:1-4)

Mở đầu sách xác định thời điểm (520 T.C.) đối tượng của sứ điệp, trung gian chuyển đạt sứ điệp (xin xem dẫn nhập để rõ thêm chi tiết).  Dù sứ điệp có liên hệ tới toàn thể dân sự nhưng lại được chuyển đạt cho hai vị lãnh đạo trong giai đoạn này.

Dân sự chống đối việc xây dựng đền thờ.  Trước kia, dân địa phương tìm đủ cách hù doạ họ và làm cho họ nản lòng  Exo 4:4-5).  Tuy nhiên, trong thời gian này xem ra chẳng có dấu hiệu hù doạ nào cả.  Giờ đây, dân sự trú trong những “ngôi nhà có lót ván”.  Câu này gợi ý nhà họ đã hoàn tất việc xây dựng nhà cửa và đang sống sung túc và an ổn.

Câu trả lời của Đức Chúa Trời dùng lại hai tiếng xuất phát từ miệng của dân sự: lúc (thời điểm) và nhà.  Vì sao ở thời điểm này họ lo xây dựng nhà của họ mà không xây nhà của Đức Chúa Trời?  Khi làm như vậy, rõ ràng dân sự tỏ ra không cần biết có Đức Chúa Trời ở giữa họ hoặc không.  Thái độ của họ phơi bày những điều họ cho là ưu tiên hàng đầu.

Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai các từ điêu tàn và khô hạn (11) có dạng rất giống nhau.  Đối với dân Y-sơ-ra-ên mưa là phước (Thi 65:9-10).  Còn mưa ít là tại dân sự không quan tâm đến nhà của Đức Chúa Trời.

2. Hãy mở mắt mà nhìn (Ag 1:5-11)

Dân sự đang sống dưới một lời rủa sả (Phu 28:15-68).  Một hậu quả của tình trạng này là rơi vào tình trạng bấn loạn không nhận thức được những biến động quanh mình (28:28).  Hoàn cảnh của họ là một trường hợp điển hình.  Sự rủa sả ảnh hưởng đến thức ăn, đồ uống, áo quần và tiền bạc của họ.  Thời nay, giữa vòng những người tin Chúa, thường cũng có lắm người không nhận thấy bàn tay của Đức Chúa Trời đằng sau những sự khó khăn chúng ta không ngờ đến những hậu quả của tội lỗi mà chúng ta đành chấo nhận dung túng trong đời sống của mình (A-mốt 4).  Nói như vậy không có ý nói rằng tất cả mọi tai ương đều phát sinh từ tội lỗi nhưng muốn nói rằng tội lỗi có hậu quả (Os 8:7). 

Nỗi khó khăn trục trặc của dân sự trong vấn đề tiền bạc không phải vì thiếu tiền, bởi trong thực tế họ có nhà lót ván và có lợi tức (4, 6) nhưng vì tiền bạc mất giá quá nhanh.  Ở đây, tác giả cho rằng nạn lạm phát với những hậu quả tai hại này bắt nguồn từ phần thuộc linh.  Thời nay người ta thường bỏ qua sự thật này, nên thường khi họ tìm mọi cách cứu vãn nạn lạm phát mà không hề tìm hiểu nguyên nhân sâu xa.

Trong nạn hạn hán này trầm trọng đến nỗi ngay cả sương cũng không rơi (Phu 11:10-17 28:23).  Tác động tai hại của lời rủa sả càng nặng hơn (so sánh 28:18,38-40).  Vì cớ dân sự không vâng lời mà cảnh sống được mô tả trong Thi 104:10-23 trở nên như cảnh trong một giấc mơ xa xưa.

Lời của Đức Chúa Trời gợi ý là họ tái thiết nhà của Ngài tại tại địa điểm cũ với cùng một hình dáng (xem bình giải Ag 2:20-23).  Mục đích là để Ngài vui thích ngôi nhà đó và được vinh hiển bởi ngôi nhà đó.  Cho đến ngày nay Ngài vẫn có ý muốn đó đối với người thuộc về Ngài là những người đóng vai trò ngôi nhà thuộc linh của Ngài (ICo 3:9-17).

3. Dân sự hưởng ứng:  Công cuộc tái thiết bắt đầu (Ag 1:12-15)

Thành phần lãnh đạo cũng như dân chúng ai nấy đều tiếp nhận sứ điệp của ông A-ghê và hành động theo như lời ông cổ võ.  Chúng ta được biết là trước kia dân chúng chống đối vụ xây dựng đền thờ nhưng không rõ ông Giê-sua và ông Xô-rô-ba-bên có nhất trí với dân hay không.  Nếu có thì nay quả là một biến cố lạ kỳ khi họ được biến cải như vậy vì từ thuở theo chân ông Môi-se trong sa mạc trải qua nhiều thế hệ tổ tiên của họ vẫn thường chống nghịch giới tiên tri.  Hẳn ông A-ghê biết cách ăn nói với dân sự cũng như biết thông công với Đức Chúa Trời.  Xem ra không gì dễ chịu bằng nhìn thấy cấp lãnh đạo vừa là người tin kính Đức Chúa Trời, vừa có thể tiếp nhận lời của Đức Chúa Trời vừa có thể lôi cuốn dân cùng đi với mình.  Cho nên chẳng lạ gì khi Đức Chúa Trời đánh giá cao hai ông Xô-rô-ba-bên và Giê-sua (Ag 2:23  Xa 6:11-13).

Một khi họ vâng lời rồi, Đức Chúa Trời lại có một sứ điệp ngắn cho dân sự qua ông A-ghê.  Sống trong bối cảnh bị rủa sả, có lẽ họ tưởng là chỉ nghe Đức Chúa Trời phán rằng “Ta chống nghịch ngươi” thay vì vậy họ nghe Ngài phán rằng “Ta ở cùng ngươi”.  Lời rủa sả của Đức Chúa Trời không phải là một dấu chứng là Đức Chúa Trời đã từ bỏ dân sự của Ngài Trái lại, nó cho thấy tình yêu thương của Ngài dành cho họ.  Ngài muốn kéo họ trở về với Ngài,và dùng tai hoạ để vực họ dậy (Am 4:6-11 so sánh 3:2  Es 7:13-25 ở câu đó Em-ma-nu-ên có nghĩa là “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta”).

Khi họ khiêm tốn vâng theo lời của Đức Chúa Trời và khởi công tái thiết đền thờ thì Đức Chúa Trời hỗ trợ họ.  Chúng ta có thủ một vai trò trong việc tạo điều kiện cho phước lành của Đức Chúa Trời có thể diễn ra khi chúng ta quyết định phục tùng ý muốn của Đức Chúa Trời (IITi 1:6-7).  Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai từ sứ giả và từ làm việc giống nhau.  Ở đây dùng hai từ này gần bên nhau nhắc chúng ta rằng một lời tiên tri không phải là một lời “chúc phước” làm cho chúng ta hài lòng vui thích, mà là một lời chỉ dẫn chúng ta đến hành động.

Có người cho rằng câu “ngày thứ “hai mươi bốn” (15) được lặp lại trong 2:10 chứng tỏ bản văn có bị sửa đổi.  Tuy nhiên, không có bằng chứng nào buộc chúng ta phải nghi ngờ tính cách xác thực của bản văn.

2. SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VỀ ĐỀN THỜ MỚI: “TA SẼ THAY ĐỔI ĐỜI SỐNG CỦA CÁC NGƯƠI” (Ag 2:1-23)

1. Mục đích hiện nay của Đức Chúa Trời (Ag 2:1-5)

Một lần nữa, Đức Chúa Trời phán qua tiên tri A-ghê lần này sứ điệp của Đức Chúa Trời dành cho cả lãnh đạo lẫn dân sự.  Đức Chúa Trời đáp ứng ý nghĩ của giới lão niên là những người nhớ lại đền thờ thứ nhất và tỏ vẻ bất mãn về đền thờ vừa tái thiết xong.  Có thể họ chẳng giấu diếm cảm nghĩ của mình nhưng họ nói huỵch tẹt ra, như họ đã từng làm trước kia (so sánh Exo 3:12).  Tuy nhiên, có thể đây là những cảm nghĩ hết sức riêng tư sâu kín.  Nếu vậy, thì Đức Chúa Trời nói thẳng với tâm trí họ qua một cách nào đó ngoài phạm vi hiểu biết tự nhiên thông thường của tiên tri (so sánh Lu 7:39-40).  Nhờ cách đó Ngài thu hút được sự chú ý của họ.

Vào dịp tiến vào đất hứa lần đầu tiên, ông Giô-suê nhận được lời cổ vũ là hãy can đảm (Gios 1:6-7,9,18).  Nên lưu ý là khi dân sự vào đất hứa lần đầu và lần thứ hai trong thời tiên tri vị lãnh đạo của họ đều mang tên là Giô-suê.  Có thể xem đây là chuyện trùng hợp, nhưng cũng có thể so sánh chuyến vào đất hứa lần thứ hai với lần đầu.  Trong cả hai trường hợp hai vị lãnh đạo đều vâng theo lời khuyên giục của Đức Chúa Trời mà hành động cách can đảm nên họ được thừa hưởng lời hứa của Đức Chúa Trời.  Trong cả hai trường hợp, dù Đức Chúa Trời củng cố sức lực cho dân sự (Ag 1:14), chính họ phải nổ lực theo sự hướng dẫn của Ngài.  Thời nay công tác phục vụ Đức Chúa Trời cũng đòi hỏi một tinh thần hợp tác tương tự.

Câu “Ta ở cùng ngươi” được dùng nhiều lần (5 xem bình giải Ag 1:13 và dẫn nhập).  Có thể nối kết câu nói này với câu tiếp theo là câu có ý xác định rằng giao ước vẫn còn giá trị.  Có thể lắm một số người nghĩ rằng cuộc lưu đày là tín hiệu về việc xé bỏ giao ước hoặc giả họ nghĩ rằng cuộc sống bị rủa sả lâu ngày dài tháng như vậy là dấu chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời loại bỏ họ, nhưng nghĩ vậy là không đúng. Sự ban tặng của Đức Chúa Trời và sự kêu gọi của Ngài không hề bị thu hồi, thay đổi (so sánh Ro 11:29).

Tương tự, Thần của Đức Chúa Trời không bỏ đi luôn vì cớ tội lỗi của dân sự Ngài, hoặc đúng hơn là Ngài không bỏ đi lâu (ISa 4:22  6:1-21). Trong các khải tượng của ông Ê-xê-chi-ên, rốt cuộc sự vinh hiển của Đức Chúa Trời rời bỏ Giê-ru-sa-lem vì cớ tội lỗi ngự trị trong đền thờ, tuy nhiên rời bỏ đền thờ để đến với dân lưu đày ở Ba-by-lôn (so sánh Exe 10:18-22  11:22-23 với 1:1  11:16). Giờ đây, có lời bảo đảm với dân sự là Thần của Đức Chúa Trời đã từ Ba-by-lôn trở về với họ, để ở với họ.  Lời bảo đảm này dành cho tất cả những ai kiên tâm tìm kiếm sự hiện diện của Đức Chúa Trời và vâng theo mạng lịnh của Ngài (Gia 4:8).

Dân sự được lịnh là đừng sợ hãi trái lại cần can đảm tiến tới, xúc tiến công việc.  Lời khuyên này cho thấy rằng dân sự của Đức Chúa Trời không nên để cho sự sợ hãi cản trở họ trong vấn đề vâng lời Đức Chúa Trời (IGi 4:4,18).

2. Mục đích tương lai của Đức Chúa Trời (Ag 2:6-9)

Tác giả thư Hê-bơ-rơ trích dẫn những câu này trong He 12:26-27.  Việc này gợi ý là tốt nhất nên hiểu mọi việc thành tựu trong thời của ông Xô-rô-ba-bên (Ag 2:22-23) là thành tựu có mức độ, có giới hạn chớ chưa thành tựu hoàn toàn (xem Dẫn Nhập).  Tác giả thư Hê-bơ-rơ cho rằng phần mô tả về sự kiện Đức Chúa Trời làm rúng động địa cầu chỉ về quang cảnh tại Si-nai (Xu 19:18).  Câu này hàm ý rằng tiếng của Đức Chúa Trời sẽ vang lên khi kỳ rúng động trong địa cầu trong tương lai sẽ xảy ra và đó là lý do khiến cho mọi báu vật của các dân tộc sẽ được cống hiến tại nhà của Đức Chúa Trời.

Khi Đức Chúa Trời ngự đến, cõi thọ tạo rung chuyển (so sánh Cac 5:4-5).  Ngày xưa tại Si-nai chỉ có một ngọn núi rung chuyển, nhưng lần này toàn vùng sẽ rung chuyển khi Đức Chúa Trời ngự đến.  Có lẽ tác giả dùng các cụm từ “rung chuyển địa cầu” theo nghĩa bóng.  Cũng có thể nói về khí hậu thời tiết bị xáo trộn và môi trường bị ô nhiễm (Kh 6:12-14 là những câu cho thấy Đức Chúa Trời chủ động gây ra những biến động kinh thiên động địa trong vũ trụ và xem 8:3-12 là những câu cho thấy Đức Chúa Trời chủ động đằng sau tình trạng ô nhiễm của một thế giới bất vâng phục).  Những biến cố đó diễn ra trước ngày trọng đại và quang vinh của Chúa (so sánh Cong 2:19-20 được trích dẫn từ Gio 2:30-31).  Như vậy, nếu khúc Kinh Thánh này và câu Ag 2:23 chỉ về thời của Đấng Mê-si đến thế gian lần thứ hai chớ không phải nói về lần đầu.

Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai câu kho tàng của mọi quốc gia sẽ đổ về… (bản diễn ý) có chủ từ ở thể số ít và động từ ở thể số nhiều.  Có thể chuyển ngữ theo nghĩa đen là “Những điều gì mà các dân tộc quý trọng sẽ đến…”.  Có thể hiểu câu này theo nhiều hướng.  Hoặc là tìm cách hiểu ý câu này theo hiện trạng của bản văn trong nguyên ngữ, hoặc dùng chủ từ lẫn động từ trong thể số nhiều hoặc số ít.

Tuy vậy, trước khi đường đột hiệu đính bản văn, chúng ta nên lưu ý là trong sách Đa-ni-ên, cũng có một trường hợp dùng cả hai thể số nhiều lẫn số ít khi tiên tri về vị lãnh đạo mà Đức Chúa Trời chọn.  Con người tiếp nhận vương quốc (Da 7:13-14) rồi các thánh cũng nhận vương quốc nữa, nên bản văn đang ở thể số nhiều bất chợt nhảy qua thể số ít (7:26-27).  Do đó, thay vì hiệu đính, có lẽ chúng ta nên cứ giữ nguyên trạng của bản văn với chủ từ ở thể số ít và động từ ở thể số nhiều.  Bản diễn ý đã có thể tôn trọng nguyên trạng và chuyển được ý của nguyên bản qua câu: “Kho tàng của mọi quốc gia sẽ đổ về…”

Một vài dịch giả Kinh Thánh (kể cả ông Luther và các dịch giả của bản AV) dựa theo bản Vulgate tức là bản Kinh Thánh được chuyển ngữ qua tiếng La-tinh trong thế kỷ thứ V SC, quyết định dùng số ít trong toàn bộ câu này:  “Nhân vật mà các quốc gia mong muuốn sẽ đến”.  Nội dung này có ý nói về Đấng Mê-si, thế là phù hợp với văn cảnh (Ag 2:23 có ý nói về Đấng Mê-si).  Tuy nhiên, với nội dung này các dịch giả vướng phải vấn đề đã hiệu đính số nhiều trong nguyên bản Hi Bá Lai thành số ít.

Hiệu đính số ít trong nguyên bản Hi Bá Lai thành số nhiều hết xem ra dễ dàng hơn (như các dịch giả đã làm đối với bản Septuagint là bản dịch trong tiếng Hi Lạp): “Các kho báu của mọi quốc gia sẽ đến…”.  Chuyển ngữ theo cách này có thể giúp chúng ta hiểu rằng Đức Chúa Trời dự định gộp tất cả các dân tộc trên thế giới vào chương trình cứu chuộc của Ngài (Es 49:6-7  60:10  Xa 6:15).  Nhưng cũng có thể câu này có nghĩa là rồi đây sẽ đến ngày những thứ gì được thiên hạ xem là sang trọng và tuyệt mỹ nhất thay vì những thứ hèn kém và bị khinh chê, sẽ đổ về đền thờ (so sánh 8:20-23  ICo 1:26-29  Kh 21:24).  Trong tinh thần hướng đến câu 8 câu này cũng có thể có nghĩa là sẽ chẳng hề thiếu tiền bạc tài chánh của báu trần gian.

Nếu phải chọn một trong hai hướng hiệu đính thì hướng trước nhất có vẻ hấp dẫn hơn, nhưng hướng thứ hai lại có vẻ dễ ổn hơn.  Hướng thứ hai cho một nội dung nhấn mạnh tính cách bao la trong chương trình của Đức Chúa Trời dành cho thế giới mai sau, với hàm ý rồi đây sẽ đến ngày các cấp lãnh đạo trên thế giới sẽ quay về tìm kiếm sự dẫn dắt và quan điểm của Đức Chúa Trời ở một mức độ chưa từng thấy xưa nay (Es 2:1-5).

Mấy câu này nhắc đến hai lần sự kiện vinh quang sẽ tràn ngập nhà của Đức Chúa Trời.  Trong văn cảnh này, từ nay có thể đơn giản chỉ về của cải vì giữa hai lần lặp lại từ vinh quang tác giả viết về vàng và bạc.  Tuy vậy, từ được chuyển ngữ là vinh quang cũng có nghĩa là “trọng lượng” khi được dùng ở những chỗ khác.  Trong Kinh Thánh Cựu ước từ này được dùng trong nhiều trường hợp kể cả khi mô tả sự hiện diện đáng kính sợ của Đức Chúa Trời khiến cho con người phải phủ phục tôn thờ (Xu 33:18-20  34:8).  Khi công cuộc xây dựng đền thờ thứ nhất và cả đền tạm trước đó được hoàn tất sự vinh quang của Đức Chúa Trời cũng tràn ngập đền tạm và đền thờ (dưới dạng một đám mây) đến nỗi không một người nào có thể vào đền tạm hoặc đền thờ đó được (40:34-35  IVua 8:10-11).

Vàng và bạc của Đức Chúa Trời là những kim ngạch bảo đảm tránh khỏi nạn lạm phát, khác hẳn đồng tiền thu nhập mà những người tin Chúa kiếm được trong vòng cương toả của sự rủa sả (Ag 1:6 so sánh Mat 6:19-20).  Đức Chúa Trời hứa rằng rồi đây bình an sẽ đến thay thế cho sự sợ hãi ở trong lòng họ (5).  Chẳng bao lâu sau đó lời hứa này được thành tựu (Exo 6:14-16).

3. Lời của Đức Chúa Trời phán về sự rủa sả:  Ta sẽ thay thế sự rủa sả bằng sự ban phước lành (Ag 2:10-19)

(Ag 2:10-14) Qui định của giới tế lễ  Tiếp theo Đức Chúa Trời truyền cho ông A-ghê yêu cầu các thầy tế lễ xác định rõ ràng một luật lệ của họ.  Họ dạy người ta không thể trở nên thánh nhờ sờ mó động chạm đến vật thánh, nhưng có thể bị ô uế vì sờ mó động chạm đến vật ô uế.  Thí dụ, bất cứ ai đụng đến một xác chết thì bị ô uế cả tuần lễ, và người đó đụng đến bất cứ cái gì là cái đó cũng trở nên ô uế (Dan 19:11,22).  Đức Chúa Trời phán rằng có thể ứng dụng điều luật này cho dân chúng.  Thái độ thờ ơ lãnh đạm của họ đối với sự hiện diện của Đức Chúa Trời làm hỏng của lễ của họ và cũng làm hỏng mọi việc khác của họ.  Vì vậy, ngày nay các tín đồ cần xử lý dứt khoát những thái độ hững hờ bất cần, vì thái độ đó không hẳn chỉ bộc lộ một tinh thần lãnh đạm, vô tình mà là một hình thức tích cực làm ô uế và họ cần cầu xin Đức Chúa Trời tẩy sạch mọi việc đó (Mat 5:29-30  IITi 2:20-21 so sánh So 1:7).  Thất bại trong lãnh vực này là tai hoạ cho Hội Thánh và xã hội.

(Ag 2:15-19) Từ rủa sả đến phước lành  Giờ đây, dường như ông A-ghê nói với dân chúng mặc dầu họ đã khởi công tái thiết đền thờ nhưng công việc không có tiến triển đáng kể.  Có lẽ họ mất trọn ba tháng để chuẩn bị mặt bằng của đền thờ.  Suốt trong thời gian đó, tác động xấu của lời rủa sả vẫn còn đó.  Tai ương, nấm mốc, cây ăn trái bị đựng đều là những hậu quả của sự rủa sả của Đức Chúa Trời (Phu 28:22,38-42  Am 4:9).

Đức Chúa Trời cố gắng hết sức để chứng tỏ rằng lễ đặt viên đá làm nền móng lập tức đem lại biến chuyển mới.  Việc này đòi hỏi một lời giải thích.  Dường như dân chúng đã tụ họp lại với nhau nhân buổi lễ này.  Vào thời xây dựng đền thờ lần thứ nhất, biến chuyển thuộc linh đáng kể cũng diễn ra khi dân chúng nhóm họp với nhau (IVua 8:14,65-66  IIVua 23:1-2,21-23).  Buổi nhóm họp này do ông A-ghê khởi xướng diễn ra trong một bầu không khí khác hẳn với trước kia khi mỗi người chỉ chăm lo việc nhà riêng của mình (Ag 1:4,9).  Chúng ta có thể kết luận rằng khúc Kinh Thánh này có một kết quả chính là dân chúng bắt đầu hợp tác với nhau và hiệp nhất với nhau.

Cũng có thể ghi nhận ý nghĩa sâu sắc của việc toàn dân vâng lời nhóm họp vào một ngày đặc biệt trong thời chuẩn bị tiến vào xứ đã hứa cho họ lần đầu tiên (Gios 5:9).  Hồi đó cũng vậy, chúng ta cứ ngỡ là “sự rủa sả của Ai-cập” đã được xoá bỏ từ lâu, nhưng té ra là vẫn còn đó, chỉ được xoá bỏ khi toàn thể dân chúng tuân thủ quy cắt bì.  Sở dĩ như vậy là vì lễ cắt bì và quyền sở hữu đất đai có liên quan đến nhautrong giao ước với ông Áp-ra-ham (Sa 17:1-14).

Nếu chúng ta hiểu lễ đặt viên đá móng cho đền thờ là một buổi lễ lớn lao về mặt này thì đúng là ngày hội họp đó đánh dấu cho một khúc quanh quan trọng (là “điểm kết thúc của một khởi đầu”, trích một câu nói của Winston Churchill).  Dường như Đức Chúa Trời đã ghi nhận tinh thần thành tâm dấn thân của dân sự nên Ngài ban thưởng cho họ.  Như vậy, chúng ta nên tiếp thu bài học là Đức Chúa Trời khen thưởng những việc làm có tính cách quyết định do toàn thể dân sự đồng tâm nhất trí tiến hành.  Xin xem Xa 8:9-13 về hình thức của các phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ.

4. Sứ điệp của Đức Chúa Trời dành cho ông Xô-rô-ba-bên: “Ta sẽ bảo toàn người lãnh đạo của Ta” (Ag 2:20-23)

Một lần nữa Đức Chúa Trời phán rằng Ngài sẽ rung chuyển địa cầu và các từng trời (xem bình giải Ag 2:6-7).  Lần này Ngài nhằm nói về những cuộc đảo lộn trong chính trường, những vụ thất trận nặng nề của các đạo quân hùng hậu, và tình trạng tranh chấp quyền hành trong xã hội.  Lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên cho họ biết rằng ngay cả kẻ thù hùngcường nhất cũng bị rúng động khi Đức Chúa Trời hành động (Cac 4:15  7:22  ISa 14:20).  Chủ đề này nổi bật trong những lời tiên tri về cuộc chiến chống Y-sơ-ra-ên trong Ê-xê-chi-ên trong Exe 38:1-39:29 (nhất là 38:19-22).  Dù ở đây không nêu rõ một cuộc chiến có liên quan đến dân Y-sơ-ra-ên nhưng Đức Chúa Trời hứa với ông Xô-rô-ba-bên là Ngài sẽ bảo vệ ông được an toàn nên đương nhiên là phải có sự đe doạ của một cuộc chiến thì lời hứa này mới hợp lý. 

Tính cách tương đồng giữa các khúc văn trong sách Ê-xê-chi-ên và sách A-ghê buộc chúng ta phải thắc mắc là vì sao trong thời của ông A-ghê người ta không quan tâm ngó ngàng đến sơ đồ đền thờ của ông Ê-xê-chi-ên (40:1-46:24).  Không ai giải đáp thoả đáng cho câu thắc mắc này.  Có lẽ họ cho rằng đó chỉ là một sơ đồ trong khải tượng chớ không phải là một sơ đồ mà họ phải sử dụng trong thực tế.  Có lẽ họ nghĩ là sơ đồ đó ưu tiên nhằm khích lệ họ rằng Đức Chúa Trời vẫn ở cùng họ ngay cả trong cảnh lưu đày (xem bình giải Ag 2:1-5).  Cũng có lẽ qua lời phán dạy của Chúa trong 1:8-9 họ hiểu rằng họ cần tái thiết đền thờ tại địa điểm cũ trên với cùng một sơ đồ cũ.  Dầu sao đi nữa, trong thực tế chưa có đền thờ nào được xây dựng theo kiểu mẫu của Ê-xê-chi-ên.  Vả lại, với sự hi sinh tại đồi Gô-gô-tha, hình thức dâng tế lễ bằng thú vật trong cuộc thờ phượng đã cáo chung, nên cũng khó mà biết thực sự sơ đồ của ông Ê-xê-chi-ên nhằm vào mục đích nào (Exe 43:13-27).

Ông Xô-rô-ba-bên và ông Giê-sua lập tức tuân thủ làm đúng theo lời của Đức Chúa Trời.  Phần thưởng của ông Giê-sua là một cái mão miện trong Xa 6:11.  Còn đối với ông Xô-rô-ba-bên thì Đức Chúa Trời nói là ông là cái nhẫn làm ấn tín của ta với hàm ý là Ngài hài lòng về ông.  Đây là một hình ảnh trái hẳn cảnh ngộ của vua Giê-hô-gia-kin, là vị vua bị hình phạt bằng bản án lưu đày (Gie 22:24).  Vua Giê-hô-gia-kin bị loại bỏ nhưng nay hậu duệ của vua được công nhận.

Cái nhẫn thuộc loại này là một bảo vật đắt tiền.  Chủ nhân đeo nhẫn nơi ngón tay hoặc nơi cổ bằng một sợi dây.  Như vậy, dù đeo nơi tay hoặc nơi cổ thì cái nhẫn trở nên vật bất ly thân, chẳng bao giờ bị mất hoặc bị bỏ.  Hình ảnh này nói lên giá trị của ông Xô-rô-ba-bên đối với Đức Chúa Trời.  Cái nhẫn thuộc loại này được dùng làm ấn tín của hoàng gia để đóng dấu các văn kiện.  Hình ảnh này nói lên sự kiện Đức Chúa Trời giao cho ông Xô-rô-ba-bên quyền hạn để thực hiện ý của Chúa.

Trong số những điều Đức Chúa Trời hứa cho ông Xô-rô-ba-bên có những điều được ứng nghiệm trong cuộc đời của ông.  Ngoài những điều đó ra chúng ta nhận thấy là nhân vật Giê-sua kết hợp với nhân vật Xô-rô-ba-bên là hình ảnh báo trước về Đấng Mê-si, là vị lãnh đạo mà Đức Chúa Trời đã chọn và ban cho Ngài quyền hành tối cao (Da 7:13-14).  Đức Chúa Trời hoan hỉ sủng ái những người vâng phục Ngài và muốn ở gần bên họ, nhưng đối với những người bất phục tòng thì Ngài thu hồi phước lành (ISa 15:22-23  Mac 1:11  Gi 4:34).

Lên đầu trang