SÔ-PHÔ-NI
1. TỰA ĐỀ (So 1:1)
Chúa Gia-vê, Đức Chúa Trời của giao ước với Y-sơ-ra-ên (Xu 6:2-6) là nguồn gốc tối cao của lời tiên tri này. Từ “Lời của Chúa” được dùng để chỉ một cách chung chung các lời tiên tri. Người tuyên rao sứ điệp của Đức Chúa Trời là ông Sô-phô-ni. Gia phả của ông là một trong những gia phổ được nhiều thế hệ nhất trong số các tiên tri (so sánh Gie 36:14), tính ngược lên tới Ê-xê-chia, vị vua thứ mười bốn của Giu-đa (716-687 T.C. xem dẫn nhập). Bản gia phả dài dòng này chép vào đây có lẽ để rào chặn trước những thắc mắc có thể phát sinh chung quanh sự kiện thân phụ của ông Sô-phô-ni là người gốc Ê-thi-ô-pi (trong nguyên ngữ Hi Bá Lai là Cu-si). Trong khi đó có hẳn một bài tiên tri nói riêng về Ê-thi-ô-pi nữa (So 2:12). Người Ai Cập lẫn người Ê-thi-ô-pi không được gia nhập Y-sơ-ra-ên cho đến đời thứ ba (Phu 23:7-8).
Tuy nhiên, có lẽ nên xem bản gia phả này nhằm liên hệ ông Sô-phô-ni với ông tổ của mình là một vị vua thánh thiện, đức độ. Vì cớ các vua trị vì trước vua Giô-si-a là những vị vua gian ác nên việc trích ngược gia phả cho đến thế hệ Ê-xê-chia là việc quan trọng. Còn vua Giô-si-a thì tôn thờ Đức Giê-hô-va như vua Ê-xê-chia (Xem Dẫn nhập).
2. SỰ HÌNH PHẠT (So 1:2-6)
Liền theo đó, không cần rào đón gì thêm Đức Giê-hô-va rao báo một sứ điệp khủng khiếp về sự hình phạt chắc chắn sẽ xảy ra, không phải chỉ chung cho thế giới (2-3) mà còn đặc biệt là cho Giu-đa và thủ đô là Giê-ru-sa-lem (4-6). Đức Giê-hô-va không hành động từ xa mà Ngài đích thân nhúng tay vào vụ tàn phá này.
(So 1:2-3) Đức Giê-hô-va cảnh báo rằng Ngài sẽ quét sạch toàn bộ công trình sáng tạo đầu tiên khỏi mặt đất. Bản liệt kê thành phần sắp bị hủy diệt gồm có con người, thú vật, chim và ca cho thấy Ngài dự định “phá bỏ công trình sáng tạo”. Bản liệt kê này được sắp theo thứ tự nghịch với thứ tự xuất hiện trong thời sáng tạo (Sa 1:20-28). Mức độ hủy diệt lần này vượt xa mức độ hủy diệt thời đại hồng thủy (6:1-9:29), vì lần này loài cá cũng ở dưới cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Toàn bộ công trình sáng tạo sẽ gánh chịu hậu quả của tội lỗi do nhân loại gây ra (so sánh Ro 8:20-21). Con người đặc biệt nằm trong tầm nhắm vì được nhắc đến hai lần vì cớ con người là tội phạm khiến cho Đức Chúa Trời phải ứng phó như vậy. Họ sẽ bị trừ diệt hoặc tiêu diệt (4, IVua 9:7), một từ chỉ về sự thi hành án tử hình đối với kẻ phạm pháp (Xu 31:14), là một biện pháp rất thoả đáng trong bối cảnh này.
Thính giả có thể biết chắc rằng những lời nói nghiêm trọng này là lời nói thật vì đây là tuyên cáo của chính Chúa là Đức Giê-hô-va (So 1:10 2:9 3:8,20). Chẳng những Ngài tuyên phán mà Ngài sẽ hành động theo như Ngài nhấn mạnh trong 2-4 với đại danh từ Ta được dùng đến sáu lần.
(So 1:4-6) Dù toàn bộ công trình sáng tạo sẽ bị hình phạt nhưng Giu-đa và thủ đô là Giê-ru-sa-lem bị nêu ra riêng lẻ và cụ thể. Họ là dân sự của Đức Chúa Trời bởi giao ước, vốn đã bằng lòng thề hứa trung thành theo Ngài nên họ gánh trách nhiệm nặng nề hơn. Cũng vậy, Am 1:3-2:16 cũng xem dân sự của Đức Chúa Trời là chính giữa vòng các dân tộc. Chúa Giê-xu biến điều này thành một nguyên tắc phổ thông: “Ai được giao cho nhiều sẽ bị đòi hỏi nhiều vì trách nhiệm sẽ nặng nề hơn” (Lu 12:48). Đức Chúa Trời sẽ giang thẳng tay Ngài ra chẳng phải để cứu giúp Y-sơ-ra-ên như Ngài đã từng làm khi xưa (thí dụ Phu 4:34), nhưng để hình phạt, như khi ông A-rôn giơ thẳng cây gậy để khiến cho tai vạ xảy ra tại Ai-cập (Xu 7:19).
Những người sẽ bị trừ khử khỏi nơi này (hoặc Giê-ru-sa-lem, hoặc đền thờ, Phu 12:5) đều là vì cớ tội phạm của họ. Một số vẫn còn thờ Ba-anh, một danh hiệu có nghĩa là “Chúa, Đấng Sở Hữu, Chủ”. Chẳng những người ta dùng danh hiệu này để xưng tụng các thần ngoại giáo mà cũng dùng để xưng tụng Đức Giê-hô-va nữa (tên riêng “Bê-li-a” có nghĩa “Đức Chúa Trời là Ba-anh” (ISu 12:5). Ở đây Đức Chúa Trời lên án hoặc sự thờ phượng thần phì nhiêu Ha-đát của người Ca-na-an (so sánh Cac 6:25 IVua 16:31,32 18:1-46) hoặc thần Bên (Ba-anh) của người A-si-ri. Mặc dù một số người cho rằng cuộc cải chánh tín ngưỡng do vua Giô-si-a khởi xướng năm 621 T.C. đã hoàn toàn xoá sổ mọi cuộc thờ lạy theo ngoại giáo, nhưng sự kiện một thiểu số sót lại vẫn còn tiếp tục thờ thần Ba-anh đủ chứng tỏ rằng công cuộc cải chánh mới bắt đầu có hiệu quả, dù chưa đạt mức triệt để (xem phần dẫn nhập). Ngoại giáo và các thầy tế lễ thờ hình tượng (IIVua 23:5) cũng sẽ bị tiêu diệt đến nỗi như thể tên của họ bị xoá bỏ. Đối tượng mà họ thờ lạy là các tinh tu, tức là các vị thần của ngôi sao (so sánh Phu 4:19 IIVua 21:3-5 Gie 8:2). Dân Y-sơ-ra-ên biết rằng các vị tinh tú đều là do Đức Giê-hô-va sáng tạo nên mà thôi (Sa 1:14-17).
Chủ trương tín ngưỡng đại đồng tức là phối hợp các hệ thống tôn giáo lại với nhau cũng là một tệ nạn khác. Câu 5 theo nguyên ngữ Hi Bá Lai ghi rằng dân sự “nhân danh vua mà thề” (Malcam). Có thể câu này cho thấy rằng chẳng những họ thờ lạy Đức Giê-hô-va (nhân danh Ngài mà thề) nhưng cũng thờ những con người làm đại diện cho Ngài nữa. Dù rằng không có bằng cớ nào chứng tỏ ở Y-sơ-ra-ên có chủ trương này nhưng ở những chỗ khác trong vùng Trung Đông cổ đại đây là chuyện thông thường. Câu này cũng có thể chỉ về Milcom (Mô-léc) (Bản NRSV LXX và các bản khác), một thần của ngoại giáo Am-môn (IVua 11:5,33). Cũng có thể chấp nhận một hướng giải nghĩa phối hợp giữa hai hướng này tức là dân Y-sơ-ra-ên như đang trung thành với Đức Giê-hô-va là vua nhưng thật sự là họ sống dưới quyền hành của một chế độ soán ngôi là thần ngoại giáo Malcom. Dù sao đi nữa dân chúng pha trộn sự thờ phượng một Đức Chúa Trời chân thật độc nhất với những đối tượng không đáng cho họ thờ (Xu 20:3). Như trong sách Giê-rê-mi (Gie 2:12-13). Đức Giê-hô-va kinh ngạc trước sự kiện Giu-đa quay lưng từ bỏ chân lý để chạy theo những lời dối trá.
3. NGÀY HÌNH PHẠT (So 1:7-3:8)
Lời cảnh cáo về tai hoạ dẫn đến lời cảnh báo về sự hình phạt trong ngày cuối rốt là ngày của Đức Giê-hô-va. Đây là chủ đề của phần sách còn lại (xem Dẫn nhập). Ngày này xuất hiện với những cục diện, vừa là ngày hình phạt đau thương (So 1:7-3:8) vừa là ngày phước hạnh đầy hi vọng (3:9-20). Ngày đó sẽ ảnh hưởng cả Giu-đa (1:8-13 2:1-3 3:1-7) lẫn các dân tộc khác (1:14-18 2:4-15) bởi những biến cố trong lịch sử sắp tới (2:4-15) vừa bởi những việc xảy ra trong thời cuối rốt (1:14-18 3:8-13). Sở dĩ có tên là “Ngày của Chúa” vì cớ trong ngày đó chỉ một mình Ngài sẽ hành động, không phải chỉ hành động với quyền năng thánh khiết và sự công bình mà còn với lòng yêu thương thương xót.
1. Giu-đa (So 1:7-13)
(So 1:7) Có lệnh truyền cho chúng ta phải im lặng trước mặt Đức Giê-hô-va vạn quân (nghĩa đen, “Chúa Giê-hô-va” so sánh Ha 2:20). Người ta có thể yên lặng trong vòng tay chăm sóc của mẹ (Thi 131:2) nhưng ở đây sự yên lặng này có tính cách khác vì bắt nguồn từ sự kinh ngạc hãi sợ khi đứng trước sự hiện diện của Đấng Tạo Hoá, là Đấng bảo toàn và xét xử của thế giới vũ trụ. Đây là thái độ tôn trọng mà ai nấy phải thể hiện tại toà án khi nghe một nhân viên toà án hô “Mọi người đứng dậy” trong lúc quan toà đang tiến vào phòng xử án. Chúa cũng đang tiến đến gần vì ngày của Ngài tức là ngày của Đức Giê-hô-va gần rồi, gần lắm (so sánh c.14, Es 13:6 Exe 30:3 Gio 1:15 Ap 1:15).
Nhằm tiên liệu cho ngày đó, Đức Giê-hô-va đã đích thân chuẩn bị, như chúng ta đọc thấy những hành động trong câu này và đại danh từ Ta trong câu 8,9,12,17,18. Như một thầy tế lễ, Ngài chuẩn bị sẵn một cuộc tế lễ hoặc một bữa tiệc tế lễ (so sánh Gie 46:10). Ngài cũng biệt riêng hoặc phân định thực khách vào nhiệm vụ đặc biệt (so sánh Le 21:8 IISa 8:11). Qua một hình thức chơi chữ, ta có thể hiểu rằng khách mời sẽ được dùng bữa tiệc sau khi dâng tế lễ hoặc chính họ bị chỉ định làm sinh tế. Ai chống nghịch Đức Giê-hô-va sẽ bị dành cho sự hình phạt của Ngài.
(So 1:8) Cùng trong ngày tế lễ đó, Đức Chúa Trời giáng sự hình phạt đầu tiên xuống trên giới lãnh đạo đất nước, hoàng gia và những người tuân theo những nghi thức thờ phượng của ngoại giáo (so sánh IIVua 10:22). Tác giả không đề cập đến vua Giô-si-a, việc này xảy ra trong phần đầu thời trị vì của vua, là thời các quan trong triều tức là những thành phần trong câu này, còn nắm quyền cai trị trong thực tế (22:1).
(So 1:9) Dầu vậy, dường như còn một tệ nạn khác trong lãnh vực tín ngưỡng liên quan đến những người “nhảy” (Bản RSV) qua ngưỡng cửa (Kinh Thánh Cựu ước chỉ dùng từ này khi nói về một ngôi đền: ISa 5:4-5 Exe 9:3). Có lẽ lắm đây là một tục lệ của người Phi-li-tin. Họ không đạp lên ngưỡng cửa khi đi vào đền thờ Đa-gôn (ISa 5:4-5). Tục lệ này đã thâm nhập vào nghi thức thờ phượng Đức Giê-hô-va của người Y-sơ-ra-ên. Có khả năng khác là phần 2 câu này nhằm làm sáng tỏ tình trạng tối ý của phần 1. Nếu thế, đây là một tệ nạn xã hội hoặc kinh tế chớ không phải tôn giáo. Giới lãnh đạo phải bảo vệ giới hạn thuế khoá bằng những luật lệ công bằng và đúng đắn thay vì sử dụng vũ lực (so sánh Ha 1:2-3) và man trá để chất của cải đầy ngập hoàng cung. Dù theo luồng giải nghĩa nào đi nữa thì phần cuối câu này vẫn cho thấy rằng Đức Giê-hô-va không coi nhẹ những điều bất công sai trái nhưng Ngài xét là nghiêm trọng khác gì những tội lỗi đã dẫn đến biến cố “hủy diệt” đầu tiên qua cơn đại hồng thủy (so sánh So 1:3 Sa 6:11).
(So 1:10-11) Tác giả mô tả sự hình phạt của Đức Chúa Trời trong “Ngày của Đức Giê-hô-va” triển khai trên địa hình của đất nước. Mạn bắc có địa hình dễ thâm nhập hơn hết vì địa hình đồi núi trải ra ở các hướng khác. Do đó chẳng những đây là thông lộ thuận lợi nhất cho các thương gia và đoàn lái buôn mà cũng rất thuận lợi cho quân xâm lăng nữa. Có thể định vị hai địa danh đầu: Cửa cá có lẽ là cổng chính nằm ở mặt phiá bắc của thành (IISu 33:14 Ne 3:3). “Quân mới” hoặc “quân nhì” nằm ở phía bắc đền thờ, và căn cứ vào tên gọi thì đây là một quận mới thêm vào thành (IIVua 22:14 Ne 11:9). Đồi núi là một từ chỉ chung chung tổng quát, nhưng có thể nói về địa hình đặc trưng phía bắc Giê-ru-sa-lem. Trong thành thấp, khu chợ hoặc khu thương mại, có lẽ tọa lạc tại một cái trũng, có thể là nơi người ta đục lấy đá xưa kia (so sánh Cac 15:19 Ch 27:22).
Một tai hoạ nghiêm trọng đổ ập xuống trên cư dân trong những khu vực này nên phản ứng của họ là gào thét và than khóc. Ở những khúc Kinh Thánh khác sự hủy phá bất chợt ập đến được diễn dịch bằng tiếng kêu khóc thảm thiết (thí dụ Es 15:5 Gie 48:5), một chi tiết mô tả rất phù hợp với bối cảnh đang bàn ở đây. Một phần của tai hoạ bao gồm sự sụp đổ của nền kinh tế. Ở đây thêm một yếu tố chống lại ảnh hưởng ngoại bang, vì từ thương gia kẻ buôn bán đúng theo nghĩa đen là “dân cư của Ca-na-an” nổi tiếng về tài buôn bán sau này họ được mô tả là dân Phê-nê-xi.
(So 1:12) Hoạt động tương tự như lực lượng công an cảnh sát bố ráp để tìm bọn buôn lậu, Đức Giê-hô-va sẽ rọi đèn để lục soát, không phải nhằm tìm một người công chính (so sánh Gie 5:1) mà nhằm bắt những người làm sai ý Ngài để hình phạt. Tội lỗi của họ không phải là vấn đề vi phạm điều gì một cách cụ thể và công khai (4-11) mà là khiếm khuyết những việc làm tốt một cách riêng tư âm thầm, đó là một thái độ hoàn toàn tự mãn bất cần. Họ được ví với một khâu trong chuỗi lên men của rượu. Khi nguời ta để yên không khuấy rượu lên thì những phần nặng lắng xuống đáy thùng. Phần cặn này có thể khiến rượu quánh lại, không thể uống được. Họ là những người chối bỏ sự vận hành của Đức Chúa Trời, và họ bị lên án về thái độ lãnh đạm bất cần của mình, như ông Martin Luther King đã từng chê trách thế hệ chúng ta khi ông nói rằng: “Trong thế hệ này chúng ta sẽ phải ăn năn, không phải vì những hành vi gian ác của thành phần xấu xa, mà vì sự câm lặng của thành phần tốt trong xã hội”.
(So 1:13) Đức Chúa Trời sẽ chứng tỏ cho thành phần giàu có nhưng lãnh đạm vô tâm bất cần thấy rằng họ lầm biết bao. Họ đã xuyên tạc chính nền tảng thần học của dân Y-sơ-ra-ên đối với ý nghĩa của lịch sử, tức là Đức Chúa Trời tích cực can thiệp vào thế giới hoặc giáng phước lành hoặc hình phạt. Một nền thần học lệch lạc không kém những hành vi lệch lạc. Do đó biện pháp trừng phạt là những phương tiện mà tội nhân sử dụng để giành được quyền hành và địa vị sẽ bị dẹp bỏ (so sánh Phu 28:30-42 Am 5:11 Mi 6:13-15).
Nếu nhìn từ quan điểm của Tân Ước về tình yêu thương của Đức Chúa Trời được bộc lộ qua Đấng Cứu Thế, chúng ta dễ quên rằng bản tánh của Đức Chúa Trời bao gồm cả sự thánh khiết lẫn sự công bằng. Trong Cựu Ước ân sủng của Đức Chúa Trời tuôn tràn trên dân sự của Ngài và trên những người làm theo ý muốn đã khải thị của Ngài như thế nào thì trong Tân Ước cơn thạnh nộ thánh của Ngài cũng sẽ đổ xuống trên những người quay lưng khước từ sự khải thị của Ngài như những người thờ ơ lãnh đạm trong dân Giu-đa đã từng khước từ. Ngay cả địa vị làm dân của Ngài cũng không bảo đảm cho chúng ta tránh khỏi cơn thạnh nộ của Ngài nếu chúng ta không áp dụng ý muốn của Ngài vào đời sống của mình và vào những mối tương quan trong cuộc sống.
2. Ngày của Chúa (So 1:14-2:3)
Giờ đây ông Sô-phô-ni viết một bài ca để mô tả diễn biến của ngày của Đức Giê-hô-va. Ngày đó không chỉ ảnh hưởng trên dân của Đức Chúa Trời mà còn ảnh hưởng trên toàn thế giới nữa. Có người hiểu một cách ngây dại rằng đó là ngày Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho Y-sơ-ra-ên là dân của Ngài, và Ngài sẽ xét xử, lên án những người chống nghịch Ngài và dân của Ngài (Am 5:18-20). Dân Y-sơ-ra-ên quên rằng ơn tuyển chọn còn kèm theo trách nhiệm (3:2), và mối quan hệ hoà thuận với Đức Chúa Trời không tùy thuộc vào gốc gác mà vào sự vâng lời Ngài. Dân Y-sơ-ra-ên cũng bị hình phạt như những dân tộc khác nếu họ không tôn vinh kính trọng Đức Chúa Trời, nhưng phước lành được dành cho tất cả những người công chính, bất luận màu da hoặc chủng tộc. Tính cách lưỡng diện lẫn tính cách toàn cầu của Ngày đó sẽ đạt đỉnh điểm trong sự tái lâm của Đấng Cứu Thế. Ngày cuối rốt của Chúa (IITe 2:2) cũng là một ngày có tính cách toàn cầu và lưỡng diện (Mat 24:3-33 Kh 19:1-22:21)
(So 1:14-18) Đe doạ tổng quát 14-16 Ngày của Chúa đến khẩn cấp sắp đến, gần đến lắm rồi, là một chủ đề quan trọng đối với tiên tri (xem câu 7). Tiên tri không cảnh báo về một ngày xa xôi nào, mà là về hiện tại và cũng không phải là một ngày mà người ta trông chờ trong niềm hân hoa náo nức, tiếng khóc than cay đắng lẫn tiếng hét của quân sĩ (hoặc say máu hoặc vì kinh hãi) gây náo loạn càng hơn.
Với giọng rời rạc tác giả kể một loạt những điều hãi hùng nhằm mô tả ngày kinh khiếp đó. Những điều này được gom làm sáu phần đối ứng với sáu ngày sáng tạo khởi thủy. Theo quan điểm của Đức Giê-hô-va thì ngày này chìm ngập trong cơn thạnh nộ của Ngài (so sánh Exe 7:19 Os 5:10 Ha 3:8). Còn tác động của ngày này trên nhân loại được biểu thị qua năm cặp từ đồng nghĩa. Nỗi thống khổ và đau buồn tràn chiếm tâm tư kèm theo với sự hủy phá và điêu tàn về mặt thể xác. Bên cạnh nỗi đau trong tâm hồn là bóng tối tăm cùng buồn thảm. Đối với ông A-mốt điều này minh thị cho sự hình phạt của Đức Chúa Trời (Am 5:18-20 so sánh Es 8:22 Gio 2:2) và nhắc nhở về tình trạng hỗn độn trước khi Đức Chúa Trời sáng tạo (Sa 1:2), khi mà ánh sáng quyền năng của Đức Chúa Trời chưa chiếu rọi vào. Những điều hãi hùng đó kèm với tiếng kèn và tiếng hét la tiến công đều là những nét biểu trưng về tiếng của Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng Sáng Tạo đầy quyền năng và là quan án xét xử trong cõi vũ trụ, khi Ngài đối diện với thế giới thọ tạo của mình (so sánh Xu 20:18 Phu 4:11). Ngay cả những đồn lũy chắc chắn nhất cũng không ngăn chặn được bước tiến của Ngài.
17-18 Đích thân Đức Giê-hô-va mô tả kết quả của cuộc hình phạt mà Ngài giáng xuống trên nhân loại bằng những ngôn từ sinh động nhằm gây ấn tượng nơi người nghe. Những người dân đã tiếp nhận giao ước làm chuẩn mực sẽ lảo đảo như thể bị khiếm thị, đây là một sự rủa sả bởi chính bản giao ước mà họ đã coi thường khinh rẻ (Phu 28:28-29). Ngay chính huyết sự sống của con người (Le 17:11) còn sẽ bị xem là vô giá trị, rẻ rề và nhiều như cát bụi (so sánh IIVua 13:7 Xa 9:3). Nhân loại không thể mở con đường để thoát, tự giải phóng mình khỏi sự hình phạt của Đức Chúa Trời bằng vàng bạc của mình vàng bạc đây có thể chỉ về mớ của cải mà họ đã tích lũy và đã lạm dụng (11, 13) cũng có thể chỉ về các pho tượng vô dụng của họ, thường được dát vàng dát bạc (so sánh Es 30:22 Exe 7:19-20). Sự ghen tương của Đức Chúa Trời tức là Ngài mãnh liệt muốn bảo vệ địa vị độc nhất của Ngài đối với Y-sơ-ra-ên là Đấng đã tạo dựng nên họ, là Đấng Cứu chuộc họ, và là Đấng Cai trị trên họ bởi giao ước ý muốn mãnh liệt đó nay bị chấn động trước sự dòm ngó ve vãn của ngoại giáo đối với dân sự của Ngài. Kết quả là lửa của sự thạnh nộ của Ngài (Phu 4:24) sẽ thiêu hủy chẳng những Y-sơ-ra-ên mà toàn bộ thế giới (so sánh các câu 2-3, So 3:8 IIPhi 3:10-12). Không nên trông đợi một lời cảnh báo nào khác vì chung cuộc sẽ bất chợt ập đến. Lời đe doạ nghiêm trọng này thành sự thực rất nhanh đối với Giu-đa khi Giê-ru-sa-lem và đền thờ bị hủy phá năm 587 T.C. trong lúc tiên tri còn sống.
(So 2:1-3) Làm gì đây? Sau khi mô tả Ngày của Chúa ảnh hưởng trên toàn thế giới, ông Sô-phô-ni lại tập trung nói tiên tri về Giu-đa (So 1:4-13). Dù cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đang tiến đến gần (2) vẫn có thể dịu xuống nếu dân sự hưởng ứng phải lẽ đối với những yêu cầu của Đức Giê-hô-va trên đời sống của họ (3). Ngay giữa cơn hình phạt xứng đáng và kinh khiếp vẫn thật sự có cơ hội được thương xót.
1-2 Ngày của cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va vẫn đến gần, như vậy bài giảng này nối tiếp bài trước. Chẳng những Đức Chúa Trời bộc lộ sự bất bình của mình qua cơn giận, nhưng cũng bộc lộ qua các danh hiệu mà Ngài dùng khi phán với dân sự của mình. Ngài gọi họ là dân tộc (gôy) , một từ chỉ về các dân ngoại giáo chung chung. Có thể với cách dùng này Đức Chúa Trời xem họ ngang ngửa như những dân khác vì cớ thái độ của họ đối với Ngài lẫn những hành vi của họ đều không thể chấp nhận được. Đối với Đức Chúa Trời, dân tộc này đã trở nên gớm ghiếc, hoặc “Ngài không ưa thích nổi nữa” (Bản AV). Họ phải tụ họp lại với nhau như với rơm rạ vô giá trị (Xu 5:7,12) để chờ cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời là Đấng thoạt đầu đã gom họ lại bên Ngài tại Si-nai trong tư cách những người được Ngài yêu mến.
3 Người khiêm nhu ở giữa vòng dân sự của Đức Chúa Trời là những người có tâm linh nghèo khó (so sánh So 3:12 Mat 5:3) là những người có tiếng là biết vâng phục, là người có thêm một cơ hội nữa để làm trọn những yêu cầu của giao ước. Thay vì trông cậy vào tôn giáo đại đồng và của cải hoặc quyền lực họ cần tìm kiếm ba điều. Thứ nhất là chính Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của giao ước mà nhiều người trong dân đã từ bỏ (So 1:6). Họ cũng phải tìm kiếm sự công nghĩa, cuộc sống phải lẽ theo như Đức Chúa Trời chỉ dạy, và một lối sống khiêm tốn nhu mì (so sánh Dan 12:3 Ch 15:33).
Chỉ khi nào họ hoàn toàn giao phó chính mình và mọi kế hoạch trong cuộc đời cho ý muốn của Đức Chúa Trời thì họ mới tìm được sự cứu rỗi, không bị cơn thạnh nộ của Ngài hủy diệt. Tuy nhiên, dân sự của Đức Chúa Trời không thể lạm dụng điều này vì ý nghĩa thần đạo ẩn trong từ “có lẽ” (so sánh Xu 32:30 Am 5:15). Ông Sô-phô-ni có lẽ không tin là đông đảo dân sự sẽ hưởng ứng lời ông kêu gọi ăn năn (So 3:7), cho nên kết cuộc xem ra không tùy thuộc vào dân sự mà tùy thuộc vào Đức Chúa Trời. Đức công bình và sự thánh khiết của Ngài đòi hỏi phải xác lập và hình phạt tội lỗi. Nhưng Ngài cũng có những bản tính khác nữa, kể cả lòng thương xót, tình yêu thương và bao dung. Những bản tính này cho phép Ngài có thể tha thứ tội lỗi khi đối tượng thực sự ăn năn (so sánh Xu 34:6-7 Phu 30:1-10). Ở đây, từ “có lẽ” bảo vệ cho quyền tối cao của Đức Chúa Trời, chớ không phải mở đường chúng ta phạm tội. Chúng ta không thể xem sự tha thứ của Đức Chúa Trời như là loại “ân huệ rẻ tiền” dung đường tội ác (Ro 6:1). Mặt khác, Đức Chúa Trời không thể tha thứ ngoại trừ khi dân sự thật tình ăn năn. Bởi vì bản tánh của nhân loại nên tiên tri kêu gọi nhân loại phải thực hiện phần việc của mình đó là ăn năn và vâng phục. Trong khi đó, Đức Chúa Trời sẽ đáp ứng cách xứng hợp với nhân loại theo bản tánh nhân từ thương xót của Ngài.
3. Riêng từng dân tộc (So 2:4-15)
Tiên tri giảng về sự hình phạt Giu-đa lẫn các dân tộc láng giềng nhằm động viên Giu-đa hưởng ứng lời kêu gọi ăn năn của Đức Chúa Trời (1-3). Trong nguyên ngữ Hi Bá Lai từ “vì” ở đầu câu 4 liên kết những câu kế tiếp với câu 1-3, nhưng bản NIV đã bỏ qua từ đó nên đánh mất tác động của những câu này. Bài giảng lần lượt tấn công Giu-đa trên nhiều phương diện (So 2:4-15) để rồi rốt cuộc chỉa thẳng mũi dùi vào Giê-ru-sa-lem, thủ đô của Giu-đa (3:1-8 so sánh Am 1:3-2:16) vì cũng có cùng một cấu trúc).
(So 2:4-7) Phi-li-tin Xứ Phi-li-tin gồm có năm thành quốc: Ga-xa, Ách-ca-lôn, Ách-đốt, Éc-rôn và Gát. Tiên tri nhắc đến bốn thành đầu bảng theo thứ tự toạ lạc từ bắc xuống nam và cảnh báo họ về sự tàn phá và hoang phế. Tiên tri không nói gì về Gát có lẽ là vì Gát đã bị trừ diệt rồi (xem Dẫn nhập). Xứ mất hết dân cư sau khi quân thù tấn công vũ bão vào giữa trưa cho thấy hoặc cuộc tấn công diễn ra cách bất ngờ vào thời gian nóng nực gay gắt (so sánh IISa 4:5 Gie 6:4) hoặc sự tấn công mạnh mẽ dữ dội đến nỗi cuộc chiến ngã ngũ nội trong vòng một buổi.
5 Dân Phi-li-tin thuộc về những bộ tộc ở ngoài biển di trú từ vùng biển Ê-giê, với một bộ tộc phụ xuất phát từ Cơ-rết (do đó có họ Kê-rê-thít trong ISa 30:14 và Exe 25:16). Khi không thể định cư tại Ai Cập trong thế kỷ thứ XIII T.C. họ di chuyển lên phía bắc dọc theo bờ Địa Trung Hải và trở nên như một cây gai nhọn đâm xóc ngang hông Y-sơ-ra-ên trong nhiều năm. Theo một lối nói đặc thù của Cựu Ước ở đây tiên tri gọi họ là Ca-na-an cư ngụ trong lãnh thổ ngoài vùng mệnh danh là xứ Ca-na-an (Gios 13:3). Trong bài giảng này Đức Chúa Trời phán trực tiếp với họ về tai ương khốn khó ( Am 5:18 6:1). Một khi lời phán của Đấng Sáng Tạo vũ trụ chống nghịch họ thì họ có lý do để lo sợ, nhất là khi Ngài đã quả quyết là họ sẽ bị diệt vong.
6-7 Các trung tâm đông dân cư của xứ Phi-li-tin sẽ mất hết dân, rải rác chỉ thấy bọn chăn chiên đưa bầy đi gặm cỏ. Họ là đám tàn dân từ xứ Giu-đa. Ý niệm về đám tàn dân quan trọng trên phương diện thần học không phải chỉ có một ý nghĩa, có lúc chỉ về sự hình phạt của Đức Chúa Trời triệt để đến nỗi chỉ còn một vài người sống sót (so sánh Sa 7:23 Es 17:6). Mặt khác, ý niệm này cũng gói ghém niềm hi vọng, vì sự tàn phá tan hoang đến đâu vẫn chưa hoàn toàn, vẫn còn một đôi người sống sót. Các sách tiên tri nhiều lần bàn đến ý niệm này (Gie 23:3 Mi 5:7-8). Ý niệm này gói ghém cả bản tánh công bình thánh khiết lẫn lòng yêu thương nhân từ của Đức Chúa Trời.
Bài tiên tri này bày tỏ mối liên hệ trong những việc làm của Đức Chúa Trời nhằm ban phước và hình phạt. Ở đây kẻ thù của Giu-đa bị phạt dẫn đến điều lành cho Giu-đa là sẽ nhận lại phần mà thoạt đầu họ bị lấy mất ( So 3:20). Nhiều lúc sự kiện khôi phục cơ đồ (Gie 29:14) được xem là một sự phục hồi trong dịp được phép hồi hương, trong bối cảnh này chỉ về sự phục hồi trong ngày của Chúa, tức là sự đăng quang cai trị của Đức Chúa Trời trong ngày chung kết. Tất cả những cuộc khôi phục trước kia đều hướng chỉ về ngày này.
Chú giải 6 Những người Kê-rê-thít (so sánh 5) dường như cũng được nhắc đến ở đây (xem lề bản NIV). Thay đổi một nguyên âm trong nguyên ngữ Hi Bá Lai sẽ cho một từ chỉ về đồng cỏ, một từ cũng phù hợp với bản văn câu này.
(So 2:8-11) Mô-áp và Am-môn Hai dân tộc này sống trong vùng tả ngạn sông Giu-đa, có liên hệ máu mủ với dân Y-sơ-ra-ên qua ông Lót cháu của Áp-ra-ham (Sa 19:36-38) nhưng lại thường gây hấn với dân Y-sơ-ra-ên. Thí dụ, họ không cho phép dân Y-sơ-ra-ên đi ngang qua lãnh thổ của mình trong khi dân này tiến tới xứ đã hứa cho họ (Dan 22:1-25:18). Các tiên tri khác nói tiên tri về hai dân tộc này trong hai bài riêng rẽ (thí dụ Es 15:1-16:14 Gie 48:1-49:6 Am 1:13-2:3). Đây là lần duy nhất tác giả nói về họ trong cùng một bài tiên tri.
8 Hai dân tộc này tấn công Giu-đa bằng lời nói, dùng xối xả, tuôn ra những lời lẽ chế giễu và phỉ báng (so sánh Exe 5:15 16:57). Họ cũng đe doạ nữa, ở chỗ khác dùng từ tự cao khoe khoang (so sánh 35:13). Họ làm như vậy nhằm làm cho người Giu-đa xuống tinh thần (thủ đoạn này được áp dụng để chống lại người Giu-đa trong Ne 4:1-3).
9 Họ chắc chắn sẽ bị hình phạt cách nặng nề. Tính cách chắc chắn và nghiêm trọng của sự hình phạt được nêu rõ trong lời Đức Chúa Trời thề cách trọng thể dựa trên những danh hiệu đầy năng quyền và đáng khiếp sợ của Ngài. Ngài là Chúa Toàn Năng hoặc Đức Giê-hô-va Vạn Quân, Đấng chiến binh, Tổng Tư Lệnh của quân đội thiên giới (so sánh Ha 3:8-15). Chẳng những Ngài có năng lực mà Ngài còn là một cá thể, liên hệ trực tiếp và thân thiết với Giu-đa, vì Ngài là Đức Chúa Trời của họ. Tự thân sự kiện này đủ khiến Mô-áp và Am-môn phải nghĩ lại một khi họ dùng lời nói mắng nhiếc dân sự của Đức Chúa Trời thì thật ra họ đang tấn công chính mình Ngài.
Họ sẽ bị hình phạt tương tự như Sô-đôm và Gô-mô-rơ nổi tiếng, hai thành này toạ lạc gần Biển Chết vốn bị hình phạt về những sự sai phạm của họ (so sánh Sa 19:24-26 Phu 29:23 Es 1:9). Sự hủy diệt sẽ triệt để đến nỗi các loại cây xanh cần yếu cũng không còn. Chỉ có cỏ dại mọc um tùm trên vùng đất mặn. Chẳng những họ mất mọi huê lợi từ đất đai mà họ còn mất luôn đất. Đất đai của họ sẽ rơi vào tay của những người mà họ nhạo cười xưa kia, là những người còn sống sót, là đám tàn dân ít ỏi trong dân của Đức Chúa Trời, là những người nhận được phước hạnh đã đề cập trong câu 7. Phước hạnh chung cuộc dành cho dân sự của Đức Chúa Trời, tức là dân Y-sơ-ra-ên và trong ý nghĩa rộng hơn, là Hội Thánh của Ngài. Còn ở trong tương lai là ngày toàn thể cõi thọ tạo sẽ hưởng niềm vui sướng như đã từng hưởng trong thời gian trước khi loài người sa ngã (Ro 8:18-23).
10-11 Tóm tắt hai câu trước, Đức Chúa Trời vạch ra những tội lỗi cơ bản là tội kiêu ngạo (so sánh câu 15, Es 13:11). Để đáp lại một cách thích đáng cho các dân tộc đã dám phỉ báng Đức Chúa Trời chân thật và quyền năng. Ngài sẽ bênh vực dân sự của Ngài. Ngài sẽ chứng tỏ quyền lực thật sự của mình bằng cách diệt trừ các thần bất năng vô tài của họ. Kết quả là các dân tộc ngoại đạo sẽ công nhận và thờ phượng Đức Chúa Trời chân thật. Đức Giê-hô-va sẽ chứng tỏ cho họ thấy rằng biên cương địa giới không thể giới hạn Ngài, nhưng Ngài là Đấng vô sở bất năng vô sở bất tại. Ngài là Đức Chúa Trời của toàn vũ trụ thế giới này.
(So 2:12) Ê-thi-ô-pi Ê-thi-ô-pi là một nước nằm về phía tây nam của nước Giu-đa. Trong một thời gian vào cuối thế kỷ thứ VIII và đầu thế kỷ thứ VII TC Ai-cập ở dưới quyền cai trị của vua nước Ê-thi-ô-pi (hoặc Cúc) triều đại thứ hai mươi lăm. Đức Chúa Trời là chiến binh thiên thượng (9), chính mình Ngài sẽ tung gươm của mình mà tiêu trừ họ.
(So 2:13-15) A-si-ri Quay về hướng bắc, Đức Giê-hô-va đối đầu với A-si-ri, có thủ đô là Ni-ni-ve (xem sách Na-hum). A-si-ri là kẻ thù bất khuất nhất của Giu-đa, cường quốc bạo tàn này nắm quyền kiểm soát trên vùng Trung đông hằng mấy chục năm nhưng rồi đây sẽ bị huỷ diệt bởi bàn tay hoặc quyền năng (xem bình giải So 1:4) của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Thủ đô náo nhiệt của họ sẽ trở nên hoang vắng khô hạn như sa mạc.
14-15 Tác giả diễn tả tính cách triệt để của cuộc hủy diệt bằng hình ảnh một vài loài thú hoang và chim chóc đến ở trong đống đổ nát, trái với hình ảnh đông đảo con người khi xưa cư ngụ tại đó. Thành đô này đã từng xưng mình là độc nhất vô nhị, ý như hiểu cách cách tự xưng của Đức Chúa Trời (so sánh Es 45:5-6,18,21). Sự an toàn của họ chỉ là ảo tưởng vì xưa kia thành này đầy vẻ kiêu sa cao ngạo, nay người qua kẻ lại nhìn đống tàn tích với vẻ kinh ngạc và khinh bỉ (Gie 19:8).
4. Giê-ru-sa-lem (So 3:1-8)
(So 3:1-7) Gần giống như một tay thiện xạ thẩm định mục tiêu bằng cách bắn thử vài lần, giờ đây khi đã nắm vững tầm nhắm đến mục tiêu rồi, tiên tri bắn thẳng vào Giê-ru-sa-lem. Đây là một phương thức diễn luận đầy sức thuyết phục vì ngay từ đầu thính giả đã bị cuốn hút theo dõi sứ điệp, và họ nhất trí với diễn giả là các dân tộc lân bang theo ngoại giáo và là quân thù lâu đời hoàn toàn đáng bị hình phạt. Chờ khi họ trọn vẹn đắm chìm trong tinh thần đoán xét rồi Đức Chúa Trời mới bàn đến chính mình là những người đang nghe, là thành phần gian ác cứng cỏi nhất, lún sâu trong tội lỗi (1-4), nhục nhã (5) và không chịu ăn năn (6-7).
Sức cuốn hút của bài diễn luận tăng mạnh hơn nhờ diễn giả không nêu cụ thể danh tánh thành phố bị lên án. Phần lên án thành này đi liền ngay sau bài giảng chống nghịch Ni-ni-ve, nên người nghe cứ ngỡ là diễn giả đang nói về Ni-ni-ve. Cho đến khi diễn giả kể cụ thể các tội lỗi mà họ đã phạm với Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên (2) thì họ mới vỡ lẽ ra là chính họ chớ chẳng ai khác.
Ở đây cho thấy rõ ràng sự hình phạt của Đức Chúa Trời như gươm hai lưỡi. Trong khi dân chống nghịch dân sự của Đức Chúa Trời bị khốn khổ dưới biện pháp hình phạt thì chính sự hình phạt đó sẽ lại giải phóng và khôi phục dân tộc bị họ áp bức. Duy trì mối tương quan đúng đắn với Đức Chúa Trời là việc quan trọng. Phạm phải chớ đừng làm như Giu-đa, theo như mấy câu kế tiếp nhắc nhở, là tưởng mối tương quan tốt đẹp đó còn tồn tại.
1 Giê-ru-sa-lem, thủ đô của một đất nước trong giao ước của Đức Chúa Trời vốn được nêu ra làm gương mẫu cho thế giới ngoại giáo về lòng tin kính thánh thiện và trung tín đối với Đức Chúa Trời lại sinh ra tội lỗi còn tệ hơn các nước láng giềng. Giê-ru-sa-lem đã nổi loạn chống lại giao ước (so sánh Gie 4:17 5:23) và áp bức người khác thay vì bảo dưỡng họ. Thay vì làm một dân tộc thánh trong sạch, họ biến chính mình thành một dân tộc ô uế chẳng khác gì đôi tay bẩn thỉu gớm ghiếc của một tên sát nhân giết người một cách dã man hung bạo (so sánh Es 59:3 Ro 4:14).
2 Giê-ru-sa-lem chống nghịch chính Đức Chúa Trời của mình (1). Dân chúng không chịu nghe theo những điều tiên tri loan báo (Es 30:8-12 Am 2:12). Khi Đức Chúa Trời sửa trị hoặc kỷ luật họ bằng những biện pháp nghiêm khắc qua việc làm đầy quyền năng của Ngài trong lịch sử của đất nước họ, họ chẳng tiếp thu được bài học nào cả (Es 1:5-9 Gie 5:3). Thay vì cầu xin Đấng kết ước và ban cho họ giao ước trợ giúp thì họ quay lưng đi, từ bỏ Ngài, không chịu tin cậy Đức Chúa Trời là Đấng thành tín với lời Ngài hứa.
3-4 Chính thành phần lãnh đạo trên Giê-ru-sa-lem cả trong địa hạt dân chính (3) lẫn trong tôn giáo (4) đã đẩy Giê-ru-sa-lem vào chỗ bị áp bức và ô uế. Giới lãnh đạo dân chúng xâu xé dưới quyền của mình như thể thú hoang ăn thịt đang săn mồi. Còn giới lãnh đạo tôn giáo bôi nhọ thánh chức của mình. Thay vì nhân danh Đức Chúa Trời nói lên sự thật, các tiên tri mua tìm uy danh riêng cho mình bằng những lời dối trá lừa phỉnh do họ bịa đặt ra. Thay vì duy trì tính cách thánh khiết của đền thờ và dạy dân chúng biết vâng theo luật pháp, các thầy tế lễ lại làm ô uế đền thờ và xuyên tạc luật pháp (Exe 22:26).
5 Một bên là Giê-ru-sa-lem và giới lãnh đạo, một bên là Đức Chúa Trời. Hai bên hoàn toàn trái ngược nhau vì Đức Chúa Trời là Đấng không đời nào can dự vào bất cứ một việc sai trái nào (so sánh câu 13). Lẽ ra sự kiện này phải thôi thúc họ ăn năn nhưng chẳng thấy dấu hiệu ăn năn đâu cả. Trái ngược với sự công bằng vững chắc, sự xét đoán luôn luôn chính xác của Đức Chúa Trời, người bất nghĩa hành động một cách xấu xa tội lỗi mà không hế biết hổ thẹn, cũng không biết công nhận hành động của mình là sai trái.
6-7 Đức Chúa Trời đau lòng khi phải hình phạt và Ngài cho dân sự thấy gương của các dân tộc. Họ đã lãnh đủ cơn thạnh nộ của Ngài với hậu quả là họ bị huỷ diệt (so sánh So 1:3-4,13 2:4,9,13,15 3:7) và đất nước của họ mất hết dân cư. Tuy vậy, Giê-ru-sa-lem vẫn không chú ý nghe. Đức Chúa Trời không có tánh tình bất thường đến nỗi bất chợt giương đông kích tây một cách vô lý. Thật vậy, Ngài là Đấng kiên nhẫn, sẵn sàng nén giận nếu thấy có dấu hiệu là con người sắp ăn năn (Xu 34:6-7 Dan 14:18-19 Am 4:6-11 Ro 9:22-24). Ngài muốn dân sự sống theo giao ước của Ngài, kính sợ Ngài và tiếp nhận sự dạy bảo của Ngài. Cuộc sống này không những đòi hỏi thái độ phải lẽ đối với Ngài mà còn đòi hỏi những hành động xứng đáng với những điều Ngài dạy bảo trong giao ước. Lòng Ngài mong mỏi là dân sự được thoát khỏi những sự hình phạt kinh khiếp đã áp dụng cho các dân láng giềng và đang chờ ngày đổ xuống trên họ nhưng vô ích. Chẳng những họ tiếp tục đi trong con đường thối nát mà họ còn tỏ ra hăng say thích thú nữa. Họ cự tuyệt ân sủng của Đức Chúa Trời.
(So 3:8) Do đó, tức là căn cứ vào tất cả những việc sai quấy của các dân tộc và của chính Giê-ru-sa-lem (So 1:14-3:7). Đức Chúa Trời sẽ đưa toàn thể thế giới ra toà án giao ước. Trong vai trò công tố viên, Ngài sẽ tập hợp mọi dân tộc, mọi quốc gia. Ngài sẽ giữ vai trò nhân chứng làm chứng về những việc sai trái của họ (so sánh Gie 29:23 Mi 1:2). Là quan toà, Ngài sẽ kết án và với vai trò một người thi hành án lệnh, Ngài sẽ thi hành án phạt, thiêu hủy toàn bộ thế giới bằng lửa của cơn thạnh nộ và cơn giận của Ngài.
5. Ngày hi vọng (So 3:9-20)
Sự công bình và sự thánh khiết chính trực của Đức Chúa Trời buộc Ngài phải hình phạt tội lỗi nơi dân sự của Ngài và toàn nhân loại (8). Tuy nhiên, Ngài cũng là Đức Chúa Trời yêu thương và nhân từ vì vậy nhân loại sẽ hoàn toàn bị tiêu diệt. Sự hình phạt sẽ có tác dụng thanh tẩy đối với các dân tộc (9-10), nhưng đặc biệt là đối với chính dân sự của Ngài (11-13). Ân sủng này là một món quà từ Đức Chúa Trời ban cho một cách vô điều kiện, người nhận không có gì là xứng đáng cả. Cho nên đây là cớ khơi dậy niềm hân hoan vui sướng (14-17).
Phần sách này có cái nhìn lạc quan và giọng điệu phấn khởi. Nhưng không phải vì vậy mà phần sách này do một tác giả khác tuy tin kính nhưng lạc quan viết thêm vào thời gian về sau như một số người gợi ý. Trái lại, đây là một hình ảnh của Đức Chúa Trời nhìn qua một trong vô số bề mặt của lăng kính được cấu tạo bởi những bản tánh của Ngài. Không phải trong thời gian tiền lưu đày Ngài chỉ đóng vai quan toà, còn trong thời gian hậu lưu đày Ngài hoàn toàn chỉ đóng vai Đấng cứu chuộc nhưng tương tự như một phụ huynh (so sánh Os 11:1-4) Ngài vẫn yêu thương ngay cả trong khi phải áp dụng kỷ luật đối với con của mình. Nỗi đau đón do sự hình phạt gây ra tự nó không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện để phục hồi một mối tương quan bình thường phải lẽ.
(So 3:9-10) Các dân tộc Rồi đây, trong Ngày của Đức Giê-hô-va Ngài sẽ phục hồi những người sa ngã bằng cách tẩy rửa những gì ô uế đi. Môi miệng của họ được nêu ra để tân tạo (so sánh Es 6:5-7) được dùng để kêu cầu danh Chúa trong khi thờ phượng và phục vụ. Sự phục vụ này có tính cách hợp nhất (vai kề vai so sánh Gie 32:39), và toàn cầu vì tất cả mọi người đều có thể hưởng ứng tham gia. Sự hợp nhất trong thuở ban đầu về tiếng nói vốn biến mất tại Ba-bên (Sa 11:1-9) rốt cuộc sẽ được khôi phục để toàn cõi thọ tạo có thể thờ phượng Đức Chúa Trời.
Một trong số những dân tộc ở vùng xa xăm hưởng ứng sẽ là dân ở bên kia Ê-thi-ô-pi (Cúc) tận vùng Thượng lưu sông Ni-lơ. Bản văn của phần cuối câu này xem ra khó hiểu nhưng dù có ý nói về một số dân của Đức Chúa Trời bị lưu đày (theo như bản NIV chuyển ngữ) hoặc nói về những người mới tin thờ Đức Giê-hô-va (so sánh So 2:11), thì những người tiếp nhận ân sủng của Ngài đều sẽ thờ phượng Ngài với những của lễ đem theo (so sánh Thi 72:10). Dù họ là ai đi nữa may Đức Chúa Trời công nhận họ là người thuộc về Ngài.
(So 3:11-13) Giê-ru-sa-lem Giờ đây Đức Chúa Trời phán bảo thẳng với thành này, là Giê-ru-sa-lem với đền thờ toạ lạc trên núi thánh của Đức Chúa Trời. Ngài rao báo cho họ một niềm hi vọng. Nhờ Đức Chúa Trời trực tiếp can thiệp nên thành sẽ tránh được sự hình phạt và hổ nhục. Tính kiêu căng và ngạo nghễ, tánh tự mãn tự quyết bất cần Đức Chúa Trời sẽ bị trừ diệt tận gốc. Thay thế những người bị trục ra khỏi xứ là những người nghèo nàn, là những người được ở lại trong thành gọi là dân còn sót lại trong câu So 1:4 và 2:7. Họ là những người trông cậy Đức Chúa Trời tiếp trợ thay vì ỷ vào mưu lược riêng của mình. Những người bị hoàn cảnh và thời thế chà đạp (2:3 so sánh Mat 5:3) và những người trở nên nghèo khó sẽ tìm được chỗ ẩn náu nơi Đức Giê-hô-va và danh đầy quyền năng của Ngài (9).
Mấy câu này dùng thể văn phiến diện để mô tả thành phần này, một hình ảnh trái ngược với hình ảnh những người gian ác trong câu trước. Thành phần này không làm điều sai quấy (5), không nói dối và không gian trá. Đức Chúa Trời đã thanh tẩy môi miệng của họ (9). Trong khi người gian ác mưu tìm sự an ninh bằng những thủ đoạn riêng và vẫn thất bại thì thành phần nghèo nàn này tìm được sự an ninh cùng mọi điều khác (so sánh So 2:7,14 Thi 23:2) lẫn thoát khỏi sự sợ hãi.
(So 3:14-17) Vui mừng phấn khởi Tiên tri mường tượng về phước hạnh tay Đức Chúa Trời ban cho như thể đã thành hiện thực nên ông kêu gọi dân sự vui mừng phấn khởi. Bài Thi Thiên về sự cứu rỗi này tuy ngắn ngủi nhưng đầy đủ ý (so sánh Thi 98:1-9 Es 12:1-6 52:7-10) có thể do chính tiên tri Sô-phô-ni sáng tác, nhưng cũng có thể ông vận dụng một tư liệu có sẵn. Bài Thi Thiên này tiếp tục ca ngợi Đức Chúa Trời về sự hiện diện của Ngài tại Si-ôn theo như lời Ngài đã hứa trong giao ước với Đa-vít (IISa 7:1-29 so sánh Thi 2:1-12 89:1-52).
14-15 Diễn giả lặp lại ba lần lời kêu gọi đám tàn dân Giu-đa hãy ca hát vì vui mừng. Không phải vì những hành động của chính mình họ khiến họ vui mừng hoan hỉ mà vì sự kiện Đức Chúa Trời hiện diện ở giữa họ, sự hình phạt trên họ đã xong rồi (8), còn đạo quân thù địch vốn là công cụ của cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời cũng đã bị dẹp tan. Giờ đây, trong sự hiện diện đầy bao dung của Đức Giê-hô-va yêu thương là Chúa, là Vua của họ thì không có gì khiến họ phải sợ hãi nữa (so sánh IGi 4:18).
16-17 Ngày đó, Ngày của Đức Giê-hô-va, trước kia được mô tả trên phương diện cảnh tỉnh lòng người (So 2:7,14) nay được mô tả trên phương diện đầy khích lệ hơn. Nỗi sợ hãi và những biểu hiện của con người khi sợ, tình trạng bất lực (bàn tay xuội lơ so sánh Es 13:7 Gie 6:24) đều trở thành chuyện quá khứ vì cớ sự hiện diện của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, và cũng là vua nữa (15). Vì là Vị Chiến Binh Thiên Thượng nên Ngài có đủ năng quyền để cứu họ (So 2:9). Trong quá khứ (Phu 4:34) Ngài đã từng hành động vì cớ dân sự nên Ngài cũng sẽ hành động như vậy xưa cũng như nay (Thi 24:8 IICo 10:4). Trong Ngài có cả quyền lực lẫn sự hiền dịu (Es 40:10-11). Vị Chiến Binh cũng tương tự như một người cha, vui mừng khi con hoang đàng của mình trở về và vỗ về an ủi xua tan mọi nỗi sợ hãi nơi lòng con. Tiếng hét lâm trận (So 1:14) sẽ được thay thế bằng tiếng người mẹ nựng con nhỏ của mình.
(So 3:18-20) Thêm những lời hứa khác Dù dân sự đã có lý do để vui mừng, họ vẫn chưa nhận biết thấu đáo các phước lành của Đức Chúa Trời. Dù bản văn câu 18 không được rõ ràng cho lắm, nhưng cũng có thể hiểu đó là một phước hạnh của Đức Chúa Trời ban cho khiến cho những người đang buồn rầu, có lẽ buồn vì thiếu vắng những cuộc thờ phượng Đức Chúa Trời (ngày lễ hội chỉ định), để đến gần Đức Chúa Trời trong tinh thần vui mừng chớ không phải vì những qui định trong tôn giáo ràng buộc.
Tình trạng áp bức khi xưa do những mối đe doạ từ bên ngoài và do những tham nhũng từ bên trong (So 3:3-4), sẽ bị dẹp bỏ. Còn những người thân thể bị tàn tật (so sánh Mi 4:6-7) và những thành phần bị xã hội loại bỏ hoặc bị xa xứ (tản lạc so sánh Phu 30:4) sẽ được cứu vớt (17) và gom lại (8, 20). Ngay cả những người vốn là một dân tộc ô nhục cũng sẽ được phục hồi danh dự (so sánh So 2:1 3:5).
Dù là hình phạt hoặc ban phước (1:3) Đức Giê-hô-va cũng đích thân hiện diện chủ động thực hiện. Trong ba câu cuối tám lần Ngài trực tiếp phán truyền (đại danh từ Ta) Ngài cũng dùng đại danh từ ngươi để nói thẳng với Y-sơ-ra-ên. Mặc dù vì cớ tội lỗi của mình họ đã khiến cho mối tương quan giữa Đức Chúa Trời và họ bị rạn nứt và căng thẳng, Y-sơ-ra-ên vẫn là dân của Ngài và Ngài vẫn là Đức Chúa Trời của họ (Xu 6:7), Ngài và họ vẫn nói với nhau bằng những lời lẽ thân tình.
Đức Chúa Trời tóm lược bằng cách nhắc lại chương trình của mình trong việc phục hồi dân sự. Chương trình này chẳng những đem lại ích lợi cho họ mà còn khiến cho toàn thể các dân tộc trên thế giới, là những người đã từng nếm trải bàn tay hình phạt của Ngài (So 1:2 3:7-8) biết công nhận rằng Ngài chăm sóc dân sự khiến họ trở nên đối tượng được ca ngợi thay vì bị chê bai miệt thị.
Toàn bộ lời tiên tri này là chắc chắn nhân danh Chúa là Đức Giê-hô-va khi kết thúc như khi bắt đầu. Ý muốn tối hậu của Đức Chúa Trời không phải là hình phạt, dù là hình phạt kẻ không vâng phục. Trái lại, Ngài muốn phục hồi mọi người, đem mọi người trở lại mối tương quan bình thường phải lẽ với Ngài. Dù là trên bình diện dân tộc, như đối với trường hợp của dân Y-sơ-ra-ên, hoặc trên bình diện có thể. Ngài mong mỏi có thể phục hồi vận mệnh của mỗi một chúng ta.