GIÊ-RÊ-MI

MỤC LỤC

GIÊ-RÊ-MI

1. ÔNG GIÊ-RÊ-MI (Gie 1:1-19)

Ông Giê-rê-mi là con của một thầy tế lễ, sinh quán ở A-na-tốt là thành dành riêng cho các thầy tế lễ (1 so sánh Gios 21:18).  Thành này nằm kế cận Giê-ru-sa-lem nên khi đến phiên thi hành thánh chức tại Giê-ru-sa-lem các thầy tế lễ không mất nhiều thời gian đi lại.  Theo lẽ thường thì ông Giê-rê-mi hẳn sẽ làm thầy tế lễ khi tới phiên mình.

Tuy nhiên, mọi việc diễn tiến khác với lòng mong đợi khi ông được kêu gọi làm tiên tri.  Câu:  Lời của Đức Chúa Trời đến với (2) là một lối nói đặc thù của Kinh Thánh Cựu Ước về việc kêu gọi một cá nhân làm tiên tri (so sánh Os 1:1  Gio 1:1  Exe 1:3  Mi 1:1).  Như vậy, không phải do tìm cầu chức vụ tiên tri mà được làm tiên tri, trái lại được làm tiên tri hay không là do Đức Chúa Trời chọn.   Một khi Đức Chúa Trời đã bày tỏ ý muốn của Ngài thì ông Giê-rê-mi phải thuận phục hoàn toàn.  Toàn bộ cuộc đời của ông bị chi phối sâu đậm vì chức vụ này.

Thoạt tiên ông hết sức kháng cự sự kêu gọi này (6 so sánh với sự kêu gọi của Môi-se, Xu 4:10-13).  Lúc đó ông mới chỉ là một thanh niên (nên dịch là còn trẻ thay vì con trẻ có thể Giê-rê-mi được hai mươi tuổi rồi).  Trong một xã hội trọng sự khôn ngoan của người lớn tuổi, có thể ông cảm thấy khó lòng lên tiếng nghĩa là chưa hội đủ điều kiện thiên phú để dẫn dắt hoặc để thông giải ý nghĩa của biến cố lịch sử cho dân tộc.  Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã tiên liệu lý do chối từ của ông từ khi ông chưa chào đời Ngài đã biết ông và đã chỉ định ông làm tiên tri (5).  Đây là một sự xác định rất lạ lùng về sự biết trước của Đức Chúa Trời và nhất là trong việc Ngài kêu gọi một cá nhân.  Lời xác định này làm lu mờ tất cả các khả năng bẩm sinh hoặc tạo luyện thêm nơi con người, cũng làm lu mờ các loại khát vọng khác nữa.  Khi Đức Chúa Trời kêu gọi Giê-rê-mi, Ngài gây áp lực mạnh mẽ trên ông đến nỗi ông không thể làm gì khác hơn là chọn con đường lắng nghe Ngài phán và vâng lời làm theo.  Ông được trưởng dưỡng cho tới giờ này vì mục đích này.  Dầu vậy, chính mình ông phải quyết định chọn lựa, phải vâng lời và phải kiên trì vâng lời suốt trong chức vụ.

Lời của Đức Chúa Trời truyền cho ông Giê-rê-mi không chỉ làm an tâm ông mà chứng thực chức vụ của ông giữa vòng dân sự.  Nhằm vào khía cạnh này, Lời của Đức Chúa Trời cũng đến với tất cả (không phải chỉ riêng cho mục sư truyền đạo hoặc cho người giữ chức vụ khác trong hội thánh) là những người cảm thấy mình thiếu khả năng để thực hiện công tác mà họ biết Đức Chúa Trời đã kêu gọi họ đảm đương.  Sự thể này cảnh cáo tín hữu trong hội thánh một cách chung rằng đừng định giá trị của ân tứ và chức vụ của người khác.

Đức Chúa Trời bảo đảm với ông Giê-rê-mi rằng Ngài sẽ bảo vệ ông khỏi những người chống cự và thù nghịch ông.  Khi ông là người tiếp nhận và chuyển đạt lời của Đức Chúa Trời thì trong một khía cạnh ông cũng chung chia với Đức Chúa Trời quyền hành trên các nước (10).  Thật vậy, sứ điệp do ông Giê-rê-mi rao truyền ra rất quan trọng đối với một số quốc gia, chớ không phải chỉ riêng đối với Giu-đa và Ba-by-lôn (xem bình giải Gie 46:1-51:64).  Lời của Đức Chúa Trời về sự phán xét lẫn sự cứu chuộc chắc chắn sẽ đạt đến mục tiêu.

Đức Chúa Trời cho ông Giê-rê-mi những sự hiện thấy để bảo đảm với ông rằng ông thật sự được Ngài kêu gọi.  Ý nghĩa của sự hiện thấy thứ nhất về cây hạnh lệ thuộc vào dạng tương đồng giữa từ chỉ về cây hạnh và từ chỉ về sự canh chừng.  Sự hiện thấy thứ hai về nồi nước sôi nói rằng sứ điệp mà ông rao truyền là một sứ điệp về sự đoán phạt bởi tay của một dân tộc đến từ phương bắc (14).  Ở đây chưa xác định Ba-by-lôn.  Dạng số nhiều (mọi dân tộc... các vua của họ, c.15-16) có vẻ mơ hồ.  Có thể lúc đầu ông Giê-rê-mi chưa rõ Ba-by-lôn sẽ là kẻ thù được Đức Chúa Trời dùng.  Các vua nước ngoài đến đặt ngai tại cổng thành Giê-ru-sa-lem (15) hàm ý là nay họ và thần của họ cầm quyền cai trị.  Có vẻ như là Đức Chúa Trời đã phụ lòng dân sự của Ngài.  Nhưng tiên tri Giê-rê-mi sẽ chứng minh cho họ thấy vì sao họ bị hạ đến cỡ đó. 

Trên căn bản dân sự bị lên án vì tội bội ước, tức là vi phạm giao ước giữa Đức Chúa Trời với họ qua việc từ bỏ Ngài để theo các tà thần (16).  Hành động này coi như phá bỏ giao ước tận cội rễ, y như dân Y-sơ-ra-ên đã xử sự tại Si-nai khi mới lập giao ước xong (Xu 32:1-35).  Vấn đề này sẽ đảo tới đảo lui thường xuyên trong sách.

Cuối cùng, Đức Chúa Trời căn dặn ông Giê-rê-mi phải vững tâm (17).  Một quốc gia có kẻ thù ra sao thì ông cũng có kẻ thù từ giữa vòng dân tộc, kể cả trong hàng ngũ có thế lực mạnh mẽ (18).  Dầu vậy Đức Chúa Trời mạnh hơn họ, Ngài sẽ bảo vệ ông (19).  Đức Chúa Trời còn phải lặp đi lặp lại lời hứa nầy nhiều lần và cũng làm trọn nữa (Gie 11:18-23).

2. ĐỨC CHÚA TRỜI CÁO BUỘC DÂN SỰ (Gie 2:1-4:40

1. Một mối tình bị phế bỏ (Gie 2:1-8)

Câu 2 chứa cốt lõi những lời cáo buộc của tiên tri Giê-rê-mi đối với Giu-đa.  Trong mấy câu mở đầu Đức Chúa Trời nhắc lại thời kỳ đầu tiên của dân Y-sơ-ra-ên khi dân tộc mới được hình thành, khi Ngài đem họ thoát khỏi ách nô lệ và lập họ thành một dân của Ngài trong giao ước thoả thuận tại núi Si-nai (Xu 19:1-24:18).  Ngài nhắc lại thời gian ở trong sa mạc (2) là thời gian họ còn chung thuỷ với Ngài.  Trong vùng trần trụi, xác xơ đó họ buộc phải nhờ cậy Đức Chúa Trời về mọi chuyện và Ngài đã bảo vệ họ khỏi kẻ thù (3b  17:8-13).  (Thật ra, dân Y-sơ-ra-ên không tỏ ra luôn luôn trung thành với Đức Chúa Trời khi ở trong sa mạc xem 32:1-34.  Tuy nhiên, ông Giê-rê-mi cũng như ông Ô-sê coi sa mạc là một nơi có thông công thật sự giữa họ với Đức Chúa Trời xem Os 2:14-15)

Ông Giê-rê-mi dùng hình ảnh đức tin của thế hệ đã qua nhằm đối chiếu với tình trạng suy đồi của dân Giu-đa trong thời của mình.  Giờ đây Đức Chúa Trời triệu tập họ đến để nghe tường trình (4).  Giao ước đòi hỏi phải có sự tham gia của cả hai bên.  Đức Chúa Trời hứa cho họ đất đai và phước hạnh đồng thời Ngài yêu cầu nơi dân Y-sơ-ra-ên lòng trung thành.  Cho nên giờ đây Ngài nêu câu hỏi như trên diễn đàn là phải chăng vì cớ thiếu sót nào về phía Ngài đến nỗi dân Y-sơ-ra-ên rứt bỏ Ngài mà đi (5).  Tội lỗi không những ảnh hưởng trên thế hệ hiện nay mà thế hệ cha ông của họ đã bị ảnh hưởng rồi.

Tội lỗi xui khiến lòng họ bỏ Đức Chúa Trời là tội thờ hình tượng chớ chẳng phải tội nào khác.  Như vậy có nghĩa là họ huỷ bỏ điều răn căn bản thứ nhất (Xu 20:3). Sau khi ở trong xứ Ca-na-an là xứ Đức Chúa Trời ban cho họ thì họ đã thờ Ba-anh là thần mà dân Ca-na-an thường thờ. (Tác giả chơi chữ với tên riêng Ba-anh trong nguyên văn Hi Bá Lai để có từ vô ích trong c.5). Tác giả muốn nhấn mạnh sự kiện Ba-anh thật ra chỉ là một thần ảo, không có thật và bất lực.  Dân chúng đặt trọn niềm tin vào Ba-anh, còn các cấp lãnh đạo từ bỏ trách nhiệm đặc biệt của mình đối với Đức Chúa Trời cùng dân tộc và hết lòng tôn sùng thần này (8). Quả là cách đền ơn đáp nghĩa đắng cay cho Đức Chúa Trời là Đấng đã dẫn dắt, bảo vệ họ qua khỏi mọi mối hiểm nguy trong sa mạc, đến một xứ màu mỡ dư thừa (6-7 so sánh Phu 8:7-10). Ý của Chúa trong từ sản nghiệp của ta (7b) là đất đai đời đời thuộc về Ngài (so sánh Le 25:23) chớ không phải nói về cách thức Ngài sở hữu đất đai đó.  Tuy nhiên, dân của Ngài đã khiến cho đất trở nên gớm ghiếc đối với Ngài vì cớ tội lỗi của họ. Họ tự hủ hoá bằng chính những tập tục mà Ngài đã từng quyết tâm dứt điểm trừ diệt khỏi xứ (18:19-30)

2. Bản cáo trạng (Gie 2:9-28)

Trong thực tế, Giu-đa là bên bất trung đối với giao ước.  Vì vậy giờ đây Đức Chúa Trời đi vào chi tiết của bản cáo trạng.  Tội trạng của họ là thờ hình tượng thay vì thờ Đức Chúa Trời chân thật.  Sự vinh hiển của họ (11) chỉ về Đức Chúa Trời, nhắc lại những lần Ngài hiện ra cho Y-sơ-ra-ên trong thời gian họ lang thang đây đó trong sa mạc (Xu 40:34-35).  Câu 10-12 nhấn mạnh tính cách bất thường, phản tự nhiên trong viêc họ từ bỏ Đức Chúa Trời. 

Hơn nữa, quay lưng bỏ Đức Chúa Trời để theo hình tượng bất năng bất lực là chuyện lừa bịp, chạy theo ảo tưởng.  Dòng lịch sử của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đã chứng tỏ như vậy.  Dường như sư tử (15) chỉ về A-si-ri là nước đã tiêu huỷ vương quốc Y-sơ-ra-ên năm 722 T.C. (so sánh c.18 và xem phần dẫn nhập). Giờ đây tương ứng với quá khứ thất trận đó Giu-đa đang đối diện với mối nguy từ phía Ai Cập.  Có thể c. 16 hàm ý về cái chết của vua Giô-si-a trong tay Pha-ra-ôn.  Nê-cô ở Mê-ghi-đô năm 609 T.C. (IIVua 23:29).  Như vậy, có hy vọng gì đâu mà tìm cách liên kết với các cường quốc đại loại? (18).  Trước kia các vị tiền bối đã từng đeo đuổi chính sách này (16:7) và rồi gặt lấy thất bại (Es 7:1-25).  Một số người ở Giu-đa lại chạy qua Ai Cập để tránh Ba-by-lôn (Gie 24:8).  Mọi nỗ lực này chỉ là vô ích, và chỉ tự rước vào mình sự hình phạt mà thôi (19).

Ông Giê-rê-mi tiếp tục bàn về vấn đề sai trái này qua những hình ảnh ví von.  Hiện nay Giu-đa làm nô lệ (14) trong khi lẽ ra họ phục vụ Đức Chúa Trời.  Hiện nay họ là gái điếm trong khi đáng lẽ họ là cô dâu (20 so sánh 3:1).  Hiện nay họ là cây nho hoang trong khi đáng lẽ họ là cây nho chọn lọc (21 so sánh Es 5:1-4).  Điều giả trá thường nhái điều thật và nhạo báng sự thật, hứa hẹn tất cả những điều sự thật có thể mang đến.  Dầu vậy, khi cuộc đời đặt cơ sở trên hướng suy nghĩ và cuộc thờ phượng sai trái thì thế nào cũng có lúc phải trả giá.  Sự ngu dại của Giu-đa sẽ bị phơi ra cách nhục nhã như khi một tên ăn trộm bị bắt quả tang (26).  Trong giây phút khủng hoảng, có thể Giu-đa quay về với Đức Chúa Trời vì tuyệt vọng (27b) nhưng cũng lại là một hành động giả trá mà thôi, một hình thức lợi dụng Đức Chúa Trời, đúng theo tinh thần thờ hình tượng.

3. Án phạt (Gie 2:29-37)

Quay về với chủ đề chính:  Chính Giu-đa chứ không phải Đức Chúa Trời là bên đã tỏ ra bất trung đối với giao ước (31-32).  Ngoài tội phạm trong tín ngưỡng (33) còn có tội bất công trong đời sống xã hội (34).  Đây cũng là một vấn đề tiên tri thường xuyên đề cập đến (so sánh Am 5:10-15).  Không dễ gì gạt gẫm, qua mặt Đức Chúa Trời không có lực lượng phòng vệ nào đủ sức đối phó với Đức Chúa Trời.  Thật vậy, chắc chắn Ngài sẽ hình phạt dân sự lầm lạc của Ngài (35b,37).

4. Có thể nào Giu-đa trở về với Đức Chúa Trời (Gie 3:1-4:4)

(Gie 3:1-25). Toàn bộ phần này đặt nặng vấn đề Giu-đa cần thật lòng quay về với Đức Chúa Trời.  Dầu vậy, còn một uẩn khúc là có thể nào Đức Chúa Trời quay lại tiếp nhận với tình yêu thương một dân tộc liên miên cố tình bội ước.  Đây là vấn đề trong Gie 3:1-5. 

Trong 3:1-5 cuộc chia tay giữa Đức Chúa Trời và dân Y-sơ-ra-ên được ví như một cuộc ly hôn, trong Phu 24:1-4 thì một phụ nữ ly hôn và đã tái giá với một người khác vĩnh viễn không được phép trở về với người chồng thứ nhất.  Đức Chúa Trời thì xem như Giu-đa đã hoàn toàn ly dị Ngài qua những hành vi lăng nhăng ve vãn với những người yêu khác, tức là các thần của Ca-na-an (1b).  Như vậy chiếu luật ly hôn không có hy vọng gì đối với việc Đức Chúa Trời nhận lại Giu-đa. Giu-đa bị cáo buộc nặng nề về tội làm điếm (1-5) vì Giu-đa tỏ ra tích cực thờ phượng các thần khác, ở nhiều nơi trong xứ (2a) khiến cho xứ bị  ô uế (xem bình giải Gie 2:7b).  Cho dù Giu-đa có tỏ vẻ trở về với Đức Chúa Trời, thì ít nhiều cũng có sự giả hình (4-5).

Câu 6-10 tiếp tục với ý ví von về sự ly hôn.  Ở đây, cựu vương quốc của Y-sơ-ra-ên phía bắc bị nêu ra làm thí dụ về sự cắt bỏ một phần trong số dân xưa kia thuộc về Đức Chúa Trời (IIVua 17:1-41).  Đến thời của ông Giê-rê-mi, chuyện này đã trở nên một sự kiện rõ rệt trong lịch sử.  Như vậy, số phận của Y-sơ-ra-ên là một lời cảnh báo cho Giu-đa (so sánh 17:18-19) nhưng cho đến nay Giu-đa vẫn chưa để tâm đến lời cảnh báo đó. 

Câu 11-14 đưa lập luận đi xa hơn.  Thật ra, Giu-đa tồi tệ hơn Y-sơ-ra-ên nhiều (11).  Đến đây ông Giê-rê-mi kêu gọi Y-sơ-ra-ên ăn năn.  Đây chỉ là một hình thức trong phép tranh luận, vì vương quốc Y-sơ-ra-ên đã bị xoá sổ.  Với phần kêu gọi này ông nhằm nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời luôn luôn thương xót đáp ứng đối với lòng thành thật ăn năn.  Dân Y-sơ-ra-ên đã từng bỏ ngoài tai sứ điệp đó, nay trong c. 14 sứ điệp được rao giảng trở lại cách mới mẻ cho Giu-đa.  Dầu vậy, Giu-đa hiện nay là một dân bất trung (bội nghịch).  Từ này có liên quan đến từ chỉ về sự trở về và có nghĩa là dân sự quen 'quay tránh' đi thay vì quay hướng về Đức Chúa Trời.  Lời kêu gọi trở về hoặc ăn năn đến với một dân tộc đã quyết tâm cự tuyệt.

Với c.15-18 quang cảnh bất chợt chuyển đổi.  Trong mấy câu này ông Giê-rê-mi hướng vào tương lai với hy vọng về một ngày cứu chuộc là ngày Đức Chúa Trời sẽ chuộc lại một dân tộc biết sống trung thành.  Vào ngày đó Đức Chúa Trời sẽ đem dân sự trở về Si-ôn (tức là Giê-ru-sa-lem và Giu-đa).  Hình ảnh này mặc nhiên báo trước về giao ước mới được triển khai đầy đủ hơn trong Gie 30:1-33:26.  Khúc Kinh Thánh này cho thấy rằng trong thực tế sứ điệp mà ông Giê-rê-mi giảng cho người Giu-đa chẳng có kết quả gì cả và niềm hy vọng của họ đối với tương lai tùy thuộc vào việc khác, tức là một việc làm mới mẻ của Đức Chúa Trời đối với vấn đề cứu chuộc.

Các kẻ chăn chiên vừa lòng Ta (15) là những người lãnh đạo công nghĩa thay vì giới lãnh đạo thối nát hiện nay tại Giu-đa (so sánh 23:1-4).  Giao ước không còn nữa mà chẳng ai quan tâm khóc than tiếc nuối là điều dễ hiểu trong thời kỳ của giao ước mới.  Giao ước mới đặt yêu cầu nơi sự thật trong nội tâm thay vì những tín hiệu bề ngoài (so sánh 31:33).  Rồi đây Chúa Giê-xu cần phải đến trong trần gian này để thay đổi dân của Đức Chúa Trời và ban cho họ năng lực.  Ngài cũng sẽ là Đấng vĩnh viễn làm trọn giao ước giữa Đức Chúa Trời với Y-sơ-ra-ên.

Quay về hiện trạng Đức Chúa Trời than thở về lòng gian trá của Giu-đa, qua mấy hình ảnh ví von về mối tương quan giữa Ngài với họ (về hình ảnh Y-sơ-ra-ên là “con” của Đức Chúa Trời xin xem Xu 4:22-23 so sánh Es 1:2 Ô-sê cũng dùng cả hai hình ảnh ví von này, Os 2:2  11:1-2).  Tương ứng với lời than khóc của Đức Chúa Trời có lời than khóc của Y-sơ-ra-ên coi như họ đã nhận ra tình trạng phá sản trong lối sống sai lạc giả dối của mình (21).

Phần cuối chương này mở đầu bằng lời kêu gọi ăn năn , tiên báo về một cuộc chữa trị chung cuộc trong giao ước mới (Ta sẽ chữa...).  Tuy nhiên, ngay sau đó sự đáp ứng có phần nặng về hình thức, một hình thức ăn năn (22b-25), một sự giả dối như trong c.10, khi có lời kêu gọi mới mẻ trong Gie 4:1-4 thì lại có lời đe doạ đoán phạt.  Dầu vậy, ý trong phần này tương tự như trong c.21 bao hàm một ý công nhận sự thờ lạy hình tượng là vô ích, không có hiệu quả gì cả.

Mấy câu đầu trong chương 4 kết thúc phần kêu gọi ăn năn, hoặc trở về nên thuộc về phân đoạn này.  Thứ nhất, c.1-2 nhắc Giu-đa (ở đây gọi là Y-sơ-ra-ên) về sứ mạng của họ là dẫn dắt các dân tộc khác đến với Đức Chúa Trời đây là mục đích của Ngài khi Ngài kêu gọi, hoặc chọn Áp-ra-ham lâu đời về trước (Sa 12:1-3).  Kỳ vọng đặt nơi lòng trung thành của họ là lớn lắm.  Thứ hai, họ cần cảnh giác, đừng tin cậy vào những nghi thức bên ngoài, như lễ cắt bì chẳng hạn.  Trái lại dấu hiệu họ thuộc về Đức Chúa Trời phải là dấu hiệu phát xuất từ bên trong sâu xa tức là lòng tin kính của con người toàn bộ, từ cá nhân đến tập thể, cộng đồng xã hội.  Việc cày xới đất chưa được cày xới tương ứng với ý vực dậy những con người không còn sự sống.

Hội thánh cần thường xuyên nghe lời kêu gọi ăn năn và chú trọng đến nội tâm, thế mà có cơ nguy hội thánh bày tỏ sụ ăn năn giả tạo hết sức tinh vi, chỉ có thể phát hiện và xử lý bởi ân sủng của Đức Chúa Trời.

Gie 4:1-4 (xem giải nghĩa Gie 3:1-25)

3. VIỄN CẢNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI GIU-ĐA (Gie 4:5-6:30)

1. Kẻ thù tiến lại gần (Gie 4:5-31)

Phần trên chương 4 mô tả cảnh Giu-đa bị tàn phá đầy sáng tạo và xúc động.  Người nói suốt phần trên này là ông Giê-rê-mi, dầu vậy ông nói lên lời của Đức Chúa Trời.  Thỉnh thoảng có đoạn thoại là câu nói trực tiếp của Đức Chúa Trời (thí dụ c.6b).  Bản N.I.V có cố gắng trình bày một lần phần thoại giữa tiên tri và Đức Chúa Trời nhưng khó lòng thực hiện việc này thường xuyên.  Dầu sao, trình bày dưới dạng nào cũng là trình bày sự thật, cho nên Đức Chúa Trời hoặc Giê-rê-mi là người nói thì cũng không ảnh hưởng gì đến ý nghĩa.

Trong c.5-9 ông Giê-rê-mi mô tả cảnh hoảng loạn diễn ra khi kẻ thù tiến tới gần.  Thổi kèn là một tín hiệu kêu gọi chiến đấu giới nông dân sẽ chạy về thành phố để lánh nạn, để gia nhập đạo quân bảo vệ đồn lũy.  Dựng cờ hướng về Si-ôn có lẽ là tín hiệu cấp báo (5,6).  Kẻ thù tàn nhẫn không khác gì sư tử (so sánh 2:15) đã khởi sự kéo quân đi càn quét và huỷ diệt.  Ở đây chưa xác định kẻ thù là Ba-by-lôn.  Cụm từ từ phương bắc không tiết lộ ý cụ thể.  Bất cứ lực lượng thù địch nào (ngoại trừ Ai Cập và các nước sát nách của Giu-đa) cũng đều tiến vào từ phía bắc vì địa hình vùng đó dễ hành quân hơn.  Ở đây vang dội lời hiệu triệu toàn dân (8) dầu các cấp lãnh đạo giả hình sẽ bị vạch mặt (9) nhưng không vì cớ đó mà giảm thiểu trách nhiệm của tất cả mọi người khác.

Ông Giê-rê-mi không dửng dưng đối với sứ điệp ông phải rao giảng.  Câu 10 như một tiếng chuông gióng lên báo rằng ông sẽ bàn tiếp vấn đề này về sau khi ông thắc mắc với Đức Chúa Trời về cảnh ngộ của bản thân ông (15:18).  Trong cơn đau thương ông đổ lỗi cho Đức Chúa Trời là đã lừa phỉnh dân chúng, chắc là vì Ngài đã thả nổi cho các tiên tri giả mặc sức rao truyền sứ điệp hoà bình suông và đã ru ngủ dân chúng cách hiệu quả (so sánh 6:13-14).  Câu trả lời duy nhất cho ông là chính Đức Chúa Trời khẳng định rằng sự hình phạt chắc chắn sẽ diễn ra.

Câu 13-18 tổng hợp những cảnh tượng nguy cấp như thể một người lính canh tận mắt quan sát bước tiến của quân thù đang đến gần (13).  Trong c.15-16 trước tiên tin tức được truyền đi từ Đan, nằm trong vùng cực bắc Y-sơ-ra-ên, rồi khi quân thù tiến tới gần hơn thì tin được truyền từ Ép-ra-im, là vùng cao nguyên ở miền trung bộ đến cuối cùng quân thù đánh ập vào Giê-ru-sa-lem.  Có thể tiên tri mô tả những quang cảnh đó trong bài giảng nhằm thuyết phục Giu-đa ăn năn (14) mới mong thoát khỏi tai hoạ.  Dầu vậy, ông Giê-rê-mi cảm nhận rằng tai hoạ chắc chắn sẽ đổ xuống kéo theo bao điều đau khổ (18).

Giờ đây, ông bộc lộ nỗi đau đớn trong tâm can của mình (19-22).  Không phải ông bị “đau tim” theo nghĩa đen  (19) nhưng thể xác của ông cảm nhận được nỗi đau trong tâm.  Trong khúc Kinh Thánh này bản thân ông hoàn toàn đồng hoá với dân tộc trong nỗi kinh hoàng đau đớn cận kề.  Tiếng thét khi lâm trận cũng làm ông kinh khiếp (19).  Coi như nhà cửa của người Giu-đa cũng là nhà cửa của ông (20b).

Câu 22 có thể do Đức Chúa Trời hoặc tiên tri Giê-rê-mi thốt to lên.  Câu này cho thấy tiên tri Giê-rê-mi không những đồng hoá bản thân với dân sự mà cũng đồng hoá với Đức Chúa Trời nữa dầu sự hình phạt nặng quá sức chịu đựng nhưng chắc chắn sẽ giáng xuống.  Vì vậy, c.19-22 giữ vai trò rất quan trọng trong việc hiểu tâm trạng của tiên tri Giê-rê-mi.  Ông vừa chịu nỗi đau với Đức Chúa Trời, vừa chịu nỗi đau với dân tộc.  Vì thế, ông trở nên một mẫu người “trung gian, môi giới” giữa Đức Chúa Trời và dân tộc.  Nét đặc thù này báo trước về sự khốn khổ mà Chúa Giê-xu sẽ chịu vì sự cứu chuộc của nhân loại.

Sự kiện Giu-đa bất trung đối với giao ước thực sự có ảnh hưởng trên toàn thế giới (so sánh 4:2).  Giờ đây Giê-rê-mi buộc phải mường tượng đến cảnh đổ vỡ trong thế giới thọ tạo.  Ngôn từ khá tương ứng với Sa 1:1-31 (23-26).  Một khi giao ước của Đức Chúa Trời với tuyển dân thất bại thì không còn niềm hy vọng chung cuộc nào cho thế giới.  Chính vì thế mà bằng đời sống của mình Chúa Giê-xu phải chứng minh là Ngài làm trọn giao ước đó để Ngài có thể làm ánh sáng cho dân ngoại bang (so sánh Es 42:6).

Phân đoạn cuối chương này mô tả cảnh quân thù thực hiện cuộc sát hại thường dân trong khi họ tìm chỗ trốn tránh cách tuyệt vọng.  Hai hình ảnh cuối cùng đối chọi nhau dữ dội.  Hình ảnh thứ nhất (30) trình bày Giê-ru-sa-lem làm điếm mong nhờ vả những người tình của mình.  Người tình ở đây là Ba-by-lôn nhưng niềm hy vọng quyến rũ Ba-by-lôn sớm tiêu tan.  Vì với tình yêu giả tạo như vậy, không cách nào thoát khỏi cái chết.  Sau hành động đầy nữ tính này là hình ảnh một người mẹ đang sinh nở giữa cảnh tàn sát hỗn loạn của bọn khát máu (31).  Niềm tin tưởng hão huyền vỡ tan, thay vào đó là một thực tế hãi hùng, sự khai sinh cho một con người diễn ra giữa vòng vây của sự chết.  Rồi chương này kết thúc trong tiếng rên cuối cùng. 

Dầu vậy, có một chi tiết ngầm chứng tỏ rằng đây chưa phải là chung kết (27).  Niềm hy vọng này sẽ được triển khai trong những chương khác sau này.  Trong kinh nghiệm của ông Giê-rê-mi, ngay cả khi đối diện với chính cái chết, niềm hy vọng vẫn còn.  Việc này chỉ có thể xảy ra qua Đức Chúa Trời là Đấng tự khải thị cho chúng ta qua Chúa Giê-xu.

2. Đến lúc Giu-đa bị hình phạt vì tội dối trá giả hình (Gie 5:1-31)

Chủ đề của trọn chương này là đã đến lúc phải hình phạt một tình trạng dối giả sai trái quá mức.  Câu mở đầu là câu khuyến khích tìm một người, chỉ một người mà thôi, công chính đeo đuổi sự chân thật (1) để vì cớ người đó mà Đức Chúa Trời tha cho dân tộc.  Câu này nhắc lại chuyện Áp-ra-ham cầu nguyện thay cho Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Sa 18:22-33).  Điểm chính là chẳng có một người nào cả Giu-đa sa đoạ hoàn toàn.  Mặt khác, há chẳng phải ông Giê-rê-mi là một người công chính đeo đuổi sự chân thật sao?  Chúng ta đã ghi nhận vai trò trung gian của ông (Gie 4:19-22), và thật vậy, chúng ta sẽ thấy rốt cuộc ông giữ vai trò đặc biệt trong việc giải cứu dân tộc.

Giờ đây tiên tri Giê-rê-mi mổ xẻ tình trạng sa đoạ hoàn toàn của dân tộc (3-6), cả đại chúng (4) lẫn giới lãnh đạo (5) đều khước từ sự chân thật (3).  Ý chính trong câu 4 không phải là để bào chữa cho đại chúng.  Trái lại, hai câu này đi chung  với nhau để chứng tỏ rằng tất cả, không ngoại trừ thành phần nào cả, đều can tội, dù chắc chắn giới lãnh đạo can tội nặng hơn vì họ gánh trách nhiệm đặc biệt hơn.  Họ phải cùng nhau đối diện với sự hình phạt xứng hợp (6).

Giờ đây Đức Chúa Trời biện giải cho phương án hình phạt của Ngài (7-13).  Tiền đề căn bản được công nhận trước tiên là Ngài nắm quyền hạn hình phạt.  Tiền đề này nằm trong tư duy của bản giao ước.  Ai nấy đều hiểu rằng giao ước là một loại hiệp ước qua đó quốc gia mạnh hơn nắm giữ quyền hạn hình phạt quốc gia yếu kém hơn khi quốc gia nầy vi phạm hiệp ước.  Qua giao ước giữa Đức Chúa Trời và Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời có quyền hạn  áp dụng những biện pháp trừng phạt tối hậu không cần đến một lời biện giải tối thiểu nào - Đấng ban cho sự sống đương nhiên có quyền lấy lại.  Dầu vậy, ở đây Ngài nêu ra những lý do chứng minh án phạt đối với trường hợp này là thích đáng (9).  Ở đây dùng lại hình ảnh ví von về gái điếm (8), và tội giả dối, man trá đặc biệt ngầm hiểu là tội trọng của giới tiên tri (11-13).  Quả là một tội nặng nề vì họ nói dối về chính mình Đức Chúa Trời, cho rằng Ngài dửng dưng, bỏ qua tội lỗi xấu xa (12).  Vì vậy, không nên và đừng coi nhẹ những lời dạy dỗ sai lạc về Đức Chúa Trời.

Phân đoạn kế tiếp bàn bạc nhiều hơn về kẻ thù hùng cường, dù chưa cụ thể nêu danh Ba-by-lôn (14-19).  Điểm chính là nhắm bày tỏ rằng Đức Chúa Trời là Đấng giáng tai hoạ xuống đúng theo lời Ngài đã phán (14) và tai hoạ này sẽ tiêu huỷ tất cả những gì còn được xem là tốt.  Câu 17 bao hàm tất cả những gì gọi là phước lành mà Đức Chúa Trời ban cho Y-sơ-ra-ên (so sánh Phu 7:13).  Khi Ba-by-lôn kéo quân đến có nghĩa là Đức Chúa Trời rút lại những ơn phước này, và áp dụng điều khoản mệnh danh là phần rủa sả trong giao ước (28:15-68).  Giờ đây Đức Chúa Trời xác định là bao gồm trong đại hoạ cận kề còn có một thời gian lưu đày ở xứ người (19). Đây là hậu thân của sự trừng phạt, tuy nhiên cũng là một lối thoát trong số những lối thoát đầy hi vọng mà những bài giảng đầy ắp sự trừng phạt do  Giê-rê-mi rao báo đôi khi có vạch ra (18, so sánh Gie 4:27  5:10).

Tiếp theo Đức Chúa Trời triển khai ý niệm Ngài là nguồn cội duy nhất của mọi điều tốt lành, phước hạnh đối với dân Y-sơ-ra-ên.  Lòng kính sợ mà họ biểu lộ đối với Ngài (22) là thái độ tôn thờ phải lẽ, dù rằng tôn thờ trong tinh thần đầy ắp sợ hãi vì họ đang thờ một Đấng tối cao nắm mọi quyền hạn.  Họ có bổn phận phải thờ phượng Ngài, trước tiên vì Ngài là Đấng Sáng Tạo (22) , và thứ hai vì Ngài là Đấng ban cho họ sự sống và sự an lành phước hạnh đây là ý chính trong c.24-25 liên quan mật thiết đến c.17.

Sau đó Giê-rê-mi tập trung chú ý (như lần trước) đến tình trạng cá lớn nuốt cá bé tại Giu-đa (26-28 so sánh 2:34).  Chẳng những người giàu bóc lột người nghèo mà còn khuynh đảo toà án, một toà án tạo điều kiện thuận lợi cho họ bóc lột người nghèo nữa (28 so sánh Xu 23:6-8).  Thái độ khinh miệt công lý cũng là một hình thức giả hình man trá vì sự “chân thật” trong giao ước của Đức Chúa Trời không phải chỉ là những lời nói mà là những phương tiện đặt cơ sở hợp lý trên những mối tương quan, không phải chỉ tương quan với Đức Chúa Trời mà thôi, nhưng cả những mối tương quan giữa người với người trong giao ước với Ngài.  Sự chân thật không chỉ nằm gọn trong ý tưởng và lời nói mà còn bộc lộ qua việc làm nữa.  Kinh Thánh Tân Ước cũng nhấn mạnh lẽ thật này qua lời dạy “đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gia 2:26 so sánh Ro 12:1-21).  Chân lý được bộc lộ đến tột đỉnh qua chính Chúa Giê-xu (Gi 14:6).  Thật vậy, chân lý là lời, nhưng lời trở thành xác thịt trong mối tương quan với con người.  Không thể nào chân lý đi cặp với vị kỷ.

Chương này kết thúc bằng cách nhắc lại rằng Đức Chúa Trời trừng phạt dân sự là đúng (29) ngẫm nghĩ lần cuối về sự giả dối, man trá, tiên tri lên án giới tiên tri và thầy tế lễ đã gieo rắc, giáo dục dân chúng theo hướng đó và cũng lên án toàn thể dân tộc vì họ vui lòng tiếp nhận đường lối đó (30).

Ngày nay những lời lên án này vang dội đến tai hội thánh đã tiếp nhận Chúa Giê-xu, đến tai những người thuộc về Đức Chúa Trời đến nỗi không một điều gì có thể tách họ rời khỏi tình yêu thương của Ngài (Ro 8:38-39).  Dầu vậy, nếu chai lì đối với Lời Đức Chúa Trời và không chịu cảnh giác thì vẫn mất mát nặng nề vô cùng.

3. Sự tinh luyện tiếp tục tiến hành cách vô ích (Gie 6:1-30)

Chương này quay lại những cảnh thời gian kinh hoảng trong chương 4.  Các địa danh được đề cập đến ở đây khá gần Giê-ru-sa-lem (Bên-gia-min là vùng phía bắc Giê-ru-sa-lem Thê-cô-a nằm về phía nam còn chưa định vị được Bết-ka-Hê-rem.  Giê-ru-sa-lem được ví von với một phụ nữ (con gái Si-ôn) có nhan sắc nhưng sắp bị kẻ thù hãm hại (ngụ ý trong c.3a, kẻ chăn chiên có lẽ chỉ về cấp lãnh đạo Ba-by-lôn).  Như vậy hình ảnh này tương tự với Gie 4:30.  Lời lẽ trong câu 4-5 là của quân Ba-by-lôn đang tiến công.

Phần còn lại trong chương này gồm những bài giảng theo như Đức Chúa Trời truyền dạy.  Bài giảng thứ nhất (6-8) luận về vấn đề cá lớn nuốt cá bé tại Giu-đa (so sánh Gie 5:26-28), và kết luận Giu-đa mắc phải một chứng bệnh.  Một dân tộc tôn trọng giao ước sẽ cường tráng trong mọi lãnh vực còn ai huỷ bỏ giao ước thì kể như bị ung nhọt viêm nhiễm trong mọi lãnh vực của cuộc sống.  Hình ảnh ví von này thường được dùng lại sau này.

Trong bài giảng thứ hai (7-15) việc thu gom, mót vét đám dân còn sót lại không khơi dậy một tia hy vọng nào, không như trong những khúc Kinh Thánh khác (4:27  5:10 so sánh Es 17:4-6) sự hình phạt được ví von với việc thu gom mót vét.  Toàn bộ khúc Kinh Thánh hướng về việc này (10-15).  Toàn thể dân tộc thối nát ảnh hưởng đến mọi lãnh vực sinh hoạt của xã hội (Gie 5:3-5) nên đương nhiên phải triệt để hình phạt do đó diễn ra những chuyện khủng khiếp trong c.11-12.  Cũng vậy, c.13 cáo buộc toàn thể dân tộc trước, rồi sau đó mới tập trung cáo buộc các tiên tri và các thầy tế lễ.  Câu 14 tập trung buộc tội các cấp lãnh đạo giả dối man trá.  Họ hoàn toàn đổi trắng thành đen khiến cho bao người tin tưởng lời dối trá của họ là Đức Chúa Trời không chống cự sự gian ác.  Chính vì lời phỉnh gạt này mà vết thương của toàn thể dân tộc - cả tội lỗi lẫn kết quả khốn khổ đau buồn tiếp theo không được xử lý.  Do đó toàn thể dân tộc không ăn năn hối cải.  Thật vậy, họ đã tiến xa quá mức, không còn khả năng ăn năn (15b). 

Bài giảng thứ ba (16-20) mở đầu với lời của Đức Chúa Trời kêu gọi họ tìm lại lối cũ, tức là trở về với nếp sống mà Đức Chúa Trời đã truyền bảo, từ khi Ngài tự khải thị với họ và dạy họ đường lối của Ngài qua giao ước tại Si-nai (Xu 19:1-24:18).  Trong lối cũ đó có sự sống (Phu 30:16).  Tuy nhiên, ở đây lời kêu gọi chỉ nhằm chuyển dẫn vào thái độ ngoan cố của dân chúng.  Họ chẳng đi vào đường lối cũ, cũng chẳng thèm vâng lời những người canh gác tức là các vị tiên tri thật, là những người thúc giục họ hãy trở vào những lối cũ (16-17).  Vì vậy Đức Chúa Trời mời nhân chứng đến (đúng theo ý nghĩa xem giao ước là một hiệp ước so sánh 30:19  32:1)  để chứng kiến tại hoạ sẽ đổ xuống trên dân sự do chính họ gây ra (19).  Cuối cùng Ngài từ khước sự thờ phượng chỉ vị hình thức mà bất cần tấm lòng.  Đây là một mặt khác của sự giả dối man trá tại Giu-đa.  Không những thờ thần khác là tội nghiêm trọng mà giả hình trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời cũng là một tội nghiêm trọng.  Đây là chủ đề thường được các tiên tri mổ xẻ (Es 1:1-31  Am 5:21-25  Mi 6:6-8).

Một lời dạy ngắn (21) nhắc lại thảm hoạ cận kề sẽ triệt để ảnh hưởng đến bạn bè thân thiết, đến mỗi mối liên hệ của mọi người, đến nỗi biến mọi mối liên hệ thành trò hề. 

Sau đó Đức Chúa Trời lại mô tả sự hung dữ và sức mạnh của quân thù đang tiến tới.  Lời lẽ bộc lộ nỗi hoảng sợ của dân chúng trong câu 24 gợi nhớ lại lời lẽ đầy kinh hãi của chính Giê-rê-mi (Gie 4:19).  Nỗi sợ hãi bấu lấy họ khi họ vỡ lẽ ra là không còn cách nào thoát khỏi sự hình phạt sắp tới.

Mấy câu cuối chương là lời nói của Đức Chúa Trời phán với ông Giê-rê-mi.  Hình ảnh ví von ở đây là việc luyện bạc.  Luyện bạc bao gồm việc nấu chảy quặng rồi tách chì ra khỏi bạc.  Qui trình luyện bạc đôi khi không kết quả vì nhiều lý do nên không tách lấy được bạc ròng.  Hậu quả là phải loại bỏ bạc hỗn hợp đó đi.  Y-sơ-ra-ên cũng vậy, bất chấp mọi biện pháp chăm sóc của Đức Chúa Trời nhằm biến họ trở nên một dân tộc của giao ước, thật sự, rốt cuộc họ sẽ bị loại bỏ mà thôi.

4. THỜ  PHƯỢNG GIẢ HÌNH, TIN TƯỞNG HÃO HUYỀN (Gie 7:1-8:3)

1. Bài giảng trong đền thờ (Gie 7:1-15)

Chủ đề của bài giảng được mệnh danh là “bài giảng trong đền thờ” là sự ỷ lại sai lầm vào nghi thức bề ngoài trong tôn giáo.  Đây là trọng tâm sứ điệp của ông Giê-rê-mi thật vậy, bài này có nội dung chính tương tự như bài giảng ở Gie 26:1-6, trong đó có ghi chi tiết về thời gian là giai đoạn đầu trong thời trị vì của vua Giê-hô-gia-kim.  Hiển nhiên là vào lúc đó ông Giê-rê-mi còn giảng về sự hối cải.

Đền thờ là trung tâm cuộc sống của Giu-đa.  Ông Giê-rê-mi đứng gần một trong các cổng dẫn vào sân đền thờ, là lối vào của dòng người đông đảo (2), có lẽ đến dự một trong các lễ lớn trong năm (Xu 23:14-17).  Như vậy bài giảng này trở thành một sự thách thức công khai cụ thể đối với các quan chức tôn giáo và đối với sự hành đạo của đại chúng.  Ông Giê-rê-mi đã hành động một cách hết sức can đảm (xem phần tường thuật về vụ này trong chương 26).

Nội dung chính của bài giảng nằm trong c.3-11.  Ông kêu gọi họ ăn năn, chứng minh rằng nguy cơ trầm trọng đang đe doạ, nhưng họ vẫn còn thời gian đổi hướng (3).  Ông chế giễu những lời lẽ rỗng tuếch trong nghi lễ tôn giáo đương thời (4) và chứng minh rằng tôn giáo đích thực bao gồm cả hành động lẫn nghi thức (5-6, so sánh bình giải Gie 5:20-28).  Hành động đúng đắn đặt cơ sở trên luật pháp của Đức Chúa Trời mà họ đã biết rất rõ luật pháp đó nằm trong phạm vi giao ước khi hai bên lập giao ước.  Câu 9 đề cập đến vài mục trong mười điều răn (Xu 20:2-17), đặt tội lỗi trong lãnh vực tín ngưỡng (theo các thần khác) bên cạnh những tội phạm trong lãnh vực xã hội.  Với nếp sống đó dân Giu-đa không vững tâm cho lắm khi họ đứng trước mặt Đức Chúa Trời.

Phần lớn những tội lỗi này phát sinh từ lòng tin cậy sai lầm nơi đền thờ mà họ sở hữu và nơi những nghi thức thờ phượng.  Dân chúng rập theo tư tưởng của người Ca-na-an nên tin tưởng rằng đền thờ và các nghi thức thờ phượng là dấu hiệu bảo đảm Đức Chúa Trời đang hiện diện và đang bảo vệ.  Tiên tri Giê-rê-mi chứng minh, viện dẫn một biến cố không mấy sáng sủa thuở xưa (12-19).  Trung tâm thờ phượng tại Si-lô từng phục vụ toàn thể dân Y-sơ-ra-ên lâu năm trước khi chưa có Giê-ru-sa-lem, nay không còn nữa vì bị tàn phá trong cuộc chiến tranh chống người Phi-li-tin, có lẽ vậy.  Nếu Si-lô đã bị tiêu huỷ thì Giê-ru-sa-lem cũng có nguy cơ bị tiêu huỷ, sao lại không?  Trong thời đại này cũng vậy không có một hình thức tổ chức làm thành trì bất khả xâm phạm bao quanh hội thánh cả.  Toàn thể thành viên trong hội thánh được kêu gọi thể hiện lòng trung tín trong cuộc sống.

2. Phải chăng vô phương giải cứu? (Gie 7:16-29)

Bài giảng tại đền thờ kết thúc với một mạng lệnh dành cho Giê-rê-mi: ông không được cầu thay cho dân tộc (16).  Quả là một chuyện lạ đầy bí hiểm vì một trong những nhiệm vụ của tiên tri là cầu thay (so sánh Sa 20:7  Xu 32:9-14).  Sau này ông Giê-rê-mi còn nhận được lệnh cấm này nhiều lần nữa (Gie 11:14  14:11 so sánh 15:1).  Đây là một trong những tín hiệu của Đức Chúa Trời cho biết rằng đã đến lúc Ngài hết kiên nhẫn với dân sự rồi.  Ý này được lặp lại nhiều lần vì dân sự bỏ ngoài tai những lời kêu gọi ăn năn và rốt cuộc bị hình phạt.

Tiếp theo là một vài chi tiết về lễ nghi thông thường trong tục thờ hình tượng: bánh và nước ở đây là của lễ dâng cho nữ thần Át-tạt-tê của người Ca-na-an.  Có thể ở bánh có hình dáng của nữ thần.  Mọi thành viên trong gia đình tham gia chuẩn bị của lễ, một dấu hiệu chứng tỏ dân sự sa đoạ cùng cực rồi.  Tự thân tội lỗi kết tinh sự hình phạt (19).

Đức Chúa Trời tuyên bố rằng cơn thạnh nộ của Ngài sẽ nổ ra chống lại dân sự, và Ngài nhắc lại sự ngoan cố, chống nghịch của nhiều thế hệ dân chúng đối với Ngài lâu nay.  Bài giảng này có nét tương tự với bài giảng tại đền thờ ở điểm tiên tri phê bình những nghi thức rỗng tuếch (22).  Ở đây nguyên ngữ Hi Bá Lai ngụ ý rằng của lễ không có khả năng thúc ép Đức Chúa Trời lên tiếng, khi Ngài lên tiếng phán truyền thì cũng không phải Ngài tỏ ý muốn của lễ.  Khúc Kinh Thánh này kết thúc với dấu hiệu bộc lộ sự khổ đau não nề ngụ ý chỉ vì sự tận chung của họ (29 so sánh 16:6  Mi 1:16).

3. Những điều gớm ghiếc đối với Đức Chúa Trời (Gie 7:30-8:3)

(Gie 7:30-34). Dường như chính đền thờ đã bị ô uế vì người ta đã thiết lập sự thờ phượng của một thần hoặc nhiều thần khác tại đó.  Dù có lẽ trong cuộc cải tổ tôn giáo của mình, vua Giô-si-a đã triệt phá sự thờ thần A-si-ri do vua Ma-na-se du nhập vào nước (IIVua 21:7 xem phần dẫn nhập).  Rồi có lẽ trong thời vua Giê-hô-gia-kim (31) lại xuất hiện sự thờ lạy thần khác cách công khai.  Ngoài ra người ta còn dâng trẻ con làm của lễ tại Tô-phết (nghĩa đen “nơi đốt lửa”) trong trũng Hi-nôm, nằm ở phía nam và phía tây thành Giê-ru-sa-lem.  Đức Chúa Trời đã có lệnh cấm dân Y-sơ-ra-ên dâng trẻ con làm của lễ.  Họ phải dâng một con thú làm của lễ thay thế việc dâng con đầu lòng của mình (Xu 13:2).  Đi vào con đường thờ lạy các thần khác đưa đến những hậu quả thật là ghê tởm kinh hãi (so sánh Phu 12:31b). 

Mỉa mai thay, sự sát hại trẻ con vô tội này sẽ phải nhường chỗ cho cuộc tàn sát khác.  Đó là sự hình phạt đến từ Đức Chúa Trời (32).  Chết mà không được chôn là một sự rủa sả cụ thể trong thế giới ngày xưa (33 so sánh 28:26).  Thật vậy, bên cạnh những nỗi khốn nạn bất khả kháng xảy ra vì cớ chiến tranh, từ vua chí dân còn gánh thêm nỗi nhục khác là khi xác chết đã chôn rồi người ta còn quật lên để bêu riếu trước vô vàn ánh sao mà họ tôn thờ khi còn sống (IIVua 21:3-5).

Gie 8:1-3 xem giải nghĩa Gie 7:30-34

5. KHÓC THAN CHO TÌNH TRẠNG BỘI ĐẠO CỦA SI-ÔN (Gie 8:4-10:25)

1. Thực sự vô phương cứu chữa (Gie 8:4-22)

Phần này mở đầu với giây lát ngẫm nghĩ về ý “quay lại”, “trở lại”, hoặc “ăn năn” (các từ này diễn dịch ý của cùng một động từ Hi Bá Lai cũng so sánh chương 3).  Giu-đa bị khiển trách vì nhất định quay đi (5b), tức là trái ngược với thái độ hối cải trở về với Đức Chúa Trời.  Sự thể bất thường này được nhấn mạnh qua những dữ kiện quan sát trong thiên nhiên và trong tập quán (4,7 so sánh Es 1:3).  Quan sát thiên nhiên và cuộc sống chung quanh là sắc thái đặc thù của văn chương trong các sách khôn ngoan (Tr 3:1-8).  Đối chiếu với những sự kiện trong thiên nhiên thì chuyện dân của Đức Chúa Trời mà không biết yêu cầu của Ngài là không thể tưởng tượng được.

Ông Giê-rê-mi tiếp tục luận giải về sự khôn ngoan bằng cách phê bình những người tự cho mình là khôn ngoan trong khi họ chẳng khôn ngoan tí nào (8).  Có lẽ họ tưởng là nhờ họ sở hữu một bộ luật thành văn và có lẽ vì cớ họ đảm nhiệm việc thông giải, diễn dịch chân lý.  Điều họ phải dạy là kinh Torah, bao gồm cả bộ luật ban hành trong giao ước thời Môi-se lẫn những lời giáo huấn trong giao ước đó.  Gia trưởng của mỗi gia đình có nhiệm vụ tổng quát trong việc dạy dỗ này (Xu 13:14-16) còn các thầy tế lễ có nhiệm vụ chi tiết cụ thể hơn (Phu 31:9-13).  Thông giải sai phương pháp là một việc cố ý nhằm phục vụ cho lợi ích của người dạy (10b).  Những ai đang giảng dạy lời của Đức Chúa Trời gánh một trách nhiệm nặng nề và chẳng bao giờ được miễn trừ khỏi sự đoán phạt cụ thể của Đức Chúa Trời (so sánh Lu 17:2  ITi 1:7). (10-12 rất tương tự như Gie 6:12-15.  Xin xem phần bình giải của 6:12-15).  Câu 13 nhắc lại rằng không thể nào cứ tiếp tục xuyên tạc chân lý mà không rước vào mình những hậu quả tai hại.

Giữa một đoạn luận tội xuất hiện mấy câu (14-17) mô tả cảnh kẻ thù tiến đến gần và cảnh hoảng loạn tiếp theo (so sánh 4:5-6,13-15).  Câu 15 là lời nói của những người đã từng bị các tiên tri giả và các giáo sư giả dối lừa phỉnh.

Phần cuối chương này (18-22) là lời nói của ông Giê-rê-mi nhưng gồm cả phần thoại giữa Đức Chúa Trời và dân sự nữa.  Mở đầu ông bộc lộ nỗi buồn khổ của mình với Đức Chúa Trời (so sánh 4:19), một phần vì sự đau khổ của dân chúng, kinh hoàng vì sự thất bại sắp tới (18-19a).  Lời lẽ trong c. 19b là của dân sự bị bấn loạn trước viễn cảnh bại trận.  Lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho vua Đa-vít (IISa 7:11b-16) trước kia xem như bảo đảm với vua rằng Đức Chúa Trời sẽ hiện diện và vua sẽ luôn luôn thắng quân thù (Thi 2:1-12).  Dân chúng tin rằng họ có một sự bảo đảm vô điều kiện (xem bình giải Gie 7:1-15) nên họ mới thốt ra những lời lẽ như ở đây.  Đức Chúa Trời đáp lại với một lời buộc tội quen thuộc trong c.19b.  Câu 20 ghi lại một lần nữa lời than thở của dân, có lẽ trong một bối cảnh là thời gian đầu của một cơn hạn hán là vấn đề của chương 14.  Hai câu cuối là lời nói của ông Giê-rê-mi, một lần nữa ông bộc lộ nỗi lòng đau đớn của mình đối với dân sự.  Ga-la-át (phía đông sông Giô-đanh) nổi tiếng về các loại cây cỏ có hương thơm được dùng để chữa bệnh.  Nhưng chứng bệnh ở đây đòi hỏi một phương thuốc linh nghiệm hơn.

2. Một dân tộc dối trá từ trong ra ngoài (Gie 9:1-11)

Mấy lời cuối trong c.3 cho thấy mấy câu mở đầu này là câu nói của Đức Chúa Trời.  Vậy mà thoạt tiên chúng ta tưởng là câu nói của ông Giê-rê-mi (vì con người như ông mới cần tìm một nhà trọ trong sa mạc để trú ẩn, c.2).  Hơn một lần chúng ta được chứng kiến ông bộc lộ nỗi đau lòng thay cho dân tộc của mình.  Trong khúc Kinh Thánh này ông bộc lộ nỗi đau lòng bên phía Đức Chúa Trời, một khía cạnh trong vai trò trung gian của ông.

Lý do khiến Đức Chúa Trời lẫn tiên tri Giê-rê-mi đều đau đớn là sự giả dối, man trá của dân sự.  Câu 2 và 3 dẫn nhập vào quyết tâm của họ trong con đường giả dối, man trá này (từ giả dối man trá hàm ý bất trung như trong tà dâm).  Câu 4-8 lột tả tình trạng giả dối man trá với hàng loạt từ ngữ tương đồng (lừa phỉnh, gạt gẫm, nói dối).  Dân chúng đã quen nói dối (5b), không còn có khả năng nói đúng sự thật.  Trong tất cả các mối liên hệ, ngay cả liên hệ quyết thống cũng không có sự chân thật (4-5).  Quả là một bức tranh hoàn toàn trái ngược với một xã hội được xây dựng trên giao ước.  Mục đích của Đức Chúa Trời là tuyển chọn và gầy dựng một dân tộc đeo đuổi sự chân thật chính trực rồi nhờ đó mà được phước.  Nhưng thực tế xảy ra như thế nào thì những ai đang sống trong các xã hội thối nát cực độ đều đã hiểu.  Ở Giu-đa các mục đích mà Đức Chúa Trời nhắm đến đều không thành tựu.  Một khi giao ước không được thực thi thì chẳng còn cách nào khác ngoài chấm dứt giao ước (9).  Sự “tinh luyện” xem ra không mấy hữu hiệu (so sánh Gie 6:29).

Sự khóc lóc, than vãn trong c. 10 có thể là của ông Giê-rê-mi hoặc của Đức Chúa Trời hoặc của cả hai.  Cảnh tan hoang diễn ra trên đồi núi ngoài đồng cỏ ảnh hưởng nặng nề đến chim trời và các loài thú, rồi cuối cùng lan đến các thành phố và chính Giê-ru-sa-lem nữa -  thảm hoạ bao trùm toàn bộ đất nước.

3. Khóc than cho những người phải chịu khổ (Gie 9:12-26)

Bài giảng trước (8:8-9) đã vạch trần tính cách vô nghĩa của sự khôn ngoan sai lầm, tức là tinh thần tự hào và ỷ lại vào luật pháp mà dân tộc đang sở hữu.  Ở đây ông Giê-rê-mi nêu ra một câu hỏi đầy tính cách biện luận (12).  Ai đủ khôn ngoan để hiểu nguyên do khiến cho đất nước bị tàn phá như thế này?  (Có lẽ câu này được nêu ra sau khi Nê-bu-cát-nết-sa tấn công Giê-ru-sa-lem lần thứ nhất, IIVua 24:1,10-11).  Đức Chúa Trời trả lời cho câu hỏi này rằng dân sự có đầy đủ sự khôn ngoan cần thiết để hiểu và làm theo luật pháp của Ngài, nhưng họ đã cố ý coi thường.  Hậu quả đương nhiên là họ bị lưu đày (16).

Chung cuộc đã rõ, Giu-đa không còn cách nào khác ngoài ra than khóc cho số phận của mình.  Những người đàn bà khóc mướn là giới đi khóc mướn chuyên nghiệp.  Dầu vậy, câu này không có ý nói họ giả bộ khóc trái lại họ khóc thật, có vô số lý do khiến cho tài nghệ của họ còn tồn tại mãi (20).  Câu 21 nhân cách hoá sự chết trong những cảnh tượng ghê rợn, có lẽ dựa theo những chuyện thần thoại của người Ca-na-an.  Một cách vận dụng khá mỉa mai vì tiên tri vẫn luôn luôn đả phá sự tôn thờ các thần Ca-na-an.  Trong câu 21-22 sự chết hiện diện ở khắp mọi nơi, trong nhà ngoài ngõ, bất cứ nơi nào tia nhìn chiếu đến được là người ta đều bắt gặp sự chết. 

Dường như c.23-24 là một bài nói riêng lẻ nhấn mạnh rằng điều tốt - dù là sự khôn ngoan hoặc năng lực hoặc của cải, không phải do con người tự nhiên mà có nhưng đến từ Đức Chúa Trời.  Câu 24b nêu những đặc tánh tốt lành thánh thiện mà chính Đức Chúa Trời biểu thị trong giao ước.  Nhân từ là đức tánh căn bản là lòng yêu thương trung kiên bền bỉ ràng buộc Đức Chúa Trời với dân sự và thúc giục Ngài chăm sóc họ.  Công bình và chánh trực là lòng quan tâm chú trọng đến quyền lợi của những người thuộc trong giao ước của Ngài và lòng hăng say nhiệt tình muốn họ đối xử với nhau một cách đúng phép phải lẽ theo tiêu chuẩn của Ngài.  Khi Đức Chúa Trời phán rằng Ngài ưa thích những sự ấy (24) tức là Ngài muốn thấy những người kết giao ước với Ngài cũng biểu thị những đức tánh đó.

Phần cuối của chương này xác nhận rằng rồi đây một số dân tộc sẽ chịu khổ trong tay Ba-by-lôn (so sánh Gie 27:3  46:2).  Mấy câu này cũng cho thấy cắt bì là một tục lệ rất phổ biến giữa vòng các dân tộc ở phương Đông thời xưa.  Giu-đa không chịu “cắt bì trong lòng” nghĩa là họ không chịu hiểu lễ cắt bì ở bên ngoài là những dấu hiệu có ý nghĩa như thế nào đối với họ trong giao ước (so sánh Sa 17:10).  Vì cớ đó mà họ cũng không khác gì các dân tộc khác.  Tự thân dấu hiệu ở bên ngoài chẳng có giá trị gì cả (cũng so sánh Gie 4:4)

4. Chẳng có ai như Đức Chúa Trời (Gie 10:1-25)

Có lẽ những lời đả phá mạnh mẽ đối với sự thờ hình tượng trong c. 1-16 được tuyên giảng ra cho dân Giu-đa sau khi họ đến xứ lưu đày.  Có lẽ các đền đài và hình tượng hùng vĩ Ba-by-lôn làm họ thán phục và có lẽ họ xiêu lòng nghĩ rằng các thần Ba-by-lôn đã tỏ ra có quyền lực hơn Đức Chúa Trời.  Thật ra, chỉ Đức Chúa Trời là Đấng có quyền năng.  Nhưng c.2,5 dạy rằng họ không nên có kính sợ những hình tượng chẳng có một tí quyền lực nào cả.  Câu 2-5,8-9,14 chế nhạo cách không thương xót sự thờ lạy cách vô nghĩa những sản phẩm do thương lái nhập cảng và do thợ thủ công chế tác ra.  Quả là ngu dại khi thờ lạy những chế phẩm của con người.   Không thờ lạy Đức Chúa Trời hằng sống mà đi thờ lạy những vật do Ngài làm nên thì cũng là ngu dại không kém (dấu hiệu trên trời tức là ngôi sao c.2).  Sự khôn ngoan của các dân tộc cũng bị phá sản (7b).  (Những người khôn ngoan ở đây có lẽ là các nhà thiên văn và các thuật sĩ mà sách Đa-ni-ên cũng nhắc đến).  Dẫu các thần ngoại bang và nền văn hoá đi kèm với các thần đó có vẻ đáng nể đến đâu chăng nữa thì rồi đây cũng sẽ bị lật tẩy và bị chứng minh là giả và bất năng (11,15).  Câu 11 là một câu đơn lẻ được viết trong tiếng A-ram là ngôn ngữ chủ dụng tại đế quốc Ba-by-lôn, như thể một lời nhắn nhủ trực tiếp cho cấp lãnh đạo Ba-by-lôn và thần của họ.  Một câu nói đầy tính cách diễn luận.

Trái lại, khi Đức Chúa Trời là Đấng đã tạo dựng mọi sự, lên tiếng phán truyền thì toàn thể địa cầu chịu ảnh hưởng (12-13).  Ngài mới là Đấng đáng được kính sợ (7), dầu vậy lòng kính sợ Đức Chúa Trời là một tinh thần thờ phượng Ngài cách chân thật đúng nghĩa nên hoàn toàn khác hẳn nỗi kinh hãi hoảng sợ mà các dân tộc cảm nhận đối với các thần của họ.  Khi Đức Chúa Trời được mô tả là phần của Gia-cốp, còn ngược lại dân sự được gọi là sản nghiệp của Ngài thì đó là một cách diễn đạt sự kiện Ngài thuộc về họ và họ thuộc về Ngài trong mối tương quan yêu thương và chăm sóc (Phu 4:20 cùng vài chỗ khác trong sách Phục Truyền đều diễn đạt cùng một ý.  Đây là một lối nói diễn đạt mối tương quan trong giao ước).  Đức Chúa Trời luôn luôn nhắm đến mục tiêu này cho dân của Ngài.  Chỉ có con người ngu dại mới đặt hy vọng vào những thần khác là những thần không có quyền năng giải cứu gì cả, trái lại chỉ gây ra khốn khổ và diệt vong.

Câu 17-18 nói về sự lưu đày đen tối do quân chiến thắng áp dụng.  Tiếp theo là lời thổ lộ của ông Giê-rê-mi (19-25).  Một lần nữa ông bày tỏ nỗi đau lòng của mình đối với thảm hoạ cận kề.  Ông dùng lại mớ từ ngữ chỉ về vết thương và bệnh hoạn (so sánh Gie 4:19-21) mà ông đã dùng để mô tả Giu-đa (6:7 so sánh 8:15,22).  Ở đây cũng vậy, nỗi đau của Giê-rê-mi cũng là nỗi đau của Giu-đa.  Các con trai của ông (20), không có ý nói theo nghĩa đen vì ông không lập gia đình, không có con cái (16:2).  Cùng với lời lẽ bày tỏ nỗi đau xót ông cũng tỏ ý tức giận đối với sự thất bại của giới lãnh đạo (kẻ chăn).  Việc này tiêu biểu cho thái độ mà lẽ ra dân sự cần có đối với tình trạng đó.

Cũng vậy, c.23-25 là lời cầu nguyện của dân sự do môi miệng của ông Giê-rê-mi (chú ý những lời cầu nguyện này tương tự như Thi 79:6-7.  Qua bài cầu nguyện đó dân sự cầu xin Đức Chúa Trời giải cứu họ khỏi quân thù, có lẽ cũng là vua Ba-by-lôn).  Bài cầu nguyện này hàm ý chấp nhận “sự sửa trị” hoặc thanh tẩy  - ngầm hiểu là rồi đây các biện pháp trừng phạt này hoá ra chỉ là sửa trị và như vậy là có thể hi vọng về một cuộc đời sau thời lưu đày (so sánh Gie 24:5-7).  Ông Giê-rê-mi cũng cầu nguyện cho chính mình về vấn đề “sửa trị”, vì chắc chắn ông cũng như mọi người tin kính khác, ông cũng nhận thức về tình trạng bất toàn của mình.  Thật ra, có hai lần Đức Chúa Trời cáo trách khuyên nhủ ông (12:5  15:19).

6. BỘI ƯỚC (Gie 11:1-13:27)

1. Ông Giê-rê-mi vạch trần sự phản bội của dân (Gie 11:1-17)

Sách Giê-rê-mi ở đây dùng ngôn từ đặc trưng của giao ước rõ ràng hơn những chỗ khác.  Giao ước này (2-3) là giao ước Đức Chúa Trời đã lập với dân sự tại núi Si-nai (Xu 19:1-24:18) và thường xuyên tái xác nhận qua những lần đọc luật pháp (Phu 31:9-13).  Có lẽ Đức Chúa Trời truyền những lời này nhân một dịp tái xác nhận giao ước trong thời của vua Giô-si-a (IIVua 23:1-3) hoặc vào thời sau.  Trước tiên giao ước gồm có, phần Đức Chúa Trời cứu chuộc dân của Ngài khỏi Ai Cập và ban cho họ xứ Ca-na-an (4a so sánh Phu 4:20).  Thứ hai, một mạng lệnh (4a, so sánh 11:1), và cuối cùng là một lời thề (5a so sánh 1:8).  Giao ước này hứa cho họ một mối tương quan với Đức Chúa Trời (4c, một mẫu tương quan đặc biệt so sánh Le 26:12) và một cuộc đời hạnh phước (5b so sánh Xu 3:8).  Động lực thúc đẩy là chắc chắn sẽ được ban phước nếu tuân thủ giao ước, bằng không thì chắc chắn sẽ bị rủa sả, đó là lý do Đức Chúa Trời phán câu 3b và câu 8b (so sánh Phu 27:15-26  28:15-68 so sánh Gie 28:1-14 về phước lành).  Căn cứ vào những điều trên đây chúng ta thấy rõ những điều ông Giê-rê-mi rao giảng đặt căn bản trên truyền thống đã thiết lập và củng cố vững chãi lâu nay.  Câu 1-5 nhằm kêu gọi họ ăn năn c.6-8 là lời phán quyết về sự kiện họ bội ước và như vậy buộc lòng phải giáng sự rủa sả.

Câu 9-13 triển khai lý do khiến Đức Chúa Trời đặt lưỡi búa kề gốc cây.  Giu-đa lập mưu có ý nói rằng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đã nhất trí từ bỏ Đức Chúa Trời.  Đây là sự thật suốt nhiều thế hệ qua.  Nay giờ chung kết đã cận kề mà họ không quay trở lại với Đức Chúa Trời.  Trái lại họ càng lo cầu cứu thần tượng nhiều hơn nhưng hoàn toàn vô ích.  Câu 13 ám chỉ về đa thần giáo của người Ca-na-an (so sánh 2:28) - một kiểu thờ phượng bừa bãi, lộn xộn.  Quả là dại dột khi đổi “vinh quang” (2:11) lấy nhục nhã (13b).

Câu 14-17 nhắc lại theo thể thơ phán quyết không thể thay đổi hoặc không thể rút lại (so sánh 7:16).  Người yêu dấu của ta là Giu-đa (so sánh 12:7) nhưng mỉa mai thay người yêu dấu lại không có quyền hạn gì trong nhà của Đức Chúa Trời các của lễ của Giu-đa không chứng thực cho sự giả tạo trong lòng họ.  Cây ô-li-ve là biểu tượng của hạnh phước lẽ ra thuộc về Giu-đa nhưng nay sẽ bị thiêu huỷ. 

Bài giảng của ông Giê-rê-mi cho chúng ta thấy rõ mối tương quan giữa Đức Chúa Trời và dân của Ngài ở các mức độ và cũng cảnh báo chúng ta đừng coi thường mối tương quan đó.

2. “Thổ lộ” tâm can (Gie 11:18-12:6)

Gie 11:18-23. Có vài lần ông Giê-rê-mi ghi lại lời cầu nguyện thổ lộ tâm can của mình (xem phần dẫn nhập).  Khúc Kinh Thánh này ghi lại hai lời cầu nguyện: lần thứ nhất và lần thứ hai (11:18-23  12:1-6).  Trong hai bài cầu nguyện này Giê-rê-mi than thở với Đức Chúa Trời về nỗi khốn khó mà ông phải chịu chỉ vì làm tiên tri.  Ở đây, rõ ràng là người ta có âm mưu sát hại ông trong khi đó ông hoàn toàn bất ngờ (19 so sánh Thi 44:11).  Vụ này xem ra tồi tệ hơn vì chính những người ở cùng quê quán với ông lại âm mưu hại ông (21).  Các thầy tế lễ chắc chắn khó chịu trước những sự chỉ trích phát xuất từ một người trong hàng ngũ thầy tế lễ (Gie 1:1) đối với tổ chức ở đền thờ (7:1-15).  Còn tiên tri thì đúng là không được hoan nghênh tại quê quán của mình (Lu 4:24).  Lời cầu nguyện của ông chú trọng đến việc minh oan chớ không phải báo thù (20b), muốn thấy lẽ thật và công lý được thắng thế (so sánh Thi 7:9).  Đức Chúa Trời trấn an ông (21-23) bằng cách nhắc lại lời hứa của Ngài trong Gie 1:17-19.

Bài cầu nguyện thứ hai gộp chung nỗi khổ đau của người vô tội cách chung, tổng quát.  Lời mở đầu tương tự như trong Thi 73:1-28.  Chủ đề của thi thiên này là người vô tội chịu khổ trong khi người gian ác thịnh vượng.  Trong bài cầu nguyện này có ý trách Đức Chúa Trời, cho rằng Ngài không ngăn cản, hoặc đúng ra là cho rằng Ngài gây ra tình cảnh này (2a).  Ở đây ông than thở rằng trong chức vụ ông thường cảm thấy bị cô lập (so sánh Gie 15:17) và ông tỏ ý ngán ngẩm vì những biện pháp trừng phạt mà Đức Chúa Trời buộc ông phải truyền rao ra chẳng thấy xảy đến (vì từ khi ông được kêu gọi làm tiên tri (627 T.C.) đến khi thành Giê-ru-sa-lem thất thủ (586 T.C.) là hơn bốn mươi năm lận).  Câu 3 tương tự như 11:20, tiếp theo ý câu 1.  Câu này cầu nguyện xin là Đức Chúa Trời đừng để người ta nghĩ rằng Ngài bất công.  Nạn hạn hán mà ông ám chỉ ở vài chỗ, là một dấu chứng tỏ rằng đã đến lúc tình trạng gian ác của dân sự phát sinh hậu quả (4a).  Dầu vậy họ vẫn không quan tâm vâng phục, và vẫn chối là không có chuyện Đức Chúa Trời hình phạt (4b) - sắc thái cơ bản trong bản tánh giả dối man trá của dân sự là như vậy đó.

Dường như câu trả lời của Đức Chúa Trời (5) hàm ý là ông Giê-rê-mi đã ngã lòng rồi, nhưng ông sẽ còn gánh chịu những điều lớn lao trầm trọng hơn.  Đó là một phần trong sự kêu gọi của ông, và ông cần phải tiếp tục tin cậy Đức Chúa Trời.  Ngài tiếp tục khuyên giục ông đừng ngã lòng bỏ ngang , đừng mong đợi cảm tình từ nơi những người thân cận với ông (6).  Họ sẽ còn xảo trá mãi thôi.  Con người trung tín với Đức Chúa Trời thường có thể trông cậy vào lòng thành tín của Đức Chúa Trời mà thôi.

Gie 12:1-6; xem giải nghĩa Es 11:18-23

3. Đức Chúa Trời và “gia đình” của Ngài (Gie 12:7-13)

Gia đình của ông Giê-rê-mi phản bội ông.  Đức Chúa Trời cũng kinh nghiệm sự phản bội của những người gần gũi nhất của Ngài (7-13).  Gia đình của Ngài, Giu-đa đã chống nghịch Ngài (8).  Rồi Ngài cũng chống nghịch Giu-đa (7-8c).  Một số hình ảnh ví von về sợi dây ràng buộc Ngài với dân sự:  nhà Ta, sản nghiệp của Ta (so sánh bình giải 2:7), người Ta yêu dấu, vườn nho của Ta, ruộng của Ta.  Ngài đã dùng những lời lẽ như thế khi nói về dân sự thì chắc chắn Ngài sẵn sàng thực hiện mọi nỗ lực để chăm sóc và bảo vệ họ.  Nhưng thực tế sẽ hoàn toàn trái ngược.  Đất đai nào sinh lợi nhiều sẽ trở nên trần trụi khô cằn những kẻ chăn (tức là giới cầm quyền ngoại quốc c. 10) sẽ loán chiếm và phá huỷ hết.  Hơn nữa đây là công việc của Đức Chúa Trời (12b), và lời rủa sả của Ngài khiến cho xứ không còn khả năng sinh lợi nữa (13).

Tin cậy vào “sức mạnh của thương trường” và đeo đuổi cách mù quáng sự thạnh vượng của nền kinh tế là hai điều tương đương với tội thờ hình tượng của Giu-đa.

4. Ý định đối với các dân tộc (Gie 12:14-17)

Ông Giê-rê-mi được kêu gọi làm tiên tri không riêng gì cho dân Giu-đa mà còn cho các dân tộc khác nữa (1:10), tuyên rao cả sự hình phạt lẫn sự xây dựng lại.  Khúc Kinh Thánh này trước tiên tuyên bố rằng các nước mà Đức Chúa Trời dấy lên để chống lại Giu-đa sẽ đến phiên bị xét xử và bị trục xuất khỏi quê hương xứ sở của mình (nhổ so sánh 1:10).  Tuy nhiên, trong khi Giu-đa có hi vọng về cuộc đời sau bản án lưu đày (3:14-18) thì cũng vậy, còn hi vọng cho các dân tộc.  Nếu họ bằng lòng thờ Đức Chúa Trời là chân thần thì họ cũng sẽ được làm dân của Ngài cùng với mọi phước lành.  Đây là sứ điệp bất thường trong sách Giê-rê-mi, nhưng lại thuộc về sự khải thị của Cựu Ước tức là cuối cùng sự cứu rỗi cũng dành cho mọi dân tộc (so sánh Es 19:23-25  40:5).

5. Dấu chứng của sự hình phạt (Gie 13:1-27)

Đức Chúa Trời không những ban cho tiên tri sứ điệp để truyền rao bằng lời nói, nhưng Ngài cũng ban dấu chứng để diễn tả sứ điệp nữa, để chứng tỏ lẽ thật của lời giảng.  Những dấu chứng này có ý nghĩa hơn là “thị cụ”, giữ vai trò quan trọng hơn là “thị trợ”, vì cũng như lời nói, dấu chứng có thẩm quyền của Đức Chúa Trời (so sánh hai dấu chứng sau này tại lò gốm chương 18,19 cũng so sánh Es 20:1-6),  Một khi lời của Đức Chúa Trời được truyền rao bằng lời nói và bằng dấu chứng thì Ngài có ý muốn cho khán thính giả nhận biết thẩm quyền lớn lao đằng sau sứ điệp, và Ngài muốn rằng hiệu quả gặt hái sẽ tăng gấp đôi.  Năm dấu chứng trong chương này là một cái đai thắt lưng, một bầu đựng rượu bằng da, một bầy súc vật, một thiếu phụ đang vượt cạn và gốc rạ - Tất cả đều là những dấu chứng về sự loại trừ, từ bỏ.

Đai thắt lưng hoặc dây nịt lưng mà ông Giê-rê-mi thắt vào lưng mình tượng trưng cho mối tương quan khắng khít giữa Đức Chúa Trời với dân sự (11).  Khi ông cởi đai ra và bỏ ở Pê-rát cho đến khi đai mục nát thì có ý diễn tả tình trạng thấp thỏi, kém cỏi của năng lực mà dân chúng vẫn hằng hãnh diện nhưng này hoá ra chỉ là chuyện hão (7,9).  Có lẽ Pê-rát là một địa danh gần A-na-tốt, quê quán của tiên tri Giê-rê-mi (Pê-rát, Gios 18:23).  Tuy nhiên, Pê-rát cũng có nghĩa là Ơ-phơ-rát và như vậy dấu chứng ám chỉ đến đế quốc Mê-sô-bô-ta-mi.  Ý ngầm ở đây có lẽ là việc Giu-đa tiếp nhận tôn giáo của A-si-ri, mà cũng có lẽ là ý đe doạ về sự lưu đày qua Ba-by-lôn.  (Thật ra sự lưu đày có hiệu quả xây dựng, thay vì huỷ hoại (Gie 24:5-7).  Lâu ngày trong câu 6 chỉ về thời gian dài khi khi dân Y-sơ-ra-ên và dân Giu-đa miệt mài trong tội lỗi (so sánh c.10).  Tự thân tội lỗi này là nguyên nhân gây ra sự sụp đổ của họ.  Đó là điều đương nhiên không cách nào thoát khỏi.

Câu nói khác lạ có vẻ lạc điệu hoặc dư thừa (12) có thể là điểm ông Giê-rê-mi khéo vận dụng để thu hút sự chú ý tức là đề cập đến một chuyện quá đỗi bình thường khiến cho người nghe phải ngạc nhiên chưng hửng hoặc đó là điều xấu xa vì ông biết rõ rằng chẳng bao lâu mức dư dật mà dân sự đang hưởng sẽ kết thúc.  Đáp lại lời chế giễu (12a), ông diễn dịch câu nói về trận say rượu sẽ giáng xuống trên họ.  Ở đây cũng như ở vài chỗ khác (25:15-16) dùng hình ảnh say rượu để mô tả tình trạng hỗn độn chết chóc giữa vòng những dân tộc bị đoán phạt.  Giới lãnh đạo bị ảnh hưởng nhiều nhất, không phải chỉ một vị vua mà nhiều vua bị quân ngoại xâm khống chế (so sánh 22:18-19,24-27  IIVua 24:1-4,8-17,25).

Phần còn lại gồm có ba bài nói riêng rẽ nói chung với dân Giu-đa (15-17).  Dùng ánh sáng và bóng tối là những hình ảnh quen thuộc để ví von về sự giải cứu và trừng phạt (so sánh Es 9:1-2 Am 5:18).  Bóng tối là một yếu tố ví von rất hiệu quả trong thời cổ vì ánh sáng nhân tạo còn giới hạn, và bóng tối nói lên nỗi sợ hãi và cái chết.  Có lẽ ông Giê-rê-mi giảng bài này khi ông còn hi vọng rằng dân sự sẽ chịu ăn năn.  Nay bài này xuất hiện chung với bài giảng nhấn mạnh sự thể vô phương tránh thoát tai hoạ nhằm chứng tỏ rằng có một thời tình cảnh sáng sủa hơn nhiều.  Ông Giê-rê-mi khóc than cho dân sự vì tình cảnh tan nát của họ, chúng ta bắt gặp ông khóc như vậy nhiều lần trước (so sánh Gie 9:1).

Bài giảng thứ hai nói với vua và hoàng thái hậu, tức là vua Giê-hô-gia-kin và bà Nê-bu-ta (IIVua 24:8).  Hoàng thái hậu có thể giữ vai trò rất ảnh hưởng trên Y-sơ-ra-ên thuở xưa (so sánh IVua 2:19).  Theo bài giảng này họ bị truất phế còn xứ bị tàn phá đến tận Nê-ghép, ở biên giới cực nam của Giu-đa là vùng xa xôi nhất mà quân viễn chinh Ba-by-lôn có thể loán đến.

Bài giảng cuối (20-27) nói với Giu-đa trong ngôi số ít, và trong vai một phụ nữ (các địa danh thường ở giống cái, cho nên trong văn thơ các địa danh được nhân cách hoá trong vai phụ nữ).  Dầu vậy cũng có ý nói với giới lãnh đạo nữa (20b,21a).  Quả là mỉa mai khi mà chính cường quốc vốn liên minh với Giu-đa trở mặt thống trị Giu-đa (21a so sánh Gie 4:30).

Giờ đây tiên tri triển khai vai trò phụ nữ trong hình ảnh nhân cách hoá.  Thứ nhất, nỗi đau khi bị xâm lăng được ví von với nỗi đau của thiếu phụ khi chuyển bụng sanh con (21b).  Thứ hai, sự tàn ác của cuộc xâm lăng được ví von với một vụ hãm hiếp (22b,26-27).  Đương nhiên đây cũng là một tai hoạ xảy ra trong thực tế của cuộc xâm lăng.  Thứ ba, một lần nữa nạn điếm đĩ lại được dùng để ví von với tình trạng bất trung của dân sự (27 so sánh 2:20).  Hình ảnh ví von này thật ra cũng là một tình trạng thực tế, vì tôn giáo của người Ca-na-an bao gồm tiết mục đó.  Nếu lo hệ thống hoá những hình ảnh ví von trong vai phụ nữ thì thật là vô bổ và vô ích vì tùy hứng, tùy nghi mà thi sĩ vận dụng những hình ảnh ví von này vào dòng thơ của họ.  Hình ảnh cuối cùng là vấn đề ô uế về mặt nghi thức tôn giáo.  (Ngươi chẳng khứng làm tinh sạch cho đến bao giờ?).  Vì cớ tội lỗi của Giu-đa.  Câu hỏi chỉ có tính cách biện luận thôi.  Ý nổi bật trong c.23 là Giu-đa không làm sao thay đổi được nữa.

7. NẠN ĐÓI, CHIẾN TRANH VÀ NẠN DỊCH (Gie 14:1-15:21)

1. Nạn hạn hán (Gie 14:1-10)

Thời xưa người Y-sơ-ra-ên không xem thường vấn đề nước ngọt và nguồn cung cấp nước.  Người ta đục những cái hồ khổng lồ trong những khối đá lớn (3) rồi trét một lớp vữa ở mặt trong hồ (“hồ nứt” 2:13 là những hồ bị hư lớp vữa này).  Đến mùa mưa hồ chứa đầy nước từ những trận mưa như thác đổ.  Đến mùa hạn những hồ này cung ứng nước trong một thời gian.  Tuy nhiên, trong trường hợp này nạn hạn hán xem ra nghiêm trọng và kéo dài.  Trong thời hiện đại, chúng ta cũng thường nếm trải nỗi khốn khổ vì nạn hạn hán (4-6).

Vì nước là nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống nên phước hạnh căn bản trong giao ước là cung ứng nước đầy đủ, còn thiếu nước là một sự rủa sả nghiêm trọng (Phu 28:12,24).  Trong khi thông thường đối với mọi người chung quy chỉ là một thiên tai, nhưng đối với Giu-đa trong mối tương quan giao ước của Giu-đa với Đức Chúa Trời, hạn hán là một hình thức trừng phạt của Ngài dành cho họ.  Không rõ nạn hạn hán này diễn ra trong thời gian nào có lẽ khá cận thời điểm Ba-by-lôn xâm lăng Giu-đa vì nạn đói đi cặp với gươm giáo trong câu 12.

Tiếp theo cảnh tượng hạn hán là lời xưng tội và lời cầu xin Đức Chúa Trời giải cứu, tương tự như một số những lời than thở trong Thi Thiên (thí dụ Thi 10:1).  Đức Chúa Trời hành động đáp ứng để chứng tỏ Ngài có quyền năng (7).  Từ khi xuất Ai Cập Ngài tỏ cho họ thấy Ngài thật sự là Đấng cứu chuộc Y-sơ-ra-ên.  Cuối cùng Đức Chúa Trời tỏ ra Ngài là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên (9b).  Có lẽ chính môi miệng ông Giê-rê-mi dâng lời cầu nguyện này thay cho Y-sơ-ra-ên.  Nhưng Đức Chúa Trời trả lời một cách rất lạnh lùng (10), khớp với sự kiện Đức Chúa Trời cấm ông cầu thay (cũng xem lần xưng tội giả tạo của dân sự trong Gie 3:22-25).  Câu 9b, từ dân này được dùng nhằm tránh dùng từ “dân sự của Ta” là ngôn từ trong giao ước (9:7).

2. Hết cơ hội cầu nguyện, quá trễ! (Gie 14:11-22)

Việc cấm cầu nguyện (11, so sánh 7:16  11:14) trong bối cảnh này có nghĩa là Đức Chúa Trời không bãi bỏ nạn đói hiện tại lẫn các dấu chứng khác về sự hình phạt.  Trái lại, tình cảnh trong c. 11-16 trở nên trầm trọng hơn vì cớ gươm giáo, đói kém và nạn dịch, bộ ba tai hoạ này nhằm nhận chìm con người hoàn toàn trong cảnh khốn khó cùng cực.  Những lời rủa sả trong Phu 28:15-68 là một hình thức triển khai bộ ba tai hoạ căn bản này.

Dầu vậy, rõ ràng có những tiên tri vội trấn an dân chúng rằng những nỗi khốn khổ mà họ đang gánh chịu không nằm trong phạm vi những sự rủa sả của giao ước.  Tuy nhiên, không phải một khi là một tiên tri chính thức (so sánh IVua 22:5-8) thì đương nhiên bảo đảm có sứ điệp từ Đức Chúa Trời (22:24)!  Tự xưng là có thẩm quyền tiên tri trong khi Đức Chúa Trời chưa giao cho một sứ điệp nào thì thật là ghê tởm, nhẫn tâm.  Tiên tri giả chắc chắn sẽ kéo dân sự sụp đổ theo họ (15b-16).

Câu 17-18 bày tỏ nỗi đau lòng của Đức Chúa Trời một lần nữa được thể hiện qua môi miệng và kinh nghiệm của ông Giê-rê-mi.  Đức Chúa Trời không dửng dưng trước nỗi buồn khổ của dân sự dù rằng chính mình Ngài đã áp đặt những biện pháp trừng phạt đó trên họ.  Sự than khóc của Ngài tương ứng với sự than khóc của Giu-đa (1 so sánh Gie 9:1).

Bài cầu nguyện tiếp theo (19-22) có những nét tương tự như một số thi thiên (thí dụ Thi 74:1-79:13) - phản đối Đức Chúa Trời về biện pháp mạnh mà Ngài áp dụng trên dân sự, xưng tội, cầu xin Ngài hành động trên căn bản giao ước và vì cớ Danh vinh hiển của Ngài.  Xem bài cầu nguyện này là của dân sự thì chưa thoả đáng.  Còn xem là do ông Giê-rê-mi thay cho dân tộc mà cầu nguyện thì Đức Chúa Trời đã gạt bỏ (Gie 14:11).  Còn nếu là lời cầu nguyện của ông Giê-rê-mi trong vai một người Y-sơ-ra-ên trung tín với Chúa, thì còn có thể hi vọng có được một lời hứa về ân điển (xem bình giải 15:19-21).

3. Không còn được thương xót, quá trễ! (Gie 15:1-9)

Tiếp theo lời cầu nguyện của ông Giê-rê-mi trong 14:19-22 lại có một lời tuyên bố rằng cầu nguyện không còn giải quyết được gì nữa vì Đức Chúa Trời đã quyết tâm hình phạt (1).  Ông Môi-se và ông Sa-mu-ên, cả hai đều là tiên tri, cả hai đều nổi tiếng về việc họ cầu thay cho dân sự (Xu 32:11-13  ISa 12:23).  Bản liệt kê những tai hoạ trong c.2 là một dạng hơi khác với bộ ba tai hoạ trong Gie 14:12.  Dĩ nhiên ở đây các tai hoạ này không loại trừ nhau.  Tột đỉnh của các tai hoạ là lưu đày.  Với tính cách diễn luận câu 3 tiếp tục mô tả những cảnh tượng kinh hoàng khi đất nước bị xâm lăng chiếm đóng, coi như toàn thể thế giới thọ tạo được huy động đuổi dân tộc bất trung ra khỏi xứ dù rằng xứ đã được ban cho họ xưa kia.

Chi tiết nhắc đến vua Ma-na-se khiến cho người ta nhớ lại IIVua 23:26.  Tội lỗi của Giu-đa chồng chất từ thế hệ này lên thế hệ kia.  Dầu vậy, vua Ma-na-se bị chọn ra và bị nêu đích danh vì đã phạm tội thờ hình tượng kinh tởm nhất chống lại Đức Chúa Trời (21:1-26).

Đúng theo chủ trương cấm cầu thay cho dân sự, c.5-9 vẽ ra cảnh tượng của điều Đức Chúa Trời đã quyết định.  Câu 5 có nghĩa tương tự như c.6b tức là nay thì đã quá trễ không còn có thể thương xót nữa, Giu-đa đã dứt khoát để lộ ra tâm tánh không xứng đáng với giao ước (6a,7c).  Là một dân tộc rơi vào tình trạng thối lui, xa cách Đức Chúa Trời, họ lại ra sức bứt ra khỏi Ngài thay vì tìm cách trở về với Ngài (so sánh Gie 3:11-14).  Sự chết tràn ngập khắp nơi là một điều trái ngược với lời hứa trong giao ước với Áp-ra-ham về hậu duệ đông đảo vô số (8a so sánh Sa 22:17).  Mẹ sinh bảy con (9) là hình ảnh hạnh phúc hoàn toàn, nhưng niềm hạnh phúc đó biến thành nỗi đau đớn cùng cực hoàn toàn tương phản với hình ảnh trên.

4. Thổ lộ tâm can - Đức Chúa Trời đáp ứng trong tình yêu thương (Gie 15:10-21)

Một lần nữa ông Giê-rê-mi bộc lộ nỗi buồn phiền của mình bắt nguồn từ gánh nặng của chức vụ.  Câu 10-21 gồm có hai lời kêu nài Đức Chúa Trời về bản thân của ông (11 đáp lại lời kêu nài trong c.10,19-21 đáp lại lời kêu nài trong c.15-18).  Ông tiếc là đã được sinh ra (10 so sánh Gie 20:14-18), ý này nhằm diễn dịch cách hiệu quả lòng nghi ngờ của ông đối với lời bảo đảm của Đức Chúa Trời dành cho ông (1:17-19), Đức Chúa Trời nhắc lại nội dung lời bảo đảm đó và hơn nữa Ngài còn bảo đảm rằng rồi đây kẻ thù của ông sẽ cần đến ông khi họ lâm cảnh tuyệt vọng.  Việc này đã thành sự thật khi vua Sê-đê-kia nhiều lần hỏi ý kiến ông Giê-rê-mi trong những ngày tháng cuối cùng của nước Giu-đa (thí dụ 37:3).

Câu 12-14 tiếp tục bảo đảm với ông Giê-rê-mi rằng Đức Chúa Trời đã quyết tâm hình phạt dân sự (dù vậy thông tin này làm ông buồn vui bất định).  Sắt không bẻ nổi từ phương bắc có lẽ chỉ về năng lực bất khả khắc phục của Ba-by-lôn so với sự yếu đuối của Giu-đa - chi tiết này cũng nhắc chúng ta nhớ lại lời của Đức Chúa Trời hứa là sẽ khiến cho ông Giê-rê-mi vững mạnh như trụ sắt để ông đối phó với kẻ thù (1:18).  Bài giảng dành cho Giu-đa trong c.13-14  đặt ở đây cũng nhằm xác quyết với ông Giê-rê-mi rằng Đức Chúa Trời quyết tâm làm trọn những lời mà Ngài đã truyền phán chống nghịch lại dân sự.

Tuy vậy, ông Giê-rê-mi vẫn nghĩ về kẻ thù của mình (15-18).  Câu nói của ông có những lời lẽ tương tự như lời lẽ ở những chỗ khác bày tỏ nỗi lòng dân sự mong muốn được giải thoát khỏi Ba-by-lôn.  Từ vết thương cần được chữa lành (18) cũng được dùng cho dân sự trong 8:22.  Trong 14:9 nói về dân sự mong Danh của Ngài.  Ở đây, c.16 cũng nói về ông Giê-rê-mi như vậy.  Câu 4:10 cáo buộc Đức Chúa Trời đã lừa phỉnh dân sự (bằng cách sai phái tiên tri giả đến với họ), nay ông cũng cáo buộc Đức Chúa Trời như vậy (18).  Tiên tri kinh nghiệm tình cảnh bị bỏ rơi tương ứng với sự kiện dân sự bị bỏ rơi.

Theo đó, khi Đức Chúa Trời an ủi và làm vững lòng ông (19-21) thì coi như Ngài đang làm như vậy đối với dân sự nữa.  Thật vậy, c.19a rất tương tự với lời cầu nguyện của “Ép-ra-im” (một tên gọi của dân sự) trong 31:18b.  Những câu kế tiếp trả lời cho lời cầu nguyện này, như vậy giữa những bài giảng về án phạt, kinh nghiệm của chính ông Giê-rê-mi trở nên lời hứa về sự giải cứu chung cuộc dành cho toàn dân.

Vai trò trung gian hoặc đại diện của ông ý nghĩa như thế đấy.  Cho nên, trong một phương diện, ông chịu khổ thay cho dân sự.  Trong chức vụ tiên tri với tinh thần tự hiến, ông còn giống như Chúa Giê-xu hơn nữa.  Tinh thần cầu nguyện và nỗi đau đớn thống khổ là những dấu chứng căn bản (nhưng xem ra thường bị bỏ qua) về chức vụ lãnh đạo thuộc linh chân thật.

8. VIỄN CẢNH VỀ SỰ LƯU ĐÀY VÀ VỀ SỰ GIẢI CỨU (Gie 16:1-17:27)

1. Báo trước về cuộc lưu đày (Gie 16:1-21)

Ông Giê-rê-mi từng dùng dấu chứng để củng cố cho sứ điệp của mình (Gie 13:1-11), giờ đây toàn bộ cuộc đời của ông trở nên dấu chứng (1-4).  Tại xứ Y-sơ-ra-ên thời cổ, ở độc thân là chuyện bất thường, vì vậy tình trạng độc thân và không có con cái của ông là trường hợp thu hút nhiều sự chú ý.  Thật ra Đức Chúa Trời nhằm dùng cuộc sống của ông làm dấu chứng báo động rằng rồi đây sẽ không còn cuộc sống bình thường nào nữa.  Hiểm hoạ chết chóc biến việc sinh sản thành chuyện dở khóc dở cười (4 so sánh 4:31).  Có gia đình là một phước hạnh vì gia đình tạo một chỗ đứng cho con người trong xã hội và lưu danh con người qua những thế hệ tương lai (Phu 25:5-6  Thi 127:3-5 128:3-6), giờ đây gia đình trở thành một điều rủa sả.

Ông Giê-rê-mi cũng không được phép tham dự lễ tang như người ta thường tổ chức, vì dấu chứng sự chết sẽ lan tràn khắp nơi tại Giu-đa đến nỗi không còn có thể tổ chức lễ tang theo thói thường được (5-7).  Lời lẽ trong c.5b dứt khoát chấm dứt giao ước.  Phước ở đây là shalom (nghĩa đen) là “bình an”, bình yên an ổn hoàn toàn yêu thương là hesed, tình yêu chung thuỷ đặc thù của mối tương quan trong giao ước thương xót hoặc là niềm thương cảm là mỹ đức trong Đức Chúa Trời khiến cho tình yêu thương trở nên sâu đậm hơn, bền vững hơn vượt quá giới hạn yêu cầu của giao ước (thí dụ Thi 51:1  Es 54:7).  Mọi tình cảm đó đều bị dứt bỏ thu hồi một lần nữa ở đây dùng từ dân này thay vì “dân của Ta” để bộc lộ tình ý cách tế nhị và thâm thuý.

Ý chính trong c.8-9 rất tương tự như ý của c.1-4.  Người ta có thể phê bình ông Giê-rê-mi lải nhải mãi về một số vấn đề.  Vì vậy câu thắc mắc của dân sự (10) chứng tỏ họ chậm tiếp thu sứ điệp của Đức Chúa Trời.  Một lần nữa, trong câu trả lời ông tỏ rõ rằng lâu nay họ vẫn miệt mài trong tội lỗi, từ thế hệ này đến thế hệ kia (so sánh Gie 11:7-10).  Tuy nhiên, thế hệ hiện tại phạm tội ghê gớm hơn thế hệ tiền bối.  Họ sẽ bị trừng phạt vì cớ chính tội lỗi của họ (12).  Không thể viện cớ bào chữa là họ không có hoàn cảnh thuận tiện.

Chương này đặt bài giảng về sự trừng phạt và bài giảng về niềm hi vọng bên cạnh nhau - cần xác định thoạt đầu không nhất thiết Giê-rê-mi đã giảng các bài này theo thứ tự hiện nay trong Kinh thánh.  Có thể sau này khi đã lớn tuổi ông sắp xếp những bài giảng có nội dung đối chọi nhau đứng cạnh nhau nhằm bày tỏ sự thương xót luôn luôn đi cặp và tiếp theo sự trừng phạt.  Bài giảng trong câu 14-15 kế sau câu1-13 là một trật tự khá bất ngờ.  Mấy câu này có ý nói rằng đến đúng thời điểm thì Đức Chúa Trời sẽ lại bày tỏ lòng thương xót.  Hiện tại thì Ngài rút lại những điều khoản của Ngài trong giao ước, nhưng không có nghĩa là Ngài đổi khác.  Thật vậy trong tương lai sẽ có một sự giải cứu (khỏi Ba-by-lôn?), kỳ diệu đến độ sẽ chiếm vị trí của cuộc xuất Ai Cập làm trọng tâm trong lời xưng tụng Đức Chúa Trời là Đấng giải cứu họ (so sánh Es 43:14-19).

Bài giảng kế tiếp về sự hình phạt (16-18) dùng hình ảnh ví von về thợ săn bắn và người chài cá để cảnh báo việc Giu-đa sẽ bị phân tán huỷ diệt cách tàn bạo.  Sự kiện họ phải trả giá gấp đôi về tội lỗi của mình nhắc lại 40:2 là câu nói về việc thực hiện xong sự đền bù gấp đôi.

Tuy vậy, ý cuối cùng là sự cứu rỗi giờ đây dành chung cho các dân tộc.  Hình ảnh các dân tộc đến Giu-đa để tìm kiếm Đức Chúa Trời ở một thời điểm trong tương lai cũng được vẽ ra trong 2:2-4  Mi 4:1-2 so sánh Ha 2:14, và được thành tựu trong việc Chúa Giê-xu xoá bỏ đường ranh phân cách người Giu-đa với người ngoại bang (Ga 3:28) cũng được thành tựu trong công tác truyền giảng của hội thánh dành cho người ngoại bang.

2. Nương cậy nơi con người - Tin cậy nơi Đức Chúa Trời (Gie 17:1-13)

Bài giảng thứ nhất (1-4) chế giễu Giu-đa vì họ thực thi trật luật pháp thành văn và đã thể hiện sai lòng tin.  Diễn giả dùng hình ảnh tội lỗi được khắc trên lòng của họ như kiểu luật pháp được khắc trên một bảng bằng đất sét để đả phá một cách trào phúng cố tật của họ trong việc chối bỏ luật pháp (tức là mười điều răn và những điều luật khác) mà họ vẫn tự hào là họ sở hữu bộ luật đó.  Của lễ mà họ dâng lên cho Đức Chúa Trời làm cho tội lỗi của họ càng trầm trọng hơn mà thôi.  Lẽ ra con cái của họ được trưởng dưỡng trong đường lối của Đức Chúa Trời (Phu 6:7) thì lại học đòi thờ các thần khác (2 so sánh với những điều khoản nghiêm cấm trong 12:2-3).  Thế hệ này đã tiếp thu từ bậc tiền bối niềm tin nơi hình tượng nay đem truyền lại cho con cháu của mình.  Nhu cầu dạy trẻ trong đường lối Đức Chúa Trời quả là nghiêm trọng cấp bách không bút mực nào tả xiết.

Núi của ta là Si-ôn, là đền thờ nơi Đức Chúa Trời ngự (xem bình giải Gie 8:19).  Nội dung c.3-4 lặp lại đại ý 15:13-14.  Tiếp đến là cảnh tượng trái ngược (khá tương tự như trong Thi Thiên 1) giữa người nương dựa nơi sức của con người để được an ổn và người tin cậy nơi Đức Chúa Trời (5-8).  Người này bị “rủa sả”, người kia được “phước hạnh” theo tinh thần của giao ước (so sánh Phu 28:1-68).  Giao ước có một điều nghịch lý nhưng lại là một sự thật đời đời:  Tìm cách xây dựng cuộc đời cho vững vàng bằng những nỗ lực ích kỷ, bằng những khả năng riêng của bản thân thì sẽ bị sụp đổ còn tin cậy nơi Đức Chúa Trời bao hàm vâng lời Ngài và cũng có thể hành động đi ngược lại lợi ích của bản thân thì sống, đó là con đường đến sự sống (so sánh Mat 10:39).  Điều nghịch lý này là cơ sở để hiểu giao ước.  Bất chấp sự kiện ông Giê-rê-mi nhấn mạnh trên “đời sống ở trần gian” và những sự thạnh vượng trong tín ngưỡng đặt trên cơ sở giao ước không bao giờ có chuyện tính toán hơn thiệt hoặc mưu đồ tư lợi.

Tính cách đối ngược giữa hai niềm tin cậy dẫn đến ý tưởng Đức Chúa Trời thử nghiệm lòng dạ con người (10 so sánh bình giải Gie 9:7).  Theo Cựu Ước thì lẫn tâm trí và ý chí đều bắt nguồn từ tấm lòng.  Câu 10b không chủ trương sự cứu rỗi do việc làm nhưng nhằm nêu rõ điểm quan trọng là Đức Chúa Trời biết rõ tâm tánh của con người.  Câu 11 minh hoạ một cách sinh động tính cách không xác thực trong sự bất công chẳng qua chỉ là một hình thức tự lừa phỉnh (xem bình giải 5:26-28 về sự thật dưới dạng hành động).  Chủ đề tự gạt gẫm mớm ý cho hai câu tán thán (12-13).  Chẳng riêng gì cá nhân mà cũng có thể toàn thể dân tộc tự gạt gẫm chính mình đến nỗi không nhận thấy Đức Chúa Trời là cội nguồn cho đời sống an ổn hạnh phúc của họ (12-13).  Lời ca ngợi (12) phát xuất từ miệng ông Giê-rê-mi.

3. Lại thổ lộ tâm can nữa (Gie 17:14-18)

Nội dung lời thổ lộ của ông Giê-rê-mi rút từ những vấn đề trong chương này.  Chữa lành thật sự là việc của Đức Chúa Trời (14).  Ở đây ông Giê-rê-mi là mẫu người tin cậy nơi Đức Chúa Trời (7).  Ông đã trung tín với sự kêu gọi bất chấp mọi sự chế nhạo (15-16).  Trong thực tế, kẻ thù của ông, tất cả mọi người ở Giu-đa đều ở dưới sự rủa sả của Đức Chúa Trời (18, so sánh c.5).  Như vậy ở đây nêu lại một vấn đề quan trọng trong sách.  Ở tại Giu-đa có một ai “công chính và đeo đuổi sự chân thật không?” (xem bình giải Gie 5:1).  Vì ông Giê-rê-mi là con người đó, nên ông có thể và có lý do trông đợi sự cứu chuộc của Chúa.  Ông còn có thể làm người đem sự cứu chuộc đến cho dân sự (xem bình giải 15:19-21) vì ông vốn không muốn thấy họ bị hình phạt chút nào (16).  Một người trung tín với Đức Chúa Trời xem ra rất khó dầu vậy lòng trung tín của một người xem ra có ảnh hưởng tốt vô cùng.

4. Giữ ngày Sa-bát (Gie 17:19-27)

Luật lệ về ngày Sa-bát (Xu 20:8-11 so sánh Am 8:5) cấm làm việc vụ lợi một ngày trong bảy ngày, dành riêng ngày đó để thờ phượng và nghỉ ngơi dù là phải hi sinh cơ hội thăng tiến của bản thân.  Khúc Kinh Thánh này mô tả sự buôn bán trao đổi trong ngày Sa-bát chắc là đặc biệt lộ liễu ở cổng thành và có lẽ vua cũng như dân thường đều cùng tham gia (19).  Có thể xem việc tuân thủ luật lệ về ngày Sa-bát là hàn thử biểu đo tình trạng thuộc linh của Giu-đa.  Vì thế vang lên lời cảnh báo nghiêm trọng về vấn đề tuân thủ mạng lệnh này.  Lời hứa về sự tái lập triều đại Đa-vít sẽ được bàn tiếp ở chương khác sau (Gie 23:5-6).

9. HAI CHIẾC BÌNH BỂ VÀ MỘT LỜI THỔ LỘ (Gie 18:1-19:3)

1. Chiếc bình bể được tái chế (Gie 18:1-18)

Hai dấu chứng đều dùng đến hình ảnh cái bình bể (trong khúc Kinh Thánh này và ở Gie 19:1-14) nhưng có ý nghĩa khác nhau xa.  Trong trường hợp này ông Giê-rê-mi đi đến lò gốm và quan sát người thợ gốm làm việc.  Khi người thợ không hài lòng với cái bình vừa nắn xong, ông ta phá bỏ, dùng chính mớ đất sét đó tái chế một bình khác.  Thế là Đức Chúa Trời tuyên bố rằng, y như người thợ gốm vậy, Ngài có toàn quyền xét lại các ý định của Ngài đối với Giu-đa (6).  Nguyên tắc này được triển khai trong c.7-10 và ứng dụng cho mọi dân tộc.  Tuy nhiên, điểm hệ trọng là c. 11.  Dù Đức Chúa Trời đã lên phương án hình phạt dân sự, nhưng vẫn còn cơ hội cho họ ăn năn, gạt tai hoạ sang một bên.  Đức Chúa Trời vẫn quý trọng họ dù họ ăn năn trễ nguyên tắc này cũng được áp dụng trong đời sống và chức vụ của Chúa Giê-xu (Lu 15:11-32  23:40-43).  Đức Chúa Trời thực tâm thực sự kêu gọi họ thay đổi, dù rằng Ngài biết rõ họ sẽ chẳng hưởng ứng đâu (12).  Sau này khi họ bị hình phạt thì đó là hậu quả của sự quyết định chọn lựa của họ.  Trong các bài giảng luận ông Giê-rê-mi giãi bày rất minh bạch ý này.  Vì sao Đức Chúa Trời cần phục chế họ?  Vì họ rất cứng cỏi, chai lì (13-18).  Tác giả dùng hình ảnh trong thiên nhiên để minh hoạ về tính cách bền vững lâu bền:  Tuyết trên đỉnh núi Li-ban, luôn luôn cung ứng những dòng suối mát lạnh.  Sự kiện này trái ngược với lòng bất trung của Giu-đa, đồng thời cũng cho thấy tính cách bất thường của tình trạng này (15 so sánh Gie 8:4-7 về lý luận tương tự).  Bất trung như thế cũng là điên dại tột bực rồi.  Những lối đi cũ (15 so sánh 6:16) tỏ ra an toàn những lối tắt hoá ra nguy hiểm.  Hậu quả tai hại sẽ khiến dân sự thành trò cười Một số phận đương nhiên của những dân tộc chiến bại (so sánh 25:9 51:37, câu Kinh Thánh này nói về Ba-by-lôn).  Đi tiếp theo sau câu 5-12, những câu này tiết lộ rằng lời kêu gọi không đem lại kết quả gì.

2. Thêm một lần thổ lộ tâm can (Gie 18:19-23)

Hoàn cảnh thúc đẩy ông Giê-rê-mi thổ lộ tâm can lần này tương tự như lần đầu tiên (11:18-23) là một vụ âm mưu sát hại ông, có lẽ do giới cầm quyền trong xứ (18).  Ở đây kể ra ba thành phần cho chúng ta manh mối về vai trò của các cấp lãnh đạo trong tổ chức (người khôn ngoan trong vụ này là người cố vấn của vua tương tự như A-hi-tô-phe trong IISa 16:23).  Họ âm mưu hại ông là vì ông đã phê bình chỉ trích họ (Gie 2:8  8:8-11).  Họ không toan tính sát hại ông cách trắng trợn, tuy nhiên có lẽ họ buộc ông vào tội phản quốc (so sánh 37:13), thế là đủ đe doạ tính mạng của ông.

Hầu như toàn bộ lời thổ lộ này là một bài cầu nguyện xin Đức Chúa Trời hình phạt kẻ thù của ông.  Điều tốt mà ông đã làm cho họ (20) là ông đã rao báo sự thật cho họ và cầu nguyện cho họ.  Có thể xem phần chính của bài cầu nguyện (21-22) là sự từ nhiệm của ông Giê-rê-mi.  Họ đã chọn sự hình phạt chuyện đương nhiên phải đến theo đúng ý họ thôi dù có ghê gớm kinh khiếp đến đâu.  Động lực của câu 23 quả là đáng chê trách, nhưng tinh thần vẫn phù hợp với mục đích của Đức Chúa Trời đã công bố và phù hợp với lệnh cấm ông Giê-rê-mi cầu thay cho dân sự.

3. Chiếc bình bể vô phương phục chế (Gie 19:1-13)

Giờ đây ông Giê-rê-mi được lệnh trở lại nhà người thợ gốm (1).  Có lẽ nhà này toạ lạc gần Cổng Mảnh Sành, dường như cổng trông ra trũng Ben Hin-nôm, nằm về phía nam và phía tây thành phố.  Sở dĩ cổng này có tên như vậy có lẽ vì cớ thợ gốm đem những món đồ gốm hư hỏng hoặc không tiêu thụ được ra vất ở đó.  Không cách nào dùng những mảnh vụn trên đống rác để phục chế chiếc bình vừa bể.  Đây là hình ảnh minh hoạ rất xác thực cho sứ điệp mà ông Giê-rê-mi rao ra.  Có lẽ đông người đang làm việc nơi khu đất gần cổng.

Khác với lần trước là lần một chiếc bình gốm được dùng làm dấu chứng, lần này Giê-rê-mi không giữ vai trò quan sát viên nữa trái lại ông phải mua một chiếc bình bằng đất sét để thực hiện dấu chứng.  Ông phải chuẩn bị, sắp xếp trước cho buổi thể hiện dấu chứng này.  Ông mời một số trưởng lão, thường dân lẫn hàng giáo phẩm đến làm nhân chứng (1).  Chắc hẳn một số người trong chính quyền tôn trọng ông Giê-rê-mi nên ông mới có thể tổ chức buổi gặp mặt này (so sánh 26:17-19,24).

Trước khi thực hiện dấu chứng ông Giê-rê-mi tuyên bố rằng Giu-đa chắc chắn sẽ bị tiêu diệt (3-9).  Ông nói với vua của Giu-đa cũng như với các trưởng lão cho thấy bài nói này có tính cách nghiêm trọng (3, so sánh 17:20).  Ông tố cáo tội thờ hình tượng nhất là thờ Ba-anh và các thần ngôi sao (so sánh 8:2  IIVua 21:5).  Tự thân những cuộc thờ phượng này là đáng gớm ghiếc rồi vì đầy tính cách phản nhân loại (5 so sánh Gie 7:31  IIVua 21:6).  Song song họ cũng phản bội Đức Chúa Trời là Đấng đã ban cho họ sự sống và giao ước (4-5b).  Sự hình phạt không những nghiêm trọng mà còn được thi hành cách công khai (3  21:12).  Họ bị hạ nhục vì cớ họ vốn có nhiệm vụ bày tỏ Đức Chúa Trời cho các dân tộc khác.  Quả là một thực tế đầy mỉa mai (5-6 kể như lặp lại nội dung câu Gie 7:31-32).  Câu 7-9 vẽ ra cảnh tăm tối khi bị vây và thời gian sau trận đánh.  Xem ra trong thời gian Giê-ru-sa-lem bị vây năm 586 T.C. (Ca 2:20) dân thành phải ăn thịt người.

Sau đó ông Giê-rê-mi thực hiện dấu chứng, đập bể chiếc bình đã được nung cứng, do đó giờ đây không còn có thể phục chế (10-11 so sánh Gie 18:4).  Hai dấu chứng đi chung với nhau minh hoạ rất rõ về sự chuyển tiếp giữa thời gian còn cơ hội ăn năn qua thời gian hết cơ hội ăn năn là quá trễ giờ đây Đức Chúa Trời không từ bỏ quyết định của Ngài là sẽ hình phạt Giu-đa.  Dấu chứng này như dấu chứng trong 13:1-11 củng cố sứ điệp.  Tô-phết là nơi người ta dâng trẻ con làm của lễ (7:31) đã từng bị vua Giô-si-a làm cho ô uế trong thời vua cải tổ tôn giáo (tức là khiến cho không còn là một nơi thích hợp cho cuộc tế lễ nữa,  IIVua 23:10).  Giờ đây toàn bộ thành phố Giê-ru-sa-lem sẽ rơi vào tình trạng như Tô-phết.

10. ÔNG GIÊ-RÊ-MI RỦA SẢ NGÀY CHÀO ĐỜI CỦA MÌNH (Gie 19:14-20:18)

1. Ông Giê-rê-mi giảng trong đền thờ (Gie 19:14-20:6)

(Gie 19:14-15). Ông Giê-rê-mi chọn trũng Ben Hin-nôm để thực hiện dấu chứng chắc chắn với ngụ ý Tô-phết làm biểu tượng cho sự huỷ phá.  Giờ đây ông đi lên đền thờ và rao giảng lời cảnh báo tại đó nữa (14-15 so sánh Gie 7:1-15).

Chuyện xảy ra ngay sau đó cho thấy (20:1-6) ông khuấy động được một làn sóng chú ý trong giới cao cấp.  Dù trong giới lãnh đạo có một số người bằng lòng gặp ông (xem bình giải 19:1) nhưng một số khác thì không.  Pha-su-rơ có vẻ giữ vai trò một cảnh sát viên trong giới thầy tế lễ, phụ trách giữ trật tự trong khu vực quanh đền thờ.  Ông này có thể là một mẫu điển hình cho nhóm người đó xét theo bài giảng của chính Giê-rê-mi.  Ở đây lần đầu tiên ghi lại sự bắt bớ, đánh đập tiên tri Giê-rê-mi dù là Đức Chúa Trời đã báo trước là ông sẽ chịu khổ đau về mặt thể xác nữa (1:19).  Ngài có hứa là kẻ thù không thể thắng hơn ông nhưng không hứa là ông được miễn trừ khỏi sự đau đớn, chịu khổ về phần thể xác.  Cũng vậy, Chúa bảo đảm là ông Giê-rê-mi sẽ đắc thắng vì cớ Giê-xu đã sống lại, nhưng không bảo đảm miễn trừ ông khỏi khổ đau và sự chống đối.

Sau khi được thả ra, ông Giê-rê-mi giảng cho Pha-su-rơ một bài giảng như bài ông đã từng giảng về các thầy tế lễ và cấp lãnh đạo nói chung (4-6).  Ông đổi tên Pha-su-rơ là Ma-go Mít-sa-bíp (“kinh hãi tứ phía”) vì ông này không chịu nghe lời của Đức Chúa Trời mà chính thái độ này chắc chắn sẽ đẩy dân Giu-đa vào số phận kinh khủng.  Thật là mỉa mai khi ông ta tưởng rằng mình đang bảo vệ thể chế và truyền thống thì ông lại gây ra chuyện trái ngược.  Rồi đây chẳng bao lâu đền thờ cùng những nghi lễ và những của báu mà ông lo bảo vệ, giữ gìn trong an ninh trật tự sẽ chẳng còn nữa chức vụ thầy tế lễ, sẽ chẳng có nghĩa lý gì trong xứ người.  Chẳng có thể chế nào, cơ quan, tổ chức nào dù tốt đến đâu có thể tự thân là cứu cánh.  Trái lại chỉ được kể là tốt khi thể chế đó, cơ quan, tổ chức đó hướng về, trực chỉ đến vương quốc của Đức Chúa Trời.

Gie 20:1-6; xem giải nghĩa 19:14-15

2. Thổ lộ tâm can lần cuối (Gie 20:7-18)

Tiếp theo bài tường thuật vụ ông Giê-rê-mi bị hãm hại là phần ông thổ lộ nỗi thống khổ của mình vì cớ chức vụ tiên tri.  Sắp xếp như thế là rất ổn.  Khúc Kinh Thánh này thật ra gồm có hai phần c.7-13 và c.14-18.  Phần thứ nhất (7-13) được viết theo hình thức một Thi thiên than vãn.  Trong Thi thiên này tác giả khiếu nại với Đức Chúa Trời và nhận được một lời bảo đảm hoặc một câu trả lời (thí dụ Thi 13:1-6).

Ở đây ông Giê-rê-mi khiếu nại với lời lẽ mạnh bất chấp những lời Đức Chúa Trời bảo đảm là sẽ bảo vệ ông Giê-rê-mi vẫn cảm thấy Ngài đối xử bất công đối với ông khi để cho ông phải sống một cuộc đời nguy hiểm, biết đâu chừng Ngài đã dẫn dắt ông đi sai lối (7a) rồi những sự hi sinh lớn lao của ông cho chức vụ tiên tri hoá ra vô ích.  Ông cũng cảm thấy bị thúc đẩy rao giảng về tai hoạ mà không cách nào cưỡng lại được  và vì thế ông bị cô lập khỏi những người khác  một cách không cần thiết (7b-9).  Trong câu 10 ông trình bày tình cảnh thảm thương khi bị mọi người từ bỏ.  Kinh hãi tứ phía có lẽ là một tên giễu mà người ta đặt cho ông, dùng đúng cái tên mà ông đặt cho Pha-su-rơ (3).  Từ bạn hữu ở đây có ý mỉa mai chua chát họ chỉ chờ chực ông vấp váp rồi sụp đổ thôi.

Trong đời sống của chúng ta có lẽ cũng thường kinh nghiệm một cảm giác bị cô lập như thế. Tuy nhiên, cảm giác thường gây hiểu lầm và lầm lẫn trong khi những định ý của Đức Chúa Trời là dành điều tốt lành cho những người hầu việc Ngài cách trung thành.  Đây là một sự thật có cơ sở vững chãi ổn định hơn là cảm giác (Ro 8:28-30).  Ông Giê-rê-mi nhớ lại điều ông đã từng biết (11-12), lại nhận biết lẽ thật là Đức Chúa Trời là Đấng công bình, Ngài sẽ đối xử với ông đầy chân tình, còn ông thổ lộ tâm can với Đức Chúa Trời không chút e dè.  Lời kêu than trong câu 12 tương tự như lời kêu than trong lần thổ lộ tâm sự trước (Gie 11:20).  So sánh câu lớn tiếng ca ngợi với Thi 146:1-2  147:1).

Vừa mới bình tĩnh hồi tâm đó mà Giê-rê-mi lại buông lời tuyệt vọng cùng cực (14-18) thật là trái khoáy.  Rủa sả chính ngày chào đời của mình (so sánh Giop 3:3-19) là một cách phản bác mạnh mẽ những mục đích tốt đẹp của Đức Chúa Trời dành cho chính mình hoặc dành cho thế giới.  Ý tưởng khơi dậy trong Gie 15:10 không ngừng đeo theo cho đến đây.   Ông rủa sả cả người đưa tin vui.  Ý cuối cùng (18) là liệu có gì tốt có thể phát sinh từ cảnh khốn đốn mà ông đang gánh chịu!  Liệu có điều gì tốt có thể phát sinh từ những tai hoạ sắp đổ xuống dân sự không?

Trục trặc của ông Giê-rê-mi nằm trong lãnh vực đức tin, ngay cả những bậc thánh vĩ đại nhất cũng có thể bị mối nghi ngờ dày vò.  Điều đáng ghi nhận là không phải âm thầm đấu tranh trong tâm trí mà tháo gỡ được mớ bòng bong này.  Trái lại, cần tiếp tục sống cuộc đời vâng phục dù phải trả giá cao trong những vấn đề thực tiễn.  Lắm khi đức tin và sự nghi ngờ quần thảo nhau rất căng như tác giả minh hoạ bằng cách sắp hai khúc Kinh Thánh 7-12 và 13-18 đi cặp với nhau.

Trên một phương diện, câu 18 kết thúc phần đầu của sách.  Liệu nỗ lực dai dẳng của ông Giê-rê-mi trong chức vụ rao giảng về sự hình phạt có đem lại hiệu quả tốt đẹp nào không?  Ông cảm thấy là không thể có điều tốt đẹp nào cả.  Dầu vậy, đến lúc Đức Chúa Trời sẽ chứng tỏ cho ông thấy là có.

11. CHỈ CÒN CÁCH LƯU ĐÀY ĐỂ GIẢI CỨU (Gie 21:1-24:10)

1. Vô phương thoát khỏi Ba-by-lôn (Gie 21:1-14)

Chức vụ tiên tri của ông Giê-rê-mi đến một khúc quanh quan trọng trong lịch sử.  Từ trước đến nay không có nhiều chi tiết cho biết thời điểm của các sự việc.  Giờ đây, chúng ta đứng trước thời trị vì của vị vua cuối cùng cai trị trên nước Giu-đa sau khi vua Nê-bu-cát-nết-sa tấn công Giu-đa lần thứ nhất (IIVua 24:15-20  Gie 37:1-2).  Các bài tiên tri không được sắp xếp hoàn toàn đúng theo thứ tự thời gian.  Giai đoạn chúng ta đang bàn đến kết thúc ở điểm này để chứng tỏ rằng giải pháp giờ đây không còn là chuyện Giu-đa có chịu ăn năn trở về với Đức Chúa Trời hay không, mà là Giu-đa hưởng ứng như thế nào đối với sự hình phạt của Đức Chúa Trời.  Nay không còn thắc mắc gì nữa về danh tánh của kẻ thù.  Đến thời của vua Sê-đê-kia thì ai ai cũng đều nhận biết chua xót rằng kẻ thù của họ chẳng ai khác ngoài Ba-by-lôn. 

Trong chuỗi ngày cuối thời trị vì, khi mối đe doạ của Ba-by-lôn càng lớn dần, vua Sê-đê-kia thường xuyên tham khảo ý kiến của tiên tri Giê-rê-mi (sứ giả tên là Pha-su-rơ ở đây là một người khác, không phải người đã đánh đòn ông, 20:2).  Vua hi vọng ông có một sứ điệp giải cứu (2) như tiên tri Ê-sai cũng đã từng rao ra một sứ điệp giải cứu trong thời A-si-ri xâm lăng.  Vì vậy vào thời đó Giê-ru-sa-lem được giải cứu cách lạ kỳ (IIVua 19:32-36).

Tuy nhiên, sứ điệp của ông Giê-rê-mi vẫn không đổi hướng.  Ông tuyên bố rằng hiện nay không còn cơ hội được cứu nữa, mà là bị hình phạt.  Nội dung lời phúc đáp cho vua thật là kinh khủng (4-6) không phải chỉ có quân Ba-by-lôn tấn công Giu-đa mà Đức Chúa Trời cũng tấn công Giu-đa nữa.  Thế là coi như đảo ngược lời bảo đảm của Đức Chúa Trời khi xưa là Ngài sẽ vì cớ dân sự Ngài mà chiến trận chống lại kẻ thù, trục họ ra khỏi xứ Ca-na-an nay Ngài dùng đúng lời lẽ đó nhưng chống lại dân sự (so sánh Phu 1:29-30  4:34  5:15  7:19).  Lời cam đoan về sự hình phạt này đã rất cụ thể, đầy kinh hãi:  Chính vua Sê-đê-kia sẽ là nạn nhân (Gie 52:8-11).  Nê-bu-cát-nết-sa là công cụ của Đức Chúa Trời trong cuộc trừng phạt này, lời lẽ ở đây cho thấy mức độ vua Nê-bu-cát-nết-sa được Đức Chúa Trời dùng để đổ cơn thạnh nộ của Ngài xuống trên dân sự (7 so sánh 13:14). 

Sắc lệnh dứt khoát là như vậy, nhưng cũng vẫn còn một cơ hội (8-10), đó là chấp nhận sự hình phạt của Đức Chúa Trời hoặc cố chống cự và trốn tránh.  Con đường sống và con đường chết thoạt đầu có nghĩa là chọn tuân thủ giao ước hoặc từ bỏ giao ước (Phu 30:15,19).  Giờ đây có nghĩa là chấp nhận hoặc từ khước sự hình phạt.  Xưa kia Đức Chúa Trời đã trục các dân tộc khác ra khỏi lãnh thổ này để dân Giu-đa được vào cư ngụ, nay Ngài đem họ trở vào và trục dân Giu-đa ra.  Dân Giu-đa phải chấp nhận biện pháp trừng phạt này vì đây là lối thoát hi vọng duy nhất.  Lòng nhân từ của Đức Chúa Trời vẫn còn đó khi Ngài sửa trị họ.

Bài giảng cuối (11-14) ôn lại nhiệm vụ của hoàng gia (nhà Đa-vít) xưa nay (12a), tức là cai trị trong sự công bình (khá mỉa mai là tên riêng Sê-đê-kia có nghĩa là “Đức Chúa Trời là công nghĩa”).  Lời lẽ ở đây nhằm chứng tỏ rằng nhà Đa-vít cụ thể là vua Sê-đê-kia đã không làm trọn nhiệm vụ của mình.  Họ coi sự hiện diện bảo đảm của Đức Chúa Trời (IISa 7:11b-16) là một cớ để tự hào về sức mạnh của mình (13b).  Lòng yêu thương của Đức Chúa Trời bị xuyên tạc và lợi dụng như thế nên hậu quả là giao ước bị xoá bỏ.  Số phận của Giu-đa là một lời cảnh cáo đối với tất cả những ai ỷ vào ân điển của Đức Chúa Trời mà tự phụ.

2. Những bậc vua chúa kém cỏ (Gie 22:1-30)

Bài giảng trên mở đường cho một loạt bài giảng chống lại các vua cai trị trong thời ông Giê-rê-mi thi hành chức vụ.  Câu 2-3 triển khai Gie 21:12a và ứng dụng cho các vua cách tổng quát (vì không nêu đích danh vua nào cả, dù lời lẽ nhằm nói về một vị vua mà thôi).  Thành phần không được ưu đãi (3) là những người đặc biệt đáng được luật pháp cẩn trọng bảo vệ (IISa 8:15 về vụ khác mà Đa-vít xử sự cách công bằng so sánh Phu 14:29).  Lời hứa trong c.4 tái xác quyết IISa 7:11b-16 (cũng so sánh Gie 17:25 về lời lẽ được dùng), nhưng nêu rõ, nhấn mạnh trách nhiệm của các vua.

Bài giảng tiếp theo (6-7) bàn về sự giàu có, phong phú của Giu-đa, nhất là hoàng gia.  Ga-bát là một vùng phì nhiêu, tiêu biểu cho phước hạnh của Đức Chúa Trời (so sánh 8:22).  Lượng nước mưa rơi xuống Li-ban cũng dồi dào nên Li-ban nổi tiếng về những cây bách hương hùng vĩ  gỗ bách hương vốn được dùng vào việc xây dựng đền thờ và cung điện (IVua 5:6-10  7:2).  Của cải của Giu-đa nay hoá ra rất mong manh, bấp bênh, lệ thuộc vào ý chỉ của Đức Chúa Trời là Đấng đã ban cho họ thế mà họ không còn biết trân trọng và công nhận lòng nhơn từ ưu ái của Ngài.

Chủ đề của lời tiên tri (so sánh Gie 18:16) là công khai rao báo về nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Giu-đa (8-9).  Đây cũng là cách công bố sự thành tín của Đức Chúa Trời, dù rằng Giu-đa không trung thành với Ngài.

Câu 10-30 giảng cụ thể về các vua, nêu rõ ràng danh tánh của họ (xem phần dẫn nhập về niên đại), có lẽ tiên tri Giê-rê-mi giảng những điều này vào những thời điểm khác nhau, trong hoặc sau thời gian trị vì của mỗi vị vua.  Hay tác giả gom các bài này chung một loạt ở đây nhằm triển khai vấn đề thất bại của các vua (tất cả đều cai trị trước vua Sê-đê-kia.  Chương 21 đã viết về chuyện của vua này).

Câu 10-12 nói về vua Giô-si-a (người chết) và con trai của vua (tên là Sa-lum trong chương này) cai trị một thời gian rất ngắn rồi bị đày qua Ai Cập (IIVua 23:30-34).  Có lẽ sự kiện vua này bị báo trước về cuộc lưu đày của dân Giu-đa - do đó mà họ khóc than.

Câu 13-19 bàn về vua Giê-hô-gia-kim.  So sánh với vua cha là Giô-si-a thì vua Giê-hô-gia-kim thua xa.  Vua bị chỉ trích về tội bất công và sự tự cao tự đại (15b-16).  Ở đây vua Giô-si-a tương xứng với lý tưởng của nhà Đa-vít.  Thiếu chút nữa là ông Giê-rê-mi ca ngợi vua vì công cuộc cải tổ tôn giáo (IIVua 22:1-23:37).  Dầu vậy, ông không đề cập đến công cuộc cải tổ này, coi như biện pháp đó không đủ sức giải cứu triều đại khỏi tuột dốc và chung cuộc là sụp đổ.  Thời trị vì của vua Giê-hô-gia-kim sau đó đã chứng tỏ sự thật này.  Chính cá nhân vua bị cáo buộc về mọi điều gian ác mà tiên tri Giê-rê-mi lên án trong các bài giảng chung cho mọi người trong nước (so sánh Gie 6:13  7:6  26:20-23).  Biện pháp hình phạt dành cho vua là lúc chết đi vua không được chôn cất trang trọng với những nghi thức khóc than trong lễ tang (những câu tán thán Ôi chị em Ta!... Ôi anh em Ta!... có lẽ là lời than khóc của những người khóc mướn).  Thảm hơn nữa là vua chẳng được chôn cất tử tế gì cả.  Kinh thánh không có ghi lại sự băng hà và lễ tang của vua dù là chắc chắn vua bị Ba-by-lôn truất phế (IIVua 24:2-6 cũng so sánh Gie 16:5-6).

Kế tiếp là một bài giảng chung cho Giê-ru-sa-lem (dùng đại danh từ ngôi thứ hai số ít  c. 20-23).  Từ các vùng phía bắc và phía nam (20) vang lên tiếng cầu cứu đồng minh của mình (A-si-ri và Ai Cập so sánh 2:36), nhưng hoàn toàn vô vọng.  Vì Giê-ru-sa-lem chìm đắm trong tình trạng bất trung (21 so sánh 7:25-26) nên giờ đây họ lãnh hậu quả là không còn ai cứu giúp cả (22, ở đây những kẻ chăn chỉ về giới lãnh đạo của họ).  Đến c.23 bài giảng tập trung nói về các vua.  Trong câu này Li-ban tượng trưng cho cung điện (IVua 7:2). 

Với chân dung của Giê-hô-gia-kin phòng triển lãm có đủ mặt chân dung bọn vô lại (bản nguyên ngữ Hi Bá Lai và một số bản dịch tiếng Anh văn dùng tên riêng Cô-nia), Giê-hô-gia-kin được kế vị cha mình là Giê-hô-gia-kim sau khi vua này bị truất phế (IIVua 24:6).  Dấu ấn chứng tỏ vua thuộc về Đức Chúa Trời (giao ước của Đức Chúa Trời với nhà Đa-vít, biểu trưng là cái ấn) cũng không làm sao bảo vệ cho vua khỏi bị đày sang nước khác cho đến hết đời (24-27).

Bài giảng cuối chống lại Giê-hô-gia-kin mô tả số phận của toàn bộ triều đại nhà Đa-vít.  Vua bị bắt đem đi khỏi xứ tiêu biểu cho sự kiện toàn dân cũng sẽ bị đem ra khỏi xứ vốn thuộc về họ.  Câu 29 ghi lại nỗi phiền muộn của Đức Chúa Trời trước cảnh xứ của Ngài bị xử tệ (so sánh Gie 2:7 12:4).  Câu cuối đánh dấu chấm hết của triều đại.  Dù Giê-hô-gia-kin có con trai nhưng chẳng ai sẽ được cai trị trên Giu-đa (ISu 3:17-18).

3. Một tân vương trong dòng Đa-vít (Gie 23:1-8)

Hai câu đều lặp lại án phạt trên đám chăn chiên giả (so sánh c.22b).  Tuy nhiên, giờ đây ông Giê-rê-mi nhìn vào tương lai xa hơn thời lưu đày (3-8).  Dân sự của Đức Chúa Trời sẽ hưởng một tương lai xa tốt đẹp hơn.  Chính Ngài sẽ là người chăn của họ (3).  Ngài sẽ ủy quyền chăn bầy cho những người lãnh đạo trung thành (4).  Hơn nữa, dù triều đại nhà Đa-vít trong lịch sử không còn nữa, một tân vương thuộc dòng Đa-vít sẽ nổi lên y như Đa-vít vậy.  Danh hiệu của Ngài là Đức Chúa Trời, sự công nghĩa của chúng ta.  Trong Hi Bá Lai dạng từ này rất tương tự với dạng từ của tên riêng Sê-đê-kia.  Nhưng vị vua này rất xứng hợp với danh hiệu của mình.  Ở đây tiên tri Giê-rê-mi tỏ lòng hi vọng trông đợi Đấng Cứu Thế, con trai Đa-vít và sự ra đời của Ngài sẽ làm nên sự cứu chuộc cho Y-sơ-ra-ên (Mat 1:1  Lu 2:29-35).  Tuy nhiên, hi vọng đặt nơi tương lai gần là dân Giu-đa được phục hồi, được hoàn trả đất đai xứ sở, khởi đầu cho một chặng mới trong đường lối đối xử của Đức Chúa Trời dành cho dân sự của Ngài (7-8 so sánh Gie 16:14-15).  Sự kiện này sẽ là điềm báo trước về sự cứu rỗi lớn lao trong tương lai xa.

4. Chuyện các  tiên tri giả (Gie 23:9-40)

Cũng như chương 22 gom chung những lời giảng dạy của tiên tri Giê-rê-mi chống lại các vua, khúc Kinh Thánh này gom những lời giảng chống lại các tiên tri giả là những người không có sứ điệp của Đức Chúa Trời mà cứ đứng ra dẫn dắt dân Giu-đa đi vào đường sai lạc (so sánh 5:31 6:13-14).  Ông cảm thấy khốn khổ một phần vì người ta xuyên tạc lạm dụng lời của Đức Chúa Trời (9).  Ông đã cáo buộc dân sự một cách chung ra sao thì giờ đây ông cũng cáo buộc họ bằng những lời đó.  Lòng bất trung của họ ví như tội tà dâm (so sánh 5:7-8 9:2) nhưng cũng có thể lắm là phát xuất từ tình trạng tà dâm trong thực tế (14), nếp sống của họ phản bác mọi lời họ tự xưng mình là sứ giả của Đức Chúa Trời (xem bình giải 5:26-28).  Tiên tri hoặc thầy tế lễ tuy là hai chức sắc khác nhau nhưng chung quy cũng cùng hội cùng thuyền với nhau, cũng tội lỗi như nhau.  Sự gian ác nằm trong đầu não của guồng máy quốc gia rồi (11 so sánh Exe 8:5-18), nên giờ đây Giê-ru-sa-lem tương tự như Sô-đôm và Gô-mô-rơ nổi tiếng trong dân gian về mặt gian ác xấu xa (Sa 19:1-29).  Từ đám lãnh đạo chủ chốt này sự xấu xa mặc tình lan rộng như khối u ác tính (15).  Tuy nhiên, sự gian ác xấu xa có bông trái riêng của nó (12 so sánh Thi 73:18).

Cốt lõi trong lời cáo buộc tiếp theo đối với tập thể tiên tri (16-24) là họ không có đứng trong sự bàn luận của Đức Chúa Trời (18).  Trái lại, thẩm quyền duy nhất đằng sau những lời họ tiên tri chính là trí tưởng tượng của họ mà thôi (16b).  Vì vậy, đương nhiên là họ rao ra một sứ điệp sai trật, rêu rao về nền hoà bình, an ổn trong khi sự thực khác hẳn (17b).  Có lúc, như vào thời của tiên tri Ê-sai, các tiên tri giả rêu rao về sự hoà bình thì lại đúng (IIVua 19:32-36).  Tuy nhiên, có thể lắm là các tiên tri giả đó bắt chước ông Ê-sai, nhái lại sứ điệp của ông đấy thôi.  Điểm ông Giê-rê-mi muốn vạch ra là họ không nhận được một sứ điệp thực sự nào cả vì họ không được Đức Chúa Trời giao phó cho nhiệm vụ đó.  Họ đã méo mó ý muốn của Đức Chúa Trời.  Hơn nữa, sự dối trá của các tiên tri giả không qua mặt Đức Chúa Trời được (23-24).

Ông Giê-rê-mi triển khai vấn đề các tiên tri lừa dối (25-32), so sánh quyền năng của lời tiên tri thật với sự bất lực vô nghĩa của những lời tiên tri dối trá, đặt điều dối trá.  Ông kết thúc với lời phản đối là họ đã giảm giá trị lời của Đức Chúa Trời.  Ai ai cũng điều tìm kiếm lời của Đức Chúa Trời nhưng với mục đích là để vấn vuông thành tròn cho đúng với ý mình.  Rồi ai ai cũng xưng là có lời của Đức Chúa Trời phán với mình nhưng chẳng qua chỉ mạo nhận khiến cho người ta không còn nhận biết sứ điệp từ Đức Chúa Trời nữa.  Giờ đây, phán quyết là trừng phạt (33b).  Hễ ai tiên tri sai ý của Đức Chúa Trời thì bị vạch ra để hình phạt (34).  Trong công tác rao truyền lời của Đức Chúa Trời cho hội thánh của Chúa Giê-xu Cứu thế và cho thế giới chưa tin Ngài, nhiệm vụ của chúng ta cũng nặng nề nghiêm trọng như thời các tiên tri thuở xưa - là rao sứ điệp của Ngài cách đầy đủ nguyên vẹn, không cắt xén cho phù hợp với mục đích của chúng ta, cũng không cố tình tô điểm cho hấp dẫn lý thú hơn.

5. Hai giỏ đựng đầy trái vả (Gie 24:1-10)

Phần sách này (chương 21-24) mở đầu với một sứ điệp truyền cho vua Sê-đê-kia, rồi đi ngược thời gian nhận định về vị vua tiền bối (chương 22).  Giờ đây, mạch tư tưởng quay trở lại với vua Sê-đê-kia, là người được vua Nê-bu-cát-nết-sa đưa lên làm vua bù nhìn trên Giu-đa sau khi vua Giê-hô-gia-kin bị lưu đày (597 T.C.,  IIVua 24:8-17).  Có lẽ bối cảnh của hai sự hiện thấy này là thời gian cuối đời trị vì của vua Sê-đê-kia, là lúc quân đội Ba-by-lôn lại xuất hiện ở biên thùy.

Một trong những phương tiện mà Đức Chúa Trời dùng để bày tỏ ý của Ngài cho tiên tri là sự hiện thấy (so sánh Gie 1:11,13  Am 7:1).  Trái vả tốt và trái vả thối là tượng trưng cho việc được mùa và mất mùa, và như vậy là nói bóng gió về sự kiện dân sự được phước hạnh trong giao ước hoặc không được phước gì cả.  Sự hiện thấy này giữ vai trò quan trọng nòng cốt trong sứ điệp mà ông Giê-rê-mi rao giảng.

Cũng như trong chương 21, tai hoạ lưu đày nay đã cầm chắc trong tay vấn đề giờ đây nằm ở chỗ là dân sự phản ứng như thế nào đối với quyết định của Đức Chúa Trời về chuyện hình phạt họ.  Mớ trái vả tốt tượng trưng cho đám người chấp nhận rằng họ cần phải chịu cảnh đất nước bị quân Ba-by-lôn tàn phá và bản thân họ bị lưu đày (5).  Qua những hình ảnh quen thuộc trong sách Giê-rê-mi là xây dựng và vun trồng Đức Chúa Trời hứa cho thành phần này sự sống (Gie 1:10  18:7-10).  Sự sống này đến sau trận hình phạt, sau khi “giựt sập” và “bứng nhổ”.  Như vậy, sự sống của Giu-đa tương tự như sự sống của Chúa Giê-xu, là Đấng đã chịu chết rồi sống lại - và của hội thánh là tập thể đã chết với Ngài, để được sống lại (Ro 6:1-4).  Như vậy sự cứu rỗi đến sau sự hình phạt là một qui trình đậm nét trong sự khải thị của Đức Chúa Trời vì đường lối của Ngài đối với thế giới.

Hơn nữa, sự sống mới có ưu điểm mới.  Câu 7 gói ghém mẫu câu quen thuộc dùng trong bản giao ước (Họ sẽ là dân của Ta, và Ta sẽ là Đức Chúa Trời của họ, Le 26:12).  Tuy nhiên, điều mới, ưu điểm mới là Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ một tấm lòng mới có khả năng nhận biết Ngài.  Rốt cuộc nhờ vậy họ mới vâng theo tiếng kêu gọi của Ngài mà từ trước nay họ vẫn từ khước (Gie 4:4).  Dầu vậy không có nghĩa là ý muốn của con người bị đè bẹp hoặc gạt bỏ hoàn toàn.  Trái lại, bằng một cách thức nào đó Đức Chúa Trời khiến cho ý muốn của con người ăn khớp với ý muốn của Ngài.  Theo như Kinh Thánh dạy thì hoá ra được như vậy là nhờ có Chúa Giê-xu ngự trị trong người tin theo Ngài và họ có Thánh Linh mà Đức Chúa Trời ban cho để cư ngụ trong tâm hồn của họ (Có thể nghiên cứu thêm Ro 8:1-17 về vấn đề này).  Lời lẽ dùng trong sách Giê-rê-mi bắt đầu tiết lộ nội dung của giao ước mới (so sánh Gie 31:31-34). 

Mớ trái vả hư thối tượng trưng thành phần dân chúng không chấp nhận sự hình phạt của Đức Chúa Trời.  Dĩ nhiên, trong thực tế họ không thể tránh né khỏi sự hình phạt nhưng trong thâm tâm họ không chấp nhận sự thật đó.  Vua Sê-đê-kia tiêu biểu cho lớp người trông cậy vào Ai Cập để chận đứng sự đe doạ của Ba-by-lôn.  Cầu cạnh, đeo đuổi Ai Cập tượng trưng cho sự phản động chống lại Đức Chúa Trời (so sánh Phu 17:16).  Thái độ này cứ tồn tại cho đến cuối chuyện của ông Giê-rê-mi, làm một dấu chứng rằng một số người nhất quyết không chịu vâng lời của Đức Chúa Trời, bất chấp mọi chuyện.

12. ĐỨC CHÚA TRỜI ĐOÁN XÉT CÁC DÂN TỘC (Gie 25:1-38)

1. Đến phiên Ba-by-lôn bị đoán xét (Gie 25:1-14)

Đến năm 605 T.C. thì vua Giê-hô-gia-kim trị vì được bốn năm và ông Giê-rê-mi làm tiên tri được hai mươi ba năm.  Trong năm này, dưới sự lãnh đạo của Nê-bu-cát-nết-sa quân Ba-by-lôn chiếm được quyền kiểm soát Xi-ri và Pa-lét-tin nhờ thắng quân Ai Cập ở trận Cạt-kê-mít bên bờ sông Ơ-phơ-rát.  Thật vậy, theo Da 1:1 một số người Giu-đa bị bắt đi lưu đày trong năm đó.  Kể từ đây, rõ ràng Ba-by-lôn là một lực lượng đáng gờm.

Ông Giê-rê-mi lợi dụng thời gian này để ôn lại.  Ông đã liên tục rao truyền cách nhất quán một sứ điệp tương tự với sứ điệp của các tiên tri khác là những vị cảnh báo về sự hình phạt (4).  Ông rao một sứ điệp (4-6 tóm lược đại ý) kêu gọi ăn năn và đưa ra một cơ hội tiếp tục sống trong giao ước và trong xứ (so sánh bài giảng của Giê-rê-mi trong đền thờ Gie 7:3-7).  Ở đây nhắc lại sứ điệp đó để chứng tỏ rằng dân sự không để tâm chú ý đến những điều ông giảng ra (3,7 so sánh 7:25-26).

Cũng vậy, bản án ở đây (8-11) ở dạng tóm lược, lặp lại lời lẽ của bản án đã rao lần trước (9c so sánh 24:9, câu10 so sánh 16:9).  Tuy nhiên những lời lẽ này nhuộm màu u ám hơn khi thế lực Ba-by-lôn như cường triều dâng cuồn cuộn.  Chẳng riêng gì Giu-đa mà cả những dân tộc khác cũng khốn khổ dưới tay Ba-by-lôn (9,11).  Thêm một tin tức kinh khủng hơn:  Giu-đa (và các dân tộc khác) sẽ làm nô lệ cho Ba-by-lôn trong thời gian 70 năm (12).  Thế hệ bị bắt đi đày sẽ không bao giờ nhìn thấy quê hương nữa.

Dầu vậy, tin tức đen tối này như manh áo rách có lót một lớp vàng bạc, vì rồi đây thế lực của Ba-by-lôn sẽ cạn, cuộc lưu đày cũng chấm dứt theo.  Nê-bu-cát-nết-sa được kể là tôi tớ của Đức Chúa Trời (9) vì cớ vua là công cụ thi hành sự hình phạt trên dân Giu-đa, nhưng đã làm nhiệm vụ một cách tàn bạo và đầy lòng ích kỷ vì thế sẽ đến phiên Ba-by-lôn rơi vào sự hình phạt của Đức Chúa Trời thôi (12,14).  Với sứ điệp này ông Giê-rê-mi trở nên “vị tiên tri cho các dân tộc” (1:5).

Ba-by-lôn sẽ rơi vào tay Si-ru hoàng đế của đế quốc Mê-đi Phe-rơ-sơ năm 539 T.C. (IISu 36:20-23).  Mốc thời gian bảy mươi năm có thể là từ năm 605 tức là lúc lời tiên tri này được rao ra và là lần đầu tiên Nê-bu-cát-nết-sa bắt một số dân đi lưu đày cho đến năm 539 T.C. hoặc liền sau năm đó tức là khi đám phu tù đầu tiên hồi hương hoặc tính từ năm 586 T.C., khi đền thờ bị tàn phá đến năm 516 T.C. khi đền thờ được tái thiết.

2. Chén thạnh nộ của Đức Chúa Trời (Gie 25:15-38)

Thế là vào khoảng giữa sách, Giê-rê-mi rao ra sứ điệp trừng phạt các dân tộc một cách chung.  Trong các sách tiên tri khác cũng có những bài giảng tương tự bàn về quyền tể trị của Đức Chúa Trời trên mọi dân tộc và nhắc nhở họ về trách nhiệm của họ đối với Ngài (Es 13:1-20:6  Am 1:1-2:3).  (Trong Kinh Thánh Cựu Ước bản dịch Hi Lạp phần chính trong khối những lời tiên tri của ông Giê-rê-mi chống lại các dân tộc thật ra được sắp ở đây, có lẽ vì tôn trọng trật tự trong nguyên bản).

Có lẽ tiên tri Giê-rê-mi thể hiện dấu chứng về việc uống chén thạnh nộ bằng một cử chỉ tương đương nào đó.  So sánh với Gie 13:12-14 về chuyện dáng đi loạng choạng, vấp ngã của người say được dùng để tiêu biểu cho hình phạt của Đức Chúa Trời.  Trong chương 46-51 sẽ trình bày đầy đủ hơn những biện pháp hình phạt các dân tộc.  Cần chú ý điểm quan trọng là Ba-by-lôn (được nêu dưới danh hiệu của vua Si-sắc) sẽ uống chén cuối cùng sau khi hoàn tất các công tác phá phách (26).  Điểm quan trọng không kém là lời xác định rằng Giu-đa không chịu hình phạt một mình (29).  Nỗi khổ đau của dân tộc này không khiến người ta nghĩ rằng Đức Chúa Trời yếu đuối bất năng vì chính Giu-đa mang Danh của Ngài (so sánh 7:12), trái lại sẽ chứng minh rằng Ngài là chủ tể trên toàn thế giới.  Hai bài giảng cuối về sự hình phạt (30-31,32-38) chứa những lời lẽ quen thuộc trong lối giảng luận của ông Giê-rê-mi, đều có nội dung trực tiếp chống các dân tộc khác một cách chung.  Con sư tử vốn được xem là quốc gia thù địch Giu-đa (2:15) nay là Đức Chúa Trời (38 so sánh Am 3:8).

13. ÔNG GIÊ-RÊ-MI TRỞ NÊN VỊ TIÊN TRI VỀ SỰ CỨU CHUỘC (Gie 26:1-29:32)

1. Thoát chết trong đường tơ kẽ tóc (Gie 26:1-24)

Bối cảnh của chương này trở về với đền thờ trong thời gian đầu thời trị vì của vua Giê-hô-gia-kim.  Câu 2-6 là một bài giảng ngắn, tóm gọn bài giảng trong đền thờ ở chương Gie 7:1-15 nhấn mạnh cùng một ý là Giu-đa phải vâng theo lời của Đức Chúa Trời chớ đừng tin cậy cách vô ý thức nơi thể chế, cơ quan, tổ chức mà họ đang có.  Ở đây, lặp lại ý này nhằm dẫn vào phần tường thuật về thái độ của các thành phần trong dân sự đối với lời của Đức Chúa Trời do tiên tri rao truyền ra. 

Các thầy tế lễ và tiên tri (8) dẫn đầu một toán người đi bắt ông Giê-rê-mi.  Họ tức giận trước những lời phê bình chỉ trích của ông đối với các cấp trong nước và đối với sự thờ phượng, nhưng ông được toàn dân ủng hộ.  Ông bị cáo buộc là một tiên tri giả, một tội danh có mức hình phạt là tử hình (Phu 18:20).  Nhưng khó lòng nhận biết và phân biệt một tiên tri thật với một tiên tri giả.  Muốn biết một lời tiên tri là thật hoặc giả thì có một cách thử nghiệm đó là chờ thời gian để xem nội dung lời tiên tri có thành sự thật trong thực tế hay không (18:21-22) nhưng trong trường hợp của tiên tri Giê-rê-mi thì thời gian chờ đợi kết quả của lời tiên tri này có thể kéo dài lâu lắm.  Có thể nào chỉ căn cứ vào nội dung sứ điệp mà kết án không?  Một bằng chứng giúp họ có thể buộc tội ông là những lời tiên tri trong quá khứ tuyên bố rằng Giê-ru-sa-lem sẽ được bảo vệ không bị tàn phá (Es 31:4-5  37:33-35).

Thế là có một phiên toà của các quan cầm quyền trên Giu-đa xử ông do các thầy tế lễ và các tiên tri đứng ra kiện cáo (10-11).  Tất cả dân sự giờ đây đứng về phía các quan.  Bên cáo phải đưa ra bằng chứng có sức thuyết phục các quan và dân sự là ông Giê-rê-mi có tội.  Cảnh tượng chóng thay này buộc chúng ta phải liên tưởng đến thái độ bất định của nhiều người đối với tiên tri và tâm trạng dễ chao đảo nghiêng lệch của đại quần chúng tại Giu-đa.  Ông Giê-rê-mi tự binh vực rằng ông thật sự là một tiên tri của Đức Chúa Trời, và ông lặp lại lời ăn năn cùng với một lời ngầm đe doạ thành phố và đền thờ (12-15).

Các quan và toàn dân binh vực Giê-rê-mi (16).  Một số trưởng lão trong Giu-đa cũng ủng hộ quyết định này.  Họ nhắc lại trường hợp tiên tri Mi-chê giảng một sứ điệp tương tự bài bác tội lỗi của Giê-ru-sa-lem (Mi 3:8-12).  Một khi thực tế chứng tỏ tiên tri Mi-chê giảng như vậy là đúng, thì biết đâu thực tế cũng chứng minh tiên tri Giê-rê-mi nói đúng và nếu xưa kia dân sự không chịu ăn năn như vua Ê-xê-chia đã từng ăn năn thì biết đâu tai hoạ đã giáng xuống.

Trường hợp bi thảm của tiên tri U-ri (20-23) chứng tỏ ông Giê-rê-mi không phải là người duy nhất rao ra sứ điệp hình phạt.  Rủi thay, khác với Giê-rê-mi tiên tri U-ri không được sự ủng hộ của thành phần có thế lực nên đã mất mạng trong tay vua Giê-hô-gia-kim và đám cận thần trung thành (so sánh c.24). Bài tường thuật này không đơn thuần kể chuyện của tiên tri Giê-rê-mi như lối văn tiểu sử thời nay.  Trái lại, bài này nhằm viết về sự đáp ứng của người Giu-đa đối với lời của Đức Chúa Trời.  Vua Giê-hô-gia-kim bị lên án là một người từ chối lời của Đức Chúa Trời một cách trắng trợn và hung tợn (Gie 36:1-32).

Làm thế nào nhận biết lời của Đức Chúa Trời luôn luôn là một vấn đề phức tạp.  Một dấu chứng là sự quyết liệt dấn thân của người giảng dạy (như Giê-rê-mi và U-ri bằng lòng hi sinh mạng sống mình vì cớ sứ điệp).  Dù vậy, đây không phải là một dấu chứng luôn luôn đúng.  Dấu chứng khác là sứ điệp rao ra phù hợp với những điều chúng ta biết về Đức Chúa Trời.  Không thể thay thế sự học hỏi, kinh nghiệm tích luỹ và sự cầu nguyện bằng một cách nào khác để nhận biết và phân biệt lời của Chúa.  Trở ngại chính không cho phép chúng ta tìm ra ý chỉ của Đức Chúa Trời là chúng ta bị cám dỗ ngã theo đa số (ngay cả trong môi trường của hội thánh) thay vì nhiệt thành tìm kiếm sự thật.

2. Thần phục vua Nê-bu-cát-nết-sa (Gie 27:1-22)

Trở về với cảnh đời trong thời trị vì của vua Sê-đê-kia năm 594/593 T.C. (so sánh Gie 28:1).  Dường như lúc đó vua Sê-đê-kia mải lo mưu tính với các đại sứ các quốc gia được nêu danh (3), có lẽ là trong liên minh với Ai Cập, vì cuộc nổi dậy chống Ba-by-lôn.  Đây đúng là việc tiên tri Giê-rê-mi đã ngăn can vua Sê-đê-kia (21:1-10  24:1-10).  Cái ách (2) là một vật dụng khéo chọn để làm dấu chứng về sự thần phục, vừa làm dấu chứng về sự thần phục đòi hỏi nơi các nước đó, vừa làm dấu chứng về mức độ thần phục thảm hại hơn nếu họ không vâng lời Đức Chúa Trời một lần nữa.

Ông Giê-rê-mi rao giảng với thẩm quyền của một tiên tri cho các dân tộc.  Khi nói đến trách nhiệm của các nước ông dùng lời lẽ đầy năng lực của Đức Chúa Trời (5 so sánh Phu 4:34) để chứng tỏ Ngài là Đấng sáng tạo mọi vật trên đời này và như vậy Ngài có quyền đòi hỏi các bậc cầm quyền phải phục tùng Ngài (4-7).  Cuối cùng ý này được chứng minh đối với Ba-by-lôn (7 so sánh Gie 25:12  Da 4:25).

Thoạt tiên, Ngài buộc Giu-đa phải quy phục Ba-by-lôn, rồi Ngài đòi hỏi tất cả các dân tộc phải quy phục, đặc biệt là các nước trong liên minh.  Bộ ba tai hoạ chiến tranh, nạn đói và nạn dịch (8 so sánh Gie 14:12) tiêu biểu cho sự hình phạt khủng khiếp sẽ diễn ra nếu họ không vâng theo lời truyền dạy của Ngài.  Các quốc gia đó cũng có các tiên tri giả.  Họ cũng ủng hộ giới chấp chính đương thời và tuyên bố rằng mọi chuyện đều ổn trong khi chẳng có an ổn gì cả (9-10).  Chẳng riêng gì Giu-đa phải lo tìm kiếm  sự thật, cũng chẳng riêng gì Giu-đa phải phục tùng lời của Đức Chúa Trời.  Rồi đến ngày nay cũng chẳng riêng gì thành phần tự xưng là Cơ Đốc nhân phải tìm kiếm lẽ thật và phải phục tùng lời của Đức Chúa Trời.

Nội dung sứ điệp dành cho vua Sê-đê-kia (12-15) nay nghe quen tai rồi (so sánh 21:1-10).  Tuy nhiên, trong cảnh hiện tại có một nhóm tiên tri mạnh mẽ ủng hộ vua Sê-đê-kia theo đuổi đường lối chống Ba-by-lôn.  Do đó, nỗ lực của ông Giê-rê-mi nhằm khắc phục sức đối kháng có tính cách khẩn cấp hơn.

Khúc Kinh Thánh cuối bày tỏ tính chất láo khoét trong sứ điệp của các tiên tri giả.  Tình hình lúc đó chứng tỏ cuộc lưu đày đã mở màn.  Vua Giê-hô-gia-kin đã bị bắt đem qua Ba-by-lôn, một số báu vật trong đền thờ, những vật dụng sang trọng đắt tiền mà vua Sa-lô-môn đã sắm đều đã bị chở đi để biểu dương rằng các thần Ba-by-lôn là có quyền lực hơn.  Thế là giờ đây các tiên tri giả giở giọng lập luận rằng chẳng bao lâu các món đó sẽ được trả về thôi.  Lý lẽ của họ càng ngày càng đi ngược lại chứng cớ thực tế.  Dầu vậy, họ khăng khăng giữ vững lập trường, khi mà ngay cả những vật dụng còn sót lại trong kho của đền thờ cũng sắp bị chở đi hết (19 so sánh Gie 52:17 so sánh IVua 7:15-37).

Chúng ta không thể nào mường tượng thấu đáo tầm nghiêm trọng trong sự mất mát những báu vật đó.  Đền thờ và các món trang trí trang bị đúng là do của Đức Chúa Trời ban cho ho.  Nhưng nếu họ đã biến chúng thành đối tượng của niềm hi vọng, tin tưởng (so sánh Gie 7:4) thì đương nhiên Đức Chúa Trời phải cất bỏ những món đồ đi.  Phương diện nghiêm trọng của cuộc lưu đày là mất mát đền thờ.  Tuy nhiên lưu đày cũng là cơ hội để tìm kiếm Đức Chúa Trời một cách thành tâm.  Đây là lý do khiến cuộc lưu đày trở nên phương tiện Đức Chúa Trời chọn để tái tạo dân của Ngài.  Đôi khi cần chứng tỏ cho dân của Chúa thấy rằng họ đã chuyển qua tin cậy những thứ nhìn thấy bằng mắt, những điều biểu thị bên ngoài thay vì tin cậy chính Đức Chúa Trời.

3. Sứ điệp của Giê-rê-mi được minh chứng là đúng (Gie 28:1-17)

Nỗ lực của ông Giê-rê-mi trong việc tố cáo các tiên tri giả một cách chung nay chĩa mũi xoáy cụ thể vào một người.  Trong thời gian tiên tri Giê-rê-mi còn mang cái ách trên cổ để cảnh báo về sự kiện dân tộc sắp phải phục tùng Ba-by-lôn (Gie 27:2), thì ông Ha-na-nia công khai phản đối ông Giê-rê-mi (1b) và thách thức dấu chứng của ông (2).  Rồi ông Ha-na-nia tuyên rao chính sứ điệp mà ông Giê-rê-mi phản bác (2-4 so sánh 27:16), tức là hứa hẹn rằng chẳng bao lâu áp lực của Ba-by-lôn sẽ rút đi thôi.  Nói như thế chẳng khác gì phủ nhận chuyện Đức Chúa Trời đang thi hành biện pháp hình phạt trên dân sự tức là cho rằng không có cơ sở nào cho Ngài nổi giận cả.

Vấn đề của chương 26 là làm sao nhận biết và phân biệt tiên tri thật với tiên tri giả.  Ông Ha-na-nia cũng được gọi là tiên tri (1) và ông cũng ăn nói, dẫn dịch theo giọng tiên tri (2a nếu như ông nhân danh bất cứ một thần nào khác ngoài Đức Chúa Trời mà tiên tri là ông bị tố cáo liền, Phu 13:1-5  18:20).  Lúc đầu tiên tri Giê-rê-mi không có cách nào chứng minh mình đúng còn ông Ha-na-nia sai.  Ông chỉ có thể trả lời rằng ước chi thông tin của ông Ha-na-nia đúng với sự thật (6).  Tuy nhiên, ông vẫn giữ vững lập trường vì ông biết rõ rằng Đức Chúa Trời đã bày tỏ điều đó cho mình rồi, ông cũng đưa ra lời thách thức (9).  Lời thách thức này đặt cơ sở trên một trong những yếu tố xác định một vị tiên tri thật.  Yếu tố đó là nội dung sứ điệp có thành tựu trong thực tế hay không (18:21-22).  Ông Ha-na-nia không tỏ vẻ nao núng chút nào, mà còn bẻ gãy cái ách trên cổ ông Giê-rê-mi.  Như vậy với một hành động tiêu biểu đầy sức thuyết phục nhất (xem bình giải Gie 13:1) ông Ha-na-nia tự nhận là mình biết ý chỉ của Đức Chúa Trời.  Với nước cờ đó coi như ông thắng cuộc nên ông Giê-rê-mi rút lui (11).

Giờ đây Đức Chúa Trời xác minh rằng ông Giê-rê-mi đúng là một tiên tri thật bằng một phương án đầy kịch tính.  Đó là Ngài cho ông Giê-rê-mi biết án phạt dành cho ông Ha-na-nia.  Do đó ông Giê-rê-mi trở bước quay lại và lặp lại sứ điệp của mình về việc dân Giu-đa sẽ phải phục tùng Ba-by-lôn, gập mình dưới cái ách bằng sắt chớ không phải bằng gỗ nữa (12-14 so sánh 27:6).  Rồi ông củng cố cho sứ điệp này bằng một lời tiên báo rằng ông Ha-na-nia sẽ chết nội trong năm đó.  Trong khi có thể cần một thời gian dài hơn để chứng minh sứ điệp của tiên tri Giê-rê-mi là sự thật thì cái chết của ông Ha-na-nia sẽ là một bằng cớ sớm và hùng hồn nhất để chứng minh ông Giê-rê-mi là tiên tri thật.

Ông Ha-na-nia chết vì ông là một tiên tri giả (Phu 18:20) đã từng ngăn cản không cho dân sự nhận thấy mối nguy hiểm có thật đang đến trên họ.  Cái chết này cũng là một bằng cớ minh oan cho tiên tri Giê-rê-mi kể từ đây.  Nếu lâu nay người ta có thể viện ra một lý do nào đó, để không quan tâm nghe theo lời nói của ông thì nay không còn một lý do nào nữa.

Câu chuyện đầy tính cách nghiêm trọng này mãi mãi là một lời cảnh cáo đối với những ai tự nhận rằng mình có sứ điệp của Đức Chúa Trời câu chuyện cũng kêu gọi những ai muốn làm thầy thì trước tiên và mãi mãi nên làm một người học trò khiêm nhu.

4. “Hãy xây dựng nhà cửa ở Ba-by-lôn” (Gie 29:1-14)

Trong thâm tâm người dân tại xứ Giu-đa hết sức hi vọng rằng những hậu quả của cuộc xâm lăng lần thứ nhất của Ba-by-lôn chẳng bao lâu sẽ được tháo gỡ, còn người đã bị lưu đày cũng vậy.  Giờ đây ông Giê-rê-mi gởi cho họ một bức thư (tiện đây cần chú ý là giữa người trong nước và người xa xứ họ vẫn có thể thông tin liên lạc, người ta vẫn đi lại trên con đường giao thông giữa hai nước.  Gia đình Sa-phan lại góp sức giúp đỡ Giê-rê-mi (trong c.3 so sánh Gie 26:24).  Các tầng lớp giai cấp trong xã hội đều có mặt ở Ba-by-lôn (đa số là người thuộc giai cấp thượng lưu và giai cấp giàu có IIVua 24:14).  Trong nội tâm của họ cũng diễn ra sự giằng co, nghĩ ngợi vì các tiên tri vẫn cứ thuyết phục họ rằng chẳng bao lâu họ sẽ được hồi hương (8-9).

Bức thư của ông Giê-rê-mi chứa những thông tin có vẻ đen tối, nhưng cũng có những điểm đem lại khích lệ lớn lao cho họ.  Thông tin đen tối là cuộc lưu đày sẽ kéo dài thời gian chớ không ngắn đâu.  Ông nhắc lại thời gian lưu đày mà ông đã rao ra là bảy mươi năm (10 so sánh Gie 25:11).  Dầu vậy, từ trong “cõi chết” ở xứ lưu đày phát sinh những hạt giống cho sự sống mới.  Giờ đây trong bức thư ông Giê-rê-mi lật ngược những lời lẽ có vẻ đen tối trong các bài giảng thuở truớc.  Trước kia ông không lập gia đình để làm một dấu chứng rằng sẽ đến thời trong xứ Giu-đa không còn cưới hỏi hoặc sinh con cái (16:2), nhưng nay người dân bị lưu đày có thể sống bình thường, tái lập những quan hệ bình thường (6).  Trước kia, ông rao ra một sứ điệp dân tộc sẽ đi đến chỗ bị tiêu diệt (4:7), nay họ có thể gia tăng dân số .

Ngay khi tưởng chừng mọi kế hoạch đều vô nghĩa thì Đức Chúa Trời đã có chương trình hoạch định lại cho dân sự (11).  Chính biện pháp có vẻ như chấm dứt giao ước lại là biện pháp đem lại sự sống thật cho những đối tượng lâu nay chỉ có sự sống chớ chưa sống thật.  Cuộc lưu đày này minh hoạ rất hùng hồn cho sự kiện giữa lý tưởng của Đức Chúa Trời và những kế hoạch của con người có khoảng cách khác biệt rất lớn (Ch 16:9  Es 55:8).  Khi tưởng chừng mọi hi vọng đều tiêu tan thì hoá ra chỉ các giấc mơ hào nhoáng tiêu tan thôi đối với Đức Chúa Trời luôn luôn là có tương lai thật sự.  Trong tương lai đó, ngự trị tinh thần sẵn sàng và vui mừng thông công với Ngài, không còn u ám vì những chuyện tư kỷ, tư lợi của con người.  Tương lai này cũng không phải là chuyện mơ tưởng viễn vông của ảo giác trong phần “thuộc linh”.  Tương lai này là một thực tại trong cuộc sống bình thường do đó có chuyện cưới hỏi, lập gia đình, xây dựng nhà cửa cơ ngơi và đến thời điểm thì diễn ra cuộc hồi hương (14).  Câu sẽ đem các ngươi trở về từ xứ lưu đày gói ghém ý nghĩa sâu sắc phong phú hơn là khi mới đọc qua, ngụ ý về sự phục hồi cuộc sống cách đầy trọn trong mọi phương diện.  Trong những chương kế tiếp ý này sẽ được lặp lại nhiều lần.

5. Các tiên tri ở Ba-by-lôn (Gie 29:15-32)

Có người phản đối rằng đám dân lưu đày có tiên tri riêng của họ (15) ông Giê-rê-mi đáp lời bằng một bài tóm tắt sứ điệp của ông về sự hình phạt, nhắc lại sự hiện thấy về những trái vả hư thối.  Sự hiện thấy này lên án thành phần không chấp nhận cuộc lưu đày (17 so sánh Gie 24:8-10).  Dù là vua Sê-đê-kia còn ngự trên ngai, dù là đền thờ còn đứng vững tại Giê-ru-sa-lem, đám dân bị lưu đày không nên nuôi hi vọng ảo.

Bức thư tiếp tục với lời lẽ lên án những tiên tri như ông Ha-na-nia (chương 28) dám tuyên bố là lời giảng của tiên tri Giê-rê-mi không có giá trị.  Ông A-háp và ông Sê-đê-kia (không phải là vua) đã chứng tỏ họ là tiên tri giả qua đời sống tà dâm (20-23).  Căn cứ vào thực tế đã xảy ra đúng như lời tiên báo của tiên tri Giê-rê-mi đối với ông Ha-na-nia (28:17), những lời tiên tri của ông Giê-rê-mi đối với họ nghe thật kinh dị (22).  Dù ở xa vạn dặm, ông Sê-ma-gia người Nê-hê-lam phản đối Giê-rê-mi tối đa qua một bức thư hồi âm cho một thầy tế lễ ở Giê-ru-sa-lem.  Ông này cũng vậy, dám ăn nói quá đáng, rồi đây ông ta sẽ nếm trải cơn giận của Đức Chúa Trời (24-32)

14. HỨA HẸN VỀ MỘT GIAO ƯỚC MỚI (Gie 30:1-33:26)

1. Phục hồi sức lực (Gie 30:1-24)

Toàn bộ ba chương kế tiếp trình bày những lời hứa cứu chuộc dành cho Giu-đa và dĩ nhiên là cả Y-sơ-ra-ên, sau sự bị hình phạt bằng cuộc lưu đày lâu năm.  Chủ đề là giao ước mới (Gie 31:31-34) và điểm tập trung chính là đám dân lưu đày được hồi hương.  Nhưng hiểu cho cùng thì hành động cứu chuộc của Đức Chúa Trời nhằm chỉ về sự kiện Ngài dựng nên một lớp người mới trong hội thánh của Chúa Giê-xu (xem phụ lục ở cuối bài bình giải của chương 31).

Bầu không khí trở nên tươi mới, chúng ta chuyển từ tình cảnh bị hình phạt chuyển sang sự cứu rỗi.  Sau khi đã dồn nhiều năng lực, hơi sức vào việc phản đối những người hứa hẹn một sự cứu rỗi quá sớm, nay tiên tri Giê-rê-mi rao giảng trong tư cách tiên tri về sự cứu rỗi.  Âu cũng là một sự đổi thay khá lý thú.  Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa ông Giê-rê-mi và ông Ha-na-nia (chương 28) nằm ở chỗ ông Giê-rê-mi quả quyết rằng phải chịu sự hình phạt trước vì tự thân hình phạt cũng nằm trong phương án phục hồi.

Ông Giê-rê-mi được lệnh viết ra giấy những lời tiên tri (2), nhằm làm chứng cho một việc được tiến hành lâu nay (chương 36).  Mạng lệnh này đánh dấu cho một khúc quanh trong sứ điệp.  Chương 30:1-3 là cơ sở cho chủ đề của chương 30-33.  Đó là dân của Đức Chúa Trời được phục hồi trọn vẹn vào mối thông công với Ngài trong giao ước (3 so sánh 29:14).

Phương pháp áp dụng trong chương 30 là trích dẫn những lời tiên tri về sự hình phạt rồi ứng đối bằng sứ điệp cứu rỗi.  Do đó c.5-7 nhắc lại những bài nói trước kia về sự hình phạt (câu 5, so sánh 20:3,10  câu 6, so sánh 4:19,31).  Ngày của Chúa (7) vốn được A-mốt dùng để chỉ về tai hoạ sắp đến (Am 5:18).

Trái ngược với mọi nỗi đau, sẽ có một ngày giải cứu (8).  Rốt cuộc đã đến lúc bẻ gãy cái ách (đối chiếu 28:10-14 và dân của Đức Chúa Trời sẽ thật tâm phục vụ Ngài dưới thời trị vì của một vị vua chân thật thuộc dòng họ nhà Đa-vít (9 so sánh 23:5-6).  Đúng ra là toàn thể Y-sơ-ra-ên (hoặc Gia-cốp) được phục hồi dù là dưới một danh xưng khác.  Lời hứa của Đức Chúa Trời về sự hiện diện của Ngài ở giữa dân sự (11 so sánh Xu 3:12) là căn bản của giao ước và là cơ sở để kêu gọi họ đừng sợ (Es 43:2).  Câu 11 nhắc về biện pháp kỷ luật của cuộc lưu đày.

Một phân đoạn mới bắt đầu nhắc lại những lời tiên tri về sự hình phạt (12-15).  Hình ảnh ví von về thương tích và bệnh tật chiếm nhiều chỗ (so sánh Gie 8:11,22).  Đồng minh theo nghĩa đen là “người yêu”, nhắc lại hình ảnh ví von về vụ điếm đĩ (2:33 so sánh 22:20-22).  Vụ kiện Giu-đa ra toà (13a)vốn là do Đức Chúa Trời khởi xướng (2:9,29).

Tiếp theo là hai bài giảng “đáp lời” của sự cứu rỗi (16-17,18-24).  Bài thứ nhất bắt đầu với từ “Do đó” (bản NIV: Nhưng).  Kể ra đáng ngạc nhiên vì phần này đến kế tiếp c.15b.  Bài giảng này cho thấy là Đức Chúa Trời lên phương án cứu chuộc Y-sơ-ra-ên / Giu-đa căn cứ hoàn toàn vào quyết định đầy ân sủng của Ngài.  Những người áp bức họ sẽ bị lật đổ (so sánh 25:12).  Rốt cuộc họ được chữa lành thật sự (17), không phải sự lành bệnh giả tạo do các tiên tri giả đề xướng cách vô hiệu quả (so sánh 8:11,15).

Bài giảng thứ hai mô tả một dân tộc hạnh phúc và thịnh vượng (19,20), là thái cực của sự nghèo khó, khốn khổ và chết chóc khi họ bị hình phạt (4:29  16:9).  Ở đây tác giả mường tượng đến việc tăng gia dân số cho quê hương, không phải chỉ tăng gia số dân lưu đày đang ngụ tại Ba-by-lôn như ý của 29:6, do đó có việc xây dựng nhà cửa (18), thành thị và đồn lũy (có lẽ đây là ý nghĩa của câu 18c).  Rồi một người trong dân tộc sẽ cai trị họ (21).  Đó là dấu hiệu chứng tỏ họ không còn bị áp bức nữa.  Tất cả những điều này nằm trong việc tái lập giao ước, như mẫu câu trong giao ước cho thấy (22 so sánh Le 26:12).

Hai câu cuối lặp lại câu Gie 23:19-20.  Tác giả cố tình lặp lại hai câu đó để bày tỏ rằng giờ đây đã đến thời điểm mà ông đã đề cập trước kia.  Sắp đến ngày dân sự hiểu chương trình của Đức Chúa Trời rồi.

2. Đám tàn dân trở về (Gie 31:1-26)

Chương này mô tả một số cảnh tượng của một dân tộc được phục hồi, mở đầu bằng mẫu câu của giao ước (1 so sánh 30:22) và một bài thơ khẳng định về sự tái tạo sau trận hình phạt (2).

Hình ảnh gái đồng trinh chỉ được dùng một lần trước kia (18:13-15) với ý mỉa mai ở đây (4) được dùng đối ngược với hình ảnh “gái điếm” khi trước (2:20).  Trong giao ước mới, những vết nhơ thời xưa được tẩy sạch.  Hơn nữa, có thể mô tả sự sống mới bằng những hình ảnh hân hoan ấm cúng.  Hình ảnh ví sánh dân Y-sơ-ra-ên với gái đồng trinh dẫn đến hình ảnh đầy màu sắc rực rỡ về đám thiếu nữ trong xứ kéo nhau đi múa hát có lẽ vào dịp lễ hội  (so sánh Cac 21:20-21).  Giới nông dân sẽ gặt hái, xong mùa họ sẽ đến thờ phượng tại Giê-ru-sa-lem ăn mừng sự dư dật mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ (6b).  Sở dĩ có cảnh đời như vậy là vì Đức Chúa Trời không ngừng yêu thương họ dù Ngài phải trừng phạt họ tình yêu thương của Ngài không hề cạn, nhưng được biểu thị cho họ dưới một hình thức đặc biệt (lòng từ ái, 3). 

Một dân tộc từ xứ lưu đày trở về (7-9), một đám tàn dân (Gie 6:9) nhưng đông đảo, đem theo người bệnh.  Dầu vậy họ vui mừng phát khóc vì Đức Chúa Trời là cha của họ đã chọn cho họ một lối đi bằng phẳng.  Y-sơ-ra-ên là dân làm đầu các nước (7), không còn là dân bị Đức Chúa Trời hình phạt bởi tay Nê-bu-cát-nết-sa nữa (27:8), Họ được như ngày nay là chỉ vì họ được chọn để nhận biết lòng yêu thương của Đức Chúa Trời (so sánh Phu 7:7-8).

Thêm một bài giảng dành cho các dân tộc (10-14).  Một dân tộc vui sướng được người chăn bầy (so sánh Gie 23:3) chăm sóc.  Phước hạnh được mô tả bằng những lời lẽ cụ thể: lúa mì, rượu và dầu, là những biểu tượng cơ sở  cho sự giàu có phong phú (so sánh Phu 7:13), một khu vườn và sự múa hát (lại múa hát, so sánh c.4).  Mọi tầng lớp trong dân được nêu danh qua những cặp từ đối nghĩa phái nam-phái nữ, trẻ-già, thầy tế lễ-thường dân (13-14).  Cảnh trạng nầy nhằm chứng tỏ cho các dân tộc biết rằng Đức Chúa Trời đối xử thành tín đối với dân của Ngài.  Ngài có thể ban phước cho họ theo như Ngài đã hứa, chẳng có một quốc gia nào có thể cầm chân họ một khi Ngài đã quyết tâm giải cứu họ (11,  Ro 8:31).

Hình ảnh ví von nặng phần nữ tính tiếp nối (15-22) với Ra-chên  khóc than vì mất con.  Ra-chên là vợ nhỏ của Gia-cốp, mẹ của Giô-sép (Sa 35:24) ông tổ của các chi phái trong vương quốc miền Bắc là Ép-ra-im và Ma-na-se.  Sự khóc than này tiêu biểu cho sự buồn khổ của Y-sơ-ra-ên, nhất là các bà mẹ vì những sự mất mát của mình trong cuộc lưu đày qua vùng phía nam Ba-by-lôn.  Đáp lại sự khóc than này là sự phục hồi (16-17).  Ép-ra-im (tiêu biểu cho toàn dân Y-sơ-ra-ên) bày tỏ lòng ăn năn chân thật  khác với những lần giả bộ ăn năn khi xưa (Gie 3:22b-25).  Cuối cùng, lòng thương xót của Ngài thắng hơn sự hình phạt (20 so sánh Os 11:8).

Tiếp đến là một lời kêu gọi (21-22), dù là trong trang lịch sử mới, Đức Chúa Trời vẫn kêu gọi dân của Ngài trung thành.  Dòng cuối (22) không rõ nghĩa cho lắm, nhưng có thể thấy đây là hình ảnh của một nguời mẹ bảo vệ con trai của mình, một cảnh tượng tươi sáng trái ngược với cảnh Ra-chên khóc than vì mất con.  Dân tộc an ổn này cũng là một dân tộc có lòng tôn kính thờ phượng Đức Chúa Trời (23-25).

Dường như ông Giê-rê-mi nhận được các bài giảng đến phần này trong chương này qua giấc chiêm bao.

3. Giao ước mới (Gie 31:27-40)

Phần dẫn nhập vào giao ước mới (27-30) nhằm tháo gỡ một câu ngạn ngữ thành hình trong thời kỳ lưu đày.  Người ta mượn câu đó để than vãn rằng họ đang chịu đau khổ vì tội lỗi của các thế hệ tiền bối (so sánh Exe 18:2).  Thật ra, Đức Chúa Trời xử lý tội lỗi của mỗi thế hệ, của mỗi cá nhân một cách công bằng với từng thế hệ riêng lẻ, với chính cá nhân đã phạm tội.

Các lời tiên tri trong chương 30-31 đều bàn đến ý tưởng về một giao ước mới.  Giờ đây, giao ước mới được công bố (31-34) liên hệ với cả Giu-đa lẫn Y-sơ-ra-ên.  Nguyên nhân tái tạo lan ngược tới Áp-ra-ham và Môi-se, chớ không phải chỉ giới hạn trong phạm vi phạm tội của Giu-đa, rồi lập lại giao ước mới có nghĩa là “làm mới lại”.

Tuy nhiên, giao ước này sẽ không giống như giao ước mà các thế hệ tiền bối đã vi phạm (32).  Giao ước này sẽ được ghi khắc vào tâm khảm dân sự chớ không phải chỉ được khắc trên đá như mười điều răn (33 so sánh Xu 24:12).  Nói cách khác, giao ước này sẽ đem lại niềm vui sướng, ấm cúng cho dân sự chớ không phải chỉ là một bản ghi khắc lạnh lùng trên mặt đá.  Lý tưởng trước kia là thế (so sánh Phu 10:16  30:6) nhưng nay sẽ là một thực tại vì bởi một cách nào đó, Đức Chúa Trời sẽ khiến cho dân sự có ý ưa thích và có khả năng tuân thủ giao ước (Ta sẽ viết...).

Ở đây nêu lên hai đặc điểm của giao ước mới (34).  Trước tiên, không cần ai khuyến khích họ nhận biết Đức Chúa Trời nữa vì ai nấy đều nhận biết Ngài.  Không phải chỉ hiểu biết đường lối và bản tính của Đức Chúa Trời mà còn hiểu cách riêng tư thân thiết, và có sự quyết tâm dấn thân của ý chí nữa.  Đây là một sự đáp ứng của chúng ta đối với sự kiện Ngài hiểu biết rõ ràng về chúng ta và sự kiện đó cũng chứng tỏ Ngài hoàn toàn dấn thân vì chúng ta.  Thứ hai, Đức Chúa Trời sẽ tha tội cho dân sự một cách mới mẻ và đầy sức thuyết phục (so sánh He 10:1-17).

Hai phân đoạn ngắn kế tếp khẳng định rằng, giao ước sẽ tồn tại đời đời (35-37), và thành quả là thành Giê-ru-sa-lem sẽ được tái thiết (38-40). 

Phần bình giải bổ sung về ý nghĩa của giao ước mới  Nghĩa đen của bài tiên tri trong Gie 31:31-34 liên hệ đến dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa trong lịch sử, trước tiên chỉ về sự hồi hương của đám dân từ chốn lưu đày.  Sự kiện lộ rõ qua câu đề cập đến sự tái thiết thành Giê-ru-sa-lem trong câu 38-40.  Toàn bộ các chương 30-31 đều hướng về việc này cho nên lời tiên tri trong giao ước mới dẫn đến thành tựu đầu tiên là dân lưu đày trở về vào năm 539 T.C. và những năm kế tiếp.

Tuy nhiên, lời tiên tri còn hàm ý sâu xa hơn.  Y-sơ-ra-ên vốn đã bị xoá sổ trong thời Giê-rê-mi, nhưng được kể đến trong giao ước này, gợi ý là chúng ta phải trông chờ một thành tựu cao siêu hơn là biến cố hồi hương về mặt thể xác.  Rốt cuộc, bản giao ước cũ được thực thi đầy đủ trong đường lối mới bởi một dân tộc có khả năng tham gia giao ước, nhờ Đức Chúa Trời trợ lực.

Kinh Thánh Tân Ước dạy rằng lời tiên tri trong giao ước mới được thành tựu dứt điểm trong Chúa Giê-xu (ICo 11:25  He 8:7-13  9:15).  Như vậy, có nghĩa là cuối cùng giao ước của Đức Chúa Trời được làm trọn trong những người “ở trong Chúa Giê-xu”.  Sự tha thứ dứt điểm có thể xảy ra vì Chúa Giê-xu đã dâng của lễ một lần trọn vẹn có giá trị cho mọi lần khác khiến cho tất cả mọi của lễ khác hoá ra vô nghĩa, không cần thiết nữa (He 10:15-18).  Đây là một giao ước không thể kết thúc vì đã được hoàn hảo hoá bởi Chúa Giê-xu.  Dầu vậy, Đức Chúa Trời kêu gọi dân mới của Ngài sống trung tín và Ngài ban cho họ Thánh Linh để thêm năng lực cho họ.

Như vậy, đường lối Đức Chúa Trời hành động đối với toàn thế giới trong Đấng Cứu Thế tương ứng với đường lối Ngài hành động để đem dân Giu-đa thuở xưa từ Ba-by-lôn trở về quê hương.  Hội thánh tương ứng với dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa thuở xưa.  Hội thánh là thân thể của Đấng Cứu Thế và hội thánh kêu gọi mọi người đến với Ngài.

4. Ông Giê-rê-mi tậu một thửa ruộng (Gie 32:1-15)

Quang cảnh trở về với thời trị vì của vua Sê-đê-kia.  Giu-đa đang bị vây hãm còn ông Giê-rê-mi thì bị tù.  Trong tình hình nghiêm trọng oan trái này ông tiếp tục loan truyền những lời tiên tri đầy hy vọng.  Góp phần trong tình hình này là sự kiện vua Sê-đê-kia không chịu vâng theo lời của Đức Chúa Trời dành cho vua.  Ở đây chính miệng vua Sê-đê-kia lặp lại lời đó - vì vua nghe mãi phát thuộc rồi (3-5 so sánh Gie 21:3-7).

Giờ đây, sứ điệp hình phạt chỉ còn là phần mở đầu cho bài giảng về niềm hy vọng, hoặc nói cho sát hơn, một dấu chứng:  tức là vụ ông Giê-rê-mi tậu một thửa ruộng.  Không rõ vì lý do nào mà ông Ha-na-mê-ên muốn bán thửa ruộng cho ông Giê-rê-mi.  Có thể vì ông cao tuổi rồi, lại không có con trai, nên ông xin ông Giê-rê-mi mua nhằm lưu giữ đất trong chi họ (8).  Ông Giê-rê-mi mua thửa ruộng với giá đó có quá cao không?  Chúng ta không thể khẳng định nhưng thủ tục mua bán, giấy tờ trao đổi xem ra đúng theo quy chế thời đó.  Trong khi tiến hành mọi thủ tục mua bán đều có nhân chứng.  Ở đây vai trò nhân chứng hoá ra quan trọng, có ý nghĩa vì vụ này được dùng làm dấu chứng (14-15).

Ý nghĩa nằm trong vụ mua bán đất này là rồi đây đến thời điểm ấn định, sinh hoạt sẽ trở lại bình thường (15).  Đây là một dấu chứng đầy sức thuyết phục vì quyền sở hữu một thửa ruộng gợi ý về sự sở hữu toàn lãnh thổ.  Dấu chứng này có sức thuyết phục mạnh hơn.  Tình trạng thành đang bị vây hãm và nguy cơ mất mát tất cả trong tương lai cận kề chớ không phải chỉ mất có một thửa ruộng mà ông Giê-rê-mi vừa mua xong.  Dấu chứng này đảo ngược lời tiên tri từng khẳng định, rằng rồi đây mọi sinh hoạt bình thường tại Giu-đa thình lình bị gián đoạn (chương 16).

5. Có quá khó đối với Đức Chúa Trời không? (Gie 32:16-44)

Tậu ruộng giữa lúc thành đang bị vây hãm như thế quả là một hành vi kỳ quặc, khác thường.  Đó là động lực thúc đẩy ông Giê-rê-mi cầu nguyện trong chương này.  Ông mở lời bằng một câu khẳng định rằng: Chẳng có gì quá khó đối với Ngài (17).  Rồi ông triển khai ý này qua lời ca ngợi quyền năng của Đức Chúa Trời cả trong lãnh vực sáng tạo (17), lẫn trong sự hình phạt (18-19), trong công trình giải cứu Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập và ban cho họ đất đai, xứ sở (20-22 so sánh Phu 26:8) và cuối cùng là trong biện pháp hình phạt tội lỗi của họ (23).  Tuy nhiên, thực chất bài cầu nguyện này là một câu thắc mắc:  Dấu chứng này có nghĩa lý gì không?

Đáp lời ông Giê-rê-mi (26-44) Đức Chúa Trời nhắc lại câu thắc mắc này là liệu có gì quá khó đối với Ngài không (27)?  Rồi Ngài bắt đầu bằng cách nhắc lại những lời rao về sự hình phạt.  Quân Ba-by-lôn sẽ huỷ phá thành (28-29) vì Y-sơ-ra-ên và Giu-đa cứ miệt mài trong tội lỗi, tập trung trong sự thờ hình tượng (30-35 so sánh Gie 7:18,30-32  19:13).  Tuy nhiên, những lời lên án này chỉ là lời dẫn nhập cho những lời truyền rao về sự cứu chuộc sau đó.  Điều thực sự khó là làm cách nào mà từ cảnh tàn phá điêu tàn mà phát sinh ra sự cứu rỗi đây.  Dầu sao, đây chính là kế hoạch của Ngài.

Lời hứa bắt đầu với câu 36.  Gươm dao, đói kém và ôn dịch (14:12) là nguy cơ đe doạ từ lâu, nay đứng trước cửa.  Tuy nhiên, lời tuyên bố về sự hình phạt nay trở thành lời tuyên rao về sự cứu rỗi.  Dù rằng dân sự vẫn sẽ bị lùa đi, trục khỏi xứ, nhưng họ sẽ trở về, không phải chỉ trở về với đất đai xứ sở mà còn trở về với giao ước nữa (38), đúng ra là một giao ước mới (31:31-34). Họ sẽ trung thành với giao ước đó, và giao ước sẽ tồn tại mãi mãi (39-41).  Câu Ta sẽ đặt sự kính sợ Ta vào lòng họ lặp lại ý của lời hứa trong giao ước mới:  Ta sẽ ghi luật pháp của Ta vào lòng họ với ý nghĩa là chính Đức Chúa Trời hứa rằng Ngài sẽ chủ động khiến cho việc này diễn ra.  Việc đó sẽ là một phép lạ “không quá khó” đối với Đức Chúa Trời.

Mấy câu cuối (42-44) quay về với thửa ruộng của ông Giê-rê-mi.  Phải người ta sẽ lại mua ruộng tại xứ Giu-đa.  Vụ ông mua ruộng có vẻ gàn dở nhưng không phi lý, trái lại rất có ý nghĩa và đầy hứa hẹn cùng hy vọng.

6. Âm thanh vui vẻ sung sướng (Gie 33:1-13)

Tương tự như chương 30 và 32 , chương cuối của tập sách thường được gọi là ‘Sách của Lời An ủi’ gồm có những lời rao về sự hình phạt, nhưng đáp lại thì có những lời rao về sự cứu chuộc.  Lời của Đức Chúa Trời phán với ông Giê-rê-mi về quyền năng của Ngài trong sáng tạo (2 so sánh 10:12) đối ngược với tình cảnh ông đang ở tù (so sánh 32:2), giữa lòng một thành phố bị quân thù bao vây.  Tiết lộ những việc lớn lao, huyền nhiệm (3) tương ứng với câu chẳng có việc gì quá khó cho Chúa (32:17), tương đương với một lời hứa về sự cứu rỗi (so sánh Es 48:6 câu 1 này có ý tương tự như vậy).  Rồi đến phần nhắc lại những lời phán xét (4-5), sau đó thật bất ngờ là những lời hứa (6-9).  Bất ngờ là vì chuyển tiếp đột ngột giữa hai phần (trong nguyên ngữ Hi Bá Lai không có từ Tuy nhiên c.6).  Tự thân cách trình bày này bày tỏ cách thức làm việc của Đức Chúa Trời  Từ tình cảnh đen tối tuyệt vọng nhất Ngài có thể chuyển thành cứu rỗi và phước hạnh.

Câu 10-11 chuyển qua câu 12-13 cũng đột ngột tương tự.  Câu 10 tóm lại ý của Gie 4:23-26, nhưng liền sau đó có ngay một hình ảnh tương ứng về sự sống (11 cũng so sánh với 7:34  16:9).  Khắp xứ Y-sơ-ra-ên cảnh đau buồn tan nát phải nhường chỗ cho cảnh hoà bình và an ổn (các địa danh trong câu 13 biểu thị cho toàn bộ chiều dài chiều rộng của xứ Giu-đa, thật ra Bên-gia-min nằm ngoài biên thùy Giu-đa về phía bắc)

7. Một giao ước đời đời (Gie 33:14-26)

Phần cuối chương này triển khai lời hứa về một vương quốc mới của triều đại Đa-vít ghi trong 23:5-6, được trưng dẫn ở đây (15-16).  Lời lẽ trong khúc Kinh Thánh này gợi nhớ về lời hứa đầu tiên mà Chúa dành cho Đa-vít (IISa 7:12-16 so sánh IVua 2:4).  Có vẻ như lời hứa này không thành tựu vì rõ ràng triều đại Đa-vít trong lịch sử bị kết thúc đúng như tiên tri Giê-rê-mi đã từng quả quyết (so sánh Gie 22:30).  Giờ đây, lời hứa được khẳng định lại (17) lời hứa của Đức Chúa Trời đối với chức tế lễ cũng được khẳng định lại (18).  Trong giao ước thời Môi-se các thầy tế lễ giữ vai trò cần thiết (Xu 28:1-29:46).  Thật ra, Đức Chúa Trời còn lập giao ước riêng với họ nữa (Dan 25:12-13  ISa 2:30,35).

Phần còn lại của chương này xác định tính cách trường tồn của giao ước mới bằng những lời lẽ mạnh mẽ nhất (19-22,23-26).  Khi Đức Chúa Trời phục hồi dân sự là Ngài đang thành tín làm trọn những lời Ngài đã hứa, ngay cả những lời đã hứa với Áp-ra-ham là hậu duệ của ông sẽ trở nên một dân tộc (26 so sánh Sa 12:2).  Ngài sẽ hoàn thành lời hứa của Ngài để chứng tỏ cho những ai phê bình rằng Ngài đã từ bỏ dân của Ngài thấy là họ sai (24).

Lời hứa về một vương quốc trường tồn đối ngược cách rõ rệt với bài giảng trong Gie 7:1-15.  Trong bài giảng này ông Giê-rê-mi nói rõ là dân sự không được phép coi thường dân tộc, đất nước và các thể chế họ đang có.  Nhờ giao ước mới họ có thể thay đổi thái độ đó.  Vương quốc mà ông Giê-rê-mi tiên báo trong chương 33 chính là giao ước đó.  Tân Ước diễn giải ra dưới một hình thức mà chúng ta đã bàn đến ở những trang trước.  Đúng là giao ước này cũng dùng lại những lời lẽ trong giao ước trước, với vua và các thầy tế lễ đủ cả.  Tuy nhiên, những chi tiết đó chỉ chuyển đạt ý Đức Chúa Trời muốn bảo đảm với họ rằng rồi đây cuối cùng Ngài sẽ thành tín hoàn thành tất cả những điều Ngài đã hứa.  Tất cả những lời hứa của Ngài đều nhắm đến sự cứu chuộc dành cho mọi dân tộc (Sa 12:3) nên cuối cùng sự việc sẽ ứng nghiệm như vậy.

15. CỰ TUYỆT SỨ ĐIỆP CỦA TIÊN TRI GIÊ-RÊ-MI (Gie 34:1-36:32)

1. Phóng mọi (Gie 34:1-22)

Lại trở về với thời gian thành Giê-ru-sa-lem bị vây hãm, tiên tri Giê-rê-mi dâng lên vua Sê-đê-kia một lời kiến nghị khác (1-5).  Trên căn bản, nội dung sứ điệp vẫn tương tự như Gie 21:3-7  32:3-5, không có gì mới lạ hoặc thay đổi.  Nhưng có thêm một chi tiết (4-5) cho phép hy vọng là bản án của vua được giảm nhẹ trong khi những lời tiên báo khác không xác định rõ số phận của vua.  Ý ở đây là vua sẽ không chết ngoài mặt trận, vua sẽ được an táng chu đáo (trái ngược với số phận vua Giê-hô-gia-kim 22:18 nhưng cũng xem thêm 52:11).  Câu 6-7 cho thấy thành Giê-ru-sa-lem sắp thất thủ.  Trong hai câu này thì ngoài Giê-ru-sa-lem ra chỉ còn hai thành nữa là còn cầm cự đối đầu với quân xâm lăng.  Ngoài ra kể như toàn xứ Giu-đa đã bị chiếm đóng.

Sự cố tiếp theo, về sự phóng mọi trở thành một dịp tiện cho ông Giê-rê-mi giảng chống lại vua Sê-đê-kia.  Nội dung vụ này cho chúng ta một cái nhìn sâu vào cuộc sống ở Giu-đa trong cơn giãy chết.  Ở Y-sơ-ra-ên có cho phép chế độ nô lệ với những quy định rõ rệt.  Trong Xu 21:2-11  Le 25:39-55  Phu 15:12-18 có ghi đầy đủ các quy định đó.  Còn câu 14 ở đây nhắc đến một điều mà thôi.  Theo như đã dự kiến qui định này có tính cách nhân đạo vì tạo điều kiện cho những người sa cơ lỡ vận, có lẽ vì mất mùa hoặc nợ nần chồng chất, có cơ hội tìm lại đời sống tự do.  Qui định này đòi hỏi giới giàu có trong xã hội biết áp dụng một cách bất vụ lợi, phi vị kỷ.  Nhưng trong thực tế, thông thường họ đã lạm dụng chế độ nô lệ.

Trong tình cảnh nguy cấp vì cuộc bao vây, vua Sê-đê-kia ban lệnh phóng mọi.  Tất cả chủ nô đều chấp nhận (9-10).  Trong thời gian bị vây, vua Sê-đê-kia thường xuyên tỏ ra phân vân lưỡng lự, cho nên nay có lẽ vua tìm cách sữa chữa một số điều sai sót của mình trước khi quá trễ.  Tuy nhiên, dường như lệnh này cũng khiến một số người nổi giận và hậu quả là có một số chủ nô bắt nô lệ trở về (11).  Hành vi này quả là vô lý trong một tình hình mà ai nấy sắp mất tất cả.  Dầu vậy, có thể đó là dấu chứng về sự đui mù của nhân loại, và cũng là một thí dụ điển hình và quá quắt về tâm tánh không chịu vâng phục ý muốn và sự hình phạt của Đức Chúa Trời, đó là tâm tánh mà Giê-rê-mi vẫn nỗ lực đả phá (so sánh Gie 21:9).

Hành động bất nhẫn này là dịp tiện cho ông Giê-rê-mi rao thêm những lời phán xét.  Ý niệm tự do (trả tự do lại cho giới nô lệ, rồi tước quyền tự do của họ đi) được vận dụng với ý mỉa mai để chỉ về sự tự do mà Đức Chúa Trời sẽ để cho họ sở hữu rồi bị hình phạt (17).  Thật vậy, đây chính là sự tự do mà con người sở hữu khi đơn phương rời khỏi Đức Chúa Trời, một sự tự do ảo dẫn đến huỷ diệt mà thôi.

Câu 18-20 chép về nghi thức tế lễ bằng con thú để long trọng làm dấu chứng trong một giao ước.  Nghi thức bước đi giữa những tảng thịt của con sinh có thể hàm ý sự tự rủa sả, tức là “nếu tôi không tuân thủ giao ước thì tôi đáng chịu số phận như thế này (là chết)” (so sánh Sa 15:17  IVua 19:2).  Có thể khi vua Sê-đê-kia ban hành sắc lệnh phóng mọi thì vua cử hành nghi thức đó.  Cho nên giờ đây Đức Chúa Trời nói rằng phán rằng “Cứ y như lời nguyện của họ”.

Chương này kết thúc với cảnh chết chóc quen thuộc dành cho thành phố và toàn xứ (21-22).

2. Người Rê-cáp trung thành (Gie 35:1-19)

Hai chương kế tiếp đi ngược thời gian đến thời trị vì của vua Giê-hô-gia-kim.  Nội dung của sách này được triển khai theo đề tài chớ không theo thứ tự thời gian.  Chủ đề ở đây là tinh thần chống đối, cự tuyệt giao ước của Chúa và mối nguy hiểm cận kề từ phía quân Ba-by-lôn.  Câu 11 nói về nguy cơ xâm lăng của quân Ba-by-lôn năm 605 T.C.

Ông Giê-rê-mi mượn người Rê-cáp để nêu tấm gương trung thành, đối ngược với tình trạng bất trung của nguời Giu-đa nói chung.  Phần lớn thông tin về người Rê-cáp đều nằm trong chương này.  Hai trăm năm về trước vua Giê-hu hăng say trừ diệt nạn thờ thần Ba-anh trong khắp nước Y-sơ-ra-ên.  Ông tổ của người Rê-cáp đã từng ủng hộ công tác đó (IIVua 10:15,23).  Tuy nhiên, trong ISu 2:55 có chép về Rê-cáp, thuộc về một họ trong chi phái Giu-đa (so sánh ISu 2:3).  Nếu ông này là tổ tiên của người Rê-cáp thì họ có liên hệ máu huyết người Kê-nít du mục, là đám người qua lại thân thiện với dân Y-sơ-ra-ên trong thời gian dân Y-sơ-ra-ên hành trình trong sa mạc (ISa 15:6).  Dường như Giô-na-đáp khởi xướng nếp sống của dòng họ mình, tức là sống du mục và kiêng tất cả các loại rượu (6-7).  Không rõ đến thời điểm này người Rê-cáp là đám hậu duệ đơn thuần của Giô-na-đáp hoặc là một tập thể mở rộng gồm những người khác cùng chí hướng hoặc là một hiệp hội.

Thật vậy, vấn đề không nằm trong nguồn gốc hình thành hoặc nếp sống của người Rê-cáp mà nằm trong đức tính trung thành đối với quy định của tổ tiên.  Khúc Kinh Thánh không xác định lề lối sống của họ là tốt hoặc xấu, Kinh Thánh quan tâm đến điểm họ trung thành với nề nếp của tổ tiên đã ấn định.  Chúa bảo ông Giê-rê-mi vận dụng đức tánh này để làm một dấu chứng, bày rượu ra mời họ uống dù biết rõ họ chủ trương kiêng rượu (2).  Dấu chứng được thực hiện tại một căn phòng bên hông đền thờ nên có lẽ các nhân viên cao cấp trong đền thờ đều nhìn thấy.  Một lần nữa ông Giê-rê-mi nhắm đánh vào thành phần chóp bu nắm quyền hành trên đất nước.

Đúng như dự kiến, người Rê-cáp từ chối không uống rượu, thế là ông Giê-rê-mi giảng về ý nghĩa của dấu chứng này (12-16).  Giu-đa bị khiển trách bằng những lời lẽ quen thuộc (15 so sánh Gie 25:4-6) nhưng có phần mạnh mẽ hơn vì ông Giê-rê-mi so sánh thành quả của người Giu-đa với thành quả của người Rê-cáp.  Tiếp đến là lời lên án (17 so sánh 11:11).  Cuối cùng Giê-rê-mi lộn lại, hứa rằng người Rê-cáp sẽ sống sót và dòng dõi họ sẽ trường tồn (18-19).  Đây là lời lẽ và lời hứa đáng lẽ dùng để nói với bậc vua chúa trong dòng họ Đa-vít (19b so sánh IVua 2:4).  Như vậy, sự so sánh này nhằm vào chính mình vua với ý khá mỉa mai vì triều đại đang bị đe doạ sụp đổ chỉ vì vua không trung thành với Chúa.

3. Vua Giê-hô-gia-kim gạt bỏ sứ điệp của ông Giê-rê-mi (Gie 36:1-32)

Thời trị vì của vua Giê-hô-gia-kim chứng kiến cuộc đấu tranh dữ dội giữa giới cầm quyền với ông Giê-rê-mi về nội dung giảng dạy của ông tại đền thờ (chương 26).  Chuyện trong chương này coi như tiếp theo chuyện ở chương trước, trở lại với thái độ của giới quan quyền từ khước lời giảng dạy của ông Giê-rê-mi.  Đúng ra, dường như ông không được phép vào khuôn viên đền thờ (5) chắc là do thoả hiệp giữa các quan đòi xử tử ông và đám người ủng hộ ông.  Lệnh cấm cản này có ảnh hưởng nghiêm trọng như vậy ông vừa mất cơ hội tiếp xúc với các quan vừa không được giảng dạy cho đông đảo dân chúng tại đền thờ trong những dịp lễ lớn.

Do đó, Đức Chúa Trời truyền cho ông viết tất cả những điều ông đã giảng dạy vào một cuộn giấy (2), để dù ông không hiện diện tại đền thờ được, thì người khác đọc thay cho ông (xem ra ông Giê-rê-mi nhớ đầy đủ lời lẽ đã giảng vì các quan tỏ ý ngạc nhiên, c.17-18, đối với bài giảng được ghi lại như vậy, và đối với câu trả lời của ông Ba-rúc tại đền thờ).  Ông Ba-rúc vốn giữ một vai trò khiêm tốn thôi.  Đó là người thư ký sao chép cho ông Giê-rê-mi.  Nay tình thế bắt ông đứng vào vị trí của tiên tri Giê-rê-mi.  Vào một ngày kiêng ăn có đông đảo dân đến tham gia, ông phải thi hành nhiệm vụ khó khăn của tiên tri Giê-rê-mi trong một việc xem như là lập lại lời kêu gọi quan trọn tại đền thờ lần trước(6-10, Gie 26:2-6 so sánh 7:1-15).  Do đó vai trò của ông Ba-rúc tuy là phụ nhưng đòi hỏi nơi ông một tinh thần tận tụy và can đảm cao độ không kém gì người thầy của ông khi cần.  Một lần nữa gia đình nhà Sa-phan lại góp phần khiến cho người ta lắng nghe sứ điệp của ông Giê-rê-mi (10 so sánh 26:24).

Sau khi ông Ba-rúc đọc xong sứ điệp, sứ điệp liền gây chấn động trên người nghe cách rõ rệt, nhất là trên một số quan lại cao cấp, một lần nữa qua sự góp phần chủ động của một thành viên trong gia đình Sa-phan.  Có thể khi ghi chép ra ông Giê-rê-mi thêm thắt đôi điều nên sứ điệp đã gây ấn tượng mạnh, hoặc có thể nội việc ghi chép lại một sứ điệp như vậy cũng đủ đem lại kết quả tương tự (15-18).

Với tâm trạng kinh hãi, rụng rời, các quan cho đọc sứ điệp đó lần thứ ba, lần này có vua đích thân nghe.  Phản ứng của vua và của đám cận thần khác hẳn thái độ của các quan đã đem sách vào cung.  Vua tỏ ý coi thường lời giảng dạy của tiên tri một cách thô bạo đến mức lạ lùng không tưởng (24 so sánh c.16).  Các ông Ên-na-than, Giê-ma-ria và Đê-la-gia kinh hãi khi vua ném sách vào lò, đốt đi vì đối với họ đây là một hành động phạm thượng.  Còn đối với vua thì hành động đó chẳng những là một biểu thị về sự coi thường mà còn biểu thị một ý mê tín dị đoan, vua tưởng là ném vào lửa thì cũng có thể vô hiệu hoá quyền lực của những lời tiên tri trong sách đó. 

Phản ứng của vua Giê-hô-gia-kim cũng khác hẳn phản ứng của tiên vương, tức là vua Giô-si-a khi có người tìm được quyển sách luật pháp trong đền thờ và đọc cho vua nghe (IIVua 22:8-13).  Nhân đây, cũng nên ghi nhận vai trò của ông Sa-phan trong vụ đó nữa.

Tìm cách tiêu huỷ lời của Đức Chúa Trời quả là một nỗ lực vô ích.  Đức Chúa Trời lại truyền cho ông Giê-rê-mi viết một cuộn sách khác (28) cộng thêm vào đó những lời phán xét về hành vi bất kính của vua đối với Đức Chúa Trời.  Lời hứa dành cho triều đại đã từng được chuyển từ Đa-vít qua Sa-lô-môn nay không dành cho vua nữa (30b so sánh IVua 2:4) rồi lời tiên báo là vua không được an táng đàng hoàng được lặp lại một lần nữa (30c so sánh Gie 22:19).

Cuộn sách mới gồm có những lời tiên tri khác nữa vốn không có trong cuộn trước (32).  Điều này chứng tỏ ông Giê-rê-mi tiếp tục thi hành chức vụ và cũng chứng tỏ rằng bắt đầu từ đây những bài giảng của ông được ghi chép thành sách.

16. NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA GIU-ĐA (Gie 37:1-39:18)

1. Cứu viện từ Ai Cập? (Gie 37:1-10)

Tình hình biến chuyển nhanh dẫn đến sự thất thủ của Giê-ru-sa-lem và Giu-đa trước quân Ba-by-lôn.  Kể từ đây là những chuyện trong phần cuối thời trị vì của vua Sê-đê-kia, là vị vua do chính người Ba-by-lôn đưa lên ngôi (IIVua 24:17-18).  Nút thắt nơi đây là liệu vua có chấp nhận lời truyền rao của ông Giê-rê-mi là trước sau gì thành cũng thất thủ thôi, nên cần giảm thiểu mức nghiêm trọng của tai hoạ bằng cách đầu hàng  Sứ điệp được đề cập trong câu 2 đã được rao báo lần đầu tiên trong Gie 21:1-10.  Vua Sê-đê-kia đừng mơ tưởng đến khả năng cứu viện hiệu quả của Ai Cập.

Dù vua Sê-đê-kia một mực từ khước không chấp nhận mức độ nghiêm trọng trong sứ điệp của ông Giê-rê-mi, nhưng vua vẫn tích cực tìm đến ông với hy vọng tìm được chút bảo đảm trong cơn nguy nan.  Vua xin ông lấy tư cách một vị tiên tri mà cầu thay (3)  Vua nào có ngờ là Đức Chúa Trời đã cấm ông cầu thay (7:16) cho Giu-đa chỉ vì lòng họ quá cứng cỏi.  Vua Sê-đê-kia chỉ giả bộ cầu hỏi lời của Đức Chúa Trời thôi vì vua chỉ chấp nhận những lời nào đưa đến kết cuộc mà vua mưu cầu, mong mỏi lâu nay thôi.

Trong thời gian này, quân Ba-by-lôn tạm thời tháo vòng vây quanh Giê-ru-sa-lem, vì người Ai Cập đưa quân tiến vào Giu-đa nhằm chiếm lại một số lãnh thổ cũ (4-5).  Đương nhiên đây là cơ hội cho niềm hy vọng đặt nơi Ai Cập bùng cháy mạnh mẽ, đây là điều mà ông Giê-rê-mi đã cảnh báo.  Niềm hy vọng của vua Sê-đê-kia xem ra có cơ sở.  Tuy vậy, tình hình chung vẫn không khá hơn (6-10).  Nguyên nhân nòng cốt là Đức Chúa Trời đã quyết tâm hình phạt Giu-đa.  Hy vọng hão dễ phấn khởi trước những biến chuyển chóng vánh cấp thời.

2. Tiên tri Giê-rê-mi bị giam (Gie 37:11-21)

Biện pháp tuyệt vọng cuối cùng của thành phần thù nghịch ông Giê-rê-mi là bịt miệng ông lại bằng cách bắt giam ông vì họ tiếp tục kháng cự sứ điệp của ông cho đến cuối cùng dù là thành phố đang giãy chết.  Tiên tri Giê-rê-mi lợi dụng thời gian quân Ba-by-lôn tạm tháo vòng vây để đi về làng quê là A-na-tốt (12), có lẽ ông muốn bàn với gia đình về gia sản.  Thửa ruộng ông mới mua lại từ tay ông Ha-na-mê-ên (Gie 32:1-15) có thể là nguyên nhân chính của chuyến về quê này. 

Ông bị bắt ngay tại cổng thành với tội danh là đào tẩu theo quân Ba-by-lôn (13).  Nguyên cớ đằng sau lời cáo buộc này là ông đã từng giảng dạy, khuyên nên đầu hàng vì đó là con đường sống sót duy nhất (21:9).  Nhưng người ta đã bịa thêm tội phản quốc để bắt giam ông.  Khi lên tiếng phản kháng ông nói: Nói bướng! (14)  Ông dùng một từ trong nghĩa đen là “nói dối”, là từ ông đã dùng để mô tả tình trạng của toàn thể dân sự (so sánh 5:2).  Vụ bắt giam ông hàm ý là dân sự loại bỏ sứ điệp của ông chứ không phải vì cớ một bằng chứng nào về tội phản quốc.  Dầu vậy ông vẫn bị giam trong ngục.

Thế nhưng, vua Sê-đê-kia vẫn tiếp tục tìm kiếm nơi ông một lời bảo đảm.  Ông vẫn không thể nói một lời tiên tri có tính cách uỷ lạo, đem lại một chút tin tưởng.  Đồng thời, ông cũng vạch ra rằng tình thế nguy ngập cho thấy sứ điệp của các tiên tri giả rõ ràng là sai bậy rồi (19) nhưng vua Sê-đê-kia vẫn không nghe lời ông, thuận ý ra lệnh cho người ta giam giữ ông trong một điều kiện dễ chịu hơn (20-21).

3. Ông Giê-rê-mi bị quẳng xuống hố sâu (Gie 38:1-13)

Trong khi Giu-đa lâm cảnh nguy ngập vì cớ sự bao vây của quân Ba-by-lôn thì ông Giê-rê-mi cũng đang đối diện với nguy cơ mất mạng trong tay những người thù ghét ông.  Một số triều thần kịch liệt chống nghịch ông.  Ông là một con mồi dễ bị hại trong nạn bè phái và tranh giành quyền lực trong giới quân quyền (Pha-su-rơ, con trai Manh-ki-gia trong Gie 21:1 là một nhân vật giữ vị thế trung lập không liên kết).  Các quan nại ra nội dung giảng dạy quá quen thuộc của ông (2-3 so sánh 21:7-10) rồi căn cứ vào đó mà lên án tử hình (so sánh 26:11) về tội phản quốc, tương tự như vụ bắt ông trong chương 37.  Vua Sê-đê-kia tỏ ra bất lực trước quyết định của các quan (5).  Vua loại bỏ sứ điệp của ông Giê-rê-mi là vì vua còn bám víu ngai vàng, tiếc nuối quyền thế.  Quả là mỉa mai chua xót cho vua vì thật ra vua chẳng có chút quyền hành gì cả.

Rõ ràng trong vụ này người ta muốn cho ông Giê-rê-mi chết trong bùn lầy, dưới hố sâu đó.  Cần đến một hoạn quan ngoại quốc người Ê-thi-ô-pi (người Cu-si) tên là Ê-bết-mê-léc (nghĩa đen là “tôi tớ của vua”) cầu cứu thúc đẩy vua tháo gỡ vụ này, trong lúc vua đang ngồi tại cổng thành, có lẽ để xét xử những vụ việc mà người ta đệ trình lên vua (7-10).  Như vậy rõ ràng đám gia nhân trong hoàng cung cũng không hợp nhất, chính mình vua cũng thường phân vân, lưỡng lự nhưng dễ bị tác động thuyết phục.  Vua cho giam ông Giê-rê-mi trong sân của lính canh là nơi an toàn (11-13).  Còn đám người thù nghịch phản ứng trước biến chuyển này ra sao thì tuỳ ý chúng ta tưởng tượng.

4. Yết kiến vua Sê-đê-kia lần cuối (Gie 38:14-28)

Buổi hội kiến lần cuối giữa vua Sê-đê-kia và tiên tri Giê-rê-mi diễn ra trong bí mật (cửa thứ ba vào đền thờ c.14).  Không có chỗ nào khác đề cập đến cửa này, có lẽ là một lối đi dành riêng cho vua nên hẳn là cũng rất yên tĩnh vắng vẻ).  Vụ này cũng cho thấy vua cũng không cảm thấy an toàn trong chính hoàng cung.  Còn ông Giê-rê-mi thì bực mình vì vua thường xuyên hỏi mà không chịu tiếp nhận câu trả lời đúng duy nhất (15).  Có lẽ ông triền miên đau đớn trong thể xác vì lối đối xử tàn nhẫn, thô bạo của kẻ thù.  Cho nên trong thực tế cuộc sống của ông thật là bấp bênh như vua dư biết (16).

Lần này ông rao ra một sứ điệp có phần dễ chịu cho vua Sê-đê-kia, không phải vì nội dung quen thuộc có đổi khác, nhưng tiên tri bảo đảm rằng nếu vua đầu hàng người Ba-by-lôn thì vua cứu được tánh mạng của mình và cũng được bảo vệ khỏi những thành phần thù nghịch giữa vòng người Giu-đa (17-20 nhờ câu 19 chúng ta biết phát hiện rằng trong cộng đồng Giu-đa thời đó có những thế lực đấu tranh chống  nghịch nhau rất căng).  Lời bảo đảm này dành riêng cho vua, ảnh hưởng đến hoàng gia nữa  Tuy nhiên nếu vua từ khước không làm theo lời dạy thì chính vua và toàn thể hoàng gia đều bị hại (21-23).  Thời xưa, gặp lúc chiến tranh mà hậu cung hoàng gia bị rơi vào tay quân địch thì đó là một nỗi nhục nhã nặng nề đối với một ông vua.

Vua Sê-đê-kia không bộc lộ thái độ hoặc ý kiến nào đối với sứ điệp nhưng hành vi của vua vào những ngày cuối cùng này cho thấy trong thâm tâm vua đau đớn khốn khổ vô cùng.  Biến chuyển trong chương 39 chứng tỏ rằng đứng trước một lối thoát mà vua biết là đúng nhưng cứ lưỡng lự như thế thì tai hại vô cùng.

Ông Giê-rê-mi tỏ ý sợ người ta đưa mình về giam trong ngục tối tại nhà Giô-na-than (so sánh Gie 37:15, không thể có vấn đề bị ném vào hố sâu nữa vì chính vua đã ra lệnh trục ông lên khỏi hố để ông khỏi chết dưới đó).  Thế là vua cho ông được trở về sân của lính canh và bị giam ở đó cho đến ngày Giê-ru-sa-lem thất thủ (28).

5. Thành Giê-ru-sa-lem thất thủ (tháng 7 năm 587 T.C) (Gie 39:1-18)

Chương này kể lại cách ngắn gọn tai hoạ mà tiên tri Giê-rê-mi vẫn thường xuyên cảnh báo dù chiến dịch chiếm thành kéo dài thời gian và ít nhất một lần quân địch phải tạm lui binh (1-2 so sánh 37:5) tháng giêng năm 588 T.C. (52:4  IIVua 25:1).  Khi quân Ba-by-lôn đột nhập vào thành rồi, lập tức chiếm cứ vị trí tiêu biểu cho quyền hành của hoàng gia giữa thủ đô (3) chứng tỏ cho bá quan thiên hạ thấy rằng thế lực của vua Sê-đê-kia và triều đình là hữu danh vô thực.  Vị vua bù nhìn bỏ trốn trong nhục nhã, nhưng rốt cuộc bị bắt lại và chịu đầy đủ mọi sự hình phạt mà ông Giê-rê-mi đã cảnh báo không thiếu điều nào (5-7 so sánh Gie 38:17-23).

Những lời tiên tri của ông Giê-rê-mi đối với vua Sê-đê-kia thành sự thật một cách bi thảm.  Đúng là vua Sê-đê-kia tận mắt nhìn thấy vua Ba-by-lôn (32:4  34:3) để rồi sau đó bị móc mắt tàn bạo đau đớn (7).  Vua không chết giữa cuộc chiến sôi sục lúc đó mà có lẽ sau này trong thời bình và được an táng tử tế (34:5).  Nhưng linh hồn vua chẳng có giây phút nào bình an.

Một trong các biện pháp khủng khiếp cần thiết để khẳng định quyền cai trị của Ba-by-lôn là cùm vua chiến bại và hành hình tất cả các hoàng tử (để trừ hậu hoạ) và các quan chức.  Kể từ đây những vụ chống đối của các vua ở Giu-đa (vua bù nhìn mà tưởng đâu mình có thế lực lắm) cũng kết thúc luôn.  Hơn nữa, trong thâm tâm của dân sự của giao ước ẩn tàng một tấm lòng giả trá nên chẳng bao giờ Đức Chúa Trời dám giao quyền cai trị cho họ, và rốt cuộc cũng chẳng cho họ hưởng sự bảo vệ của Ngài.

Trong suốt thời gian qua ông Giê-rê-mi chẳng những giảng cho thành phần lãnh đạo mà cũng giảng cho toàn thể dân sự nữa.  Thường dân cũng không khỏi bị nghiêm trách, họ cũng bất trung đối với Đức Chúa Trời, dù rằng giới lãnh đạo chịu trách nhiệm nặng nề hơn.  Vì vậy, trong đợt hình phạt này toàn thể dân sự bị ảnh hưởng (8-9).  Một lần nữa tác giả để cho chúng ta đoán chừng về mối liên hệ căng thẳng giữa tập thể những người Giu-đa đào tẩu qua hàng ngũ của Ba-by-lôn (vì cớ nghe theo lời khuyên của tiên tri Giê-rê-mi!) và tập thể những người cố thủ cho đến cuối cùng (9).  Về mặt chính trị Giu-đa đã bị xoá sổ dù rằng một ít dân bần hàn nhất được lưu cư trong xứ (10).

Vua Nê-bu-cát-nết-sa qui định đặc biệt về ông Giê-rê-mi có thể gây ngạc nhiên (11-12).  Dầu vậy không hẳn là tiên tri có liên lạc với chính quyền Ba-by-lôn trước khi bị bắt.  Ông không cần phải làm việc đó vì sứ điệp của ông truyền giảng ra không cần đến trợ lực nào cả.  Một khi Đức Chúa Trời truyền rao chương trình ý định của mình thì có mấy khi Ngài cần đến trợ lực của kẻ thù.  Trái lại, kẻ chiến thắng thường rộng lòng đối với người Giu-đa nào trông có vẻ đã ủng hộ đường lối của mình.  Có lẽ qua những người Giu-đa đã bị đem đi đày trong những đợt trước vua Nê-bu-cát-nết-sa đã nghe nói về chủ trương của ông Giê-rê-mi là phải đầu hàng Ba-by-lôn.  Dĩ nhiên ý thức của vua về những việc làm của tiên tri Giê-rê-mi (và về chính những việc bản thân vua đang làm!) không giống như ý thức của tiên tri.  Dầu sao, trong ơn thần hựu của Đức Chúa Trời, lòng nhân từ của vua Nê-bu-cát-nết-sa đối với ông Giê-rê-mi đã cho phép ông ở lại với đám dân được lưu cư tại Giu-đa và tiếp tục thi hành chức vụ giữa vòng họ (11-14).

Giờ đây Kinh Thánh chép về một sứ điệp của Đức Chúa Trời dành cho Ê-bết-mê-lết, là vị hoạn quan đã từng cứu sống ông Giê-rê-mi sau khi người ta quẳng ông vào hố sâu (15-18 so sánh 38:7-13).  Ông được sống sót qua biến cố khủng khiếp đó và được giải cứu khỏi đám tư thù, chắc chắn cũng là đám thù nghịch ông Giê-rê-mi (hoặc những người được sống sót).

Câu chuyện về chuỗi ngày cuối và sự thất thủ của Giê-ru-sa-lem không những làm chứng về cơn giận của Đức Chúa Trời đối với dân sự tội lỗi mà cũng làm chứng về ơn thần hựu nhân từ của Ngài.  Giữa cuộc bể dâu đẫm máu của đất nước Ngài đã bảo tồn mạng sống cho tiên tri và các tôi tớ trung tín khác.  Và dù sự hình phạt có nặng nề đến thế, rốt cuộc Ngài vẫn chủ trương điều tốt cho dân sự.

17. TÀN DÂN ĐÀO THOÁT SANG AI-CẬP (Gie 40:1-45:5)

1. Ông Giê-đa-lia làm quan tổng trấn (Gie 40:1-12)

Khúc Kinh Thánh này triển khai phần tường thuật ngắn gọn trong Gie 39:13-14, kể chi tiết hơn vụ tiên tri Giê-rê-mi về với ông Giê-đa-lia.  Tướng Nê-bu-xa-A-đan, Tư lệnh Ba-by-lôn phóng thích ông Giê-rê-mi ra khỏi đám những người Giu-đa bị bắt đi lưu đày (1), chứng tỏ ông đã nghe nói về nội dung những lời rao giảng của tiên tri và có lẽ ông cũng tôn trọng chức vụ của một vị tiên tri biết rõ ý Đức Chúa Trời của mình (2-3).  Tướng này cho phép ông chọn đi Ba-by-lôn hoặc ở lại Giu-đa.  Hợp tình hợp lý thì ông phải đi qua Ba-by-lôn, vì lâu nay ông vẫn kêu gọi phải thần phục Ba-by-lôn.  Tuy nhiên giờ đây luật pháp của Ba-by-lôn cũng được thi hành tại Giu-đa, cho nên dù ở lại Giu-đa thì cũng chẳng khác gì là đã “ở trong Ba-by-lôn”.  Theo lệnh của tướng Nê-bu-xa-A-đan ông về với ông Giê-đa-lia là một người Do Thái được vua Nê-bu-cát-nết-sa đặt làm tổng trấn.  Như vậy, ông tỏ ra thuận phục quyền lực của Ba-by-lôn.  Ông Giê-đa-lia là một thành viên trong nhà Sa-phan, là gia đình đã nâng đỡ tiên tri (26:24).  Hẳn là mạng lưới tình báo Ba-by-lôn đã kết luận rằng ông thuận tình phục vụ sự nghiệp của kẻ chiến thắng.

Ông Giê-đa-lia chọn Mích-ba làm thủ phủ chớ không chọn Giê-ru-sa-lem là thành phố phản loạn.  Dưới quyền cai trị của tổng trấn, Giu-đa khởi sự hồi sinh.  Lối thoát của toàn dân lưu cư là rất rõ: chịu phục dưới quyền cai trị của Giê-đa-lia có nghĩa là thuận phục Ba-by-lôn, theo lời của Đức Chúa Trời qua tiên tri Giê-rê-mi (9-10).  Vâng lời Đức Chúa Trời làm theo hướng đó sẽ tạo lập được một cuộc sống bình thường và thành công trong xứ (10).  Tin tức về một cuộc sống tại Giu-đa dưới một guồng máy lãnh đạo đã lan nhanh.  Người Do Thái trốn tránh rải rác khắp nơi trong xứ nhận biết rằng tai hoạ đưa họ vào một bước khởi đầu mới mẻ và lương thiện.  Vì vậy, họ cũng khởi sự trở về quê quán, xây dựng ước vọng mới theo như ông Giê-rê-mi đã tiên tri là cuối cùng dân sự sẽ được phục hồi (29:14).  Đất đai lại cho hoa lợi, thêm một dấu hiệu về phước hạnh của giao ước (10-12).  Từ  tàn dân gợi nhớ lại 4:27 và 5:12.  Dầu vậy, Đức Chúa Trời có thể gây dựng trở lại với một tập thể ít người này.

2. Vụ ám sát Giê-đa-lia (Gie 40:13-41:18)

(Gie 40:13-16). Tuy nhiên, chưa tới hồi kết cuộc tươi sáng.  Một số quân sĩ dưới quyền tổng trấn Giê-đa-lia nghe đồn là vua Am-môn muốn sát hại ông.  Nguyên nhân khiến vua Ba-ê-lít chống ông Giê-đa-lia có lẽ là bắt nguồn từ việc bản thân vua chống nghịch Ba-by-lôn (so sánh 27:3).  Vì thế ông Giê-đa-lia trở thành nạn nhân của khối chủ trương chống Ba-by-lôn, dù rằng sau khi Nê-bu-cát-nết-sa đã thanh toán Giê-ru-sa-lem.  Bản thân ông Ích-ma-ên thuộc dòng dõi hoàng tộc (41:1), làm tay sai cho vua Ba-ê-lít có lẽ với tham vọng gây dựng trở lại một lực lượng chống lại Ba-by-lôn.  Trong khi một số quân sĩ thuộc hạ tin chắc là người ta đang âm mưu hại ông Giê-đa-lia, ông này lại ngây thơ đến độ không chịu tin là có chuyện đó (14).  Còn ông Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, nhân vật mới nổi danh, xem ra đã giành được vị trí lãnh đạo trong đám tàn quân.  Ông này muốn hành động quyết liệt hơn để bảo tồn cộng đồng.  Rốt cuộc, hoá ra ông đâm ra bất đồng với Giê-rê-mi.

Gie 41:1-18;  xem giải nghĩa 40:13-16

Chẳng bao lâu cuộc ám sát ông Giê-đa-lia diễn ra cách gian manh đen tối trở thành một cú đấm chống lại những lời khuyên chờ đợi, trông cậy Đức Chúa Trời vận hành trong thời kỳ khổ ải.  Cuộc mưu sát được thi hành cách triệt để đến mức giết hại cả binh sĩ Ba-by-lôn cho thấy quyết tâm phá hỏng chính sách của Ba-by-lôn đối với vùng này (2-3).

Sự cố tiếp theo sau vụ ám sát (4-9) chứa một chi tiết lý thú, đó là cuộc thờ phượng vẫn được duy trì tại địa điểm cũ của đền thờ.  Người ta vẫn hành hương đến Giê-ru-sa-lem ngay cả khi đền thờ đã bị phá huỷ.  Tháng bảy (so sánh c.1) là tháng có lễ Lều tạm.  Người ta hành hương vào dịp lễ này.  Rõ ràng trong lãnh thổ cũ của vương quốc miền bắc vẫn còn những người trung thành với những quy định luật pháp của Đức Chúa Trời, nên họ ra mắt Đức Chúa Trời vào những dịp lễ lớn (Xu 23:14-17), có lẽ được tái lập kể từ khi vua Giô-si-a cải tổ sự thờ phượng (IIVua 22-23).

Ngoài tội ám sát tổng trấn Giê-đa-lia ra, ông Ích-ma-ên phạm thêm tội sát hại bảy mươi người hành hương này bằng mưu chước quỷ quyệt, có lẽ nhằm bưng bít vụ ám sát ông Giê-đa-lia.  Còn mười người cuối cùng không bị ông giết vì họ hứa sẽ giao nộp một số lượng lớn thực phẩm (8).  Có lẽ ông ta chỉ hoãn ngày giờ giết họ đó thôi.  Thực hiện xong mọi việc tàn bạo rồi ông ta bắt một số người và đem họ chạy trốn sang Am-môn (10).

Chung cuộc của vụ tàn sát này thật là nhục nhã thảm hại.  Ông ta mất hết mọi thứ kể cả đám người bị bắt theo, chỉ thoát thân cứu mạng khỏi sự săn đuổi của ông Giô-ha-nan (11-15).  Tuy nhiên việc ông ta can thiệp, phá khuấy cuộc sống của một cộng đồng đang trên đà phục hồi dưới sự lãnh đạo của tổng trấn Giê-đa-lia kéo theo hậu quả tai hại có tính cách quyết định:  Dân chúng bỏ Mích-ba ra đi mà cũng bỏ luôn đường lối quy phục Ba-by-lôn.  Họ thay đổi thái độ nhanh như vậy là vì nay họ phải đối diện với nguy cơ bị Ba-bi-lôn trừng phạt dù mang tiếng là đang được Ba-by-lôn bảo vệ (18).  Tuy nhiên, hiện nay họ cũng đứng trước một lối thoát khá hấp dẫn như khi Giê-ru-sa-lem chưa thất thủ, đó là Ai Cập, một nơi lánh nạn đầy hứa hẹn nhưng toàn là hão huyền.  Dù vậy, họ vẫn mơ tưởng đến nơi đó và trở bước đi vào hướng đó một lần nữa (16-18).

3. Đừng đi Ai Cập (Gie 42:1-21)

Khi ông Giô-ha-nan và dân sự tìm đến tiên tri Giê-rê-mi để xin ý của Đức Chúa Trời về tình thế mới mẻ ngoài dự liệu này (1-3), thì họ đang ở trên con đường dẫn đến Ai Cập.  Tuy nhiên, ông Giê-rê-mi vẫn tiếp nhận lời cầu hỏi của họ như bình thường và hứa là sẽ cầu hỏi Đức Chúa Trời về vấn đề này vì đối với ông hoàn cảnh này cũng hoàn toàn mới mẻ.  Ông vốn thường cảnh báo các bậc đế vương về việc quân Ba-by-lôn sẽ xâm lăng.  Chuyện đó đã đến và đi vào quá khứ rồi giờ đây cần xin ý kiến của Đức Chúa Trời về đám tàn dân này.  Ông sẵn lòng cầu thay cho họ (4) chứng tỏ lệnh cấm cầu thay cho dân không còn áp dụng nữa (Gie 7:16).  Dân sự hứa hẹn sẵn lòng vâng lời ông nghe chắc nịch - nhưng có cơ sở vững vàng không đây?

Đức Chúa Trời không trả lời lập tức, ông Giê-rê-mi không có quyền buộc Ngài trả lời liền (7).  Rồi khi Ngài trả lời thì Ngài vẫn dùng những lời lẽ quen thuộc (10 so sánh 1:10  18:7-10), phỏng theo những bài mà ông đã giảng trước kia, vẫn kêu gọi phục tùng Ba-by-lôn kèm theo lời bảo đảm mà dân sự cần biết về những vụ trả đũa của Ba-by-lôn (11 so sánh 41:18).  Sứ điệp này cũng bày tỏ nỗi buồn của Đức Chúa Trời đối với sự tàn phá đất nước Giu-đa và Giê-ru-sa-lem (10).  Đây không phải là một khía cạnh mới trong lời tiên tri (xem bình giải 9:1-3).  Tuy nhiên giờ đây Chúa đang ôn lại chuyện hình phạt đã qua thay vì nói về sự hình phạt sắp đến.  Giờ đây Ngài dự định ban phước cho họ theo như lời Ngài đã hứa trong chương 30-33.

Cũng như trước kia, sứ điệp này đòi hỏi dân chúng đáp ứng.  Họ phải bằng lòng ở lại trong xứ và tin tưởng rằng Đức Chúa Trời có thể thực hiện những điều tốt lành đúng như lời Ngài phán.  Nếu họ không vâng lời thì như xưa nay, tương lai đen tối thay thế cho phước hạnh mà Đức Chúa Trời muốn ban cho họ.  Nay nếu họ tin cậy Ai Cập thì họ vẫn phạm tội với Đức Chúa Trời y như xưa kia (24:8), vì thái độ đó chứng tỏ họ không tin cậy Đức Chúa Trời.  Nếu họ quyết định cứ đi Ai Cập thì tại đó một lần nữa họ sẽ phát hiện rằng con đường tưởng chừng an toàn theo trí phán đoán thật ra lại dẫn đến chết chóc (Ch 16:25  Lu 9:23-24).  Khía cạnh mỉa mai của việc này nằm trong c.16a ở lại thì thoát khỏi gươm giáo của Ba-by-lôn, trốn qua Ai Cập sẽ chết vì Ba-by-lôn.  Rồi họ sẽ thấy Ai Cập chỉ là một đồng minh bất lực (so sánh Gie 22:20,22).  Sự hình phạt đã giáng trên Giu-đa sẽ tiếp tục xảy đến đâm thấu lòng họ, thấu vào tâm hồn họ (17-18 so sánh 7:20  14:12  24:9  25:18).

Tiên tri Giê-rê-mi kết thúc sứ điệp của Đức Chúa Trời với một lời kêu gọi tàn dân Giu-đa (19).  Ông cảnh báo rằng rồi đây sự cứu chuộc chẳng thể diễn ra qua đám tàn dân này.  Vì ông dư biết thâm tâm họ đã quyết định đi Ai Cập mặc dù ngoài miệng họ một mực chối (41:5-6), (lề bản NIV “các người lầm lạc trong lòng dạ” xác đáng hơn trong c.20a), nên ông khẳng định rằng sự hình phạt chắc chắn sẽ đến trên họ.  Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây là dù ông Giê-rê-mi thấy trước điều họ sẽ chọn nhưng khi họ thực sự chọn việc đó trong thực tế thì mới gây ra sự hình phạt.

4. Đi Ai Cập (Gie 43:1-13)

Đến giờ này, muốn chứng minh sứ điệp của ông Giê-rê-mi đúng hay không thì chẳng có bằng chứng nào hùng hồn hơn là đống hoang tàn đổ nát của đền thờ vừa bị phá huỷ.  Dầu vậy, ông lại bị tàn dân cáo buộc là bịa chuyện nói khoát.  Đối với dân Giu-đa nhận biết sự thật vẫn là một chuyện khó, vì họ đã bị đánh lạc hướng bởi đám tiên tri giả, mạo nhận là biết lẽ thật nhưng chỉ đặt điều nói theo uy tín thẩm quyền của mình (Gie 23:16-18).  Ông Giô-ha-nan và đám tàn dân không công khai thẳng thừng gạt bỏ ý của Đức Chúa Trời.  Họ chỉ tỏ ra là họ biết ý của Ngài rõ hơn ông Giê-rê-mi.  Dĩ nhiên đây là chuyện tự lừa, vô căn cứ, vô thẩm quyền.  Rất dễ mắc vào cái bẫy cho rằng chúng ta diễn dịch ý của Đức Chúa Trời đúng hơn người khác, nhất là khi lối diễn dịch đó phù hợp với điều chúng ta hết sức muốn tin là đúng.  Đây là một sự cám dỗ có thật, và rất hiện đại.  Giờ đây giới lãnh đạo mới quay qua chụp mũ ông Ba-rúc, con người đầy lòng trung thành (3).

Thế là họ kéo nhau chạy trốn qua Ai Cập (4-7).  Đây là một hành động phá bỏ những điều Đức Chúa Trời mới bắt đầu thi thố để phục hồi dân sự và sự thịnh vượng cho xứ bởi lòng nhân từ thương xót của Ngài (40:12).  Với hành động này họ tỏ ý dứt khoát bỏ đất đai xứ sở bắt theo đám người trong hoàng tộc (6 so sánh 41:10) và bắt cả ông Giê-rê-mi theo.  Ông là người di cư bất đắc dĩ nhất trong đám vì ông vẫn thường cảnh báo họ về vụ lánh nạn ở Ai Cập.

Tuy nhiên, ngay cả khi ở Ai Cập, Đức Chúa Trời cũng phán với dân sự qua ông Giê-rê-mi.  Mọi việc này cũng bày tỏ lòng kiên nhẫn và thương xót của Ngài (và Ngài cung còn kêu gọi họ ăn năn, 44:7).  Tuy nhiên, sứ điệp này rao báo về sự hình phạt.  Qua bàn tay của vua Nê-bu-cát-nết-sa sự trừng phạt của Đức Chúa Trời vẫn vươn tới đám tàn dân lầm đường dù họ trốn tránh trong nước Ai Cập.  Trong khi họ tìm cách tự cứu khỏi tay của Ba-by-lôn họ lại đem nộp mạng trên đường tiến công của quân lực Ba-by-lôn.  Ông Giê-rê-mi dùng dấu chứng trong khi nói tiên tri nhằm cảnh báo rằng chắc chắn Ba-by-lôn sẽ chiến thắng Ai Cập (chuyện đã thành sự thật năm 568-567 T.C. so sánh Exe 29:17-20), sứ điệp đoán phạt Ai Cập cũng tương tự như sứ điệp đã được rao ra cho Giu-đa (11 so sánh Gie 15:2).  Sự chiến thắng vẻ vang của Nê-bu-cát-nết-sa chứng tỏ thần tượng của Ai Cập chẳng có năng lực gì (13).

5. Lời kêu gọi cuối cùng (Gie 44:1-14)

Câu 1 khiến cho chúng ta nghĩ đến một cộng đồng người Do Thái ổn định cuộc sống rải rác trong nước Ai Cập đám tàn dân mới đến có lẽ đã hội nhập với các tập thể người Do Thái nhập cư trước kia.  Một lần nữa ông Giê-rê-mi giảng dạy cho họ.  Trước tiên ông nhắc lại biến cố xứ Giu-đa bị huỷ phá mới đây là do tình trạng dân sự triền miên không vâng lời Đức Chúa Trời.  Như từ xưa nay tội danh là tội thờ hình tượng, bắt nguồn từ căn bản là lìa bỏ Đức Chúa Trời.  Ông Giê-rê-mi vẫn sử dụng những lời lẽ quen thuộc (3-6 so sánh 1:16  11:17).  Ông nhắc lại việc đã qua nhằm phụ trợ cho bài học Đức Chúa Trời vẫn đúng như lời Ngài phán.

Tuy nhiên, mục đích của bài giảng là đem tàn dân đang lưu ngụ tại Ai Cập trở về với Ngài (7-10).  Rõ ràng họ vẫn cứ thờ các thần khác (8).  Vì vậy sứ điệp rao ra nói về chính sự chống nghịch của họ đối với Đức Chúa Trời, chớ không phải nói về hành vi xưa kia của họ hoặc của các bậc tiền bối - dù rằng những hành vi đó cũng có tính cách chống nghịch Đức Chúa Trời (9).  Họ tiếp tục thờ hình tượng, có lẽ giờ đây thờ các thần của Ai Cập (8).  Dầu vậy, dù tiếp tục thờ thần cũ hoặc thử thờ thần mới thì việc đó vẫn là tội.  Chắc chắn tiếp theo sẽ là sự hình phạt kèm theo với nỗi nhục nhã khi các dân tộc chứng kiến số phận của dân sự của Đức Chúa Trời (8b so sánh 24:9  25:18).  Tuy nhiên, Đức Chúa Trời chẳng bao giờ muốn ra nông nỗi đó.  Ngài năn nỉ dân sự hãy tránh sự hình phạt (8a).

Dầu vậy, tiếp liền sau đó là lời tiên tri về sự hình phạt (11-14), chứng tỏ dân sự quyết liệt loại bỏ lời kêu gọi mới loan ra của Đức Chúa Trời.  Điểm chính không hẳn chỉ nằm trong sự kiện Đức Chúa Trời biết trước họ sẽ đáp ứng ra sao mà còn trong sự hình phạt của Đức Chúa Trời.  Khi Đức Chúa Trời giáng sự hình phạt thì không phải là chuyện tiền định bất di bất dịch mà luôn luôn là hậu quả của thái độ và hành động loại bỏ Ngài.  Đám dân Giu-đa tị nạn ở Ai Cập tiếp tục chứng tỏ họ xứng đáng với cơn giận của Đức Chúa Trời.  Từ tàn dân xuất hiện nhiều lần trong các câu 7,12,14 nhằm khẳng định rằng Đức Chúa Trời có mục đích đối với dân sự của Ngài trong tương lai, nhưng không thể nào Ngài đạt được mục đích đó qua tàn dân tị nạn ở Ai Cập.  Lời này nhất trí với nội dung giảng dạy của ông Giê-rê-mi trong thời trị vì của vua Sê-đê-kia (24:8-10).  Dầu vậy, điều đáng lạ là ngay cả những người này Đức Chúa Trời vẫn cho một cơ hội để tự tu sửa và thành tâm vâng phục Đức Chúa Trời.

6. ‘Chúng tôi không muốn nghe đâu’ (Gie 44:15-30)

Trong thời vua Giê-hô-gia-kim dân sự theo thói tục thờ Nữ vương trên trời (thần Át-tạt-tê của Ca-na-an, hoặc thần Ishtar của Ba-by-lôn, 7:18).  Tiên tri Giê-rê-mi đã từng lên án thói thờ hình tượng này.  Thế mà nay họ vẫn tiếp tục trong tội lỗi đó.  Hiện nay ở tại Ai Cập cũng như hồi xưa ở Ca-na-an, toàn thể các thành viên trong gia đình đều tham gia vào cuộc thờ phượng này (15,19).  Vì không chịu công nhận nguyên nhân thật đã đẩy họ vào tình cảnh hiện tại cho nên hiện nay họ vẫn lập luận cách lầm lạc rằng xưa kia nhờ thờ Nữ vương trên trời mà họ làm ăn phát đạt (17b-18).  Vì vậy, ông vạch ra rằng chính là tại họ đã thờ hình tượng như vậy mà thời thịnh vượng đó bị kết thúc (20-23).  Trong thâm tâm dân sự ngự trị một ý tưởng lắt léo quỷ quyệt không chịu chấp nhận sự thật này.

Bài giảng cuối cùng của tiên tri Giê-rê-mi dành cho tàn dân tị nạn ở Ai Cập rao ra một sứ điệp thật mỉa mai là bỏ mặc họ cho số phận mà họ đã tự chọn, tự quyết cho mình.  Vì từ bỏ Đức Chúa Trời nên trong thực tế họ tìm được điều họ hằng ao ước - Đó là Đức Chúa Trời cũng bỏ họ (26).  Ngài sẽ tiếp tục hình phạt họ theo như Ngài đã định và với tất cả nhiệt tình như khi Ngài sẽ ban phước cho họ.  Đám tàn dân bị lưu đày ở Ba-by-lôn là những người sẽ hồi tâm hối cải trọn lòng trở về với Ngài (27 đối chiếu 24:6 cũng so sánh 1:12).  Lời của Đức Chúa Trời phải được thành tựu, không một ai có quyền hạn nào cả (28).

Câu 14,28 đề cập đến một nhóm rất ít người Do Thái tị nạn ở Ai Cập sẽ hồi hương, chi tiết đó nhằm chứng tỏ rằng trong phương án tái gây dựng một dân tộc cho Đức Chúa Trời, Ngài không vận dụng đám tàn dân tị nạn ở Ai Cập.  Trái lại toàn thể đám này đều ở dưới cơn thạnh nộ của Ngài vì họ tự tìm một lối thoát, tự lo liệu cho mình một phương cách giải cứu.  Câu 29-30 cho thấy phương lược cứu rỗi của họ dẫn đến hậu quả ra sao.

7. Sứ điệp dành cho ông Ba-rúc (Gie 45:1-5)

Cũng trong năm mà ông Ba-rúc phụ giúp ông Giê-rê-mi viết những lời tiên tri vào một cuộn sách để đọc cho vua Giê-hô-gia-kim nghe (36:1) thì đã có sứ điệp của Đức Chúa Trời về số phận của ông Ba-rúc rồi.  Dường như Đức Chúa Trời truyền phán về ông trong thời gian ngay sau khi hoàn tất cuộn sách và trước khi ông phải đọc sách ở đền thờ (1) và có liên quan đến việc ông Ba-rúc phân trần rằng nhiệm vụ đó nặng nề quá (3) cho tới thời điểm này chúng ta chẳng nghe đến sứ điệp này ở đâu cả - và giờ đây thì sứ điệp này được sắp vào chỗ này, không nằm theo thứ tự thời gian.  Tuy nhiên, hẳn là ông Ba-rúc cũng chung chịu và chia sẻ nỗi buồn phiền và bực bội của Giê-rê-mi.  Trong nội dung của sứ điệp cho ông có những lời lẽ, những yếu tố tương tự như sứ điệp mà Đức Chúa Trời đáp lời cho ông Giê-rê-mi sau khi ông “thổ lộ tâm sự” (12:5-6  15:19-21), có nội dung trách cứ lẫn an ủi khích lệ.  Bối cảnh của sứ điệp là việc Đức Chúa Trời sắp sửa hình phạt toàn xứ Giu-đa (4 so sánh 1:10).  Trong biến cố quy mô san bằng mọi thứ như thế thì tất cả những gì mà con người có thể tự hào đều trở nên như mớ giẻ rách vô dụng.  Vì vậy, Đức Chúa Trời khuyên ông Ba-rúc từ bỏ những kỳ vọng vụn vặt nhỏ nhoi, nhưng hãy yên tâm hài lòng vì ông sẽ sống sót giữa cảnh tàn phá điêu đứng chung (5).  Một nhân vật khác là ông Ê-bết Mê-lết, một người đã trung tín ủng hộ Giê-rê-mi cũng nhận được một lời an ủi khích lệ tương tự (39:16-18).

18. SỨ ĐIỆP CHỐNG CÁC DÂN TỘC KHÁC (Gie 46:1-51:64)

Đức Chúa Trời đã từng giao cho ông Giê-rê-mi nhiệm vụ làm tiên tri cho các dân tộc (1:5) vì vậy giờ đây ông truyền ra những sứ điệp cụ thể về một số những dân tộc láng giềng của Giu-đa.  Các sách tiên tri khác cũng có một điểm chung là có những chương tiên tri chống lại các dân tộc khác (so sánh Es 13:1-23:18  Am 1:1-2:16  Exe 25:1-32:32).  Nhìn chung các bài giảng của ông Giê-rê-mi triển khai ý tưởng chính là sự kiện Ba-by-lôn nổi lên thành cường quốc xâm lăng các nước là sự hình phạt của Đức Chúa Trời dành cho các dân tộc.  Nhưng cuối cùng thì cũng đến phiên Ba-by-lôn bị hình phạt, rồi Giu-đa sẽ được giải phóng khỏi kẻ ức hiếp chà đạp mình.  Ý tưởng này trước tiên được bộc lộ trong Gie 25:15-19, giờ đây triển khai đầy đủ, và là phần kết trong một loạt các lời tiên tri của Giê-rê-mi.

1. Tiên tri chống Ai Cập (Gie 46:1-28)

Dành cho Ai Cập vị trí đầu tiên là rất hợp lý, vì Ai Cập tiêu biểu cho niềm hy vọng và sự tin cậy hão huyền trong suốt thời gian ông Giê-rê-mi thi hành chức vụ tiên tri.  Bài tiên tri đầu tiên (3-12) liên quan đến cuộc chiến bại của Ai Cập trước quân Ba-by-lôn ở trận Cạt-kê-mít bên bờ sông Ơ-phơ-rát trong năm 605 T.C. (2).  Trong bài, ông mô tả quân Ai Cập chuẩn bị ra trận (3-4) hùng dũng tiến ra khỏi Ai Cập, tự hào về thế lực áp đảo của mình, cuồn cuộn như sông Ni-lơ trong mùa nước lũ (7-8).  Tuy nhiên, tiên tri mô tả họ với giọng chế nhạo giễu cợt vì chẳng mấy chốc quân đội vốn được trang bị kỹ lưỡng rơi vào thế trận kinh hoàng (5 so sánh Gie 6:25 lời lẽ vốn được dùng để mô tả Giu-đa nay được chuyển qua để mô tả Ai Cập).  Quân đội xuất phát từ Ni-lơ trở nên đông đảo hơn nữa nhờ đám quân đánh thuê từ Phi châu và Hy Lạp (9).  Nhưng lực lượng hùng cường này bị đánh tan rã tại sông Ơ-phơ-rát (6).  Trong cuộc đối đầu của những tên khổng lồ, kết quả là do sự vận hành của Đức Chúa Trời, là ngày báo thù của Ngài, và cuộc chiến bại của Ai Cập xem như là một con sinh phải chết  để làm của tế lễ (10).  Ai Cập ôm mộng chinh phục lân bang và trở nên cường quốc nhưng giờ đây tại đất khách quê người với những nguồn tài nguyên thiên nhiên vết thương của quân sĩ không sao lành được (11 so sánh 8:22).

Bài tiên tri thứ hai (14-26) cảnh báo Ai Cập về việc Ba-by-lôn tiến công ngay trong lãnh thổ của Ai Cập (so sánh 44:29-30  2:16 và 44:1 về những địa danh có nêu ở đây).  Trong cảnh chiến bại hỗn loạn, quân đánh thuê bỏ cuộc chạy về nước (16).  Câu 17 chơi chữ trên tên của Pha-ra-ôn Hốp-ra, và ngầm ý nói về những sự sai lầm trong chiến lược của Ai Cập khi đối phó với Ba-by-lôn.  Số phận của Ai Cập, gồm cả lưu đày, nhắc chúng ta nhớ lại số phận của Giu-đa (19 so sánh 2:15 4:7  9:12) .  Tha-bô và Cạt-mên là những núi tiêu biểu cho đỉnh cao và mùa màng phong phú dồi dào được dùng ở đây để chỉ về lực lượng áp đảo của Ba-by-lôn (18).  Đạo quân đánh thuê rút đi, Ai Cập chỉ còn nước quay lưng tháo chạy cách nhục nhã, bất lực trước cuộc tiến công vũ bão, y như khu rừng chờ chết trước đám mây cào cào vậy (21-24).  Sự hình phạt giáng trên vua chúa cũng như thần thánh của Ai Cập, và trên cả những người nương cậy vào họ, như người Do Thái tị nạn ở Ai Cập chẳng hạn (25).

Tuy nhiên Đức Chúa Trời cũng hứa phục hồi lại Ai Cập một cách lạ lùng (26b), nhưng Ai Cập không phải là dân tộc duy nhất được phục hồi như vậy (so sánh Es 19:23-25).  Đức Chúa Trời không phải là Đức Chúa Trời chuyên lo hình phạt mà thôi, nhưng Ngài là Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi nữa, chung cuộc Ngài sẽ giải cứu mọi dân tộc.

Tiếp theo lời tiên tri chống lại Ai Cập là một lời tiên tri an ủi dân Giu-đa tản lạc (27-28).  Qua cuộc trừng phạt các dân tộc, người Giu-đa tản lạc sẽ được phục hồi.  Những lời này lặp lại Gie 30:10-11 là phần tiên tri dài về sự phục hồi của Giu-đa.

2. Tiên tri chống lại Phi-li-tin (Gie 47:1-7)

Phi-li-tin là một dân tộc hùng cường trong thời kỳ trước khi có triều đại Đa-vít, mấy thế kỷ trước thời tiên tri Giê-rê-mi.  Sự kiện lịch sử trong bài tiên tri này là vụ quân Ai Cập tấn công Phi-li-tin, có lẽ vào dịp Ai Cập kéo quân viễn chinh đối phó quân Ba-by-lôn tại Cạt-kê-mít (1).  Ga-xa nằm trong vùng đồng bằng dọc bờ biển là nằm trên thông lộ nam bắc của quân đội.  Sự biến đổi của các cường quốc trong thời ông Giê-rê-mi kéo theo nhiều hậu quả kinh khủng cho nhiều người trong vùng.  Dù rốt cuộc, Ai Cập không thắng Ba-by-lôn, nhưng đã có thể gây thiệt hại nặng nề trên xứ Phi-li-tin nhỏ bé (2 so sánh 46:7-8), cảnh đau đớn diễn ra hết sức là cùng cực (3-8).

Nhìn từ bối cảnh lịch sử lâu đời của xứ Phi-li-tin thảm hoạ mà Ga-xa đã gánh chịu nhân sự kiện lịch sử và nguyên nhân cụ thể đó được xem là một biện pháp hình phạt của Đức Chúa Trời đối với những việc gian ác của dân Phi-li-tin.  Số phận đó là sự trừng phạt của Đức Chúa Trời, đã đến lúc họ phải chịu hình phạt (4a,7).  Như vậy Đức Chúa Trời khẳng định quyền hành tối cao của Ngài trên các biến cố trong lịch sử ngay cả khi dù chỉ căn cứ hoàn toàn trên bình diện con người và lãnh vực chính trị người ta cũng có thể lý giải những biến cố đó.

3. Tiên tri chống lại Mô-áp (Gie 48:1-47)

Một trong những nước thù địch dân Y-sơ-ra-ên lâu đời là Mô-áp (Cac 3:12-14  IIVua 3:4-27).  Nhưng Mô-áp lại là một đồng minh của vua Sê-đê-kia trong liên minh chống lại Nê-bu-cát-nết-sa (Gie 27:3), dù là trong thực tế trước đó Mô-áp đã cung ứng binh sĩ cho Ba-by-lôn để tấn công Giu-đa trong thời vua Giê-hô-gia-kim (IIVua 24:2).  Bài tiên tri này có lẽ được rao ra vào dịp Nê-bu-cát-nết-sa chiến thắng Mô-áp năm 582 T.C. vì Mô-áp bội phản.

Các địa danh thường được nhắc đến trong chương này nằm trong xứ Mô-áp, rải rác từ nam chí bắc, ven bờ tây của Biển Chết.  Một vài nơi vốn được Đức Chúa Trời chia cho chi phái Ru-bên vào thời chinh phục xứ Ca-na-an trong giai đoạn đầu tiên với ông Giô-suê làm lãnh đạo (Dan 32:3,37-38  Gios 13:15-19).  Tác giả liệt kê các địa danh đó không phải nhằm nêu ra lý do khiến Mô-áp bị hình phạt mà nhằm ngụ ý về một sự hoàn tất thánh chiến chinh phục Ca-na-an.

Phần mở đầu bài tiên tri (1-6) mô tả một dân tộc khốn khổ trong cuộc xâm lăng của Ba-by-lôn y như Giu-đa đã từng chịu khi xưa (so sánh Gie 4:19-31).  Kế đến là phần mô tả khá mỉa mai về kết quả của niềm hy vọng hão huyền, là họ bị đi đày trong nhục nhã, tượng thần Kê-mốt, là thần của một nước chiến bại bị hạ bệ.  Thế mà xưa kia có thời vua Sa-lô-môn từ bỏ Đức Chúa Trời để thờ thần này (IVua 11:7,33).  Sau những cuộc chiến thời xưa người ta thường có những buổi lễ hạ bệ như vậy để chứng minh sự bất lực của thần trong nước chiến bại.  Kẻ huỷ diệt (8) có lẽ là Ba-by-lôn.  Câu 10 dùng từ rủa sả là một từ ngữ trong cuộc thánh chiến.  Một cuộc thánh chiến đòi hỏi huỷ diệt từ cành tới rễ (so sánh ISa 15:3,11).  Mô-áp bị Ba-by-lôn tàn phá huỷ diệt nhưng thật ra chính là Đức Chúa Trời hình phạt Mô-áp.

Tác giả mô tả Mô-áp lúc đầu rơi vào tình trạng tự mãn qua hình ảnh rượu ngon thình lình đổ vãi lênh láng (11-12), sau đó bị tước hết mọi điều mà họ vẫn tự hào (14-17).  Ở đây Đức Chúa Trời tự nhận mình là Vua (cũng như trong 46:18), để nhấn mạnh rằng chỉ một mình Ngài xử lý mọi vấn đề trong xã hội loài người chớ không phải vua của Mô-áp, cũng không phải Nê-bu-cát-nết-sa vì vua này chỉ là một công cụ của Ngài mà thôi (25:9).  Sau đó là cảnh tan hoang (18 so sánh Gie 14:1-2, cảnh tan hoang của Giu-đa), cũng lại nhắc đến địa danh của toàn xứ (19-25).  Tác giả nêu cụ thể tội kiêu ngạo của Mô-áp, là tội mà Mô-áp đã phạm, đặc biệt khi liên hệ với Y-sơ-ra-ên (26-30).  Sự sụp đổ của kẻ kiêu ngạo rất nghiêm trọng là vậy (28).  Chính tiên tri cũng khóc than vì cớ họ như ông đã từng khóc cho dân tộc của mình (31-32 so sánh 9:10 cũng so sánh c.33 với 16:9).  Tới phiên mình, Mô-áp cũng như Giu-đa khi xưa, trở thành trò hề dưới mắt mọi người (39 so sánh 24:9).

Bài giảng cuối (40-47) lặp lại một số những đề tài chính.  Con diều hâu là vua Nê-bu-cát-nết-sa (40).  Hình ảnh diễn tả tình cảnh vô phương tránh né sự hình phạt (44) nhắc chúng ta nhớ lại lối lập luận trong Am 5:19.  Điều tủi nhục chót là lưu đày (46).  Lời lẽ trong câu 45-46 gợi ý là một lời tiên tri thuở xa xưa, lúc đầu được ghi trong phần tường thuật về cuộc chinh phục vua Si-hôn ở Hết-bôn (Dan 21:28-29) nay sắp thành tựu.

Sau phần hình phạt đến phần kết là sự cứu rỗi (47 so sánh Gie 46:26b).  Lời lẽ ở đây tương tự như lời lẽ được dùng nhiều lần khi mô tả sự phục hồi của Giu-đa trong sách An Ủi (29:14  30:3 v.v).  Đức Chúa Trời hình phạt cũng là Đức Chúa Trời thương xót.  Chung cuộc ân sủng của Ngài không chỉ dành cho một dân tộc mà thôi nhưng cũng dành cho những người vốn thù nghịch Ngài.

4. Những bài tiên tri ngắn (Gie 49:1-39)

(Gie 49:1-6) Tiên tri chống lại Am-môn  Cũng như Mô-áp, Am-môn là một dân tộc thù địch Y-sơ-ra-ên từ thuở xa xưa (Cac 11:4-33), cũng từng cung cấp binh lính cho vua Nê-bu-cát-nết-sa (IIVua 24:2), nhưng sau đó lại gia nhập liên minh chống lại Ba-by-lôn (Gie 27:3).  Tội lỗi của Am-môn liên quan đến thái độ thù địch đối với Y-sơ-ra-ên dẫn đến việc chiếm đóng lãnh thổ của Y-sơ-ra-ên (1-2), nhân danh thần Mô-lóc (hoặc Minh côm) trục Y-sơ-ra-ên ra khỏi đất đai của họ, như vậy là chống nghịch Đức Chúa Trời là Đấng đã ban cho dân của Ngài và danh của Ngài cũng gắn liền với vùng đất đó.

Ở đây lại mô tả tình trạng khốn đốn của dân chúng khi bị tấn công và lưu đày cùng với thần tượng của mình bị quân thù sỉ nhục (3). (Hết-bôn là một thành nằm ở biên giới hai nước nên có thể từng hồi từng lúc thuộc về Mô-áp hoặc Am-môn c.3, so sánh Gie 48:2).  Trong bài này Giê-rê-mi đề cập đến những đề tài thường gặp đó là Am-môn đặt lòng tin tưởng hão huyền vào năng lực cùng của cải của mình và sự hình phạt sẽ kinh khủng vô cùng (4-5).  Tuy nhiên, cũng như Ai Cập và Mô-áp, Am-môn cũng được phục hồi như Ai Cập và Mô-áp (Gie 46:26b  48:47).

(Gie 49:7-22) Tiên tri chống Ê-đôm Thái độ thù địch của Ê-đôm đối với Y-sơ-ra-ên từ thời xa xưa lẫn trong thời của ông Giê-rê-mi trở nên cay đắng tồi tệ hơn vì Ê-đôm vốn là bà con với Y-sơ-ra-ên.  Dân Ê-đôm là hậu duệ của Ê-sau, anh em sinh đôi với Gia-cốp (8 so sánh Sa 25:29-30). Ê-đôm giúp đỡ Ba-by-lôn để hại Giu-đa là lý do khiến Áp-đia nói tiên tri chống lại Ê-đôm (xem sách Áp-đia).

Ê-đôm nằm về phía nam Biển Chết, nổi tiếng về sự khôn ngoan (Ê-li-pha, một trong mấy người bạn an ủi Gióp là dân thành Thê-man ở Ê-đôm, Giop 4:1).  Tuy nhiên, vốn liếng khôn ngoan của Ê-đôm không thể ngăn cản tai hoạ cận kề, mà khi tai hoạ đến thì không chừa một ai cả ngay cả những hang động trên vùng đồi núi hiểm trở cũng không phải là nơi trú ẩn an toàn (10).  Nhưng ân điển của Đức Chúa Trời vẫn dành cho thành phần thất cơ lỡ vận không nơi nương tựa giữa vòng họ (11).  Chén (12) là chén thạnh nộ mà ai nấy đều phải uống (Gie 25:15), câu 12 nói theo lối diễn văn nhấn mạnh rằng Ê-đôm rất đáng phải uống chén thạnh nộ.  Bốt-ra là thủ đô của Ê-đôm trong thời ông Giê-rê-mi (khác với một địa danh trùng tên nhưng ở xứ Mô-áp 48:24).

Trong một xứ đầy dẫy hang hầm mà không có chỗ nào có thể làm nơi trú ẩn an toàn khỏi sự hình phạt (14-16 so sánh Ap 1:1-4).  Ở đây cũng chịu một số những đợt tàn phá huỷ diệt như Giu-đa đã từng bị (18-19 so sánh Gie 10:6  23:14).  Con diều hâu (chim ưng) chắc chắn cũng lại chỉ về Nê-bu-cát-nết-sa (so sánh 48:40).

(Gie 49:23-27) Tiên tri chống lại Đa-mách Đa-mách tức là Sy-ri, cũng là một kẻ thù truyền kiếp của Y-sơ-ra-ên.  Ha-mát và Ạt-bát ở phía bắc Y-sơ-ra-ên cũng nằm trong lãnh thổ Sy-ri.  Ông Giê-rê-mi mô tả sự sụp đổ và kinh hoàng của họ bằng những lời lẽ quen thuộc.  Các quốc gia và tiểu quốc này đã hùng cường trước thời ông Giê-rê-mi, có lẽ ông dùng lại một bài tiên tri cũ.  Lời lẽ phê bình Bên Ha-đát, một vị vua tiền bối của Sy-ri, đã trở thành một thành ngữ (so sánh Am 1:4).

(Gie 49:28-33) Tiên tri chống lại -đa Hát-so Bài tiên tri tập trung nói đến mấy chi phái Ả-rập du mục trong vùng đất phía đông Y-sơ-ra-ên, có liên quan tới người Ma-đi-an và người A-ma-léc (Cac 6:3 so sánh Sa 25:13).  Vấn đề nhấn mạnh trong bài này là sự kinh hoàng và giảm dân số (so sánh Gie 6:25  9:11).  Dân du mục dễ bị tấn công trong các làng mạc không có tường bảo vệ chung quanh.  Ở đây dùng sự kiện này để minh hoạ về sự an tâm tin cậy hão huyền.

(Gie 49:35-39) Tiên tri chống Ê-lam Ê-lam là một nước có thế lực ở về phía đông Ba-by-lôn.  Nhưng thời trị vì của Nê-bu-cát-nết-sa thì Ê-lam phục tùng Ba-by-lôn.  Gió bốn phương tứ hướng (36) là một lối diễn dịch quyền hành của Đức Chúa Trời trên khắp cõi địa cầu (Exe 37:9  Da 8:8  Xa 6:1-8).  Ngay cả thời Ba-by-lôn chế ngự luôn Ê-lam dẫn đến việc Ba-by-lôn trở nên công cụ của Đức Chúa Trời để hình phạt Giu-đa và các nước khác, Ba-by-lôn vẫn ở dưới quyền kiểm soát của Đức Chúa Trời.  Tuy nhiên, trong tương lai Ê-lam cũng được phục hồi (39 so sánh Gie 48:47).

5. Tiên tri chống lại Ba-by-lôn (Gie 50:1-51:64)

(Gie 50:1-46). Loạt bài tiên tri chống các dân tộc kết thúc với một loạt bài tiên tri chống Ba-by-lôn, là kẻ “huỷ diệt” mà trọn sách này đã cưu mang.  Chỗ đứng có ý nghĩa lớn lao của kẻ “huỷ diệt” trong vai trò làm công cụ cho sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời đối với dân sự bất trung của Ngài, giờ đây được chất đầy những lời tiên tri phán xét chính đương sự.  Hướng lập luận chính của lời tiên tri là cuối cùng đến phiên kẻ huỷ diệt cũng sẽ bị huỷ diệt.  Kẻ huỷ diệt có năng lực lớn lao đã chinh phục được các nước khác nhưng vẫn phải là lời nói cuối của Đức Chúa Trời trong lịch sử.  Chúng ta đã biết rằng rồi đây Ngài sẽ đem sự cứu rỗi và phước hạnh đến cho dân của Ngài (chương 30-33).  Theo lẽ công bằng của Ngài thì thời điểm hình phạt Ba-by-lôn cũng sẽ đến (Cũng so sánh 25:11-12,17-26).

(Gie 50:2-17) Một kẻ thù từ phương bắc  Marduk là thần chính của Ba-by-lôn, là vị anh hùng trong bản trường ca sáng tạo.  Trong Es 46:1 cũng có đề cập đến Bên, thoạt tiên là một thần nhưng về sau xem ra bị xem là một với thần Marduk.  Bản án của Ba-by-lôn mở đầu với các thần Ba-by-lôn là rất thích đáng.  Dù Giu-đa bị đày đến lãnh thổ được xem là nằm dưới quyền cai trị của các thần này, nhưng các thần này chưa chứng tỏ là họ có quyền năng hơn Đức Chúa Trời.  Trái lại, sự bất lực của họ giờ đây sẽ lộ ra (so sánh Gie 48:7).

Về phía Giu-đa thì Ba-by-lôn vốn là kẻ thù từ phương bắc (1:14  6:1).  Giờ đây thế cờ đã lật ngược (3,9  51:27-28).  Chẳng có thế lực nào có toàn quyền cai trị trong các nước trên thế giới, duy chỉ Đức Chúa Trời có toàn quyền thôi.

Trong khi Ba-by-lôn sụp đổ, thì Giu-đa được trọn quyền tự do ăn năn, hối cải trở về với Đức Chúa Trời, một sự trở về mà trên nguyên tắc, là một sự phục hồi toàn bộ Y-sơ-ra-ên trong lịch sử.  Họ sẽ tìm đến Si-ôn, không phải là một nơi mà có lần họ đã từng đặt hết niềm tin sai lầm vào nơi đó (7:1-15), nhưng là nơi mà Đức Chúa Trời đã khải thị chính mình Ngài cách chân thật (so sánh Es 2:2-4), và tại đó họ sẽ tái lập giao ước đã lập xưa kia (5 so sánh Gie 31:31-34).  Cơ hội rời bỏ nơi sống lưu đày để hồi hương cũng có giá trị như một mệnh lệnh (8).

Tội lỗi chính của Ba-by-lôn là đã chế giễu dân sự của Đức Chúa Trời và xứ của Ngài (11).  Trong khi Đức Chúa Trời buồn rầu vì phải hình phạt, Ba-by-lôn lại vui mừng về mớ của cải cướp bóc được.  Vì vậy, biện pháp trừng trị dành cho Ba-by-lôn đặc biệt thêm tính cách báo thù (15).  Sự kiêu hãnh đổi thành hổ nhục, cuộc đời bận rộn giàu có đổi thành hoang tàn buồn khổ, tất cả những hình thức hình phạt nay đổ trên dân tộc đã gây ra bao cảnh đó cho vô số người khác một cách quá đáng (12-15).  Chẳng riêng gì Giu-đa, các dân tộc khác giờ đây cũng được tự do trở về quê quán xứ sở của họ (16).

Phần thứ nhất của bài tiên tri kết thúc (17) với sự ôn lại.  Để kết thúc phần một của bài tiên tri tác giả ôn lại hai lần dân Y-sơ-ra-ên bị bắt đi đày, lần thứ nhất do A-si-ri liên quan đến dân cư trong vương quốc phía bắc năm 722 T.C., rồi lần thứ hai do Ba-by-lôn liên quan đến vương quốc phía nam (17).  Mọi việc xảy ra đều do Đức Chúa Trời, và kết thúc với sự phục hồi của dân sự.

(Gie 50:18-32) Y--ra-ên Giu-đa  Sự phục hồi diễn ra cho toàn bộ dân Y-sơ-ra-ên thuộc cả hai vương quốc (20).  Hình ảnh mô tả theo nghĩa đen rồi chuyển qua ý hình bóng, vì vương quốc miền bắc kể như không còn gì ngoài ra tên của dân tộc.  Sự phục hồi số dân sống trong cảnh lưu đày dù tự thân là sự giải cứu thật sự, nhưng cũng là hình bóng về sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời sẽ thực hiện cho nhân loại trên đất Giu-đa qua một người Do Thái chịu chết vì mọi người trên thập tự giá.

Trận đánh chống Ba-by-lôn được mô tả cách sống động (21-24).  Chiến trận của Đức Chúa Trời là một cuộc thánh chiến, đích thân Ngài tham gia, và mọi hành động phá huỷ diệt trừ đều có tính cách dâng hiến một của lễ (25-28).  Một lần nữa tín hiệu vang lên về sự trả thù, lần này liên quan đến đền thờ (28).  Vụ phá huỷ và san bằng đền thờ là một hành động phạm thượng tối nghiêm trọng dù rằng Đức Chúa Trời đã ra lệnh hình phạt dân sự của Ngài.  Việc đó thách thức quyền cai trị của Đức Chúa Trời trên đất.  Đó là một hành động của một dân ngạo mạn (29-32).  Do đó Đức Chúa Trời hình phạt Ba-by-lôn vì Ngài phải chứng tỏ cho mọi dân tộc biết rõ rằng Ngài là Chúa trên mọi người.  Đến hạn định đền thờ sẽ được tái thiết để tiêu biểu cho sự chiến thắng của Ngài.

(Gie 50:33-46) Đấng cứu chuộc của họ mạnh  Lịch sử quay giáp một vòng.  Trước kia, Đức Chúa Trời kiện dân sự của Ngài, buộc tội họ nay Ngài đem sự hình phạt đến để ủng hộ họ (đối nại, c.34, tương tự như tranh cạnh, Gie 2:9).  Ngài làm việc đó trong vai vế Đấng Cứu Chuộc của họ (34).  Từ này bắt nguồn trong luật lệ cũ của người Y-sơ-ra-ên thuở xưa.  Theo luật này một goá phụ hoặc một trẻ mồ côi được một thành viên khác trong họ hàng nhận nuôi (Ru-tơ 4).  Đức Chúa Trời dùng từ này để nói về chính mình, Ngài nhằm nhấn mạnh mối liên hệ tự nhiên giữa Ngài và dân sự.  Cứu chuộc một người bà con như thế này đòi hỏi dấn thân, trả giá cao, và giữa người được cứu và người đứng ra giải cứu có mối liên hệ mật thiết nhất.  Ý tưởng này lấy từ Cựu Ước đem áp dụng vào sự kiện Chúa Giê-xu cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi.

Trong cuộc xét xử chung kết cho dân sự, Đức Chúa Trời giữ trọn lời hứa dành cho họ trong chương 30-33 về cuộc phục hồi.

Điều này ngầm nói về sự sụp đổ của Ba-by-lôn tiếp tục được mô tả ở đây.  Nhiều khung hình phạt vốn áp dụng cho Giu-đa nay đem áp dụng cho Ba-by-lôn, với mức độ nặng nề hơn xem ra khá mỉa mai, thí dụ: gươm (35-37 so sánh 14:12), hạn hán (38 so sánh 14:1), mất dân (39-40 so sánh 4:29), một kẻ thù từ phương bắc (41-43 so sánh 6:22-24 - coi như một sự trùng lặp).  Mấy câu cuối (44-46) lặp lại 49:19-21 (chống lại Ê-đôm).  Giờ đây Ba-by-lôn đứng vào vị trí bị săn đuổi.  Sự sụp đổ của Ba-by-lôn nằm trong chương trình của Đức Chúa Trời đối với toàn thế giới (46).

(Gie 51:1-10) Si-ôn được bênh vực Đức Chúa Trời xoay qua xử lý Ba-by-lôn, vốn là công cụ của Ngài, chứng tỏ Ngài không vĩnh viễn từ bỏ dân sự của giao ước Ngài không bỏ quên họ (nghĩa đen “bỏ họ như bỏ một goá phụ” c.5).  Đây là một khía cạnh khác trong sự cứu chuộc (50:34).  Ba-by-lôn đã làm cho thế giới đau khổ vì cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời (7 so sánh 25:15), giờ đây Ba-by-lôn vô phương cứu chữa (9 đối chiếu 30:17 về vết thương của Y-sơ-ra-ên / Giu-đa).  Đức Chúa Trời đã xét đoán cho Si-ôn (tiêu biểu cho cả dân sự lẫn lãnh thổ, c.10 câu này do số người đã hồi hương lập nghiệp tại đó nói).  Có nghĩa là Ngài đã cứu dân sự và đặt họ vào lẽ phải lời lẽ báo trước điều ông Phao-lô sẽ giãi bày “xưng công bình bởi đức tin” - sự cứu rỗi bởi ân sủng của Đức Chúa Trời dành cho những người xứng đáng với sự cứu rỗi.

(Gie 51:11-24) Trả thù Ba-by-lôn Sự trả thù trở thành đề tài chính, vì cớ Ba-by-lôn đã xúc phạm Đức Chúa Trời bằng cách phá huỷ đền thờ của Ngài (11 so sánh 50:28).  Ba-by-lôn đã trải qua một thời kỳ giàu có và lắm thế lực.  Giờ đây đến lúc Ba-by-lôn bị hình phạt (13 so sánh 25:12).  Người Mê-đi (11) là một thế lực mới nổi lên trong thế giới cổ đại, trong khi đế quốc của Nê-bu-cát-nết-sa tan tành.  Ê-sai (Es 45:1) báo trước về sự nổi lên của Si-ru là vua người Mê-đi cầm quyền cai trị ở Ba Tư, và dọn đường thiết lập đế quốc Ba Tư.  Tư thân sự kiện các đế quốc có vẻ bất khuất tuần tự thay thế nhau trong Kinh Thánh là một lời làm chứng rằng con người dù có thế lực đến đâu cũng là yếu đuối, còn sự yếu đuối của Đức Chúa Trời là sức mạnh (so sánh Da 2:31-45  ICo 1:25).

Trước kia (Gie 10:12-16) ông Giê-rê-mi tiên tri chống lại Giu-đa về nạn thờ hình tượng, vạch rõ quyền năng có thật của Đức Chúa Trời trong công cuộc sáng tạo, trái hẳn sự yếu đuối vô dụng của các thần không có thật (15-19) nay những lời lẽ đó đập lại Ba-by-lôn.

Cuối cùng, trong phần này, thời kỳ mà Ba-by-lôn được làm công cụ đầy thế lực trong tay của Đức Chúa Trời đã chấm dứt với lời hiệu triệu cổ võ của Đức Chúa Trời (20-23), Đức Chúa Trời cho thêm câu 24 để khẳng định sự kiện đó.

(Gie 51:25-32) Các nước chống lại Ba-by-lôn Các quốc gia ồ ạt tấn công Ba-by-lôn trong một thế cờ lật ngược khá mỉa mai, vì có thời Ba-by-lôn đã đánh tan tành nhiều nước kể cả Giu-đa, cũng theo lệnh của Đức Chúa Trời (Gie 27:4-8).  Giờ đây người Mê-đi xuất hiện đứng đầu một loạt các dân tộc khác (28), y như Ba-by-lôn xưa kia từng lãnh đạo các nước vệ tinh của mình (so sánh IIVua 24:2 cũng so sánh thế lật ngược trong c.27 với Gie 46:23).  Phân đoạn này mô tả Ba-by-lôn trong cơn đau đớn tuyệt vọng, cuối cùng hoàn toàn kiệt quệ về mặt tinh thần lẫn năng lực, hệ thống phòng thủ gồm bức tường bao quanh lẫn nước uống đều thất bại trước chiến thuật và lực lượng hùng hậu tàn bạo của kẻ thù (29-32).

(Gie 51:33-44) Thắng lợi của Giu-đa Lời lẽ của những người Giu-đa đã từng chịu khổ trong thời Ba-by-lôn (34-35) nhắc lại Thi 137:1-9, với lời cầu nguyện đáng sợ chống lại kẻ áp bức mình.  Tuy nhiên, Đức Chúa Trời lên tiếng sau đó, một lần nữa hứa là Ba-by-lôn sẽ sụp đổ, vì nay Đức Chúa Trời bênh vực họ (36 so sánh Gie 50:34).  Ở đây cũng như ở phần trên nói về nguồn nước dồi dào cung ứng cho thành phố (36), vì thành phố tọa lạc bên bờ sông Ơ-phơ-rát ở Mê-sô-bô-ta-mi “vùng đất giữa đôi dòng sông”.  Đặt lòng tin cậy nơi nguồn tài nguyên và ưu thế của thiên nhiên vẫn không thể an toàn tránh khỏi sự hình phạt của Đức Chúa Trời.

Sê-sác (41) là một danh hiệu dùng để chỉ về Ba-by-lôn (so sánh 25:26).  Bên (44) là một trong các thần của Ba-by-lôn (so sánh Es 46:1), bất chấp lần xuất hiện trước đây vẫn không thể thắng hơn Đức Chúa Trời.

(Gie 51:45-58) Hãy rời khỏi nơi đó!” Phần cuối cùng trong bài tiên tri chống lại Ba-by-lôn là một lệnh truyền cho những người bị đày đang lưu ngụ tại Ba-by-lôn hãy chạy trốn, trốn ra khỏi Ba-by-lôn vì cơ hội đã đến với họ (45-46).  Suy cho cùng sự cứu rỗi không phải là một việc làm của Đức Chúa Trời mà đối tượng được cứu vô phương kháng cự, trái lại từ phía đối tượng phải có hành động đáp ứng bày tỏ đức tin, sự vâng lời và lòng can đảm vì họ dễ nản lòng vì những tin đồn liên tiếp về vụ thành thất thủ, dễ mất niềm hy vọng vừa nhen nhúm (trong 55:6 cũng có một lời kêu gọi tương tự).  Để trả lời cho những nỗi lo sợ đó có lời bảo đảm trong 47-48.

Ba-by-lôn bị hình phạt đơn giản chỉ vì những tội ác của họ đối với dân của Đức Chúa Trời (49).  Ở đây nhắc lại nỗi đau của họ, tập trung vào sự tàn phá đền thờ (51), và có một lời hứa là ngay cả thần của Ba-by-lôn cũng bị hạ nhục.  Tất cả những nỗi khốn khổ mà Ba-by-lôn từng gieo rắc ra sẽ gặt lại đầy đủ (56-57).

(Gie 51:59-64) Một dấu chứng tiên tri Các bài tiên tri chống Ba-by-lôn kết thúc với một sứ điệp và một dấu chứng có niên định là năm thứ tư thời vua Sê-đê-kia khi vua đi qua Ba-by-lôn, có lẽ để khai trình vai trò của vua trong vụ nổi dậy (Gie 27:3).  Ông Sê-ra-gia, anh của ông Ba-rúc (so sánh 32:12) tháp tùng vua trong chuyến đi này, nhận một công tác do ông Giê-rê-mi giao phó, đó là rao ra cái chết của Ba-by-lôn qua một dấu chứng.  Cuộn sách làm dấu chứng có lẽ gồm tất cả hoặc một số những bài tiên tri chống lại Ba-by-lôn trong chương 50-51 là phần tiên tri không đề niên đại.

Chú giải.  “Ba-by-lôn” trong Tân Ước.  Đức Chúa Trời hình phạt Ba-by-lôn trong Cựu Ước để giải thoát cho dân Giu-đa khi xưa có ý nghĩa sâu rộng hơn nữa.  Ba-by-lôn tiêu biểu cho thế lực chống nghịch quyền cai trị của Đức Chúa Trời trên thế giới.  Tác giả Khải Thị vay mượn nhiều chi tiết từ các bài tiên tri trong Cựu Ước chống lại Ba-by-lôn khi mô tả “Ba-by-lôn” trong chương 17-18.  Trong Khải Thị “Ba-by-lôn” trước tiên nhằm ám chỉ những sự bắt bớ của đế quốc La-mã đối với hội thánh của Chúa trong thời kỳ khai nguyên, nhưng sau đó cũng có ý nói về những người ghen ghét Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài.  Cơ Đốc nhân được kêu gọi vững tâm đương đầu với Ba-by-lôn tức là mọi biểu hiện về tình trạng xấu xa gian ác và áp bức, với lòng tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ lật đổ những thế lực chống báng Ngài trong thời điểm thích hợp.

19. GIÊ-RU-SA-LEM THẤT THỦ (Gie 52:1-34)

Chương cuối sách Giê-rê-mi rất tương tự với IIVua 24:18-25:30.  Bài tường thuật này nằm trong chương đó xem ra thích hợp hơn.  Thật vậy, tiên tri Giê-rê-mi đã kể về biến cố này trong chương Gie 39:18 và về những diễn biến sau đó tại Giu-đa trong chương 40-44.  Trong khi đó sách các vua lại kể rất sơ lược về các diễn biến này (IIVua 25:2-26).  Phần sơ lược đó không được vận dụng vào chương này vì xem ra thông tin về những chuyện đó như vậy là đủ rồi.  Có lẽ ông đặt bài tường thuật này ở cuối sách nhằm kết thúc một cách thích hợp cho các bài tiên tri.

Nội dung của chương này và bài tường thuật trong sách Các Vua có một số điểm dị biệt.  Chương này có chép về vụ hành hình các quan trong triều của vua, và vụ vua bị giam cầm suốt đời (11-12) trong khi sách Các Vua thì không nói đến, kể ra thì cũng dễ hiểu thôi, khi xét về mức độ sách Giê-rê-mi chú trọng đến vua Sê-đê-kia.  Thêm một chi tiết dị biệt nữa là ngày tháng tướng Nê-bu-xa-a-đan đến Giê-ru-sa-lem.  Theo Giê-rê-mi là ngày 10 trong khi sách Các Vua thì chép là ngày 7 (25:8), có lẽ đây là sự sai sót của người sao chép sách Các Vua hoặc sách Giê-rê-mi.  Trong câu 22 và câu 25 cũng có những chi tiết dị biệt tương tự (so sánh 25:17,19).  Số người bị lưu đày trong câu 28-30 cũng ít hơn trong 24:14,16 có lẽ vì chỉ tính số nam giới ở tuổi trưởng thành.

Chi tiết cuối cùng về việc vua Giê-hô-gia-kin được ân xá khi vua Nê-bu-cát-nết-sa băng hà.  Có thời gian người ta xem vụ này là dấu hiệu sắp kết thúc thời kỳ lưu đày.  Cũng có thể, nhưng tự thân vụ việc không phải là một tín hiệu của niềm hy vọng.

Sách Giê-rê-mi đề xướng một niềm hy vọng sâu xa hơn, có ý nghĩa hơn.  Đó là hy vọng nơi Đức Chúa Trời của lịch sử, là Đấng hình phạt tội lỗi nhưng cũng là Đấng hứa ban sự cứu rỗi là Đấng hứa ban giao ước mới (Gie 31:31-34), và là Đấng làm trọn giao ước đó qua chính con Ngài là Chúa Giê-xu Đấng Cứu Thế (He 10:11-18).

Lên đầu trang