PHỤC-TRUYỀN LUẬT-LỆ KÝ

MỤC LỤC

PHỤC TRUYỀN LUẬT LỆ KÝ

1. MÔI-SE GIẢNG BÀI THỨ NHẤT (Phu 1:1-4:43)

1. Dẫn nhập (Phu 1:1-5).

Ngay từ những lời mở đầu ta đã thấy khung cảnh của sách này.  Thật vậy trong Kinh Thánh Cựu Ước bằng tiếng Hi Bá Lai, tựa đề của sách là Đây là những lời.  Tựa đề này rất thích hợp vì phần lớn nội dung của Phục Truyền Luật Lệ Ký là lời của Môi-se nói lúc còn đóng trại bên phía đông sông Giô-đanh, trước khi dân Y-sơ-ra-ên tiến vào xứ Đức Chúa Trời ban cho họ.  Câu mở đầu cũng chuẩn bị cho chúng ta về chủ đề của sách, đó là sự giãi bày luật pháp (5).  Luật pháp này nói đến Mười Điều Răn và những luật khác do Đức Chúa Trời truyền ra ở núi Si-na-i (Xu 201-23:33), thường được gọi là núi Hô-rếp trong Phục Truyền Luật Lệ Ký (2).  Trong Phục Truyền Luật Lệ Ký từ ‘lời’ ngụ ý là lời của Đức Chúa Trời.  Môi-se chỉ giãi bày lại cho dân Y-sơ-ra-ên những điều mà Đức Chúa Trời đã phán với ông (3).  Đây là lý do chính vì vậy mà ông là một ‘tiên tri’, một danh hiệu ông dùng sau này (Phu 18:18).

Phần dẫn nhập cũng chuẩn bị cho sự truyền ra mạng lịnh của Đức Chúa Trời về cuộc tiến chiếm đất hứa bằng vũ lực.  Câu sau khi người đánh bại Si-hôn (4) nhấn mạnh rằng chính Đức Giê-hô-va chiến thắng trong những trận đánh trước đó của dân Y-sơ-ra-ên.  (Về những chiến thắng được nhắc lại ở đây, xin xem Dan 21:1-30:17  33:1-35:34, và những đoạn dưới đây từ Phu 2:26-3:22).  Một ý quan trọng trong Phục Truyền Luật Lệ Ký là Đức Chúa Trời đánh trận cho dân của Ngài (những cuộc thánh chiến, xem phần chú giải ở chương 7).  Như Ngài đã thắng trong quá khứ, chính Ngài cũng sẽ thắng trong những cuộc chiến sắp tới chống lại cư dân tại Ca-na-an.

Chú giải.  Những địa danh này vạch ra lộ trình từ Hô-rếp đến Mô-áp.  A-ra-ba bao gồm thung lũng Giô-đanh, Biển Chết và vùng xa hơn về phía nam.  Phía đông sông Giô-đanh là một cách nói đến vùng này và có lẽ là bằng chứng xác nhận rằng Phục Truyền Luật Lệ Ký không được viết trong vùng phía tây sông Giô-đanh (tức là sau khi đã chiếm xứ).

2. Hồi tưởng và mở đầu (Phu 1:6-3:29)

(Phu 1:6-8). Mạng lịnh tiến vào xứ  Từ Xu 19:1-27 đến Dan 10:13 chép về thời gian lưu ngụ ở Hô-rếp.  Giờ đây Đức Chúa Trời truyền lịnh cho dân sự phải tiến vào xứ.  Đây là một thời điểm quan trọng trong lịch sử của họ, vì lời hứa dành cho các tổ phụ sắp thành tựu (8).  Phần mô tả xứ này gợi nhớ lại Sa 15:18-21.  Xứ này trải rộng từ tây sang đông (từ rặng núi trung tâm, những đồi thấp cho đến phía tây, và đồng bằng duyên hải), và từ nam chí bắc (từ Negev lên vùng đồng bằng duyên hải đến Lebanon ở phía bắc, thậm chí còn đến tận sông Ơ-phơ-rát).  Họ không chiếm cứ toàn khu vực này một lần nhưng cuối cùng chính Đa-vít chinh phục được và Sa-lô-môn đã giữ vững được.

(Phu 1:9-18). Chỉ định những người lãnh đạo.  Dân số gia tăng (10) là làm ứng nghiệm lời hứa đã lập với Áp-ra-ham (Sa 15:5).  Tuy nhiên sự kiện này cũng có nghĩa là cần một hệ thống lãnh đạo và tổ chức.  Môi-se cần sự giúp đỡ (9  Xu 18:17-27).  Nhưng bản văn hàm ý nhiều hơn thế.  Cần cai trị dân Y-sơ-ra-ên bằng luật pháp của Đức Chúa Trời.  Vì vậy guồng máy cai trị phải làm sao bảo đảm hiệu quả.  Sự phân tán quyền lực (15) có ý chứng tỏ là người ta có thể vận dụng luật pháp của Đức Chúa Trời một cách công bằng vào tất cả các tình huống tranh chấp hoặc giữa người dân Y-sơ-ra-ên với nhau hoặc giữa họ và những người ngoại bang khác (16-17).

Những người lãnh đạo đã được lập lên để xét xư.  Họ không xét xử theo sự khôn ngoan riêng nhưng đúng ra họ chỉ là công cụ của Đức Chúa Trời để giảng giải luật pháp của Ngài.  Đó chính là bản chất của sự xét xử có chép ở đây (17).  Sự xét xử của Đức Chúa Trời nhằm bảo đảm rằng ai nấy đều tôn trọng và đạt được các tiêu chuẩn của Ngài để thoả mãn quyền lợi của mọi thành viên trong dân sự.  Tất cả mọi người đều được quyền hưởng công lý như nhau.

Chủ trương cai trị dân Y-sơ-ra-ên bằng luật pháp của Đức Chúa Trời, tức là bảo vệ mọi người một cách bình đẳng, khiến cho dân Y-sơ-ra-ên khác hẳn những dân tộc láng giềng.

(Phu 1:19-25).  Sai các thám tử ra đi. Rời Hô-rếp, dân sự đã nhanh chóng đến biên giới của đất hứa (19-20).  Lúc ấy mạng lịnh tiến vào xứ được lặp lại (21).  Điều quan trọng cần chú ý là Đức Chúa Trời đã ban xứ ấy cho họ rồi.  Sự sở hữu xứ là điều chắc chắn - tuy nhiên còn phải chiếm xứ.  Điều kỳ lạ là lời hứa cũng là một mạng lịnh.  Họ phải có đức tin và lòng can đảm để tin rằng Đức Chúa Trời nghiêm chỉnh nói những điều đó và Ngài có quyền năng làm theo điều Ngài phán.  Mạng lịnh chớ ái ngại, chớ kinh khủng đặt cơ sở trên sự hiểu biết của họ về Đức Chúa Trời, vì Ngài đã thắng hơn bao nhiêu trở ngại để đem họ ra khỏi Ai Cập một cách lạ lùng.  Dân sự có lý do để tin cậy Ngài.  Tuy nhiên nếu họ thiếu đức tin và lòng dũng cảm để tin cậy thì họ có thể không nhận được những điều lẽ ra là của họ.

Quyết định sai các thám tử đi do thám là một dấu hiệu về sự lo ngại mặc dù Môi-se đồng ý với kế hoạch đó (23).  Nếu dân Y-sơ-ra-ên tin nơi những dự định tốt đẹp của Đức Chúa Trời dành cho họ, họ không cần có người đi do thám về xác định rằng ‘đó là xứ thật tốt’ (25)

(Phu 1:26-33). Sự sợ hãi của dân sự. Các thám tử đã nhìn thấy một xứ thật tốt nhưng họ cũng nhìn thấy dân sống ở đó giống như những người khổng lồ (28).  Phản ứng của họ là sợ hãi và nản lòng.  Môi-se đã từng cảnh cáo họ là đừng nên có thái độ đó (21) và giờ đây ông lặp lại (29).  Sở dĩ họ sợ hãi vì họ thiếu niềm tin.  Lâu nay họ nghĩ rằng Đức Chúa Trời chẳng hề tính chuyện tốt đẹp cho họ, cuộc hành trình cho tới nay chỉ làm phương hại cho họ (27  Xu 17:1-3).  Để đáp lời Môi-se không những nhắc họ rằng Đức Chúa Trời đã bày tỏ rằng Ngài rất quyền năng (30) mà Ngài còn yêu thương họ vô cùng (31).

Tuy vậy dân sự đã quyết định làm theo hướng mắt thấy.  Trước hết họ đã sai thám tử đi để rồi sau khi nghe các thám tử báo cáo họ đâm nản lòng.  Điều kỳ lạ là trong tình trạng này họ không còn thấy sự kiện rõ ràng là Đức Chúa Trời có khả năng thắng hơn mọi trở ngại.  Môi-se hết sức tìm cách vạch ra cho họ thấy xử sự như vậy là hết sức vô lý (32-33).

(Phu 1:34-40). Đức Chúa Trời kết án. Trong chương Phu 1:8 chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời ‘thề’ ban xứ này cho dân Y-sơ-ra-ên.  Ở đây Ngài lại thề rằng (34-35) dòng dõi gian ác này sẽ không thấy sự thành tựu của lời hứa này.  Ngoại trừ Ca-lép (36), là một trong những thám tử (Dan 13:6), vì ông có lòng tin, không sợ hãi gì (14:24).

Ca-lép và Giô-suê, người kế vị Môi-se (38  14:30) là những người duy nhất trong thế hệ đó được nhìn thấy đất hứa, còn chính Môi-se thì không (37).  Dân Số Ký đã giải thích sự trừng phạt của Đức Chúa Trời đối với Môi-se vì ông không hướng dẫn dân Y-sơ-ra-ên ý thức đúng đắn tại ‘vũng nước Mê-ri-ba’ (20:2-5,12  27:14).  Có lẽ tại đây ngụ ý nhắc lại sự kiện đó hoặc ngụ ý về vụ Môi-se dự phần sai phái các thám tử ra đi (23).

Thế hệ tiếp theo được hưởng sự thành tựu của lời hứa, đó là một thế hệ còn thơ ấu.  Thế hệ này lúc đó còn quá non trẻ nên không chịu trách nhiệm về sự lựa chọn (họ chưa biết điều thiện hay điều ác, 39), họ không chịu trách nhiệm về sự hèn yếu của cha mẹ họ.  Thế nên mạng lịnh trong câu 40 khiến dân sự phải rời khỏi chỗ sắp được phần thưởng lớn, để đi lang thang lâu năm trong sa mạc.

(Phu 1:41-46). Sự hối hận quá trể. Dường như dân sự muốn sửa chữa tội vô tín của mình nên họ quyết định cứ tiến chiếm Ca-na-an, nhưng cơ hội qua rồi.  Mặc dù họ phân trần nghe hợp tình lắm, nhưng bây giờ họ tin cậy nơi sức riêng của họ trong việc chiếm xứ, và nghĩ rằng không khó gì (41).  Vì vậy Chúa quyết định rằng họ không nên vào xứ và Ngài cấm họ đi (42).  Trớ trêu là khi họ được lịnh ra đi thì họ không đi, rồi khi họ quyết định đi thử thì hành động này lại trái mạng lịnh của Đức Chúa Trời.  Họ đã đi và thất bại nặng nề (44).  Và như thế họ nhận ra rằng họ không thể chiếm hữu được xứ nếu Đức Chúa Trời không cho.  Đức Chúa Trời không lắng tai nghe tiếng than khóc của họ (45) vì họ không lắng tai nghe Ngài trước.  Tân Ước cũng dạy chúng ta rằng sự cứu rỗi là món quà của Đức Chúa Trời, nhưng không ai ép buộc Ngài ban cho được (Cong 8:9-24).

Hai chương tiếp theo kể chuyện dân Y-sơ-ra-ên rời khỏi Ca-đe (trong vùng sa mạc đến phía nam của xứ Ca-na-an) và chiếm một phần đất hứa nằm ở phía đông của sông Giô-đanh là như thế nào.  Đoạn này nhắc lại câu chuyện trong Dan 20:14-21:35 mặc dù ít chi tiết hơn.  Đọc những đoạn này với bản đồ Kinh Thánh thì nội dung sẽ sáng tỏ hơn.

(Phu 2:1-8a).  Đi bọc ngoài biên giới xứ Ê-đôm. Theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời (1), trước hết dân sự nhắm hướng đông nam đi tới Sê-i-rơ, một vùng đồi núi nằm ở phía nam Biển Chết.  Dường như đi như thế là sai hướng nên có một mạng lịnh tiếp theo bảo họ đi lên hướng bắc ngang qua xứ này để đến Ca-na-an (4).  Xứ này thuộc về dòng dõi Ê-sau mà Môi-se gọi là anh em của các ngươi (4), vì Ê-sau là anh của Gia-cốp, tổ phụ của dân Y-sơ-ra-ên (Sa 25:25-26).  Ở chỗ khác trong Kinh Thánh, xứ của Ê-sau còn gọi là Ê-đôm (Sa 25:30).

Vì Gia-cốp và Ê-sau vốn bất hoà (27:41-45) nên dòng dõi của họ cũng thù nghịch nhau (Am 1:11  Ap 1:21).  Dan 20:18-20 cho thấy mối thù nghịch này khi dân Y-sơ-ra-ên gặp dân Ê-đôm.  Tuy nhiên ở đây, Phục Truyền Luật Lệ Ký muốn nhấn mạnh rằng đã ban cho Ê-sau xứ này cũng như Ngài đã ban xứ Ca-na-an cho dân Y-sơ-ra-ên (Phu 32:8-9  Am 9:7).  Do đó sách không chép chuyện dân Y-sơ-ra-ên không được phép đi ngang qua Ê-đôm mà phải đi vòng bên ngoài biên giới (Dan 21:4).  A-ra-ba (8) là phần thung lũng sông Giô-đanh nối dài xuống phía nam Biển Chết và dù là vùng khô cằn, vẫn là biên giới phía tây của xứ Ê-đôm.  Có lẽ từ đây dân Y-sơ-ra-ên đi qua phía đông.  Tuy nhiên Đức Chúa Trời bảo đảm rằng Ngài sẽ nuôi nấng họ trong cuộc hành trình qua sa mạc này (7).

(Phu 2:8b-15). Đi bọc ngoài biên giới xứ -áp. Trong cuộc hành trình về hướng bắc, sau đó dân sự đến xứ Mô-áp, nằm bên phân nửa bờ nam phía đông của Biển Chết.  Dân Mô-áp cũng nhận được xứ này từ Chúa, vì vậy dân Y-sơ-ra-ên không được chiếm xứ đó.  Họ có quan hệ họ hàng với dân Y-sơ-ra-ên qua Lót, cháu của Áp-ra-ham (Sa 19:36-38).  Họ cũng chống đối dân Y-sơ-ra-ên (Dan 22:1-24:25  Phu 23:3), mặc dù ở đây không chép gì về chuyện này.  Khe Xê-rết là biên giới phía nam của Mô-áp bằng cách nào đó dân Y-sơ-ra-ên đi từ đây đến biên giới phía bắc thuộc về người Am-môn.

Câu 10-12 là một hình thức ghi chú cho thấy dân Mô-áp và Ê-đôm đã phải đối phó với những trở ngại lớn lao khi chiếm xứ này.  Như vậy, quyền năng của Đức Chúa Trời cũng có thể khiến cho dân của Ngài vượt qua những trở ngại trong đời sống của họ.

Những người đã lớn tuổi trong ngày thoát khỏi Ai Cập nay qua đời hết rồi (14-15) báo hiệu một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc này.  Họ là những người muốn vào xứ bằng sức riêng và đã thất trận (1:44).  Bây giờ, ngược lại, Đức Chúa Trời sẽ chiến thắng.  (Về thời gian sống trong sa mạc, xem Dan 14:34 - bốn mươi năm.  Có lẽ sách Phục Truyền không tính hai năm đi đến núi Si-na-i cùng thời gian ở đó).

(Phu 2:16-25). Cuộc thánh chiếnbắt đầu. Câu 19-23 kể như nằm trong ngoặc đơn ghi chú về dân Am-môn.  Dân Am-môn cũng có quan hệ họ hàng với dân Y-sơ-ra-ên (Sa 19:36-38).  Xứ của họ nằm về phía đông bắc của xứ Mô-áp.  Một lần nữa, dân Y-sơ-ra-ên phải tôn trọng vùng đất này.

Sông Ạt-nôn (biên giới phía bắc của xứ Mô-áp) đánh dấu phần lãnh thổ của xứ mà bây giờ dân Y-sơ-ra-ên có thể gọi là của họ.  Khu vực giáp phía bắc của Mô-áp, vẫn còn tiếp giáp với Biển Chết, do Si-hôn, người A-mô-rít chiếm giữ.  Si-hôn là một vị vua của một trong các dân tộc ở xứ Ca-na-an mà Đức Chúa Trời đã hứa rằng sẽ đuổi khỏi xứ (Phu 7:1).  Mạng lịnh trong c.24 trái ngược với mạng lịnh trong c.5,9,19.  Điều đáng chú ý là chính Chúa sẽ làm cho các dân tộc ấy sợ dân Y-sơ-ra-ên (25).

(Phu 2:26-37). Si-hôn thất trận. Dân Y-sơ-ra-ên cầu hoà với Si-hôn (26-29) cho thấy rằng vua tự định đoạt số phận tương lai bằng chính thái độ của mình.  Phục Truyền Luật Lệ Ký thuật lại câu chuyện này và nêu lên sự tương phản giữa Ê-đôm, Mô-áp, Am-môn và Si-hôn để nhấn mạnh tội lỗi của Si-hôn.  Khi đọc đến câu vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã khiến cho tánh người ngoan ngạnh, lòng người cứng cỏi (30), chúng ta nhớ đến Pha-ra-ôn (Xu 8:15-32).  Câu này không có nghĩa là Si-hôn (hoặc Pha-ra-ôn) không còn có sự lựa chọn nào khác.  Nhưng đúng ra đó chỉ là một cách nói rằng họ thật sự chống nghịch kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho dân sự Ngài.

Bây giờ dân Y-sơ-ra-ên lại có cơ hội khác để vâng lời Đức Chúa Trời và chiếm lấy xứ Ngài đã ban cho họ, nhưng họ phải tin và tiến lên (31  Phu 1:8).  Lần này họ thành công.  Lần này khác hẳn lần trước, khi họ bị người A-mô-rít đánh bại (1:44) vì lần này họ ra đi theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời và đúng thời điểm của Ngài.

Theo tác giả Phục Truyền Luật Lệ Ký thì lý do của cuộc thánh chiến là xứ Ca-na-an là vùng Đức Chúa Trời ban cho dân Y-sơ-ra-ên (7:1-5 so với Gios 6:1-8:35).  Trong cuộc thánh chiến, thỉnh thoảng Đức Chúa Trời tận diệt trọn một dân, hoặc kể họ là thành phần đáng huỷ diệt (34).  Chủ trương này rất xa lạ và có vẻ dã man đối với độc giả thời nay.  Về điểm này, chúng ta có thể bàn đến hai điểm.  Thứ nhất, nếu các dân tộc phải tranh chiến chống nhau thì Đức Chúa Trời muốn dân Y-sơ-ra-ên biết rằng Ngài sẽ điều khiển lãnh vực này trong đời sống của họ cũng như mọi lãnh vực khác.  (Nhân đây cũng xin nói rằng thánh chiến chỉ có ý nghĩa khi dân sự của Đức Chúa Trời là một dân tộc độc lập và có tư cách giữa các quốc gia khác trên sân khấu chính trị thế giới.  Trong khi vào thời kỳ của Phục Truyền Luật Lệ Ký, dân Y-sơ-ra-ên ở trong vị thế đó, còn Cơ-đốc nhân ngày nay tin rằng Hội Thánh là dân sự của Đức Chúa Trời thì đây là một tập thể có tư cách hoàn toàn khác, vì vậy không cần đến thánh chiến trong thế giới hiện nay).

Thứ hai, Đức Chúa Trời là Chúa của toàn thể địa cầu, và như chúng ta thấy, chính Ngài đã ban đất đai cho những người Ngài muốn ban.  Dầu vậy, sự lựa chọn của Ngài không phải là vô nghĩa, vì Đức Chúa Trời cũng là Đấng xét xử cả thế giới, và Phục Truyền Luật Lệ Ký khẳng định rằng sở dĩ các dân tộc bị đuổi đi là vì họ đã phạm tội.  Sau khi trình bày đầy đủ như vậy, bản án nghiêm khắc đối với các dân tộc vẫn còn là điều khó hiểu.  Chúng ta sẽ xem thêm ở phần dưới (chương 7).

Sự kiện vua Si-hôn thất trận chứng tỏ rằng không còn trở ngại nào giữa dân Y-sơ-ra-ên và xứ mà Đức Chúa Trời hứa ban cho họ.  Cuộc chiến thắng trên dân A-mô-rít là một sự kiện quan trọng vì họ đã đánh bại dân Y-sơ-ra-ên khi dân này cố chiếm lấy xứ lần thứ nhất (Phu 1:44).  Bây giờ không có thành nào còn là ‘quá cao’ (nghĩa đen) đến nỗi không thể chiếm được (36), phản ứng vô tín lúc đầu của dân sự sau khi nghe các thám tử báo cáo nay được chứng minh là dại dột (1:28).

(Phu 3:1-11). Vua Óc thất trận. Dân Y-sơ-ra-ên vẫn tiếp tục tiến về phía bắc, và phải đối đầu với một vua A-mô-rít khác là Óc, vua Ba-san.  Một lần nữa họ chiến thắng nhanh chóng và hoàn hảo (3-4,6).  Đến đây sứ điệp chính đã trở nên quen thuộc.  Chúa đã ban cho sự đắc thắng rồi, còn dân sự phải tiến lên và hành động theo lời Ngài (2).

Lãnh thổ của Ba-san (trong đó Ạt-gốp (4) là một phần) nằm ở miền bắc vùng bên kia sông Giô-đanh tức phía đông biển Ga-li-lê (‘Ki-nê-rết’, c.17).  Ết-rê-i nằm xa về phía đông, bên sông Yarmuk.  Sau khi chiến thắng Si-hôn, dân Y-sơ-ra-ên chiếm giữ Ga-la-át cho đến miền nam của Ba-san.  Cả hai vùng này đều rất màu mỡ (Am 4:1), câu này xem Ba-san là vùng điển hình về sự trù phú) và là vùng chiến lược (vì bây giờ dân Y-sơ-ra-ên không còn sợ bị tấn công từ phía đằng sau khi họ tiến vào vùng lãnh thổ bên bờ tây sông Giô-đanh).  Cho đến nay vùng đất đai mà dân Y-sơ-ra-ên chiếm được có một diện tích rất lớn trải dài từ sông Ạt-nôn đổ vào Biển Chết, suốt lên tận núi Hẹt-môn giáp biên giới Sy-ri (8).

Lời ghi chú về cái giường của Óc (11) gợi ý về danh tiếng của vua tại địa phương, cũng gợi ý về sự phát triển kỹ thuật trong vương quốc của vua.  Tuy nhiên, sự kiện cái giường này nằm ở bảo tàng viện của nước Am-môn cho thấy rằng Óc và sự vĩ đại của ông ta đã đi vào quá khứ.

(Phu 3:12-17). Chiếm xứ. Sau khi đã chiếm xong phần lớn đất đai, Giô-suê sẽ thực hiện việc phân chia sản nghiệp cho các chi phái (Gios 12-22  12:1-6 tóm gọn những chi tiết của đoạn này).  Tuy vậy cuộc phân chia mở đầu từ đây.  Ru-bên và Gát là hai chi phái hậu duệ của hai con trai Gia-cốp (Sa 29:32  30:11). Chi phái của Giô-sép đông dân nên được chia làm hai và đặt theo tên hai con trai của Giô-sép là Ma-na-se và Ép-ra-im (Sa 48:8-16).  Về lãnh thổ, chi phái Ma-na-se nhận một phần sản nghiệp ở phía đông sông Giô-đanh và một phần ở phía tây sông Giô-đanh (Gios 17:7-18).

Khi sự định cư trong xứ thật sự thành hình thì sẽ phân chia đất đai cho từng tộc cụ thể (14-15) tuỳ theo vai trò của họ trong cuộc chinh phục (Dan 32:39-42).  Vào lúc này, Ma-ki là tên của chi phái Ma-na-se (Cac 5:14).

Chú giải.  Cần xem tập bản đồ về xứ thánh mới hiểu nổi những đường biên giới ở đây.  A-ra-ba (17) chỉ về thung lũng Giô-đanh (cũng xem chú giải Phu 2:8).  Ki-nê-rết là biển Ga-li-lê, và Biển A-ra-ba hoặc Biển Muối (Biển Mặn) là Biển Chết.

(Phu 3:18-22). Cuộc chinh phục tiếp diễn. Giờ đây Môi-se dặn dò các chi phái mới nhận được sản nghiệp (18-20).  Ông báo cho họ biết rằng nhiệm vụ của họ chỉ hoàn tất sau khi họ góp phần vào công việc chinh phục toàn xứ.  Trong dân sự của Đức Chúa Trời, không kể phần nào là quyền lợi riêng của ai đây là ý nghĩa đúng đắn của từ anh em (18).  Mục tiêu của cuộc chinh phục là để cả dân sự được an nghỉ (20  Phu 12:9), tức là sống an ổn trong một nơi đáp ứng mọi nhu cầu của họ.  Bây giờ phụ nữ và trẻ em của các chi phái bên kia sông Giô-đanh được phép định cư trong các làng mạc, nhưng tất cả chiến sĩ thì chưa, cho đến khi toàn dân Y-sơ-ra-ên đều hưởng được phước hạnh này.  Lịch sử chứng minh rằng cũng có lúc họ không trung tín thi hành trách nhiệm của mình (Cac 5:15b-17a).

Những lời Môi-se nói với Giô-suê (21-22) nhấn mạnh là cần đẩy mạnh công tác.  Cho đến bây giờ, Đức Chúa Trời tỏ ra Ngài là Đấng thành tín, nên Ngài cũng vẫn thành tín mặc dù công tác trước mắt có khó khăn hơn.

(Phu 3:23-29). Môi-se Giô-suê. Khi đến biên giới của xứ mà Môi-se đã đặt mục tiêu của cả cuộc đời mình vào đó, ông dạn dĩ bày tỏ với Đức Chúa Trời niềm ao ước được đặt chân vào xứ đó mặc dù ông đã nghe Đức Chúa Trời phán quyết về việc này (Phu 1:37).  Qua hầu hết Phục Truyền Luật Lệ Ký, chúng ta không bị lôi cuốn chú mục vào Môi-se mặc dù ông luôn luôn hiện diện.  Đây là một dấu hiệu về sự hết lòng phục vụ công việc của Đức Chúa Trời - ông đã tự nhận mình là đầy tớ của Đức Chúa Trời (24).  Ở đây chúng ta chỉ thoáng nhìn thấy ông.

Lời cầu nguyện của ông cho thấy ông quan hệ mật thiết với Đức Chúa Trời mặc dù Ngài từ chối không chấp thuận theo điều ông xin.  Sự cầu nguyện của ông biểu lộ sự thờ phượng Môi-se tin chắc rằng Đức Chúa Trời có quyền năng hành động theo cách thức mà không thần nào khác làm được (24).  Ông đã chứng kiến quyền năng của Ngài trong việc ra khỏi Ai Cập và giờ đây tại vùng phía đông sông Giô-đanh.  (Ở đây câu hỏi của ông không có ý công nhận các thần khác thật sự hiện hữu, mà đây chỉ là câu hỏi tu từ).  Câu trả lời cũng như lần trước (26) vì Môi-se có dính dáng đến tội lỗi của thế hệ vô tín trong sa mạc (1:37). Ông đành chỉ ngắm nhìn đất hứa từ trên núi Phích-ga, một rặng núi cao gần cung cực bắc của Biển Chết (27).  Đỉnh cao mà Môi-se leo lên, chính xác tên là đỉnh Nê-bô (34:1).

Theo sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, giai đoạn mới trong lịch sử dân Y-sơ-ra-ên cần một người lãnh đạo mới.  Việc Môi-se trao nhiệm vụ lại cho Giô-suê là một vấn đề quan trọng trong Phục Truyền Luật Lệ Ký và rất thiết yếu để duy trì lòng tin tưởng của dân sự.  Ở đây chúng ta thấy sự hy sinh lớn lao của Môi-se khi làm việc này.  Khi ông từ bỏ những khát vọng sâu xa nhất của mình thì đó là thước đo chính xác nhất về lòng trung thành của ông.

3. Giãi bày luật pháp của Đức Chúa Trời (Phu 4:1-40)

Ngay từ đầu sách, chúng ta đã chờ xem trong thực tế Đức Chúa Trời yêu cầu nơi dân Y-sơ-ra-ên những điều gì trong mối quan hệ giao ước với Ngài (Phu 1:1,3,18).  Cho đến lúc này cũng mới chỉ có một mạng lịnh cơ bản là phải có đức tin để tiến vào xứ (2:31  3:2,22).  Bài giảng thứ nhất của Môi-se coi như lời mở đầu cho Phục Truyền Luật Lệ Ký.  Mặc dù nằm trong bài giảng này, phân đoạn mới này (4:1-40) cũng bắt đầu bày tỏ điều Đức Chúa Trời yêu cầu nơi dân Y-sơ-ra-ên trong giao ước.

(Phu 4:1-8). Mạng lịnh luật lệ. Phục Truyền Luật Lệ Ký đặc biệt dùng một số từ khác nhau để nói về ‘luật pháp’.  Câu 1-2 dùng ba từ (mạng lịnh, luật lệ và điều răn) - đó là không tính chữ ‘lời’ (được dịch là điều Ta truyền cho ngươi), cũng có cùng ý nghĩa này.  Câu 1 nói rằng gìn giữ những luật lệ và mạng lịnh này sẽ dẫn đến sự sống, một ý niệm quan trọng trong Phục Truyền Luật Lệ Ký (30:19-20).

Có lẽ ý này làm ngạc nhiên những độc giả quen với sự dạy dỗ của Tân Ước là bởi đức tin mà được cứu chứ không phải bởi việc làm, việc làm theo luật pháp (Ro 9:31-32).  Theo 10:5 dường như chính Phao-lô cũng phản đối câu này và Le 18:5 (để hiểu rõ đoạn Kinh Thánh này trong sách La-mã, xin xem phần bình giải sách La-mã và phần bình giải của chương Phu 30:11-14).  Tuy nhiên, chúng ta cũng nên nhớ rằng Phục Truyền Luật Lệ Ký kêu gọi vâng lời bằng tấm lòng (6:5  10:16), khác với chủ trương tuân thủ luật pháp một cách máy móc, lạnh lùng.

Môi-se tiếp tục giãi bày rằng dân Y-sơ-ra-ên đã kinh nghiệm rằng trung thành với Đức Chúa Trời dẫn đến sự sống, còn làm điều gian ác dẫn đến sự chết ra sao (3-4).  Đúng ra tuân thủ luật pháp của Đức Chúa Trời đem lại sự tự do và vui sướng (Thi 119:45,47).  Đây chính là vận mệnh thực tế của dân Y-sơ-ra-ên ở trong xứ.  Các dân tộc khác có sự khôn ngoan của họ, nhưng họ cũng thèm được khôn ngoan như dân Y-sơ-ra-ên, vì chính luật pháp của dân Y-sơ-ra-ên là sự khôn ngoan (6).  Luật pháp của dân Y-sơ-ra-ên không giống những luật pháp khác, cũng như Đức Chúa Trời của họ không như những vị thần khác (Phu 3:24).  Sự công bình của luật pháp (8) ngụ ý là luật pháp đem lại sự cứu rỗi.  Luật pháp và sự sống tương quan chặt chẽ với nhau.

(Phu 4:9-14). Giữ đức tin. Những ý niệm then chốt ở đây là ‘học’ và ‘dạy’ (10-14).  Một mặt họ phải gặp Đức Chúa Trời và nghe lời của Ngài, mặt khác họ phải giữ lòng trung thành.  Dân sự luôn luôn đối diện với nguy cơ ‘quên’ đường lối của Đức Chúa Trời (9) vì ‘quên’ liên hệ đến tấm lòng và ý tưởng.  Do đó chính mình họ và con cái họ phải tập tành học và dạy lời của Đức Chúa Trời cách tận tâm, tận lực (10,12-14).  Liên quan đến vấn đề này là những bảng đá trên đó có chép Mười Điều Răn được nhắc đến.  Mười Điều Răn được viết trên những bảng đá để làm chứng rằng Đức Chúa Trời có khải thị và để dân sự có thể luôn luôn nhớ những yêu cầu trong mối quan hệ giao ước của họ với Đức Chúa Trời.

(Phu 4:15-24). Chỉ thờ phượng một mình Đức Chúa Trời thôi. Điều quan trọng nhất khiến tôn giáo của dân Y-sơ-ra-ên khác với những tôn giáo của các dân tộc khác là không ai được làm một hình tượng nào biểu tượng về Đức Chúa Trời (c.12  5:8-9).  Sai lầm của con người là xem bất cứ tạo vật nào, hoặc các vì sao trên bầu trời là hình dạng của Đức Chúa Trời hoặc của các thần (16-19).  Đừng lẫn lộn Đức Chúa Trời với bất kỳ một loại tạo vật nào của Ngài.  Với những mạng lịnh này, Ngài cẩn thận bảo vệ bản thể thần linh của Ngài.  Khi Ngài nói rằng Ngài kỵ tà qua những hành động bảo vệ bản thể của Ngài (23-24), vì Ngài hết sức muốn dân của Ngài biết Ngài một cách đúng đắn để được sống (22b - đối với Môi-se thì ngược lại,  1:37  3:25-26).

(Phu 4:25-31). Lời tiên tri về sự lưu đày. Trong lịch sử sau này của dân Y-sơ-ra-ên, họ không tuân thủ giao ước ở điều căn bản là thờ phượng Đức Chúa Trời một cách chân thật và do đó họ bị lưu đày (25-27  IIVua 17:9-12  21:11-12  Gie 8:2).  Cứ như thể là những lời hứa bị tráo ngược lại vậy (26-27  Phu 28:64-68).  Và trớ trêu là trong đời sống lưu đày họ chán ngấy hình tượng và nhận ra là các thần không có quyền năng gì cả (28  Es 44:9-20), rồi chẳng bao lâu họ trở lại tìm kiếm Đức Chúa Trời (29-30). Rất đáng lưu ý là tác giả Phục Truyền Luật Lệ Ký hiểu biết Đức Chúa Trời.  Ông hiểu rằng sự vi phạm giao ước của dân sự không vĩnh viễn chấm dứt mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và dân sự.  Nếu họ thật lòng ăn năn và tìm kiếm Ngài thì Ngài sẽ tiếp nhận họ trở lại bởi lòng thương xót của Ngài (30-31  Phu 30:1-10).

(Phu 4:32-40). Lòng yêu thương của Đức Chúa Trời đối với dân Y--ra-ên. Môi-se kết thúc bài giảng thứ nhất bằng cách tóm lược những chủ đề chính.  Không có thần nào như Đức Chúa Trời, Đấng đã bày tỏ chính Ngài cho dân Y-sơ-ra-ên, cũng không có dân tộc nào như Y-sơ-ra-ên vì họ đã được Đức Chúa Trời chọn lựa (Phu 3:24  4:7).  Ngài đã cứu họ một cách lạ lùng khỏi cảnh nô lệ ở Ai Cập để ban cho họ sự sống và sự tự do trong một xứ mà chỉ có Ngài là vua của họ.  Trong khi làm việc đó, Ngài vừa bày tỏ tình yêu thương (37), vừa bày tỏ kỷ luật của Ngài (36).  Yêu thương và kỷ luật không thể tách rời nhau và khi dân Y-sơ-ra-ên cẩn thận vâng theo lời yêu thương của Đức Chúa Trời, họ sẽ có sự sống (40).

4. Những thành ẩn náu (Phu 4:41-43)

Khi họ đã chiếm xứ rồi, việc được kể vào hàng cấp bách là họ phải bảo vệ mạng sống của những người bị truy diệt bất công vì ngộ sát.  Ở đây, những thành này được ấn định cho những chi phái phía bên kia sông Giô-đanh (Dan 35:1-34Gios 21:1-45, sau khi phân chia xứ).

2. MÔI-SE BÀI GIẢNG THỨ HAI (Phu 4:44-28:68)

1. Giới thiệu luật pháp (Phu 4:44-49)

Câu Nầy là luật pháp (44) chỉ về tất cả các luật lệ từ chương 5-26.  Tiếp theo là những từ đặc biệt nói về luật pháp (45, cũng xem câu 1 và phần bình giải).  Có một từ mới được thêm vào là những chứng cớ (từ Hi Bá Lai có nghĩa là làm chứng).  Các từ này không chỉ về những luật lệ khác nhau, nhưng nhằm khiến chúng ta hình dung bản chất của những luật lệ đó, tổng hợp những ý bày tỏ bản tánh của Đức Chúa Trời, những qui định cố định của Đức Chúa Trời và những căn bản xét xử công bình của Ngài.

Đây không phải là luật mới mà là những luật Ngài đã truyền ra ở núi Hô-rếp sau cuộc xuất hành (45).  Giờ đây Môi-se truyền dạy lại một lần nữa trong bài giảng tại Mô-áp (46).  Câu 46-49 tóm gọn những chi tiết về địa lý trong Phu 3:8-17.

2. Mười Điều Răn (Phu 5:1-21)

Bài giảng thứ hai của Môi-se thực sự bắt đầu với đoạn này, với câu 1, kêu gọi phải chú ý lắng nghe luật pháp.  Ông nhấn mạnh và nói quá đáng để xoáy vào vấn đề là cần làm sao cho giao ước trở nên hiện thực đối với họ (c.2-3).  Thực vậy, giao ước vốn được lập với thế hệ trước, là thế hệ bị phạt phải lang thang trong sa mạc và không được nhìn thấy đất hứa (Phu 1:35).  Vì vậy điều tối quan trọng là phải lập lại giao ước cho mỗi thế hệ một cách mới mẻ.  Từ 'ngày nay' (1) gói trọn ý là họ phải cam kết trở lại y như thể chính họ đang đứng ở núi Hô-rếp (4).

So với chương 4:12,5, thì từ đối diện có vẻ lạc điệu nhưng thật ra không mâu thuẫn vì từ này được dùng nhằm tạo ấn tượng là Đức Chúa Trời hiện diện và đích thân phán dạy họ.  Dầu vậy, Môi-se phải đứng giữa Đức Chúa Trời và dân sự như là người trung gian vì họ sợ hãi (5) và vì mối quan hệ đặc biệt giữa ông với Ngài (Xu 33:11).

Mười Điều Răn được nói đến lần đầu tiên trong 20:2-17.  (Để rõ phần này, xin xem phần bình giải của đoạn đó).  Giờ đây những điều răn này lại được đặt ở vị trí quan trọng trong Phục Truyền Luật Lệ Ký, vì đây là căn nguyên của những mạng lịnh đó.  Tất cả các mạng lịnh khác đều do những điều răn này mà triển khai ra.

Ở đây chúng ta nhận thấy có hai điểm khác biệt nhỏ so với hình thức của Mười Điều Răn trong Xuất Ê-díp-tô Ký.  Sự khác biệt này giúp chúng ta hiểu mối quan tâm đặc biệt của Phục Truyền Luật Lệ Ký.  Điều răn thứ tư nhấn mạnh đến sự nghỉ ngơi trong ngày sa-bát là vì lợi ích của toàn thể mọi người trong nhà, cả chủ lẫn tớ (14 so với 20:10).  Sự nghỉ ngơi trong ngày sa-bát chuyển đạt ý nghĩa của mạng lịnh và phù hợp với sự khẳng định của Phục Truyền Luật Lệ Ký, là mọi người dân Y-sơ-ra-ên được hưởng phước hạnh của giao ước như nhau, bằng nhau.  Hơn nữa, ngày sa-bát đặt nền tảng trên sự rời khỏi Ai Cập chứ không phải trên sự sáng tạo.  Như vậy, một lần nữa ngày sa-bát nhấn mạnh đến mối quan hệ đặc biệt của Đức Chúa Trời với dân Ngài (15, so với 10:11).

3. Những lời khuyên căn bản (Phu 5:22-11:32)

(Phu 5:22-33). Dân sự tiếp nhận Mười Điều Răn. Đức Chúa Trời trực tiếp truyền dạy Mười Điều Răn cho dân sự từ giữa lửa và mây phủ trùm ngọn núi (Xu 19:16-18).  Ngài ban những mạng lịnh khác cho dân sự qua Môi-se, nhưng đây là những mạng lịnh đặc biệt và không có mạng lịnh nào giống như vậy (22).  Về hai bảng đá, xem Phu 4:13 và phần chú giải.

Nhiều người giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên thời xưa cho rằng thấy Đức Chúa Trời sẽ chết (Cac 13:22  Es 6:5).  Chính vì vậy mà dân sự ngạc nhiên thấy mình vẫn còn sống (24).  Dầu vậy họ vẫn sợ không dám gần gũi sự hiện diện của Đức Chúa Trời đến mức đó (25-26).  Họ nghĩ rằng nếu họ nghe tiếng của phán của Đức Chúa Trời thì họ sẽ chết.  Nhưng điều lạ lùng là lời của Đức Chúa Trời lại làm cho họ sống (Phu 4:1).  Cho nên họ sẵn sàng nghe Đức Chúa Trời phán qua người trung gian là Môi-se (27).  (Cũng xem Xu 24:3 về việc họ sẵn lòng chấp nhận những điều kiện của giao ước).

Đức Chúa Trời hài lòng về sự sẵn lòng của họ (28-29).  Những lời Ngài phán cho thấy không phải Ngài ở tận một nơi xa thẳm nào mà ban hành luật pháp, nhưng Ngài là Đấng rất yêu thương dân sự của Ngài, và hết sức muốn cho họ nhận được điều tốt đẹp.  Câu 30-31 cho thấy Đức Chúa Trời chấp nhận vai trò trung gian của Môi-se.  Trung tín với giao ước sẽ mang lại sự sống và an ổn, và dân tộc sẽ được bình an lâu dài.

(Phu 6:1-9).  Dạy lại thế hệ sau. Sau đó Môi-se tiếp tục giảng về những điều Chúa bảo ông truyền lại cho dân Y-sơ-ra-ên, là những điều đi kèm với Mười Điều Răn hoặc là những điểm giải nghĩa Mười Điều Răn kỹ hơn.  Mở đầu sự dạy dỗ này, Môi-se lại nhắc dân sự rằng những điều răn này là con đường sống dẫn vào một tương lai xa dài (2c). Tầm nhìn xa này lại cho thấy một lần nữa nhu cầu giáo huấn những thế hệ kế tiếp trọn đời ngươi, con ngươi và cháu ngươi (2). Ông cũng nhìn thấy khải tượng về dân Y-sơ-ra-ên sống trong đất hứa (3) là một dân đông đúc (ứng nghiệm lời hứa với Áp-ra-ham, Sa 15:5) và sung túc (ứng nghiệm lời hứa với Môi-se vào dịp Đức Chúa Trời kêu gọi ông, Xu 3:17).

Phân đoạn tiếp theo trở nên một bài cầu nguyện chính trong Do Thái giáo sau này (gọi là Shema, Hãy nghe đây, sau lời mở đầu), vì dù ngắn nhưng gói ghém những ý niệm quan trọng nhất của niềm tin trong Kinh Thánh Cựu Ước.  Thứ nhất, một mình Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

Thật vậy, Ngài là Đức Chúa Trời duy nhất vì quyền năng của Ngài bao trùm trên mọi dân tộc (Phu 32:8-9).  Dân Y-sơ-ra-ên phải thờ phượng chỉ một mình Ngài.  Thứ hai, chính dân Y-sơ-ra-ên là một tập thể thống nhất.  Theo tiếng Hi Bá Lai, từ các ngươi (you) và của các ngươi (your) trong đoạn này (và thường thấy trong sách Phục Truyền) là những từ để nói với một cá nhân (tiếng Anh cổ là ‘thou’ và ‘thy’).  Sự hiệp một của dân sự gồm những người đang đứng trước mặt Môi-se và tất cả những thế hệ tiếp theo.  Như vậy nghĩa là họ phải thờ phượng và vâng lời như một người và không cho phép một sự chia rẽ nào giữa vòng họ (xem phần nô lệ ở dưới  15:12-18).  Đây cũng là lý do khiến họ phải dạy cho mỗi thế hệ mới lẽ thật về Đức Chúa Trời và chính họ (7).

Thứ ba, chỉ máy móc tuân thủ những lễ nghi bên ngoài hoặc làm một số việc trong đời sống thì không đủ.  Dân của Đức Chúa Trời phải thật sự kính mến Đức Chúa Trời, tận hiến trọn đời sống cho Ngài (5).  Câu ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức là một cách nói đến con người toàn diện.  Từ tấm lòng trong Kinh Thánh tức là ý chí và tâm trí đối với chúng ta ngày nay.  Vì vậy khi Chúa Giê-xu nhắc lại câu này Ngài dùng từ hơi khác, nhưng vẫn tôn trọng ý căn bản (Mat 22:37  Mac 12:30).  Kính mến Đức Chúa Trời thật sự có nghĩa là chúng ta dâng cho Ngài tất cả khả năng cũng như tất cả những điều chúng ta có.

Luôn luôn và mãi mãi dân của Đức Chúa Trời phải có lời của Đức Chúa Trời trước mặt họ, trong công việc hằng ngày và mọi sinh hoạt bình thường của con người.  Kính sợ Đức Chúa Trời không phải là một thứ tôn giáo dành cho ngày sa-bát (hoặc Chúa nhật).  Nhưng trong mọi phương diện của đời sống, trong mọi quyết định của con người Đức Chúa Trời đều có ý kiến của Ngài.  Đây là điểm tựa của các điều luật được trình bày từ chương 12 trở đi, đồng thời các điều luật này đều bày tỏ sự cai trị của Đức Chúa Trời trên toàn thể sinh hoạt của dân sự, trong phạm vi cá nhân và tập thể - mặc dù chúng ta sống trong một không gian và thời gian khác nhưng chúng ta cũng phải áp dụng những điều luật này cho chính mình.  Khó lòng xác định vấn đề nên hiểu câu 8-9 theo nghĩa đen hay nghĩa bóng, điều chủ chốt là lời Đức Chúa Trời phải ở tại trong lòng ngươi (6).  Hễ ai yêu mến Đức Chúa Trời thì muốn tuân thủ điều răn của Ngài (Gi 14:15).

(Phu 6:10-19). Sinh sống trong xứ.. Môi-se không quên nhắc nhở dân sự rằng xứ mà họ sẽ nhận và hưởng là sự ban cho của Đức Chúa Trời, là điều Ngài đã hứa cho các tổ phụ của họ mấy thế kỷ về trước (10, so với Phu 1:8).  Rồi ông tạm ngưng để mô tả xứ này tốt đẹp như thế nào (10-11), đầy dẫy những điều mà dân sa mạc đang mong mỏi.  Không những đây là một xứ màu mỡ tự nhiên (Xu 3:8) mà cư dân cũng góp phần chăm sóc và phát triển.  Môi-se muốn nhấn mạnh sự kiện xứ này cùng sự giàu có của xứ đúng là một món quà cho dân Y-sơ-ra-ên.  Sự an lạc của họ là lý do để họ bày tỏ lòng biết ơn chứ không phải để tự thoả mãn (12).  Sự thịnh vượng về mặt vật chất, như xã hội phương Tây hiện nay minh chứng, luôn luôn dẫn đến một tình trạng lãnh đạm thuộc linh.

Trong Phục Truyền Luật Lệ Ký, lời hứa căn bản luôn đi kèm với mạng lịnh căn bản.  Sự ban cho đưa đến sự lựa chọn và bây giờ sự lựa chọn đó được đưa ra bằng những lời lẽ rất giống với ba điều răn đầu tiên (13-15 so với Phu 5:7-11).  Một khi Đức Chúa Trời ban cho xứ thì họ chỉ thờ một mình Ngài trong xứ đó, và chỉ có dân của Ngài ở trong xứ của Ngài.  Khi phải thề, họ nhân danh Ngài mà thề chứ không nhân danh các thần khác.  Đây là một cách xác nhận rằng họ phải trung thành với Ngài là thần độc nhất.  Chữ ‘kỵ tà’ trong chương 5:9 bày tỏ thái độ kiên quyết không chấp nhận những thần khác.  Như vậy khớp với sự việc Ngài hoàn toàn dấn thân vào mối quan hệ với dân sự của Ngài.

Khi lặp lại mạng lịnh căn bản (16-19), Môi-se muốn nói rằng dân sự cần vâng theo những mạng lịnh đã nêu trong Mười Điều Răn (5:6-21) và được trình bày một cách đầy đủ ở đây.  Những mạng lịnh này được đặt bên cạnh mạng lịnh chiếm lấy xứ (chủ đề chính trong chương 1-3).  Mặt khác Đức Chúa Trời muốn họ hết lòng sống một đời sống ngay thẳng và tốt lành để Ngài có thể cho họ hưởng xứ tốt lành (18).  Tuy nhiên những lời trong câu 16 cho thấy rằng thành tích của dân Y-sơ-ra-ên không phải lúc nào cũng sẵn sàng vâng lời - ngay cả khi Chúa đang thực hiện điều tốt cho họ (Xu 17:7  Thi 95:8).

Trong Mat 4:7,10  Lu 4:8,12  Chúa Giê-xu dùng câu 13 và 16 để đối đáp với Sa-tan khi nó cám dỗ Ngài dùng quyền lực tôn giáo mà không dâng lên Đức Chúa Trời sự thờ phượng thật.  Qua kinh nghiệm bốn mươi ngày trong đồng vắng, Chúa Giê-xu thấy như Ngài đang thể hiện lại sự thử thách của dân Y-sơ-ra-ên bốn mươi năm.  Cũng vậy, những người theo Chúa nên học tập nương cậy nơi Đức Chúa Trời càng hơn trong những lúc khó khăn.

(Phu 6:20-25). Giáo dục con cái Sau đó Môi-se triển khai mạng lịnh giáo dục con cái về niềm tin (20-25, xem c.7). Các con hỏi rồi cha mẹ trả lời khiến chúng ta liên tưởng đến hình thức kỷ niệm Lễ Vượt Qua (Xu 12:26-28).  Khi một người con hỏi về chứng cớ, luật lệ và mạng lịnh (20) thì điều lạ là cha mẹ trả lời bằng cách kể lại Đức Chúa Trời đã giải cứu dân sự ra khỏi Ai Cập một cách lạ lùng để hoàn thành lời hứa ngày xưa (21-23).  Tiếp theo lời hứa là những mạng lịnh, những mạng lịnh này là một phần trong kế hoạch của Đức Chúa Trời nhằm chúc phước cho dân sự (24b). Ở đây sự công bình nghĩa là mối liên hệ đúng đắn giữa Đức Chúa Trời và dân sự Ngài, và không phải chỉ bao gồm việc họ tuân thủ những yêu cầu của Ngài mà còn là sự cam kết của Ngài trong việc giải cứu và bảo vệ họ.

(Dan 7:1-26) Một dân thánh. Sau đó Môi-se tập trung giảng về việc dân Y-sơ-ra-ên phải diệt cư dân đang ở trong xứ để chiếm xứ.  Khi Đức Chúa Trời lựa chọn dân Y-sơ-ra-ên và ban xứ cho họ thì đồng thời Ngài cũng từ bỏ dân cư, chấm dứt quyền hạn sinh sống của họ tại xứ này.  Lời hứa luôn luôn ngụ ý về việc này (Xu 3:17  23:23).

Bản liệt kê các dân tộc cho thấy rằng cư dân trong xứ không phải là một dân tộc duy nhất, nhưng gồm nhiều nhóm dân khác nhau, sống ở những vùng khác nhau trong xứ và có lẽ họ chiếm cứ một số thành kiên cố.  Chúng ta biết t ít về dân Phê-rê-sít, Hê-vít hoặc Ghi-rê-ga-sít (mặc dù Gios 11:3  Cac 3:3 có ghi một số địa danh).  Dân A-mô-rít và dân Ca-na-an có thể có nghĩa rộng hơn hoặc hẹp hơn, một mặt chỉ về những dân tộc trong xứ Ca-na-an một cách tổng quát (như trong Sa 15:16), nhưng mặt khác có thể chỉ về một số nhóm dân tộc cụ thể (Gios 5:1  11:3).  Vào thế kỷ thứ 15 và 14 T.C. dân Hê-tít nắm quyền cai trị một đế quốc ở Anatolia và Sy-ri, có lẽ họ đã di trú vào Ca-na-an (Sa 23:1-20).  Người Giê-bu-sít cai trị Giê-ru-sa-lem (Gios 15:69).

Lý do khiến Đức Chúa Trời ra lịnh huỷ diệt người Ca-na-an một phần là vì chính họ đã đặt mình dưới sự đoán phạt của Đức Chúa Trời bởi tội lỗi của họ.  Trong Kinh Thánh, lịch sử của họ bắt đầu từ ông tổ tên là Cham, một con trai của Nô-ê (Sa 10:6,15-18).  Ca-na-an con trai của Cham, bị rủa sả vì Cham đã tỏ ra không tôn trọng cha mình (9:20-25).  Khi Đức Chúa Trời hứa ban xứ Ca-na-an cho Áp-ra-ham, Ngài không thực hiện ngay việc đó vì ‘tội lỗi của dân A-mô-rít chưa được đầy đủ’ (15:16).  Theo Phục Truyền Luật Lệ Ký, rõ ràng tội ác của các dân tộc này là rất lớn và đã đến lúc phải đoán phạt họ (Phu 9:5).

Đức Chúa Trời truyền lịnh là phải tận diệt các dân tộc này.  Chúng ta đã bàn qua là việc này đặt cơ sở trên vấn đề Đức Chúa Trời là chủ và là quan xét trong sinh hoạt của dân Y-sơ-ra-ên và cả thế giới (xem 2:34 và phần bình giải).  Phân đoạn này (1-6) giãi bày thêm mạng lịnh này.  Y-sơ-ra-ên là dân của Đức Chúa Trời phải tự giữ mình khỏi tội ác và truỵ lạc trong cuộc sống và trong tín ngưỡng của những dân tộc này.  Đức Chúa Trời muốn có một dân nhận biết Ngài và nhờ sự nhận biết Ngài mà xây dựng một xã hội.  Nếu dân Y-sơ-ra-ên sống bên cạnh những dân tộc này thì khó lòng cho họ trung tín với giao ước, nếu không nói là bất khả thi.  Chắc chắn dân của giao ước sẽ không còn là một dân biệt riêng nữa một phần vì chuyện hôn nhân qua lại (3).  Rồi sự thờ phượng Ba-anh sẽ lấn át sự thờ phượng Đức Giê-hô-va (4).  Nếu điều này xảy ra, toàn bộ mục đích giải cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập để trở thành một dân biệt riêng sẽ hỏng bét.  Mục tiêu chính của việc truất diệt dân Ca-na-an là để tẩy trừ tận gốc mớ tín ngưỡng sai lạc và tà đạo của họ (5). 

Do đó cuộc tận diệt dân Ca-na-an nằm trong kế hoạch của cuộc chiến tranh giữa chánh giáo và tà giáo (Eph 6:12).  Tương tự như lần hình phạt bằng trận đại hồng thuỷ (Sa 9:15b), sự hình phạt này cũng chỉ xảy ra một lần nhằm bày tỏ qua đời sống dân Y-sơ-ra-ên rằng Đức Chúa Trời hoàn toàn chống lại niềm tin đặt nơi các thần khác và cuộc thờ phượng các thần đó, vì nó dẫn đến tội ác dưới mọi hình thức.

Trong khi xem xét lý do khiến Đức Chúa Trời loại trừ dân Ca-na-an thì chúng ta cũng thấy lý do khiến Ngài lựa chọn dân Y-sơ-ra-ên.  Câu 6-11 giải nghĩa thêm về sự lựa chọn này.  Trước hết, khi nói dân Y-sơ-ra-ên được tuyển chọn, tức nhiên có nghĩa họ là một dân thánh (6).  Hai ý này đều có nghĩa là dân tộc này được biệt riêng ra để thuộc riêng về Ngài một cách đặc biệt (làm vật sở hữu quí gia của Ngài, một báu vật riêng của vua, xem Xu 19:5).

Thứ hai, không phải bởi sức riêng của dân Y-sơ-ra-ên (7), họ không nên kiêu ngạo về điều này (Phu 8:17).  Họ chưa hề thực hiện được một việc gì xứng đáng với tình yêu thương của Đức Chúa Trời, là tình yêu thương đã khiến Ngài giải cứu họ ra khỏi Ai Cập (8).

Thứ ba, sự tuyển chọn dân Y-sơ-ra-ên đưa đến một số bổn phận. Đức Chúa Trời đã lập một giao ước vì tình yêu thương của Ngài và Ngài sẽ bày tỏ sự thành tín của Ngài trong giao ước đó, nhưng Ngài cũng muốn rằng dân Y-sơ-ra-ên đáp lại bằng lòng yêu thương và lòng yêu thương đó dẫn đến tinh thần sẵn sàng vâng lời (9).  Việc Đức Chúa Trời truất diệt dân Ca-na-an ra khỏi xứ có kèm thêm một lời cảnh cáo dân Y-sơ-ra-ên không nên xem nhẹ mối quan hệ của họ với Ngài.  Dấu hiệu cho thấy rằng mối quan hệ này thật không nằm trong tên riêng ‘Y-sơ-ra-ên’, cũng không nằm trong bất kỳ dấu hiệu bề ngoài nào, nhưng chỉ nằm trong tinh thần sẵn sàng làm theo các mạng lịnh của Đức Chúa Trời (10-11).  Đây là một khía cạnh khác của sự ‘biệt ra thánh’.  Tân Ước cũng nhắc lại lời khuyến cáo này (Ro 9:30-32).  Ngày nay lời khuyến cáo này không dành riêng cho người Do-thái nữa mà dành cho các Cơ-đốc nhân luôn.

Thứ tư, sự tuyển chọn dân Y-sơ-ra-ên và sự loại trừ dân Ca-na-an không phải chỉ vì lợi ích của dân Y-sơ-ra-ên.  Mục đích lâu dài trong việc tuyển chọn dân Y-sơ-ra-ên là đem phước hạnh đến cho mọi dân tộc trên thế giới (Sa 12:3).  Chúng ta cần nhớ như vậy mặc dù Phục Truyền Luật Lệ Ký không viết rõ về điểm này.  Khi Đức Chúa Trời đem dân Y-sơ-ra-ên vào trong xứ của họ, thì đó là một bước tiến tới trên con đường đi đến mục đích cuối cùng.  Trong giao ước với Đức Chúa Trời, nếu dân Y-sơ-ra-ên trung tín, họ có thể bày tỏ cho thế giới biết Đức Chúa Trời là như thế nào.

Phân đoạn tiếp theo (12-15) cho chúng ta một cái nhìn thoáng qua về một dân tộc biết vâng lời được Đức Chúa Trời ban phước.  Theo quan điểm của Phục Truyền Luật Lệ Ký, thì phước hạnh chắc chắn sẽ nhận được trên đời này.  Đức Chúa Trời đã xác nhận rằng thế giới Ngài tạo nên là rất tốt (1:1-31), và con người có thể thừa hưởng được.  Tuy nhiên có thể xem những phước hạnh đề cập ở đây như là những bằng cớ về những dự định của Đức Chúa Trời cho dân Ngài trong thời sắp đến cũng như trong hiện tại.

Cuối cùng Môi-se trở lại với chủ đề trong phần mở đầu của chương này, đó là vấn đề dân sự cần phải tránh những tập tục gian ác của dân Ca-na-an (16-26).  Đồng thời ông lại khuyến giục họ không nên sợ kẻ thù, ôn lại sự thất bại trong quá khứ của họ (Phu 1:26-28) và nhắc nhở họ về quyền năng của Đức Chúa Trời sẽ chiến thắng trên dân Ca-na-an như Ngài đã thắng người Ai Cập (1:29). Ông nhấn mạnh rằng chính Đức Chúa Trời mới là Đấng chiến thắng thật sự. (Không rõ ý nghĩa của từ được dịch là ong lỗ trong c.20, có lẽ là một hình ảnh nói đến sự hỗn loạn và bối rối cũng xem Xu 23:28  Gios 24:12, nhưng vấn đề rõ ràng: Chúa có cách thực hiện kế hoạch của Ngài).  C.22 gợi ý rằng cuộc chinh phục sẽ không nhanh chóng và dễ dàng đúng như dân sự sẽ kinh nghiệm (13:1).  Dầu vậy nếu họ trung tín thì cuộc chinh phục chắc chắn sẽ thành công và sẽ hoàn tất, cho đến nỗi tên của các dân tộc trước đó (do tên các vua của họ đứng đại diện) cũng đều bị xoá sạch (24).

Những mạng lịnh cuối cùng (25-26) đòi hỏi phải huỷ diệt luôn những đồ trang trí rườm rà của các tà giáo, càng nói lên sự căm ghét đặc biệt của Phục Truyền Luật Lệ Ký đối với hình tượng.  Dân sự không được để cho những vật liệu quí dùng tạc hình tượng cám dỗ họ (35).  Ngay cả những vật dính dáng tới hình tượng đều bị thiêu đốt.  Những món này cũng bị liệt vào hàng đáng diệt như những người sử dụng món đồ đó (Phu 2:34  7:2).

(Phu 8:1-9).  Sự kỷ luật trong sa mạc. Cho đến lúc này, thời gian dân Y-sơ-ra-ên lưu lạc trong sa mạc chỉ được xem như một biện pháp trừng phạt vì họ không chịu tiến vào xứ theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời (1:35,46).  Ở đây đề cập đến một góc độ khác của vấn đề này, đó là cơ hội trưởng dưỡng đức tin.  Về sau Giê-rê-mi nhắc lại thời gian trong đồng vắng là thời gian tận hiến cho Đức Chúa Trời (Gie 2:2  Os 2:14).  Tuy nhiên ở đây nhấn mạnh đến kỷ luật (2,5), là một khía cạnh khác về tình yêu thương của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên (Phu 7:6).

Câu mở đầu là một gạch nối giữa điều răn và sự sống (4:1 và chú giải).  Mạng lịnh hãy cẩn thận (1) là câu điển hình trong Phục Truyền Luật Lệ Ký (7:12  11:16).  Lời kêu gọi nhớ lại sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời trong sa mạc (2) củng cố cho mạng lịnh trên.  Sự vâng lời Đức Chúa Trời là vấn đề không riêng gì của tâm trí mà của ý chí và tấm lòng nữa (6:5 và chú thích), và tấm lòng thường hay tẻ tách theo hướng đi riêng.  Tác giả Phục Truyền Luật Lệ Ký hiểu rất rõ những yếu đuối của con người nên ông lặp lại mạng lịnh này nhiều lần và nhìn chung Phục Truyền Luật Lệ Ký áp dụng lối văn lặp đi lặp lại những lời giáo huấn.

Trong sa mạc, dân Y-sơ-ra-ên không còn phương tiện kiếm sống quen thuộc.  Khi còn ở Ai Cập, dù là nô lệ, họ còn biết bữa ăn tiếp theo của họ từ đâu mà có.  Họ không phải là dân sống trong sa mạc nên cuộc sống khó khăn ở sa mạc xem chừng chỉ chực cướp mạng sống của họ (Xu 16:3).  Đây là những lúc thử nghiệm đức tin của họ nơi Đức Chúa Trời.  Sự đói khát của họ chứng tỏ rằng họ không thể sống sót nếu Đức Chúa Trời không cung cấp và phép lạ ma-na và những phép lạ bất thường khác chứng tỏ rằng Ngài có thể thoả mãn nhu cầu của họ (3-4  16:4).  Sau này, Chúa Giê-xu đã dùng những lời này để chống lại Sa-tan (Mat 4:4 so với Phu 6:13), loài người sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi, nhưng loài người sống nhờ mọi lời bởi miệng Đức Giê-hô-va mà ra (3).  Câu này không nhằm nêu lên sự tương phản giữa sự sống thuộc linh và sự sống thuộc thể nhưng chứng tỏ rằng tất cả sự sống đều từ Đức Chúa Trời mà ra.  Lời Ngài cũng như mạng lịnh của Ngài có khả năng sáng tạo và ban sự sống (Sa 1:1-31).

Xứ sở, đất đai chính là giấc mơ thành sự thật (7-10).  Đây là đoạn mô tả thú vị nhất về đất hứa trong sách này.  Để thấu hiểu ý nghĩa của những lời này, chúng ta cần nhớ rằng Môi-se mô tả xứ cho một dân tộc chỉ nếm trải một cuộc sống khó khăn trong sa mạc mà thôi (Phu 6:10-11).  Dư dật nước, đủ loại hoa quả, ngay cả những món xa xỉ như dầu ô-liu và mật ong (hoặc ‘mứt’) đều là những điều tốt đẹp nhất mà Đức Chúa Trời ban cho họ sau thời kỳ thiếu thốn.

(Phu 8:10-20)  Đừng quên!.  Chủ đề của phần này rất giống với chủ đề của phần trên đây.  Vì vậy giờ đây khuynh hướng quên Đức Chúa Trời nơi dân Y-sơ-ra-ên càng mạnh hơn.  Lúc ở trong sa mạc, khi mọi sự hết sức khó khăn và cái chết luôn gần kề thì tự nhiên họ trông cậy nơi Đức Chúa Trời.  Nhưng khi đầy đủ mọi thứ thì bản tánh của con người là cảm thấy khó nhờ cậy nơi Đức Chúa Trời hơn.  Đây là một vấn đề trong thực tế mà Phục Truyền Luật Lệ Ký thẳng thắn nêu ra: Đức Chúa Trời muốn ban phước cho dân sự Ngài thông qua tất cả những điều tốt đẹp trong thế giới sáng tạo của Ngài, nhưng khi họ nhận được những điều tốt đẹp đó, rất có thể lắm họ quay lưng bỏ Ngài, cho rằng họ không cần Ngài.  Sự giàu có dư dật có thể dẫn đến ảo tưởng rằng ta có thể tự lo cho chính mình (7)

Trong mối quan hệ giữa con người với Đức Chúa Trời, vấn đề này còn sâu xa hơn.  Có người tin rằng của cải của họ là phước hạnh trực tiếp từ Đức Chúa Trời, là một dấu hiệu về sự tán thành của Ngài.  Cũng có người nghĩ rằng sự nghèo khó là dấu hiệu Đức Chúa Trời tức giận, không tán thành.  Sự thật không quá đơn giản như thế.  Thật ra, mọi thứ chúng ta có đều đến từ Đức Chúa Trời.  Thế nhưng cuộc đời an nhàn có thể khiến con người không thấy rằng họ cần đến Ngài, trong khi sự thiếu thốn hoặc mất mát của cải (hoặc sức khoẻ) có thể làm cho tâm linh thức tỉnh, gia tăng niềm tin.  Vì vậy khi chúng ta cảm thấy được Đức Chúa Trời ban phước thì đó là lúc phải tìm kiếm Ngài hơn trước và ngợi khen Ngài vì sự thành tín của Ngài (10).

Chính vì vậy mà Đức Chúa Trời cho họ kinh nghiệm cuộc sống trong sa mạc trước để dạy họ biết hạ mình khiêm nhu.  Cho nên, cuộc sống trong sa mạc cũng là một món quà mặc dù khó khăn (15), vì mục đích tận cùng của cuộc sống trong sa mạc là phước hạnh (16b).  Cuộc sống này nhằm ghi sâu vào lòng dân sự để khi vào đến đất hứa, họ cũng không quên rằng tất cả những điều tốt đẹp mà họ nhận lãnh đều đến từ Đức Chúa Trời (14,18).

Giao ước là trọng yếu (18).  Đoạn này kết thúc bằng một lời khuyên, đến nay đã trở thành quen thuộc là đừng thờ phượng các thần khác.  Đối với dân Y-sơ-ra-ên, ‘quên Đức Chúa Trời’ cũng có nghĩa là trung thành với một thần khác.  Ý tưởng sai trái lầm lạc là gốc rễ của mọi việc làm gian ác xấu xa.  Đối với con người thời nay, tội thờ hình tượng được thể hiện trong niềm tin vào những gì đem lại điều tốt lành mà không cần đến Đức Chúa Trời.

(Phu 9:1-6). Một dân cứng cổ. Đã có một lần dân Y-sơ-ra-ên không chịu vào xứ vì cớ dân cư trong xứ có tầm vóc cao lớn, sức mạnh vượt bực, chưa kể người A-na-kim khổng lồ (Phu 1:28  Dan 13:22  Gios 11:22).  Giờ đây Đức Giê-hô-va bảo đảm với dân sự rằng Ngài sẽ chiến thắng những kẻ thù nghịch kinh khủng này (như Ngài đã chiến thắng Si-hôn và Óc ở bên kia sông Giô-đanh, Phu 2:24-3:10).  Dầu vậy, chính dân sự phải hành động.  Hãy chú ý đến thế cân bằng giữa đôi bên Ngài sẽ huỷ diệt họ và các ngươi sẽ đuổi họ (3b).

Trong chương 8, Môi-se nói đến cuộc sống nghèo đổi thành giàu có, và những mối nguy cơ có thể xảy ra trong phần đạo đức vì cớ sự thay đổi này.  Rồi ông nói đến một sự thay đổi khác trong đời sống của dân Y-sơ-ra-ên, tức là từ một dân tộc bị áp bức trở thành những kẻ chinh phục.  Họ có thể bị cám dỗ vì nghĩ rằng Đức Chúa Trời ban xứ cho họ vì họ tốt hơn (‘công bình’ hơn) những dân tộc khác (4).  Nghĩ như vậy hoá ra vô ơn đối với Đức Chúa Trời vì Ngài ban phước cho họ bởi lòng nhân từ của Ngài mà thôi.  Do đó, trong câu 4-6, Môi-se nói rằng họ chiến thắng các dân tộc khác không phải vì họ công bình nhưng vì hai lý do: thứ nhất vì lời hứa của Đức Chúa Trời với tổ phụ họ và thứ hai là vì sự gian ác của các dân tộc đó.  Để nhấn mạnh vấn đề, ông tiếp tục nói rằng thật ra dân Y-sơ-ra-ên chẳng ‘công bình’ gì cả, trái lại thành tích của họ chứng minh họ là một dân cứng cổ, chống lại đường lối của Đức Chúa Trời dành cho họ.

(Phu 9:7-29). Tượng con bằng vàng. Đoạn Kinh Thánh dài tiếp theo chứng minh điểm Môi-se đang nói rằng bình thường dân Y-sơ-ra-ên là một dân cứng đầu.  Đoạn này nhắc lại những lúc họ chống lại Đức Chúa Trời, cụ thể là lần phản loạn tồi tệ nhất - đúc một tượng bò bằng vàng (Xu 32:1-34).  Họ phải nhớ vụ này (7 cùng với sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời trong sa mạc Phu 8:2 và những điều răn của Ngài, 8:11).  Để có thể tiếp tục đi trong con đường vâng phục giao ước đầy khó khăn, không những họ phải nhận biết là Đức Chúa Trời nhân từ, và cũng phải công nhận chính mình họ rất yếu đuối.  Vì lý do này, giờ đây Môi-se bắt họ phải đối diện với kỷ niệm đau thương về việc họ đã làm tại Hô-rếp.

Trước hết, Môi-se kể lại sự vụ (8-17).  Đó là một tội lỗi nặng nề nhất.  Xảy ra trong thời gian thoả thuận và xác quyết về giao ước ở núi Hô-rếp.  Thật ra, trước đó giao ước đã hoàn tất và dân sự đã đồng ý về mọi điều khoản (Xu 24:7).  Môi-se lên núi trở lại để nhận Mười Điều Răn do Đức Chúa Trời viết trên hai bảng đá (9  24:12).  Trong khi họ còn nhớ mồn một Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời và cuộc gặp gỡ Ngài trong khung cảnh uy nghi đầy sấm chớp, lửa và mây (19:16-19) họ dám thuyết phục A-rôn đúc ra một pho tượng (16a  32:1).  Thế là họ vi phạm hai điều răn đầu, là những điều răn tối quan trọng và họ cũng xoay lưng bỏ giao ước ngay khi vừa lập xong giao ước (12b,16b).

Vào lúc đó, Chúa đã nghĩ đến việc từ bỏ họ (chú ý là Ngài đã gọi họ là dân của Môi-se và ông đã đem họ ra khỏi Ai Cập, c.12).  Thậm chí Ngài định huỷ diệt họ và lập một giao ước mới với dòng dõi của Môi-se (c.14b giống như lời hứa ban đầu với Áp-ra-ham, Sa 12:2).  Khi Môi-se đập bể bảng đá, có vẻ như giao ước đã tiêu tan (17).

Tuy nhiên, Môi-se không màng đến cái vinh dự làm tổ phụ một dân tộc mới.  Thay vào đó ông cầu nguyện cho đám dân mà ông đã cống hiến cả cuộc đời cho họ.  Việc này cũng cho thấy rằng vai trò của người tiên tri bao gồm cả sự cầu thay và lời nói của Đức Chúa Trời.  Ông đã cầu xin cách thành khẩn và bền lòng nên Đức Chúa Trời nhậm lời ông mà tha thứ cho dân sự (19b).  Môi-se khẩn nguyện ba điều (26-29).  Trước hết, ông nhắc lại lời hứa của Đức Chúa Trời cho các tổ phụ mà chính Đức Chúa Trời đã nhiều lần nhấn mạnh (27  Phu 1:8).  Thứ hai, ông nhắc lại rằng Đức Chúa Trời đã làm mọi sự cho họ cho đến bây giờ, cứu họ ra khỏi Ai Cập và lập họ làm dân của Ngài (26,29).  Vì họ là sản nghiệp Ngài nên Đức Chúa Trời không thể nào huỷ diệt được dân của Ngài.  Thứ ba, ông lý luận rằng danh dự của Đức Chúa Trời đang bị lâm nguy.  Nếu Ngài đoán phạt dân của Ngài thì các dân tộc khác sẽ cho rằng Ngài không có khả năng để cứu họ (28).  Trong lời cầu nguyện của Môi-se, yếu tố này coi như có sức thuyết phục mạnh mẽ.

Chú giải.  22-24 Môi-se kể đến hầu như những trường hợp phản loạn khác của dân Y-sơ-ra-ên trong cuộc hành trình đến đất hứa nhằm bày tỏ rằng tội lỗi đầu tiên và lớn nhất không phải là sự kiện lẻ loi nhưng tự trong lòng họ là những con người phản loạn.

(Phu 10:1-11). Tái lập giao ước. Phần này tiếp liền theo phần trước.  Khi Đức Chúa Trời bảo Môi-se làm hai bảng đá mới có nghĩa là Ngài đã chấp thuận theo điều ông cầu thay cho dân sự (Phu 9:26-29).  Khi hai bảng luật pháp đầu tiên bị đập bể (9:17) thì dường như câu chuyện giao ước có thể chấm dứt luôn.  Hai bảng đá được làm lại có nghĩa là giao ước được phục hồi.  Đây là điểm quan trọng trong thần học của Phục Truyền Luật Lệ Ký.  Cuối cùng nhờ ân điển và sự tha thứ của Đức Chúa Trời mà giao ước của Ngài với dân Y-sơ-ra-ên đã có thể vượt trổi lên , bỏ lại sau lưng tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên.

Hai bảng đá mới cũng có Mười Điều Răn như hai bảng trước (4:14).  Đó là những điều khoản căn bản của giao ước.  Hai bảng này được lưu trữ trong một cái rương hay cái hòm đặc biệt, do Môi-se làm cho việc này (1,3), và ở những chỗ khác trong Phục Truyền Luật Lệ Ký gọi hòm này là ‘hòm giao ước của Đức Giê-hô-va’ (31:9,25).  Trong Phục Truyền Luật Lệ Ký, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của hòm giao ước.  Trong Xuất Ê-díp-tô Ký, chúng ta thấy hòm được đóng công phu, tỉ mỉ và sang trọng, chiếm vị trí trung tâm trong đền tạm là nơi Đức Chúa Trời nói chuyện với dân sự (Xu 25:10-22).  Ở đây nhấn mạnh đến chức năng của hòm là chứa đựng hai bảng luật pháp.  Phục Truyền Luật Lệ Ký tóm gọn thứ tự các sự kiện để nhấn mạnh chức năng thực sự của hòm giao ước là chứa hai bảng luật pháp.  (Trong Xuất Ê-díp-tô Ký, Bết-sa-lê-ên làm hòm giao ước không liên quan trực tiếp đến việc lập những bảng đá mới, 37:1-9  Phu 34:1-4).

Câu chuyện về sự vi phạm giao ước và sự tái lập giao ước kết thúc với c.10-22, cùng với việc lặp lại quyết định của Đức Chúa Trời là không huỷ diệt dân sự.  Bây giờ họ có thể tiếp tục tiến vào xứ với tư cách là dân của giao ước.

Dường như c.6-9 cắt ngang câu chuyện.  Tuy nhiên qua lời ghi chú và cái chết của A-rôn, ta thấy rằng ông không qua đời ở núi Hô-rếp, mặc dù ông có trách nhiệm về vụ phạm tội ở nơi đó (9:16-21), và như vậy là lời cầu thay của Môi-se cho ông (9:20) đã được nhậm (cũng như lời cầu thay cho dân sự cũng đã được nhậm).  Về địa danh, xem Dan 33:31-33, có lẽ chúng ở gần núi Hô-rơ (20:27-28).

Dường như sẵn đang viết về A-rôn (là người thuộc chi phái Lê-vi) nên tác giả ghi thêm về người Lê-vi.  Trong đoạn này, từ người Lê-vi được dùng theo nghĩa rộng, bao gồm những thầy tế lễ cũng như những tầng lớp tư tế thấp hơn, mặc dù có thể từ này dùng để chỉ về thành phần thứ hai mà thôi.  Vì A-rôn qua đời, chức vụ tế lễ của ông truyền lại cho con cháu ông.  (Các con trai của A-rôn cũng được phong chức thầy tế lễ cùng với ông, Xu 28:1-29:46).  Vì có chức vụ tế lễ nên chi phái Lê-vi không sở hữu một lãnh thổ nào như những chi phái khác trong dân Y-sơ-ra-ên.  Họ sống bằng công tác tế lễ của họ.

(Phu 10:12-22). Tôn giáo của tấm lòng. Phần còn lại của chương này và cả chương 11 quan tâm khuyến giục dân Y-sơ-ra-ên trung thành với giao ước đã được tái lập.  Trước hết, Môi-se duyệt lại mạng lịnh căn bản của Phục Truyền Luật Lệ Ký, kính thờ Chúa với tấm lòng và linh hồn (12, so với Phu 6:5).  Kính sơ Đức Giê-hô-va (12) là thờ phượng Ngài một cách xứng đáng, công nhận quyền làm chủ của Ngài trên cả thế giới.  Lòng kính mến Ngài đương nhiên là có kèm những điều đó.  Những mạng lịnh trong câu 12-13 nhấn mạnh đến sự vâng theo lời của Đức Chúa Trời.  Câu hỏi bây giờ Đức Giê-hô-va đòi ngươi điều chi? rất tương tự như Mi 6:8.  Cả hai đoạn này có ý chứng tỏ rằng nếu không xuất phát từ tấm lòng thì tôn giáo cùng với những nghi thức chỉ là vô nghĩa.

Môi-se tiếp tục nhắc lại việc Đức Chúa Trời tuyển chọn dân Y-sơ-ra-ên (14-15) và ông cố khơi dậy lòng biết ơn của họ bằng cách cứ lặp đi lặp lại sự tuyển chọn kỳ diệu này (Phu 7:7-8  9:6).  Sau đó ông dùng một hình ảnh mới để kêu gọi họ đừng làm một dân cứng cổ như trong quá khứ nữa (16, so với 9:6).  Sự ‘cắt bì tấm lòng’ là một cách nói khác bày tỏ rằng những hình thức lễ nghi bên ngoài tự nó không là gì cả mặc dù sự cắt bì là nghi lễ do Đức Chúa Trời truyền cho để làm dấu chứng về mối quan hệ đặc biệt giữa Ngài với dân Y-sơ-ra-ên (Sa 17:9-14).  Phục Truyền Luật Lệ Ký không có ý bài bác cắt bì và những nghi lễ khác (thí dụ sự dâng của lễ) nhưng muốn đặt những điều đó vào một hướng nhìn đúng đắn.

Sau đó Môi-se chuyển đề nói về một khía cạnh trong bản tánh của Đức Chúa Trời.  Đó là Ngài yêu sự công nghĩa.  Một người thật sự yêu mến Đức Chúa Trời sẽ nên giống như Ngài trong sự quan tâm mưu tìm lợi ích cho người cô thế, và làm như vậy không vì lợi ích riêng cho mình (17-19).  Nguyên tắc này là cơ sở cho những luật lệ trong chương 12-26.

Chương này kết thúc bằng lời kêu gọi cuối cùng là chỉ thờ phượng một mình Đức Chúa Trời mà thôi và nhắc lại sự thành tín của Ngài đối với lời hứa của Ngài (20-22  Sa 15:5).

(Phu 11:1-7). Kỷ luật của Chúa  Như chúng ta đã thấy, thế hệ hiện tại không chịu trách nhiệm về sự thất bại của dân sự trong cơ hội chiếm lấy đất hứa lần đầu (Phu 1:39 so với 2:14-15).  Hơn nữa Môi-se nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời đã trực tiếp lập giao ước với họ (5:3).  Bây giờ ông khuyên họ nên học tập cách Đức Chúa Trời đối xử với họ từ khi họ ra khỏi Ai Cập.  Họ có một trách nhiệm đặc biệt là phải hiểu những kinh nghiệm họ đã trải qua trong suốt những năm tại sa mạc.  Con cái của họ còn quá nhỏ không thể đánh giá được, hoặc chưa ra đời nên không thể nhận biết ý nghĩa và giá trị của những việc đó.  Tuỳ nơi sự giáo huấn của họ mà đám con cái này biết về những việc Đức Chúa Trời đã làm (2, so với 19-21).

Những điều họ đã chứng kiến gọi là sự răn dạy của Đức Chúa Trời (2) không hề vắng bóng tình yêu thương của Ngài.  Ông minh hoạ sự răn dạy này bằng hai cách khác nhau.  Trước hết ông nhắc rằng người Ai Cập bị thua bại vừa vì những tai vạ (3, so với Xu 7:14-12:30) vừa vì quân lính của họ thua dân Y-sơ-ra-ên trong vụ Pha-ra-ôn kéo quân đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên sau khi đã cho phép dân Y-sơ-ra-ên ra đi (4, so với 14:5-31).  Sự răn dạy này là một bằng chứng về quyền năng của Đức Chúa Trời cũng như tình yêu của Ngài dành cho tuyển dân.

Thứ hai, Môi-se nhắc lại vụ Đa-than và A-bi-ram, những kẻ đã thách thức quyền hạn của Môi-se và A-rôn trong vai trò lãnh đạo, cụ thể là họ muốn giữ chức thầy tế lễ chớ không chấp nhận địa vị ‘người Lê-vi’ (Dan 16:3,8-10).  (Về chức vụ của người Lê-vi theo ý nghĩa hẹp hơn, xem 3:1-37 và phần chú giải trong Phu 10:6-9).

Ở đây ‘kỷ luật’ đượm vẻ u ám hơn.  Đây là sự trừng phạt của Đức Chúa Trời về tội không tuân thủ giao ước, và nhất là tội từ khước đường lối của Ngài một cách hỗn xược và tự thị.

(Phu 11:8-25). Một xứ được Đức Chúa Trời chăm sóc. Môi-se lại nêu lên mối tương quan giữa sự vâng lời và cuộc sống trong đất hứa (so với 4:1).  Sự tương phản giữa xứ này và Ai Cập là một sự so sánh thú vị vì Đa-than và A-bi-ram đã tuyên bố rằng Ai Cập là một xứ màu mỡ và đất hứa là chuyện ảo tưởng (Dan 16:12-14).  Thật ra, Ai Cập màu mỡ là nhờ các phương pháp dẫn thuỷ nhập điền công phu, trong khi đó đất hứa màu mỡ vì Đức Chúa Trời cho mưa (10-11).  Câu 12 có ý nêu lên sự tương quan giữa việc Đức Chúa Trời tuyển chọn cùng chăm sóc xứ và tình yêu thương của Ngài dành cho tuyển dân của Ngài.

Như thường thấy trong Phục Truyền Luật Lệ Ký, lời hứa luôn đi kèm chặt chẽ với mạng lịnh. Dân sự chỉ hưởng được sự giàu có của đất hứa khi tuân thủ những điều khoản của giao ước.  Câu 14-15 vẽ ra một bức tranh về cuộc sống mà họ có thể được hưởng, với những trận mưa thuận thì vào mùa thu và mùa xuân, cả hai mùa mưa này đều thiết yếu để có vụ thu hoạch lớn.  Trong Phục Truyền Luật Lệ Ký, ngũ cốc, rượu mới và dầu là một cách nói điển hình về sự màu mỡ của xứ (Phu 7:13  12:17).

Ngược lại, nếu dân sự quay sang thờ lạy các thần khác thì họ sẽ không hưởng được sự dồi dào dư dật này (16-17  IVua 17:1).  Ở những chỗ khác trong Kinh Thánh gọi hai mặt trái ngược này là ‘phước hạnh’ và ‘rủa sả’ (xem phần dưới ở c.26).

Phước hạnh này được bảo đảm không những cho thế hệ hiện tại nhưng còn cho tất cả những thế hệ về sau nếu họ trung tín truyền dạy những điều khoản của giao ước cho con cháu như một phần trong lối sống của dân sự (19-21 so với Phu 6:5-9).  Tuy nhiên, để tránh ấn tượng cho rằng mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời với dân Y-sơ-ra-ên chỉ dựa trên việc tuân thủ luật pháp mà thôi, Môi-se đã quay lại với vấn đề lời hứa.  Đất hứa là một món quà của Đức Chúa Trời ban cho dân Y-sơ-ra-ên (22-23,25).  Với biên cương giới hạn (24) theo như đã hứa với Áp-ra-ham (Sa 15:18).

(Phu 11:26-32). Hai con đường. Phần mở đầu dài cho những luật lệ cụ thể riêng rẽ sắp kết thúc.  Phần này làm gạch nối giữa phần mở đầu và phần còn lại của sách.  Phước lành và rủa sả (gợi ý trong c.14-17) là hai con đường mở ra cho dân Y-sơ-ra-ên (26-28).  Hai điều này được vạch ra rất kỹ trong một chương dài sau khi đã nói về luật pháp (chương 28).  Sự quyết định chọn lựa của dân Y-sơ-ra-ên đối với hai con đường này là việc rất nghiêm trọng cho nên một buổi lễ sẽ được tổ chức tại núi Ê-banh và Ga-ri-xim, gần thành Si-chem ở giữa xứ để ghi khắc vào tâm trí của họ (19-30).  Sự chiếm hữu Si-chem là một cách ăn mừng cuộc chinh phục toàn xứ chắc chắn xảy ra sau đó (ám chỉ về người Ca-na-an).  Mạng lịnh này được lặp lại với nhiều chi tiết hơn trong chương 27.  Rồi đến thời điểm thích hợp thì Giô-suê thi hành (Gios 8:30-35).  Cuối cùng (32), Môi-se dùng những từ ngữ quen thuộc để khuyến giục dân sự tuân thủ những điều khoản của giao ước.  Việc này trực tiếp dẫn vào chương 12 là chương bắt đầu những luật cụ thể, riêng rẽ điều hành nếp sống của dân Y-sơ-ra-ên trong xứ.

4. Những luật lệ cụ thể (Phu 12:1-16:1-20)

(Phu 12:1-12). Nơi thờ phượng. Bây giờ bắt đầu những luật lệ cụ thể, câu 1 làm gạch nối với phần giáo huấn tổng quát ở trên.  Những mạng lịnh trong chương 12 liên hệ đến sự thờ phượng Chúa cách đúng đắn và là hệ quả của điều răn căn bản là dân Y-sơ-ra-ên chỉ thờ phượng một mình Ngài mà thôi (Phu 5:7).  Ở đây lặp lại lịnh huỷ diệt tất cả những dấu vết về sự thờ phượng của người Ca-na-an (2-4).  Đây là mạng lịnh đã truyền ra ở phần trên rồi (7:5,25).  Phải triệt hạ những nơi thờ phượng của người Ca-na-an (2) vì đó là những nơi ghi danh giữ tiếng của họ (3).  Theo quan điểm của người Sê-mít thời xưa thì tên riêng, danh xưng chính là thực thể và quyền hạn của người mang tên đó.  C.3 liệt kê những cạm bẫy của các tôn giáo thờ hình tượng ở Ca-na-an.  Trụ đá có lẽ biểu thị về sự phì nhiêu trụ A-sê-ra đặt theo tên của nữ thần A-sê-ra, và có lẽ là một trụ gỗ được chạm trổ thành tượng của nữ thần.

Ngược lại với sự thờ phượng giả mạo này, Chúa đã chọn một nơi.  Danh của Ngài sẽ được ghi nhớ tại đó (5).  Ngài chưa xác định địa điểm của nơi đó.  Địa điểm tự nó không quan trọng, nhưng quan trọng là địa điểm đó thuộc về Chúa.  Trong suốt lịch sử Y-sơ-ra-ên Đức Chúa Trời lần lượt chọn một số nơi, đặc biệt là Si-lô (Gie 7:12) và Giê-ru-sa-lem (IIVua 21:4).

Mạng lịnh bảo dân Y-sơ-ra-ên phải đi đến thờ phượng tại địa điểm mà Đức Chúa Trời chọn nhằm khuyến giục họ thờ phượng thường xuyên đều đặn.  Câu 6 liệt kê về các của lễ, các của dâng, là những tiết mục, những nghi thức trong các cuộc thờ phượng đó.  Ở đây không liệt kê hết nhưng chỉ tóm tắt về sự thờ phượng của dân Y-sơ-ra-ên.  (Muốn biết đầy đủ chi tiết về các của lễ, xem Le 1:1-7:28 và phần bình giải).  Của-lễ thiêu là của lễ dâng hết cho Chúa trên bàn thờ (1:9)  Còn người thờ phượng và các thầy tế lễ ăn phần lớn của dâng trong các loại của lễ khác (7:11-18).

Sắc thái đặc trưng trong sự thờ phượng này là vui mừng.  Thật vậy câu 7 cho chúng ta thấy chủ trương của Phục Truyền Luật Lệ Ký: một dân tộc hiệp một sẽ vui mừng thờ phượng Đức Chúa Trời trong sự hiện diện của Ngài.

Từ câu 8-10  Nhắc lại hiện trạng của dân Y-sơ-ra-ên, vì còn lối sống trong sa mạc, họ chưa có thể thực hiện được mọi sinh hoạt trong nếp sống mà Đức Chúa Trời yêu cầu nơi họ sau này.  Còn khi tất cả dân Y-sơ-ra-ên đã định cư trong phần đất chia cho họ và khi chiến tranh không còn nữa thì họ mới đạt được sự yên nghỉ theo như đã hứa (xem 3:20 và phần bình giải).

Câu 11-12 nhắc lại những mạng lịnh trong câu 6-7, kể cả lời kêu gọi vui mừng, đồng thời cũng đưa ra một lời chỉ dẫn là phải cho người nghèo và người cô thế trong cộng đồng được tham gia thờ phượng.  Chúng ta đã bàn rằng đây là điểm gợi ý chúng ta nghĩ đến một đặc tính của Đức Chúa Trời cần phải được thể hiện giữa dân sự của Ngài (10:17-19).  Đặc tính này được lặp lại trong phần viết về sự thờ phượng.  Tác giả Phục Truyền Luật Lệ Ký biết rằng thờ phượng mà không vui mừng và yêu thương thì chỉ là sự chết.

(Phu 12:13-28) Một ngoại lệ Phần này xem như phần bổ túc cho phần trước.  Cuối cùng, khi dân Y-sơ-ra-ên đã sống trong xứ của họ, nhiều người dân sẽ định cư cách xa nơi dâng của lễ.  Mặc dù theo qui định, họ phải hành hương vào những dịp lễ (Xu 23:17), nhưng chắc chắn là thỉnh thoảng thôi.  Do đó những qui định này cho phép họ ăn thịt dù không có dịp giết con thú để dâng của lễ (đây là yêu cầu trong Le 17:1-7) khi dân sự còn ở trong sa mạc).  Trong những trường hợp này, những con thú thích hợp để dâng của lễ cũng tương đương như những con thú không thích hợp khác (thí dụ con hoàng dương và con nai đực, 15).  Chỉ có một điều cấm là họ phải đổ huyết đi, vì họ không được phép ăn huyết (Sa 9:4  Le 17:10-12).  Trong ISa 14:32-35, Sau-lơ đã ‘giết thịt theo cách trần tục’ như vậy.

Câu 15-19 tương tự với 20-28 xác định ngoại lệ này.  Trước hết, mỗi phân đoạn đã xác định ngoại lệ rồi lặp lại luật lệ căn bản là những của lễ thực sự phải được đem đến nơi thờ phượng.

(Phu 12:29-31).  Thánh sạch trong sự thờ phượng Chương 12 có nhiều điểm giống chương 7.  Mỗi chương bắt đầu và kết thúc với lời khuyến cáo là đừng để tôn giáo của dân Ca-na-an dẫn đi sai lạc.  Những câu này lặp lại chủ đề của câu 1-4 và kết thúc chương này bằng cách nhắc người đọc nhớ lại mục đích căn bản của những luật lệ đã được ban bố.

(Phu 13:1-18) Những cám dỗ dẫn đến sự thờ hình tượng Cũng như chương trước, chương này quan tâm hàng đầu đến luật pháp và điều răn thứ nhất (trung thành tuyệt đối với Chúa, Phu 5:7).  Theo chương này dân Y-sơ-ra-ên có thể bị dụ dỗ thờ phượng các tà thần theo ba cách.

Sự cám dỗ thứ nhất có thể đến từ các tiên tri giả.  Lắm lúc dân Y-sơ-ra-ên khó nhận diện một tiên tri giả vì có thể họ dùng lối nói hình bóng và xưng là có nhận được những sự khải thị mà không dễ gì kiểm tra được.

Thử nghiệm thứ nhất để phân biệt thật với giả là liệu đương sự có trung thành với Đức Giê-hô-va không (còn ít nhất là một thử nghiệm khác, 18:20-22).  Không thể viện ra kinh nghiệm hoặc những lời giảng hay ho để dung dưỡng sự bất trung.  Một người bất trung với Đức Chúa Trời như vậy là một hiểm hoạ cho sự sống còn của dân Y-sơ-ra-ên là dân tuyển.  Vì vậy cần nhắc lại việc Đức Chúa Trời giải cứu họ khỏi Ai Cập để làm động cơ thôi thúc họ loại trừ con người thờ hình tượng (5), rồi lại kêu gọi họ yêu mến Đức Chúa Trời (3).  Còn người tiên tri giả phải bị xử lý nghiêm khắc.  (Chúa không đứng ra sắp xếp cuộc thử nghiệm trong c.3, nhưng dù sao chính người tiên tri giả đã cung ứng một cơ hội để Đức Chúa Trời thử xem dân sự có trung thành và có khả năng phân biệt thật giả hay không).

Thứ hai, sự cám dỗ thờ tà thần có thể bắt nguồn từ bất kỳ một thành viên nào trong cộng đồng (6-11).  Trong trường hợp đó, bà con thân thuộc nhất và bạn hữu gánh trách nhiệm nặng nề, là phải vạch trần khối ung bướu trong tập thể ra và phải đi đầu trong việc cắt bỏ khối ung bướu này đi.

Cuối cùng luật lệ nghiêm khắc này cũng được áp dụng cho trường hợp sự thờ lạy hình tượng bắt đầu bén rễ trong một thành (12-18).  Có thể lắm, sự bội đạo của thành có liên hệ đến khuynh hướng chính trị vì chính trị và tôn giáo gắn bó chặt chẽ với nhau.  Thí dụ, có thể lắm dân trong một thành quay sang thờ Ba-anh là một hình thức phản đối không muốn dính dáng đến cộng đồng ‘Y-sơ-ra-ên’ trên cơ sở mà giao ước Môi-se đã ấn định.  Những thành này đều chịu cái án là ‘đáng diệt’, như các thành của người Ca-na-an đã chịu khi dân Y-sơ-ra-ên tiến vào xứ (15-16 so với 2:34  7:1-5).  Số phận của những thành này – là một đống đổ nát vĩnh viễn (16) – cũng là số phận của thành A-hi và Giô-suê là người thi hành án (Gios 8:28).  (Nhân thể xin nói rằng việc này chứng tỏ Đức Chúa Trời ghét các tà đạo chứ không phải ghét các dân tộc).

Đúng là những biện pháp này có vẻ quá ư khắt khe, nhưng trong suốt lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên ở trong xứ, chúng ta thấy sự cám dỗ này rất mạnh mẽ.  Hai sách Các Vua trình bày sự thất bại kinh niên của họ về phương diện này.  Sự thờ lạy hình tượng đã phá hoại mục đích mà Đức Chúa Trời đã chọn Y-sơ-ra-ên, đó là sự cứu chuộc của thế giới.

(Phu 14:1-21). Dân thánh được biệt riêng ra. Những luật lệ tiếp theo chủ yếu qui định về thực phẩm.  Đoạn này mở đầu bằng sự nhắc lại rằng dân Y-sơ-ra-ên là một dân thánh và được chọn (2), một câu nối kết đã dùng trong Phu 7:6 (cũng xem phần bình giải của câu đó).  Ở đây dân sự còn được gọi là con cái của Đức Chúa Trời (nghĩa đen là ‘các con trai’,  1:31 Xu 4:22  Os 11:1 dùng số ít với cùng ý nghĩa).  Mối quan hệ gần gũi này giờ đây là nền tảng của những luật sẽ làm cho họ khác những dân tộc khác một cách lộ liễu.  Câu 1b cấm dân Y-sơ-ra-ên theo những tập tục của người Ca-na-an khi khóc than trong dịp tang chế (IVua 18:28).

Phần lớn đoạn này (3-20) phân biệt những loài thú dân Y-sơ-ra-ên được phép ăn thịt và những loài thú họ không nên ăn.  Từ thường được dùng là thú vật sạch và không sạch.  Chưa có sự nhất trí về ý nghĩa chính xác của những từ này.  Đại khái dân Y-sơ-ra-ên không được dùng một số thú vật làm thức ăn vì lý do sức khoẻ hoặc vì lý do tôn giáo.  (Từ không sạch theo nghi thức tôn giáo (ceremonially unclean) trong bản NIV của câu 7b có ý nói đến loại thứ hai mặc dù trong tiếng Hi Bá Lai không có thêm từ nào cho từ theo nghi thức tôn giáo (ceremonially)).

Những nỗ lực nhằm giải nghĩa ý sâu xa của từ sạch và không sạch đều gặp trở ngại vì không thể xác định một số thú. Cũng có thể là không có lý do gì đáng kể cả. Tuy nhiên, đôi khi chính con thú là lý do. Thí dụ trong trường hợp các loại chim ăn thịt như con kên kên (12), có lẽ bị liệt vào loại không sạch vì giống chim này ăn thịt những con thú chết theo luật thiên nhiên. Theo nghi thức thì thịt những con thú đó là không sạch vì không lấy huyết ra cho đúng phép (Le 17:15-16,21  Phu 12:16). Đây cũng là lý do áp dụng cho những loại chim ăn mồi (12-16). Một số loại thú khác bị liệt vào loại không sạch có lẽ vì những con thú đó được dùng trong sự thờ phượng của các tôn giáo khác.

Mary Douglas, một nhà nhân chủng học đưa ra một hướng lý giải tổng quát khá thuyết phục về những luật liên quan đến thực phẩm.  Bà viết về vấn đề này trong quyển Purity and Danger (Routledge and Kegan Paul, 1966), và G.J. Wenham vận dụng vào tác phẩm của mình Leviticus (Eerdmans, 1979).  Theo quan điểm của Douglas, từ ‘sự thánh khiết’ (holiness) trong Kinh Thánh có ý nói về sự nguyên vẹn hoặc sự trọn vẹn.  Con người, thú vật, thậm chí cả vật chất được kể là ‘nguyên vẹn’ khi hoàn toàn hội đủ những tiêu chuẩn của chủng loại của mình (Le 18:23  19:19  21:17-21).  Do đó những con thú đáng được biệt riêng cho công việc thánh (tức làm sinh tế) là những con thú hoàn toàn thuộc về một chủng loại và không có những điểm nào bị xem là ‘pha trộn’ (xem Wenham, Leviticus, trang 18-25).

Một lần nữa cần lý giải qui định trong câu 21 trên cơ sở ‘sự nên thánh’ của dân Y-sơ-ra-ên (mặc dù không có một bằng chứng rõ ràng để củng cố cho việc này liên hệ đến điều chỉ dẫn cuối)  Những người ngoại quốc, không phải là tuyển dân, nên họ không lệ thuộc vào những luật lệ đặc biệt của người Y-sơ-ra-ên.

(Phu 14:22-29) Thuế một phần mười. Thuế một phần mười của dân Y-sơ-ra-ên là sự dâng hiến thổ sản.  Trong một xã hội nông nghiệp, ngũ cốc là dấu hiệu rõ ràng bày tỏ sự nhân từ của Đức Chúa Trời, và do đó dâng một phần mười trở thành một mục tất nhiên trong sự thờ phượng.  Khó lòng xác định số lượng một phần mười trích từ của cải của một người Y-sơ-ra-ên là bao nhiêu (mặc dù hiểu theo nghĩa đen là một phần mười), hơn nữa, của dâng một phần mười cũng chỉ là một trong số nhiều của dâng mà người Y-sơ-ra-ên có bổn phận phải dâng.  Trong nỗ lực tìm hiểu về của dâng này ta đụng phải vấn đề phức tạp hơn vì trong Ngũ Kinh có nhiều luật lệ khác nhau nói về của dâng này.  Trong Dan 18:21-29 thuế một phần mười là của dâng cho người Lê-vi (là thành phần sống nhờ của dâng này).  Ở đây, của lễ dâng lên là một bữa tiệc mà người dâng của lễ và toàn thể người nhà đều tham dự, dĩ nhiên là phải nhớ đến người Lê-vi (27).

Có thể hiểu đầy đủ vấn đề này bằng cách phối hợp các luật lệ ở mấy chỗ lại với nhau.  Sau tiệc gia đình ở nơi thờ phượng, hẳn là người dâng còn để lại phần lớn thực phẩm cho người Lê-vi.  Thuế một phần mười trong năm thứ ba (28-29) dường như để sử dụng đặc biệt, được thu góp trong các thành chứ không phải đem đến nơi thờ phượng, và được dùng để giúp những người bất hạnh (cũng như cho người Lê-vi sống ở khắp nơi trong xứ, Dan 35:1-8).

Tuy nhiên, thuế một phần mười được trình bày ở đây rất phù hợp với quan điểm của Phục Truyền Luật Lệ Ký.  Toàn thể dân Y-sơ-ra-ên họp ở trung tâm thờ phượng, vui mừng thờ phượng một Đức Chúa Trời.  Buổi dâng một phần mười đó tượng trưng cho sự hiệp một của dân sự bằng cách nhấn mạnh đến sự kiện là tất cả mọi người đều dự phần, tất cả đồng loạt vâng lời (mang đến thuế một phần mười) và đều nhận được phước hạnh dư dật về phần vật chất ở trong xứ (trong một bữa tiệc mà chính của dâng một phần mười cung cấp).

Chú giải.  24-26 đề cập đến một chi tiết cụ thể là có một số người sống rất xa nơi thờ phượng.  Luật này cũng tương tự như luật cho phép giết súc vật để ăn thịt mà không thông qua nghi thức dâng của lễ (Phu 12:13-28).

(Phu 15:1-18). Xoá nợ giải phóng lệ. Đến đây cuộc sống hằng ngày của dân Y-sơ-ra-ên trong xứ được qui định cụ thể hơn, liên hệ đến nợ nần và nô lệ.  Nên hiểu là người khá giả hơn phải giúp đỡ người nghèo nàn hơn thông qua hai việc này.  Không chỗ nào khác trong Kinh Thánh biểu thị về tình huynh đệ trong dân Y-sơ-ra-ên mạnh mẽ như ở đây (2-3).

Một lần nữa cách đối xử với người Y-sơ-ra-ên phải khác với cách đối xử với người ngoại quốc (Xu 14:21).  Do đó các luật lệ tiếp tục xây dựng trên cơ sở dân Y-sơ-ra-ên là một dân thánh, biểu thị những chuẩn mực của Đức Chúa Trời.  (Do đó thái độ đối xử với người ngoại quốc không phải là kỳ thị theo kiểu thời nay, cũng không phải nhằm để biện minh cho sự kỳ thị này.  Thái độ này chỉ nhằm bày tỏ địa vị đặc biệt của dân Y-sơ-ra-ên trong thời điểm này của lịch sử cứu chuộc, chớ không phải là một nguyên tắc thường cố định).

Vào năm thứ bảy của chu kỳ bảy năm các món nợ đều được huỷ bỏ.  Các món tiền cho mượn không được tính lãi (Phu 23:19-20  Xu 22:25), cho mượn tiền phải là một hành động giúp đỡ những người đang gặp cảnh khó khăn (có lẽ do mất mùa) chứ không phải là phương tiện để người cho vay làm giàu.  Động cơ của việc cho mượn nằm trong bản chất của dân Y-sơ-ra-ên.  Dân sự trong giao ước với Đức Chúa Trời phải sống biểu thị tình huynh đệ và sống với sự hiểu biết rằng họ chiếm được xứ không phải nhờ sức mạnh (Phu 8:17) nhưng nhờ Đức Chúa Trời ban cho.  Hệ quả của cách sống này là để cho không có kẻ nghèo nàn ở giữa ngươi (4), đây thực sự là một mạng lịnh.  Chỉ khi nào dân Y-sơ-ra-ên ý thức trách nhiệm phải đối xử công bằng như vậy họ mới tiếp tục kinh nghiệm đất hứa thật sự là một món quà và nhận biết những phước hạnh kế tiếp của Đức Chúa Trời (4-6).

Câu 7-11 kêu gọi dân sự đối xử với lòng rộng rãi một cách cụ thể hơn.  Những luật lệ này thấu hiểu lòng người quan tâm tính toán cho quyền lợi cá nhân đến nỗi họ không chịu cho mượn tiền vì năm thứ bảy sắp đến.  Tức là người mượn nợ không đủ thời gian (hoặc không muốn!) trả nợ trước khi năm thứ bảy đến và người cho mượn buộc phải xoá nợ.  (Nhân tiện cũng nói thêm rằng chúng ta không rõ phải xoá nợ hoàn toàn hoặc chỉ hoãn trả cho đến hết năm thứ bảy.  Nhưng dù sao, luật này cũng đòi hỏi người cho mượn phải có tinh thần hy sinh).  Tân Ước cũng không ấn định mức độ rộng rãi của người ban cho (Ro 12:8  IICo 9:7).

Ở điểm này, những luật lệ của Phục Truyền Luật Lệ Ký dẫn đến một sự quan tâm vô hạn đến người khác tới mức mà không còn diễn tả bằng luật lệ nào cả.  (Thí dụ trong Le 19:18 dường như nói đến điểm này khi yêu cầu dân Y-sơ-ra-ên phải ‘yêu kẻ lân cận như như mình’).  Khó xét xử chuyện này tại toà án.  Tuy nhiên c.9c cho thấy những nghĩa vụ đề ra ở đây là có thật.  Người ngoài cuộc có thể nhận định về cách thi hành và chắc chắn là chính Đức Chúa Trời có soi xét.

Chế độ nô lệ ở Y-sơ-ra-ên hoàn toàn khác với điều người ta thường hiểu thông qua từ nô lệ.  Một người lâm vào tình cảnh khó khăn có thể bán mình làm nô lệ cho người khác để sống qua lúc quẩn bách.  Tuy nhiên không phải là vĩnh viễn làm nô lệ (mặc dù có thể đương sự sẽ chọn làm nô lệ suốt đời 16-17).  Chắc chắn người chủ không có quyền sở hữu người nô le (hoặc đầy tớ - từ này có thể dịch theo hai nghĩa).  Việc bán nô lệ trong câu 12 chỉ có nghĩa là bán sức lao động của người nô lệ trong một khoảng thời gian.  Đến cuối thời gian đó (là vào năm thứ bảy) để trả công cho đương sự , người chủ phải cung cấp cho đương sự những phương tiện để sống tự lập trở lại.  Một lần nữa, lòng rộng rãi là phương tiện để dân Y-sơ-ra-ên tiếp tục hưởng những phước hạnh mà Chúa muốn ban cho họ (18b).

(Phu 15:19-23). Những con đầu lòng. Tất cả những con đầu lòng, của người lẫn gia súc đều đặc biệt thuộc về Đức Giê-hô-va.  Trường hợp con thú đầu lòng thì phải dâng làm sinh tế.  Còn con người thì thay thế bằng những sinh tế khác (Xu 13:2,13,15).

Ở đây, dâng con vật đầu lòng, như dâng thuế một phần mười, được thực hiện như một mục trong buổi lễ hàng năm ở nơi thờ phượng.  Những con vật bị tật nguyền, được xác định là không thích hợp để làm sinh tế thì được dùng làm thức ăn không thông qua nghi thức dâng tế lễ (21-23).  Những qui định ở đây khá tương tự với những qui định về việc giết thịt ngoài hệ sinh tế trong Phu 12:13-28, vấn đề quan trọng là phải lấy hết huyết ra cho đúng cách.

Luật về con đầu lòng (cũng như luật về những của tế lễ nói chung) đều nhấn mạnh đến sự sẵn lòng của người dâng, đương sự vui lòng từ bỏ điều mà đương sự cảm thấy mình có quyền sở hữu.  Do đó giữa luật này và những luật về nợ nần và giải phóng nô lệ có một yếu tố chung.  Trong cả hai trường hợp, dân Y-sơ-ra-ên đều nhận biết rằng tất cả những gì họ có là do Đức Chúa Trời ban cho.

(Phu 16:1-17).  Những kỳ lễ chính. Tiếp theo những luật lệ về tế lễ và các của dâng là những qui định về ba kỳ lễ thường niên (Xu 23:14-17  Le 23:1-44).  Phục Truyền Luật Lệ Ký không trình bày đầy đủ chi tiết bằng Lê-vi Ký nên có thể xem Phục Truyền Luật Lệ Ký là sách tóm lược, chỉ nhấn mạnh những điểm quan trọng điển hình.

Lễ thứ nhất tổ chức vào tháng 3-4 (tháng Abib, sau thời kỳ lưu đày gọi là tháng Nisan).  Thật ra, đó là sự phối hợp giữa hai lễ, Lễ Vượt Qua và Lễ Bánh Không Men (ngày 15-21  23:5-8). Dường như là có chủ tâm sắp xếp hai lễ này sát nhau như có nói trong câu 3 Với Lễ Vượt Qua, chớ ăn bánh pha men trong bảy ngày ngươi sẽ ăn bánh không men (xem bản RSV). Hơn nữa, không có sự phân biệt giữa con sinh của lễ Vượt Qua và những con sinh khác dâng trong những tuần kế đó (2).

Mục đích của kỳ lễ phối hợp này có hai mặt.  Thứ nhất là để nhắc dân sự nhớ lại sự giải cứu lạ lùng khỏi Ai Cập bởi quyền năng và tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho họ (3, so với Xu 12:1-13:22).  Dân sự cần ghi nhớ rằng Đức Chúa Trời chăm sóc dân sự của Ngài.  Đây là điểm hết sức quan trọng trong Phục Truyền Luật Lệ Ký (Phu 6:4-12  8:10-18), và hơn bất kỳ điều gì khác, Lễ Vượt Qua là một lễ kỷ niệm, một dịp để hồi tưởng.  Cũng vậy, những lễ kỷ niệm của Cơ-đốc giáo trước hết là Lễ Phục Sinh, nhắc chúng ta nhớ lại sự giải cứu mà Đấng Christ đã thực hiện qua sự hy sinh của Ngài, và Lễ Tiệc Thánh.  Từ những điểm tương đồng này dẫn đến ý Đấng Christ là ‘con sinh của lễ Vượt Qua’ (ICo 5:7).

Thứ hai, kỳ lễ theo như trình bày trong Phục Truyền Luật Lệ Ký hướng đến đời sống trong xứ.  Sống trong xứ là điều sách này thường nói đến.  Hơn nữa, ngày thứ bảy của lễ bánh không men (8) khá tương tự với ngày nghỉ sa-bát, và chúng ta nhớ rằng cuộc sống trong xứ là một dạng nghỉ ngơi (Phu 12:9).  Sau này, khi dân sự vào xứ, họ tổ chức Lễ Vượt Qua và ngay sau đó họ đã ăn bánh không men, tức là sản vật của xứ (Gios 5:10-12).  Hai lễ Vượt Qua và Bánh Không Men được phối hợp liền nhau trong Phục Truyền Luật Lệ Ký, có lẽ với ý định nhắc lại lòng nhân từ của Đức Chúa Trời đối với họ trong quá khứ và khích lệ họ tin rằng Ngài sẽ tiếp tục ban phước cho họ trong xứ mà Ngài sẽ ban cho họ.

Lễ Vượt Qua chủ yếu là một bữa tiệc tổ chức trong gia đình.  Do đó kể ra cũng lạ là lễ này sẽ được tổ chức ở nơi thờ phượng trung tâm.  Dầu vậy, sau buổi dâng tế lễ, dĩ nhiên là bữa tiệc diễn ra trong mỗi gia đình, trong những cái trại (7) có lẽ được tạm dựng quanh trung tâm thờ phượng.

Kỳ lễ thứ hai của toàn dân Y-sơ-ra-ên ở trung tâm thờ phượng là Lễ Các Tuần Lễ (9-12), cũng gọi là Lễ Thu Hoạch (Xu 23:16) hoặc Lễ Ngũ Tuần (23:16).  Lễ này được tổ chức bảy tuần (chính xác là năm mươi ngày, Le 23:15-16) sau khi dâng bó lúa đầu mùa của năm, trong thời gian Lễ Bánh Không Men (23:15).  Mạng lịnh về giữ lễ này trong Phục Truyền Luật Lệ Ký nhấn mạnh sắc thái đặc trưng của sách là vui mừng trong khi thờ phượng, chăm sóc người nghèo, và nhớ đến sự giải cứu khỏi Ai Cập.

Cuối cùng Lễ Lều Tạm mừng sự thu hoạch toàn bộ hoa lợi vào dịp cuối mùa hè.  Tên của kỳ lễ này được giải thích bằng mạng lịnh dân sự phải sống tạm trong lều trại suốt kỳ lễ để nhớ lại cuộc sống tạm của họ khi rời khỏi Ai Cập (23:42-43).  Hình thức này lý giải chuyện lễ mang tên là Lễ Lều Tạm.  Lễ này là một lễ trong các lễ ấn định vào tháng bảy (khoảng tháng chín dương lịch).  Lê-vi Ký có chép đầy đủ (23:23-43), nhưng Phục Truyền Luật Lệ Ký không nhắc lại hết.

Trong khi các dân tộc cổ đại thường có những kỳ lễ lớn liên quan đến nông nghiệp, các kỳ lễ của người Y-sơ-ra-ên khác biệt vì gắn liền với sự kiện được cứu khỏi Ai Cập.  Như vậy, những phước hạnh đều đặn của Đức Chúa Trời ban cho thông qua đất đai luôn luôn nhắc họ nhớ rằng mọi điều tốt lành mà họ được hưởng đều tuỳ thuộc vào sự giải cứu khởi đầu đó.

Phần tóm tắt trong câu 16-17 bày tỏ mối quan tâm đặc trưng của Phục Truyền Luật Lệ Ký.  Đó là dân sự nên nồng nhiệt trong sự thờ phượng đáp ứng với sự nhân từ của Ngài đối với họ.

(Phu 16:18-20). Các quan toà các viên chức. Phân đoạn ngắn ngủi này đề cập đến một vấn đề đã bàn đến từ đầu sách.  Đó là trách nhiệm của những quan toà và những viên chức phụ tá trong công tác thực thi luật pháp của Đức Chúa Trời (Phu 1:9-18).  Họ phải thi hành công tác trong các thị thành ở khắp xứ Y-sơ-ra-ên mặc dù những trường hợp nan giải được đem đến nơi thờ phượng trung tâm (17:8).  Sự công bình (19-20) có nghĩa là các quan toà xét xử theo luật pháp đúng theo quyền lợi của dân chứ không được chểnh mảng vì quyền lợi cá nhân.  Những lời chỉ dẫn này đứng hàng đầu trong số những qui định về các chức vụ: quan xét (17:8-13), vua (17:14-20), thầy tế lễ (18:1-8) và tiên tri (18:14-21).  Những người này đều có liên hệ đến công tác thực thi luật pháp.

5. Không có thần nào khác (Phu 16:21-17:7)

(Phu 16:21-22) Điều thú vị là những luật lệ về quan xét và các viên chức khác được sắp xếp xen kẽ với những lời nhắc nhở cần phải trung tín trong niềm tin (16:21-17:7  18:9-13).  Sự công bình không thể nào tách khỏi một tín ngưỡng chân chính.

Mạng lịnh thứ nhất trong ‘niềm tin’ ở đây lặp lại sự chống đối mạnh mẽ của Phục Truyền Luật Lệ Ký đối với những hình tượng trong niềm tin của người Ca-na-an (7:5).  Chỉ có Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mới đáng được thờ phượng.  Mạng lịnh thứ hai (17:1) gói ghém một nguyên tắc căn bản khác về sự thờ phượng thật.  Đó là chỉ nên dâng cho Đức Chúa Trời những con thú lành lặn (15:21).  Dâng một con vật không hoàn hảo tức là không dâng gì cả, con thú đó không có giá trị đối với người dâng.  Sự thờ phượng thật bao hàm một sự hy sinh thật (Ma 1:6-8).  Thứ ba (2-7) lặp lại việc cần phải diệt tận gốc những kẻ dẫn dắt dân theo một tà đạo.  Về căn bản luật này tương tự với luật trong chương 13, nhưng ở đây nhấn mạnh đến cách xử lý theo luật pháp (5-7).  Cửa thành (5) là nơi quan toà ngồi xét xử.  Sự trừng phạt rất nghiêm khắc, vì tội này vi phạm điều răn thứ nhất và sẽ phá huỷ mối quan hệ giao ước của toàn thể dân sự với Đức Chúa Trời.

Phu 17:1-7; xem giải nghĩa Phu 16:21-22

6.  Những trường hợp khó xử. (Phu 17:8-13)

Những trường hợp khó xử không nhất thiết là những tội phạm nặng nề nhất nhưng là những trường hợp khó mà quyết định liệu đương sự cố ý vi phạm hoặc vô tình hoặc bất cẩn.  Toà án tối cao họp ở nơi thờ phượng có cả những thầy tế lễ lẫn quan toà chủ toạ.  Quan toà có thể là một người như Sa-mu-ên.  Sau này chúng ta thấy ông thi hành chức vụ này tại nhiều nơi (ISa 7:15-17).  Chúng ta hoàn toàn không rõ quan toà và thầy tế lễ phối hợp công tác xét xử như thế nào.  Tuy nhiên luật pháp cũng cho thấy rằng trong nước Y-sơ-ra-ên thời xưa luật dân sự và luật tôn giáo đan kết với nhau chặt chẽ.

Quyết định của toà thượng thẩm này là chung cuộc.  Ai phản kháng án lệnh của toà này sẽ bị tử hình (12).  Như vậy án này có thể quá nặng so với tội danh lúc khởi đầu, hoặc chính người đệ đơn phản kháng có thể bị lên án tử hình.  Tuy nhiên mục tiêu của toà này là duy trì luật pháp và do đó cũng là một công cụ chủ yếu khác để bảo vệ giao ước (13).

7. Luật về vua.(Phu 17:14-20)

Luật này dự liệu cho trường hợp dân sự muốn có vua như các dân tộc khác (14).  Sau này thực tế diễn ra đúng như vậy (ISa 8:5).  Phục Truyền Luật Lệ Ký chủ trương Đức Chúa Trời là vua của Y-sơ-ra-ên.  Ý này được xây dựng trong chương Phu 33:5 và hàm ý qua cấu trúc hoà ước của sách này.  Cũng vậy, Ghê-đê-ôn (Cac 8:23) và ngụ ngôn của Giô-tham (9:7-15) đều cho rằng chế độ quân chủ không phải là kế hoạch lý tưởng của Đức Chúa Trời dành cho dân Y-sơ-ra-ên.  Chính Chúa nói rằng dân Y-sơ-ra-ên đòi có vua là họ từ khước không muốn Ngài làm vua (ISa 8:7).  Có lẽ khi đó Ngài phê phán tinh thần của sự đòi hỏi mà thôi, rồi vẫn chờ đợi vị vua của Ngài (Đa-vít).  Dầu vậy coi như Phục Truyền Luật Lệ Ký không khởi xướng thiết lập nền quân chủ mà chỉ coi như cho phép hình thành chế độ đó và đề ra những yêu cầu đối với vị vua.

Vị vua theo Phục Truyền Luật Lệ Ký không giống như vua của các dân tộc khác một tí nào cả.  Vị vua này do Đức Chúa Trời chọn (15a) và vì vậy ông ta không tự tôn mình lên bằng thế lực riêng.  Ông ta là một người anh em trong dân Y-sơ-ra-ên (15b) và nên bình đẳng với những người Y-sơ-ra-ên khác.  Ông ta không được phép lạm dụng địa vị để làm giàu, để cưới nhiều vợ hoặc để bành trướng quân sự.  Dân Y-sơ-ra-ên không được lập một ‘tiểu Pha-ra-ôn’ trên dân tộc, thay thế cho quyền hành chuyên chế hà khắc ở Ai Cập.  Chân dung của vị vua giả mô tả ở đây rất giống với vua Sa-lô-môn khi lòng ông không còn trung tín với Đức Chúa Trời nữa (IVua 10:26-11:8).

Ngược lại, một vị vua lý tưởng là người biết học tập luật pháp của Đức Chúa Trời (18-20).  Do đó ông ta nhận biết rằng Đức Chúa Trời là vua thật sự của dân sự Ngài và sẽ không gánh vác chức vụ với lòng kiêu ngạo hoặc vì tham vọng.

8. Những quyền lợi của thầy tế lễ và người Lê-vi.(Phu 18:1-22)

(Phu 18:1-8). Phục Truyền Luật Lệ Ký không đặc biệt viết về tầng lớp thầy tế lễ vì sách này nghĩ về dân sự dưới dạng thống nhất một khối chứ không xét tầng lớp dân chúng.  Tuy nhiên đoạn này binh vực một nguyên tắc quan trọng: những ai phụng sự ở nơi thờ phượng được quyền nuôi thân bằng sản vật của xứ.

Trong chi phái Lê-vi, chỉ có A-rôn và dòng dõi của ông được nhận chức thầy tế lễ (Xu 28:1).  Tất cả những người Lê-vi khác trong chi phái được biệt riêng để làm công việc trong đền tạm và đền thờ (Dan 3:5-10).  Phục Truyền Luật Lệ Ký không quan tâm đến các thứ bậc ‘tăng lữ’ này mà xem tất cả người Lê-vi thuộc vào một chi phái Lê-vi.  Là một chi phái, họ được xem là khác với những chi phái khác trong dân Y-sơ-ra-ên, tức là họ không có sản nghiệp (2) - nghĩa là chi phái không có lãnh thổ.

Tuy nhiên, họ không mất quyền sống vì họ là ‘anh em’ trong dân Y-sơ-ra-ên (2) như bất kỳ một người nào khác.  Là anh em, họ có quyền thừa hưởng.  Tuy nhiên họ sống bằng cách thi hành chức vụ, bằng những của dâng do người Y-sơ-ra-ên, anh em của họ dâng ở nơi thờ phượng.  Đây là ý nghĩa thật sự của câu Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp của họ (2,  Phu 10:8-9).  Do đó mức sống của họ tuỳ thuộc vào sự trung tín của dân Y-sơ-ra-ên trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời.  (Dan 18:1-32, chương này viết đầy đủ hơn phần của dâng thuộc về thầy tế lễ và người Lê-vi).  Nguyên tắc áp dụng cho người Lê-vi ở đây cũng có thể áp dụng rộng rãi cho những người đang phục vụ trong các Hội Thánh, hoặc các tổ chức Cơ Đốc với những công tác khác nhau.  Như vậy các thành viên trong Hội Thánh phải cam kết trợ cấp đầy đủ nghiêm chỉnh cho họ.  Mức độ ‘đầy đủ’ tuỳ thuộc sự thịnh vượng của Hội Thánh và ‘tình anh em’ trong Hội Thánh.

Trong c.6-8 cho thấy rằng người Lê-vi sống ở khắp nơi trong xứ - tức là ở trong các thành đã cấp cho họ trong lãnh thổ của mỗi chi phái - có quyền đến và phụng sự ở nơi thờ phượng trung tâm khi họ muốn và nhận được trợ cấp tương ứng.  C.8b hơi khó hiểu nhưng có lẽ ngụ ý rằng người Lê-vi có thể gây dựng một tài sản riêng trên vùng đất chăn nuôi mà họ được phép sở hữu quanh các thành của họ.

(Phu 18:9-22). Biết ý chỉ của Đức Chúa Trời. Thời cổ, trong những hoàn cảnh đặc biệt (thí dụ chiến tranh) dân Y-sơ-ra-ên cảm thấy hết sức cần biết ý của Đức Chúa Trời.  Những dân tộc quanh Y-sơ-ra-ên đã sáng chế nhiều cách thức huyền bí, ma thuật để tìm biết ý của thần.  Những cách thức này gồm việc xem xét bộ lòng của chim và thú để biết điềm báo, cầu hỏi hồn người chết (11), thậm chí dâng trẻ con làm của lễ (10).  Người ta vận dụng ma thuật để thay đổi diễn biến của sự việc hoặc để nhận được những lời chỉ dẫn.

Khúc Kinh Thánh này lên án tất cả những cách thức này.  Tất cả đều bị liệt vào hàng đáng gớm ghiếc như những tập tục trong tôn giáo của người Ca-na-an nói chung (Phu 7:25-26  12:31).  Ma thuật đặt nặng tài năng của ‘người thông biết’, xâm nhập vào những lãnh vực mà Đức Chúa Trời đã đặt ra ngoài giới hạn, còn con người liên hệ thì ở trong vị thế có thể bị những thế lực của ma quỉ tác hại.  Trái lại, giữa vòng dân sự của Đức Chúa Trời, nhận biết Đức Chúa Trời phán dạy rõ ràng là đủ.  Ngài đã phán dạy qua lời của Ngài và Ngài còn tiếp tục như vậy.  Trong những trường hợp đặc biệt, Ngài phán qua các tiên tri.  (Về sự hiểu biết Đức Chúa Trời qua lời của Ngài, xin xem 4:6-8,9-14).

Vị tiên tri đầu tiên và cao trọng nhất của dân Y-sơ-ra-ên chính là Môi-se.  Chính ông là người đã phát ngôn lời của Đức Chúa Trời khi giao ước được lập lần đầu ở núi Hô-rếp.  Dân sự quá sợ hãi đã yêu cầu ông làm người trung gian (16 so với 5:23-27).  Tuy nhiên giờ đây nảy sinh một nan đề là chức vụ của Môi-se sẽ được tiếp tục trong dân Y-sơ-ra-ên bằng cách nào?  Câu trả lời bảo đảm rằng mặc dù Môi-se phải qua đời nhưng sẽ có người kế tục ông (18).

Đoạn này ám chỉ đến nhiều tiên tri trong tương lai (chứ không phải chỉ có một) là điều rất rõ trong 18:20-22, vì câu này bàn về việc làm thế nào phân biệt tiên tri giả với tiên tri thật. Còn 18:18 được giải nghĩa là viết về ‘Đấng Mê-si’, và Chúa Giê-xu là Đấng tiên tri đã hứa thì cũng đúng vì Ngài đã truyền ra lời của Đức Chúa Trời cách hoàn toàn mới và có uy quyền (Cong 3:22-23).

Những câu cuối cùng (20-23) nêu vấn đề là làm thế nào biết một tiên tri là giả hoặc thật.  Câu 22 trả lời rằng lời tiên báo của tiên tri giả sẽ không xảy ra.  Câu trả lời này gây thêm thắc mắc cho vấn đề.  Giê-rê-mi vốn là tiên tri thật đã phải đối phó với vấn đề này một cách rất gay go gian khổ vì những lời ông tiên tri chỉ thành tựu lâu năm về sau.  Dầu vậy, trên thực tế, trong nhiều trường hợp, người ta có thể nhận biết một tiên tri thật sau một thời gian ông ta thi hành chức vụ.  (Chú ý trường hợp thử nghiệm trong Gie 28:1-17).  Sứ điệp của Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ cho những ai sẵn lòng nghe.  Sẵn lòng nghe cũng là một yếu tố quan trọng.

9. Những thành ẩn náu (Phu 19:1-14)

Ở bờ đông sông Giô-đanh có chỉ định ba thành ẩn náu (Phu 4:41-43), ở bờ tây sông Giô-đanh có chỉ định ba cái nữa (2) và nếu cần sẽ chỉ định thêm ba cái nữa (9).  Mục đích của thành này là để người ngộ sát có nơi trú ẩn an toàn.  Dù đương sự đang ở bất cứ nơi nào trong xứ, vẫn có đủ thời gian chạy đến một thành (3).  Dĩ nhiên đối với mọi người thì không chắc người tìm nơi ẩn náu này có thật sự là vô tội hay không.  Do đó những thành này không bảo vệ vô điều kiện tất cả những người trốn vào thành.  Tuy nhiên, kẻ báo thù huyết (có thể là người thân của nạn nhân hoặc một trưởng lão trong thành của nạn nhân) có thể tìm đến để trình bày sự vụ.  Do đó thành này có nhiệm vụ là xét xử công minh, công bằng cho bị cáo, chớ không bỏ mặc đương sự cho bà con của nạn nhân báo thù.  c.11-12 ngầm ý là có phiên toà xét xử để xem bị cáo có tội hoặc vô tội (Dan 35:12).

Trong trường hợp bị cáo can tội giết người thì phải chịu tử hình vì đã vi phạm giao ước căn bản (Phu 5:17).  Áp dụng án tử hình là để trừ khử khỏi dân sự và khỏi xứ tội coi thường giao ước (13).

Luật về sự dời mộc giới (14) có vẻ như không liên quan gì đến phần trước hoặc phần sau.  Tuy nhiên, trong một xứ đất đai không có tường hoặc không có rào, và khi đất đai lại là phương tiện mưu sinh thì dời trụ đánh dấu ranh giới đất để lấn đất là một tội nghiêm trọng.  Những tay địa chủ tham lam lạm dụng mánh lới này gây nguy cơ đẩy những người láng giềng nghèo hơn họ vào cảnh đói khổ và nô lệ.

10. Những người làm chứng (Phu 19:15-21)

Luật về người làm chứng đương nhiên phải theo sau những trường hợp trên khi có phiên toà xét xử.  Nó cho thấy tích cách nghiêm trọng trong điều răn thứ 9 (Phu 5:20).  Người làm chứng dối một bị cáo về một tội danh mà kết quả là bị cáo lãnh một bản án bất công, nếu bị cáo bị tử hình thì người làm chứng đó phải tội chết.  Để đề phòng tránh một phán quyết bất công nên có qui định là phải có ít nhất hai người làm chứng nhất trí với nhau (15).

Luật này nhằm ngăn chận trường hợp cố tình làm chứng dối.  Hễ quan toà định cho bị cáo mức án nào thì người cố tình làm chứng dối sẽ lãnh mức án đó (19).  Trong trường hợp bị cáo lãnh án tử hình vì lời chứng dối, thì  chính người cố tình làm chứng dối đó đáng bị tử hình.  Đây là một trường hợp gọi là lex talionis hoặc là ‘luật báo phục hình’ (21,  Xu 21:23-25).  Đây không phải là chuyện cho phép báo thù nhưng là một nguyên tắc pháp lý giới hạn sự trừng phạt bằng cách làm cho mức phạt tương xứng với tội phạm.

11. Cách xử sự trong chiến tranh (Phu 20:1-20)

Chương này viết về những nguyên tắc xử sự trong chiến tranh.  Những nguyên tắc này bao gồm những luật lệ thời chiến nói chung (10-15) cũng như những cuộc chiến đặc biệt chống lại các dân tộc đang chiếm xứ mà Đức Chúa Trời hứa ban cho dân Y-sơ-ra-ên (16-18).  Tuy nhiên mạng lịnh mở đầu áp dụng cho mọi cuộc chiến.

Điểm quan trọng nằm trong câu 1-4 tức là tất cả các cuộc chiến của dân Y-sơ-ra-ên đều là của Đức Chúa Trời.  Đức Chúa Trời đã giải cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập bởi quyền năng của Ngài, bất chấp mọi lực lượng chống đối mạnh mẽ.  Như vậy quyền năng của Ngài bảo đảm rằng sức mạnh lớn lao của kẻ thù chẳng bao giờ thắng dân Y-sơ-ra-ên được.  Khi nói về chiến tranh chiếm đất hứa (16-18) thì tất cả cuộc chiến đều là ‘thánh} theo nghĩa đặc biệt.  Tuy nhiên mọi cuộc chiến tranh mà dân Y-sơ-ra-ên tiến hành đều có ‘tính cách tôn giáo’, vì vua của họ là Đức Chúa Trời.  Vì vậy thầy tế lễ ban huấn từ cho quân sĩ trước khi họ lâm trận.  Điểm chính yếu trong huấn từ của thầy tế lễ là khuyên dân sự đừng sợ hãi vì quyền năng Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ.

Rõ ràng luật này không có ý nói rằng dân Y-sơ-ra-ên nên duy trì một quân đội chính qui (loại quân đội mà Sa-lô-môn chiêu mộ và thành lập sau này IVua 10:26).  Đúng ra đoạn này chỉ nói đến một quân đội nhân dân.  Ý này rất rõ ràng trong c.9 khi các tướng lãnh được chỉ định trong thời gian quân đội chuẩn bị lâm chiến.  Ý này cũng rất rõ vì c.5-9 hàm ý là dân sự tạm ngưng những sinh hoạt bình thường để nhập ngũ.  Trong hoàn cảnh và điều kiện như thế nên có nhiều trường hợp được miễn dịch.  Ai vừa xây xong một ngôi nhà mới nhưng chưa được sống trong ngôi nhà đó thì khỏi nhập ngũ, hoặc ai đang bận lo chăm sóc một vườn nho mới lập cho đến khi kết quả (Le 19:23-25), hoặc ai đã đính hôn mà chưa cưới (Phu 24:5) đều được miễn.  Những trường hợp miễn dịch này phù hợp với chủ trương của Phục Truyền Luật Lệ Ký.  Đó là Đức Chúa Trời ban cho dân Ngài một xứ sở để họ hưởng thổ sản và để họ có con cái rồi gây dựng cho thế hệ tương lai để hậu duệ của họ cũng được phát đạt (7:13).  Họ có thể áp dụng chế độ miễn dịch dễ dãi như vậy vì Đức Chúa Trời sẽ đánh trận cho họ, chỉ có một dân sự tin cậy nơi Đức Chúa Trời mới dám cho phép những công dân ưu tú nhất được miễn dịch trong một trận chiến quan trọng.

Càng rõ ràng hơn nữa là trường hợp miễn dịch cuối cùng dành cho những thành phần nhát sợ (8)!  Quân đội của Đức Chúa Trời không được phép nhát sợ, đó là mạng lịnh, vì chiến thắng tuỳ thuộc vào lòng tin nơi Đức Chúa Trời, Đấng đắc thắng mọi trở lực.  Tinh thần nhát sợ của một người lính có thể lây qua đồng đội và tạo tâm lý bất lợi cho toàn quân.

Câu 10-15 đưa ra những biện pháp cần áp dụng trong những cuộc chiến diễn ra bên ngoài đất hứa.  Vào thời đó, những qui định này là tương đối nhân đạo.  Đường lối ngoại giao hoà giải là cơ hội cho kẻ thù lập hoà ước với dân Y-sơ-ra-ên.  Trong hoà ước đó dân chiến bại phải thần phục, nhưng sẽ được bảo vệ, và cũng được tự do trong giới hạn nào đó.

Nhưng sự vây hãm một thành trong xứ thì hoàn toàn khác (16-18).  Những câu này coi như nằm trong ngoặc đơn, tóm tắt những mạng lịnh về việc chiếm xứ từ ban đầu (7:1-5,17-26).  Ở đây nhắc lại những mạng lịnh đó để xác định rõ ràng những qui định vừa đưa ra ở trên chỉ áp dụng cho những cuộc chiến ngoài đất hứa.

Những mạng lịnh cuối cùng lại áp dụng cho mọi cuộc chiến giới hạn sự phá hoại môi trường bằng những qui định về cách xử sự trong chiến tranh.  Bảo vệ cây ăn quả là chuyện dễ hiểu, nhất là trong bối cảnh đất hứa, vì mục đích của sự chiếm xứ là để dân sự được hưởng hoa quả của xứ.  Đừng bao giờ phá hại những mục tiêu của mình bằng chiến tranh.  Ngay cả khi cần sử dụng cây không ăn trái để làm chiến luỹ, mặc dù được phép đốn cây, nhưng chỉ giới hạn trong những trường hợp cấp bách mà thôi.  Như vậy môi trường - là sự sáng tạo của Đức Chúa Trời - được tôn trọng.

Cần phải hết sức thận trọng khi vận dụng qui định trong chương 20 vào những nguyên tắc chỉ đạo cho cách thức hành xử trong các cuộc chiến thời nay.  Yêu cầu thứ nhất là phải phân biệt thánh chiến với những cuộc chiến khác, ngay cả trong dân Y-sơ-ra-ên.  Thánh chiến là một biện pháp chỉ được áp dụng một lần duy nhất vào cuộc chinh phục xứ mà Đức Chúa Trời ban cho dân Y-sơ-ra-ên.  Nói chung ngay cả những cuộc chiến của dân Y-sơ-ra-ên cũng là đặc biệt vì trong giai đoạn lịch sử mà Đức Chúa Trời xử lý nhân loại, dân sự của Ngài cũng là một dân tộc, một đơn vị chính trị.  Bây giờ dân sự của Đức Chúa Trời là Hội Thánh nên không cần một cuộc chiến loại đó, và cũng không có một dân tộc nào có quyền cho rằng Đức Chúa Trời đồng hành với họ trong những cuộc chiến họ đang tiến hành - ngay cả những cuộc chiến coi như là vì chính nghĩa.  Cũng vậy, lý thuyết về ‘cuộc chiến vì chính nghĩa’ Cơ-đốc cũng không được phép xem chương này là một chỉ thị để đối phó lại những xung đột hoàn toàn bế tắc.

Trái lại, những nguyên tắc tự kiềm chế, ngoại giao, nhân từ và tôn trọng những người không tham chiến vẫn còn có giá trị trong mọi cuộc chiến.  Và theo quan điểm của câu 19-20, chúng ta phải ghê tởm mọi cuộc chiến nào tàn phá môi trường cách nặng nề.

12. Án mạng không tìm ra manh mối.(Phu 21:1-23)

(Phu 21:1-9). Chúng ta đã xem đến những qui định liên quan đến mức hình phạt dành cho kẻ giết người và kẻ ngộ sát (Phu 19:4-13).  Trong những vụ án mạng này, không phải chỉ trừng phạt thích đáng kẻ sát nhân mà vấn đề là phải tẩy uế cho cả xứ và dân sự (19:13) để giao ước còn được tồn tại.  Trong trường hợp không tìm ra kẻ giết người (và qui định ở đây dường như cho rằng trường hợp án mạng mà không tìm ra thủ phạm tức là vụ cố ý giết người), thì không tẩy uế xứ theo cách thức thông thường được, tức là không có kẻ sát nhân để xử tử (Sa 9:6).  Do đó luật này đề ra một phương án khác để thực hiện nghi thức tẩy uế theo qui định tôn giáo.

Trách nhiệm thực hiện thuộc về các trưởng lão trong thành gần chỗ án mạng nhất (2).  Họ phải tiến hành một nghi lễ giết con bò cái tơ.  Đáng chú ý là cả con bò cái tơ lẫn địa điểm làm lễ đều không dính dáng đến nông nghiệp (3-4).  Do đó nghi lễ này hơi giống một cuộc tế lễ vì con vật hy sinh và địa điểm đều được biệt riêng cho mục đích này - mặc dù thật sự nghi lễ này không phải là cuộc tế lễ (vì không thấy lấy huyết của con thú).  Nhưng nghi lễ này cũng tương tự  như một cuộc tế lễ chuộc tội về sự đổ huyết của người bị sát hại (Le 17:11).

Các trưởng lão của thành gần nhất lãnh trách nhiệm làm lễ chuộc tội cho toàn thể Y-sơ-ra-ên (8).  Còn chính mình họ là người vô can, và họ biểu thị điều này qua nghi thức rửa tay (7).

(Phu 21:10-14). Cưới vợ nữ binh. Luật này được đề ra tiếp theo luật về cung cách đối xử với kẻ thù chiến bại ở nước ngoài (Phu 20:10-14, đặc biệt là c.14).  Một người đàn ông có thể lấy một nữ tù binh làm vợ sau khi đã tuân thủ một số nghi thức.  Cạo đầu, cắt móng tay, thay quần áo là những hành động bày tỏ lòng thương tiếc cha mẹ, có nghĩa là than khóc về nỗi bị bắt xa rời gia đình và quê hương.  Do đó những nghi thức này bày tỏ sự từ bỏ quê hương của mình và trở thành một người Y-sơ-ra-ên.

Một khi hoàn tất những nghi thức này, thì cuộc hôn nhân có thể tiến hành.  Nếu sau này vì một lý do người chồng quyết định ly dị, phải đối xử với bà đầy đủ quyền lợi của một người vợ chớ không phải một nô lệ và bà trở thành một người tự do.  Từ được dịch là không ưa (không tôn trọng, 14) có thể là một cách khác ám chỉ cuộc hôn nhân chấm dứt, tức là vụ này đem lại cho bà sự tự do.

(Phu 21:15-17). Quyền trưởng tử Luật này nhắc chúng ta nhớ lại chuyện của Gia-cốp và hai bà vợ là Lê-a và Ra-chên.  Ra-chên trẻ hơn và được yêu thương hơn nhưng Lê-a lại có con trước (Sa 29:21-35).  Luật này không qui định một điều gì mới về quyền trưởng tử.  Cũng không phải riêng trong dân Y-sơ-ra-ên mới có luật này, nhưng luật này nhằm bảo vệ quyền lợi của người con trưởng đối với những ông cha có khuynh hướng hành động theo ý thích của mình (49:3-4).

(Phu 21:18-21) Con cái bội nghịch Con cái không vâng lời cha mẹ là tội nghiêm trọng vì vi phạm một trong những mạng lịnh giao ước căn bản (Phu 5:16), vàvì gia đình là một công cụ chủ yếu duy trì giao ước trong dân Y-sơ-ra-ên (6:7,21-25 so với Mac 7:10).  Có lẽ ở đây không vâng lời đã đến mức rất nghiêm trọng, một lối sống buông thả như c.20 gợi ý có thể chỉ là triệu chứng của sự quyết tâm chống đối nề nếp sống theo ý Đức Chúa Trời mà cha mẹ đã cố công dạy dỗ (18).

Điều luật bất bình thường này nhằm nhấn mạnh đến trách nhiệm của cha mẹ trong việc tuân thủ và duy trì giao ước.  Thật vậy, theo nguyên tắc, cha mẹ có trách nhiệm yêu cầu luật pháp can thiệp xử lý đứa con đang đe doạ sự an ổn của toàn thể cộng đồng, vì nó đã coi thường những tiêu chuẩn của giao ước.  Cũng vậy, trong Tân Ước, lòng yêu mến Đức Chúa Trời và sốt sắng về nước của Ngài đặt trên sự trung thành với gia đình (Mat 10:37  Mac 7:9-13).

13. Những luật khác (Phu 21:22-22:12)

(Phu 21:22-23). Chữ treo ở đây có nghĩa là bêu thây trên một cây trụ sau khi toà án xử tử phạm nhân (ISa 31:10).  Có lẽ tập tục này đã có từ xưa rồi, với dụng ý bêu xấu, hạ nhục đương sự, dù là nạn nhân đã chết, để biểu thị rằng đương sự bị Đức Chúa Trời rủa sả vì đã vi phạm giao ước.  Xác không được chôn cất với dụng ý là không cho linh hồn của đương sự được an nghỉ trong đời sau.  Luật ở đây giới hạn việc này có lẽ vì rủa sả kẻ sát nhân có thể làm ô uế dân sự (23b).  Ga 3:13 ám chỉ luật này, tức là Đấng Christ tự mang trên mình sự rủa sả cho tất cả mọi người vì cớ tội lỗi.  Do đó cuộc hành hình Ngài là rất khủng khiếp, không những vì đau đớn mà cũng vì sự nhục nhã nữa.

(Phu 22:1-4).  Luật này không những dạy ‘ngươi chớ’ mà còn dạy ‘ngươi phải’.  Lý do là vì luật này nhằm bảo đảm điều tốt đẹp cho toàn thể dân sự.  Nếu dân Y-sơ-ra-ên thật sự là  anh chị em của nhau thì họ có trách nhiệm làm điều tốt cho nhau.  Những nhiệm vụ này nhằm bảo vệ sinh kế của người Y-sơ-ra-ên.  Ở điểm này Phục Truyền Luật Lệ Ký tiếp cận ý của điều luật yêu cầu yêu thương người lân cận của mình bằng bất cứ giá nào (Le 19:17-18).

(Phu 22:5). Mối quan tâm ở đây không phải chỉ là thời trang, nhưng là sinh hoạt tình dục bất bình thường thể hiện qua việc mặc trang phục của người khác phái.  Có lẽ luật này ám chỉ vấn đề đồng tính luyến ái (18:22  20:13).  Cũng có thể luật này nhắm vào một số tập tục trong những tôn giáo ngoài Do Thái, là mặc trang phục của giới tính khác biểu lộ một khuynh hướng tình dục, và vì lý do này, tập tục đó bị lên án.

(Phu 22:6-7). Luật này khá tương tự luật bảo vệ cây ăn quả khỏi bị tàn phá trong thời chiến (20:19) vì đó là thổ sản.  Phải thả chim mẹ đi vì chim mẹ có thể tiếp tục đẻ trứng.  Cũng có thể luật này nhằm bảo vệ thiên nhiên cũng như bảo vệ các nguồn thực phẩm.

(Phu 22:8). Luật về tường phòng hộ nhằm bảo vệ mạng sống.  Tương tự như những qui định trong câu 1-4, luật này cho thấy rằng luật pháp không chỉ ngăn chận những hành động bạo lực và tham lam phương hại đến người chung quanh mà còn đòi hỏi phải làm mọi việc cho đàng hoàng, nghiêm túc để bảo đảm an toàn cho người khác.

(Phu 22:9-12). Lý do đằng sau những điều luật này không còn rõ đối với chúng ta nữa.  Có lẽ là vì tôn trọng chủng loại đã được tạo dựng (như trong Sa 1:11c ‘tuỳ theo loại’) hoặc vì ở Ai Cập việc pha trộn lẫn lộn như vậy là phổ biến.  Nếu trường hợp sau là đúng thì luật này nhằm làm dấu hiệu dân Y-sơ-ra-ên trong tư cách là một dân thánh, và như vậy dấu hiệu bên ngoài biểu thị họ hết lòng tôn thờ Đức Chúa Trời.  Khi mà người ta còn có thể tuân thủ những dấu hiệu bên ngoài (Mat 23:5) thì họ vẫn còn cần những lời khuyến giục sống thánh khiết.12 Kết tua nơi góc áo là nhằm nhắc nhở người ta thường xuyên nhớ luật pháp của Đức Chúa Trời (Dan 15:37-41  Phu 6:8-9).

(Phu 22:13-30). Luật về quan hệ tình dục  (13-21)  Vấn đề ở đây là liệu người phụ nữ vừa mới lập gia đình có đồng trinh lúc cưới không.  Luật này đề cập đến trường hợp người chồng tố cáo vợ không đồng trinh sau lần giao hợp đầu tiên.  Khó lòng xác định lời tố cáo này đúng hay sai.  Tuy nhiên có dự liệu để đưa vụ này ra xét xử, và coi như là có thể tìm được bằng cớ.

Bằng cớ của sự đồng trinh của đương sự có thể là tấm trải giường có vết máu vào đêm tân hôn hoặc một miếng vải làm chứng về kỳ kinh nguyệt gần nhất và như thế đương sự chưa mang thai lúc cưới.  Cha mẹ của đương sự có thể đưa ra bằng cớ thứ hai.

Nếu lời tố cáo của người chồng hoá ra là vu cáo, anh ta sẽ bị phạt bằng roi và phải nộp cho cha mẹ đương sự một số tiền phạt vì đã phương hại nặng nề cho họ.  Nếu đương sự có tội thì sẽ bị xử tử vì đã phạm tội tà dâm (23-24).

22  Luật về sự tà dâm chỉ qui định ngắn gọn là xử tử cho cả đôi bị can, vì tội tà dâm là vi phạm điều luật căn bản trong giao ước (5:18).  Luật này có được thực hiện hay không tuỳ thuộc vào quyết định của người chồng bị xúc phạm (Ch 6:32-35).  Chỉ áp dụng án tử hình khi cả hai đều bị bắt ‘quả tang’ (bị phát hiện) một chủ trương chung phổ biến trong khắp vùng Cận Đông cổ đại.

23-29  Những câu này là phần mở rộng của luật về tội tà dâm vì liên quan đến những trường hợp quan hệ tình dục giữa người đàn ông với một phụ nữ đã hứa gả cho một người khác.  Cưỡng hiếp hoặc tà dâm là tuỳ theo chuyện người nữ ấy có ưng thuận hay không.  Nếu chuyện xảy ra trong thành, sự im lặng của người nữ có nghĩa là bằng lòng (23-24).  Nếu chuyện xảy ra ở ngoài đồng ruộng thì người ta không dám quả quyết là có ưng thuận hay không nên chỉ xử tử người nam (25-27).

Luật này phân biệt người nữ đã đính hôn và chưa đính hôn một cách rất kỳ lạ đối với độc giả hiện nay (28-29), chỉ vì luật lệ về hôn nhân trong Y-sơ-ra-ên liên quan mật thiết đến luật lệ về gia đình và tài sản.  Người nam phải nộp cho cha của cô dâu một số tiền để lấy con gái của ông ta (Xu 22:16-17).  Tuy nhiên khi một người nam hãm hiếp hoặc dụ dỗ một người nữ chưa đính hôn thì có một giải pháp đơn giản: anh ta phải cưới cô gái ấy làm vợ và phải nộp một số tiền (29).

30  Vợ của cha có lẽ là mẹ kế, cũng như Phu 21:15-18, cho thấy rằng xã hội này cũng không theo chế độ một chồng, một vợ một cách nghiêm túc.  Tuy nhiên, đây là một hành động gian dâm rõ ràng đáng bị khiển trách (ngay cả trong trường hợp người cha đã chết rồi) bởi vì hành vi này vi phạm điều răn phải kính trọng cha mẹ (5:16 so với 27:20  Le 18:8  20:11).

14. Những trường hợp không được vào hội chúng (Phu 23:1-25)

(Phu 23:1-8)  Hội chúng của Đức Giê--va dân Y--ra-ên khi họ thờ phượng Ngài tại đền tạm hoặc đền thờ.  Thuộc về dân Y-sơ-ra-ên lúc thờ phượng là thuộc về hội chúng hoàn toàn.  Trong thế giới cổ đại cũng như hiện nay, con người thường di chuyển và định cư tại những nơi mới.  Khi dân sự đã định cư an ổn trong xứ, họ phải đối diện với một nan đề là dựa vào căn bản nào để cho người ngoại quốc sống giữa vòng họ làm thành viên của dân Y-sơ-ra-ên?

Những trường hợp bị cấm trong c.1-2 có lẽ liên quan đến sự thờ phượng các thần khác.  Những sự dị dạng trong c.1 có thể là sự tự huỷ hoại cơ thể vì những mục đích thờ lạy hình tượng, có lẽ là nữ thần Ishtar.  Còn ngoại tình trong c.2 có lẽ ám chỉ đến sự giao hợp với gái điếm trong đền thờ tà thần.

Dân Am-môn và Mô-áp vĩnh viễn không được tương giao với dân Y-sơ-ra-ên vì cớ họ đã cương quyết chận đường dân Y-sơ-ra-ên trên đường tiến vào đất hứa.  Mô-áp dùng thuật sĩ, đồng bóng để ngăn cản dân Y-sơ-ra-ên không tránh được chuyện gậy ông đập lưng ông vì quyền năng Đức Chúa Trời lớn lao hơn (Dan 22:1-24:25).  Dầu vậy ở đây ghi nhớ thái độ thù địch của họ với hậu quả khá đen tối.  Coi như dân Am-môn cũng chống đối dân Y-sơ-ra-ên vậy (21:24) mặc dù Kinh Thánh không ghi lại vụ ra mặt chống đối của dân Am-môn (so với 2:37).

Trái lại, dân Ê-đôm và dân Ai Cập lại được đối xử cách rộng lượng hơn.  Thật ra, hai dân tộc này đều chống lại cuộc hành trình về đất hứa của dân Y-sơ-ra-ên, dân Ai Cập từ lúc mới manh nha về cuộc hành trình (Xu 7:1-14:31) và dân Ê-đôm trên đường đi (Dan 20:18-21).  Tuy nhiên, hai trường hợp này có những yếu tố khác quan trọng hơn: tại Ai Cập, dân Y-sơ-ra-ên được sinh sống, phát triển thành một dân tộc còn Ê-đôm là anh em của Y-sơ-ra-ên theo ý nghĩa đặc biệt vì tổ phụ của dân tộc này là Ê-sau, anh của Gia-cốp (Sa 25:21-26).

(Phu 23:9-14).  Sự ô uế trong trại quân Vài tình trạng tự nhiên của cơ thể, trong đó có bịnh ‘bạch trược’ (Le 15:1-33), có thể làm một người bị ô uế về mặt nghi thức tôn giáo trong một thời gian, do đó không được tham dự sự thờ phượng của cộng đồng.  Những câu này trình bày một loạt những qui định khá tổng quát đặc biệt áp dụng cho trại quân.  Có cả qui định về việc đại tiện bên ngoài trại quân.  Trại quân là nơi thích hợp cho Chúa ngự (có lẽ sự hiện diện của Ngài tượng trưng bằng hòm giao ước) cho nên không thể chấp nhận bất cứ một sự ô uế nào trong trại quân cả.

(Phu 23:15-24) Những luật khác  (15-16)  Qui định này chỉ dẫn về trường hợp một nô lệ ở nước ngoài trốn chủ và đến ẩn náu tại Y-sơ-ra-ên.  Luật của dân Y-sơ-ra-ên về nô lệ cho thấy rằng Cựu Ước chống đối chế độ nô lệ, xem chế độ này là công cụ áp bức.  Thực vậy, chính dân Y-sơ-ra-ên đã từng thoát khỏi kiếp nô lệ.  Vì những lý do này, dân Y-sơ-ra-ên phải cho những người nô lệ trốn chủ một nơi trú ẩn.

17-18  Một số nghi lễ tôn giáo của người Ca-na-an và Ba-by-lôn liên quan đến sinh hoạt tình dục của các cấp lãnh đạo trong cộng đồng với những người nam, người nữ hiến mình cho những đền miễu vì mục đích đó.  Họ cho rằng tiết mục này có thể giục lòng các vị thần, làm cho đất phì nhiêu.  Đức Chúa Trời hết sức ghê tởm tập tục này.  Ngài làm cho đất phì nhiêu vì Ngài yêu thương họ, còn họ không thể động viên Ngài bằng những thuật quái gở này.19-20  Luật này liên quan đến những luật nói trong Phu 15:1-18 (xem phần bình giải phần đó) qui định việc xoá nợ và giải phóng nô lệ.  Cơ chế kinh tế trong dân Y-sơ-ra-ên không nhằm tạo khoảng cách lớn giữa người giàu và người nghèo, nhưng để củng cố tình huynh đệ giữa các công dân.  Vì lý do này, cho vay ăn lời bị cấm vì việc đó trái với tinh thần xem đất đai là sản nghiệp chung.  Vì tình huynh đệ chỉ được áp dụng cho người Y-sơ-ra-ên với nhau, nên có qui định ngoại lệ trong sự giao dịch làm ăn với người ngoại bang.  21-23  Thề nguyền là một hình thức tự nguyện bày tỏ sự thành tâm, tôn kính.  Thường thường, nội dung lời thề là một của lễ (Le 7:16-18  Thi 22:25).  Ở đây luật này căn cứ trên tầm quan trọng lớn lao liên quan đến những lời nói và lời hứa trong Phục Truyền Luật Lệ Ký, toàn thể giao ước đặt cơ sở trên lời thề nguyện, do dó nếu thề nguyện mà không làm thì sẽ bị Đức Chúa Trời định tội.

(Phu 23:24-25).  Điểm chính ở đây là cho phép người đang nói được phép hưởng sản vật của đất đai.  Luật này cũng phân biệt giữa sự lót lòng và sự ăn cắp hoặc lợi dụng người lân cận vì hoa lợi chính là sức lao động và sinh kế của họ.

15. Những luật linh tinh (Phu 24:1-25:16)

(Phu 24:1-4).  Coi như luật này chấp nhận trong vòng dân Y-sơ-ra-ên có xảy ra những vụ ly dị, mặc dù ở những chỗ khác trong Kinh Thánh chép rằng Đức Chúa Trời ghét điều đó (Ma 2:16).  (Tuy nhiên cần chú ý đến hai trường hợp ngoại lệ về quyền của người nam đối với việc ly dị, Phu 22:19,29).  Luật này không nhằm biện minh cho chuyện ly dị nói chung.  Lý do nêu ở đây khiến người nam đòi ly dị (nếu thấy nàng chẳng được ơn (không phù hợp)) là mơ hồ, có thể là vì một sự ô uế theo nghi thức tôn giáo, hoặc là không có con, hoặc không đứng đắn về mặt tình cảm.  Dầu sao, ở đây không xác định là những lý do đó đủ chính đáng để ly dị.  Luật này chủ yếu nhằm ngăn chận người vợ bị ly dị trở lại với người chồng cũ sau khi cuộc hôn nhân thứ hai tan vỡ.  (Gie 3:1-5 có ý nói về điểm này).  Có lẽ luật này nhằm dạy rằng ly dị là một việc nghiêm trọng và dứt điểm.  Vì vậy không nên quyết định ly dị một cách nông nỗi.

(Phu 24:5).  Luật này liên quan đến những luật trong Phu 20:5-7 qui định những trường hợp miễn quân dịch.  Ở đây người thanh niên mới cưới vợ được miễn tất cả các nhiệm vụ công ích.  Điểm quan trọng chủ yếu là để có con, nhưng mục đích đem lại hạnh phúc cho vợ là ý đặc trưng của Phục Truyền Luật Lệ Ký, vì sách này xem đất hứa là phước hạnh cho toàn thể dân sự.

(Phu 24:6-7).  Sự cho vay thế chấp hoặc nhận cầm đồ để cho mượn tiền là thể thức hợp pháp (c.10-13).  Tuy nhiên, không được nhận cầm những món đồ ảnh hưởng đến sinh kế của đương sự (so với 24:17).  Câu 7 quan tâm bảo vệ mạng sống của từng người dân Y-sơ-ra-ên, nên cũng nằm trong tinh thần của luật cấm giết người (5:17) và những luật lệ liên quan đến nô lệ (15:12-18).  Không một người Y-sơ-ra-ên nào có quyền nắm trọn vận mạng của người khác.

(Phu 24:8-9)  Luật này xử lý những bệnh ngoài da (có lẽ từ này bao gồm những bịnh khác nữa, chứ không riêng gì bệnh phung) có liên hệ với những luật đã biết trong Le 13:1-14:56.  Trong các chương đó có những qui định tẩy uế cho bệnh nhân theo nghi thức tôn giáo.  Luật này chỉ yêu cầu phải cẩn thận theo những chỉ dẫn đó.

(Phu 24:10-13).  Luật này liên hệ đến luật trong c.6.  Một lần nữa ở đây cho thấy rằng việc nhận cầm đồ trên nguyên tắc không phải là phương tiện để bóc lột người nghèo hoặc đẩy họ vào tình trạng khó khăn hơn.  Mạng lịnh trong câu 11 đòi hỏi phải tôn trọng sự tự do và phẩm chất của người đang lâm vào cảnh khó.  Và câu 13b nhắc nhở rằng cho mượn là một hành động rộng lượng, làm Đức Chúa Trời hài lòng và nhằm giúp người mượn có cách mưu sinh bình thường trở lại.

(Phu 24:14-15).  Trì hoãn trả công là một cách đẩy người nghèo vào cảnh khó không cần thiết.  Ngược lại đối xử công bằng với công nhân là cách thể hiện những lý tưởng của giao ước (Mat 20:1-16).  Trong tình trạng hiện nay, luật này liên quan đến những điều kiện làm việc công bằng và chắc cũng lên án kiểu làm ăn bất hảo như cố tình hoãn trả nợ dù có khả năng trả đúng hạn.

(Phu 24:16).  Luật này xác định mỗi người chịu trách nhiệm về việc làm của mình đối với luật pháp (vấn đề cũng được đề cập trong Exe 18:1-32).  Luật này không mâu thuẫn với Phu 5:9 nói về sự công bình của Đức Chúa Trời và cho thấy rằng tội lỗi có thể ảnh hưởng đến những thế hệ về sau.

(Phu 24:17-22).  Nói chung những luật này quan tâm đến những người không tự mưu sống được, đó là các goá phụ, kiều dân (tức là những người di cư) và trẻ mồ côi.  Ở những chỗ khác trong Kinh Thánh dạy dân Y-sơ-ra-ên phải quan tâm đặc biệt đến những thành phần này (Phu 14:29).  Rõ ràng ở đây cho thấy luật pháp dứt khoát bảo vệ họ.  Đối với các goá phụ, có qui định kỹ hơn trong vấn đề nhận đồ cầm cố của họ (17 so với 24:12-13).  Chính bản thân dân Y-sơ-ra-ên vốn là những người bất lực ở Ai Cập, và cần có Đức Chúa Trời cứu giúp để dành lại sự tự do và thịnh vượng (18), và ở đây cho thấy cảnh đời trong quá khứ vạch ra cung cách hành xử của chính họ.

Những qui định về sự thu hoạch hoa màu bao gồm ý đã dạy trong 23:24-25, nhưng ngược chiều, nghĩa là chủ vụ thu hoạch nên cố ý bỏ sót lúa lại trong ruộng cho người không có nguồn thu nhập mót.  Bằng cách này mỗi người dân Y-sơ-ra-ên đều được chia quyền hưởng sản vật của đất đai (cũng xem sách Ru-tơ).

(Phu 25:1-3). Luật này không qui định tiến trình xét xử vì vấn đề đã được triển khai ở chỗ khác (17:8-13).  Luật này qui định về thể thức thực hiện nhục hình (trong trường hợp buộc phải kết án đó, thí dụ 22:18).  Tuy nhiên dù đương sự can tội, nhưng vẫn là một người anh em, tức vẫn là một thành viên trong xã hội Y-sơ-ra-ên.  (IICo 11:24 cho thấy về sau người ta chỉ đánh ba mươi chín roi để khỏi phạm luật vì đếm lộn).

(Phu 25:4). Mặc dù Phao-lô ứng dụng luật này cho những người rao giảng Phúc Âm (ICo 9:9-10) nhưng ở đây luật quan tâm đến sự no đủ của con bò: con người có thể sử dụng súc vật nhưng không được lạm dụng hành hạ chúng.

(Phu 25:5-10). Trong nước Y-sơ-ra-ên thời cổ, một người đàn ông cần phải có con trai nối dõi để lưu danh và thừa kế.  Do đó, một người đàn ông qua đời không có con trai là chuyện hết sức nghiêm trọng.  Luật đương thời (ở vùng Cận Đông cổ đại đều như vậy) qui định rằng anh em ruột của đương sự lấy chị em dâu goá bụa đó để mưu tìm cho người quá cố một người con trai nối dõi. 

Người anh em ruột của người quá cố có quyền từ chối thực hiện nhiệm vụ này (7-10).  Tuy nhiên, như vậy có nghĩa là đương sự hi vọng thừa hưởng gia tài của người quá cố, chớ không muốn để lại cho ‘con trai’ của người quá cố hưởng (Dan 27:9).  Chính vì thế mà khi đương sự từ chối làm tròn nhiệm vụ thì chính đương sự và cả nhà bị sỉ nhục theo quan điểm của cộng đồng.

(Phu 25:11-12). Trong những luật nặng tính chất nhân đạo và tôn trọng nhân cách (so với Phu 25:1-3) thì luật xử lý trường hợp phương hại đến cơ thể đây là một thí dụ lẻ loi hiếm có làm cho điều luật rất đáng chú ý.  Điều luật cho thấy rằng cử chỉ của thiếu phụ đã phương hại đến khả năng có con của người đàn ông.  Câu chớ thương xót nàng tương tự như câu trong ‘luật báo phục hình’ (19:21).  Thật vậy, trong trường hợp này coi như tương đương theo nguyên tắc ‘mắt đền mắt’... dầu vậy trong Y-sơ-ra-ên những hình phạt phương hại đến cơ thể chắc chắn là ngoại lệ và hiếm có.  Còn trong trường hợp này, luật qui định dạng án phạt đó phản ánh tầm quan trọng của quan điểm Kinh Thánh về vấn đề có con (Sa 1:28  Thi 127:1-5).

(Phu 25:13-16). Luật này phù hợp với mối quan tâm chung của Phục Truyền Luật Lệ Ký là tránh bóc lột người Y-sơ-ra-ên, và cải thiện đời sống của họ.

16. Lại nhắc đến người A-ma-léc (Phu 25:17-19)

Lời lên án nghiêm khắc dân A-ma-léc nhắc chúng ta nhớ lại vụ họ tấn công dân Y-sơ-ra-ên trong khi dân này hành trình đến đất hứa (Xu 17:8-16).  Nỗ lực ngăn chận dân Y-sơ-ra-ên đến đất hứa đã liệt họ vào hàng người Mô-áp và Am-môn, là hai dân tộc vĩnh viễn không được gia nhập hội chúng Y-sơ-ra-ên cũng vì lý do này (Phu 23:3-5).  Dường như tội của dân A-ma-léc bị đoán phạt đặc biệt nghiêm trọng vì những phương cách mà họ đã áp dụng.  Đức Chúa Trời vĩnh viễn chống nghịch họ.  Đến thời điểm thích hợp Sau-lơ được lệnh thi hành án phạt này (ISa 15:2).

Có lẽ mạng lịnh này nhằm kết thúc một loạt những điều luật bắt đầu từ chương 12 câu 19 giải cứu khỏi mọi kẻ thù nghịch làm chúng ta nhớ lại chương Phu 12:9.

17. Sản vật đầu mùa và thuế một phần mười của năm thứ ba (Phu 26:1-19)

(Phu 26:1-15).  Chúng ta thấy rằng phần luật lệ bắt đầu từ chương 12 đã kết thúc bằng mạng lịnh xoá kỷ niệm của dân A-ma-léc (25:17-19).  Giờ đây chương này mở đầu với những lời chỉ dẫn về hai nghi lễ.  Hai nghi lễ này không có gì là mới nhưng chúng được đặt ở đây vì một lý do cụ thể.

Nghi lễ thứ nhất là dâng thổ sản đầu mùa, hoặc là lễ dâng hiến những nông sản đầu mùa vào đầu mùa hè.  Bình thường, người ta thực hiện lễ dâng này vào dịp Lễ Bảy Tuần (Le 23:15  Dan 28:26).  Qui định trong Phục Truyền Luật Lệ Ký về Lễ Bảy Tuần (Phu 16:9-12) không đề cập rõ về sản vật đầu mùa, rất có thể vì tác giả dự kiến viết về vấn đề đó ở đây.

Lý do tác giả dành vấn đề này cho đến bây giờ là để việc dâng thổ sản lần đầu tiên có ý nghĩa đặc biệt vì lần đầu tiên được thực hiện trong xứ sở mới.  Luật này chủ yếu liên hệ đến lễ dâng đầu tiên về thổ sản thu hoạch được bởi một dân tộc được Đức Chúa Trời đem ra khỏi cảnh nô lệ, ra khỏi cuộc sống lang thang trong đồng vắng để trở thành một dân tộc có xứ sở riêng.  Mặc dù suốt dòng lịch sử của mình, dân Y-sơ-ra-ên phải dâng thổ sản đầu mùa thường xuyên, nhưng buổi lễ này có tính cách đặc biệt cảm động (hơi giống với Lễ Tạ Ơn của Mỹ), vì nó là dấu chứng về việc Đức Chúa Trời đã làm thành những lời hứa của Ngài.

Lễ này là một dạng tuyên xưng đức tin, nhận biết sự thành tín của Đức Chúa Trời và chứa đựng cốt lõi của lịch sử lập quốc của Y-sơ-ra-ên.  Câu chuyện bắt đầu nhắc đến Gia-cốp, tổ phụ của dân Y-sơ-ra-ên, ở đây ông được gọi là một người A-ram phiêu lưu (5).  Câu này có ý đề cập đến cuộc sống tương đối bất ổn của ông và cuộc di cư đến Ai Cập, và cũng đề cập đến những năm ông ở A-ram hoặc Sy-ri để cưới Ra-chên và Lê-a là hai con gái của La-ban, người A-ram (Sa 28:5,29).  Sự tuyên xưng này tiếp nối với phần nhắc lại sự kiện di cư đến Ai Cập dân số của Gia-cốp còn ‘ít lắm’ (46:8-27).  Sự áp bức của người Ai Cập, sự giải cứu của Đức Chúa Trời bởi các việc quyền năng của Ngài và cuối cùng đến đất hứa (5-9).  Kể cũng lạ là không thấy nhắc đến giao ước trên núi Hô-rếp.  Nhưng hoàn toàn chỉ nhấn mạnh về lịch sử của lời hứa từ thời các tổ phụ của dân Y-sơ-ra-ên (12:1), và giờ đây được ứng nghiệm một cách huy hoàng.  Nghi lễ này được tiến hành ở nơi thờ phượng trung tâm (2), với lời nhắc nhở quen thuộc về tinh thần vui mừng và sẵn lòng giúp đỡ những người đang cần (11).

Bây giờ chúng ta xem đến nghi lễ thứ hai (12-15), tức là thuế một phần mười trong năm thứ ba mà chúng ta đã xem trong Phu 14:28-29 (cũng xem phần bình giải của phần đó).  Cũng như qui định về việc dâng thổ sản đầu mùa, qui định này cũng không phải là chuyện mới mẻ, xa lạ.  Nơi đây đề cập lại qui định về việc này có lẽ là để tập trung nhấn mạnh vào lần đầu tiên được thực hiện tại đất hứa, và vì luật này là nét đặc trưng về tinh thần của các điều luật.  Đó là ngay trong sinh hoạt của dân Y-sơ-ra-ên, kể cả những nghi thức thờ phượng cũng phải trụ trên lòng thương xót và đức công bình.  Thật vậy, hai nghi lễ trong chương này nhằm bày tỏ mối quan tâm đến người nghèo.

Thuế một phần mười trong năm thứ ba được dâng kèm với một lời tuyên xưng rằng đương sự đã hoàn thành các nghĩa vụ của mình, trước hết là dâng thuế một phần mười (ở đây gọi là phần thánh) và đã tuân thủ tất cả những mạng lịnh của Đức Chúa Trời (13).  c.14a nhằm bảo đảm rằng các loại thực phẩm trong của dâng một phần mười được giữ gìn một cách cẩn thận theo đúng nghi thức tôn giáo qui định.  Thực phẩm này có thể trở nên ô ue nếu tiếp cận với xác chết, dù chỉ là gián tiếp, và như vậy có thể là thực phẩm của người có tang.  Việc dâng cho người chết là không rõ, có lẽ ám chỉ một tập tục trong tôn giáo của người Ca-na-an, có thể là dâng cho chính Ba-anh, hoặc có thể đó chỉ là tặng thực phẩm cho tang quyến để an ủi họ (Gie 16:7), và như vậy là thực phẩm làm của dâng một phần mười đó bị ô uế.

Nghi lễ này kết thúc bằng lời cầu nguyện công nhận hai điều và nói chung cả hai điều này đều quan trọng trong nền thần học của Phục Truyền Luật Lệ Ký.  Đó là Đức Chúa Trời là Linh nên thật ra Ngài không thể nào ‘ở’ trong nơi thờ phượng mà chính Ngài đã truyền lịnh xây dựng cho Ngài trên đất này (IVua 8:27-30). Và những điều tốt đẹp mà dân sự được hưởng trong xứ hoàn toàn là do Đức Chúa Trời ban cho, chứ không phải bởi sức riêng của họ (Phu 8:17-18).  Phân đoạn dài về luật pháp kết thúc thích đáng bằng lời nhận định mạnh mẽ rằng đất hứa là quà tặng của Đức Chúa Trời.

18. Thỏa thuận của giao ước (Phu 26:16-19)

Đoạn ngắn này tóm lược lại những bổn phận mà hai bên thành viên của giao ước phải làm cho nhau.  Từ ngày nay là từ đặc trưng trong những bài giảng chép trong sách này, ở đây từ này nói đến thời điểm họ đang ở tại đồng bằng Mô-áp và dân sự hội họp nghiêm chỉnh công nhận những điều họ nghe từ miệng Môi-se.  Đức Giê-hô-va truyền dạy (16), dân sự đồng ý làm theo (17) và Ngài hứa chắc rằng họ sẽ là tuyển dân đặc biệt của Ngài (18-19 so với 7:6).  Các ý trình bày không nương theo một trình tự nào cả.  Trong chương 7 có một trật tự khác.  Hơn nữa, dân Y-sơ-ra-ên được chọn để họ trở thành một dân thánh, để rao truyền danh Đức Chúa Trời cho thế gian này và cuối cùng chính dân này được chọn để đưa Đấng Christ vào thế gian, dù nghịch lý ở điểm là chỉ vì họ không tuân thủ giao ước.  Dầu vậy cũng có những yếu tố này trong giao ước: bổn phận chung và sự cảm nhận sâu xa của dân sự và của Đức Chúa Trời về bổn phận chung đối với nhau, vì sự vinh hiển của danh Đức Chúa Trời và vì lợi ích của chính dân sự (so với Le 26:12).

19. Viết luật pháp (Phu 27:1-26)

(Phu 27:1-8). Bàn thờ trên núi Ê-banh  Đây là những chỉ dẫn về hai nghi thức phải tổ chức trên núi Ê-banh là một, và trên núi Ghê-ra-xim là hai.  Hai ngọn núi này nằm gần Si-chem, sát với trung tâm của đất hứa, và hai nghi lễ này phải được tổ chức sớm sau khi dân sự vào trong xứ.  Nghi lễ thứ nhất (đã được nói đến trong Phu 11:26-32) nói đến việc dựng những bia đá trên núi Ê-banh, trên đó có chép tất cả những lời của luật pháp này, có lẽ là toàn bộ những điều luật từ chương 1-26.  Những bia đá ghi khắc tất cả luật pháp như vậy nhằm nhắc nhở họ luôn luôn.

Những khối đá này được dựng lên trong một buổi dâng của lễ.  Do đó phải lập một bàn thờ.  Dầu vậy không có nghĩa là Si-chem được Chúa chọn làm nơi thờ phượng trung tâm rồi dân Y-sơ-ra-ên phải đi đến đó mà thờ phượng (12:5).  Nhưng cuộc thờ phượng trên núi Ê-banh lần này là lần duy nhất nhằm đánh dấu sự kiện dân Y-sơ-ra-ên xác nhận giao ước trong buổi đầu lập nghiệp trong xứ.  Xem Xu 20:24-25 về những luật lệ lập bàn thờ.

Toàn thể nghi lễ này, một lần nữa cho thấy Phục Truyền Luật Lệ Ký trình bày giao ước tương tự như một hiệp ước của người xưa.  Khi người xưa lập giao ước với nhau, mỗi bên đều giữ một bản sao những điều khoản của hiệp ước và đem đặt trong đền thờ thần của mình, và họ dâng một của lễ trong dịp này.  Đến thời điểm Giô-suê thực hiện buổi lễ này (Gios 8:30-35).

(Phu 27:9-26).  Sự rủa sả trên núi Ê-banh  Môi-se và các thầy tế lễ chuẩn bị cho các chi phái đang hội họp tiến hành nghi lễ thứ hai trên các ngọn núi ở Si-chem.  Trong thế giới cổ đại, hiệp ước thường có kèm lời tuyên bố trịnh trọng về phước lành và rủa sả.  Các chi phái sẽ phân làm hai nhóm đứng trên hai ngọn núi để đọc (có lẽ là đối đáp) những lời chúc phước và những lời rủa sả (12-13).  Ở đây chỉ ghi chép lại cho chúng ta những lời rủa sả, và người Lê-vi chớ không phải những chi phái đứng trên núi Ê-banh, tuyên bố lời rủa sả - có lẽ chỉ có một nhóm người Lê-vi được giao phó nhiệm vụ này, và có lẽ họ đứng giữa hai ngọn núi chung quanh hòm giao ước (còn chi phái Lê-vi thực thụ thì đứng trên núi Ghê-ra-xim để chúc phước).  Nghi lễ này được mô tả trong Gios 8:33.  Chúng ta cần hiểu ngầm rằng họ tuyên bố những lời chúc phước tương ứng với những lời rủa sả.

Những lời rủa sả đặt cơ sở trên các điều luật trong toàn bộ Ngũ Kinh, chớ không riêng gì Phục Truyền Luật Lệ Ký.  Thí dụ những trường hợp khiến cho người mù đi lạc (18), những người quan hệ tình dục với thú vật và những quan hệ tình dục phi tự nhiên khác (21-23) là có trong Lê-vi Ký (Le 19:14  18:9,17,23).  Do đó những lời rủa sả này không phải là bản tóm lược những luật lệ trong Phục Truyền Luật Lệ Ký, dù có phản ánh một số điểm quan trọng của sách này (đơn cử c.15,19,26).  Tuy nhiên tất cả những lời rủa sả này ít nhiều có nét tương ứng với Mười Điều Răn: cụ thể là những lời rủa sả trong c.15,16,24, còn những lời rủa sả trong c.17,18,20-23,25 là do suy diễn từ các điều răn này cũng như nhiều luật lệ khác trong Cựu Ước.  Một ý chung có thể ràng chúng với nhau thêm là sự kín nhiệm.  Cho dù có một người coi thường luật pháp của Đức Chúa Trời trong nơi kín nhiệm và vẫn nằm ngoài phạm vi xử lý của loài người, thì Đức Chúa Trời cũng sẽ truy nã kẻ phạm tội và trừng phạt người đó (chú ý đến từ kín nhiệm trong c.15,24).

Những lời rủa sả chép ở đây khác với những lời rủa sả trong chương 28.  Trước hết những lời rủa sả này dành cho những cá nhân phạm luật, và nhằm tách họ khỏi dân sự, tương tự như cách xử lý của luật pháp là loại trừ sự ‘gian ác’ khỏi dân sự và đất hứa để duy trì giao ước (Phu 22:21c).  Đối với những trường hợp vi phạm vừa bí mật vừa khéo giấu, thì những lời rủa sả này tương tự như luật về những án mạng không tìm ra manh mối (Phu 21:1-9).  Thứ hai những lời rủa sả này nhắm vào bản chất của tội lỗi hoặc tội phạm.  Mặt khác những lời rủa sả và những lời chúc phước trong chương 28 không nhắm vào tội phạm của cá nhân mà nhắm vào sự bội đạo của dân sự trong tánh cách toàn dân và tập trung vào sự trừng phạt (nếu có tình trạng bội đạo đó).  Thứ ba, những lời rủa sả này được viết để đọc trong buổi lễ đặc biệt trên núi Ê-banh và Ghê-ra-xim trong khi những lời rủa sả và chúc phước kế tiếp là một phần trong bài Môi-se giảng về giao ước tại đồng bằng Mô-áp.

20. Phước hạnh và rủa sả (Phu 28:1-68)

(Phu 28:1-14).  Những phước hạnh của giao ước  Môi-se tiếp tục giảng về giao ước với phần phước hạnh và rủa sả, phước hạnh nếu họ tuân thủ giao ước, và rủa sả nếu họ vi phạm giao ước.  Một lần nữa  chúng ta thấy rõ cấu trúc của một hiệp ước cổ, trong đó phước hạnh và rủa sả là động cơ động viên lòng trung thành.

Những phước hạnh liên hệ đến những chủ đề quen thuộc của sách: Y-sơ-ra-ên là dân được chọn (1,9-10,13 so với Phu 7:6  26:19), an nghỉ khỏi những kẻ thù nghịch (7 so với 12:9) và sự giàu có (3-6,8,11-12).  Bức tranh này trình bày một dân tộc hoàn toàn được Đức Chúa Trời ban phước.  Đây là những mối quan tâm của mọi người ở mọi nơi và trong mọi lúc.

Tuy nhiên, trong vùng Địa Trung Hải thời cổ đại, không dễ gì hưởng được những phước hạnh này.  Bất ổn chính trị là điều bình thường, mất mùa là chuyện lo âu triền miên, vì mất mùa sẽ đẩy nhiều người vào cảnh đói khổ và diệt vong.  Chiêu bài chính trong tôn giáo của các dân tộc cổ đại là đất đai phì nhiêu và chiến thắng kẻ thù.  Người ta tin rằng thần Ba-anh có khả năng bảo đảm cho họ những điều đó (Os 2:5,8).

Qua những lời phước hạnh (cũng như những lời rủa sả), Phục Truyền Luật Lệ Ký nhắm mục đích chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời chứ không phải Ba-anh là Đấng cung ứng những điều này.  Hơn nữa, trong những vấn đề sống chết, không phải nhờ thuật sĩ, đồng bóng kêu gọi nài nỉ, hoặc nhờ những nghi thức hành dâm quái gở hoặc sự thờ lạy hình tượng mà tìm được an ổn, nhưng chỉ có sự hoàn toàn vâng theo lời của một Đức Chúa Trời chân thật và công bình, là Đấng chỉ muốn ban phước chớ không muốn làm khổ con người.  Phước hạnh và rủa sả là một phần quan trọng trong sự dạy dỗ của Phục Truyền Luật Lệ Ký rằng thế giới của Đức Chúa Trời có đạo đức và có lý.  Con người không bị tung vào bể nghi ngờ và nguy hiểm.  Họ có thể tin tưởng chắc chắn về những điều căn bản trong cuộc sống vì họ biết Đức Chúa Trời là Đấng như thế nào.  Thật vậy, họ có thể nhận biết chính Đức Chúa Trời.

(Phu 28:15-68). Những lời rủa sả của giao ước  Những lời rủa sả chiếm nhiều dòng hơn là những phước hạnh, có lẽ là để nhấn mạnh tính nghiêm trọng của việc không tuân thủ giao ước.  Về căn bản đây là bức tranh trái ngược bức tranh phước hạnh ở trên, một sự mô tả trung thực về tai hoạ của cả nhân loại.

Những lời rủa sả trong phần đầu (15-19) là thái cực của những phước hạnh trong c.3-6.  Đây là nỗi khổ trong sinh hoạt hàng ngày, ảnh hưởng đến những nhu cầu căn bản, tình trạng ổn định của gia đình - ở mọi nơi và mọi lúc của cuộc sống.

Cuộc sống được vẽ ra trong c.20-24 với tất cả những nỗi bất ổn, làm mồi cho bệnh tật, hạn hán và diệt vong bất thình lình ập đến.  Hễ không tuân thủ giao ước thì không có ‘cánh tay đời đời’ (Phu 33:27) bảo vệ họ khỏi những điều này, cũng không được bảo vệ khỏi những kẻ thù nghịch, một trong những lời hứa quan trọng của giao ước (12:9) mà ngược lại, dân tộc bội đạo sẽ chiến bại (so sánh 25 với câu 7 tình trạng của dân sự trong câu 26 có lẽ là hậu quả của sự chiến bại.  Lúc này Đức Giê-hô-va không còn ẵm bồng dân sự của Ngài như người cha bồng ẵm con mình (1:31) mà có vẻ như Ngài tích cực chống lại họ, đổ xuống họ tất cả những bệnh tật mà đã có lần Ngài cho họ được miễn trừ (27-29).  c.30-35 nói đến chuyện không được phép hưởng những điều luật pháp ưu ái dự liệu cho.  Nếu trước đây có những người nam được miễn quân dịch để xây dựng một cuộc sống cho gia đình và hưởng trọn những phước hạnh của Đức Chúa Trời thì bây giờ những niềm vui về vợ con, nhà cửa, vườn nho, bầy súc vật đều tuột khỏi tầm tay để người khác hưởng lấy.  Đây là thái cực của sự giàu có sung túc với điều kiện trong 6:10-11.

Những nỗi đau khổ đã được trình bày ở trên càng mãnh liệt hơn vì không hi vọng được giải cứu.  Chúng ta có thể chịu đựng được nhiều nỗi đau khổ nếu còn hi vọng nơi Đức Chúa Trời.  Tuy nhiên sự thật đáng buồn ở đây là Đức Chúa Trời rút lại sự giúp đỡ của Ngài.  Giao ước không dành chút hi vọng nào cho những người phản bội giao ước.

Viễn cảnh về một dân tộc bội đạo thật ảm đạm.  Từ bức tranh về sự tàn tạ nói chung, giờ đây trọng tâm chuyển sang những sự kiện trong lịch sử tương lai sẽ đưa đến tan nát cho dân sự.  Những sự kiện này chen lẫn với những nỗi đau khổ bình thường khác như trong c.38-44.  Chú ý đến sự tương phản khi nói đến ‘đằng đầu và đằng đuôi’ (43-44) với c.13  26:19 và chú ý đến cách dùng từ ‘dấu kỳ phép lạ’ trong sự chiến thắng ban đầu của dân Y-sơ-ra-ên thì bây giờ trái ngược lại như thế nào (46 so với 26:8).  Bây giờ tụ điểm là bức tranh về sự chiến bại và lưu đày.  c.36-37 đề cập đến điều này một cách khái quát các câu từ 49-57 mô tả những điều khủng khiếp khi bị vây hãm và dân sự biến thành một dân tộc man rợ, xấu xa nhất.  Cuối cùng tác giả cũng vẽ ra bức tranh về nỗi đau khổ của sự lưu đày (64-68).  Về hình bóng, cuộc lưu đày xem như sự trở lại Ai Cập (68) mặc dù thật ra cuộc lưu đày xảy ra ở mức độ trầm trọng và rộng lớn hơn.  Nhiều thế kỷ sau thời Môi-se, dân cư của nước Y-sơ-ra-ên ở miền bắc bị người A-si-ri bắt đi lưu đày và rồi sau đó dân chúng nước Giu-đa bị vua Ba-by-lôn là Nê-bu-cát-nết-sa bắt làm phu tù.

Nội dung rủa sả đen tối nhất trong giao ước là lưu đày.  Thật vậy, từ c.58-63 coi như sự lưu đày là tình cảnh đảo ngược và phá hỏng tất cả những phước hạnh mà giao ước đã hứa và tất cả những gì Chúa đã dành cho dân sự Ngài.  Chúng ta hãy chú ý đến những tai vạ đã từng xảy đến cho Ai Cập nay đổ trên dân Y-sơ-ra-ên (59) những bịnh tật của xứ Ai Cập đã từng bị bỏ lại sau lưng họ (7:15) nay xuất hiện trở lại (60).  Lời hứa về một dân tộc đông đúc ở trong đất hứa đã bị huỷ bỏ (62-63 so với Sa 15:5,7).  Cuộc sống theo Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên gắn bó với đất hứa.  Mất đất hứa là đỉnh điểm của lời rủa sả trên dân sự.  Cuộc lưu đày đặt ra một vấn nạn là còn hi vọng gì cho dân tộc này trong tương lai?

Phước hạnh và rủa sả là một phương cách khá thô thiển để giục giã dân sự tuân thủ giao ước, nhưng cũng xác quyết về một số điểm quan trọng.  Các dân tộc xung quanh Y-sơ-ra-ên tin rằng thế giới không thể tiên đoán được, vì các vị thần có thể chi phối mọi sự việc một các tuỳ tiện không theo một nguyên tắc đạo đức nào.  Thế nhưng, trong quan hệ giao ước với Đức Chúa Trời, dân Y-sơ-ra-ên biết rằng chỉ có một mình Ngài là Đấng kiểm soát mọi biến cố và Ngài luôn hành động đúng theo bản tánh của mình, là bản tánh mà Ngài đã khải thị cho họ.  Những lời rủa sả biểu thị một sự nhận biết, hoặc có lẽ là một nỗi lo sợ về những sự việc tệ hại có thể xảy đến cho xã hội loài người.  Đức Chúa Trời là Đấng cai trị tất cả mọi sự việc trong đời sống của con người cho chúng ta một hi vọng mà những người không biết Ngài không thể nào có được.

Không những Cựu Ước dùng sự thưởng phạt để làm động cơ mà chính Chúa Giê-xu cũng vận dụng điều đó trong sự giảng dạy của Ngài (Mat 5:17-30  25:31-46).

3. MÔI-SE BÀI GIẢNG THỨ BA (Phu 29:29-30:20)

1. Giao ước bị vi phạm (Phu 29:1-29)

Hai chương tiếp theo có phần dẫn nhập riêng và thường được xem là bài giảng thứ ba của Môi-se.  Tuy nhiên phần này không hoàn toàn tách rời khỏi bài giảng dài ở phần trên (bắt đầu từ Phu 4:44).  Thật vậy, trong khi những lời mở đầu của sách (1:1-5) hướng đến sự rao giảng của Môi-se về giao ước, thì bây giờ phần mở đầu mới này (19:1) nhìn lại điều đó.  Như vậy trong 5:2-3, giao ước ở Hô-rếp được xem như đang có hiệu lực trong đời sống của thế hệ tiếp theo này, còn ở đây bài giảng của Môi-se thật ra coi như một giao ước nữa, thêm vào giao ước đã lập ở núi Hô-rếp, dù là dựa trên giao ước này.  Bằng cách này Phục Truyền Luật Lệ Ký không những nhắc lại giao ước mà tự nó cũng là một văn kiện tái lập giao ước.  Không một thế hệ nào có thể coi giao ước của Chúa là chuyện mặc nhiên cả, nhưng luôn luôn mỗi thế hệ phải lập giao ước với Ngài bằng một sự cam kết của chính mình đối với giao ước của Ngài.

Bài giảng trong chương 29 lập lại những chủ đề quen thuộc nằm trong các phần khác của sách này.  Trước hết (từ c.2-8), Môi-se nhắc lại mọi sự chăm sóc của Đức Chúa Trời dành cho dân sự trong quá trình đem họ đến xứ này.  Những câu này tóm lược cuộc hành trình đến biên giới của xứ như trong chương 1 đến 3.  C.5-6 nhắc lại quyền năng lớn lao của Đức Chúa Trời đã bày tỏ trong cuộc hành trình ra khỏi Ai Cập (so với 26:8).  C.7-8 nhắc đến cuộc chiếm xứ ở phía đông sông Giô-đanh, 2:26-3:28 chép về vụ này đầy đủ hơn.

Câu 4 gióng lên một tiếng chuông cảnh báo.  Lẽ ra dân phải nghe và chứng kiến đủ để hiểu thấu đáo và đón nhận giao ước.  Nội những luật Môi-se ban cho họ cũng đủ khiến họ khôn ngoan (4:6).  Nhưng Môi-se biết rằng họ vẫn chưa khôn ngoan.  Có lẽ ông muốn nói rằng cần có thời gian để họ nhận thức rằng luật pháp của Đức Chúa Trời là nhân từ và thiết yếu cho cuộc sống trong mọi mặt và tuân thủ giao ước là chuyện tối cần.  Tuy nhiên đây không phải là lần đầu tiên mà chúng ta buộc lòng phải tự hỏi rằng liệu dân Y-sơ-ra-ên có đủ quyết tâm để làm một thành viên trong giao ước một cách trung tín không (cũng xem 9:4-6 và phần bình giải).

Tầm nhìn trong c.9-15 bao gồm tất cả những việc Đức Chúa Trời làm cho dân sự của Ngài trong quá khứ theo như lời Ngài đã hứa với các tổ phụ (13).  Tuy nhiên, trọng điểm vẫn là cần vâng lời trong hiện tại (10,14-15).  Giao ước cũng ảnh hưởng đến mọi thành viên trong cộng đồng, kể cả người ngoại kiều thường trú (11).  Dân sự phải bày tỏ lòng thương xót đối với thành phần này (14:28-29).

Mấy c.16-21 nhắc lại hiểm hoạ rơi vào sự thờ lạy tà thần.  Điều răn đầu tiên ngăn chận hiểm hoạ này.  Chỉ trung tín với một mình Đức Giê-hô-va mà thôi (5:7), bằng không thì chẳng thể sống còn với Ngài đâu.  Vì cớ đó chủ đề chính trong Phục Truyền Luật Lệ Ký là chống thờ tà thần (7:1-5 12:1-4).  Còn quyến rũ dụ dỗ người khác thờ tà thần là một tội nặng (chương 13).  Một trong những hiểm hoạ nghiêm trọng nhất trong phần đạo đức là tin rằng dù con người có bất chấp luật pháp của Đức Chúa Trời thì cũng chẳng xảy ra hậu quả nào cả.  Đây là thái độ vừa vô tín, vừa dại dột tin cậy nơi sức riêng của mình.  Theo như mô tả ở đây thì người thờ các thần khác là người hoàn toàn tự dối mình, tin rằng tự thân mình có thể đem lại bình an và phước hạnh cho mình trong khi mọi điều này là sự ban cho của Đức Chúa Trời (19).  Tuy vậy, không có lý do bào chữa cho hành vi này, vì đây là kết quả của một nếp nghĩ đã thâu hái được và quyết duy trì.  Vì cớ chủ trương này tự thân cũng là tội lỗi, và vì cớ chủ trương này là mối nguy cho dân của Đức Chúa Trời nên đương sự đáng bị án phạt nghiêm khắc nhất (20-21).

Coi như phần cuối của chương này (22-28) mặc nhiên tin rằng đến thời điểm thích đáng những sự rủa sả trong giao ước sẽ giáng trên dân sự dưới dạng lưu đày.  Xứ bị tàn phá không thua gì mức tàn phá Sô-đôm và Gô-mô-rơ và các thành lân cận (Sa 14:8,19) đã trở thành câu ngạn ngữ diễn tả mức độ hình phạt nghiêm trọng nhất (so sánh Es 17:1-13  Os 11:8).  Hẳn là dân sự của Đức Chúa Trời phải sửng sốt khi nghe rằng họ có thể bị hình phạt tương tự như các dân tộc mà họ thường cho là cực kỳ gian ác đã bị hình phạt.  Trọng tâm của các c.25-28 là sở dĩ dân sự rơi vào tình cảnh đen tối này là vì chính Đức Chúa Trời giáng sự rủa sả trong giao ước của Ngài đã lập xuống trên họ chớ không phải vì Ngài kém cỏi.  Điều trớ trêu là có thể con cháu của thế hệ này (22), là những người lưu đày hồi hương rồi sẽ chứng kiến sự tàn phá này.  Nếu các thế hệ của dân Y-sơ-ra-ên được giáo huấn đúng mức thì thảm hoạ này hẳn không xảy ra (so với Phu 6:7).

Câu cuối cùng (29) có ý nói rằng tương lai vẫn còn bí ẩn (xét cho cùng) những lời rủa sả này không nhất thiết phải xảy ra.  Nhưng dân sự đã biết rõ luật pháp của Đức Chúa Trời.  Đây là tất cả điều họ cần cho đời sống.

2. Tái lập giao ước (Phu 30:1-20)

(Phu 30:1-10).  Trở lại với Đức Giê--va  Những lời rủa sả của giao ước trong chương 28 đã lên đến đỉnh điểm với lời đe doạ về việc dân Y-sơ-ra-ên có thể bị lưu đày đi nơi khác (64-68).  Còn bài giảng trong chương 29 xem như gợi ý là có thể lắm chuyện đó sẽ xảy ra.  Rồi Môi-se bàn đến một giai đoạn xa hơn nữa, vì những câu này nói đến tương lai xa khi mà cuộc lưu đày đã thực sự xảy ra.  Ngay câu đầu tiên cho thấy rằng phước hạnh và rủa sả đến tiếp nối nhau.  Những câu này phóng tầm nhìn vào thời kỳ họ kinh nghiệm những lời rủa sả vì họ không tuân thủ giao ước sau khi đã hưởng những phước hạnh của xứ (là nơi họ sắp sửa tiến vào trong thời sinh tiền của Môi-se).  Đây là một tình trạng mới mà bài giảng về giao ước bây giờ bàn tới, vì cho đến đây bài giảng chú trọng thuyết phục dân sự phải trung tín để tránh thảm hoạ.

Tuy nhiên đoạn Kinh Thánh này cũng cho thấy rằng cho dù sự rủa sả của giao ước có giáng xuống chăng nữa thì câu chuyện giữa Đức Chúa Trời với dân sự của Ngài không nhất thiết là chấm dứt.  Đức Chúa Trời đã bày tỏ ân điển lớn lao trên dân Y-sơ-ra-ên khi Ngài lựa chọn họ và lập giao ước với họ lúc ban đầu.  Dù vậy, hai cử chỉ đầy tình thương này cũng chưa múc cạn ân điển ấy.

Có một tương lai cho dân sự của Đức Chúa Trời.  Tuy nhiên tương lai đó không tự nhiên xảy đến.  Điều kiện yêu cầu là ăn năn chân thành (2).  Dân tộc sẽ được khôi phục như xưa với phước hạnh về mọi mặt (xứ sở, số dân và thịnh vượng,c.5,9) và những mạng lịnh (6b,8,10).  Tuy nhiên sự thay đổi mới mẻ này có cơ may thành công hơn không?  Trong đoạn này một yếu tố mới sẽ giải quyết vấn đề này.

Yếu tố mới đó là Đức Giê-hô-va nắm giữ vai trò mới có tính chất quyết định trong vận mệnh của họ.  Bởi quyền năng Ngài mà họ được trở lại quê hương.  (Thật vậy đây là ý nghĩa của cụm từ khôi phục lại vận mệnh của ngươi,  c.3  Gios 29:14 30:3).  Tuy nhiên, không chỉ có thế, Ngài còn tạo nên trong họ một khả năng mới để trung tín được ám chỉ trong câu: Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ cắt bì tấm lòng của ngươi (6).  Cùng một hình thức nói bóng như vậy trong 10:16 lại chỉ là một câu khích lệ.  Bằng một phương cách nhiệm mầu nào đó, Chúa sẽ làm mới lại mối quan hệ để khiến cho dân sự của Ngài trung tín (mặc dù không bỏ qua chuyện họ cần ăn năn, c.2).  Biện pháp trên đây không coi nhẹ sự kiện họ cần vâng phục thật sự, họ vẫn chịu trách nhiệm với Ngài về cuộc sống của họ.  Có thể hiểu rõ vấn đề này nhờ giáo lý của Kinh Thánh Tân Ước dạy về vai trò của Thánh Linh.  Thánh Linh làm cho Cơ-đốc nhân có thể thắng hơn bản tánh tội lỗi của họ (Ro 8:9-27  Ga 5:16-25).

(Phu 30:11-20). Lời rất gần ngươi  Những câu cuối cùng trong chương này trở lại với hiện tại với sự nhấn mạnh đặc thù của sách trên từ ngày nay (15).  Mấy câu này xác định rằng thật ra dân sự có quyền lựa chọn và trung thành là chuyện không quá tầm tay của họ.  Những cuộc hành trình tưởng tượng lên trời hoặc vượt biển để tìm kiếm một lẽ thật (12-13) phản ánh cảm tưởng của nhiều người thời xưa cho rằng ý nghĩa cuộc sống là một điều bí ẩn, cần van nài xin xỏ các vị thần để thần giải tỏ cho.  Trái lại, trong trường hợp của dân Y-sơ-ra-ên lẽ thật về sự sống và sự chết, điều thiện và điều ác đều có trong lời mà Đức Chúa Trời đã phán với dân sự qua Môi-se (14).  Cho nên hễ không hưởng ứng thì không có lý do bào chữa nào cả, vì đây là một sự lựa chọn minh bạch, dứt khoát, một sự lựa chọn nghiêm túc giữa sự sống và phước lành hoặc sự chết và huỷ diệt (c.15, c.16-18 triển khai chi tiết hơn).  Dân Y-sơ-ra-ên đã hiểu được điều này về phương diện thịnh vượng trong xứ mà họ sắp sửa bước vào (20b).  Tuy nhiên, nguyên tắc này có giá trị lâu dài cho tất cả mọi người, bao gồm cả sự sống trong đời này và đời sau.  Vì chính Chúa là sự sống (20) và Ngài không bao giờ qua đi.

4. TỪ MÔI-SE ĐẾN GIÔ-SUÊ (Phu 31:1-34:12)

1. Môi-se trao quyền lại cho Giô-suê (Phu 31:1-30)

(Phu 31:1-8). Những bài giảng chính của Môi-se đã kết thúc.  Sắp sửa đến lúc hành động rồi.  Chẳng bao lâu nữa những lời hứa sẽ thành tựu.  Phần còn lại của Phục Truyền Luật Lệ Ký viết về việc Môi-se trao quyền lãnh đạo cho Giô-suê, những lời từ biệt của Môi-se và sự qua đời của ông.

Đoạn này nhắc chúng ta nhớ rằng Môi-se giảng mấy bài giảng dài này tại đồng bằng Mô-áp.  Dân Y-sơ-ra-ên đã chiếm cứ một vùng trong xứ, đó là vùng phía đông sông Giô-đanh, và một số kẻ thù của họ đã bại trận (Si-hôn và Óc,  Phu 2:24-3:11).  Còn phải hoàn tất công tác còn lại nhưng Đức Chúa Trời phán với Môi-se rằng nhiệm vụ và đời sống của ông sẽ chấm dứt ở phía đông sông Giô-đanh (1:37-38  3:23-29).

Đức Chúa Trời quả quyết rằng chính Ngài sẽ ban cho dân sự sự đắc thắng như Ngài đã từng làm trong quá khứ (3).  Phần của họ là phải bày tỏ đức tin và lòng can đảm (6,8).  Vì họ thiếu đức tin và thiếu lòng can đảm mà việc chiếm xứ đã bị hoãn (1:26-36).  Họ phải hoàn tất cuộc chinh phục những dân tộc còn lại (5b  2:33-34  7:1-5).  Vì nếu những dân tộc này còn sống sót, tín ngưỡng sai lạc của họ sẽ tạo ra lắm mối nguy cho dân Y-sơ-ra-ên.  Trong phân đoạn này có những lời xác quyết về sự hiện diện của Đức Chúa Trời (3, 8).  Thật vậy, dân sự có thể can đảm vì Đức Chúa Trời đã hứa là Ngài sẽ hiện diện giữa họ thì Ngài sẽ giữ đúng lời Ngài hứa.

(Phu 31:9-13).  Đọc luật pháp Môi-se đã trịnh trọng chép lại những lời của luật pháp ông đã truyền dạy.  có lẽ trong thời gian giảng dạy ông đã lo viết ra rồi.  Rõ ràng những bài này thuộc dạng bài viết chớ không phải bài nói mà thôi: Đức Chúa Trời đã truyền lịnh là phải viết những bài này trên bia đá để dựng trên núi Ê-banh trong một buổi lễ (27:1-8).  Trong bản hòa ước cũng hàm ý là cần lưu trữ từng lời lẽ trong bản giao ước để thỉnh thoảng còn tái lập giao ước giữa đôi bên.  Môi-se giao văn kiện này cho những người Lê-vi khiêng hòm giao ước.  Hòm giao ước là dấu hiệu về sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa dân sự.  Văn kiện giao ước được lưu trữ bên hòm giao ước với ý nhắn nhủ rằng không phải sau khi sở hữu một món đồ biểu thị về sự hiện diện của Đức Chúa Trời một cách rõ ràng và hiển nhiên thì có thể cho là tất nhiên luôn luôn Đức Chúa Trời hiện diện.  Các tiên tri cũng thường giảng về vấn đề này vì họ nhận thấy dân sự đặt niềm tin tưởng sai vào đền thờ (Gie 7:1-15). 

Cho nên cần ghi nhớ luật pháp và cần thường xuyên dạy luật pháp.  Đây là một trong những đại chủ đề của Phục Truyền Luật Lệ Ký (Phu 6:6-9,20-25).  Ở đây ấn định thêm một lệ nữa, đó là mỗi năm một lần phải long trọng tuyên đọc toàn bộ luật pháp vào dịp Lễ Lều Tạm (16:13-17).  Việc này biểu thị một cách hùng hồn rằng toàn dân (kể cả kiều dân so với 29:11) đều ở dưới quyền hạn của luật pháp của Đức Chúa Trời.  Trong dòng lịch sử Y-sơ-ra-ên, không rõ người ta thực hiện việc này đến mức nào.  Khi niềm tin vội tàn lụi vào thời kỳ các quan xét, có lẽ việc này sớm bị bỏ bê nhất.  Rất có thể khi vua Giô-si-a truyền đọc luật pháp cho toàn thể dân chúng tụ họp là vua muốn phục hồi việc này như xưa - dù là muộn màng! (IIVua 23:1-3)

(Phu 31:14-29). Tiên báo về sự bất trung của dân Y--ra-ên Tiếp theo là buổi lễ diễn ra tại đền tạm, hoặc Hội Mạc (là nơi đặt hòm giao ước trong thời gian lưu trú tại sa mạc).  Trong buổi lễ này Đức Chúa Trời long trọng giao quyền lãnh đạo từ Môi-se qua Giô-suê.  Đức Chúa Trời biểu thị sự hiện diện của Ngài bằng một trụ mây trước cửa đền tạm (15).  Trước kia kinh nghiệm này đặc biệt dành riêng cho Môi-se nay mở rộng cho Giô-suê là người kế vị Môi-se (Xu 33:7-11).

Trước hết Chúa nói chuyện với Môi-se, Ngài nói đến một thời kỳ mà dân sự sẽ từ bỏ Ngài và giao ước (16).  C.17-18 tóm tắt những sự rủa sả sẽ xảy ra (Phu 28:15-68) mặc dù đối với sự trừng phạt tương xứng dân sự đặt vấn đề có vẻ như trách móc Đức Chúa Trời (17b).  Vì Chúa biết rằng dân Y-sơ-ra-ên có một tấm lòng bất vâng phục (21b) nên Ngài bảo Môi-se viết lại một bài ca (trong 32:1-43) để làm một lời cáo buộc dân sự về tội bất trung.  Môi-se vâng lời và dạy cho dân sự bài ca đó.  Cho đến bây giờ Ngài đã khuyến cáo họ cách kỹ càng về những hậu quả chắc chắn sẽ đến nếu họ không tuân thủ giao ước.  Hơn nữa Ngài vạch ra cho họ thấy họ rất yếu đuối và dễ lạc lòng.

Sau đó Chúa truyền cho Giô-suê một mạng lịnh quen thuộc là hãy can đảm (23).  Ông là người có đủ tư cách và đức tính để nhận chức vụ này vì Đức Chúa Trời hài lòng về ông khi ông còn là một trong hai thám tử không hốt hoảng đối với lực lượng đáng nể của kẻ thù (Dan 14:30,38).

Cuối cùng đoạn này lại cho chúng ta biết rằng Môi-se trao bảng chép những lời của ông (bây giờ gọi là Sách Luật Pháp,  IIVua 22:8) cho người Lê-vi (25-26 so với c.9), và ra lệnh cho họ tập trung các chi phái để nghe bài ca.  Giọng điệu khá bi quan giống Phu 29:22-28 (30:1).  Căn cứ vào những điều Môi-se đã chứng kiến nơi dân Y-sơ-ra-ên, ông tin chắc rằng họ sẽ không tuân thủ giao ước (27, đặc biệt xem câu chuyện về sự bội đạo trầm trọng ở núi Hô-rếp (Xu 32:1-35  Phu 9:7-29).  Chắc chắn những sự rủa sả của giao ước sẽ thành tựu.

2. Bài ca và lời khuyên dạy cuối cùng của Môi-se (Phu 31:30) (Phu 31:30-32:43)

Sau đó Môi-se đọc lời của bài ca mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông (Phu 30:19) để khuyến cáo dân Y-sơ-ra-ên đừng phản bội Ngài và đường lối của Ngài.  Bài ca này thuộc thể thơ nên khác hẳn những bài giảng luận trong sách, cả về hình thức lẫn nội dung.  Bài ca này cũng là tiền thân của nhiều bài thơ trong Thi Thiên và của những sách tiên tri.

Những câu mở đầu (1-3) là một hình thức kêu gọi thờ phượng (so với Thi 29:1-2) dẫn nhập vào sự ca ngợi Đức Chúa Trời.  Những câu này cũng cho thấy rằng bài ca này coi như một lời làm chứng cho giao ước đã lập xong.  Việc chứng giám được ngụ ý trong lời mời trời và đất lắng nghe những lời sắp nói (so với Phu 30:19).  Trong những hiệp ước ở vùng Cận Đông cổ đại, thường là các vị thần của dân tộc liên hệ đóng vai chứng giám.  Vì dân Y-sơ-ra-ên thờ độc thần nên Môi-se không thể kêu gọi những thần khác chứng giám, nên ông kêu gọi trời và đất.

Những câu tiếp theo (4-14) chuyển sang phần ca ngợi Đức Chúa Trời.  Ngài là Vầng Đá nên Ngài là Đấng giải cứu và trong Ngài có một chỗ ẩn náu an toàn (Thi 18:2).  Lẽ thật và sự công bình của Ngài (hoặc sự đối đãi ngay thẳng của Ngài) là những đức tính căn bản (25:8-10  33:4  Gi 14:6  Kh 15:3  19:11).  Hai đức tính này lộ rõ trong cung cách đối xử nhân từ của Ngài dành cho dân Y-sơ-ra-ên từ lúc ban đầu (6b-14) mặc dù họ có vẻ vô ơn bạc nghĩa (5-6a).  Ở đây Đức Chúa Trời được ghi nhớ là Đấng Tạo Hóa, đặc biệt là của dân Y-sơ-ra-ên (so với Es 43:15), và là Cha của họ.  Từ Cha là từ thân mật hơn những lời lẽ khác trong giao ước và là một ý quan trọng trong câu chuyện về tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho dân của Ngài (so với Phu 1:31  Xu 4:22  Os 11:1).

Sau đó việc tuyển chọn dân Y-sơ-ra-ên được đặt vào bối cảnh của sự kiện Đức Chúa Trời sáng tạo thế giới và quyền năng của Ngài trong sự tồn vong của tất cả các dân tộc (8) điều này cũng đã được nói đến trong chuyện chinh phục xứ ở phía đông sông Giô-đanh (Phu 2:5,9,19).  (Việc dùng danh xưng Đấng Chí Cao ở đây cùng với danh xưng riêng của Đức Chúa Trời là Gia-vê chỉ là một sự uyển chuyển trong lối hành văn.  Đây là một trong những danh xưng của Đức Chúa Trời trong Sáng Thế Ký, cụ thể là Sa 14:22, và danh xưng này rất thích hợp để khẳng định quyền tối cao của Ngài trên tất cả mọi tạo vật).  Tuy nhiên Y-sơ-ra-ên (Gia-cốp) chiếm một vị trí đặc biệt trong mục đích của Ngài (9).  Sự ‘tìm thấy’ dân Y-sơ-ra-ên trong một nơi vắng vẻ (10) là một cách nói theo văn vẻ thi ca để nhớ lại thời kỳ trong sa mạc và đã phớt qua nhiều chi tiết của câu chuyện đó, kể cả thời kỳ ở Ai Cập.  Hình ảnh đẹp đẽ về con chim phượng hoàng và con của nó phản ánh sự chăm sóc yêu thương và sự rèn luyện để sống còn (ở đây mô tả con phượng hoàng đang tập con nó bay).  Những ý tưởng này, cùng với ý niệm về một Đức Chúa Trời duy nhất (12 so với Phu 6:4  Es 43:10-12) và sự cung cấp dư dật của Ngài cho dân sự (13-14 so với Phu 8:7-10), nói chung là những điều quan trọng trong sách này.

Mặc dù Đức Chúa Trời nhơn từ với họ, dân Y-sơ-ra-ên vẫn có khuynh hướng chống lại Ngài.  Và sự thể này được nêu lên trước cả những lời ca ngợi (5-6a).  Sự phản loạn của dân Y-sơ-ra-ên thể hiện một thái độ vô ơn bạc nghĩa rất trái với tự nhiên (so với Es 1:2).  Câu 15-18 bàn thêm những điểm này.  Giê-su-run (15) là một danh từ riêng, chỉ về dân Y-sơ-ra-ên.  Trong căn bản sự phản loạn xảy ra dưới hình thức thờ lạy hình tượng.  Trong suốt Phục Truyền Luật Lệ Ký đây là tội nghiêm trọng nhất (Phu 5:7,13).  Ở đây lên án tội đó nhằm biểu thị cách sống động sự tức giận của Đức Chúa Trời, với giọng mỉa mai khích bác như giọng các tiên tri khi nói về các thần mà không phải là thần gì cả (17,  Es 44:9-20  Gie 10:11).  Đám được gọi là thần này chỉ là chuyện bịa, hoàn toàn không có một ‘thành tích’ nào đối với dân Y-sơ-ra-ên cả.  Đức Chúa Trời chân thật khác xa với các thần này biết bao.  Ngài đã chăm sóc và yêu thương dân sự Ngài với một sự kiên nhẫn lớn lao trải mọi thế hệ của họ.  Sự bất trung của dân Y-sơ-ra-ên đối với Đức Chúa Trời không bút nào tả xiết nên có phê bình gay gắt như thế cũng không phải là quá đáng.

Sau đó vấn đề chuyển sang một biện pháp hình phạt (19-27).  Vì dân Y-sơ-ra-ên xây khỏi Chúa nên Ngài cũng xây khỏi họ.  Vì họ đã làm cho Ngài ghen tị (so với Phu 5:9) và giận dữ nên Ngài cũng làm cho họ ghen tị và giận dữ (21).  Như vậy sự đoán phạt này rất tương xứng và pha lẫn đôi chút ‘thi vị’.  Yếu tố quan trọng nhất trong biện pháp hình phạt này là Ngài sẽ giấu mặt của Ngài khỏi họ, dù rằng trước kia Ngài đã tự khải thị bằng tất cả những lời mà Ngài đã phán qua Môi-se với sự nhân từ tột bực.  Tác giả Thi Thiên nhận thấy án phạt này nặng nề nhất (Thi 10:1  13:1).  Ngoài ra, còn có một biện pháp trừng phạt nữa là Ngài dùng một dân tộc không hiểu biết gì cả, tức là không có đặc quyền hiểu biết luật pháp mà Chúa đã khải thị cho dân Y-sơ-ra-ên (Phu 4:6-8  29:4) - tức là một dân tộc có thần không phải là thần.  Trớ trêu là dân Y-sơ-ra-ên đành chịu khuất phục trước dân tộc đó.  Những sự trừng phạt trong câu 23-26 nhắc chúng ta nhớ lại những lời rủa sả của giao ước (28:15-68).  Chính Chúa cũng thấy rằng việc dân Y-sơ-ra-ên bại trận trước một dân tộc không kính sợ Đức Chúa Trời là chuyện ghê tởm (27).  Chuyện đó chỉ làm ô danh Ngài trên thế giới này mà thôi.

Chủ đề kẻ thù vẫn tiếp tục được triển khai (28-33).  Thật là phi lý khi một dân tộc không có sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (so với câu 21) và cũng không có lời hứa của Đức Chúa Trời là Ngài sẽ đồng hành với họ, lại thắng hơn dân sự của Đức Chúa Trời là những kẻ có tất cả những đặc ân này.  Cuối cùng sự thành công và thịnh vượng của một dân tộc như vậy chỉ là giả vì cội nguồn của họ vốn là giả (32-33).  Vì vậy, đến thời điểm, dân tộc mà Đức Chúa Trời dùng làm công cụ hình phạt cũng sẽ bị diệt vong.  Vì dân tộc đó hành động hăng hái, năng nổ không phải cho Đức Chúa Trời mà chỉ mưu lợi riêng cho mình.  Sự hình phạt giáng trên dân tộc đó là một lời bảo đảm cho dân Y-sơ-ra-ên về sự công bình của Đức Chúa Trời ngay trong khi Ngài hình phạt họ.  Đây là một chủ đề tiêu biểu trong các sách tiên tri (Es 10:5-19  Gie 25:8-14).  Đây là sự báo thù của Đức Chúa Trời (35), báo thù vì sự công nghĩa của Ngài và vì sự cứu chuộc tận cùng cho dân sự Ngài.  Cuối cùng sự báo thù này sẽ báo ứng mọi chuyện sai quấy (Ro 12:19).  Chỉ có sự báo thù này mới có giá trị, bất kỳ sự báo thù nào khác cũng chỉ là một sự căm thù tự huỷ hoại.

Phần cuối cùng của bài ca cũng là phần cuối cùng của câu chuyện về cách Đức Chúa Trời đối đãi với dân sự của Ngài: họ được phục hồi.  Cuối cùng có một cuộc xét đoán mà phần thắng nghiêng về phía họ (36).  Đó là sự xét đoán mà những người mộ đạo trong dân Y-sơ-ra-ên hằng mong mỏi khi họ bị áp bức (Thi 7:6-11).  Sự xét đoán này xảy ra sau khi dân Y-sơ-ra-ên đã bị hạ xuống mức thấp nhất.  Trong lịch sử, mức thấp nhất này là cuộc lưu đày ở Ba-by-lôn.  Sự xét đoán này có một chức năng tích cực, đó là bày tỏ cho dân sự thấy rằng các vị thần ngoại quốc trông có vẻ hấp dẫn và có quyền năng, nhưng thật ra chẳng có quyền năng gì cả (so với Es 46:1-2).  Chỉ có Giê-hô-va là Đức Chúa Trời (39 so với Es 41:4  43:10).  Và Ngài rất có quyền năng đến nỗi Ngài có thể làm cho ‘sống’ sau khi Ngài đã ‘giết’ (Os 6:1).  Điều này có ý nói đến cuộc hồi hương của những người Do-thái lưu vong sau thời kỳ bị lưu đày (so với Phu 30:3-5).  Trong ý nghĩa sâu xa hơn, việc này cũng ám chỉ sự phục sinh của Đức Chúa Giê-xu Christ, và Đức Chúa Trời cũng làm cho những kẻ được cứu chuộc được sống lại với Ngài, thoát khỏi sự chết của tội lỗi để bước vào sự sống mới với Ngài trong thời kỳ mới (Eph 2:1-7).  Bài ca đang đắm chìm trong giai điệu u sầu bỗng kết thúc bằng tiếng reo mừng ca ngợi Đức Chúa Trời, vì Ngài là Đấng có quyền năng, rồi đây đến cuối cùng Ngài sẽ cứu dân của Ngài thoát khỏi tội lỗi của họ.

Phu 32:1-43, xem giải nghĩa Phu 31:30

3. Môi-se được chuẩn bị cho sự qua đời (Phu 32:44-52)

Cuối cùng Môi-se kêu gọi dân sự tiếp nhận một cách nghiêm túc những lời ông đã nói với họ (không chỉ là bài ca) và nhắc họ nhớ rằng những lời đó là lời của sự sống (Phu 4:1).  Bây giờ ông sắp sửa qua đời.  Chúa bảo ông lên núi Nê-bô, từ đỉnh núi ông sẽ nhìn bao quát vùng đất mà trọn đời ông đã hướng đến, nhưng đau lòng là ông không được đặt chân vào.  Một lần nữa lý do của việc này cũng được nhắc lại (51  Dan 20:10-13).

4. Môi-se chúc phước cho dân sự (Phu 33:1-29)

(Phu 33:1-5).  Lời chúc phước mở đầu  Trước khi qua đời, Môi-se chúc phước cho các chi phái Y-sơ-ra-ên.  Cũng giống như cách Gia-cốp chúc phước cho các con trai của ông (là những tổ phụ của các chi phái) vào lúc cuối đời (Sa 49:1-33).  Y-sác cũng chúc phước cho Gia-cốp và Ê-sau (27:27-29,39-40).  Việc này đúng là đặc quyền của người cha.  Ở đây Môi-se cũng có thể được xem như ‘người cha’ của dân Y-sơ-ra-ên theo nghĩa bóng.  Dù sao đi nữa, ông là người của Đức Chúa Trời nên ông có thẩm quyền đặc biệt để chúc phước cho dân sự (1, so với tựa đề của Thi Thiên 90), một danh xưng thường được dùng cho các tiên tri (IVua 17:18), trong số đó Môi-se là người cao siêu hơn cả.

Lời chúc phước này mở đầu và kết thúc bằng hai phần ngắn (2-5,26-29) ca ngợi Đức Chúa Trời và đặc biệt chú trọng đến cuộc giải phóng khỏi Ai Cập.  Bắt đầu từ điểm nói đến ‘sự đến’ của Chúa ở núi Si-na-i, nơi ban bố luật pháp (trong sách Phục Truyền thường gọi là núi Hô-rếp), và cũng đề cập đến những địa danh trên đường đi trong đồng vắng (2).  Ý niệm về tình yêu thương của Chúa đối với dân sự (3) thuộc trong giáo lý về sự lựa chọn (chú ý đến sự tương quan mật thiết giữa sự tuyển chọn và tình yêu thương trong Phu 7:6-7).  Mối quan hệ của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên được đánh dấu bằng sự ban cho luật pháp qua Môi-se (4), và hai điều này - sự giải cứu dân sự ra khỏi tình trạng nô lệ ở Ai Cập một cách đầy quyền năng và sự ban luật pháp - minh chứng Chúa là vua của Y-sơ-ra-ên (5 xem phần bình giải của chương 17:14-20).

Môi-se được nói đến trong ngôi thứ ba (4) gây ra một vấn đề khó nếu chủ trương rằng đoạn này là lời của ông.  Có đề nghị cho rằng các c.3b-5 là lời đối đáp của dân sự đối với lời mở đầu của Môi-se dẫn trước phước hạnh (P.C. Craigie, The Book of Deuteronomy - Eerdmans, 1976 - trang 392).  Tuy nhiên việc Môi-se viết về chính mình bằng ngôi thứ ba cũng không phải là điều không thể có được nếu xem sách này xuất phát từ một thẩm quyền vượt quá quyền hạn của Môi-se và nếu xem rằng đây là những câu phải ghi nhớ và phải nhắc lại hoài giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên.

(Phu 33:6). Lời chúc phước cho Ru-bên  Lời chúc phước ngắn gọn cho Ru-bên chỉ là một lời cầu nguyện cho chi phái này tiếp tục tồn tại.  Trong ánh sáng của Sa 49:4 thì được tồn tại không phải là chuyện nhỏ đối với Ru-bên.  Là một chi phái, Ru-bên không có hoặc có lẽ chẳng bao giờ có ưu thế của người con trưởng nam.

(Phu 33:7). Lời chúc phước cho Giu-đa  Coi như lời chúc phước này là lời cầu nguyện cho họ được an toàn trong chiến trận và cho họ cứ tin cậy Chúa để được chiến thắng.  Rõ ràng lời chúc phước của Môi-se không có ý đưa Giu-đa lên vị trí hàng đầu như kiểu lời chúc phước của Gia-cốp (49:8-12).

(Phu 33:8-11). Lời chúc phước cho -vi  Lời chúc phước này phản ánh sự lựa chọn chi phái Lê-vi để cung cấp thầy tế lễ (Phu 10:8-9) cho dân Y-sơ-ra-ên.  Thu-mim và U-rim (thường U-rim được nhắc đến trước, Xu 28:30) là phương tiện để cầu hỏi Đức Chúa Trời về một số vấn đề đặc biệt.  Việc ‘thử’ chi phái Lê-vi tại Ma-sa và Mê-ri-ba không có chép trong các sách Ngũ Kinh trừ phi chúng ta chủ trương Môi-se đại diện cho chi phái này trong vụ việc trên (19:1-7).  C.9 công nhận chi phái Lê-vi tận tâm tận lực vì Chúa, biểu thị lòng trung tín với Chúa cách mạnh hơn tình bà con ruột thịt trong gia tộc.  Có lẽ đây là một đặc điểm chung của toàn thể người Lê-vi vì người Lê-vi được biệt riêng cho công tác tế lễ, thờ phượng và như vậy là họ không có lãnh thổ riêng của chi phái (Phu 18:2).  Tuy nhiên có thể câu này nhắc lại trường hợp cụ thể đặc biệt về lòng hăng hái của người Lê-vi sau vụ tượng con bò bằng vàng (Xu 32:25-29).  Là chi phái thầy tế lễ, chi phái Lê-vi có trách nhiệm đặc biệt là thường xuyên giảng dạy luật pháp.  Bản luật pháp đã được giao thác cho họ bảo quản, lưu giữ chung với hòm giao ước (Phu 31:9,25).  Ngoài ra, họ có nhiệm vụ giám sát và tổ chức sự dâng của lễ thờ phượng thường xuyên của dân sự.  Lời chúc phước cho chi phái Lê-vi là lời cầu nguyện cho họ có khả năng và được bảo vệ để hoàn thành nhiệm vụ trọng yếu của họ.

(Phu 33:12).  Lời chúc phước cho chi phái Bên-gia-min  Lời chúc phước này mô tả Bên-gia-min là người được Đức Chúa Trời yêu thương, có lẽ phản ảnh tình yêu thương của Gia-cốp đối với Bên-gia-min.  Câu Chúa lập nơi ở Ngài giữa hai vai người ám chỉ đến vị trí của Giê-ru-sa-lem nằm trong lãnh thổ của chi phái này (so với Gios 15:8  18:28).  Có thể hiểu hai vai là những rặng núi.

(Phu 33:13-17). Lời chúc phước cho chi phái Giô-sép  Đây là lời chúc phước ăm ắp tình cảm nhất trong những lời chúc phước, trên hết là lời cầu nguyện cho dân số của chi phái Giô-sép được đông đúc.  Nội dung những câu thơ này cầu xin đủ loại phước đến từ cõi thiên nhiên.  C.13 đề cập đến tầm quan trọng của sương móc là phương tiện thuỷ lợi tự nhiên của Y-sơ-ra-ên.  Cũng trong tính cách thi ca, câu này đề cập đến niềm tin cổ xưa rằng trái đất này được nuôi dưỡng bằng những nguồn nước ngầm dưới lòng đất.  Trong thực tế, chi phái Giô-sép trở thành hai chi phái mang tên hai con trai của ông là Ép-ra-im và Ma-na-se (17).  Địa phận của họ là một vùng rộng lớn ở trung tâm Y-sơ-ra-ên, phía đông sông Giô-đanh, bao gồm vùng đất màu mỡ nhất xứ.  Điểm nổi bật trong lời chúc phước của Gia-cốp dành cho chi phái này là sự thịnh vượng (Sa 49:22).  Cuối cùng lời chúc phước này mô tả chi phái này có năng lực trong chiến trận và có số dân đông đúc (17).

(Phu 33:18-19). Lời chúc phước cho Sa-bu-lôn Y-sa-ca  Lãnh thổ của hai chi phái này nằm giữa Địa Trung Hải và biển Ga-li-lê.  Các bản đồ chi phái dựa trên sự phân chia trong sách Giô-suê cho thấy rằng cả hai lãnh thổ này đều không giáp Địa Trung Hải, còn lãnh thổ Y-sa-ca cũng chẳng đụng tới biển Ga-li-lê.  Nếu căn cứ theo những dữ kiện trong sách Giô-suê mà thôi thì khó lòng vẽ cho chính xác đường ranh của các lãnh thổ, và dĩ nhiên những đường ranh này cũng thay đổi theo thời kỳ (so với 49:13).  Dầu sao, lời chúc phước này mường tượng hai chi phái đó được thịnh vượng nhờ biển, có lẽ trong lãnh vực ngư nghiệp và thương mại (19b).  Lời chúc phước cũng cho thấy rằng hai chi phái này có lòng biết ơn Đức Chúa Trời một cách đúng đắn, vì mọi phước hạnh đều từ Ngài mà có.  Ngọn núi (19) có lẽ là núi Tha-bô (so với Cac 4:6).

(Phu 33:20-21). Lời chúc phước cho Gát. Lãnh thổ của Gát nằm ở phía đông sông Giô-đanh, trong một vùng đất tốt và màu mỡ.  Câu mở đầu có lẽ nên đọc là ‘Phước hạnh thay cho lãnh thổ rộng lớn của Gát’.  Câu Người đã chọn cho mình phần đất tốt nhất hẳn không có ý nói rằng họ đã giành lấy phần tốt nhất.  Câu chuyện về sự chinh phục xứ không để lộ điều này (Phu 3:12-16).  Điểm chính là phần đất đó rất tốt.  Lời ám chỉ đến sự hăng hái của chi phái Gát có lẽ nói đến vai trò cao quí mà họ sẽ thực hiện khi chinh phục xứ (Gios 22:1-6).

(Phu 33:22).  Lời chúc phước cho Đan  Lời chúc ngắn gọn này gợi ra một tiềm năng lớn lao dành cho Đan trong tương lai.  Câu từ Ba-san nhảy xông đến là câu hơi khác thường vì Đan chẳng bao giờ chiếm lĩnh vùng lãnh thổ đó.  Có lẽ câu này nhắm tiếp tục mô tả hình ảnh con sư tử tơ ở câu trên.  Như vậy nên dùng một từ khác chớ không phải Ba-san khi dịch từ này trong nguyên bản, ‘con rắn’, với kết quả là ‘(Đan) lẩn tránh con rắn’, một chi tiết gợi ý về tánh nhút nhát (so với Sa 49:17).

(Phu 33:23) Lời chúc phước cho Nép-ta-li  Lời chúc phước ngắn gọn cho Nép-ta-li chỉ liên quan đến phạm vi đất đai của họ.  Hồ ở đây là biển Ga-li-lê.  Có lẽ lãnh thổ của người Nép-ta-li lan tới tận phía bắc hồ này, nhưng vùng phía nam ở ven hồ là vùng màu mỡ nhất.

(Phu 33:24-25).  Lời chúc phước cho A-se  Dầu trong lời chúc phước cho A-se là dầu ô-liu, dầu này có giá trị cao trong thời đại Kinh Thánh vì là dầu ăn (Dan 11:8), bổ dưỡng (Mac 6:13), vệ sinh (IISa 12:20).  Các tác giả Kinh Thánh cũng dùng dầu ô-liu biểu tượng cho sự sung túc và vui mừng (Thi 104:15).  Hình ảnh dầm chơn trong dầu là một việc xa hoa gợi ý họ rất giàu có. A-se có hệ thống phòng thủ kiên cố, có lẽ vì họ ở tận vùng viễn bắc, dễ bị quân thù tấn công.

(Phu 33:26-29). Kết luận  Chi phái thứ mười hai là Si-mê-ôn bị bỏ qua.  Thật ra, chi phái Si-mê-ôn không còn là chi phái riêng biệt ngay từ giai đoạn đầu sau cuộc chinh phục xứ, vì dường như họ bị hoà nhập vào chi phái Giu-đa.

Những câu kết thúc lại xoáy vào mục đích của những lời chúc phước.  Đó là cầu nguyện cho dân sự khi họ tiến vào xứ.  Những phước hạnh này thiên về sự giàu có và sức mạnh quân sự - khả năng của dân sự để chiếm cứ và bảo vệ xứ.  Những câu này là chủ đề đầu mối của cả sách.  Khi duyệt lại những chủ đề này, Môi-se tôn vinh Chúa là Đấng không ai sánh được (26).

5. Môi-se qua đời (Phu 34:1-12)

Vâng theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời (Phu 32:48-52), từ đồng bằng Mô-áp, Môi-se leo lên đỉnh núi Nê-bô và phóng tầm mắt nhìn toàn xứ trải rộng ở dưới.  Đã từ lâu - như chúng ta đọc trong phần đầu của sách này (1:37) - ông biết rằng ông sẽ không được đặt chân đến đó.  Tuy vậy Đức Chúa Trời cho phép ông thấy đỉnh điểm của công trình của ông trong suốt cuộc đời.  Ở đây không đòi hỏi chúng ta phải hiểu theo nghĩa đen là Môi-se thấy toàn xứ từ Đan ở tận viễn bắc đến bờ Địa Trung Hải ở viễn tây, và đến Negev, hoặc vùng hoang mạc ở viễn nam.  Tuy nhiên, ở đây đề cập đến toàn cõi lãnh thổ để xác nhận rằng tất cả đất đai ông nhìn thấy đều nằm trong xứ mà Đức Chúa Trời đã hứa.  Đức Chúa Trời hành động thật đúng với lời của Ngài.  Đã đến lúc lời hứa xa xưa dành cho Áp-ra-ham được thành tựu (4, so với Sa 21:1  15:7).

Kinh nghiệm của Môi-se vào lúc này rất cảm động và xót xa không bút nào tả hết được.  Bài tường thuật về sự kiện này và về sự qua đời của Môi-se liền theo sau không cầu kỳ, không uỷ mị (5-8).  Kiềm chế cảm xúc là một cách thích hợp để biểu thị lần cuối sự kính trọng dành cho một trong những nhân vật vĩ đại trong Kinh Thánh.  Sự qua đời của Môi-se không phải là một biến cố bi thảm.  Rõ ràng là như vậy qua lời ghi chú về sự sung sức của ông trong lúc cao tuổi (7) và lời bình luận về ông (10-12).  Ông đã sống trọn cuộc đời trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, trong sự vâng lời và tương giao với Ngài.  Thật vậy, không có người nào hoặc trước hoặc sau ông, hoặc tiên tri hoặc lãnh đạo được như Môi-se cho đến khi xuất hiện một Đấng trên cả tiên tri, đó là Chúa Giê-xu.  Lời ai điếu cuối cùng nói về Môi-se là ông đã trung tín theo Đức Chúa Trời cho đến cuối cuộc đời.

Dân Y-sơ-ra-ên cũng không bị bơ vơ vì thiếu sự giúp đỡ.  Nguồn năng lực thật sự của họ là ở trong Đức Chúa Trời chứ không ở trong nhân vật nào.  Trong cuộc sống thực tế, đương nhiên là phải có tre già măng mọc, quyến luyến quá độ đối với con người thế nào cũng có hại.  Dân Y-sơ-ra-ên vẫn còn có lời của Đức Chúa Trời đã phán qua Môi-se.  Họ cũng có một vị lãnh đạo mới rất xứng đáng là Giô-suê, người có nhiệm vụ dẫn dắt họ bước vào một giai đoạn tiếp theo trong cuộc hành trình vào cuộc sống với Đức Chúa Trời.

Lên đầu trang