LÊ-VI KÝ
1. CÁC QUI ĐỊNH VỀ CỦA LỄ (Le 1:1-7:38)
1. Dẫn nhập. (Le 1:1-2)
Các chỉ dẫn về của lễ trong Lê-vi Ký ăn khớp với văn mạch của các sách khác trong Ngũ Kinh. Đức Chúa Trời chỉ dẫn điều này cho một dân đã nếm trải ân điển cứu chuộc khi Ngài đem họ ra khỏi Ai Cập. Loài người không thể tuân thủ đầy đủ các luật lệ nhằm làm vui lòng thần thánh, đạt được sự cứu rỗi hoặc mua được ân huệ. Đúng hơn, luật lệ nhằm duy trì mối liên hệ đã được Đức Chúa Trời thiết lập bằng sự cứu chuộc bằng cách cung ứng phương cách liên tục xử lý tội lỗi và phục hồi sự tương giao. Những điểm luật pháp dạy về của lễ rất phù hợp với bản năng bao quát hơn nơi con người về của lễ, tức là hiểu biết rằng sự tha thứ và phục hồi sự tương giao đòi hỏi một giá cao chớ không phải rẻ đâu.
Từ ngữ của lễ (qorbàn) là từ phổ thông nhất chỉ các tặng vật và các lễ vật con người dâng cho Đức Chúa Trời (so sánh Mac 7:11). Từ này bao gồm tất cả các lễ vật liệt kê bên dưới. Điểm lưu ý đầu tiên là các con sinh phải bắt từ trong bầy hoặc trong đàn, nghĩa là các thú đồng không được chấp nhận. Có thể vì hai lý do. Thứ nhất, thú đồng không thuộc quyền ai cả, nên người dâng không thể đồng nhất hoá với con vật được. Ngược lại, người dâng có thể đồng nhất hoá với con vật nuôi bắt từ trong bầy hoặc trong đàn. Thứ hai, khi dùng một con vật nuôi trong bầy dâng làm của lễ, người dâng mới thật sự phải trả một giá nào đó. Như Đa-vít đã nhận biết rằng nếu dâng một của lễ mà không tốn kém gì cả thì không còn là của lễ nữa (IISa 24:24). Mặt khác, chúng ta cũng thấy rằng ngay đến người nghèo có thể dâng chim làm của lễ. Vì vậy, giá trị của con sinh không phải là yếu tố quyết định tính cách hữu hiệu của lễ vật.
Cụm từ nếu ai trong các ngươi mang là bất định vì không thấy nói các gia đình Y-sơ-ra-ên bình thường phải dâng bao nhiêu lần trong năm, và mọi trường hợp đều do lòng tự nguyện (ít nhất là đối với ba loại của lễ đầu). Trong vài trường hợp cụ thể, họ buộc phải dâng của lễ chuộc tội và của lễ chuộc sự mắc lỗi, nhưng đối với của lễ thiêu, của lễ chay và của lễ thù ân thì họ tình nguyện đem dâng. Như vậy, Đức Chúa Trời không quan tâm đến giá trị vật chất của sinh tế mà Ngài quan tâm đặt nặng động cơ của người thờ phượng.
Có nhiều khúc Kinh Thánh khác trong Cựu Ước hỗ trợ cho vấn đề này rồi sau chính Chúa Giê-xu cũng nhấn mạnh. Dù Đức Chúa Trời chỉ dẫn dân Y-sơ-ra-ên về cách thức đem của lễ đến dâng cho Ngài, nhưng Ngài vẫn tìm kiếm nhiều điều quan trọng hơn trong mối liên hệ giữa Ngài với con người, nhất là đời sống đạo đức tốt, tấm lòng vâng phục, và công bằng xã hội được đem vào luật giao ước khi họ ra khỏi Ai Cập, thậm chí có trước khi dựng đền tạm, lẫn trước khi ban bố luật dâng lễ vật trong Lê-vi Ký (so sánh ISa 15:22 Thi 50:13 Os 6:6 Am 5:21-24 Mat 5:23 Mac 12:33). Vì thế chúng ta phải đặt Lê-vi Ký vào một bối cảnh rộng lớn hơn tức là toàn bộ sự khải thị trong Kinh Thánh và phần câu chuyện liên hệ gần cận với Lê-vi Ký.
Đức Chúa Trời ban các chỉ thị kế tiếp cho Môi-se để ông truyền lại cho toàn thể dân Y-sơ-ra-ên. Như vậy là thêm một đặc điểm khác trong bảy chương đầu. Trước hết các chỉ dẫn về cách dâng của lễ nhằm giúp đỡ chính những người thờ phượng, tức là dân ‘thường’. Họ là những người đem con sinh đến dâng lễ, giết con sinh rồi đón nhận lời tuyên bố được xá tội rồi mối tương giao với Đức Chúa Trời được phục hồi. Đây là trọng tâm của Le 1:1-6:7. Kế tiếp các chương này là một phần ngắn hơn liệt kê lại các của lễ, nhưng nhấn mạnh đến nhiệm vụ và quyen lợi của các thầy tế lễ. Họ được hưởng một phần trong các của lễ để làm phương tiện sinh sống (6:8 7:38).
2. Của lễ thiêu(Le 1:3-17)
Của lễ thiêu đứng đầu bảng liệt kê các của lễ, có lẽ vì của lễ này được dâng thông thường nhất. Theo Dan 28:1-31 các thầy tế lễ phải dâng của lễ thiêu hằng ngày, cả buổi sáng và buổi chiều. Đây cũng là của lễ trọn vẹn nhất vì phải thiêu toàn bộ con sinh (ngoại trừ da của con vật thuộc về thầy tế lễ Le 7:8). Còn trong các của lễ khác thì thầy tế lễ, hoặc những người thờ phượng, hoặc cả hai phía được phép ăn một phần thịt.
Của lễ thiêu (‘òlâ) có nghĩa là ‘bay lên’ tức là toàn bộ của lễ theo làn khói ‘bay lên’ đến Đức Chúa Trời. Con sinh tế phải là giống đực không tì vết. Các con thú giống đực làm sinh tế có giá trị lớn hơn, mặc dù trong lĩnh vực chăn nuôi chúng bị làm thịt nhiều hơn vì các con cái mới cho sữa và sinh ra thế hệ mới. Các con sinh tế không mắc tì vết gì cả. Chỉ có điều tốt nhất mới xứng với Đức Chúa Trời. Do đó sinh tế phải có giá trị và chất lượng, dù đối với hoàn cảnh của người thờ phượng thì xem ra chỉ là tương đối thôi. Dâng một con vật què quặt là điều sỉ nhục - không phải vì Đức Chúa Trời cần một con vật riêng cho mình, nhưng con vật thể hiện tấm lòng của người thờ phượng - tức là tấm lòng hời hợt, không biết ơn hoặc không tha thiết với Đức Chúa Trời, như thể Ngài không đáng nhận một lễ vật tốt hơn. Đó là điều Ma-la-chi chê trách (Ma 1:6-14).
Các chỉ dẫn về của lễ thiêu gồm có ba phần: gia súc (đàn, 3-9), chiên hoặc dê (bầy, 10-13) và chim (14-17). Tuy nhiên, cả ba phần đều kết thúc với cùng một lời mô tả về lễ vật là mùi thơm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Vấn đề lập lại là giá trị vật chất không đáng kể trong nhãn quan của Đức Chúa Trời. Ngài vui lòng với con chim của người nghèo cũng như Ngài hài lòng với con bò đực của người giàu. Đối với Đức Chúa Trời, điều mà Ngài quan tâm đến là lòng vâng phục. Đó là giá trị thật của việc dâng của lễ chớ không phải là của lễ (so sánh Mi 6:6-8 Os 5:6).
Người thờ phượng phải dẫn con thú đến cửa Hội Mạc. Hội Mạc là cấu trúc bên trong hành lang nằm ở phía tây của đền tạm, trong Hội Mạc có hòm giao ước cùng các món đồ dùng biệt riêng ra thánh và nhất là có Đức Chúa Trời ngự ở đó. Cửa Hội mạc, có lẽ là một chỗ nào đó trong sân gần bàn thờ lớn bằng đồng. Người thờ phượng đem con thú đến với thầy tế lễ và thực hiện một nghi thức đơn giản tỏ ý nguyện dâng một của lễ vừa ý Đức Chúa Trời. Người dâng phải đặt tay mình trên đầu con vật (4), không phải chỉ ấn một cái nhưng phải ấn mạnh hoặc tì tay lên. Chúng ta không biết người dâng cần nói gì khi đặt tay trên đầu con vật. Có thể người ấy xưng tội (như trong Le 5:5 16:21) hoặc theo ý của câu 4b thì người ấy phải cầu nguyện xin chuộc tội. Hoặc có thể lúc đó người thờ phượng tuyên bố với thầy tế lễ và những người khác đang hiện diện về lý do mình dâng của lễ, như chúng ta thấy trong Thi Thiên (Thi 116:1-19).
Không rõ cử chỉ đặt tay có nghĩa gì. Căn cứ vào mạch văn và các trường hợp mà cử chỉ này có ý nghĩa rõ ràng thì cử chỉ đặt tay này có thể bao hàm hai ý nghĩa. Trước hết, đó là một cử chỉ tuyên bố quyền sở hữu và sự đồng nhất hoá. Nên nhớ là quang cảnh đền tạm rất ồn ào và lộn xộn, nhiều người và vật đứng lộn xộn với nhau. Khi người thờ phượng, và đôi khi có cả gia đình nữa, tiếp xúc được với thầy tế lễ, họ cần nói rõ dâng con vật nào và với mục đích gì. Khi đặt tay trên đầu con vật thì người thờ phượng muốn nói rằng: ‘Con vật của chúng tôi đây, chúng tôi dâng vì vài lý do riêng tư - để được tha tội, hoặc tạ ơn, hoặc dâng hiến. Chúng tôi dâng sinh tế này để cầu xin được phước hạnh và thạnh lợi, xin hãy nhận lấy của lễ.
Thứ hai, câu 4 nói rõ là con vật sẽ được nhận làm của lễ chuộc tội thay cho người, nên chắc chắn là cử chỉ đặt tay trên đầu con thú hàm ý con thú đại diện và thay thế, nghĩa là con thú được dâng lên thế cho người thờ phượng. Người dâng đặt tội lỗi của mình trên đầu con thú để cái chết của con thú loại bỏ tội lỗi của mình và tẩy trừ tội lỗi khỏi mình. Như vậy con thú gánh chịu tội lỗi của người dâng và chết thay cho người dâng. Con thú chuộc tội cho người ấy bằng cách đó. Ý nghĩa này thể hiện rõ ràng trong ngày đại lễ chuộc tội của dân tộc, đó là ngày tội lỗi dân được đặt trên đầu một trong những con dê. Trong trường hợp này, con dê không bị giết nhưng bị đuổi đi và ‘mang theo’ tội lỗi của dân sự (Le 16:20-22).
Sau nghi lễ đặt tay và tuyên bố tiếp nhận, thầy tế lễ và người dâng chia nhau thực hiện những nghi thức còn lại. Người dâng phải làm nhiều nhất. Người dâng phải giết con thú, lấy máu và lột da (6, da con thú dâng cho thầy tế lễ, 7:8) chặt xác con thú làm nhiều miếng (6), và rửa sạch các phần dơ bẩn (9), tức là các phần dính đất cát hoặc phân, để thầy tế lễ không bị ô uế khi đụng đến xác con vật. Thầy tế lễ có nhiệm vụ lấy máu, bôi bên hông bàn thờ. Trong các chương sau, Lê-vi Ký giải thích ý nghĩa của việc bôi huyết là dâng sự sống con vật cho Đức Chúa Trời, vì máu tượng trưng cho sự sống, một sự sống giờ đây đã dâng lên qua sự chết (17:10-12). Cuối cùng, thầy tế lễ nhận lấy các miếng thịt do người thờ phượng chặt ra, rồi đặt lên bàn thờ. Rồi người dâng và gia đình mình chứng kiến các miếng thịt được thiêu đốt toàn bộ.
Các nghi thức mà thầy tế lễ và người thờ phượng cùng thực hiện được kể là toả ra mùi thơm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Cụm từ này mô tả theo nghĩa đen là một luồng khói và mùi thơm của luồng khói bay lên trời, dĩ nhiên cụm từ này còn mang nghĩa biểu tượng. Ở đây ngôn từ mô tả theo quan điểm của con người (nghĩa là dùng từ ngữ con người để diễn tả tấm lòng đón nhận của Đức Chúa Trời, như thể một mùi thơm thực sự làm cho Ngài thích thú), nhưng thực sự cụm từ này muốn diễn đạt một vấn đề thần đạo. Của lễ làm hài lòng Đức Chúa Trời và nhờ đó đạt được mục đích mong muốn ấy là chuộc tội lỗi (4).
Chuộc tội (kipper) là vấn đề chính yếu trong các nghi thức liên quan đến huyết (so sánh 17:11). Từ ngữ kipper có thể có hai ý nghĩa. Có thể là rửa sạch, lau chùi và tẩy sạch điều gì đó, cũng có thể có nghĩa là ‘chuộc lại’ để tránh sự hình phạt hoặc tránh án phạt nặng nề (Xu 21:30 IISu 29:24 Ch 6:35 Dan 35:31-33). Xem ra nghĩa thứ nhất có liên quan nhiều hơn đến nghi thức chuộc tội bằng huyết, vì nhờ huyết mà nơi thánh và các đồ dùng được tẩy sạch khỏi sự ô uế (chương 4). Trong một số trường hợp, của lễ chuộc tội và của lễ thiêu được dâng chung với nhau với mục đích chuộc tội và tẩy sạch (Le 14:19). Nhưng một điều chắc chắn là của lễ thiêu chủ yếu có nghĩa là chuộc lại. Của lễ thiêu có công dụng xây cơn giận của Đức Chúa Trời ra chỗ khác hoặc làm Đức Chúa Trời nguôi giận hầu cho người thờ phượng được tha khỏi bị hình phạt về tội của mình. Trong Cựu Ước có nhiều trường hợp hỗ trợ cho ý nghĩa này (Sa 8:21 Cac 13:23 ISa 7:9 IISa 24:25 IISu 29:7-8 Giop 1:5 42:8).
Chúng ta phải thấy mục đích chính của của lễ thiêu là chuộc tội, mặc dù rõ ràng là của lễ này cũng kết hợp với những của lễ khác đặc biệt là của lễ tạ ơn và nhận được phước hạnh đặc biệt cụ thể nào đó hoặc được giải cứu (thí dụ: Exo 8:35) và hứa nguyện vâng phục. Đôi khi những điều này là trọng tâm của các Thi Thiên mà của lễ thiêu là chủ đề (Thi 50:8-15 66:13-15). Tuy nhiên, tác giả Thi Thiên biết rõ rằng dâng của lễ tạ ơn và hứa nguyện vâng phục chỉ có thể dựa trên nền tảng duy nhất là trước đó đã được Đức Chúa Trời tha thứ và ban ân điển.
Của lễ thiêu tượng trưng cho lòng tha thiết đối với giao ước trong Xu 24:3-8, nhưng theo quan điểm của dân sự thì họ biết rõ rằng thực chất của giao ước là tấm lòng sốt sắng vâng phục, chớ không phải là dâng sinh tế (Thi 40:6 ISa 15:22 đưa vấn đề này lên hàng đầu cách rõ ràng). Điều đáng lưu ý là Kinh Thánh Tân Ước chỉ trích dẫn hai câu này là hai câu nói rõ ràng rằng tấm lòng vâng phục có giá trị hơn sinh tế (Mac 12:33 He 10:6-8). Ở cuối phần này chúng ta sẽ xem xét cách Tân Ước ứng dụng những ý nghĩa tượng trưng của của lễ.
3. Của lễ chay (Le 2:1-16)
Của lễ này đơn giản gọi là tặng vật (minhâ). Từ này thường dùng chỉ về các tặng phẩm bày tỏ lòng tôn trọng hoặc kính mến (Sa 32:14 43:11 Cac 6:19 ISa 10:27), lòng biết ơn (Thi 96:8) hoặc bày tỏ lòng trung thành (IISa 8:2 ISu 17:11). Ở đây nói rõ về việc dâng ngũ cốc hoặc hạt. Của lễ chay thường dâng lên chung với của lễ khác, nhất là của lễ thiêu (Dan 15:1-16 28:1-10, cũng qui định rõ là phải dâng rượu mà Lê-vi Ký không nói tới). Tuy nhiên người nghèo khó lòng có con sinh để dâng nên có thể dâng của lễ chay thay cho của lễ thiêu. Trong trường hợp này của lễ chay cũng mang ý nghĩa đại diện và thay thế như của lễ thiêu dâng bằng con sinh.
Chỉ khi nào của lễ là hoa quả đầu mùa (14-16) thì phải dâng hạt ngũ cốc còn nguyên hạt. Trong những trường hợp khác thì phải xay thành bột. Vì thế của lễ dâng lên cho Đức Chúa Trời bao gồm những món do Ngài dựng nên và cung cấp (hạt lúa còn nguyên) và những sản phẩm do con người lao động làm ra. Cho nên của lễ thiêu biểu thị sự biệt riêng cho Đức Chúa Trời những tặng phẩm do Ngài sáng tạo và những sản phẩm do con người làm ra.
Chương này chia làm ba phần: câu 1-3 đề cập đến bột sống câu 4-10 đề cập đến những của lễ đã nấu chín và câu 11-16 thêm vài chỉ dẫn tổng quát. Trong mỗi trường hợp thành phần chính là bột và dầu. Hương tượng trưng cho sự thánh khiết và sự hiện diện của Đức Chúa Trời cùng tấm lòng sốt sắng dâng lên cho Ngài (Thi 141:2) hoặc tượng trưng cho niềm vui thờ phượng (Ch 27:9), được bỏ thêm vào một phần nhỏ của của lễ được đốt trên bàn thờ (2). Đôi khi dầu tượng trưng cho Thánh Linh của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước (như trong các nghi lễ xức dầu, thí dụ ISa 16:13), nhưng ở đây không thấy vạch rõ ý này. Dầu cũng bày tỏ về sự vui mừng và phước hạnh trong đời sống (Thi 45:7 Tr 9:7 Thi 104:15 23:5) có lẽ dầu và hương thơm trộn chung để biểu thị của lễ là thánh, có giá trị và niềm vui.
Chỉ có một phần nhỏ (một nắm, c.2) trong của lễ chay thực sự được đem thiêu trên bàn thờ. Phần nhỏ này được gọi là để kỷ niệm (‘azkàrâ), nghĩa là ‘nhắc nhở’, nhưng không nói rõ ai nhắc ai nhớ chuyện gì. Một số người cho rằng phần nhỏ thiêu đốt trên bàn thờ là bằng chứng nhắc nhở người dâng biết rằng mọi điều người ấy có là do Đức Chúa Trời (so sánh ISu 29:14). Một số người khác cho rằng phần nhỏ này nhắc Đức Chúa Trời nhớ lại lời hứa giao ước ban phước và bảo vệ dân Ngài, dĩ nhiên kể cả người dâng của lễ này. Có thể ý nghĩa thứ hai phù hợp với phần cuối của câu 2 hơn, vì câu này nói rằng của lễ này là mùi thơm vừa ý Đức Chúa Trời, tương tự như của lễ thiêu.
Sau khi đốt phần nhỏ này, phần còn lại thuộc về thầy tế lễ, dù là bột sống hoặc bánh mì hoặc là các loại bánh (10). Như vậy của lễ chay là nguồn tiếp trợ chính của các thầy tế lễ vì họ không có đất riêng, nên họ không có phương tiện gieo trồng mùa màng. Đây là phần rất thánh vì để riêng cho các thầy tế lễ. Nói cách khác, phần này chỉ là bột hoặc ổ bánh thông thường, nhưng đã được biệt riêng khác hẳn những thức ăn hằng ngày của gia đình. Phần này dành cho tôi tớ của Đức Chúa Trời. ‘Thánh khiết’ không có nghĩa là kỳ ảo hoặc sùng đạo, thánh khiết nghĩa là được biệt riêng. Ý nghĩa này càng sáng tỏ hơn trong các chương sau, nhất là trong khi có đạo đức và thực hành. Có thể làm chín bột bằng nhiều cách trước khi dâng (4-10). Có thể nướng trong lò (4) hoặc trên tấm vỉ (5) hoặc chiên trong chảo (7). Dĩ nhiên là các thầy tế lễ thích các món ăn nấu nướng dưới nhiều dạng.
Cuối cùng là một số chỉ dẫn về các chất liệu cấm dùng hoặc được phép dùng. Không được dâng của lễ chay có men hoặc mật ong (11), nhưng phải luôn luôn có muối (13). Bản văn không cho biết lý do, vì thế chúng ta phải thận trọng khi suy luận. Có thể dâng men và mật ong là hoa quả đầu mùa (Le 23:17 IISu 31:5). Vì thế lý do cấm đoán không phải vì hai thứ này tự nó là ô uế. Có thể men và mật ong đều được dùng trong quá trình lên men, do đó chúng biểu tượng cho sự hư nát. Quan điểm này càng vững vàng vì có mệnh lệnh phải cho thêm muối vào. Đời xưa muối là chất dùng để bảo quản thức ăn. Muối không chỉ tượng trưng cho việc ngăn chặn tình trạng thối rữa, mà còn duy trì cho thức ăn còn tốt lâu dài. Quan điểm này phù hợp với các lời hứa giao ước trong Dan 18:19 IISu 13:5. Vì ở đây muối có liên quan đến của lễ dâng bằng hoa quả thu hoạch được nên sử dụng muối là nhắc lại lời giao ước của Đức Chúa Trời hứa với Nô-ê là Ngài không huỷ diệt vật thọ tạo nữa (Sa 8:20-22). Sự ứng dụng ý nghĩa của của lễ chay đối với các Cơ Đốc nhân, xin xem ở cuối phần này.
4. Của lễ thù ân (Le 3:1-17)
Theo tiếng Hi Bá Lai, của lễ chay (selàmim) bắt nguồn từ tiếng salèm, nghĩa là ‘hoàn hảo trọn vẹn’, vì thế tên của lễ liên quan đến từ sàlôm, nghĩa là trọn vẹn, hạnh phúc và bình an. Chúng ta không biết chính xác nghĩa của tên gọi của lễ này. Nhiều người vẫn cho rằng đây là ‘của lễ’ cầu hoà (bản RSV) và mục đích dâng của lễ này là thiết lập hoặc duy trì sự hoà bình, nghĩa là thiết lập mối liên hệ tốt giữa người thờ phượng với Đức Chúa Trời. Của lễ thù ân (theo bản NIV, GNB, so sánh với bản NEB gọi là ‘của lễ chia phần’) nghiêng nặng về mối liên hệ tốt giữa những người dâng và bữa tiệc sau khi dâng của lễ.
Chương Le 7:11-18 liệt kê các lý do riêng tư khiến người ta dâng của lễ thù ân: tạ ơn, làm trọn lời hứa nguyện hoặc dâng lên vì lòng tự nguyện (thí dụ ISa 1:1-36). Các lý do chung của dân tộc dâng của lễ này là thiết lập hoặc tái lập giao ước (Xu 24:5 Phu 27:7), xức dầu cho vua (ISa 11:15) và khánh thành đền thờ (IVua 8:63-66). Trong buổi lễ khánh thành đền thờ, số súc vật do Sa-lô-môn dâng không phải để gây ấn tượng với Đức Chúa Trời, nhưng để có đủ thịt để khoản đãi dân chúng một bữa tiệc thịnh soạn mừng lễ.
Chương này được chia làm ba phần tuỳ theo loại thú vật dâng hiến: gia súc (1-5), chiên (6-11) hoặc dê (12-17). Nghi thức dâng lễ tương tự với nghi thức dâng của lễ thiêu (Le 1:3-17), chỉ khác của lễ thiêu mấy điểm chính là trước tiên có thể đem dâng con thú đực hoặc cái (không tì vết), thứ hai, chỉ thiêu trên bàn thờ những bộ phận có mỡ (nghĩa là mỡ, thận, mỡ ở gan và mỡ ở đuôi, c.3,9,15).
Thịt được chia làm hai, thầy tế lễ hưởng phần ức và đùi phải (7:28-34) còn gia đình người dâng hưởng phần còn lại. Vì thế đối với thầy tế lễ, của lễ thù ân là nguồn cung cấp chất đạm chính cho chế độ ăn uống của họ. Đối với người thờ phượng thì đây là cơ hội liên hoan tiệc tùng vui vẻ trước mặt Đức Chúa Trời vì đây là bữa tiệc thân mật (Phu 12:7,12,19). Vì của lễ thù ân là một bữa tiệc có nhiều người tham dự nên luật không ấn định dâng chim làm của lễ vì không có con chim nào đủ thịt cho cả gia đình ăn. Chúng ta có thể hiểu rằng những người quá nghèo không dâng nổi của lễ thù ân có thể được mời cùng chung với gia đình khác trong cộng đồng, mặc dù ở đây không nói đến điều này (chỉ ngụ ý trong Phu 12:1-32). Không thấy giải thích gì về việc cấm ăn mỡ, thay vào đó phải dâng cho Đức Chúa Trời qua ngọn lửa cũng như huyết phải dâng cho Đức Chúa Trời (Le 17:10-12). Tuy nhiên, mỡ tượng trưng cho điều tốt đẹp nhất và giàu có nhất (Sa 45:18 Thi 81:16 trong Thi Thiên này bản NIV dịch là ‘ngũ cốc’, còn bản tiếng Hi Bá Lai theo nghĩa đen là ‘mỡ’, trong Thi 63:5, bản NIV dịch là ‘thức ăn bổ nhất’, còn tiếng Hi Bá Lai viết là ‘tuỷ và mỡ’), như vậy vấn đề ở đây có lẽ là phần tốt nhất của con vật phải dâng cho Đức Chúa Trời. Còn theo chế độ dinh dưỡng hiện nay thì câu 17 cấm ăn mỡ và huyết được chấp nhận là vì sức khỏe con người, nhưng dĩ nhiên là người Y-sơ-ra-ên không biết lý do này. Nhưng Đức Chúa Trời dựng nên thân thể chúng ta không phải là không biết, nhưng những điều luật cấm như thế vẫn có thể khiến chúng ta cảm phục.
5. Của lễ chuộc tội (Le 4:1-5:13)
Hai của lễ tiếp theo khác với ba của lễ đầu. Theo quan điểm của người thờ phượng thì các của lễ đầu là do tự nguyện và chắc chắn của lễ thù ân thỉnh thoảng mới có dâng lên do lòng tự nguyện, nhưng của lễ chuộc tội và của lễ chuộc sự mắc lỗi có tính cách bắt buộc trong một số trường hợp ấn định. Khác biệt thứ hai là những chỉ dẫn về của lễ thiêu và của lễ thù ân được sắp theo loại thú vật dâng lên làm của lễ, còn những chỉ dẫn về của lễ chuộc tội được sắp tuỳ theo tình trạng và mức độ phạm tội của người dâng.
Phần chính yếu của chương 4 viết về nơi rảy huyết con sinh. Nếu chuộc tội cho thầy tế lễ (3-12) hoặc cho toàn thể hội chúng (3-21) thì phải rảy huyết trong nơi thánh, trong Hội Mạc. Nếu chuộc tội cho quan trưởng (22-26) hoặc dân thường (27-35) thì phải rảy huyết trên bàn thờ chính bên ngoài Hội Mạc. Kế đến là chương Le 5:1-4 đưa ra một số trường hợp cụ thể về những tội vô ý (hoặc chểnh mảng) khiến cho đương sự cảm thấy có tội và đến dâng một của lễ chuộc tội. Cuối cùng, chương 5:5-13 đưa ra vài sinh tế khác thay thế để người nghèo nhất có cơ hội tiếp nhận sự thanh tẩy tội
xông hương (30:1-10). Các sừng bàn thờ có hình thẳng đứng gắn trên mặt bàn thờ ở bốn góc. Phần huyết còn lại được đổ dưới chân bàn thờ chính ở bên ngoài. Phần có mỡ được thiêu đốt trên bàn thờ (như của lễ thù ân, 8-10) nhưng các phần còn lại phải đốt bên ngoài trại quân (11-12). Sinh tế này dâng vì tội lỗi của thầy tế lễ, cũng gián tiếp vì dân sự, cho nên cả thầy tế lễ lẫn dân sự, chẳng ai được phép ăn sinh tế.
(Le 4:13-21). Trường hợp toàn thể dân sự phạm tội. Có hai từ khác nhau chỉ về cộng đồng. Từ thứ nhất là ‘èdâ, có thể có nghĩa là một nhóm trưởng lão đại diện cho luật pháp và xã hội. Từ thứ hai là q³h³l, có thể nghĩa là một cộng đồng lớn hơn hội họp lại để thờ phượng. Chưa thể định nghĩa chính xác về các từ ngữ này. Nhưng ở đây qui định rằng khi sự vi phạm (có lẽ căn cứ theo luật pháp hoặc do cộng đồng khác phán quyết) sau này mới lỗi bằng cách dâng của lễ chuộc tội.
(Le 4:1-2). Mục đích của lễ chuộc tội. Cụm từ khi có người vô tình phạm tội (1) dùng hai từ quan trọng chi phối chương này. Trước hết, từ chỉ về ‘tội lỗi’ ở đây (hatà‘) nghĩa là ‘thất bại, hỏng, hoặc sai lầm’. Tên của lễ vật trong chương này bắt nguồn từ động từ đặt nặng ý nghĩa ‘xoá bỏ tội lỗi, tẩy sạch tội lỗi. Của lễ này được gọi là hattà‘t thường được dịch là ‘của lễ chuộc tội’. Nhưng mục đích của lễ không phải giải quyết chính tội lỗi (dù của lễ có mang khía cạnh như huyết của các sinh tế) mà tẩy sạch các ảnh hưởng của tội lỗi, tức là tẩy sạch sự ô uế hoặc nhơ bẩn do tội lỗi gây ra. Trong khi của lễ thiêu là sinh tế chuộc tội nhằm làm nguôi cơn giận của Đức Chúa Trời, thì của lễ này chủ yếu nhằm tẩy sạch nơi thánh và bàn thờ ngõ hầu Đức Chúa Trời tiếp tục cư ngụ giữa dân Ngài. Đức Chúa Trời không thể cư ngụ giữa tình trạng nhơ bẩn, cho nên của lễ này nhằm tẩy sạch nơi ở của Ngài. Do đó một số học giả dịch là ‘của lễ thanh tẩy’.
Thứ hai, từ vô ý (bisegàgâ) bắt nguồn từ ngữ căn có nghĩa là ‘đi vơ vẩn’ như con chiên. Vì thế trong suốt chương, từ này được dùng để chỉ về những tội không bắt nguồn từ những hành vi cố ý chống nghịch hoặc coi thường Đức Chúa Trời nhưng bắt nguồn từ sự yếu đuối và thất bại trong đời sống hàng ngày. Tội này có thể là do vô ý, tình cờ không chủ tâm. Luật pháp Hi Bá Lai phân biệt rõ ràng giữa vô tình vi phạm và cố ý vi phạm. Luật pháp này dùng cụm từ ‘thẳng tay phạm tội’ để mô tả hành vi có toan tính trước và chủ tâm pham tội ác. Theo luật pháp, các sự vi phạm này phải bị nghiêm trị nặng nề (sự phân biệt giữa cố ý và vô ý phạm tội được trình bày làm thí dụ cụ thể rõ ràng nhất trong Dan 35:1-34) và trong hệ thống dâng sinh tế thì không có sinh tế nào chuộc các tội cố ý như vậy (15:27-31).
Của lễ chuộc tội cũng được sử dụng nhằm tẩy sạch người ô uế theo nghi thức không phải vì tội lỗi. Thí dụ trường hợp phụ nữ sau khi sanh nở (Le 12:6-8) hoặc mắc bệnh da liễu (14:19) hoặc bị bệnh bạch-trược (15:15). Nói chung, của lễ này dẫn đến hiệu quả tẩy sạch, nhưng khác với sự tha thứ dù có liên hệ với sự tha thứ (15:31).
(Le 4:3-12). Trường hợp thầy tế lễ thượng phẩm phạm tội. Theo mạch văn thì cụm từ thầy tế lễ được xức dầu hầu như ám chỉ thầy tế lễ thượng phẩm (so sánh Dan 35:25). Vì chức phận của thầy tế lễ là người đại diện, cho nên khi ông phạm tội thì toàn thể dân sự bị ô uế vì tội lỗi của ông. Ông nắm vai trò hết sức quan trọng, cho nên của lễ thanh tẩy tội lỗi của ông đắt giá nhất trong các của lễ - ông phải dâng một con bò đực. Vì ông sống và làm việc trước mặt Đức Chúa Trời và trong nơi thánh, nên tội lỗi của ông cũng làm ô uế nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời. Vì thế phải thực hiện sư tẩy sạch bên trong Hội Mạc.
Khi đem con bò đến, thầy tế lễ can tội phải đặt tay trên đầu nó (4) y như những người thờ phượng thường làm khi họ đem sinh vật đến với thầy tế lễ để dâng làm của lễ. Ý nghĩa của sinh tế cũng tương tự như nhau. Con bò đực mang lấy tội lỗi của ông. Nó chết thay cho ông. Huyết của con bò đổ ra thế cho mạng sống của thầy tế lễ sẽ tẩy sạch nơi ông phụng sự và cất bỏ sự đe doạ khỏi dân sự mà ông đại diện.
Cách rảy huyết ở đây (5-7) khác với cách rảy huyết các sinh tế khác. Huyết của của lễ thù ân và của lễ thiêu được bôi vào bàn thờ nhằm chuộc tội cho người thờ phượng. Nhưng ở đây, một phần huyết được đựng trong chậu rồi mang vào Hội Mạc, nhưng không đem vào nơi chí thánh (chỉ đến ngày Lễ Chuộc Tội mới được đem huyết vào nơi thánh Le 16:1-34). Tại đây một ít huyết được rảy trên bức màn ngăn đền tạm làm hai phần và che phủ sự hiện diện rất thánh của Đức Chúa Trơi (Xu 26:31-37) và một ít huyết được rảy trên sừng bàn thờ lộ ra, và khi cộng đồng thờ phượng nhận ra việc đó và cảm thấy đó là tội lỗi, thì họ phải dâng của lễ chuộc tội. Các cụm từ họ can tội, người ấy can tội (13,22,27) nên dịch là ‘cảm thấy tội lỗi’ thì tốt hơn. Rõ ràng là bất cứ người nào làm điều Đức Chúa Trời cấm là can tội. Tuy nhiên vấn đề ở đây là lúc đầu họ không nhận thức đó là tội lỗi. Vì thế chỉ khi nào họ nhận ra lỗi lầm của mình rồi cảm thấy có tội thì bắt buộc họ phải dâng của lễ chuộc tội. Các vị trưởng lão (15) là đại diện của cộng đồng trong mọi lãnh vực của đời sống của dân Y-sơ-ra-ên (so sánh Xu 24:1,9 Dan 11:16).
Nghi thức dâng sinh tế chuộc tội cho cộng đồng tương tự như nghi thức chuộc tội cho thầy tế lễ thượng phẩm. Một mặt nghi thức này xác nhận thầy tế lễ thượng phẩm đại diện cho toàn thể dân sự, như chúng ta thấy ở trên. Mặt khác, nghi thức này chứng tỏ toàn thể Y-sơ-ra-ên cũng được xem là tầng lớp thầy tế lễ. Như vậy, buộc họ cũng phải thánh khiết và trong sạch, dù họ vô tình phạm tội, tội của họ cũng làm cho nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời bị ô uế. Trong thời xưa hoặc thời nay, tính cách nghiêm trọng của tội lỗi do dân sự của Đức Chúa Trời phạm một phần là vì tội đó phá huỷ sự làm chứng giữa họ với thế giới về Đức Chúa Trời hằng sống. Nếu toàn thể Hội Thánh lầm lạc thì thể nào các dân tộc nhìn thấy nơi ngự của Đức Chúa Trời được?
Trong hai trường hợp kế tiếp ít nghiêm trọng hơn thì không rảy huyết bên trong Hội Mạc, nhưng bôi trên sừng của bàn thờ dâng của lễ ở sân ngoài. Con sinh cung không đắt giá bằng con bò đực phải dâng vì thầy tế lễ thượng phẩm hoặc vì toàn thể cộng đồng.. Điểm khác biệt chính giữa hai trường hợp đầu và hai trường hợp sau là không phải thiêu toàn thể xác con vật ngoài trại quân. Sau khi dâng mỡ, các thầy tế lễ được phép ăn thịt còn lại (Le 6:24-30) nhưng những người thờ phượng không được ăn.
(Le 4:22-26). Trường hợp quan trưởng phạm tội. Quan trưởng (nàsi’) là từ thường dùng để chỉ về giới cầm quyền trong Y-sơ-ra-ên trước khi họ có vua. Từ này chỉ về những người trưởng các chi họ hoặc các chi-phái. Đây là một địa vị đầy vinh hạnh nhưng lắm trách nhiệm, đồng thời được luật pháp bảo vệ kỹ (so sánh Xu 22:28). Trong trường hợp này sinh tế là một con dê đực.
(Le 4:27-35). Trường hợp thường dân phạm tội. (Le 4:27-5:13) Trong các trường hợp này, sinh tế đúng qui định là con dê cái hoặc con chiên cái. Đối với những người nghèo hơn, họ có thể dâng chim và của lễ chay.
Vì chỉ có thầy tế lễ được phép ăn thịt của lễ chuộc tội của thường dân dâng lên, nên của lễ này là nguồn cung cấp thịt cho họ, y như của lễ chay là nguồn cung cấp ngũ cốc. Đây là điều Ô-sê ngụ ý khi ông tố cáo các thầy tế lễ trong thời của ông nuôi mình ‘bằng tội lỗi của dân sự’ (Os 4:8). Vì từ chỉ về tội lỗi và của lễ chuộc tội là một, nên các thầy tế lễ có câu nói chơi chữ như sau: ‘tội lỗi càng nhiều thì càng có nhiều thịt cho chúng ta’.
(Le 5:1-4). Các trường hợp vi phạm điển hình. Những câu này liệt kê ba trường hợp vi phạm điển hình mà người vi phạm phải dâng của lễ chuộc tội. Trước hết, không chịu làm chứng cho một vụ tranh chấp mà mình có bằng chứng cụ thể (1). Luật pháp dân Y-sơ-ra-ên rất coi trọng tính cách trung thực cán cân công lý, vì vậy việc làm chứng trung thực cũng được coi trọng đến nỗi được đem vào Mười Điều Răn (Xu 20:16 so sánh 23:1-9 Ch 12:17 14:15 24:28). Cố ý man khai là tội nặng bị trừng trị nặng nề (Phu 19:15-21).
Thứ hai là sự ô uế do tình cờ (3). Sau này chúng ta sẽ thảo luận về sự khác biệt giữa sạch và không sạch trong Cựu Ước. Chúng ta nên lưu ý là mặc dù Tân Ước không áp dụng sự phân biệt này về mặt thuộc thể (Mac 7:1-23 Cong 10:9-16) nhưng các sứ đồ vẫn hết sức khuyến khích các Cơ Đốc nhân phấn đấu để sống trong sạch và tránh bị ô uế về mặt tinh thần lẫn tâm linh (so sánh Gia 1:27).
Thứ ba là hấp tấp thề hứa rồi không thực hiện (4). Cụm từ thiện hay ác bao hàm ‘mọi điều’ (so sánh Es 41:23). Lời nói rất quan trọng, dù nói ra cách bất cẩn. Cho nên không thực hiện một lời hứa hấp tấp của mình cũng là tội cần phải tẩy sạch, nhất là khi nhân danh Đức Chúa Trời mà thề. Các bậc giáo sư thông thái của Y-sơ-ra-ên cảnh cáo rất nhiều về việc lạm dụng lời nói (Ch 6:1-5 12:18 15:2 Tr 5:2-7). Cả Chúa Giê-xu lẫn Gia-cơ đều dạy rằng chúng ta phải thẳng thắn nói ra sự thật, do đó chúng ta không cần phải thề nguyền để củng cố cho lời nói của mình (Mat 5:34-36 Gia 3:5-6).
Người ấy phải thú nhận (5). Ngay cả những tội vì khiếm khuyết, sơ ý, vì vô ý, vì không biết hoặc bất cẩn cũng đều là tội, cần phải xưng ra để được tẩy sạch và chuộc tội. Đối với đa số chúng ta có lẽ phần lớn những tội thường phạm hàng ngày của chúng ta nằm trong loại tội này. Có thể chúng ta không cố tình phản nghịch Đức Chúa Trời và phạm tội, nhưng vì cớ sức ép của cuộc sống và vì cớ bản chất yếu đuối trong chúng ta nên đến chiều tối chúng ta phải thừa nhận rằng: ‘Chúng con đã phạm tội và lầm lạc như bầy chiên đi lạc, chúng con đi theo mưu kế và tư dục của lòng mình, chúng con không làm những điều đáng phải làm và làm những điều không nên làm’.
Đây đúng là hành vi mà phần định nghĩa về của lễ chuộc tội đã vạch ra. Vì thế vấn đề hết sức quan trọng là đừng để cho các thất bại hàng ngày tích tụ lại thành đám mây tội lỗi làm chúng ta lo lắng và ngập chìm trong mặc cảm tội lỗi, mà chúng ta phải xưng ra để được tha thứ. Chúng ta an tâm biết bao khi biết rằng nhờ sự hi sinh của Đấng Christ mà chúng ta được tha thứ cách chắc chắn và có bảo đảm hơn so với dân Y-sơ-ra-ên vì họ chỉ trông cậy vào thầy tế lễ dâng của lễ nơi bàn thờ mà thôi.
(Le 5:7-13). Nếu không dâng nổi. Các câu này liệt kê các sinh tế khác thay thế dành cho những người nghèo trong cộng đồng. Của lễ chay với số lượng rất nhỏ cũng có thể thay thế cho của lễ chuộc tội (11-13). Dù chúng ta không biết chính xác lượng tương đương như thế nào, nhưng có lẽ một phần mười ê-pha tương đương với một lít bột. Của lễ này không dâng thêm dầu và nhũ hương như của lễ chay thường để phân biệt rõ ràng mục đích của của lễ (11). Đúng hơn, bột đem trộn chung với của lễ dâng bằng con sinh đã thiêu trên bàn thờ để chứng tỏ là bột tượng trưng cho huyết sinh tế: Vì đây là của lễ chuộc tội (12).
Việc đưa ra các của lễ khác thay thế là dấu chỉ cho biết điều Đức Chúa Trời mong mỏi nhất không phải là dân sự mang đến cho Ngài những của lễ hậu hĩ, nhưng Ngài muốn họ đơn giản đến tiếp nhận sự tha thứ dư dật của Ngài, bất kể mức độ họ có thể dâng cho Ngài có ít đến đâu, mức bảo đảm về sự chuộc tội và sự tha thứ vẫn không giảm (10,13) vì Ngài căn cứ vào tấm lòng và cuối cùng tất cả mọi sự tha thứ đều đặt căn bản trên sinh tế do các tội nhân đem dâng. Hễ một người biết mình có thể đến với Đức Chúa Trời không mang gì ngoài một chén bột và xưng nhận tội lỗi của mình và vẫn nhận được sự tha thứ thì người đó đã học được đôi điều căn bản về ân điển của Đức Chúa Trời của mình. Ân điển dạy rằng nếu cố tình phạm tội, thì dù là người có quyền thế nhất trong xứ cũng phải biết rằng sinh tế hậu hỉ đến mấy cũng không chi phối được Đức Chúa Trời. Hi vọng duy nhất cho các trường hợp đó là chạy đến ân điển với tấm lòng ăn năn tan vỡ và nài xin tình yêu và lòng thương xót của Đức Chúa Trời tẩy sạch và tha thứ cho (Thi 51:1-2,16-17).
6. Của lễ chuộc sự mắc lỗi. (Le 5:14-6:7)
(Le 5:14-19). Theo truyền thống thì nhiều bản dịch của lễ này, ‘àsàm, là của lễ chuộc tội. Tuy nhiên, tất cả những của lễ có đổ huyết đều liên quan đến việc cất bỏ tội lỗi, nhất là dâng chung với của lễ thiêu. Của lễ này có điểm độc đáo là liên quan đến việc bồi thường hoặc đền bù vì chiếm đoạt tài sản hoặc phạm những lỗi lầm khác liên quan đến vật dụng, tài sản. Vì vậy, một số học giả gọi của lễ này là ‘của lễ bồi thường’. Tương tự như của lễ thù ân, của lễ chuộc sự mắc lỗi chú trọng hậu quả của tội lỗi của một người đối với người khác. Vì lỗi của mình mà gây thiệt hại cho người lân cận, thì đương sự phải bồi thường rồi cầu xin Đức Chúa Trời tha thứ.
Ở đây sử dụng một từ Hi Bá Lai khác chỉ về tội lỗi (ma‘al), dịch là vi phạm (5:15) và bất trung (6:2), nghĩa là làm sứt mẻ lòng tin cậy. Vì vậy từ này rất thoả đáng với những tội liệt kê ở đây. Đương sự can tội thiếu thanh liêm hoặc thiếu chân thật trong những cuộc trao đổi với thầy tế lễ hoặc với người lân cận. Dưới đây là ba loại tội phạm.
Thứ nhất, những vi phạm liên quan đến các vật thánh (5:14-16). Các vật thánh chỉ về những tài sản biệt riêng ra thánh, tức là những món đã dâng hiến cho Đức Chúa Trời hoặc cho các thầy tế lễ sử dụng hoặc dâng cho đền tạm. Như vậy bao gồm tất cả các của lễ, tức là tất cả thức ăn mà các thầy tế lễ nhận từ dân chúng cũng như nhà cửa, tài sản khác thuộc về thầy tế lễ và những của dâng một phần mười (Xu 30:11-16 IIVua 12:16). Luật qui định là dâng của lễ bằng một con cừu rồi phải bồi thường tính theo giá trị của con vật bị lấy cộng thêm một phần năm giá trị của vật đó.
Sự vi phạm thứ hai (Le 5:17-19) được trình bày tổng quát hơn nữa. Theo mạch văn, có thể nghĩa là bất cứ những vi phạm trong các điều răn hoặc làm điều không nên làm đối với nơi thánh, vật thánh, người thánh hoặc người khác. Vấn đề quan hệ ở đây là đương sự không biết mình có phạm tội hay không, tuy nhiên cảm thấy mình có tội. Nếu bị lương tâm cắn rứt và hồ nghi là mình đã xúc phạm các vật thánh, nhưng không thể xác định là đã phạm như thế nào, thì đương sự có thể dâng của lễ chuộc sự mắc lỗi, nhưng không phải bồi thường 120%. Đương sự an tâm vì chắc chắn là được tha thứ rồi (18).
Loại thứ ba (6:1-7) chuyển từ các lãnh vực các vật thánh sang các mối liên hệ giữa con người với nhau và đưa ra các trường hợp vi phạm liên quan đến tội thất tín giữa con người về vấn đề tài sản, gồm có bốn trường hợp (6:2-3): gian dối về tài sản ký thác, ăn cắp, áp bức và tìm được vật bị mất nhưng nói dối không tìm thấy. Một loạt những vụ tranh chấp tương tự cũng có ghi trong Xu 22:7-15 cùng với đường lối giải quyết. Theo luật chép trong Xuất Ê-díp-tô Ký thì phải bồi thường 200% giá trị của đồ vật, chứ không phải 120% như ở đây. Có thể là vì luật pháp chép trong Xuất Ê-díp-tô Ký giải quyết các vụ kiện bị cáo trước toà an và có bằng chứng can phạm, còn trong đoạn văn này đề cập đến trường hợp tự giác thú nhận tội lỗi có dâng sinh tế xứng đáng. Như vậy trong trường hợp này hình phạt giảm nhẹ sẽ khuyến khích dân sự ‘tự thú’ thay vì chờ bị bắt hoặc bị tố cáo và vạch trần tội lỗi.
Điều đáng chú ý là phải bồi thường đầy đủ và cộng thêm một phần năm giá trị trước khi dâng sinh tế. Nếu không bồi thường xứng đáng cho kẻ bị thiệt hại, thì cố gắng tìm kiếm sự tha thứ của Đức Chúa Trời là vô ích. Phải quan tâm giải quyết sự tổn hại gây ra cho con người trước khi giải quyết vấn đề giữa Đức Chúa Trời và con người. Hai chiều tổn hại của loại tội lỗi này đã được đề cập ngay từ đầu chương: Người nào can tội lừa dối kẻ lân cận đồng thời cũng can tội bất trung với Đức Chúa Trời (Le 6:2). Chúa Giê-xu không phải là người thứ nhất nhìn thấy mối liên hệ giữa hai điều răn lớn trong luật pháp (so sánh 19:13,18 Mat 5:23,43 19:19 Ro 13:8-10 Ga 5:14 Gia 2:8).
Như vậy của lễ chuộc sự mắc lỗi kết thúc bản liệt kê các của lễ mà dân Y-sơ-ra-ên và gia đình họ phải mang đến. Cần dừng lại để xem xét những biểu tượng trình bày ở đây. Trong Cựu Ước có nhiều từ nói về tội lỗi để chuyển tải hết các loại tội và diễn tả đầy đủ chiều sâu của nan đề này. Bốn loại của lễ có đổ huyết dùng để giải quyết bốn dạng tội, rõ ràng là có liên quan với nhau và lấn phủ lên nhau. Qua của lễ thiêu, tội nhân được kể là một đối tượng can tội trước mặt Đức Chúa Trời. Của lễ thiêu là của lễ chuộc tội chính, cung ứng sự cứu chuộc, nhờ của lễ này mà Đức Chúa Trời nguôi giận và không trút cơn giận lên tội nhân. Qua của lễ thù ân, tội lỗi là thủ phạm gây ra đổ vỡ và dựng lên rào chắn ngăn cách giữa con người với nhau, dù của lễ này cung ứng sự chuộc tội về phía Đức Chúa Trời, nhưng cũng nhấn mạnh đến nhu cầu và phước hạnh của mối liên hệ được phục hồi và của niềm vui san sẻ với nhau. Qua của lễ chuộc tội, tội lỗi là dơ bẩn và ô uế, chắc chắn xúc phạm đến Đức Chúa Trời. Do đó của lễ này cung ứng sự rửa sạch và thanh tẩy hầu cho Đức Chúa Trời có thể tiếp tục cư ngụ giữa dân sự. Qua của lễ chuộc sự mắc lỗi tội lỗi bị kể là một sự sai lầm hoặc là một món nợ phải trả lại. Do đó phải bồi thường đầy đủ cũng như phải dâng sinh tế. Tất cả những điều này đều là lẽ thật được Tân Ước khẳng định bằng nhiều cách và tiếp tục ảnh hưởng nhiều và lâu dài trên thần học sau khi con sinh cuối cùng đã kết thúc nghi thức dâng của lễ trên bàn thờ Y-sơ-ra-ên từ lâu.
Le 6:1-7; xem giải nghĩa Le 5:14-19
7. Các chỉ dẫn dành cho thầy tế lễ (Le 6:8-7:38)
Thoạt nhìn toàn thể phân đoạn này dường như lập lại các chương trước. Nhưng sự khác biệt nằm trong câu mở đầu: ‘Hãy truyền lịnh này cho A-rôn và các con trai người’ (6:8). Sau đó là các chỉ dẫn dành cho các thầy tế lễ các nhiệm vụ đặc biệt đối với mỗi của lễ và họ được phép hưởng phần nào trong của lễ. Các chương trước chủ yếu hướng dẫn thường dân.
(Le 6:8-13). Của lễ thiêu. Ở đây đưa ra hai vấn đề chính. Thứ nhất, không được để tắt ngọn lửa trên bàn thờ chính. Nhiều lần, nhiều chỗ nhấn mạnh lại yêu cầu này (9,12,13). Ngoài của lễ thiêu dân sự mang đến, chúng ta biết các thầy tế lễ thường xuyên dâng của lễ thiêu buổi sáng và buổi chiều (Xu 29:38-42). Của lễ buổi chiều là của lễ cuối cùng trong ngày, vì thế trách nhiệm của các thầy tế lễ là chia phiên ‘trực ca đêm’ giữ cho ngọn lửa cháy luôn (so sánh ISu 9:33 Thi 134:1).
Không rõ vì sao phải giữ cho ngọn lửa cháy luôn, cho nên xin thận trọng khi tìm hiểu vấn đề này. Chắc chắn ngọn lửa có liên quan đến sự hiện diện của Đức Chúa Trời, vừa bảo vệ hướng dẫn (Xu 13:12) vừa thiêu huỷ tội lỗi và tội nhân (so sánh Le 10:1-3). Do đó ngọn lửa cháy luôn trên bàn thờ tượng trưng cho sự hiện diện thường xuyên liên tục và mãi mãi của Đức Chúa Trời hoặc tượng trưng rằng con người luôn luôn cần đến sự chuộc tội và cần liên tục dâng hiến đời sống của mình hoặc cũng có thể tượng trưng cho cả hai điều này.
Thứ hai, dù làm một công việc tầm thường như hốt dọn tro, thầy tế lễ cũng phải mặc y phục thích hợp. Các thầy tế lễ mặc quần áo vải gai đặc biệt dành cho thầy tế lễ (10). Nhưng khi đem tro bên hông bàn thờ ra ngoài trại quân, họ phải mặc quần áo thường (11). Luật Cựu Ước luôn luôn chú trọng phân biệt đồ thánh và vật thánh. Mọi thứ, mọi chuyện liên quan đến thầy tế lễ và nơi thánh đều đặc biệt khác với thói thường. Sự thể này nhằm liên tục trình bày một bài học qua thị cụ về vấn đề dân Y-sơ-ra-ên la dân thánh khác biệt với thế giới chung quanh. Giê-rê-mi đã áp dụng một phương cách độc đáo để diễn dịch một hình bóng về dân Y-sơ-ra-ên. Lần đó ông bày tỏ rằng Đức Chúa Trời vốn muốn ‘thắt lưng bằng dân Y-sơ-ra-ên như thể thầy tế lễ thắt lưng bằng vải gai để bày tỏ sự vinh quang của Ngài. Nhưng họ đã phạm tội thờ hình tượng đến nỗi họ trở nên dơ bẩn và không thể dùng được nữa (Gie 13:1-11). Một dân tộc thánh khiết xoay ra hoà đồng với thế gian nên đã không thực hiện nhiệm vụ thầy tế lễ của mình mà trở nên ‘hoàn toàn vô dụng’ đối với Đức Chúa Trời chẳng khác gì cái đai lưng mục nát của Giê-rê-mi.
(Le 6:14-23). Của lễ chay. Các thầy tế lễ được quyền ăn của lễ chay do dân sự mang đến sau khi thiêu một phần của lễ để làm kỷ niệm, nhưng họ phải ăn trong sân của đền tạm. Cụm từ đó là vật chí thánh có nghĩa là chỉ thầy tế lễ được phép ăn mà thôi. Luật này cũng áp dụng cho của lễ chuộc tội và của lễ chuộc sự mắc lỗi (Le 6:25 7:6). Nhưng của lễ thù ân thì khác vì gia đình của người dâng của lễ và bạn bè được phép ăn chung với nhau. Các thầy tế lễ cũng phải dâng của lễ chay hàng ngày (19-23) từ ngày họ được phong chức (20) và của lễ này phải thiêu hoàn toàn, không được ăn. Tác giả sách Hê-bơ-rơ nhận thấy của lễ này tương phản với sinh tế cuối cùng, duy nhất là Chúa Giê-xu (He 7:27).
(Le 6:24-30). Của lễ chuộc tội. Sự thánh khiết có đặc điểm là ‘lây lan’. Bất cứ ai ăn hoặc bất cứ vật gì đụng đến vật thánh đều trở nên thánh và phải được xư lý sao cho thích hợp (so sánh Le 6:18). Việc đó khiến con người hoặc đồ vật tiếp cận với Đức Chúa Trời có thể rơi vào một tình cảnh rất nguy hiểm, vì thế hoặc phải rửa sạch các món đó trong một nơi thánh (27) hoặc phải thiêu huỷ đi (28).
(Le 7:1-10). Của lễ chuộc sự mắc lỗi. Phân đoạn này đưa ra nhiều chi tiết về nghi thức dâng của lễ chuộc sự mắc lỗi mà các phân đoạn trước không đề cập tới. Các nghi thức dâng của lễ này tương tự như nghi thức dâng của lễ chuộc tội. Đoạn này cũng nói rõ rằng các thầy tế lễ được quyền hưởng da con vật dâng làm của lễ thiêu (8), cũng như hưởng các của lễ chay khác (9-10).
(Le 7:11-38). Của lễ thù ân. Các c.12-18 phân biệt ba trường hợp có thể dâng của lễ thù ân: để tạ ơn (12) để làm trọn một lời thề hứa, hoặc tự ý muốn dâng (16). Trường hợp thứ nhất có luật lệ riêng (12-15), còn hai trường hợp sau tương tự như nhau (16-18).
Trong các chương sau cụm từ người ấy phải bị truất khỏi xuất hiện nhiều lần hơn và cũng gây ra nhiều cuộc tranh luận. Có lẽ bị truất khỏi không phải là bị cộng đồng xử tử (một cụm từ khác được dùng cho án tử hình). Một số người cho rằng đây là một hình thức tuyệt thông, nghĩa là bị đuổi khỏi cộng đồng thờ phượng. Nhưng so với một vi phạm thì án phạt này có vẻ quá nhẹ (thí dụ chương 20). Cách giải thích có vẻ thích đáng nhất đó là một hình thức rủa-sả của Đức Chúa Trời. Có người vi phạm dưới những hình thức mà khó lòng có ai khám phá ra để lôi ra toà án, nhưng Đức Chúa Trời sẽ trực tiếp xử lý: hoặc là chết, hoặc là hình thức phạt khác. Cụ thể như trong chương 20 chép rằng dù cộng đồng không thể truy tố một số người phạm tội ra trước toà án, nhưng chính Đức Chúa Trời sẽ ‘truất họ ra khỏi’, nghĩa là Ngài trực tiếp xử lý.
Câu 28-36 nói rõ các phần thịt thuộc về thầy tế lễ trong của lễ thù ân đó là ức (30) và đùi phải (33 không nói rõ chân trước hoặc chân sau, có thể là chân trước hoặc vai). Ức được mô tả là của lễ đưa qua đưa lại, nghĩa là thầy tế lễ bưng thịt đưa ngang qua, ngang lại trước bàn thờ, có lẽ cử chỉ này ngụ ý diễn tả rằng đem dâng lên cho Đức Chúa Trời rồi nhận lại. Đùi được mô tả là của lễ đóng góp nghĩa là trao tặng (34). Từ này không được rõ nghĩa và các nhà bình giải Kinh Thánh người Do Thái xưa giải thích từ này có nghĩa là ‘đưa lên’ (so sánh bản KJV) tức là giơ thẳng lên. Tuy nhiên, ngày nay không còn cách nào biết rõ cử chỉ và ý nghĩa của từ này nữa. Điều quan trọng là phần thịt đó thuộc về các thầy tế lễ như là ‘phần được xức dầu’ của họ (35) nghĩa là phần họ hưởng vì được phong chức (được xức dầu, c.36).
Vậy là chúng ta đến phần cuối của tập chỉ về các của lễ dành cho người dâng của lễ và dành cho các thầy tế lễ. Có lẽ chúng ta cảm thấy Kinh Thánh quá phức tạp và câu nệ nghi thức rườm rà. Tuy nhiên, chúng ta cảm thấy như vậy chỉ vì chúng ta hoàn toàn xa lạ với những hình thức đó. Chớ thực ra sau khi so sánh với các nghi thức tế lễ của các nền văn hoá cổ xưa khác thì hệ thống tế lễ của người Y-sơ-ra-ên tương đối đơn giản và dễ hiểu. Các luật lệ mà chúng ta nghiên cứu chú trọng bảo vệ nhân cách và bảo toàn ý nghĩa của biểu tượng. Trong những cuộc tế lễ, lễ hội dễ rơi vào cảnh ồn ào, hỗn loạn. Vì vậy các luật này khá đơn giản, rõ ràng cho các thầy tế lễ và thường dân biết rõ phận sự của mỗi người trong mỗi trường hợp. Sự thờ phượng của các Cơ Đốc nhân cũng cần phải nghiêm trang và trật tự như Phao-lô đã dạy rõ (ICo 11:1-14:40).
Mặt khác, chúng ta cũng nhận thấy có nhiều điều khác biệt trong hệ thống tế lễ của dân Y-sơ-ra-ên. Không có bói khoa, nghĩa là không có đoán điềm tốt xấu bằng cách quan sát bộ lòng của con sinh. Đức Chúa Trời ban cho nhiều cách tốt hơn để biết ý muốn của Ngài (so với Phu 18:9-20). Cũng không có vấn đề dâng con người làm sinh tế, thậm chí cũng không có chuyện tự cắt xẻ thân thể mình và lấy máu người. Hoàn toàn không có hình thức dâm dật, không có tế lễ cho người chết, cũng không có bóng dáng ma thuật huyền bí gì cả.
Món quà duy nhất nhận được từ Đức Chúa Trời là sự tha thứ. Không có chuyện thiên vị hoặc hối lộ thần thánh. Dân sự đem của lễ đến dâng nhằm đáp lại phước hạnh và sự bảo vệ mà Đức Chúa Trời ban cho chớ không để ‘mua’ phước hạnh hoặc sự bảo vệ. Không có vấn đề phân loại của lễ theo số lượng có lợi cho người giàu có và kẻ quyền thế. Ngược lại có điều khoản dự trù cho các người nghèo nhất để họ cũng nhận được sự tha thứ y như các tội nhân khác. Thật vậy chỉ có Y-sơ-ra-ên là nước duy nhất không dâng của lễ cho bậc vua chúa. Cũng như các lãnh vực khác, luật lệ về tế lễ nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân thường. Và các cuộc khảo cứu kinh tế xã hội cho chúng ta thấy nghi thức dâng sinh tế của nước Y-sơ-ra-ên không đòi hỏi một điều gì quá sức một gia đình mức trung bình. Khi dâng của lễ thì họ phải dâng sinh tế tốt nhất, nhưng luật tế lễ không gán cho họ một gánh nặng tôn giáo làm cho cuộc sống của họ bị cùng kiệt hoặc là làm giàu cho tầng lớp có uy quyền trong tôn giáo.
Chú giải. Các của lễ trong Lê-vi Ký, Tân Ước và Cơ Đốc nhân. Chúng ta đã thấy các sinh tế kết hợp mô tả bức tranh toàn diện về hậu quả tội lỗi và cũng thấy các khía cạnh khác nhau trong phương thuốc chữa trị của Đức Chúa Trời. Khi đọc Tân Ước, chúng ta thấy ít khi nêu đích danh các của lễ, nhưng chủ đề về của lễ rất phong phú và đa dạng như trong Cựu Ước, dù là ứng dụng cho công tác của Đấng Christ, hoặc ứng dụng cho chúng ta là những tín đồ thờ phượng. Tất cả các khía cạnh chính yếu đã bàn ở trên đều được Tân Ước nhắc lại.
Của lễ thiêu là của lễ chính đem lại sự chuộc tội và giải toả mặc cảm tội lỗi. Tân Ước mô tả cái chết của Chúa Giê-xu giống như một sinh tế và giải thích của lễ đó là chính Ngài (Mac 10:45 so sánh Ro 3:25 Eph 5:2 IPhi 1:18 IGi 2:1). Tác giả sách Hê-bơ-rơ nhấn mạnh rằng Ngài chết một lần đủ cả, trái ngược với các sinh tế trong Cựu Ước là phải dâng lặp lại mỗi ngày để làm trọn mục đích của các sinh tế đó (He 10:1-18). Vì thế các tín đồ trong Chúa Cứu Thế không cần dâng bất kỳ sinh tế chuộc tội nào, vì Ngài đã dâng chính mình trên thập giá để làm của lễ thiêu cuối cùng.
Của lễ chuộc tội xử lý sự dơ bẩn, ô uế do tội lỗi gây ra bằng cách lấy huyết của sinh tế để tẩy sạch nơi ở của Đức Chúa Trời. Tân Ước cũng nhấn mạnh vào quyền năng tẩy sạch của huyết của Đấng Christ. Huyết của Đấng Christ không chỉ cất bỏ mặc cảm tội lỗi mà còn rửa sạch sự nhơ nhớp của tội lỗi. Sách Hê-bơ-rơ cho thấy huyết Đấng Christ có liên hệ với nơi cư ngụ trên trời của Đức Chúa Trời (10:23) và cũng ứng dụng huyết vào việc tẩy sạch lương tâm tín đồ hầu họ có thể vững tâm đến cùng Đức Chúa Trời (9:11-14 10:19-22). IGiăng cũng nhấn mạnh đến lẽ thật này. Chúa Giê-xu chỉ chết một lần duy nhất, nhưng huyết của Ngài luôn luôn có quyền năng tẩy sạch chúng ta khi chúng ta xưng tội (IGi 1:6-2:2).
Của lễ chuộc sự mắc lỗi nhấn mạnh đến việc sửa lại những hành vi sai trái đối với người khác bằng cách bồi thường xứng đáng để được liên hệ bình thường trở lại với Đức Chúa Trời. Điều này cũng ứng dụng cho Cơ Đốc nhân như chúng ta đã thấy ở trên. Có lẽ khi Chúa Giê-xu nói câu ‘Xin tha nợ chúng tôi như chúng tôi cũng tha cho kẻ mắc nợ chúng tôi’ là Ngài muốn ứng dụng cách cụ thể, chớ không phải chỉ dừng lại với cảm nghĩ hoặc thái độ. Tầm quan trọng của điều này nổi bật hơn nữa trong lời cảnh cáo nghiêm trọng và câu chuyện ngụ ngôn liên hệ (Mat 6:12-15 18:21-35). Vì của lễ này đặt vấn đề tiên quyết là bồi thường hoặc đền bù, nên của lễ chuộc sự mắc lỗi cũng gợi ý kể tội lỗi như một món nợ đối với Đức Chúa Trời. Mắc nợ thì phải trả. Lối nói ví như thế ăn sâu vào sự suy nghĩ và trong lối diễn đạt của con người. Chúng ta vẫn thường nói về việc buộc kẻ phạm tội phải ‘đền’ tội của họ. Khi nằm trong khung hiểu biết đúng đắn có luật pháp của xã hội kiểm soát đàng hoàng thì sự đền tội này khác hẳn với sự trả thù của cá nhân với câu nói: ‘mày phải đền tội’. Của lễ chuộc tội ‘³s³m' cung ứng một phương thức ‘đền bù’ lại cho Đức Chúa Trời những tổn hại do tội lỗi gây ra song song với sự bồi thường cho người bị thiệt hại vật chất.
Es 53:1-12 mô tả cái chết của Đầy Tớ Đức Chúa Trời là một sinh tế. Ngài là Đấng chịu khổ và chịu chết thay cho người khác ‘như chiên con bị đem đến hàng làm thịt’ (53:5-7). Nhất là câu 10 mô tả cái chết của Ngài là ‘àsàm', nghĩa là của lễ chuộc sự mắc lỗi, đền bù lại những việc sai quấy thế cho người khác để họ được kể là công nghĩa (11). Văn thơ trong 53:1-12 ảnh hưởng sâu xa đến giáo lý của Tân Ước khi bàn về sự hi sinh của Chúa Cứu Thế (so sánh Mat 8:17 Lu 22:37 IPhi 2:24-25). Sự hy sinh của Đấng Christ không phải chỉ là một sinh tế chuộc tội lỗi, tẩy sạch sự nhơ nhớp mà còn trả nợ cho chúng ta. Dĩ nhiên đây là lối nói với nghĩa ẩn dụ nên không thể đặt vấn đề trả nợ cho ai và trả như thế nào. Trong cả Tân Cựu Ước, Kinh Thánh dùng những cách thức này để bày tỏ chiều sâu không thể dò được của sự cứu rỗi của chúng ta, không thể nào lý luận cho ra lẽ, mà chúng ta phải nhận phước hạnh của sự cứu rỗi bởi đức tin.
Của lễ thù ân là sinh tế dẫn đến một bữa ăn chung dành cho những người có liên hệ. Vì vậy của lễ này vừa thể hiện mối liên hệ theo chiều dọc (vì cũng có nghi thức rảy huyết chuộc tội như trong của lễ thiêu) vừa thể hiện mối liên hệ chiều ngang (vì của lễ này củng cố mối liên hệ giữa con người với nhau). Vì thế của lễ này là một hình thức rất thích hợp để bày tỏ tấm lòng của Y-sơ-ra-ên đối với mối liên hệ trong giao ước với Đức Chúa Trời. Về một ý nghĩa, đây là bữa Tiệc Thánh với những nét tương tự với bữa tiệc của Chúa Cứu Thế là bữa tiệc chính yếu của giao ước mới. Chúa Giê-xu tuyên bố rằng ‘đây là giao ước mới trong huyết ta’. Lời tuyên bố này làm chúng ta nhớ lại của lễ thù ân được bao gồm trong các của lễ thiết lập giao ước Si-na-i trong Xu 24:8. Buổi thờ phượng của Cơ Đốc nhân nhất là Tiệc Thánh phải là buổi thờ phượng vui vẻ, quan tâm đến nhau về mặt xã hội. Vì vậy có thể tác giả sách Hê-bơ-rơ nhớ đến của lễ này khi ông giục giã các Cơ Đốc nhân chớ quên ‘làm lành và chia sẻ cho người khác, vì Đức Chúa Trời đẹp lòng của lễ như vậy’ (He 13:16). Điều đáng chú ý là Phao-lô cung nhấn mạnh rằng mỗi người phải chuẩn bị xứng đáng trước khi đến dự bữa ăn tối của Chúa (y như người Y-sơ-ra-ên phải áp dụng những nghi thức tẩy sạch chính mình trước rồi mới dự bữa ăn thù ân (ICo 11:27-31 so sánh Le 7:20). Ông cũng nhấn mạnh đến cuộc sống chung hoà hợp trong xã hội và sự quan tâm săn sóc những thành viên nghèo hơn trong cộng đồng (ICo 11:18-22).
Của lễ chay tượng trưng cho sự dâng hiến những sản phẩm của con người làm ra và những vật Đức Chúa Trời ban cho. Dường như của lễ chay (cũng có thể có cả thức uống nữa) cùng dâng chung với các của lễ khác. Như vậy toàn thể nghi thức là sự chuyển động hai chiều: đáp ứng cho sự việc con sinh tế bị giết làm của lễ, Đức Chúa Trời ban sự chuộc tội và sự tha thứ. Còn người dâng của lễ cùng với gia đình của mình dâng đời sống, công việc làm, sự ca ngợi, sự cảm tạ và sự thờ phượng lên cho Đức Chúa Trời. Trong Tân Ước cũng thế, mặc dù của lễ chính là sự chết của Chúa Giê-xu trên thập tự giá làm cơ sở cuối cùng và đầy đủ khiến chúng ta hoà thuận với Đức Chúa Trời, song ý nghĩa của sinh tế cũng được ứng dụng cho sự đáp ứng của người tin Chúa đối với Đức Chúa Trời. Thân thể, tâm trí, lời ca ngợi và các lễ vật của chúng ta được coi là loại lễ vật xứng hợp chúng ta có thể dùng để dâng cho Ngài (Ro 12:1-2 Phi 4:18 He 13:15-16).
Cuối cùng, một phương diện khác trong những cách thức dâng của lễ trong Cựu Ước có phần tương ứng trong Tân Ước là cấp dưỡng vật chất cho những người phục vụ dân của Đức Chúa Trời. Phần lớn lợi tức của các thầy tế lễ đến từ những phần trích riêng ra trong các của lễ, của lễ chay, cái ức và cái đùi trong của lễ thù ân cùng những ổ bánh kèm trong của lễ, thịt của con sinh trong của lễ chuộc tội và của lễ chuộc sự mắc lỗi, da của con sinh trong của lễ thiêu và có thể là một số tiền tương ứng với của lễ chuộc tội. Nghe có vẻ như họ được nhiều, nhưng những món đó rất cần thiết vì chi-phái Lê-vi không được phát đất cho nên họ không có phương tiện sinh sống. Họ sống tuỳ thuộc vào lòng trung thành của dân sự, như các thành phần nghèo khó khác trong dân sự (Phu 14:28-29 18:1-8).
Tân Ước chẳng bao giờ gọi mục sư là thầy tế lễ, nhưng chắc chắn Tân Ước chủ trương nguyên tắc là phải trả lương đàng hoàng va chăm sóc cho những người mà công tác chính và ưu tiên của họ là phục vụ Đức Chúa Trời và dân của Ngài. Chúa Giê-xu cũng nói thế (Lu 10:7), còn Phao-lô dạy điều này cách rõ ràng (ICo 9:1-27). Tuy nhiên, không may là đôi khi người ta vận dụng cuộc sống của Phao-lô để củng cố cho chủ trương là những người phục vụ Đức Chúa Trời và dân sự của Ngài như thế phải sống bằng đức tin hoặc bằng cách làm việc kiếm tiền. Một số Cơ Đốc nhân khá giả nhờ làm ăn lại dùng quan điểm này để phê bình cảnh nghèo khó của một số mục sư, các nhà truyền giáo và những người phục vụ Đức Chúa Trời trong những chức vụ khác. Nhưng quan điểm của Phao-lô trong ICo 9:1-27 là chính bản thân ông là một trường hợp ngoại lệ đối với những điều ông dạy. Và ông dạy rằng các Hội Thánh phải yểm trợ cho những người phục vụ Hội Thánh về các chi tiêu trong sinh hoạt và vợ của người đó nữa (4-5). Ông giải luận vấn đề này bằng cách xét đến lối hành xử ngoài đời đối với người làm việc (7), và trưng dẫn luật Cựu Ước về cách đối xử với các con thú làm việc giúp cho người (8-10 so sánh Phu 25:4). Ông cũng dựa vào sự cân bằng giữa các phước hạnh vật chất với phước hạnh thuộc linh (11) và sự công bằng thông thường (12), ông cũng căn cứ vào các điều khoản dự trù cho các thầy tế lễ (13) và mạng lệnh Chúa Giê-xu truyền trực tiếp (14). Khó có lập luận nào vững chắc hơn! Vì thế khi ông tự ý từ bỏ quyền lợi thì chúng ta phải thấy đây là một trường hợp ngoại lệ chớ không phải là bình thường. Trong các thơ khác Phao-lô cũng nhấn mạnh vấn đề này (Ga 6:6 ITi 5:17-19).
2. LẬP CHỨC TẾ LỄ (Le 8:1-10:20)
Ba chương này quay về những chuyện xảy ra tại núi Si-na-i được mô tả trong cuối Xuất Ê-díp-tô Ký. Xen vào giữa ba chương này và Xuất Ê-díp-tô Ký là các chỉ dẫn về cách dâng của lễ trong các chương 1-7. Ba chương này kể lại các sự việc thực sự dẫn đến việc thực hiện các chỉ dẫn trong Xu 28:1-29:46. Đây là lý do các câu đầu đề cập đến áo quần, dầu, các thú vật và giỏ. Những thứ này được nêu cụ thể vì Xuất Ê-díp-tô Ký đã mô tả chi tiết.
29:44-46 cho biết mục đích chung nằm sau các nghi lễ phức tạp trong các chương này, và khi đọc chúng ta cần phải nhớ mục đích này. Đó là Đức Chúa Trời là Đấng đã cứu chuộc họ ra khỏi ách nô lệ trong xứ Ai Cập, nay Ngài ngự giữa họ nên họ phải nhận biết Ngài qua mối liên hệ thân thiết của giao ước. Đức Chúa Trời ngự giữa họ là phước hạnh chính cho họ. Nếu không có sự hiện diện này, họ chẳng có gì đặc biệt khác người và có lẽ cứ phải quanh quẩn ở trong đồng vắng (33:14-16). Về một mặt có thể nhìn thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời qua sự rực rỡ của bộ y phục của các thầy tế lễ. Mặt khác cũng có thể nhìn thấy sự hiện diện của Đức Chúa Trời khi sự vinh quang của Đức Chúa Trời đầy dẫy đền tạm (40:34 Le 9:23-24).
Nên đọc ba chương này chung với nhau. Trước hết ba chương này kể lại việc Môi-se chuẩn bị cho A-rôn và các con trai ông nhận chức tế lễ (8), kế đó là mô tả nghi lễ tấn phong kết thúc trong phước hạnh với ngọn lửa và sự vinh quang (9). Cuối cùng bầu không khí trở nên ảm đạm khi con người không vâng lời (10) bị Đức Chúa Trời hình phạt chết một cách thảm khốc (10). Như vậy ba chương này cùng với các chương khác nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự vâng phục, mối hiểm nghèo khi bất phục, đồng thời cũng nhấn mạnh rằng ngay cả những lúc vui sướng hoặc trang trọng nhất trong đời sống, dân của Đức Chúa Trời cũng có nguy cơ hành động chống lại Chúa hoặc hành động ngu xuẩn (Xu 32:1-34:35 Gios 7:1-26 ISa 15:17-23 IISa 6:1-7 IISu 26:16-20 Cong 5:1-11).
1. Tấn phong cho A-rôn và các con trai ông (Le 8:1-36)
(Le 8:1-5). Chuẩn bị. Mọi việc phải chuẩn bị theo qui định đã xong, đồng thời toàn thể hội chúng cũng đã họp lại, có lẽ đây là các trưởng lão đại diện cho toàn thể dân sự để chứng kiến các nghi thức diễn ra trong sân của đền tạm (so sánh Le 9:1) (có lẽ có nhiều người đứng quan sát từ xa). Cụm từ y như lời Đức Giê-hô-va phán dặn (4-5) nhắc lại toàn bộ mệnh lệnh trong chương 8 và chương 9, nhấn mạnh vào sự kiện Môi-se và A-rôn tuyệt đối vâng theo những điều Đức Chúa Trời đã phán dạy và như vậy cũng làm tăng phần kinh ngạc đối với sự cố trong 10:1.
(Le 8:6-9). Y phục tế lễ của A-rôn. Sau nghi thức tẩy sạch, A-rôn mặc y phục đặc biệt chế tạo cho thầy tế lễ thượng phẩm. Gồm có áo khoác (hoặc áo choàng), đai lưng (hoặc dây lưng lớn), ê-phót (áo khoác có đai vai), bảng đeo ngực có U-rim và Thu-mim (đây là một loại ‘hột’ thánh dùng để tìm câu trả lời cho lời cầu vấn) và khăn xếp đội đầu có thẻ vàng ở phía trước, trên thẻ vàng có khắc hàng chữ ‘Thánh cho Đức Giê-hô-va’. Xu 28:1-43 mô tả đầy đủ trang phục này, đây là bộ trang phục thêu, nhiều màu, trang trí rực rỡ. Vì đoạn văn không ghi nên nay chúng ta không rõ mỗi thứ có ý nghĩa biểu tượng gì (ngoại trừ bảng đeo ngực mang tên của mười hai chi-phái Y-sơ-ra-ên, như vậy là bày tỏ rõ vai trò đại diện của thầy tế lễ xem 28:21,29), vì vậy không nên suy đoán làm gì. Tuy nhiên ấn tượng chung là bộ trang phục này rất đẹp đẽ và rực rỡ, nhằm biểu thị quyền hành và sự cao trọng của chức vụ mà A-rôn và con cháu ông lãnh nhận, hơn nữa, còn biểu thị rõ rệt về tính cách thiêng liêng của phần tâm linh và đạo đức.
(Le 8:10-13). Xức dầu. Theo như chỉ dẫn trong 40:9-11, Môi-se lấy dầu xức cho tất cả đồ vật và những người có nhiệm vụ dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời. Xức dầu tượng trưng cho sự biệt riêng, dành riêng để phụng sự Đức Chúa Trời. Các vua đều được xức dầu (so sánh ISa 10:1 16:13), một số tiên tri cũng được xức dầu, dù trong trường hợp này có thể là có xức dầu theo nghĩa đen, nhưng cũng có thể theo nghĩa bóng (IVua 19:16 so sánh Es 61:1). Kinh Thánh Tân Ước nhận biết rằng cả ba chức vụ (thầy tế lễ, vua, tiên tri) đều kết hợp trong Chúa Giê-xu, tức là ‘Đấng Christ’, ‘Đấng được xức dầu’.
(Le 8:14-30). Các của lễ. Tiếp theo là ba của lễ được dâng lên theo đúng chỉ dẫn trong Xu 29:10-34. Trước tiên là giết một con bò đực làm của lễ chuộc tội (14-17) rồi lấy huyết rảy sạch bàn thờ và như vậy ngăn chặn được các của lễ làm ô uế, đây là một vấn đề nghiêm trọng (so sánh Ma 1:7). Kế đến là dâng con chiên làm của lễ thiêu (18-21) và cuối cùng là dâng một con chiên khác làm của lễ tấn phong, thực ra đây là của lễ thù ân (22-30). Khi dâng của lễ cuối cùng, huyết sẽ được bôi trên trái tai phải, ngón cái tay phải và ngón cái chân phải của A-rôn, cũng bôi như vậy cho các con trai của ông (23-24). Có thể nghĩa là các thầy tế lễ cũng phạm tội như bao nhiêu người khác, nên họ cũng cần được tẩy sạch từ đầu đến chân. Ý nghĩa này được củng cố qua sự kiện A-rôn và các con trai của ông phải đặt tay trên đầu các con sinh tế, tượng trưng cho sự xưng tội và chuyển tội lỗi qua các con vật. Hoặc là nếu huyết dùng để biệt riêng ra thánh (như c.30) thì huyết tượng trưng cho việc hoàn toàn biệt riêng ra thánh các thầy tế lễ để họ nghe được Lời Chúa và làm theo, để họ thi hành nhiệm vụ đã giao và bước đi trong đường lối Ngài (tai, tay và chân). Trong cả hai lãnh vực này, Đấng Christ, thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta, trọn vẹn hơn các thầy tế lễ Lê-vi. Ngài không cần dùng sinh tế vì tội lỗi của mình và Ngài vốn hằng vâng phục tuyệt đối (He 1:14 5:9 7:27 10:5-10).
(Le 8:31-36). Lễ tấn phong. Toàn thể nghi lễ tấn phong diễn ra trong bảy ngày, trong thời gian này, A-rôn và các con trai ông không được ra khỏi nơi thánh. Cuối cùng, chương này kết thúc với lời nhấn mạnh vào lòng vâng phục hầu cho các ngươi khỏi chết (35-36), đây là lời cảnh cáo nghiêm trọng khác về sự cố đau thương xảy ra trong Le 10:2.
2. A-rôn và các con trai khởi thi hành chức vụ (Le 9:1-24)
Bố cục của chương này rất giống với chương 8, chỉ khác một điều là trong chương 8 Môi-se là thầy tế lễ (cũng là tiên tri, vì tất cả mệnh lệnh của Đức Chúa Trời đều phán qua ông) trong khi A-rôn và các con trai ông chỉ là những người thờ phượng bình thường, nhưng trong chương 9, A-rôn nắm vai trò tế lễ vì ông được phong chức, còn dân sự tham dự với tư cách cá nhân.
(Le 9:1-7). Chuẩn bị. Quả là chuyện mỉa mai, có lẽ là hữu ý, khi A-rôn được lệnh phải dâng một con bò đực làm của lễ chuộc tội đầu tiên cho ông trong địa vị thầy tế lễ thượng phẩm. Số là khi Môi-se lên núi, A-rôn đóng vai trò quan trọng vì ông ủng hộ sự bất trung của dân sự, đúc cho họ một con bò vàng (Xu 32:1-35). Thực ra chỉ nhờ lòng thương xót của Đức Chúa Trời mà A-rôn còn sống cho đến ngày này, và được đặc ân làm thầy tế lễ thượng phẩm, trong khi nhiều người khác đã chết trong biến cố đó. Có lẽ kỷ niệm về việc đó còn rõ mồn một nên ông không nói được một lời nào khi chính hai con trai của ông bị hình phạt chết.
Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (4,6) có nghĩa là Ngài hiện diện mắt thấy, tay sờ được, ở chỗ khác trong khi sự vinh hiển của Ngài được thể hiện bằng khói và lửa. Mục đích chính của ngày hôm đó là nếm trải sự vinh hiển này, và sau đó dân Y-sơ-ra-ên dâng sinh tế thờ phượng. Nghi lễ không phải là cứu cánh, nhưng là phương tiện để kinh nghiệm sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong vinh quang, và sự thờ phượng trong bầu không khí vui mừng đáp lại sự hiện diện của Ngài (24). Các buổi thờ phượng Cơ Đốc có vẻ hoàn toàn khác với của lễ thiêu dâng trên bàn thờ của dân Y-sơ-ra-ên, nhưng mục tiêu tận cùng vẫn là một (so sánh He 12:28-29).
Một lần nữa, cần phải nhắc lại các điểm tương đương giữa nhiệm vụ của các thầy tế lễ Y-sơ-ra-ên đối với dân Y-sơ-ra-ên và nhiệm vụ của dân Y-sơ-ra-ên là dân thầy tế lễ đối với các dân tộc khác. Chức vụ của các thầy tế lễ Y-sơ-ra-ên là làm cho mọi người nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời và đáp ứng lại. Cũng thế Đức Chúa Trời muốn thế giới nhìn xem vinh quang Ngài qua dân sự của Ngài. Theo lời các tiên tri, thì đây là lý do Đức Chúa Trời tạo dựng và kêu gọi họ (Es 43:7,21 49:3). Phẩm chất thầy tế lễ có ý hướng truyền bá danh Chúa ra qua mối liên hệ của thầy tế lễ với sự vinh quang của Đức Chúa Trời, để rồi mai đây vinh quang của Đức Chúa Trời sẽ phủ trùm lên thế giới (Ha 2:14).
(Le 9:8-21). Các của lễ Các của lễ chia làm hai nhóm. Nhóm đầu là của lễ chuộc tội và của lễ thiêu dâng lên vì các thầy tế lễ (8-14), nhóm sau là của lễ chuộc tội, của lễ thiêu, của lễ chay, và của lễ thù ân dâng lên vì dân sự (15-21), nghĩa là các trưởng lão đại diện cho dân sự ăn của lễ (so sánh Xu 24:10-11). Thứ tự của nhóm cuối cùng rất có ý nghĩa vì nó vạch ra các thứ tự ưu tiên trong thờ phượng: tẩy sạch, chuộc tội, thánh hoá và tương giao. Lẽ ra bữa ăn thông công kết thúc một cách vui vẻ cho một tuần lễ trọng thể và tạo một bầu không khí thích hợp cho mọi diễn biến tiếp theo.
(Le 9:22-24). Chúc phước, vinh quang, ngọn lửa và thờ phượng. Dù trong dịp này A-rôn có chúc phước cho dân sự hay không thì các lời chúc phước của ông cũng được ghi lại trong Dan 6:23-27. Về vinh quang xin xem câu 4, 6 và Xu 40:34. Ngọn lửa thiêu của lễ có thể giống như cú sét. Ngọn lửa không đốt cháy của lễ vì của lễ đang cháy, nhưng đúng hơn ngọn lửa thiêu đốt các phần còn lại tức khắc (so sánh Cac 13:15-21 IVua 18:38, theo IISu 7:1, một biến cố tương tự bao phủ đền thờ được xây lên thay thế đền tạm). Đáp lại ân huệ và sự hiện diện của Đức Chúa Trời, dân sự cất tiếng reo mừng phủ phục xuống mà thờ lạy (so sánh He 12:28-29).
3. Xét đoán Na-đáp và A-bi-hu (Le 10:1-20)
(Le 10:1-7). Ngọn lửa giáng xuống từ Đức Chúa Trời. Các câu mở đầu của chương này đột nhiên chuyển từ bầu không khí vui mừng sang hãi hùng. Toàn thể chương 8-9, nhắc lại mọi sự đã được thực hiện ‘đúng như Đức Giê-hô-va truyền’, nhưng ở đây Na-đáp và A-bi-hu, hai con trai lớn của A-rôn bất ngờ làm điều Đức Chúa Trời không truyền bảo. Sự bất phục tùng len vào chiếm lĩnh tấm lòng của những người giữ chức vụ thánh. Không rõ ngọn lửa không được phép là lửa gì (1). Tiếng Hi Bá Lai (zàrâ) nghĩa là ‘lạ’, từ bên ngoài. Có lẽ họ lấy lửa từ bên ngoài nơi thánh thay vì lấy từ bàn thờ (so sánh Le 16:12) như thể họ nói rằng: ‘lửa nào cũng được’. Đây là ngọn lửa bất khiết, ô uế, trái phép (NEB). Cho nên theo bối cảnh của câu chuyện thì họ cố tình vi phạm. Hành động này là một hành động lấn quyền, lấn nhiệm vụ của thầy tế lễ thượng phẩm, đồng thời cũng bao hàm tính tự phụ hoặc tính ghen tuông nóng nảy. Hành vi của họ không phải là sơ ý đối với một chi tiết nhỏ trong nghi lễ, mà là ngạo nghễ xem nhẹ tính cách nghiêm trọng của cuộc lễ tổ chức cho họ. Cũng như thể một vị mục sư đem nghi thức hoặc các vật có liên quan đến đồng bóng vào Tiệc Thánh.
Đức Chúa Trời đáp lại ngọn lửa giả của họ bằng ngọn lửa thật của cơn giận thánh khiết của Ngài. Một lần nữa, có thể ngọn lửa là cú sét chớ không phải là ngọn lửa cháy, vì quần áo của họ không bị cháy mà trở thành tấm vải liệm (5). Câu 2 chủ ý lập lại đoạn 9:24. Thay cho ngọn lửa phước hạnh đem lại tiếng reo hò vui mừng là lửa xét đoán đem lại sự yên lặng sững sờ. A-rôn ‘đứng lặng người’ (bản NEB). Giữa sự yên lặng đó, chỉ một mình Môi-se dám lên tiếng căn dặn các thầy tế lễ với lời lẽ khiến các thầy tế lễ từ đó về sau phải hết sức kính sợ và vâng phục, nhưng rất tiếc là có những thầy tế lễ trong các thế hệ sau không quan tâm tuân thủ. Tốt hơn nên dịch câu Ta sẽ tỏ mình là thánh là ‘Ta phải được tôn thánh’ (bản NEB). Càng đến gần Đức Chúa Trời càng phải cẩn thận hơn vì Ngài là thánh. Nếu không sẽ làm hổ danh Ngài giữa dân sự (3b). Xem thường mọi điều của Đức Chúa Trời cũng đủ tội rồi, huống chi làm cho người khác cũng xem thường lại càng đáng tội hơn nữa (so sánh ISa 2:12-17,29-30 3:13 Lu 17:1-2).
Án phạt nghiêm khắc của Đức Chúa Trời làm cho chúng ta bàng hoàng, nhưng án phạt này có liên quan đến địa vị và trách nhiệm do Na-đáp và A-bi-hu nắm giữ. Mục đích của án phạt là để làm gương và cảnh cáo. Một nguyên tắc thường được lặp đi lặp lại trong Kinh Thánh là người có đặc quyền nhiều hơn sẽ bị kỷ luật nghiêm hơn. Chính Môi-se không bao giờ thấy đất hứa chỉ vì một hành vi được mô tả là thiếu lòng tôn trọng sự thánh khiết của Đức Chúa Trời (Dan 20:12). Nguyên tắc này cũng áp dụng cho toàn thể dân tộc, vì họ có mối liên hệ giao ước độc đáo với Đức Chúa Trời, nên họ sẽ bị trừng phạt thích đáng (Am 3:2). Nếu chúng ta thấy sự trừng phạt trong Cựu Ước là quá đáng, thì chúng ta nên nhớ rằng trong Tân Ước cũng có nhiều án phạt nghiêm khắc không kém đối với những người có trách nhiệm phụng sự Đức Chúa Trời hoặc giữ vai trò lãnh đạo (Lu 10:12-15 so sánh 12:48 He 6:4-6 10:26-31 IPhi 4:17 Gia 3:1).
(Le 10:8-11). Trách nhiệm của thầy tế lễ. Trước hết, các thầy tế lễ không được uống rượu trước khi thi hành bổn phận trong nơi thánh (9). Đã từ lâu người ta cho rằng Na-đáp và A-bi-hu bị hình phạt là vì họ phạm tội trong khi say rượu. Cũng có thể như vậy, nhưng đoạn văn không nói như thế. Có lẽ lý do nằm trong các câu kế tiếp là những câu viết về nhiệm vụ của các thầy tế lễ. Và thầy tế lễ cần tỉnh táo sáng suốt để thi hành nhiệm vụ. Trong Cựu Ước, rượu là một trong các phước hạnh Đức Chúa Trời ban cho trong cõi thiên nhiên, thích hợp với lễ lạc (Thi 104:15) cũng dùng để xoa dịu nỗi buồn rất hữu hiệu (thí dụ mất người thân, so sánh Ch 31:7). Tuy nhiên, nếu thái quá, rượu làm cho con người mất khôn, sinh phóng túng, truỵ lạc (23:20-21,29-35). Cho nên những người có trách nhiệm quan trọng nên tránh uống rượu (31:4-5). Các thầy tế lễ không bị buộc phải luôn luôn kiêng rượu (chỉ có người Na-xi-rê là người tình nguyện, nhưng cũng chỉ kiêng trong một thời gian thôi xem Dan 6:1-20 so sánh Am 2:12) nhưng chỉ kiêng khi thi hành nhiệm vụ. Các tiên tri thường lên án các thầy tế lễ nghiện rượu, vì rượu phá hoại năng lực giảng dạy của họ, khiến họ không thể hướng dẫn dân sự sống đạo đức và hiểu biết Đức Chúa Trời (Es 28:7-10 Os 4:1-19 nhất là c.11). Trong Tân Ước, các Cơ Đốc nhân phải tiết chế và điềm đạm, nhất là những người có công tác chăn bầy và giáo huấn (Eph 5:18 ITi 3:2-3,8 Tit 2:2-3).
Thứ hai, các thầy tế lễ phải biết và hiểu thấu đáo những điểm khác biệt chính yếu làm nền tảng cho toàn bộ đời sống của dân Y-sơ-ra-ên, tức là phân biệt điều thánh với điều phàm tục, vật bất khiết và vật trong sạch (10). Về ý nghĩa của các từ này, xin xem bình giải chương 11.
Thứ ba, các thầy tế lễ là giáo sư của Y-sơ-ra-ên (11). Chúng ta thường chỉ chú tâm vào nhiệm vụ dâng sinh tế mà bỏ qua nhiệm vụ giáo huấn là một phần rất quan trọng của chức tế lễ. Chính nhờ các thầy tế lễ mà dân trong cộng đồng hiểu biết luật pháp của Đức Chúa Trời đồng thời hiểu biết bản tính, nguyên tắc, ý muốn và những điều ưu tiên của Ngài. Nhiều chỗ khác trong Kinh Thánh cũng nhấn mạnh vào điểm này, cả về phương diện tích cực cũng như tiêu cực khi họ thất bại (Phu 17:9-13 33:8-10 Os 4:1-19 Ma 2:1-9). Trong các cuộc cải tổ quan trọng trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, các thầy tế lễ và người Lê-vi nắm vai trò giáo huấn dân sự (IISu 17:7-9 19:4-11 Ne 8:7-8). Công tác giáo huấn của các thầy tế lễ biến toàn thể dân Y-sơ-ra-ên trở thành công cụ dạy luật pháp của Ngài cho các dân tộc (Es 2:3 42:1-7 51:4).
(Le 10:12-20). Kết luận. Sau khi bị gián đoạn vì hành vi tội lỗi và án phạt, câu chuyện được tiếp nối lại theo trình tự dự định,thực hiện nốt những nghi thức còn lại và dọn dẹp. A-rôn và hai con trai còn sống sót của ông không làm sao ăn nổi thịt của lễ chuộc tội trong ngày họ mất người thân và Môi-se chấp nhận việc này (19-20). Vậy là đoạn này kết thúc với một lời tốt đẹp như chương 8 và 9.
3. TÌM HIỂU VÀ XỬ LÝ SỰ Ô UẾ. (Le 11:1-17:16)
Phân đoạn này rà lại các chỉ dẫn dành cho các thầy tế lễ trong Le 10:10 bằng cách vạch ra các điểm khác biệt giữa vật tinh sạch và vật không tinh sạch, đề ra các phương pháp xử lý tình trạng ô uế. Phân đoạn này giải quyết vấn đề thức ăn không tinh sạch và sự đụng chạm với các súc vật (chương 11), sanh nở (chương 12), các bệnh về da và bệnh phung (chương 13-14) và bệnh bạch-trược (chương 15). Tiếp đến là Đại Lễ Chuộc tội (chương 16) nhằm hoàn toàn tẩy sạch nơi thánh và dân sự trước mặt Đức Chúa Trời. Phân đoạn này kết thúc với lời tái bút về thức ăn thánh và thức ăn phàm tục (chương 17).
Đến đây chúng ta cần làm sáng tỏ ý nghĩa của các vấn đề có tầm mức quan trọng đối với thế giới quan của người Y-sơ-ra-ên nhưng khác lạ đối với chúng ta. 10:10 đưa ra hai cặp trái ngược: thánh khiết và phàm tục tinh sạch và ô uế. Cặp thứ hai thực ra là do triển khai vấn đề phàm tục mà ra. Đối với người Y-sơ-ra-ên, đời sống thực tế của họ chia làm hai lãnh vực: thánh khiết (nghĩa là chính Đức Chúa Trời và mọi điều biệt riêng cho Ngài hoặc liên quan chặt chẽ với Ngài) và phàm tục (mọi điều khác). Điều quan trọng cần chú ý là trái ngược với thánh khiết không phải là ‘tội lỗi’ mà là phàm tục. Về cơ bản từ này (đôi khi dịch là ‘xúc phạm’ và có ý nghĩa khác trong Anh ngữ hiện đại) nghĩa là thông thường, hàng ngày, các vật thông dụng trong thế giới chúng ta đang sống. Loại thứ hai gồm những điều tinh sạch và không tinh sạch. Một số vật và một số tình trạng theo định nghĩa là không tinh sạch cho nên không thể tẩy uế được (thí dụ như một số con vật, sự chết) nhưng thường thường có các món không tinh sạch hoặc bị ô uế có thể phục hồi trở lại tình trạng ‘bình thường’ (nghĩa là trở lại tình trạng tinh sạch và phàm tục thường) bằng các nghi thức thích hợp.
Cũng thế, chỉ có Đức Chúa Trời là thánh theo định nghĩa. Nhưng một số người hoặc một số vật dụng có thể nhờ những nghi thức thích hợp mà trở nên thánh (thánh hoá). Ngược lại, những hành vi sai lầm hoặc những sự đụng chạm vào vật ô uế có thể phàm tục hoá con người hoặc vật vốn là thánh khiết. Nói chung, tội lỗi, yếu đuối và các điều bất thường khác phàm tục hoá sự thánh khiết và làm ô nhiễm sự trong sạch. Ngược lại công dụng chính của huyết sinh tế là tẩy sạch tình trạng ô nhiễm và thánh hoá sự phàm tục. Tình trạng phàm tục/ tinh sạch là tình trạng bình thường, còn thánh khiết và ô uế là tình trạng ‘khác thường’ đối nghịch nhau.
Tuyệt đối không được để cho thánh khiết tiếp cận với những gì không tinh sạch. Vì vậy có nhiều qui luật tế lễ được soạn ra nhằm ngăn chận sự cố này. Sự tiếp cận này một khi xảy ra dẫn đến tình trạng chập mạch về phương diện thuộc linh và thần học, và cú “sốc” có thể làm chết người như trong trường hợp Na-đáp và A-bi-hu. Hai ông không phải là những người đầu tiên hoặc những người cuối cùng kinh nghiệm chuyện này. Cuối cùng là một điều không thể tưởng đã xảy ra trên thập tự giá. Đó là sự thánh khiết toàn vẹn nhất lại phó nộp chính mình cho tình trạng bất khiết tồi tệ nhất (sự chết) - và chỉ có huyết tế lễ của chính Đấng Christ mới có công hiệu làm cho thế giới và nhân loại không tinh sạch hoà lại với Đấng Tạo Hóa thánh khiết. Có thể diễn ý điều Phao-lô dạy như sau: Đấng Thánh Khiết đã trở nên bat khiết hầu cho nhờ huyết của Ngài mà chúng ta là những kẻ không tinh sạch được tẩy sạch và thánh hoá hầu cùng có chung bản tính thánh khiết của Ngài.
Thầy tế lễ có nhiệm vụ giáo huấn và duy trì các phân biệt này hầu cho thường dân có thể giữ tình trạng tinh sạch thông thường hoặc mau chóng phục hồi tình trạng tinh sạch khi họ bị ô uế vì các sinh hoạt hàng ngày ở nhà hoặc trong nông trại. Mục đích chung được trình bày ngắn gọn ở cuối đoạn (15:31) và phù hợp với mối quan tâm của toàn bộ Lê-vi Ký như chúng ta đã thấy, tức là Đức Chúa Trời có thể cư ngụ giữa một dân tinh sạch. Chúng ta phải thấy những luật lệ tiếp theo đây chỉ là phương tiện giúp đạt đến cứu cánh đó, chớ luật lệ không phải là cứu cánh.
1. Thức ăn và các con thú tinh sạch hoặc không tinh sạch (Le 11:1-47)
Chương này chia làm hai phần: từ câu 1-23 viết về những con thú có thể dùng làm thức ăn hoặc không, từ câu 24-25 đề cập đến sự ô uế do đụng đến một số loài thú vật. Nên lưu ý là không có cách nào xác định cho chắc chắn nhiều loại thú có tên trong chương này. Do đó các bản dịch dùng từ khác nhau và có nhiều lời bình giải cũng khác nhau.
(Le 11:1-23). Vấn đề thức ăn. Thế giới động vật được phân bố vào ba môi trường chính trong chuyện tích sáng tạo: đất (2-8), nước (9-12) và không trung (13-23). Đối với động vật trong mỗi môi trường đều có các chỉ dẫn tổng quát về con vật nào ăn được và con vật nào bị coi là không tinh sạch hoặc gớm ghiếc (đây là từ liên quan đến chế độ ăn uống, chớ không lên án chính con vật). Về các con vật sống trên mặt đất, chỉ được phép ăn các con vật có móng rẽ và nhai đồ ăn kỹ (hoặc thuộc giống hay nhơi thức ăn hoặc các con thú tương tự). Chủ yếu là gia súc. Không được ăn các con vật thiếu một hoặc thiếu cả hai tiêu chuẩn này. Về các con vật sống dưới nước, chỉ được phép ăn các con có vây và vẩy. Không được phép ăn một số loại chim, hình như phần nhiều là các loại chim săn mồi hoặc chim ăn xác chết thối rữa, cũng không được ăn các loại côn trùng kết thành đàn, trừ các con có chân để nhảy.
(Le 11:24-25). Vấn đề vì đụng chạm mà ô uế. Trong đời sống canh tác ở thôn quê, tiếp cận, đụng chạm với thú vật là chuyện thường tình và không thể tránh khỏi. Ở đây đưa ra các chỉ dẫn về các dạng đụng chạm làm cho con người bị ô uế. Có lẽ vì chuyện tiếp cận đụng chạm thường xuyên xảy ra và không có cách nào tránh khỏi, nên sự ô uế do nguyên nhân này được coi là nhẹ, chỉ bị xem là ô uế trong ngày, không cần đến sinh tế chuộc tội mà chỉ cần tắm rửa bình thường. Đáng chú ý là khi đụng chạm đến các con thú còn sống, dù là loại không tinh sạch và không được phép ăn thịt vẫn không bị ô uế. Tức là có thể cỡi lạc đà và lừa mà không bị xem là ô uế (nói theo luật!). Chỉ khi nào đụng đến hoặc khiêng kéo, di dời xác chết của một con thú thì mới bị kể là ô uế. Khi xác chết của một con thú rơi trúng, lọt vào hoặc đụng phải đồ dùng, thì đồ dùng đó bị kể là ô uế. Xác chết của thú tinh sạch hoặc không tinh sạch đều bị kể là ô uế (24-25) ngoại trừ xác chết của con thú đang được dâng làm sinh tế (39-40). Sự chết luôn luôn là ô uế. Cũng có thể bị ô uế khi đụng đến xác chết của loại động vật khác, Kinh Thánh mô tả là loài ‘bò sát’ (29-42). Câu bò trên mặt đất (bản NIV) không rõ nghĩa cho lắm, có lẽ là các loài mình trơn, di chuyển nhanh chóng hoặc dị thường (theo quan điểm con người!).
Chương (44-47) kết thúc với lời nhắc nhở về mục đích của các luật lệ và động cơ có tính cách lịch sử khiến họ phải tuân thủ các luật lệ ấy. Ấy là Đức Chúa Trời đã cứu chuộc họ khỏi ách nô lệ do đó họ phải là một dân khác biệt (một dân thánh). Phương châm của Lê-vi Ký là Hãy nên thánh vì Ta là thánh (so sánh Le 19:2 20:26). Toàn thể dân tộc phải là thánh không có nghĩa là hết thảy đều phải sống như các thầy tế lễ, nhưng phẩm cách của các thầy tế lễ so với toàn dân là như thế nào, thì phẩm cách của họ so với toàn thế giới cũng phải thế ấy. Tiêu chuẩn yêu cầu toàn bộ dân tộc phải khác biệt với những dân tộc khác trên thế giới là manh mối đầu tiên giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của vấn đề phân biệt giữa tinh sạch và không tinh sạch trong chương này (so sánh 18:3 20:24,26).
Có bốn thắc mắc liên quan đến các luật lệ này:
1. Chia thú vật ra làm hai loại như vậy có hợp lý không? Nhiều người tìm cách lý giải vì sao một số loại thú được kể là tinh sạch, còn các loại thú khác thì không tinh sạch. Có người cho rằng kiểu phân loại này có tính cách chủ tâm độc đoán. Vì thế họ xem đây là một hình thức thử xem dân có vâng phục hoàn toàn không. Những người khác gợi ý rằng những con thú có liên quan đến chuyện cúng bái của ngoại giáo bị kể là không tinh sạch, nhưng quan điểm này không vững trong nhiều trường hợp, thí dụ bò là con thú được kể là thánh trong niềm tin nơi thần Ba-anh của dân Ca-na-an. Phổ thông hơn là quan điểm chủ trương vấn đề vệ sinh và sức khoẻ là mấu chốt. Đúng là có một số thú vật bị kể là không tinh sạch (như heo và chim ăn xác chết) có khả năng gây ô nhiễm và mang nhiều ký sinh trùng. Những biện pháp phòng ngừa liên quan đến xác chết là hợp lý (nhất là tắm rửa kỹ lưỡng), kể cả luật về sức khoẻ của dân sự trong các chương 13-15. Tuy nhiên, dù chúng ta tôn trọng sự khôn ngoan của Đấng Sáng Tạo trong các chi tiết này, quan điểm này không lý giải được nhiều khoản trong bảng phân biệt sạch và không tinh sạch. Ngoài ra, ngay cả bản văn cũng không hề có ý này, dù chỉ là gợi ý thoáng qua. Gần đây có một hướng giải nghĩa thông thoáng nhất theo quan điểm nhân chủng học, dựa trên sự phân bố trong ba môi trường chính (mặt đất, nước và không trung) và dựa trên phong cách di động của mỗi loài. Ưu tiên chấp nhận những loại nằm trong chuẩn ‘bình thường’ khá bao quát. Quan điểm của giới thầy tế lễ Y-sơ-ra-ên về sự thánh khiết và tinh sạch đặt nặng nguyên tắc bảo toàn sự thuần chủng thánh khiết, sự đơn tính của mọi sự vật và hết sức tránh pha trộn lẫn lộn giữa các loại. Quan điểm này phản ánh chính công cuộc sáng tạo, tức là trong công cuộc sáng tạo có cẩn thận phân biệt ánh sáng và tối tăm, trời và đất. Rồi cũng quan điểm này chuyển qua sự sắp loại, các loại thú vật đạt đúng tiêu chuẩn giản đơn trong mỗi môi trường. Các con thú sống trên đất thuộc loại hay nhơi và có móng chẻ hai là các con vật ‘tiêu chuẩn’, được phép dùng làm của lễ. Các sinh vật dưới biển có vây và có vảy thuộc loại ‘tiêu chuẩn’. Chim mồi và các chim ăn xác chết, rõ ràng ăn thịt còn máu, tức là có lối sống không tinh sạch. Các sinh vật di chuyển ngoằn ngoèo xô đẩy lệch lạc những lằn ranh, địa giới, cử động không rõ ràng hoặc không đoán được hướng tiến của chúng đều là các con vật ‘bất bình thường’. Đây là cách phân loại tổng quát và theo cái nhìn của một người có trình độ phổ quát trong vai trò một người làm thức ăn, chớ không theo quan điểm của một nhà sinh vật. Vấn đề quan trọng là con thú cụ thể nào đó có ăn được không, có được phép ăn thịt con thú đó không. Với mục đích đó thì khi kết luận một con thú không tinh sạch thì không có nghĩa là loại bỏ con thú đó đi hoặc phủ nhận vị trí của nó trong các kỳ quan đáng ca ngợi do Đức Chúa Trời tạo nên, như tác giả Thi Thiên và nhiều người khác thường ca tụng.
2. Vì sao Đức Chúa Trời đưa ra những hạn chế trong lãnh vực thực phẩm? Chúng ta đã thấy tầm mức quan trọng về sự kêu gọi cộng đồng phải thánh ở chương 11:44-47. Luật lệ khác thường về thực phẩm của dân Y-sơ-ra-ên là một dấu hiệu hoặc một nét đặc trưng của một dân tộc (so sánh Phu 14:2,21). Cũng như Đức Chúa Trời giới hạn mức chọn lựa của Ngài. Trong các dân tộc trên đất, Ngài chỉ chọn lựa một mình dân Y-sơ-ra-ên mà thôi. cũng thế họ phải giới hạn mức chọn lựa của họ đối với các sinh vật dùng làm thức ăn. Như vậy sự phân biệt giữa các thú tinh sạch và không tinh sạch tượng trưng phản ánh cho các sự khác biệt giữa dân Y-sơ-ra-ên với các dân tộc khác. Do đó, luật lệ về thực phẩm luôn luôn nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên về sự kêu gọi làm một dân riêng biệt và tầm mức quan trọng của sự thánh khiết. Đây không có ý cho rằng họ có giá trị hơn (các con thú tinh sạch cũng không có giá trị hơn các con thú khác) mà vì công trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời trong lịch sử Y-sơ-ra-ên và vì mục đích cứu chuộc cho tương lai của họ nữa. Ngoài ra, luật thực phẩm trong Lê-vi Ký chỉ là một phần của toàn bộ luật pháp bao gồm các lãnh vực xã hội, cá nhân, tâm linh và đạo đức, nên luật về thực phẩm tương tự như cái phù hiệu hoặc bộ sắc phục xác định về người đang đeo phù hiệu hoặc mặc bộ sắc phục và đề ra những tiêu chuẩn hành vi và ứng xử cho đương sự. Như vậy sự thánh khiết thâm nhập vào đời sống hàng ngày. Các bữa ăn và các va chạm trong công việc hàng ngày luôn nhắc dân Y-sơ-ra-ên nhớ lại công trình cứu chuộc của Ngài đã thực hiện cho họ và nhắc họ về những giá trị đạo đức mà họ đang đeo đuổi.
3. Cơ Đốc nhân có cần tuân theo luật lệ về thực phẩm không? Câu trả lời đơn giản là không, nhưng điều quan trọng là phải hiểu lý do. Chúa Giê-xu dứt khoát huỷ bỏ giá trị pháp lý của luật phân biệt đồ ăn tinh sạch và không tinh sạch bằng cách tuyên bố rằng giá trị đạo đức do luật pháp biểu thị mới đáng kể. Như vậy ‘tinh sạch’ và ‘không tinh sạch’ không còn là chuyện đưa món gì vào bao tử nữa mà là điều gì ra từ lòng người (Mac 7:14-23). Dĩ nhiên đạo đức có giá trị lớn hơn là nghi thức. Đó chính là điều Kinh Thánh Cựu Ước cũng có dạy. Vì thế không phải vì nhận thức được một điều gì mới mẻ khác mà luật lệ về thực phẩm bị huỷ bỏ trong Kinh Thánh Tân Ước.
Ngay sau khi nói về vấn đề ‘tinh sạch’ và ‘không tinh sạch’, Chúa Giê-xu đi đến Ty-rơ gặp một phụ nữ ngoại bang và chữa lành cho con gái bà. Việc này làm nổi bật lý do chính trong sự huỷ bỏ luật phân biệt thức ăn tinh sạch và không tinh sạch, tức là huỷ bỏ vấn đề phân biệt dân Do Thái và dân ngoại. Đây là một hành động của Chúa Giê-xu (một hành động ngoại lệ so với đường lối bình thường của Ngài khi sống trên đất này) nhằm biểu thị trước sự huỷ bỏ hàng rào ngăn cách phân biệt đó. Ý nghĩa này được sách Công Vụ Các Sứ Đồ đoạn 10 củng cố. Theo chương này thì khải tượng mà Phi-e-rơ nhìn thấy dạy ông rằng sự phân loại thế giới động vật như cũ không còn giá trị nữa và khải tượng này cũng dọn đường cho ông đến thăm một người ngoại bang tên là Cọt-nây. Chúa Giê-xu mở màn cho một kỷ nguyên mới với việc huỷ bỏ hàng rào ngăn cách giữa người Do Thái và người ngoại. Việc này có nghĩa là điểm đặc trưng biệt riêng người Do Thái không còn ý nghĩa thần học trong một dân mới đa chủng tộc của Đức Chúa Trời (Ga 3:26-29 Eph 2:11-22). vì vậy lằn ranh phân chia thế giới động vật xưa nay vẫn được dùng để biểu thị sự phân cách của dân Do Thái với những dân tộc khác cũng bị huỷ bỏ.
4. Cơ Đốc nhân học được gì từ những luật lệ này? Trước hết là tầm mức quan trọng được làm dân riêng của Đức Chúa Trời trong thế giới. Đối với dân Y-sơ-ra-ên trong thời Cựu Ước, các nghi thức tẩy sạch từ nhà bếp cho đến nơi thánh đều tượng trưng cho tinh thần đạo đức chân thật trọn vẹn, công bằng xã hội và lòng trung thành với giao ước. Thật vậy, nếu thiếu hụt những điểm chính này thì nghi thức tẩy sạch dù thực hiện chu đáo nhất cũng vô giá trị đúng như các tiên tri (và Chúa Giê-xu) thẳng thắn vạch ra. Nếu Cơ Đốc nhân quan tâm đến đạo đức đặc trưng của Cơ Đốc nhân như cách dân Y-sơ-ra-ên quan tâm đến nghi thức tẩy sạch thì ‘muối’ và ‘ánh sáng’ trong chúng ta chắc có năng lực hơn đối với thế giới.
Thứ hai, thực phẩm vẫn còn là vấn đề có tầm đạo đức quan trọng. Bạn ăn cái gì, với ai, ở đâu và ăn như thế nào tất cả đều nằm trong lãnh vực tập quán văn hoá rộng lớn. Như vậy trong bất kỳ một nền văn hoá nhất định nào đi nữa thì vấn đề này có thể gây ra tranh luận, vấp phạm và hiểu lầm như bao nhiêu vấn đề khác. Vì thế những phần luận giải chi tiết của Phao-lô về những vấn đề liên quan đến thực phẩm (Ro 14:1 ICo 8:1-13) dù thoạt đầu nằm trong bối cảnh của người Do Thái đối với người ngoại bang, vẫn có giá trị lớn trên một loạt các vấn đề khiến giới Cơ Đốc nhân không đồng tình với nhau. Huỷ bỏ luật lệ về thực phẩm không có nghĩa là chối bỏ những nhu cầu được yêu thương, được tiếp nhận và tánh nhạy cảm. Dù Cơ Đốc nhân có thể ăn mọi thứ, tuy nhiên có những trường hợp họ không nên ăn một số thức ăn (Ro 14:14-21). Cơ Đốc nhân có bị buộc phải tuân thủ luật lệ về thực phẩm trong Lê-vi Ký không? Có chứ! Nhưng không tuân thủ theo tinh thần của chương 11, mà đúng hơn là theo Le 19:18 ‘Hãy yêu kẻ lân cận như chính mình’ (so sánh 13:9-10).
2. Ô uế vì sanh nở (Le 12:1-8)
Chương 11 đề cập đến vấn đề ô uế do các yếu tố bên ngoài gây ra - dùng thức ăn và đụng chạm đến các thú vật. Các chương 12-15 chủ yếu đề cập đến sự ô uế do chức năng và tình trạng cơ thể con người gây ra (ngoại trừ các phân đoạn viết về sự lây nhiễm trong nhà hoặc quần áo). Điều quan trọng cần nhận biết rằng khái niệm về sự ô uế về mặt nghi thức không chủ ý, hoặc không có nghĩa cho đó là tội lỗi. Mọi hành động tội lỗi đều làm ô uế con người, nhưng không phải mọi hình thức ô uế đều do tội lỗi hoặc đạo đức thấp kém. Các loại thú bị kể là không tinh sạch thì tự trong con thú không có gì đáng gọi là tội lỗi cả. Cũng vậy, kinh nguyệt và ung nhọt cũng chẳng phải là tội lỗi. Tuy nhiên, theo sự suy nghĩ của các thầy tế lễ thì các chất thải ra từ cơ thể con người, nhất là máu, đều là hình thức không trọn vẹn. Máu là sự sống, vậy nên xuất huyết dưới bất cứ hình thức nào đều là một sự nứt ra của sức khoẻ bình thường và có thể gây tử vong. Vì thế các chất thải từ cơ thể tạm thời làm cho người ta không xứng hợp với sự thờ phượng trong nơi thánh trước các vật thánh và mọi người. Ô uế không thể gặp thánh khiết được. Ô uế là một tình trạng cần cách ly khỏi nghi lễ tôn giáo hoặc nghĩa vụ tôn giáo, chớ không phải là tình trạng tội lỗi theo ý nghĩa đạo đức (trừ phi hiểu rằng mọi người đều là tội nhân vì người tinh sạch lẫn người không tinh sạch đều tội lỗi như nhau).
Điểm này đặc biệt xác đáng trong chương 12. Theo Cựu Ước thì việc sanh nở là mệnh lệnh của Đức Chúa Trời (Sa 1:28), là món quà tốt nhất của Ngài (Thi 127:3 128:3-6) và là niềm vui tột độ của con người. Cho nên không thể nào tính cách ô uế gán cho vấn đề sanh đẻ cũng có nghĩa là tội lỗi. Sự sanh đẻ là tội lỗi ư? Dù có xét theo Sa 2:24 hoặc theo Nhã Ca của Sa-lô-môn, thì vấn đề giao phối giữa vợ chồng không bị lên án là tội lỗi. Trong Thi 51:5 Đa-vít không phê bình về đức hạnh của mẹ ông, cũng không phê bình hành vi đã thai dựng ra ông. Nhưng nơi đây ông có ý tỏ ra ông ý thức sâu xa về bản chất tội lỗi của chính mình, tức là không hề có giây phút nào ông là một con người ‘vô tội’. Theo bản văn nguyên do gây ra ô uế là tình trạng xuất huyết khi sinh nở, phải mất từ hai đến sáu tuần mới dứt (từ chuyên môn gọi là lochia). Như vậy thời gian bị ô uế dài hơn kỳ kinh nguyệt bình thường (Le 15:19-24). Không thấy giải thích vì sao thời gian bị ô uế khi sinh con trai là bốn mươi ngày, còn con gái là tám mươi ngày, một số người cho rằng có thể vì kinh nguyệt trong tương lai của bé gái.
Dù luật lệ này được trình bày theo một khía cạnh khá xa lạ đối với chúng ta, tức là sự ô uế về mặt nghi thức, nhưng về mặt xã hội luật này có ảnh hưởng tốt vì sản phụ có một thời gian dài sống riêng biệt và yên ổn sau khi sinh.
Khi mãn thời gian bị ô uế sản phụ được giao tiếp với xã hội và sinh hoạt tôn giáo bình thường trở lại sau khi đã dâng sinh tế chuộc tội và tẩy sạch. Như chúng ta biết dâng sinh tế chuộc tội là để chuộc tội một cách tổng quát khi người ta đến thờ phượng Đức Chúa Trời chớ không phải là vì sanh đẻ là tội lỗi. Lu-ca ghi lại nghi lễ này cũng được thực hiện sau khi Chúa Giê-xu ra đời, còn có lời tiên tri và chúc tụng kèm theo (Lu 2:21-39).
Chú giải. 3 Về lễ cắt bì, xin xem phần bình giải Sa 17:1-27.
3. Ô uế vì viêm nhiễm (Le 13:1-14:57)
(Le 13:1-59). Các thầy tế lễ là lớp người thật là bận rộn trong dân Y-sơ-ra-ên thời Cựu Ước. Ngoài nhiệm vụ trong nơi thánh và trách nhiệm dạy luật, họ còn kiêm việc kiểm tra sức khoẻ của dân sự. Ba chương này đề cập đến việc khám và chẩn đoán các bệnh ngoài da, những vết ‘nhiễm’ ở quần áo và trong nhà, và đề ra phương thức xử lý cho mỗi trường hợp. Dù ba loại bệnh này khác nhau, nhưng dạng bề ngoài có nhiều điểm giống nhau, nên có thể xếp chung nhóm bệnh gây ô uế và cần chữa trị cẩn thận. Căn cứ vào lời mở đầu Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và lời kết thúc Đây là luật lệ cho... chúng ta chia các chương này thành ba phần: chẩn đoán và xử lý bệnh ngoài da và áo quần bị ô nhiễm (Le 13:1-59) lễ tẩy sạch những người khỏi bệnh (14:1-32) chẩn đoán, xử lý và tẩy sạch những vết ‘nhiễm’ trong nhà (14:33-57).
Từ Hi Bá Lai chỉ về ba loại bệnh này là 'sàra‘at', thường dịch là ‘phung cùi’, nhưng nhiều người thắc mắc là triệu chứng có giống như bệnh phung hiện nay không (bệnh Hansen), dầu sao thì từ này hầu như không chỉ về áo quần, nhà cửa. Hình như bệnh này gồm các trạng thái sưng phồng, đổi màu da, đóng vảy, tróc da hoặc đóng mốc.
Viêm nhiễm ngoài da và áo quần bị ô nhiễm. Không thể căn cứ vào triệu chứng nêu ở đây để xác định bệnh. Có người cho rằng các bệnh này gồm bệnh vảy nến (2-17), ung nhọt (29-37), bệnh bạch bì (38-40), vết sẹo bị lở loét vì mụn nhọt (18-23) và vết phỏng (24-48). Theo mô tả, các bệnh này cũng có thể là bệnh ngứa, mụn giộp và một số dạng phung. Các thầy tế lễ khám bệnh theo những chỉ dẫn đơn giản, tiếp theo là kiểm tra sau một thời gian cách ly để xác định bệnh trạng ngưng phát triển hoặc đã lành (tức là tinh sạch về mặt nghi thức) hoặc đang phát triển và viêm nhiễm (do đó bị ô uế). Thầy tế lễ có nhiệm vụ phân biệt bệnh nặng với bệnh nhẹ (thí dụ như sảy ngứa) mau lành. Mức độ định bệnh là mãn tính (11) hoặc kéo dài hơn một hoặc hai tuần (4-8,26-28,33-34) hoặc sâu dưới da (3,20,25,30). Thịt thối rữa hoặc lông ở vết thương đổi màu là dấu hiệu bị ô uế (10,14-15,20,24-25,30-37). Còn quần áo có vết nhiễm kéo dài hơn một tuần lễ (50-58) và không có thể giặt mà sạch được (55) thì món đồ đó bị coi là ô uế.
Phải cách ly bệnh nhân, trước hết sau lần chẩn đoán đầu tiên. Rồi nếu bệnh nặng phải cách ly liên tục hơn, việc cách ly bệnh nhân được coi như phương pháp an toàn ngăn chận lây nhiễm cho cộng đồng. Tuy nhiên, theo quan điểm của thầy tế lễ thì mục đích chính của việc cách ly là ngăn chận không để cho ô uế tiếp cận với thánh khiết. Nói cách khác, yếu tố quyết định vẫn là vấn đề tôn giáo, dù việc cách ly có lợi cho sức khoẻ cộng đồng về mặt vệ sinh. Cách ly cũng được áp dụng cho quần áo bị ô nhiễm (47-58). Về phương diện phòng bệnh thì phải tiêu huỷ (nhất là thiêu đốt) áo quần, vải vóc bị nấm hoặc bị những viêm nhiễm khác là việc rất thích đáng. Nhưng mục đích chính trong việc tiêu huỷ này là để không còn một ai sử dụng những áo quần, vải vóc đó nữa vì ai dùng đến những món đó là đặt chính mình và những người chung quanh trong tình trạng hiểm nghèo, vì nếu ai đó lỡ đang bị ô uế mà tham gia một cuộc thờ phượng thì rất là nguy hiểm.
Người không may bị thầy tế lễ xác định là ô uế vì bệnh ngoài da trầm trọng bị buộc làm nhiều nghi thức tương tự nghi thức trong tang lễ, thí dụ như xé áo quần, xoã tóc, che phần dưới mặt lại (45-46). Về một ý nghĩa thì đương sự kể như đã ‘chết’, vì căn bệnh đã để cho sự chết xâm nhập vào thân thể, và đương sự phải sống cách ly khỏi cộng đồng cùng nơi thờ phượng (so sánh IISu 26:21), tức là bên ngoài trại quân, cách xa khu nhà ở, về sau có nghĩa là bên ngoài tường thành hoặc ngoài cổng thành hoặc cổng làng (so sánh IIVua 7:3-11). Tình trạng này thật bi đát. Một lần nữa chúng ta cần nhớ rằng đây không phải là ô uế do tội lỗi của đương sự. Theo quan điểm của Cựu Ước thì bệnh hoạn và tội lỗi có liên quan với nhau, nhưng không đến mức nhất thiết cho rằng người mắc bệnh đang đền tội của mình (dù sách Gióp cho biết người ta vẫn thường hiểu lầm như thế và cần phải điều chỉnh lại). Đúng hơn phải hiểu rằng trong vũ trụ này vấn đề chết chóc là hậu quả tội lỗi chung của con người (Sa 3:1-24), do đó bệnh hoạn dưới hình thức nào cũng là điềm báo trước về cái chết và đánh dấu cho hiểm hoạ cận kề.
Nói chung, bệnh hoạn cũng như mọi thiên tai khác, có thể là án phạt của Đức Chúa Trời đối với dân tộc không trung thành với giao ước (so sánh Le 26:16), cũng có đôi trường hợp ngoại lệ chứng tỏ bệnh tật trên thể xác là dấu chứng Đức Chúa Trời trừng phạt đương sự (Dan 12:10-15 IISu 26:16-23). Tuy nhiên, những người bị bệnh ngoài da trong chương này bị cách ly khỏi cộng đồng vì tình trạng lây nhiễm, chớ không phải vì họ mắc bệnh mà xem họ là tội nhân. Các chứng bịnh, chứng tật khác không bị xử lý theo cách này. Thí dụ như người mù, người điếc không bị trục xuất khỏi cộng đồng thờ phượng (mỉa mai thay người mù được Chúa Giê-xu làm cho thấy trở lại lại bị đuổi ra khỏi nhà hội vì người ta hiểu sai về mối tương quan giữa bệnh tật và tội lỗi, Gi 9:1-41). Điểm này quả là quan trọng vì mù và điếc được dùng làm hình bóng chỉ về hậu quả của tội lỗi về mặt đạo đức và tâm linh trong khi Cựu Ước không dùng ‘bịnh phung’ làm hình bóng như vậy. Vì thế không thể có chuyện liên hệ ‘bệnh phung cùi’ với tội lỗi.
Dù ‘bệnh phung’ được coi là dấu hiệu hoặc tượng trưng cho tội lỗi hay không, thì hậu quả của nó rất thảm khốc về mặt xã hội và tôn giáo. Điều này làm cho câu chuyện về lòng thương xót của Chúa Giê-xu đối với bệnh nhân này lại càng nổi bật thêm. Ngài đến với họ bất chấp tình trạng họ bị xã hội khai trừ (cũng như Ngài từng đối xử với những người bị bỏ rơi khác) mà Ngài còn chủ ý rờ đến người họ nữa (Mac 4:40-45), như vậy Ngài dứt khoát gạt bỏ nguồn gốc gây ra ô uế cũng như gạt bỏ ý tưởng về thức ăn không sạch. Ngài mở rộng vương quốc Đức Chúa Trời cho ‘tội nhân’ rồi Ngài cũng đem những người đau ốm, tật nguyền đến với Đức Chúa Trời cứu rỗi, chữa lành. Các cơ quan y tế Cơ Đốc và cơ quan từ thiện chữa trị miễn phí cho bệnh nhân (nhất là những chứng bệnh di hại cho xã hội như bệnh phung và gần đây là bệnh AIDS) luôn luôn là dấu chứng mạnh mẽ về quyền cai trị của Đức Chúa Trời, vì các dấu hiệu này cũng bày tỏ quyền cai trị của Đấng bị ‘loài người khinh dể và chán bỏ, từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm, bị khinh như kẻ mà người ta che mặt chẳng thèm xem ...’ (Es 53:3).
(Le 14:1-32). Lễ tẩy sạch cho những người khỏi bệnh ngoài da. Nghi lễ ấn định trong chương này nhằm tiếp nhận vào cộng đồng trở lại những người bị bệnh ngoài da vốn phải sống cách ly với cộng đồng nhưng nay đã lành. Vì thế mục đích của nghi thức này không phải để chữa lành nhưng để xác nhận rằng đương sự đã được lành bệnh (3 cho nên mười người phung theo lệnh Chúa Giê-xu đi trình diện các thầy tế lễ được xem là việc làm đức tin, dọc đường họ được chữa lành, Lu 17:11-19).
Các thầy tế lễ Y-sơ-ra-ên không phải là những ông thầy lang đầy quyền lực kỳ bí. Tất cả những chỉ dẫn, những việc làm, những nghi thức trong các chương này đều công khai để thường dân, công chúng nếu muốn có thể kiểm lại sự chẩn đoán của thầy tế lễ. Những chỉ dẫn này không dành riêng cho một giới ưu tú nào trong tổ chức giáo hội đến nỗi người khác không hiểu nổi. Điều đáng chú ý là trong các nghi thức này không nhằm chữa trị bằng khoa huyền bí hoặc pháp thuật, cũng không đá động đến chuyện tà ma ám. Không phải vì căn bệnh vốn là nan y nhưng vì mọi sự chữa lành nằm trong tay Đức Chúa Trời, và phương thức chữa trị thích hợp cho bệnh này là cầu nguyện và lời phán của Đức Chúa Trời (Phu 32:29 Dan 12:13 IIVua 5:1-27 20:1-21). Chúng ta có thể để ý thấy những chương này chủ trương rằng có một số người trong dân sự của Đức Chúa Trời mắc bệnh mà không phải vì cớ họ không vâng lời Ngài hoặc họ phạm tội một cách trắng trợn, nhưng rồi có khi họ được lành, có khi không. Chủ trương này đánh đổ lập luận của một số người khi bình giải Xu 15:26 và Phu 7:15 là Đức Chúa Trời cất bỏ mọi sự rủa-sả khỏi dân sự của Ngài và Ngài sẽ luôn luôn chữa lành mọi bệnh tật của họ.
Những nghi thức tẩy sạch này rất có ý nghĩa, diễn ra trước mặt công chúng và mất nhiều thời gian. Không những các nghi lễ này bảo đảm với người vừa bình phục rằng giờ đây mọi chuyện đã trở nên tốt đẹp mà còn chứng tỏ cho mọi người trong xã hội biết rằng từ nay đương sự gia nhập trở lại với cộng đồng, nhất là được tham dự vào sự thờ phượng. Các nghi lễ này tương đương với cuộc ăn mừng đương sự được thoát khỏi kiếp sống kể như đã chết mà bước vào một đời sống mới trong miền đất của người sống và được tương giao với Đức Chúa Trời. Một lần nữa chúng ta nên nhớ rằng việc dâng của lễ chuộc tội và của lễ chuộc sự lầm lỡ là chuyện bình thường chung cho mọi người, chớ không nhằm cầu xin sự tha thứ về bất kỳ tội lỗi nào nhất là khi người ta tưởng ‘bệnh hoạn’ là do đã phạm một tội nào đó. Nếu đương sự nay đã bình phục nghĩ rằng nỗi khốn khổ mà đương sự đã phải trải qua là do Đức Chúa Trời nổi giận đối với một tội lỗi nào đó, thì sự chữa lành và các của lễ này chắc chắn bảo đảm cho đương sự sự tha thứ và sự tẩy sạch. Nhưng theo đúng nghĩa thì sự chuộc tội ở đây có liên quan đến việc tẩy sạch sự ô uế (chớ không nhất thiết là tẩy sạch tội lỗi cụ thể nào của đương sự) tương tự như trong trường hợp của một sản phụ sau khi sinh (Le 12:8), và của một ngôi nhà bị ô uế sau khi rửa sạch, vì các lời kết đều giống nhau (14:53).
(Le 14:33-53). Xử lý nhà ô uế. Từ 'sàra‘at' mô tả một cách tổng quát tình trạng bất thường xảy ra cho nhà cửa bao gồm các loại nấm, mốc, mục nát hoặc ụ mối. Cũng xử lý tương tự như trường hợp của người và quần áo. Sau khi kiểm tra và niêm phong nhà một tuần, các phần ô nhiễm sẽ được tháo gỡ và thay bằng các vật liệu tốt (36-42). Nếu không ngăn chận được tình trạng mục nát thì phải phá sụp toàn bộ ngôi nhà đó (43-47). Vì tiếp tục sống trong một ngôi nhà mục nát thì rất nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu cuộc ‘phẫu thuật’ thành công, ngôi nhà đó sẽ được tẩy sạch theo nghi thức tương tự với trường hợp tẩy uế con người, ngoại trư dâng sinh tế trên bàn thờ (48-53).
Dù ngôi nhà được tẩy sạch, nhưng ngôi nhà không tương giao riêng được với Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, ngoài yếu tố cá nhân và đạo đức vừa đề cập ở trên, điều thú vị là nghi thức tẩy uế nhà cửa tương tự như nghi thức tẩy uế dành cho con người. Quan niệm của Cựu Ước về sự tinh sạch bao gồm của môi trường lẫn con người. Đức Chúa Trời muốn con người tinh sạch sống trong một thế giới tinh sạch. Các nghi thức trong Lê-vi Ký nhằm đạt tiêu chuẩn đó trong phạm vi nước Y-sơ-ra-ên. Đến cuối cùng chỉ có sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ mới đạt được tiêu chuẩn đó cho toàn thể tạo vật khi Đức Chúa Trời ngự giữa dân Ngài trong một địa cầu tinh sạch (Kh 21:1-8,27).
4. Ô uế vì các chất tiết ra từ cơ thể (Le 15:1-33)
Chương này mô tả sự ô uế do các chất tiết ra từ cơ quan sinh dục nam và nữ. Về một mặt chương này phân biệt các chất tiết ra bất thường hoặc vì mắc bệnh kinh niên, về mặt khác phân biệt các chất tiết ra theo định kỳ. Tuy nhiên, cả hai dạng đều làm cho đương sự bị ô uế về mặt nghi lễ. Trong sách này cũng có các chương viết về các dạng ô uế, chúng ta phải nhớ rằng sự ô uế tự nó không phải là tội lỗi, dù có thể có liên hệ đến các việc làm tội lỗi, Chương này bao gồm các hình thức gây ô uế do các hành động hợp pháp hoặc do chức năng tự nhiên. Sư ô uế chỉ ngăn trở con người tham gia cuộc thờ phượng, chớ không bị cách ly khỏi cộng đồng như trường hợp mắc bệnh ngoài da (chương 13), nhưng đương sự phải giới hạn việc những sự đụng chạm giữa chính mình với những người hoặc đồ vật chung quanh.
(Le 15:1-18). Các chất tiết ra từ nam giới. Nghĩa đen của chữ cơ thể (2) là ‘thể xác’, trong một số đoạn khác thì từ này có nghĩa là cơ quan sinh dục. Trong chương này, vì tất cả những trường hợp khác đều liên quan đến bộ phận sinh dục nên chắc chắn từ này ám chỉ về dương vật, chớ không phải các chất tiết ra từ hậu môn, thí dụ như trường hợp bệnh trĩ.
Câu 2-15 xử lý trường hợp do bệnh kinh niên. Bịnh trạng mô tả ở đây là bệnh lậu tiết ra chất nhiễm trùng và kéo dài nhiều tháng. Không phải chỉ có bệnh nhân bị ô uế mà mọi người, mọi vật đụng đến đương sự đều bị ô uế, đáng chú ý là việc giữ vệ sinh phòng ngừa lây nhiễm, nhất là do đờm và nước miếng văng ra (8). Nhưng mối quan tâm chính vẫn là về mặt nghi thức tôn giáo, vì các luật tương tự cũng áp dụng cho trường hợp hành kinh dù không có nguy cơ lây lan bệnh. Sau khi hết bệnh, phải thực hiện các nghi thức tẩy uế khá đơn giản và không tốn kém so với chứng bệnh nghiêm trọng như thế (13-15).
Câu 16-18 xử lý những trường hợp thỉnh thoảng mới xuất tiết ra. Việc xuất tinh bình thường, hoặc trong lúc giao hợp (18) hoặc tự nhiên tiết ra trong ban đêm (so sánh Phu 23:10) cũng làm cho người nam bị ô uế một ngày. Chỉ cần tắm rửa là sạch.
(Le 15:19-33). Các chất tiết ra từ nữ giới. Phân đoạn này dạy xử lý các trường hợp xuất tiết theo một trật tự đảo so với trật tự đã áp dụng trong phân đoạn trên, khiến cho phân đoạn này có vẻ như hình ảnh của phân đoạn trên, phản chiếu qua tấm gương một thế cân đối và bình đẳng giữa hai phân đoạn.
Trước hết là những trường hợp có định kỳ (19-24). Trường hợp hành kinh bình thường kéo dài một tuần lễ. Trong tuần lễ này đương sự bị ô uế. Nếu người khác trực tiếp hay gián tiếp đụng phải đương sự, người đó bị ô uế trong một ngày. Còn nếu giao hợp trong lúc này, người nam sẽ bị ô uế bảy ngày. Chỉ dẫn này nhằm giải quyết trường hợp không ngờ, tức là chồng giao hợp với vợ đúng lúc bắt đầu hành kinh và thấy mình dính máu. Khi thời gian hành kinh đã bắt đầu rõ ràng thì vấn đề giao hợp bị cấm (Le 18:19). Sau kỳ hành kinh không cần dâng của lễ tẩy uế mà chỉ cần tắm rửa như trường hợp xuất tinh ở nam giới.
Kế đến là trường hợp xuất huyết do bịnh kinh niên. Nhiều chứng bệnh có thể kéo dài thời kỳ kinh nguyệt và tình trạng này kéo dài bao lâu thì người bệnh bị ô uế bấy lâu. Luật qui định là chỉ có giường ngủ của đương sự bị ô uế. Nhưng mọi người phải tránh đừng đụng đương sự, còn đương sự cũng tránh không đụng đến nhiều vật. Điều này lại càng làm cho chúng ta thấy thiếu phụ mắc bệnh này thật can đảm, vì bà dám chấp nhận sự tức giận của đám đông khi cố chen vào để rờ áo Chúa Giê-xu (Mac 5:24-34). Nghi thức dâng sinh tế tẩy sạch cũng tương tự như trong trường hợp bên nam giới khỏi bệnh kinh niên nơi bộ phận sinh dục (28-30).
Câu 31 rất quan trọng vì câu này tóm tắt các lý do đưa đến những luật lệ trong chương này, cũng như những luật lệ phân biệt tinh sạch và ô uế từ chương 11-15. Tình trạng không tinh sạch làm ô uế nơi cư ngụ của Đức Chúa Trời ở giữa Y-sơ-ra-ên. Do đó sự ô uế không chỉ gây nguy hiểm cho người trong cuộc (có thể chết vì không tôn trọng sự thánh khiết của Đức Chúa Trời như Na-đáp và A-bi-hu) mà còn gây nguy hiểm cho cả cộng đồng, nếu Đức Chúa Trời bất mãn quá mức về sự ô uế trong nơi ngự của Ngài thì Ngài sẽ từ bỏ nơi đó luôn.
Dù ngày nay nhiều người cho rằng các luật lệ này quá cầu kỳ và quá hẹp hòi, song chúng ta vẫn tìm ra được nhiều điểm tích cực. Trước hết là giữa nam giới và nữ giới có sự bình đẳng đáng kể. Cả hai bên đều bị ô uế sau khi giao hợp với nhau (18) và nghi thức tẩy sạch cho cả nam lẫn nữ sau khi khỏi bệnh đều tương tự như nhau.
Thứ hai, các nhà nhân chủng học cho biết những luật hạn chế sinh hoạt trong thời gian kinh nguyệt có hiệu quả về mặt xã hội trong nhiều xã hội xưa, vì tạo điều kiện cho phụ nữ được giãn nghỉ và ở riêng yên ổn trong thời gian hành kinh. Chắc chắc luật cấm giao hợp trong thời gian hành kinh khiến người ta phải nhớ tôn trọng sự nhạy cảm của phụ nữ trong thời gian này. Đấng Tạo Hóa biết về tác dụng của hoóc-môn trước khi loài người nhận biết là có chất này.
Thứ ba, nếu nghĩ rằng những luật lệ trong đoạn này chứng tỏ tình dục, sự giao hợp và những bộ phận sinh dục là tội lỗi thì sai lầm lắm. Nhưng những luật này có hạn chế sinh hoạt tình dục. Trong bất kỳ nền văn hoá nào cũng có nhiều điều tự nó là tốt đẹp và đúng đắn nhưng không thích hợp và gây bất bình trong vài hoàn cảnh (thí dụ bận y phục sơ sài trong một buổi trang trọng hoặc kể chuyện hài tại một đám tang). Ở Y-sơ-ra-ên vấn đề giao hợp trong hôn nhân là tốt và lành mạnh nhưng không thích hợp trong bầu không khí nghiêm trang của chiến tranh (ISa 21:4-5 IISa 11:11) hoặc nơi thờ phượng (Xu 19:14-15). Ảnh hưởng thực tiễn quan trọng nhất của Le 15:18 là loại trừ hoàn toàn những nghi thức có tính cách tình dục và ‘hành lạc thiêng liêng’ trong nghi lễ thờ phượng Đức Giê-hô-va. Những niềm tin cho rằng giao hợp trong cuộc thờ phượng là một tiết mục quan trọng và có ý nghĩa thiêng liêng đều đáng phải loại trừ. Cũng thế, các kỵ nữ không bao giờ được phép tham dự vào sự thờ phượng của dân Y-sơ-ra-ên, vì hầu như họ liên tục ở trong tình trạng ô uế (chưa kể vấn đề trong phương diện đạo đức).
5. Ngày lễ chuộc tội (Le 16:1-34)
Chương này coi như là một chương ‘bản lề’ của Lê-vi Ký. Chương này là đỉnh điểm của các chương trước viết về nhiệm vụ của các thầy tế lễ liên quan đến việc dâng của lễ và những cách thức chẩn đoán cùng xử lý tình trạng ô uế. Ngày lễ Chuộc Tội (yôm kippurim ngày này được đặt tên trong Le 23:26-27). Hằng năm ngày này là một dịp để ‘tẩy uế trọn gói’ bằng cách chuộc tội cho nơi thánh và toàn thể dân sự về những ô uế không ngờ đến trong năm để có thể giải quyết theo luật lệ. Niên lịch ấn định ngày này là sau Lễ Vượt Qua sáu tháng, tức là lễ kỷ niệm biến cố cứu chuộc trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, Ngày này đem lại cho dân sự một cơ hội tiếp tục tẩy sạch dân được chuộc để Đức Chúa Trời tiếp tục cư ngụ giữa họ.
Khi đọc lần đầu, chương này có vẻ rắc rối vì nhiều chi tiết lặp lại. Tuy nhiên, nội dung trở nên rõ ràng khi chúng ta nhận ra cấu trúc đặc biệt của người Do Thái là giới thiệu và tóm tắt điểm chính trước khi đi vào chi tiết. Bắt đầu là phần dẫn nhập (1-2) liệt kê các điểm yêu cầu trong nghi lễ của ngày đó (3-5), rồi tóm lược các nghi thức quan trọng nhất (6-10) sau đó là phần mô tả chi tiết. Tiếp theo là những nghi thức tẩy sạch những người tham gia (23-28), những chỉ dẫn đối với dân sự (29-31) và phần tóm tắt kết thúc (32-34).
(Le 16:1-2). Dẫn nhập. Các câu ngày liên hệ đại lễ chuộc tội với lễ tấn phong các thầy tế lễ và cái chết của Na-đáp và A-bi-hu (các chương 8-10) làm chúng ta nhớ lại khung sườn cơ bản làm nền tảng xây dựng Lê-vi Ký. Sự hiện diện của Đức Chúa Trời được biểu thị mãnh liệt nhất trong Nơi Chí Thánh (nguyên văn là ‘rất thánh’) tức là gian phía sau bức màn chia Hội Mạc làm hai phần (xem sơ đồ đền tạm). Trong nơi đó có một cái hòm (Xu 25:10-22) có nắp chuộc tội (thi ân). Trên nắp chuộc tội (kappòret) là hai chê-ru-bim bằng vàng. Có bản cũ dùng từ ‘ngôi thương xót’ (KJV, RSV) là sai lầm vì đây không phải là cái ngai (ngôi), có thể dùng từ này trong nghĩa bóng thôi (so sánh Thi 99:1). Dầu vậy từ này chuyển tải đầy đủ ý nghĩa của cái nắp này: Đây là một nơi thánh tột độ nhưng cũng là nơi đầy sự thương xót tột cùng vì tại đó Đức Chúa Trời gặp Môi-se (Xu 25:22). Có lẽ từ này liên quan đến động từ kipper (nghĩa là ‘chuộc tội’), vì vậy bản NIV dịch là nắp chuộc tội. Vì sự thánh khiết của Đức Chúa Trời được biểu thị cách mãnh liệt tại nắp đó, nên không một ai, kể cả A-rôn được phép bước vào gian phòng sau bức màn trừ ngày đại lễ chuộc tội và phải tuân thủ mọi thể thức ấn định.
(Le 16:3-5). Sinh tế và y phục cần thiết. Bắt buộc phải dâng năm con thú: một con bò đực, hai con dê đực và hai con chiên đực. Lễ phục của thầy tế lễ mặc trong ngày này hết sức giản dị. Khi ông đại diện cho Đức Chúa Trời trước mặt dân sự, thì trang phục của ông rất lộng lẫy, rất vinh hiển. Nhưng khi ông đại diện cho dân sự đến trước mặt Đức Chúa Trời thì y phục của ông không hơn gì y phục của một tên nô lệ: quần áo vải gai, dây lưng và khăn xếp.
(Le 16:6-10). Tóm tắt. Phần này liệt kê các tiết mục chính trong ngày lễ. Sau khi dâng con bò làm của lễ chuộc tội cho thầy tế lễ, người ta bốc thăm để chọn con dê đực dâng làm của lễ chuộc tội cho dân sự còn đuổi con kia vào đồng vắng.
(Le 16:11-22). Chi tiết về các nghi thức chính. Nghi lễ gồm bốn phần chính. Ba phần đầu có mục rảy huyết, là nghi thức tẩy sạch chính yếu.
Trước hết là dâng con bò làm của lễ chuộc tội cho các thầy tế lễ, kể cả thầy tế lễ thượng phẩm (11-14). Chẳng ai mà không cần được tẩy sạch. Kế đó, thầy tế lễ thượng phẩm bước vào Nơi Chí Thánh sau bức màn, xông hương mịt mù trước mặt mình để làn khói che mắt ông không nhìn thẳng vào hòm được. Sau đó ông rảy huyết tẩy sạch trước nắp chuộc tội hoặc trước hòm.
Thứ hai, sau khi ra khỏi Hội Mạc (chắc chắn đám đông dân chúng đứng ở ngoài thở phào nhẹ nhõm khi thấy ông ra đến ngoài), thầy tế lễ thượng phẩm dâng con dê được chọn làm của lễ chuộc tội cho dân sự, rồi ông đem huyết trở lại Nơi Chí Thánh và rảy huyết lần nữa. Mục đích là tẩy sạch nơi thánh khỏi mọi điều ô uế, phản nghịch và tội lỗi của dân sự đã làm ô uế nơi thánh trong suốt năm qua (16). Ông cũng phải làm như vậy cho Hội Mạc. Có lẽ qui định này ngụ ý là phải tẩy sạch hết thảy đồ vật trong Hội Mạc bằng cách rảy huyết (so sánh He 9:21-22). Chỉ một mình thầy tế lễ thực hiện các nghi thức này (17). Vấn đề ở đây là chỉ có một người được chọn làm trung gian trong Tân Ước và người đó là Đấng Christ (ITi 2:5).
Thứ ba, sau khi ra khỏi Hội Mạc lần thứ hai, thầy tế lễ dùng huyết của con bò và huyết dê trộn chung lại để rảy huyết tẩy sạch bàn thờ. Điều này chứng tỏ rằng các thầy tế lễ cũng như dân sự có thể đã vô tình gây ô uế cho Hội Mạc.
Cuối cùng cao điểm là nghi thức đuổi con dê gánh tội, và nhìn từ phía dân sự thì đây là cảnh tượng náo động nhất. ‘Con dê gánh tội’ là cách dịch tốt hơn là cụm từ ‘con dê cho azàzèl’ (8,10,26). Không biết rõ từ azàzèl. Theo Le 17:7 thì chắc đây không phải là tên của ma quỷ hoặc tà linh ở đồng vắng. Bản NEB dùng từ ‘vực sâu’ phản ánh truyền thống của dân Do Thái sau này là dẫn con dê đến ‘bờ vực sâu’ rồi xô nó xuống vực. Một số người cũng thấy ý nghĩa này trong cụm từ nơi hoang vắng (22) nghĩa đen là ‘nơi cô lập’. Nhưng đây toàn là suy đoán thôi. Ý nghĩa của nghi lễ này mới là quan trọng, bởi vì đoạn văn nhấn mạnh nghi thức này và giải nghĩa một cách rõ ràng trong câu 21-22. Hết thảy tội lỗi của dân sự kể như đặt trên con dê trong ý nghĩa hình bóng và con dê ném đi xa. Đức Chúa Trời không chỉ tha thứ tội lỗi và tẩy sạch sự ô uế, thậm chí Ngài còn cất đi khỏi tầm nhìn và trí nhớ nữa (so sánh Thi 103:12 Mi 7:19).
(Le 16:23-28). Kết thúc. Xong phần nghi thức chính là đến phần ‘thu dọn’. Thầy tế lễ thượng phẩm phải tắm rửa và bận trang phục thầy tế lễ thượng phẩm, sau đó ông dâng hai con chiên đực (3,5) là của lễ thiêu cho các thầy tế lễ và dân sự. Còn những người phụ giúp cũng phải tắm rửa vì đã đụng chạm đến con dê gánh tội lỗi hoặc xác sinh tế.
(Le 16:29-34). Qui định cho dân sự. Phần này ấn định ngày giữ lễ hàng năm, nhằm tháng thứ bảy (âm lịch) tức là cuối tháng 9, đầu tháng 10. Đây là ngày trọng đại, không chỉ là ngày sa bát mà còn là ngày ‘buồn rầu’. Có thể mệnh lệnh ép linh hồn mình nghĩa là ăn năn và kiêng ăn (so sánh Le 58:3,5 Thi 35:13).
Chú giải. Ý nghĩa của ngày lễ Chuộc Tội trong thơ Hê-bơ-rơ. Chúng ta thấy Tân Ước luôn luôn dùng hình bóng sinh tế để giải thích sự chết của Chúa Giê-xu, nhưng chỉ có tác giả sách Hê-bơ-rơ vận dụng các chi tiết trong ngày Lễ Chuộc Tội để giải nghĩa về sự chết của Chúa Giê-xu trên thập tự giá. Đặc biệt là trong He 9:1-10:22, ông vừa so sánh vừa đối chiếu. Cao điểm là sự kiện bức màn phân cách Nơi Chí Thánh bị xé ra từ trên xuống dưới vào lúc Chúa chết (Lu 23:45). Ông chứng minh một lẽ thật thuộc linh là sự kiện này hình bóng rằng nhờ chính huyết của mình, Đấng Christ đã mở con đường đi thẳng vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Sinh tế do Ngài dâng lên không phải vì chính mình Ngài, nên không cần dâng lặp lại mà có hiệu quả đời đời. Bởi thế mọi tín đồ có thể dạn dĩ và thường xuyên đến nơi mà thầy tế lễ thượng phẩm chỉ có thể đến mỗi năm một lần (He 10:19-22). Tân Ước không bao giờ dùng hình con dê đực gánh tội để chỉ về Đấng Christ, dù các tác phẩm Cơ Đốc vào thời kỳ đầu tiên có nêu ra mối liên hệ này. Tuy nhiên hình bóng hai mặt mô tả Đấng Christ vừa ‘trở nên tội lỗi thay cho chúng ta’ (IICo 5:21) vừa ‘mang tội lỗi cho chúng ta’ (IPhi 2:24) phù hợp với vai trò của cả hai con dê đực trong Ngày Chuộc Tội - tức là một con dâng làm của lễ chuộc tội, một con mang tội lỗi của dân sự đem đi xa. Vì ‘Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên Ngài’ trong sự chết Ngài (Es 53:6).
6. Những qui định bổ sung cho luật dâng của lễ và ăn thịt sinh tế (Le 17:1-16)
Chương này kết thúc phân nửa đầu của sách bằng cách bổ sung một số qui định về việc dâng sinh tế và việc ăn thịt sinh tế để giải thích rõ ràng một số vấn đề có thể khiến người bình dân hiểu lầm. Vì chương này quan tâm hướng dẫn dân sự chớ không hướng dẫn các thầy tế lễ thực hiện nhiệm vụ, nên một số người cho chương này thuộc về phân nửa thứ hai của sách. Nhưng chương này đi liền với các chương 1-16 thì có vẻ tự nhiên hơn, còn chương Le 18:1-5 rõ ràng giới thiệu một phần mới.
3-7. Không được giết gia súc có thể dùng làm của lễ (bò, chiên, de) để ăn thịt ngoài đền tạm. Khi một gia đình muốn ăn thịt, trước hết họ đem con thú đến đền tạm dâng làm của lễ thù ân (5), rồi nhận lại một phần lớn số thịt để nấu ăn (7:12-18). Luật này áp dụng cho dân Y-sơ-ra-ên khi họ còn là một cộng đồng giao ước trong đồng vắng. Khi đã định cư trong xứ, thì họ không áp dụng luật này nữa, vì không thể thực hiện được. Mục đích của luật này được giải thích trong câu 5-7, luật này không chỉ nhằm bảo vệ đặc quyền của đền tạm hoặc quyền lợi của các thầy tế lễ (hoặc khuyến khích chế độ ăn chay) mà đúng hơn là xoá bỏ sự thờ hình tượng tận gốc rễ (7). Có thể các thần tượng có hình con dê là các linh hoặc ma quỉ ở miền quê, thường được hình dung là loại dê đực (‘thần dê’). Người Ai Cập thờ thần tượng dê đực và thói thờ hình tượng của người Ai Cập còn tồn tại giữa Y-sơ-ra-ên trong một thời gian (so sánh Gios 24:14 Exe 20:7 23:1-49). Cụm từ thông dâm cùng no nói bóng về tội thờ hình tượng (Xu 34:15-16 Le 20:5-6) nhưng cũng có thể hàm ý thông dâm hoặc giao hợp với thú vật (so sánh 22:19-20 18:23 20:15-16 Os 4:10-14). Để ngăn chặn thói tục thờ hình tượng, nên có qui định bắt buộc phải đem con thú đến đền tạm giết làm của lễ rồi tổ chức một bữa tiệc thân mật của gia đình tại đền tạm.
8-9. Không được phép dâng sinh tế ngoài đền tạm, có lẽ cũng cùng một lý do (tức là ngăn chặn thói tục thờ hình tượng). Tại đây sinh tế dứt khoát được dâng lên cho Đức Giê-hô-va, tức là Đức Gia-vê, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Luật này (và các luật tiếp theo) đều áp dụng cho các khách lạ sống giữa họ cũng như áp dụng cho cả dân Y-sơ-ra-ên. Luật pháp Cựu Ước quan tâm và dành cho các kiều dân nhiều quyền lợi đáng kể, nhưng họ không được phép dâng sinh tế, e rằng họ đưa dân Y-sơ-ra-ên vào tội thờ hình tượng. Xin xem phần bình giải chương 25 về vấn đề ‘kiều dân’.
10-12 Luật cấm ăn huyết (tức là ăn thịt chưa lấy máu ra) đã được công bố (Le 3:17 7:26-27), nhưng mới được giải thích ở đây và được nhấn mạnh bằng cách lập lại (so sánh câu 14 huyết là sự sống của mọi vật). Ở đây những sự kiện sinh lý học về việc huyết mang ‘sự sống’ đến mọi bộ phận trong cơ thể và việc mất nhiều máu dẫn đến cái chết nhanh chóng được đặt thành vấn đề đạo đức và nguyên tắc thuộc linh. Khi huyết của con thú chảy ra có nghĩa là sự sống của nó bị nộp cho sự chết. Như vậy theo ý nghĩa sinh tế thì sự sống của con thú đã mua chuộc và tẩy sạch (chuộc tội cho) sự sống của con người tội lỗi vì con thú chết thay cho con người trong các nghi thức dâng sinh tế. Vì thế lý do chính trong luật cấm ăn huyết là vì yếu tố linh thiêng của huyết. Lý do phụ có thể là khắc ghi vào lòng một tinh thần tôn trọng sự sống, không được xem thường hoặc huỷ diệt sự sống. Đây là nguyên tắc có từ lâu đời ở Y-sơ-ra-ên, liên hệ đến giao ước của Nô-ê (Sa 9:4-6).
13-14 Các câu này đề cập đến các con vật tinh sạch (được phép ăn thịt) nhưng không dâng làm sinh tế được. Có thể giết các loài thú này để ăn thịt mà không cần mang đến đền tạm dâng lễ, nhưng phải lấy hết máu ra và ‘chôn’ đi. Dù không được dâng trên bàn thờ, nhưng huyết vẫn linh thiêng và được tôn trọng như sự sống.
15-16. Một con thú chết tự nhiên, tức là không có dâng làm của lễ, không bị săn bắt hoặc bị giết, trên thực tế bị kể là ô uế vì là một xác chết (chưa tính đến trường hợp nghi ngờ bị lây nhiễm nữa). Do đó ăn thịt các con thú chết như vậy sẽ bị ô uế. Có nhiều luật khác cấm dân Y-sơ-ra-ên ăn loại thịt đó (Xu 22:31). Có thể cho chó ăn (22:31) hoặc cho những người ngoài dân Y-sơ-ra-ên (Phu 14:21). Vì vậy các câu này bàn về những người vô tình ăn nhằm thịt thú vật không bị giết và không có ai lấy máu ra. Đương sự phải tẩy uế, nếu không sẽ có tội (16).
Trong một số xã hội, giới Cơ Đốc nhân cấm ăn và uống huyết là vì việc này có liên quan đến thói tục thờ hình tượng. Việc cấm đoán này kể cũng là một biện pháp chính đáng tương tự như mục đích chính của chương này. Một số Cơ Đốc nhân cảm thấy chính đáng khi tránh các hình thức cờ bạc khá vô hại, nhưng có liên hệ đến tội nặng hơn là ‘tham lam vì tham lam là thờ hình tượng’. Nguyên tắc này có thể triển khai áp dụng vào nhiều lãnh vực, nhưng phải thận trọng kẻo mắc phải tinh thần duy luật pháp hoặc tinh thần xét đoán. Hội nghị Giê-ru-sa-lem định rằng những người ngoại bang trở lại tin Chúa không bị buộc phải cắt bì và tuân thủ tất cả luật pháp Môi-se. Tuy nhiên, hội nghị vẫn yêu cầu họ phải giữ các điều chính yếu của chương này, có lẽ vì muốn tôn trọng cảm xúc của các tín đồ người Do Thái. Đây là nguyên tắc sống của Phao-lô (Cong 15:29 và phần bình giải, Ro 14:14-23 ICo 9:19-23).
4. THỰC HÀNH NẾP SỐNG THÁNH KHIẾT (Le 18:1-27:34)
Phân nửa đầu của sách chủ yếu bàn về nhiệm vụ của các thầy tế lễ, phần lớn trong phân nửa cuối này chủ yếu nhắm vào dân sự. Ngay cả những chương viết cho các thầy tế lễ (21-22) cũng bàn về các vấn đề liên quan đến đời sống gia đình của họ trong cộng đồng nhiều hơn là nhiệm vụ của họ trong đền tạm. Thoạt nhìn các chương này có vẻ viết về đủ loại luật lệ. Nhưng có một ý tưởng chủ chốt liên quan đến tất cả các luật này. Đó là dân sự của Đức Chúa Trời phải thánh để phản chiếu lại sự thánh khiết của Ngài. Như chúng ta đã thấy, thánh khiết có nghĩa là đặc thù, do đó các câu mở đầu phân đoạn này viết về những nét đặc thù bằng các lời lẽ rõ ràng (Le 18:1-3). Dân Y-sơ-ra-ên phải khác biệt các dân tộc ngoại bang sống quanh họ. Nhờ căn cứ vào yêu cầu cơ bản này mà ta có thể lý giải được nhiều luật lệ tưởng chừng vô phương hiểu thấu. Trước hết là thánh khiết trong đời sống hôn nhân, gia đình và quan hệ tình dục (chương 18-20). Kế đến là một loạt qui định chi phối đời sống thực tế trong xã hội (chương 19). Đời sống thánh khiết bao gồm nhiều yêu cầu đặc biệt đối với các thầy tế lễ và gia đình của họ (chương 21-22), và sinh hoạt của họ coi như đan dệt với lịch hàng năm (chương 23). Một sự cố lịch sử (24:10-23) tương đương với trường hợp Na-đáp và A-bi-hu trong phân nửa đầu của sách làm cho các luật này thêm phần nghiêm trọng. Thời gian cũng phải nên thánh nữa vì luật sa-bát triển khai thành năm sa-bát và năm hân hỉ, và như vậy, sự thánh khiết bao trùm toàn thể lãnh vực kinh tế (chương 25). Năm hân hỉ (bắt đầu từ Ngày Chuộc Tội) là cao điểm của phần sách này tương tự như Ngày Chuộc Tội là cao điểm của phần thứ nhất. Tiếp theo là bản liệt kê đặc biệt về phước hạnh nếu vâng phục và rủa-sả nếu không vâng phục (chương 26), cuối cùng là vài lời bổ sung về sự thề nguyện và dâng hiến (chương 27), tương tự như chương 17 bổ túc cho các chương trước đó.
1. Quy định về quan hệ tình dục (Le 18:1-30)
(Le 18:1-5). Một dân khác biệt. Câu Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi luôn được lập lại trong các chương sau làm cho phần sách này khác với phần sách trước. Trong phần sách trước câu này chỉ xuất hiện một lần trong chương Le 11:44-45. Câu này cô đọng đầy đủ về mối liên hệ giao ước, vạch rõ Đức Chúa Trời chủ động bày tỏ ân điển đối với họ trong việc giải cứu họ ra khỏi Ai Cập (11:45) và đề ra những qui định để dân Y-sơ-ra-ên theo đó chu toàn vai trò đặc biệt của họ làm một dân tộc thánh trong thế giới (so sánh Xu 19:3-6). Nét đặc thù này có liên quan đến quá khứ và tương lai. Y-sơ-ra-ên không được học đòi theo dân Ai Cập hoặc dân Ca-na-an. Khảo cổ học đã tìm ra đầy đủ những bằng cớ về thói thờ hình tượng và những sự đồi bại trong tôn giáo và trong nền văn hoá của Ai Cập và Ca-na-an. Nhiều luật cấm sau này có liên quan đến những thói thờ hình tượng và những sự đồi bại đó. Tân Ước dứt khoát dạy rằng dân của Đức Chúa Trời cần phải phân rẽ khỏi các lãnh vực tội lỗi, thờ hình tượng của xã hội chung quanh tương tự như những điều luật Cựu Ước dạy dân Y-sơ-ra-ên (Mat 5:13-16 Lu 22:24-26 ICo 6:9-11 Eph 4:17-24 IPhi 2:11-12).Thật vậy, xã hội của dân Y-sơ-ra-ên có mục tiêu đạo đức căn bản là họ được tạo nên để làm mẫu khác biệt như vậy cho các dân tộc trong thời đại cổ xưa. Khi chúng ta quan sát những điểm khác biệt này và những lý do đằng sau những khác biệt đó, chúng ta có thể hình dung được các điểm ưu tiên và mục tiêu đạo đức của đời sống Cơ Đốc nhân sống trong thế giới hiện đại.
Không nên hiểu câu 5 có ý dạy rằng tuân thủ luật pháp là sẽ được cứu rỗi. Theo ý nghĩa đầy đủ nhất trong Cựu Ước thì sống có nghĩa là tận hưởng các phước hạnh và hạnh phúc trong mối liên hệ giao ước với Đức Chúa Trời mà Ngài đã thiết lập bằng công tác cứu chuộc của Ngài (3). Đời sống phước hạnh này phát xuất từ lòng vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời, tức là đáp ứng lại sự cứu rỗi chớ không do nỗ lực mà giành được hoặc đạt được.
(Le 18:6-18). Các giới hạn về quan hệ tình dục. Câu 6 tóm lược nguyên tắc căn bản chi phối vấn đề này. Cụm từ quan hệ tình dục bao gồm cả trong hôn nhân lẫn ngoài hôn nhân. Cụm từ bà con gần không chỉ bao gồm những người mà chúng ta gọi là họ máu (thí dụ như anh chị em hoặc cha mẹ về mặt sinh học), mà bao gồm cả những người có liên hệ qua hôn nhân (bố mẹ chồng hoặc bố mẹ vợ hay bà con bên chồng, bên vợ). Vì thế các điều cấm trong lãnh vực này bao trùm một phạm vi rộng hơn chớ không phải gọn trong định nghĩa về sự loạn luân và được ban hành nhằm bảo vệ mối quan hệ trong sạch bên trong phạm vi gia đình mở rộng đến thông gia. Đây là cơ cấu đặc trưng trong tổ chức xã hội Y-sơ-ra-ên.
Đơn vị gia đình thời nay chỉ có hai đời trong khi gia đình người Y-sơ-ra-ên gồm từ ba đến bốn đời hậu duệ của một người nam duy nhất còn sống và là chủ gia đình (tức là gồm các con trai, con dâu, gia đình của họ và các người giúp việc trong nhà) tất cả sống sát cánh nhau. Nhưng cơ cấu gia đình mở rộng không phải là một cộng đồng cho phép quan hệ buông thả. Các luật này bảo vệ sự trong trắng và giới hạn của các thành viên trong hôn nhân và các thành viên trong đơn vị gia đình. Có thể chúng ta hiểu và khâm phục những quy định này đem lại nhiều lợi ích về mặt di truyền (thí dụ như các luật qui định về sự ô uế đem lại lợi ích về mặt vệ sinh), nhưng thời xưa trong dân Y-sơ-ra-ên chắc không một ai nhận thức đúng giá trị của luật này. Áp dụng cho đúng luật lệ này thì những tục quan hệ tình dục có tính cách loạn luân thường xảy ra trong giới hoàng tộc ở Ai Cập và Mê-sô-bô-ta-mi đều bị lên án tại Y-sơ-ra-ên. Các bộ luật ở vùng Cận Đông có luật cấm loạn luân trong một chừng mực nào đó, nhưng không nghiêm cấm như luật Cựu Ước. Câu chuyện của Ta-ma và Am-nôn (IISa 13:1-39 nhất là các c.12-13) là trường hợp vi phạm luật pháp rất hiếm hoi nhưng cũng đủ làm cho mọi người sửng sốt, bất bình. Một lợi ích khác nữa (nét đặc thù của các luật lệ trong Cựu Ước) là bảo vệ phụ nữ khỏi bị lợi dụng tình dục vì trong một cộng đồng sống gần gũi, họ ở trong một vị thế dễ bị hại. Trên nguyên tắc, trong xã hội hiện đại, chúng ta càng dễ nhận thấy những điều luật cấm kỵ tương tự là cần thiết vì chắc chắn chúng ta cũng phải sửng sốt và bất bình về mức độ lạm dụng tình dục đối với trẻ em từ phía cha mẹ hoặc xảy ra trong trung tâm nuôi trẻ bụi đời, trẻ mồ côi và tình trạng phụ nữ bị quấy rối tình dục ở công sở.
(Le 18:19-23). Các luật cấm khác Vấn đề dâng trẻ con làm của lễ (21 Mo-lóc là tên của vị thần xứ Ca-na-an và các xứ khác), vấn đề giao hợp giữa hai người nam (22) và nam nữ giao hợp với thú vật (23) tất cả đều là nghi thức thờ phượng ngoại đạo ở Ai Cập, Ca-na-an và nhiều nơi khác. Có thể đây là lý do các vấn đề này được gộp chung với nhau ở đây. Những lời bình luận ngắn ở cuối mỗi câu chứng tỏ những tội này bắt nguồn từ nền đạo đức đồi bại nhiều hơn là liên quan đến tín ngưỡng ngoại bang. Tác giả xác định những tội lỗi trên đây là xúc phạm đến danh Đức Chúa Trời ngươi (tức là sỉ nhục danh Đức Giê-hô-va giữa các dân tộc) hoặc là điều ghê tởm (một từ ngữ bày tỏ sự chống đối quyết liệt trong Cựu Ước, dùng để chỉ những điều Đức Chúa Trời ghét hoặc lên án) hoặc là sự đồi truỵ (nghĩa đen là ‘lộn xộn’ tức là pha trộn lộn xộn những điều mà Đức Chúa Trời tạo dựng với chủ ý giữ riêng biệt, tách lẻ).
(Le 18:24-30). Cảnh cáo và bài học cụ thể. Lời kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên phải trở nên một dân khác biệt được phê nhận bằng lời đe doạ rằng nếu dân Y-sơ-ra-ên đi theo đường lối của dân Ca-na-an thì họ sẽ đồng chung số phận với dân Ca-na-an. Đất sẽ mửa họ ra. Lối nói sống động này diễn tả đúng với phản ứng nhờm gớm của Đức Chúa Trời. Các câu này rất quan trọng vì nó đặt cuộc chinh phục Ca-na-an vào đúng bối cảnh. Cuộc tiêu diệt dân Ca-na-an không còn là vấn đề Đức Chúa Trời độc đoán và thiên vị, mà rõ ràng là vấn đề trừng phạt một xã hội được Kinh Thánh mô tả và khoa khảo cổ xác nhận là suy đồi, truỵ lạc và thù địch. Hơn nữa, Đức Chúa Trời tỏ ra rằng Ngài trung thực với lời Ngài đã phán, Ngài không chỉ đe doạ mà Ngài thực sự thi hành bản án đó trong lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên. Tân Ước dùng lịch sử Y-sơ-ra-ên với mục đích cảnh cáo tương tự như Cựu Ước dùng lịch sử dân Ca-na-an để cảnh cáo. Cũng vậy, các Cơ Đốc nhân phải đề phòng tánh tự mãn và kiêu ngạo khi cứ cố tình phạm tội mãi (ICo 10:1-12 IITi 2:11-19 He10:26-31).
2. Hiến chương xã hội Y-sơ-ra-ên (Le 19:1-37)
Chương này chiếm vị trí quan trọng giữa những phần viết phong phú nhất về nguyên tắc đạo đức của Cựu Ước, cùng với các đoạn như Phu 23:1-25:19 Thi 15:1-5 Am 5:1-27 Mi 6:6-8 Giop 31:1-40 Exe 18:1-32 Es 58:1-14. Rất bổ ích khi nghiên cứu kỹ chương này với sự trợ lực của một quyển Kinh Thánh đối chiếu hoặc phù dẫn vì nhiều luật pháp trong chương này được bàn rộng hơn trong Phục Truyền Luật Lệ Ký và lập lại trong Thi Thiên, Châm Ngôn và các sách Tiên Tri. Chương này lập lại và luận giải tất cả Mười Điều Răn dưới nhiều hình thái, đồng thời cũng cô đọng Mười Điều Răn mà Chúa Giê-xu gọi là điều răn lớn thứ hai, còn Phao-lô coi đây là cốt lõi của luật pháp: Yêu kẻ lân cận như chính mình (18 so sánh Mat 22:27-40 Ro 13:8-10). Chương này có lối hành văn súc tích, dễ nhớ, có phần mở đầu rõ ràng (2) và phần kết luận bao quát (37), nên có lẽ ngày xưa người ta dùng để dạy cho nhau về nhiệm vụ đối với gia đình và xã hội. Chương này ảnh hưởng mạnh mẽ đến lời dạy dỗ của Chúa Giê-xu về những vấn đề ưu tiên trong phương diện đạo đức và cũng là nền tảng cho một số vấn đề trong thư tín của Gia-cơ.
(Le 19:2) Chương này lấy chủ đề của phần thứ hai và là phần cuối của Lê-vi Ký làm đầu đề: Hãy nên thánh vì Ta, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi, là thánh. Phần còn lại gạt bỏ tất cả những ý nghĩ nào cho rằng Cựu Ước dạy chỉ cần nghi thức tẩy sạch là đủ đạt đến sự thánh khiết. Thật ra dân Y-sơ-ra-ên phải biểu thị sự thánh khiết qua mọi khía cạnh thực tế của đời sống - từ mép râu chân tóc đến góc ruộng đồng. Vì thế, không phải chỉ cần rút lui khỏi cuộc sống hàng ngày rồi ẩn mình trong chốn tôn nghiêm là đạt được sự thánh khiết. Thánh khiết nghĩa là biến đổi cuộc sống hàng ngày nhờ những hành vi có giá trị hoàn toàn khác các lề thói của thế giới chung quanh.
(Le 19:3-4) Hai câu này tổng hợp điều răn thứ năm, thứ sáu và thứ hai. Địa vị quan trọng của gia đình ở Y-sơ-ra-ên được biểu thị qua việc đặt sự kính trọng cha mẹ lên ưu tiên hàng đầu (đồng thời xin chú ý là chẳng những người mẹ cũng được kể đến mà còn được đặt lên hàng đầu). Phu 27:15-16 cũng trình bày một thang giá trị tương tự. Việc sắp xếp luật sa-bát song song với bổn phận của con cái đối với cha mẹ (3) và bổn phận của cha mẹ đối với con cái (29-30) phản ánh sự hữu dụng của luật sa-bát đối với nếp sống của gia đình. Đây không phải là một qui định trong phạm vi tôn giáo mà là một điều luật rất quan trọng nhằm bảo toàn kinh tế xã hội. Khinh thường hoặc bỏ qua ngày nghỉ và cứ làm ăn liên tục tức là tham lam và bóc lột dân nghèo (Am 8:4-6 Es 58:1-14) và sẽ làm tan nát gia đình (Mi 2:1-2,9). Nhưng tệ nạn xã hội loại này có liên quan chặt chẽ với tội thờ hình tượng (4), hoặc tôn thờ thần Ba-anh của dân Ca-na-an, hoặc tôn thờ chủ nghĩa tiêu dùng.
(Le 19:5-8). Có vẻ như luật dâng của lễ này rơi rớt từ những chương trước rồi nằm lộn vào đây. Tuy nhiên, lý do khiến luật này được lập lại trong một chương chủ yếu viết về các mối quan hệ trong xã hội có lẽ là vì tính cách xã hội của của lễ thù ân. Trong số các của lễ, của lễ thù ân có tính cách xã hội bậc nhất. Nội trong hai ngày phải ăn hết thịt của con thú dâng làm sinh tế. Cho nên gia đình phải mời bạn bè và hàng xóm ăn chung. Như vậy, quy định này nhằm giúp xây dựng một tinh thần san sẻ rộng rãi trong cộng đồng và phù hợp với điều luật tiếp theo.
(Le 19:9-10). Quyền mót lúa. (so sánh Le 23:22 Phu 24:19-22) là một biện pháp dành phúc lợi cho người nghèo (tức là dành cho những người thiếu sự bảo đảm bình thường của một gia đình, thí dụ như những quả phụ và trẻ mồ côi) và dành cho những người không có đất đai nên phải bán sức lao động hoặc khả năng, tài năng để mưu sống (các kiều dân, người Lê-vi, người làm mướn). Ngoài lần trợ giúp hàng năm này ra, thì cứ ba năm một lần, một phần mười sản phẩm được thu gom lại để làm lương thực dự trữ phân phát cho người nghèo khó (14:28-29), rồi trong năm sa-bát dân nghèo khó cũng được tự do hưởng hoa quả của đất đai trong xứ (tức năm thứ bảy) (Xu 23:10-11).
Như vậy, việc cứu giúp người nghèo trong dân Y-sơ-ra-ên được đặt luôn vào cơ chế pháp lý và kinh tế của xã hội, chớ không phải chỉ là vấn đề từ thiện của cá nhân. Điều luật này tiêu biểu cho luật trong Cựu Ước, không nhìn vấn đề theo góc độ quyền lợi mà theo góc độ trách nhiệm. Tức là luật này cho phép người nghèo mót lúa, nhưng ra lệnh cho các chủ đất chừa lúa lại cho họ mót. Bô-ô là trường hợp điển hình trong thực tế về việc này (Ru 2:1-23).
Có thể các chủ đất (và các phương tiện sản xuất khác) không chủ ý gây ra cảnh khốn khó của người nghèo (dù các tiên tri kịch liệt lên án rằng lòng tham lam cùng sự bóc lột của họ đã góp phần gây khốn khó cho người nghèo) nhưng họ có trách nhiệm làm giảm bớt cảnh khốn khó đó trước mặt Đức Chúa Trời. Như vậy, luật này đặt quyền sở hữu tài nguyên vào khuôn khổ chịu trách nhiệm với Đức Chúa Trời và người khác, đồng thời gạt bỏ chủ trương cho rằng quyền tư hữu đất đai là quyền tuyệt đối hoặc là quyền tự do bòn rút, vơ vét cho đến chút lợi cuối cùng trên mảnh đất của mình. Thật là khôi hài khi nghĩ rằng nếu áp dụng luật này vào ngành kinh tế nông nghiệp hiện đại, tức là không cho phép máy gặt liên hợp làm việc đạt hiệu quả cao nhất. Dù cơ chế kinh tế thuộc dạng nào đi nữa thì điều quan trọng là phải có biện pháp dự trù đàng hoàng cho người nghèo. Quyền sở hữu đem lại trách nhiệm, chớ không đem lại đặc quyền. Đây là ý nghĩa thực tiễn về sự thánh khiết.
(Le 19:11-18). Chủ đề của các câu này là chịu trách nhiệm với Đức Chúa Trời về người lân cận của mình. Các câu này bao trùm nhiều hoàn cảnh xã hội, nhưng liên kết với nhau bằng cụm từ được lập lại nhiều lần: ‘Ta là Đức Giê-hô-va’ (12, 14, 16, 18). Điều này biểu thị hết sức rõ ràng là ‘điều răn lớn thứ hai’, yêu kẻ lân cận như mình (18) phản ảnh điều răn thứ nhất, yêu mến và kính sợ Đức Chúa Trời. IGi 4:20-21 lập lại chính xác điểm chính của các câu này.
Chúa Giê-xu không phải là người duy nhất nêu lên ý nghĩa sâu xa của luật pháp. Điều răn thứ tám, thứ chín và thứ ba được cô đọng trong câu 11-12 và áp dụng vào mọi hình thức gian dối hoặc lường gạt một cách chung, và cụ thể là trong liên hệ chủ nhân và người làm công. Chương Le 6:2-7 lên án tất cả những hành vi đó là ‘bất trung với Đức Giê-hô-va’. Ở Y-sơ-ra-ên người ta nhân danh Đức Chúa Trời thề nguyện để xác quyết các giao kèo và những hình thức cam kết. Vì thế, không tuân thủ những điều đôi bên đã thoả thuận tức là không tôn trọng Đức Chúa Trời cũng như lừa gạt người khác. Thuê mướn một người làm việc cho mình, rồi không trả tiền công xứng đáng hoặc không trả ngay cho người đó thì cũng tương đương như tội cướp bóc (13 so sánh Gie 22:13).
Nhiều nơi trên thế giới, người làm thuê công nhật vẫn còn là thành phần kinh tế dễ bị lợi dụng và bóc lột nhất. Dù chỉ áp dụng một điều luật nhỏ nhất trong câu 13b, tức là trả tiền công trong ngày để người làm thuê có tiền mua thức ăn tối thay vì nhịn đói mà đi ngủ, thì cũng đủ thay đổi đời sống của hàng triệu người. Phu 24:14-15 cũng buộc phải áp dụng luật này đối với các ‘ngoại kiều’ làm thuê trong xứ, vì họ là thành phần bị bóc lột nhiều nhất trong xã hội thời xưa cũng như trong xã hội thời nay. Chúa Giê-xu đã dùng cảnh ngộ khốn khó của thành phần này để minh hoạ mức độ rộng lượng vượt lên trên mức đòi hỏi của luật pháp (Ma 20:1-16). Một lần nữa, Cựu Ước ấn định các quyền lợi (trong trường hợp này là quyền lợi của giới công nhân) dưới dạng trách nhiệm của chủ. Cũng thế, mệnh lệnh cấm không được chế giễu hoặc lợi dụng người khuyết tật (so sánh Phu 27:18 Ch 17:5) là một hình thức đòi hỏi tôn trọng nhân quyền của thành phần này. Đây cũng là một cách biểu thị sự thánh khiết.
Sự thánh khiết đòi hỏi cộng đồng địa phương phải có sự công bằng (15-18). Ở Y-sơ-ra-ên thời xưa, quyền thi hành công lý nằm trong tay các vị trưởng lão tại mỗi vùng. Vì thế điều quan trọng là họ không được để cho tình cảm lệch lạc hoặc lòng tôn trọng không đúng chỗ (15) hoặc những mưu đồ gian ác hoặc những lời làm chứng man trá của công chúng làm hoen ố sự công bằng chánh trực của họ (16). Câu Chớ làm điều gì hại đến mạng sống người lân cận của ngươi trong bản NIV là một lời khuyên xác đáng nhưng không chuyển tải hết ý của bản tiếng Hi Bá Lai. Thực ra cụm từ này ám chỉ về quyết định của toà dẫn đến án tử hình. Vì thế vấn đề trật tự hài hoà trong một cộng đồng không chỉ tuỳ thuộc vào những người ‘chuyên môn’ mà còn tuỳ thuộc vào hành vi tích cực của mọi người là tránh nói hành, thù ghét, trả thù và tránh cả ác cảm (câu 17a bác bỏ mọi ý nghĩ sai lầm cho rằng luật pháp Cựu Ước bàn đến hành vi bên ngoài còn Đấng Christ là người đầu tiên lên án tội phạm trong lòng). Đặc điểm của xã hội thời nay là ai nấy đều lo qui trách nhiệm cho toà án, cho công an, cho cán bộ công tác an sinh xã hội về những tệ nạn của xã hội, trong khi đó chính mình thì nhắm mắt làm lơ đối với nguyên nhân gốc rễ của những tệ nạn đó. Vì thế nội dung của điều răn lớn thứ hai cho chúng ta thấy yêu kẻ lân cận như mình không phải là vấn đề cảm xúc riêng tư hoặc là đối xử rộng lượng với nhau, mà là nguyên tắc đạo đức xã hội thực tiễn giữa công chúng trong phạm vi rộng lớn, kể cả thủ tục pháp lý. Đây cũng là sự thánh khiết.
(Le 19:19). Dù có những biểu thị về sự thánh khiết một cách rõ rệt trong nếp sống xã hội, nhưng cũng có những việc biểu thị cách hình bóng nữa. Chúng ta đã thấy trong những luật lệ về những con thú tinh sạch và không tinh sạch vấn đề quan trọng đối với thầy tế lễ là tránh mọi hình thức phối giống giữa các loài. Câu này đưa ra ba luật lệ qui về cùng một mối quan tâm. Những phân rẽ thực tiễn trong đời sống hàng ngày phản ánh sự phân rẽ của dân Y-sơ-ra-ên về mặt tín ngưỡng. Đối với Cơ Đốc nhân, những luật lệ này cũng không còn áp dụng y như những luật về vấn đề ăn uống, tức là trong Đấng Christ không còn phân biệt người Do Thái và người Ngoại nữa (xem chương 11).
(Le 19:20-22). Ở Y-sơ-ra-ên, theo đúng nghĩa của tội ngoại tình tức là một người nam ăn nằm với một người nữ đã có chồng hoặc đã đính hôn (Phu 22:22-24). Nếu người nữ đã đính hôn là tôi mọi nhưng chưa được chuộc (tức là chưa được tự do) thì theo luật nàng vẫn là tài sản của chủ mình, không hưởng quyền đầy đủ như một người vợ hoặc như vị hôn thê. Vì thế theo luật pháp thì hành vi này không phải là tội ngoại tình. Tuy nhiên, về phương diện đạo lý thì phải dâng của lễ chuộc sự lầm lỡ để chuộc tội lỗi này. Và theo định nghĩa về của lễ này, luật cũng đòi phải bồi thường cho người bị hại. Như vậy hành vi này vừa xúc phạm đến Đức Chúa Trời vừa xúc phạm đến con người.
(Le 19:23-25). Sự thánh khiết yêu cầu phải dâng hiến trọn vẹn mọi sự trong đời sống của mình, của cải, lợi tức và mọi sinh hoạt cho Đức Chúa Trời. Về phương diện vật chất, việc này bao gồm dâng một phần mười lợi tức và hoa quả đầu mùa cho Đức Chúa Trời (Xu 23:19 Phu 26:1-15) và dâng các con vật đầu lòng (Xu 34:19-20 Phu 15:19-23). Luật này cũng được mở rộng áp dụng cho các loại cây ăn trái phải mất vài năm mới phát huy hết khả năng kết trái xứng đáng. Lần ra trái trong năm thứ tư mới kể là ‘trái đầu mùa’.
(Le 19:26-31). Phân đoạn này nhấn mạnh vào các nghi thức và thói tục liên quan đến ngoại giáo, tín ngưỡng dân Ca-na-an, nhất là những nghi thức trái với đạo lý và phương hại đến thể xác. Lạm dụng thể xác dưới danh nghĩa tôn giáo là sự sai lầm phổ quát của nhân loại. Cựu Ước coi trọng thân thể con người là kiệt tác của Đức Chúa Trời và cấm việc lạm dụng thân thể. Tân Ước khẳng định lại nguyên tắc này và xác nhận thân thể của tín đồ là đền thờ của Đức Thánh Linh (ICo 6:19-20).
(Le 19:32). Tôn trọng người già cả là đặc điểm của luật Cựu Ước quan tâm đến thành phần dễ bị xã hội đối xử tệ bạc, thí dụ như dễ bị con trẻ coi thường (so sánh c.29) luật pháp cũng quan tâm đến những kiều dân (22-23) những người khuyết tật (14) và những người vô gia cư (goá phụ và trẻ mồ côi). Một xã hội không tôn trọng Đức Chúa Trời (32b) cũng không tôn trọng mạng sống thiêng liêng của con người (thí dụ như các thai nhi, bé sơ sinh và người già cả) Nếu không được bảo vệ, có thể họ sẽ bị hy sinh. Gióp lâm vào cảnh đáng buồn và chua chát một phần là trong khi ông thận trọng binh vực cho người trong tầng lớp đó thì chính bản thân ông bị khai trừ và khinh bỉ vì ông mắc bệnh (so sánh Giop 29:7-17 với 30:1,9-10).
(Le 19:33-34). Nguyên tắc trên cũng áp dụng cho điều luật có phạm trù này. Luật Cựu Ước thường bị phê phán vì có thái độ tiêu cực không kể đến các dân tộc ngoài Y-sơ-ra-ên, mà chỉ nhấn mạnh vào việc dân Y-sơ-ra-ên phải phân rẽ khỏi họ, cho nên chúng ta dễ dàng quên rằng luật pháp Y-sơ-ra-ên cũng đòi hỏi họ phải đối xử công bằng và bày tỏ lòng thương xót đối với các ngoại kiều sống giữa Y-sơ-ra-ên. Đây chỉ là một trong số nhiều luật thuộc loại này (Xu 12:48 22:21 23:9 Phu 10:18 14:29 24:14,17 27:19 so sánh Thi 146:9 Giop 29:16). Được bình đẳng trước luật pháp gồm cả được kể vào những cuộc dâng tế lễ (Dan 15:15,26) và các buổi lễ hàng năm (Phu 16:11,14) và cũng bình đẳng chịu trách nhiệm về những hành vi sai lầm (Le 24:16,22 Dan 15:27-31).
Điều đáng chú ý là ở Y-sơ-ra-ên thời xưa đã có thực hiện sự bình đẳng này trong khi các quốc gia khác mãi cho tới gần đây mới có luật này đối với ngoại kiều. Và cho dù có luật bình đẳng chủng tộc đi nữa, thì xã hội và giới quan chức lắm khi cũng không thực hiện đúng đắn. Thật vậy, luật này chi phối mạnh mẽ về mặt đạo đức trong những vấn đề cấp bách như quyền lợi của những dân tộc thiểu số, những người tị nạn chiến tranh, các nhân công nước ngoài đến cư trú và những người xin tị nạn chính trị và cách đối đãi với những nhóm người đó. Trên thực tế, về phương diện đạo đức, luật này ảnh hưởng quan trọng tương tự như điều răn lớn thứ hai, vì mệnh lệnh yêu khách kiều ngụ như chính mình (34) được trình bày cùng một dạng như câu 18. Cùng một lời xác chứng đi kèm với mệnh lệnh này (Ta là Đức Giê-hô-va) cộng với động cơ là kinh nghiệm bản thân dân Y-sơ-ra-ên trước kia cũng bị áp bức và được giải phóng. Đây cũng là sự thánh khiết.
(Le 19:35-36). Cuối cùng sự thánh khiết chi phối lãnh vực thương mại và chợ búa. Đức Chúa Trời quan tâm đến nền kinh tế công bằng và buôn bán thành thật cũng như quan tâm đến hệ thống pháp lý chính trực và vô tư. Dĩ nhiên là hai mối quan tâm này tương quan chặt chẽ với nhau, vì ở Y-sơ-ra-ên (cũng như nhiều nơi trên thế giới) những người lũng đoạn thị trường cũng có thể làm lũng đoạn toà án. Những người gian lận thành công trên thương trường cũng là người có thể mua chuộc giới chức thẩm quyền - từ một viên cảnh sát địa phương nhũng nhiễu đến một cán bộ đáng nể trong một cơ quan pháp lý hoặc tài chánh. Đức Chúa Trời gớm ghiếc sự gian trá dưới mọi hình thức, từ quầy hàng ở chợ cho đến thương trường quốc tế (so sánh Phu 25:13-15). Từ gớm ghiếc cũng được dùng để lên án tình dục đồi truỵ và lạm dụng trẻ em (so sánh Am 8:5 Mi 6:10 Gie 5:1 Ch 20:10,23). Chính là vì có khía cạnh này mà các Cơ Đốc nhân nên quan tâm đến tình trạng mất cân đối của nền kinh tế thế giới và nợ nần của Thế Giới Thứ Ba.
Chương này nổi bật là nhờ có cái nhìn sâu rộng về mặt đạo đức. Nội dung chương này đụng đến tâm tư ý tưởng và mọi hoạt động của thể xác, dụng đến hành vi trước công chúng cũng như trong chỗ riêng tư, và hầu hết mọi lãnh vực chính trong sinh hoạt cộng đồng. Nếu thực hiện được luật này thì sẽ thay đổi đời sống của hàng triệu người trong thế giới ngày nay. Và càng suy nghĩ sâu xa hơn về luật này, thì càng khám phá ra rằng coi như nhiều Cơ Đốc nhân không đạt các yêu cầu đề ra trước Đấng Christ nhiều thế kỷ (chớ đừng nói đến đạt yêu cầu của bài giảng trên núi mà Đấng Christ triển khai từ luật này).
3. Những vi phạm nghiêm trọng và những biện pháp hình phạt (Le 20:1-27)
Chương này lập lại hầu hết nội dung của chương 18, có điều khác là ở đây mỗi loại vi phạm đều có kèm theo án phạt rõ ràng. Và nhấn mạnh về hai tội, tội chống lại Đức Chúa Trời cùng sự thờ phượng Ngài cách thuần tuý (2-6 25-27) và những tội gây lũng đoạn cho quyền hành trong gia đình và sự toàn vẹn của gia đình (9-12). Về khía cạnh này, chúng ta thấy ảnh hưởng của hai bia đá chép Mười Điều Răn. Chính bản chất cơ bản của tội phạm (tức là bản chất chống lại Đức Chúa Trời và gia đình buộc phải có hình phạt nghiêm khắc này.
Xã hội Y-sơ-ra-ên được xây dựng trên giao ước với Đức Giê-hô-va. Do đó mọi vi phạm đến giao ước đều là tội lỗi và bị quyền hạn tối cao của quốc gia tức là Đức Chúa Trời trừng phạt. Gia đình đóng vai trò trọng yếu trong vấn đề kinh nghiệm bảo toàn và truyền dạy giao ước đó, cho nên mọi hành vi đe doạ đến gia đình hoặc là cố tình xem thường uy quyền của cha mẹ hoặc phá vỡ hôn nhân và quan hệ tình dục lệch lạc. Những việc đó, tự trong bản chất cũng đủ đe doạ giao ước là nền tảng của xã hội. Vì thế kết án tử hình về tội này không phải là một kiểu báo thù cổ lỗ, nhưng nhằm chứng tỏ rằng bản giao ước đó rất quan trọng đối với dân Y-sơ-ra-ên (so sánh C.J.H. Wright, Dân Đức Chúa Trời trong xứ của Đức Chúa Trời - Paternoster Press, 1990). Trong Tân Ước, giao ước này không còn là nền tảng cho quốc gia nữa, cho nên tánh cách của sự vi phạm và cơ sở của bản án cũng không còn ràng buộc đối với luật pháp Y-sơ-ra-ên. Tuy nhiên, dù tà dâm, loạn luân và tội bất kính đối với cha mẹ không còn lãnh án tử hình trong xã hội bây giờ, nhưng Tân Ước vẫn coi những vi phạm này là tội nặng nề trên phương diện đạo đức (so sánh Mat 15:4 Ro 1:29-32 ICo 5:1-13).
Chương này chia các loại hình phạt làm hai loại: một loại do xã hội thi hành (pháp đình thi hành án), loại thứ hai do chính Đức Chúa Trời thi hành (‘truất khỏi’, có thể từ này nghĩa là người ta mong đợi Đức Chúa Trời can thiệp xét xử những trường hợp phạm tội mà người ta không làm sao đem đến toà án xét xử được vì cớ tính cách của tội phạm, xem Le 7:25) đối với hai trường hợp loạn luân thì hình phạt là bị tuyệt tự. Nếu cho rằng những bản án này quá nghiêm khắc thì chúng ta nên nhớ rằng những bản án này chỉ áp dụng cho một số ít tội phạm thôi. Có thể luật lệ định mức hình phạt tối đa, nhưng can phạm thường lãnh bản án nhẹ hơn. Trường hợp cố sát thì luật qui định là không thể chuyển bản án tử hình qua một hình thức trừng phạt nào khác (thí dụ bồi thường bằng tiền, Dan 35:31). Như vậy có thể có ngụ ý là trong các tội phạm khác thì có thể gia giảm án phạt. Điều đáng nói là trong các lãnh vực khác thì luật pháp Y-sơ-ra-ên dứt khoát là nhân đạo nếu đem so sánh với những cách hình phạt dã man trong nhiều xã hội đời xưa cùng thời với Y-sơ-ra-ên. Muốn hiểu biết đầy đủ hơn về các nguyên tắc trong hệ thống pháp lý của nước Y-sơ-ra-ên, xin xem G.J. Wenham, Lê-vi Ký (Eerdmans, 1979) trang 281.
Cũng như trong những khía cạnh khác của luật pháp Y-sơ-ra-ên, động cơ nằm đằng sau nguyên tắc này là dân sự phải thể hiện nét đặc thù của mình là khác biệt với các dân tộc khác. Nên thánh là yêu cầu căn bản được lập lại hai lần (7-8,25-26) và trong cả hai lần lặp lại này Đức Chúa Trời vẫn ở vị trí chủ động: Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng làm cho các ngươi nên thánh... Ta đã biệt riêng các ngươi. Không phải chúng ta cứ nỗ lực triệt để là sẽ đạt được sự thánh khiết, vì thánh khiết là tình trạng Đức Chúa Trời đã tạo ra và ban cho chúng ta. Đức Chúa Trời kêu gọi dân của Ngài duy trì sự thánh khiết mà Ngài đã ban cho họ bởi ân điển Ngài đã hứa và bởi sự cứu chuộc (24). Chủ lực của các câu này là: ‘Hãy sống khác biệt vì Ta đã tạo các ngươi khác biệt. Hãy sống đúng với giá trị của mình’.
4. Các thầy tế lễ buộc phải nên thánh (Le 21:1-22:33)
Trong các chương này, câu Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng làm ngươi nên thánh xuất hiện sáu lần và là những điểm chốt chia các phân đoạn (Le 21:8,15,23 22:9,16,32). Tất cả dân Y-sơ-ra-ên được kêu gọi phải nên thánh, tức là khác biệt các dân tộc khác, nhưng các thầy tế lễ được kêu gọi nên thánh theo ý nghĩa đặc biệt trong phạm vi dân tộc Y-sơ-ra-ên, tức là họ phải khác biệt dân Y-sơ-ra-ên. Dân Y-sơ-ra-ên được phân rẽ khỏi các dân tộc còn thầy tế lễ được phân rẽ khỏi dân sự. Do đó, giống như dân Y-sơ-ra-ên được kêu gọi đạt đến các tiêu chuẩn cao hơn các dân tộc khác, thì cũng thế các thầy tế lễ phải tuân thủ các luật lệ nghiêm ngặt hơn dân thường.
(Le 21:1-15). Các thầy tế lễ không được phép liên hệ với đám tang (e rằng họ tiếp xúc với sự chết mà bị ô uế) và phạm vi chọn người phối ngẫu cũng hạn hẹp. Phân đoạn này lại chia ra làm nhiều phần luật dành cho các thầy tế lễ thường (1-9) và phần luật nghiêm khắc hơn dành cho thầy tế lễ thượng phẩm (10-15).
(Le 21:16-24). Theo lối nói biểu tượng của người Y-sơ-ra-ên thì sự toàn vẹn về mặt đạo đức và thuộc linh của họ được thể hiện qua thể xác khoẻ mạnh, vì thế những thành viên trong gia đình thầy tế lễ bị khuyết tật không được phép dâng sinh tế trên bàn thờ. Tuy nhiên, họ vẫn được hưởng lợi tức và phụ cấp nuôi dưỡng các thầy tế lễ và có thể ăn thức ăn thánh thuộc về thầy tế lễ.
(Le 22:1-9). Tuy nhiên, nếu thầy tế lễ bị ô uế vì một lý do nào đó thì thầy tế lễ đó không được ăn thức ăn thánh, vì nguyên tắc chính yếu là sự thánh khiết và sự ô uế phải riêng biệt (xem chương 11 ở trên). Thầy tế lễ có thể bị ô uế nhẹ kéo dài hết ngày vì đụng phải vật ô uế, hoặc vì một chứng bệnh ngoài da mà bị ô uế suốt thời gian chưa khỏi bệnh.
(Le 22:10-15). Các câu này xác định ai là người thuộc trong gia đình thầy tế lễ để được phép ăn thức ăn thánh.
(Le 22:17-33). Trong chương 11 sự phân biệt giữa các vật tinh sạch và không tinh sạch hình bóng về sự phân biệt giữa dân Y-sơ-ra-ên với các dân tộc khác. Đến đây chúng ta thấy thêm một sự phân biệt khác nữa. Dân Y-sơ-ra-ên được chia thành tầng lớp thầy tế lễ và người thường, cũng thế các con thú tinh sạch được chia thành loại dâng làm của lễ và loại dùng để ăn. Như vậy hình bóng song hành là như sau: Các thầy tế lễ/ các sinh tế người Y-sơ-ra-ên thường/ các con vật sạch người ngoại bang/ các con vật không sạch. Chính kiểu so sánh này giải thích lối dùng các từ ngữ tương đương trong 21:17-21 và trong 22:18-24. Khuyết tật và dị dạng không cho phép một người thi hành chức vụ tế lễ, cũng thế, các con thú bị khuyết tật hoặc dị dạng không được dâng làm sinh tế.
Kinh Thánh Tân Ước đã xoá bỏ các sự phân biệt này. Trong Đấng Christ, không còn phân biệt người Do Thái và người ngoại nữa, nhưng một nhân loại mới đã hoà thuận với Đức Chúa Trời và hoà thuận với nhau qua Ngài. Vì Đấng Christ đã thi hành xong chức tế lễ cách trọn vẹn nên trong Hội Thánh của Ngài không còn phân biệt phẩm trật thầy tế lễ như trong dân Y-sơ-ra-ên. Màn trong đền thờ đã bị xé đôi. Huyết của Đấng Christ đã mở con đường đến với Đức Chúa Trời (so sánh IPhi 1:19) và hiện nay Ngài đang làm thầy tế lễ thượng phẩm đời đời trước mặt Đức Chúa Trời vì dân của Ngài. Vì thế bây giờ tất cả dân của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ được gọi làm thầy tế lễ thánh và sự kêu gọi này mở rộng cả cho những người tàn tật, đui mù, cùi hủi và những người trước đây bị loại khỏi chức vụ tế lễ (Lu 14:13-21). Ngay cả vị hoạn quan (bị loại trong 21-20) cũng được bảo đảm rằng không những ông được phép vào đền thờ của Đức Chúa Trời, mà lễ vật ông dâng cũng sẽ được Ngài nhậm (Es 56:3-8).
Dù Tân Ước chưa bao giờ gọi những người quản lý Hội Thánh về mặt thuộc linh và đạo đức là thầy tế lễ, nhưng họ có trách nhiệm giảng dạy tương tự như trách nhiệm của các thầy tế lễ trong Cựu Ước. Vì thế, Tân Ước cũng đòi hỏi những người được gọi gánh vác trách nhiệm quản lý Hội Thánh phải đạt tiêu chuẩn đạo đức cao trong sinh hoạt cá nhân và gia đình. Vì thế, bản liệt kê các đức tính của trưởng lão, giám mục và chấp sự (ITi 3:1-13 Tit 1:5-9 so sánh Gia 3:1) nhắc lại những tiêu chuẩn trong hai chương này (dù là nhắc dưới hình thức khác).
5. Các ngày lễ và hội họp (Le 23:1-44)
Dân Y-sơ-ra-ên buộc phải thể hiện sự thánh khiết trong mọi lãnh vực kinh tế và xã hội. Thậm chí họ phải thể hiện sự thánh khiết trong mỗi một giây phút của đời sống. Chương này liệt kê các kỳ lễ hàng năm. Các kỳ lễ này đánh dấu thời vụ trong năm và cũng kỷ niệm lịch sử cứu chuộc của họ. Đứng đầu danh sách là ngày sa-bát (3), một phần vì các ngày lễ khác có liên quan đến ngày sa-bát, một phần vì tất cả các ngày lễ đều liên quan đến nguyên tắc dâng hiến thời gian và công sức cho Đức Chúa Trời. Tương tự như Phu 16:1-22, chương này là tờ lịch của người dân thường. Dan 28:1-29:39 chỉ dẫn cho các thầy tế lễ đầy đủ về cách thức dâng sinh tế. Còn Xu 12:1-13:22 chỉ dẫn đầy đủ về nghi lễ Vượt Qua.
(Le 23:4-22). Các kỳ lễ trong mùa xuân. Theo đúng nghĩa thì Lễ Vượt Qua và Lễ Bánh Không Men là hai lễ riêng biệt, nhưng hai lễ này lại chồng lên nhau vì lễ này diễn ra ngay sau lễ kia (4-8). Đương nhiên là hai lễ trọng đại này kỷ niệm cuộc giải phóng khỏi Ai Cập. Trước kia cũng như bây giờ, hai lễ này vẫn là lễ chính ở Y-sơ-ra-ên, vì kỷ niệm biến cố cứu chuộc vĩ đại ngay buổi đầu lập quốc. Tháng thứ nhất năm Âm lịch của người Y-sơ-ra-ên bắt đầu từ giữa tháng ba đến giữa tháng tư. Tháng này là tháng cuối mưa mùa đông và dẫn đến mùa gặt, mở đầu là thu hoạch lúa mạch là loại lúa chín trước tiên. Vì thế, việc dâng hoa quả đầu mùa (9-14) liên kết với Lễ Vượt Qua và Lễ Bánh Không Men, chớ không phải một lễ riêng biệt theo như bản NIV gợi ý bằng cách chia đoạn và đặt tiêu đề riêng. Thực ra, việc dâng hoa quả, lúa mì hoặc con thú đầu lòng là nghi thức của ba ngày lễ đánh dấu nông vụ - tức là Lễ Vượt Qua cùng Lễ Bánh Không Men, Lễ Ngũ Tuần và Lễ Lều Tạm (so sánh Xu 23:15 34:18-20).
Lễ Ngũ Tuần (15-21) còn gọi là Pentecost (‘năm mươi ngày’) diễn ra sau Lễ Bánh Không Men và nghi thức dâng hoa quả đầu mùa năm mươi ngày. Như vậy Lễ Ngũ Tuần được cử hành vào lúc kết thúc mùa gặt lúa vui vẻ.
Câu 22 không lập lại Le 19:9-10 một cách thừa thãi. Câu này nhắc cho dân Y-sơ-ra-ên nhớ rằng trong lúc hội hè đình đám họ không được quên người khốn cùng trong cộng đồng trong dịp thu hoạch hoa lợi. Của lễ chay và của lễ thù ân cung cấp thực phẩm cho các thầy tế lễ. Còn thành phần nghèo thiếu được quyền mót lúa. Lòng thương xót và bản tánh bảo bọc của tôn giáo Y-sơ-ra-ên được nhấn mạnh rõ ràng hơn trong Phu 16:11,14.
(Le 23:23-44). Lễ mùa thu. Tháng thứ bảy (khoảng trung tuần tháng 9 đến trung tuần tháng 10) bắt đầu sau khi tất cả mùa màng thu hoạch xong, là lúc thu hoạch xong nho và trái ô-liu. Như vậy lễ này kết thúc ba vụ thu hoạch lúa mì, dầu và rượu, và là lễ lớn tương xứng với các lễ lớn vào mùa xuân. Tầm quan trọng của tháng này (và có lẽ là để công nhận ý nghĩa thiêng liêng của con số bảy) được biểu thị bằng tiếng kèn (23-25) triệu tập cuộc nhóm hiệp thánh đặc biệt vào ngày thứ nhất (bản NIV căn cứ vào tiêu đề này mà đặt tiêu đề là ‘Lễ Thổi Kèn’, dù đoạn văn không có ý đặt tên như thế).
Chương 16 ghi đầy đủ chi tiết những nghi thức trong Ngày Chuộc Tội. Điều quan trọng trong ngày lễ này là nhắc dân Y-sơ-ra-ên về tầm quan trọng của việc chuẩn bị tâm linh chờ đón ngày này, nhất là nhắc họ biết ép tâm hồn mình, có lẽ bao gồm cả kiêng ăn và kiêng cữ các điều khác.
Trong Cơ Đốc giáo, bầu không khí nghiêm trang của Lễ Hiện Đến và Lễ Chay nhường chỗ cho niềm vui mừng của Lễ Giáng Sinh và Lễ Phục Sinh. Trong niên lịch Y-sơ-ra-ên cũng thế, ngay sau Lễ Chuộc Tội là kỳ lễ hội lớn của năm, tức là Lễ Lều Tạm. Lễ này diễn ra cuối mùa hái nho và ô-liu, như vậy lễ này đánh dấu sự kết thúc chu kỳ trồng trọt mỗi năm. Lễ Mùa Gặt trong thời đại Cơ Đốc rơi vào khoảng thời gian này, nhưng chỉ phản ánh được phần nào ý nghĩa lịch sử sâu xa trong Lễ Lều Tạm của dân Y-sơ-ra-ên. Dân sự phải dựng tạm lều bằng nhánh cây (từ đây có tên là ‘lều tạm’) và sống trong lều khoảng một tuần lễ. Việc này nhằm gợi cho dân Y-sơ-ra-ên nhớ lại cảnh bấp bênh khi họ rời khỏi xứ Ai Cập đi lang thang trong đồng vắng, nhờ đó nhắc cho họ nhớ rằng họ phải tuyệt đối trông cậy vào Đức Chúa Trời, ngay cả những lúc chúng ta nghĩ rằng cuộc sống mình đã ổn định vững chắc (so sánh Phu 6:10-11 8:10-18 26:1-11).
Lịch Cơ Đốc giáo căn bản hình thành từ các ngày lễ xưa của Y-sơ-ra-ên. Chúa Giê-xu bị đóng đinh vào dịp Lễ Vượt Qua. Phao-lô ứng dụng tổng hợp cả Lễ Vượt Qua lẫn Lễ Bánh Không Men trong ICo 5:7-8. Cao điểm của Tuần Lễ Thánh là Lễ Phục Sinh. Phao-lô kết hợp sự phục sinh của Đấng Christ với hoa quả đầu mùa trong 15:20-23. Đúng vào Lễ Ngũ Tuần, Thánh Linh giáng lâm trên các môn đồ một cách đầy quyền năng (Cong 2:1) và sự kiện này xảy ra nhằm Chúa nhật sau Lễ Phục Sinh năm mươi ngày. Như vậy Hội Thánh của Chúa Giê-xu cũng theo Cựu Ước liên hệ những lễ hội chính của Hội Thánh, không phải với những ngày đánh dấu chu kỳ mùa màng thời tiết, mà với những biến cố lịch sử độc đáo. Tuy nhiên, Lễ Lều Tạm không còn giữ được ý nghĩa lịch sử trong các lễ hội thu hoạch của người tin Chúa Giê-xu. Dẫu sao thì những ngày lễ này sớm bị lu mờ vì lễ kỷ niệm sự ra đời lịch sử của Đấng Christ.
6. Trông nom đền tạm (Le 24:1-9)
Trong nơi thánh (tức là gian ngoài đền tạm, xem biểu đồ trang 173) có ba món đồ: bàn thờ xông hương, chân đèn bằng vàng và bàn nhỏ bằng vàng. Chân đèn được mô tả đầy đủ trong Xu 25:31-39 27:20-21 40:25-26. Các thầy tế lễ phải giữ cho ngọn đèn cháy sáng luôn (so sánh ISa 3:3) nếu không căn phòng sẽ hoàn toàn tăm tối, cũng có thể ngụ ý là ánh sáng tượng trưng cho sự hiện diện và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời (so sánh Thi 27:1) cũng có lẽ tượng trưng dân Y-sơ-ra-ên là sự sáng cho các dân tộc (so sánh Xa 4:1-14 Lu 2:32). Trên bàn đặt mười hai ổ bánh lớn xếp thành hai hàng, mỗi hàng sáu ổ. Mỗi ngày sa-bát các thầy tế lễ phải bày ra mười hai ổ bánh mới, còn mười hai ổ bánh cũ đem ra dùng làm lương thực. Có lẽ bánh tượng trưng cho mười hai chi-phái. Thầy tế lễ A-hi-mê-léc cho phép Đa-vít ăn bánh vì Đa-vít lâm cảnh đói khát, chuyện này được Chúa Giê-xu ứng dụng một cách thâm thuý (ISa 21:1-6 Mat 12:3-4).
7. Cái chết của người nói lộng ngôn (Le 24:10-23)
Sự cố này nhấn mạnh rằng tuân thủ luật pháp là điều quan trọng (so sánh chương 10). Kinh Thánh ghi lại nhiều chi tiết về người này chứng tỏ đây không phải là câu chuyện mơ hồ, mà là một chuyện đã được ghi nhớ kỹ. Ông phạm tội rủa-sả (11) danh Đức Chúa Trời (tên riêng của Ngài là Đức Giê-hô-va). Lạm dụng danh Đức Chúa Trời và rủa-sả Đức Chúa Trời là điều cấm ngặt và là một trong những tội nặng nhất nghịch lại với chính giao ước (Xu 20:7 22:28). Các chương trước cho biết đây không phải là tội nói những lời ngu dại bình thường, thí dụ như các lời nói thiếu suy nghĩ của dân gian ngày nay và qua các phương tiện truyền thông. Hầu hết mỗi đoạn văn trong luật pháp đều nhắc đến danh Đức Giê-hô-va. Chính bản tánh của Ngài đã hình thành ra cơ cấu xã hội Y-sơ-ra-ên và Ngài lấy uy quyền đóng ấn cho luật pháp của họ bằng quyền năng của Ngài. Như vậy, phỉ báng và rủa-sả Ngài tức là phủ nhận quyền bính và chối bỏ luật pháp của Ngài. Tội này chống nghịch lại toàn thể cộng đồng sống dưới sự bảo vệ liên tục của Đức Chúa Trời, do đó kẻ phạm tội bị trục xuất khỏi cộng đồng. Trong một khía cạnh, bản án tử hình chẳng qua chỉ là dấu ấn công nhận cho sự quyết định của chính đương sự.
Một vụ án tạo cơ hội để diễn dịch một nguyên tắc áp dụng công lý gọi là lex talionis (16b-22) hoặc luật báo trả. Nhiều người cho rằng Cựu Ước biểu thị một nền đạo đức khát máu của thời sơ khai khi đưa ra luật mắt đền mắt. Thật là chuyện biếm đáng tiếc vì thật ra luật này biểu thị một bước tiến đáng kể trong lịch sử pháp lý. Luật này nhằm trừ khử mối cừu hận và báo thù vô tận, đồng thời ấn định và giới hạn hình phạt ở mức độ tương xứng. Các tội danh nghiêm trọng (thí dụ như giết người) không được phạt nhẹ (thí dụ như trường hợp sát nhân là người giàu sang và có thế lực) và các tội danh tương đối nhẹ không được phạt quá mức. Hơn nữa, như chúng ta đã biết không được phân biệt nòi giống hoặc chủng tộc (16,22). Mọi thành viên trong cộng đồng đều được đối xử như nhau theo cùng một tiêu chuẩn pháp lý. Chắc chắn các cụm từ trong câu 20 nhằm diễn tả một nguyên tắc một cách sống động chớ không chủ ý đưa ra một mức xử phạt theo nghĩa đen. Hình phạt và sự bồi thường phải cân xứng với tội phạm. Có những điều khoản khác ấn định mức bồi thường cho những thương tổn, thiệt hại đến cá nhân (Xu 21:18-19), còn trong trường hợp của một người nô lệ bị thương tích, thì mức bồi thường là chủ phải trả tự do cho đương sự - một điều khoản có một không hai trong đời xưa (21:26-27).
Luật này áp dụng nội trong lãnh vực pháp lý công quyền mà thôi và cũng đề ra những mức án xứng hợp với tội danh (đây là một mối quan tâm luôn luôn xác đáng trong bất cứ xã hội nào). Lê-vi Ký đã xác định rõ rằng sự thánh khiết trong cộng đồng có nghĩa là người dân không được trả thù một cách bừa bãi về bất cứ một sự tổn hại nào (Le 19:17-18 so sánh Phu 32:35 Ch 25:21-22). Do đó hoàn toàn phù hợp với điều Chúa Giê-xu chủ trương rằng những người theo Ngài không nên chỉ dựa vào luật lệ chi phối án lệnh của toà án làm mẫu mực cho hành vi của mình (Mat 5:38-42 Lu 12:17-21). Đừng lầm tưởng rằng Ngài chỉ trích hoặc phủ nhận (như người ta vẫn lầm tưởng) toàn bộ các tiêu chuẩn đạo đức trong Cựu Ước, mà đúng hơn là Ngài phê bình về việc biến quyền lợi pháp lý tối thiểu thành tiêu chuẩn liên hệ với nhau, ngay cả những người bị xem là kẻ thù. Về vấn đề này cũng như trong nhiều vấn đề khác, Chúa Giê-xu phục hồi tiếng nói, ý định và sự cân đối đích thực của pháp lý trong Cựu Ước (so sánh C.J.H. Wright, Hiểu biết Chúa Giê-xu qua Cựu Ước - Marshall Pickering, 1992 - chương 5).
8. Năm sa-bát và năm hân hỉ (Le 25:1-55)
Sau chương 19, có lẽ đây là chương có ảnh hưởng nhiều nhất trong Lê-vi Ký, nhờ quan tâm đến công bằng xã hội và kinh tế, có ảnh hưởng đến lời tiên tri về thời đại cuối cùng và về Chúa Giê-xu, và được ứng dụng trong một số khuynh hướng đạo đức xã hội Cơ Đốc. Cũng như chương 19, chương này nhắc chúng ta nhớ rằng vấn đề thánh khiết của dân Y-sơ-ra-ên không chỉ giới hạn trong những vấn đề nghi thức và niềm tin nhưng thâm nhập vào toàn thể cơ chế kinh tế. Đây là chương phức tạp, tổng hợp ba phương thức kinh tế khác nhau, có xen vào các phân đoạn ngoại lệ và nhiều câu trong ngoặc đơn. Ba phương thức đó là: Năm sa-bát (năm thứ bảy) năm hân hỉ (năm thứ năm mươi) và các thủ tục chuộc lại (vào mọi thời điểm).
1. Năm sa-bát. (Le 25:1-7).
Đoạn này triển khai luật bỏ đất hoang ở Xu 23:10-11. Giống như con người nghỉ sa-bát mỗi tuần, đất đai cũng được ‘nghỉ’ trong năm thứ bảy. Lê-vi Ký triển khai động cơ nhân đạo đề cập trong Xuất Ê-díp-tô Ký với một việc cụ thể là quyền mót lúa (Le 19:9-10 23:22). Trong Phu 15:1-2, năm sa-bát triển khai thêm thành năm xoá bỏ các món nợ nần (hoặc trả lại các vật đem cầm cố để vay mượn). (Về mối liên hệ giữa các luật sa-bát, xin xem Wright, Dân của Đức Chúa Trời trong Xứ của Đức Chúa Trời, trang 141-151, 249-259).
2. Năm hân hỉ. (Le 25:8-55)
Đây là năm thứ năm mươi theo sau năm sa-bát thứ bảy, dù nhiều học giả tin rằng năm hân hỉ là năm thứ bốn mươi chín. Cũng có nhiều người cho rằng đây là một năm ngắn ngủi với bốn mươi chín ngày nhập thêm vào tháng thứ bảy của năm thứ bốn mươi chín để làm cho năm âm lịch của Y-sơ-ra-ên ăn khớp với năm dương lịch (xem Wenham, Lê-vi Ký, trang 302, 319). Câu 10 trình bày hai khái niệm song song làm nền tảng cơ bản cho toàn thể luật pháp, tức là tự do và trả lại. Những người mắc nợ được giải thoát khỏi mọi món nợ chưa trả hết (luật Cựu Ước cho rằng mọi món nợ phải được trả đúng hẹn) và được giải phóng khỏi cảnh nô lệ, nợ nần. Như vậy, họ được ‘phục hồi’ quyền sở hữu đất đai mà gia đình buộc phải giao nộp cho chủ nợ để làm của tin vay nợ. Như vậy luật pháp này tạo cơ hội cho gia đình được xum họp trên mảnh đất của tổ phụ mình, tính từ ngày mắc nợ thì chỉ đến một thế hệ sau đó là được nhận lại đất đai. Chính hai yếu tố này, tự do và phục hồi trong lễ đại xá đã tô điểm cho lời tiên tri nói về lễ này và tô điểm cho tư tưởng Tân Ước về sau này.
13-17 Các câu này trình bày cách thức tính toán tiền bạc trong viễn cảnh năm hân hỉ sắp tới. Việc mua bán đất đai thực ra có nghĩa là mua bán quyền sử dụng miếng đất. Do đó năm hân hỉ sắp đến sẽ giảm giá cho người mua, vì người đó chỉ mua số lần thu hoạch hoa lợi của mảnh đất trong thời gian trước khi đến năm hân hỉ. Đến năm hân hỉ, đất trở về với nguyên chủ của nó. Câu đừng lợi dụng người khác cho biết trong thực tế đây là chuyện thoả thuận giữa chủ nợ và người đi vay nợ về giá cả của đất đai mà con nợ đem cầm cố. Như vậy mức tiền vay lệ thuộc vào số năm đương sự có thể trả nợ, tính tư khi vay cho tới năm hân hỉ. Chủ nợ phải sắp xếp sao cho con nợ có thể trả hết hoặc gần hết số nợ trước khi đến năm hân hỉ tới. Đến lúc ấy món nợ không trả nổi sẽ bị huỷ bỏ và đất đai trở về nguyên chủ vay mượn. Phương thức này khiến cả người cho vay lẫn người vay đều thận trọng về số tiền vay mượn và cho vay, kẻo cho vay cách vô lương tâm sẽ không sinh lợi.
18-22 Để trả lời cho câu thắc mắc tất nhiên (20) các câu này khích lệ dân sự tuân thủ luật sa-bát vì trong năm thứ sáu đã nhận được phước hạnh rồi. Nguyên tắc thần học là muốn tuân thủ những qui định về kinh tế, dân Y-sơ-ra-ên phải tin Đức Giê-hô-va có thể cung ứng cho họ bởi quyền năng của Ngài kiểm soát thiên nhiên cũng như kiểm soát lịch sử.
23-24 Các câu tâm điểm của chương này trở nên tiêu đề cho các phân đoạn còn lại của chương này. Những phân đoạn ưu tiên chú trọng đến vấn đề chuộc lại đất đai và con người về phương diện kinh tế, đan xen với lễ đại xá. Câu 23 trình bày hai nguyên tắc vô cùng quan trọng. Nguyên tắc thứ nhất là ý nghĩa thần học của đất đai. Với tư cách là chủ đất thiên thượng, Đức Chúa Trời truyền lệnh phải chia đất và sử dụng đất như thế nào. Quyền sở hữu đất ở Y-sơ-ra-ên có hai đặc điểm: phân phối công bằng và bất khả chuyển nhượng. Ở xứ Ca-na-an, các vua và những người quí tộc sở hữu đất đai, còn số quần chúng chỉ là nông dân làm thuê và đóng thuế. Còn dân Y-sơ-ra-ên, ngay từ đầu đất đai được chia cho các chi-phái và chi tộc, sao cho mỗi chi tộc nhận được đất tuỳ theo nhu cầu và số nhân khẩu (Dan 26:52-56 Gios 13:1-21:45). Mục đích là phân phối đất cho toàn thể bà con họ hàng càng đầy đủ càng tốt. Để duy trì phương thức phân phối đất đai cho bà con họ hàng, dân Y-sơ-ra-ên không có quyền mua bán đất đai theo đúng nghĩa mua bán một sản phẩm. Đất vẫn thuộc về đại gia đình hoặc ít nhất cũng thuộc về các gia đình trong chi-phái. Vì nguyên tắc này mà Na-bốt không chịu bán di sản của mình cho A-háp (IVua 21:1-29).
Nguyên tắc thứ hai là dân Y-sơ-ra-ên là khách lạ và người làm thuê của Ta. Các từ này (bản RSV dịch là ‘khách lạ và dân kiều ngụ’) mô tả tầng lớp dân chúng sống giữa người Y-sơ-ra-ên trong xứ Ca-na-an, nhưng không phải là dân Y-sơ-ra-ên chính gốc (so sánh Eph 2:19). Họ không sở hữu đất đai nhưng sinh sống bằng cách đi làm thuê, làm mướn (người làm mướn, thợ thủ công) cho các hộ người Y-sơ-ra-ên làm chủ. Các ngoại kiều làm thuê được hưởng cả sự che chở lẫn an ninh, miễn là các hộ chủ còn khả năng kinh tế. Bằng không cuộc sống của họ sẽ có thể rất nguy nan bấp bênh. Vì thế luật pháp Y-sơ-ra-ên luôn đòi hỏi phải đối xử công bằng và rộng lượng với họ.
Trước mặt Đức Chúa Trời, dân Y-sơ-ra-ên phải coi thân phận của họ tương tự như những người định cư sống nương dựa. Vì thế, họ không có quyền sở hữu đất đai - chính Đức Chúa Trời làm chủ đất. Dầu vậy, họ có thể hưởng lợi tức của đất đai dưới sự bảo vệ của Ngài và sống phụ thuộc vào Ngài. Cho nên, từ dùng ở đây không có ý phủ nhận các quyền lợi, mà đúng hơn là khẳng định một mối quan hệ bảo vệ tầng lớp sống phụ thuộc (trong tiếng Anh có thể các từ này ngụ ý phủ nhận, nhất là bản NIV thêm vào chữ nhưng không xác đáng). Chúng ta có thể thấy hiệu quả thực tiễn của phương thức này đối với mối liên hiệp của dân Y-sơ-ra-ên và Đức Chúa Trời trong các câu 35,40 và 53. Nếu tất cả dân Y-sơ-ra-ên đều có chung một thân phận như vậy trước mặt Đức Chúa Trời, thì những người nghèo nàn, mắc nợ mắc nần cũng được đối xử như Đức Chúa Trời đã đối xử với toàn thể dân Y-sơ-ra-ên, tức là với lòng rộng lượng và những biện pháp cứu chuộc.
25-55 Các câu này trình bày chi tiết thực tiễn về sự chuộc lại và đại xá. Cần đáp ứng ba cảnh nghèo khó, mỗi một cảnh đều bắt đầu bằng câu nếu một người trong anh em ngươi trở nên nghèo (25-28,35-38,39-44,47-53). Xen vào các phần này là những phân đoạn giải quyết vấn đề nhà cửa trong thành và tài sản của người Lê-vi (29-34) và những tôi mọi không phải là người Y-sơ-ra-ên (44-46).
Sự đáp ứng đầu tiên là chuộc lại (25-28). Trước hết là chủ đất người Y-sơ-ra-ên lâm vào tình cảnh khó khăn, đem bán hoặc muốn bán một số đất đai của mình. Để giữ đất vẫn thuộc về gia đình, thì trước hết người bà con gần nhất phải có nhiệm vụ mua lại (nếu miếng đất chưa bán, Giê-rê-mi 32) hoặc chuộc lại (nếu đã bán rồi, Ru-tơ đoạn 4). Thứ hai, người bán vẫn có quyền chuộc lại, nếu sau này người ấy có phương tiện chuộc. Thứ ba, dù thế nào đi nữa thì đến năm hân hỉ, bất động sản bị bán ra ngoài hoặc được người bà con gần chuộc sẽ trở về với nguyên chủ. Nhà cửa ở trong thành không nằm trong qui định chuộc lại hoặc đại xá, vì nhà cửa không phải là phương tiện căn bản cho kinh tế của gia đình. Luật này không áp dụng đối với tài sản của người Lê-vi, vì họ không có đất đai (29-34).
Nếu cảnh ngộ của đương sự càng xuống dốc, dù đã bán đất đai, có lẽ nhiều lần bán đất, thì người bà con gần có bổn phận lưu đương sự lại để làm mướn cho mình và cho vay không lấy lời (35-38).
Trong trường hợp bị phá sản toàn bộ đến nỗi đương sự không còn đất để bán hoặc để cầm cố, thì đương sự và cả gia đình có thể bán chính bản thân mình và toàn bộ gia đình cho người bà con giàu hơn, tức là bị ràng buộc phải phục vụ người đó. Tuy nhiên, ở Y-sơ-ra-ên, chủ không được đối xử với người Y-sơ-ra-ên mắc nợ như nô lệ, mà như người làm thuê ở lại trong nhà mình. Tình trạng đau khổ này chỉ kéo dài cho đến năm hân hỉ tới, tức là không kéo dài hơn một thế hệ. Khi người mắc nợ hoặc con cái (trường hợp người mắc nợ qua đời, thì thế hệ kế tiếp được hưởng đại xá 41 54) nhận lại di sản của mình và làm lại cuộc đời từ đầu. Luật này nhằm duy trì phương tiện mưu sinh của các gia đình Y-sơ-ra-ên qua cơ chế làm chủ đất đai, cho nên luật này không áp dụng cho người nô lệ ngoại bang, vì họ không nằm trong thành phần sở hữu đất đai (44-46). Những điều khoản khác trong Cựu Ước bảo vệ quyền lợi của những người nô lệ ngoại bang.
Nếu một người vì nợ nần mà bán mình cho một người ngoài chi tộc, thì cả chi tộc phải có bổn phận (48-49) ngăn chặn việc mất mát của chi tộc bằng cách chuộc đương sự. Nếu chủ nợ là người ngoại bang thì họ phải vận động để chủ nợ đối xử với con nợ theo đúng cung cách của một chủ nợ Y-sơ-ra-ên đối với con nợ người Y-sơ-ra-ên, và sau này sẽ áp dụng các qui định của năm hân hỉ.
Như vậy, mục đích chính của sự chuộc lại là bảo toàn đất đai và số người của chi tộc còn bên hưởng lợi chính là đại gia đình mở rộng hoặc ‘dòng họ của tổ phụ’. Năm hân hỉ là biện pháp ngăn chận dòng chảy của đất đai vào tay của thiểu số người giàu có, và về mặt kinh tế xã hội năm hân hỉ duy trì và bảo vệ mạng lưới gồm các đơn vị nhỏ nhất là các hộ làm chủ một số đất đai khá đồng đều nhau và có khả năng tự túc, tự cường. Trong thời đại này có lắm tổng công ty đa phương, đa quốc gia càng ngày càng bành trướng độc quyền kinh doanh, trước thực tế này, sự khôn ngoan của điều luật này càng nổi bật.
Triển khai năm hân hỉ về mặt thần học và đạo đức. Trong Cựu Ước. Không rõ năm hân hỉ có thực sự được áp dụng ở Y-sơ-ra-ên đời xưa hay không (không một chỗ nào trong Kinh Thánh chép việc này, cũng không có chép gì về ngày Lễ Chuộc Tội). Dầu vậy, có thể dễ dàng chuyển hai yếu tố chính của năm hân hỉ là tự do và phục hồi từ lãnh vực kinh tế sang lãnh vực hình bóng rộng rãi hơn. Ý nghĩa của sự chuộc lại và phục hồi được kết hợp trong khải tượng về tương lai ở Es 35:1-10 và đặt song song với sự thay đổi bản tánh. Công tác của Đầy Tớ Đức Giê-hô-va trong sách Ê-sai bao gồm cả việc khôi phục mà Đức Chúa Trời trù hoạch cho dân Ngài, đặc biệt là cho những người yếu đuối bị áp bức (42:1-7). 58:1-14 phản đối sự thờ phượng mà không thực hiện công bằng xã hội và kêu gọi trả tự do cho người bị áp bức (c.6) nhất là nhấn mạnh đến nghĩa vụ của vai vế bà con ruột thịt (c.7). Rõ ràng hơn tất cả là Es 61:1-11. Đoạn này vận dụng năm hân hỉ vào bức tranh mô tả Đấng Được Xức Dầu làm sứ giả của Đức Giê-hô-va ‘rao truyền’ tin lành cho kẻ nghèo, loan báo sự tự do cho người bị giam giữ, và rao năm ân huệ của Đức Giê-hô-va - chắc chắn ám chỉ đến năm hân hỉ. Như vậy, chính trong thời Cựu Ước, năm hân hỉ gợi ý những hình bóng về tương lai, nhưng vẫn giữ nguyên tinh thần kêu gọi đối xử công bằng với thành phần bị áp bức trong lịch sử đương thời.
Trong Tân Ước Chúa Giê-xu tuyên bố sự trị vì của Đức Chúa Trời bắt đầu với chức vụ của Ngài. Bản ‘tuyên ngôn Na-xa-rét’ (Lu 4:16-30) đưa ra cương lĩnh rõ ràng nhất của triều đại này và trích dẫn trực tiếp trong Ê-sai 61 là chương chịu ảnh hưởng sâu đậm của ý niệm năm hân hỉ. Chắc chắn là Chúa Giê-xu không kêu gọi thực hiện năm hân hỉ trong thời của Ngài theo nghĩa đen, nhưng có gợi những nét hình bóng của năm hân hỉ, thí dụ như trong bài nói về tám phước lành, trong câu trả lời cho thắc mắc của Giăng Báp-tít (Mat 11:2-6), trong thí dụ về tiệc cưới (Lu 14:12-24) và trong các chi tiết nói về sự tha thứ và trong các lời giáo huấn về nợ nần (Mat 18:21-35). Trong Công Vụ Các Sứ Đồ, tinh thần đại xá với khía cạnh phục hồi lần cuối xuất hiện trong Cong 1:6 và 3:21. Điều này có ý nghĩa đặc biệt là Hội Thánh ban đầu hưởng ứng niềm hi vọng này bằng cách trợ giúp lẫn nhau về mặt kinh tế (Cong 4:34 so sánh Phu 15:4).
Ứng dụng trong thời đại này Tinh thần đại xá vẫn là mô hình có sức mạnh xây dựng đạo lý Cơ Đốc theo Kinh Thánh. Những chủ trương và mục tiêu chính của năm hân hỉ có thể làm chỉ nam cho chúng ta, đồng thời cũng có thể phê phán chúng ta về mặt đạo đức trong thế giới hiện đại.
Về mặt kinh tế, năm hân hỉ bảo vệ quyền sở hữu đất đai dựa trên nền tảng phân phát đất đai công bằng cho mọi người và ngăn cản việc tập trung đất đai vào tay thiểu số người giàu có. Phương thức này rập theo nguyên tắc trong công cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời, là Ngài ban địa cầu cho toàn thể nhân loại, là những người đồng quản trị tài nguyên của địa cầu. Lê-vi Ký khẳng định với dân Y-sơ-ra-ên rằng ‘đất thuộc về Ta’. Còn Thi 24:1 khẳng định với toàn thể nhân loại rằng ‘Trái đất và mọi vật trong đó, thế giới và mọi vật sống trong thế giới đều thuộc về Đức Giê-hô-va’. Hai câu này cùng nhất trí về một ý chung. Vì thế, nguyên tắc đạo lý của năm hân hỉ nhằm ứng dụng cho mọi người dựa trên nền tảng Đức Chúa Trời trước sau như một. Trên nguyên tắc, những điều Ngài đòi hỏi nơi dân Y-sơ-ra-ên phản ảnh những điều Ngài đòi hỏi nơi toàn thể nhân loại - tức là phân phối nguồn tài nguyên của địa cầu một cách công bằng hợp lý (nhất là đất đai) và kiềm chế khuynh hướng tích luỹ, lẫn những hình thức áp bức và cô lập. Như vậy, năm hân hỉ không chỉ phê phán các cá nhân tích luỹ nhiều đất đai và những nguồn lợi tức trực hệ, nhưng cũng phê phán hình thức tập thể hoá trong phạm vi rộng lớn và quốc hữu hoá, vì những hình thức này phá tan mọi cơ may sở hữu đích đáng của cá nhân và của tập thể gia đình.
Về mặt xã hội năm hân hỉ quan tâm thực tiễn đến đơn vị gia đình. Ở Y-sơ-ra-ên, đơn vị này bao gồm gia đình mở rộng, ‘gia tộc’ tức là một nhóm khá lớn các chi tộc có cùng họ nội với nhau, là con cháu của một người nam còn sống bao gồm ba hoặc bốn đời. Đây là đơn vị nhỏ nhất trong khung bà con họ hàng của người Y-sơ-ra-ên và là điểm tựa làm cơ sở về gốc gác của một người, về vị trí và trách nhiệm của đương sự trong xã hội và về mặt an ninh của đương sự. Năm hân hỉ nhằm bảo vệ đơn vị gia đình này và đúng kỳ sẽ phục hồi lại nếu cần thiết. Điều đáng chú ý là phương cách năm hân hỉ áp dụng để bảo vệ đơn vị nhỏ nhất của xã hội này. Phương cách đó không chỉ vận dụng và kêu gọi về mặt đạo lý (tức là yêu cầu các hộ trong đại gia đình ràng buộc với nhau chặt chẽ, hoặc khuyên bảo cha mẹ và con cái) mà còn đề ra những quy định đặc biệt để điều chỉnh hiệu quả kinh tế của dạng vay mượn. Đạo nghĩa trong gia đình trở nên vô nghĩa nếu gia đình bị tan tác và bị các lực lượng kinh tế tước đoạt quyền sở hữu và đẩy họ vào chỗ bất lực (so sánh Ne 5:1-5). Năm hân hỉ nhằm phục hồi uy tín cho các gia đình đối với xã hội, và tạo điều kiện cho họ tham gia vào cộng đồng nhờ duy trì hoặc phục hồi phương tiện mưu sinh. Không được đẩy các thế hệ tương lai vào cảnh nợ nần liên tục chỉ vì một đời trước thất bại về mặt kinh tế. Các nguyên tắc và mục tiêu này chắc chắn là có ảnh hưởng trên những luật lệ về phúc lợi xã hội hoặc bất cứ bộ luật nào có tính cách kinh tế xã hội.
Về phương diện thần học, năm hân hỉ đặt nền tảng trên những niềm tin xác quyết của Y-sơ-ra-ên. Và không nên bỏ qua tầm quan trọng của những niềm xác tín này khi lượng định tích cách thích đáng của năm hân hỉ đối với đạo đức và sứ mạng của Cơ Đốc nhân. Cũng những qui định khác về ngày sa-bát, năm hân hỉ công bố quyền tể trị của Đức Chúa Trời trên thời gian và trên thiên nhiên, vì thế muốn tuân thủ các qui định về năm hân hỉ thì phải phục tùng quyền tể trị của Ngài. Do đó năm hân hỉ cũng gọi là ‘thánh’ và phải tuân thủ năm hân hỉ với lòng ‘kính sợ Đức Giê-hô-va’ (12,17). Hơn nữa, khi thực hiện việc bỏ đất hoang trọn một năm cũng cần phải có đức tin nơi Đức Chúa Trời là Đấng có quyền huy động những nguồn phước trong cõi thiên nhiên (18-22). Đằng sau năm hân hỉ còn có thêm một động cơ khác nữa được nhắc lại nhiều lần đó là công tác cứu chuộc của Đức Chúa Trời trong lịch sử khi đưa họ ra khỏi Ai Cập và ý nghĩa của biến cố đó đối với dân Y-sơ-ra-ên (38,42,55).
Bên cạnh động cơ lịch sử là kinh nghiệm về sự tha thứ cũng được nhắc lại nhiều lần vì sự đại xá được công bố vào ngày Lễ Chuộc Tội (9). Biết mình được Đức Chúa Trời tha thứ, tức là biết mình cũng phải xoá bỏ mọi món nợ và giải phóng cho những người Y-sơ-ra-ên đồng hương khỏi cảnh tôi đòi. Và như chúng ta đã thấy niềm hi vọng tương lai nằm trong lễ đại xá theo nghĩa đen kết hợp với niềm hi vọng vào thời tận thế khi Đức Chúa Trời sẽ phục hồi nhân loại và thiên nhiên trở lại đúng với mục đích ban đầu của Ngài. Muốn áp dụng mô hình năm hân hỉ, con người phải đối diện với quyền tể trị của Đức Chúa Trời, tin cậy nơi ơn thần hựu của Ngài, nhận biết sự cứu chuộc của Ngài, kinh nghiệm Ngài tha thứ, thực hành theo sự công bình của Ngài và hi vọng vào lời Ngài hứa. Tinh tuý của đại xá giờ đây nằm trong công tác truyền giáo của Hội Thánh, nền đạo đức cá nhân và xã hội và niềm hi vọng cho tương lai.
9. Phước hạnh, rủa-sả và lời hứa (Le 26:1-46)
Đời xưa, người ta thường kết thúc các chứng từ pháp lý, thí dụ như các hiệp ước quốc tế, với phần liệt kê các điều lợi nảy sinh từ việc tuân thủ hiệp ước và rủa-sả kẻ nào vi phạm. Thể thức chung này được áp dụng trong Phu 28:1-68. Sau lời dẫn nhập nhắc dân Y-sơ-ra-ên nhớ các đòi hỏi chính yếu của luật pháp (1-2), chương này bắt đầu nói về các phước hạnh đi cặp theo lòng vâng phục (3-13) và các tai ương nếu không vâng phục (14-39) đồng thời nói về viễn cảnh phục hồi về lâu về dài sau thời gian hình phạt (40-45).
(Le 26:3-13). Vâng phục và phước hạnh. Thật sai lầm khi cho rằng các phước hạnh và rủa-sả trong chương này chỉ là vấn đề thưởng phạt cân xứng và tương phản nhau.(như ý của tiêu đề trong bản NIV). Chắc chắn phước hạnh không phải là phần thưởng ‘đạt được’ bằng các việc lành, cũng thế tai hoạ không được xem như là hình phạt. Dân Y-sơ-ra-ên không cần giành lấy phước hạnh của Đức Chúa Trời. Phước hạnh đã được hứa ban và là bản chất của mối liên hệ giao ước. Có thể nói là phước hạnh đã nằm sẵn trong chứng thư của Y-sơ-ra-ên đang giữ - vì Đức Chúa Trời đã lập giao ước với Áp-ra-ham. Nhưng chỉ khi nào dân Y-sơ-ra-ên sống đúng với giao ước thì họ mới nếm trải đầy đủ các phước hạnh đó. Ngược lại phước hạnh sẽ bị rút lại và khi Đức Chúa Trời thu phước hạnh lại, họ sẽ bị đẩy vào tình thế nguy hiểm vì trái đất bị rủa-sả và con người thì độc ác.
Phước hạnh gồm bốn yếu tố: mưa và được mùa (3-5) hoà bình và an ninh (6-8) dân số gia tăng (9) và Đức Chúa Trời cư ngụ giữa họ (11-13). Thật ra bốn điều này cũng tương tự như các phước hạnh trong giao ước với Áp-ra-ham (Sa 12:1-3) cộng thêm một số sắc thái riêng biệt. Đức Chúa Trời hứa với Áp-ra-ham rằng ông sẽ có nhiều con cháu và con cháu ông sẽ được xứ (nhưng chẳng có ích gì nếu trời không mưa, không được mùa và hoà bình yên ổn), và trên hết họ sẽ vui hưởng phước hạnh sở hữu được nhờ mối tương quan giao ước với Đức Chúa Trời. Các câu này không chỉ nhắc lại giao ước với Áp-ra-ham mà còn nhắc lại giao ước với Nô-ê (8:21-9:17), thậm chí còn nhắc lại vườn Ê-đen. Câu Ta sẽ bước đi giữa ngươi là dạng câu ít được dùng để mô tả Đức Chúa Trời đồng bước đi với A-đam và Ê-va (3:8 so sánh 5:22,24 6:9 17:1). Chính vì mục đích phục hồi mối tương giao thân mật với Đức Chúa Trời và vui sống với Đức Chúa Trời trên địa cầu tốt đẹp này mà Đức Chúa Trời đã cứu chuộc họ qua biến cố xuất Ai Cập lừng lẫy. Tự việc này đủ chứng tỏ Ngài trung thành với giao ước (13).
(Le 26:14-39). Bất phục và rủa-sả. Thông thường các chứng từ thuộc loại này có một bản liệt kê dài hơn về những lời rủa-sả. Dầu sao trong căn bản phần này mô tả việc Đức Chúa Trời đảo ngược hoặc rút lại phước hạnh và cặp theo là những hậu quả thảm hại. Một loạt những chuyện hãi hùng quen thuộc với thế giới cổ đại là: bệnh hoạn (16), thất trận (17), hạn hán (18-20), thú hoang (21-22), chiến tranh, nạn dịch và nạn đói (23-31), tàn phá, phân tán và lưu đày (27-39). Các tai hoạ là những chuyện thông thường do con người và thiên nhiên gây ra. Nhưng trong bối cảnh của giao ước thì các tai hoạ này là công cụ hình phạt của Đức Chúa Trời (so sánh câu 25). Dựa trên nền tảng này mà các tiên tri giải thích các biến cố trong đời của họ là bằng chứng dân Y-sơ-ra-ên đã vi phạm giao ước khiến Đức Chúa Trời nổi cơn thạnh nộ. Nhưng các tiên tri cũng nhận thức rằng mục đích tận cùng của những sự hình phạt là khiến dân Y-sơ-ra-ên ăn năn trở lại cùng Đức Chúa Trời (so sánh Am 4:6-12) và họ cũng căn cứ trên những đoạn Kinh Thánh thuộc loại này mà họ có niềm hi vọng đó.
(Le 26:40-46). Ăn năn và phục hồi. Những từ ‘nhưng nếu’ trong Kinh Thánh thường mang nhiều ý nghĩa, và đây là một trong những chữ ‘nếu’ gây ấn tượng mạnh nhất. Dù phạm tội, bị trừng phạt và lưu đày, nhưng không có nghĩa là không còn tương lai nữa (so sánh Phu 30:1-10). Như họ đã biết kể từ biến cố con bò vàng (Xu 32:1-34:35) rằng niềm hi vọng duy nhất của dân Y-sơ-ra-ên là Đức Chúa Trời vẫn thành tín với giao ước của Ngài, dù họ đang đứng giữa cảnh hoang tàn sụp đổ vì tội phản bội và không vâng giữ giao ước. Đức Chúa Trời dành cho họ một tương lai và một niềm hi vọng, và các tiên tri vào thời lưu đày đã triệt để khai thác chủ đề này (so sánh Gie 29:10-14 30:1-31:40 Exe 34:25-31 36:24-38 37:24-28). Lý do là Đức Chúa Trời có mục đích ban phước cho toàn thể nhân loại qua dân Y-sơ-ra-ên, dù ở trong đoạn này không nói rõ ra nhưng có ngụ ý khi đề cập đến giao ước với Áp-ra-ham. Ngài tỏ ra nặng tình với dân Y-sơ-ra-ên là vì Ngài nặng tình với tất cả các dân tộc khác. Ngài sẽ không huỷ diệt họ hoàn toàn vì Ngài không bỏ chương trình cứu nhân loại. Chính vì lòng thành tín của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên có liên quan đến chương trình cứu rỗi của Ngài dành cho các dân tộc ngoại bang, khiến Phao-lô đã luận bàn sâu sắc về vấn đề này và về những khúc Kinh Thánh viết về các cuộc phục hồi (nhất là Phu 32:1-52) trong thơ Ro 9:1-11:36. Chúng ta cũng cần diễn dịch lời hứa của Đức Chúa Trời về ba điểm trong bối cảnh rộng rãi hơn của thế giới. Ba điểm đó là Ngài nhơ giao ước với Áp-ra-ham (42), xứ (42b-43) và giao ước Si-na-i (45). Không phải là Đức Chúa Trời đã quên họ. Nhưng đúng như khi Đức Chúa Trời nhớ đến Áp-ra-ham thì quyết định giải cứu dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập (Xu 2:34) thì Ngài cũng sẽ lại hành động để cứu dân của Ngài. Xa-cha-ri, cha của Giăng Báp-tít đã phổ những dòng tư tưởng đó thành bài hát ca ngợi khi ông đứng sát bên đỉnh điểm của công trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời (Lu 1:67-79).
10. Giá trị của lời nguyện và các vật hiến dâng (Le 27:1-34)
Luật pháp Cựu Ước không có điều khoản nào bắt buộc phải thề nguyện hoặc phải dâng con người hoặc đồ vật cho Đức Chúa Trời (ngoại trừ luật dâng một phần mười và hoa quả đầu mùa và biệt riêng con trai đầu lòng). Những lời thế hứa đặc biệt đều hoàn toàn do tự ý, tự phát. Nhưng luật pháp nhấn mạnh là dân sự không nên hấp tấp thề hứa hoặc cam kết rồi không giữ trọn. Không được xem thường Đức Chúa Trời, và phải nghiêm túc thực hiện lời mình hứa với Đức Chúa Trời như đã hứa với con người. Nguyên tắc này được tóm tắt đầy đủ trong Phu 23:21-23. Không thề hứa thì không có gì đáng trách, nhưng thề hứa rồi không thực hiện tức là phạm tội (so sánh Tr 5:2-7 Ch 20:25).
Đức Chúa Trời biết rằng khi dân sự cam kết sống thánh khiết và nỗ lực sống đúng với tinh thần của các chương trước thì họ có thể bị cám dỗ thề hứa dâng hiến cho Ngài cách nhiệt thành thái quá hoặc không đúng với thực tế, nên đoạn Kinh Thánh này vỗ dịu lòng nhiệt thành đó với thực tế trần trụi. Chỉ nên thề hứa dâng hiến sau khi nhận thức đầy đủ giá phải trả. Có thể chuộc lại một lời thề hứa, tức là phải bỏ tiền ra để chuộc bản thân mình khỏi hậu quả của một lời thề hứa, nhưng các qui định này cho thấy đây là một lối thoát đắt giá. Trong một số trường hợp, nếu đổi ý về sự thề hứa thì phải nộp tiền chuộc theo giá ấn định cộng thêm 20% giá trị của vật đương sự đã hứa dâng lúc đầu.
Chương này đề cập đến các lời thề nguyện dâng con người (2-8), súc vật (9-13), nhà cửa (14-15), đồng ruộng (16-25) và kết thúc bằng một vài qui định liên hệ (26-33). Hệ quả chính của lời thề hứa dâng hiến là con người hoặc đồ vật thụ hứa được giao cho Đức Chúa Trời, nghĩa là người đó hoặc đồ vật đó sẽ tuỳ ý các thầy tế lễ sử dụng trong đền thờ. Như vậy, một người dâng chính mình hoặc dâng một người trong gia đình mình là để phụ giúp cho các thầy tế lễ thực hiện các công việc không liên quan trực tiếp đến các của lễ thánh. Súc vật, nhà cửa, đồng ruộng sẽ là nguồn lợi tức cho các thầy tế lễ, nhất là nếu các đồ vật này được đổi bằng tiền mặt. Có thể trường hợp của cậu bé Sa-mu-ên là một thí dụ cụ thể về việc này và minh hoạ các trường hợp dẫn đến sự thề hứa tương tự (ISa 1:1-2:36). Nếu người được dâng hiến không muốn phụng sự theo cách đó thì phải chuộc đương sự bằng cách dâng số tiền cho các thầy tế lễ. Những con số trong câu 3-7 là những con số có thật, chớ không phải chỉ là giá trị tượng trưng. Có lẽ những con số đó phản ảnh giá của thị trường đối với khả năng lao động của các nô lệ. Nghĩa là không nên nghĩ rằng những câu này định giá bán, giá mua con người. Đúng hơn đây chỉ là một sự định giá khả năng lao động của họ. Đặc biệt là có qui định riêng cho người nghèo tương tự như trường hợp dâng của lễ vậy (8).
Đối với đất đai (16-25), người ta có thể dâng một số tài sản riêng của mình cho Đức Chúa Trời, và nếu về sau họ không chuộc đất lại, thì đất ấy sẽ thuộc về các thầy tế lễ cho đến năm hân hỉ. Nhưng dầu thế nào đi nữa, thì chủ đất thực sự vẫn là Đức Chúa Trời. Nhưng không thể dâng vĩnh viễn cho Đức Chúa Trời một miếng đất mua từ người khác (có thể vì miếng đất là vật thế chấp để vay nợ). Chiếu theo luật của chương 25, miếng đất đó rốt cuộc không thuộc quyền sở hữu của người mua. Đến năm hân hỉ, phải trả đất lại cho nguyên chủ.
Mặc dù chương này xem có vẻ như là phụ đính cho chương 26, nhưng lại là chương đỉnh điểm. Tuy nhiên mối quan tâm của chương này về các lời thề hứa, sự dâng hiến và lòng sốt sắng không hoàn toàn lạc điệu. Cử chỉ dâng hiến trong trường hợp đặc biệt hoặc ngoại lệ bao hàm đã có một đời sống dấn thân vì Đức Chúa Trời. Thề nguyện không làm cho đương sự trở nên thánh hơn chút nào, nhưng có thể tiêu biểu cho một bước dấn thân cụ thể, một sự đáp ứng nghiêm túc đối với Đức Chúa Trời là Đấng có những bản tánh, những đòi hỏi và những phước hạnh được trình bày rõ ràng đầy đủ trong sách. Trong bối cảnh Cơ Đốc giáo, có nhiều cách thể hiện một sự dấn thân tương tự, nhưng chắc chắn là cũng có thể bao gồm con người, tài sản, nhà cửa và đất đai. Không ai bị ép thề hứa, nhưng nếu đã hứa hoặc đã công bố lời thề nguyền thì Đức Chúa Trời sẽ không chấp nhận sự lừa dối (Cong 4:32-5:11 so sánh IICo 9:7). Cuối cùng, bất cứ lời thề nguyện hoặc dâng hiến nào phát sinh từ tấm lòng dâng hiến trọn vẹn đời sống để phụng sự Đức Chúa Trời đều là dấu ấn của một môn đồ đích thực của Đấng Christ (Ro 12:1-2).