MA-THI-Ơ

MỤC LỤC

Đức Chúa Jêsus là Đấng Mê-si

Ma-thi-ơ đặc biệt nhấn mạnh rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Mê-si mà các tiên tri Cựu Ước đã dự ngôn. Ông trưng dẫn Cựu Ước luôn luôn. Dường như tâm trí ông đặc biệt chăm chú vào các độc giả Do-thái.Mấy chữ “Nước Thiên đàng” thường dùng luôn, nên sách Tin Lành nầy hay được gọi là “Tin Lành của Nước.” Dầu về đại cương, chớ không phải từng biến cố, sách nầy theo thứ tự niên đại tổng quát, song tài liệu lại sắp đặt theo đề mục. Sách nầy chép hoàn toàn đầy đủ các bài giảng của Đức Chúa Jêsus.Nhứt là Bài Giảng Trên Núi, bài giảng về sự tái lâm của Chúa và kỳ tận thế.

Ma-thi-ơ

Sách Tin Lành nầy không chỉ đích danh tác giả. Tuy nhiên, từ thời các Giáo phụ Hội Thánh đầu tiên, bắt đầu từ Papias (một môn đệ của sứ đồ Giăng) trở đi, người ta đã công nhận đây là tác phẩm của sứ đồ Ma-thi-ơ.

Chúng ta hầu như không biết gì về Ma-thi-ơ. Ông cũng có tên là Lê-vi. Tên ông có ghi trong 4 danh sách 12 Sứ đồ (Mat 10:2  Mac 3:18  Lu 6:15  Cong 1:13). Chỉ còn một lần nữa nói đến ông, tức là lúc Đức Chúa Jêsus kêu gọi ông theo Ngài (Mat 9:9-13  Mac 2:14-17  Lu 5:27-32).

Ma-thi-ơ chỉ nói một lần về chính mình ông, ấy là ông là nghề “thâu thuế,” một danh từ nhục nhã. Nghề nầy chuyên thâu thuế cho chánh quyền La-mã, thường bóp nặn của dân và bị khinh dể.Lu-ca cho chúng ta hay rằng Ma-thi-ơ dọn đại tiệc thết Đức Chúa Jêsus, rồi “bỏ hết mọi sự, đứng dậy, đi theo Ngài” (Lu 5:28). Nhưng Ma-thi- ơ cũng chẳng vì đó mà tự nhận mình có ít nhiều giá trị. Ông hoàn toàn không thấy mình nữa trong khi thờ lạy Đấng Anh hùng của mình. Chúng ta quí mến Ma-thi-ơ vì ông có lòng khiêm nhường, tự xóa bỏ mình đi.

Chúng ta phải ngạc nhiên trước ân điển của Đức Chúa Trời đã lựa chọn một người như vậy làm tác giả quyển Tin Lành gọi là “Sách được đọc nhiều nhứt trên khắp thế giới.”

Theo truyền thoại, thì Ma-thi-ơ giảng ở xứ Pa-lét-tin mấy năm, rồi đi ra ngoại quốc; ông đã viết sách Tin Lành trước hết bằng tiếng Hê-bơ-rơ, rồi mấy năm sau, khoảng năm 60 S.C., mới ra một bản hoàn bị hơn bằng tiếng Hi-lạp. Không có chép lời giảng của ông. Nhưng ông trứ tác sách nầy, thì đã phục vụ loài người biết bao!

Ông làm nghề thâu thuế, nên quen biên chép. Ông là thiết hữu của Đức Chúa Jêsus trong vòng 2 năm, hoặc hơn nữa. Ngày nay nhiều người có giả thuyết rằng Ma-thi-ơ đã “cóp” sách Tin Lành của Mác. Giả thuyết nầy không có gì chứng minh, và “ngay trên mặt nó” đã là phi lý. Không có gì chắc chắn rằng Mác đã quen biết Đức Chúa Jêsus (xem ở dưới Mac 1:1). Tại sao Ma-thi-ơ phải “cóp” của một người không mắt thấy,tai nghe những điều mà chính mắt ông đã thấy và tai ông đã nghe đi nghe lại nhiều lần?

Bốn Sách Tin-Lành

Về mọi phương diện, bốn sách Tin Lành là phần quan trọng nhứt của Kinh Thánh, — quan trọng hơn mọi phần khác của Kinh Thánh hợp lại, quan trọng hơn tất cả sách vở của thế gian nầy hợp lại. Ấy vì chúng ta có thể không biết mọi sự khác, chớ không thể không biết Đấng Christ. Các sách Kinh Thánh ở trước 4 sách Tin Lành đã dự ngôn, còn các sách ở sau thì giải thích Vị Anh hùng của 4 sách Tin Lành.

Tại sao lại4? Trước hết, ta nên biết có nhiều sách hơn là con số 4. Đương thời ấy có sự hoạt động lớn lao về văn chương; ấy là thời đại của César, Cicéron, Salluste,Virgile, Horace, Sénèque, Livie, Tacile, Plutarque, và Pline. Có thể nói đó là “thời đại Elizabeth”(1) của đế quốc La-mã. Trong vòng một thế hệ, truyện tích Đức Chúa Jêsus đã truyền khắp thế giới mà người ta được biết thời đó, và thâu được hàng muôn vạn người tận tụy theo Ngài. Lẽ tự nhiên, cần có rất nhiều sách vở trần thuật đời sống của Ngài. Chính Đức Chúa Trời đã dự phần soạn thảo và gìn giữ bốn sách Tin Lành nầy; và chúng tôi tin rằng Ngài đã làm cho chúng chứa đựng người điều Ngài muốn ta biết về Đấng Christ.Trong Cựu Ước có một vài bản trần thuật hai lần. Nhưng trong cả Kinh Thánh, chỉ phần nầy có bốn sách luận về một Đấng. Vậy, tỏ ra Đấng nầy hệ trọng tuyệt đối.

Các tác giả.–Ma-thi-ơ vốn làm nghề thâu thuế. Lu-ca là thầy thuốc. Giăng làm nghề đánh cá.Không nói rõ Mác làm gì. Ma-thi-ơ và Giăng là đồng bạn của Đức Chúa Jêsus. Mác là đồng bạn của Phi-e-rơ. Sách Tin Lành của Mác chứa những điều ông đã nghe Phi-e-rơ thuật lại rất nhiều lần. Lu-ca là đồng bạn của Phao-lô. Sách Tin Lành của ông chứa những điều ông đã nghe Phao-lô kể từ đầu đến cuối đế quốc La-mã,và chính ông đã điều tra để minh xác. Phao-lô và Lu-ca cùng thuật một truyện tích. Hai ông đi khắp bốn phương, và thường đi cùng nhau. Giăng và Phi-e-rơ là hai đồng bạn thân thiết. Mác hợp tác với cả Phi-e-rơ và Phao-lô. Lu-ca và Mác cùng ở La-mã giữa năm 61 và 63 S.C, không xa lúc hai ông chép sách Tin Lành (Co 4:10-14).

Có lẽ các tác giả đã chép sách Tin Lành thành nhiều bản, hoặc một phần, hoặc trọn quyển, cho các chi hội hoặc cá nhân khác nhau. Có thể rằng hết thảy Sứ đồ và những bạn giúp việc họ từng hồi từng lúc, đã viết ra mọi điều họ rao giảng về Đức Chúa Jêsus cho các chi hội mà họ sáng lập hoặc thăm viếng. Nhưng bất cứ các tác phẩm ấy là gì, chắc phần nhiều đã tiêu mất trong những cuộc bắt bớ của đế quốc La-mã, nhằm ba thế kỷ đầu tiên,trừ ra các tác phẩm ta có trong Tân Ước mà do thiên cơ của Ngài, Đức Chúa Trời đã canh giữ và bảo vệ, kể đó là đủ truyền Lời Ngài cho mọi thế hệ trong tương lai.

Xem thêm ở dưới  Mac 1:1  Lu 1:1; và Gi 1:1-51.

Mat 1:1-17

 Gia hệ của Đức Chúa Jêsus

Gia hệ nầy cũng có chép ở  Lu 3:23-28.Sự ngự đến của Đấng Christ đã được dự liệu chẳng những từ cõi đời đời ở trên trời,song cũng từ lúc khởi thủy của lịch sử trên trái đất.

Trong đời thái cổ, Đức Chúa Trời đã chọn một gia tộc đặc biệt, tức là gia tộc Áp-ra-ham; về sau, Ngài lại chọn một gia tộc khác, thuộc trong dòng dõi Áp-ra-ham, tức là gia tộc Đa-vít, làm môi giới do đó Con Ngài sẽ ngự vào thế giới nầy. Quốc gia Hê-bơ-rơ đã được thành lập và được Đức Chúa Trời che chở trải qua các thời đại, để bảo tồn huyết thống của gia tộc ấy.

Gia hệ trong sách Ma-thi-ơ đã được rút ngắn, bỏ sót vài tên, nhưng chẳng vì đó mà huyết thống nầy thành vô giá trị. 42 thế hệ gồm 2000 năm. Chia ra làm ba phần, mỗi phần 14 thế hệ, có lẽ để cho dễ nhớ: Phần thứ nhứt gồm 1000 năm, phần thứ hai gồm 400 năm, phần thứ ba gồm 600 năm. 3 nhóm, mỗi nhóm có 14 người. 14 là 2 lần 7; 3 và 7 là hai con số thánh.

Tuy nhiên, nhóm thứ ba chỉ nêu tên 13 thế hệ; rõ ràng lắm, thế hệ thứ 14 định dành cho Ma-ri.

Gia hệ chép trong sách Lu-ca hơi khác.Ma-thi-ơ đi ngược lại tới Áp-ra-ham, còn Lu-ca đi ngược lại tới A-đam. Ma-thi-ơ từ trên xuống dưới — “sanh;” còn Lu-ca đi từ dưới lên trên –“con.”

Từ Đa-vít trở đi, thì có hai huyết thống đặc biệt, riêng rẽ, chỉ hợp nhất trong Sa-la-thi-ên và Sô-rô-ba-bên.

Quan điểm được mọi người thừa nhận là Ma-thi-ơ trình bày tông tộc của Giô-sép, tỏ ra Đức Chúa Jêsus là Đấng thừa kế hợp pháp các lời hứa ban cho Áp-ra-ham và Đa-vít, còn Lu-ca trình bày tông tộc của Ma-ri, tỏ ra huyết thống của Đức Chúa Jêsus, “theo xác thịt thì bởi dòng dõi Đa-vít sanh ra.” Theo phong tục Do-thái, thì gia hệ của Ma-ri ở trong tên chồng bà. Giô-sép là “con Hê-li” (Lu 3:23, tức là “con rể”của Hê-li vậy. Hê-li là cha của Ma-ri, còn Gia-cốp là cha của Giô-sép.

Hai gia hệ nầy, dầu đối với chúng ta dường như khô khan, nhưng lại là “xương sống” của sử ký Cựu Ước. Hai gia hệ nầy được gìn giữ cẩn thận trải qua bao nhiêu thế kỷ đầy thăng trầm lịch sử, và chứa “một dòng dõi lưu truyền một lời hứa qua 4000 năm, — là một thực sự vô song trong lịch sử.”

So Sánh 4 Sách Tin-Lành Với Nhau

Bốn sách Tin Lành là bốn bản trần thuật song song về cùng Một Người, phần lớn kể lại những sự trạng giống nhau, song cũng có một vài điều khác nhau.

Chỉ có Ma-thi-ơ và Lu-ca thuật lại sự giáng sanh và thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus. Ma-thi-ơ và Mác chuyên chú vào chức vụ của Ngài tại xứ Ga-li-lê. Lu-ca là người xứ Pê-rê (Pérée), còn Giăng là người xứ Giu-đê. Giăng bỏ qua phần lớn chức vụ của Chúa ở xứ Ga-li-lê, và ghi chép những cuộc Ngài thăm viếng Giê-ru-sa-lem mà mấy tác giả kia bỏ qua. Mấy tác giả kia bỏ qua chức vụ của Ngài ở xứ Giu-đê, trừ ra tuần lễ cuối cùng mà cả bốn ông kể lại khá đầy đủ. Tuần lễ cuối cùng chiếm 1/3 sách Ma-thi-ơ, 1/4 sách Lu-ca và 1/2 sách Giăng. Giăng dành 7 đoạn (gần 1/3 sách của ông) cho ngày Chúa bị đóng đinh vào Thập tự giá , từ lúc mặt trời lặn hôm trước cho tới lúc mặt trời lặn hôm sau.

Ma-thi-ơ có 28 đoạn. Mác có 16 đoạn. Lu-ca có 24 đoạn. Giăng có 21 đoạn. Lu-ca chiếm nhiều trang nhứt và là sách nhiều chữ nhứt. Mác là sách ngắn nhứt.

 

Quan Sát So Sánh 4 Sách Tin Lành

 

Ma-thi-ơ

Mác

Lu-ca

Giăng

 

Sự thực hữu của Đức Chúa Jêsus trước khi thành nhục thể

     

Giăng 1:1-3

Sự giáng sanh và thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus

Ma-thi-ơ 1, 2;

 

Lu-ca 1, 2

 

Giăng Báp-tít

Ma-thi-ơ 3:1-12;

Mác 1:1-8;

Lu-ca 3:1-20;

Giăng
1:6-42

Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-têm

Ma-thi-ơ 3:13-17;

Mác 1:9-11;

Lu-ca 3:21-22

 

Sự cám dỗ

Ma-thi-ơ 4:1-11;

Mác 1:12-13;

Lu-ca 4:1-13

 

Phép lạ đầu tiên

     

Giăng
2:1-11

Khoảng đầu chức vụ tại xứ Giu-đê (chừng 8 tháng)

     

Giăng
2:13 đến 4:3

Thăm viếng xứ Sa-ma-ri

     

Giăng 
4:4-42

Chức vụ tại xứ Ga-li-lê (chừng 2 năm)

Ma-thi-ơ 4:12 đến 19:1;

Mác 1:14 đến 10:1;

Lu-ca 4:14 đến 9:51;

Giăng 4:43-54; 6:1 đến 7:1

Thăm viếng thành Giê-ru-sa-lem

     

Giăng 5:1-47

Chức vụ tại xứ Pê-rê và khoảng đầu chức vụ tại xứ Giu-đê (chừng 4 tháng)

Ma-thi-ơ 19, 20;

Mác 10;

Lu-ca 9:51 đến 19:28;

Giăng 7:2 đến 11:57

Tuần lễ cuối cùng

Ma-thi-ơ 21 đến 27;

Mác 11 đến 15;

Lu-ca 19:29 đến 24:1;

Giăng 12 đến 19

Chức vụ sau khi sống lại

Ma-thi-ơ 28;

Mác 16;

Lu-ca 24;

Giăng 20 đến 21

Ma-thi-ơ

Mác

Lu-ca

Giăng

 

Sự thực hữu của Đức Chúa Jêsus trước khi thành nhục thể

     

Giăng 1:1-3

Sự giáng sanh và thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus

Ma-thi-ơ 1, 2;

 

Lu-ca 1, 2

 

Giăng Báp-tít

Ma-thi-ơ 3:1-12;

Mác 1:1-8;

Lu-ca 3:1-20;

Giăng
1:6-42

Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-têm

Ma-thi-ơ 3:13-17;

Mác 1:9-11;

Lu-ca 3:21-22

 

Sự cám dỗ

Ma-thi-ơ 4:1-11;

Mác 1:12-13;

Lu-ca 4:1-13

 

Phép lạ đầu tiên

     

Giăng
2:1-11

Khoảng đầu chức vụ tại xứ Giu-đê (chừng 8 tháng)

     

Giăng
2:13 đến 4:3

Thăm viếng xứ Sa-ma-ri

     

Giăng 
4:4-42

Chức vụ tại xứ Ga-li-lê (chừng 2 năm)

Ma-thi-ơ 4:12 đến 19:1;

Mác 1:14 đến 10:1;

Lu-ca 4:14 đến 9:51;

Giăng 4:43-54; 6:1 đến 7:1

Thăm viếng thành Giê-ru-sa-lem

     

Giăng 5:1-47

Chức vụ tại xứ Pê-rê và khoảng đầu chức vụ tại xứ Giu-đê (chừng 4 tháng)

Ma-thi-ơ 19, 20;

Mác 10;

Lu-ca 9:51 đến 19:28;

Giăng 7:2 đến 11:57

Tuần lễ cuối cùng

Ma-thi-ơ 21 đến 27;

Mác 11 đến 15;

Lu-ca 19:29 đến 24:1;

Giăng 12 đến 19

Chức vụ sau khi sống lại

Ma-thi-ơ 28;

Mác 16;

Lu-ca 24;

Giăng 20 đến 21

 

Mat 1:18-25

 Sự giáng sanh của Đức Chúa Jêsus

Chỉ có Ma-thi-ơ và Lu-ca thuật lại sự giáng sanh và thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus, mỗi ông kể những biến cố khác nhau. Xem ở dưới  Lu 1:5-8.

Mat 1:18-24

 Báo tin cho Giô-sép

Trong ba tháng đầu, sau khi sứ giả thiên thượng đến thăm, thì Ma-ri đi tới nhà Ê-li-sa-bét. Khi nàng trở về Na-xa-rét và Giô-sép biết tình trạng của nàng, thì ông chắc đã đầy “kinh ngạc, bối rối và đau đớn thấm thía.” Nhưng ông là người hiền đức, nên sẵn lòng che chở Ma-ri khỏi tình trạng mà ông dự đoán, tức là sự sỉ nhục công khai,hoặc tệ hại hơn nữa. Bấy giờ thiên sứ hiện đến cùng ông mà giải thích. Tuy nhiên, ông vẫn phải giữ sự bí mật của gia đình đó để tránh khỏi lời gièm pha,bêu xấu, vì không một ai chịu tin truyện của Ma-ri. Về sau, khi thần tánh của Đức Chúa Jêsus đã được chứng minh bởi các phép lạ và sự sống lại từ trong kẻ chết,bấy giờ Ma-ri có thể tự do nói ra sự bí mật thiên thượng của mình và sự thai dựng siêu nhiên của Con Trẻ. Về lời chú giải sự giáng sanh do nữ đồng trinh, xin xem ở dưới  Lu 1:26-38.

 

Giô-sép

Các sách Tin Lành ít nói về Giô-sép.Ông cùng Ma-ri đi đến Bết-lê-hem, và ở cùng bà khi Đức Chúa Jêsus sanh ra (Lu 2:4,16). Ông ở với Ma-ri lúc dâng Đức Chúa Jêsus tại Đền thờ (Lu 2:33). Ông dẫn Ma-ri và Đức Chúa Jêsus trốn qua Ai-cập, rồi trở về Na-xa-rét (Mat 2:13,19-23).Ông đưa Đức Chúa Jêsus lên Giê-ru-sa-lem năm Ngài 12 tuổi (Lu 2:43,51). Kinh Thánh chỉ còn nói thêm rằng ông làm nghề thợ mộc và là chủ một gia đình có rất ít là 7 con (Mat 13:55,56). Chắc ông là một người hiền đức, đáng làm gương mẫu,nên đã được Đức Chúa Trời chọn làm cha nuôi của Con Ngài. Người ta thường giả định rằng ông qua đời trước khi Đức Chúa Jêsus bắt đầu chức vụ công khai, mặc dầu lời lẽ ở  Mat 13:55 và  Gi 6:42 dường như ngụ ý rằng lúc đó ông còn sống. Dầu sao,ông chắc đã qua đời trước khi Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh trên cây Thập tự; bằng không, chắc Ngài chẳng có lý do giao mẹ Ngài cho Giăng săn sóc (Gi 19:26,27).

 

Ma-ri

Sau truyện tích Đức Chúa Jêsus giáng sanh và sau khi Ngài thăm viếng Giê-ru-sa- lem lúc 12 tuổi, thì Kinh Thánh ít chép về Ma-ri. Theo cách thường giải thích sách  Mat 13:55-56, thì ngoài Đức Chúa Jêsus ra, bà còn sanh hạ rất ít là 6 con nữa. Theo lời đề nghị của bà, Đức Chúa Jêsus đã làm phép lạ thứ nhứt tại Ca-na, tức là biến nước thành rượu (Gi 2:1-11). Về sau, Kinh Thánh chép rằng bà toan rẽ đám đông mà đến gần Ngài (Mat 12:46  Mac 3:31  Lu 8:19). Trong trường hợp nầy, lời Đức Chúa Jêsus phán tỏ rõ rằng mối liên lạc gia đình của bà với Ngài chẳng ban cho bà một ưu thế thiêng liêng đặc biệt nào cả. Bà có mặt lúc Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh trên Thập tự giá, và Ngài đã phó thác bà cho Giăng phụng dưỡng (Gi 19:25-27). Kinh Thánh không chép Đức Chúa Jêsus hiện ra với bà sau khi Ngài sống lại, mặc dầu Ngài thật đã hiện ra với Ma-ri Ma-đơ-len. Kinh Thánh chép lần chót về bà Ma-ri ở sách Cong 1:14, lúc bà hiệp với các môn đồ mà cầu nguyện. Đó là mọi điều Kinh Thánh đã nói về bà Ma-ri. Nói về các bậc phụ nữ có mặt trong đời sống công khai của Đức Chúa Jêsus, thì Ma-ri Ma-đơ-len dường như đã đóng vai quan trọng bội phần hơn mẹ của Đức Chúa Jêsus (Mat 27:56,61  28:1  Mac 15:40,47  16:9  Lu 8:2  24:10  Gi 19:25  20:1-18). Xem chú giải ở dưới  Lu 8:1-3.

Ma-ri là một bậc phụ nữ trầm tĩnh, hay suy gẫm, sùng đạo, khôn ngoan, được tôn trọng hơn hết; bà là nữ hoàng của các người mẹ, và đã chịu những nỗi lo âu thông thường của kẻ làm mẹ. Chúng ta ngưỡng mộ, tôn trọng bà, và kính mến bà vì bà đã sanh ra Cứu Chúa của chúng ta. Nhưng chúng ta không cầu nguyện bà. Chúng tôi nghĩ rằng người ta thường không tán thành việc Giáo hội Công giáo tôn bà Ma-ri làm thần, nên giới tín đồ không phải Công giáo chẳng tỏ lòng tôn trọng bà một cách thích đáng. Chúng tôi ngờ rằng chính bà Ma-ri ở Thiên đàng, dầu tự hào đời đời vì đã được làm mẹ của Cứu Chúa,song cũng không khỏi sững sốt, buồn rầu vì người ta đã tạc hình tượng bà lên mà thờ lạy.

Ai là “anh em” và “chị em” của Đức Chúa Jêsus, đã ghi chép ở  Mat 13:55-56 và  Mac 6:3? Có phải là con cái do Ma-ri sanh ra chăng? Hay là con cái đời vợ trước của Giô-sép? Hay là anh chị em họ? Ý nghĩa rõ ràng, đơn sơ và tự nhiên của những khúc sách nầy là họ chính là con cái do Ma-ri sanh ra. Đó là ý kiến thông thường của các nhà bình luận Kinh Thánh trong Hội Thánh Tin Lành. Vả, ý kiến nầy được chứng minh bởi lời chép ở  Lu 2:7 rằng Ma-ri “sanh con Trai ĐẦU LÒNG.” Tại sao lại gọi là đầu lòng, nếu chẳng có con cái nào khác?

Chúng tôi ngờ rằng nếu không phải muốn tôn sự độc thân làm một hình thức sanh hoạt thánh khiết hơn, thì người ta đã chẳng gán cho những khúc sách nầy một ý nghĩa khác. Giáo lý về Ma-ri “đồng trinh trọn đời” (nghĩa là bà cứ ở đồng trinh mãi, và không sanh con cái nào khác) đã xuất hiện lần đầu tiên nhằm thế kỷ thứ hai, trong những ngụ ngôn và tưởng tượng của các sách vở liên quan đến những ý niệm giáo lý rằng ở độc thân thì thánh khiết hơn. Sau đó người ta lại đặt truyện “thân thể không tì vít và quí báu của bà” được biến hóa mà cất lên trời. Sự thờ phượng “Nữ đồng trinh thánh” càng ngày càng thêm, cho đến năm 1854, thì Giáo hoàng Pie IX thi hành đặc quyền cho phép Giáo hoàng tạo ra những thực sự lịch sử, bèn ra sắc lịnh tuyên bố Ma-ri “được hoài thai tinh khiết” (nghĩa là bà vô tội,sanh ra và được giữ gìn “khỏi mọi tì tích của nguyên tội”).

Về sự “đồng trinh trọn đời” của Ma-ri, thì ta sẽ nói chi về  Mat 1:25? Lời chép rằng Giô-sép “không hề ăn ở với bà cho đến khi người sanh một trai,” há chẳng gồm ý rõ ràng, không sao lầm lẫn được, rằng ông thật đã “ăn ở với” bà, như chồng và vợ, sau khi Đức Chúa Jêsus sanh ra, sao? Lại nữa, câu: “Chưa ăn ở cùng nhau” (Mat 1:18) há chẳng gồm ý rằng về sau họ thật có “ăn ở cùng nhau,” sao? Hơn nữa, phải chăng có lý rằng Giô-sép và Ma-ri chỉ giả làm vợ chồng, và thật ra cuộc hôn nhân bề ngoài của họ chỉ là công khai giả mạo? Họ cố che giấu sự đồng trinh ở dưới đời sống gia đình chăng? Ta có thể nghĩ rằng Đức Chúa Trời đã dự phần vào sự dối gạt và giả hình dường ấy, chăng? Hơn nữa, sự đồng trinh có phải là thánh khiết hơn địa vị làm mẹ chăng?

Còn thuyết “anh em họ” và “anh em nuôi,” chỉ là phỏng đoán, không căn cứ trên ngữ học hoặc Kinh Thánh chi hết. Thuyết nầy chỉ đặt ra để binh vực giáo lý Ma-ri “đồng trinh trọn đời,” và dùng giáo lý nầy làm bối cảnh mà tôn giới thầy cả tự nhận là độc thân lên trên thường nhân.

Mat 2:1-2

 Các bác sĩ tới thăm

Việc nầy chắc đã xảy ra giữa khoảng Đức Chúa Jêsus được 40 ngày và lên 2 tuổi (Mat 2:16  Lu 2:23,39). Hai tuổi nầy dường như chỉ tỏ lúc ngôi sao hiện ra lần đầu tiên (câu 7) để thúc đẩy họ lên đường trong một hành trình kéo dài mấy tháng, chớ không phải là định đúng lúc hài nhi sanh ra. Nhưng Hê-rốt muốn chắc chắn, nên đã lấy thời hạn xa nhứt. Ít ra Hài nhi cũng không còn ở trong máng cỏ nữa, như các hình vẽ thường mô tả, nhưng Ngài đã ở trong “nhà” (câu 11). Xem ở  Lu 2:6-7.

Ba bác sĩ nầy đến từ Ba-by-lôn, hoặc từ xứ xa hơn, là nơi phát tích của loài người, tức là quê hương của Áp-ra-ham, nơi dân Do-thái bị lưu đày và nhiều người Do-thái còn cư ngụ. Ba bác sĩ nầy thuộc về hạng tri thức, và là cố vấn của vua chúa. Có lẽ họ biết Kinh Thánh của dân Do-thái và biết rằng dân ấy trông đợi một Đấng Mê-si ngự đến làm Vua. Ba-by-lôn là nơi Đa-ni-ên đã ở, và chắc họ có biết lời tiên tri của ông về 70 tuần lễ,cùng lời tiên tri của Ba-la-am về “một Ngôi Sao hiện ra từ Gia-cốp” (Dan 24:17). Họ là những người có địa vị cao, vì được phép vào triều kiến Hê-rốt.Người ta thường nói là có “ba bác sĩ,” những Kinh Thánh không nói rõ là có bao nhiêu. Có lẽ có nhiều hơn, hoặc ít ra họ cũng có bọn tùy tòng tới vài trăm người, vì một nhóm ít ỏi du hành hàng ngàn dặm qua những đồng vắng hoang vu, giặc cướp nhan nhản, thì không được an ninh. Họ tới Giê-ru-sa-lem, tỏ ra có việc quan trọng, đủ làm cho cả thành xôn xao.

Sự thăm viếng của ba bác sĩ nhằm mục đích tượng trưng sự sùng kính của giới trí thức và của những xứ xa đối với VUA mới sanh ra, cùng kêu gọi dân Giê-ru-sa-lem chú ý rằng Ngài đã ngự đến. Nhưng cũng còn nhằm một mục đích nữa mà chính các bác sĩ không biết, ấy là cung cấp tiền bạc cho Hài nhi trốn qua Ai-cập. Cha mẹ vốn nghèo, và nếu chẳng nhờ số vàng của các bác sĩ dâng cho, thì gia đình Chúa không thể nào trốn thoát tay Hê-rốt.

 

Ngôi sao

Người ta tính rằng Mộc tinh (Jupiter)và Thổ tinh (Saturne) đã giao hội năm 6 T.C.. Nhưng điều nầy hầu như không thể cắt nghĩa tại sao “ngôi sao đi trước mặt họ cho đến chừng ngay trên chỗ Con Trẻ ở mới dừng lại” (câu 9). Có người tưởng có lẽ là một “tân tinh” (nova), tức là một ngôi sao nổ ra và cháy sáng trong một thời gian. Các nhà thiên văn cho chúng ta hay rằng trên Ngân hà, hằng năm có chừng 30 ngôi sao nổ ra như vậy, sáng rực gấp hơn 10.000 lần khi trước,rồi lại trở về mực sáng thường. Nhưng hiện tượng ấy làm thế nào tương ứng với trường hợp này được?

Chắc ngôi sao mà các bác sĩ thấy là một hiện tượng rõ rệt, một ánh sáng siêu nhiên do sự khải thị trực tiếp của Đức Chúa Trời mà đi trước mặt họ và chỉ vào đúng chỗ. Đó là sự báo cáo siêu nhiên về một sự giáng sanh siêu nhiên. Các bác sĩ là những nhà thiên văn và chiêm tinh.Đức Chúa Trời dùng cái gì ở trong phạm vi tư tưởng của họ để dẫn đưa họ đến Đấng họ đang tìm kiếm. Có lẽ khi họ trở về xứ sở và thuật lại điều mình được thấy,thì đã dọn đường để mấy chục năm sau, các Sứ đồ đến rao giảng Tin Lành, vì một vài vị đã đi tới Ba-by-lôn.

Mat 2:13-15

 Trốn qua Ai-cập

Ngay đến biến cố nầy cũng không tránh khỏi con mắt sáng suốt, không hề lầm lẫn của Đức Chúa Trời trong hàng dài những lời tiên tri về Đấng Mê-si (câu 15  Os 11:1). Vị thiên sứ (câu 13) truyền lịnh cho họ trốn qua Ai-cập có lẽ là Gáp-ri-ên mà Đức Chúa Trời đã giao cho nhiệm vụ chăm nom Hài nhi (xem ở dưới  Lu 2:8-20).

Họ ở Ai-cập không lâu, có lẽ chỉ 1 hoặc 2 năm thôi, vì chẳng bao lâu Hê-rốt đã chết, và họ có thể trở về bình an vô sự.Xem niên biểu thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus ở dưới  2:39.

Không chỉ rõ tại Ai-cập, Giô-sép, Ma-ri và Hài nhi đã ở nơi nào. Theo truyền khẩu, thì gia đình Giô-sép ngụ tại thành Ôn, cũng gọi là Héliopolis. Đây cũng là nơi mà một Giô-sép khác đã cai trị nước Ai-cập từ bao nhiêu thế kỷ trước (Sa 41:45). Một tiêm bi dựng từ thời Áp-ra-ham, vẫn còn đó và đánh dấu vùng di tích.

Mat 2:16-18

 Tàn sát con trẻ

Khá kỳ lạ thay! Một người tin rằng Đấng Christ ngự đến (câu 4) mà lại có thể tự kiêu và ngu dại đến nỗi tưởng ngăn trở được sự ngự đến của Ngài!

 

Hê rốt

Nhà Hê-rốt là một triều vua gốc ở xứ Ê-đôm, dưới quyền đô hộ của người La-mã, họ đã được cai trị xứ Giu-đê trước khi Đấng Christ xuất hiện ít lâu. Hê-rốt đại vương (37-3 T.C.) đã đoạt được và giữ lấy ngôi bởi những hành động tàn bạo khôn tả xiết, thậm chí ông đã giết cả vợ và hai con trai. Ông là người hung ác, quỉ quyệt và vô tình. Chính ông đã giết những con trẻ ở Bết-lê-hem vì toan hạ sát Đấng Christ.

Chừng 33 năm sau, con trai ông, là Hê-rốt Antipas, giết Giăng Báp-tít (Mac 6:14-29), và chế nhạo Đấng Christ (Lu 23:7-12).

14 năm sau nữa, cháu nội ông, là Hê-rốt Ạc-ríp-ba I giết Sứ đồ Gia-cơ (Cong 12:1-12).

16 năm nữa, chắt nội ông, là vua Hê-rốt Ạc-ríp-ba II, đã xét xử Phao-lô (25:13-26:32).

Mat 2:19-21

 Từ Ai-cập hồi hương

Việc nầy cũng do một thiên sứ truyền bảo.Do câu 22, dường như Giô-sép định trở về Bết-lê-hem. Có lẽ ông toan định như vậy vì muốn chọn Bết-lê-hem, quê hương của tổ phụ Đa-vít, làm nơi cư trú vĩnh viễn và nơi thích hợp để dưỡng dục Đấng Mê-si còn thơ ấu. Nhưng Đức Chúa Trời có kế hoạch khác, nên đã bảo họ trở về xứ Ga-li-lê.

Các Danh hiệu của Đức Chúa Jêsus

Cựu Ước đã dự ngôn sự ngự đến của một Vua oai hùng, lạ lùng, thuộc trong gia tộc Đa-vít, và Ngài sẽ cai trị cùng ban phước cho cả thế giới. Lâu lắm trước khi xuất hiện, Vua ấy đã được đặt tên là “Đấng Mê-si” (tiếng Hê-bơ-rơ), hoặc “Đấng CHRIST”(tiếng Hi-lạp). Hai chữ nầy cùng có nghĩa là: “Chịu xức dầu.” Vậy,Ngài là Đấng mà Đức Chúa Trời xức dầu cho để làm giữa thế giới công việc mà các tiên tri đã nói đến. “JÊSUS” là Danh hiệu riêng của Ngài, còn “Đấng Mê-si” hoặc “Đấng Christ” là Danh hiệu tỏ ra chức vụ mà Ngài đã ngự đến để gánh vác.

Mat 2:22-23

 Trở về Na-xa-rét

Ma-thi-ơ không chép rằng Na-xa-rét vốn là nơi cư ngụ của Giô-sép và Ma-ri. Chúng ta nhờ Lu-ca mới biết điều đó.

Điều mà Ma-thi-ơ đặc biệt nêu lên, ấy là sự trở về Na-xa-rét đã làm ứng nghiệm một lời tiên tri.

Lời tiên tri mà Ma-thi-ơ trưng dẫn ở đây thì người ta cho là  Es 11:1, tại đó Đấng Mê-si được gọi là “Nhánh,” (cũng xem  Gie 23:5 và  Xa 3:8). Trong tiếng Hê-bơ-rơ, chữ “Nhánh” gần giống như chữ “Na-xa-rét.” Đây là một lời song quan (jeu de mots). Đức Chúa Jêsus “là người Na-xa-rét” theo hai ý nghĩa.

Vì Ma-thi-ơ hay trưng dẫn Cựu Ước, tỏ ra ông có khuynh hướng “ráp” các biến cố và đặc điểm của đời sống Đấng Christ vào các lời tiên tri, nên đây là chỗ rất tốt cho chúng ta liệt kê những lời tiên tri Cựu Ước được trưng dẫn trong 4 sách Tin Lành , nhứt là trong sách Tin Lành Ma-thi-ơ, có liên quan đến Đấng Christ. Phần nhiều lời tiên tri ấy hoàn toàn rõ ràng chỉ về Đấng Mê-si. Có một vài lời tiên tri mà chúng ta không thể giải thích như vậy, trừ ra nó đã được các tác giả (do Chúa soi dẫn) trưng dẫn theo ý nghĩa như vậy. Tuy nhiên, đối với chúng ta, thì ta hoàn toàn hài lòng về cách Tân Ước giải thích các đoạn Cựu Ước. Ấy vì lời giải thích Tân Ước đã ghi ý nghĩa Đức Chúa Trời đã định dành cho các đoạn Cựu Ước.

 

Những Lời Tiên Tri Cựu Ước Về Đấng CHRIST đượcTrưng Dẫn Trong Bốn Sách Tin Lành

Rằng Ngài sẽ thuộc về gia tộc Đa-vít (Mat 22:24  Mac 12:36  Lu 1:69,70  20:42-44  Gi 7:42  IISa 7:12-16  Thi 89:3,4  110:1  132:11  Es 9:6-7  11:1).

Rằng Ngài sẽ sanh ra bởi nữ đồng trinh (Mat 1:23  Es 7:14).

Rằng Ngài sẽ sanh tại Bết-lê-hem (Mat 2:6  Gi 7:42  Mi 5:2).

Rằng Ngài sẽ kiều ngụ tại Ai-cập (Mat 2:15  Os 11:1).

Rằng Ngài sẽ ở xứ Ga-li-lê (Mat 4:15  Es 9:1-2).

Rằng Ngài sẽ ở thành Na-xa-rét (Mat 2:23  Es 11:1).

Rằng sự ngự đến của Ngài sẽ được báo cáo bởi một sứ giả giống như Ê-li (Mat 3:3  11:10-14  Mac 1:2-3  Lu 3:4-6  7:27  Gi 1:23  Es 40:3-5  Ma 3:1; 4:5;).

Rằng sự ngự đến của Ngài sẽ gây cho con trẻ thành Bết-lê-hem bị tàn sát (Mat 2:18  Sa 35:19-20  48:7  Gie 31:15).

Rằng Ngài sẽ rao một năm hân hỉ cho thế giới (Lu 4:18-19  Es 58:6; 61:1;).

Rằng Ngài sẽ thi hành sứ mạng đối với các dân ngoại (Mat 12:18-21  Es 42:1-4).

Rằng Ngài sẽ thi hành chức vụ chữa bịnh (Mat 8:17  Es 53:4).

Rằng Ngài sẽ dạy dỗ bằng thí dụ (Mat 13:14,15,35  Es 6:9-10  Thi 78:2).

Rằng những kẻ cầm quyền không tin Ngài,ghen ghét và chối bỏ Ngài (Mat 15:8,9  21:42  Mac 7:6,7  12:10,11  Lu 20:17  Gi 12:38,40  15:25  Thi 69:4  118:22  Es 6:10  29:13  53:1)

Rằng Ngài sẽ ngự vào thành Giê-ru-sa-lem một cách khải hoàn (Mat 21:5  Gi 12:13-15  Es 62:11  Xa 9:9  Thi 118:26).

Rằng Ngài sẽ như một Người Chăn Chiên bị đánh (Mat 26:31  Mac 14:27  Xa 13:7).

Rằng Ngài sẽ bị một người bạn phản nộp vì 30 miếng bạc (Mat 27:9,10  Gi 13:18  17:12  Xa 11:12,13  Thi 41:9).

Rằng Ngài sẽ chết chung với bọn ác nhân (Lu 22:37  Es 53:9,12).

Rằng Ngài sẽ được người giàu an táng (Es 53:9  Mat 27:57-60). Lời tiên tri nầy không được trưng dẫn trong các sách Tin Lành.

Rằng người ta sẽ cho Ngài uống dấm và mật đắng (Mat 27:34  Gi 19:29  Thi 69:21).

Rằng chúng sẽ bắt thăm chia áo xống Ngài (Gi 19:24  Thi 22:18).

Cả lời Ngài phán khi hấp hối cũng được dự ngôn (Mat 27:46  Mac 15:34  Lu 23:46  Thi 22:1  31:5).

Rằng không một cái xương nào của Ngài sẽ bị gãy (Gi 19:36  Xu 12:46  Dan 9:12  Thi 34:20).

Rằng hông Ngài sẽ bị đâm lủng (Gi 19:37  Xa 12:10  Thi 22:16).

Rằng Ngài sẽ sống lại nhằm ngày thứ ba (Mat 12:40  Lu 24:46). Không trưng dẫn một câu đặc biệt nào về vấn đề nầy. Sách Cong 2:25-32 và  13:33-35 trưng dẫn  Thi 16:10-11 để chứng minh sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết. Đức Chúa Jêsus phán rằng có lời chép Ngài sẽ sống lại “ngày thứ ba” (Lu 24:46). Chắc Ngài đã nhớ đến mấy câu Kinh Thánh nầy: Os 6:2 và  Gion 1:17. Có lẽ Ngài cũng thấy cảnh tượng Y-sác được thoát khỏi sự chết nhằm ngày thứ ba (Sa 22:4). Mười Điều răn cũng được ban bố ngày thứ ba (Xu 19:16).

Rằng theo sau sự chối bỏ Ngài, thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị hủy phá và có cơn Đại nạn (Mat 24:15  Mac 13:14  Lu 21:20  Da 9:27  11:31  12:1,11).

Chính Đức Chúa Jêsus nhìn nhận rằng sự chết của Ngài sẽ làm ứng nghiệm Kinh Thánh (Mat 26:54,56).

Đây, một sự kiện lạ lùng: Cả truyện tích về đời sống của Đức Chúa Jêsus, nào các đặc điểm chính, nào các biến cố,nào các việc ngẫu nhiên kèm theo, thậm chí phần nhiều chi tiết nhỏ nhặt nhứt, đều đã được dự ngôn rõ ràng trong Cựu Ước! Đó há chẳng phải chứng cớ hiển nhiên rằng có một TÂM TRÍ thực tại và hoạt động, vượt quá tâm trí loài người, đến nỗi làm cho chúng ta phải kinh sợ, ngạc nhiên và hạ mình xuống, sao?

Mat 3:1-12

 Sự giảng dạy của Giăng Báp-tít

Xem thêm ở  Lu 3:1-12. Ma-thi-ơ đi từ sự dời khỏi Ai-cập mà hồi hương thẳng đến sự giảng dạy của Giăng Báp-tít, bỏ qua một thời gian gần 30 năm.

Mat 3:13-17

 Đức Chúa Jêsus chịu lễ báp-têm

Việc nầy cũng có chép ở  1:9-11 và  Lu 3:21-22. Trong cả ba đoạn tường thuật và ở  Gi 1:31-33, có những đặc điểm, là Đức Thánh Linh giáng xuống và tiếng phán từ trên trời. Theo  1:31-33, thì dường như Giăng báp-tít không biết Ngài. Nhưng  Mat 3:14 gồm ý rằng ông thật có biết Ngài. Chắc hẳn lúc còn thiếu niên, Đức Chúa Jêsus và Giăng Báp-tít đã quen biết nhau, vì hai gia đình có bà con (Lu 1:36), và hai bà mẹ đã ở cùng nhau 3 tháng ngay trước khi Đức Chúa Jêsus và Giăng Báp-tít sanh ra (Lu 1:39,56). Dường như chắc chắn rằng hai Thiếu niên đã được cha mẹ nói cho biết lời thiên sứ báo cáo liên quan đến sứ mạng của mình. Nhưng từ lúc Giăng Báp-tít rút lui để làm một người khổ tu trong đồng vắng (Lu 1:80), thì có lẽ ông không còn thấy Đức Chúa Jêsus cho đến ngày Ngài chịu lễ báp-têm. Lẽ tự nhiên, ông không nhận biết Người mà mình đã thấy lúc còn thiếu niên, cho đến khi Đức Chúa Trời chỉ Ngài ra. Bấy giờ, do chính thiên đàng xác nhận, Đức Chúa Jêsus được công khai xức dầu với tư cách Con Đức Chúa Trời, Đấng Mê-si của nước Do-thái và Cứu Chúa của thế gian.

 

Nơi Đức Chúa Jêsus chịu lễ báp-têm

Nơi Đức Chúa Trời đã lựa chọn để giới thiệu Đấng Mê-si với dân tộc Do-thái chính là hạ lưu sông Giô-đanh, tại chỗ hoặc gần chỗ nước rẽ ra cho Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên đi qua để vào xứ Ca-na-an.Giăng Báp-tít đã ở đây và bắt đầu công việc khơi lòng trông đợi của nhân dân.Chẳng bao lâu, mọi mắt chuyên chú vào ông và ai nấy tự hỏi chính ông có phải là Đấng Mê-si chăng? Bấy giờ dựa vào một sự phát hiện từ Thiên đàng,

Lên đầu trang