Giu-đe

MỤC LỤC

1. LỆNH GỌI NHẬP KHẨU (Giu 1:1-7)

Bởi vì tác giả của thư này là anh em của Gia-cơ nên ông là anh em của Đức Chúa Giê-xu Christ về phần xác (Mac 6:3). Anh em của Chúa về phần xác không tin Ngài trong thời gian Ngài thi hành chức vụ (Gi 7:5). Nhưng ssau khi Ngài sống lại, Gia-cơ đã trở lại tin nhận Chúa (ICo 15:7), chúng ta có đủ lý do để tin rằng Giu đe cũng được cứu vào thời gian ấy. Cong 1:14 cho chúng ta biết “anh em Ngài” là thành viên trong nhóm cầu nguyện đang chờ đợi Đức Thánh Linh giáng lâm ICo 9:5 cho chúng ta biết “các anh em Chúa” được nhắc đến trong Hội Thánh đầu tiên.

Đã nhiều cho việc xác định tác giả. Tại sao Giu-đe viết thư này? Để nhắc nhở độc giả biết rằng những kẻ vô đạo đã có mặt! Phi-e-rơ đã nói tiên tri rằng họ sẽ đến (IIPhi 2:1-3 IIPhi 3:3), lời tiên tri ấy đã ứng nghiệm. Hình như Giu-đe viết cho các tín hữu đã nhận thư của Phi-e-rơ, với ý định giục lòng họ và nhắc họ ghi nhớ lời nhắc nhở của Phi-e-rơ vào lòng. Bạn sẽ khám phá ra nhiều điểm tương đồng giữa thư Giu-đe và thư Phi-e-rơ thứ nhì …

Ông viết thư này để “khuyên giục” họ (Giu 1:3). Trong tiếng Hy Lạp, từ ngữ này được dùng để miêu tả một vị đại tướng ra lệnh cho đoàn quân do đó bức thư này có màu sắc “quân đội”. Giu-đe bắt đầu viết một thư với lời lẽ tâm tình nhẹ nhàng về ơn cứu rỗi nhưng Đức Thánh Linh hướng dẫn ông bỏ cây đàn cầm xuống và giương cao tiếng kèn thúc quân! Thư Giu-đe là tiếng gọi tòng quân.

1. Quân đội (Giu 1:1-2)

Chỉ huy đoàn quân là Đức Chúa Giê-xu Christ, chiến binh Ngài truyền lệnh là những người dự phần trong “sự cứu rỗi chung” bởi đức tin nơi Ngài. Giu-đe gọi họ là các thánh đồ (Giu 1:3), có nghĩa là “những người biệt riêng ra”. Ông gọi họ là những người được kêu gọi nghĩa là “được biệt riêng ra”. (Một vài bản viết là “được Đức Chúa Cha yêu mến”). Có lẽ ở đây có sự lặp lại như trong IPhi 1:2 cả Ba Ngôi Đức Chúa Trời được nhắc đến trong sự cứu rỗi của chúng ta.

Chắc chắn sự cứu rỗi bắt đầu bởi lòng thương xót của Đức Chúa Trời chớ không phải trong ý muốn con người (Ro 9:16). Sự mầu nhiệm của ân điển chọn lựa cao cả của Đức Chúa Trời vượt khỏi chúng ta trong cuộc đời này và chúng ta sẽ chẳng bao giờ hiểu đươc cho đến khi bước vào trong sự hiện diện vinh quang của Ngài. Vì lý do đó, chúng ta phải khôn ngoan không để cho những điều này làm cớ gây tranh cãi hay chia rẽ. “Những sự bí mật thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta” (Phu 29:29).

IITe 2:13-14 cho chúng ta thấy rõ Đức Chúa Trời Đấng đã chọn chúng ta cũng biệt riêng chúng ta ra nhờ Đức Thánh Linh và bởi Phúc Âm Ngài đã gọi chúng ta tin cậy Đức Chúa Giê-xu Christ. Đức Chúa Trời vừa chọn lựa vừa kêu gọi chúng ta, vì Đức Chúa Trời Đấng đã định cứu cánh (sự cứu rỗi chúng ta) cũng định phương tiện đạt đến cứu cánh (có người kêu gọi chúng ta đến với Đấng Christ). Chúng ta không hiểu Thánh Linh Đức Chúa Trời hành động trong lòng chúng ta như thế nào trước khi chúng ta tin nhận Ngài, nhưng Ngài đang hành động để “để riêng chúng ta ra” cho Đức Chúa Giê-xu Christ.

Các thánh đồ Đức Chúa Trời không những được biệt riêng ra nhưng họ còn đươc Ngài giữ gìn. Điều này có nghĩa “trông nom và bảo vệ cẩn thận”. Con cái Chúa được an ninh trong Đức Chúa Giê-xu Christ. Từ ngữ này cũng được dùng trong Giu 1:6,13 (“giữ”) và Giu 1:21 cũng vậy (“hãy giữ mình”). Đức Chúa Trời đang bảo vệ các thiên sứ sa ngã và kẻ vô đạo để dành cho ngày phán xét, nhưng Ngài có thể gìn giữ chúng ta trong cuộc sống bước đi với Chúa mỗi ngày và ngăn chúng ta khỏi vấp ngã.

Vì được biệt riêng ra và được giữ gìn, nên các chiến binh của Đức Chúa Trời là người nhận lãnh những phước hạnh tốt đẹp nhất của Đức Chúa Trời: đó là sự thương xót, bình an và tình yêu. Giống như sứ đồ Phi-e-rơ, Giu-đe mong muốn những ơn phước này được bội phần trong đời sống họ (IPhi 1:2 IIPhi 1:2). Bởi lòng thương xót của Ngài Đức Chúa Trời không ban cho chúng ta những gì chúng ta đáng hưởng. Thay vào đó, Ngài đặt để án phạt dành cho chúng ta lên Con của Ngài nơi thập tự giá. “Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta.. Nhưng Người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương” (Es 53:4-5).

Bởi công lao cứu chuộc của Đức Chúa Giê-xu Christ trên thập tự giá, con cái Ngài hưởng bình an. Người hư mất chống nghịch Đức Chúa Trời và không thể làm đẹp lòng Ngài (Ro 8:7-8) nhưng khi người ấy tin nhận Đấng Cứu Thế, nghịch thù chấm dứt và người ấy nhận lãnh bình an của Đức Chúa Trời (Ro 5:1).

Ngài cũng kinh nghiệm tình yêu của Đức Chúa Trời (Ro 5:5). Thập tự giá là sự tỏ bày tình yêu của Đức Chúa Trời (Ro 5:8), nhưng chúng ta không kinh nghiệm được tình yêu Ngài cho đến khi Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự vào lòng kẻ tin Ngài. Khi con cái Chúa lớn lên trong đời sống thuộc linh, người ấy bước vào trong mối tương giao sâu đậm của tình yêu (Gi 14:21-24).

Chắc chắn những người biết Đấng Christ là Cứu Chúa của họ sẽ hưởng địa vị độc nhất vô nhị. Đức Chúa Trời đã kêu gọi họ để biệt riêng ra cho Ngài để họ có thể hưởng tình yêu của Ngài. Trong khi mối tương giao của họ với Đức Chúa Cha có thể thay đổi từng ngày, nhưng địa vị làm con của họ không thể đổi thay. Họ “được gìn giữ trong Đức Chúa Giê-xu Christ”. Vì Giu-đe viết nhiều về tội lỗi và sự đoán phạt trong bức thư này nên ngay từ đầu ông cẩn thận xác định vị trí đặc biệt con cái Chúa có được trong lòng và trong kế hoạch của Đức Chúa Trời. Kẻ vô đạo phạm tội, sa ngã và chịu án phạt đau đớn nhưng con cái thật của Chúa sẽ được giữ vẹn trong Đức Chúa Giê-xu Christ để hưởng sự sống đời đời.

Có thể nhắc lại rằng kẻ vô đạo không phải là kẻ tin thật đã bỏ phế sự cứu rỗi. Họ là người cho rằng mình đã nhận chân lý và tin cậy Đấng Cứu Thế, rồi sau đó lìa bỏ “đức tin đã truyền cho các thánh môt lần đủ cả” (Giu 1:3). Giu-đe không phủ nhận những gì Phi-e-rơ đã viết, Phi-e-rơ viết rõ kẻ vô đạo không phải là chiên của Đức Chúa Trời, nhưng ông mô tả họ là heo và chó (IIPhi 2:21-22). Con heo đã được tắm rửa sạch sẽ, con chó mửa sạch ruột của nó, nhưng chẳng có con nào được ban cho bản chất mới là đặc tính của con cái thật của Đức Chúa Trời (IIPhi 1:3-4).

Vậy thì ở đây chúng ta có “đạo quân thuộc linh” Giu-đe muốn nói đến. Nếu bạn tin nhận Đức Chúa Giê-xu Christ, bạn sẽ ở trong đội quân này. Đức Chúa Trời không tìm kiếm người tình nguyện nhưng Ngài đã tuyển mộ bạn! Vấn đề không phải là “Tôi sẽ là một người lính không?” Nhưng đúng hơn, đó là, “Tôi sẽ làm người lính trung thành chăng?”

Ông Isaac Watts có lần giảng một sứ điệp trong ICo 16:13: “Anh em hãy tỉnh thức, hãy vững vàng trong đức tin, hãy dốc chí trượng phu và mạnh mẽ.” Khi ông xuất bản bài giảng, ông thêm vào một bài thơ bài thơ được phổ nhạc thành thánh ca và chúng ta tôn vinh Chúa ngày nay.

Tôi có phải chiến binh đoàn thập tự,

Người theo gót Chiên Con ư?

Giảng danh Giê-xu hổ ngươi hay sao

Vì danh Chúa vững không nào?

Tôi há cứ mãi vui cùng nệm giường,

Chờ được rước lên thiên đường?

Lúc bao anh em huyết tuôn châu rơi,

Hầu được lãnh thưởng trên Trời?

2. Kẻ thù (Giu 1:3-4)

Chúng ta đã biết rằng Giu-đe dự định viết một thư khích lệ về “sự cứu rỗi chung”. Tên Giu-đe có nghĩa là “ngợi khen”, ông nóng lòng ngợi khen Đức Chúa Trời và vui mừng trong ơn cứu rỗi Đức Chúa Trời ban cho trong Đức Chúa Giê-xu Christ. Nhưng Thánh Linh của Đức Chúa Trời thay đổi suy nghĩ của ông và hướng dẫn Giu-đe viết về cuộc chiến chống lại các lực lượng xấu xa trong thế gian. Tại sao vậy? Vì điều đó “cần thiết” cho Hội Thánh.

Tôi phải thú nhận rằng tôi cảm thông với Giu-đe. Trong kinh nghiệm chức vụ, tôi thích khích lệ các thánh đồ hơn là tuyên chiến với kẻ vô đạo. Nhưng khi kẻ thù tiến công, người canh gác không được phép đi ngủ. Cuộc đời Cơ Đốc nhân là một chiến trận, chớ không phải là sân chơi.

Giu-đe không bỏ phí thời giờ trong việc vạch mặt kẻ thù.

Họ là người không tin kính. Đây là một trong những từ ngữ Giu-đe yêu chuộng. Trong khi tuyên bố thuộc về Đức Chúa Trời, kỳ thật họ không kính mến Ngài trong ý nghĩ và nếp sống của mình. Có thể họ có “bề ngoài nhân đức”, nhưng họ thiếu quyền năng của nhân đức để sống cuộc đời Cơ Đốc nhân thật. (IITi 3:5).

Họ Là Người Lừa Dối. Họ “lẻn vào thình lình”. Trong tiếng Hy Lạp từ ngữ này có nghĩa “bí mật bò vào, giả danh chuồn vào”. Thỉnh thoảng những gián điệp đội lốt Sa-tan “lẻn vào” bởi những người ở bên trong (Ga 2:4), những người này tự họ vào. Phi-e-rơ nhắc nhở rằng những hạng người này sẽ xuất hiện (IIPhi 2:1) và bây giờ họ đã lộ diện.

Làm thế nào những anh em giả có thể vào trong hội các thánh được? Do các chiến sĩ ngủ tại nơi canh gác của mình! Các nhà lãnh đạo thuộc linh lớn lên trong sự kiêu căng và cẩu thả. Điều này giải thích tại sao Giu-đe phải “thổi kèn” để thức họ dậy. Chúa chúng ta và hết thảy các sứ đồ nhắc nhở chúng ta rằng giáo sư giả sẽ nổi lên, tuy nhiên Hội Thánh không đón nghe lời cảnh báo. Buồn thay, ngày nay một số Hội Thánh không chịu nghe những lời nhắc nhở.

Họ là kẻ thù của ân điển Đức Chúa Trời. Tại sao họ vào trong Hội Thánh? Họ muốn đổi thay giáo lý và “đổi ơn Đức Chúa Trời ra việc tà ác” (Giu 1:4). Chữ việc tà ác có nghĩa “phóng đãng, luông tuồng, cư xử không đứng đắn”. Người theo việc tà ác chỉ nghĩ đến việc thỏa mãn lòng tham dục của mình, bất kỳ điều gì người đụng đến cũng thành ra nhơ nhớp vì sở thích thấp hèn của mình. Việc tà ác là một trong những công việc của xác thịt (Ga 5:19) bắt nguồn từ tâm địa xấu xa của con người (Mac 7:21-22).

Phi-e-rơ đã nhắc nhở họ rằng kẻ vô đạo sẽ lý luận, “Bạn đã được cứu bởi ân điển, vì thế bạn tự do sống tùy thích! ” Họ hứa tự do cho người ta nhưng đó là tự do dẫn con người đến xiềng xích khủng khiếp (IIPhi 2:13-14,19). Độc giả mà cả Phi-e-rơ và Giu-đe gởi thư đến đều biết lời Phao lô đã viết (IIPhi 3:15-16), vì vậy đáng lẽ họ phải được mạnh mẽ khi đọc Ro 6:1-23 và ICo 5:1-6:20.

Giống như những người thờ tà thần ngày nay, kẻ vô đạo dùng lời Đức Chúa Trời để thúc đẩy và binh vực cho giáo lý sai lầm của họ. Họ quyến rũ những Cơ Đốc nhân non trẻ ấu trĩ chưa có nền tảng Kinh Thánh vững vàng. Mọi chiến binh Thập tự đều phải trải qua “sự rèn luyện căn bản của lời Chúa” tại Hội Thánh địa phương để biết cách sử dụng những vũ khí trong chiến trận thuộc linh (IICo 10:4-5).

Họ chối bỏ chân lý của Đức Chúa Trời. Phi-e-rơ đã khuyến cáo, “Họ chối Chúa đã chuộc mình” (IIPhi 2:1). Giu-đe không viết về hai con người khác nhau khi ông viết “Đức Chúa Trời duy nhất, và Đức Chúa Giê-xu Christ chúng ta” vì cấu trúc trong tiếng Hy Lạp khiến hai danh xưng này chỉ nói đến một thân vị. Nói cách khác, Giu-đe mạnh mẽ khẳng định thần tính của Đức Chúa Giê-xu Christ. Đức Chúa Giê-xu Christ là Đức Chúa Trời!

Nhưng kẻ vô đạo bác bỏ điều này. Họ đồng ý rằng Chúa Giê-xu là một con người nhân lành và một giáo sư lớn, nhưng không chấp nhận Ngài là Đức Chúa Trời từ cõi đời đời đến trong xác thịt. Điều kiểm nghiệm đầu tiên về bất kỳ thầy dạy đạo nào, như chúng ta đã thấy đó là, “Bạn nghĩ gì về Đức Chúa Giê-xu Christ? Ngài có phải là Đức Chúa Trời đến trong xác thịt không? Bất cứ ai phủ nhận giáo lý căn bản này đều là giáo sư giả cho dù những việc khác anh ta có đúng bao nhiêu đi nữa. Nếu chối bỏ thần tính của Đức Chúa Giê-xu Christ, họ sẽ lầm lạc trong bất cứ điều nào họ khẳng định.

Họ bị định cho ngày đoán phạt. Giu-đe không viết rằng những người này được Chúa định trở nên kẻ vô đạo như thể Đức Chúa Trời có trách nhiệm về tội lỗi của họ.Họ trở thành vô đạo vì cố tình từ bỏ chân lý. Đức Chúa Trời đã định rằng những người như vậy sẽ bị đoán phạt. Các đấng tiên tri trong Cựu Ước tố cáo những tiên tri giả trong thời của họ, cả Đức Chúa Giê-xu Christ và các sứ đồ của Ngài tuyên bố án phạt trên họ.

Tại sao Đức Chúa Trời phải đoán phạt những người này? Trước hết, họ đã chối bỏ Con Ngài! Lý do ấy cũng đủ để đoán phạt họ! Nhưng họ cũng làm ô uế con dân của Đức Chúa Trời bằng cách dạy họ rằng ân điển của Đức Chúa Trời cho phép họ phạm tội.Hơn nữa, họ nhạo báng giáo lý tái lâm của Đấng Christ (IIPhi 3:1-18). “Lời hứa về sự Chúa trở lại ở đâu?”. Họ nhạo báng chính lời hứa về sự tái lâm của Đấng Christ và sự đoán xét Ngài sẽ lập lên nghịch cùng kẻ không tin kính.

Dĩ nhiên, họ làm tất cả điều này dưới lớp vỏ tôn giáo, và điều này làm cho tội lỗi họ càng nghiêm trọng hơn. Họ lừa phỉnh người vô tội để trục lợi và dùng nó trong cách sống sa đọa. Chúa Giê-xu so sánh họ với chó sói đội lốt chiên (Mat 7:15).

Vậy thì Hội Thánh phải phản ứng ra sao với sự có mặt của kẻ thù xảo quyệt này? Hội Thánh phải mạnh mẽ đấu tranh vì đức tin.

“Đức tin” nói đến bộ phận giáo lý được Đức Chúa Trời ban cho Hội Thánh bởi các sứ đồ. Chữ giáo lý được dùng ít nhất mười sáu lần trong các thư tín Mục vụ.Phao-lô khuyên Ti-mô-thê và Tít phải dạy cho con cái Chúa “lời sấm truyền”nghĩa là “lời dạy lành mạnh”, những lời thúc đẩy Hội Thánh lớn lên trong đời sống thuộc linh. Trong khi cá nhân những thầy dạy đạo và giảng đạo có thể không đồng ý về những chi tiết của thần học, thì có một số lớn chân lý căn bản tất cả các Cơ Đốc nhân thật đều thừa nhận.

Khối lượng chân lý này đã được truyền (Giu 1:3) cho các thánh đồ. Từ này có nghĩa “được giao phó cho”. Hội Thánh nói chung và mỗi con cái Chúa nói riêng có sứ mạng làm trọn chân lý ấy. “Nhưng vì Đức Chúa Trời đã xét chúng tôi là xứng đáng giao cho việc giảng Phúc Âm, nên chúng tôi cứ nói” (ITe 2:4). Đức Chúa Trời đã giao phó chân lý cho Phao-lô (ITi 1:11), và ông chia sẻ chân lý ấy cho người khác như là Ti-mô-thê (ITi 6:20). Ông khuyên bảo Ti-mô-thê giao Lời Đức Chúa Trời cho mấy người trung thành khác (IITi 2:2). Ngày nay bạn và tôi sẽ không có lời Chúa nếu lời Chúa không được truyền lại qua các thế hệ gìn giữ kho tàng vô giá này và truyền bá cho nhiều người khác.

Hội Thánh là một thế hệ… Nếu thế hệ chúng ta không giữ được chân lý và không giao cho con cháu chúng ta, thì chân lý sẽ mất đi! Khi nghĩ đến các thánh đồ và những người tử đạo chịu đau đớn và chết để chúng ta có chân lý của Đức Chúa Trời, điều này khiến bạn mong muốn tham gia vào đoàn quân của Đức Chúa Trời và trung tín cho đến chết.

“Vì đạo mà tranh chiến” có nghĩa gì? Trong tiếng Hy Lạp chữ này là một thuật ngữ về điền kinh có nghĩa tiếng Anh là agonize (chịu đau đớn). Đó là hình ảnh của một vận động viên nhiệt thành tranh tài trong đại hội thể thao của Hy Lạp, người cố sức căng các cơ bắp và thần kinh của mình để mong đoạt giải. Bạn chẳng bao giờ chiến đấu cho Chúa trên ghế xích đu hay chiếc giường êm ái! Cả người chiến sĩ lẫn vận động viên phải tập trung làm hết sức mình và hi sinh tất cả. Cũng nên có đồng đội, người tin Chúa làm việc với nhau để tấn công và đánh bại kẻ thù.

Thỉnh thoảng bạn nghe những người có thiện chí nói, “Ồ, tranh chiến vì đức tin là điều tốt, nhưng đừng quá tranh chấp! ” Trong khi thật sự một số chiến binh của Đức Chúa Trời là nguyên nhân gây ra cãi vã và phân rẽ, thì một số họ cũng trả giá đắt để binh vực cho chân lý. Là chiến binh thập tự, chúng ta không nên làm hại nhau hay đi quanh tìm kiếm rắc rối. Nhưng khi ngọn cờ của Đấng Christ đang có nguy cơ bị kẻ thù giành giật lấy, chúng ta không thể ngồi yên, chúng ta cũng không thể hi vọng chiến thắng do mang găng tay bằng da dê.

Có lần Charles Spurgeon nói rằng “Quan điểm mới không phải là chân lý cũ được khoát lên chiếc váy tốt hơn, nhưng đó là những sai phạm hiểm độc khiến chúng ta không thể có được mối thông công.” Giáo lý sai lầm là chất độc chết người chúng ta phải nhận dạng, dán nhãn và tránh xa. Ông Spurgeon cũng nói: “Tôi không thể nhượng bộ giáo lý sai lầm, cho dù trước mắt tôi nó có tinh vi như thế nào đi nữa. Bạn có để cho tôi ăn thịt đã nhiễm độc vì chiếc đĩa đựng thịt đó là loại gốm tốt nhất không?”

Chúng ta nên luôn nói ra chân lý trong tình yêu thương, và vũ khí chúng ta dùng phải là thiêng liêng. Cùng lúc ấy, chúng ta phải mạnh dạn đấu tranh bảo vệ “đức tin”cho dù có gây bực dọc một ít người và làm buồn lòng những người khác. Chúng ta không chống lại kẻ thù của cá nhân chúng ta nhưng đó là kẻ thù của Chúa. Chính vì sự tôn cao và vinh hiển của Đức Chúa Giê-xu Christ khiến chúng ta liều mình.“Hãy vì đức tin mà đánh trận tốt lành” (ITi 6:12)

3. Chiến thắng (Giu 1:5-7)

Giống như sứ đồ Phi-e-rơ, Giu-đe lần trở lại lịch sử Cựu Ước và đưa ra ba gương về sự đắc thắng của Đức Chúa Trời trên những người đã chống lại quyền của ông và từ bỏ chân lý. Phi-e-rơ nói đến các thiên sứ sa ngã, Nô-ê và Lót (IIPhi 2:4-9) và đi theo trình tự lịch sử. Ông cũng nhấn mạnh đến sự giải cứu người công bình của Đức Chúa Trời cũng như cơn đoán phạt của Ngài trên kẻ không tin kính. Tuy nhiên, Giu-đe không đề cập đến Nô-ê và cơn nước lụt, thay vào đó ông dùng dân Y-sơ-ra-ên làm thí dụ.

Vấn đề Giu-đe đặt ra đó là Đức Chúa Trời đoán phạt kẻ vô đạo. Do đó, các giáo sư giả đã lẻn vào trong Hội Thánh ngày kia sẽ bị Ngài đoán phạt. Thành công hời hợt của họ sẽ không kéo dài nhưng Đức Chúa Trời sẽ tuyên phán lời cuối cùng.

Dân Y-sơ-ra-ên (Giu 1:5). Cả Phao-lô (ICo 10:1-33) và tác giả thư Hê-bơ-rơ (He 3:1-4:16) dùng từng trải của dân Y-sơ-ra-ên để minh hoạ cho những chân lý thuộc linh quan trọng. Dân Y-sơ-ra-ên được giải phóng ra khỏi Ai Cập bởi quyền năng của Đức Chúa Trời và Ngài đưa họ đến biên giới Đất Hứa. Nhưng dân sự sợ hãi và không có đức tin tiến vào chiếm lấy xứ (Dan 13:1-14:45). Môi-se, Giô-suê và Ca-lép tìm cách khích lệ dân sự vâng lời Đức Chúa Trời bằng đức tin, nhưng họ không chịu nghe theo. Thật ra, các trưởng tộc muốn tổ chức đưa dân sự trở lại xứ Ai Cập, nơi xiềng xích!

Đây là cuộc nổi loạn chống lại ý chỉ và lời phán của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời không nín chịu cuộc nổi loạn này. Kết quả, hết thảy mọi người từ hai mươi tuổi sắp lên bị ngã chết dần trong đồng vắng suốt bốn mươi năm. Sự vô tín đã dẫn họ đến sự huỷ diệt.

Hãy nhớ Giu-de đang dùng sự kiện lịch sử làm hình ảnh minh họa, chúng ta không nên đặt nặng đến từng chi tiết. Tất cả dân sự được giải phóng ra khỏi Ai Cập nhưng điều đó không có nghĩa mỗi cá nhân đều được cứu cách riêng tư bởi đức tin nơi Chúa. Điểm chính của câu chuyện đó là đặc quyền mang lại trách nhiệm, Đức Chúa Trời không thể dễ dàng bỏ qua tội lỗi của con dân Ngài. Nếu có độc giả nào của Giu-đe dám chạy theo các giáo sư giả, họ cũng sẽ lãnh sự trừng phạt của Đức Chúa Trời. “Vậy thì ai tưởng mình đứng hãy giữ kẻo ngã” (ICo 10:12).

Các thiên sứ sa ngã (Giu 1:6). Chúng ta đã nghiên cứu hình ảnh này trong IIPhi 2:4, nhưng Giu-đe dường như thêm vào một chiều kích mới bằng cách kết hợp sự sa ngã của thiên sứ với sự huỷ diệt thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Giu 1:7). Một số học giả Kinh Thánh tin rằng Giu-đe không chỉ dạy về cuộc nổi loạn của thiên sứ nghịch lại Đức Chúa Trời, nhưng còn dạy về sự xâm nhập vào thế gian của các thiên sứ sa ngã. Họ chỉ ra Sa 6:1-4 và tuyên bố rằng “các con trai Đức Chúa Trời” là các thiên sứ sa ngã mang xác thịt con người kết hiệp với con gái loài người sinh ra một dòng giống to lớn trên mặt đất. Đây là lý do Đức Chúa Trời sai cơn nước lụt đến.

Dầu đây là quan điểm hấp dẫn và phổ biến, nhưng tôi phải thừa nhận rằng tôi rất khó chấp nhận nói: “Con trai Đức Chúa Trời” là danh hiệu dành cho thiên sứ (Giop 1:6 Giop 2:1 Giop 38:7), nhưng luôn dành cho thiên sứ bị sa ngã. Đức Thánh Linh soi dẫn cho Môi-se viết có gọi các thiên sứ bị sa ngã là “con trai Đức Chúa Trời” không? Tôi nghi ngờ điều này.

Thắc mắc thứ hai của tôi đó là các thiên sứ là thần linh và không có thân xác. Trong Cựu Ước chúng ta đọc thấy các thiên sứ hiện ra trong hình dạng con người, nhưng đây không phải là sự đầu thai. Làm thế nào thần linh lại có quan hệ về mặt thể xác với phụ nữ được? Chúa chúng ta dạy rằng các thiên sứ không có giới tính (Mat 22:30).

Thứ ba, rõ ràng Đức Chúa Trời sai cơn nước lụt vì những việc làm của loài người, chớ không phải của thiên sứ. “Thần Ta sẽ chẳng hằng ở trong loài người luôn…Và Đức Chúa Trời thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều… thì tự trách đã dựng nên loài người trên mặt đất” (Sa 6:3,5-6). Nếu quan điểm về “thiên sứ sa ngã” này đúng, thì chắc hẳn Đức Chúa Trời đã tự trách Ngài đã dựng nên thiên sứ!

Thứ tư, cụm từ “lại như” và “làm gương” trong Giu 1:7 không cần phải giải thích để nói rằng các thiên sứ làm những gì dân Sô-đôm làm ấy là “buông theo sự dâm dục”. Lưu ý sự kết nối cú pháp trong câu, bạn sẽ có nội dung: “Lại như thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ… cũng buông theo… làm gương để trước mắt chúng ta”. Các thiên sứ là thí dụ về hình phạt của Đức Chúa Trời và thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ cũng như vậy.

Tôi có thể nói thêm rằng Sa 6:4 đưa ra một lập luận mạnh mẽ chống lại quan điểm cho rằng thiên sứ sa ngã kết hiệp với phụ nữ sinh ra người cao lớn. Đời đó và đời sau có những người cao lớn trên mặt đất”. Điều này không có nghĩa lần xâm nhập thứ hai của thiên sứ bị sa ngã phải xảy ra! Chúng ta không có thông tin gì về điều này trong Kinh Thánh.

Sau hết, cả Phi-e-rơ và Giu-đe đều nói rõ ràng những thiên sứ nổi loạn này bị xiềng trong nơi tối tăm để dành cho sự đoán phạt. Các thiên sứ ấy không có xâm nhập vào thế gian trước khi bị Đức Chúa Trời bắt và xiềng lại. Chúng ta tự hỏi tại sao Đức Chúa Trời đã cho phép được thả lỏng lâu đủ để khiến các phụ nữ phạm tội để rồi dẫn đến cơn nước lụt. Dù lời giải thích được thực hiện bởi các giáo sư tôi rất nể trọng, nhưng dường như nó có vẻ khác thường. Lời giải thích giản đơn nhất cho Sa 6:1-22 là dòng dõi tin kính của Sết (con trai của Đức Chúa Trời)bắt đầu kết hợp với dòng dõi bất kính của Ca-in và làm sụp đổ bức tường phân cách, kết quả là một sự thoả hiệp và lần đến tội thoái hoá. Nhưng dù bạn chấp nhận quan điểm nào đi nữa, hãy nhớ kỹ bài học chính yếu: các thiên sứ đã phản loạn và đã bị hình phạt vì sự phản loạn của họ.

Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Giu 1:7) cả Phi-e-rơ lẫn Giu-đe đều nói rằng Đức Chúa Trời đã dùng các thành phố này như một gương chứng để cảnh cáo những kẻ bất kính rằng Đức Chúa Trời thật sự đoán phạt tội lỗi (IIPhi 2:6). Khi bạn kết hợp hai lời mô tả này, bạn sẽ khám phá ra rằng dân thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ (cũng có các thành khác liên hệ) là: bất kính, ô uế, gian ác, vô luật pháp, bất công và đắm mình vào sự dâm dục. Không phải thỉnh thoảng họ mới phạm những tội tình dục không tự nhiên, nhưng họ đam mê chúng và đám mình trong việc theo đuổi tình dục. Động từ Hy Lạp nói rất mạnh “say mê quá mức trong sự vô đạo đức”. Đây là lối sống của họ – cả chết nữa.

Xác thịt lạ có nghĩa xác thịt khác. Cuộc sống của họ ngày càng đi xuống, đắm mình trong những hành động không tự nhiên (Ro 1:24-27). Những người chủ trương lối giải thích “thiên sứ trong thân xác con người, nhưng các thiên sứ này xâm nhập Sô-đôm, Gô-mô-rơ khi nào? Nếu các thiên sứ sa ngã để cám dỗ và quyến rũ chúng ta. Rõ ràng những người đàn ông tại cửa nhà Lót muốn tham gia vào tình dục đồng giới với các vị khách thiên sứ, nhưng những người Sô-đôm không biết đó là thiên sứ. Một khả năng nữa là người Sô-đôm không chỉ phạm tội tình dục không tự nhiên với nhau, nhưng còn với thú vật nữa, điều này có thể gọi là xác thịt lạ. Cả đồng tính luyến ái lẫn dâm dục với thú vật đều bị Đức Chúa Trời lên án (Le 18:22-25).

Những thành phố này được Đức Chúa Trời nêu lên như một gương chứng và lời cảnh cáo cho những người bất kính ngày nay. Động từ “nêu lên” có nghĩa là “phơi bày tỏ tường trước mắt công chúng”. Nhưng những thành phố này của đồng bằng ngày nay không còn ở trước mắt công chúng nữa. Các nhà khảo cổ đồng ý rằng Sô-đôm và Gô-mô-rơ đã bị chôn vùi ở phần phía Nam của Biển Chết. Như vậy làm thể nào chúng phục vụ như một gương chứng được? Trong các trang của Lời Đức Chúa Trời, không ai đọc Sa 18:1-19:38 lại không thấy rõ ràng Đức Chúa Trời ghét tội lỗi, nhưng cùng lúc Ngài vẫn kiên nhẫn và sẵn sàng hoãn vụ xét đoán lại. Điều này chắc chắn gắn liền với lời giải thích của Phi-e-rơ cho việc dường như Đức Chúa Trời chậm trễ trong việc hoàn thành lời hứa về sự trở lại của Đấng Christ (IIPhi 3:1-18). Tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên là sự vô tín nổi loạn (He 3:12). Tội của các thiên sứ là nổi loạn chống lại ngôi của Đức Chúa Trời. Tội của Sô-đôm và Gô-mô-rơ là đắm mình trong dục vọng là những tội biểu lộ tánh chất của các giáo sư giả. Kết luận thật rõ ràng: những kẻ bội đạo sẽ bị xét đoán. Nhưng trong lúc đó những chiến binh của Đức Chú aTrời phải tiếp tục nhiệm vụ và phải thận trọng kẻo các giáo sư giả lẻn vào giữa vòng họ và bắt đầu dẫn dân chúng đi sai lạc. “Hãy giữ chính mình con và sự dạy dỗ của con (ITi 4:16).

Cụ thể chúng ta có thể làm để chống lại kẻ thù và bảo vệ sự trong sạch và hiệp một của Hội Thánh? Trước hết chúng ta phải biết Lời Đức Chúa Tời và có can đảm chống lại nó. Mỗi một Hội Thánh địa phương phải là một viện Thánh Kinh và mỗi Cơ Đốc nhân phải là một học viên Kinh Thánh. Toà giảng cần phải công bố chân lý tích cực cũng như lên án sai lầm.

Thứ hai chúng ta cần phải tỉnh thức và cầu nguyện, kẻ thù đang ở đây rồi và chúng ta không dám ngủ nghỉ! Các nhà lãnh đạo thuộc linh trong các hội chúng địa phương cần phải cảnh giác khi hỏi các ứng viên cho lễ báp-tem – và thuộc viên Hội Thánh. Ban trị sự cần phải tìm kiếm ý Chúa khi bổ nhiệm các giáo viên Trường Chúa Nhật, người hướng dẫn giới trẻ và các lãnh đạo Hội Thánh. Các hội chúng phải thực hiên sự phân biệt khi chọn những nhân viên của Hội Thánh.

Thứ ba, hội chúng và các thuộc viên phải thật cẩn thận về nơi mà mình gởi tiền giúp đỡ. “Vua há giúp đỡ kẻ gian ác và thương mến kẻ ghen ghét Đức Giê-hô-va sao?” (IISu 19:2)

Cuối cùng, chúng ta phải có can đảm để giữ gìn một sự phân rẽ Thánh Kinh khỏi những kẻ chối từ Đấng Christ và những giáo lý nền tảng của Lời Đức Chúa Trời (Ro 16:17-20 IITi 2:15 IIGi 1:6-11. Điều này không có nghĩa là chúng ta phân rẽ khỏi các anh em tín hữu chỉ vì những khác biệt giáo lý nhỏ hay chúng ta có mặc cảm tội lỗi bởi liên hệ với họ. Đội quân thật của Đức Chúa Trời cần phải đứng với nhau trong cuộc chiến vì chân lý.

Bạn có cần tiếng gọi đầu quân?

2. GẶP MẶT KẺ BỘI ĐẠO (Giu 1:8-16)

Giu-đe không yên lòng khi chỉ nhắc độc giả chú ý đến những điều Phi-e-rơ đã viết. Ông muốn thêm lời khuyến cáo của mình qua cách mô tả hiện trạng của các giáo sư giả và những điều họ sẽ gây ra trong Hội Thánh. Thánh Linh Đức Chúa Trời hướng dẫn Giu-đe mô tả các đặc tính của kẻ bội đạo, củng cố lời dạy của Phi-e-rơ và đồng thời cung cấp thêm điều nên biết. Giu 1:8-16 và IIPhi 2:1-22 tương xứng và bổ khuyết cho nhau.

Nhưng tại sao lời nhắc này có vẻ không cần thiết? Sứ đồ Phao-lô cho câu giải đáp:“Tôi lại viết những điều này cho anh em vì ấy là có ích cho anh em” (Phi 3:1). Cha mẹ cứ nhắc lại những lời răn đe khuyên bảo con cái, thỉnh thoảng con cái đáp lại, “Con biết rồi! Ba mẹ đã nói với con cả ngàn lần rồi! ” Nhưng bậc cha mẹ khôn ngoan biết phải nhắc đi nhắc lại một số điều vì lợi ích và bình an cho con cái họ – cho dù con cái họ có muốn nghe hay không!

Tất cả những gì Giu-đe viết về kẻ bội đạo trong mấy câu này có thể được tóm lược trong ba câu văn.

1. Họ chối bỏ quyền năng Đức Chúa Trời (Giu 1:8-11)

Tất cả quyền năng đều ra từ ngôi Nước Đức Chúa Trời dù đó là quyền hạn trong gia đình, nơi giáo hội hay đất nước. Những người thực thi quyền hành trước hết phải ở dưới quyền tể trị của Đức Chúa Trời và chịu trách nhiệm đối với Ngài. Nhưng các giáo sư giả từ khước quyền năng của Đức Chúa Trời và tự lập quyền hạn riêng cho mình.

Nguyên do của sự nổi loạn này tìm thấy trong chữ “người mơ mộng hão huyền” (Giu 1:8). Những người này sống trong giấc mộng thế gian hư ảo và hoang tưởng. Họ tin lời nói dối của Sa-tan: “Các ngươi sẽ giống Đức Chúa Trời” (Sa 3:5). Từ bỏ chân lý của Đức Chúa Trời, họ nuôi mình bằng giáo lý giả đề cao cái tôi bản ngã của họ và khuyến khích họ nổi loạn. Giu 1:10 cho chúng ta biết kẻ bội đạo là những người dốt nát không biết họ đang nói về điều gì! Giu-đe nhắc lại đều Phi- e-rơ mô tả về những con người này là “thú vật vô tri” (IIPhi 2:12,22). Loài vật sống theo bản năng tự nhiên của nó, những kẻ bội đạo cũng như vậy. Khi con người nổi loạn chống nghịch Đức Chúa Trời, họ rơi xuống hàng súc vật.

Quá trình nổi loạn của họ được Giu-đe mô tả cách rõ ràng. Kết quả của việc nổi loạn và kiêu căng, họ “làm ô uế xác thịt”, sống thoả mãn những ham muốn xác thịt hạ cấp của loài vật. Khi con người khinh dể quyền năng của Đức Chúa Trời, họ cảm thấy tự do không vâng theo luật pháp Đức Chúa Trời và sống theo ý mình thích.Điều họ quên đó là những luật lệ ấy có hình phạt đi kèm theo để họ không thể không vâng lời và trốn tránh hậu quả.

Họ cũng dùng lưỡi mình nói lời chống nghịch Đức Chúa Trời. “Nhờ lưỡi mình chúng ta sẽ được thắng môi chúng ta thuộc về chúng ta: Ai là Chúa của chúng ta?” (Thi 12:4). Nhóm chữ “nói hỗn” trong Giu 1:8,10 có nghĩa là “nói phạm thượng, lộng ngôn”. Tội lộng ngôn bao gồm nhiều điều hơn tội lấy danh Đức Chúa Trời làm chơi mặc dù đó là trung tâm của vấn đề. Người ta nói phạm đến danh Đức Chúa Trời khi xem nhẹ lời Ngài và thậm chí còn đùa cợt nữa, hoặc khi cố tình thách đố Đức Chúa Trời đoán phạt mình. “Miệng họ nói hành thiên thượng, còn lưỡi lại phao vu thế gian. Và chúng nó nói: “Làm sao Đức Chúa Trời biết được? Há có sự tri thức nơi Đấng Chí Cao sao?” (Thi 73:9,11)

Hậu quả của việc họ nổi loạn là sự tàn hại: “Họ tự làm hư mình đi (phá huỷ)” (Giu 1:10). Họ tự làm ô uế mình (Giu 1:8) và tự huỷ hoại mình, tuy nhiên họ lại nghĩ mìmh đang tấn tới! “Bởi chẳng thi hành ngay án phạt những việc ác nên lòng con loài người chuyên làm đều ác” (Tr 8:11). Con đường nổi loạn chỉ là lối dẫn đến sự tàn hại .

Lời nói kiêu căng cũng như khinh dể quyền phép tạo dựng của Đức Chúa Trời là việc làm nguy hiểm. Ngay cả thiên sứ trưởng Mi-ca-ên (Da 10:13) không dám vu cáo Sa-tan, nhưng kính trọng quyền Đức Chúa Trời đã ban cho nó. Tên Mi-ca-ên có nghĩa là “Ai giống như Đức Chúa Trời?” Mỉa mai thay, Sa-tan đã nói trong sự phản nghịch, “Ta sẽ làm ra mình bằng Đấng Rất Cao! ” (Es 14:14), và nó gợi ý với con người, “Ngươi sẽ giống Đức Chúa Trời” (Sa 3:5).

Chúng ta không biết gì về cuộc giằng co giữa Sa-tan và Mi-ca-ên trên thân xác Môi-se.Lúc Môi-se qua đời, Đức Chúa Trời chôn cất ông ta và chẳng ai biết ngôi mộ nằm ở đâu (Phu 34:5-6). Rất có thể dân Do Thái đã làm một nơi thờ phượng bên ngoài ngôi mộ và phạm tội thờ thần tượng, vì vậy Đức Chúa Trời cứ tiếp tục bày tỏ về chính Ngài. Nội dung cho chúng ta biết “không có ai” biết được nơi chốn, do đó có lẽ Sa-tan biết nơi chỗ và tìm cách đòi thân xác Môi-se cho mình. Vì lý do Sa-tan có quyền hạn nào đó trong vương quốc thần chết nên có lẽ nó cảm thấy mình có quyền can thiệp vào (He 2:14-15).

Vấn đề đó là Mi-ca-ên không quở mắng Sa-tan, nhưng để cho Đức Chúa Trời. Thật là việc nguy hiểm cho con dân Đức Chúa Trời khi họ trực tiếp đối mặt với Sa-tan và tranh cãi với nó, vì nó mạnh hơn chúng ta. Nếu thiên sứ trưởng thận trọng trong cách đối xử với Sa-tan, thì chúng ta càng phải cẩn thận biết dường nào! Trong khi chúng ta thật sự dự phần vinh hiển với Đấng Christ, thì chúng ta không được táo bạo liều lĩnh. Sa-tan là kẻ thù rất nguy hiểm, để chống lại nó, chúng ta phải tiết độ và tỉnh thức (IPhi 5:8-9).

“Chúa phạt ngươi! ” là câu nói tương xứng với Xa 3:1-5. Đấng tiên tri nhìn thấy thầy tế lễ thượng phẩm mặc đồ dơ dáy đứng trước ngai Đức Chúa Trời, biểu tượng cho tình trạng tội lỗi của dân tộc Y-sơ-ra-ên sau khi bị Ba-by-lôn xâm chiếm.Sa-tan có mọi quyền để kiện cáo con người (Kh 12:9-11), ngoại trừ một điều: họ là tuyển dân của Đức Chúa Trời, dân tộc của giao ước Ngài, và Ngài sẽ không rút lại Lời phán của Ngài. Đức Chúa Trời tha thứ cho dân sự Ngài, ban áo công bình cho họ và dạy bảo họ đi trong đường lối Ngài. Đây là hình ảnh minh hoạ trong Cựu Ước được chép trong IGi 1:5-2:2.

Sự quở trách các giáo sư giả được chép trong Giu 1:11: “Khốn nạn thay cho chúng nó! ” Giu-đe trích dẫn ba ví dụ từ Cưụ Ước để minh họa sự tàn bạo trong tội lỗi của họ, đó là ba người nổi loạn nghịch lại quyền năng Đức Chúa Trời và họ chịu đau đớn vì cớ ấy.

Ca-in chống lại phương cách cứu rỗi của Đức Chúa Trời (Sa 4:1-26 IGi 3:11-12). Qua việc may áo cho A-đam và Ê-va bằng da con thú bị giết (Sa 3:21), Đức Chúa Trời phán dạy rõ rằng chỉ có sự đổ huyết là cách duy nhất có được sự tha thứ. Đây là phương cách của đức tin chớ không phải của việc lành (Eph 2:8-10). Nhưng Ca-in khước từ phương cách do Đức Chúa Trời tể trị và dâng lên bàn thờ cây trái do chính sức lao động của mình. Đức Chúa Trời không nhậm lễ vật của Ca-in vì Ngài từ bỏ Ca-in: tấm lòng của ông không ngay thẳng trước mặt Đức Chúa Trời. Bởi đức tin A-bên dâng của tế lễ bằng con sinh lên cho Đức Chúa Trời và đó là lý do Đức Chúa Trời nhậm lễ vật của ông (He 11:4).

 

Lên đầu trang