Ê-SAI

MỤC LỤC

Tiên tri về Đấng Mê-si

Ê-sai được gọi là “Tiên tri về Đấng Mê-si, ” vì ông hoàn toàn thấm nhuần ý tưởng rằng dân tộc ông sẽ ban Đấng Mê-si cho thế giới, nghĩa là bởi dân tộc ấy, một ngày kia, ơn phước lớn lao và kỳ diệu sẽ từ Đức Chúa Trời giáng trên mọi nước. Ông luôn luôn mơ tưởng một thời kỳ mà công việc lớn lao, kỳ diệu giữa muôn dân đó sẽ thực hiện.

Tân Ước chép rằng Ê-sai đã “thấy sự vinh hiển của Đấng Christ và nói về Ngài” (Gi 12:41).

Con người Ê-sai

Ông là Tiên tri của nước Giu-đa ở phía Nam, vào thời nước Y-sơ-ra-ên ở phía Bắc đã bị quân A-si-ri tiêu diệt.

Ê-sai sống dưới đời trị vì của các vua Ô-xia, Giô-tham, A-cha, và Ê-xê-chia. Ông được Chúa kêu gọi năm vua Ô-xia băng hà; nhưng một vài sự hiện thấy của ông đã xảy ra sớm hơn (xem ở Es 6:1). Theo truyền thoại của người Do-thái, thì ông đã bị Ma-na-se giết chết. Chúng ta có thể phỏng định niên hiệu chức vụ tích cực của ông vào khoảng năm 745-695 T.C.. , như vậy là gồm 50 năm hoặc hơn nữa.

Theo truyền thoại của các đạo sư Do-thái, thì A-mốt (không phải tiên tri A-mốt), cha của Ê-sai, là anh em vua A-ma-xia. Như vậy, Ê-sai là anh em thúc bá với vua Ô-xia, và là cháu nội của vua Giô-ách. Thế thì ông có dòng máu nhà vua, và là một quí nhơn ở triều đình.

Văn phẩm của ông. –Ông còn viết nhiều sách khác, nhưng đã thất truyền: Một tiểu sử của vua Ô-xia (IISu 26:22), một “sách các vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên” (IISu 32:32). Ông vừa là sử gia, vừa là đấng tiên kiến. Tân Ước trưng dẫn lời của ông nhiều hơn bất cứ đấng tiên tri nào khác. Ông có trí óc phi thường biết bao! Trong một vài đoạn văn, ông đã trổi hơn cả Shakespeare, Milton, hoặc Homère.

Ông tuận đạo. –Trong sách “Talmud” mà nhiều Giáo phụ của Hội Thánh công nhận là chơn chánh, có một truyền thoại rằng ông phản đối các chiếu chỉ của Ma-na-se liên quan đến sự thờ lạy hình tượng, nên bị bắt, bị cột giữa hai tấm gỗ, rồi cưa làm đôi. Như vậy, ông đã chết đau đớn và khủng khiếp hơn hết. Người ta cho rằng thơ He 11:37 ngụ ý nói đến cảnh tuận đạo của Ê-sai đây.

Bối cảnh A-si-ri trong chức vụ của Ê-sai

Es 150 năm trước thời của Ê-sai, đế quốc A-si-ri đã bành trướng và “nuốt” nhiều nước lân cận. Vào năm 840 T.C. , nước Y-sơ-ra-ên, dưới đời trị vì của Giê-hu, đã bắt đầu triều cống đế quốc A-si-ri. Năm 734 T.C. , khi Ê-sai còn là một thanh niên, thì quân A-si-ri đã bắt hầu hết dân Y-sơ-ra-ên ở phía Bắc đi làm phu tù. 13 năm sau (721 T.C.), thành Sa-ma-ri sụp đổ, và phần dân Y-sơ-ra-ên còn sót lại cũng bị bắt đi. Rồi mấy năm sau nữa, quân A-si-ri xông vào xứ Giu-đa, hủy phá 46 thành trì kiên cố, và bắt 200. 000 người đi làm phu tù. Rốt lại, năm 701 T.C. , khi Ê-sai đã cao tuổi, quân A-si-ri bị chặn lại trước vách thành Giê-ru-sa-lem, rồi chúng bị một thiên sứ của Đức Chúa Trời đánh cho đại bại. Như vậy, suốt đời Ê-sai ở dưới bóng hăm dọa của đế quốc A-si-ri, và chính ông đã chứng kiến tay chúng hủy phá cả nước mình, chỉ trừ ra thành Giê-ru-sa-lem.

Bí Chú Khảo Cổ: Cuốn sách của Ê-sai

Theo chỗ chúng ta biết, thì hết thảy nguyên bổn các sách Kinh Thánh đã thất lạc, Kinh Thánh của chúng ta ngày nay gồm những bản sao của những bản sao. Các bản sao nầy chép bằng tay cho tới khi sáng chế được máy in, nhằm năm 1454 S.C..

Các sách Cựu Ước đã viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ. Còn các sách Tân Ước viết bằng tiếng Hy-lạp. Các bản thảo toàn bộ Kinh Thánh cũ nhứt mà ta được biết và hiện còn đã có từ thế kỷ thứ 4 và thứ 5. Các bản ấy bằng tiếng Hy-lạp, và về phần Cựu Ước, thì có quyển Septante, là bản dịch Cựu Ước từ tiếng Hê-bơ-rơ ra tiếng Hy-lạp, nhằm thế kỷ thứ 2 T.C..

Các bản thảo Cựu Ước bằng tiếng Hê-bơ-rơ cũ nhứt mà ta được biết và hiện còn, thì đã có từ khoảng 900 năm S.C.. Bản Cựu Ước tiếng Hê-bơ-rơ gọi là “Messoretic Text” đã căn cứ vào các bản thảo trên đây và được dùng để dịch Cựu Ước ra tiếng Anh. Bản “Messoretic Text” là kết quả của sự so sánh mọi bản thảo sẵn có và do nhiều dòng văn sĩ (scribes) khác nhau sao lại những bản sao có từ trước. Các bản thảo nầy khác nhau rất ít, nên các nhà chuyên khảo cứu tiếng Hê-bơ-rơ đều đồng ý rằng trừ một vài điểm dị đồng không đáng kể, bản Kinh Thánh (tiếng Anh) của chúng ta đúng như nguyên bổn.

Tới nay, năm 1947, tại ‘Ain Fashkha, cách Giê-ri-cô chừng 7 dặm về phía Nam và cách Biển Chết 1 dặm về phía Tây, một số người Ả-rập du mục chở hàng hóa từ thung lũng sông Giô-đanh tới làng Bết-lê-hem, đang tìm một con dê lạc mất tại một dòng suối nông cạn đổ vào Biển Chết, bỗng tới cái hang đã sụp đổ một phần; trong đó, họ tìm thấy một số bình vỡ có những cuốn sách góc ló ra ngoài. Bọn người du mục bèn kéo các cuốn sách ra, đem đi giao cho Nữ tu viện Thánh Mác của Giáo hội Chánh thống phái Si-ry tại Giê-ru-sa-lem, rồi những vị phụ trách nơi đây lại giao cho Mỹ quốc Đông phương Khảo cứu Học viện để xét xem giá trị thể nào.

Người ta nhận ra một trong những cuốn sách nầy là Sách Ê-Sai chép cách đây 2000 năm, và 1000 năm cũ hơn bất cứ bản thảo nào của bất cứ sách nào trong Kinh Cựu Ước bằng tiếng Hê-bơ-rơ mà ta được biết. Thật là một Sự Phát Giác Lạ Lùng!

Cuốn sách nầy viết trên giấy da chiên thô sơ, dài chừng 8 thước tây, do nhiều mảnh dài 38 phân và rộng 25 phân khâu liền với nhau, toàn là chữ Hê-bơ-rơ thời cổ; và có bằng cớ chứng tỏ rằng sách đã viết vào thế kỷ 2 T.C..

Cuốn sách nầy và nhiều cuốn sách khác nguyên thủy, đã được bọc trong vải gai, ngoài phết sáp ong đen, rồi giấu kín trong những bình bằng đất. Rõ ràng lắm, chúng là một phần thơ viện của dân Do-thái, đã được giấu nơi hang đá chơ vơ nầy trong lúc nguy hiểm, có lẽ đương thời quân La-mã chinh phục xứ Giu-đê.

Về nội dung, cuốn nầy giống in sách Ê-sai trong Kinh Thánh của chúng ta; thật là tiếng nói ở trong bụi đất từ 2000 năm nay, do Đức Chúa Trời gìn giũ một cách lạ lùng, để xác nhận Kinh Thánh là chơn chánh. Ông W. F. Albright gọi nó là “bản thảo quan trọng nhứt phát giác được đương thời nay” (xem số 1948 và 1949 của tạp chí “Mỹ quốc Đông phương Nghiên cứu Học viện” và tạp chí “Nhà Khảo cổ Kinh Thánh”).

Sự nghiệp vĩ đại của Ê-sailà giải cứu thành Giê-ru-sa-lem khỏi tay quân A-si-ri. Chính là nhờ lời ông cầu nguyện, lời ông khuyên bảo vua Ê-xê-chia và sự can thiệp trực tiếp lạ lùng của Đức Chúa Trời, mà đạo quân A-si-ri dũng mãnh đáng sợ đã bị đánh bại trước vách thành Giê-ru-sa-lem. Chính Ê-sai đã cứu thành ấy lúc sự đoán phạt dường như chắc chắn (xem đoạn 36 và 37). Dầu San-chê-ríp, vua A-si-ri, còn sống 20 năm sau cuộc thất bại nầy, nhưng hắn không hề tiến đánh thành Giê-ru-sa-lem nữa.

 

Những vua Giu-đa đồng thời với Ê-sai

Ô-xia: (787-735 T.C.). Một vua tốt. Đời trị vì lâu dài và thành công mỹ mãn.

Giô-tham: (749-734 T.C.). Một vua tốt. Phần lớn đồng trị vì với Ô-xia.

A-cha: (741-726 T.C.). Một vua rất gian ác. Xem thêm ở dưới II Sử ký 28.

Ê-xê-chia: (726-697 T.C.). Một vua tốt. Xem ở dưới II Sử ký 29.

Ma-na-se: (697-542). Một vua rất gian ác. Xem ở dưới II Sử ký 33.

 

Các vua Y-sơ-ra-ên đồng thời với Ê-sai

Giê-rô-bô-am II: (790-749 T.C.). Một đời trị vì lâu dài, thạnh vượng, chuyên thờ lạy hình tượng.

Xa-cha-ri: (748). Bị mưu sát.

Sa-lum: (748). Bị mưu sát.

Ma-na-hem: (748-738 T.C.). Tàn ác tột bậc.

Phê-ca-hia: (738-736 T.C.). Bị Phê-ca mưu sát.

Phê-ca: (748-730 T.C.). Dân Y-sơ-ra-ên ở phía Bắc bị bắt làm phu tù (734 T.C.).

Ô-sê: (730-721 T.C.). Thành Sa-ma-ri bị chiếm (721 T.C.). Nước phía Bắc bị diệt vong.

 

Bí Chú Khảo Cổ: Sa-gôn

Sách Es 20:1 có chép: “Sa-gôn, vua A-si-ri, sai Ta-tân đến Ách-đốt vây thành và chiếm lấy. ” Trong tất cả văn chương cổ hiện còn, ta chỉ biết đó là chỗ duy nhứt có ghi tên Sa-gôn. Các nhà phê bình đã nói rằng Kinh Thánh ghi tên một vua mà không hề ai biết là có thật, thì đã phạm một lầm lỗi về phương diện lịch sử.

Nhưng, lạ lùng thay, năm 1842, ông Bottađã tìm thấy di tích của cung điện Sa-gôn tại Khorsabad, ở phía Bắc thành Ni-ni-ve, có những kho tàng và bi văn tỏ ra rằng Sa-gôn là một trong những vua A-si-ri oai hùng nhứt! Nhưng tên ông đã biến mất khỏi lịch sử, trừ ra lời ghi đơn độc trong sách Ê-sai, cho tới khi nhà khảo cổ Botta ngày nay phát giác được.

Những năm gần đây, nhơn viên Đông phương Học viện đã đào bới di tích cung điện Sa-gôn, gồm nơi Sa-gôn thiết triều, ngai của ông và con bò rừng to lớn bằng đá canh gác lối vào cửa, v. v.. .

Do các bi văn, ta được biết rằng Sanh-ma-na-sa đã chết đang lúc vây hãm thành Sa-ma-ri, có Sa-gôn kế vị và hoàn tất cuộc chiếm cứ thành ấy. Hơn nữa, để chứng minh lời trưng dẫn sách 20:1 trên kia, một bi văn của Sa-gôn chép rằng: “Azuri, vua Ách-đốt, toan tính trong lòng không triều cống nữa. Trong cơn tức giận, ta kéo đoàn vệ binh thường trực đi đánh Ách-đốt. Ta chiếm được Ách-đốt và Gát: Ta cướp của báu và nhơn dân của hai thành nầy, rồi đem dân các xứ phía Đông đến ở đó. Ta nhận cống phẩm của các xứ Phi-li-tin, Giu-đa, Ê-đôm và Mô-áp. 

Es 1:1-31

 Tội ác khủng khiếp của nước Giu-đa

Lời khủng khiếp tố cáo dân chúng đây dường như ở vào khoảng giữa đời trị vì của Ê-xê-chia, sau khi nước phía Bắc bị diệt vong, và sau khi A-si-ri đã xâm lăng xứ Giu-đa, bắt một phần lớn nhơn dân đi làm phu tù, chỉ còn sót lại thành Giê-ru-sa-lem (câu 7-9). Ê-xê-chia là một vua hiền đức, nhưng các cuộc cải cách của ông chỉ mới “cào sơ” cái vỏ ngoài đời sống thúi nát của nhơn dân. Trận gió lốc khủng khiếp do quân A-si-ri mỗi ngày mỗi gần hơn. Nhưng họ vẫn chẳng đổi khác chi, cứ việc nhảy múa. Quốc gia bại hoại không tự làm cho mình tinh sạch, nhưng lại càng tỉ mỉ chú ý che đậy bằng sự giả bộ nhiệt thành dự các nghi lễ tôn giáo. Lời Ê-sai đay nghiến tố cáo sự đạo đức giả hình của họ (câu 10-17) khiến ta nhớ lời Đức Chúa Jêsus lên án các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, chẳng chút thương xót (Mat 23:1-39). Ta không nên hiểu rằng những lời nầy có ý giảm bớt cái phận sự trung tín dự các cuộc thờ phượng trong Nhà Đức Chúa Trời. Chính Đức Chúa Trời truyền lịnh phải có các cuộc thờ phượng ấy. Ý chính ở đây là đối với “Sô-đôm” (câu 10), sự phô trương tôn giáo chẳng có ích lợi chi cả. Chỉ có sự ăn năn thành thật và sự vâng lời mới cứu được họ (câu 16-23). Đoạn, Ê-sai từ bức tranh thê thảm xây qua ngày Si-ôn được tẩy sạch và được cứu chuộc, còn kẻ ác bị bỏ mặc cho cháy đời đời (câu 24-31).

Es 2:1-4:6

 Sự hiện thấy về thời đại Đấng Christ

Ba đoạn nầy dường như giải rộng ý tưởng sau chót của đoạn 1: Vinh quang tương lai của Si-ôn khác hẳn với sự đoán phạt giáng trên kẻ ác. Lời nhắc đến hình tượng và thói tục ngoại bang lan tràn (Es 2:6-9) khiến ta có thể minh xác rằng sự hiện thấy nầy xảy ra dưới đời trị vì của A-cha.

Si-ôn sẽ là trung tâm của nền văn minh thế giới, trong một kỷ nguyên bốn phương thiên hạ hòa bình vô tận (2:2-4). Những lời lạc quan tuyệt diệu nầy đã thốt ra trong thời kỳ thành Giê-ru-sa-lem thật là một “hố phân” ô uế, bại hoại. Bất cứ thời đại ấy được thực hiện thể nào, lúc nào và ở đâu, nó cũng sẽ là cơ nghiệp của dân Đức Chúa Trời, còn kẻ ác thì bị loại ra. Xem thêm ở dưới đoạn 11:6-9.

Hình tượng và kẻ thờ lạy hình tượng sẽ bị đoán phạt (Es 2:5-22). Sự đau đớn và lưu đày đang đợi chờ dân Giu-đa vì cớ tội lỗi họ (Es 3:1-15), kể cả bọn phụ nữ Giê-ru-sa-lem chai đá, ăn bận đúng thời trang (Es 3:16-26). Ấy cũng như bọn phụ nữ xa hoa ở thành Sa-ma-ri (Am 4:1-3). “Bảy người nữ sẽ bắt lấy một người nam” (Es 4:1), vì bọn đờn ông bị giết ngoài mặt trận.

“Chồi” hầu đến (Es 4:2-6). Đây là lần đầu tiên Ê-sai nói đến Đấng Mê-si hầu đến. Danh Ngài là “CHỒI, ” nghĩa là một Nhánh nứt ra từ cái gốc cây nhà Đa-vít đã đổ nát (11:1 53:2 Gie 23:5 Gie 33:15 Xa 3:8 Xa 6:12). Ngài là Đấng sẽ tẩy sạch sự ô uế của Si-ôn, và khiến Si-ôn thành nguồn ơn phước cho thế giới.

Es 5:1-30

 Bài ca về vườn nho

Đây là một bản ai ca. Sau bao nhiêu thế kỷ được Đức Chúa Trời săn sóc lạ lùng hơn cả, tới nay vườn nho của Ngài, tức là dân Ngài, chẳng sanh trái chi cả, làm cho Ngài thất vọng, đến nỗi bị Ngài từ bỏ và chặt đi. Lời Đức Chúa Jêsus phán thí dụ về vườn nho (Mat 21:33-45) dường như là hồi thanh và bài giải rộng thí dụ trên đây. Những tội lỗi bị đặc biệt tố cáo ở đây là: Tham lam, bất công và say sưa. Những sản nghiệp rộng lớn của người giàu đã thâu được bằng cách bốc lột kẻ nghèo, chẳng bao lâu sẽ trở thành đất hoang. Một “bát” (câu 10) có 36 lít. Một “ô-me” có 11 thùng; một “ê-pha” là một thùng. Ấy nghĩa là mùa gặt sẽ kém số hột giống đã đem theo. “Phải bắt làm phu tù” (câu 13); trong nguyên văn, câu nầy ở thì quá khứ cũng như Ê-sai 53; ấy vì tương lai chắc chắn xảy ra đến nỗi nói như là việc đã qua rồi. Lại nữa, đương thời ấy, một phần lớn nhơn dân cũng đã đi làm phu tù rồi. “Dùng đõi xe kéo tội lỗi” (câu 18), nghĩa là bào chữa sự hư hoại của mình bằng cách ngụy biện và giễu cợt cái ý tưởng rằng Đức Chúa Trời sẽ hình phạt họ. Những dân tộc từ xa sẽ đến xâm lăng (25-30). Người A-si-ri đương thời Ê-sai và, 100 năm sau, người Ba-by-lôn hủy phá thành Giê-ru-sa-lem. Rồi tới năm 70 S.C. , người La-mã đánh một đòn chí tử, làm cho quốc gia Do-thái không sanh tồn nữa.

Es 6:1-13

 Ê-sai được kêu gọi

Các nhà nghiên cứu Kinh Thánh không đồng ý về sự hiện thấy nầy có thể xảy ra trước các sự hiện thấy ở năm đoạn đầu. Các niên hiệu ghi trong sách nầy đều theo thứ tự niên đại: Es 6:1 Es 7:1 Es 14:28 Es 20:1 Es 36:1. Sự kiện nầy tỏ ra rằng sách viết theo thứ tự niên đại tổng quát, nhưng không buộc phải đúng từng chi tiết. Có lẽ lúc về già, Ê-sai sắp lại các sự hiện thấy mình đã viết ra ở những giai đoạn khác nhau của chức vụ lâu dài; ông đã theo thứ tự ý tưởng một phần nào, nên việc ở một vài đoạn sau lại thật xảy ra trước những đoạn trước.

Người ta cũng có ý kiến khác nhau về đây là Ê-sai được kêu gọi lần đầu tiên đi hành chức tiên tri, hay là ông được giao cho một sứ mạng đặc biệt. Ở Es 1:1 chép rằng một phần chức vụ của ông đã thi hành đương thời vua Ô-xia, còn sự kêu gọi ở đây lại xảy ra năm vua ấy băng hà; như vậy, ngụ ý rằng trước đó ông cũng đã rao giảng, và sự kêu gọi nầy là Đức Chúa Trời cho phép ông lên tiếng.

Cứ bề ngoài mà xét, thì chức vụ đặc biệt mà Chúa kêu gọi ông làm dường như là khiến cho quốc dân cứng lòng cực điểm ngõ hầu sự hủy diệt chắc chắn xảy đến (câu 9-10). Nhưng, lẽ tự nhiên, mục đích của Đức Chúa Trời chẳng phải là làm cho quốc dân càng cứng lòng trong tội lỗi, mà là khiến họ ăn năn để được cứu khỏi bị hủy diệt. Tất cả chức vụ của Ê-sai, cùng với những sự hiện thấy kỳ diệu, mà tuyệt điểm là một trong những phép lạ vĩ đại nhứt của các thời đại, có thể nói là dường như Đức Chúa Trời nôn nả phất cờ đỏ để làm cho dân Y-sơ-ra-ên dừng lại, chớ không cứ điên cuồng nhào tới vùng nước xoáy. Nhưng khi một dân tộc cố quyết chống lại Đức Chúa Trời, thì cả đến sự thương xót của Ngài kết quả cũng chỉ làm cho họ cứng lòng hơn.

“Cho đến chừng nào?” (câu 11). Nghĩa là: Phương thức làm cho cứng lòng nầy sẽ tiếp tục cho đến chừng nào?Đáp lại: Cho đến khi xứ sở bị hoang vu và nhơn dân bị bắt đi (câu 11-12). “Một phần mười” (câu 13). Sẽ có một phần sót lại, nhưng rồi cũng bị hủy diệt, và chỉ còn lại cái gốc từ đó một Nhánh sẽ nẩy ra. Lời nầy rao truyền năm 735 T.C.. Một năm sau, người Y-sơ-ra-ên ở phía Bắc bị quân A-si-ri bắt đi làm phu tù. Và 14 năm sau, tất cả phần sót lại của nước phía Bắc sụp đổ (721 T.C.), chỉ có nước Giu-đa còn lại (gần “một phần mười, ” vì là một trong số 12 chi phái). Một trăm năm sau, nước Giu-đa cũng bị tiêu diệt.

Es 7:1-25

 Con trẻ “Em-ma-nu-ên”

Lời tiên tri nầy rao truyền trong cơ hội nước Y-sơ-ra-ên và xứ Sy-ri liên minh xâm lăng nước Giu-đa. Ban đầu, chúng tấn công nước Giu-đa riêng biệt (IISu 28:5-6), rồi sau chúng hiệp nhau mà tấn công (IIVua 16:5). Mục đích của chúng là đặt một vua khác thế cho A-cha (câu 6). A-cha bèn xin vua A-si-ri tiếp cứu (IIVua 16:7. Đáp lời xin ấy, vua A-si-ri xâm lăng nước Y-sơ-ra-ên và xứ Si-ry, bắt dân chúng đi làm phu tù (IIVua 15:29 16:9). Đó là cuộc lưu đày “Ga-li-lê” (734 T.C.).

Lúc quân Sy-ri và Y-sơ-ra-ên mới tấn công thành Giê-ru-sa-lem, thì Ê-sai dám quả quyết với A-cha rằng cuộc tấn công ấy sẽ thất bại, nước Y-sơ-ra-ên và xứ Sy-ri sẽ bị tiêu diệt, còn nước Giu-đa sẽ được cứu thoát. Người ta cho rằng “65 năm” (câu 8) gồm khoảng thì giờ từ cuộc lưu đày người Y-sơ-ra-ên lần thứ nhứt (734 T.C.) cho tới khi Ê-sạt-Ha-đôn định cư những người ngoại bang vào khoảng năm 670 T.C.. (IIVua 17:24 Exo 4:2).

“Nữ đồng trinh” và con trai nàng, là “Em-ma-nu-ên” (câu 10-16). Sự trạng nầy được gọi là “một điềm, ” cốt để làm cho A-cha đang hoài nghi sẽ tin quyết ở sự giải cứu mau lẹ. Có thể có nghĩa rằng hai nước xâm lăng kia bị tiêu diệt vào lúc một thiếu nữ khi ấy còn đồng trinh, sẽ lấy chồng, sanh một con trai, và nuôi dạy nó cho tới khi phân biệt được điều lành, điều dữ. Nhưng sự trạng ấy là “một điềm” ở chỗ nào? “Điềm” là một phép lạ thực hiện cốt để chứng minh điều gì. “Nữ đồng trinh” không được chỉ đích danh, nhưng chắc chỉ về một điều gì rất phi thường sẽ xảy ra ngay lập tức trong gia tộc Đa-vít (tức là chính gia tộc A-cha). Điều gì đó đã không được giải thích thêm. Đây là một trường hợp hòa trộn các bức tranh ở chơn trời gần và chơn trời xa, rất thông thường trong các sách tiên tri. Tánh cách đế vương của con trẻ được tỏ ra ở đoạn Es 8:8, và thừa tiếp văn tỏ ra con trẻ ấy chính là Con Trẻ Lạ lùng ở đoạn 9:6-7, vả Con Trẻ Lạ lùng đó không thể là người nào khác trừ ra Đấng Mê-si hầu đến. Sách Mat 1:23 đã trưng dẫn lời nầy theo ý nghĩa ấy. Vậy, đang khi Ê-sai nói với A-cha về điềm trong chính gia tộc ông, tức là gia tộc Đa-vít, thì Đức Chúa Trời chiếu trong trí óc ông hình ảnh của điềm vĩ đại hơn bội phần sẽ hiển hiện trong gia tộc Đa-vít: Ấy là Con Trai Đa-vít, oai hùng hơn ông, sẽ do nữ đồng trinh sanh ra.

Nước Giu-đa sẽ bị quân A-si-ri làm cho hoang vu (câu 17-25). Đây chính là quân A-si-ri đang giúp đỡ nước Giu-đa chống lại nước Y-sơ-ra-ên và xứ Sy-ri. Việc nầy đã xảy ra lúc sanh tiền của Ê-sai, chỉ có thành Giê-ru-sa-lem còn lại.

Es 8:1-23

 “Ma-he-Sa-la-Hát-Bát”

Có ba con trẻ được ghi tên, liên quan đến cuộc xâm lăng của quân Y-sơ-ra-ên và quân Sy-ri: Một người thuộc về gia tộc Đa-vít, là “Em-ma-nu-ên” (Es 7:13-14), hai người thuộc về gia đình Ê-sai, là “Sê-a-gia-súp” (7:3) và “Ma-he-Sa-la-Hát-Bát” (8:1-4).

“Sê-a-gia-súp” nghĩa là:”Một phần còn sót sẽ trở về. ” Một trăm năm trước khi xảy ra, Ê-sai đã coi việc dân Giu-đa bị bắt qua Ba-by-lôn làm phu tù như thực hiện rồi; nhưng ông được sự hiện thấy về một phần còn sót lại sẽ được cứu, bèn đặt tên con trai mình theo ý đó. Phần sót lại ấy và tương lai vinh hiển của họ chính là đề tài của sách Ê-sai.

“Ma-he-Sa-la-Hát-Bát nghĩa là:Chiến lợi phẩm đến mau, mồi tới vội vàng, ” tức là xứ Sy-ri và nước Y-sơ-ra-ên sẽ bị cướp bốc gấp. Như vậy, Ê-sai đặt tên con để tỏ ý sẽ có sự giải cứu mau lẹ, thì đó là cách ông đã nhấn mạnh vào những điều mình đã dự ngôn ở Es 7:4, 7, 16. Việc nầy xảy ra mau chóng, đúng như Ê-sai đã nói. Đạo quân A- sy-ri toàn thắng tràn vào nước Giu-đa (theo như đã dự ngôn — câu 8), và chỉ bị chận lại nhờ sự can thiệp trực tiếp của Đức Chúa Trời (37:36).

Như vậy, tên các con trai của Ê-sai thể hiện ý tưởng trong sự giảng dạy hằng ngày của ông: Sự giải cứu hiện tại, cảnh lưu đày hầu đến, và sự vinh hiển tương lai.

Sự sầu thảm và bóng tối tăm của cảnh phu tù (câu 9-22). Chúa truyền cho Ê-sai hãy chép lời tiên tri của mình, và giữ lại để tham chiếu trong ngày nó được ứng nghiệm (câu 16).

Es 9:1-20

 Con Trẻ Lạ lùng

Sự hiện thấy tuyệt vời về Đấng Mê-si nằm trong khung cảnh suy vong của nước Y- sơ-ra-ên mà Ê-sai vừa mới dự ngôn ở đoạn 7 và đoạn 8. Sa-bu-lôn và Nép-ta-li (câu 1), là khu vực Ga-li-lê, sẽ sụp đổ đầu tiên trước mặt quân A-si-ri (IIVua 15:29). Nhưng một ngày kia, chính khu vực ấy sẽ được cái vinh dự cao tột, là hiến cho thế giới Đấng cứu chuộc loài người và Vua muôn đời. Ở Es 2:2-4, Ê-sai đã thấy trong tương lai, Si-ôn sẽ cầm quyền cai trị cả thế giới; ở 4:2-6, ông thấy chính vua (Gi 12:41); tới Es 7:14, ông dự ngôn về Ngài do nữ đồng trinh sanh ra. Tại đây (9:6-7), thần tánh và ngôi đời đời của Ngài được mô tả bằng những lời vừa ôn hòa, vừa oai nghiêm (xem thêm ở dưới đoạn 11 và 12).

Sa-ma-ri cố quyết chẳng ăn năn (9:8-10:4). Theo thói quen thường đột ngột chuyển từ lúc đương thời mình qua tương lai và ngược lại, Ê-sai thình lình xây mắt qua Sa-ma-ri. Phần lớn dân Y-sơ-ra-ên đã bị bắt đi làm phu tù năm 734 T.C. ; nhưng Sa-ma-ri cầm cự được cho tới năm 721 T.C.. Những dòng chữ nầy dường như liên quan đến khoảng 13 năm ở giữa hai biến cố trên đây; trong thời gian nầy, đám dân còn sót không tự tỉnh trước quốc nạn khủng khiếp, nhưng cứ bất chấp cả Đức Chúa Trời lẫn quân A-si-ri. Đây là một bài thơ có 4 đoạn, mỗi đoạn chấm dứt bằng cùng một điệp khúc cảnh cáo dân Sa-ma-ri về số phận dành cho họ.

Es 10:5-34

 Quân A-si-ri tiến đến

Đoạn nầy chép sau khi Sa-ma-ri sụp đổ (câu 11), và tỏ ý bất chấp đạo quân A-si-ri đang khoe khoang mà tiến vào nước Giu-đa, đến tận cổng thành Giê-ru-sa-lem. Các thành ghi tên ở câu 28-32 ở ngay phía Bắc Giê-ru-sa-lem. Đức Chúa Trời đã dùng quân A-si-ri hành phạt nước Y-sơ-ra-ên, nhưng đây Ngài cảnh cáo họ chớ đánh giá sức mạnh của chúng quá mức (câu 15), và hứa sẽ đánh cho chúng thảm bại (câu 26), y như quân Ma-đi-an đã bị Ghê-đê-ôn đánh bại (Cac 7:19-25) và quân Ê-díp-tô đã bị đánh bại tại Biển Đỏ (Xu 14:1-31). Cả hai cuộc thắng đó là phép lạ vĩ đại. Một năm sau khi hủy diệt Sa-ma-ri, Sa-gôn đã quay về phía Nam, xâm lăng nước Giu-đa (720 T.C.), chiếm một số thành Phi-li-tin, và đánh bại đạo quân Ai-cập. Lại nữa, năm 713 T.C. , đạo quân của Sa-gôn (người ta cho là do San-chê-ríp, con trai ông, thống lãnh)xâm lăng nước Giu-đa và các xứ Phi-li-tin, Ê-đôm, Mô-áp. Rồi tới năm 701, San-chê-ríp cầm đầu một đạo quân đông đảo, xông vào nước Giu-đa. Lúc nầy Đức Chúa Trời làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài, là đánh cho quân A-si-ri một đòn thình lình và mạnh mẽ đến nỗi chúng không hề kéo đến đánh Giê-ru-sa-lem nữa (Es 37:36).

Es 11:1-12:6

 “Chồi” và Nước của Ngài

Đây là giải rộng các đoạn Es 2:2-4 Es 4:2-6, và Es 9:1-7. Tại đây, Ê-sai lại thình lình đưa mắt từ sự chiến thắng đạo quân A-si-ri qua tương lai và hiến chúng ta một bức tranh vinh hiển hơn hết về thế giới hầu đến mà ta được thấy trong cả Kinh Thánh. Đây là một thế giới chẳng có chiến tranh, dưới quyền trị vì của một Vua công bình, nhơn ái, thuộc dòng Đa-vít; thế giới nầy gồm những người được cứu chuộc giữa muôn dân cùng phần dân Do-thái còn sót lại và được khôi phục trong ngày toàn thắng; khi ấy, hết thảy phần tử đối nghịch, gọi bóng là những quân thù lân cận của Giu-đa (câu 14), sẽ bị hạ xuống. Chúng ta không biết tình trạng nầy sẽ xảy ra trong thế giới bằng thịt và huyết của ta đây, hay là trong một kỷ nguyên ở bên kia bức màn. Nhưng ta biết chắc sẽ có, cũng như buổi sáng tiếp theo ban đêm vậy. Đề mục nầy được tiếp tục được giải luận ở Es 25:6. Đoạn 12 là một bài ca ngợi ngày chiến thắng hân hỉ mà Đức Chúa Trời đã đặt ở môi miệng Ê-sai; đây là một bản thánh ca của Thiên đàng mà hết thảy chúng ta sẽ hát khi tới đó.

Es 13:1-23:18

 Sự Phán Xét Các Nước:Ba-by-lôn, Phi-li-tin, Mô-áp, Đa-mách, Ê-thi-ô-bi, Ai-cập, Đu-ma, A-ra-bi, Ty-rơ.

 

Es 13:1-4 14:1-27

 Ba-by-lôn suy vong

Đương thời Ê-sai, A-si-ri là bá chủ thế giới. Ba-by-lôn vốn là một chư hầu của A-si-ri. Ba-by-lôn lên địa vị cường quốc bá chủ thế giới năm 606 T.C. , và suy vong năm 536 T.C.. Như vậy Ê-sai báo cáo sự suy vong của Ba-by-lôn 100 năm trước khi nó dấy lên. Vậy, các nhà phê bình kim thời phát biểu ý kiến rằng đó không thể là dự ngôn của Ê-sai, mà là của một tiên tri nào sau ông. Tuy nhiên 13:1 đặc biệt quả quyết rằng đây là lời của Ê-sai.

Sự huy hoàng mà Ba-by-lôn vươn tới 100 năm sau thời Ê-sai, để trở thành thủ đô của thế giới trước kỷ nguyên Đấng Christ, “sự vinh hiển các nước” (Es 13:19), đã được tỏ rõ trong sự hiện thấy ở đây, dường như Ê-sai đã có mặt ở đó. Ấy là Thần Đức Chúa Trời đã soi sáng trí óc Ê-sai một cách lạ lùng. Nhưng gánh nặng của lời tiên tri nầy là sự suy vong của Ba-by-lôn, đã được mô tả tỉ mỉ đến nỗi chúng ta kinh sợ và ngạc nhiên vô cùng. Người Mê-đi là một dân tộc hầu như chẳng ai biết đến đương thời Ê-sai, nhưng đã được chỉ danh là kẻ hủy diệt Ba-by-lôn (Es 13:17-19).

Đại ý của lời tiên tri:Ba-by-lôn sẽ thay thế A-si-ri (Es 14:25); Mê-đi sẽ thay thế Ba-by-lôn (Es 13:17), và Ba-by-lôn sẽ tiêu diệt đời đời (Es 13:19-22 Es 14:22-23). Hãy xem ở dưới IIVua 25:1-30 để thấy lời tiên tri lạ lùng nầy đã được ứng nghiệm.

Điểm hào hứng đặc biệt cho dân Do-thái, đồng bào của Ê-sai, là sư suy vong của Ba-by-lôn có nghĩa là đoàn phu tù sẽ được phóng thích (Es 14:1-4). Trong vòng một năm sau khi Ba-by-lôn suy vong, Si-ru, vua Mê-đi-Ba-tư, đã ra chiếu chỉ cho phép dân Do-thái trở về cố quốc (Exo 1:1).

Một trăm năm sau Ê-sai, khi Ba-by-lôn đã lên địa vị cường quốc, đã phá tan đế quốc A-si-ri và đang hủy phá thành Giê-ru-sa-lem, thì Giê-rê-mi tiếp theo Ê-sai mà kêu đòi báo thù (xem Gie 50:1-51:64).

Ba-by-lôn, đế quốc đã hà hiếp dân Do-thái, là phần đối chiếu và kiểu mẫu của một cường quốc đời Tân Ước bắt Hội Thánh làm tôi mọi (Kh 17:1-19:21).

Es 14:28-32

 Phi-li-tin

Chữ “Pa-lét-tin” (xứ Do-thái) do chữ “Phi-li-tin” mà ra. “Rắn” (câu 29) có lẽ chỉ về Tiếc-la-phi-lê-se, người đã chiếm một số thành Phi-li-tin và đã chết đúng một năm trước A-háp (câu 28). Còn những thuồng luồng và rắn lửa bay có lẽ chỉ về Sa-gôn và San-chê-ríp, là kẻ đã làm cho xứ Phi-li-tin hoàn toàn hoang vu. “Sứ giả” (câu 32) có lẽ là các sứ thần mà Phi-li-tin đến yêu cầu Giê-ru-sa-lem giúp chúng chống lại quân A-si-ri. Ta còn thấy nhiều lời khác tố cáo dân Phi-li-tin ở Gie 47:1-7 Am 1:6-8 So 2:4-7 và Xa 9:5-7.

Es 15:1-16:14

 Mô-áp

Mô-áp là một cao nguyên không bằng phẳng, gồm những đồng cỏ xanh tươi, ở phía Đông Biển Chết. Người Mô-áp là dòng dõi của Lót (Sa 15:37), và như vậy, họ có bà con với dân Do-thái. Đây là một trong những lời tiên tri đầu tiên của Ê-sai, và bây giờ được lặp lại, nói thêm thời hạn 3 năm (Es 16:14). Các thành nêu tên đã bị cướp phá bởi Tiếc-la-phi-lê-se năm 734 T.C. , bởi Sa-gôn năm 713 T.C. , và bởi San-chê-ríp năm 701 T.C.. Không nói rõ lời tiên tri của Ê-sai chỉ về cuộc cướp phá nào. Tuy nhiên, Ê-sai khuyên họ rằng họ sẽ được lợi nếu lại chịu đầu phục nhà Đa-vít (16:1-5)khi nhắc tới nhà Đa-vít, thì có hình ảnh Đấng Mê-si hầu đến trong sự hiện thấy của ông (câu 5). Bởi Ru-tơ, người Mô-áp đã dự phần sáng lập nhà Đa-vít. Về các lời tiên tri khác liên quan đến xứ Mô-áp, xin xem Gie 48:1-47 Am 2:1-3 So 2:8-11.

Es 47:1-15

 Đa-mách

Tiếp tục ý tưởng ở đoạn 7, có lẽ đã viết cùng một lúc, đang khi quân Sy-ri và quân Y-sơ-ra-ên tấn công nước Giu-đa (năm 734 T.C.). Sau ít lâu, lời tiên tri đã được ứng nghiệm, khi Tiếc-la-phi-lê-se và Sa-gôn xâm lăng. Lời tiên tri nầy cũng nghịch cùng người Y-sơ-ra-ên (câu 3-4), vì chúng liên minh với Đa-mách. “Ngó về Đấng tạo mình” (câu 7): Việc dân sót lại của nước phía Bắc quay về với Đức Giê-hô-va đã được tỏ ra ở IISu 34:9. Cuối lời tiên tri nầy có sự hiện thấy về quân A-si-ri bị đánh bại sau khi thắng Sy-ri và Y-sơ-ra-ên (câu 12-14); nhứt là câu 14 dường như chỉ rõ về đoạn Es 37:36.

Es 18:1-7

 Ê-thi-ô-bi

Ê-thi-ô-bi ở phía Nam Ai-cập, vua hùng cường của Ê-thi-ô-bi đương thời ấy cầm quyền cả Ai-cập. Đây không phải một lời tiên tri đoán phạt; trái lại, nó dường như nói đến sự hăng hái và động viên giữa vòng người Ê-thi-ô-bi khi đạo quân của San-chê-ríp tiến vào nước Giu-đa, vì một khi nước Giu-đa suy vong, thì con đường sẽ mở rộng cho quân A-si-ri kéo vào Ai-cập (câu 1-3); cũng nói đến thành Giê-ru-sa-lem được giải cứu lạ lùng (câu 4-6 37:36), và người Ê-thi-ô-bi gởi dâng lễ vật tạ ơn vì đạo quân A-si-ri đã bị hủy diệt (câu 7 IISu 32:23).

Es 19:1-25

 Ai-cập

Một thời kỳ hỗn loạn và nội chiến (câu 1-4). — Tình trạng nầy đã bắt đầu ở triều đại thứ 25, vào khoảng Ê-sai qua đời. “Chúa hung dữ” (câu 4). Sau khi Ê-sai qua đời ít lâu, thì Ê-sạt-ha-đôn khắc phục Ai-cập, chia ra làm nhiều chánh phủ nhỏ mà phận sự chánh yếu là “giết, cướp phá và bóc lột” thần dân.

Dự ngôn về sự suy sụp và phân chia Ai-cập (câu 5-17). — Mọi điều nầy đã xảy ra. Xem Gie 46:1-28 và Exe 29:1-21.

Ai-cập và A-si-ri dầm thấm đạo Do-thái (câu 18-25). Sau cuộc lưu đày, nhiều người Do-thái cứ ở thung lũng Ơ-phơ-rát, và cũng có một số lớn định cư tại Ai-cập. Alexandrie (Cong 6:9 18:24, v. v.. .), thành phố thứ hai của thế giới đương thời Đức Chúa Jêsus, là nơi người Do-thái ở gần hết. Tại đó, Cựu Ước đã được dịch từ tiếng Hê-bơ-rơ ra tiếng Hy-lạp, gọi là bản Septante. Tại Héliopolis, “thành hủy diệt” (câu 18), năm 149 T.C. , đã cất một Đền thờ theo kiểu Đền thờ ở Giê-ru-sa-lem, làm trung tâm thờ phượng của người Do-thái ngụ ở Ai-cập. Người ta cho rằng đó là “bàn thờ” ở câu 19. Đương thời Đấng Christ xuất hiện, quốc gia Hê-bơ-rơ gồm ba khu vực chính, có những “đường cái”nối liền (câu 23): Khu vực Pa-lét-tin, khu vực Ai-cập, và khu vực Mê-sô-bô-ta-mi, dường như thành ra ba quốc gia (câu 24). Ba miền nầy ở trong số tiếp nhận đạo Đấng Christ trước nhứt. Như vậy, đoạn nầy thuật đúng trước một giai đoạn lịch sử Y-sơ-ra-ên gồm 600 năm theo sau.

Es 20:1-66

Ai-cập và Ô-thi-ô-bi

Ê-sai rao báo rằng hai nước nầy sẽ thua trận và bị bắt làm phu tù, cốt để làm cho nước Giu-đa chán nản, đừng trông mong Ai-cập giúp mình chống đánh quân A-si-ri nữa. “Đi trần” (câu 2-3), có lẽ không phải là hoàn toàn lõa thể, nhưng là mặc áo của kẻ phu tù. Có lẽ ông không ăn bận như vậy luôn, nhưng từng hồi từng lúc, trải qua 3 năm. Việc nầy xảy ra năm 713 T.C. , và lời tiên tri được ứng nghiệm 12 năm sau. Năm 701 T.C. , biên niên sử của San-chê-ríp chép rằng: Ta giao chiến với các vua Ai-cập, lật đổ chúng, bắt sống những kẻ đánh xe ngựa và những con trai của chúng. ” Về sau, Ê-sạt-Ha-đôn lại làm cho Ai-cập hoang vu thêm (xem ở dưới Es 19:1-4). “Ta-tân”(câu 1) không phải là tên một người, mà là một chức vị tương đương với “tổng tư lịnh. ” “Sa-gôn” (câu 1): Ta chỉ biết có đây nói đến tên Sa-gôn, cho đến khi các nhà khảo cổ của thế kỷ trước phát giác rằng ông là một trong những vua A-si-ri hùng mạnh nhứt.

Es 21:1-17

 Ba-by-lôn, Ê-đôm, A-ra-bi

Ba-by-lôn (câu 1-10) có rất nhiều đê và kinh bao bọc chung quanh, giống như một thành ở giữa biển. Đây là lời linh động rao báo nó sẽ suy sụp. Ê-lam và Mê-đi được nhắc đến (câu 2), tỏ ra nó sẽ bị Si-ru chiếm lấy, năm 536 T.C. (xem thêm ở dưới các đoạn 13, 14).

Đu-ma (câu 11-12) là tên một địa hạt ở phía Nam Ê-đôm, và đây dùng để chỉ về Ê- đôm mà Sê-i-rơ là trung tâm. Câu hỏi nầy dường như có nghĩa là: Cuộc xâm lăng, tàn phá của quân A-si-ri có lan tới Ê-đôm chăng? Tiên tri dường như cố ý đáp lại cho khó hiểu. Xem thêm đoạn 34:5-17.

A-ra-bi (câu 13-17) là sa mạc ở giữa Ê-đôm, và Ba-by-lôn. Đê-đan, Thê-ma và Kê- đa là những bộ lạc Ả-rập hùng mạnh nhứt. Đây là lời dự ngôn rằng trong vòng một năm, họ sẽ bị một đòn nặng khủng khiếp. Sa-gôn xâm lăng xứ A-ra-bi năm 716 T.C..

Es 22:1-25

 Giê-ru-sa-lem

Giê-ru-sa-lem được gọi là “Trũng của sự hiện thấy” (câu 1) vì ngọn đồi, vị trí của nó, có nhiều trũng bao quanh, bên ngoài lại có những ngọn đồi cao hơn nữa, và đó là nơi Đức Chúa Trời tự khải thị. Đây, thành Giê-ru-sa-lem bị quở trách vì phóng túng, chẳng lo lắng gì, đang khi bị đạo quân A-si-ri vây hãm. Cuộc dự bị phòng thủ của họ (câu 9-11 IISu 32:3-5) gồm hết mọi sự, trừ ra không quay về với Đức Chúa Trời.

Giáng chức Sép-na (câu 15-25). — Là một thượng quan của nhà Đa-vít, có lẽ ông đã cầm đầu những hành vi phóng túng tại Giê-ru-sa-lem ở trước hiểm họa nặng nề. Trong sự nhắc Ê-li-a-kim lên ngôi vua, có hơi ngụ ý nói đến Đấng Mê-si (câu 22-25).

Es 23:1-18

 Ty-rơ

Trải qua bao nhiêu thế kỷ, Ty-rơ là hải cảng trung tâm của nền thương mại thế giới. Nó đã tạo lập thuộc địa ở khắp các bờ biển Địa-trung-hải. Lúa mì của Ai-cập là một trong những món hàng chánh yếu do nó buôn bán. Nó chịu đau đớn kinh khiếp bởi tay quân A-si-ri vừa mới mở rộng quyền bá chủ trên Ba-by-lôn (câu 13). Đây dự ngôn rằng nó bị lật đổ và suy sụp trong 70 năm, rồi được khôi phục (câu 14-18). Người ta cho rằng đây nói đến thời kỳ nó bị Nê-bu-cát-nết-sa khắc phục (xem thêm ở dưới Ê-xê-chi-ên, đoạn 26 đến 28).

Es 24:1-27:13

 Đến Cuối C

Lên đầu trang