Bài 1 – ĐỨC CHÚA TRỜI
Câu gốc: “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi”(Mác 12:30).
1. Hỏi: Đức Chúa Trời Là Ai?
Đáp: Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo trời đất, vạn vật, loài người và bảo tồn tất cả. Chúng ta tôn xưng Ngài là Đấng Tạo Hóa, là Thượng Đế, là Ông Trời (Nê-hê-mi 9:6; Hê-bơ-rơ 3:4).
2. Hỏi: Đức Chúa Trời Từ Đâu Mà Có?
Đáp: Ngài là Đấng Tự Hữu và Hằng Hữu, vốn có từ trước vô cùng và còn cho đến đời sau vô tận. Ngài là Đầu Tiên và Cuối Cùng, là Đấng Đời Đời (Khải Huyền 1:8).
3. Hỏi: Người Ta Có Thể Thấy Đức Chúa Trời Không?
Đáp: Mắt của thân thể chỉ có thể thấy những sự vật hữu hình. Nhưng chúng ta còn có mắt tâm linh để có thể thấy những điều vô hình. Đức Chúa Trời thực hữu trong cõi tâm linh, nên con người chỉ có thể nhận biết sự hiện diện vinh quang của Ngài bằng mắt tâm linh (2Cô-rinh-tô 4:4,6).
4. Hỏi: Không Thấy Đức Chúa Trời Mà Tin Thì Có Hợp Lý Không?
Đáp: Rất hợp lý, vì Ngài là Đấng Thần Linh, nên chúng ta không thể thấy được bằng mắt trần.
Nhưng Ngài đã tự bày tỏ chính mình Ngài qua ít nhất là 4 nguồn sau đây:
(1) Qua Lương tri
Lòng tin nơi Đức Chúa Trời là một nhận thức bẩm sinh, có sẵn trong bản chất con người. Ngay cả những người không tin, trong lúc lâm nguy, tuyệt vọng vẫn thường kêu cứu với Ngài (kêu Trời) (Thi Thiên 53:1; 139:14).
(2) Qua Tạo vật (Sáng Thế Ký 1:1; Thi Thiên 19:1; Rô-ma 1:20)
(3) Qua Chúa Cứu Thế Giê-xu (Cô-lô-se 1:15)
Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời giáng thế làm người để giãi bày về Đức Chúa Trời cho loài người biết, vì vậy qua Ngài chúng ta biết và tin Đức Chúa Trời.
(4) Qua Kinh Thánh:
Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời ban cho loài người. Kinh Thánh bày tỏ Đức Chúa Trời và chương trình cứu chuộc của Ngài. Kinh Thánh cho chúng ta biết Đức Chúa Trời là Đấng như thế nào, Ngài có tương quan gì với loài người, mối liên hệ của chúng ta với Ngài ra sao. Ngay câu đầu tiên của Kinh Thánh đã khẳng định về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời: “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” (Sáng Thế Ký 1:1).
5. Hỏi: Đức Chúa Trời Có Mấy Ngôi?
Đáp: Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Trời có Ba Ngôi: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, Đức Thánh Linh. Không phải có ba Đức Chúa Trời, nhưng Ba Ngôi bình đẳng và hiệp nhất hoàn toàn.
Những bằng chứng trong Kinh Thánh cho biết về Ba Ngôi Đức Chúa Trời:
Từ “chúng ta” trong Sáng Thế Ký 1:26.
Có Ba Ngôi hiện diện trong lễ Báp-tem của Chúa Giê-xu (Ma-thi-ơ 3:16-17; 28:19).
Ba Ngôi trong lời chúc phước (2Cô-rinh-tô 13:13).
6. Hỏi: Đức Chúa Trời Là Đấng Như Thế Nào?
Đáp: Qua những điều chúng ta vừa trình bày ở trên thì Đức Chúa Trời là Đấng vô cùng kỳ diệu, vượt hẳn trí tuệ của loài người.
Bản chất của Đức Chúa Trời:
Đấng Thần Linh: Đức Chúa Trời là Đấng vô hình, không có thể chất, không bị vật chất hạn chế (Giăng 4:24).
Đấng Tự Hữu Hằng Hữu: Đức Chúa Trời là Đấng tự nhiên hiện hữu và hiện hữu đời đời (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14).
Đấng Bất Biến: Đức Chúa Trời là Đấng không bao giờ thay đổi (Ma-la-chi 3:6).
Thuộc tính của Đức Chúa Trời: (Phẩm tính thiên thượng)
Toàn năng: Đức Chúa Trời làm được mọi sự hợp với bản tính và thánh ý của Ngài (Lu-ca 1:37; Ma-thi-ơ 19:26).
Toàn tri: Đức Chúa Trời biết tất cả mọi sự, không việc gì có thể giấu được Ngài. Ngài biết cả quá khứ, hiện tại và tương lai, vì Ngài là Đấng không bị giới hạn bởi không gian và thời
gian, Ngài là Đấng bên ngoài vũ trụ này (1Giăng 3:20).
Toàn Tại: Đức Chúa Trời cùng một lúc ở khắp mọi nơi (Giê-rê-mi 23:24).
Mỹ đức của Đức Chúa Trời: (Phẩm chất đạo đức)
Thánh khiết: Đức Chúa Trời là Đấng thánh sạch hoàn toàn, trong Ngài không có chút gì xấu xa, ô uế, tội lỗi (1Phi-e-rơ 1:16)
Công chính: Đức Chúa Trời là Đấng luôn luôn đúng, Ngài ngay thẳng, công bằng tuyệt đối, và không thiên vị ai. Ngài không thể coi kẻ có tội là vô tội (Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:4).
Yêu thương: Đây là bản tính tự nhiên của Đức Chúa Trời, Ngài không thể không yêu thương, vì Ngài là Đấng yêu thương. Đức Chúa Trời là nguồn của tình yêu (1Giăng 4:8).
Thành tín: Đức Chúa Trời là Đấng không bao giờ thất hứa. Khi Ngài đã hứa thì Ngài sẽ làm trọn theo thời điểm Ngài thấy tốt nhất (1Tê-sa-lô-ni-ca 5:24).
7. Hỏi: Nhờ Đâu Biết Được Đức Chúa Trời Như Vậy?
Đáp: Chúng ta có thể biết được những bản chất, thuộc tính và mỹ đức của Đức Chúa Trời nhờ 4 nguồn: lương tâm, vũ trụ, Kinh Thánh và Chúa Giê-xu.
Lương tâm: Là bản năng thiên phú, không cần ai dạy, con người tự nhận biết Đức Chúa Trời (Rô-ma 2:15).
Vũ trụ: Cả vũ trụ bao la, tuyệt diệu chứng minh, phải do một Đấng Vĩnh Hằng, Toàn tri, Toàn năng, Toàn tại dựng nên. Đấng đó chính là Đức Chúa Trời (Thi Thiên 19:1).
Kinh Thánh: Qua Kinh Thánh, Đức Chúa Trời đã bày tỏ về chính mình Ngài, và chân lý của Ngài cho chúng ta (2Ti-mô-thê 3:16).
Chúa Giê-xu: Qua Chúa Giê-xu, là Đức Chúa Trời làm người, chúng ta biết Đức Chúa Trời (Cô-lô-se 1:15).
8. Hỏi: Có Phải Chỉ Những Người Ít Học Mới Tin Vào Đức Chúa Trời Không?
Đáp: Trên thực tế, có rất nhiều nhà bác học, khoa học nổi tiếng đã đặt lòng tin nơi Đức Chúa Trời.
9. Hỏi: Chọn Thái Độ Chối Bỏ Đức Chúa Trời Có Khôn Ngoan Không?
Đáp: Thật ra, con người chỉ có thể chối bỏ Đức Chúa Trời trong tâm trí, nhưng trong cuộc sống con người không thể sống mà không có Ngài. Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, là Nguồn sống, nên tách rời khỏi Ngài là hành động thiếu khôn ngoan (Thi Thiên 14:1).
10. Hỏi: Chúng Ta Đáng Phải Có Thái Độ Nào Đối Với Đức Chúa Trời?
Đáp: Khi đã biết Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, cao cả quyền năng, khôn ngoan, vĩ đại như trên, Ngài không giống một thần nào mà lâu nay chúng ta từng tôn thờ, vậy chúng ta phải có thái độ hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời, chỉ tôn thờ và phục vụ một mình Ngài mà thôi (Mác 12:30).
BÀI 2 – KINH THÁNH
Câu gốc: “Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công chính.”
(2Ti-mô-thê 3:16)
1. Hỏi: Kinh Thánh Là Gì?
Đáp: Kinh Thánh là sự mặc khải bằng văn tự của Đức Chúa Trời cho con người. Kinh Thánh là bộ sách gồm 66 quyển, chia ra làm hai phần: Cựu Ước và Tân Ước, được khoảng 40 người viết ra bởi sự linh cảm của Đức Chúa Trời, nên Kinh Thánh được gọi là Lời Đức Chúa Trời. Kinh Thánh được viết trong khoảng thời gian từ 1500 TC đến 100 SC.
2. Hỏi: Đức Chúa Trời Đã Sử Dụng Ai Để Viết Kinh Thánh? Họ Viết Như Thế Nào?
Đáp: Đức Chúa Trời đã dùng các tiên tri, các sứ đồ và nhiều người trong nhiều thời đại để viết ra Kinh Thánh, theo ý Ngài (2Phi-e-rơ 1:20-21).
3. Hỏi: Nội Dung Của Cựu Ước Là Gì?
Đáp: Cựu Ước có 39 quyển, chép về sự dựng nên trời đất, muôn vật, sự sa ngã của loài người, và việc lập giao ước cũ giữa Đức Chúa Trời và loài người qua dân Do Thái trước khi Đức Chúa Jêsus giáng thế. Cựu Ước gồm có các sách lịch sử, sách thi ca và sách tiên tri.
4. Hỏi: Nội Dung Của Tân Ước Là Gì?
Đáp: Tân Ước có 27 quyển, ghi lại cuộc đời và chức vụ của Chúa Giê-xu, Chúa Jêsus thiết lập giao ước mới với loài người qua sự hy sinh cứu chuộc của Đức Chúa Jêsus, lịch sử Hội Thánh đầu tiên, công cuộc truyền giảng Tin Lành của Hội Thánh ấy, và các giáo lý căn bản. Tân ước gồm có các sách Phúc âm, lịch sử, thơ tín và tiên tri.
5. Hỏi: Kinh Thánh Đem Lại Những Lợi Ích Gì Cho Người Đọc?
Đáp:
Kinh Thánh mạc khải cho con người biết rõ về nguồn gốc của nhân loại và vạn vật. Nguồn gốc của tội lỗi (Sáng Thế Ký 1:1; Giăng 1:1-3).
Kinh Thánh chỉ cho con người biết Đức Chúa Trời yêu thương, giải cứu con người ra khỏi tội lỗi, qua Chúa Cứu Thế Giê-xu, để qua đó con người ăn năn tội, nhận được tha thứ của Đức Chúa Trời, nhận được sự sống đời đời và trở nên con cái Đức Chúa Trời. (Giăng 1:18; 3:16; 14:6).
Kinh Thánh dạy cho con người nếp sống xứng hợp với địa vị làm con cái Đức Chúa Trời và biết cách thờ phượng Đức Chúa Trời đúng theo ý muốn của Ngài (Phi-líp 2:15; 2 Ti-mô-thê 3:15-17).
6. Hỏi: Làm Sao Để Nhận Những Phước Hạnh Từ Kinh Thánh?
Đáp: Quyển sách luật pháp nầy chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong; vì như vậy ngươi mới được may mắn trong con đường mình, và mới được phước. (Giô-suê 1:8)
Đọc Lời Chúa (Khải Huyền 1:3)
Nghe Lời Chúa (Lu-ca 10:38-42)
Học Lời Chúa (Thi Thiên 119:11; Công Vụ 17:11)
Suy gẫm Lời Chúa (Thi Thiên 1:2; Gia-cơ 1:25)
Làm theo Lời Chúa (Giô-suê 1:8; Gia-cơ 1:22-25)
7. Hỏi: 10 Điều Răn Là Gì?
Đáp: Trong sách Xuất Ê-díp-tô Ký 20:1-17 là nội dung của 10 Điều Răn
1 Bấy giờ, Đức Chúa Trời phán mọi lời nầy, rằng: 2 Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là nhà nô lệ.
3 Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác.
4 Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất. 5 Ngươi chớ quì lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đức Chúa Trời kỵ tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhân tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời, 6 và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta.
7 Ngươi chớ lấy danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi, vì Đức Giê-hô-va chẳng cầm bằng vô tội kẻ nào lấy danh Ngài mà làm chơi.
8 Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh.(t) 9 Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày; 10 nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái, tôi trai tớ gái, súc vật của ngươi, hoặc khách ngoại bang ở trong nhà ngươi, đều chớ làm công việc chi hết; 11 vì trong sáu ngày Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời,đất, biển, và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ: vậy nên Đức Giê-hô-va đã ban phước cho ngày nghỉ và làm nên ngày thánh.
12 Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho.
13 Ngươi chớ giết người.
14 Ngươi chớ phạm tội tà dâm.
15 Ngươi chớ trộm cướp.
16 Ngươi chớ nói chứng dối cho kẻ lân cận mình.
17 Ngươi chớ tham nhà kẻ lân cận ngươi, cũng đừng tham vợ người, hoặc tôi trai tớ gái, bò, lừa, hay là vật chi thuộc về kẻ lân cận ngươi.
10 Điều Răn được Chúa Jêsus tóm gọn lại thành 2 điều quan trọng :
29Chúa Jêsus đáp rằng: Nầy là điều đầu nhứt: Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe, Chúa, Đức Chúa Trời chúng ta, là Chúa có một. 30 Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi.(l) 31 Nầy là điều thứ hai: Ngươi phải yêu kẻ lân cận như mình. (Mác 12:29-31)
8. Hỏi: ĐIỀU RĂN MỚI?
Đáp: Trong Tân Ước Chúa Jêsus truyền dạy điều răn mới như sau:
34 Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy. 35 Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta. (Giăng 13:34-35)
BÀI 3 – SỰ SÁNG TẠO VÀ CON NGƯỜI
Câu gốc: “Bởi đức tin, chúng ta biết rằng thế gian đã làm nên bởi lời của Đức Chúa Trời, đến nỗi những vật bày ra đó đều chẳng phải từ vật thấy được mà đến”(Hê-bơ-rơ 11:3).
1. Hỏi: Đức Chúa Trời Dựng Nên Trời Đất Muôn Vật Bằng Cách Nào?
Đáp: Đức Chúa Trời đã dùng Lời của Ngài mà dựng nên trời đất muôn vật (Sáng Thế Ký 1:1-25; Giăng 1:3).
2. Hỏi: Muôn Vật Bao Gồm Những Gì?
Đáp: Nê-hê-mi 9:6; Cô-lô-se 1:16; 2Phi-e-rơ 3:13; Khải Huyền 21:1
Đức Chúa Trời tạo dựng nên thiên đàng, các thiên sứ. Từ các thiên sứ sa ngã đã xuất hiện Sa-tan và ma quỷ. (Chúng ta sẽ học về thiên sứ, Sa-tan và ma quỷ trong bài học 4).
Đức Chúa Trời tạo dựng nên thế giới vật chất, bao gồm cả vũ trụ bao la, các tinh tú, muôn vật trên đất và con người.
Đức Chúa Trời tạo dựng âm phủ, địa ngục.
Trong tương lai Đức Chúa Trời tạo dựng nên trời mới đất mới.
3. Hỏi: Con Người Là Gì?
Đáp: Con người là tạo vật có thân xác và linh hồn, là tuyệt đỉnh và vinh quang trong công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời (Sáng Thế Ký 1:27; Sáng Thế Ký 2:7).
4. Hỏi: Tổ Tiên Loài Người Là Ai?
Đáp: Tổ tiên loài người phải là con người, không phải do tiến hóa từ loài vượn mà thành. Kinh Thánh cho biết đó là ông A-đam và bà Ê-va. (Sáng Thế Ký 2:19; 3:20; 1Ti-mô-thê 2:13)
5. Hỏi: Đức Chúa Trời Tạo Dựng Con Người Giống Như Hình Ảnh Của Ngài Có Ý Nghĩa Gì? (xem Sáng Thế Ký 1:26)
Đáp: Con người không giống Đức Chúa Trời về hình thể vật lý, vì Ngài là Đấng Thần Linh vô hình. Nhưng giống Ngài về bản chất thiêng liêng như:
Có nhân cách: trí khôn, tình cảm, ý chí. Có khả năng suy tưởng và tương giao với Đức Chúa Trời và người khác.
Có lòng đạo đức: khả năng để phân biệt điều lành, điều dữ.
Có sự bất diệt: có linh hồn bất diệt, vì đó là sự sống của Đức Chúa Trời ban cho. Khi linh hồn ra khỏi thân xác thì con người chỉ còn là một xác chết, không còn giá trị gì.
6. Hỏi: Đức Chúa Trời Dựng Nên Con Người Giống Như Ngài Trong Sự Thánh Khiết Và Công Nghĩa, Thì Tại Sao Họ Đã Phạm Tội?
Đáp: Đức Chúa Trời ban cho con người sự tự do, con người có quyền tự do chọn lựa vâng lời hay không vâng lời Đức Chúa Trời. Qua sự thử nghiệm của cây biết điều thiện và điều ác, A-đam và Ê-va đã chọn làm theo ý mình muốn thay vì vâng lời Đức Chúa Trời (Sáng Thế Ký 2:15-17; Sáng Thế Ký 3:1-7).
7. Hỏi: Hậu Quả Của Tội Không Vâng Lời Của A-Đam Và Ê-Va Là Gì?
Đáp: Con người bị mất sự tương giao với Đức Chúa Trời. Con người bị tội lỗi cai trị. Con người bị chết mất đời đời cả phần xác và phần hồn. (Sáng Thế Ký 3:23-24; Rô-ma 5:12; Rô-ma 6:23a).
8. Hỏi: Điều Gì Xảy Ra Cho Con Người Sau Khi Chết?
Đáp: Con người có thân xác và linh hồn. Khi chết thì hồn lìa khỏi xác, thân xác sẽ trở về bụi đất nhưng linh hồn sẽ về nơi âm phủ chờ đợi ngày bị phán xét. Nhưng người nào tin vào sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời sẽ được cứu khỏi sự hình phạt đời đời (chúng ta sẽ học trong bài học 5 – Tội Lỗi và Sự Cứu Chuộc (Truyền đạo 12:6-7,14; Khải Huyền 20:11-15).
9. Hỏi: Linh Hồn Người Chết Có Trở Về Từ Âm Phủ Không?
Đáp: Khi qua đời, linh hồn con người sẽ được ở một nơi gọi là âm phủ, nếu là người tin nhận Chúa Jêsus thì được ở một nơi gọi là Pa-ra-đi (thiên đàng). Không linh hồn nào có thể trở về từ cõi chết được cả (Lu-ca 16:19-31). Việc tin vào linh hồn người chết trở về, hay người chết hóa thành ma là điều dối trá đến từ ma quỷ, khiến cho con người sợ hãi và phải thờ cúng nó.
10. Hỏi: Con Người Cần Phải Làm Gì Trước Khi Chết?
Đáp: Khi con người còn sống, còn có thể quyết định hãy chọn lựa tôn thờ Đức Chúa Trời và chỉ thờ phượng một mình Ngài mà thôi. Con người cần phải ăn năn tội lỗi, tin nhận Chúa Jêsus Christ đã chết thay tội mình để được tha tội. Vì sau khi đã qua đời con người không còn có thể thay đổi số phận đời đời của mình được nữa. (Rô-ma 6:23; Giăng 3:16; 2Phi-e-rơ 3:9).
BÀI 4 – THIÊN SỨ, SA-TAN VÀ MA QUỶ
Câu gốc: “Ai phạm tội thì thuộc về ma quỷ; vì ma quỷ đã phạm tội từ lúc ban đầu. Sở dĩ Con Đức Chúa Trời đã hiện ra là để hủy phá công việc của ma quỷ.”
(IGiăng 3:8).
Hỏi: Thiên Sứ Là Ai?
Đáp: Thiên sứ là tạo vật được Đức Chúa Trời dựng nên. Thiên sứ thuộc về thế giới thuộc linh, không có thân thể vật lý bằng xương, bằng thịt, không có phái tính nam hay nữ. (Cô-lô-se 1:16; Thi Thiên 148:1,2,5).
Hỏi: Công Việc Của Thiên Sứ Là Gì?
Đáp: Thiên sứ được Đức Chúa Trời dựng nên để phục vụ và thực hiện mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Thiên sứ cũng được Chúa sai đi phục vụ con người (Hê-bơ-rơ 1:14). Thiên sứ bảo vệ con cái Đức Chúa Trời (Thi Thiên 34:7; Ma-thi-ơ 18:10 xem thêm IICác Vua 6:15-17; 19:35; Công vụ 12:7-10).
Thiên sứ có khả năng siêu nhiên nhưng vẫn có giới hạn không thể bằng Đức Chúa Trời.
Hỏi: Thiên Sứ Được Tổ Chức Như Thế Nào?
Đáp: Đức Chúa Trời dựng nên các thiên sứ trưởng và rất nhiều thiên sứ khác, các thiên sứ trưởng gồm có:
Thiên sứ Mi-chên (Mi-ca-ên) là thiên sứ chiến trận (Giu-đe 1:9; Đa-ni-ên 10:13; Khải Huyền 12:7).
Thiên sứ Gáp-ri-ên là thiên sứ báo tin (Lu-ca 1:19; 1:26).
Thiên sứ Lu-xi-phe là thiên sứ trưởng về âm nhạc. Nhưng đã kiêu ngạo, nổi loạn trở nên thiên sứ sa ngã và bị Đức Chúa Trời quăng ra khỏi thiên đàng (Ê-xê-chi-ên 28:12-17; Ê-sai 14:12-15).
Hỏi: Sa-Tan, Ma Quỷ Là Ai?
Đáp: Sa-tan nghĩa là Kẻ Đối Địch, chống nghịch lại Đức Chúa Trời. Ban đầu nó là thiên sứ sáng láng, được gọi là Ngôi Sao Mai (Lucifer), nhưng do kiêu ngạo, tự cho mình bằng Đức Chúa Trời nên kéo theo 1/3 thiên sứ khác phản loạn. Đức Chúa Trời đuổi ra khỏi thiên đàng và gọi tên là Sa-tan và các thiên sứ sa ngã trở thành ma quỉ và các ác linh (Ê-xê-chi-ên 28:12-17; Ê-sai 14:12-15).
Hỏi: Công Việc Của Sa-Tan, Ma Quỷ Là Gì?
Đáp: Sau khi phản loạn, Sa-tan và ma quỷ không còn phục vụ Đức Chúa Trời và loài người nữa ngược lại nó chống nghịch Đức Chúa Trời và tấn công vào con người. Các công việc của Sa-tan ma quỷ được mô tả trong Khải Huyền 12:7-12 như sau:
Chống lại các thiên sứ của Đức Chúa Trời nhưng không thể thắng. Nó là con rồng, con rắn xưa.
Bị quăng xuống khỏi thiên đàng trở nên Sa-tan, ma quỉ.
Đi dỗ dành con người. So với Sáng Thế Ký 3:1-24. Ngày nay Sa-tan và ma quỷ vẫn tiếp tục tìm cách cám dỗ con người phạm tội để bị hư mất đời đời.
Trở thành kẻ cai trị thế gian bởi vì A-đam và Ê-va đã nghe theo lời dụ dỗ và phạm tội cùng Đức Chúa Trời, mất quyền quản trị thế giới vào tay Sa-tan (Lu-ca 4:5-7; so với Thi Thiên 8:4-6; Ê-phê-sô 2:1; 6:12). Sa-tan, ma quỷ đang tìm mọi cách thống trị thế giới này, khiến con người thờ lạy nó thay vì Đức Chúa Trời. Nó muốn cai trị mọi lĩnh vực như gia đình, giáo dục, tôn giáo, kinh tế, chính trị, giải trí, nghệ thuật.
Nó là Kẻ Kiện Cáo con người trước mặt Đức Chúa Trời vì cớ tội lỗi của họ đã phạm.
Hỏi: Số Phận Sau Cùng Của Sa-tan Và Ma Quỷ Như Thế Nào?
Đáp: Số phận sau cùng của Sa-tan được bày tỏ trong Khải Huyền 20:1-3; 7-10 như sau:
Khi Chúa Jêsus tái lâm lần thứ hai, Ngài bắt đầu trị vì trên đất này 1000 năm. Lúc đó Sa-tan sẽ bị xiềng lại và giam ở vực sâu trong 1000 năm. Chúng ta sẽ học kỹ hơn trong bài 10 về Sự Tái Lâm của Đức Chúa Jêsus.
Sau 1000 năm nó được thả ra nhưng lại không ăn năn mà tiếp tục chống nghịch Đức Chúa Trời, dỗ dành nhiều người theo nó và Đức Chúa Trời sẽ quăng Sa-tan và các ác quỷ vào trong địa ngục, nơi hồ lửa đời đời.
Hỏi: Ai Có Thể Chiến Thắng Sa-Tan Và Ma Quỉ?
Đáp: Ngoài trừ Đức Chúa Trời thì con người ở dưới quyền cai trị của Sa-tan và ma quỷ, không ai có thể thắng nó. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời đã ban Đức Chúa Jêsus đến thế gian, Ngài là Con Người duy nhất không phạm tội và đã chiến thắng Sa-tan. Chúng ta sẽ học rõ hơn về Đức Chúa Jêsus và sự cứu rỗi trong các bài học sau (Hê-bơ-rơ 2:14; Cô-lô-se 2:15; IGiăng 3:8).
Chúa Jêsus ban quyền phép cho ai tin nhận Ngài cũng có quyền trên Sa-tan và các ác quỷ, chúng ta có thể thắng ma quỉ nhờ huyết của Chiên Con là Chúa Jêsus, bằng cách nhân danh Chúa Jêsus mà trừ quỷ, có quyền chống trả lại sự cám dỗ của nó bằng sự cầu nguyện và trang bị các khí giới của Đức Chúa Trời (Mác 6:7,13; 16:17; Khải Huyền 12:11; Ê-phê-sô 6:10-20).
BÀI 5 – TỘI LỖI VÀ SỰ CỨU CHUỘC
Câu gốc: “Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin
trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu…” (1Ti-mô-thê 1:15)
Hỏi: Tội Lỗi Là Gì?
Đáp: Tội lỗi theo Kinh Thánh là “không đạt tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời quy định. Không đạt tới mục tiêu.” Lời Chúa trong Kinh Thánh sách Rô-ma 3:23 khẳng định: “Mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời”.
Các tội lỗi điển hình như:
Chối bỏ, không tin Đấng tạo dựng nên mình (xem Ê-sai 1:2-4; Rô-ma 1:21-25).
Trái luật pháp của Đức Chúa Trời (1Giăng 3:4).
Không làm điều lành, điều tốt như đáng phải làm (Gia-cơ 4:17).
Tư tưởng, lời nói, hành động trái lương tâm (xem Châm Ngôn 24:9; Giê-rê-mi 17:9; Rô-ma 2:14-15; Gia-cơ 3:6).
Hỏi: Có Mấy Thứ Tội, Xin Kể Ra Và Giải Thích?
Đáp: Có hai thứ tội: nguyên tội và kỷ tội.
Nguyên tội: là bản chất tội lỗi do tổ phụ di truyền cho cả loài người. Kinh Thánh khẳng định: “Kìa, tôi sinh ra trong sự gian ác, mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi…” “Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội.” (Thi Thiên 51:5; Rô-ma 5:12)
Kỷ tội: là tội riêng của từng người (Rô-ma 3:10-12).
Ga-la-ti 5:19-21 “Công việc của xác thịt thật rõ ràng, đó là: gian dâm, ô uế, buông tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán, gây gổ, ghen ghét, giận dữ, ích kỷ, bất bình, phe đảng, ganh tị, say sưa, chè chén, và những việc tương tự khác. Tôi cảnh cáo anh em, như tôi đã từng cảnh cáo: Những ai làm các việc như thế sẽ không được hưởng vương quốc Đức Chúa Trời.”
Hỏi: Tội Lỗi Gây Nên Những Hậu Quả Nào?
Đáp: Hậu quả của tội lỗi vừa có tính cách tâm linh, vừa vật chất; vừa trong đời này vừa trong đời sau:
Tội lỗi đưa tội nhân đến sự đau khổ, bất an, tuyệt vọng. (Ê-sai 57:21)
Tội lỗi biến tội nhân thành nô lệ cho tội lỗi (Rô-ma 6:16-17).
Tội lỗi làm cho tội nhân phân cách với Đức Chúa Trời (chết tâm linh) (Ê-phê-sô 2:1).
Tội lỗi ném tội nhân vào hỏa ngục đời đời. Đây là hậu quả tất yếu của tội lỗi mà Kinh Thánh đã báo trước (2Tê-sa-lô-ni-ca 1:9; Khải Huyền 20:15).
Hỏi: Con Người Có Thể Tự Cứu Mình Thoát Khỏi Tội Lỗi Được Không?
Đáp: Con người hoàn toàn bất lực trước sức mạnh của tội lỗi. Càng vùng vẫy, con người càng bị trói buộc vào bẫy lưới của tội lỗi (Rô-ma 7:14-24
Hỏi: Vậy, Đức Chúa Trời Đã Làm Gì Trước Tình Cảnh Con Người Bất Lực Và Tuyệt Vọng Trong Tội Lỗi?
Đáp: Ngay sau khi loài người sa ngã, Đức Chúa Trời đã hứa sẽ ban một Đấng Cứu Thế giày đạp (nguyên văn là “chà nát”) đầu con rắn là ma quỷ, và cứu người tin Ngài (Sáng Thế Ký 3:15).
Đức Chúa Trời đã thực hiện lời hứa ấy bởi sự hy sinh của Chúa Jêsus trên Thập tự giá, mở con đường cứu rỗi cho những người chân thành ăn năn và hết lòng tin cậy Ngài (Rô-ma 5:6-8)
Hỏi: Chúa Cứu Thế Đã Thực Hiện Và Hoàn Tất Kế Hoạch Cứu Rỗi. Vậy, Muốn Được Cứu Rỗi, Con Người Phải Làm Gì?
Đáp: Kinh Thánh khẳng định: Muốn được cứu rỗi, con người phải ăn năn tội và tin Chúa Jêsus làm Chúa Cứu Thế (xem Công Vụ 3:19; Rô-ma 10:9-10).
Hỏi: Ăn Năn Là Gì?
Đáp: Ăn năn là hành động quay khỏi tội lỗi, trở lại con đường công chính của Đức Chúa Trời.
Sự ăn năn thật trải qua 4 bước, có liên quan đến cả 3 phương diện của con người (xem câu chuyện Chúa kể trong Lu-ca 15:3-24).
Phương diện lý trí:
Bước 1: Nhận thức về tình trạng tội lỗi của mình (câu 17a). Tôi phải nhận biết tôi là người có tội.
Phương diện tình cảm:
Bước 2: Đau buồn về tội lỗi (câu 17b).
Phương diện ý chí:
Bước 3: Quyết chí từ bỏ tội lỗi (câu 18).
Bước 4: là bước quan trọng nhất: Quay trở về đầu phục Đức Chúa Trời (câu 20-21). Trước kia chúng ta đầu phục tội lỗi, thì nay quay trở lại đầu phục Đức Chúa Trời.
Hỏi: Đức Tin Nơi Chúa Jêsus Là Gì?
Đáp: Đức tin nơi Chúa không phải là chỉ tin có Chúa. Kinh Thánh nói rằng ma quỷ cũng tin có Chúa và còn run sợ nữa, nhưng chúng vẫn là ma quỷ, không thay đổi. Đức tin nơi Chúa là hành động tiếp nhận Chúa Jêsus làm Đấng Cứu Thế cho riêng mình và phó thác cả cuộc đời mình cho Ngài, thờ phượng Ngài trọn đời (Giăng 1:12).
Hỏi: Khi Một Người Đã Ăn Năn, Tin Nhận Đấng Cứu Thế, Thì Đức Chúa Trời Sẽ Làm Gì Cho Người Ấy?
Đáp: Khi ăn năn và tin nhận Chúa Jêsus, thì Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Trời sẽ ban cho người ăn năn 3 điều sau đây:
Đức Chúa Trời tha thứ mọi tội lỗi của người đó (Khải Huyền 1: 6).
Đức Chúa Trời tái sinh người đó để trở nên con cái Ngài, ban cho người đó một bản chất mới (2Cô-rinh-tô 5:17).
Đức Chúa Trời ban Thánh Linh ngự vào lòng để thánh hóa người đó (1Cô-rinh-tô 6:19).
BÀI 6 – ĐỨC CHÚA JÊSUS
Câu gốc: “Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người.”
(1Ti-mô-thê 2:5)
Hỏi: Đức Chúa Jêsus Là Ai?
Đáp: Đức Chúa Jêsus là Con Một của Đức Chúa Trời, là Ngôi Thứ Hai trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Khi Ngài giáng thế làm người, Ngài được đặt tên là Jêsus Christ (Ma-thi-ơ 1:21; Lu-ca 2:11).
Hỏi: Danh Jêsus Christ Có Nghĩa Là Gì?
Đáp: “Jêsus” hay “Giê-xu” là từ Hi Lạp có nghĩa là “Đấng Cứu Chuộc”, Christ là từ Hi Lạp có nghĩa là “Đấng chịu xức dầu” để làm Vua. Danh hiệu Jêsus Christ có nghĩa là Đấng Cứu Thế là Vua. Trong tiếng Hê-bơ-rơ Đấng chịu xức dầu là Mê-si-a (Giăng 1:41).
Hỏi: Trước Khi Đức Chúa Jêsus Giáng Sinh Làm Người Ngài Ở Đâu Và Được Gọi Bằng Danh Hiệu Gì?
Đáp: Ngài có danh hiệu là Ngôi Lời, nghĩa là tiếng phán của Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng Tạo Hóa, Ngài là Con Một của Đức Chúa Trời, Ngài ở cùng Đức Chúa Trời (Giăng 1:1-3, 14; Cô-lô-se 1:16-17; Giăng 3:16).
Hỏi: Đức Chúa Jêsus là Con Một, Vậy Địa Vị Của Ngài Có Phải Thấp Kém Hơn Đức Chúa Cha Không?
Đáp: Không. Danh hiệu Con Một là danh được gọi khi Ngài trở thành Con Người. Trước đó, Chúa Jêsus có quyền bình đẳng với Đức Chúa Cha, Ngài cũng là Đức Chúa Trời (Phi-líp 2:6-7).
Hỏi: Bản Tính Của Đức Chúa Jêsus Như Thế Nào?
Đáp: Vì Ngài là Đức Chúa Trời, Ngài có bản tính thần linh và Ngài cũng là con người nên Ngài có nhân tính. Ngài có thần tính 100% và Ngài cũng có nhân tính 100% (Phi-líp 2:8-11).
Hỏi: Tại Sao Đức Chúa Jêsus Lại Có Thể Cứu Rỗi Nhân Loại Thoát Khỏi Tội Lỗi Và Trở Nên Đấng Cứu Thế?
Đáp: Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời nên Ngài có thể cứu rỗi con người nhưng tội lỗi con người cần phải có người chịu chết thế vì vậy Ngài đã bằng lòng trở nên con người để chịu chết thay tội cho nhân loại. Ngài được gọi là Đấng Trung Bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người (1Ti-mô-thê 2:5).
Hỏi: Nếu Chúa Jêsus Là Con Người Thì Ngài Có Nguyên Tội Và Kỷ Tội Không?
Đáp: Ngài không sanh ra theo thông lệ của tự nhiên mà bởi quyền phép của Đức Thánh Linh. Vì vậy Chúa Jêsus không mang nguyên tội di truyền từ người cha về phần xác (Ma-thi-ơ 1:26-38; Ma-thi-ơ 1:18-25). Chúa Jêsus không hề phạm tội (kỷ tội) vì vậy Ngài mới có thể gánh thay tội cho con người (1Phi-e-rơ 2:22-24).
Hỏi: Cuộc Đời Của Chúa Jêsus Trên Đất Này Như Thế Nào?
Đáp:
Sự giáng sinh: Đức Chúa Jêsus giáng sinh vào năm 1 Công Nguyên. Sự giáng sinh của Chúa chia đôi dòng lịch sử nhân loại. Người ta gọi dương lịch là trước công nguyên hay sau công nguyên để nói đến một sự kiện xảy ra trước hoặc sau khi Chúa Jêsus giáng sinh. Trước khi Chúa Jêsus giáng sinh, Đức Chúa Trời đã tiên tri rất nhiều năm trước đó về sự giáng sinh, chức vụ, sự chết và sống lại của Ngài trong Kinh Thánh Cựu Ước. Chúa Jêsus giáng sinh tại làng Bết-lê-hem thuộc xứ Do Thái. Cuộc đời Chúa Jêsus trên đất là 33 năm.
Thời thơ ấu đến khi 30 tuổi: 30 năm đầu Ngài làm con hiếu thảo trong gia đình, phụng dưỡng cha mẹ và chăm sóc các em Ngài.
Giai đoạn thi hành chức vụ công khai: Trong 3 năm sau cùng của cuộc đời, Ngài đi khắp nơi trong nước Do Thái để rao giảng Tin Lành, kêu gọi người ta ăn năn tội và Ngài bày tỏ chính Ngài là Đấng Cứu Thế sẽ chịu chết thay tội lỗi nhân loại và Ngài nói trước về việc Ngài sẽ sống lại sau 3 ngày.
Sự chết và sống lại: Vì ghen ghét Ngài, các nhà lãnh đạo tôn giáo Do Thái thời đó đã bắt Ngài đóng đinh trên thập tự giá như lời Ngài đã nói trước. Ngài đã được chôn trong mộ và sau 3 ngày Đức Chúa Trời đã khiến cho Chúa Jêsus đã sống lại từ cõi chết.
Sự thăng thiên: Sau khi sống lại Ngài ở cùng các môn đồ Ngài 40 ngày và Ngài trở về thiên đàng. Ngài ban Đức Thánh Linh xuống để thiết lập Hội Thánh và ở với con cái Ngài.
Sự tái lâm: Trong tương lai Chúa Jêsus sẽ trở lại thế giới này một lần nữa gọi là Chúa tái lâm để tiếp đón mọi người tin nhận Ngài lên thiên đàng và sẽ phán xét thế gian này.
Tất cả mọi điều liên quan đến Đức Chúa Jêsus đều được chép lại trong bốn sách Phúc âm Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca và Giăng.
Hỏi: Điều Gì Chứng Tỏ Đức Chúa Jêsus Vừa Là Con Đức Chúa Trời Và Vừa Là Con Người?
Đáp: Chúa Jêsus là con người, Ngài cũng có cảm giác mệt, buồn ngủ khi mệt mỏi, Chúa Jêsus cũng khóc khi buồn, Ngài cũng bị đói, khát… như một con người bình thường.
Nhưng Chúa Jêsus có khả năng làm phép lạ, Ngài chữa lành tất cả bệnh tật, có quyền đuổi ma quỷ ra khỏi con người, Ngài có quyền trên thiên nhiên khiến bão tố yên lặng, Ngài có quyền trên sự chết khi khiến kẻ chết sống lại. Ngài có thể hóa bánh ra nhiều, hóa nước thành rượu, khiến các môn đồ đánh được nhiều cá cá dưới biển. Chúa Jêsus có khả năng biết được các ý tưởng của con người, Ngài biết trước những điều sẽ xảy đến.
Tất cả những điều này được ghi chép cẩn thận trong các sách Phúc âm. Điều này chứng tỏ Đức Chúa Jêsus vừa là Con Đức Chúa Trời vừa là Con Người. (Giăng 20:30-31).
Hỏi: Con Người Phải Có Thái Độ Nào Đối Với Đức Chúa Jêsus?
Đáp: Con người không tự cứu mình thoát khỏi sự chết đời đời bởi cớ tội lỗi. Vì vậy, con người cần phải tin nhận Chúa Jêsus là Đấng Trung Bảo, Đấng Cứu Thế của mình, tin Ngài đã chết thay tội mình, đã chịu chết, chịu chôn và đã sống lại (Giăng 3:36; Rô-ma 6:23; 10:9-10).
Chúng ta có Đức Thánh Linh giúp sống theo lời Chúa trong Kinh Thánh và trung tín thờ phượng Ngài cho đến khi Chúa Jêsus tái lâm tiếp đón chúng ta về trong thiên đàng. (Ê-phê-sô 4:25-32).
BÀI 7 – ĐỨC THÁNH LINH
Câu gốc: “Nhưng Đấng An ủi, tức là Đức Thánh Linh mà Cha sẽ nhân danh Ta sai xuống, Đấng ấy sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều Ta đã phán cùng các ngươi.” (Giăng 14:26)
Hỏi: Đức Thánh Linh Là Ai?
Đáp: Đức Thánh Linh là Ngôi Thứ Ba trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Ngài có thân vị, thần tính. Ngài được xưng là Chúa và là Đức Chúa Trời.
Đức Thánh Linh là Đấng Tạo Hóa (Sáng Thế Ký 1:2).
Ngài là Thần của Đức Giê-hô-va (Ê-sai 11:2).
Ngài ở khắp mọi nơi (Thi Thiên 139:7-10).
Ngài là Thần Lẽ Thật (Giăng 16:13).
Ngài là Đấng An Ủi (Giăng 14:26).
Hỏi: Công Việc Của Đức Thánh Linh Đối Với Hội Thánh Là Gì?
Đáp:
Đức Thánh Linh khai sinh Hội Thánh trong ngày lễ Ngũ Tuần (Công Vụ 2:1-4).
Đức Thánh Linh lãnh đạo và dẫn dắt Hội Thánh cho đến Ngày Đức Chúa Jêsus tái lâm (Công Vụ 13:1-3; Khải Huyền 21:2-4).
Hỏi: Công Việc Của Đức Thánh Linh Đối Với Tín Hữu Là Gì?
Đáp:
Ngài cáo trách lòng người về tội lỗi (Giăng 16:8-10).
Ngài tái sanh người tin nhận Chúa Jêsus (Tít 3:5).
Ngài ban quyền năng để con cái Chúa sống đắc thắng tội lỗi (Rô-ma 8:2).
Ngài dẫn dắt con cái Chúa hiểu biết Lẽ Thật trong Kinh Thánh (Giăng 14:26; 16:13).
Ngài ấn chứng cho con cái Chúa đến ngày cứu chuộc (Ê-phê-sô 4:30).
Ngài cầu thay cho con cái Chúa (Rô-ma 8:27).
Ngài ban quyền năng để rao giảng Tin Lành (Công vụ 1:8).
Ngài ban ân tứ thuộc linh và bông trái Thánh Linh cho con cái Chúa.
Ngoài những điều này ra Đức Thánh Linh còn làm nhiều điều quý báu khác nữa được bày tỏ trong Kinh Thánh.
Hỏi: Ân Tứ Đức Thánh Linh Là Gì?
Đáp: Ân tứ Đức Thánh Linh là những khả năng siêu nhiên do Đức Thánh Linh ban cho người thuộc về Chúa để làm vinh hiển danh Chúa và gây dựng Hội Thánh (ICô-rinh-tô 12:7-11).
Hỏi: Bông Trái Thánh Linh Là Gì?
Đáp: Đó là những phẩm chất Đức Thánh Linh ban cho người tin nhận Chúa và vâng lời Ngài. Kết quả là đời sống con cái Chúa có những phẩm chất như: yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại và tiết độ (Ga-la-ti 5:22).
Hỏi: Con cái Chúa phải có thái độ gì đối với Đức Thánh Linh?
Đáp:
Phải tin nhận Chúa Jêsus để được nhận lãnh Đức Thánh Linh (Công vụ 2:38);
Phải vâng lời Đức Thánh Linh (Ga-la-ti 5:16);
Tránh làm Đức Thánh Linh buồn (Ê-phê-sô 4:30);
Không dập tắt nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh (ITê-sa-lô-ni-ca 5:19; Ê-phê-sô 5:18).
Hỏi: Hậu Quả Của Người Khinh Lờn Đức Thánh Linh Là Gì?
Đáp: Sẽ không bao giờ được tha thứ và sẽ mất sự cứu rỗi đời đời (Ma-thi-ơ 12:31-32; Hê-bơ-rơ 10:29).
BÀI 8 – SỰ CẦU NGUYỆN
Câu gốc: “Đến bây giờ, các con chưa từng nhân danh Ta cầu xin điều gì. Hãy cầu xin đi, các con sẽ nhận được, để niềm vui của các con được trọn vẹn.” (Giăng 16:24)
Hỏi: Cầu Nguyện Là Gì?
Đáp: Cầu nguyện là thưa chuyện với Chúa và lắng nghe Chúa phán với mình; là tương giao với Đức Chúa Trời qua Chúa Jêsus, trong quyền năng của Đức Thánh Linh (Giê-rê-mi 33:3).
Hỏi: Tại Sao Chúng Ta Cần Cầu Nguyện Với Chúa?
Đáp:
Cầu nguyện là cần thiết cho đời sống tín hữu, giống như hơi thở cần cho sự sống. Nếu không cầu nguyện, tâm linh chúng ta sẽ chết vì thiếu sự tương giao với Chúa.
Chúa Jêsus cũng dạy: Hễ ai nhân Danh Chúa Jêsus mà cầu nguyện thì được Đức Chúa Trời nhậm lời (Giăng 16:23b).
Hỏi: Có Mấy Loại Cầu Nguyện?
Đáp: có hai loại: cầu nguyện riêng và cầu nguyện chung với người khác.
Cầu nguyện riêng: cầu nguyện một mình, tức là cá nhân cầu nguyện với Chúa (Ma-thi-ơ 6:5-6). Đức Chúa Jêsus khi còn ở trên đất, Ngài thường xuyên có thì giờ cầu nguyện riêng với Đức Chúa Cha (Lu-ca 6:12).
Cầu nguyện chung (hiệp nguyện): cầu nguyện giữa Hội Thánh, hoặc với vài anh em trong nhóm nhỏ.
Khi cầu nguyện chung, nên cầu nguyện lớn tiếng, ngắn gọn, rõ ràng để người khác cùng hiệp ý với mình trong lời cầu nguyện. Hội Thánh đầu tiên luôn cầu nguyện chung với nhau, xem Công Vụ 4:24-31.
Hỏi: Chúng Ta Cần Cầu Nguyện Như Thế Nào Để Lời Cầu Nguyện Của Mình Được Chúa Đáp Lời?
Đáp: Nếu chúng ta theo ý muốn Chúa mà cầu xin thì Ngài sẽ nghe và đáp lời cầu xin của chúng ta (IGiăng 5:14). Điều quan trọng nhất là phải nhân danh Đức Chúa Jêsus mà cầu nguyện (Giăng 16:24). Kế đến chúng ta cầu nguyện dựa theo lời Kinh Thánh dạy, vì ý muốn Đức Chúa Trời đã được bày tỏ trong Lời Ngài. Ngài là Đấng thành tín, những gì Ngài đã hứa thì Ngài cũng sẽ làm thành lời hứa ấy (Phục Truyền 7:9; Giô-suê 21:45).
Đức Chúa Jêsus hướng dẫn chúng ta cách cầu nguyện trong Ma-thi-ơ 6:9-13 như sau:
Lạy Cha chúng con ở trên trời
Danh Cha được tôn thánh,
Nước Cha được đến,
Ý Cha được nên, ở đất như trời.
Xin cho chúng con hôm nay đồ ăn đủ ngày.
Xin tha tội lỗi cho chúng con như chúng con cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng con.
Xin chớ để chúng con bị cám dỗ mà cứu chúng con khỏi
điều ác!
Vì nước, quyền, vinh hiển đều thuộc về Cha đời đời. A-men.
Hỏi: Chúng Ta Nên Cầu Nguyện Cho Ai Và Theo Thứ Tự Nào?
Đáp: Chúng ta có thể cầu nguyện cho mọi người, cho nhu cầu của riêng mình và theo thứ tự gợi ý sau đây:
Chúc tụng Chúa (Thi Thiên 103:1-2).
Xưng tội, ăn năn và từ bỏ tội lỗi (Thi Thiên 32:5; IGiăng 1:9).
Cảm tạ Chúa về những sự ban cho của Ngài
(1Ti-mô-thê 2:1-2)
Cầu thay cho người khác.
Cầu xin cho chính mình.
Gợi ý:
Mở đầu: “Kính lạy Đức Chúa Trời” hoặc “Lạy Đức Chúa Trời yêu thương chúng con” hoặc “Lạy Chúa là Đức Chúa Trời chúng con” v.v…
Nội dung: Chúc tụng Chúa, xưng tội, cảm tạ, cầu thay, cầu xin…
Kết thúc: “Con thành tâm cầu nguyện, nhân Danh Chúa Jêsus Christ. A-men”
Hỏi: Phương Cách Chúa Đáp Lời Cầu Nguyện Của Chúng Ta Như Thế Nào?
Đáp: Có 3 phương cách Chúa đáp lời:
Chúa trả lời ngay.
Chúa không trả lời.
Chúa muốn chúng ta phải chờ đợi thời điểm tốt nhất.
Bởi vì Chúa yêu thương chúng ta, Ngài biết điều nào là tốt nhất cho chúng ta (Ma-thi-ơ 7:7-11; Ê-sai 55:8-9).
Hỏi: Chúng Ta Cần Cầu Nguyện Khi Nào Và Cầu Nguyện Ở Đâu?
Đáp: Con cái Chúa cần cầu nguyện với Chúa mỗi ngày. Chúng ta có thể thưa chuyện với Chúa trong mọi hoàn cảnh xảy ra cho mình (ITê-sa-lô-ni-ca 5:16-18; Phi-líp 4:6-7). Buổi sáng trước khi làm mọi việc hãy dành thì giờ đầu tiên trong ngày thưa chuyện với Chúa. Buổi tối khi kết thúc một ngày hãy tạ ơn Chúa về một ngày đã qua (Thi Thiên 55:17; Đa-ni-ên 6:10).
Chúng ta có thể thưa chuyện với Chúa bất cứ ở đâu vì Chúa là Thần Linh, Ngài không bị giới hạn bởi không gian và thời gian (Ma-thi-ơ 18:19-20; Thi Thiên 121:3-4; Ê-sai 40:28).
Hỏi: Vì Sao Có Lời Cầu Nguyện Không Được Đức Chúa Trời Nhậm?
Đáp: Cầu nguyện mà không được Chúa đáp lời vì:
Còn tội lỗi chưa ăn năn từ bỏ (Ê-sai 59:2).
Cầu xin điều trái lẽ (Gia-cơ 4:3).
Không tha thứ cho người phạm tội với mình (Mác 11:25).
Thiếu đức tin (Gia-cơ 1:6).
Thiếu kiên trì (Lu-ca 18:1).
Hỏi: Con Cái Chúa Có Nên Cầu Nguyện Với Ai Khác Ngoài Chúa Không?
Đáp: Không. Đức Chúa Trời nghiêm cấm con cái Chúa cầu xin, cầu nguyện với các thần tượng khác hoặc đến với thầy bói, cầu hồn, cầu cơ, tử vi và các hình thức khác (Lê-vi Ký 19:31; Ê-sai 8:19; Khải Huyền 21:8).
BÀI 9 – HỘI THÁNH VÀ CÁC THÁNH LỄ
Câu gốc: “Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài.” (1Phi-e-rơ 2:9)
Hỏi: Hội Thánh Là Gì?
Đáp: “Hội Thánh” là cộng đồng của những người được Đức Chúa Trời kêu gọi biệt riêng ra khỏi thế gian, được cứu chuộc bởi Chúa Jêsus, qua sự tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa của mình, để trở nên dân thánh cho Đức Chúa Trời (ICô-rinh-tô 1:2).
Hỏi: Hội Thánh Được Thành Lập Như Thế Nào?
Đáp:
Chúa Jêsus tuyên bố chính Ngài sẽ thành lập Hội Thánh.
“Còn Ta, Ta bảo ngươi rằng: Ngươi là Phi-e-rơ, Ta sẽ lập
Hội Thánh Ta trên đá này, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó.” (Ma-thi-ơ 16:18).
Sau khi Chúa thăng thiên, Đức Thánh Linh giáng lâm vào ngày Lễ Ngũ tuần và khai sinh Hội Thánh đầu tiên
(Công vụ 2).
Hỏi: Thế Nào Là Hội Thánh Hữu Hình Và Hội Thánh Vô Hình?
Đáp:
Hội Thánh hữu hình, hay Hội Thánh địa phương, là cộng đồng tín hữu nhóm lại tại một nơi để thờ phượng Chúa. Ví dụ Hội Thánh tại Calgary, Hội Thánh tại Việt Nam… (IICô-rinh-tô 1:1).
Hội thánh vô hình, hay Hội Thánh phổ thông, là cộng đồng tín hữu thật của Chúa trên khắp thế giới, suốt mọi thời đại (Ê-phê-sô 5:27).
Hỏi: Sứ Mệnh Của Hội Thánh Là Gì?
Đáp: Hội thánh có 3 sứ mệnh lớn là:
Tôn thờ Đức Chúa Trời (Công vụ 2:42-47).
Gây dựng đức tin cho nhau (Ê-phê-sô 4:11-13).
Truyền giảng Phúc Âm để cứu người khác (Ma-thi-ơ 28:19-20).
Hỏi: Niềm Tin Căn Bản Của Hội Thánh Là Gì?
Đáp: Đó là những tín lý được ghi lại trong Bài Tín Điều Các Sứ Đồ như sau:
Tôi tin Đức Chúa Trời Toàn Năng, là Cha, là Đấng dựng nên trời đất.
Tôi tin Jêsus Christ, là Con độc sanh của Đức Chúa Trời và Chúa chúng ta:
Ngài xuống thế làm người bởi Đức Thánh Linh.
Sanh bởi nữ đồng trinh Ma-ri.
Chịu thương khó dưới tay Bôn-xơ Phi-lát.
Bị đóng đinh trên thập tự giá, chịu chết và chôn.
Ngài xuống âm phủ, đến ngày thứ ba, Ngài từ kẻ chết sống lại.
Ngài thăng thiên ngồi bên hữu Đức Chúa Trời Toàn Năng, là Cha.
Từ đó Ngài sẽ trở lại để xét đoán kẻ sống và kẻ chết.
Tôi tin Thánh Linh.
Tôi tin Hội Thánh phổ thông, sự cảm thông của thánh đồ, sự tha tội, sự sống lại của thân thể và sự sống đời đời.
A-men.
Hỏi: Hội Thánh Có Những Thánh Lễ Nào?
Đáp: Thánh lễ là lễ do Chúa Jêsus truyền dạy phải thực hiện. Trong Kinh Thánh, Chúa Jêsus truyền dạy Hội Thánh thi hành hai thánh lễ:
Thánh Lễ Báp-têm. Chúa Jêsus truyền lệnh trước khi Ngài thăng thiên rằng: “Hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân Danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép Báp-têm cho họ.” (Ma-thi-ơ 28:19).
Thánh Lễ Tiệc Thánh (Lu-ca 22:19-20).
Hỏi: Thánh Lễ Báp-Têm Có Ý Nghĩa Gì?
Đáp: Chữ “Báp-têm” là tiếng Hy Lạp có nghĩa là “dìm mình xuống nước”.
Khi được dìm mình trọn vẹn trong nước, là kể mình đã đồng chết và đồng chôn với Chúa về đời sống cũ đầy tội lỗi.
Khi lên khỏi nước là kể mình được đồng sống lại và sống với Chúa trong đời sống mới (Rô- ma 6:4).
Hỏi: Nhận Thánh Lễ Báp-Têm Có Ích Lợi Gì?
Đáp: Nhận Thánh lễ Báp-têm là vâng lời Chúa truyền dạy, công khai xưng nhận đức tin mình trước Hội Thánh. Chúa Jêsus đã phán: “Thế thì, hễ ai xưng nhận Ta trước mặt thiên hạ, Ta cũng sẽ xưng nhận người ấy trước mặt Cha Ta ở trên trời; còn ai chối bỏ Ta trước mặt thiên hạ, Ta cũng sẽ chối bỏ họ trước mặt Cha Ta ở trên trời.” (Ma-thi-ơ 10:32-33).
Trong Rô-ma 6:4-6 bày tỏ cho biết việc chúng ta hiệp nhất với Chúa Jêsus trong sự chết thì cũng sẽ được quyền năng Chúa Thánh Linh làm cho chúng ta sống một đời sống mới thoát khỏi đời sống cũ và nô lệ cho tội lỗi.
Ngoài phép Báp-têm bằng nước, con cái Chúa phải cầu xin Chúa cho mình được báp-têm bằng Đức Thánh Linh như lời Chúa hứa và đời sống luôn được đầy dẫy Đức Thánh Linh (xem Công vụ 19:1-7; 1Cô-rinh-tô 12:13; Ê-phê-sô 5:18).
Hỏi: Ý Nghĩa Của Thánh Lễ Tiệc Thánh Là Gì?
Đáp: Tiệc Thánh do Chúa Jêsus thiết lập, để nhắc chúng ta nhớ đến sự hy sinh của Ngài trên cây thập tự (ICô-rinh-tô 11:23-25). Hai phẩm vật của lễ tiệc thánh, là bánh và nước nho:
Bánh: chỉ về thân Chúa vì tội lỗi chúng ta mà chịu thương khó và chịu chết.
Nước nho: chỉ về huyết Chúa vì tội lỗi chúng ta mà đổ ra.
Hỏi: Khi Dự Tiệc Thánh, Chúng Ta Phải Có Thái Độ Nào?
Đáp: Khi hiểu được ý nghĩa và mục đích của Tiệc Thánh, chúng ta phải dự Tiệc Thánh với thái độ tôn kính, tự xét mình có điều gì làm buồn lòng Chúa thì ăn năn và biết ơn Chúa vì nhờ huyết Chúa Jêsus đổ ra xóa sạch tội lỗi mình và chúng ta nhận được sự tha tội của Chúa. Chúng ta cầu xin Chúa ban năng quyền Thánh Linh để sống đẹp lòng Chúa và sẵn sàng nói về Chúa cho người khác nữa (ICô-rinh-tô 11:26-29).
BÀI 10 – SỰ TÁI LÂM CỦA ĐỨC CHÚA JÊSUS
Câu gốc: “Này, Ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với Ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm.”
(Khải Huyền 22:12)
Hỏi: Sự Tái Lâm Của Đức Chúa Jêsus Là Gì?
Đáp: là sự trở lại trần gian của Đức Chúa Jêsus lần thứ hai để ban sự cứu rỗi cho những ai tin nhận Ngài (Hê-bơ-rơ 9:28).
Hỏi: Chúng Ta Có Biết Ngày Nào Chúa Sẽ Tái Lâm Hay Không?
Đáp: Không ai biết cả nhưng chắc chắc sẽ xảy ra trong tương lai.
Chỉ một mình Đức Chúa Cha biết và định ngày mà Chúa Jêsus sẽ tái lâm (Ma-thi-ơ 24:36, 43-44).
Sứ đồ Phao-lô và Phi-e-rơ cũng nhắc Hội Thánh thời bấy giờ rằng ngày của Chúa đến sẽ thình lình như kẻ trộm trong ban đêm (1Tê-sa-lô-ni-ca 5:2; 2Phi-e-rơ 3:10).
Hỏi: Chúa Sẽ Tái Lâm Cách Nào?
Đáp:
Chúa sẽ tái lâm trong vinh quang giống như lúc Ngài thăng thiên (Công Vụ 1:11).
Chúa sẽ lấy đại quyền, đại vinh ngự trên mây trời mà đến với muôn vàn thiên sứ (Mác 13:26-27).
Hỏi: Chúa Tái Lâm Để Làm Gì?
Đáp:
Chúa sẽ khiến những người thuộc về Ngài từ thời A-đam cho đến ngày Chúa tái lâm đã chết, được sống lại khỏi phần mộ, rồi mặc cho họ một thân thể mới, đầy vinh quang (1Cô-rinh-tô 15:51-52; 1Tê-sa-lô-ni-ca 4:15-16).
Chúa sẽ biến hóa thân thể của những người thuộc về Ngài còn đang sống làm cho họ vinh hiển tuyệt vời như Ngài. Rồi cất cả hai thành phần này lên không trung để gặp Chúa (Phi-líp 3:20-21; 1Tê-sa-lô-ni-ca 4:17-18).
Bấy giờ, chúng ta sẽ hưởng sự cứu rỗi trọn vẹn cả tâm linh, tâm hồn và thân thể trong thiên đàng (ITê-sa-lô-ni-ca 5:23).
LINH đã được cứu ngay khi tin Chúa.
HỒN đang được cứu hằng ngày suốt cuộc đời theo Chúa.
THÂN sẽ được cứu khi Chúa tái lâm (Rô-ma 8:23).
Hỏi: Vậy Những Người Không Thuộc Về Chúa Sẽ Như Thế Nào?
Đáp: Họ sẽ bị trải qua 7 năm Đại Nạn khủng khiếp đã được Chúa nói trước trong Khải Huyền từ đoạn 6-9 và 11-18.
Hỏi: Sau 7 Năm Đại Nạn Điều Gì Xảy Ra Tiếp Theo?
Đáp:
Sau 7 Năm Đại Nạn thì Chúa Jêsus cùng với những người thuộc về Ngài sẽ trở lại thế giới này và bắt đầu Một Ngàn Năm Bình An do chính Đức Chúa Jêsus sẽ nắm quyền cai trị cả thế giới này (Khải Huyền 20:1-10; xem thêm Ê-sai 65:17-25).
Sau một ngàn năm bình an sẽ đến sự Phán Xét Cuối Cùng, Chúa lập tòa lớn và trắng đoán xét những kẻ không thuộc về Ngài và những ai không có tên trong Sách Sự Sống sẽ bị hình phạt trong địa ngục đời đời (Khải Huyền 20:11-12).
Sau đó, Đức Chúa Trời hủy phá thế giới này rồi tạo dựng trời mới đất mới cho những người thuộc về Chúa ở với Ngài đời đời (Khải Huyền 21 xem thêm 2Phi-e-rơ 3:10).
Hỏi: Tại Sao Đến Nay Chúa Jêsus Chưa Tái Lâm?
Đáp: Chúa Jêsus hứa sẽ đến mau chóng (Khải Huyền 22:12). Nhưng Chúa cũng muốn Tin Lành của Đức Chúa Trời cần phải được giảng ra khắp đất trước khi Chúa trở lại (Ma-thi-ơ 24:14). Vì vậy, Ngài vẫn còn đang chờ đợi để nhiều người có cơ hội nghe Tin Lành vì Ngài không muốn người nào hư mất (2Phi-e-rơ 3:9).
Hỏi: Chúng Ta Phải Làm Gì Đang Khi Chờ Đợi Chúa Tái Lâm?
Đáp:
Phải có lòng sốt sắng giảng Tin Lành (Mác 16:15).
Hãy thức tỉnh trong cách ăn ở hằng ngày để giữ gìn đức tin mình trung tín với Chúa cho đến cuối cùng (xem (Rô-ma 13:11-14).
Hãy sốt sắng phục vụ Chúa (1Cô-rinh-tô 15:58).
BÀI CẦU NGUYỆN CHÚA JÊSUS DẠY
Lạy Cha chúng con ở trên trời
Danh Cha được thánh,
Nước Cha được đến,
Ý Cha được nên, ở đất như trời.
Xin cho chúng con hôm nay đồ ăn đủ ngày.
Xin tha tội lỗi cho chúng con như chúng con cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng con.
Xin chớ để chúng con bị cám dỗ mà cứu chúng con khỏi điều ác!
Vì nước, quyền, vinh hiển đều thuộc về Cha đời đời. A-men.
(Phúc Âm Ma-thi-ơ 6:9-13)
BÀI TÍN ĐIỀU CÁC SỨ ĐỒ
Tôi tin Đức Chúa Trời Toàn Năng, là Cha, là Đấng dựng nên trời đất.
Tôi tin Giê-xu Christ, là Con độc sanh của Đức Chúa Trời và Chúa chúng ta:
Ngài xuống thế làm người bởi Đức Thánh Linh
Sanh bởi nữ đồng trinh Mary
Chịu thương khó dưới tay Bôn-xơ Phi-lát
Bị đóng đinh trên thập tự giá, chịu chết và chôn
Ngài xuống âm phủ, đến ngày thứ ba, Ngài từ kẻ chết sống lại
Ngài thăng thiên ngồi bên hữu Đức Chúa Trời Toàn Năng, là Cha
Từ đó Ngài sẽ trở lại để xét đoán kẻ sống và kẻ chết
Tôi tin Thánh Linh.
Tôi tin Hội Thánh phổ thông, sự cảm thông của thánh đồ, sự tha tội, sự sống lại của thân thể và sự sống đời đời. A-men.