LU-CA

MỤC LỤC

Đức Chúa Jêsus là Con người

Lu-ca đặc biệt nhấn mạnh vào nhân tánh của Đức Chúa Jêsus. Cũng như tác giả các sách Tin Lành khác, ông hình dung Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời; nhưng trên hết, ông diễn tả lòng thương xót của Ngài đối với các người yếu đuối, đau đớn và bị xã hội duồng bỏ.

Người ta thường cho rằng dầu mỗi sách Tin Lành cứu cánh cốt đạt cho cả loài người, song Ma-thi-ơ trực tiếp đạt cho dân Do-thái, Mác cho dân La-mã, và Lu-ca cho dân Hi-lạp.

Nền văn minh của dân Do-thái đã được xây dựng trên Kinh Thánh của họ. Vậy nên Ma-thi-ơ viện dẫn Kinh Thánh ấy.

Nền văn minh La-mã khoe khoang ý niệm về chánh phủ và quyền lực. Vậy nên Mác khiến người ta chú ý đến các phép lạ của Đức Chúa Jêsus để tỏ ra quyền lực siêu nhân của Ngài.

Nền văn minh Hi-lạp đại diện cho văn hóa, triết lý, khôn ngoan, lý trí, mỹ quan và giáo dục. Vậy nên, để kích thích tâm trí của người Hi-lạp vốn thiên về tư tưởng, văn hóa và triết lý, Lu-ca đã mô tả vẻ đẹp vinh hiển và sự trọn lành của đời sống Đức Chúa Jêsus, là Người lý tưởng và quốc tế. Truyện ông mô tả thật là hoàn toàn, có thứ tự, cổ điển và được gọi là “sách đẹp đẽ nhứt từng trứ tác xưa nay.”

Giăng thêm sách Tin Lành của ông vào 3 sách Tin Lành trên để tỏ ra Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời thành nhục thể, mang hình Người, không sao lầm lẫn được.

Lu 1:1-4

Tiểu dẫn

“Nhiều sử” (câu 1) về Đức Chúa Jêsus đã xuất hiện, có lẽ quyển thì không đầy đủ, quyển thì đầy đủ hơn,quyển thì đáng tin cậy, quyển thì khả nghi. Một cách cẩn thận và chuyên cần,Lu-ca xem xét hết các bản tường thuật chân chánh, và hỏi han mọi “người chứng kiến” mà ông có thể gặp, cùng những đồng bạn của Đức Chúa Jêsus từ lúc đầu,để ông có thể chọn lọc những sự kiện thật đúng.

“Theo thứ tự” (câu 3), –không buộc phải theo thứ tự niên đại, mặc dầu về toàn thể, chúng ta cho là có theo thứ tự niên đại.

“Thê-ô-phi-lơ” (câu 3) (1) là người mà Lu-ca gởi cho xem hoặc tặng sách Tin Lành của ông và sách Công vụ các sứ đồ (cũng do ông viết). Có thể rằng Thê-ô-phi-lơ đã chịu khoản chi phí sao làm nhiều bản để gởi tới nhiều chi hội. Ta không biết ông là ai. Chữ “quí nhơn” tỏ ra ông là một thượng quan La-mã. Có lẽ ông là một người mà Lu-ca đã dẫn về với Chúa tại thành Phi-líp hoặc thành An-ti-ốt.

“Tôi” (câu 3). Tác giả không tự xưng danh. Nhưng ông dùng đại danh từ “tôi” như vậy, thì tỏ ra rằng các người đầu tiên nhận sách biết tác giả là ai. Ngay từ lúc đầu và theo truyền thoại liên tục, thì tác giả chính là Lu-ca.

 

Lu-ca

Tên ông chỉ được ghi 3 lần trong Tân Ước:Ở  Co 4:14 gọi ông là “thầy thuốc rất yêu dấu;” ở Phi-lê-môn 24 gọi ông là “bạn cùng làm việc với” Phao-lô; và ở  IITi 4:11 chép rằng ông ở với Phao-lô trong những ngày, giờ tối tăm gần tuận đạo. Trong cả 3 câu nầy đều có nói đến Mác, tỏ ra Mác và Lu-ca là bạn đồng sự. Lu-ca cũng xuất hiện trong những khúc sách Công vụ các sứ đồ có dùng đại danh từ “chúng ta” (Cong 16:10,11,16  Cong 20:5,6,7,13,14,15  Cong 21:1 v.v…). Xem thêm tiểu dẫn sách Công vụ các sứ đồ.

 

Niên hiệu

Một cách chung, người ta giả định rằng Lu-ca viết sách Tin Lành khoảng năm 60 S.C., đang khi Phao-lô bị cầm tù tại thành Sê-sa-rê; sau do, ông viết sách Công vụ các sứ đồ đang khi Phao-lô bị cầm tù tại thành La-mã trong 2 năm kế tiếp; ấy vì hai sách nầy gởi cho một người,nhưng thật ra là hai quyển của một tác phẩm. Thời gian cư ngụ tại Sê-sa-rê đã hiến ông nhiều cơ hội tiếp xúc với các đồng bạn đầu tiên của Đức Chúa Jêsus và các người đầu tiên sáng lập Hội Thánh, để được trực tiếp bảo cho ông biết đúng các chi tiết. Mẹ của Đức Chúa Jêsus có lẽ còn sống, và ở nhà của Giăng tại Giê-ru-sa-lem. Lu-ca chắc đã ở bên bà hàng bao nhiêu giờ quí báu, nghe bà thuật lại các kỷ niệm về Con Trai kỳ diệu của bà. Gia-cơ, Giám mục ở Giê-ru-sa-lem,em ruột của Đức Chúa Jêsus, cũng đã có thể thuật cho Lu-ca nghe nhiều điều bổ ích.

Khi Phao-lô viết thơ I Ti-mô-thê, khoảng năm 60 S.C., thì sách Tin Lành Ma-thi-ơ hoặc sách Tin Lành Lu-ca đã lưu hành trong các chi hội và được thừa nhận là “Kinh Thánh”‘ vì ở  ITi 5:18,Phao-lô trưng dẫn một câu mà ông gọi là Kinh Thánh, rằng: “Người làm công thì đang được tiền công mình.” Ta không thấy câu nầy ở chỗ nào khác, trừ ra  Mat 10:10 và  Lu 10:7.

 

Vấn đề “đối quan” (synoptique)

Ma-thi-ơ, Mác, và Lu-ca được gọi là “các sách Tin Lành đối quan,” vì cùng trình bày tổng quát đời sống của Đấng Christ, và cùng ghi chép những biến cố giống nhau tới một mực nào. “Họ đã trứ tác, liên lạc với nhau và có thể liên lạc với một nguyên bổn chung,” — điều đó được gọi là “vấn đề đối quan.” Người thì cho rằng sách Tin Lành Mác được chép trước nhứt. Ma-thi-ơ đã bổ túc sách Tin Lành của Mác, và Lu-ca dùng cả hai sách ấy. Người khác lại cho rằng Ma-thi-ơ chép trước nhứt, rồi Mác rút ngắn sách Tin Lành của Ma-thi-ơ. Không cần nghĩ rằng Ma-thi-ơ, Mác hoặc Lu-ca trưng dẫn sách của nhau, hoặc dùng lẫn sách của nhau bằng bất cứ cách nào. Các biến cố trong đời Đức Chúa Jêsus và các lời phán của Ngài đã được các Sứ đồ và nhiều người lặp đi lặp lại bằng miệng trải qua bao nhiêu năm, và đã được truyền tụng giữa vòng tín đồ. Đó là yếu tố sự giảng dạy hằng ngày của các Sứ đồ. Có lẽ ngay từ lúc đầu, nhiều điều ấy đã được chép ra, hoặc chép lẻ tẻ, hoặc chép dưới một hình thức đầy đủ hơn. Khi Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca chép sách Tin Lành, thì ba ông đã lựa chọn tài liệu thích hợp với mục đích của mình nơi kho kiến thức truyền miệng hoặc viết thành sách. Kho ấy là vật sở hữu chung của tín đồ Đấng Christ và được lưu hành khắp trong vòng họ. Phần nhiều biến cố ghi trong kho kiến thức ấy, thì Ma-thi-ơ đã chứng kiến và các tín đồ đã thuật lại hàng ngàn lần cho vô số người nghe.

Mac 1:5-80

Giăng Báp-tít sanh ra

Chỉ có Ma-thi-ơ và Lu-ca thuật lại sự giáng sanh và thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus. Lu-ca thuật đầy đủ hơn Ma-thi-ơ,và hai ông kể lại những chi tiết khác nhau.

Ma-thi-ơ

Lu-ca

Gia hệ (Mat 1:1-17).

Lời báo cho Giô-sép (Mat 1:18-25).

Các bác sĩ tới thăm (Mat 2:1-12).

Trốn qua Ai-cập (Mat 2:13-15).

Con trẻ bị tàn sát (Mat 2:16-18). 

Từ Ai-cập hồi hương (Mat 2:19-23).

Báo tin cho Xa-cha-ri (Lu 1:5-25).

Báo tin cho Ma-ri (Lu 1:26-38).

Ma-ri và Ê-li-sa-bét (Lu 1:39-56)

Giăng Báp-tít sanh ra (Lu 1:57-80).

Đức Chúa Jêsus giáng sanh (Lu 2:1-7).

Các gã chăn chiên (Lu 2:8-20).

Dâng Chúa tại Đền thờ (Lu 2:21-38).

Trở về Na-xa-rét (Lu 2:39).

    Về sự sắp đặt các biến cố kết chung nhau nầy theo thứ tự niên đại, xin xem ở dưới  Lu 2:39.

Lu 1:5-25

Báo tin cho Xa-cha-ri

BIẾN CỐ mà hết thảy lời tiên tri Cựu Ước đồng qui vào đó, tức là sự ngự đến của Đấng Mê-si sắp xảy ra. Câu cuối cùng của Cựu Ước là Ê-li sẽ lại xuất hiện, làm tiền khu của Ngài (Ma 4:5-6). Bấy giờ một thiên sứ hiện ra cùng thầy tế lễ tuổi cao đức trọng và báo tin cho ông biết rằng con ông sẽ sanh ra là vị tiền khu mà lời tiên tri kia chỉ tỏ (câu 17). Về sau,Đức Chúa Jêsus giải thích khúc sách ấy như vậy (Mat 11:14). Giăng Báp-tít là Ê-li được lựa chọn để đưa Vua Mê-si đến.

 

Toàn dân trông đợi Đấng Mê-si

Các sứ giả Josèphe, Tacite và Suétonequả quyết rằng khắp Đông phương, toàn dân mong chờ ngày Đấng Mê-si ngự đến đã gần rồi. Ít ra sự mong chờ nầy cũng căn cứ một phần nào trên lời tiên tri của Đa-ni-ên về “70 tuần lễ” (Da 9:24-27). Theo sự giải thích phổ thông,thì người ta hiểu rằng 70 tuần lễ nghĩa là 70 lần 7 năm, tức là 490 năm. Chiếu chỉ cho phép xây lại thành Giê-ru-sa-lem mà 70 tuần lễ phải bắt từ đó mà tính (Da 9:25), đã được ban hành năm 475 T.C.. Như vậy, thời gian gần mãn. Lòng Xa-cha-ri chắc xúc cảm sâu xa biết bao khi ông nghe thiên sứ báo tin!

 

Ánh sáng rực rỡ của cõi siêu nhiên

Rõ ràng lắm, các tác giả định ý tỏ ra rằng đạo Đấng Christ có một căn nguyên siêu nhiên. Đạo Ngài được dự ngôn từ lâu, nên khi xuất hiện, không khỏi có bằng cớ thiên thượng rằng Biến cố của các Thời đại đã xảy đến! Đấng Christ sanh ra bởi nữ đồng trinh. Kẻ tiền khu của Ngài cũng sanh ra bởi một bà son sẻ đã quá tuổi sanh con. Các thiên sứ báo tin ấy cho Xa-cha-ri, Ma-ri, Giô-sép, các gã chăn chiên, và đã cứu Hài nhi khỏi bị tàn sát. Các bác sĩ đã được ngôi sao dắt dẫn một cách siêu nhiên, từ các xứ xa xăm tới để thờ kính Ngài và để cung hiến Hài Nhi phương tiện trốn khỏi Hê-rốt. Con Đức Chúa Trời, Con của Đa-vít, Vua đời đời sắp hiện ra. Nếu không có những dấu hiệu siêu nhiên, há chẳng phải là kỳ lạ sao?

Lu 1:26-38

Báo tin cho Ma-ri

Người ta thường gọi sự trạng nầy là “Lễ Báo Tin.” Đấng Mê-si phải sanh ra trong gia tộc Đa-vít. Từ thời Đa-vít tới đây đã có một ngàn năm, và đã có hàng ngàn gia đình là dòng dõi Đa-vít. Khi Đức Chúa Trời nhìn xem các gia đình ấy để chọn lấy một gia đình do đó Con Ngài sẽ ngự vào thế gian, thì Ngài đã bỏ qua các gia đình quyền thế ở chung quanh Giê-ru-sa-lem; và mắt Ngài đã dừng trên một người nữ thấp thỏi, ở một gia đình thấp thỏi, trong một làng không tiếng tăm trên dãy đồi xa xôi của xứ Ga-li-lê.

Chắc nàng là một người nữ đạo đức cao sâu biết bao, nên được Đức Chúa Trời lựa chọn để truyền và nắn nhân tánh của Con Ngài! Lòng nàng chắc rung động biết bao khi thiên sứ báo tin rằng nàng sẽ được làm mẹ Vua thiên thượng của muôn đời!

 

Sự giáng sanh bởi nữ đồng trinh

Người ta tưởng rằng chính Ma-ri đã trực tiếp thuật truyện tích sự giáng sanh của Đức Chúa Jêsus cho Lu-ca. Có lẽ Ma-thi-ơ được Giô-sép kể cho. Cả hai ông quả quyết rõ ràng, dứt khoát, không thể lầm lẫn và không mơ hồ rằng Đức Chúa Jêsus do một nữ đồng trinh sanh ra.

Sự giáng sanh bởi nữ đồng trinh được coi như giáo lý của Hội Thánh ngay từ lúc đầu, một cách liên tục mãi, cho đến khi phái phê bình kim thời nổi lên. Tại sao ta không tin nhận giáo lý ấy y như Kinh Thánh đã nêu lên? Tại sao lại lấy làm khó tin và chống đối sự tin nhận như vậy? Nếu chúng ta tin Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời và tin Ngài đã sống lại từ trong kẻ chết, thì ta sẽ được gì bởi nghi ngờ sự Ngài giáng sanh do nữ đồng trinh? Sự sống lại của Chúa là phép lạ lớn lao nhứt. Nếu không tin Chúa sống lại,thì còn quan tâm đến Ngài làm chi? Mà nếu tin Chúa sống lại, thì sao còn chỉ trích những phần khác của truyện tích lạ lùng? Ngài ra khỏi thế gian một cách siêu nhiên, khiến ta giả định rằng Ngài cũng vào trong thế gian một cách siêu nhiên. Nếu Ngài không sanh ra bởi nữ đồng trinh, thì Ngài đã sanh ra cách nào?Ngài có thể sanh ra cách nào khác chăng? Chắc bất cứ tín đồ nào của Đấng Christ cũng cho là không thích hợp nếu hùa theo sự vu cáo lâu đời của người Do-thái rằng Đức Chúa Jêsus là một con đẻ hoang. Ta không thể tưởng có như vậy, và phải nói rằng đó là sự phạm thượng ghê tởm hơn hết. Hỡi Cứu Chúa Lạ lùng, mặt chúng tôi đỏ bừng xấu hổ, vì có những người gian ác và cứng lòng, dám nói về Ngài như vậy!

Lu 1:39-56

Ma-ri đi thăm Ê-li-sa-bét

Ma-ri và Ê-li-sa-bét là “bà con” (Lu 1:36). Không nói tên quê hương của Ê-li-sa-bét là thành gì, chỉ nói rằng nó ở “trong miền núi,… về xứ Giu-đa” (câu 39). Vì bà thuộc chi phái Lê-vi (Lu 1:5), nên thành ấy có thể là Hếp-rôn, một thành của chi phái Lê-vi (Gios 21:11). Bài ca cảm tạ của Ma-ri (câu 46-55), gọi là “Magnificat,”giống như bài ca của An-ne lúc bà nầy sanh ra Sa-mu-ên (ISa 2:1-10). Trong khi suy gẫm, chắc bà đã thốt ra tư tưởng nầy rất nhiều lần, cho đến khi nó thành thể thi ca tuyệt diệu, trong đó những tư tưởng nầy thể hiện như lễ chế (liturgie) riêng của bà vậy.

Ma-ri ở với Ê-li-sa-bét 3 tháng (câu 56,) vào khoảng nầy Giăng Báp-tít đã sanh ra (câu 36). Rồi Ma-ri trở về Na-xa-rét (xem ở  Mat 1:18-24).

Lu 1:57-80

Giăng Báp-tít sanh ra

Sự đặt tên cho con và lời tiên tri của cha làm cho cả một vùng trông đợi. Xem thêm ở dưới  Lu 3:1-20.

Lu 2:1-38

Đức Chúa Jêsus giáng sanh

Những việc kể trong đoạn 1 và 2 đây,thì các sách Tin Lành khác đã hoàn toàn bỏ qua, trừ ra ở  Mat 1:25-2:1 có chép rằng Đức Chúa Jêsus giáng sanh tại Bết-lê-hem, và ở  Mac 2:2-23 có chép về Ngài trở về xứ Ga-li-lê.

Lu 2:1-5

Việc kiểm tra dân số dưới thời cai trị của Qui-ri-ni-u

Đây là cuộc kiểm tra dân số khắp cả đế quốc La-mã. Sử ký La-mã đặt cuộc kiểm tra dưới thời Qui-ri-ni-u vào năm 7 S.C.,tức là 10 hoặc 12 năm sau khi Đức Chúa Jêsus giáng sanh. Trong một thời gian, sự tương phản về lịch sử nầy đã làm cho các nhà nghiên cứu Kinh Thánh bối rối.Song những năm mới đây, người ta đã tìm được nhiều chỉ thảo thư (papyrus)thời xưa và nhiều bằng cớ khác, do đó biết rằng Qui-ri-ni-u đã làm thống đốc xứ Sy-ri HAI LẦN. Lu-ca nói rõ rằng đây là lần kiểm tra dân số “trước hết.”Người ta cũng khám phá ra rằng nhân dân buộc phải trở về nguyên quán để chịu kiểm tra. Như vậy, cái xuổng của nhà khảo cổ học cứ tiến đi, và xác chứng rằng mỗi lời ghi trong Kinh Thánh là thật đúng với lịch sử, cho đến chi tiết nhỏ nhặt hơn hết cũng vậy.

 

Bết-lê-hem

Nơi Đức Chúa Jêsus giáng sanh là một trung tâm của những phối hợp lịch sử. Đây là thành của Đa-vít, nơi an táng Ra-chên, nơi Ru-tơ cư ngụ. Cách 15 dặm về phía Nam là Hếp-rôn, nơi ở của Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Cách 10 dặm về phía Tây bắc là Ga-ba-ôn, nơi mà Giô-suê đã được Đức Chúa Trời làm cho mặt trời dừng lại. Cách 12 dặm về phía Tây là Sô-cô, nơi Đa-vít giết Gô-li-át, người Phi-li-tin khổng lồ. Cách 6 dặm về phía Bắc là Giê-ru-sa-lem, nơi Áp-ra-ham đã dâng phần mười cho Mên-chi-xê-đéc.Giê-ru-sa-lem là thủ đô hoa lệ của Đa-vít và Sa-lô-môn, là nơi đặt ngôi Đa-vít trải 400 năm, là nơi Ê-sai và Giê-rê-mi thi hành chức vụ, là trung tâm của Đức Chúa Trời bao nhiêu đời cố gắng tỏ mình cho loài người.

Giáo đường Giáng sanh tại Bết-lê-hem là nhà thờ cổ nhứt của đạo Đấng Christ; nguyên thủy nó được xây cất bởi Hélène,mẹ của Constantin, là Hoàng đế đầu tiên của đế quốc La-mã tin theo Đấng Christ (330 S.C.). Ở dưới nhà thờ có một phòng giống như cái hầm, và người ta nói rằng đó chính là máng cỏ, nơi Đức Chúa Jêsus giáng sanh. Có một truyền thoại rằng chính phòng nầy là một phần tòa nhà của các tổ tiên, là Đa-vít, Bô-ô và Ru-tơ. Xem thêm ở dưới RU-TƠ. Trong phòng nầy, Jérôme, nhà học giả La-tinh, đã ở 30 năm để phiên dịch Kinh Thánh ra tiếng La- tinh.

 

050

Thiên cơ kỳ diệu của Đức Chúa Trời

Đấng Mê-si phải thuộc trong gia tộc Đa-vít và phải giáng sanh tại Bết-lê-hem (Mi 5:2-5). Nhưng người được lựa chọn làm cha mẹ Ngài lại ở Na-xa-rét, cách Bết-lê-hem 100 dặm. Một chiếu chỉ của Hoàng đế La-mã buộc họ phải đi Bết-lê-hem, chính lúc Hài Nhi gần giáng sanh.Như vậy, Đức Chúa Trời đã dùng chiếu chỉ của một đế quốc ngoại đạo để làm ứng nghiệm các lời tiên tri của Ngài.

Lu 2:6-7

Giáng sanh trong máng cỏ

Chữ dịch là “nhà quán” có thể có nghĩa là một nơi trọ công cộng, hoặc phòng dành cho khách liền với một nhà riêng. Người ta cho rằng đây là loại thứ hai, có lẽ là nhà của bà con họ theo dòng Đa-vít, và cũng là “nhà” mà về sau các bác sĩ đã tới (Mat 2:11).Đối với người đờn bà gần sanh con, thì hành trinh 100 dặm từ Na-xa-rét đến Bết-lê-hem,lúc đi bộ, lúc cỡi lừa, chắc mất nhiều thì giờ và rất khó nhọc. Vì phòng dành cho khách đã có những người tới trước ở chật ních, nên không còn chỗ cho Giô-sép và Ma-ri; ông bà phải tạm ở trong chuồng bò. Giờ phút thiêng liêng đã điểm, và Con Đức Chúa Trời đã được máng cỏ làm cái nôi. Điều nầy chứng minh Đức Chúa Trời “xót thương số phận nhọc nhằn của kẻ nghèo” và Ngài “khinh dể sự hoa lệ, huy hoàng của loài người!” Sau khi các gã chăn chiên tới thuật truyện của họ, chắc người ta đã mở phòng tốt nhứt trong nhà để tiếp đón Giô-sép và Ma-ri.

Lu 2:8-20

Các gã chăn chiên

Theo truyền thoại,”Cánh đồng của những gã chăn chiên,” là nơi các ban hợp ca thiên sứ hát “Ha-lê-lu-gia” chúc tụng ngày Tân Vương của trái đất giáng sanh, cách thành Bết-lê-hem 3 phần 4 dặm về phía Đông. Xem lời bí chú ở dưới sách Ru-tơ.

 

Sanh nhật của Đức Chúa Jêsus

Ngày nay ta kỷ niệm sanh nhật của Đức Chúa Jêsus vào ngày 25 tháng 12 dương lịch. Không có gì trong Kinh Thánh xác chứng cho ngày đó. Ngày, tháng nầy được dùng làm sanh nhật của Đức Chúa Jêsus lần đầu tiên nhằm thế kỷ thứ 4, ở Tây phương. Còn ở Đông phương thì là ngày 6, tháng giêng dương lịch. Sự thực là các gã chăm chiên cùng bầy ở giữa cánh đồng từ mùa xuân đến mùa thu, chớ thường không phải mùa đông; vậy, ngụ ý rằng có lẽ không phải Đức Chúa Jêsus đã sanh ra giữa mùa đông.

 

Gáp-ri-ên

Gáp-ri-ên là tên của một thiên sứ trưởng từ Thiên đàng sai xuống sắp đặt cho Con Đức Chúa Trời ngự đến (Lu 1:19,26).Chúng tôi phỏng đoán rằng Gáp-ri-ên chính là thiên sứ đã cùng đạo thiên binh hiện ra với các gã chăn chiên (Lu 2:9,13). Gáp-ri-ên cũng có lẽ là thiên sứ được sai đến cùng Giô-sép (Mat 1:24) và chỉ huy cuộc trốn qua Ai-cập (Mat 2:13,19).Gáp-ri-ên đã truyền cho Đa-ni-ên lời tiên tri về 70 tuần lễ (Da 9:21).Gáp-ri-ên chú ý đến sự cứu chuộc loài người biết bao! Khi tới Thiên đàng, chúng ta sẽ ưa thích làm quen với Gáp-ri-ên là dường nào!

Lu 2:21-38

Đức Chúa Jêsus chịu phép cắt bì và được dâng tại Đền thờ

Giô-sép và Ma-ri dâng hai con bò câu,chớ không dâng một chiên con và một bò câu, thì tỏ ra ông bà nghèo (Le 12:8).

Lu 2:39

Trở về Na-xa-rét

Đây, Lu-ca đi thẳng từ sự dâng Chúa tại Đền thờ đến sự trở về Na-xa-rét, mà bỏ qua những biến cố chép ở  Mat 2:1-21, tức là sự thăm viếng của các bác sĩ, sự trốn xuống Ai-cập, sự tàn sát con trẻ, và sự từ Ai-cập trở về.

 

Niên biểu sự giáng sanh và thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus

Mác và Giăng không nói chi hết về sự giáng sanh và thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus. Ma-thi-ơ và Lu-ca chép các biến cố khác nhau (xem ở dưới  Lu 1:5-80). Không dễ dung hợp các biến cố nầy theo thứ tự niên đại thật đúng.

Dưới đây là những niên hiệu có thể gần đúng:

 T.C.

Báo tin cho Xa-cha-ri

Lu-ca 1:5-25

6 tháng sau

Báo tin cho Ma-ri

Lu-ca 1:26-38

Ma-ri đến viếng Ê-li-sa-bét

Lu-ca 1:39-56

3 tháng sau

Ma-ri trở về Na-xa-rét

Lu-ca 1:56

Báo tin cho Giô-sép

Ma-thi-ơ 1:18-24

Giăng Báp-tít sanh ra

Lu-ca 1:57-80

4 T.C.

Đức Chúa Jêsus giáng sanh

Ma-thi-ơ 1:25

Lu-ca 2:1-7

Báo tin cho các gã chăn chiên

Lu-ca 2:8-20

8 ngày sau

Đức Chúa Jêsus chịu phép cắt bì

Lu-ca 2:21

32 ngày sau

Dâng Đức Chúa Jêsus tại Đền thờ

Lu-ca 2:22-38

3 T.C.

Các bác sĩ tới thăm

Ma-thi-ơ 2:1-12

Trốn qua Ai-cập

Ma-thi-ơ 2:13-15

Con trẻ bị giết

Ma-thi-ơ 2:16-18

2 T.C.

Trở về Na-xa-rét

Lu-ca 2:39

Ma-thi-ơ 2:19-23

 

Tại sao Đấng Christ lại giáng sanh 4 năm T.C. ?

Khi Đấng Christ giáng sanh, thì tại đế quốc La-mã, người ta tính thời gian từ lúc sáng lập kinh thành La-mã. Khi đạo Đấng Christ trở thành đạo phổ thông trên toàn thể thế giới La-mã, thì theo lời yêu cầu của Hoàng đế Justinien, một tu sĩ, tên là Dionysius Exiguus, đã làm một niên lịch, nhằm năm 526 S.C., tính thời gian từ lúc Đấng Christ giáng sanh, để thay thế niên lịch La-mã. Lâu lắm sau khi niên lịch Cơ đốc thay thế niên lịch La-mã, người ta mới khám phá ra rằng Dionysius đã sai lầm vì đặt sự giáng sanh của Đấng Christ vào năm 753 A.U.C. (kể từ sáng lập kinh thành La-mã). Đúng ra là năm 749, hoặc 1, 2 năm trước nữa. Vậy, chúng ta nói rằng Đấng Christ giáng sanh năm 4 T.C., chỉ vì người làm niên lịch Cơ-đốc đã lầm mất 4 hoặc 5 năm trong khi phối hợp nó với niên lịch La-mã mà nó thay thế.

Lu 2:40

Thời thơ ấu của Đức Chúa Jêsus

mấy tháng đầu, hoặc 1 hay 2 năm đầu,Ngài đã là một Hài nhi tại Bết-lê-hem. Rồi Ngài ở 1 hoặc 2 năm tại Ai-cập. Việc xảy ra ở Đền thờ tỏ ra rằng Ngài là một Cậu Con Trai sớm thông minh lạ lùng.Nhưng Kinh Thánh ít nói tới thời thơ ấu của Ngài. Các sách Tin Lành ngụy tạo đầy dẫy những thần thoại kỳ cục về các phép lạ mà họ cho là Đức Chúa Jêsus đã làm khi còn thơ ấu. Những sách Tin Lành ngụy tạo nầy hoàn toàn không chân chánh.Kinh Thánh chép rằng phép lạ tại Ca-na là phép lạ đầu tiên của Ngài (Gi 2:11).Theo như người ta thường hiểu biết (xem bí chú ở dưới  Mat 1:18-25), thì Đức Chúa Jêsus là Con Trưởng của một gia đình nghèo có 7 con. Vậy, chúng tôi suy luận rằng Ngài sớm học biết trách nhiệm và từng trải cảnh thiếu thốn. Ta rất mong biết chút ít về cuộc sanh hoạt gia đình của Ngài, — về Con Đức Chúa Trời với tư cách một Thiếu niên đang lớn lên, đã xử sự thể nào trước những sự kích thích hằng ngày thường có trong một hoàn cảnh dường ấy!

 

Sự giáo dục Đức Chúa Jêsus

Đức Chúa Jêsus có một bà mẹ tin kính và dịu hiền; từ lúc Ngài còn thơ ấu, bà đã dạy cho Ngài những truyện tích và huấn giới của Cựu Ước. Còn có những trường học phụ thuộc vào các nhà hội, tại đó họ dạy cho con trẻ Kinh Thánh Cựu Ước và tác phẩm của các đạo sư Do-thái. Sau khi được 12 tuổi, chắc Chúa đã thường xuyên thăm viếng thành Giê-ru-sa-lem mỗi năm ít nhứt là 3 lần, nhằm những kỳ đại lễ. Chắc ngay từ lúc Ngài còn niên thiếu, sự huy hoàng gian ác, bại hoại hoa lệ và hoàn toàn không tin kính Đức Chúa Trời của giai cấp cai trị nhơn Danh Đức Chúa Trời, đã làm cho linh hồn Ngài cháy phừng và khiến Ngài đầy hăng hái thánh muốn chấm dứt tình trạng ấy. Cùng với sự giáo dục của loài người, chắc Ngài lần lần được sự tri thức vốn có trước khi thành nhục thể.

Lu 2:41-50

Chúa viếng thành Giê-ru-sa-lem

Lúc 12 tuổi. Người ta cho rằng đây là lần đầu tiên Ngài lên thành Giê-ru-sa-lem. Ngài chú ý tới và hoàn toàn bị thu hút bởi lời giảng luận của các giáo sư, đến nỗi cha mẹ đã ra về 3 ngày mà Ngài không biết.Suốt một ngày, ông bà cũng chẳng biết Ngài không có mặt trong đoàn bộ hành; đến tối, vào nơi trọ, ông bà mới biết. Đoàn người nầy chắc khá đông, đi một quãng dài trên đường. Cho đến lúc tối trời, ông bà vẫn chắc rằng Cậu Con tự tín đang ở một chỗ nào trong đoàn và Ngài có thể tuyệt đối tự lo liệu lấy. Đức Chúa Jêsus thông thạo Cựu Ước (câu 47). Đương thời ấy, Cựu Ước là Lời Đức Chúa Trời được viết ra. Đức Chúa Jêsus ưa thích Cựu Ước. Xem ở dưới  Lu 11:27-28. Lúc 12 tuổi,Ngài đã thông thạo Cựu Ước đến nỗi các nhà thần học trứ danh trong Đền thờ phải ngạc nhiên. Ngài sống bởi Cựu Ước, và đã dùng nó để chống cự ma quỉ cám dỗ (Mat 4:4,7,10). Ngài đã lên Thập tự giá để làm ứng nghiệm Cựu Ước (Mat 26:54). Ngài cũng trưng dẫn Cựu Ước làm lời của Ngài thốt ra khi hấp hối (Mat 27:46). Thêm vào các tác phẩm Cựu Ước lại có một bộ tác phẩm khác, gọi là Tân Ước, lấy đời sống của Đức Chúa Jêsus làm trung tâm. Nếu Đức Chúa Jêsus coi Kinh Thánh Cựu Ước là quí báu, thì chúng ta đáng phải coi quí toàn bộ Kinh Thánh gấp một ngàn lần.Tuy nhiên, sự xao lãng của tín đồ Đấng Christ đối với Kinh Thánh lan rộng đến nỗi làm cho ta khủng khiếp!

“Lo việc Cha tôi” (câu 49). Lời nầy hơi làm cho mẹ Ngài bối rối. Có lẽ bà chưa nói cho Ngài biết Ngài đã sanh ra thể nào. Bà vừa mới nói Giô-sép là “cha” Ngài (câu 48). Trong câu trả lời, Ngài phán Đức Chúa Trời là “Cha tôi,” thì có lẽ ngụ ý cho bà hay rằng Ngài đã biết sự bí mật của bà rồi.

Lu 2:51-52

18 năm yên lặng

Chúng ta rất ưa biết đời sống của Đức Chúa Jêsus từ lúc 12 tuổi tới lúc 30 tuổi, nhưng theo sự khôn ngoan của Ngài, Đức Chúa Trời đã buông bức màn che thời gian ấy.

 

Tiếng nói của xứ Ga-li-lê

Tiếng Araméen là tiếng nói thông dụng của dân chúng. Đó là tiếng mà Đức Chúa Jêsus đã dùng. Ngài được dạy dỗ bằng tiếng Hê-bơ-rơ, là tiếng của Cựu Ước và của chính dân Ngài. Chắc Ngài cũng biết tiếng Hi-lạp, vì là tiếng nói của phần lớn nhân dân, và là tiếng phổ thông đương thời ấy. Đức Chúa Jêsus thông thạo cả Cựu Ước bằng tiếng Hê-bơ-rơ và bản Séptante(Cựu Ước dịch ra tiếng Hi-lạp). Chính tiếng nói của Ngài là tuyệt mỹ.

 

Na-xa-rét

Na-xa-rét ở trong lòng chảo phía Nam một ngọn đồi cao hơn mặt biển chừng 380 thước tây. Leo lên ngọn đồi hết 10 phút, ta thấy một phong cảnh vô song của xứ Ga-li-lê. Phía Bắc có thắng cảnh gồm những ngọn đồi và thung lũng phì nhiêu, lấm chấm thành thị thịnh vượng, và đằng xa có đỉnh tuyết Hẹt-môn. Gần đó, cách 3 dặm, là quê hương của Giô-na. Phía Nam là đồng bằng Gít-rê-ên, chạy từ sông Giô-đanh tới Địa-trung-hải, là sân khấu chính của dân Y-sơ-ra-ên chiến đấu trải qua bao đời để sanh tồn. Cách Na-xa-rét 10 dặm về phía tây, ta thấy trọn núi Cạt-mên, là nơi trong cuộc giao tranh với Ba-anh,Ê-li đã kêu lửa từ trời xuống. Cũng chừng đó về phía Tây nam, có đèo Ha-ma-ghê-đôn, là chiến trường trứ danh của các nước; đèo nầy gợi cho Đức Chúa Jêsus tên trận đánh lớn cuối cùng của các thời đại mà chính Ngài sẽ đưa kẻ thuộc về Ngài tới toàn thắng. Chỉ cách Na-xa-rét 8 dặm về phía nam có Su-nem, là nơi Ê-li-sê làm cho con trai người nữ Su-nem sống lại. Gần đó có suối Hê-rốt, là nơi Ghê-đê-ôn và 300 chiến sĩ của ông đã đánh bại quân Ma-đi-an. Và Gít-rê-ên,là nơi Giê-sa-bên khả ố đã gặp số phận vô phước. Và núi Ghinh-bô-a, là nơi vua Sau-lơ bị quân Phi-li-tin giết chết. Và Ên-đô-rơ, là nơi bà bóng đã gọi hồn Sa-mu-ên về. Và khe Ki-sôn, là nơi Đê-bô-ra và Ba-rác khắc phục quân Ca-na-an.Đứng trên đỉnh đồi Na-xa-rét, ta thấy trọn mọi chỗ đó. Thật là trung tâm của những sự phối hợp lịch sử kỳ lạ biết bao! Ta có thể tưởng tượng Đức Chúa Jêsus thường leo lên ngọn đồi nầy và suy gẫm sâu xa về lịch sử đã được cấu tạo để đưa Ngài vào trong thế gian.

 

Lu 3:1-20

Giăng Báp-tít

Cả 4 sách Tin Lành nói đến sự giảng dạy của Giăng Báp-tít (Mat 3:1-12  Mac 1:1-8  Gi 1:6-8,19-28). Bản tường thuật của Lu-ca đầy đủ hơn hết.

Truyện tích thời thơ ấu và thời thanh niên của Giăng đã được ghi chép vẻn vẹn trong một câu (Lu 1:80). Ông tránh những nơi ở của loài người, và sống trong miền cô tịch, hoang vu, hiu quạnh ở phía Tây Biển Chết.

Từ thời thơ ấu, ông biết rằng Biến cố của các Thời đại gần xảy đến, và ông sanh ra để làm tiền khu báo cáo Biến cố ấy đã đến.

Giăng Báp-tít sanh ra trong thành của Áp-ra-ham, là người đã tạo thành dân tộc có sứ mạng sanh ra Đấng Mê-si. Đang khi được trưởng dưỡng, ông hằng ngày đối diện với núi Nê-bô, — trên đỉnh núi đó, Môi-se đã đưa mắt ước vọng nhìn xem Đất Thánh và đã nói về Đấng Mê-si mà Đức Chúa Trời hứa ban cho. Ông cũng nhìn xem sông Giô-đanh, tại nơi Giô-suê đã đi qua, và thành Giê-ri-cô mà chiến lũy sụp đổ trước tiếng kèn của Giô-suê. Ông sống trong cùng một miền mà A-mốt đã chăn bầy và đã được sự hiện thấy về Vua hầu đến thuộc dòng Đa-vít, sẽ trị vì muôn nước. Ông thường đi thăm khe Kê-rít, là nơi Ê-li đã được chim quạ nuôi sống. Ông suy gẫm sâu xa về lịch sử hiện đang lên tới tuyệt điểm, và ông chờ đợi tiếng Đức Chúa Trời kêu gọi.

Ông biết mình là Ê-li của lời tiên tri (Lu 1:17  Mat 11:14  Mat 17:10-13  Ma 4:5), chớ không phải là chính Ê-li bằng xương, thịt (Gi 1:21), nên có lẽ ông đã cố ý bắt chước các thói quen và cách phục sức của Ê-li.

Ông nuôi mình bằng châu chấu và mật ong rừng (Mat 3:4). Từ đời thượng cổ, người ta đã dùng châu chấu làm thực phẩm. Họ đem nướng, hoặc phơi nắng, rồi ăn như lúa rang. Họ nói rằng ăn châu chấu có mùi vị như tép vậy.

Khi Giăng được 30 tuổi, thì Đức Chúa Trời kêu gọi ông. Nhân dân đang rên siết dưới ách tôi mọi tàn khốc của đế quốc La-mã, đã bị “điện giựt” khi nghe tiếng sang sảng của vị tu sĩ nơi đồng vắng, quái dị, cường tráng, gan dạ, kêu la trên bờ sông Giô-đanh rằng Đấng Giải cứu dự ngôn từ lâu đời nay đã hiện đến.

Nơi ông rao giảng là hạ lưu sông Giô-đanh, đối ngang với Giê-ri-cô, trên một ngã tư chánh yếu của xứ, và trên một con đường chính đi tới cổng thành Giê-ru-sa-lem. Xem bản đồ ở dưới  Mat 3:13-17.

Điệp khúc trong tiếng kêu la của ông là: “Hãy ăn năn!” Sự giảng dạy của ông được kết quả vô biên trong dân chúng. Cả xứ bị rúng động tới cội rễ, kể từ những bậc cầm quyền giống như “rắn lục” trở xuống. Nhiều đoàn dân đông đảo đến xin ông làm lễ báp-têm cho. Cả đến Hê-rốt cũng “bằng lòng nghe” ông giảng. Sử gia Josèphenói rằng Giăng Báp-tít “có ảnh hưởng lớn trên dân chúng, và họ dường như sẵn lòng làm bất cứ điều chi ông khuyên bảo.”

Ông đòi những kẻ tuyên bố ăn năn phải chịu lễ báp-têm, là nghi lễ mở đường cho lễ báp-têm tốt đẹp trong đạo Đấng Christ.

Khi được dân chúng hoan nghinh tới cực độ, thì ông làm lễ báp-têm cho Đức Chúa Jêsus, và tuyên bố Ngài là Đấng Mê-si.Rồi sau khi làm trọn sứ mạng, ông lẹ làng rời khỏi sân khấu. Ông đã thức tỉnh quốc dân khỏi cảnh hôn mê, và đã giới thiệu Con Đức Chúa Trời với họ. Như vậy,công việc ông đã xong.

Tuy nhiên, ông cứ giảng dạy và làm lễ báp-têm mấy tháng nữa; ông tiến về phía Bắc, tới Ê-nôn (Gi 3:23). Xem bản đồ ở dưới  Mat 3:13-17.

Chừng một năm sau khi làm lễ báp-têm cho Đức Chúa Jêsus, thì ông bị Hê-rốt cầm tù, chẳng phải vì cớ ông giảng dạy,nhưng để thỏa mãn tánh thất thường của một mụ đờn bà gian ác (Mat 14:1-5). Việc nầy xảy ra vào tháng 12 dương lịch, nhằm lúc Đức Chúa Jêsus chấm dứt phần đầu của chức vụ Ngài tại xứ Giu-đê (Mat 4:12  Gi 3:22  Gi 4:3,35).

Không có chép ông bị cầm tù tại nơi nào. Nhưng người ta cho là hoặc tại Machaerus, ở phía Đông Biển Chết, hoặc tại Ti-bê-ri-át, ở bờ phía Tây biển Ga-li-lê, — cả hai nơi nầy Hê-rốt đều có cung điện. Ông bị chém đầu vào khoảng kỳ Lễ Vượt Qua thứ hai sau đó (Mat 14:12-13  Gi 6:4).

Chúng ta ngạc nhiên vì Giăng hồ nghi (Mat 11:3). Một cách tin tưởng và tích cực, ông đã làm chứng rằng Đức Chúa Jêsus là Chiên Con của Đức Chúa Trời và là Con Đức Chúa Trời (Gi 1:29-34). Nhưng lúc nầy,đang khi suy gẫm ở phía sau các bức tường của khám tù, thì ông sanh ra bối rối.Đức Chúa Jêsus không làm việc mà ông tưởng Đấng Mê-si sẽ làm. Rõ ràng lắm, ông cùng quan niệm với nhân dân về một Nước chánh trị của Đấng Mê-si. Đức Chúa Trời không khải thị cho ông mọi điều liên quan đến tánh chất của Nước ấy. Cả đến 12 Sứ đồ cũng chậm học biết điều đó, và không hiểu chi hết cho tới khi Đức Chúa Jêsus sống lại. Xem ở  Mat 10:1-42.

Nếu giả dịnh rằng Giăng Báp-tít bắt đầu chức vụ ít lâu trước khi ông làm lễ báp-têm cho Đức Chúa Jêsus, có lẽ là mùa hạ năm 26 S.C., thì chức vụ ông kéo dài chừng 1 năm rưỡi (hoặc không tới). 30 năm ẩn dật. 1 năm rưỡi (hoặc không tới) giảng dạy công khai. 1 năm 4 tháng ở trong khám tù. Rồi bức màn buông xuống. Đó là lược sử của người đã mở đường cho Cứu Chúa của thế gian; và Đức Chúa Jêsus đã phán về ông rằng: “Trong những người bởi đờn bà sanh ra, không có ai được tôn trọng hơn Giăng Báp-tít” (Mat 11:11). Giăng không làm phép lạ chi hết (Gi 10:41).

Lu 3:21-22.

Đức Chúa Jêsus chịu lễ báp-têm.

Xem ở  Mat 3:13-17.

Lu 3:23-38.

Gia hệ của Đức Chúa Jêsus.

Xem ở  Mat 1:1-17.

Lu 4:1-13

40 ngày cám dỗ

Xem lời chú giải ở  Mat 4:1-11. Trong cả ba bản tường thuật của Ma-thi-ơ, Mác, và Lu-ca, đều có quả quyết rằng chính Sa-tan đã cám dỗ Đức Chúa Jêsus.

 

SA-TAN

Đức Chúa Jêsus đã phán rất nhiều về quỉ Sa-tan.

Ngài gọi nó là “kẻ nghịch thù” (Mat 13:39).

Là “quỉ dữ” (Mat 13:38).

Là “vua chúa của thế gian nầy”(Gi 13:31; Gi 14:30;).

Là “kẻ nói dối và là cha sự nói dối”(Gi 8:44).

Là “kẻ giết người” (Gi 8:44).

Ngài phán rằng Ngài thấy nó “từ trời sa xuống như chớp” (Lu 10:18).

Rằng nó có một “nước” (Mat 12:26).

Rằng người ác là “con cái của nó” (Mat 13:38).

Rằng nó “gieo cỏ lùng” chung với “giống tốt” (Mat 13:38,39).

Rằng nó “cướp điều đã gieo trong lòng” người nghe đạo (Mat 13:19  Mac 4:15  Lu 8:12).

Rằng nó “đã cầm buộc” một người đờn bà suốt “18 năm” (Lu 13:16).

Rằng nó

Lên đầu trang