C4.2 DẤU KỲ, PHÉP LẠ TRONG LỊCH SỬ HỘI THÁNH

MỤC LỤC

Chương II:

DẤU KỲ, PHÉP LẠ TRONG LỊCH SỬ HỘI THÁNH

Dẫn Nhập

Dầu những tài liệu sau đây chỉ là những trường hợp đơn cử, nhưng cũng là những tư liệu nói lên được các dấu kỳ và phép lạ trong suốt lịch sử Hội thánh. Chúng tôi đã giới hạn những nguồn tài liệu này trong phạm vi những nhân vật và phong trào chính yếu, kèm với một ít minh họa cho những nhân vật ít nổi danh.

Với bài phân tích này thì lịch sử Hội thánh được phân ra làm bốn giai đoạn: thời kỳ các giám mục, thời kỳ trung cổ, thời kỳ cải chánh và thế kỷ hai mươi.

A. KỶ NGUYÊN CÁC GIÁM MỤC, 100-600 SAU C.N

1. Justin Martyr (vào khoảng 100-165)

Justin là một nhà biện giáo Cơ Đốc, đã học hết tất cả những triết lý lớn vào thời của ông. Trong cuốn “Sự biện giải thứ nhì” (Second Apology) (153), khi nói về các danh xưng, ý nghĩa và quyền năng của Đức Chúa Trời cùng Đấng Christ, Justine đã viết những điều có liên quan đến sự đuổi quỉ và chữa bệnh.

“Đối với vô số trường hợp quỷ ám trên khắp thế giới và trong thành phố của các bạn, thì nhiều người Cơ Đốc đã đuổi được chúng trong danh của Chúa Giêxu Christ… đã chữa lành và thật chữa lành, vô hiệu hóa và đuổi những quỷ ám ra khỏi người bệnh, cho dầu những thầy đuổi quỷ khác và những kẻ sử dụng bùa chú cùng thuốc thang đã không chữa lành được cho họ. 1

a. Sử Dụng Các Ân Tứ Thuộc Linh

Trong cuốn “Đàm thoại với Trypho” (Một người Do Thái uyên bác), Justin đã đề cập đến việc sử dụng các ân tứ thuộc linh đang phổ biến lúc đó:

Các ân tứ tiên tri vẫn còn giữa chúng ta cho tới ngày nay. Vì vậy, bạn nên hiểu rằng các ân tứ trước đây vốn của quốc gia bạn đã được chuyển sang cho chúng tôi.

…Như tôi đã nói rằng đã có lời tiên tri nói điều này sẽ được Ngài thực hiện sau khi về trời. Như có lời chép rằng: “Ngài đã lên nơi cao, dẫn theo hàng ngàn phu tù, Ngài ban các ân tứ cho con cái loài người “

Và một lần nữa, một lời tiên tri khác đã nói: “Trong những ngày sau rốt, Ta sẽ đổ Thần Ta trên khắp mọi xác thịt, các con trai và con gái các ngươi đều sẽ nói tiên tri “.

Bây giờ, có thể thấy trong vòng người nam và nữ của chúng tôi có những kẻ được ân tứ của Thánh Linh Đức Chúa Trời… 2

Vào (khoảng) năm 150, Justin Martyr đã thành lập một trường huấn luyện môn đồ trên một ngôi nhà ở Rô-ma và sắp xếp lại tài liệu về các “dấu kỳ phép lạ” hiện thời (đuổi quỷ, chữa bệnh và nói tiên tri), Ông viết:

“Các sứ đồ đầu tiên, tổng số là mười hai trong năng quyền của Đức Chúa Trời đã đi ra và công bố về Đấng Christ cho mọi chủng tộc.

Không phải mười hai người ấy chỉ rao truyền cho một một chủng tộc mà thôi, dầu là người dã man, người Hy-lạp hoặc bất kể những con người được gọi là gì, kẻ du mục hay lang bạt, hay người chăn chiên ngụ trong túp lều, nói chung họ rao truyền Tin lành giữa vòng những người còn chưa biết dâng lời cầu nguyện và ngợi khen lên trong danh của Chúa Giêxu chịu đóng đinh”.

Justin Martyr tử đạo tại thành Rô-ma. 3

2. Iremaeus (khoảng140-203)

Irenaeus là Giám mục thành Lyons. Ông đã sắp xếp lại những tài liệu về ân tứ mới nhất (đuổi quỷ, khải tượng, lời tiên tri), cùng dạy dỗ giáo lý rằng AntiChrist sẽ là một người Do Thái thuộc chi phái Đan, và Đấng Christ sẽ khởi đầu cai trị thời hoàng kim 1000 năm.

a. Lý Lẽ Về Các Ân Tứ Thuộc Linh:

Năm sách “Phản bác dị giáo” (Against Heresier) của ông là dành cho Ngộ Giáo (Gnosticism). Để phản bác lại dị giáo này, ông nói:

Có những người biết trước những điều sẽ đến: họ thấy những khải tượng, và thốt ra những lời tiên tri. Lại có những người đã chữa lành người bệnh bằng cách đặt tay trên họ, và người bệnh được lành”. 4

Sử gia Eusebius đã trích lời của Irenaeus:

“Thật ra, hầu hết tín đồ thực sự có quyền năng đuổi quỷ, và thường xuyên có rất nhiều người được giải thoát khỏi các linh xấu xa, sau đó họ tin và được tiếp nhận vào giáo hội.

Và hơn nữa, như chúng tôi đã nói trước đây, ngay cả kẻ chết cũng được sống lại và còn tiếp tục sống với chúng tôi trong nhiều năm nữa…

Chúng tôi cũng nghe nhiều người trong Hội Thánh có ơn nói tiên tri và nói tiếng mới trong Thánh Linh. Có người khác vì lợi ích đã giải bày những bí mật và lý giải những điều huyền bí của Đức Chúa Trời “. 5

Để quở trách những người chống đối thuyết Phrygianism (hay những người Motanists), Irenaeus đã viết:

“Với mong muốn chống lại các Ân tứ Thuộc linh đã được tuôn đổ ra theo sự ưng thuận của Đức Chúa Cha trên giòng dõi loài người trong thời gian này, họ không chấp nhận khía cạnh (phân định trong Phúc Âm) đã được trình bày trong Tin lành Giăng, qua đó Chúa hứa rằng Ngài sẽ gởi Đấng Yên Ủi đến; trái lại, cùng lúc họ gạt sang một bên, vừa Phúc Âm, vừa Linh tiên tri.

Thật là những con người khốn khổ! Đáng mỉa mai khi họ ước ao làm những tiên tri giả mà lại loại bỏ đi các ân tứ tiên tri ra khỏi Hội thánh… “

“Vì, trong thư tín gởi thư cho người Cô- rinh- tô, Phao- lô đã nói rõ ràng về các ân tứ tiên tri, và đã công nhận những người nam cùng người nữ đang nói tiên tri trong Hội thánh. Tuy nhiên, trong tất cả các tội, thì tội chống lại Thánh Linh của Đức Chúa Trời, là tội không thể tha thứ được.

1) Đức Thánh Linh Giáng Lâm Là Hiển Nhiên.

Lý luận của Irenaeus trong đoạn trích này đặc biệt có thể ứng dụng vào sự tranh cải đương thời về việc thực hành thuyết tâm linh (pneumatika) đương thời

Trước hết, ông lý luận bằng cách nói rằng sự giáng lâm của Thánh Linh đã được tiên tri trong Giăng 14:1-15:27, không chỉ là một lời hứa về một kinh nghiệm cá nhân, riêng tư lặng lẽ sâu kín trong lòng mỗi người. Hơn thế, Irenaeus chỉ ra rằng có một điều gì đó nhìn thấy được về sự giáng xuống của Thánh Linh, rất năng quyền, rất rõ ràng và được xác minh bằng sách Công-vụ các sứ đồ.

2) Yếu Tố Cơ Bản:

Thứ nhì, Irenaeus lý luận từ thư tín 1Cô-rinh-tô rằng kinh nghiệm về Thánh Linh, đặc biệt trong ơn tiên tri, là yếu tố cơ bản cho sự sống của Hội thánh.

Thơ 1Cô-rinh-tô được công nhận là có uy quyền, và điều Phao-lô viết được công nhận là có giá trị. Ông không cố thanh minh điều gì cả.

3) Tội Lỗi Không Thể Tha Thứ:

Thứ ba, Irenaeus đã nối kết việc chối bỏ công tác siêu nhiên của Thánh Linh và tội lỗi không thể tha thứ được có ghi trong Mat 12:31, lời ông nói đi đôi một cách chính xác với lời dạy dỗ của Chúa Giêxu về đề tài này. Chính bản thân ông, giống như những người theo chủ nghĩa Phrygianism (Motanists), cũng bị kết án là đã thực hiện phép lạ bởi một linh lạ.

Ngày nay chúng ta cũng đang nghe vang dội lại những thanh âm tương tự của việc chối bỏ thuyết tâm linh (Pneunatika): “Nói tiếng lạ là thuộc về ma quỷ”.

3. Montanism (khoảng 120-175 S.C)

Phong trào Motanism do một tân tín hữu tên là Montanus (khoảng 156) ở Phrygia dấy lên. Đó là phong trào đạo đức thanh sạch, tin lời tiên tri, các ân tứ, kỷ nguyên ngàn năm bình an, và tin sách Khải-huyền, họ tuyên bố là đã được kêu gọi để khởi xướng một thời đại mới của năng quyền Thánh Linh.

a. Kinh Nghiệm Lễ Ngũ Tuần:

Montanus đã có một kinh nghiệm lễ Ngũ Tuần lúc ông chịu báp têm bằng nước: Ông đã nói tiếng mới và khởi sự nói tiên tri, tuyên bố rằng Đấng Yên Ủi, tức là Thánh Linh được hứa ban trong sách Tin lành Giăng, đang sử dụng ông làm phát ngôn viên của Ngài.

Năm 206, Tertullian gia nhập với những người Montanist. Năm 230 phong trào này bị dứt phép thông công do hội nghị tôn giáo của Iconium, nhưng cho dầu bị bắt bớ, phong trào vẫn tiếp tục tồn tại như một phong trào thầm lặng mãi đến năm 880. 6

Wesley cùng với nhiều người khác ở những thế kỷ về sau, đã tin rằng phong trào Montanists là một “phong trào phục hưng” chân chính nhưng bị bôi nhọ quá nhiều bởi các lãnh đạo Hội thánh thời đó đầy lòng ganh ghét, nhẫn tâm và bội nghịch, là những người đã chống đối sự bày tỏ năng quyền của Thánh Linh (xem phần John Wesley bên dưới).

4. Tertullian (khoảng 160-220 S.C)

Người ta không biết nhiều về các chi tiết có liên quan đến cuộc đời của Tertullian. Ông lớn lên trong nền văn hóa tà giáo của thành Cathage. Ông trở thành một Cơ-Đốc Nhân và gia nhập nhóm Montanist vào khoảng năm 206. Ông là một nhà văn có nhiều tác phẩm. Trong tác phẩm “To Scapula”, ở chương 5, ông đã ký thuật lại việc đuổi quỷ chữa bệnh.

“Tất cả những điều này có lẽ được các ông chính thức chú ý đến và ngay chính các luật sư mà bản thân họ cũng phải mang ơn chúng tôi. Mặc dầu ở tòa họ cũng chỉ dùng giọng điệu thích hợp. Một trong những thư ký trong bọn họ đáng lẽ bị ác linh quăng xuống đất, nay đã được giải thoát mọi khổ đau và người thân của một người khác, là một cậu bé lên ba cũng được giải thoát như vậy.

Có biết bao người có địa vị (nghĩa là không tính đến đám dân đen) đã được giải cứu khỏi ma quỷ và được lành bệnh! Ngay cả, bản thân của Severus, cha của Antonine, cũng có lòng lo lắng cho các Cơ Đốc Nhân và tìm kiếm một người Cơ Đốc tên là Proculus, hiệu là Torpation, làm quản gia cho Euthodias; và do lòng biết ơn vì có lần anh ta đã chữa bệnh cho ông bằng sự xức dầu, nên ông đã giữ anh lại trong cung điện của mình cho đến ngày anh qua đời. 7

Ông cũng viết rằng “Đấng Christ đã ra lệnh cho họ phải đi dạy dỗ muôn dân. cũng cấp bách y như các sứ đồ vậy”. “Huyết của những người tử đạo là những hạt giống”. Đến khi mọi quốc gia đều thực sự là những quốc gia Cơ Đốc. 8

5. Novatian (khoảng 210-280)

Novatian, người Rô-ma, được nổi danh nhờ hai lý do: ông là vị giáo hoàng đắc cử của nhóm thanh sạch trong Hội thánh, và ông đã cung ứng cho giáo hội Tây Phương cách xử lý trọn vẹn đầu tiên về vấn đề giáo lý Ba ngôi. Trong chương 29 của “Luận thuyết liên quan đến Ba Ngôi”, ông viết về Thánh Linh như sau:

“Chính Ngài đã đặt các tiên tri vào Hội thánh, hướng dẫn các giáo sư, điều khiển tiếng mới, ban năng quyền và sự chữa lành, làm những công tác kỳ diệu, giúp phân biệt các linh, ban cho uy quyền lãnh đạo, khải đạo, định đoạt và sắp xếp bất kỳ ân tứ nào thuộc về Charismata, và như thế Ngài khiến cho Hội thánh của Chúa ở khắp mọi nơi, được kiện toàn và hoàn hảo. 9

6. Antony (khoảng 251-365)

Sự hiểu biết của chúng ta về Antony phần lớn dựa vào tiểu sử được Anthanous viết. Chương 40 của tiểu sử này đã cho thấy công việc của Antony có liên quan đến siêu nhiên, đặc biệt là trong vấn đề đuổi quỷ.

Một lần kia khi một người to con bị quỷ ám xuất hiện và la to lên: “Ta là quyền năng của Đức Chúa Trời, ta theo lệnh Ngài. Các ngươi muốn ta sẽ ban cho điều gì?”, thì tôi liền hà hơi vào nó, nhơn danh Đấng Christ, và cố tấn công nó. Hình như tôi đã thành công vì ngay lập tức, bầy quỷ trong con người to lớn của người đó biến mất trong danh Đấng Christ.

7. Hilarion (khoảng 291-371)

Hilation là một nhà tu khổ hạnh, được học hành và trở lại đạo tại thành Alexandria. Vào thời gian ở trong đồng vắng 22 năm, danh tiếng ông nổi khắp các thành phố xứ Palestine. Trong tác phẩm “Cuộc đời của Hilarion”, Jerome đã thuật lại một số phép lạ, sự chữa bệnh và đuổi quỷ trong chức vụ của Hilarion:

“Facidia là một vùng ngoại ô nhỏ của thành Rhinocorura, một thành phố thuộc Ai-cập. Một người đàn bà ở làng này, bị mù đã mười năm được người ta mang đến cho Hilarion chúc phước. Được các anh em (lúc bấy giờ chỗ ông cũng có nhiều tu sĩ rồi) đem đến chỗ ông. Bà kể cho ông biết bà đã tiêu hết của cải cho các thầy thuốc.

Vị thánh đáp rằng: “Nếu bà đem của cải đã mất nơi các thầy thuốc đó mà cho người nghèo, thì Giêxu, danh y chân thật đã chữa lành cho bà rồi!”. Nghe vậy, bà òa khóc và cầu xin ông thương xót. Sau đó, theo gương của Cứu Chúa, ông đã bôi nước bọt lên mắt bà và lập tức bà được chữa lành. 10

Jerome kết luận phần dành cho cuộc đời của Hilarion bằng cách phát biểu như sau:

“Tôi sẽ không có đủ thời gian để nói hết các dấu kỳ và phép lạ mà Hilarion đã làm cho các bạn nghe…” 11

8. Macrina The Younger (khoảng 328-380)

Macrina là em gái của Basil, giám mục thành Caesaera, và cũng là em gái của Gregory, giám mục thành Nyssa. Gregory kể về sự chữa lành như sau:

“Con gái nhỏ của chúng tôi khổ sở vì bệnh đau mắt do nhiễm trùng gây ra. Thật là kinh khủng và tội nghiệp khi thấy màng con ngươi của nó phồng lên và trắng bệch vì bệnh tật.

Lần nọ tôi đi đến khu các ông do anh Peter của anh làm đội trưởng, còn vợ tôi đến khu các bà là nơi có thánh Macrina. Sau một lúc, chúng tôi sửa soạn ra về, nhưng một bà phước không để cho vợ tôi đi, và nói rằng bà sẽ không bỏ rơi cháu là người bà đang ôm ấp trong vòng tay, cho đến khi bà mời họ dùng cơm tối và cho họ một “của cải triết lý”.

Bà hôn đứa nhỏ thật thắm thiết và đặt môi lên mắt nó, và khi chú ý thấy con ngươi bị bệnh, bà nói: “Nếu anh chị ở lại dùng bữa tối thì tôi sẽ đền đáp tương xứng với vinh hạnh này”. Khi mẹ đứa trẻ hỏi đó là gì, thì người phụ nữ vĩ đại đó đáp: “Tôi có ít thuốc đặc biệt chữa bệnh mắt rất công hiệu”

Chúng tôi rất vui ở lại và sau đó trở về nhà, rất vui vẻ, hạnh phước. Trên đường về, mỗi người chúng tôi kể lại câu chuyện theo cách riêng của mình. Vợ tôi thuật lại mọi thứ theo thứ tự, giống như làm một luận thuyết vậy, và khi đến chỗ hứa cho thuốc thì nàng cắt ngang lối văn tường thuật và bảo: “Chúng ta đã làm gì vậy? Làm sao chúng ta lại quên bẵng đi lời hứa, quên vị thuốc chữa mắt cho được nhỉ?”

Tôi cảm thấy bực bội về sự vô tâm của chúng tôi, nên đã lập tức sai người quay trở lại để xin thuốc. Trong lúc ấy, đứa nhỏ đang ở trong lòng người vú, tình cờ nhìn mẹ nó, và người mẹ nhìn thật kỹ vào mắt con gái và nói: “Thôi đừng bối rối vì sự bất cẩn của chúng ta nữa”. Nàng nói to câu này một cách vui mừng lẫn sợ hãi.

“Chẳng có phần nào trong lời hứa đó bị bỏ sót cả, bởi vì thật đã có một vị thuốc để chữa lành, sự chữa lành ấy là đến từ lời cầu nguyện. Đây là điều mà bà ấy đã cho chúng ta, và đã được thực hiện rồi; bệnh mắt đã hoàn toàn biến mất”.

Khi nói những điều này, nàng mang đứa con nhỏ đặt vào lòng tôi, và tôi cũng hiểu được các phép lạ trong Phúc Âm mà trước đây tôi đã không tin. Tôi nói: “Thật là tuyệt vời khi thị giác được phục hồi cho người mù bởi bàn tay của Đức Chúa Trời. Nếu ngày nay một tớ gái của Ngài đã làm được một sự chữa lành và thực hiện được một việc như thế bởi đức tin vào Ngài, thì sự ấy không kém phần nổi bật so với những phép lạ trong Phúc Âm này”.

9. Ambrose (khoảng 339-397)

Là một người bình thường, nhưng Ambrose đã được tôn lên làm giám mục thành Milan nhờ những đồng môn nhiệt tình của ông. Khi được phong chức giám mục, hành động đầu tiên của ông là phân phát của cải cho những người nghèo. Ông là người giảng đạo và là giáo sư xuất sắc và là người thẳng thắn. Trong tác phẩm “Đức Thánh Linh” (Các Giáo Phụ của Hội thánh), Ambrose nói rằng ân tứ chữa bịnh và nói tiếng lạ vẫn được Đức Chúa Trời ban cho.

Trong bài viết của mình, ông đã minh chứng sự chữa bịnh và nói tiếng lạ bởi Thánh Linh lúc bấy giờ (glossolalia). Sau đó ông dạy rằng trước sự tái lâm của Đấng Christ sẽ có sự hủy diệt thành Rô-ma và sự xuất hiện của AntiChrist trên đất.12

“Anh em yêu dấu ơi, Cha đã lập nên các giáo sư, Đấng Christ cũng đã lập họ trong các Hội thánh và Cha đã ban ân điển chữa lành thể nào thì con cũng ban thể ấy; Cha đã ban ân tứ tiếng lạ thể nào thì Con cũng ban cho thể ấy”.13

10. Augustine (khoảng 354-430)

AUGUSTINE là người nổi tiếng nhất trong tất cả các giáo phụ ở Hội thánh đầu tiên đã viết:

“Chúng tôi vẫn đang thực hiện điều mà các sứ đồ đã làm khi họ đặt tay trên người Samari và kêu cầu Thánh Linh giáng xuống trên những người này. Người ta mong rằng những tín đồ mới cũng nói tiếng lạ”. 14

Augustine đã hầu việc trên tư cách là Giám mục thành Hippo. Ông được Giám mục Ambrose làm phép báp têm ở thành phố Milan ở Easter vào năm 387. Vào cuối đời, Ông viết tác phẩm “Thành phố của Đức Chúa Trời” (khoảng 413-427). Ông lý luận rằng những gì đã xảy ra và được chép lại trong Tân Ước là “hoàn toàn đáng tin”. Sau đó, ông viết trong tác phẩm Sách 22, chương 28, nói về các phép lạ đang xảy ra trong thời đại của ông:

Đôi khi người ta phản bác rằng các phép lạ mà các Cơ Đốc Nhân tuyên bố là đã xảy ra, thì ngày nay không còn nữa. Sự thật là ngay cả đến hôm nay các phép lạ vẫn còn được thực hiện trong Danh của Đấng Christ, đôi khi chúng xảy ra trong các Thánh lễ, và đôi khi qua sự cầu thay của các thánh đồ.

a. Liệt Kê Các Phép Lạ:

Sau đó, Augustine kể về những phép lạ đã xảy ra: 15

Một người mù được phục hồi thị giác. 16

Giám mục Innocent của thành Carthage được chữa lành bệnh đường ruột.17

Innocentia ở thành Carthage được lành ung thư vú.18

Một bác sĩ ở Carthage được lành bệnh gút.19

Một cựu bầu gánh xiếc ở Curcubis được lành bệnh bại và thoát vị ở bìu dái.20

Hesperrus, một người hàng xóm của Augustine được chữa lành những bệnh do “ác linh” gây ra. 21

Một cậu bé bị quỷ ám đã được chữa lành sau khi bị con quỷ xé toạt mắt ra và để treo lủng lẳng bằng một tĩnh mạch nhỏ xíu như một cái rễ và con ngươi chuyển từ đen thành trắng.22

Một thiếu nữ ở Hippo được giải cứu khỏi tà ma.23

Florentius ở Hippo cầu xin một số tiền và đã nhận được.24

Sự sống sót của một nữ tu. 25

Con trai của người bạn của Augustine được sống lại từ trong kẻ chết.26

Augustine kết thúc phần tường thuật về các phép lạ bằng cách nói với độc giả rằng có nhiều phép lạ quá đến nỗi ông kể ra không xiết. “Thật giản đơn”, ông viết, “là thậm chí trong thời đại chúng ta cũng không thiếu các phép lạ. Và Đức Chúa Trời là Đấng thực hiện các phép lạ mà chúng ta đọc được trong Kinh Thánh, đã sử dụng nhiều phương tiện và cách thức khác nhau tùy Ngài lựa chọn”.

b. Chống Lại Thuyết Chấm Dứt (Cessation)

Ông chống lại thuyết về sự chấm dứt các Ân tứ mới nổi lên thời ấy, như là một phản ứng quá trớn đối với điều mà có người cho là sự quá mấu của phong trào Montanism. Ông chống lại ý tưởng cho rằng các phép lạ và các ân tứ (của Thánh Linh như trong 1Cô-rinh-tô 23 đề cập) đã chấm dứt theo thời đại của các sứ đồ. 27

11. Gregory Thành Tours (khoảng 538-594)

Gregory là một giám mục và là sử gia. Ông viết rất nhiều, có những tác phẩm cung cấp những kiến thức vô giá về sự sống của Hội thánh ở thế kỷ thứ sáu. 28

Có rất nhiều bài ký thuật về sự chữa lành xảy ra trong thời của Gregory, được tìm thấy trong tác phẩm “Những Lời Đối Thoại” (Dialogues) của ông. Trong đó ông đã thuật lại việc đuổi quỷ và sự chữa lành cho chính ông.

Eleutherius mà tôi có nói đến trước đây, là cha tu viện trưởng của tu viện Thánh Mark the Evangelist, ở sát vách với Spoleto là người sống chung với tôi trong suốt một thời gian dài trong tu viện ở Rô-ma và qua đời cũng tại đó. Các môn đồ của ông bảo rằng ông đã khiến cho người chết sống lại bằng năng lực cầu nguyện của mình. Ông rất nổi tiếng vì sự đơn sơ và tấm lòng ăn năn, và rõ ràng rằng qua những dòng nước mắt mà linh hồn khiêm cung, như con trẻ này đã được Đức Chúa Trời Toàn năng ban ơn rất nhiều.

Tôi sẽ kể cho các bạn nghe về một phép lạ mà ông đã kể lại cho tôi nghe bằng chính những lời lẽ đơn sơ của ông. Một lần nọ, ông đang du hành, và bóng đêm đến rồi mà ông vẫn chưa tìm được chỗ trọ qua đêm, cho nên ông đã dừng chân tại một nữ tu viện nọ. Trong tu viện có một cậu bé cứ mỗi tối lại bị một ác linh hành hại. Cho nên, sau khi đón mời người của Đức Chúa Trời vào tu viện thì các nữ tu sĩ xin ông giữ thằng bé bên cạnh ông tối nay. Ông đồng ý và để đứa bé nghỉ gần bên ông.

Sáng hôm sau, các nữ tu rất quan tâm, đến và hỏi là ông có làm gì cho đứa bé tối qua không? Ngạc nhiên vì bị hỏi, ông đáp: “Không”. Sau đó, họ cho ông biết về tình trạng đứa nhỏ, là chẳng có đêm nào mà không bị ác linh quấy rối. Vậy, Eleutherius làm ơn đem nó về tu viện của ông vì họ không thể nào chịu nổi cảnh nó đau khổ nữa. Người của Đức Chúa Trời đồng ý làm như vậy.

Đứa bé ở lại trong tu viện nam một thời gian dài mà không bị quấy rối chút nào. Vì tình trạng sức khỏe của đứa bé được phục hồi, người tu viện trưởng già nua này vui mừng quá độ.

Ông bèn nói với các tu sĩ khác rằng: “Anh em ơi, ma quỷ đã đùa giỡn với các chị em nữ tu đó, nhưng một khi đã gặp đầy tớ thật của Đức Chúa Trời thì nó không dám đến gần đứa nhỏ này nữa”. Ngay lúc ấy, hầu như không đợi Eleutherius dứt câu, thì quỷ bắt đầu xâm chiếm đứa nhỏ trở lại, và hành hại nó ngay trước mắt mọi người.

Cảnh tượng đó làm tâm hồn ông già tràn ngập đau khổ, và khi các tu sĩ cố sức an ủi ông thì ông nói: “Theo lệnh ta! Không một ai trong các cha được nếm một miếng bánh mì ngày hôm nay cho đến khi đứa bé này được đem ra khỏi quyền lực của ma quỷ”.

Ông và tất cả các tu sĩ phủ phục xuống cầu nguyện và cứ cầu nguyện cho đến khi đứa nhỏ được giải cứu khỏi quyền lực của ma quỷ. Sự chữa lành rất trọn vẹn và ma quỷ chẳng dám quấy rối nó nữa.

Ông còn đặt kế hoạch tỉ mỉ để truyền giáo một cách có tổ chức cho tất cả những người ngoại trong các mục tiêu chính của ông vì cớ ngày phán xét cuối cùng sẽ đến. 29

12. Gergory I (The Great) (540-604)

Gregory the Great là giáo hoàng từ năm 590 đến 504. Tác phẩm “Dialogues” (593-94) được chính tác giả kể lại những câu chuyện về “những phép lạ mà Đức Chúa Cha đã thực hiện ở Ý)

“Dialogues” chứa dựng những câu chuyện siêu nhiên, được phân chia chặt chẽ thành ba nhóm: chuyện các khải tượng, chuyện về những lời tiên tri, và chuyện về các phép lạ.

Đoạn sau đây tóm tắt một trong những câu chuyện của Gregory được trích từ tác phẩm dang dở của Frederick Dudden về cuộc đời của Gregory:

“Một ngày nọ tại Subiaco, một tiểu linh mục tên Placidus, vị sứ đồ tương lai theo dòng Gregory ở Sicily, đi đến hồ múc nước nhưng bị mất thăng bằng và té xuống.

Benedict lúc ấy đang ngồi trong căn lều của mình, tự nhiên biết được điều xảy ra một cách siêu nhiên, và vội vã kêu môn đệ Maurus của mình: “Chạy mau, anh Maurus, vì có một đứa nhỏ đi lấy nước đã rơi xuống hồ, và dòng nước đã đưa nó đi xa rồi”. Maurus bèn chạy xuống bờ hồ và, “vẫn cho rằng mình đang đi trên đất, ông đã chạy trên mặt nước”, chộp tóc cậu bé đang trôi lềnh bềnh và mang cậu ta an toàn vào bờ.

Chỉ khi đứng vững trên mặt đất rồi, Maurus mới hiểu ra rằng một phép lạ đã xảy ra và “quá sức kinh ngạc, ông tự hỏi làm sao mình đã làm được một việc mà nếu ý thức được hẳn ông đã không dám mạo hiểm như vậy”. 30

B. THỜI KỲ TRUNG CỔ, 600-1500

1. Thánh Vladimir- Hoàng Tử Xứ Rus (khoảng 988)

Đoạn ký thuật sau mô tả làm thế nào một phép lạ đã khiến cho Vladimir, hoàng tử của xứ Rus (sau này là Nga) tin đạo và làm phép báp têm. Những sự kiện này xảy ra vào khoảng cuối thời kỳ hoàng kim đầu tiên của Cơ đốc giáo.

“Bởi Thiên ý, Vladimir hiện chịu khổ sở vì bệnh đau mắt và chẳng thấy gì cả. Ông đang ở trong tình trạng rất khốn khổ. Công chúa đã công bố với ông rằng nếu ông muốn được lành bệnh mắt, thì nên chịu báp têm ngay, bằng không ông không thể lành được.

Khi Vladimir nghe sứ điệp này, ông nói: “Nếu chuyện thật như vậy thì lớn lao thay là Đức Chúa Trời của người Cơ đốc giáo”, và ông ra lệnh làm phép báp têm. Giám mục thành Kherson cùng với các thầy tư tế của công chúa, sau khi đã công bố Tin Lành xong, liền làm báp têm cho Vladimir, khi người giám mục đặt tay trên ông, lập tức ông được sáng mắt lại”.

Trải qua sự chữa lành lạ lùng này, Vladimir đã tôn vinh Đức Chúa Trời rằng: “Nay tôi đã hiểu được chỉ có một Đức Chúa Trời chân thật”. Khi những kẻ theo ông chứng kiến phép lạ này thì nhiều người cũng chịu báp têm. 31

2. Thánh Francis Xứ Assisi (1181-1226)

Thánh Francis là người sáng lập ra dòng tu Francisco. Chức vụ của ông là chức vụ chữa lành lớn lao. Những đoạn chọn lọc dưới đây chỉ là một phần trong vô số các phép lạ xảy ra trong chức vụ của Francis

“Lần nọ, khi người thánh của Đức Chúa Trời là Francis đang đi qua nhiều miền khác nhau để giảng về nước của Đức Chúa Trời, thì tới một thành phố nọ tên là Toscanella.

Ở đó, theo thường lệ, ông gieo giống sự sống. Đang lúc ấy, có một người lính trong thành phố tỏ ra hiếu khách đối với ông. Người lính này có một đứa con trai bị què, cơ thể yếu đuối. Và mặc dầu còn nhỏ nhưng đã thôi bú, nhưng bây giờ vẫn còn phải nằm trong nôi.

Khi cha đứa bé nhìn thấy vị thánh của Đức Chúa Trời, liền quăng mình dưới chân Francis và van xin ông ban cho đứa con mình sự khỏe mạnh.

Nhưng Francis, cho mình là vô dụng và không đáng với quyền năng vinh hiển dường ấy, đã từ chối rất lâu, không chịu làm điều này. Nhưng cuối cùng bị thuyết phục bởi lời cầu xin kiên trì của người lính, ông đã cầu nguyện và đặt tay lên đứa nhỏ, chúc phước cho, nâng nó dậy. Lập tức dưới sự hiện diện của tất cả những người đang theo dõi đầy vui mừng, đứa nhỏ đã ngồi dậy, lành bệnh hoàn toàn và bắt đầu đi quanh nhà.

Một lần khác, khi người của Đức Chúa Trời là Thánh Francis đến Narmi và ở tại đó vài ngày, một người dân của thành phố tên là Peter bị bại phải nằm liệt giường. Trong cả năm tháng trời, tứ chi bị bại đến nỗi không thể ngồi dậy hoặc nhúc nhích chút nào. Và hoàn toàn mất khả năng sử dụng tay, chân, và đầu, thậm chí lưỡi cũng không hoạt động và cũng không mở mắt nổi.

Khi nghe tin Francis đến Narmi, ông bèn sai người đến xin vị giám mục của thành phố, vì tình yêu của Chúa, gởi đầy tớ của Đức Chúa Trời tối cao đến cho ông, với lòng tin tưởng rằng ông sẽ được giải cứu khỏi bệnh tật khổ sở bấy lâu nay khi có mặt của Francis.

Và quả thật vậy, khi người được phước là Thánh Francis đến và làm dấu thánh giá từ chân đến đầu của ông thì lập tức ông được chữa lành và lấy lại sức khỏe trước đây. 32

3. Cộng Đồng Waldensian

Đây là một phong trào thời Trung Cổ, với nét đặc trưng là sự vâng lời giảng đạo theo kinh Phúc Âm, sốt sắng khổ hạnh, không thích nhìn nhận chức vụ của những tu sĩ không xứng đáng, tin vào các khải tượng, các lời tiên tri và Thánh Linh. 33

A.J.Gordon trong cuốn “Chức Vụ Chữa Lành” đã trích dẫn học thuyết Waldensians như sau:

Vì vậy, về việc sự xức dầu cho kẻ đau, chúng tôi cho rằng đó là một điều khoản của đức tin và lòng thành thực xưng nhận, chúng ta cho rằng người bệnh khi hỏi xin điều đó, thì đã chính thức có thể được xức dầu, bởi người cùng với họ trong sự cầu nguyện có hiệu nghiệm cho việc chữa lành thân thể, theo như kiểu mẫu, mục đích và kết quả đã được các sứ đồ nói đến. Chúng tôi thiết tưởng một sự xức dầu như vậy, được tiến hành theo như khuôn mẫu và sự thực hành của các sứ đồ, sẽ được chữa lành và làm ích lợi. 34

4. Vicent Ferrer (1350-1419)

Vicent là nhà giảng đạo dòng Dominican, sinh trưởng ở Valencia. Nổi danh như “Thiên thần của sự phán xét”, ông đã giảng đạo khắp Châu Âu trong gần hai mươi năm. Tự điển bách khoa Công giáo “New Catholic Encyclopedia” ký thuật như sau:

“Vicent vỡ mộng hẳn. Ông trở nên đau ốm trầm trọng. Trong một khải tượng, ông được Chúa giao thác… “đi khắp trái đất giảng về Đấng Christ”. Sau một năm thì dòng Benedict đã cho phép ông ra đi.

Vào tháng mười một năm 1399, ông khởi hành từ Avignon và trải qua hai mươi năm làm công tác sứ đồ. Khi được Thánh Linh cảm động hoặc do được yêu cầu, ông đã đi thăm và viếng thăm lại nhiều nơi khắp đất nước Tây Ban Nha, miền Nam nước Pháp, Lombardy, Thụy Sĩ, miền Bắc nước Pháp và các quốc gia phía dưới.

Với tài hùng biện nóng cháy, ông đã giảng về việc con người cần phải ăn năn vì sự phán xét sẽ đến. Hiếm khi nào ông ở lại một chỗ nào quá một ngày, chỉ trừ khi người dân ở đó đã nguội lạnh quá lâu hoặc khi tà giáo đã lan tràn. Tự nhiên các phép lạ đi kèm theo bước chân ông. 35

Quyển Bách Khoa Tự Điển Của Công Giáo cũng chép rằng: “Ông được phán bởi người có ân tứ tiếng mới” 36

5. Colette Xứ Corbi (1447)

Đoạn dưới đây tường thuật về Colette, trích trong “Cuộc đời các Thánh”.

Năm 1410, bà thiết lập một hiệp ước tại Besancon. Năm 1415, bà đưa sự cải cách vào nữ tu viện Cordeliers tại Dok, và lần lượt vào hầu hết các nữ tu viện ở Lorraire, Champagne và Picardy. Năm 1416, bà sáng lập một ngôi nhà cho dòng tu của bà tại Poligny, ở chân đồi Jura và một cái nữa ở Auxonne.

“Tôi rất đỗi tò mò muốn biết bà Colette tuyệt vời này, người đã làm kẻ chết sống lại”, nữ công tước dòng họ Bourbon đã viết như vậy vào thời ấy. Vì cớ danh tiếng về các phép lạ và việc làm của cô gái con người thợ mộc này đã được đồn khắp nơi. 37

C. THỜI KỲ CẢI CHÁNH VÀ KỶ NGUYÊN HIỆN ĐẠI (1500-1900)

1. Martin Luther (1483-1546)

Trong cuốn “Luther: các lá thư của Hội Đồng Tâm Linh”, lá thư của Luther đã ghi lại như sau:

“Người thâu thuế ở Torgau và viên hội đồng ở Belgern đã viết thư nhờ tôi khuyên bảo và giúp đỡ người chồng tội nghiệp của bà John Korrer. Tôi chẳng có gì trên đời để giúp. Một khi các thầy thuốc không còn phương chữa trị, thì bạn có thể biết chắc rằng đây không phải là một trường hợp đau khổ bình thường. Đúng hơn đây là một tai ương đến từ ma quỷ, và phải được chống lại bởi quyền năng của Đấng Christ qua lời cầu nguyện bằng đức tin.

Đây là điều chúng tôi làm và thường làm. Như một người làm đồ mỹ nghệ cũng đã chịu đau khổ tương tự vì chứng điên loạn, và chúng tôi đã chữa lành anh bằng lời cầu nguyện trong danh của Đấng Christ.

Theo đó, bạn có thể tiến hành như sau: Hãy đi với một chấp sự cùng hai hay ba người nữa. Hãy chắc rằng, bạn với tư cách là mục sư của vùng đó, đã được trang bị đủ thẩm quyền của chức vụ mình. Đặt tay lên anh ta và nói:

“Anh em yêu dấu, nguyện xin sự bình an từ Đức Chúa Cha chúng ta và từ Chúa Giêxu Christ ở cùng anh em”.

Cũng vậy, hãy lập lại bài tín điều các sứ đồ và bài cầu nguyện chung trên anh ta bằng một giọng rõ ràng, rồi kết thúc với những lời này: “Hỡi Đức Chúa Trời, Cha quyền năng, là Đấng đã nói với chúng con qua Con của Ngài rằng “Quả thật, quả thật, Ta nói cùng ngươi, bất cứ người nhân danh Ta xin Cha điều chi thì sẽ được”. Ngài là Đấng đang ra lệnh và khuyến khích chúng con cầu nguyện trong Danh Ngài, “Hãy xin, sẽ được”; và là Đấng cũng bằng cách ấy đã phán: “Hãy kêu cầu Ta trong thì gian truân, Ta sẽ giải cứu ngươi và ngươi sẽ tôn vinh Ta”.

…chúng con, những tội nhân không ra chi, trông cậy vào lời và mệnh lệnh của Ngài nay cầu xin lòng thương xót của Ngài với hết cả đức tin như vậy. Xin thương xót, đoái đến người này và giải cứu anh ta khỏi ma quỷ và làm ra hư không công việc của Sa-tan thực hiện trên anh ta. Xin hãy tôn vinh danh Ngài và làm mạnh mẽ đức tin của các tín đồ; qua Chúa Giêxu Christ, Con của Ngài, và là Chúa chúng con, Đấng sống và trị vì với Ngài, đời đời vô cùng. A-men”.

Rồi, khi ra về, hãy đặt tay lên người bệnh một lần nữa và nói, “những dấu hiệu này sẽ đi kèm theo kẻ tin, họ sẽ đặt tay lên kẻ đau, và kẻ đau được lành”. Làm điều này ba lần, mỗi ngày một lần trong ba ngày liên tiếp. 38

Trong cuốn “Luther’s Works”, liên quan đến lời tiên tri, ông nói: “Nếu các bạn mong ước nói tiên tri thì hãy làm sao cho điều ấy không vượt quá đức tin để việc tiên tri của bạn được hòa hợp với lượng đức tin riêng của bạn “. Ông viết tiếp: “Một người có thể nói tiên tri những điều mới mẻ, nhưng chẳng có điều gì vượt trên giới hạn của đức tin” 39 .

“Tiến sĩ Martin Luther là một tiên tri, một người giảng Tin lành, nói tiếng mới, và là người thông giải, được ban cho mọi ân tứ Thánh Linh. Ông cầu nguyện cho người bệnh và đuổi các quỷ. Ông là người phái Luther Ngũ Tuần”. (Pentecostal Lutheran). 40

2. Ignatius Thành Loyola (1941-1556)

Ignatius là người sáng lập cộng đồng của Chúa Giêxu (Society of Jesus). Ông bị thương trong quân đội Tây Ban Nha năm 1521. Khi đang bình phục, Ông đọc tác phẩm “Đời sống Đấng Christ” của Ludolph xứ Saxony. Tác phẩm này đã cảm động ông trở thành một “người lính” cho Đấng Christ. Ông đã về tu viện và trải qua gần một năm thực hiện sự khổ tu. Tại đây, ông sáng tác phần chính yếu của tác phẩm “Spiritual Exercises” (Rèn Luyện Tâm Linh). Trong đó, ông viết như sau về Đức Thánh Linh:

“Thánh Linh của Đức Chúa Trời thổi nơi đâu tùy ý Ngài, Ngài không xin phép chúng ta; Ngài đáp ứng chúng ta theo điều kiện của Ngài và phân phát ân tứ của Ngài tùy thích. Vì vậy, chúng ta phải luôn luôn tỉnh thức và sẵn sàng; chúng ta phải mềm mại để Ngài có thể sử dụng chúng ta trong những công việc mới.

Chúng ta không thể đặt luật cho Thánh Linh của Đức Chúa Trời! Ngài chỉ hiện diện cùng với ân tứ của Ngài ở những nơi nào Ngài biết rằng người ta hiệp với tính đa dạng của ân tứ trong cùng một Hội thánh. Tất cả những ân tứ của Hội Thánh xuất phát từ một nguồn là Đức Chúa Trời.

Điều Phaolô nói trong chương 12 của thư tín 1Côrinhtô ngày nay vẫn còn đúng! Điều này sẽ cho chúng ta sức mạnh để đắc thắng mọi hình thức ghen tị trong hàng giáo phẩm, nghi ngờ nhau, nắm giữ quyền hành và việc ngăn chặn những người khác có những ân tứ Thánh Linh, đi theo cách thức riêng của họ.

Đó chính là điều mà Thánh Linh muốn nơi chúng ta. Ngài không quá

Lên đầu trang