Jerome

JEROME

(340-420)

Có ba vị cùng tên Jerome trong lịch sử Giáo hội, nhưng sự nghiệp hiển hách hơn hết là người thứ nhất mang tên này là ông Jerome. Ông là một Giáo phụ của Hội Thánh, là người tài ba, đức độ, đã bỏ nhiều công lao mình xây dựng Giáo hội. Jerome cũng là học giả hàng đầu thuộc thời đại của ông ở Tây Phương.

Jerome tên thật là Eusibius Hiromynuos. Ông ra đời trong một thị trấn nhỏ Aquileia, gần miền Đông bắc Italia, năm 340 (có chỗ chép 331 và 342). Ông là con một gia đình thượng lưu giàu có. Quê ông ở Stridon, Tỉnh Dalmatia của Đế quốc La mã.

Thiếu thời ông đi học ở thành phố La mã. Trước hết ông được giáo dục về văn chương, tu từ học (tức là cách viết văn chuẩn xác), ông cũng học các bộ luật cổ thời và trở thành nhà diễn thuyết lừng lẫy tại La mã. Con đường công danh sự nghiệp đang rộng mở thênh thang trước mắt, thì Jerome được biết Chúa, trở lại tin thờ Ngài, và chịu Báp-têm tại La mã. Ông bằng lòng từ bỏ mọi vinh hoa, bổng lộc của trần gian để quyết sống cho Chúa, theo quan niệm thời bấy giờ là đời sống ẩn dật nhuốm màu sắc khổ tu chủ nghĩa. Rồi ông cùng bạn bè thực hiện chuyến hành hương qua xứ Gaul, đi theo lý tưởng tu hành trở về quê hương là Aquileia, vì tại đó có một cộng đồng tu khắc khổ.

Kế tiếp ông qua ẩn cư ở Sy-ri 5 năm. Tại đây ông đã để nhiều thì giờ tâm sức nghiên cứu Đạo Chúa chuyên sâu và học Hi-bá-lai văn. Từ năm 370-374 ông hành chức Linh mục. Khi qua Antioche năm 374 ông nhận được một khải tượng đã khuấy động dòng suy tưởng trường kỳ của ông. Cũng bởi những hiện tượng khác thường này mà người ta tố cáo ông là “môn đệ của Cicero chứ không phải là môn đệ của Christ”. Điều này đã khiến cho nhà học giả tu sĩ Jerome phải tạm thời rút lui khỏi đời sống tu khổ hạnh ở sa mạc Sy-ri, và về ở phía đông nam thành phố Antioche, nơi mà ông làm Giáo sư Hi-bá-lai và ra sức sao chép các bản Thánh Kinh cổ sao. Cũng ở Antioche, ông có dịp nghe Apollinarius, một diễn giả thời danh thuyết giảng. Năm 380 ông vi hành đến Constantinople, nơi mà ông có cơ hội gặp gỡ, kết thân và học Thần học với ông Gregory ở Nazianzen, và bỏ công dịch các tác phẩm của Eusebius ra tiếng La tinh. Ông được bổ dụng chức thư ký cho Giáo hoàng Damasus ở La mã từ năm 382-385. Thời điểm này ông có tương hệ trong nhiều kinh nghiệm khác nhau về đời sống các tu viện của giới quý tộc. Ông trở thành một nhân vật đầu tiên thuộc Đông phương nhiệt tình ủng hộ cho chế độ khổ tu. Ông cũng sốt sắng chuyên dạy và giảng về đời sống ẩn cư tu hành, hành xác, kiêng khem. Giáo Hoàng Damasus cũng giao cho ông trách nhiệm cải tiến bản dịch Thánh Kinh ra tiếng La tinh sao cho sáng sủa và dễ hiểu hơn. Tiếp theo sự qua đời của Damasus, được rỗi rãnh nên ông lại tham quan Antioche, Ai cập và Thánh Địa Palestine; và cuối cùng đến năm 386, thì ông thường trú hẳn ở Bết-lê-hem. Ông đã tìm đến cái hang đá tương truyền gần chỗ Chúa Giê-xu đã Giáng sinh. Tại đây ông lập một tu viện nam, và đặc biệt học hỏi ở đó hầu hết những năm tháng còn lại của đời mình.

Có một tài liệu sử kể rằng, cũng vào khoảng thời gian này có hai chị em góa phụ giàu có là Paula và Eustochic với khá nhiều phụ nữ khác bị thu hút bởi nhà tu hành này, nên xin đi theo ông để tu luyện. Ông liền lập nên một nữ tu viện gần đó. Ông cổ võ mạnh mẽ cho đời sống độc thân; do đó phát sinh làn sóng ganh ghét, chống đối và đàm tiếu không đẹp về ông!

Jerome nổi bật trong việc nghiên cứu của ông về các bản Thánh Kinh nguyên tác. Công tác chú giải của ông, đặt nền tảng trên sự hiểu biết uyên thâm các cổ ngữ. Khi Giáo hoàng Damasus muốn có một bản dịch Thánh Kinh sát đúng với nguyên văn, hầu thay thế cho việc ngưng sử dụng những bản sao La tinh cũ có rất nhiều lầm lỗi hiện đang lưu hành lúc đó. Jerome đã quay về với Thánh Kinh Cựu Ước với nguyên tác Hi-bá-lai (Bản Septuagint hay 70) và Tân Ước nguyên văn Hy-lạp để chuẩn bị cho bản dịch La tinh mới của Thi Thiên và các sách Cựu Ước khác, cũng như các sách Phúc Âm. Sau đó, vì tin rằng nhu cầu cần đặt căn bản dịch thuật của ông trên ngôn ngữ Hi-bá-lai hơn là chỉ căn cứ ở bản 70 (LXX) tiếng Hy-lạp, theo lời ông nói: “Để cho các độc giả La tinh của tôi hiểu được kho tàng ý nghĩa tiềm ẩn sâu sắc của nguyên ngữ Hi-bá-lai mang tính chất bác học phong phú của nó “Jerome lại tái dịch bản Thánh Kinh Cựu Ước La tinh của ông để cho phù hợp hoặc sát nghĩa với Thánh Kinh Hi-bá-lai hơn”.

Sau 23 lao động cật lực Jerome đã hoàn tất bản dịch Kinh Thánh La tinh của mình (382-405 SC), được biết dưới tên “Bản Thánh Kinh Vulgate”. Bản Thánh Kinh này đã mau chóng được công nhận như là bản dịch tiêu chuẩn của Giáo hội Tây Phương và dầu bản văn nguyên tác có nhiều khuyết điểm vào thời kỳ Trung Cổ, song tính ưu việt của “Bản Vulgate” này đã được xác nhận có giá trị bởi Giáo Hội Nghị Trent (1546).

Jerome là một học giả Thánh Kinh uyên bác. Ông không phải là một nhà Thần học, song ông cũng đã viết các sách giải nghĩa Thánh Kinh (hầu hết các sách). Vì sự am hiểu sâu rộng của ông đối với hai nguyên tác Hi-bá-lai và Hy-lạp. Kiến thức đáng đề cao của ông đối với các tác phẩm sơ khởi của Hội Thánh chung; sự quen thuộc của ông đối với nhiều địa danh ở trong Thánh Kinh, do ông đã thu nạp được qua nhiều cuộc hành hương đây đó. Các tác phẩm giải kinh của ông được công nhận là khá giá trị. Ông đã khéo léo điều hợp một cách bảo đảm giữa các ý nghĩa gốc với ẩn dụ và ý nghĩa xác thực trong sự giải nghĩa. Mặc dầu ông đã tránh hết sức việc dùng “các ẩn dụ đã bị sửa lại của các công việc chú giải trước đó” thì ông cũng đề cao việc giải nghĩa dựa trên ba lãnh vực: Lịch sử, Hình bóng và ứng dụng thuộc linh, mà nó kết tụ trong nhiều tập chú giải có tính huyền bí và độc đoán.

Người ta cho biết, các tập giải nghĩa Thánh Kinh của ông Jerome được biên soạn với tốc độ mau chóng. Như tập giải thư Ga-la-ti được viết với tiến độ 100 dòng chữ mỗi ngày; và quyển sách giải nghĩa Phúc Âm Ma-thi-ơ hoàn tất trong vòng 2 tuần lễ! Sách chú giải của ông phần lớn dựa vào truyền thuyết của Y-sơ-ra-ên và cũng có liên quan những phần trích dẫn rộng rãi từ nhiều nguồn tư liệu uy tín của Hội Thánh đầu tiên. Các sách mà ông Jerome viết hoàn toàn khác biệt với các nhà giải kinh kia. Xét toàn diện, Jerome được xếp ngang tầm với Origen và Augustine, với tư cách là người bình giải Thánh Kinh sớm và đứng vào hàng đầu của Hội Thánh. Ông cũng đã biên dịch nhiều sách Thần học bằng Hi văn. Ông đối đầu với cuộc tranh biện giáo lý với bản tính không khoan nhượng.

Jerome là một trong những Giáo phụ có nền học vấn khá uyên bác; tiếng tăm của Jerome như là một học giả lỗi lạc còn tồn tại mãi về sau. Nhưng các nhà chép sử phê bình rằng: “Lối sống ẩn dật phần lớn của ông ở Bết-lê-hem không thua Augustine, ít nhẹ nhàng hoàn hảo hơn Ambrose; ông ít chế ngự cảm xúc tốt và kiên định như Chrysostom; ít sắc bén và trực tính, cũng như không can đảm theo tình thế như Theodore ở Mopsuestia. Nhưng trong âm từ về ngôn ngữ, học vấn và tài ứng đối thì Jerome lại tỏ ra xuất chúng hơn hẳn những nhân vật kia (Farrar).

Jerome trước tác khá nhiều văn phẩm về Thần học và giải nghĩa Thánh Kinh. Ông cũng lao động không hề chán nản khi soạn các bài diễn thuyết đả kích các nhánh tà giáo dấy lên thời bấy giờ như Arius, Pelagius… Nhưng sự nghiệp để đời quan trọng nhất của Jerome là bản dịch Thánh Kinh từ nguyên tác Hi-bá-lai và Hy-lạp sang tiếng La tinh. Đó là bản Thánh Kinh Vulgate, đã được La mã Giáo hội công nhận có giá trị, làm tiêu chuẩn cho sự giải minh các lẽ đạo (theo hệ thống La mã) và giáo lý thực hành cho đến ngày nay.

Giáo Phụ Jerome qua đời năm 420 SC.

Lên đầu trang