HERMAS
(Thế kỷ II)
Thánh Hermas là tác giả “Người chăn chiên”. Ông được xem như là Giáo phụ sau đời các sứ đồ. Tuy nhiên ít ai biết rõ về tiểu sử cuộc đời của ông, trừ ra những chi tiết ông còn để lại trong các sách vở của mình. Ông là một Cơ đốc nhân nhưng xuất thân là một người nô lệ cho một ông chủ gian ác đã bán ông cho một phụ nữ tên Rhoda, và bà này đã phóng thích ông.
Sau khi được tự do, ông chọn nghề thương mãi, ông là một nhà buôn đầy tài năng nên sớm giàu có. Ông lập gia đình và có con cái.
Trong cơn tàn diệt Cơ đốc nhân, ông mất hết tài sản, rồi các con ông quay lại tố cáo ông nữa. Cuối cùng cả gia đình ông đã ăn năn và được Đức Chúa Trời tha thứ, họ được đoàn tụ.
Ông đã viết nhiều sách. Trong phần giáo huấn, ông đã luận đến cách cư xử, các đức hạnh, sinh hoạt, sự trung thành, trinh khiết và đức tin Cơ đốc nhân nơi Đức Chúa Trời.
Tác phẩm lưu danh ông đề tài là: “Người chăn chiên” hoặc “Người chăn bầy”. Nội dung sách này ký thuật lại 5 dị tượng mà Chúa cho ông thấy, ông viết và chia ra ba phần như sau:
(1). 5 dị tượng.
(2). 12 huấn lệnh.
(3). 30 trạng thái tương đồng.
Trong sách biểu tượng thì bà chủ làm hình bóng về Hội Thánh Chúa cũng được biểu minh bằng một cái tháp. Dị tượng thứ 5 ông thấy các thiên sứ hiện ra giải tội dưới hình ảnh một người chăn giữ chiên, nên ông đã lấy mà đặt tên cho sách của mình.
Phần thứ 3 đề cập đến 30 trạng thái tương đồng. Trong đó ông trình bày các nguyên tắc khác nhau dưới hình thức các hình ảnh.
Thánh Hermas xưng mình đồng thời với Clement ở La mã (96 S.C.). Tập Kinh điển Muratorian (180 S.C.) thì ghi rằng do một người anh em của Giáo hoàng Pius viết (154 S.C.). Origen thì tin Hermas đây là người mà Thánh Phao-lô đã nói đến ở La mã 16:14 (Hetma) là tác giả của sách “Người chăn chiên” này.
Các học giả Thánh Kinh sau khi nghiên cứu nội dung sách đều công nhận sách được soạn ra trong thời kỳ Hội Thánh được hưởng sự bình an, không bị bắt bớ, khủng bố.
Hội Thánh Hy-lạp trong thế kỷ thứ 2 và 3 rất tôn trọng tác phẩm này, họ coi như Thánh Kinh vậy. Các giáo phụ coi sách này khá quan hệ vì chứa đựng nhiều sự dạy dỗ đạo đức quý báu. Nhưng khoảng từ thế kỷ thứ 4 thì Hội Thánh ở Đông phương không quan tâm đến sách này nữa.
Mục đích chính của tác phẩm “Người chăn chiên” là sự tha thứ tội, ít nhất là sau khi chịu Báp-têm.