CHRYSOSTOM, JOHN
(347-407)
John được phong tặng biệt hiệu “Chrysostom” có nghĩa là “Môi miệng vàng” hoặc ông cũng thường được gọi là “Thánh John kim mẫu” là do thiên tài hùng biện lừng lẫy của ông. Vì John được người đời nhắc nhở là nhà thuyết giáo vĩ đại nhất của Cơ Đốc giáo thời cổ. John được sinh ra vào khoảng năm 347 (có sách chép 315 SC) tại thành phố Antioche. Ông đã được đem về cùng Chúa nhờ người mẹ tin kính của ông là bà Anthusa, một phụ nữ chỉ mới 20 tuổi mà đã sớm chịu cảnh góa bụa với một đứa con trai bé bỏng. John chịu Thánh lễ Báp-têm năm lên 18 tuổi và trở thành một người ham thích đọc Thánh Kinh hàng đầu lúc ấy. Ông tôn sùng lối tu khổ hạnh và ông đã sống 2 năm biệt lập một mình trên núi, làm tiều tụy thể lực ông.
Đầu tiên John được theo học luật với một diễn giả nổi danh ngoài đời thời ấy ở thành phố Antioche tên là Libanius, ông này là nhà hùng biện khét tiếng, nhưng cũng cực kỳ vô thần. Song khi thấy đức tin kiên định của góa phụ Anthusa thì ông cũng phải thầm phục thừa nhận: “Đức Chúa Trời diệu kỳ, là Đấng mà người phụ nữ này có được!.” John cũng đam mê nghiên cứu Thần học cách sâu rộng với ông Diodore người Tạt-sơ, ông này cũng là viện trưởng trường Thần học ở đây. John nhận biết Đức Chúa Trời kêu gọi và lựa chọn mình vào thánh chức lúc còn trẻ tuổi. Ông là người con rất mực chí hiếu, chăm lo phụng dưỡng mẹ già, mãi đến những năm 377-381 ông vẫn còn sống ẩn dật chưa ra đời.
Khi ra thành phố ông được phong chức Phó tế năm 381, phục vụ dưới quyền Giám Mục Flavian ở Antioche. Đến năm 386 thì ông được tấn phong chức Trưởng lão (Linh mục). Giám mục Flanvian đã chỉ định ông làm công tác huấn luyện, nhất là dạy đạo và giảng Thánh Kinh trong giáo đường chính ở Antioche. Nhất là thời kỳ ông hành chức ở Constantinople, lối thuyết giảng Phúc âm của ông đã thu hút hàng ngàn người đến nghe ở Đại giáo đường Sancta Sophia. Qua thánh chức này ông nổi bật là một diễn giả đại tài và đầy dẫy quyền năng Chúa. Cũng chính ở môi trường này mà tên tuổi và tiếng tăm ông vang dội khắp nơi.
Năm 397 Giáo hội tuyển chọn và tấn phong ông làm Giáo hoàng Constantinople, dầu ông đã hết sức khước từ vì nó đã đi ngược lại ý muốn của ông. Nhưng ông cũng cống hiến hết tài lực mình ở địa vị cao trọng đó năm 398. Ông liền bắt tay vào việc cải cách Giáo hội, thi hành kỷ luật nghiêm khắc đối với hàng giáo phẩm mất bản chất, lên án sự trụy lạc của nhân dân đô thị. Nhưng dần dần ông không thể đối phó với những âm mưu và những áp lực của Giáo hội thân với chính quyền Constantinople, Những cố gắng của ông để phục hồi đỉnh cao của nền luân lý của nhân dân thành phố đã gặp sức kháng cự mãnh liệt. Những kẻ thù của ông đã đoàn kết các lực lượng với nhau. Hoàng hậu Eudoxia là người đã châm ngòi nổ khi ông tấn công sự thờ lạy hình tượng ở các chùa miếu trên cao, hàng tăng lữ địa phương tìm ông để ngăn trở sự việc đó. Ông John rất thanh liêm, sống khắc khổ, lời giảng dạy thẳng thắn chẳng vị nể ai, cáo trách tội lỗi, chỉ trích những thói hư tật xấu của người ta nên có vô số thù địch ghen ghét ông và chống lại ông. Do lòng kiên trung với Chúa và Giáo hội, quyết đi theo Chân lý và tâm trí vững vàng nhắm hướng cải cách ngoài xã hội, ông đã làm cho từ triều đình đến nhân dân đều phật ý.
Theophilus, là Tổng Giám Mục Alexandria nổi giận vì “một nhân vật lớn của Giáo hội Antioche ở thủ đô” đã có hành động mạnh bạo, quyết liệt như vậy. Nên ông đã toa rập với Hoàng hậu Eudoxia tìm mưu ám hại ông. Tại Hội đồng Oak “Chiếc bàn bằng gỗ sồi” năm 403, họ cực lực yêu cầu ông hãy giải tán các Hội nghị giáo phẩm mà ông triệu tập đi! Cũng do Theophilus giàn xếp ở hậu trường cố vạch lá tìm sâu, ít nhất cáo gian ông 21 tội để cất chức ông. Hoàng đế nghe lời của bè lũ nịnh bợ đã quyết định lưu đày ông. Nhưng nhân dân ở thủ đô Constantinople đã xuống đường cương quyết ủng hộ cho vị Giám mục đáng kính của họ. Hoàng đế đã bị phản đối phải thỏa mãn yêu cầu của quần chúng, triều đình buộc phải thu hồi sắc lệnh lưu đày ngày hôm sau, trả ông về với Thánh vị.
Nhưng rồi với bản tính cương trực qua lời thuyết giảng của ông, hoàng hậu một lần nữa lại cấu kết với phe đối lập mà đày ải ông cho được. Mặc dầu lần này có sự yểm trợ của nhân dân thủ đô và sự can thiệp bênh vực của Giáo Hoàng, song ông cũng không khỏi bị phát lưu.
Lòng can đảm của John, mặc dầu không khéo léo cho lắm vì lời giảng truyền đanh thép lại trực tiếp trút lên đầu bà hoàng Eudoxia, và bởi lý do đó kẻ thù lại trục xuất ông lần nữa. Nhà vua buộc ông phải đình chỉ các nhiệm vụ trong Giáo hội, nhưng ông nhất mực không chịu tuân hành. Trong một dịp các tín đồ tân tòng học giáo lý đang quây quần bên ông chờ nhận Thánh lễ Báp-têm, thì ông bị các tên lính của triều đình bắt điệu ra bên ngoài Nhà thờ. Sau đó bọn người dã man muốn gián tiếp tiểu trừ ông nên bắt ông đi chân không giữa mùa đông giá rét đi từ Antioche đến Pontus. Việc làm đổ máu ông là một vết nhơ cho hồ nước Báp-têm trong lần lưu đày (404 SC). Cuộc đời John bị lưu tù hết nơi này tới nơi khác đã làm cho thân thể tuổi tác của ông ngày càng kém sức, và chấm dứt bằng sự qua đời ngoan cường bất khuất của ông, năm 407 SC. Một thời gian sau khi ông được cải táng đem về Constantinople năm 438 SC và an táng trọng thể trong khuôn viên giáo đường dành cho các vị Thánh.
John Chrysostom được tuyên dương vì tính can trường cùng lòng trung thành của ông, là đầy tớ của Đức Chúa Trời, nhất là thời gian ông hành chức ở Constantinople. Từ thế kỷ thứ 6 ông được tôn tặng là Giáo phụ và được Giáo hội sắc phong là: “Tiến sĩ của Hội Thánh”. Chrysostom cũng được suy tôn là bậc thầy của ngành biện thuyết tôn giáo. Sự nhận thức sâu sắc và lời giảng như sấm dậy của ông có trực giác bén nhạy, xuyên thấu lòng người. Vì ông chuyên tâm đào sâu ý nghĩa của Thánh Kinh từ nguyên văn Hi-lạp và khéo léo trong việc áp dụng Lời Chúa một cách thực tiễn cho những thính giả của mình. Ông đã góp phần làm cho hàng trăm sứ điệp còn lưu lại của ông có giá trị về lâu về dài.