Stoiciens, Phái

Stoic philosophers.
Một trong hai phe triết học mà Phao-lô đã biện luận với họ tại thành A-thên (Công 17:18). Người sáng lập phái Stoiciens là Zénon ở Citium, tại đảo Chíp-rơ, nhưng chớ lẫn lộn với một nhà triết học sớm hơn là Zénon ở Ela, xứ Ý Đại Lợi. Zénon, sinh quán tại Chíp-rơ, độ giữa 357-352 T.C. và qua đời giữa 263-259 T.C., sống ngót một thế kỷ. Dời khỏi nơi quê hương đến A-thên, Zénon dạy học chừng 58 năm, tại một stóa, hoặc cửa lớn, nơi công chúng họp chợ. Sau Zénon có Cléanthe theo thuyết của người (chừng 260 T.C.), và sau Cléanthe cũng có Chrysippe (độ 240 T.C.) theo nữa. Chrysippe được coi là người sáng lập phần tri thức của triết học Stoicisme.
Lẽ cốt yếu của triết học Zénon là vạn thần luận (panthéisme). Phái Stoiciens cho rằng vật chất và năng lực là những nguyên tắc tối hậu của vũ trụ; năng lực làm việc khắp mọi nơi thì gọi là lý trí, Thiên cơ, Đức Chúa Trời. Năng lực đó coi như có ý thức và tư tưởng, nhưng lại tùy thuộc vật chất và không ngôi vị, là hơi thở hoặc lửa làm thánh, thấu suốt và làm sống mọi sự, và tùy theo sự cần thiết không chuyển động thì kêu gọi các sinh vật và thế gian đến sự thực hữu, rồi lại hủy đi, đến nỗi cuối thời kỳ của thế gian thì vũ trụ sẽ biến thành lửa mà thiêu đốt tất cả, rồi sau đó có sự tiến hóa và thế gian bắt đầu lại, cứ thế mãi chẳng cùng. Linh hồn người là một tia ánh sáng hoặc sự lưu xuất của vị thần có ý thức, không ngôi vị. Sau khi thân thể chết, linh hồn còn lại, song chỉ sống một thời kỳ của thế gian; và cuối cùng lại bị thâu lại vào nơi vốn có. Phái Stoiciens tự đặt mình giữa vòng môn đồ của Socrate. Họ phân biệt nghiêm nhặt điều lành theo luân lý với điều lành tự phát sinh trong mỗi người. Họ tin rằng một công việc tốt hay xấu là tự mình, và sự khoái lạc chẳng bao giờ nên làm cớ của một công việc. Điều lành cao thượng nhứt là đức hạnh. Đức hạnh là sự sống hòa hợp với cõi thiên nhiên, hoặc là sự hòa hợp của phép cư xử của con người với luật của vũ trụ, và hòa hợp ý người với ý muốn Đức Chúa Trời, đối với số mệnh thì miễn cưỡng chịu. Những đức hạnh chính là: sự khôn ngoan thực hành biết điều gì lành và dữ, can đảm, cẩn thận hoặc tự kiềm chế, và công bình. Zénon khuyên giục các môn đồ phải hết sức tra xét những tình cảm cho được biệt lập khỏi mọi ảnh hưởng khuấy rối, dầu có bất cứ sự gì xảy ra. Phái Stoiciens làm cho tánh tình cao thượng, nhưng luân lý của thuyết Stoicisme lập nền tảng cốt yếu ở sự kiêu ngạo, trái với đạo Đấng Christ là khiêm nhường. Thuyết đó chăm về chính mình, còn đạo Đấng Christ hoàn toàn tin cậy người khác, chăm về lợi kẻ khác; thuyết đó tìm sự yên ủi từ kết quả của số mệnh, đạo Đấng Christ tìm sự yên ủi từ Thiên Chúa; thuyết đó hạn chế trong các thời kỳ của sự hư nát thế gian, còn đạo Đấng Christ thì kết cuộc dẫn đến sự sống lại vinh hiển về phần thân thể (Công 17:18).
Khi Phao-lô giảng ở núi của Thần Mars, có mấy nhà triết học về phái Epicuriens và Stoiciens cũng ở đó, “kẻ thì nhạo báng, người thì nói rằng lúc khác chúng ta sẽ nghe ngươi nói về việc đó” (Công 17:32). Chắc phái Epicuriens đã nhạo báng, còn phái Stoiciens muốn nghe nữa, vì dường như họ thấy nhiều lời dạy dỗ của Sứ đồ hợp với họ. Phao-lô cũng trích lời của một thi sĩ Stoicien là Aratus ở Soli, xứ Si-li-si: “Chúng ta cũng là dòng dõi của Ngài” (17:28). Lẽ đạo của Phao-lô về sự tạo thành, về Đức Chúa Trời là Đấng tự tại, thuộc linh và là Cha chung của tất cả mọi người, những điều này hết thảy họ đều quen biết và có thể nhận. Song sự Phao-lô giảng về Đấng Christ không được hoan nghênh vì họ đang tìm kiếm một người khôn ngoan của lý tưởng.
Thuyết Stoicisme cứ được thịnh hành độ 400 năm, giáo sư nổi tiếng nhứt lại là một người nô lệ tên là Epictète, nhà triết học Sénèque, và hoàng đế Marc Aurèle.

Lên đầu trang